Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Tên lửa phòng không Xô viết và Nga. (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=1157)

thanhf72 06-11-2008 21:58

Tên lửa phòng không Xô viết và Nga.
 
Báo cáo các bác là trong box này thấy mọi người trao đổi nhiều về TLPK, thanhf72 mạn phép nhặt nhạnh lung tung ở các nguồn đưa lên đây, không biết có đúng hết không, xin ỷ kiến của các bác nhé.
Sau chiến tranh thế giới 2, công nghệ hàng không có những phát triển vượt bậc, tất cả các loại máy bay chiến đấu đều được trang bị động cơ phản lực với tốc độ, tầm cao hoạt động lớn hơn rất nhiều so với các loại máy bay động cơ cánh quạt trước kia. Các loại pháo phòng không hầu hết đều không còn khả năng "với" được tới những máy bay phản lực nên chỉ thuận lợi khi "giăng màn đạn" để ngăn chặn còn tiêu diệt mục tiêu khá khó khăn. Người ta bắt đầu nghĩ tới việc phải có một vũ khí mới để phòng chống, tiêu diệt các mục tiêu ở tầm hoạt động và tốc độ cao, thế là tên lửa phòng không ra đời. Thực ra tên lửa phòng không cũng bắt nguồn từ ông tổ V1, V2 đất đối đất của Đức Quốc Xã hay xa hơn nữa là từ những quả pháo thăng thiên của Trung Quốc. Tuy nhiên, khi áp dụng chất xám và công nghệ của thế kỷ 20, tên lửa phòng không đã trở thành một thành phần chủ yếu nhất trong hệ thống phòng không quốc gia của tất cả các nước trên thế giới. Người Nga (căn cứ trên những tài liệu thu được của Đức) đã phát triển một loạt các thế hệ tên lửa phòng không hiện đại và cực kỳ hữu dụng. Tên lửa Nga đã từng nổi tiếng qua chiến tranh chống Mỹ của nhân dân VN hay cuộc chiến tranh 6 ngày giữa Israel và các nước Arab.
Các loại tênlửa phòng không Liên xô và Nga:
SA-1 GUILD
SA-2 GUIDELINE
SA-3 GOA
SA-4 GANEF
SA-5 GAMMON
SA-6 GAINFUL
SA-7 GRAIL
SA-8 GECKO
SA-9 GASKIN
SA-10 GRUMBLE
SA-11 GADFLY
SA-12 GLADIATOR
SA-13 GOPHER
SA-14 GREMLIN
SA-15 GAUNTLET
SA-16 GIMLET
SA-17 GRIZZLY
SA-18 GROUSE
SA-19 GRISOM
SA-20 Triumf
SA-21 Mysk
Antey-2500

1, SA-1 Guild : Nga gọi là loại S-25 Berkut, Mỹ gọi là SA-1, Nato gọi bằng mật danh Guild.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA1.jpg

Những thông số chính của đạn:
- Dài : 12m.
- Đường kính : 0,71m.
- Nặng : 3500kg.
- Đâù đạn : 250kg HE.
- Tầm bắn : 32 - 40km.
- Điều khiển : bằng sóng radio.
Đây là loại tên lửa phòng không (SAM) đầu tiên được trang bị rộng rãi của LX. Được nghiên cứu từ năm 1950 đến năm 1954 nó bắt đầu được sản xuất hàng loạt. Đã có 3200 quả SA-1 được sản xuất, những đơn vị tên lửa đầu tiên được bố trí quanh Moskva nhằm bảo vệ thủ đô và vùng công nghiệp xung quanh.

2, SA-2 Guideline : Nga gọi là V-75, Mỹ gọi là SA-2, Nato gọi bằng mật danh Guideline.
Loại này có nhiều phiên bản khác nhau, tầm bắn và độ cao bắn cũng khác nhau tuy không nhiều lắm. Phiên bản viện trợ cho VN trong kháng chiến chống Mỹ là C-75 (Dvina) B,C; (Chính là koại đã bắn rơi 34 (có tài liệu ghi là 32) B52 trên bầu trời Miền Bắc trong 12/1972), sau này có C- 75M (Vonga)

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA2.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA21.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA23.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 10,6m.
- Đường kính : 0,7m.
- Nặng : 2300kg.
- Đầu đạn : 200kg HE.
- Tầm bắn : 7 - 50km.
- Bán kính tiêu diệt mục tiêu (Bán kính sát thương khi đạn nổ) : 65m.
Được hoàn thiện vào năm 1959, năm 1960 SA-2 đã lập công khi bắn rơi máy bay do thám U-2 của Mỹ. Năm 1962, cùng với SS-4 nó được triển khai tại Cuba và góp phần vào vụ khủng hoảng bằng cách bắn rơi tiếp một U-2 nữa. Gần đây một bí mật đã được tiết lộ, quả SA-2 bắn rơi chiếc U-2 là do những quân nhân Liên Xô điều khiển (trước đó LX đổ cho Cuba và Cuba không phủ nhận). Năm 1964, SA-2 đến VN và thêm vào bảng thành tích của nó những chiến công lừng lẫy đã khiến cho nó trở thành loại tên lửa phòng không đạt hiệu quả chiến đấu cao nhất từ trước tới nay.
Trong quá trình phục vụ của nó, SA-2 đã được triển khai tại hầu hết các thành phố, điểm dân cư có trên 200.000 dân của Liên Xô. Nó còn được coi là chiếc ô che chở bầu trời cho tất cả các nước thuộc khối Warsaw, đặc biệt là tại Đông Đức.
SA-2 có các biến thể A/B/C/D/E/F, trong đó SA-2E là loại có đầu đạn hạt nhân với đương lượng nổ tương đương 15KT. Nó được lắp đầu đạn hạt nhân nhằm mục đích tạo ra một vụ nổ hạt nhân trên không tiêu diệt một phi đội lớn máy bay ném bom chiến lược (được giả định là của Mỹ). Người Nga quên không tính đến tác hại của trận mưa phóng xạ nếu SA-2E nổ trên đất của họ.
Đến giờ SA-2 vẫn còn trong biên chế của Quân đội nhiều nước dù Nga đã loại nó từ lâu. SA-2 có nhược điểm là dùng thuốc phóng lỏng gồm hai chất riêng biệt mà trong nghề thường gọi là chất "O" và chất "G", những chất này cực kỳ độc hại và thường xuyên phải thay thế, tăng hạn mới có thể trực chiến lâu dài được. Một điểm yếu nữa là radar của nó rất dễ bị vô hiệu hóa khi gặp nhiễu. Hồi 1972, radar của SA-2 VN cũng từng bị vô hiệu bởi nhiễu tích cực của Mỹ và người VN vốn thông minh đã đem radar dành cho pháo cao xạ của TQ K8-60 phối hợp với tên lửa SA-2 Nga làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không". (Về vấn đề cải tiến TL để bắn B52 chính là cải tiến thay đổi dải sóng ĐK, tăng hạn đạn đã hết data, khắc phục những quả đạn bị thủng vỏ do dính bom bi.... chứ làm gì có tăng tầm hay tăng độ cao bắn, cái đó thì đến người Nga cũng chịu, trừ khi làm lại quả khác)

3, SA-3 Goa : Nga gọi là S-125 Pechora, Mỹ xếp loại SA-3, Nato gọi bằng Goa.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA3.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA31.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA32.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA33.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA34.jpg

Những thông số chính :
- Dài 6,7m.
- Đường kính : 0,6m.
- Nặng : 400kg.
- Tầm bắn : 6 - 25km.
- Bán kính tiêu diệt mục tiêu : 12,5m.

Đây là loại tên lửa được phát triển từ V-75 SA-2, tống công trình sư là một phụ nữ, nó đã khắc phục được nhược điểm của V-75 là sử dụng nhiên liệu lỏng bằng cách chuyển sang dùng nhiên liệu rắn. Nó lại gọn nhẹ hơn nên dễ cơ động và có từ 2 hoặc 4 rãnh dẫn hướng tuỳ từng phiên bản nên nâng cao được khả năng tác chiến của một phân đội tên lửa (theo tính toán thì 1 mục tiêu cần dùng tới 3 quả đạn tên lửa mới đạt hiệu suất tiêu diệt cao). SA-3B là loại tên lửa đa dụng, có phiên bản đất- không, biển- không, phiên bản có bệ phóng cố định, bệ phóng cơ động trên xe xích, ngoài khả năng phòng không còn có thể tiêu diệt các mục tiêu mặt đất và tàu chiến. Người Nga đã đưa SA-3 vào sản xuất hàng loạt từ 1961, nhưng SA-3 đến VN rất muộn (sau 1972). Sau này (1980), Nga lại viện trợ cho VN một số tiểu đoàn S-125M Neva, loại này đã được cải tiến có 4 rãnh dẫn hướng và giảm bớt các thiết bị phụ trợ, giảm thời gian thao tác.

thanhf72 06-11-2008 22:38

4, SA-4 Ganef : Nga không đặt tên riêng cho loại SAM này, chỉ gọi theo ký hiệu tên lửa là 9M8, Mỹ thì đặt tên là SA-4, Nato gọi là Ganef.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA4.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA41.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA42.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 8,4 - 8,8m (Tuỳ từng phiên bản trên tàu chiến hay trên đất liền).
- Đường kính thân tên lửa : 0,86m.
- Nặng : 2500kg.
- Đầu đạn : 135kg HE.
- Tầm bắn : 50 - 55km.
Đây là hệ thống phòng không di động đầu tiên của Nga, toàn bộ giàn phóng và các rãnh dẫn hướng được đặt trên xe kéo bánh xích hạng nặng ATT. Còn một loại SA-4 nữa được đặt trên xe Ural-357 nhưng loại này chỉ "cõng" được một quả tên lửa.

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA43.jpg

Để bảo vệ cho giàn phóng khỏi sức nóng khủng khiếp của tên lửa khi bắt đầu phóng, tên lửa 9M8 được gắn 4 rocket sử dụng nhiên liệu rắn (máy phóng gia tốc Question ), nó có nhiệm vụ "ném" quả tên lửa ra khỏi bệ phóng khoảng 30m, sau đó động cơ chính của tên lửa mới khởi động.
SA-4 được triển khai lần đầu vào năm 1967, đến năm 1973 thì xuất hiện SA-4B sử dụng tên lửa 9M8M1 ngắn hơn và có tầm bắn gần hơn. Sau này, còn có loại tên lửa 9M8M2 đã được dùng cho phiên bản SA-6 đầu tiên.

