Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Anhxtanh - Hoang đường của thế kỷ! (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6712)

SSX 13-06-2013 00:05

Anhxtanh - Hoang đường của thế kỷ!
 
Khoa học đang thối nát bởi vì đâu?

Suốt thời kỳ Xô Viết, hầu hết giới học thuật Nga đều chấp nhận Anhxtanh như những gì tạp chí Time viết: Person of Century! Không bàn cãi.

Nhưng cũng có rất nhiều nhà khoa học chưa bào giờ nghĩ như vậy. Ngược lại là khác. Bởi cấm bàn cãi nên ý kiến của họ ít được biết đến. Nếu có dịp chúng ta sẽ đề cập đến những con người đó.

Cho đến thời 90, thông tin được thông thoáng hơn, Nga lại là nơi bác bỏ Anhxtanh nhiều nhất. Thậm chí các nhà nghiên cứu tên tuổi còn viết thư cho ông bộ trưởng giáo dục, chỉ trích tại sao ông lại dạy dỗ học sinh thằng ăn cắp là thiên tài?

Thiên tài Anhxtanh mang bộ quần áo trong suốt, giống câu chuyện cổ tích Andersen. Tất cả là ăn cắp, không có bất cứ cái gì là của mình!

Chúng ta bắt đầu.

SSX 13-06-2013 01:54

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Nguyên văn: The Eclipse Data From 1919: The Greatest Hoax in 20th Century Science; By Richard Moody Jr. Các bạn có thể tìm thấy bản gốc trên mạng;

Lời tựa
Chiến tranh vùng Vịnh đã được khẳng định dựa trên khái niệm về ưu thế áp đảo. Nói cách khác, các nước đồng minh đã không viện đến số lượng tối thiểu quân đội và nhân viên hỗ trợ để thực hiện chiến tranh. Họ vượt quá nhiều mức tối thiểu. Khoa học là chiến tranh. Bài viết này khẳng định nguyên tắc ưu thế áp đảo khoa học. Một cách tiếp cận tương tự được sử dụng bởi
Woodward và Bernstein khi họ vào Nhà Trắng thời Nixon. Họ không chỉ nhận được đầy đủ thông tin để công việc được thực hiện, họ đã đi xa hơn điều đó. Người ta tin rằng sự cần thiết phải có ưu thế áp đảo người đọc là tình cảnh bắt buộc đáng buồn gây ra bởi sự thối nát và xâm phạm khoa học đã xảy ra từ thế kỷ trước.

Tóm tắt
Trước năm 1919, thuyết tương đối rộng là lý thuyết mơ hồ của một ngôi sao đang lên trong vật lý, Albert Anhxtanh. Dựa trên nhu cầu nhận thức để kiểm nghiệm khái niệm phức tạp và hấp dẫn này, người ta đã dựng lên chân lý rằng ánh sáng đi ngang qua mặt trời sẽ bị uốn cong bởi sức hấp dẫn của mặt trời, một cái gì đó được biết đến bởi Isaac Newton và sửa đổi bởi Anhxtanh. Theo hiểu biết hiện tại, điều này sẽ được quan sát thấy trong thời gian nhật thực toàn phần khi che chắn ánh sáng mặt trời sẽ cho phép quan sát ánh sáng từ những ngôi sao xa xôi bị bẻ "cong" quanh mặt trời.

Trong một nỗ lực đóng vai trò hòa giải và làm vua, Arthur Eddington đã đến Principe ở châu Phi với mục đích chứng minh Anhxtanh đúng. Trước đó, ông ta là một người ủng hộ Anhxtanh, do, một phần, thực tế là cả 2 có cùng quan điểm chính trị như nhau, nghĩa là chủ nghĩa cuồng nhiệt. Trong sự nhiệt tình ông ta có cả 2, hòa giải và làm vua, (ông ta muốn được người ta biết đến như là người phát hiện ra Anhxtanh), Eddington đã tham gia vào trò xâm phạm và sửa đổi dữ liệu khoa học, phương pháp khoa học, và nhiều hơn là cộng đồng khoa học. Cho đến ngày nay, dữ liệu chế tác này được trích dẫn bởi các nhà khoa học nổi danh và các nhà xuất bản. Nó đã vượt qua trò gian lận Piltdown để trở thành trò bịp bợm lớn nhất của khoa học thế kỷ 20 và 21.

SSX 13-06-2013 02:17

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Giới thiệu

Tôn kính người hùng hay sùng bái cá nhân có thể có vẻ vô hại với một số, nhưng trong trường hợp của Anhxtanh, nó đã gây ra hậu quả tai họa cho cộng đồng khoa học. Chúng ta hãy bắt đầu với có lẽ là bê bối khoa học tồi tệ nhất ấp ủ và giấu diếm trong thế kỷ 20 và 21, mà đã bị phát hiện. Tôi đang đề cập đến trò lừa bịp của năm 1919, còn được gọi là dữ liệu nhật thực năm 1919, sau đây gọi là "nhật thực - Eclipse". Thứ khoa học đáng ngờ của Anhxtanh đã dẫn các nhà khoa học khác đến chỗ ô nhục vì đã vội vàng cho mục đích chứng minh Anhxtanh đúng về thuyết tương đối rộng. Gần như không thể tưởng tượng được khi nghĩ các nhà khoa học “danh giá” lại tồi tệ như thế nào khi người ta biết đến sự hạn chế của các thiết bị khoa học, các giới hạn của điều kiện vật lý mà theo đó dữ liệu được thu thập và hoàn toàn không hiểu biết gì về logic đằng sau những dự đoán khác nhau về độ lệch của ánh sáng. Các nhà khoa học này dường như không hiểu phương pháp khoa học là cái gì hay làm thế nào để áp dụng nó.

Theo Graf, mô hình mạnh giống như một bộ lọc thô thiển, sẵn sàng thừa nhận dữ liệu phù hợp với lý thuyết và chối bỏ có hệ thống dữ liệu không phù hợp với lý thuyết. Điều này dẫn đến vòng phản hồi giữa các dữ liệu bị xâm hại và bị sửa đổi và trong mô hình mạnh, chúng củng cố lẫn nhau. Điều này là trường hợp của thuyết tương đối rộng. Nó đã đi từ một khái niệm mơ hồ ở một nhà khoa học gọi là tối nghĩa, đến hệ biến hóa quyền uy một sớm một chiều, thống trị tư tưởng trong vật lý lý thuyết hơn nửa thế kỷ qua. "Mô hình mạnh” làm thối nát những người đàn ông và phụ nữ yếu đuối. [1] " Lòng thèm muốn thuần phục, cũng mạnh như lòng khát khao sáng tạo. " [1] Mô hình mạnh làm nản lòng những tư tưởng tự do độc lập. Nơi mà sự giàu có, quyền lực và uy tín trở thành có vai trò, chúng có tác dụng như một cây gậy, đánh bại mọi giải pháp thay thế sáng sủa. Thuyết tương đối chỉ là một mô hình như vậy.

Tôi cũng đã bị chú ý bởi sự tương đồng giữa mô hình mạnh và hội chứng ong chúa.[1]

Hành động chính thức đầu tiên của bất kỳ con ong chúa nào khi nó nhận ra mình là ai, là ngay lập tức giết chết bất kỳ đối thủ tiềm năng nào. Đây là cách làm sao để mô hình mạnh hoạt động. Xem xét quan sát này từ Ian McCausland, "Mặc dù thực tế là các bằng chứng thực nghiệm ủng hộ thuyết tương đối dường như là rất mỏng manh trong năm 1919, thì danh tiếng rất lớn của Anhxtanh vẫn còn nguyên vẹn, và lý thuyết của ông ta đã bao giờ được coi là thành tựu lớn nhất của tư tưởng loài người. Hậu quả của sự thần thánh hóa Anhxtanh đã có một số hiệu ứng không mong muốn: người phê phán lý thuyết của ông ta thường bị loại bỏ như kẻ lập dị, và cuộc tìm kiếm các lý thuyết khác tốt hơn đã bị ngăn cấm. Có ý kiến cho rằng công bố quan sát nhật thực toàn phần năm 1919 không phải là một thắng lợi của khoa học khi nó thường được mô tả, đúng hơn là trở ngại cho việc xem xét mục tiêu. [2] “Tiếng tăm lớn và kiên gan của Anhxtanh đưa trực tiếp đến công bố kết quả nhật thực, mặc dù kết quả đặc biệt không chính xác." [2] Cảm nghĩ cuối cùng này được chia sẻ bởi John Maddox, biên tập viên danh dự của tạp chí Nature.[3]

"Bởi sự tôn kính đầy phấn khích của Anhxtanh và thuyết tương đối vào tháng 10 năm 1919, sự khách quan mà với nó khoa học được cho là song hành đã bị ngăn chặn. Phong thần, phong thánh, và tuyên bố cá nhân truyền đạt từ Nature, đã không có chỗ trong khoa học. Nếu kết quả của cuộc thám hiểm nhật thực được công bố như là không thể có kết luận cuối cùng thay vì một quyết định trong năm 1919, thì tương đối rộng đã phải cạnh tranh với các lý thuyết khả dĩ khác ... "[2]

"Đây cũng là hợp lý để hỏi xem sự cố thủ nhanh chóng và mạnh mẽ của lý thuyết tổng quát đã xảy ra như một kết quả thông báo nhật thực có thể dẫn các nhà thí nghiệm đến chỗ có được câu trả lời "đúng" từ những quan sát của họ, như đề xuất trích dẫn trên đây từ Sciama."[2] Mô hình mạnh làm thối nát dữ liệu.

Thất bại nhìn nhận và thúc đẩy thay thế cho mô hình hiện có này trong vật lý thiên văn là rất nghiêm trọng mà 33 nhà khoa học nổi tiếng đã thấy cần thiết phải công khai chỉ trích nhà nước tài trợ ở đây. [4] Muốn tiền? Chỉ cần đưa ra một số phương pháp mới để "kiểm tra" thuyết tương đối rộng. Còn muốn kiểm tra các giả thuyết khác? Quên nó đi, bạn sẽ không nhận được tài trợ. Mô hình hiện tại lái tài trợ ở đất nước này bởi đội quân cũ có lợi ích theo nghĩa giàu có, quyền lực và uy tín bằng cách cổ súy nguyên trạng. Có quán tính khoa học to lớn ngày hôm nay, và, như hết quả là, nhận dạng tiến bộ càng khó khăn hơn để phá vỡ mối quan hệ với quá khứ dễ chịu.

1.Moody Jr. R. 2007. “Beyond Plate Tectonics: Plate Dynamics,” Infinite Energy, 13, 74,
12-24.

2.McCausland, I. 1999. “Anomalies in the History of Relativity,” J. Scientific
Exploration, 13-2, 271-290.

3.Maddox, J. 1995. “More Precise Solar-Limb Light-bending,” Nature, 37, 11.

4.2004. “The Big Bang Theory Busted by 33 Top Scientists,” http//www.rense.com.

SSX 13-06-2013 02:30

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Chúng ta hãy đặt mọi thứ trong bối cảnh lịch sử: Tính đến năm 1919, Thuyết tương đối là lý thuyết mơ hồ của ngôi sao đang lên Anhxtanh. Một tín đồ giáo phái, Eddington, đã tán đồng khuynh hướng chính trị của Anhxtanh tức là cả hai đều cuồng nhiệt và Eddington nghĩ Anhxtanh là một thiên tài. Ông ta được cho là đã nói: "Chỉ có ba người hiểu thuyết tương đối rộng, và đối với cuộc đời tôi, tôi không biết người thứ ba là ai." Như là hậu quả của nhật thực, Anhxtanh thức dậy ở Berlin sáng ngày 07-11-1919, và bỗng thấy tự mình nổi tiếng." [5]

Vì vậy Eddington trưng bày Principe ở châu Phi vào năm 1919, với mục đích chứng minh Anhxtanh đúng. Không có kẻ ủng hộ Anhxtanh nào tỏ ra bị bối rối bởi thực tế Eddington là một kẻ ủng hộ Anhxtanh, và không phải là một nhà khoa học khách quan. Eddington đóng vai trò của mình như là người hòa giải tuyệt vời và kẻ làm vua rất nghiêm túc. Ông ta đã cố gắng làm dịu ác cảm của các nhà khoa học Anh và Đức khi chia sẻ: "Nó không phải là không có ý nghĩa quốc tế, cho nó một cơ hội để chấm dứt cuộc tranh cãi lộn xộn tẩy chay khoa học Đức." [5]

Sau đó Eddington nói, "Bằng cách đứng hàng đầu trong thử nghiệm, và cuối cùng là xác minh lý thuyết của 'kẻ thù', đài quan sát quốc gia của chúng ta giữ truyền thống vẫn đang còn sống và tốt đẹp nhất của khoa học; và bài học có lẽ vẫn còn là cần thiết ngày nay." [5].

Nói cách khác, nếu anh có thể làm cho kẻ khác chấp nhận được thứ khoa học tồi tệ, có nghĩa là, tin vào trong "... trong truyền thống tốt đẹp nhất của khoa học". Eddington tham gia vào việc sửa đổi sai lạc và xâm phạm khoa học, điều mà vẫn dai dẳng cho đến tận ngày nay, và ông ta kiêu ngạo nói với người khác rằng đây là, "trong truyền thống tốt đẹp nhất của khoa học." Theo nhà thiên văn Ấn Độ vĩ đại Chandrasekhar, "Nếu không có gì để lại cho mình, ông ta (Eddington) đã không lập kế hoạch cuộc thám hiểm ngay cả khi hoàn toàn tin tưởng vào sự thật của thuyết tương đối tổng quát!" [6]

Paul Marmet đã làm được một công việc tuyệt vời cho thấy căn bản đạo đức giả của con người Eddington. Phẩm chất rõ ràng của Eddington là một trong những nhà khoa học tồi tệ nhất trong tất cả các nhà khoa học thế kỷ 20 bởi vì ông ta làm ô nhiễm chính dòng của khoa học trong gần một thế kỷ, và, giống như Pied Piper của Hamlin, dẫn các con chuột ra biển. "Mặc dù tư liệu là rất ít ỏi so với những gì chúng tôi đã hy vọng, tác giả (người phải tự nhận là hoàn toàn không thiên vị) tin rằng nó là thuyết phục." [7]

"Chúng tôi cũng sẽ xem các ngôi sao phân bố như thế nào là không đủ tốt cho các phép đo có sức thuyết phục. Cuối cùng, chúng tôi sẽ thảo luận về ảnh hưởng của Eddington như thế nào để Anhxtanh chiến chỗ hoàn toàn và chống lại bất kỳ kết quả nào khác." [7]

Cũng trong bài viết của Marmet: "Eddington đã bị trì hoãn với quy định rõ ràng là nếu chiến tranh kết thúc vào tháng 5-1919, thì ông ta chắc chắn sẽ dẫn dắt cuộc thám hiểm với mục đích xác minh dự đoán của Anhxtanh!" [7] Bạn sẽ thấy rằng, ông ta nói, "xác minh", không phải kiểm tra.

Điều này đặt ra câu hỏi: khoa học là gì? Theo Sakharov [8], "Chúng tôi coi 'Khoa học' như một phương pháp dựa trên phân tích sâu về các sự kiện, lý thuyết và quan điểm, giả định khách quan, không e ngại thảo luận cởi mở và kết luận. "Điều này thích đáng như thế nào với nhật thực? Có chút tuân thủ nào những nguyên tắc này? Anhxtanh đã hoàn toàn dông dài cho đến khi thế nào đó để mình có được các giá trị có mục đích với sự bẻ cong ánh sáng, Eddington gợi ý xào nấu dữ liệu, và những kẻ ủng hộ Anhxtanh đã nỗ lực để miêu tả những người bất đồng chính kiến với bất kỳ một tý gì lý thuyết của Anhxtanh như là mất trí và lập dị.

