Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Nhạc cổ điển (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=61)
-   -   Những giọng hát Nga và Liên Xô cũ (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=121)

tykva 29-11-2007 20:52

Những giọng hát Nga và Liên Xô cũ
 
Antonina Nezhdanova: АНТОНИНА НЕЖДАНОВА (1873 -1950) - NSND Xô Viết.

A.Nezhdanova là 1 trong 3 tên tuổi lớn nhất của nền thanh nhạc cổ điển Nga đầu thế kỉ 20 (cùng với F. Chaliapin, L. Sobinov).

A.Nezhdanova sinh năm 1873 tại Odessa - Nga trong 1 gia đình nề nếp trung lưu. Cha mẹ của bà đều là giáo viên, đồng thời họ cũng là những người rất yêu thích âm nhạc,ca hát. Nezhdanova cùng với cha mình cũng tham gia đội hợp xướng của nhà thờ địa phương. Chất giọng đẹp thiên phú cuả cô bé nezhdanova xinh xắn được nhiều người qua tâm, chú ý , Nezhdanova được khuyến khích theo học về thanh nhạc và diễn xuất tại chính nhạc viện thành phố Odessa quê hương. Thế nhưng, giọng hát và kĩ thuật của Nezhdanova chỉ thực sự được phát triển và khai phá khi bà theo học nhà sự phạm thanh nhạc Ý nổi tiếng Umberto Masetti tại nhạc viện Moscow (cùng với 2 người bạn, 2 người đồng nghiệp sau này cũng nổi tiếng không kém là N.Obukhova và N.Koshet). Umberto Masetti phải mất rất nhiều tháng để nghiên cứu giọng hát và lối phát âm Nga đặc trưng của Nezhdanova để chế tác "viên ngọc thô" với vẻ đẹp khác biệt ấy trở thành 1 giọng hát hoàn hảo. Kết quả học tập xuất sắc, bà được nhà hát Bolshoi mời tham gia và nhanh chóng trở thành prima donna hàng đầu của Nga. Bà cùng với tenor L. Sobinov trở thành bộ đôi nổi tiếng và được yêu thích nhất thời bấy giờ.

Không thỏa mãn với những thành tựu đã đạt được, Nezhdanova rất chịu khó lưu diễn khắp châu âu và thế giới, bà còn đến xem và học hỏi những nghệ sỹ Ý nổi tiếng cùng thời như T. Ruffo, L.Tetrazzini,... , có thể thấy rõ sự ảnh hưởng của họ trong cách hát, cách xử lí tác phẩm của Nezhdanova.

Nezhdanova có quan hệ rộng rãi với giới âm nhạc và được nhiều nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng đương thời quí mến. Chính Rachmaninov đã viết tác phẩm Vocalise nổi tiếng (op34, no.14) tặng cho Nezhdanova (1912).

Cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại nổ ra, Nezhdanova trở về nước sau thời gian dài lưu diễn và ở lại biểu diễn phục vụ nhân dân. Năm 1922, chính quyền Xô Viết đã tuyển chọn nhũng nghệ sỹ tài năng nhất cử đi biểu diễn tại nhiều nước trên thế giới như muốn tuyên bố rằng, những giọng hát Nga không phải là những giọng hát "nặng nề", "thô kệch" hay "chua loét" như nhiều người vẫn hay định kiến và ngôn ngữ Nga cũng rất đặc biệt, cá tính và hài hòa với âm nhạc. Nezhdanova vinh dự góp mặt trong đoàn nghệ sĩ đó. Dĩ nhiên Tour lưu diễn đã thành công vang dội và khiến làng âm nhạc phải sửng sốt.

Thời gian sau, không chỉ biểu diễn, bà còn tham gia đào tạo nhiều giọng ca tên tuổi cho Liên Xô. Với những đóng góp đó, bà được phong tặng danh hiệu NSND Xô Viêt năm 1936. Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, bà vẫn không ngừng giảng dạy, nghiên cứu, hoàn thiện các phương pháp sư phạm thanh nhạc cho đến lúc qua đời. Bà mất năm 1950 tại Moscow, Liên Xô.

Nezhdanova luôn cố gắng lưu giữ tinh thần Nga, cốt cách Nga trong khi thể hiện các tác phẩm âm nhạc kinh điển, điều đó giúp bà có 1 chỗ đứng riêng và đặc biệt trong hàng trăm ca sĩ nổi tiếng đưong thời. Giọng hát của Nezhdanova là nữ cao màu sắc (coloratura soprano), với âm sắc tuyệt đẹp, độc đáo, kĩ thuật bel canto vào hàng thượng thăng. Nezhdanova k0 chỉ chinh phục giới phê bình ở những vai diễn chuẩn mực, đòi hỏi kĩ thuật cao như Lakme (Lakme - Delibes), Konigin der Nach (Die Zauberflote - Mozart), elvira (I Puritani - Belini), Juliete (Romeo et Juliete - Gounod), Rosina (Il barbiere di Sigvilia - Rosinni),... bà còn mang những tác phẩm của nền opera dân tộc đến với người yêu nhạc trên khắp thế giới. Không ai có thể quên những Lyudmila (Ruslan and Lyudmila - Glinka) , Tatyana (Eugene Onegin - Tchaikovsky), nàng Bạch tuyết (the Snow Maiden - Rimsky-Korsakov),... cũng như rất nhiều các tác phẩm thanh nhạc Nga cổ điển và hiện đại.

Atonina Nezhdanova xứng đáng là 1 trong những tên tuổi vĩ đại nhất không chỉ đối với nước Nga mà là của cả nền thanh nhạc cổ điển thế giới. Giọng hát ngời sáng cuả bà sẽ mãi còn được người đời sau yêu thick và ngưỡng mộ.

Download:
- Gounod - Romeo et Juliette - Je veux vivre dans ce reve - Antonina Nezhdanova
http://www.box.net/shared/3h1oha7slu

- Alyabyev - The nightingale - Antonina nezhdanova
http://nhaccodien.info/music/11.%20A...ightingale.wma

Tác giả: Yes_I'm_Here (NCĐ forum)
http://nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=67

tykva 29-11-2007 20:53

Boris Hmyria (cách viết khác Boris Gmyrja, Boris Gmyrya): Борис Гмыря (1903 -1969) - NSND Xô Viết

Boris Hmyria sinh ngày 23 tháng 7 năm 1903 trong một gia đình Ukraina nghèo tại vùng Lebedyn Sumy. Sau khi rời khỏi trường trung học, cậu bé 11 tuổi cần phải làm việc. Cậu kiếm sống bằng những công việc lặt vặt. Năm 1930, ông vào trường Kharkov Civil Engineering và sau đó là nhạc viện Kharkov. Ông vào lớp thanh nhạc của thầy giáo nổi tiếng P. Holubiev, người từng học Federico Bugamelli lừng danh. Cùng thời gian đó, ông bắt đầu biểu diễn trên sân khấu tại rạp hát opera Kharkov.

Cá tính nghệ sĩ độc nhất vô nhị của một bậc thầy được hình thành từ những ví dụ tiêu biểu nhất của Nga, Ukraina và văn hóa âm nhạc thế giới. Nét đặc trưng tiêu biểu trong phong cách trình diễn của Borys Hmyria là tâm lý sâu sắc trong việc diễn tả nội dung biểu cảm của âm nhạc, phát âm rõ ràng, tài năng nghệ thuật khác thường, những chi tiết được biểu diễn tinh tế sắc sảo và trau chuốt, sự bình tĩnh, âm vực cao và trình độ văn hóa nghệ thuật.

Từ năm 1940-1957 cuộc đời sáng tạo của nghệ sĩ được gắn liền với học viện opera Kiev và Nhà hát Ballet Shevchenko. Trong di sản opera đa dạng của Borys Hmyria tập trung vào các thể loại thiên anh hùng ca, tâm lý, triết lý và bi kịch. Những vai diễn nổi tiếng nhất của ông là Susanin ("Ivan Susanin" của Glinka), Ruslan ("Ruslan và Lyudmila" của Glinka), Boris ("Boris Godunov" của Mussorsky), Taras ("Taras Bulba" của Lysenko), Kryvonis ("Bohdan Khmelnytsky" của Dankevych), Salieri ("Mozart và Salieri" của Rimsky-Korsakov), Mephistopheles ("Faust" của Gounod).

Những buổi trình diễn của Boris Hmyria bao gồm khoảng 600 tác phẩm thanh nhạc thính phòng, trong đó gồm có 75 aria và 545 romance nổi tiếng của Ukraina, Nga, các tác giả nước ngoài và các bản dân ca.

Di sản sáng tạo của ông gồm 150 bản chép tay của các bài báo về nghệ thuật và khoa học, nhật ký, thư, bản nhạc, và các tổng phổ với các lời đề tặng của các nhạc sĩ

Nghệ sĩ nhân dân Liên Xo (1951), giải thưởng Quốc gia Liên Xô (1952), được trao tặng Huân chương Lenin (1960). Boris Hmyria mất tại Kiev ngày 1 tháng 8 năm 1969.

Ông được gọi là "Boris vĩ đại", tài năng của ông được cho là phi thường, giọng của ông được đánh giá là hoàn hảo.

Tác giả: Yes_I'm_Here (NCĐ forum)
http://nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=67

tykva 29-11-2007 20:54

Makvala Kasrashvili : Маквала Касрашвили (1942) - NSND Xô Viết



Soprano Makvala Kasrashvili sinh ngày 13 tháng 3 năm 1942 tại 1 thị trấn nhỏ thuộc Kutaisi, nước cộng hòa Gruizia - Liên Xô (Georgia) .
Lớn lên giữa những giai điệu dân ca vui tươi, ngọt ngào, của vùng đất Gruizia nơi mà nhiều đứa trẻ biết hát trước cả khi biết nói, Kasrashvili sớm có niềm đam mê với âm nhạc. Năm 1966, sau khi kết thúc khóa học thanh nhạc tại nhạc viện Tbilisi, dưới sự hướng dẫn của giảng viên nổi tiếngVera Davydova, với tấm bằng loại ưu, Kasrashvili được nhận vào nhà hát danh tiếng Bolshoi - Moscow - nơi mơ ước của hầu hết tất cả những ca sĩ opera, những sinh viên thanh nhạc thời bấy giờ