5, SA-5 Gammon : Tên tiếng Nga của nó là S-200 (tiền bối của những S-300/400), Mỹ gọi là SA-5, Nato đặt mật danh là Gammon.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA5.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 10,72m.
- Đường kính : 0,85m.
- Nặng : 7000 - 8000kg.
- Đầu đạn : 215kg HE.
- Tầm bắn : 200km.
Đây là loại tên lửa phòng không tầm xa đầu tiên của Liên Xô. Khi nó vừa ra đời năm 1966, cả Nato và Mỹ đều cực kỳ quan tâm tìm hiểu về nó. Họ phát hiện ra, nó có tầm bắn lớn chủ yếu nhờ có thân hình khổng lồ và rất nặng. Tuy vậy, trong thực tế tầm bắn của nó chỉ được khoảng 160km và không phải ngẫu nhiên Nato lại đặt cho nó cái mật danh "Lừa gạt". Đến năm 1969, người Nga đã có 200 tiểu đoàn tên lửa SA-5. (Sau này, cũng trên cơ sở của S-200 theo một số nguồn tin thì đã có một phiên bản được trang bị đầu đạn hạt nhân để trở thành tên lửa chiến trường đất-đối-đất).
Lý lịch của SA-5 khá đen tối, năm 2001 khi được bán cho Ukraina trong một lần bắn tập nhằm vào mục tiêu là một chiếc La-17, nó đã bắn nổ tung một chiếc Tu-154 của Nga, làm 76 người thiệt mạng. Trong cuộc chiến 5 ngày Nga- Gruzia vừa qua có thông tin cho rằng 01 chiếc MB ném bom TU22B và 02 chiếc TK SU25 của Nga bị hạ bởi loại này- không biết có đúng không.

6/ SA-6 Gainful : Tên Nga của loại tên lửa này là ZRK-SD Kub 3M9, Mỹ xếp loại SA-6 còn Nato code name là Gainful.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA6.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA61.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 5,8m.
- Đường kính : 0,335m.
- Nặng : 599kg.
- Đầu đạn : 59kg HE.
- Tầm bắn : từ 3 - 28km (tùy phiên bản).
SA-6 thuộc loại tên lửa phòng không tầm ngắn. Ra đời năm 1967, nó thay thế cho SA-3 hoàn chỉnh hệ thống tên lửa phòng không đủ cả tầm xa lẫn tầm ngắn. Được trang bị đồng bộ : radar LONG TRACK, xe tiếp đạn và xe bệ phóng đều đặt trên xe xích hạng nặng AT-T (đã được cải tiến) nên SA-6 rất cơ động và có tính việt dã cao. Nó rất phù hợp cho nhiệm vụ cơ động bảo vệ phòng không cho các quân đoàn tăng, thiết giáp khi chiến đấu.
Năm 1977, phiên bản mới SA-6B được sản xuất. Với radar mới sử dụng hiệu ứng xung Doppler và G-band đã nâng tầm phát hiện mục tiêu của SA-6B lên đến tối đa 75km, có thể bám và tiêu diệt mục tiêu ở 28km. Radar LONG TRACK cũng được cải tiến để chống lại các loại tên lửa không-đối-đất chống radar kiểu Shrike, bằng cách phát sóng radar ngắt quãng.
Phiên bản cho hạm tàu được Mỹ gọi là SA-N-3 Goblet.

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA62.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA63.jpg

thanhf72 07-11-2008 06:30

7, SA-7 Grail : Nga đặi tên cho nó là 9K32 Strela-2, Mỹ gọi là SA-7, còn Nato đặt tên là Grail (Mài giũa ?), VN ta gọi là A-72.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA7.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 1,4m.
- Đường kính : 70mm.
- Nặng : 9,97kg.
- Đầu đạn : 1,15kg HE.
- Tầm bắn : 500 - 5000m.

SA-7 là loại tên lửa phòng không vác vai tầm thấp đầu tiên của thế giới (tương tự như loại Stinger của Mỹ - chả biết ai copy của ai ?). Người Nga bắt đầu nghiên cứu loại này từ năm 1959, đến 1966 nó đã được đem bắn thử. Bắt đầu sản xuất hàng loạt từ năm 1968, nó đã nhanh chóng phát huy được tác dụng : theo sát bộ binh, có khả năng tác chiến linh hoạt(một người bắn), khả năng tiêu diệt mục tiêu cao. Áp dụng nguyên lý đầu dò tầm nhiệt, SA-7 bám theo luồng khí xả của động cơ máy bay (hoặc sức nóng của động cơ trực thăng), nó "chui tọt" vào động cơ và nổ tung --> chẳng chiếc máy bay nào thoát được !
Năm 1971, phiên bản SA-7B (Strela-2M) đã thay thế SA-7 trở thành vũ khí phòng không tầm thấp tiêu chuẩn của Quân đội LX. Phiên bản SA-7B có những cải tiến như có hệ thống làm lạnh đầu dò hồng ngoại nhằm tăng độ nhạy của đầu tự dẫn và tránh việc tên lửa bị đánh lừa bởi các mồi bẫy nhiệt do máy bay phóng ra.
SA-7B được LX xuất khẩu hoặc bán quyền sản xuất cho rất nhiều nước, nó có mặt khắp mọi nơi trên thế giới từ vùng Trung cận Đông đến VN, châu Phi, châu Mỹ... Tại VN, nó bắt đầu xuất hiện chính thức tháng 5 năm 1972 trong chiến dịch Bình Trị Thiên, sau đó là tại chiến trường miền Đông Nam bộ, có lẽ vì vậy mà nó được đặt tên VN là A-72. Trong những năm 1972- 1975 của cuộc chiến tranh chống Mỹ, A-72 đã góp phần không nhỏ vào những chiến thắng của QĐ VN, đặc biệt là trong việc chống máy bay cường kích và trực thăng của Mỹ, Ngụy. Theo thống kê thì riêng tại chiến trường miền Đông Nam bộ, A72 đã bắn rơi tại chỗ 136 trực thăng và máy bay (OV10, A37, F5,A6, C130...) của Mỹ nguỵ.
Các nước vốn có truyền thống dùng vũ khí Nga như Trung Quốc, Ai cập... đều có mẫu copy của Strela-2 như của China là loại HN-5 (Hongying 5), của Egypt là Ayn as Saqr (Không biết VN có không).

Loại HN-5 của TQ :

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA71.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA72.jpg

8, SA-8 Gecko : Nga đặt tên cho loại này là 9K33 Osa, SA-8 là do Mỹ gọi còn Nato thì gọi nó bằng mật danh Gecko.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA8.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA81.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA82.jpg

Được đặt trên khung xe cơ sở là loại xe lội nước (amphibious vehicle) Baz-5937 6x6, đây là lại tên lửa phòng không tầm ngắn đầu tiên của Liên Xô được tích hợp cả radar trên xe. Việc tích hợp này khiến cho SA-8 cơ động hơn rất nhiều và giảm rõ rệt thời gian phản ứng với mục tiêu.
Osa có 3 phiên bản : Osa (9K33), Osa-AK (9K33M) và Osa-AKM (9K33M3), được bắt đầu sản xuất từ năm 1980 cùng với nó là phiên bản cho Hải quân SA-N-4.
Những thông số chính của xe chiến đấu(SA-8b):
- Ra mắt lần đầu 1980
- Hiện có trong trang bị của ít nhất 25 quốc gia.
- Nhân viên điều khiển 3 người
- Trọng lượng chiến đấu: 9 tấn
- Khung gầm BAZ-5937 6x6 amphibious cross-country capable vehicle (dự trữ hành trình 500km, tốc độ tối đa 80km/h, lội nước 8km/h)
- Radio R-123M
- Có hệ thống phòng hộ hạt nhân, sinh, hoá học.
- Khả năng phóng trong khi di chuyển: không có
- Tên lửa 9M33M3 có tầm bắn tối thiểu/tối đa 200/15.000m, tầm cao tối thiểu/tối đa 10/12.000m, dài 3.158mm, đường kính 209,6mm, trọng lượng 170kg, tốc độ 1.020m/s.
SA-8 là hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp một tầng sử dụng nhiên liệu rắn có thể hoạt động trọng mọi điều kiện thời tiết. Phiên bản đầu tiên của nó là SA-8a chỉ mang được 4 quả đạn lắp sẵn trong container. Sau này, nó được phát triển thành SA-8b và có thêm 2 xe tiếp đạn BAZ-5937, mỗi xe mang được 18 quả đạn để hộ trợ cho phân đội gồm 4 xe chiến đấu (mỗi xe mang 4 quả đạn). Mỗi mục tiêu có thể bị ngắm bắn bởi 1 hoặc 2 quả tên lửa cùng lúc. Hệ thống phòng không này có thể được vận chuyển bới các phương tiện bay. SA-8a (GECKO Mod 0) có trọng lượng phóng là 130kg, tốc độ tối đa Mach 2.4. Độ cao hiệu quả tối thiểu/tối đa là 25/5000m. Tầm bắn hiệu quả từ 1500m đến 12000m The SA-8b or GECKO Mod 1, ra mắt lần đầu năm 1980 được cải tiến hệ thống điều khiển và tầm bắn hiệu quả tối đa được nâng lên 15000m. Cả 2 phiên bản tên lửa đều có trọng lượng đầu đạn là 19kg và có bán kính sát thương (ở độ cao thấp) là 5m. Thời gian tái nạp đạn là phút, thời gian triển khai là 4 phút và thời gian phản ứng là 26 giây. Radar điều khiển hoả lực LAND ROLL conical-scan fire control radar hoạt động 360º ở dải sóng H-band với tầm trinh sát tối đa 35km và tầm hoạt động hiệu quả là 30km. Biến thể dùng cho hải quân có tên 4K33 Osa-M (SA-N-4).

micha53 07-11-2008 07:24

Bài của bác này rất hay,nhất là đoạn giới thiệu SA-2.

thanhf72 07-11-2008 07:32

9. SA-9 Gaskin : Được Nga gọi là 9K31 Strela-1.

http://i390.photobucket.com/albums/o.../thanh/SA9.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA91.jpg

Những thông số chính của đạn:
- Dài : 1,803m.
- Đường kính : 0,12m.
- Nặng : 32kg.
- Đầu đạn : 2,6kg HE.
- Tầm bắn : 800 - 4500m.
Đây là hệ thống tên lửa phòng không di động tầm ngắn và thấp, được thiết kế bởi Viện Vật lý địa cầu LX. SA-9 sử dụng loại tên lửa 9M31 hoặc 9M31M (SA-9 đặt trong 4 ống phóng kiêm ống bảo quản có thể xoay 360 độ khi tìm mục tiêu và có thể bẻ ngang hạ sát xuống nóc xe khi hành quân. Khung xe cơ sở của nó là loại xe trinh sát bánh lốp BRDM-2 đã được cải tiến bỏ tháp pháo gắn khẩu 14,5mm. Được phát triển vào năm 1960, năm 1968 nó được đưa vào trang bị của QĐ LX với mục đích chính là đánh các loại mục tiêu bay thấp. Năm 1970, SA-9 được cải tiến thành SA-9B với tên lửa 9M31M có bộ phận làm lạnh đầu dò hồng ngoại giúp nó "tinh khôn" hơn trước các mồi bẫy. Radar 9S16 của SA-9 có ưu điểm là có thể thu sóng thụ động, điều đó giúp nó ẩn mình kỹ hơn trước các biện pháp trinh sát kỹ thuật và có thể bất ngờ cho đối phương "xơi" hai quả tên lửa trước khi chúng kịp phóng. Hệ thống này được xuất sang khá nhiều nước. Nó bị thay thế vị trí trong đội hình phòng không của QĐ Nga bởi SA-13 hoàn thiện hơn.

