![]() |
Đố vui về tiếng Nga
Tôi xin mở chủ đề này để mọi người có thể vừa vui vừa học tiếng Nga. Khi viết bài các bác không chỉ viết tiếng Nga mà cả giải thích tiếng Việt nữa nhé.
Chúc các bác vui vẻ, học thêm được nhiều điều bổ ích về о могучем и прекрасном (tiếng Nga hùng mạnh và tuyệt vời)! |
Khi trả lời các câu đố các bác được phép google thoải mái nhé. Ở đây chúng ta thi đố không phải là để xem ai giỏi hơn ai mà là để vui và học tiếng Nga thôi nhé!
Câu đố đầu tiên như sau: Hãy dịch, giải thích bằng tiếng Việt những từ tiếng Nga "có cánh" sau:
|
Nếu câu nào có thể tìm được thành ngữ tục ngữ tiếng Việt tương ứng thì mong các bác cho biết luôn nhé. Topic này rất giống topic về thành ngữ tục ngữ Nga-Việt cũng ở trong phần tiếng Nga này.
|
Chúc mừng bác Cuong đã mở topic mới!
Cám ơn bác đã gợi lại cho tôi được học lại tiếng Nga đã chót lãng quên nhiều năm, nhưng tôi cũng xin lưu ý với bác là 6 câu trên của bác đưa ra, hình như không phải gốc của загадка (câu đố hoặc điều bí ẩn) , Bác USY cũng đã nói rồi. Để hưởng ứng, tôi đưa ra cụm từ sau: Волосы - шелковые, головы - нет.... (Маленькая, черненькая, на дороге лежит и кричит: "Мяса! Мяса!" - Малко, черно, на пыж лежи и вика: "Месо! Месо!" авось перевел так, чтобы и русские смогли догадаться....) Đố là cái gì? |
Белая ворона-Quạ trắng.
Thông thường quạ bao giờ cũng đen. Nhất là ở Nga, hầu như thành phố nào cũng đầy quạ. Chúng bay đầy trời, nhất là vào cuối thu, chúng đậu thành từng búi trên những cành cây trụi lá và kêu quàng quạc...Quạ trắng hầu như chả ai gặp bao giờ, do vậy nói đến hình ảnh này, là nói đến một cái gì đó dị biệt, khác thường, thậm chí là...quái đản cũng được. Valery Leontiev hát rất hay một bài hát có tên như trên: Белая ворона. Trong đàn quạ đen xuất hiện con quạ trắng, và cả đàn quạ cùng họp nhau lại quyết định sẽ...nhuộm đen (chernit) con quạ trắng khốn khổ kia. Chắc tác giả bài hát sáng tác cuối thời kỳ cải tổ kia muốn ngụ ý đến điều khác. Chủ nghĩa bình quân là trên hết, ai cũng phải như ai, mặc quần áo giống nhau, xem cùng một loại ti-vi, nghe một loại nhạc...Ai khác ngay lập tức bị lôi ra mổ xẻ và bị...đồng hóa ngay lập tức. |
Cám ơn Hungmgmi nhé. Câu trả lời của bác co thể làm mẫu cho những câu trả lời tiếp theo đó!
|
Trích:
1-Белая ворона : Kẻ lạc loài nghe cũng hay đấy các bác nhỉ ! 2 - земля обетованная : Odetxa thân yêu ! 3 - Бумага все терпит : Em chịu , Cố nghĩ theo hướng này nhưng có vẻ ko đúng lắm, đại loại : viết gì trên giấy mà chả được . 4- Волк в овечьей шкуре : Sói đội lốt cừu ! 5 -Драконовские меры : Phóng đại chăng ? 6 - На седьмом небе : thiếu mất 2 tầng ( trong tiếng việt ta là lên chín tầng mây cơ !) |
Em cảm thấy Белая ворона có gì đó giống như là black sheep trong tiếng Anh hả bác Hungmgmi - theo nghĩa "kẻ khác biệt không được chấp nhận" ấy. Mà cái black sheep ấy thì tiếng Việt mình hay gọi là con chiên ghẻ.