Chất giọng spinto khỏe khoắn với âm sắc mượt mà, đẹp đẽ hiếm có, Kasrashvili nhanh chóng giành được cảm tình của người hâm mộ vượt qua hàng chục soprano đương thời trở thành prima donna của nhà hát lớn Bolshoi. Bolshoi thực sữ đã gắn liền với toàn bộ sự nghiệp ca hát của Kasravili. Cô tham gia nhiều cuộc thi lớn nhỏ về thanh nhạc trên khắp thế giới, và đều giành được giải cao
Cuối thập niên 70, cùng với 1 nhóm nghệ sỹ Liên Xô, Kasrashvili có chuyến lưu diễn khắp châu âu và nhiều nhà hát trên đất Mĩ. "bravo, Miss Kasravili!!!" , nhạc trưởng nổi tiếng Leonard Bernstein đã không kìm được cảm xúc sau khi thưởng thức giọng hát Kasrashvili. Những chuyến lưu diễn dài đã giúp Kasravili gây được cảm tình với người yêu nhạc trên khắp thế giới. Kasrashvili được tất cả những nhà hát nổi danh đón chào nồng nhiệt , từ Metropolitan Opera cho đến Conven Garden, từ Viena Staatsoper đến Bavarian Operas, Teatro Arena, hay Lyric Opera of Chicago,... Kasrashvili cộng tác với hầu hết các thế hệ nhạc trưởng nổi danh của Nga, Liên Xô như E.Svetlanov, M. Rostropovich, K Penderecki, A. Lazarev, V. Spivakov và gần đây nhất là V. Gergiev.
Khả năng nhập vai đa dạng, giọng hát đẹp đẽ, dịu dàng màn mà ẩn chứa đầy sức mạnh, Kasrashvili thể hiện thành công từ những vai trữ tình như Micaela (Carmen- Bizet), Margarita (Faust - Gounod), Desdemona (Othelo - Verdi), Tatiana (Eugene Onegin - Tchai - cũng là vai debut thành công năm 1979 tại Met),... cho đến những vai giàu kịch tính như Turandot, Tosca (puccini), Aida(verdi), Santuza (Cavaleria Rusticana - Mascagni),... Không chỉ vậy với nhạc cảm tinh tế, sự thể hiện giàu cá tính, Kasrashvili còn thành công ở mảng thanh nhạc thính phòng (với các tác phẩm của bach, Mozart, Verdi, M. Falla,..) và đặc biệt là Lieder, Romances, vocal cycles,... của những nhà soạn nhạc Nga và Liên Xô như Tchaikovsky, Mussorgsky, Stravinsky, Prokofiev, Shostakovich,...
Năm 1986, Makvala Kasrashvili vinh dự được phong tặng danh hiệu cao quý NSND Liên Xô (trước đó là Nghệ sỹ công huân Nga (1975), NSND Gruzia (1980))
Hiện nay, mặc dù đã có tuổi, Kasrashvili vẫn thỉnh thoảng tham gia thu âm và biểu diện. Bà đang làm việc tại nhà hát Bolshoi dưới cương vị là dạo diễn Opera (Director of Opera)
Dưới đây là bản romance nổi tiếng của Tchai qua giọng hát ngọt ngào của Makvala Kasrashvili:
Tchaikovsky - Green grass (Complaint of the bride) (I. Surikov), Op. 47 No. 7 _ Makvala Kasrashvili:
- http://www.box.net/shared/n7ubx9z109

Tác giả: Yes_I'm_Here (NCĐ forum)
http://nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=67

tykva 29-11-2007 20:55

Tchaikovsky - Green grass (Complaint of the bride) (I. Surikov), Op. 47 No. 7

Em như ngọn cỏ trên đồng…

I.Z.Surikov (1841-1880)

Em như ngọn cỏ trên đồng,
Mướt xanh mùa hè cỏ mọc;
Nỡ lòng nào ai mang hái,
Cắt ngang thân nắng héo khô.
Nỗi khổ một mình em chịu!
Phận em đớn đau vô bờ!

Em như bông lúa trên đồng,
Cao cao mùa về nặng bông;
Liềm cắt ngang thân lúa đổ
Từng lượm ngổn ngang nằm chờ.
Nỗi khổ một mình em chịu!
Phận em đớn đau vô bờ!

Em như quả dại trên đồng,
Chín đỏ hây hây đôi má
Ai nỡ bẻ cành, thu quả
Bó thành từng bó mang đi.
Nỗi khổ một mình em chịu!
Em đâu dám ca thán gì!

Em là con yêu của cha,
Đóa hoa trong lòng của mẹ;
Nỡ lòng nào ai mai mối
Ép duyên cho một ông già.
Nỗi khổ một mình em chịu!
Phận em đành vậy thôi mà!

Я ЛИ В ПОЛЕ ДА НЕ ТРАВУШКА БЫЛА…

И. З. Суриков (1841-1880)

Я ли в поле да не травушка была,
Я ли в поле не зеленая росла;
Взяли меня, травушку, скосили,
На солнышке в поле иссушили.
Ох ты, горе мое, горюшко!
Знать, такая моя долюшка!

Я ли в поле не пшеничушка была,
Я ли в поле не высокая росла;
Взяли меня, срезали серпами,
Склали меня на поле снопами.
Ох ты, горе мое, горюшко!
Знать, такая моя долюшка!

Я ли в поле не калинушка была,
Я ли в поле да не красная росла;
Взяли калинушку, поломали
И в жгутики меня посвязали.
Ох ты, горе мое, горюшко!
Знать, такая моя долюшка!

Я ль у батюшки не доченька была,
У родимой не цветочек я росла;
Неволей меня, бедную, взяли
И с немилым, седым, повенчали.
Ох ты, горе мое, горюшко!
Знать, такая моя долюшка.

Nina 05-12-2007 15:07

Netrebko, Anna (Soprano)
 
Netrebko, Anna (Soprano)


http://www.classicalvietnam.info/ima.../netrebko1.jpg
1971 -
Ảnh: http://www.annanetrebko.com


“Anna Netrebko đơn giản có tất cả: một giọng hát với sự tinh khiết
đáng kinh ngạc, chính xác và đầy học thức, sự năng động trải dài trên
một âm vực rộng, sức sáng tạo phong phú, một sự phối hợp hoàn hảo giữa
giọng hát và một sắc đẹp rực rỡ; tất cả những điều đó khiến chúng ta không
thể nào quên được khi xem cô biểu diễn” - San Francisco Chronicle


Giọng soprano người Nga Anna Netrebko hiện tại được coi là một trong số những ca sĩ opera xuất sắc nhất thế giới. Giải thưởng cuộc thi đơn ca toàn Nga mang tên Mikhail Glinka (Giải nhất, Moscow, 1993), và Cuộc thi quốc tế dành cho các ca sĩ opera trẻ mang tên Nicolai Rimsky-Korsakov lần thứ II (Giải III, Saint-Peterburg, 1996). Cô cũng là người nhận giải thưởng nhà hát cao nhất CASTA DIVA (1998) và giải thưởng nhà hát cao nhất của Saint Peterburg “Sophit vàng” (1999).

Anna Netrebko sinh ngày 18 tháng 9 năm 1971 ở Krasnodar. Năm 1990 Anna thi đỗ vào khoa thanh nhạc của Nhạc viện Quốc gia Leningrad mang tên Rimsky-Korsakov (lớp của giáo sư Tamara Novichenko). Anna tham gia diễn trong nhiều vở opera dành cho thiếu nhi tại nhà hát âm nhạc thuộc Nhạc viện. Cũng trong nhà hát này Anna đã đóng những vai như Susanna (Le nozze di Figaro, Wolfgang Amadeus Mozart) – vai chính đầu tiên và Violetta Valéry (La Traviata, Giuseppe Verdi).

Sau khi giành giải nhất tại cuộc thi đơn ca toàn Nga mang tên Mikhail Glinka (Moscow, 1993), nữ ca sĩ trẻ tuổi được giọng ca mezzo-soprano huyền thoại Irina Arkhipova mời tham dự vào một buổi biểu diễn ca nhạc ở Nhà hát Lớn Moscow.

Giọng soprano trữ tình màu sắc (soprano lyric-coloratura) của Anna Netrebko được coi là vô cùng ấn tượng không chỉ ở nhà hát Mariinsky, nơi cô ra mắt lần đầu tiên năm 1994 trong vai Susanna (Le nozze di Figaro). Những lần ra mắt của Anna tại các sân khấu opera lớn nhất của châu Âu và Mĩ cũng trở thành những sự kiện. Vai diễn Lyudmila ở San Francisco Opera trong vở Ruslan and Lyudmila của Mikhail Glinka năm 1995 được gọi là mê hoặc. Vai Natasha Rostova – một trong những vai hay nhất của Anna – trong vở War and Peace của Sergei Prokofiev đã được cô biểu diễn tại Metropolitan Opera, New York. Anna cũng trình diễn vai này trên các sân khấu của nhà hát Mariinsky (Saint Peterburg), Teatro Real (Madrid), La Scala (Milan), Covent Garden (London) và tại liên hoan Phục sinh Moscow trong những ngày kỷ niệm 60 năm Chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

Mùa hè năm 2002 Anna Netrebko trình diễn vai Donna Anna (Don Giovanni, Mozart) tại Liên hoan âm nhạc Salzburg – đây là lần đầu cô tham dự Liên hoan này. Sau vai diễn Donna Anna cô được gọi là “điều kỳ diệu Salzburg”. Tháng 9 năm 2003 album đầu tiên của Anna được ra mắt với tư cách nghệ sĩ độc quyền của hãng ghi âm Duetsche Grammophon. Cũng trong năm đó Anna hát vai Lucia trong vở opera Lucia di Lammermoor (Gaetano Donizetti) tại Los Angeles Opera. Tháng 2 năm 2004, Netrebko biểu diễn ở Vienna Staatsoper và như báo chí Áo nhận xét: “Giọng hát độc đáo quyến rũ vô cùng đã chinh phục công chúng âm nhạc thành Vienna vốn rất khó tính và biết thưởng lãm”.

Khi những vai diễn xuất sắc của Anna Netrebko trên sân khấu các nhà hát opera hàng đầu thế giới và các dàn nhạc giao hưởng trở nên nổi tiếng và được các nhà phê bình hoan nghênh nhiệt liệt thì Anna khẳng định được vị trí của mình như là một trong những ngôi sao được yêu quý nhất trong thế giới âm nhạc. Lần đầu biểu diễn tại Bayerische Staatsoper, Anna đã khiến cho một nhà phê bình phải viết: “Chưa có ai trẻ đẹp hơn thế, chưa ai hát hay hơn thế, chưa ai duyên dáng hơn thế - đó là những tràng vỗ tay và nước mắt dành cho nàng “Maria Callas mới” của sân khấu opera”.