Số lượng các nhà khoa học "có uy tín", những người đã tham gia vào toàn bộ trò hề này trông giống hội các nhà khoa học xuất chúng Who’s Who, (một trò lừa nộp tiền ghi tên vào sách để được nổi danh). Ví dụ, Eddington đã hoàn toàn lừa bịp Hội Hoàng gia và Hội Thiên văn học Hoàng gia tại buổi nói chuyện hoan hỉ của mình, ông ta đã tự tuyên cho họ. "Sir Joseph Thomson, Chủ tịch Hội Hoàng gia và chủ tịch hội nghị, ủng hộ mạnh mẽ các kết quả." [5] Không có vẻ mọi nhà khoa học đều thực sự nhìn vào tấm ảnh, và toàn bộ hội nghị trông giống như một lễ đăng quang hơn là một trình bày khoa học, ví dụ ông Pais cho biết: đó là "... ngày mà Anhxtanh được phong thánh." [9]

5.Clark, R.W. 1984. Anhxtanh The Life and Times, Avon Books, New York, 284.

6.Chandrasekhar, S. 1987. Truth and Beauty: Aesthetic and Motivations in Science. Univ. of Chicago Press. Chicago.

7.Marmet. P. Appendix II “The Deflection of Light by the Sun’s Gravitational Field: An Analysis of the 1919 Solar Eclipse Expeditions. http//www.newtonphysics.on.ca/ANHXTANH/Appendix2.html.

8.Sakharov, A. 1974. “Progress, Coexistence and Intellectual Freedom, in Sakharov
Speaks, ed. Knoph, Harrison Salisbury, 56.


9.Pais, A.1982. ‘’Subtle is the Lord...’ The Science and Life of Albert Anhxtanh, Oxford
University Press, Oxford. 551p.

SSX 13-06-2013 02:44

Khoa học bệnh lý


Những tấm ảnh Eclipse được cho là thấy ánh sáng sao bị uốn cong mặt trời khi ánh sáng đi qua nó trong thời gian nhật thực toàn phần. Dự đoán của Newton về độ lệch được cho là 0,87 giây cung và độ lệch Anhxtanh, hoàn toàn là quảng cáo, được cho là 1,73 giây cung. Thật không may, hiệu ứng quá nhỏ và không thể nào phát hiện chính xác ngay cả với những kính thiên văn hiện đại mạnh nhất trong điều kiện lý tưởng. Đây là ý nghĩa thực sự của "khoa học bệnh lý" như định nghĩa của Langmuir. [10] Không giống như nhiệt hạch lạnh đã được trình diễn để sản xuất nhiệt, ổn định, thời gian ngắn thời gian và các hạt năng lượng cao [11], không thể nói cùng như thế về dữ liệu nhật thực.

Cromer nói là tốt nhất đối với khoa học bệnh lý, "những khám phá thực của hiện tượng trái với tất cả sự tồn tại của khoa học trước nay rất hiếm, trong khi gian lận, giả mạo, ngu xuẩn, và lỗi lầm do quá nhiệt tình và ảo tưởng trên tất cả lại là quá phổ biến." [12] Đó không phải là một mô tả tuyệt vời của dữ liệu nhật thực! Các nhà vật lý đã gắn mác nhiệt hạch lạnh như khoa học bệnh lý. Hãy xem cách họ muốn có dữ liệu nhật thực như định nghĩa khoa học bệnh lý!

Các nhà nghiên cứu nhật thực đã làm cái gì? Trong một nỗ lực vô ích chứng minh rằng Anhxtanh đã đúng, họ "đo đạc" các thay đổi nhỏ hơn cả khả năng của thiết bị của họ, các điều kiện vật lý mà họ gặp phải hoặc thiết bị thu của họ, các tấm ảnh của họ. Đây thực sự là một ví dụ của dạng khoa học bệnh lý. "Đây không phải là một vấn đề, như chúng ta sẽ thấy rằng độ lệch chắc chắn là không thể đo được." [7]

Những gì rõ ràng là hiển nhiên cuộc thám hiểm đến Principe ở châu Phi đã cam chịu thất bại ngay cả trước khi Eddington đặt chân đến đó, bởi cả các thiết bị cũng như các điều kiện cho phép có độ chính xác cần thiết để phân biệt giữa độ lệch Newton và Anhxtanh. "Lỗi gây ra bởi những biến động khí quyển là đủ lớn để bác bỏ bất cứ phép đo nào của cái gọi là hiệu ứng Anhxtanh." [7]

"Sự ủng hộ quá nhiệt tình của Eddington có lẽ có thể giải thích được bởi trước tiên niềm tin của ông ta rằng học thuyết này là đúng đắn và bởi lợi ích của ông ta trong việc tiết kiệm được cái gì đó từ công việc to lớn của cuộc thám hiểm Principe." "Nhưng vẫn có một mối nghi ngờ nữa là bên cạnh những lý do này, đã có, đặc biệt là đối với Eddington, một điều: hy vọng rằng sự xác minh của Anh về lý thuyết Anhxtanh sẽ buộc các nhà khoa học Anh phải có thái độ cởi mở và rộng lượng đối với các đồng nghiệp người Đức của họ." [13]

7.Marmet. P. Appendix II “The Deflection of Light by the Sun’s Gravitational Field: An Analysis of the 1919 Solar Eclipse Expeditions. http//www.newtonphysics.on.ca/ANHXTANH/Appendix2.html.

10.Langmuir, I. 1968. “Pathological Science,” Technical Information Series General
Electric Research and Development Center Transcribed and Ed. by R.N. Hall, April.

11.Moisier-Boss, P.A., Szpak, S., and Gordon, F.E. 2007. “Production of High Energy Particles Using the Pd/D Co-Deposition Process, American Physical Society Meeting Session A31: Cold Fusion 1.

12.Cromer, A. “Pathological Science: An Update,” Skeptical Inquirer, Summer 1993 7,4.

13.Earman, J. and Glymour, C. 1980. “Relativity and Eclipses: The British Eclipse Expeditions of 1919 and Their Predecessors,” in Historical Studies in the Physical Sciences, 11, 49-85.

SSX 13-06-2013 03:06

Người thẩm tra hoài nghi - The Skeptical Inquirer

Tuy nhiên, khi nói đến gian lận, giả mạo, hăng hái thái quá, và lừa gạt, Cromer sẽ phải bắt đầu từ tờ tạp chí của chính mình, The Skeptical Inquirer. Chúng vẫn còn nguyên ở đó, "Tạp chí khoa học và lý trí". Trong một bản đặc biệt, họ so sánh Anhxtanh với Chúa Giêsu Kitô và Môi-se! [14] Trên trang bìa, họ biến hình ảnh Anhxtanh ở bên trái thành một người có vầng hào quang trên bên phải, rõ ràng là như Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy, pháo đài tuyệt vời của "lý trí" đã nuốt phải móc câu, cả chì lẫn chài lố bịch bẻ ngoặt Vật lý lớn mà không có bất kỳ nghi ngờ nào. Họ là tuyệt vời khi vạch trần những kẻ khác. Tại sao họ không bắt đầu bằng việc vạch trần bản thân?

Họ thậm chí còn miêu tả Anhxtanh như Môi-se trong hoạt họa trên trang 34 với ngón tay chìa ra khỏi đám mây viết lên trên một tấm bia đá mà đọc là, "Và Thiên Chúa phán để có được ánh sáng" . [14] Cũng giống như Môi-se, Anhxtanh có một hòn đá bảng. Anhxtanh được xem như đã viết phương trình E = mc2 lên bảng đen. [14] Hàm ý rõ ràng là Anhxtanh đã lấy cảm hứng từ Thiên Chúa khi ông ta đưa ra phương trình. Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói Poincare được mô tả là Đức Chúa Trời!

http://i277.photobucket.com/albums/k...20and20God.jpg

Cái mà các nhà biên tập Skeptical Inquirer dường như không thấy đó là: Anhxtanh đã không khởi đầu phương trình. [15] Ông ta không chuyển hóa nó. [16] Ông ta không khởi đầu từ ý tưởng chuyển đổi vật chất thành ánh sáng. [17] Ít nhất 7 nhà khoa học đã đi đến ý tưởng chuyển đổi vật chất thành năng lượng hay ánh sáng trước Anhxtanh. [18], [19] Ông ta không bắt nguồn từ chuyển đổi tham số c2. Phương trình như viết là sai. [20] E tỷ lệ thuận với mc2, chứ không bằng mc2. [20] Anhxtanh đã vi phạm luật bảo toàn năng lượng khi một ngọn nến phát ra ánh sáng có bước sóng và đạt được khối lượng ở cùng thời điểm. [20] Bên cạnh đó, các biên tập viên của Skeptical Inquirer hoàn toàn đúng trong tuyên bố Anhxtanh có cảm hứng từ Thiên Chúa.

Tập san Mensa

Mensa xuất bản bài viết ủng hộ Anhxtanh về E = mc2 [21] gọi là "Câu chuyện con người Đằng sau E = mc2. Cuốn sách được gọi là "E = mc2 tiểu sử của phương trình nổi tiếng nhất thế giới." [22] cuốn sách được cho là "nghiên cứu tuyệt vời" của tờ Dallas Morning News. [22] Cuốn sách này là một cuốn tiểu thuyết nghiên cứu rất tốt. Tất nhiên, quí ông Bodanis đã bỏ qua tất cả các thông tin bị bỏ qua bởi Inquirer Inquirer.

Một hành động điển hình của trò tâng bốc, lời giới thiệu của bài viết Bodanis cho biết: "... ông vẽ một loạt các hình ảnh đầy màu sắc của những vị anh hùng khoa học đã mở đường cho bước nhảy vọt kinh ngạc của Anhxtanh về trí tuệ." [21] Chính xác những vị "anh hùng" của khoa học này đã làm điều gì để là anh hùng? Bắt một mẩu phấn trước khi nó rơi xuống đất và vỡ tan ra hay cứu một phương trình ngôi nhà đang cháy? Bây giờ đến, "... bước nhảy vọt kinh ngạc về trí tuệ". Ông ta đọc và hiểu các bài báo của Poincare và Newton. Các biên tập viên của Mensa ở đâu khi Bodanis viết những lời bậy bạ nhảm nhí này?

Tại sao quí ông Bodanis có rất nhiều sai lầm về E = mc2? Lời tuyên sau đây từ cuốn sách của ông ta cung cấp một đầu mối rất biết nói, "Anhxtanh và vợ ông ta đã cho đi đứa con đầu lòng, một đứa con gái sinh ra trước khi họ cưới nhau ..." [22] Điều đó rõ ràng không phải là vô tội? Không phải tất cả các bậc cha mẹ cho đi con cái của họ đi khi họ rơi vào khó khăn tài chính? Đây là một cách khác để mô tả các thực tế, "Anhxtanh là cha của một đứa con hoang, mà ông ta bỏ rơi." Cùng tập các sự kiện, xoắn khác nhau. Bodanis đã chọn lối cũ là một dấu hiệu cho thấy đây sẽ là một cuốn sách nhã.

14.Special Issue “Science and Religion Conflict or Conciliation,” Skeptical Inquirer
(Cover), 34.

15.Leveugle, J. 1994 La Relativite, Poincare et Anhxtanh, Planck, Hilbert Histoire de la
Theorie de la Relativite L’Harmattan, Paris, L’Harmattan, Hargita, L’Harmattan, Torino
17.

16.Ives, H.E. 1952 “Derivation of the Mass-Energy Relation,” J . Op. Soc. Amer. 42,8,
540-543.

17.Newton, Sir I. 1704 Opticks Dover Publications, New York, cxv.

18.Moody Jr., R. 2004. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century,” Nexus, 1, 47-50, 82-
83.

19.Moody, Jr. R. 2005. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century, “Infinite Energy
Magazine, 10, 59, 34-38.

20.Sharma, A. 2007 Anhxtanh’s E=mc2Generalized Raider Publishing International 300p.

21.Bodanis, D. “The Human Story Behind E=mc2,”Mensa Magazine, March 2001, 8-11.

22.Bodanis, D. E=mc2A Biography of the World’s Most Famous Equation Berkley
Publishing Group, New York 337p.

SSX 13-06-2013 03:14

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Tạp chí khoa học Mỹ

Độ chính xác Eddington đã tuyên bố là thế nào với các thiết bị thô sơ, hoạt động trong điều kiện cực kỳ bất lợi với các ngôi sao với các ngôi sao nhanh nhẹn trong chuyển động, lỗi xem xét mẫu ảnh? 1/100 giây cung (0,01 của 1/3600 độ góc). Rõ ràng, điều này không làm phiền lòng các biên tập viên của tạp chí Scientific American, những kẻ tái khẳng định độ chính xác và tính đúng đắn của dữ liệu nhật thực. [23] Scientific American cung cấp mối liên hệ giữa khoa học với những hiểu biết phía công chúng. Không ai trông đợi sự thận trọng ở các biên tập viên Scientific American khi họ biết có một cuộc tranh cãi về chất lượng dữ liệu nhật thực? Tiêu đề của bài viết ở dạng câu hỏi là, "Có phải là các nhà nghiên cứu đã xào nấu dữ liệu từ thử nghiệm đầu tiên của thuyết tương đối rộng. Tin đồn về dữ liệu xử lý sai trong cuộc nghiên cứu nhật thực lịch sử không phù hợp". [23]

Với quan sát đơn giản này, Scientific American đã đóng dấu chấp nhận dữ liệu chất lượng thấp nhất có thể trong lịch sử khoa học. Điều này đặt ra nghi ngờ về tính toàn vẹn, uy tín, năng lực và sự khách quan của các biên tập viên Scientific American. Họ tỏ ra nhỏ mọn hơn là cò mồi cho Eddington và gián tiếp cho Anhxtanh. Nếu họ làm sai lạc báo độc giả của họ, thì đã có công đóng góp, vào cái số lượng bao la bệnh dịch mù khoa học của người Mỹ.

Chúng ta đang nói trong bài viết này, "... ai phát hiện ra rằng nhân viên Quan sát Hoàng gia ở Greenwich đã tái phân tích dữ liệu Sobral vào năm 1978 sử dụng phương pháp dựa trên máy tính hiện đại." [23] Chúa ơi, họ có kế hoạch sử dụng máy tính để biến ít bột thành hồ bằng cách ma thuật hủy bỏ các qui luật thiên văn học! Bằng cách nào đó, với "... phương pháp hiện đại dựa trên máy tính", [23] chúng ta sẽ lấy dữ liệu thậm chí không chính xác đến 1 phút cung và chuyển đổi nó thành dữ liệu với độ chính xác 1/100 giây cung! Không phải là máy tính tuyệt vời hay sao! Chúng có thể cung cấp cho bạn mọi câu trả lời mà bạn muốn.”