Nhân đây lại nhớ đến Terry Jacks với bài Seasons in the sun (trong đó có câu I was the black sheep of the family - được dịch là "khi xưa con hư..."), không biết bác Râu trước có hay nghe bài này không? Câu lạc bộ cũng đóng cửa lâu lâu không thấy hoạt động gì? :emoticon-0127-lipss |
Hoan hô bác Ma đã giải đúng được 3 câu. Ngoại trừ câu 1 Hungmgmi đã giải thích cặn kẽ. Bác Ma đã nói đúng:
4- Волк в овечьей шкуре : Sói đội lốt cừu! 6 - На седьмом небе : Lên chín tầng mây! (biểu lộ sự sung sướng tột cùng) |
На седьмом небе
Выражение, означающее высшую степень радости, счастья, восходит к греческому философу Аристотелю (384-322 гг. до н.э.), который в сочинении "О небе" объясняет устройство небесного свода. Он полагал, что небо состоит из семи неподвижных кристальных сфер, на которых утверждены звезды и планеты. О семи небесах упоминается в различных местах Корана: к примеру, говорится о том, что сам Коран был принесен ангелом с седьмого неба. Волк в овечьей шкуре Выражение возникло из Евангелия: "Берегитеь лжепророков, которые приходят к вам в овечьей одежде, а внутри суть волки хищные". |
Từ câu 4: Волк в овечьей шкуре lại xuất hiện câu hỏi khác
Ta biết cừu tiếng Nga là баран. Vậy tại sao trong bộ da cừu thì lại là: в овечьей шкуре? |
Trích:
|
Драконовские меры (законы): Biện pháp mạnh, Bàn tay sắt.
Theo em tiếng Việt có thể nói như vậy vì lịch sử của cụm từ này xuất phát từ Hy Lạp. Nhà lập pháp đầu tiên của Nhà nước Hy Lạp Drakont (thế kỷ VII trước Công nguyên) đã đề ra những luật lệ cực kỳ khắc nghiệt. Án tử hình có thể bị khép cho những tội tương đối vô hại, ví dụ như ăn cắp rau củ từ vườn nhà hàng xóm. Những luật lệ ấy khắc nghiệt đến mức những người cùng thời của Drakont nói rằng chúng được viết bằng máu. Nói cách khác: đó là những quy định, quyết định, luật lệ và biện pháp trừng phạt mà sự khác nghiệt của nó vượt quá sức tưởng tượng. |
Câu trả lời của người đẹp phucanh quá chuẩn. Hôm nào gặp anh sẽ tặng cho cái mà anh đã hứa nhé!
|
tặng 1thank cho đồng môn phucanh ! Драконовские меры - Nghĩa biện pháp mạnh có vẻ hợp lý nhất mặc dù tôi chưa tra cứu .
@cuong : con овцa nghe hiền hơn vì được người nuôi và nó còn là con cái còn chú баран là đực rựa ( sói sao dám đôi lốt !) lại có thể là hoang dã nữa nên chắc ko ngây thơ như cô овца bác nhỉ ? земля обетованная - em vẫn nghe ( có lẽ nhầm ) khi nói về odetxa nhưng nghĩa thì ko rõ . Còn: золотое руно? mà bác Micha53 hỏi - là bộ lông cừu vàng mà Từ Hoảng Iaxôn lấy cắp của ông bố vợ xứ Cônkhít ( Kapkazơ) theo lệnh của cha ghẻ . Trong Thần thoại Hylạp cổ đại chuyến đi này kể rất hay . |
Đây là những gì tôi tìm được về bộ (da) lông cừu vàng trong từ điển:
Золото́е руно́ — в древнегреческой мифологии, золотая шкура барана, посланного богиней облаков Нефелой, или Гермесом по приказу Геры, или самим Зевсом, на спине которого дети орхоменского царя Афаманта — Фрикс и Гелла отправились к берегам Азии, спасаясь от преследований мачехи Ино (или, по другой версии мифа, тётки Биадики). По дороге Гелла упала в море, названное после этого Геллеспонт — «море Геллы» (современный пролив Дарданеллы). Фрикс достиг берега Колхиды (вероятно, современная Западная Грузия). Здесь он принёс барана в жертву Зевсу, а снятое золотое руно подарил царю Колхиды Миф о золотом руне отражает историю ранних связей между Древней Грецией и Кавказом Dịch hơi lâu nên xin tóm tắt là câu chuyện bộ (da) lông cừu vàng trong thần thoại cổ Hy lạp. Huyền thoại này nói lên sự gắn bó, mối liên hệ về lịch sử giữa nước Hy lạp cổ đại và vùng Capcadơ. |