Là một trong những giọng soprano hàng đầu của nhà hát Opera Mariinsky do Valery Gergiev dẫn dắt, Anna đã chiếm được cảm tình của rất nhiều khán giả trong vai diễn đã trở thành thương hiệu của cô – vai Natasha Rostova trong “War and Peace” của Prokofiev. Vai diễn này đã đưa Anna Netrebko tới các sân khấu của Royal Opera, Covent Garden, Teatro alla Scala, Milan and Teatro Real, Madrid và đó cũng là vai diễn ra mắt của Anna tại Metropolitan Opera vào ngày 14 tháng 2 năm 2002. Vai diễn đã chiếm được cảm tình của khán giả, và theo như một nhà phê bình viết “Giọng ca soprano này có vẻ đẹp tinh tế, mảnh dẻ, trông cô chỉ nhiều tuổi hơn một nữ sinh chút ít. Với sự duyên dáng uyển chuyển của một diễn viên múa trong chuyển động, và giọng hát với sức mạnh đáng kinh ngạc và trong trẻo thuần khiết, Anna không diễn vai một nữ nhân vật chính mạnh mẽ, với tình yêu mãnh liệt, cô sống với nhân vật ấy… Đó là một Audrey Hepburn biết hát”.

Anna Netrebko cũng sớm giành được thành công ở châu Âu. Cô được biết đến tại buổi diễn ra mắt bất ngờ tại Liên hoan âm nhạc Salzburg trong lần vào vai Donna Anna (Don Giovanni) đầu tiên. Rồi sau đó Anna ra mắt công chúng thành Vienna và Munich trong vai diễn Violetta Valéry (La Traviata). Anna còn trở lại với Vienna Staatsoper trong các vai diễn của Donna Anna, Juliette trong Roméo et Juliette (Charles Gounod), Adina trong L’elisir d’amore (Donizetti) cũng như trên sân khấu Bayerische Staatsoper với những vai diễn như Violetta và Gilda trong Rigoletto (Verdi). Netrebko cũng tham dự Liên hoan Salzburg trong vai diễn Donna Anna cũng như trong các buổi biểu diễn các trích đoạn thanh nhạc thính phòng khác như War and Peace và I Capuleti e i Montecchi (Vincenzo Bellini). Năm 2005 Anna thành công lớn với La Traviata cùng với giọng tenor Rolando Villazon, và cô cũng trở lại với vai diễn Susanna trong vở Le nozze di Figaro của Mozart năm 2006. đây là vở diễn mở màn mùa diễn kỉ niệm năm của Mozart nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của nhà soạn nhạc vĩ đại. Khán giả của Royal Opera, Covent Garden cũng được thấy Anna trong vai Donna Anna năm 2004, Gilda và Servilia trong La clemenza di Tito (Mozart).

Sau vai diễn ra mắt Natasha ở Metropolitan Opera, Anna Netrebko còn đóng những vai khác ở nhà hát này như Gilda (Rigoletto) và Musetta (La Boheme, Giacomo Puccini). Anna cũng là giọng soprano được yêu thích ở Washington Opera, với những vai diễn như Ilia trong Idomeneo (Mozart) đóng cùng với Plácido Domingo; Susanna và Gilda. Anna Netrebko ra mắt Los Angeles Opera năm 2003 với vai Lucia và vai Juliette trong Roméo et Juliette cùng với Rolando Villazon. Sau khi ra mắt San Francisco Opera trong vai Lyudmila vở Ruslan and Lyudmila của Glinka năm 1995, khán giả còn được thấy cô trong một loạt vai diễn như Zerlina trong Don Giovanni, Ilia, Musetta, Adina, Nannetta trong Falstaff (Verdi), Luisa trong Betrothal in a Monastery (Prokofiev) và Marfa trong vở The Tsar's Bride của Rimsky-Korsakov.

Anna Netrebko còn biểu diễn khắp thế giới trong các buổi biểu diễn hòa nhạc thính phòng và ghi âm. Lần ra mắt đầu tiên của Anna trong lĩnh vực này là năm 2004 ở Waldbühne, Berlin trước một lượng công chúng lên đến gần 15000 người trong một chương trình biểu diễn gồm các aria và duet cùng tenor Marcelo Alvarez. Buổi biểu diễn này được phát sóng trên truyền hình Đức, và điều này khiến cho buổi biểu diễn tiếp theo của Anna năm 2005 tại Königsplatz, Munich có 17 000 khán giả tới dự. Tháng 7 năm 2006, Anna trở lại Waldbühne tham dự buổi biểu diễn cùng với Placido Domingo và Rolando Villazon và Berlin Philharmonic trước trận chung kết bóng đá World Cup.

Năm 2005 Netrebko quay lại Royal Albert Hall London trong một buổi biểu diễn gồm các aria dưới sự chỉ huy của Gianandrea Noseda và Anna cũng xuất hiện tại Verbier Festival với phần trình bày Bản giao hưởng số 4 giọng Son trưởng của Gustav Mahler và Stabat Mater của Giovanni Battista Pergolesi. Anna cũng tham gia Maggio Musicale Festival ở Florence với Mass Si thứ, BWV. 232 của Johann Sebastian Bach và Judas Maccabaeus HWV. 63 của George Frideric Handel. Cô cũng tham dự các buổi biểu diễn tại Liên hoan Phục sinh Moscow cùng với nhạc trưởng Valery Gergiev, còn các khán giả Italy cũng được chứng kiến tài nghệ của cô tại Tuscan Sun Festival ở Cortona tại các buổi trình diễn các aria và duet cùng với baritone đồng hương Dmitri Hvorostovsky.

Trong mùa diễn 2006 – 2007, Anna Netrebko vào vai Manon trong vở opera cùng tên của Jules Massenet cùng với Rolando Villazon tại Los Angeles Opera. Một version khác của Manon được Anna trình diễn ở Vienna Staatsoper cùng với Roberto Alagna sau khi cô đã đóng vai Amina tại đó trong vở La sonnambula của Bellini. Netrebko cũng sẽ trở lại Metropolitan Opera trong vai một nữ nhân vật của Bellini khác, vai Elvira trong I Puritani, và trong buổi trình diễn La Bohème, vở diễn đã đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của Anna trong vai Mimi ở ngoài nước Nga. Anna Netrebko sẽ kết thúc mùa diễn này ở Royal Opera, Covent Garden với vai diễn Donna Anna. Trong mùa diễn này, Netrebko cũng sẽ có nhiều buổi biểu diễn concert với giọng tenor Rolando Villazon, trong đó có các buổi biểu diễn ở Barbican Hall (London), Théâtre des Champs-Elysées (Paris), Stadthalle (Vienna), cũng như tour diễn mùa hè ở Đức. Netrebko cũng dự định tham gia Liên hoan Salzburg và Cortona, Italy với phần trình diễn Stabat Mater (Pergolesi) với mezzo-soprano Elina Garanca. Vào ngày 30 tháng 5 năm 2007, Netrebko có buổi ra mắt đầu tiên của mình tại Carnegie Hall, New York khi cô biểu diễn cùng Dmitri Hvorostovsky và Orchestra of St. Luke's. Đáng lẽ chương trình này đã được diễn ra vào ngày 2 tháng 3 năm 2006 nhưng Netrebko đã hoãn lại vì cô muốn có một sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn.

Tháng 3 năm 2006, Netrebko nộp đơn xin được có quốc tịch Áo và cuối tháng 7 năm đó cô đã trở thành công dân Áo – một đất nước thuộc EU. Theo như một cuộc phỏng vấn của cô với các tờ báo tại Áo thì hiện tại Netrebko chủ yếu sống tại Vienna và Salzburg. Việc gia nhập quốc tịch Áo của Netrebko đã vấp phải làn sóng phản ứng quyết liệt từ phía nước Nga nhưng như cô giải thích, lí do chính của việc cô muốn có quốc tịch Áo là vì các thủ tục rắc rối của một công dân Nga khi xin visa để biểu diễn ở các nước Tây Âu và Mĩ.

Kể từ khi bước lên sân khấu Nhà hát Opera Kirov lần đầu tiên năm 1994, Anna thường xuyên quay lại sân khấu này với hầu hết các vai chính của mình. Anna còn tham gia nhiều buổi biểu diễn âm nhạc với Maestro Gergiev, trong số đó có các buổi trình diễn bản giao hưởng số 2 và bản giao hưởng số 4 của Mahler ở St. Petersburg. Năm 1998, với tư cách một thành viên của Nhà hát Opera Kirov, Anna đã xuất hiện lần đầu trên sân khấu Metropolitan Opera trong vai Lyudmila và Luisa (Betrothal in a Monastery).

Năm 2002, Anna Netrebko trở thành nghệ sĩ ghi âm độc quyền của Deutsche Grammophon. Đĩa solo đầu tiên của Anna được thực hiện năm 2003 và ngay lập tức trở nên nổi tiếng và được các nhà phê bình khen ngợi. Đĩa này đã nhận được giải thưởng của tạp chí Gramophone Magazine and Opera News. Đĩa solo thứ hai của Anna cộng tác với nhạc trưởng lừng danh Claudio Abbado và Mahler Chamber Orchestra gồm các aria trong các vở opera của Ý với tên gọi “Sempre libera”, được ra mắt năm 2004. Tháng 10 năm 2005 Deutsche Grammophon phát hành La Traviata của Anna, được ghi âm trực tiếp tại Liên hoan âm nhạc Salzburg dưới cả 2 định dạng CD và DVD. Còn năm 2006 thì Anna ghi âm các aria opera của Mozart nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của nhà soạn nhạc. Tất cả các ghi âm của Anna đều nhận được danh hiệu đĩa bạch kim ở Đức và Áo cùng nhiều giải thưởng ở các quốc gia khác. Vào tháng 10, đĩa solo thứ ba của Anna, The Russian Album, được Deutsche Grammophon phát hành, còn tháng 11 thì EMI Classics sẽ phát hành DVD thu âm trực tiếp tại buổi biểu diễn của Anna trong vai Adina (L’elisir d’amore) tại Vienna Staatsoper cùng với Rolando Villazon.

Tháng 10 năm 2005 Anna Netrebko nhận được hai giải thưởng uy tín của Đức trong lĩnh vực nhạc cổ điển Echo trong hai đề cử “Nữ ca sĩ của năm” và “Album của năm” (cho đĩa hát "Sempre Libera"). Cũng trong năm này, Netrebko được đích thân tổng thống Nga Vladimir Putin trao tặng Russian State Prize – giải thưởng cao quý nhất của nước Nga dành cho văn học và nghệ thuật. Ngày nay, Netrebko vẫn tiếp tục trau dồi giọng hát của mình dưới sự hướng dẫn của danh ca Renata Scotto – thần tượng của Netrebko. Tạp chí Musical America đã dành tặng cho cô những lời ngợi khen vô cùng thiện chí: “Anna Netrebko – một siêu sao đích thực của thế kỉ 21”.