Độ chính xác cho phép có lẽ là vào cỡ vài phút cung. Nói cách khác, độ chính xác đã được đọc bởi Eddington và Scientific American có lẽ một ngàn X-vạn X là chấp nhận được từ các nguồn lỗi khác nhau. Điều này là hoàn toàn phù hợp với công việc của Viện Vật lý chính xác Anh, nơi xác nhận rằng, "Họ đã sử dụng camera có nắp phơi sáng 10 giây, độ chính xác thấp hơn 1/25 độ góc." [24] (tô đậm từ văn bản gốc. Các tác giả đề cập đến các lỗi bởi sự quay của trái đất). Mặc dù đã có nỗ lực để khắc phục vấn đề này, loại máy móc nào có thể có được sự phù hợp chính xác với sự quay của trái đất, "vì vậy mà gương có thể được quay để bù đắp sự quay của trái đất trong thời gian phơi sáng, thay vì là quay kính viễn vọng, điều đó là không khả thi trong điều kiện của cuộc thám hiểm nhật thực. "? [24] Kết quả không chắc phù hợp chính xác sự quay của trái đất với máy móc có thể đã làm kém hơn đi sự chính nhiều giây cung. Đây chỉ là một nguồn gây lỗi.

23.Minkle, J.R. “Did Researchers Cook Data from the First Test of General Relativity?”
Scientific American
http//www.sciam.com/article.cfm?id=did-researchers-cook-data-from-first-general- relativity

24.”Royal Society 1919 Eclipse Relativity Report Duped World for 80 Years!” British
Institute of Precise Physics, http//www.bipp.freeserve.co.uk/newpage12.htm

SSX 13-06-2013 03:20

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Tạp chí Time Magazine và Stephen Hawking

Điều này đem chúng ta đến Stephen Hawking. Giáo sư Hawking đã không thể hiện sự đứng đắn đàng hoàng của một kẻ có hy vọng nhận giải Nobel và của kẻ rõ ràng là thừa kế Anhxtanh. Giáo sư Hawking có trách nhiệm ủy thác cung cấp cho công chúng các thông tin không thiên vị, có thật, để họ có thể hiểu và đánh giá cao công việc của các nhà khoa học. Giáo sư Hawking đã ở vị trí mạnh mẽ để chiến đấu với căn bệnh gây tử vong trong khi trên tất cả là một nhân vật đáng yêu mến trong công chúng và được chú ý đến bởi các nhà vật lý, như một biểu tượng.

Là một người tin tưởng vào ý định của người Mỹ khuyết tật, tôi không nên chỉ trích nghi ngờ tính chính trực của giáo sư Hawking. Ông không nên được miễn chỉ trích chỉ vì ông là người trên xe lăn. Tôi đã gửi một email đến giáo sư Hawking qua thư ký báo chí của ông, tôi hỏi Giáo sư Hawking về sự thiếu nhất quán trrong tác phẩm của ông. Tôi đã không nhận được phản hồi.

Tôi chắc rằng tất cả những người khuyết tật sẽ thấy nó gây khó chịu vì tôi để "cho một cú đấm" chỉ vì Hawking đã không thể "bảo vệ" mình. Với tất cả sự tôn kính giáo sư Hawking, khi một người ra tuyên bố mơ hồ mà kết quả trực tiếp sẽ làm công chúng lầm lạc ghê gớm, sau đó anh sẽ phải trả giá như một "cú đấm" vào sự chính trực của mình.

Đây là những gì Hawking nói trong cuốn sách của ông, cuốn "Lược sử thời gian từ vụ nổ Big Bang để lỗ đen, trang 32, liên quan đến dữ liệu nhật thực, "đo lường của họ đã may mắn tuyệt đối, hoặc là trường hợp đã biết đến kết quả họ muốn có được, không xuất hiện phổ biến trong khoa học. Độ lệch ánh sáng đã, tuy nhiên, được xác nhận chính xác bởi một số quan sát về sau." [25] (Không theo John Maddox, Biên tập viên danh dự của tạp chí Nature.) [3]

Sau đó, trong bài viết của mình trên tạp chí Time, Hawking trên trang 79 cho biết: "Nó đã được xác nhận theo kiểu cách đẹp mắt trong năm 1919, khi một đoàn thám hiểm người Anh đến Tây Phi quan sát thấy một sự thay đổi nhỏ vị trí của các ngôi sao gần mặt trời. Đây là bằng chứng trực tiếp rằng không gian và thời gian bị biến dạng, sự thay đổi lớn trong nhận thức của chúng ta về lĩnh vực mà trong đó chúng ta đang sống, kể từ khi Euclid đã viết Elements khoảng năm 300 TCN". [26]

Rõ ràng, Giáo sư Hawking "quên" những gì ông đã viết trong cuốn sách của mình khi ông viết bài báo của mình cho tạp chí Time. Giáo sư Hawking cho tờ Time chính xác những gì họ muốn nghe: Đầu tiên Anhxtanh đưa ra giả thuyết tối nghĩa này và chỉ cần có thế, các dữ liệu chảy liền mạch và lý thuyết đã được xác nhận. Không có gì có thể thêm nữa vì sự thật.

Các nhân viên của từ Time trên thực tế đã kiểm tra bài báo của Hawking hay là họ đã cho phép ông ấy qua? Có lẽ là nếu họ quan tâm hơn một chút đến nghiên cứu thay vì thổi phồng Anhxtanh lên, họ có thể đã phát hiện ra sự khác biệt giữa cuốn sách và bài báo của Hawking.

Cái gì là động cơ có thể có của Hawking đối với 3 phiên bản của cùng một sự kiện? Lần đầu trong 2 là bác bỏ dữ liệu nhật thực. Lần 3 ủng hộ nó, và do đó ủng hộ thuyết tương đối rộng. Ai được lợi bằng cách cổ súy lý thuyết tổng quát của Anhxtanh? Giáo sư Hawking là người thừa kế rõ ràng Anhxtanh và do đó được hưởng lợi nhiều nhất từ việc thổi phồng ông ta. Hawking đã có một cuộc xung đột giữa thúc đẩy chính mình và thúc đẩy khoa học. Ông đã chọn cái gì?

Như một kết quả trực tiếp của lời tâng bốc láo này, các nhà vật lý không có nghi ngờ xoa tay trong niềm hân hoan khi Anhxtanh được đặt tên là "Nhân vật của thế kỷ". Họ có thể chờ đợi để nhận được tài trợ nghiên cứu dài hơi đến hút tầm mắt của mình. Nói cụm từ này, "Anh không phải là Anhxtanh" trong công chúng và anh có thể đặt tiền vào túi mọi nhà vật lý trong cả nước.

Anhxtanh không phải là người, ông ta là sản phẩm đang được bày bán trên thị trường với công chúng Mỹ như kem đánh răng và thuốc xịt mùi. Ông ta là thương hiệu trong khoa học cùng với nhiều tên tuổi khác như là Coke và Pepsi trong ngành công nghiệp nước giải khát. Ông ta là giấc mơ của nhà quảng cáo. Ông ta là con bò sữa, kẻ làm mưa, là con khỉ đột 800 pound Anh đầu tiên được nuôi ăn, và ông bố ngọt của Vật lý lớn. Hebrew University cũng chọn ra 7 nhân vật mỗi năm để cổ súy cho ngọt ngào Anhxtanh như thứ đồ chơi bằng nhựa. Ông ta là ngành công nghiệp của chính mình. Đó là động lực để Hawking làm sai lệch các sự kiện liên quan đến nhật thực để tối đa hóa sự giàu có, quyền lực và uy tín cho Vật lý lớn.

Tạp chí Time chỉ bằng một phát đạn làm tối đa hóa lợi nhuận của mình từ câu chuyện họ chế tác, ấn bản "Nhân vật của thế kỷ". Họ có lẽ đã bán rất nhiều bản copi tạp chí của mình với Franklin Roosevelt trên trang bìa? Tôi chắc rằng mỗi người về hưu có tiền thẻ An Sinh Xã Hội hay điền form y tế, đang cảm tạ Chúa vì lý thuyết tổng quát của Anhxtanh. Tạp chí Time có bình chọn như người mua để thấy lựa chọn nào sẽ tối đa hóa lợi nhuận của họ? Tất cả những gì tôi biết là khi tôi yêu cầu một bản sao "Nhân vật của thế kỷ", họ đã bán hết. Họ có thể đã bán hết tạp chí với Franklin Roosevelt trên trang bìa? Chủ của tạp chí Time là ai? Lợi ích công cộng? Hay là các cổ đông của Time-Warner?

3.Maddox, J. 1995. “More Precise Solar-Limb Light-bending,” Nature, 37, 11.

25.Hawking, S. 1988 A Brief History of Time From the Big Bang to Black Holes, Bantam, New York, Toronto, London, Sydney, Auckland, 32.

26.Hawking, S. 1999 “A Brief History of Relativity,” Time, 154,27 66-70 79-81.

SSX 13-06-2013 03:25

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
David Levy

Có thể làm thế nào để nhà thiên văn học, tiến sĩ David Levy, người hoàn toàn xa lạ với những hạn chế của độ chính xác dữ liệu nhật thực? lại biến thành nhà thiên văn và là người của công chúng, như giáo sư Hawking, người có trách nhiệm ủy thác để cung cấp thông tin chính xác, không thiên vị cho công chúng Mỹ. Đây là những gì Tiến sĩ Levy cho biết trong cuộc phỏng vấn Millennium Milepost # 8 "Arizona Illustrated". [ 27] Đây là một đoạn trích từ đó:

Levy: Đó là khi kết thúc WW-I nhưng tôi nghĩ rằng thực sự cần đi ngược trở lại một chút với những gì đang nói về cách làm thế nào để nhân loại tiến lên phía trước, chúng tôi đang khám phá. Nhật thực đó là một thời điểm văn hóa rất thú vị. Một người, quí ông Arthur Eddington, nhà thiên văn học Anh quyết định làm một thử nghiệm nhỏ. Bạn thấy đấy, có nhà vật lý không được biết đến tên tuổi là Albert Anhxtanh và ông đã đưa ra một lý thuyết những năm trước đó. Theo lý thuyết này khối lượng và năng lượng là tương đương, một lý thuyết rất đáng kinh ngạc, E bằng MC2. Ông nói rằng một phần của có thể được kiểm tra nơi bạn có một vật rất mạnh, có một hấp dẫn khổng lồ, đến nỗi nó thực sự có thể uốn cong không gian xung quanh nó. Năng lượng đi qua không gian đó thực sự sẽ bị uốn cong. Bây giờ, đây chỉ là một cái gì đó mà các triết gia thảo luận, như bao nhiêu thiên thần mà bạn có thể đặt trên đầu một chiếc đinh ghim? Và Anhxtanh tạo ra lý thuyết này. Không có cách nào chứng minh nó, vì vậy nó vẫn là lý thuyết. Eddington nói ồ, không, chúng ta có thể chứng minh nó, bởi vì chúng ta có thể quan sát một ngôi sao rất gần với mặt trời và đo đạc nếu ánh sáng của nó bị uốn cong bởi lực hấp dẫn của mặt trời, như Anhxtanh đã dự đoán, thì chúng ta đã có một cái gì đó. Khi đó, Anhxtanh đã viết lại các quy luật vật lý." [27]

Bill: (phỏng vấn) "Vì vậy, tất cả điều này lên đến đỉnh điểm năm 1919.

Levy: Năm 1919. Chúng ta lúc bình thường không thể quan sát ngôi sao khi nó gần với mặt trời. Mặt trời làm lóa nó. Trong thời gian nhật thực năm 1919, họ đã quan sát ngôi sao. Họ đã chụp ảnh của ngôi sao đó. Họ đã tráng phim trong phòng tối, thực hiện các phép đo lường mà chứng tỏ Anhxtanh đã đúng. Và như vậy một người làm việc trong văn phòng bằng sáng chế ở Thụy Sĩ đã đột nhiên viết lại các quy luật vật lý và định nghĩa lại sự tồn tại của chúng ta trong vũ trụ. Đó là lý do tại sao năm 1919 lại rất là quan trọng. [27] (Điều này không chỉ là một đêm không tệ đối với tiến sĩ Levy. Ông ta làm một bình phẩm tương tự trên tạp chí Parade.)

Theo tiến sĩ Levy, chỉ cần một dữ liệu nhào nặn và xâm hại là đủ để chứng minh một lý thuyết là đúng. Đây là cùng 1 kẻ trưng ra 1 gương mặt trước công chúng Mỹ bình thường, mù khoa học.

PBS

PBS đã làm một công việc tuyệt vời với Mileva Maric, người vợ đầu tiên của Anhxtanh, ngoại trừ một trục trặc nhỏ. PBS đã cho phép một người ủng hộ Anhxtanh cực đoan, John Stachel, đánh lạc hướng công chúng. Ông ta tuyên bố rằng Mileva Maric chỉ là một "cái loa" cho Anhxtanh và dường như cô không có dù chỉ một ý nghĩ căn bản nào trong đầu mình. Đây là Anhxtanh nói cách riêng của mình, "Tôi rất may mắn đã tìm thấy cô - một sinh vật ngang hàng của tôi, và kẻ cũng mạnh mẽ và độc lập như tôi." [28] Cô lên tiếng như một cái loa thật sự, cô không thế sao?

Đây là một ví dụ khác của Mileva làm của mình, ấn tượng "của cái loa". Anhxtanh: "Tôi cũng mong được làm các nghiên cứu mới của chúng ta. Cô có thể tiếp tục các nghiên cứu của mình – Tự hào làm sao tôi sẽ có tấm PhD bé nhỏ cho người tình trong khi tôi vẫn là một người hoàn toàn bình thường." [29] (Anhxtanh tốt nghiệp sau Mileva);

27.Levy, D. Millennium Milestones #8
http//www.kuat.org/arizonaillustrated/millennium/08.shtml.

28.Calaprice, A. 1996. The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 48.

29.Calaprice, A. 1996. The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 47.

SSX 13-06-2013 04:10

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Chủ nghĩa Anhxtanh

Chủ nghĩa Anhxtanh có thể được định nghĩa là loạn ngôn hoặc loạn nhận thức để đặt một vòng xoáy dương tính lên một số khía cạnh đời sống của Anhxtanh. Nó có thể bao gồm bóp méo, bỏ quên, giả mạo, hoặc sửa đổi các bản ghi lịch sử để bốc thơm Anhxtanh.

Từ Clark [5], chúng ta biết, "Ngay cả ở hình thức và phong cách (bài luận tương đối hẹp) là bất thường, thiếu các ghi chú và các tài liệu tham khảo có trọng lượng đối với những mô tả quan trọng nhất." Anhxtanh đã viết bài chất lượng Internet ngay cả trước khi Internet được phát minh. Tất nhiên Vật lý lớn đã đem vào cái gọi là bài luận năm 1905 của Anhxtanh "năm phép lạ".

Nhưng không bao giờ nhớ rằng bài luận là chương trình bị léo lái, ăn cắp ý tưởng, chất lượng 5 cha 3 mẹ nên đã chết ngay trong quá trình xem xét. Đối với các nhà vật lý, đây là một phép lạ. Tôi tự hỏi các nhà khoa học có trách nhiệm như thế nào khi xem chúng.

Anhxtanh đã nghĩ gì về bản thân và công việc của mình? "Ở đó thực sự đã công bố như trút những lời dối trá trắng trợn đến vậy và hư cấu hoàn toàn về tôi mà tôi lẽ ra đã đi đến mồ từ lâu nếu cho phép bản thân mình quan tâm đến chúng." [30] "Nó tấn công tôi là không công bằng và thậm chí cả trong thị hiếu xấu chọn ra một vài nét đặc biệt để ngưỡng mộ khôn cùng, gán quyền năng trí tuệ siêu nhân và cá tính cho chúng. Đây là số phận của tôi, và sự tương phản giữa đánh giá thông thường khả năng của tôi và những thành tựu của tôi trong thực tế chỉ đơn giản là kỳ cục." [31] "Với danh tiếng tôi ngày càng trở nên ngu ngốc hơn, đó là, tất nhiên, một hiện tượng rất phổ biến." [32] Ngay cả Anhxtanh cũng nhận ra những tâng bốc khủng khiếp xung quanh mình.