Trích:
Chỉ có điều овец là cừu cái chứ bác nhỉ? hay là овца? Còn баран là đực rựa thì rõ rồi. Thế mới có chuyện баран трахает овец chứ bác nhỉ? :emoticon-0136-giggl |
Trích:
Trích:
Trích:
Cuối cùng thì sao. Chú vẫn chỉ là con quạ. Nhưng chú đã trở thành kẻ lạc loài giữa bầy quạ. Còn đàn bồ câu cũng chỉ coi chú như một con chiên ghẻ... Nhưng cũng nhờ có chú mà ta mới có bài học "con quạ trắng". |
Truyện bác Trung kể trên là Truyện ngụ ngôn của L.Tolstoi, nó đã được dịch ra thơ như sau:
Quạ đen nhìn thấy bồ câu Được nuôi ăn sướng, lòng ao ước hoài Vội bôi vôi trắng lên người Những mong trà trộn cùng loài bồ câu Bồ câu tưởng họ với nhau Vui lòng cho quạ cùng vào ở chung Quạ đem quên khuấy hành tung Tiếng kêu “quạ quạ” lạ lùng phát ra Bồ câu xúm lại hét la Mổ đau và đuổi quạ ra khỏi chuồng Quạ đau chạy cuống chạy cuồng Quay về, tổ quạ lại ruồng đuổi đi Vì lông nó trắng lạ kì Họ hàng nhà quạ tức thì chẳng dung |
Có nghĩa là:
Волк в овечьей шкуре - Sói đội lốt cừu - Giả dạng thường dân. Волк в золотом руне - Sói đội lốt cừu - Mafia đích thực. |
Tặng bác Micha53 hình đài kỷ niệm Золото́е руно́ mới khánh thành ở Xô-chi.
http://upload.wikimedia.org/wikipedi...eece_Sochi.JPG Dưới đây là mô tả về đài kỷ niệm này: Между изящными колоннами растянута отливающая золотом шкура барана, которую охраняет грозный дракон. Автор воплотил в композиции идею исторического единства Греции и Олимпийского Сочи, полагая, что в мифе воплощены реальные набеги древнегреческих мореплавателей на государства черноморского побережья. Chăng giữa 2 cái cột cực kỳ đẹp là bộ lông cừu bằng vàng được con rồng dữ tợn bảo vệ. Tác giả của tác phẩm nghệ thuật này muốn nói về sự tương đồng về lịch sử giữa nước Hy lạp và tp. Olimpic Xô-chi 2012. Huyền thoại cổ nói về 1 điều có thực: Các thủy thủ cổ Hy lạp vẫn thường hay đến những quốc gia ven biển Đen... |
Trích:
|
Tìm hiểu thật cặn kẽ những từ tiếng Nga liên quan đến anh (chị) cừu, tôi xin tổng kết với bà con như sau:
овца (домашняя) - Con cừu nhà (tuy là danh từ giống cái, nhưng nó không chỉ con cừu đực hay cừu cái gì hết). Thịt của nó thì lại gọi là баранина. Danh từ số nhiều là овцы. Con đực thì người ta đành phải dùng từ самец овцы, con cái самка овцы Số nhiều của овца là овцы Tính từ của овца là овечья Loài cừu nói chung (bao gồm cả hoang dã) là бараны. баран thì cũng dùng để chỉ cừu đực, hoặc chỉ thằng ngu. |
Còn 2 câu nữa trong câu đố trước chưa có lời giải. Tôi bổ sung thêm 1 số câu khác như sau:
|
Tôi nghĩ các bác đang đậu phộng chủ đề rồi:emoticon-0136-giggl, nếu chúng ta cứ giữ nguyên theo mạch đố các điển tích, thành ngữ Nga thì sẽ rất hay và thú vị như đố về "Quạ trắng", "Người Hà Lan bay"... Tôi xin gom các bài dịch truyện tiếu lâm của các bác vào một topic mới, tạm mang tên Cùng dịch các truyện tiếu lâm Nga, mời các bác vào đó nhé.:emoticon-0150-hands Còn ở đây, ta lại tiếp tục mạch cũ.