10, SA-10 Grumble : Nga gọi loại tên lửa này là S-300 PMU

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA10.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA101.jpg

Những thông số chính của đạn TL:
- Dài : 7,0m.
- Đường kính : 0,45m.
- Nặng : 1480kg.
- Tầm bắn : 3-150km.
Được nghiên cứu xong năm 1980, đến 1987 đã có 80 bệ phóng SA-10 được triển khai canh giữ bầu trời nước Nga (chủ yếu là xung quanh Moskova). Người Mỹ và Nato lần đầu nghe nói đến SA-10 vào năm 1985, họ đã cố gắng tìm hiểu về nó - một đối thủ đáng gờm của Patriot PAC-2 mà họ đang sử dụng. Tuy nhiên, mãi sau năm 1991 Liên Xô sụp đổ họ mới mua được của Ukraina một dàn SA-10 hoàn chỉnh và bắt tay vào mổ xẻ. Họ đã thực sự kinh ngạc trước những tính năng tuyệt vời của nó. Được đặt trên khung xe cơ sở MAZ-7910 8 bánh kép chủ động, SA-10 có một khả năng việt dã rất cao, 04 quả tên lửa 48N6 được đặt trong 4 ống phóng kiêm ống bảo quản, khi vào vị trí chiến đấu được dựng thẳng đứng (mất 5 phút chuẩn bị) đã tạo cho SA-10 một khả năng phản ứng rất nhanh trước các mục tiêu. Mỹ thì thật sự bị shock khi biết radar 76NG Clam Shell của SA-10 có thể bắt được mục tiêu có diện tích phản xạ chỉ có 0,02 m2, trong khi khả năng ấy ở Patriot PAC-2 là 0,1 m2. Mỹ đã ứng dụng những gì họ "học" được của người Nga khi mổ xẻ SA-10 vào phiên bản Patriot PAC-3, nhưng lúc ấy người Nga đã có S-300 PMU-1 và S-300 PMU-2 Favorit với những khả năng vượt trội hơn S-300 PMU (SA-10 nguyên bản) khá nhiều. Hình như VN cũng mới được trang bị 2 phân đội loại này.

11, SA-11 Gadfly : Nga gọi loại tên lửa tầm trung, cơ động này là 9K37 Buk. Nato đặt cho cái tên Gadfly (Ruồi trâu) còn Mỹ thì gọi là SA-11.

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA11.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA111.jpg

Những thông số chính :
- Dài : 5,7m.
- Đường kính : 0,13m.
- Nặng : 690kg.
- Đầu đạn : 55kg HE.
- Tầm bắn : min 25 đến max 22000m (tùy phiên bản).
Đây là loại tên lửa cơ động, được nghiên cứu, phát triển từ loại SA-6, nó (kể cả radar) được đặt trên khung xe cơ sở tương tự như của loại pháo phòng không tự hành Zsu 23-4. Với 4 quả tên lửa 9K37 được đặt trên giá xoay 360 độ, Buk có thể cùng lúc bắn tới 6 mục tiêu riêng biệt. Radar 9S18 (Tube Arm) hoặc 9S18M1 (Snow Drift) của nó có thể theo dõi 6 mục tiêu từ khoảng cách tối đa là 85km. Người Nga đã đưa SA-11 vào sử dụng từ năm 1980, đến năm 1984 họ đưa ra phiên bản 9K37M Buk-1M với tầm bắn xa hơn, năm 1995 xuất hiên 9K37M1 Buk-SAR với tầm bắn lên tới 25km. Sau này, trên cơ sở Buk-1M, người Nga còn có phiên bản 9K38 Buk-1M-2, nó được Mỹ xếp loại là SA-17. Phiên bản sử dụng cho Hải quân của SA-11 được gọi là SA-N-7.
Hiện tại, SA-11 Buk (các kiểu) vẫn đang là một hệ thống phòng không cơ động thuộc loại hiện đại nhất thế giới và người Nga chưa có ý định xuất khẩu nó.
Hệ thống phòng không tầm trung SA-11 GADFLY sử dụng tên lửa nhiên liệu rắn có khả năng tiêu diệt các mục tiêu bay tính năng cao và tên lửa hành trình. Đây là hệ thống được phát triển dựa trên hệ thống phòng không SA-6 GAINFUL với tính năng được cải thiện đáng kể, có thể tự động bắt bám cùng lúc 6 mục tiêu độc lập. Xác suất trúng đích của 1 TL đối với máy bay cánh cố định là 60-90%, đối với trực thăng là 30-70% và đối với tên lửa hành trình là 40%, tăng đáng kể so với thế hệ SA-6. Hệ thống này có khả năng cơ động cao hơn và chỉ mất có 5 phút để triển khai chiến đấu. Khả năng chống nhiễu và đối phó với các hệ thống tác chiến điện tử được tăng cường. Một hệ thống SA-11 bao gồm các xe bệ phóng 9A310M1, xe tiếp đạn 9A39M1, radar trính sát SNOW DRIFT Surveillance Radar 9S18M1, và xe chỉ huy/điều khiển 9S470M1. Tên lửa 9M28M1 với đầu dò bán chủ động có tầm bắn tối đa là 28km và có khả năng chịu quá tải tới 23G. Radar trinh sát cảhh báo sớm và bắt bám mục tiêu SNOW DRIFT có khả năng phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 85km đối với các mục tiêu bay cao và 35km đối với các mục tiêu bay thấp ở độ cao 100m và 23km đối với các phương tiện có khả năng bay theo địa hình. Một khi mục tiêu được phát hiện, các dữ liệu được truyền ngay cho các xe phóng để sẵn sàng bắt bám và bắn thông qua hệ thống data link. Radar bắt bám và điều khiển hoả lực FIRE DOME hoạt động ở dải sóng H/I-band điều khiển tên lửa trong khoảng từ 3-32km và độ cao từ 15-22.000m, bám sát mục tiêu đang bay với tốc độ tối đa tới 3000km/h và có thể điều khiển cùng lúc 3 quả tên lửa để tiêu diệt 1 mục tiêu. Xe phóng được đặt trên khung gầm xe bánh xích GM-569 (tương tự như khung gầm hệ thống pháo phòng không tự hành ZU-23-4) mang được 4 quả tên lửa sẵn sàng phóng và có thể xoay 360º. Năm 1996, Nga đã chuyển giao cho Phần Lan 3 hệ thống SA-11 GADFLY với giá 185 triệu USD để trả các khoản mà Nga nợ nước này. Tính ra, mỗi hệ thống (tương đương 1 tiểu đoàn) có giá khoảng 61,67 triệu USD. Một số tài liệu cho rằng, giá 1 quả tên lửa 9M28M1 của SA-11 là vào khoảng 300.000 USD.

12, SA-12: Nga gọi loại này là S-300V, Mỹ thì phân biệt thành 2 phiên bản SA-12A và SA-12B, Nato gọi là Gladitor (SA-12A) và Giant (SA-12B).

SA-12A Gladitor:

http://i390.photobucket.com/albums/o...anh/SA12A1.jpg
http://i390.photobucket.com/albums/o...anh/SA12A2.jpg
http://i390.photobucket.com/albums/o...anh/SA12A3.jpg

Những thông số chính :
- Loại tên lửa : 9M83.
- Số tên lửa : 04 quả/1bệ.
- Dài :7m.
- Đường kính: 0,72m.
- Đầu đạn : 150kg HE.
- Tầm bắn: 6 - 75km.
- Độ cao: 20m - 25km.

SA-12B Giant


http://i390.photobucket.com/albums/o...anh/SA12B1.jpg
http://i390.photobucket.com/albums/o...anh/SA12B2.jpg

Những thông số chính :
- Loại tên lửa : 9M82.
- Số tên lửa : 02 quả/bệ.
- Dài : 8,5m.
- Đường kính : 0,90m
- Đầu đạn : 150kg HE.
- Tầm bắn : 13 - 100km.
- Tầm cao : 20m - 30km.
Loại tên lửa 9M82 của Giant có trọng lượng nặng gần gấp đôi tên lửa 9M83 của Gladitor (4600kg/2500kg), vì vậy trên khung xe cơ sở 9S457 (Maz 457) Giant chỉ có 02 quả tên lửa so với 04 của Gladitor. Cũng được tổ hợp Antey gọi chung với SA-10 bằng cái tên S-300, nhưng thực ra SA-12 A/B đã có sự tiến bộ đáng kể khi người ta kết hợp luôn radar đo cao lên trên xe bệ phóng. Vì vậy một khẩu đội của SA-12 rút xuống chỉ còn 3 xe (xe bệ phóng, xe radar chỉ huy bắn, xe nạp tên lửa ) so với khẩu đội 4 xe của SA-10. Điều này đã tăng đáng kể khả năng cơ động của SA-12.
SA-12 đã được bán cho Ấn Độ và Trung Quốc và trở thành loại tên lửa phòng không hiện đại nhất của hai nước này.

13, SA-13 Gopher: Đây là loại tên lửa phòng không tầm ngắn và thấp được phát triển để thay thế cho SA-9 Gaskin. Nga gọi hệ thống này là ZRK-BD Strela-10M, Nato đặt mật danh là Gopher (Gặm nhấm Question ). VN gọi loại này là A- 89 (Vì được đưa vào trang bị của ta năm 1989 và chỉ có duy nhất 1 phân đội).