Những gì không được công nhận trong cộng đồng khoa học là vào lúc cuối đời Anhxtanh, Anhxtanh đã không thừa nhận sự nghiệp cuộc đời của mình. Trên giường bệnh như một nhà khoa học, Anhxtanh đã thú tội (kịch bản được dựng như một tuyên bố pháp lý rất quan trọng). Đây là những gì Pais [33] nói về Anhxtanh vào lúc cuối đời, "Khi cuối đời Anhxtanh đã đi đến chỗ ngờ vực ảo tưởng xuất hiện trong tâm trí mình. "Lý thuyết tương đối và thuyết lượng tử ... dường như ít thích hợp để hợp nhất thành một lý thuyết thống nhất", ông nhận xét vào năm 1940. Ông viết cho Born, có lẽ vào năm 1949, 'con ngựa chứng của chúng ta đã chạy lạc vào các hướng khác nhau không thể cứu vãn được nữa... Thậm chí tôi không thể tán đồng (mình) với sự tự tin tưởng tuyệt đối ". [E35] Đầu những năm 1950, ông 1 lần nữa nói với tôi rằng mình không chắc liệu hình học vi phân có phải là nền tảng cho sự tiến bộ hơn nữa không, nhưng đó là sau đó, ông tin rằng mình đã đi đúng hướng. Đối với ông bạn thân Besso, ông viết năm 1954, “tôi xem xét rất có thể là vật lý không thể dựa trên khái niệm trường, ví dụ như cấu trúc liên tục. Trong trường hợp đó toàn bộ lâu đài của tôi tan trong không khí không còn gì để lại, kể cả lý thuyết hấp dẫn, (và) một phần của vật lý hiện đại ". [33]

Ngay cả khi Anhxtanh mắc sai lầm ngớ ngẩn tồi tệ nhất chưa hề có nhà khoa học mắc phải (có thể chỉ được tương đương và không bao giờ vượt qua), thì báo chí cũng điều khiển để đặt vòng quay tích cực lên nó. Vũ trụ tĩnh tại, Anhxtanh đã thề ông ta sai lầm khi lẽ ra đã đúng!

Vũ trụ tĩnh hoàn toàn là ý tưởng của Anhxtanh. Ông ta đã đem vào ý tưởng về một vũ trụ tĩnh và lo ngại rằng lực hấp dẫn sẽ làm nó sụp đổ vào một điểm. Vì vậy, để giữ cho vũ trụ mở, ông ta đã đi đến chỗ khái niệm vũ trụ tĩnh, và phản hấp dẫn bí ẩn sẽ giữ cho vũ trụ mở. Cùng với dữ liệu bức xạ nền, Anhxtanh gần như đã từ bỏ vũ trụ tĩnh bởi vũ trụ dãn nở giúp tránh sự cần thiết phải có phản hấp dẫn để giữ cho vũ trụ mở. Anhxtanh đã kịp tuyên bố rằng vũ trụ tĩnh là một sai lầm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của mình.

Tình trạng nào của vũ trụ tĩnh ngày nay? Theo một số nhà nghiên cứu [34-36], vũ trụ thể hiện dấu hiệu giãn nở đang tăng tốc thay vì giảm. Điều này khiến các nhà nghiên cứu làm sống lại ý tưởng vũ trụ tĩnh. Điều gì đã làm Anhxtanh từ chối vũ trụ tĩnh? Đó là vũ trụ giãn nở! Điều gì khiến các nhà nghiên cứu hiện đại tin vào vũ trụ tĩnh? Cũng vẫn vũ trụ giãn nở!

Có câu chuyện cổ điển cha của Anhxtanh cho anh ta một cái la bàn khi còn bé. Điều này được cho là đã gây ra sự tò mò của Anhxtanh trong cuộc sống sau này. Tôi có một phần khác của câu chuyện. Trong phiên bản của tôi, bố Anhxtanh đã đảo ngược cực bắc và nam để Anhxtanh có thể tìm được đường về nhà!

Nó là đủ tồi tệ để nguyền rủa rằng anh đã đúng khi anh đã sai. Nó là nguyên một cái bình cá khác để lại nguyền rủa anh đã sai khi anh đã đúng. Trong bất cứ ngành nào ngoại trừ vật lý, thì đây sẽ là một trải nghiệm nhục nhã nhất mà bất cứ một nhà khoa học nào có thể phải chịu đựng. Trong vật lý, tuy nhiên, nó lại được coi là một nghi thức để tiến lên.

Báo chí tuyên bố, "Anhxtanh 'nổi tiếng' đã từ bỏ vũ trụ tĩnh". Làm thế nào mà lại từ bỏ vũ trụ tĩnh một cách "ô nhục" hay "ngu xuẩn"? Bằng cách nào đó, Anhxtanh có thể phạm sai lầm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của mình, và báo chí có thể đặt một vòng quay tích cực về nó. Họ cũng đặt một vòng quay tích cực lên các dữ liệu nhật thực khi tuyên bố nó có "độ chính xác đáng kinh ngạc". Độ chính xác ma giả thế nào hay độ chính xác chế tác thế nào?

5.Clark, R.W. 1984. Anhxtanh The Life and Times, Avon Books, New York, 284.

30.Calaprice, A. 1996. The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 11.

31. Calaprice, A. 1996. The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 7.

32.Calaprice, A. 1996.The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 6.

33.Pais, A. 1982. ‘Subtle is the Lord…’ The Science and Life of Albert Anhxtanh, Oxford
University Press, Oxford, 467.

34.Lemonick, M.D. 2001. “Anhxtanh’s Repulsive Idea He Invented Antigravity in Desperation and Abandoned It First Chance He Got—But It May Be the Most Powerful Force in the Universe,” Time, 157, 15, 58+.

35. Perlmutter, S., Turner, M.S. and White, M. 1999. “Anhxtanh’s Mistake is Revived, “
Phys. Rev. Ltt., 83, 670.

36.Cowen, R, 2000. “Revved-Up Universe,” Science News, 157, 7,

SSX 14-06-2013 00:22

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Độ chính xác

Một trong những bất lương sâu sắc nhất của dữ liệu nhật thực đã phạm là với độ chính xác. Nói cách khác, có thể đọc được dữ liệu với bao nhiêu chữ số có nghĩa? Theo Eddington, nó có thể đọc dữ liệu đến độ chính xác 1/100 giây cung: điều này cũng được lặp lại trong một bài viết trên tờ Scientific American. [23] Nhỏ như thế nào là 1/100 giây cung: Tôi sẽ nói nó là ngang bằng với việc cố gắng xác định bề rộng của sợi tóc người bằng mắt thường khi nhìn từ khoảng cách 3 mét. Theo Ian McCausland, sự khác biệt trên các tấm ảnh là tương đương của 1/100 của 1 millimeter.

Rõ ràng, không ai trong số các nhà khoa học có được mảy may nhận thức về độ chính xác tối đa mà các trang thiết bị và điều kiện cho phép. Trước hết, kính thiên văn được sử dụng bởi Eddington, một nhà vật lý nắm được báo với tôi, nó cùng cỡ với chiếc kính thiên văn người ta có thể mua từ Wal-Mart với giá dưới $100. Thứ hai, điều kiện mà từ đó các dữ liệu được thu thập chỉ tốt hơn một chút so với nhìn các ngôi sao bị "bẻ cong" qua một ngọn núi lửa phun trào.

http://4.bp.blogspot.com/-lCDGu-sF00...01b%5B1%5D.jpg

Đó là 97 độ ban ngày và 75 độ ban đêm (độ F). Điều này vượt quá dải cho phép của thiết bị để chúng hoạt động. Không ngạc nhiên, chiều dài tiêu cự của một trong những kính viễn vọng bị thay đổi, và một kính viễn vọng dự phòng đã được sử dụng.

Khi mặt trăng đi qua phía trước mặt trời, nó chắn tất cả các bức xạ tới. Điều này ngay lập tức gây ra giảm mạnh và nhanh nhiệt độ mặt đất và thảm thực vật bắt đầu phát nhiệt. Điều này gây ra sự nhiễu loạn không khí và các phản ứng có thể đoán trước, các ngôi sao "nhảy múa" trong ảnh làm cho chúng là bị "cong" ở chỗ này chỗ kia và đằng này đằng kia, một số chạy sang một bên, một số khác ngược lại. [37] Đương nhiên, đây là lỗi ngẫu nhiên. Nói cách khác, nếu dữ liệu hỗ trợ lý thuyết, đó là dữ liệu “tốt”, và nếu nó không hỗ trợ lý thuyết, gọi là "sai số vô tình". Thực sự là sửng sốt khi có thể thấy những sai số ngẫu nhiên trên các tấm ảnh, một số ngôi sao di chuyển theo những cách hoàn toàn không thể đoán trước trong khi cái khác bị bẻ cong theo chiều thuận!

Nhật thực năm 1922 cũng được sử dụng để hỗ trợ thuyết tương đối rộng. Đây là một đoạn trích từ Jamal Munshi cung cấp bởi Marmet , "tiến sĩ F. Schmeider của Đài quan sát Munich đã công bố một bài báo [49] có tiêu đề ‘Dịch chuyển Anhxtanh, vấn đề rối loạn' và một lô dịch chuyển của 92 ngôi sao trong nhật thực 1922 cho thấy sự dịch chuyển đi theo mọi hướng, nhiều trong số chúng dịch chuyển theo hướng sai với độ lệch lớn đến mức cũng như là dịch chuyển theo hướng dự đoán! " [38]

Bertolli, Brill và Krotkov, xác định 5 nguồn sai số trên tấm ảnh: "1. Khúc xạ ánh sáng trong vầng hào quang của mặt trời và/hoặc trong bầu khí quyển trái đất, 2. Độ méo trong hệ thống quang học gây ra bởi thay đổi nhiệt độ trong quá trình nhật thực, 3. Thay đổi về tỉ lệ giữa các tấm phim chụp nhật và tấm phim so sánh, 4. Biến dạng trong nhũ tương ảnh trong khi sấy, 5. Sai sót trong các phép đo hình ảnh trên các tấm phim." [39]

Một trong những vấn đề lớn nhất với dữ liệu nhật thực là có ít nhất 5 nguồn sai số trên tấm phim so sánh. Để có thể nói nếu một ngôi sao đã bị uốn cong, thì cần phải so sánh nó với một tấm ảnh khi các ngôi sao ra khỏi ảnh hưởng của mặt trời, có nghĩa là cần thiết phải so sánh các ngôi sao bị "cong" với các ngôi sao trước khi chúng bị "uốn cong ". Điều này mang các sai số quan trọng vào trong quá trình. Đây là những gì ông Poor nói về việc này: 1. Tỷ lệ khác biệt giữa hai tấm, có nghĩa là các tấm được thực hiện tại các vị trí khác nhau, tại các mùa khác nhau trong năm, và trong điều kiện không khí hoàn toàn khác nhau, [40] 2. "Sự nghiên khác nhau của hai tấm ảnh với trục quang học của kính thiên văn" 3, "biến dạng quang học của hệ thống ống kính", 4. "Sự không chính xác đúng tâm của hai tấm ảnh", 5. "Định vị không chính xác của hai tấm trong quá trình đo. Trong quá trình kẹp hai tấm với tấm tham khảo, chúng sẽ luôn luôn xảy một bị vặn xoắn một chút trong tham chiếu đến cái khác". [40]

Vì vậy, độ chính xác nào là cho phép để dữ liệu được xem là trong giới hạn cho phép của thiết bị, điều kiện khí quyển, và các biến dạng trong tấm ảnh? "Một kính thiên văn có đường kính 10 inch với quang học hoàn hảo có thể phân giải 1 giây cung." [41] "Bầu khí quyển trái đất cũng khúc xạ ánh sáng, và bởi vì nó là liên tục di chuyển, nó làm mờ và nhòe ảnh trong kính thiên văn. Các nhà thiên văn học gọi đó là khả năng "nhìn thấy”. Độ nhòe thực sự thực sự chiếm ưu thế gây ra bởi nhiễu xạ trong nhiều trường hợp và thường giới hạn độ phân giải trong thực tế ở khoảng 0,5-2 giây cung." [41]

"Hiếm là về đêm, tại các địa điểm thiên văn, kính thiên văn bất kỳ nào, có độ mở lớn và hoàn hảo quang học có thể phân giải tốt hơn hơn 1 giây cung. Thông thường hơn là tại các địa điểm quan sát bình thường là 2-3 giây cung do độ nhòe hoặc tệ hơn." [42]

Eddington đã làm những gì để chứng minh Anhxtanh đúng là quá lố bịch, ở trên cái ranh giới siêu phàm. Đây là những gì Eddington đã làm để có được kết quả ông ta muốn theo ông Poor, [40] "4. Không có dù chỉ là một cuộc thám hiểm nào nữa cho đến nay đưa tin là đã thực hiện nghiên cứu có hệ thống tất cả các dữ liệu thu được. Ở nhật thực năm 1919, có ít hơn 15% của số liệu đo đạc thực tế đã được sử dụng trong việc đưa ra kết quả công bố... Tất cả các thành phần không xuyên tâm của đo lường bị loại bỏ như là ‘lỗi vô tình’." [40]

Điều đó là đúng: Eddington đã ném đi hơn 85% dữ liệu! Nếu bạn ném đi tất cả các dữ liệu khác với kết quả dự đoán của thuyết tương đối, thì những gì còn lại, theo định nghĩa, sẽ phù hợp với thuyết tương đối!