Nina (tổng hợp)

Nguồn: http://belcanto.ru
http://www.mariinsky.ru
http://www.annanetrebko.com
-----------------

Bài viết này của Nina đã được BBT website www.classicalvietnam.info hiệu đính và đăng ở
http://www.classicalvietnam.info/mod...lArt&catid=147

Nina 04-05-2008 10:07


Anna Netrebko sẽ có một buổi biểu diễn ở Nga - nhưng không biết Apomethe có gặp được nàng hay không :)

http://www.vesti.ru/doc.html?id=179081&cid=1

Дива

Гуля Балтаева
Для московского концерта Анна Нетребко выбрала самые сложные арии из своего репертуара
фото видео

http://www.vesti.ru/p/b_240586.jpg

У любителей оперы в эти дни на один праздник больше. Анна Нетребко дала единственный концерт в Москве. В России известная на весь мир оперная дива выступает редко, к тому же за последние несколько месяцев часть концертов пришлось отменить - певица в скором времени ожидает прибавления семейства. Тем не менее, для московского концерта Нетребко выбрала самые сложные арии из своего репертуара.

За небольшой афишей во внутреннем дворе Консерватории - страсти и, для многих, неосуществленные мечты. Увы, достать билеты на концерт Анны Нетребко, которая была признана в прошлом году лучше оперной певицей, сейчас уже невозможно. Ради концерта на родине, в Москве, Анна отменила несколько выступлений, включая то, что было запланировано на авторитетнейшем Зальцбургском фестивале.

Партия Джульетты. Это был дебют Анны Нетребко, дебют на сцене Филадельфийской оперы в 2002 году. Сложнейшая белькантовая ария Пучини. В Москву она только такие, трудноисполняемые, и привезла. Словно решила окончательно убедить тех, кто никак не может поверить - неужто и впрямь, с такой внешностью она еще и поет?!

"Голос великолепный! Мы всегда в восторге, когда она поёт", - говорит дирижёр Кери-Линн Уилсон.

У нее всегда, с первого момента появления на сцене, возникает контакт с публикой, говорит Кери-Лин Уилсон, слушатели как завороженные сидят весь концерт, а потом взрываются аплодисментами. Это что-то невероятное. С ней очень приятно работать.

"Человек, сделавший себя сам, достигший своей мечты, оптимист, удивительно доброжелательный по отношению к другим - это все она, Аня", - говорит оперная певица Рюксандра Донозе.

Но не одни лишь уникальные вокальные данные заставляют сходить по ней с ума весь мир: фотографии Анны Нетребко за честь считают получить и "Тайм", и "Вог", и "Плэйбой", где самое последнее, мартовское, интервью примадонны.

"Мне понравилось, хороший журнал. Сниматься обнажённой я не готова. но в "Плейбое" снимаются не только обнажёнными. очень многие актрисы снимались, мне кажется, это очень красиво", - рассказывает Анна Нетребко .

Между ариями она успевает накрасить ногти, обсудить меню - сегодня своих звездных коллег зовет на ужин в узбекский ресторан. Вкусно поесть любила всегда. На вопрос: не тяжело ли так много выступать, когда до родов всего четыре месяца, - громко вздыхает.

"Меня никто не спрашивает. У меня бывают дни, когда я не могу встать с постели. Я себя так плохо чувствую. Не говоря уже о том, что у меня нет никакого голоса. А я знаю, что вечером несколько тысяч человек..." - говорит Анна Нетребко.

Она не жалуется, дурачится, строит глазки, но нервничает иногда так, что срывается голос. Как случилось это совсем недавно в Вене.

"Вдруг в день последнего концерта - нет голоса. Его нет! Я не могу его нигде найти. За полчаса до концерта я пытаюсь распеваться, а он у меня "крякает", "пускаю петуха". У меня холодный пот, ужас, я говорю, что не знаю, что делать", - вспоминает Анна Нетребко.

Все кончилось хорошо - они с дирижером сократили партию, убрав самые сложные, самые высокие ноты. Правда, пришлось, на всякий случай, отменить после этого несколько концертов. Но не московский. Певица хочет на Родине выступить, во что бы то ни стало. И посвящает это выступлению своему будущему первенцу.

Nina 06-07-2008 17:41

http://www.rian.ru/review/20080706/113214166.html
Lại xin xếp gạch ...


Тамара Синявская: "Не вру ни в жизни, ни в пении"
12:28 | 06/ 07/ 2008

http://img.rian.ru/images/11321/19/113211959.jpg

65 лет назад (1943) родилась певица Тамара Ильинична Синявская, народная артистка СССР. С юбилеем ее поздравил президент России Дмитрий Медведев.

Природа одарила Синявскую великолепным меццосопрано с уникальными контральтовыми красками, прекрасной внешностью и актерским талантом.

Она поет, сколько себя помнит - с трех лет. Маленькой Тамаре нравилось петь в подъезде своего московского дома, где была прекрасная акустика: голос звучал красиво, как в храме.

Потом она начала давать "концерты" у себя во дворе. Будущую оперную звезду соседи просили петь потише, советовали ее матери отвести ее в Дом пионеров. Только сначала записали ее не в хор, а в танцевальную группу знаменитого детского ансамбля песни и пляски под руководством Владимира Локтева (помимо пения Тамара очень любила балет).

Позже Тамара Синявская перешла в хор этого ансамбля, окончила Музыкальное училище при Московской консерватории, а затем ГИТИС по классу пения. Еще будучи студенткой, она обратила на себя внимание и была приглашена в Большой театр.

Попав в стажерскую группу, она меньше чем через два месяца уже спела партию Ольги в "Евгении Онегине" Чайковского. После выступления в партии Ратмира в опере Глинки "Руслан и Людмила" Синявская из стажеров перешла в оперную группу.

Редкий по красоте голос позволил Тамаре Синявской блистать во многих партиях русского и зарубежного оперного репертуара: Марина Мнишек ("Борис Годунов" Мусоргского), Лаура ("Каменный гость" Даргомыжского), Любаша ("Царская невеста" Римского-Корсакова), Марфа ("Хованщина" Мусоргского), Кончаковна ("Князь Игорь" Бородина), Кармен ("Кармен" Бизе), Азучена ("Трубадур" Верди)....

Успех неизменно ей сопутствовал. В конце шестидесятых годов она стала победительницей трех международных конкурсов и получила золотую медаль на международном конкурсе молодых оперных певцов в Софии, Гран при и золотую медаль ХII международного конкурса вокалистов в Вервье (Бельгия), первую премию на IV Международном конкурсе имени Чайковского.

Большую популярность принесла певице также широкая концертная деятельность, в рамках исполнялись не только оперные арии и классические романсы, но и русские народные песни. Принцип "мое" - "не мое" сопутствует Тамаре Синявской при выборе и оперного, и концертного репертуара. Однажды Синявская сказала: "Я не научилась врать ни в жизни, ни в пении".

Во время выступлений в Баку Синявская познакомилась с Муслимом Магомаевым. Певец стал завсегдатаем Большого театра - прослушал все спектакли с ее участием, дарил самые большие и красивые букеты. Потом было испытание чувств разлукой - Тамара Синявская на полгода уехала на стажировку в Италию, а Муслим звонил ей каждый день.

23 ноября 1974 года они поженились. С тех пор они - дуэт не только в жизни, но и на сцене: Тамара Синявская нередко выступает вместе со своим знаменитым мужем. На вопрос, на чем держится их прочный союз, певица отвечает: "Может быть, самое главное - любовь?.."

В 2003 году Синявская покинула Большой театр, решив, что пусть лучше говорят, что она ушла слишком рано, чем слышать: "Как? Она все еще поет!" По ее словам, она может себе позволить петь только на своем уровне и ни на ступеньку ниже. "Но петь, как раньше, я уже не могу, хотя бы из-за нервов, - говорит певица. - Выступая в каком-нибудь концертном зале, я начинаю волноваться, как будто бы выхожу по меньшей мере на сцену Ла Скала. Зачем мне это надо? Я и на телевидении по этой же причине не появляюсь - вдруг покажут в таком ракурсе, что ахнешь... Стараюсь охранять себя и свое имя".

При этом певица ежедневно "здоровается" со своим голосом: пропевает любимые арии, романсы.

Edin 26-10-2008 02:13

Ca sỹ huyền thoại Muslim Magomaev qua đời!
 
http://img.beta.rian.ru/images/15380/09/153800915.jpg



Ca sỹ huyền thoại Muslim Magomaev đã qua đời ở tuổi 67 sau trận ốm nặng. Các nhà hoạt động văn hóa, nghệ thuật và các chính trị Nga và Azerbaijan, trong đó có Tổng thống Dmitry Medvedev và Il'kham Aliev, đã bày tỏ sự tiếc thương sâu sắc trước cái chết của người nghệ sỹ vĩ đại.

Muslim Magomaev sinh ra trong gia đình có truyền thống sân khâu-âm nhạc. Ngay từ thuở nhỏ Magomaev đã học chơi piano và nhạc lý, tuy nhiên các nhà sư phạm lại hướng cậu bé đến với con đường ca hát. Khi mới 20 tuổi, sau buổi biểu diễn tại Cung điện Kremli trong Liên hoan văn hóa Azerbaidzan, chàng ca sỹ đã được biết như thế nào là sự nổi tiếng. Năm sau - lần đầu tiên Magomaev hát đơn ca tại khán phòng mang tên nhà soạn nhạc vĩ đại Chaikovsky.

Muslim Magomaev trở thành ca sỹ hát đơn của nhà hát Opera và Bale Azerbaijan. Cánh cửa của những khán phòng âm nhạc nổi tiếng nhất của thế giới đang mở ra phía trươc chàng ca sỹ trẻ tuổi. Chất giọng nam trung du dương của ông vang lên từ sân khấu các nhà hát La Skala Milan và Olympia Paris. Các bài tình ca và các tác phẩm tạp kỹ được thể hiện gần như cùng lúc với những bản opera trang nghiêm trong các tiết mục biểu diễn của Magomaev. Vào năm 1969 ông trở thành người đầu tiên nhận giải thưởng của kỳ thi âm nhạc ở Sopota, còn ở Kanner người ta đã trao cho ông "đĩa vàng".

Năm 31 tuổi Muslim Magomaev nhận danh hiệu nghệ sỹ nhân dân Liên xô. Các đĩa nhạc của ông được phát hành với số lượng khổng lồ. Những buổi biểu diễn trên truyền hình và các chuyến lưu diễn không ngừng nghỉ. Ở khắp những nơi ngươi ca sỹ này đến luôn có hàng nghìn người hâm mộ chào đón.

Còn trong các buổi biểu diễn khi người dẫn chương trình chưa kịp giới thiệu đầy đủ: chỉ cần nhắc đến tên - Muslim và họ - Magomaev là đã tràn ngập những tràng pháo tay của khán giả.
Người ta hâm mộ ông tới mức nhảy cả lên sân khấu và khiêng ông trên tay ra thẳng xe ô tô.
"Ông ấy là thần tượng của cả Liên xô. Tôi nhớ người ta nâng ông trên tay và nhiều khi nhấc cả xe ô tô của ông ấy đi. Hiếm có sự hâm mộ nào cuồng nhiệt đến thế".