|
Летучий голландец-Người Hà Lan bay
Định viết về cái này, nhưng không ngờ trên báo điện tử Quốc tế đã có một bài rất chi tiết, xin copy ra đây: Huyền thoại "người Hà Lan bay" http://www.mofa.gov.vn/quocte/30,04/qt30,04_11.jpg Mũi Hảo Vọng - nơi ra đời huyền thoại "người Hà Lan bay". Con tàu của ông ta lướt đi trên đại dương như một bóng ma nhẹ bẫng nên ông ta có biệt danh là "người Hà Lan bay". Không có điều gì chắc chắn về ông ngoại trừ ông ta là người Hà Lan và là thuyền trưởng của một con tàu... những điều khác về ông ta đều mờ ảo và đen thẫm như làn nước biển đêm bởi bất cứ kẻ xấu số nào nhìn thấy "người Hà Lan bay" đều sẽ... chết! Từ huyền thoại... Huyền thoại về "người Hà Lan bay" đã có từ lâu. Truyện kể rằng vị thuyền trưởng tài ba người Hà Lan này trong một chuyến đi dọc qua mũi Hảo Vọng đã được thông báo sẽ có một cơn bão biển xuất hiện. Mặc cho sự kinh hãi của hành khách, mặc cho gió biển gào thét xé nát cột buồm, sóng đập gẫy thành tàu nhưng viên thuyền trưởng vẫn nhất quyết giữ vững hải trình. Một số thuỷ thủ và hành khách quá sợ hãi và quyết tâm nổi dậy để chuyển hướng tàu vào bờ, nhưng viên thuyền trưởng đã nhanh chóng đánh gục thủ lĩnh cuộc nổi dậy và ném xác hắn xuống biển, miệng không ngừng nguyền rủa... Vào đúng lúc xác kẻ xấu số chạm mặt nước, thì "Raaắcc!" con tàu đã bị bão biển nghiền nát. Viên thuyển trưởng gào lên trong điên dại: "Ta thề bán linh hồn cho quỷ dữ nếu sống qua cơn bão này!" Đó cũng là điểm khởi đầu về một bóng ma huyền thoại: "người Hà Lan bay"... Người đi biển tin rằng con tàu ma của "người Hà Lan bay" lướt đi không cần gió. Nó trông rất giản dị và đột ngột xuất hiện trước các thuyền khác, ra dấu hiệu chỉ đường rồi đột ngột biến mất để con thuyền đi theo mắc phải những lạch cạn. Có nhiều người thề sống thề chết là họ đã từng trông thấy con tàu ma, thậm chí nhìn thấy cả "người Hà Lan bay". Họ nói bóng ma huyền thoại này luôn để đầu trần, mặt mũi rầu rĩ, bàn tay ông đang bấu lấy bánh lái trên boong tàu và cầu xin Thượng đế tha ông ta tội bất kính. Huyền bí hơn, người ta còn nói rằng toàn bộ thuỷ thủ đoàn của "người Hà Lan bay" là những bộ xương di động đang cần mẫn làm việc. Phải chăng đó là chỉ là huyền thoại??? ...đến những ghi chép Câu chuyện "người Hà Lan bay" kích thích mạnh mẽ sự tò mò của mọi người, nhưng nó thực tế hơn nhiều so với hình ảnh sinh ra từ trí tưởng tượng của một số nhà văn. "Con tàu ma" đã nhiều lần được ghi nhận ngay cả trong thế kỷ 20... Một trong những ghi chép đầu tiên về "người Hà Lan bay" và con tàu của ông ta đã được một thuyền trưởng người Anh ghi lại vào năm 1835 tại bờ biển phía Nam châu Phi. Toàn bộ thuỷ thủ trên tàu Anh quốc khi tránh bão bỗng thấy một con tàu nhẹ nhàng lướt trên những con sóng đang gào thét dữ dội. Nó hướng thẳng về phía con tàu của người Anh và khi tất cả mọi người nghĩ rằng hai con tàu sẽ đâm vào nhau thì con tàu ma... biến mất. Ngày 11/7/1881, tàu H.M.S Bacchante thuộc Hạm đội hải quân Hoàng gia Anh đang đi qua cực Nam châu Phi thì thấy con tàu của "người Hà Lan bay". Một sĩ quan trên tàu đó chính là vua George V