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA13.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA131.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA132.jpg

Những thông số chính :
- Loại tên lửa : 9M37 (9M37M).
- Số tên lửa : 04đạn/1xe.
- Dài : 2,2m.
- Đường kính : 0,125m.
- Nặng : 55kg.
- Đầu đạn : 5kg HE.
- Tầm bắn : 800 - 5000m.
- Độ cao : 25 - 3500m.
SA-13 gồm 04 tên lửa 9M37 trên bệ và 04 TL trong khoang xe. Các TL được đặt trong óng phóng kiêm ống bảo quản.
Toàn bộ hệ thống kể cả radar ngắm bắn Hat Box được đặt trên khung xe cơ sở của xe xich MT-LB. SA-13 được thiết kế để chống lại các loại trực thăng và tên lửa hành trình có độ cao thấp và diện tích phản xạ hiệu dụng với radar nhỏ. Bình thường, SA-13 mang 4 tên lửa sẵn sàng bắn trên bệ phóng và 4 tên lửa trong xe nhưng nó còn khả năng bắn được loại tên lửa 9M31 (Strela-1) của SA-9. Điều này cho phép tiết kiệm được khi chiến đấu, người ta có thể sử dụng Strela-1 để bắn các loại mục tiêu có tính năng và độ cơ động thấp và dùng Strela-10 cho các mục tiêu phức tạp hơn. Các tên lửa 9M37 được điều khiển tới mục tiêu bằng chế độ tự dẫn trong 2 kênh: Hồng ngoại và Quanh ảnh, cho phép bắn được các mục tiêu tàng hình về nhiệt cũng như tàng hình về sóng vô tuyến.

thanhf72 07-11-2008 10:59

14, SA-14 GREMLIN: Đây là loại tên lửa vác vai (MANPDAS) mà Nga gọi là Strela 3 (9K34).

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA14.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA141.jpg

Những thông số chính:
- Dài: 1,4m.
- Đường kính: 75mm.
- Nặng: 10,3kg (2,95kg đầu đạn HE).
- Tốc độ tên lửa: 600m/s.
- Tầm bắn: 600-6000m.
- Tầm cao: 20m- 3500m.
Strela-3 là loại tên lửa vác vai tầm thấp được nghiên cứu từ năm 1978, nó là kẻ thay thế xứng đáng cho các đàn anh Strela-2 A/B (A-72 của VN). Tên lửa 9M36 hoặc 9M36-1 được trang bị đầu dò hồng ngoại được làm lạnh bằng nitơ lỏng có khả năng chống lại mồi bẫy hồng ngoại của các loại máy bay. Đầu dò hồng ngoại được cải tiến cho phép SA-14 tăng cường đáng kể góc bắn, đầu đạn cũng nặng gần gấp đôi so với SA-7 tạo ra phạm vi sát thương rộng hơn.
Strela-2/2M (SA-7A/B) có một nhược điểm là dùng đầu dò hồng ngoại Sulphua chì (PbS) không làm lạnh, làm việc trong dải sóng 1,7 đến 2,8 micron (vùng bức xạ do các chi tiết nóng ở động cơ phát ra) nên chỉ bắn được khi ống phụt hoặc các nguồn bức xạ nhiệt hướng về phía xạ thủ. Không quân đối phương chỉ việc phóng mồi bẫy nhiệt hoặc che chắn luồng bức xạ nhiệt là SA-7 bị vô hiệu hóa.
Để khắc phục nhược điểm đó, cuối những năm 60 (TK20), chương trình phát triển tên lửa MANPDAS của LX được chuyển giao từ OKB-134 tại Tushino sang cho Phòng thiết kế công nghiệp chế tạo máy Kolomna (Kolomna KBM). Ở đây, người ta phân việc nghiên cứu sản xuất loại tên lửa mới cho 2 nhóm, một nhóm (ngắn hạn) tìm cách cải tiến SA-7B (Strela-2M), một nhóm (dài hạn) nghiên cứu loại tên lửa mới.
Giải pháp ngắn hạn cho ra đời mẫu 9M36 Strela-3, Mỹ và Nato gọi là SA-14 Gremlin. SA-14 sử dụng đầu dò hồng ngoại bằng PbS được làm lạnh bằng Nito, hoạt động trong vùng 3,5 đến 6 micron cho phép nó có góc bắn rộng hơn nhiều, cũng như vô hiệu hóa được một số biện pháp đối phó như che chắn luồng khí xả...Ngoài ra, đầu dò của 9M36 còn có một bộ kính lọc hồng ngoại nhằm tránh bị đánh lừa bởi pháo sáng-mồi bẫy. Đầu đạn của Strela-3 nặng gần gấp đôi đầu đạn của Strela-2M nhằm tăng cao khả năng sát thương.
SA-14 được đưa vào trang bị của quân đội LX năm 1974, tới giữa những năm 80 (TK20) mới được xuất khẩu do lúc đó người Nga đã có hệ thống MANPDAS mới Igla (sản phẩm của nhóm nghiên cứu dài hạn thuộc Koloma KBM). Strela-3 được xuất khẩu cho Iraq, Syria, Nicaragoa...

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA142.jpg

15, SA-15 (Tor M1) : Tên Nga là 9K331 Tor M1

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA15.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA151.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA152.jpg

Được đưa vào trang bị của QĐ Liên Xô năm 1990, Tor M1 đến nay vẫn là hệ thống tên lửa phòng không tầm trung vào loại hiện đại nhất của QĐ Nga hiện nay. Nó được thiết kế để chống lại tên lửa đạn hành trình, các máy bay ném bom, máy bay trực thăng của đối phương để bảo vệ bộ đội cơ giới hoá trên phạm vi chiến trường trong mọi thời tiết. Toàn bộ hệ thống đặt trên xe bánh xích GM-569 động cơ V-12, có thể chạy ở tốc độ lớn nhất là 65km/h trên đường bằng có hệ thống phòng hộ NBC, dự trữ hành trình 500km.
9K331 Tor-M1 của Nga được NATO và Mỹ đặt mật danh là SA-15 GAUNTLET (phiên bản dùng cho hải quân có tên SA-N-9) là hệ thống phòng không tầm thấp/trung, không những có khả năng tiêu diệt các mục tiêu bay cánh cố định, trực thăng mà còn có thể bắn hạ các vũ khí có điều khiển và tên lửa hành trình. TOR-M1 được thiết kế như một hệ thống phòng không hoàn toàn tự động có khả năng tự trinh sát, bắt bám và điều khiển, tiêu diệt mục tiêu từ từng xe phóng. Một tiểu đoàn thường được biên chế với 4 xe phóng cùng với 1 xe chỉ huy. Mỗi xe phóng mang được 8 quả tên lửa và có thể phóng thẳng đứng từ trong container. Hệ thống này có thể tự động bắt bám và phóng, điều khiển cùng lúc 2 quả tên lửa vào 1 mục tiêu trong mọi điều kiện thời tiết và trong bất cứ thời gian nào. Tên lửa của TOR-M1 là loại 1 tầng sử dụng nhiên liệu rắn có thể chịu được quá tải tới 30g, tốc độ tối đa 850m/s mang đầu đạn nổ văng mảnh trọng lượng 15kg.
Radar 3D mạch xung có thể cung cấp thông tin 3 chiều, có thể kiểm soát cùng lúc tới 48 mục tiêu, trong đó bám 10 mục tiêu nguy hiểm nhất cung cấp cho kíp điều khiển thông số chính xác trước khi quyết định bắn. Mặc dù tầm trinh sát của radar chỉ là 25km (với mục tiêu có diện tích phản xạ nhỏ nhất là 0,1m2), nhưng TOR-M1 chỉ mất có 5 đến 8 giây để phóng kể từ khi phát hiện mục tiêu. Nó cũng chỉ mất có 3- 4 giây để phóng tên lửa khi ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu (dừng tại chỗ) và khoảng 10 giây để dừng xe và phóng. Ngoài hệ thống radar, trong môi trường bị nhiễu nặng, TOR-M1 có thể dùng hệ thống bắt bám tự động bằng TV từ khoảng cách 20km để điều khiển tên lửa mà không cần dùng radar. Kíp chiến đấu tương đối gọn nhẹ với chỉ 3 đến 4 người. Mỗi lần phóng, nó có thể điều khiển cùng lúc nhiều tên lửa nhắm vào tới 2 mục tiêu khác nhau. Trong các lần thử nghiệm, TOR-M1 có xác suất tiêu diện các mục tiêu bay là vũ khí có điều khiển chính xác và tên lửa hành trình lên tới 0,6 đến 0,9 (hay 60-90%). Hiện nay trong trang bị của lực lượng phòng không lục quân Nga có khoảng 100 hệ thống TOR-M1 với nhiều biến thể. Phiên bản hải quân của SA-15 được gọi là SA-N-9, hiện nay có tin Nga đang nghiên cứu tích hợp hệ thống tên lửa này với pháo phòng không 6 nòng AK-630 để trang bị cho các tàu hải quân.
Trung Quốc là nước đầu tiên mua TOR-M1 và hiện đã nhận được 50 hệ thống và có thể sẽ mua tiếp 25 hệ thống nữa. Hy Lạp cũng đã mua 31 hệ thống trong các năm 1998 và 2000 với tổng giá trị khoảng 860 triệu USD. Năm 2005, Iran cũng đặt mua 29 hệ thống này với giá khoảng 790 triệu USD, hiện đã chuyển giao xong. Vụ mua bán này khiến Mỹ rất tức giận vì nó tăng cường đáng kể khả năng phòng không của Iran. Nga cũng đã chuyển giao cho Ai Cập 4 hệ thống này vào năm 2005 trong chương trình hiện đại hóa hệ thống phòng không vốn đã khá lạc hậu của nước này. Ngoài ra, Venezuela, Libya và Saudi Arabia cũng đang xúc tiến những hợp đồng nhằm mua TOR-M1. Ước tính, mỗi hệ thống TOR-M1 có giá từ 27,5 đến hơn 30 triệu USD. Ngoài ra, mỗi quả tên lửa 9M331 của TOR-M1 có giá khoảng 150.000 USD. Tính năng chiến đấu của đạn tên lửa:
- Dài: 2,9m.
- Đường kính: 235mm.
- Nặng: 167kg.
- Đầu đạn nặng: 15kg HE.
- Tầm bắn: 100m - 12km.
- Tầm cao: 100m - 6km.
- Tốc độ: 850m/s (2,8M).