"7. Chuyển vị của các ngôi sao thực sự, khi được giải thoát ra khỏi tất cả các giả định, không cho thấy có sự tương đồng nhỏ nhất nào để dự đoán độ lệch Anhxtanh: chúng không thuận về hướng, độ lớn, hoặc tỷ lệ giảm đi theo khoảng cách từ mặt trời." " 8. Chuyển vị đo được thực tế, nếu có thực, có thể là tốt nhất để được giải thích bởi một số hiệu ứng khúc xạ của bầu khí quyển trái đất: bởi sự kết hợp của hiệu ứng Courvoisier, khúc xạ ánh sáng ban ngày, và các hiệu ứng nhiệt độ gây ra bởi bóng tối nhật thực." [40]

Alice trong thế giới thần tiên của dữ liệu được phô ra, "... Thành công quá mong đợi, như trong tất cả các tính toán và các tu sửa khác của ông ta, cho rằng đúng với các qui định của dữ liệu nhật thực như đã được tổ chức để kiểm tra. Và ông tự nhiên thấy rằng kết quả của mình là biểu thị bởi cái qui luật mà từ đó họ đã có được." [40]

"Không một điều gì trong số các khái niệm cơ bản của thời gian thay đổi, không gian biến dạng hoặc xoắn, của sự đồng thời, hoặc tính tương đối của chuyển động theo bất cứ cách nào liên quan đến dự đoán của Anhxtanh, hay công thức tính toán độ lệch ánh sáng. Rất nhiều các cuộc thám hiểm nhật thực công phu phức tạp đã, do đó, tạo ra một quyền thế hư cấu. Kết quả của họ không thể chứng minh, cũng không bác bỏ lý thuyết tương đối: tại kết quả tốt nhất của họ có thể chứng minh rằng ánh sáng bị trễ bởi tác động hấp dẫn, và là bị trễ bởi một số hạn định rõ ràng nào đó." [40]

"Tuy nhiên, kết quả thực tế của các cuộc thám hiểm thậm chí cũng không chứng minh điều này. Không một cuộc thám hiểm nào, cho đến nay công bố, đã sử dụng hiệu ứng để kiểm tra hoặc kiểm soát để loại bỏ những ảnh hưởng của nhiệt độ trên dụng cụ hoặc để xác định những tác động có thể của điều kiện khí quyển bất thường trong quá trình nhật thực." [40]

"Việc xem xét các bảng khác nhau về độ lệch quan sát thấy cho thấy nhiều trong số chúng là xa vời so với lượng dự đoán. Lượng xấp xỉ dự đoán một khi có được bằng cách trung bình một vài chọn lọc của các quan sát." [43] "Bất kỳ người đọc nào, mặc dù còn xa mới là một chuyên gia thiên văn hay vật lý, những người xem xét mô tả máy móc thiết bị sử dụng trong các quan sát và biên độ lớn của sai số có thể vì lý do khuyết tật trong đó, sẽ dễ dàng hiểu rằng, theo quan điểm đo lường chính xác trong quan sát hiện tượng cần quan sát, thì thận trọng trong việc phân tích các kết quả quan sát là cần thiết." [43] Điều này đã không làm bận tâm Eddington hoặc những người ủng hộ dữ liệu nhật thực khác.

Rõ ràng, không ai trong số các nhà khoa học này lại có nhiều quan tâm đến một thực tế là các dữ liệu được thu thập bởi Eddington gần như là không tồn tại. "Chúng đều tốt dưới mặt trời, cho thấy sự phi thường lỗi lạc; nhưng các đám mây đã làm nhiễu các hình ảnh ngôi sao. Sáu bức ảnh cuối cùng hiển thị một số hình ảnh mà tôi hy vọng sẽ cho chúng ta những gì chúng ta cần." [5] "Thời tiết nhiều mây làm buồn ý định của tôi và tôi đã phải xử lý các phép đo theo một cách khác với những gì tôi dự định, do đó tôi đã không thể đưa ra bất kỳ thông báo kết quả sơ bộ nào. Nhưng một tấm mà tôi đo đạc đã cho kết quả đồng thuận với Anhxtanh." [5]

Đây là những gì tôi nghĩ Eddington đã làm: Ông ta làm việc ngược tức là ông ta "biết" độ lệch nào ông ta muốn, vì vậy ông đã phát minh ra độ dài chính xác của độ lệch để nó tạo ra kết quả ông mong muốn có được. Nó là, hoặc ông ta là hoàn toàn không đủ năng lực để làm một nhà khoa học.

5.Clark, R.W. 1984. Anhxtanh The Life and Times, Avon Books, New York, 284.

37.Brown, G.B. 1967. “What is Wrong with Relativity,” Bull. Inst. Physics and Physical
Soc. 18, 71-77.

38.Munshi, J. Weird But True, http//www.munshi.sonoma.edu/jamal/physicsmath.html.

39.Bertotti, B., Brill, D. and Krotkov, R. 1962. “Experiments on Gravitation,” in
Gravitation: An Introduction to Current Research, L.Witten, ed. John Wiley, New York,
1-48.

40.Poor, C.L. 1930. “The Deflection of Light as Observed at Total Solar Eclipses,” J.
Opt. Soc. Amer. 20, 173-211

41.O’Connell, “14 Telescopes” Diffraction, http//www.astro.virginia.edu/class/oconnell/astr121/guide14.html.

42.MacRobert, A.M. 1995. “Beating the Seeing,” Sky & Telescope, 89, 40.

43.Guggenheimer, S.H. 1925. The Anhxtanh Theory: Explained and Analyzed, Macmillan, New York, 298-9.

SSX 14-06-2013 19:17

Khái niệm cơ bản mà dường như mất tích từ sự hiểu biết thông thường của khoa học là một trong những khía cạnh cơ bản nhất và dễ hiểu của cuộc sống: Kẻ sống sót là kẻ biết điều chỉnh cho vừa. Điều này trực tiếp chối bỏ toàn bộ khái niệm về hình ảnh Tháp ngà phô ra trước công chúng. Các nhà khoa học chỉ như mọi người Mỹ. Một số là người tốt, một số là người xấu. Bằng cách lập lờ với số phận, sau này dường như đã bị hút về phía vật lý lý thuyết. Sự luẩn quẩn của họ, sự phản đối không có căn cứ nhiệt hạch lạnh của họ, sự ngông cuồng của họ và sự tiếp tục thổi phồng lên của Anhxtanh, và họ thèm khát vô độ của họ đối với đồ chơi hàng tỷ đô la (cỗ máy nhiệt hạch, máy dò neutrino và máy gia tốc hạt tên 3) hút sạch kinh phí hạn hẹp dành cho những khoa học chính đáng, đó là những nhà khoa học "xấu xa" và những kẻ "xấu xa".

Đây là những gì các nhà khoa học có trách nhiệm đang đứng lên để chống lại: Kẻ sống sót biết điều chỉnh cho vừa. Nếu tính toàn vẹn không giúp bạn có được sự giàu sang, quyền lực hay uy tín, thì tại sao lại có sự chính trực? Các nhà khoa học đó đã học được bài học từ vị đại tài Anhxtanh. "Tôi chưa bao giờ nhận được bất kỳ giá trị đạo đức nào từ công việc nghiên cứu của tôi." [44]

Một số người có thể coi đó là hoang tưởng. Nhưng như một số nhận xét đùa, nếu chỉ vì bạn hoang tưởng không có nghĩa rằng họ tẩy chay bạn. Miễn là tôi vẫn còn trong hệ thống giám sát (tôi đã bị nện búa trong các blog vì bài viết Anhxtanh đạo văn của mình [18], [19]), các nhà vật lý sẽ bỏ qua cho tôi. Còn nếu tôi là một mối đe dọa đối với đối với việc kiếm tìm sự giàu có, quyền lực và uy tín của họ, họ sẽ thả xích những con chó chiến xông vào bất cứ điều gì. Đây là cú thứ hai tôi đã bị sa thải khỏi Vật lý HMS lớn, và tôi đã có những tảng băng trôi phía tôi.

Đây là những gì tôi đang chống lại. Điều này sẽ cộng hưởng với các nhà điều tra LENR (phản ứng tổng hợp lạnh): Từ trang web, " The Suppression of Inconvenient Facts in Physics: The Big Bang Scandal ", ta sẽ tìm thấy dòng giới thiệu dưới đây, một tuyên bố của Brian Martin , "Sách giáo khoa trình bày khoa học như một sự theo đuổi chân lý cao quý, trong đó sự tiến bộ phụ thuộc vào nghi ngờ các ý tưởng đã có. Nhưng đối với nhiều nhà khoa học, đây là một huyền thoại độc ác.

Họ biết từ kinh nghiệm cay đắng rằng bất đồng với quan điểm thống trị là nguy hiểm, đặc biệt là khi quan điểm đó được hỗ trợ bởi các nhóm lợi ích đầy quyền lực. Gọi nó là đàn áp bất đồng chính kiến trí tuệ.

Mô hình thông thường là một ai đó tiến hành nghiên cứu, hay nói thẳng một cách đe dọa đến nhóm lợi ích đầy quyền lực, thường là một chính phủ, một ngành công nghiệp hoặc tổ chức nghề nghiệp. Kết quả là, các đại diện của nhóm đấy tấn công các ý tưởng phê phán hay chỉ trích cá nhân bằng những bài chỉ trích, ngăn chặn xuất bản, từ chối bổ nhiệm hay đề bạt, thu hồi các khoản tài trợ nghiên cứu, tiến hành các hành động pháp lý, quấy rối, tống tiền, reo rắc tin đồn ..." [45] Các nhà khoa học này đã có bài học từ “các ông thợ ống nước” Nhà Trắng.

Điều này âm thanh này có quen thuộc với các nhà điều tra LENR? Vì vậy, bây giờ chúng ta có hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau trong vật lý mà các học viên dường như đã hành động một cách cẩu thải. Như phản ứng đối với bài viết này, tôi đoán chúng ta sẽ thấy một ví dụ thứ ba. Ba cú đánh và bạn bật ra ngoài. Cộng đồng vật lý cuối cùng sẽ thấy một cuộc tàn phá của vật lý lý thuyết đến tận nền móng và sự xuất hiện của thế hệ kế tiếp các nhà vật lý; một quá trình thống trị vật lý, muốn thay thế các nhà toán học trong vật lý. Cuộc cách mạng này có khuynh hướng đổ máu.

Một tiềm tàng rút ra từ bài viết này: Chúng ta thấy một sự phân ly trong Vật lý lớn qua 2 năm tiếp theo, nơi các nhà vật lý ứng dụng, những đàn ông và phụ nữ, những người thực sự quan sát và đo lường các quá trình thực tế và thúc đẩy các khái niệm về thế giới vật lý, sẽ đứng đối lập trực tiếp với các nhà vật lý lý thuyết, những kẻ lừa bịp trong toán học, những kẻ này là những Albert Anhxtanh và Stephen Hawking. Các nhà toán học, những kẻ đã đưa cho chúng ta thuyết tương đối hẹp, thuyết tương đối rộng, thuyết Big Bang, lỗ đen và lý thuyết dây sẽ bám vào trò lừa nhật thực để kiếm sống, để từ bỏ nó ngay từ bây giờ, sẽ cần phơi bày điểm yếu nhẽo nhợt của cái thứ "khoa học" đáng ngờ của chúng.

Các nhà vật lý ứng dụng sẽ tức giận với đồng nghiệp của mình vì đã kéo họ vào bãi lầy này, và hậu quả là, họ bị quét hắc ín bằng cùng một thứ bàn chải nơi vật lý lý thuyết. Trò lừa đảo năm 1919 cuối cùng sẽ được chứng minh là một nỗi hổ nhục sâu sắc đối với tất cả các nhà vật lý ngay thật. Các nhà vật lý ứng dụng sẽ bác bỏ các nhà vật lý lý thuyết, bởi vì không giống như vật lý lý thuyết, họ sẽ biết và hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của độ chính xác và tin cậy của dữ liệu nhật thực.

18.Moody Jr., R. 2004. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century,” Nexus, 1, 47-50, 82-
83.

19.Moody, Jr. R. 2005. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century, “Infinite Energy
Magazine, 10, 59, 34-38.

44.Calaprice, A. 1996. The Quotable Anhxtanh, Princeton University Press, Princeton, Chichester, West Sussex, 16.

45.”The Suppression of Inconvenient Facts in Physics: The Big Bang Scandal”
http//www.8int.com/bigbang.html.

SSX 14-06-2013 23:07

Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20
 
Tóm tắt và kết luận

Khoa học kết nối hiểu biết với hiểu biết, cái chúng ta có trong vật lý lý thuyết ngày nay là một lâu đài trên trời, vũ trụ toán học, chúng có như nền tảng của mình trong cát lún, trong dữ liệu nhật thực. Những cố gắng tuyệt vọng để chứng tỏ bộ mặt vật lý của thuyết tương đối rộng đã dẫn các nhà khoa học đến hành động theo cách mà họ phải không nên hành động. Điều này bao gồm sự thuần phục nhiệt thành các dữ liệu bị sửa chữa và thao túng từ nhật thực.

Chúng ta có toàn bộ một tầng lớp nhà khoa học khom lưng tâng bốc Anhxtanh trong một nỗ lực có tính toán để chui đầu vào cái thòng lọng giàu có, quyền lực và uy tín, vì thế mà họ cơ bản đã từ bỏ theo đuổi khoa học tử tế, và từ bỏ tìm kiếm một cách không thành kiến sự thật. Vật lý lý thuyết đã thay thế chương trình nghị sự hướng "khoa học" cho khoa học thực sự, cho việc theo đuổi kiên định sự thật. Theo các nhà vật lý lý thuyết, thuyết tương đối hẹp là khoa học đã được giải quyết xong; 3789 trang phản đối thuyết tương đối hẹp đã được công bố, nó nhiều đến sự buồn chán Vật lý lớn. [47] Đây là những gì Vật lý lớn muốn bằng khoa học đã được giải quyết xong, nghĩa là hàng ngàn trang bất đồng với thuyết tương đối hẹp không được đếm xỉa tới.

Vật lý lý thuyết không xa lạ gì với nghị sự khoa học bị định hướng. Annalen der Physik đã công bố 5 tờ giấy nghị sự định hướng, ăn cắp ý tưởng, chất lượng Internet của Anhxtanh vào năm 1905, chúng lẽ ra đã chết trong quá trình xem xét. Thay vào đó, chúng ta bị dẫn dắt để tin rằng đây là thành tựu uyên thâm nhất của mọi khoa học thế kỷ 20! Không một biên tập đáng kính nào của một nghành khoa học nào ngày nay dám đụng chạm vào mấy tờ giấy Anhxtanh bằng cái sào 3 mét. Nhưng những nghị sự bị điều khiển, ăn cắp ý tưởng, chất lượng internet đang được gọi là "năm kỳ diệu" từ các nhà vật lý!

Các nhà vật lý lý thuyết tự huyễn hoặc vì trò lừa bịp nhật thực 1919 đã bị thách thức năng lực của mình để nói ra các vấn đề của khoa học nói chung. Họ dường như thiếu các kỹ năng để phân biệt khoa học thực sự với khoa học giả mạo. Câu hỏi phải hỏi: "Tại sao chúng tài trợ các nhà khoa học dường như có ý định cổ súy đẩy khoa học giả tưởng, với cái giá của khoa học thực sự và các nhà khoa học thực sự?"

Người đọc có thể tự hỏi, "Tại sao sùng kính một biểu tượng nhỏ lại xấu? Vì nó làm méo mó nhỏ quá trình tài trợ? Thế thì sao? Sùng kính biểu tượng ở đất nước này (Mỹ) trực tiếp chịu trách nhiệm về chính sách năng lượng sai lầm và những liên quan. Khi Anhxtanh trở nên nổi tiếng, ông ta được đối xử như một biểu tượng của thiên tài tràn ngập mọi nhận thức chung rằng bằng cách nào đó, chỉ có các nhà vật lý là đang làm khoa học thực sự tốt.

Điều này làm biến dạng ngân quĩ. Nơi mà sự biến dạng này đã thành thảm họa đối với người Mỹ là chính sách năng lượng. Người đã dành hơn $15 tỷ đô la tài trợ cho thứ đồ chơi Vật lý lớn, cỗ máy phản ứng tổng hợp nóng. Một vấn đề nhỏ với cỗ máy này: Một trong những nhiên liệu chính cho sự nhiệt hạch nóng là tritium, giá $1 triệu/ounce.

Vậy tại sao người ta cấp quĩ cho chương trình tổng hợp nóng? Các nhà vật lý trong các cơ quan quản lý quĩ đã đốt hàng tỷ đô la không có hợp đồng cho đám bạn bè của họ ở MIT. Đó là cách Dick Cheney đã học được làm thế nào để đốt tiền không cần hợp đồng ở Halliburton. Ông ta đã học được nó từ Vật lý lớn.