sau này - đã ghi lại lời kể của viên hoa tiêu khi anh này nhìn thấy tàu "người Hà Lan bay" trong đêm tối: "Tôi thấy con tàu sáng rực một màu đỏ, nó đứng im lìm trong sóng biển rất mạnh". Sau đó vài ngày, viên hoa tiêu xấu số đã ngã từ cột buồm xuống biển. Vào một ngày tháng 3/1939, rất nhiều người ở dọc bờ biển phía Nam châu Phi đã nhìn thấy "con tàu ma". Con tàu có vóc dáng kiến trúc của thế kỷ 17, được ghi nhận ở Báo cáo thường niên của Thực dân Anh tại Nam Phi lúc đó: "Giữa lúc trời lặng sóng, con thuyền bỗng đột ngột xuất hiện ở bãi biển Glencairn. Mặc cho mọi người chỉ trỏ bàn tán về xuất xứ của con tàu theo kiểu cổ, một lúc sau con tàu bỗng dần tan biến ra một cách đầy bí hiểm như sự xuất hiện lạ lùng của nó". Ghi nhận cuối cùng về con tàu của "người Hà Lan bay" là vào năm 1942, tại Cape Town - Nam Phi. Bốn nhân chứng cho biết họ đã nhìn thấy con tàu cổ đi vào vịnh Table và... biến mất. Và còn nhiều ghi chép nữa liên quan đến con tàu của "người Hà Lan bay" như một hạm đội tàu ngầm của Đức đã gặp nó giữa tâm một cơn bão giữ dội ở vùng biển châu Phi trong Thế chiến II. Tuy nhiên những ghi chép đó không ghi cụ thể thời gian và địa điểm con tàu xuất hiện. Con tàu của "người Hà Lan bay" vẫn đang được che phủ bởi một màn sương biển bí ẩn... ...và trở lại với huyền thoại Cho đến bây giờ nhiều người đã viết về "người Hà Lan bay". Một số người cho rằng huyền thoại này bắt nguồn từ một sự kiện có thực. Họ cho biết tên của vị thuyền trưởng đó là Vanderdecken, Van Demien, Van Straaten hoặc Van der Decken. Vào năm 1641, vị thuyền trưởng người Hà Lan quyết định thành lập một công ty tên là Đông Ấn tại mũi Hảo Vọng. Trên đường trở về, ông đã gặp bão cách mũi Hảo Vọng không xa, con tàu bị xé thành từng mảnh, toàn bộ thuỷ thủ và thuyền trưởng tử nạn. Trước khi bị cơn sóng khổng lồ vùi xuống biển, viên thuyền trưởng người Hà Lan đã hét lên một lời nguyền át cả gió bão: "Ta sẽ còn đi quanh vùng biển này cho tới ngày tận thế!" Từ câu chuyện bi thương trên, người ta tin rằng trong mỗi cơn bão ở mũi Hảo Vọng, nếu chú ý bạn có thể nhìn thấy con thuyền của "người Hà Lan bay". Tuy nhiên người ta cũng vô cùng sợ hãi bởi họ tin rằng nếu ai nhìn thấy vị thuyền trưởng xấu số đó sẽ gặp tai hoạ. Đức Nghĩa (Theo The Greatest Mystery of the Sea) |
Sau này trong ngôn ngữ báo chí, người ta có thói quen gọi tuốt luốt những người Hà Lan là "Người Hà Lan bay".
Hồi còn nhỏ, Hungmgmi đã đọc đâu đó trong một tạp chí điện ảnh về Giô-rít I-ven-một nhà điện ảnh người Hà Lan nổi tiếng thế giới. Ông đã đến Việt Nam, làm phim về cuộc đấu tranh chống Mỹ của dân tộc ta, đã được Bác Hồ tiếp. Chỉ nhớ được vậy, nhưng cái tít bài báo thì không thể quên:"Giô-rít I-ven-Người Hà Lan bay". Sau này sang Nga, thấy người Nga cũng hay dùng khái niệm Người Hà Lan bay. Một bài hát khá hay của Barykin (tác giả Buket nổi tiếng, giải nhất Pesnia 87) cũng có tên là "Người Hà Lan bay". Rồi khi ông Hiddink sang "nắm" đội tuyển Nga, ông cũng được báo chí Nga cho mọc thêm đôi cánh để...bay. |
5. Не мечите бисера перед свиньями : có phải đàn gẩy tai trâu không bác Cuong?