Ông bắt đầu nổi danh khắp Liên xô trong một khoảnh khắc vào tháng 3 năm 1963, khi người ta phát buổi hòa nhạc tại Cung điện Kremly trên truyền hình. Hai năm sau thành công rực rỡ này ở Liên xô chẳng thể tìm thấy một người nào mà chưa một lần nghe qua giọng hát của Magomaev và không nhớ một vài dòng chữ trong bài hát của ông.

Các tiết mục "Magomaev" - lên đến hàng trăm bài, dường như ông hát mọi thể loại: cả opera, cả những bài ca yêu nước Xô viết và cả những bản tình ca. Ông luôn hát bằng cả trái tim và tâm hồn mình. Chỉ có duy nhất một bài hát ông không bao giờ thích nhưng vẫn luôn hát nó trong mỗi buổi biểu diễn đó là bài "Đám cưới". Người ta gọi ông là "Chim họa mi bakinsky" và ông thích cách ví von này.

Những năm gần đây Magomaev hầu như không biểu diễn, nhưng không ngừng sáng tác. Ông đam mê internet, thường xuyên giao tiếp với người hâm mộ qua website của mình và viết nhạc. Bởi vì ông không những là một ca sỹ mà còn là nghệ sỹ piano và nhà soạn nhạc nổi tiếng. Bài hát sau cùng của ông là từ những vần thơ của Exenin. Ông sáng tác trong phòng thu riêng của mình.

CD
- Благодарю тебя, Мелодия, 1995 г.
- Арии из опер, мюзиклов (Неаполитанские песни), Мелодия, 1996 г.
- Звёзды советской эстрады (Муслим Магомаев. Лучшее), CD-Landrec, 2001 г.
- Любовь — моя песня (Страна грёз), 2001 г.
- Воспоминания об А. Бабаджаняне и Р. Рождественском (Серия «Звезды, которые не гаснут»), Парк-рекордз, 2002 г.
- Муслим Магомаев (Избранное), PARK RECORDS, 2002 г.
- Арии из опер, PARK RECORDS, 2002 г.
- Песни Италии, PARK RECORDS, 2002 г.
- Концерт в зале Чайковского, 1963 г. (Фонд Рашида Бейбутова, Азербайджан), 2002 г.
- Великие исполнители России XX века (Муслим Магомаев), Moroz Records, 2002 г.
- С любовью к женщине, PARK RECORDS, 2003 г.
- Спектакли, Мюзиклы, Кинофильмы, PARK RECORDS, 2003 г.
- Рапсодия любви, PARK RECORDS, 2004 г.
- Муслим Магомаев. Импровизации, PARK RECORDS, 2004 г.
- Муслим Магомаев. Концерты, концерты, концерты., PARK RECORDS, 2005 г


Награды

- Народный артист СССР
- Орден Почёта (2002)
- Орден Трудового Красного Знамени (1971)
- Орден Дружбы народов (1980)
- Орден «Истиглал» (Азербайджан, 2002)
- Орден «Шохрат» (Азербайджан, 1997)
- Почётный знак «За заслуги перед польской культурой»
- Нагрудный знак «Шахтерская слава» III степени
- Орден Ломоносова (Академия проблем безопасности, обороны и правопорядка РФ, 2004)
- Национальная премия имени Петра Великого (2005)
- Орден «Сердце Данко», присуждаемый за выдающиеся достижения в деле развития Российской культуры


Theo: www.1tv.ruwww.rian.ru www.ru.wikipedia.org

phucanh 05-11-2008 09:27

Благодарю тебя
 

Исполнитель: Муслим Магомаев
Альбом: Благодарю тебя
Выпущен в 1995 году
Жанр: ретро
Формат: MPEG 1 Layer III (MP3) / 320 kbps CBR / 44100 KHz / Joint Stereo
Общее время звучания: 01:04:15
Размер: 148 Mb

Список композиций:

01. Благодарю тебя (03:34)
02. Королева красоты (02:35)
03. Пока я помню,я живу (04:08)
04. Свадьба (03:24)
05. Зимняя любовь (04:14)
06. Сердце на снегу (03:23)
07. В нежданный час (04:09)
08. Чертово колесо (04:12)
09. Не спеши (03:31)
10. Лучший город Земли (02:37)
11. С любовью к женщине (04:07)
12. Разве тот мужчина (02:10)
13. Чья вина? (03:27)
14. Возврашение романса (03:27)
15. Позови меня (04:16)
16. Приснившаяся песенка (03:12)
17. Синяя вечность (03:10)
18. Мелодия (04:39)

http://narod.ru/disk/3046579000/Musl...part1.rar.html
http://narod.ru/disk/3046981000/Musl...part2.rar.html

phucanh 12-11-2008 12:20

Светлой памяти МУСЛИМА МАГОМАЕВА
 
Để tưởng nhớ Ca sĩ huyền thoại này, ngày 29/11/2008 vừa qua Телеканал «Россия» đã tổ chức 1 chương trình ca nhạc với tên gọi: "Светлой памяти МУСЛИМА МАГОМАЕВА", mời cả nhà cùng thưởng thức!

http://i216.photobucket.com/albums/cc58/dkthanh/mm1.jpg

Страна: Азербайджан, Россия
Жанр: Опера, Романс, Эстрада, Народные песни
Длительность: 01:22:17
Размер: 876 MB
Выпущено: Телеканал «Россия»

Светлая память великому Певцу и Артисту планеты Земля!

Прощай, Певец. Наш путь конечен,
Отмерен волей роковой.
Но солнечный твой голос вечен,
Как вечно солнце над землёй!
Б.Б.


Источник рипа: TV
Язык: русский
Субтитры: Отсутствуют
Тип русского перевода: без перевода
Продолжительность: 01:22:17
Параметры видео: XVID, 592x448 (1.32:1), 25.000 fps, 1260 kb/s, 0.190 bits/pixel
Параметры звука: MPEG-1 Layer 2, 48000 Hz, 224 kb/s, stereo, CBR

http://i216.photobucket.com/albums/cc58/dkthanh/mm2.jpg

http://i216.photobucket.com/albums/cc58/dkthanh/mm3.jpg

http://i216.photobucket.com/albums/cc58/dkthanh/mm4.jpg

Download ở đây

Пароль на архивы: Muslim

Nina 01-07-2009 03:01

Ekaterina Shcherbachenko giành giải nhất cuộc thi Cardiff 2009
 
Ekaterina Shcherbachenko giành giải nhất cuộc thi opera danh tiếng Cardiff 2009

Tất nhiên tin này đến nay thì cũng chẳng còn nóng hổi gì :), có điều ... đến hôm nay Nina mới có thể nghe được phần biểu diễn của Ekaterina tại Cardiff 2009 :).

Cuộc thi này vốn có tên "BBC Cardiff Singer of the World 2009" do hãng BBC tổ chức dành cho các ca sĩ trẻ mới bắt đầu sự nghiệp. Do đó đương nhiên đây chưa hẳn là các ca sĩ đã đạt độ chín của tài năng, họ mới bắt đầu ...

Thật ngạc nhiên, là Nina lại ... không thích lắm phần biểu diễn trích đoạn viết thư (Letter Scene) của Tatyana trong vở opera "Eugene Onegin" của nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng Tchaikovsky P. Có cảm giác Ekaterina hơi ... kịch tính quá đà..., cá nhân Nina thấy không phù hợp với cả nhân vật lẫn âm nhạc. Vì trong trích đoạn này, Tatyana vẫn còn là một cô gái rất trẻ, khi viết thư cho Onegin mà... Mặc dù có thể ... chính cách hát nốt cuối cùng (trong từ вверяю...) mạnh mẽ và rất ép phê, khác với các primadonna khác đã tạo nên sự khác biệt của Ekaterina chăng?


http://www.youtube.com/watch?v=nZGH7AZ8iic

Cảnh viết thư của Tatyana trong "Eugene Onegin" do giọng soprano Ekaterina Shcherbachenko biểu diễn tại Cardiff 2009

Cũng trong phần biểu diễn dự thi của Ekaterina ở Cardiff, Nina thích vai diễn Liu trong vở "Turandot" của nhà soạn nhạc danh tiếng G.Puccini. Một vai diễn rất dịu dàng cả về tính cách lẫn âm nhạc, vốn rất được khán giả và các nhà phê bình yêu mến. Vai diễn này đã được Shcherbachenko thể hiện trên sân khấu Nhà hát Lớn bằng tiếng Nga. Tại Cardiff, Shcherbachenko đã trình bày aria "Signore, ascolta". Có vẻ, tại Cardiff thì cô đã hát nắn nót hơn, cẩn thận hơn hẳn, nhưng chính vì thế lại thiếu đi một cái gì đó ... tự nhiên hơn so với trên sân khấu

http://www.youtube.com/watch?v=q9XkvMI9P0Q

Aria "Signore, ascolta" do Ekaterina Shcherbachenko biểu diễn tại Cardiff 2009

Tất nhiên các trích đoạn trên youtube không thể phản ánh đúng chất lượng giọng hát. Ví dụ Nina có cảm giác các nốt cao của Ekaterina hơi chói, nhưng bé lemeshev thì lại bảo đó là do kỹ thuật thu âm, nén âm thanh, và youtube biến dạng. Bé Lemeshev thì lại không thích các nốt dưới của Ekaterina. Tuy nhiên, nhìn chung là kỹ thuật rất ổn (đối với lemeshev, chứ còn Nina thì không dám bàn về kỹ thuật), còn phần diễn xuất thì còn nhiều thời gian để trau chuốt.

Có thể nói giải thưởng này chắc chắn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Ekaterina Shcherbachenko. Đã 20 năm rồi sau Dmitri Hvorostovsky, một ca sĩ Nga mới lại giành được giải nhất tại giải thưởng uy tín này. Chắc chắn, giải thưởng này sẽ mở đường cho Ekaterina Shcherbachenko đến với các lời đề nghị hấp dẫn từ các nhà hát và hãng thu âm hàng đầu thế giới. Cơ hội đã có, còn tận dụng cơ hội như thế nào là tùy vào giọng soprano trẻ tuổi này. Nếu có một buổi biểu diễn ra mắt thành công, một đĩa thu âm chất lượng cao, được đầu tư trau chuốt đúng đắn về diễn xuất, hình ảnh sân khấu (vốn Ekaterina có bề ngoài khá xinh xắn, dễ thương), và các vấn đề kỹ thuật khác (như giữ giọng chẳng hạn) thì chắc chắn Ekaterina sẽ có vị trí xứng đáng trong thế giới opera

Nina 06-07-2009 22:18


Ngày 7/7/2009 là ngày nữ ca sĩ giọng mezzo-soprano lừng danh Elena Obraztsova tròn 70 tuổi. May quá, mình tìm được bài viết của cobeo (website nhaccodien.info) về bà, một bài viết rất công phu và chi tiết ...