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA153.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA154.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA155.jpg

16, SA-16 GIMLET: Nga gọi loại này là Igla-1 9K310. Thực ra loại tên lửa phòng không vác vai này còn ra đời sau SA-18 GROUSE (Igla) tới 3 năm, nó là phiên bản đã được đơn giản hoá. Ở VN nó có tên là A- 87.
http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA16.jpg
Những thông số chính:
- Tên lửa dài: 1,7m.
- Nặng: 17kg.
- Tầm bắn: 500-5000m.
- Tầm cao: 10-3500m.
- Tốc độ: 570m/s.
- Đầu đạn: 2kg HE.
Là loại tên lửa phòng không vác vai nên SA-16 được thiết kế để có thể tiêu diệt các loại máy bay bay thấp, trực thăng và tên lửa hành trình. Ngoài ra, người ta còn lắp đặt SA-16 lên các phương tiện cơ giới như xe chiến đấu bộ binh, máy bay trực thăng (lúc đó nó trở thành loại không đối không).
Trên cơ sở của Igla-1, hiện nay Nga đã có phiên bản Igla-S hiện đại và đa năng hơn.

17, SA-17 GRIZZLY: Nga gọi loại loại này là Buk-M1 (loại cải tiến là Buk-M1-2)

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA17.jpg

Những thông số chính:
1. Đối với mục tiêu bay có diện tích phản xạ cỡ như máy bay F-15:
- Tầm bắn hiệu quả tối thiểu/tối đa: 3/45km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 0.015/25km
2. Đối với tên lửa đường đạn chiến thuật:
- Tầm bắn hiệu quả: tới 20km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 2/16km
3. Đối với tên lửa HARM:
- Tầm bắn hiệu quả: tới 20km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 0.1/15km
4. Đối với tên lửa hành trình phóng từ trên không ALCM:
- Tầm bắn hiệu quả: 30-35km
5. Đối với mục tiêu nổi trên mặt nước cỡ tàu khu trục:
- Tầm bắn hiệu quả tối thiểu/tối đa: 3-25km
6. Đối với các mục tiêu cố định trên mặt đất như máy bay đang đỗ, các bệ phóng và sở chỉ huy cỡ lớn:
- Tầm bắn hiệu quả: 10-15km
Xác suất tiêu diệt mục tiêu với 1 quả tên lửa:
- Đối với máy bay F-15 không cơ động: 0,9-0,95 (hay 90-95%)
- Đối với tên lửa đường đạn chiến thuật: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
- Đối với tên lửa HARM: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
- Đối với tên lửa hành trình phóng từ trên không ALCM: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
Tên lửa 9M317:
- Tổng trọng lượng: 710kg
- Dài: 5,55m
- Đường kính: 0,40m
- Đầu đạn tiêu chuẩn: 70kg
- Tầm bắn tối thiểu/tối đa: 3/48km
- Tầm cao tối thiểu/tối đa: 15/25.00m
- Tốc độ tối đa: 4.320km/h
Đây là hệ thống tên lửa phòng không cơ động tự hành được phát triển trên cơ sở hệ thống Buk (SA-11 GADFLY) có thể được trang bị cho lực lượng phòng không/phòng không lục quân và lực lượng bảo vệ bở biển. Nó không những tiêu diệt được các máy bay chiến thuật có khả năng cơ động cao, máy bay chiến lược, trực thăng, tên lửa hành trình mà còn tiêu diệt được cả các loại tàu chiến, các mục tiêu cố định trên mặt đất và tên lửa không đối đất. Đến năm 1994, người Nga đưa ra phiên bản mới của SA-17, họ gọi nó là Buk-M1-2 trang bị loại tên lửa 9M38M2 có đầu đạn nặng hơn, tầm bắn xa hơn. BUK-M1-2 có khả năng tác chiến trong môi trường bị nhiễu nặng và tránh được hầu hết các loại mồi bẫy. Mỗi hệ thống (Phân đội) bao gồm: 1 xe chỉ huy; 1 trạm trinh sát/bắt bám và điều khiển đặt trên xe; 6 xe bệ phóng, mỗi xe mang 4 quả tên lửa sẵn sàng phóng và 4 quả dự trữ; 3 xe tiếp đạn. BUK-M1-2 sử dụng 1 radar trinh sát tầm xa 9S117M1 Kupol-2 Snow Drift, tầm phát hiện 100km; 1 radar bắt bám mục tiêu 9S35M2 Fire Dome hoạt động trong dải sóng H/I tầm hoạt động 120km. BUK-M1-2 có thể cùng lúc kiểm soát 75 mục tiêu, cung cấp các thông số cụ thể về 15 mục tiêu nguy hiểm nhất. Hệ thống này có thể tiêu diệt các mục tiêu bay có tốc độ tối đa 3.600km/h và nó chỉ mất 5 phút để triển khai chiến đấu hoặc rút khỏi trận địa sau khi phóng.
Toàn bộ hệ thống được đặt trên khung cơ sở giống như SA-11, nhưng nó được cải tiến để có thể mang tới 4 quả tên lửa 9M38M.
Phiên bản hải quân của SA-17 được gọi là SA-N-12 được lắp trên các tuần dương hạm của Nga.

18, SA-18 Grouse:
Nga gọi loại này là Igla 9K38 với tên lửa 9M39M. Thực ra, thế hệ tên lửa phòng không vác vai này được dự tính sản xuất để thay thế Strela-2 SA-7 từ 1971, tuy nhiên khi nghiên cứu nó người ta (tổ hợp Kolomna) lại chia nó ra làm 2 nhóm nghiên cứu riêng. SA-16 Igla-1 ra đời sau nhưng lại được đưa vào sử dụng trước (năm 1981), hai năm sau năm 1983, SA-18 Igla mới được chấp nhận đưa vào sử dụng.

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA18.jpg

Những thông số chính:
- Dài: 1,7m.
- Đường kính: 0,72m.
- Nặng: 11kg.
- Đầu đạn: 2kg HE
- Tốc độ: 600m/s.
- Tầm bắn: max 5200m.
- Tầm cao: max 3500m.
SA-18 Igla sử dụng chung loại động cơ tên lửa với SA-16 Igla-1, chỉ khác là ngoài đầu dò hồng ngoại, nó còn có thêm một đầu dò quang ảnh (tương tự như ở SA-13) để tối ưu hóa khả năng chống mồi bẫy nhiệt.
Phiên bản Hải quân của Igla là SA-N-10 Igla-M.

thanhf72 07-11-2008 11:52

19, SA-19 Grison:
Chả hiểu sao Mỹ lại xếp chung 2 loại Tunguska và Pantsyr S-1 vào chung một loại SA-19? Có lẽ vì chúng cùng là tổ hợp tên lửa và pháo phòng không chăng? Hay do Pantsyr S-1 vốn được phát triển từ Tunguska?


Tunguska 2S6:

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA191.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA192.jpg

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA193.jpg

Những thông số chính:
- Khung gầm: xe xích GM-352M (tương tự như của SA-11 GADFLY hay ZSU-23-4)
- Kíp chiến đấu: 3 người
- Vũ khí: 8 quả tên lửa 9M111, 2 súng máy 2A72 cỡ nòng 30 mm
- Tên lửa:
+ Tốc độ tối đa: 1,100 m/sec
+ Trọng lượng (bao gồm cả ống phóng): 90kg
+ Đường kính ống phóng 170mm
+ Chiều dài ống phóng: 3,2m
+ Trọng lượng đầu đạn: 16kg
- Súng máy:
+ Cỡ nòng: 30mm
+ Tốc độ bắn: 700 phát/phút
+ Sơ tốc đầu nòng: 960m/s
+ Trọng lượng: 0,97kg/viên
+ Cơ số đạn:750 viên
- Radar
+ Tầm phát hiện đối với mục tiêu có diện tích phản xạ 2-3 cm2: ít nhất 30km
+ Bám mục tiêu: từ tầm ít nhất 24km
- Bán kính tiêu diệt đối với tên lửa:
+ Tầm xa tối thiểu/tối đa: 1.000/12.000m
+ Tầm cao tối thiểu/tối đa: 5/8.000m
- Bán kính tiêu diệt đối với súng máy phòng không:
+ Tầm xa tối thiểu/tối đa: 0,2/4.000m
+ Tầm cao tối thiểu/tối đa: 0/3.000m
- Số mục tiêu bám và tiêu diệt tự động: 2
- Số mục tiêu kiểm soát trong 1 phút: 10-12
- Thời gian phản ứng 5-6 giây.
Đây là hệ thống pháo/tên lửa phòng không tự hành cơ động của Nga được đưa vào trang bị từ năm 1986. Tunguska có thể tiêu diệt được các mục tiêu bay có tốc độ tối đa 500m/s ở độ cao từ 15 đến 3.500m và ở tầm xa từ 2.400 đến 8.000m. Tên lửa 9M111 mang đầu đạn văng mảnh nổ tương đối chính xác khi cách mục tiêu khoảng 5m. Các nhà thiết kế cho rằng hệ thống này có xác suất tiêu diệt mục tiêu đối với 1 phát bắn là 0,65 (hay 65%). Thời gian phản ứng của Tunguska là từ 5 đến 12 giây. Mặc dù có khả năng cơ động cao, nhưng Tunguska không thể bắn khi đang chạy. Nó buộc phải dừng xe để tránh cho tên lửa khỏi bị ảnh hưởng khi rời ống phóng. Tên lửa 9M111 có tốc độ tối đa khoảng 1.100m/s (Mach 3). Tên lửa chỉ hoạt động được ban ngày với tầm nhìn tốt vì mục tiêu cần được bám sát bởi hệ thống quang học trong suốt quá trình điều khiển đạn. Hệ thống điều khiển hỏa lực của Tunguska bao gồm:
- Radar trinh sát 1RL144 hoạt động ở dải sóng E với tầm trinh sát tối đa 20km. Nó xoay với tốc độ 1 vòng/giây, cung cấp thông tin cập nhật nhanh chóng về mục tiêu.
- Radar bám mục tiêu 1RL144M hoạt động ở dải sóng J với tầm tối đa 18km.
- Hệ thống IFF 1RL138 hoạt động ở dải sóng C và D.
- Hệ thống quang học trực xạ Direct-view Optics (DVO).
- Máy tính điều khiển hỏa lực.
Hiện nay Tuguska 2S-6M đang có trong trang bị của các nước: Belarus, India, Morocco, Russia, Ukraine. Căn cứ vào hợp đồng mà Ấn Độ (400 triệu USD cho 24 hệ thống) và Morocco (100 triệu USD cho 6 hệ thống) thì 2S6M Tunguska-M1 có giá khoảng 16,67 triệu USD/hệ thống.
Người Nga hiện đã cải tiến Tunguska thành loại Tunguska-M 2S6M và Tunguska-M1 2S6M-1. Các loại này chủ yếu chỉ là cải tiến hệ thống radar từ RPK thành RPK-2 và RPK-2U nhằm nâng cao khả năng chống chế áp điện tử và phát hiện mục tiêu có độ phản xạ hiệu dụng thấp như UAV.