|
Trích:
Khách của đời. Người viễn xứ. Trích:
Đất thánh. Trích:
Trích:
Tung hỏa mù. Trích:
Nước đổ đầu vịt. Chơi với chó, chó liếm mặt. Trích:
Biến mất. Trích:
|
Trích:
Trích:
Trích:
|
Trích:
"Не мечите бисера перед свиньями" то есть: не тратьте хороших слов на того, кто не способен оценить их. Vậy thì có lẽ tương đồng nhất với ý nghĩa của thành ngữ tiếng Nga là "Hoài hồng ngâm cho chuột vọc" mà bác đã đưa ra thôi (mà thật ra nói vậy cũng hơi nặng hơn nghĩa của thành ngữ tiếng Nga rồi), chứ còn nghĩa của 2 thành ngữ tiếng Việt kia sợ là không tương đồng với tiếng Nga bên này. Riêng tôi thấy giải thích nghĩa của thành ngữ trên là "Đàn gảy tai trâu" như bác Tudinhhuong nói ở trên xem ra là chính xác nhất. "Бумага все терпит" - nghĩa là "viết ra giấy thì có thể viết ra tất cả mọi điều, cả những điều mà người ta ngại nói hay không thể nói ra thành lời". Tương đồng với thành ngữ này còn có "Бумага не краснеет". Nguồn gốc của thành ngữ trên liên quan đến nhà văn và hùng biện nổi tiếng thời La mã Siseron. Trong tập "Thư gửi bạn" của ông có câu "Epistola non erubescit" - "Письмо не краснеет" (Giấy không biết đỏ mặt). Thành ngữ tiếng Việt tương đương tôi chưa tìm ra, bác nào biết xin post lên ngay nhé. Xin cảm ơn các bác. |
Не мечите бисера перед свиньями
Như vậy chúng ta thống nhất dịch theo 2 cách: bác Tudinhhuong: Đàn gảy tai trâu bác ЛЕВША: Hoa hồng ngâm cho chuột vọc Còn nói nôm na thì đại loại là đừng có phí lời với những người không muốn nghe, không biết nói chuyện. Не мечите бисера перед свиньями Выражение из Евангелия: "Не давайе святыни псам и не бросайте жемчуга (церк.-слав. бисер) вашего пред свиньями, чтобы они не попрали его ногами своими и, обратившись, не растерзали вас" (Матф., 7, 6). Употребляется в значении: не тратьте слов с людьми, которые не могут понять их, оценить. Phần tiếng Nga có nói đại loại là đừng có ném châu báu cho lũ chó, lợn mà rồi chúng sẽ dẫm đạp lên... |
"Потемкинские деревни": Thành ngữ này có thể dịch là "Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", mặc dù nó vẫn chưa thật giống nghĩa của thành ngữ tiếng Nga, mong các bác cho những phương án phù hợp hơn.