Elena Obraztsova - Niềm tự hào của nước Nga


http://nhaccodien.info/images/Image/obraztsova2.jpg




Giọng mezzo-soprano (nữ trung) Elena Obraztsova được coi là ca sĩ hàng đầu của nền opera Liên Xô trong thập niên 70, 80 của thế kỉ 20. Sau một buổi biểu diễn của bà tại Pháp, tạp chí France Soir đã viết: “nếu bạn chỉ một lần nghe bà hát thôi, bạn sẽ nghiện giọng hát bà cả đời!”. Và có lẽ bà là người đầu tiên của nước Nga kể từ thời Feodor Chaliapin huyền thoại trở thành một trong những ca sĩ xuất sắc nhất trên thế giới.

Elena Obraztsova sinh ngày 7 tháng 7 năm 1939 (có tài liệu nói rằng năm 1937) tại thành phố Leningrad (St. Peterburg), Liên Xô. Thuở nhỏ, Lena và gia đình có một cuộc sống cơ cực, vất vả vì sự bao vây của phát xít Đức trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2. Chính cuộc bao vây này đã cướp đi sinh mạng người bà của Lena. Sau khi chiến tranh kết thúc, cha cô từ chiến trường trở về và một cuộc sống mới của gia đình bắt đầu. Lena được gửi vào nhà trẻ và chính tại đây, cô bé bắt đầu bộc lộ niềm yêu thích ca hát và giấc mơ trở thành ngôi sao opera của mình. Người phụ trách nhà trẻ chính là người đầu tiên nhận ra năng khiếu của Lena khi thấy cô bé hát rất chính xác những bản Waltz của Johann Strauss mà Lena nghe được từ chiếc loa phóng thanh gần nhà trẻ. Mẹ cô được người phụ trách nhà trẻ nói lại điều này nhưng bà không để ý đến. Cha của Lena, một kĩ sư lành nghề, chơi được một vài nhạc cụ đồng thời là ca sĩ nghiệp dư giọng baritone trong một lần đi công tác ở Ý mang về một số đĩa nhạc và từ đó đối với cô, giọng hát của các ca sĩ nổi tiếng như Enrico Caruso, Beniamino Gigli hay Amelita Galli-Curci trở nên rất quen thuộc.

Từ năm 1948 đến năm 1954, Lena theo học trong Dàn hợp xướng trẻ em tại Cung thiếu nhi Leningrad. Người sáng lập và lãnh đạo Dàn hợp xướng là Maria Zarinskaia. Obraztsova nhớ lại người thầy đầu tiên của mình: “Zarinskaia là một con người và một nhà giáo lỗi lạc. Bà đã cho tôi thêm tình yêu đối với thế giới thanh nhạc và là người đầu tiên cho tôi niềm tin rằng tôi sẽ trở thành ca sĩ”.

Tuy nhiên, ước muốn trở thành ca sĩ chuyên nghiệp của Lena bị chính bố cô phản đối, ông muốn cô trở thành một nhà khoa học và có ý định để Lena vào học tại Radio Technical Institute tại Taganrog (nơi cả gia đình chuyển đến sinh sống vì công việc của người cha và là quê hương của nhà văn nổi tiếng Anton Pavlovich Chekhov). Nhưng Lena kiên quyết phản đối và cuối cùng người cha đành phải nhân nhượng. Cô học tại Rostov Music College từ năm 1954 đến 1958. Đến tháng 8 năm 1958, Lena được nhận vào Nhạc viện Rimsky-Korsakov, thành phố Leningrad, (khóa học này chỉ có 3 người trúng tuyển trên tổng số 100 thí sinh) và theo học tại đây trong 6 năm trời dưới sự hướng dẫn của giáo sư Antonina Grigorieva. Obraztsova nhớ về người thầy của mình với một tình cảm nồng ấm: “Thầy giáo của tôi là một con người rất cẩn thận và khéo léo. Tôi luôn nôn nóng muốn hát những aria lớn và những romance phức tạp. Nhưng bà luôn thuyết phục tôi rằng nếu không có những bài học cơ bản về thanh nhạc thì sẽ không có kết quả. Bà đã rất sáng suốt thăm dò khả năng của tôi và không vội vàng bóc ra những nụ non. Bà nói: “Nếu bóc những nụ non ra để thành hoa hồng thì nó sẽ héo ngay. Nụ phải tự nở dần dần”. Bà là một con người mà suốt đời phục vụ cho âm nhạc. Dạy học sinh là ý nghĩa cao cả nhất của cuộc đời bà”. Bên cạnh đó, Lena cũng theo học lớp biểu diễn opera của Alexei Kireev - một trong những đạo diễn opera hàng đầu Liên Xô thời kì đó.

Vào năm 1962, khi vẫn đang học tại Nhạc viện, Obraztsova được cử tham dự Festival thanh niên thế giới lần thứ 8 tại Helsinki, Phần Lan và giành được Huy chương vàng. Tiếp theo đó, Obraztsova giành giải nhất trong cuộc thi hát trên toàn liên bang Xôviết mang tên nhà soạn nhạc Mikhail Glinka tại Moscow. Và với giải thưởng này Obraztsova được nhà hát Bolshoi Opera, Moscow mời tham gia biểu diễn.

Vào ngày 11 tháng 5 năm 1964, tại phòng hòa nhạc mang tên Glazunov tại Nhạc viện Rimsky-Korsakov, Obraztsova đã hoàn thành bài thi tốt nghiệp của mình một cách cực kì hoàn hảo. Bà chủ tịch hội đồng thi đã cho Obraztsova điểm 5 cộng, điều chưa từng có tại Nhạc viện này trong hơn 40 năm qua. Một ngôi sao mà chỉ ít lâu nữa sẽ rực sáng trên bầu trời opera thế giới đã có sự khởi đầu tuyệt vời như vậy đấy!

Trước đó, ngày 17 tháng 12 năm 1963, khi còn đang là sinh viên Nhạc viện, Obraztsova đã có được vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của mình với vai Marina trong vở opera Boris Godunov của Modest Mussorgsky tại Nhà hát lớn Moscow. Buổi biểu diễn này đã chinh phục toàn bộ khán giả có mặt tại khán phòng.

Trở thành diễn viễn đơn ca của Bolshoi, Moscow, Elena Obraztsova cùng với nhà hát đã đi biểu diễn nhiều nơi trên thế giới, trong đó có buổi biểu diễn đáng nhớ tại La Scala, Milan trong mùa diễn 1964 - 1965. Tại đây, bà đã vào vai Marfa vở opera Khovanshchina của Mussorgsky. Obratsova đã để lại những dấu ấn đầu tiên của mình trên sân khấu quốc tế. Sau đó là sự xuất hiện và chinh phục khán giả tại những thành phố lớn và thủ đô các nước như Paris, London, Vienna, Munich, Hamburg, Salzburg, Prague, Berlin, Barcelona, New York, San Francisco, Tokyo, Buenos Aires. Các chuyến lưu diễn này đã mang lại vinh quang cho Obraztsova như là một ngôi trong những ngôi sao sáng nhất trên bầu trời opera đương thời.

Tạo hóa đã ban tặng cho Obraztsova một giọng hát có vẻ đẹp hiếm có với âm sắc của đàn organ, khỏe mạnh, dày dặn và tràn đầy kịch tính. Bên cạnh đó là một ngoại hình rất phù hợp với sân khấu opera. Tất cả những điều này đã tạo điều kiện cho người nghệ sĩ thực hiện các vai diễn hết sức điêu luyện, diễn cảm và thuyết phục.

Ở Obraztsova, âm nhạc là một sự hiến dâng vô điều kiện. Đối với bà hát không phải chỉ là một nghề mà là nội dung và ý nghĩa cao cả của cuộc đời. Chính vì vậy nghệ thuật xử lí vai diễn của bà đã toát lên sức mạnh với sự lôi cuốn mãnh liệt, thu phục hoàn toàn người nghe. Giọng hát của Obraztsova thể hiện một quyền lực tối cao đối với tâm hồn người nghe, một cá tính có sức thu hút đầy ma thuật.

Năm 1970 là một năm quan trọng đối với Obraztsova và là một bước ngoặt trong sự nghiệp biểu diễn của bà. Trong năm này, Obraztsova đã giành được giải nhất tại cả 2 cuộc thi quốc tế: cuộc thi mang tên Tchaikovsky lần thứ 4 tại Moscow (nhưng là lần thứ 2 dành cho thanh nhạc) và cuộc thi Francisco Viñas tại Barcelona. Trong đó, người ngồi ghế Trưởng ban giám khảo tại cuộc thi Tchaikovsky chính là Maria Callas huyền thoại. Chính những giải thưởng này đã khẳng định thêm tên tuổi và tài năng của Obraztsova và bà đã trở thành giọng ca số một của nền thanh nhạc Xôviết.

Rất thành công với những vai giọng mezzo-soprano trong các vở opera của các nhạc sĩ Nga nhưng nếu chỉ có vậy thì Obraztsova sẽ không bao giờ trở thành một ca sĩ tầm cỡ thế giới. Các nhà phê bình âm nhạc của Nga và thế giới đều nhận xét rằng trong Obraztsova tiềm ẩn “một truyền thống văn hoá châu Âu”. Điều này có căn nguyên của nó. Chính thành phố Leningrad - thủ đô của phương Bắc - nơi mà văn hóa châu Âu ảnh hưởng đến nước Nga mạnh mẽ nhất là nền tảng cho sự phát triển của bà.

Với vai Countess (The Queen of Spades, Peter Ilyich Tchaikovsky), một vai diễn với tính cách yếu đuối nhưng không chịu khuất phục, Obraztsova đã trở thành biểu tượng của Leningrad với cách xử lí tinh xảo và vô cùng lôi cuấn. Trong các romance của Alexander Dargomigsky, Obraztsova đã làm sống lại không khí St. Peterburg nóng bỏng thời xa xưa, thời mà Dostoievsky và Blok đã sống. Nhiều người gọi St. Peterburg là thành phố Ý và ta có thể dễ dàng nhận ra trong giọng hát của Obraztsova tình cảm Ý đã trở thành một sự thể hiện rất tự nhiên. Chúng ta có thể nhớ lại các vai Amneris, Acuzena, Ulrica hay Eboli. Nhưng ta còn có thể thấy sự cạnh tranh giữa hình tượng St. Peterburg và hình tượng Pháp qua các vai Carmen và Charlotte. Trong vai Carmen thì chúng ta nghe thấy trước tiên là âm điệu Pháp và với Charlotte thì đó là chủ nghĩa lãng mạn Pháp.