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA194.jpg

Pantsyr S-1:
Pantsyr S-1 là hệ thống tên lửa phòng không kết hợp pháo phòng không cơ động được cải tiến từ 2S6 Tunguska. Nó mang được tới 12 tên lửa 57E6 với 2 pháo 2A72 cỡ nòng 30mm.

http://i390.photobucket.com/albums/o...hanh/SA195.jpg

Những thông số chính:
- Xe cơ sở: Ural 5323 4 bánh chủ động.
- Tổ lái: 3 người cả xạ thủ.
- Pháo: 2A72 30mm, tốc độ bắn 700 phát/phút với cơ số 7500 viên.
- Tên lửa: 57E6 nặng 65kg, tốc độ 1100m/phút, tầm bắn 1-12km.
Radar của Pantsyr S-1 sử dụng loại 2 band sóng cm và mm, có thể dò tìm mục tiêu từ khoảng cách 30km và theo dõi mục tiêu từ khoảng 24km với những mục tiêu có độ phản xạ hiệu dụng khoảng 2-3 cm vuông. Pantsyr S-1 có thể cùng lúc tiêu diệt 2 mục tiêu bởi tính năng của tên lửa có đầu dò tìm hồng ngoại và chủ động hoàn toàn. Theo nhà sản xuất thì nó có thể bám bắt và giao chiến với đồng thời 12 mục tiêu.

20, SA-20 Triumf:
Theo tổ hợp Almaz (nơi thiết kế các loại S-xxx) thì đây là version S-300PMU3, tuy nhiên họ cũng lại gọi nó là S-400. Có lẽ vì vậy mà Mỹ xếp riêng version này thành loại SA-20 (SA-21 Growler).

http://i390.photobucket.com/albums/o...thanh/SA20.jpg

Hệ thống tên lửa phòng không S-400 thuộc thế hệ vũ khí phòng thủ tên lửa đường đạn và phòng không thế hệ 4+ do tập đoàn Almaz-Antey AD Concern phát triển. Hệ thống S-400 đã tích hợp những công nghệ mới nhất và khác về cơ bản so với tất cả các hệ thống phòng không thế hệ trước đó.
Hệ thống S-400 có tầm bắn lớn hơn, trần giao chiến cao hơn, tốc độ bắn cao hơn và khả năng chống nhiễu tốt hơn.
Những thông số chính:
- Xe chuyên chở kiêm bệ phóng: Maz 7910, 8x8.
- Loại tên lửa: 9M96E hoặc 9M96E2 và 9M82/83M.
- Tầm bắn: 120 - 400km.
Hệ thống xe phóng của S-400 vẫn dùng loại Maz 7910 8x8 của hệ thống S-300PMU-1 và S-300PMU-2 Favorit. Tên lửa tầm trung 9M96E và tầm xa 9M96E2 là hai loại tên lửa hoàn toàn mới, loại 9M96E2 có tầm bắn lên tới 400km có thể coi là khắc tinh của các loại máy bay AWACS. Tuy nhiên, các loại tên lửa 48N6E của S-300PMU-1 và 48N6E2 của S-300PMU-2 cũng vẫn có thể sử dụng cho S-400, việc này nâng cao khả năng linh hoạt trong tác chiến cũng như bảo đảm tác chiến cho S-400. Ngoài ra, nó có thể sử dụng loại tên lửa 9M82M/9M83M Giant (Người khổng lồ) của SA-12B Gladiator và lúc này tầm bắn sẽ lớn hơn 400km.
Một hệ thống S-400 gồm 1 xe chỉ huy và điều khiển trung tâm, được trang bị radar mạng pha nhiều chế độ và 8 xe phóng. Mỗi xe phóng có thể mang 4 ống phóng tiêu chuẩn 9M96E/E2 hoặc 48N6E/E2, cũng có thể mang ống phóng của cả 2 loại tên lửa trên. Ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa tên lửa được dẫn bằng bằng thiết bị hiệu chỉnh, chỉ huy vô tuyến, ở giai đoạn cuối có thể lựa chọn chế độ dẫn phù hợp cho mỗi tên lửa và với mỗi mục tiêu.
Hệ thống S-400 bắt đầu được thử nghiệm năm 1999, hoàn thiện vào năm 2000 tại căn cứ Kasputin Yar. Nó bắt đầu được triển khai vào cuối năm 2001. Tháng 7/2007 đã có 2 tiểu đoàn S-400 bắt đầu trực chiến, người Nga dự định sẽ trang bị đồng loạt S-400 cho hơn 30 trung đoàn phòng không bảo vệ mục tiêu yếu địa hiện đang dùng S-300. S-400 Triumf với tầm bắn tối đa trên 400km sẽ là mối đe dọa cho tất cả các loại máy bay AWACS hiện nay của thế giới, vì vậy không phải ngẫu nhiên mà những người thiết kế ra nó tự hào gọi nó bằng cái tên Triumf - Chiến thắng.
S-400 sử dụng động cơ rocket nhiên liệu rắn, phương thức phóng thẳng đứng. Loại tên lửa này dựa theo phương thức phóng của hệ thống tên lửa phòng không S-300. Khi phóng, lần đầu áp lực đẩy tên lửa ra, sau khi cách thiết bị phóng trên 20m đạn mới khởi động động cơ. Tên lửa S-400 sử dụng an toàn hơn và có năng lực cản phá mục tiêu ở mọi phương vị. Động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu rắn, sức đẩy lớn có thể làm cho tên lửa đạt đến tốc độ cao, đồng thời tiện lợi trong vận chuyển và cất giấu.
S-400 có thể dùng để phá huỷ các loại khí tài bay tập kích đường không hiện đại bao gồm cả máy bay chiến thuật và chiến lược, tên lửa hành trình Tô-ma-hốc và các vũ khí tên lửa khác, cũng như máy bay báo động sớm. Nó còn có thể phát hiện và tấn công chính xác các phương tiện áp dụng kỹ thuật tàng hình, các loại lên lửa hành trình bay ở tầng không thấp.( Đã có lần Mỹ dùng chú B2 bay gần qua 1 căn cứ QS của Nga bị rada Nga bắt đc nhưng ko kill, sau đó báo cho Bộ QP MỸ biết mặc dù trước đó vài ngày Mỹ còn mạnh mồm tuyên bố B2 là máy bay siêu tàng hình ko rada nào bắt đc... Không biết đúng không. Bác nào có thông tin chi tiết về vụ này thì thông tin với). S-400 tự động hoá cao mọi giai đoạn, giảm được số lượng nhân viên bảo quản, bảo dưỡng. Hệ thống thông tin của nó được nối liền với cơ quan chỉ huy. S-400 bắn theo phương pháp tự động giám sát, phát hiện và cản phá mục tiêu, khả năng phân biệt địch ta và đồng thời phóng nhiều tên lửa tấn công vào các mục tiêu khác nhau.
Hệ thống S-400 hiện được V. Putin cho phép xuất khẩu, nó đang được một số quốc gia như Arab Saudi và Trung Quốc quan tâm. Tất nhiên, S-400E (phiên bản xuất khẩu) sẽ có những tính năng hạn chế hơn so với loại được trang bị cho quân đội Nga.


21. Antey2500 (SA-23VM)

Antey2500 được biết đến như là 1 loại hoả tiễn chống máy bay và tên lửa chiến thuật có tầm hoạt động khoảng 2500Km. Hiện nay hệ thống tên lửa này thường được bố trí trên các bệ phóng di dộng. Hệ thống Antey2500 được phát triển trên cơ sở hệ thống S-300V (hay SA12 ) đã rất nổi tiếng. Đây là hệ thống tên lửa đánh chặn có thể bám sát và tiêu diệt cùng 1 lúc 24 đối tượng. Nó là nỗi khiếp sợ của các loại chiến đấu cơ hiện nay. Với tốc độ 4500m/s nó có thể bắt rơi hầu hết các loại máy bay thế hệ mới nhất. Với 1 hệ thống Antey2500 bạn có thể tin rằng 1 không phận khoảng 2500km2 với cao độ 40km được an toàn!
Trong cuộc chiến ở vùng Vịnh năm 1991 có thể thấy hiệu quả của hệ thống hoả tiễn đánh chặn Patriot PAC-3 của Mỹ. Nhưng so với Antey2500 thì hệ thống này hoàn toàn mất uy lực. Sau đây là bảng so sánh số liệu kỹ thuật của 3 hệ thống này :
Comparative Characteristics of Antimissile Systems
S-300V/ Antey-2500/ Patriot PAC-3
Target engagement range, km: 100 200 150
aerodynamic ballistic up to 40 up to 40 up to 40
Target engagement altitude, km: 0.025-30 0.025-30 25
aerodynamic ballistic
Maximum speed of engaged BM, m/s 3,000 4,500 3,000
Minimum target echo area, m2 0.02 0.02 0.1
Maximum launch range of engaged BM, km 1,100 2,500 1,000
Time into/out of action, min 5/5 5/5 30/15
Time to prepare missile for launch, s 15 7 -
Antey2500 sử dụng 2 loại hoả tiễn đối không hiện đại nhất hiện nay là 9M82M và 9M83M. 2 loại hoả tiễn này có thể bỏ ngoài trời trong điều kiện khắc nghiệt không bảo trì nhưng vẫn hoạt động hiệu quả sau 10 năm .
Mặt cắt để tiêu diệt mục tiêu là 0.02 m2 (có nghĩa là các bác đang bay trên 1 máy bay siêu thanh và quăng 1 trái bí ra cửa sổ hay 1 ở bánh mì to to cở bắp chân bạn thì trái hoả tiễn hoàn toàn có khả năng bắn trúng trái bí hay cái bánh mì đó). Và như vậy, cả phi cơ B-2 tàng hình cũng ko thể vượt qua hệ thống này
Antey2500 ngoài các số liệu riêng của hoả tiễn như tầm bắn, tốc độ bay ... thì các số liệu khác phụ thuộc vào loại xe đang mang nó .Chẳng hạn như loại xe liên hợp radar và chỉ huy hiện đại nhất cho phép nó phát hiện 200 mục tiêu theo dõi chặt chẽ về tốc độ ,hướng bay tầm... 72 mục tiêu và có thể xuất kích tiêu diệt 36 mục tiêu trong số đó .
Đặc điểm lợi hại nữa của Antey2500 là nó cực kì cơ động vì toàn bộ trang bị chỉ là các chiếc xe tải mà thôi. Thông thường thì có 1 chiếc là radar, 1 chiếc là dàn phóng, 1 chiếc mang hoả tiễn dự phòng và nạp đạn thêm cho dàn phóng. Trong vài trường hợp thành lập trận địa đày đặt liên hợp bảo vệ mục tiêu quan trọng như thủ đô Moskva thì sẽ có thêm chiếc radar chỉ huy liên hợp. Ngoài ra trong trường hợp thành lập 1 trận địa phòng không bí mật ngay trên đất đối phương thì tất cả chỉ là 1 chiếc xe tải cỡ lớn có thể đổ bộ bằng dù hay mang bằng trực thăng. Nói chung người ta vẫn bảo Antey2500 là không có đối thủ dựa vào độ bền, độ cơ động và khả năng siêu việt của các tên lửa đánh chặn mà ngày nay NMD đang cố gắng bắt kịp cho bằng được.
Cuối cùng thì Antey2500 còn làm người ta sợ ở 1 chỗ là nó gần như không bị nhiễu bởi bất cứ thứ gì và có thể mang đầu đạn hạt nhân tiêu diệt cả 1 phi đội hay 1 đám hoả tiễn 1 lúc, và không 1 mục tiêu nào nó không hạ được (Tất nhiên là trừ các tên lửa đạn đạo và máy bay của Nga, còn tên lưa đạn đạo của Nga có thể xuyên thủng bất cứ hệ thống phòng thủ tên tên lửa nào, trừ hệ thống phòng thủ tên lửa của Nga). Hì hì.:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl

Ivana 07-11-2008 12:56

Tên lửa phòng không Xô viết và Nga.
 
Em cảm ơn loạt bài của Bác Thanhf72 về tên lửa phòng không Nga. có những chi tiết mà em nay mới được biết. Nếu bác có thể cho thêm thông tin về loại Iskander (NATO SS-26 Stone) mà TT Nga đang dự tính sẽ đặt ở Kaliningrad để làm đối trọng với hệ thống tên lửa của Mỹ đang chuẩn bị đặt ở Ba lan và Czech.

http://www.blisty.cz/files/2008/08/17/tocka.gif http://www.blisty.cz/img.php?id=-632...ffff&mg=0&cp=0

Trong xung đột vừa qua tại Guzie có những nguồn tin / vịt ? / loan tải rằng quân đội Nga đã sử dụng Iskander vào cuộc chiến :

http://www.blisty.cz/img.php?id=-636...dbeb&mg=0&cp=0 http://www.blisty.cz/img.php?id=-635...dbeb&mg=0&cp=0

hungmgmi 07-11-2008 12:59

Mình thấy trên tivi nói Iskander chỉ bắn xa được 150 km, tức là mới với tới Ba Lan, còn nếu muốn với tới anh Tiệp thì cần phải có thời gian để cải tiến.

Ivana 07-11-2008 13:48

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 19963)
Mình thấy trên tivi nói Iskander chỉ bắn xa được 150 km, tức là mới với tới Ba Lan, còn nếu muốn với tới anh Tiệp thì cần phải có thời gian để cải tiến.

Nói đúng ra Nga và Mỹ vẫn còn bị ràng buộc bởi hiệp ước giải trừ quân bị mà họ đã ký từ 8/12/1987. trong đó có cam kết cả 2 bên không sản xuất và sử dụng các tên lửa đạn đạo có tầm hoạt động quá 500 đến 5500km ( 300 -3400 mil ). Cả 2 đã tự hủy 2692 tên lửa đạn đạo trong năm 1991 / Nga : 1846 RSD-10 Pioneer (NATO SS-20 Saber . Mỹ : 846 Pershing II systems./

Iskander / 9K720 Iskander-M (SS-26 Stone)/ trang bị cho quân đội Nga có khả năng tới đích 500 km (310 mil ). Riêng Iskander xuất khẩu chỉ có tầm bắn 300 km. Theo tính toán của giới bình luận quân sự thì 9K720 Iskander-M sẽ vươn qua Ba lan tới một phần lãnh thổ Czech và Đức

http://www.globalsecurity.org/wmd/wo...aliningrad.jpg
Bán kính hữu dụng của 9K720 Iskander-M

Video của 1tv.ru bình luận về Iskander-M

thanhf72 07-11-2008 14:35

Iskander-E (SS-26 Stone) là tổ hợp tên lửa đất-đối-đất chiến thuật được thiết kế để tiến hành các cuộc tấn công có độ chính xác cao nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau trên mặt đất với tầm phóng tới 280km (Đối với phiên bản xuất khẩu). Iskander-E mang một đầu đạn đơn với lượng nổ thông thường 0,4t.
Phiên bản D hiện tại mới triển khai trong trang bị của QĐ Nga có tầm bắn khoảng 550km, lượng nổ thông thường 0,5t và có khả năng mang đầu đạn hạt nhân chiến trường đến 1t.
Người Nga hiện đang hoàn thiện phiên bản mới Iskander-M. Khác với tất cả các chủng loại tên lửa đạn đạo đã từng được biết đến, đặc điểm chủ yếu của Iskander M là được chế tạo trên cơ sở công nghệ “tàng hình”, hoàn toàn khác với công nghệ “tàng hình” của người Mỹ- Đó là công nghệ bức xạ plazma. Tên lửa Iskander M còn được lắp hệ thống điều khiển đặc biệt, nên có thể cơ động rất linh hoạt. Vì thế, hệ thống phòng không của đối phương rất khó đánh chặn, nếu không muốn nói là không thể. Giới hạn quá tải của IskanderI có thể tới 30g, trong khi đó những kiểu tên lửa phòng không đánh chặn của Mỹ và NATO chỉ có thể chịu được mức độ quá tải đến 15g. Tên lửa đạn đạo chiến thuật Iskander-M có khả năng mang 2 đầu đạn hạt nhân với lượng nổ 1t/1đầu đạn.
Nhiều khả năng tên lửa Iskander M sẽ được đưa vào sản xuất hàng loạt trước năm 2010.

ctrela 07-11-2008 16:40

CÁm ơn bác thanhf72 nhé. Vừa mới thấy bác post bài bên box âm nhạc, giờ lại thấy mở topix bên này. Đang từ tên lửa phòng không lại nhảy sang tên lửa đạn đạo. Bác cho em hỏi cái: Vậy chứ công nghệ tàng hình của Iskander M là thế nào ạ, tại sao đến giờ người Nga không có máy bay tàng hình, thứ mà người Mỹ có lâu rồi? Em nghe nói về khoản này người Mỹ hơn hẳn có phải không.

cyxovi 08-11-2008 02:55

Theo nhà em biết thì công nghệ tàng hình của Iskander M dùng công nghệ Plasma, trên lý thuyết và phòng thí nghiệm thì nó hoạt động tốt, còn thực tế thì chỉ có Nga mới rõ.

Còn về máy bay tàng hình, gần đây khi đề ra phương án chế tạo máy bay thế hệ thứ 5, các chuyên gia Nga cũng có hai luồng ý kiến về khả năng tàng hình. Theo những gì người ta nói (em không chuyên), thì nếu tàng hình thì phải hy sinh một số thứ như, trang bị ít vũ khí (vì phải giấu vũ khí vào bên trong thân), lớp sơn tàng hình đắt đỏ (của Mỹ, còn Nga em không rõ), và sơn tàng hình cũng chỉ tàng hình với một dải sóng nào đó.

Máy bay F22 đắt quá nên chỉ có quân đội Mỹ sử dụng, F35 thì hứ hẹn rẻ hơn, nhưng hiện giờ thì tính năng cũng không thực sự hấp dẫn, tốc độ, tầm bay đều kém hơn máy bay Sukhoi.

thanhf72 08-11-2008 08:01

Về cơ bản hiện nay có 2 hướng chính phát triển vũ khí tàng hình. Thứ nhất là làm cho các bức xạ siêu cao tần đến từ rada bị tán xạ lung tung, không phản xạ được về nơi xuất phát (máy thu), tạo ra hiệu ứng tàng hình đối với rada- đây là hướng phát triển mà người Mỹ chọn. Thứ hai là hấp thụ tất tần tật những gì cham vào nó, và thế là chẳng còn gì quay về tổ quốc cả- đây là hướng phát triển mà người Nga chọn.
Đối với các MB Mỹ, người ta sử dụng công nghệ giảm bề mặt phản xạ hiệu dụng của phương tiện chiến đấu bằng nhiều cách như: sử dụng vật liệu có khả năng hấp thụ hoặc tản xạ sóng radar, cấu trúc phương tiện chiến đấu có bề mặt nhiều góc cạnh để tản xạ theo nhiều hướng khác nhau như ở F-117, F- 22, B-2... hoặc nhẵn bóng để giảm tối đa phản xạ sóng radar, đưa các thùng treo tên lửa hoặc bom vào bên trong thân máy bay..., che chắn các khí tài điện - điện tử của phương tiện chiến đấu, giảm phát xạ xung để thu hẹp khả năng phát hiện tín hiệu, thay bộ phát xạ điện từ bằng kỹ thuật quang, kỹ thuật la-de... Chính vì vậy mà các MB tàng hình của Mỹ trông rất quái dị, mất hết cả các tiêu chuẩn khí động học, khả năng cơ động thấp, chịu quá tải kém, tốc độ chậm. Về các tính năng bay không thể nào băng nhưng MB không tàng hình. (Thông thường, thân máy bay có hình trụ tròn và thân, cánh, đuôi tạo thành một kết cấu liên tiếp, đều có thể làm cho sóng rađa sinh ra quay trở lại rađa và thu sóng phản xạ của ăngten. Các nhà thiết kế máy bay tàng hình đã phát hiện ra rằng nếu biến đổi hình trụ tròn của thân máy bay thành hình mặt cắt, hình chóp, chóp nhọn, hoặc biến phần tiếp nối giữa cánh và thân thành hình ống tròn, tạo thành hình máy bay đặc thù có sự hoà hợp giữa thân và cánh, bỏ đi phần đuôi cánh, thay đổi sử dụng phần đuôi chữ V lệch, thân và cánh không bố trí giá treo đạn đạo… thì đều có thể phá vỡ tác dụng của sóng phản hồi do rađa sinh ra, làm cho sóng phản hồi đó yếu đi, thậm chí hầu như không có. Máy bay tàng hình F - 117 A và B - 2 là sự tống hợp thiết kế của những đặc điểm trên). Tuy nhiên nhờ vào ưu thế che mắt được đối phương và có trang bị vũ khí tốt, cự ly không kích xa nên F22 cho đến nay vẫn được coi là có khả năng chiến đấu (không chiến) cao nhất. Theo đánh giá của các chuyên gia QS thì 1 chiếc F22 có thể đương đầu với 10 SU27 mà vẫn không bị dưới cơ(?).
Còn người Nga đang phát triển loại công nghệ tàng hình Plasma tiên tiến, tuy nhiên nó còn đang trong quá trình thử nghiệm chưa được đưa vào sử dụng trên thực tế! Công nghệ tàng hình Plasma (còn gọi là tàng hình đẳng ion) có tính kinh tế, rẻ tiền hơn tất cả các công nghệ tàng hình đã có, nhưng lại có hiệu quả tàng hình rất cao. Bản chất của công nghệ tàng hình Plasma là cân đối giữa hiệu quả khí động học và tính tàng hình của vật thể. Đó là công nghệ tàng hình khác hoàn toàn với các công nghệ tàng hình truyền thống. Tín hiệu vô tuyến, sóng điện từ gặp phải Plasma cũng sẽ bị năng lượng hóa cao và tiêu tán hoặc bị hấp thụ hết, do đó không phản hồi lại radar. Khi sử dụng luồng Plasma, sẽ làm tăng tính tàng hình mà không phải trả giá về mặt khí động. Như vậy chỉ cần lắp lên những MB đang sử dụng một thiết bị phát plasma là có thể làm cho máy bay trở nên vô hình đối với radar. Hệ thống này sẽ tạo ra một lớp khí ion hóa hay Plasma bao quanh máy bay. Nếu quá trìng thử nghiệm thành công, những chiếc SU 27 và các phiên bản phát triển của nó (SU 30, SU 34, SU 35...) với tính năng bay tốt nhất hiện nay được trang bị thêm tính năng tàng hình băng plasma sẽ trở nên vô địch thiên hạ.:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm

cyxovi 09-11-2008 00:19

Bác thanhf72 ơi, F22 dùng sơn đặc biệt hấp thụ sóng radar đấy chứ, nhưng sau một thời gian bay thì phải thay sơn, đồng thời loại sơn này làm máy bay nặng hơn.

Còn thông tin về việc F22 có thể tiêu diệt (đương đầu) 10 Su-27 thì hình như là dựa trên mô phỏng, thêm nữa lượng tên lửa không đối không trang bị cho F22 không đủ để tiêu diệt 10+ Su-27.

thanhf72 10-11-2008 06:27

Vâng, đúng rồi. F22 tàng hình chủ yếu nhờ sở dụng sơn đắc biệt. Còn so sánh khả năng không chiến giữa F 22 và SU 27 là trên cơ sở số lần bắn mô phỏng của F22 với F15 và F18 (đóng thế SU 27). F22 bắn Được 16 lần trong khi bọn kia chưa phát hiện được đối thủ. Còn về tính năng bay thì F22 thua đứt SU 27.

Liensovsky 24-11-2010 16:21

Hiện nay công nghệ tàng hình Plasma còn đang bị 2 khó khăn sau:
-Tiêu tốn nhiều năng lượng khiến máy bay không thể hoạt động lâu.
-Địch không thấy ta nhưng ta cũng không thấy địch bằng rada (vì sóng ta-địch phát ra đều bị hấp thụ hết).Ta cũng không sử dụng được liên lạc, vệ tinh định vị...
Vậy 2 bên đành không chiến bằng mắt thường, và chỉ bắn nhau bằng đạn pháo, bằng tên lửa tầm nhiệt như SA 14 trong khoảng cách gần. Nga cũng đã đưa ra máy nhìn ban đêm rõ như ban ngày.

mta_sunpac 18-02-2011 07:24

uy
 
radar của SA-2 VN cũng từng bị vô hiệu bởi nhiễu tích cực của Mỹ và người VN vốn thông minh đã đem radar dành cho pháo cao xạ của TQ K8-60 phối hợp với tên lửa SA-2 Nga làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không

Bác Thanhf72 giải thích rõ hơn về việc phối hợp K8-60 của pháo 57 này với SA-2 đi ạ?Em chưa rõ dùng K8-60 ngắm mục tiêu thay cho rada của SA-2 hay là dùng "chết thay" rada SA-2 khi mục tiêu dùng tên lửa chống rada ?

nghiahoa 16-03-2011 10:36

Danh sách nó đây ạ!

• Hệ thống tên lửa phòng không S-400 Triumf (SA-20) 1999: Зенитная ракетная система С-400 Триумф (SA-20) 1999.
• Hệ thống tên lửa phòng không «S-300 PMU-1» 1993: Зенитно-ракетная система «C-300 ПМУ-1» 1993.
• Hệ thống tên lửa phòng không «S-300PS» («C-300PMU») 1982: Зенитно-ракетная система «C-300ПС» («C-300ПМУ») 1982.
• Hệ thống tên lửa phòng không S-300V (9К81) 1988: Зенитно-ракетная система С-300В (9К81) 1988.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 2К11 «Vòng tròn» 1965: Зенитно-ракетный комплекс 2К11 «Круг» 1965.
• Tổ hợp tên lửa phòng không М11 «Trận bão biển» 1969: Зенитно-ракетный комплекс М11 «Шторм» 1969.
• Tổ hợp phòng không S-300F «Đồn bốt» 1985: Зенитный комплекс С-300Ф («Форт») 1985.
• Tổ hợp phòng không S-300FМ «Đồn bốt-М» 1995: Зенитный комплекс С-300ФМ («Форт-М») 1995.
• Tổ hợp tên lửa-Pháo cao xạ 2S6 «Тunguska» 1982: Зенитный ракетно-пушечный комплекс 2C6 «Тунгуска» 1982.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 2К12 «Hình khối» 1967: Зенитный ракетный комплекс 2К12 «Куб» 1967.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9А34А «Lọc rắn độc» 2002: Зенитный ракетный комплекс 9А34А «Гюрза» 2002.
• Tổ hợp tên lửa phòng không «Mũi tên-1» («Mũi tên-1м») 1968: Зенитный ракетный комплекс 9К31 «Стрела-1» («Стрела-1м») 1968.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К33 «Ong vàng» 1972: Зенитный ракетный комплекс 9К33 «Оса» 1972.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К331 «Тоr-M1» 1991: Зенитный ракетный комплекс 9К331 «Тор-M1» 1991.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К33М2 «Ong vàng-АК» 1975: Зенитный ракетный комплекс 9К33М2 «Оса-АК» 1975.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К33М3 «Ong vàng-АКМ» 1980: Зенитный ракетный комплекс 9К33М3 «Оса-АКМ» 1980.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К35 « Mũi tên-10SV» 1976: Зенитный ракетный комплекс 9К35 «Стрела-10СВ» 1976.
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9K37 «Buк-M1» 1983: Зенитный ракетный комплекс 9К37 «Бук-М1» 1983
• Tổ hợp tên lửa phòng không 9К37 « Buк» 1980: Зенитный ракетный комплекс 9К37 «Бук» 1980.
• Tổ hợp tên lửa phòng không «Buк-М1–2» ( Ural ) 1997: Зенитный ракетный комплекс «Бук-М1–2» (Урал) 1997.
• Tổ hợp tên lửa phòng không S-125 «Pechora-2» 2002: Зенитный ракетный комплекс С-125 «Печора-2» 2002.
• Tổ hợp tên lửa phòng không S-125М «Neva-М» 1964: Зенитный ракетный комплекс С-125М «Нева-М» 1964.
• Tổ hợp tên lửa phòng không S-200V «Vega» 1970: Зенитный ракетный комплекс С-200В «Вега» 1970.
• Tổ hợp tên lửa phòng không С-75–2 «Cơn sóng-2» 2001: Зенитный ракетный комплекс С-75–2 «Волга-2» 2001.
• Tổ hợp tên lửa tổng hợp lắp đặt trên tầu M-22 «Trận cuồng phong » 1983: Корабельный универсальный комплекс M-22 «Ураган» 1983.
• Tổ hợp tên lửa - Pháo cao xạ trên ЗМ87 « Dao găm (của Hải quân)» 1989: Корабельный эенитный ракетно-артиллерийский комплекс ЗМ87 «Кортик» 1989.
• Tổ hợp tên lửa cao xạ trên tầu 4S95 « Dao găm » 1989: Корабельный эенитный ракетный комплекс 4С95 «Кинжал» 1989.
• Tổ hợp tên lửa phòng không trên tầu 9М33 «Ong vàng-М» 1973: Корабельный эенитный ракетный комплекс 9М33 «Оса-М» 1973.
• Tổ hợp tên lửa phòng không vác vai 9К32М «Mũi tên-2М» 1970: Переносной зенитно-ракетный комплекс 9К32М «Стрела-2М» 1970.
• Tổ hợp tên lửa phòng không vác vai 9К34 «Mũi tên-3» 1974: Переносной зенитно-ракетный комплекс 9К34 «Стрела-3» 1974.
• Tổ hợp tên lửa phòng không vác vai 9К38 «Mũi kim» 1983: Переносной зенитный ракетный комплекс 9К38 «Игла» 1983.
• Tổ hợp tên lửa phòng không vác vai ЗРК (зенитно-ракетный комплекс) К310 «Игла-1» 1981: Переносной ЗРК К310 «Игла-1» 1981.
• Tổ hợp tên lửa phòng không tự hành 9К330 «Тоr» 1986: Самоходный зенитный ракетный комплекс 9К330 «Тоp» 1986.
• Tổ hợp pháo/tên lửa phòng không tự hành «Tấm giáp» -S1(SA-XX) 1995: Универсальный зенитный ракетно-артиллерийский комплекс Панцирь-С1(SA-XX) 1995.
• Tổ hợp tên lửa tổng hợp M-1 «Sóng» 1962: Универсальный ракетный комплекс M-1 «Волна» 1962.

mta_sunpac 16-03-2011 14:24

Thưa các bác em xin tổng hợp kỹ một chút về tổ hợp tên lửa Sam5: SA-5B S200VE Vega -E


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 07:44.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.