Một trong những điều đầu tiên trong nghị sự của Quốc hội là sa thải mọi nhà vật lý làm việc cho các cơ quan ngân sách liên bang hay ngân sách công. Các nhà khoa học này chẳng làm gì ngoài những hợp đồng với đám bạn bè của họ trong học viện. Kể từ khi các nhà vật lý tỏ ra có vấn đề mãn tính với nói sự thật, sẽ là một ý tưởng tồi để các nhà vật lý hay thiên văn như David Levy làm đại diện công chúng cho cộng đồng khoa học, vì nếu họ làm như vậy, công chúng Mỹ sẽ có ý tưởng hoàn toàn không có thật cái gì là khoa học tử tế, cái gì là phương pháp khoa học, hay nhhững gì là nghiên cứu khoa học tốt.

Nghĩ về nó như một nhà địa chất, chẳng lẽ tôi không muốn đầu tư hàng tỷ đô la để khai thác năng lượng địa nhiệt? Tự nhiên, điều này sẽ cho toàn bộ nhiều nhà địa chất với một cuộc sống dễ chịu. Nếu tôi là nhà sinh vật học, tôi lại không muốn chi tiêu hàng tỷ đô la gắng để tạo ra nhiên liệu sinh học cellulose, hoặc phát triển các cách thức mới để thay đổi di truyền của tảo để sản xuất hydro với số lượng lớn? Nếu tôi là nhà hóa học, tôi lại không muốn chi tiêu hàng tỷ đô la phát triển pin tốt hơn mà rẻ hơn, hiệu quả hơn và dài lâu hơn? Tôi sẽ không quan tâm đến việc cấp vốn cho các công nghệ năng lượng mới và cách để làm cho tấm pin mặt trời rẻ hơn và hiệu quả hơn? Nếu tôi là một nhà khoa học khí quyển, tôi sẽ không thể quan tâm trong việc đặt phức hợp nhà máy phong điện lớn trên các đại dương để tạo ra điện từ phức hợp xa bờ hoặc trong khu vực thèm muốn khác?

Vì vậy, tại sao chúng ta có một chương trình tổng hợp hạt nhân nóng? Các nhà vật lý đã thuyết phục các lãnh đạo tuyệt vời của chúng ta ở Washington để có thứ đồ chơi tốt nhất và mới nhất. Nhiệt hạch nóng là một dự án rửa tiền, là thịt lợn cho các nhà vật lý, là Việt Nam và Iraq của chính sách năng lượng chúng ta. Vào thời (nếu có) các cỗ máy tổng hợp đi vào hoạt động số lượng lớn, nói là 1000, 1000 nhà máy 1000 mW, sự nóng lên toàn cầu sẽ chấm dứt. Bên cạnh đó, thấy rằng chi phí R&D rất lớn, điện từ 100 nhà máy đầu tiên sẽ có giá hơn $1/kWh.

Nếu số tiền chi cho phản ứng tổng hợp nóng đã được chia cho các lĩnh vực khia học khác cách đây 30 năm như đã nêu ở trên, và kết hợp với xe hơi tiết kiệm nhiên liệu, vật liệu cách nhiệt tốt hơn, và bảo toàn tốt hơn, chúng ta sẽ có sự độc lập năng lượng ngày nay.

47.Mueller, G. O. and Kneckebrodt, K. (pseudonyms) 95 Years of Criticism of the Special Theory of Relativity (1908-2003) The G. O. Mueller Research Project [GOM- Project Relativity] Germany 2006.

SSX 15-06-2013 21:42

Các nhà vật lý có vấn đề vật chất tối và không-thời gian
 
Như đã nói, mất độ ít năm và người Nga tràn ngập thông tin bóc mẽ Anhxtanh. Nhưng 1 thế kỷ trôi qua đã để lại hậu quả khôn lường.

Hậu quả Anhxtanh, vật lý và khoa học ngày nay tràn ngập hoang đường, rác rưởi, mộng mị và ma giáo. Nào du hành vượt thời gian về quá khứ, giết chết ông bố đẻ ra mình! Nào hố đen, lỗ sâu đục để du hành tức thì! Nào trường nào dây nào thuyết thống nhất lớn!

Những gã hoang tưởng nhất và ngu xuẩn nhất thì vênh váo đi nhận giải Nobel khoa học. Xin ông Nobel thứ lỗi, giá như ông tiêu hết tiền mình kiếm được trong cái nhà thổ nào đó, thì thế giới ngày nay lại dễ chịu hơn.

Không-thời gian là hấp dẫn thực sự - theo các nhà vật lý. Tại sao? Bởi một bức họa trông giống như một cơn lốc (vortex) với một mô hình lưới đan vào nhau. Và vật lý đứng đằng sau bức họa này? Nó bắt đầu với hai đối tượng chuyển động vào nhau, thường có nghĩa như là con người trên toa tàu hỏa. Chuyển động của họ liên quan đến nhau và khác trong chuyển động tương đối của họ đến cái gì khác. Tương đối có nghĩa tương đối. Viola. Không-thời gian do đó thay thế hấp dẫn.

http://i277.photobucket.com/albums/k.../spacetime.jpg

Làm thế nào để thời gian tạo ra một cơn lốc? Tại sao không phải là gương mặt ông bà cố? Xoáy luôn luôn là nơi có một khối lượng. Liệu khối lượng để làm với không gian và thời gian? Các nhà vật lý đã không bao giờ nói không-thời gian có cái gì đó để làm với khối lượng, nhưng cơn lốc thì luôn vây quanh một khối lượng.

Einstein đã chẳng đo lường gì. Không có cách nào để xác minh tuyên bố của ông ta cho đến những năm sau đó. Ngày nay, vật lý chứng tỏ Einstein là chuẩn xác hàng ngày. Bằng chứng chính của họ là ánh sáng bị uốn cong xung quanh các hành tinh, giống như Einstein đã tiên đoán nó sẽ như thế. Chỉ có không-thời gian ảnh hưởng đến ánh sáng, lực hấp dẫn Newton thì không. Điều này chứng tỏ rằng Newton là bậy bạ còn Einstein mới là thiên tài.

Quang học là một ngành của vật lý. Nó dựa trên ánh sáng uốn cong khi đi qua vật chất mật độ cao hơn. Có phải là vì không-thời gian uốn cong như trong lăng kính? Có thể. Tôi thích điều đó. Điều này có thể là tốt cho một lô những dối trá mới. Nhưng đó là việc phía trước của vật lý. Dù sao vẫn chưa có ai tuyên bố rằng không-thời gian bẻ cong ánh sáng trong một lăng kính. Thì tại sao đó không-thời gian lại nên uốn cong ánh sáng xung quanh các ngôi sao và thiên hà? Không có khối lượng xung quanh các ngôi sao và thiên hà hay sao?

Một phương pháp để di chuyển trong không gian là đón bắt các ion từ mặt trời, giống như một chiếc thuyền buồm bơi trong không gian. Ion có khối lượng và điện tích. Mặt trời không ngừng phát ra khối lượng. Bạn không nhìn thấy nó, bởi vì nó có dạng khí trong suốt. Nhưng nó có đủ trên toàn bộ hệ thống mặt trời để di chuyển các đối tượng, nếu họ có một cánh buồm đủ lớn.

Toàn bộ cơ sở của thuyết vụ nổ lớn (bigbang) về nguồn gốc vũ trụ là sự dịch chuyển đỏ mà có thể thấy được trong ánh sáng đến từ các nguồn xa xôi. Dịch chuyển đỏ có nghĩa là bước sóng ánh sáng dài hơn như nó có. Các đối tượng ở xa hơn có dịch chuyển đỏ nhiều hơn, điều đó được cho là chúng đang di chuyển ra xa nhanh hơn. Sự sắp đặt này trông giống như một vụ nổ đối với các nhà vật lý, vì vậy họ tuyên bố tất cả bắt đầu bằng một vụ nổ. Chẳng cần để tâm đến thực tế rằng một vụ nổ như thế là không thể về mặt vật lý. Vật lý không bị ràng buộc bởi các quy luật vật lý. Khi vụ nổ xảy ra, hầu hết vật chất di chuyển từ trung tâm của vụ nổ đến vị trí hiện tại của chúng trong thời gian gần như 0, được gọi là lạm phát. Nó có nghĩa là vũ trụ giãn nở mà không có bất cứ thứ gì chuyển động. Các nhà vật lý có thể mô tả tất cả mọi thứ đã xảy ra khi tất cả điều này bắt đầu, mặc dù không có quy luật vật lý. Tại sao các nhà vật lý xuất sắc như vậy lại không phải là chuyên gia trong cái phép phù thủy này?

Nếu các ngôi sao đang phát ra khối lượng, tại sao không phải ánh sáng bị uốn cong khi đi qua khối lượng, như khi truyền qua lăng kính? Nếu ánh sáng bị làm chậm vì khối lượng cũng như nó bị uốn cong trong lăng kính, thì tại sao không phải ánh sáng bị làm chậm lại vì khối lượng khi nó di chuyển qua không gian hàng tỷ năm ánh sáng? Nếu bước sóng ánh sáng bị kéo dài khi nó đi qua một lăng kính, thì tại sao không phải là bước sóng ánh sáng bị kéo dài khi nó đi qua vật chất trong không gian tạo ra sự thay đổi màu đỏ? Câu trả lời là đơn giản - không có vật chất trong không gian. Chắc chắn, 80% tất cả các khối lượng là vô hình (nó được gọi là vật chất tối), nhưng tại sao lại là làm chậm ánh sáng khi nó di chuyển qua không gian hàng tỷ năm ánh sáng?

Các thiên hà quay nhanh hơn bình thường. Đây là cơ sở chủ yếu cho giả định vật chất tối tồn tại. Tốc độ mà tại đó quỹ đạo các đối tượng di chuyển phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng với khối lượng mà chúng đi theo quỹ đạo. Khoảng cách có nghĩa là gì? Điều đó phụ thuộc vào tổng khối lượng vật chất. Với mỗi một gram đối tượng, khoảng cách sẽ là một vài milimet. Đối với mặt trời, khoảng cách là một vài triệu kilomet. Sự khác biệt là khối lượng. Điều đó có nghĩa là các nhà vật lý có thể đo khối lượng trên quĩ đạo bằng cách xem các đối tượng quay nhanh như thế nào quanh nó. Khi họ làm điều đó, họ thấy rằng cần phải có khối lượng nhiều hơn trong các thiên hà để có được các ngôi sao quay nhanh như chúng đang có. Họ đề cập đến khối lượng mất tích như vật chất tối.

http://cse.ssl.berkeley.edu/SegwayEd...s/rotatgal.gif

Bây giờ nhìn vào thế tiến thoái lưỡng nan mà các nhà vật lý đang phải đánh vật với nó. Có vấn đề mà họ không thể nhìn thấy ở bất cứ đâu, đó là khối lượng vật chất bốn lần nhiều hơn để như họ có thể nhìn thấy thiên hà quay nhanh. Nhưng chắc chắn lại không thể được phép làm chậm ánh sáng khi nó di chuyển trong vũ trụ. Nó được cho là có ở đâu, nếu nó không được làm chậm ánh sáng? Nó không thể ở gần các ngôi sao và thiên hà, khi mà chúng bẻ cong ánh sáng đi gần chúng trong không-thời gian.

Đây là những gì các nhà vật lý đi đến chỗ kết thúc. Họ áp dụng định luật Newton vào vòng xoay thiên hà và tuyên bố rằng họ cần phải có bốn lần khối lượng nhiều hơn dựa vào tốc độ quay. Tại sao họ không dùng sự lỗi lạc của Einstein thay vì định luật Newton? Khối lượng không có gì để làm với không-thời gian. Thiên hà quay nhanh như thế nào dựa vào ma thuật Einstein. Không ai biết!

Có vẻ như các nhà vật lý cần định luật Newton để giải quyết vấn đề, trong khi không-thời gian dành để o bế cho mọi thứ khác. Mọi thứ khác là những gì? Là khoảng 90% vật lý. Một số kẻ huyên thuyên thuyết tương đối là 90% của vật lý. Đó là 90% hệ thống phúc lợi và chỉ có 10% là công việc - món của Einstein dành cho các nhà vật lý.

Nguồn tk: Gary Novak http://english.pravda.ru/science/mys...dark_matter-0/

SSX 15-06-2013 22:28

Bọn Chúng Làm Hư Thối Cả Vũ Trụ Như Thế Nào?
 
Bài này nguyên bản đăng trên inayka.ru và các trang nào đó; giờ trang này không còn. Đã lâu lắm rồi, nhưng hay nên đăng lại ở đây để mọi người xem.

Không ai có ý niệm photon là cái gì, nhưng chúng có thể nói cho người ta vô cùng đúng đắn, về bên trong proton, bên trong nguyên tử và bên trong hạt nhân.

Chúng không biết từ trường là cái gì, nhưng chúng có thể cho người ta biết đáp án quark-gluon chính xác, mà từ đó vũ trụ được cho là khởi đầu.

Chúng không thể cho người ta biết khi nào thì vị thần Aphrodite bò từ biển lên bờ, nhưng chúng có thể đưa ra cho người ta ngày sinh tháng đẻ vũ trụ của chúng ta rất chính xác.

Ngày nay, những gã đã đủ lớn - có râu ria và có đủ mọi thứ - ngồi lỳ trên ghế lớn trong những trường đại học lớn, viết ra những phương trình rõ lớn và xực những đồng tiền đóng thuế duy nhất là có thật. Chúng sẽ nói cho người ta biết bằng gương mặt rất ngay thật rằng chúng đã hình dung ra rất hay ho vũ trụ của chúng ta. Lại vũ trụ!

Chúng biết vũ trụ bắt đầu như thế nào, khi nào nó bắt đầu, và chúng biết rằng nó được làm bằng X% vật chất thông thường, Y% vật chất tối và Z% năng lượng tối. Với X + Y + Z = 100; Chính xác là 100, chúng không để cho ai thêm bớt tý tẹo nào. Bạn nghĩ rằng tôi đùa? Không! không phải trong trường hợp này. Giải thưởng Nobel đã được trao với số lượng lớn cho những 'thành tựu' loại này.

Cái sau đây cũng không phải là trò đùa. Đó là trích dẫn từ một tạp chí Uy Tín, đăng ngày 05 tháng 01 năm 2007, nơi các anh giáo làng, các tiến sĩ rởm mậu dịch vẫn hằng mơ một ngày đẹp giời, có một bài được đăng trong những vô số tác phẩm mạng nhện giăng, chất đầy trên căn gác xép:

Đặc trưng cơ bản của vũ trụ hiện đã được xác định: Nó có tuổi 13,7 tỷ năm, không gian phẳng, và đang mở rộng với một độ tăng tốc, nó bao gồm các nguyên tử (4%), vật chất tối kỳ lạ (20%), và năng lượng tối (76%); Và có bằng chứng rằng các thiên hà và các cấu trúc khác đã được chọn bởi các dao động học lượng tử.

http://img101.imageshack.us/img101/3594/bigbang1x.gif

Tạm dừng một chút ở đây và xem xét cái ngu xuẩn tái tê đầu óc. Chỉ có một vài chục năm trước, vũ trụ lại chỉ có vật chất và năng lượng trong đó (cũng chính chúng nói thế). Các nhà vật lý thiên văn đã nhìn thấy vũ trụ như thế, và lúc đó nó rất đẹp.

Sau đó, chúng nói: "Ô! Ô!, có cái gì đó khác: Vật chất tối." Các nhà vật lý thiên văn đã nhìn vũ trụ, và lúc đó nó cũng rất tuyệt đẹp.