Nhưng Obraztsova sống ở Moscow và bà đã chọn Nhà hát lớn Moscow là nhà hát của cuộc đời mình. Tại đây đã sinh ra vai diễn “tủ” của Obraztsova - Marfa trong Khovanchina của Mussorgsky, một vai diễn vô cùng kịch tính đã trở thành biểu tượng của nền Opera Nga trong nhiều năm tháng. Cũng tại đây, số phận đã gắn bó Obraztsova với Georgy Sviridov và bà đã trở thành người tuyên truyền tích cực các sáng tác của một trong những nhạc sĩ Nga độc đáo nhất thế kỉ 20. Những buổi biểu diễn các tác phẩm của Sviridov giữa Obraztsova với Sviridov (đệm piano) đã trở thành sự kiện trong đời sống âm nhạc Moscow lúc bấy giờ. Đặc biệt cần nhấn mạnh đến sự thể hiện của Obraztsova trong tổ khúc thanh nhạc của Sviridov - 10 bài hát viết theo lời thơ của Alexander Blok (1980) mà tác giả đã đề tặng ca sĩ cùng với những bản trường ca viết theo lời thơ của Sergei Esenin (1983) - “Cast of Russian” phối lại cho giọng Mezzo-soprano dành riêng cho Obraztsova.

Obraztsova có tất cả 85 vai diễn trong các vở opera của Nga và các nước khác và cũng như của các nhà soạn nhạc thế kỉ 20. Ta có thể kể đến: Marina Mnishek (Boris Godunov, Mussorgsky), Paulina và Countess (The Queen of Spades, Tchaikovsky), Maria Bolkonskaya và Helene Bezukhova (War and Pearce, Sergei Prokofiev), Marfa (Khovanshchina, Mussorgsky), Lyubov (Sadko, Nicolai Rimsky-Korsakov), Konchakovna (Prince Igor, Borodin), Armenis (Aida, Giuseppe Verdi), Acuzena (Il Trovatore, Verdi), Eboli (Don Carlo, Verdi), Santuzza (Cavalleria Rusticana, Pietro Mascagni), Ulrica (Un ballo in maschera, Verdi), Carmen (Carmen, Georges Bizet), Charlotte (Werther, Jules Massenet), Dalila (Samson et Dalila, Camille Saint-Saens), Adalgisa (Norma, Vincenzo Bellini), Fenena (Nabucco, Verdi), Princess di Bouillon (Adriana Lecouvreur, Francisco Cilea), Oberon (A Midsummer Night's Dream, Benjamin Britten) và nhiều vai diễn khác nữa.

Có thể khẳng định một điều rằng trong thập niên 70 và những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ 20, Obraztsova là ca sĩ của Liên Xô được xuất ngoại biểu diễn nhiều nhất. Và cùng với những tên tuổi như Evgeny Mravinsky, Kirill Kondrashin, Gennady Rozhdestvensky, David Oistrakh, Leonid Kogan, Sviatoslav Richter, Emil Gilels hay Mstislav Rostropovich, Obraztsova đã góp phần làm thế giới biết đến một nền âm nhạc cổ điển hùng mạnh của đất nước Xôviết. Obraztsova đã có những buổi ra mắt đầy ấn tượng tại các nhà hát và festival âm nhạc nổi tiếng nhất trên thế giới như Vienna Staatsoper (Carmen, 1975); La Scala (Charlotte, 1976); Metropolitan Opera (Amneris, 1976); Festival tại Salzburg (Eboli, 1978); Covent Garden (Acuzena, 1981)... Bên cạnh các buổi biểu diễn opera, Obraztsova còn tham gia trong rất nhiều concert với một danh mục biểu diễn khá đồ sộ, với các tác phẩm của trên 100 nhạc sĩ như: Glinka, Dargomizhsky, Rimsky-Korsakov, Mussorgsky, Tchaikovsky, Sergei Rachmaninov, Prokofiev, Sviridov, Johann Sebastian Bach, George Frideric Handel, Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven, Franz Schubert, Robert Schumann, Wagner, Gustav Mahler, Gaetano Donizetti, Verdi, Giacomo Puccini, Hector Berlioz, Bizet, Gabriel Fauré, Francis Poulenc, Manuel de Falla, Enrique Granados... Và ta cũng không thể quên được sự tham gia của Obraztsova trong các oratorio, cantata, mass và nhiều tác phẩm lớn dành cho thanh nhạc khác nữa.

Chính trong những buổi biểu diễn này Obrzatsova đã có cơ hội cộng tác với những nhạc trưởng và ca sĩ hàng đầu trên thế giới. Ta có thể đến: Heibert von Karajan, Carlos Kleiber, Claudio Abbado, James Levine, Daniel Barenboim, Riccardo Muti, Carlo Maria Giulini, Giuseppe Sinopoli, Georges Pretre, Lorin Maazel; Joan Sutherland, Montserrat Caballe, Renata Scotto, Ileana Cotrubas, Mirella Freni, Raina Kabaivanska, Leontyne Price, Eva Marton, Shirley Verrett, Katia Ricciarelli, Lucia Popp, Carlo Bergonzi, Alfredo Kraus, Jon Vickers, Luciano Pavarotti, Placido Domingo, Jose Carreras, Giacomo Aragall, Franco Bonisolli, Neil Shicoff, Piero Cappuccilli, Sherrill Milnes, Renato Bruson, Jose van Dam, Nicolai Ghiaurov, Rugerro Raimondi, Martti Talvela, Leo Nucci... Và tất nhiên là không thể không nhắc đến những tên tuổi tại Liên Xô nói chung và Nhà hát lớn Moscow nói riêng - mà Obraztsova là một thành viên thường trực: Rozhdestvensky, Evgeny Svetlanov, Yuri Temirkanov, Valery Gergiev; Galina Vishnevskaya, Evgeny Nesterenko, Vladimir Atlanov, Makvala Kasrashvili, Yuri Mazurok, Zara Dolukhanova...

Năm 1986 bà đã tự mình đạo diễn vở opera Werther của Massenet tại nhà hát lớn Moscow. Từ năm 1973 đến năm 1994 bà giảng dạy tại nhạc viện Tchaikovsky, Moscow và được phong danh hiệu giáo sư vào năm 1984. Hiện nay bà vẫn thường xuyên dạy các khóa Master class tại châu Âu và Nhật Bản cũng như trong học viện dành cho những ca sĩ opera trẻ, có triển vọng thuộc nhà hát Mariinsky, St. Peterburg.

Bà cũng thường xuyên được mời làm giám khảo trong những concour nổi tiếng thế giới như Tchaikovsky (1994); Marseille (1997); Rimsky-Korsakov (1998) hay cuộc thi hát mang tên danh ca nổi tiếng Montserrat Caballe - người bạn thân thiết của bà tại Andorra vào những năm 1998, 1999. Tháng 9 năm 1999 tại St. Peterburg đã diễn ra cuộc thi quốc tế dành cho những ca sĩ opera trẻ mang tên Elena Obraztsova lần thứ nhất. Đây là cuộc thi do bà sáng lập nhằm tìm kiếm, phát hiện và nâng đỡ những tài năng mới. Đây là một concour rất có uy tín và thành phần ban giám khảo đều là những ca sĩ tên tuổi của nước Nga và thế giới trước đây như Dolukhanova, Kasrashvili, Scotto, Aragall, Bergonzi, Sutherland, Cotrubas... và tất nhiên Obraztsova ngồi ghế trưởng ban giám khảo. Cho đến nay cuộc thi đã diễn ra được tất cả 4 lần và nhiều ca sĩ đoạt giải trong cuộc thi này đã bắt đầu tạo lập được chỗ đứng của mình tại các nhà hát danh tiếng, trong đó nổi bật nhất là giọng bass Ildar Abdrazakov.

Obraztsova đã tham gia trong nhiều bộ phim ca nhạc như Carmen của tôi (1977), Obraztsova ở Nhật Bản (1980), Elena Obraztsova hát (1980), Bà góa phụ vui tính (1983), Tình yêu và đau khổ của Elena Obraztsova (1988), Hơn cả tình yêu (1991) hay Elena vĩ đại (1995) nhưng sẽ thật là thiếu sót nếu không đề cập đến bộ phim opera Cavalleria Rusticana của đạo diễn nổi tiếng Franco Zeffirelli vào năm 1981 mà Obraztsova đóng trong vai Santuzza cùng với Domingo, Bruson, Feodora Barbieri và dàn nhạc nhà hát La Scala dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Georges Prêtre. Franco Zeffirelli viết trong hồi kí của mình: “Trong cuộc đời tôi xảy ra 3 biến cố: Anna Magnani (diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Italia), Maria Callas và Elena Obraztosva... Diễn xuất và giọng ca tuyệt vời của Obraztsova đã khiến Cavalleria Rusticana trở thành tác phẩm mà tôi vô cùng ưng ý...”


http://archives.metoperafamily.org/I...ovaWerther.jpg
Obraztsova vai Charlotte trong vở opera Werther của nhà soạn nhạc Massenet-É. Blau

Một thành tựu vẻ vang trong cuộc đời ca sĩ của Obraztsova là bộ tuyển tập 10 vở opera mà bà đã tham gia trong những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỉ trước cùng với những nhạc trưởng và ca sĩ hàng đầu trên thế giới. Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt của lĩnh vực thu thanh thế giới, để thực hiện một khối lượng công việc lớn như vậy trong thời gian rất ngắn (khoảng 5 năm) cùng với những chương trình biểu diễn đối với một nghệ sĩ không thường xuyên làm việc tại Tây Âu là một công trình ngoài sức tưởng tượng. Elena Obraztsova đã làm được điều đó bằng tài năng lỗi lạc của mình. Những bản thu này đều được bà thực hiện cùng với những hãng ghi âm nổi tiếng thế giới như Deutsche Grammophon, EMI Classics, CBS Masterworks hay Philips.

Những đóng góp quên mình vì nghệ thuật của Obraztsova đã được nhà nước Liên Xô và những tổ chức nghệ thuật trên thế giới ghi nhận và đánh giá rất cao. Bà được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Xôviết (1976); giải thưởng Lenin 1976), danh hiệu anh hùng lao động (1990), huân chương Granados của Tây Ban Nha (1970), giải thưởng Verdi vàng của Italia (1978), giải thưởng Bartok của Hungary (1982), giải Grand-Prix của Viện hàn lâm thu thanh Pháp (1982) và nhiều giải thưởng danh giá khác.

Ngày 24 tháng 10 năm 1981, bà đã có được một vinh dự mà hiếm có ca sĩ nào đạt được. Vào ngày này, tên của bà được lấy để đặt cho một hành tinh nhỏ mang số 4623.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Elena Obraztsova đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Xôviết. Chất giọng nữ trung sâu thắm của bà sẽ còn ghi dấu ấn đậm nét trong lòng nhiều thế hệ say mê opera sau này. Và những vai diễn như Marina, Marfa, Azucena, Amneris, Carmen, Charlotte sẽ vẫn là những đỉnh cao để những mezzo-soprano hiện tại của Nga và thế giới phấn đấu và vươn tới.

cobeo (tổng hợp)

Nguồn: nhaccodien.info

Nina 06-07-2009 22:36

Xin giới thiệu mấy clip với giọng hát của Elena Obraztsova

Thời trẻ trung... với bài hát Кони-звери trong phim "Похищение". 1969 г.