Nguồn gốc của "Потемкинские деревни" là lời đồn chuyện công tước Pochemkin thời nữ hoàng Ekaterina đệ Nhị, trước chuyến thăm năm 1787 của nữ hoàng cùng đoàn tùy tùng và các nhà ngoại giao nước ngoài xuống miền nam nước Nga (vùng đất mới chiếm được của đế chế Osman), đã cho bày biện để tạo ra những ngôi làng trù phú, no ấm dọc theo đường công du của nữ hoàng, trong khi thật ra đây là những vùng dân cư nghèo đói và hoang vắng. Lời đồn còn nói rằng ông ta đã điều gia súc từ vùng này qua vùng khác, cho một số cư dân ăn mặc đẹp "đón đầu" phái đoàn để che mắt "bề trên". Và thành ngữ "Потемкинские деревни" ra đời nói đến những trò giả dối, ngụy tạo, phô trương màu mè (показуха) kiểu "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại". Nhưng thật ra các nhà sử học và cả những nhà ngoại giao nước ngoài thời ấy cũng đã có những tài liệu chứng tỏ lời đồn kia là vô căn cứ, có thể xuất phát từ sự ghen ăn tức ở của một số nhà quý tộc Nga khác đối với Pochemkin, hoặc từ âm mưu xúc xiểm nữ hoàng và nước Nga nói chung của một số nước khác. Cái thành ngữ này với nghĩa chỉ trò giả dối phô trương có lẽ là thành ngữ duy nhất trong tiếng Nga có tác giả cụ thể, đó là nhà ngoại giao phương Tây Gelbig, người không trực tiếp tham gia chuyến đi năm 1787 của nữ hoàng xuống miền Nam Nga mà chỉ thu thập lời đồn đại ở kinh thành Peterburg để rồi có những bài viết và sách về Pochemkin, và đưa ra thành ngữ nói trên. Xin tham khảo tài liệu sau: http://www.rian.ru/authors/20060313/44216582.html Nhưng nói gì thì nói, có lẽ ông Pochemkin này cũng có một số "động tác giả" nào đó, "có ít sít ra nhiều" nên mới "chết tên" trong câu thành ngữ trên phải không các bác.:emoticon-0100-smile |
Держать нос по ветру
Нет дыма без огня Плечом к плечом Chỉ ở NNN tôi mới có dịp học lại tiếng Nga cho vui chứ không còn điều kiện sử dụng nữa |
Bác Forytchia viết :
Trích:
Держать нос по ветру Cách chọn chó giữ nhà ! Нет дыма без огня Một kiểu đốt nhà tinh vi ! Плечом к плечом Biển 1 bên và em 1 bên ! ( Biển : Женское имя ) :emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl |
Trích:
Hay ý bác nói là vai kề vai với em đi dạo bên bờ biển? Biển đâu ra vậy bác? |
Trích:
Từ đó mới có câu Нет дoма без огня - "Không dọa mồi lửa sao kiếm được nhà", hoặc "Một kiểu đốt nhà tinh vi". Có phải thế không bác Ma? |
Còn 2 câu các tôi chưa thấy giải thích sát nghĩa là:
2 - земля обетованная : xuất phát từ Kinh thánh là "miền đất hứa" mà Chúa đưa người Do thái từ Ai cập đến (đất Palestin), cũng như người châu Âu di cư sang Mỹ 4-5 thế kỷ trước để mong tìm cơ hội cho mình ở vùng đất mà họ được biết là giàu có. 5 -Драконовские меры : là những biện pháp mạnh tay, cứng rắn, có thể là độc ác |
Trích:
Trong từ điển Dal thì các từ liên quan đến cừu mà bác Cuong đã dẫn ra nằm ở mục từ ОВЕН - từ này thì có nghĩa là con cừu đực. Овний - là tính từ của từ này. Овца thì thường có nghĩa là con cừu cái (самка овна) Овчий, овечий - các tính từ của từ овца (Овечья шерсть. Волк в овечьей шубе (или шкуре). Я с тебя сниму овечью шкурку! Шуба овечья, да душа человечья, vv) Chi tiết hơn các bác có thể đọc ở các từ điển giải nghĩa tiếng Nga. |
"Держать нос по ветру" và những thành ngữ khác
Vào thời của những hạm đội thuyền buồm, việc đi biển hòan tòan phụ thuộc thời tiết, hướng gió. Nếu gió thổi ngược chiều, vào thẳng mũi tàu (в нос корабля) – đó không còn là lúc nghĩ đến chuyến ra khơi mà là nghĩ đến việc thả neo - "стать на якорь" và thu hết buồm lại, không cho gió biển ném cả con thuyền lên bờ. Để ra khơi trở lại, cần gió thuận chiều, thổi căng những cánh buồm, đẩy thuyền tiến lên. Và vì thế bây giờ mới có các thành ngữ sau, hiểu theo nghĩa bóng: "Держать нос по ветру": ứng phó, hành động phù hợp với hòan cảnh khách quan. "Стать на якорь", "бросить якорь": Dừng lại, nằm yên ở đâu đó "Сидеть у моря и ждать погоды": Không hành động mà nằm yên chờ thời cơ "На всех парусах": Làm việc gì đó với tốc độ nhanh nhất , bằng mọi phương tiện Chúc ai đó "попутного ветра" – Chúc may mắn. (Nguồn: Internet tiếng Nga) |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:48. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.