Một ít thời gian trôi qua, và sau đó lại: "Ô! Ô!, có cái gì đó thêm ở đây: Năng lượng tối." Các nhà vật lý thiên văn lại nhìn vũ trụ, và lúc này nó lại càng rất đẹp.

Rồi lại ít thời gian nữa trôi qua, và sau đó lại: "Ô! Ô!, có cái gì đó thêm ở đây: Dòng chảy tối. Vũ trụ chúng ta bị vũ trụ hàng xóm hút." Các nhà vật lý thiên văn lại nhìn vũ trụ, và lúc này nó lại càng rất rất đẹp.

Bây giờ thì chúng ngồi họp kín với nhau, và đưa ra quyết định: "Đã giải quyết xong: Không được ai thêm Ô! Ô! nữa. Chúng ta sẽ kết thúc vấn đề ở đây và từ bây giờ: X + Y + Z chính xác bằng 100 phần trăm."

Bây giờ thì, tất nhiên, vấn đề là trình bày cái vỏ che đậy những vụ làm ăn lớn bằng các kỹ xảo làm mơ hồ lẫn lộn - giả bộ làm sao để phóng vệ tinh và làm sao để phát minh ra những dạng bộ dò để tìm cái tối kia, để khép lại các bài viết cũ về vũ trụ trên các tờ uy tín.

Đó chỉ là câu chuyện vặt, người ta biết rõ chúng đang làm gì.

Đó là sự vô lý của hiện trạng thực tế ngày nay - nếu người ta nhìn vào nó từ một vị trí đúng đắn. Nhưng điều đúng đắn này đã bị che giấu khéo léo khỏi con mắt và tâm trí của những người bình thường trên thế giới. Bạn được ngồi vào một chỗ trong một cánh gà của một cái ban công và từ đó xem những anh hề biểu diễn, anh ta bắt chước giông giống nhà thông thái đọc một bài diễn văn quan trọng.

Tôi dùng phép ẩn dụ anh hề. Nếu bạn thích, bạn có thể gọi đó là Gánh xiếc ngu xuẩn. Cho dù thế nào, thì đó cũng không phải là khoa học. Bất cứ nhà khoa học có tý đáng giá nào hẳn sẽ là người đầu tiên nói cho người ta biết, đừng có nói ra những khẳng quả quyết như thế. Để người ta còn có thể phát triển những lý thuyết và những ý tưởng khác-thế mới là hay.

Bạn có thể lý luận - miễn là nó rõ ràng rằng đó là những gì bạn đang làm. Nhưng để nói rằng một lý thuyết vũ trụ học về tuổi của vũ trụ là "chính xác" mà không loại trừ tất cả mọi yếu tố khác là ngu ngốc hoàn toàn. Ngu ngốc tập thể là có thể, và dĩ nhiên vẫn là ngu ngốc. Ngu ngốc được trao giải Nobel là có thể, và dĩ nhiên vẫn cứ là ngu ngốc.

Có cái gì đó khôi hài về cái mốt thời trang mới mà các nhà khoa học đang trưng diện và chạy vòng quanh thuyết giảng cho công chúng về vũ trụ. Nhưng cái mốt thời trang ấy đang đến ngày bị tính sổ, vũ trụ có tuổi 10-15 tỷ năm.

Trái đất có lẽ có tuổi vài tỷ năm. Nhân loại có lẽ là vài triệu năm tuổi. Khoa học có lẽ là vài trăm đến vài nghìn năm tuổi, còn tùy vào cách bạn định nghĩa thế nào là khoa học.

Sau tất cả quãng thời gian đó, chính xác là từ khi có một nền văn hóa ngạo mạn, xấc xược và háo danh mưu cầu sự nổi tiếng cùng ham hố kiếm tiền làm giàu vọt lên trên những uy tín, là chính xác khi tuổi vũ trụ đột nhiên được giải quyết! Đã thực hiện và đã xong! Người ơi là người!

Tại sao chúng không giải quyết vấn đề nho nhỏ của cuộc khủng hoảng năng lượng trong lúc nó đang đến Tại sao chúng không chìa tay giúp đỡ cho đồng nghiệp đang loay hoay với cái lò phản ứng nhiệt hạch đã quay quay, đã giậm chân tại chỗ trong nhiều thập kỷ?

Sau khi kết liễu vấn đề vũ trụ, những uy tín lớn chắc hẳn đang để tâm đến vấn đề nho nhỏ giữa bữa sáng và bữa trưa, với tách cà phê nhàn nhã chen ở giữa. Bạn sẽ nghĩ thế!

Kẻ duy lợi chẳng màng đến tư cách, chẳng đếm xỉa đến nguỵ biện, đến địa vị xã hội trên dưới thế nào, luôn luôn là kẻ duy lợi thuần tuý và đơn giản.

Những kẻ quỉ quyệt nhất và những kẻ duy lợi nhất trong vật lý và thiên văn ngày nay là giới truyền thông hám lợi. Chúng có thể bơm thổi những tên khoác áo khoa học giả mạo, lại đần độn - biến tên đó thành thiên tài vĩ đại. Chúng có thể khởi xướng và bơm thổi, lăng xê những khoa học bậy bạ rác rưởi. Chúng có thể, chúng đang làm điều đó. Và không ai phản đối gì. Không một ai!


Đó là cách nền văn minh đang bị thối nát, đồi bại và lai căng.

Đó là chìa khóa để hiểu làm thế nào nền văn minh của chúng ta đang bị mục rỗng - không chỉ trong vật lý hay thiên văn, hay khoa học, mà còn trong nhiều lĩnh vực mà nhân loại đang nỗ lực.

Tất nhiên, các em bé tập làm khoa học, giống Anhxtanh vẫn cứ lảm nhảm qui chiếu thì thế này, toạ độ thì thế kia, trong lúc chính Anhxtanh, hay chính xác là không phải Anhxtanh, mà tự nhiên nó thế, tự nhiên nó phải thế, nếu không thế, thì dưới gầm bệ thờ trong giáo đường Anhxtanh có một vũ trụ khác với những qui luật khác, nếu không thế thì, dưới chân tượng chúa, ông Ác-si-mét không thấy nước trào ra... Các anh giáo làng trong lúc mơ về tờ uy tín, vẫn cứ viết những tác phẩm vĩ đại và chất đầy căn gác xép mạng nhện... cho đến khi mụ vợ không chịu đựng nổi và cân ký lô sạch sành sanh cho bà đồng nát. Các chàng vật lý thiên văn trong lúc mơ về vũ trụ, vẫn cứ vác ống dòm tự chế, ngắm giăng sao và bốc phét với gái về những gì chàng đọc đâu đó ở những tờ uy tín... cho đến khi nàng đi lấy chồng vì thấy chàng quá hão huyền, bỏ lại chàng với vì sao cô đơn tội nghiệp.

Còn vũ trụ thì vẫn cứ như thế, cho dù em bé vày vò cái qui chiếu, anh giáo làng với những tác phẩm mạng nhện hay chàng vật lý thiên văn mơ mộng hão huyền!

Vậy vũ trụ là gi? Thành thật mà nói chẳng ai trong số các nhà thông thái hay trong số chúng ta, có thể trả lời được.

Khoa học đang ở ngã tư đường - H. Dingle.

Ôi vũ trụ! Lại vũ trụ!

SSX 16-06-2013 00:08

THUYẾT VỤ NỔ LỚN - BIGBANG CHỨA ĐỰNG NHIỀU NGHỊCH LÝ
 
Lý thuyết diện mạo vũ trụ ngày nay là do kết quả của vụ nổ lớn (big bang), dĩ nhiên có rất đông fan hâm mộ. Fan vụ nổ lớn cho rằng lý thuyết của họ được chứng minh bởi bức xạ tàn dư mà công phát hiện và nghiên cứu đã được vinh danh bằng 2 giải Nobel: năm 1978 (Arno Penzias và Robert Wilson Mỹ) và năm 2006 (John Meter và George Smut, cũng Mỹ). Nhưng vụ nổ lớn xảy ra khi nào và đưa đến những giải thích thành công các sự kiện cho hiện tại vật lý thì cho đến bây giờ vẫn còn là câu hỏi.


BÍ ẨN BỨC XẠ TÀN DƯ

Năm 1928, Alexander Fridman đã xây dựng mô hình “vũ trụ dãn nở”. Lý thuyết của ông cho rằng, vũ trụ đã xuất hiện 13,7 tỉ năm về trước từ một quả ‘siêu trứng’ (nói cách khác là điểm kỳ dị, trong trạng thái tới hạn của vũ trụ, chứa một lượng vô hạn năng lượng và vật chất). Vụ nổ đi cùng với sự thoát ra của số lượng vô cùng lớn các hạt nguyên tố. Các ngôi sao sau cùng được hình thành từ ‘nồi cháo hạt yến mạch’ proton-electron này sau đó hình thành các ngôi sao và các thiên hà. Các nhà khoa học tin rằng, vào lúc thôi nôi rất sớm của vũ trụ, nhiệt độ của nó khoảng 3000 độ C, sau đó nó giảm dần và ngày nay đạt đến gần độ 0 tuyệt đối. Điều thú vị là vụ nổ lớn phát sinh không gian vũ trụ từ quả trứng ban đầu lại có kịch bản giống như phép thần thông của kinh thánh cổ người Do Thái Kabbalah, trong huyền thoại người Trung Hoa cổ, người Ai-Cập cổ sarcophagi…

Mô hình Fridman phỏng đoán rằng, sự tiến hoá của vũ trụ có thể diễn ra theo 2 xu hướng: hoặc là nó sẽ nở ra mãi mãi, các vật chất sẽ vĩnh viễn tản ra xa nhau từ cái ‘đà’ ban đầu của vụ nổ, hoặc đến một thời điểm nào đó sẽ có sự thay đổi, pha dãn nở diễn ra chậm lại và sẽ kết thúc, tiếp theo sau là pha co, nghịch đảo của pha dãn nở và kết thúc bằng vụ sụp đổ lớn, cả vũ trụ lúc đó một lần nữa sẽ co lại còn đúng như một chất điểm. Cách thức mà tạo hoá chọn phụ thuộc vào mật độ vật chất tới hạn trong vũ trụ. Nếu mật độ vật chất trong vũ trụ đủ lớn đến một mức nào đó thì sẽ có pha co lại, nếu ít hơn, thì các vì sao dù có đông nghịt trên bầu trời thì cũng sẽ chẳng bao giờ tiến lại gần nhau.

Sau Fridman một năm, Edvin Hubble phát hiện hiện tượng ‘dịch chuyển về vùng bước sóng ánh sáng đỏ’ trong phổ của các thiên hà xa xôi. Ta gọi tắt là dịch chuyển đỏ, sự suy giảm tần số của chúng phụ thuộc vào khoảng cách đến trái đất. Nói một cách chính xác, sự dịch chuyển quang phổ của độ trưng bức xạ các thiên hà ở xa về phía dải quang phổ đỏ đã bị phát hiện từ 15 năm trước bởi một nhà thiên văn người Mỹ tên là V.Slipher. Tuy nhiên, Hubble là người đầu tiên cho rằng, dịch chuyển đỏ là hệ quả của việc các thiên hà chạy ra xa và ông đã đưa ra qui tắc mà sau đó mang tên ông. Theo định luật Hubble, mức độ dịch chuyển đỏ của các vật thể ở xa tỷ lệ với khoảng cách đến người quan sát. Do đó, thiên hà càng xa chúng ta thì chạy xa chúng ta càng nhanh. Mức độ phụ thuộc có thể biểu diễn qua một hằng số gọi là hằng số Hubble. Tại mỗi thời điểm cho trước, hằng số Hubble là đồng nhất cho mọi điểm trong vũ trụ. Tuy nhiên rõ ràng là, vận tốc giãn nở vũ trụ sẽ giảm xuống khi nhiệt độ vũ trụ giảm đi-và hằng số Hubble cũng sẽ giảm.

Như vậy, vụ nổ lớn ban đầu trong mô hình ‘vũ trụ nóng’ đi cùng với bức xạ nguyên thuỷ khổng lồ. Các dấu vết của chúng dù theo bất cứ cách nào hẳn còn tồn tại cho đến ngày nay và sẽ phát hiện được. Người đầu tiên đưa ra giả định về sự tồn tại bức xạ nguyên thuỷ là nhà vật lý Mỹ, người Nga di cư George Gamov, còn người đưa ra khái niệm chính xác ‘bức xạ tàn dư’ lần đầu tiên là nhà khoa học Liên Xô, viện sĩ hàn lâm I.Shklovsky.

Vào năm đầu những năm 1950, kỹ sư T.Shmaonov khi thử nghiệm một mẫu an-ten mới đã phát hiện những tín hiệu lạ từ khoảng không vũ trụ ở bước sóng 3 cm. Ông đã đăng phát hiện của mình trên tạp chí “Thiết bị và Kỹ thuật thử nghiệm”. Nhưng bài báo đó đã không làm các nhà vật lý thiên văn chú ý, một phần bởi tạp chí đó không phải là loại mà họ quan tâm. Tuy nhiên, như sau này bức xạ tàn dư được khẳng định, thì ông là người đầu tiên đã phát hiện ra nó. (Tạp chí Khoa học-Cuộc sống, số 6 năm 2009).

Nghiên cứu về bức xạ tàn dư và các lý thuyết được các nhà khoa học tiến hành song song cùng lúc ở nhiều nơi. Vào đầu những năm 1960 các nhà khoa học Liên Xô A.Doroshkevich và I.Novikov đã tính toán được bức xạ tàn dư phải nằm ở dải tần số nào và làm thế nào để tìm kiếm chúng. Hai ông đồng thời cũng tiên đoán trước các các đặc điểm của chúng. Tuy nhiên giải Nobel 1978 lại được trao cho người khác không có liên quan gì, chỉ tình cờ lặp lại phát hiện nó từ đầu những năm 1950.

Năm 1980 là những cuộc bàn luận về cấu trúc phổ hẹp của bức xạ tàn dư. Những quan sát gần đúng đầu tiên cho thấy chúng là đồng đều và đẳng hướng. Viện sĩ A.D.Saharov đã đưa ra những dự đoán theo dao động lượng tử. Dự đoán đó đã được chứng minh là đúng khi các nhà khoa học của Viện nghiên cứu vũ trụ Liên Xô I.Strukov và M.Sazhin cùng các đồng nghiệp tiến hành các thực nghiệm tiên phong bằng vệ tinh Relic kiểm tra tính không đồng nhất của bức xạ tàn dư. Kết quả thực nghiệm đã được đăng tải trên các tạp chí khoa học, kể cả ở Mỹ. Thực nghiệm như thế cũng đã được các nhà khoa học Mỹ sau đó tiến hành lại một số lần nữa bằng các thiết bị hiện đại hơn và cho ra kết quả tương tự các nhà khoa học Liên Xô trước đó. Dù vậy, giải Nobel năm 2006 lại được trao cho các nhà khoa học Mỹ vì “khám phá phổ bức xạ vật đen trong bức xạ tàn dư và tính không đẳng hướng của bức xạ này". Kể cũng thật bất công nhưng người Nga vẫn thế, họ chẳng thèm kiện cáo khiếu nại gì.

Cho dù vậy thì thực tế lý thuyết vụ nổ lớn đã làm dấy lên quan ngại ở nhiều góc độ. Mặt khác, một trong những người tiên phong đưa ra khái niệm vụ nổ lớn, nhà khoa học đoạt giải Nobel Frederick Hoyle lại không tin tưởng vào lý thuyết này. Lý thuyết vụ nổ lớn làm dấy lên rất nhiều nghịch lý nhưng lại không thể giải quyết chúng.