Елена Образцова Вот солдаты идут. Запись с праздничного концерта, посвящённого 30-летию Победы. 9 мая 1975 г.


Elena Obraztsova Carmen Habanera.
Елена Образцова выступает на Голубом огоньке 1970 г. Концертмейстер - Александр Ерохин


Obraztsova & Domingo final duet from Bizet's Carmen. Vienna State Opera. Carlos Kleiber conductor. December 9, 1978

Tất nhiên là còn ... nhiều nữa, nào là Dalila, Marfa, Amneris, Eboli, Santuzza, Azucena, vân vân nhưng xin giới thiệu clip sau, đơn giản vì Nina rất thích đoạn này :)


Bizet's Carmen: Là-bas, là-bas dans la montagne - Obraztsova. Elena Obraztsova as Carmen, Placido Domingo as Don José Vienna State Opera. Carlos Kleiber conductor. December 9, 1978. Directed by Zeffirelli for stage and Austrian television.

Nina 06-07-2009 22:56

Nhân tiện giới thiệu thêm 2 aria nổi tiếng của Azucena trong vở Il Trovatore của Giuseppe Verdi (1813-1901), cũng do Elena Obraztsova trình diễn (cám ơn bé lemeshev đã share nhạc)

Stride la vampa - Il trovatore (Act II) - Verdi - Elena Obraztsova (mezzo soprano)

Condotta ell' era in ceppi - Il trovatore (Act II) - Verdi - Elena Obraztsova (mezzo soprano)

http://www.i-love.ru/actor/ev/ev.jpg

Nina 09-07-2009 22:34


Keke, hình như mình còn nợ đâu đó, ai đó tiểu sử của giọng tenore-lirico ngọt ngào Sergei Lemeshev :) Tạm thời thanh toán bằng một tin có liên quan đã

Ngày lễ Lemeshev bắt đầu ở vùng Tver

Nguồn http://rian.ru/culture/20090709/176755233.html

http://upload.wikimedia.org/wikipedi...i_Lemeshev.jpg
Sergei Lemeshev trong vai Lensky - vai tủ của giọng ca tuyệt vời lồng lộng tính cách ... Lensky này

Ngày lễ Lemeshev truyền thống “Tôi nhìn khoảng không bao la kỳ diệu” bắt đầu vào ngày thứ sáu 10/7 ở Tver và sẽ tiếp tục trong ngày thứ bảy ở làng Knyazevo vùng Tver, quê hương của ca sĩ giọng tenor lãng mạn (tenore - lirico) nổi tiếng người Nga này.

“Ngày đầu của festival tại Quảng trường Nhà hát ở Tver sẽ tổ chức một buổi biểu diễn ca nhạc của các nghệ sĩ Nhà hát Novaya opera mang tên E.V.Kolobov. Các nghệ sĩ sẽ trình bày một số màn trong vở opera “Evgeny Onegin” của P.I.Tchaikovsky. Ngày thứ hai của liên hoan, ngày “folklore” ở chính làng Knyazevo sẽ bao gồm các bài hát dân ca, sẽ có hội chợ “Thành phố của các bác thợ lành nghề” và một triển lãm độc đáo sẽ bắt đầu hoạt động, triển lãm này chuyên về đời hoạt động nghệ thuật của Lemeshev – người đồng hương xuất sắc của chúng ta” – đại diện chính quyền địa phương cho biết.

Theo lời của ông, trong năm nay ở Knyazevo lần đầu tiên sẽ trưng bày các hiện vật từ các bộ sưu tập do những người hâm mộ nghệ thuật của Sergei Lemeshev thu thập: các đĩa hát vinil, các tờ chương trình, áp phích nhà hát. Những người tham quan sẽ thấy những chiếc đài thu thanh, máy hát gramophone, máy quay đĩa, máy hát được sản xuất từ những năm 30-70 của thế kỷ trước từ các bộ sưu tập của bảo tàng.

“Từ năm nay, để quảng bá sự nghiệp nghệ thuật của ca sĩ vĩ đại người Nga Sergei Lemeshev, cũng như để phát hiện và khuyến khích những mầm non nghệ thuật tài năng, chính quyền vùng Tver đã thành lập giải thưởng và học bổng hàng năm mang tên Sergei Yakovlevich Lemeshev” - đại diện chính quyền địa phương cho biết. Ông cũng nói rằng trong ngày lễ Lemeshev năm nay có một số bạn trẻ sẽ được trao giải thưởng này.

Sergei Lemeshev sinh ngày 10/7/1902 ở làng Staroe Knyazevo trong một gia đình nông dân. Trong những năm 1921-1925 ông học ở Nhạc viện Moskva. Từ năm 1924 Lemeshev làm việc ở Trường Opera dưới sự lãnh đạo của K.S.Stanislavsky. Cho tới năm 1931 Lemeshev hát ở các nhà hát opera của Sverdlovsk, Kharbin, Tbilisi, sau đó được mời tới Nhà hát Lớn, nơi Lemeshev ra mắt với vai Sa hoàng Berendei trong vở opera “Công chúa Tuyết” (Снегурочка) của nhà soạn nhạc N.A.Rimsky-Korsakov, Lensky trong vở opera “Evgeny Onegin” của P.I.Tchaikovsky và Gérald trong vở opera Lakme của L.Delibes. Cho tới năm 1956, Lemeshev là một trong số các ca sĩ solo chính của Nhà hát Lớn. Lemeshev cũng xuất hiện nhiều với tư cách ca sĩ thính phòng, ông trình diễn nhiều bài hát dân ca, romance và ca khúc nghệ thuật của P.I.Tchaikovsky. Lemeshev qua đời ở Moskva ngày 26/7/1977.

Nina 09-07-2009 22:41

Nhân tiện đây xin giới thiệu một số link download một số romance của P.I.Tchaikovsky do Sergei Lemeshev trình bày

П.И.Чайковский, сл. Д.Ратгауза. "В эту лунную ночь" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, cл. Л.Мея, из Шевченко. "Вечер" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, А.Н.Плещеева. "Зима" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. Ф.Тютчева. "Как над горячею золою" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.Н.Плещеева. "Колыбельная песнь в бурю" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.Н.Плещеева (из К. Геллерта). "Кукушка" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.К.Толстого. "Минула страсть" (С.Я.Лемешев, B.Кудрявцева)
П.И.Чайковский, сл. А.К.Толстого. "Серенада Дон Жуана" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.Н.Плещеева. "О, если б знали вы" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. В.Сологуба. "Скажи о чём в тени ветвей" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.Н.Плещеева. "На берегу" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. А.Н.Апухтина. "Ни отзвука, ни слова, ни привета" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. К.Р. "Первое свидание" (С.Я.Лемешев)
П.И.Чайковский, сл. Н.Некрасова. "Прости, не помни дней паденья" (С.Я.Лемешев)

hongducanh 09-07-2009 23:27

Mặc dù đã nhấn nút cám ơn Nina, nhưng xin viết vài dòng về ngôi làng mà ông Сергей Лемешев đã sinh ra (Сергей Лемешев родился в 1902 году в тверской деревне Старое Князево в крестьянской семье.). Một ngôi làng cổ kính và có tới ba nhà thờ theo đạo Thiên chúa, có con sông nhỏ chảy qua làng là nhánh của sông Volga, cách làng chừng hơn 1000m có đường tàu hỏa chạy qua (tuyến Moscva - Riga). Ngày trước, tôi rất hay lang thang trong ngôi làng này khi vào mùa hè - bạn thân của tôi cũng sinh ra và lớn lên từ ngôi làng đó. Nhiều tập tục của Nga mà tôi biết được cũng chính từ những người dân ở đây. Một điều đặc biệt mà tôi không thể quên được là đã dự đám tang mẹ bạn thân mà đã có lần tôi đã post bài (nhưng có lẽ ở 4r cũ). xung quanh làng trồng toàn hướng dương... thật tình cờ một ngôi làng nhỏ của Nga cũng có những nhân tài mà chẳng biết...



Nina 09-07-2009 23:46

Sau khi nghe ... một số các romances của P.I.Tchaikovsky do Sergei Lemeshev trình bày trong các link trên (do trang web www.belcanto.ru share) thì Nina cảm thấy - chất lượng thu âm không tốt đã ảnh hưởng khá nhiều, chỉ đâu đó có thể nhận thấy âm sắc tuyệt vời của giọng hát Lemeshev... Do đó Nina xin giới thiệu link sau, hy vọng chất lượng tốt hơn

Сергей Лемешев - Арии из опер, романсы, песни- DVD5 - http://torrents.ru/forum/viewtopic.php?t=417367

Giuseppe Verdi - La Traviata / Дж. Верди - Травиата (Е.Шумская, С.Лемешев, П.Лисициан) - http://torrents.ru/forum/viewtopic.php?t=527142 - hình như đây là thu trực tiếp từ Nhà hát Lớn. Tất nhiên, theo truyền thống thì opera ở Nhà hát Lớn trước đây chỉ hát bằng tiếng Nga, trừ khi có ... ca sĩ nước ngoài đến tham gia vở kịch.

Чайковский П.И. Евгений Онегин. Лемешев, Норцов, Жуковская. дир. Небольсин. ГАБТ 1936 - 2006, MP3 - http://torrents.ru/forum/viewtopic.php?t=478775

Tất nhiên là nếu ai đó yêu mến giọng ca này, thì sẽ dễ dàng tìm được nhiều tác phẩm khác của ông... Nina cũng nghe nói là ... mới đây vừa phát hành một toàn tập thu âm của Lemeshev, không rõ chất lượng thu âm ra sao, và ... bao giờ mới có trên mạng....

hongducanh 10-07-2009 00:07

http://i223.photobucket.com/albums/d...cnhu/_____.jpg


Могила Сергея Лемешева -ngôi mộ của Sergei Lemeshev


Và đây cũng là một đường link có chất lượng của CD và DVD


http://www.russiandvd.com/store/product.asp?sku=44984

Nina 15-02-2010 02:19

Irina Arkhipova


Irina Arkhipova là một giọng mezzo-soprano xuất sắc của Nga, xứng đáng với danh hiệu "nữ hoàng opera Nga". Đó là một trong những tên tuổi Nga rực rỡ nhất trên sân khấu opera thế giới nửa sau thế kỷ XX. Ban đầu Irina Arkhipova tốt nghiệp trường Đại học Kiến trúc, và ở Moskva có những tòa nhà do bà tham gia thiết kế. Tuy nhiên, nữ kiến trúc sư trẻ cũng đam mê ca hát, và do đó Irina Arkhipova đã thi vào nhạc viện.


Irina Arkhipova thể hiện aria "Stride la vampa" vai Azucena, vở "Il Trovatore" của G. Verdi.

(còn tiếp)


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 03:40.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.