Những năm 1970, khởi đầu là viện sĩ, nhà khoa học Liên Xô B.Zeldovich và các nhà khoa học Mỹ đã xây dựng mô hình máy tính mô phỏng sự phân tán vật chất trong vũ trụ. Họ phát hiện các thiên hà thường tập hợp với nhau trong các siêu thiên hà và chiếm một khoảng không gian như một cụm có cấu trúc mạng lưới nào đó có bước 100 triệu năm ánh sáng. Bên trong mạng lưới là khoảng không gian tương đối trống rỗng. Khoảng không vũ trụ xuất hiện trong cấu trúc. Quan sát cho thấy, trong phạm vi 1 tỷ năm ánh sáng vật chất phân bố trong không gian là hoàn toàn đồng nhất. Sẽ không phân biệt được là nhìn vào đâu khi mọi nơi trong vũ trụ là giống nhau. Kết quả “phân tán của một vụ nổ”, vật chất sẽ phải phân bố khác biệt một chút.

Uy tín của những người ủng hộ thuyết “vũ trụ dãn nở” Fridman và thuyết vụ nổ lớn đã bị suy yếu một chút. Thật thú vị khi cùng lúc đó, kết quả cấu trúc vũ trụ lại được các nhà khoa học Nga phát hiện khi nghiên cứu các đối tượng sinh vật học: các cụm tảo đơn bào trong bể nuôi hay sự sắp xếp 3 chiều của cây cối, hay cấu trúc tế bào lại tương tự như phân bố các siêu thiên hà trong không gian.

SSX 16-06-2013 00:24

THUYẾT VỤ NỔ LỚN - BIGBANG CHỨA ĐỰNG NHIỀU NGHỊCH LÝ
 
KHÁI QUÁT NHỮNG GÌ KHOA HỌC NGÀY NAY ĐÃ CÓ


Dịch chuyển đỏ thực sự tồn tại. Nó được giải thích bằng hiệu ứng Doppler (bước sóng ánh sáng phát ra từ các đối tượng tiến xa khỏi người quan sát tăng), Hubble đã có kết luận hoàn toàn logic rằng các thiên hà đang phân tán ra xa khỏi nhau. Nhưng có vẻ như thế không phải là tất cả. Một số bị co cụm hấp dẫn lẫn nhau thậm chí va chạm nhau. Và điều quan trọng nhất là hằng số Hubble không giảm, như ông đã chỉ ra, mà lại tăng, điều đó cũng được khẳng định bằng những đo đạc gần đây nhất.

Người ta cũng phát hiện thấy nghịch lý rõ ràng khác trong vũ trụ. Một mặt, quan sát động lực học các ngôi sao trong các thiên hà các nhóm thiên hà cho thấy tự chúng, bằng các tính toán hấp dẫn, không có đủ khối lượng để duy trì trạng thái ổn định mà không cần giả định có bổ xung thêm vật chất (gọi là vật chất tối) tham dự vào tác động hấp dẫn. Mặt khác, những nghiên cứu sâu hơn về sự dịch chuyển đỏ trong phạm vi lân cận 105-107 năm ánh sáng và quan sát ánh chớp các vụ nổ sao siêu mới ở xa cho thấy, tốc độ dãn nở vũ trụ đang trong quá trình gia tăng. Trường hợp này đòi hỏi phải đưa vào thêm yếu tố mới, đó là năng lượng tối thực sự gây ra đặc tính phản hấp dẫn và làm cho vũ trụ ngày càng dãn nở.

Vậy ở đây lại có nghịch lý logic: nếu vũ trụ là vô hạn, thì tại sao nó lại không ngừng giãn nở? Tuy nhiên, người ta cho rằng nghịch lý dạng này không được áp dụng trong vật lý, mà là phạm trù nguỵ biện triết học, bởi vậy nó tiếp tục dãn nở.

Bức xạ tàn dư là chứng cứ mạnh mẽ và là kẻ hậu thuẫn của thuyết vụ nổ lớn. Mọi đối tượng trong vũ trụ đều là nguồn bức xạ. Các nhà vật lý đã có đủ bài học xác đáng để vạch rõ các đặc điểm tính chất các đối tượng trong thế giới tự nhiên. Ví dụ, qua bức xạ vô tuyến từ đất đá mặt trăng và sao Hoả, so sánh với các đặc điểm bức xạ nền tương ứng hé lộ một số đặc điểm. Trong quá trình nghiên cứu như thế, các nhà khoa học đã phát hiện ra một số thành phần cố định của phổ bức xạ không gian mà không có liên quan theo bất cứ cách nào đến các đối tượng nghiên cứu. Do đó, bức xạ tàn dư của vụ nổ lớn sẽ phải mang thông tin về điều kiện vũ trụ tại thời khai sinh của nó. Và do vậy ở đây có những điều hết sức kỳ dị: bức xạ tàn dư đó tương ứng với điều kiện vật chất tại nhiệt độ 2,7 độ K và không phải là “vũ trụ nóng”. Vậy cái gì là “cách hành xử” của vũ trụ ở dải nhiệt độ từ 0 đến 2,7 độ K. Hiện tại không có câu trả lời cho câu hỏi này. Nhưng khi chứng cứ ấy tạo ra một thực tế dù chưa thể có kết luận cuối cùng, thì lập luận như vậy là đủ để xác nhận rằng: Vậy chính xác nhiệt độ của vũ trụ 14 tỉ năm về trước là bao nhiêu? Không phải là 3000 độ C mà là 2,7 độ K.

Và khi đó bức tranh thế giới nhìn sẽ vô cùng khác biệt.

Điểm kỳ dị, không phải là quả trứng vũ trụ ở ngưỡng của vụ nổ lớn, không giống như thuyết Fridman trong chu trình hiện tại, mà là vũ trụ lạnh và đồng nhất vật chất. Tại thời điểm nào đó trong quá khứ đã bắt đầu bị nóng lên (tại sao và như thế nào sẽ có giải thích ở bên dưới), hình thành các thiên hà, các ngôi sao và các hành tinh. Khi đạt đến cực điểm tiến trình nóng lên bị thay thể bởi tiến trình nguội đi mà trong đó kết thúc bằng “cái chết” vũ trụ, và một chu trình mới… lại bắt đầu.

ELECTRON THU KHỐI LƯỢNG

Bất cứ môi trường nào mà nhiệt độ của nó ở trên độ không tuyệt đối, đều có tính hỗn tạp, có khả năng bị kích động để bắt đầu các thay đổi tự phát trong trạng thái môi trường của nó-đó là dao động. Nhiệt độ 2,7 độ K dĩ nhiên không phải là bãi biển nắng ấm Địa Trung Hải, tuy vậy điều kiện ấy hoàn toàn thoả mãn. Khi mà không thể chứng kiến điều kiện ban đầu của vũ trụ, chúng ta chỉ có khả năng kiểm chứng các giả định của chúng ta bằng cách xây dựng một mô hình toán học của nó. Mô hình như thế là mô hình chân không vật lý do nhà vật lý Nga Evgenie Chensky thiết lập. Nó đồng hoá vũ trụ vô hạn với mạng lưới các đối tượng tinh thể trong giới hạn cấu trúc nội 10*E-33 cm.

Tại sao lại có mô tả như vậy?

Cấu trúc nội của mọi vật thể tinh thể trong mạng lưới mà trong đó tại các nút là các nguyên tử. Chúng sắp xếp một cách chính xác ở khoảng cách với nhau, và duy trì chính xác khoảng cách này, các đặc tính vật lý hoá học của vật chất được duy trì không thay đổi. Ở khoảng cách ấy, nguyên tử của vật chất tương tác một cách hiệu dụng với nhau, giữ cho tính chất của chúng là được tạo bởi các tương tác của chúng.

Cũng tương tự như tinh thể, điều kiện ổn định của chân không duy trì tương tác giữa các hạt, chúng hút và đẩy lẫn nhau trên cơ sở duy trì khoảng cách không đổi giữa chúng. Tương tác như thế là có thể nếu phạm vi của mạng lưới chân không “tinh thể” không thấp hơn 10*E-33 cm khi giảm kích thước mạng lưới sẽ gây ra mất ổn định lực hút của hệ thống: nếu các hạt tiến lại gần nhau, lực hút hấp dẫn giữa chúng sẽ trội hơn lực đẩy và các hạt dính vào nhau.

Mô hình như thế là mô hình chân không vật lý đã được Planck nghiên cứu. Trong thực tế, ông đã đưa ra khái niệm độ dài Planck (1,6E-33cm) mà trong phạm vi đó, lực hấp dẫn làm biến dạng mạng lưới. Lorentz đã đưa ra công thức quan hệ nổi tiếng là biến đổi Lorentz dựa trên mô hình cùng một nguồn gốc là mạng lưới không biến đổi, Anhxtanh sau đó đã sử dụng phép biến đổi này.

Vậy cái gì ở nút mạng chân không, chúng ta cũng vẫn còn chưa rõ, bởi vậy trong mô hình toán học chúng ta đưa vào các dao động có điều kiện và từ đó xem xét trạng thái của hệ thống. Nếu các dao động đi trệch khỏi vị trí cân bằng thì năng lượng của hệ thống đã thay đổi. Tương tác giữa các dao động tạo ra phổ kích thích nào đó của chân không mà trong đó gây ra hệ quả là các hạt có thể quan sát thấy được sinh ra.

Vũ trụ là vô hạn, số lượng các nút và các dao động trong mô hình cũng là vô hạn, nhưng ông Chensky đã chứng minh rằng để mô tả cách cư xử của các hạt quan sát được thì chỉ cần 12 phương trình là đủ. Giải hệ thống các phương trình đó cho phép đưa ra một số kết luận không bình thường, kết luận chủ yếu trong số đó là phủ nhận giả thuyết vụ nổ lớn. Tuy hoàn toàn có thể là trong tất cả vũ trụ của chúng ta đã xảy ra một số sai khác nhỏ.

Vậy chúng ta xem xét mô hình mới trong thế giới của chúng ta.

Điểm tham chiếu là vũ trụ tại nhiệt độ 2,7 độ K. Năng lượng của chúng “bị kìm hãm” trong proton, khối lượng và năng lượng tiềm tàng của loại hạt này đạt trạng thái cực đại trong chu trình, khối lượng của electron, hạt phù hợp và bắt buộc tạo cặp với proton là cực tiểu. Không cố ý nhưng bằng thống kê, cái được chờ đợi trong vũ trụ vô hạn là sự thúc đẩy đến trạng thái thay đổi nào đó (dao động) gây ra proton bức xạ năng lượng và đồng thời nhận gia tốc. Quá trình này cũng đồng nghĩa với tiến trình nóng lên của vật chất cho đến nhiệt độ gây ra phản ứng tổng hợp hạt nhân.

Năng lượng (khối lượng) của proton bị “hấp thụ” bởi hạt đối lập với nó là electron. Thực tế là khoa học ngày nay vẫn chưa biết, các loại hạt này như thế nào. Chúng ta đã đo lường các đặc tính của electron như khối lượng, điện tích, spin, nhưng điều đó không cho phép chúng ta có bất cứ cơ sở nào để xem xét nó như là điểm vật chất. Dường như, electron và proton cần được xem xét như là đám mây vật chất, khối lượng và mật độ có thể khác nhau. Đám mây chảy từ hạt này sang hạt khác, làm proton mất khối lượng và electron trở nên nặng hơn.

Đối với các nhà vật lý thiên văn, hiện tượng sao Mộc và sao Thổ có bức xạ mà năng lượng lớn gấp đôi so với chúng nhận được từ mặt trời đã được biết đến từ lâu nhưng không hề được giải thích. Nhưng nếu dùng lý thuyết mới thì trạng thái đó hoàn toàn sáng tỏ. Các hành tinh này chứa chủ yếu là hyđrô và hê-li. Hyđrô là nguyên tố cơ bản, một hệ chứa proton-electron. Hiện tượng phân bố lại khối lượng trong hệ thống này đi kèm với phân bố năng lượng mà mô hình nêu trên đã cho câu trả lời. Dẫn đến một kết luận là vũ trụ của chúng ta cho đến bây giờ vẫn ở trong trạng thái đang nóng lên.

SSX 16-06-2013 00:32

THUYẾT VỤ NỔ LỚN - BIGBANG CHỨA ĐỰNG NHIỀU NGHỊCH LÝ
 
NĂNG LƯỢNG TỐI VÀ VẬT CHẤT TỐI

Viễn cảnh từ quan điểm này đưa đến, nghịch lý hệ số Hubble tăng sẽ biến mất, còn hiện tượng dịch chuyển đỏ thường được giải thích như là bằng chứng của vũ trụ dãn nở sẽ có cách giải thích khác. Dịch chuyển đỏ là một hiệu ứng quang học của tình trạng năng lượng electron và proton phóng đến chúng ta tại thời điểm khảo sát. Điều đó có nghĩa là quan sát các thiên hà ở xa chúng ta, cho rằng cỡ nửa tỷ năm ánh sáng sẽ cho phép chúng ta chứng kiến những gì xảy ra ở nửa tỷ năm về trước thay vì là xảy ra vào lúc này. Chúng ta quan sát sự ngang hàng năng lượng tổng thể của cặp proton-electron ỏ hàng triệu năm về trước. Và như thế hằng số Hubble có một ý nghĩa vật lý mới: nó mô tả không phải vận tốc dãn nở vũ trụ, mà là mức độ thay đổi khối lượng của electron.

Và vậy thì, nếu không có sự dãn nở của vũ trụ, thì không cần tìm kiếm cơ chế dãn nở là giả thuyết về sự tồn tại của năng lượng tối. Vũ trụ không dãn nở, nó chỉ không ổn định (các đặc tính của nó biến đổi theo chu kỳ) và vũ trụ là vô hạn trong không gian và thời gian.

Như nói ở trên, các nhà vật lý thiên văn đặt tên vật chất tối để nói tới khả năng không thể phát hiện được theo quan điểm hiện tại của khoa học trái đất mà khối lượng của nó tạo ra cân bằng hấp dẫn của các thiên hà và siêu thiên hà. Chúng ta biết rằng, tất cả các hạt cơ bản như photon, neutrino, electron, proton (tia vũ trụ) tạo ra trường hấp dẫn để lan truyền năng lượng thay vì là khối lượng 0. Ví dụ như photon không có khối lượng nghỉ nhưng qui luật hấp dẫn vụ trụ đã được tuân thủ một cách hoàn hảo. Neutrino rất khó khăn để ghi nhận một cách định lượng dù là trong các phòng thí nghiệm trên mặt đất, và trong vũ trụ lại càng đặc biệt khó khăn. Dù vậy, thử nghiệm lần đầu tiên thành công trong việc dò tìm neutrino đã tiến hành trong một mỏ vàng ở Nam Phi năm 1965 ở độ sâu 3km dưới mặt đất. Đặc tính cơ bản của hạt neutrino cho biết nó rất khó khăn để dò tìm vì năng lượng của nó rất nhỏ. Tại sao lại không thừa nhận, thực sự có một số lượng lớn neutrino mang năng lượng nhỏ điền đầy không gian vũ trụ mà chúng ta không có điều kiện và thiết bị hiện đại để tìm kiếm. Dường như neutrino cũng tạo thành cơ sở (hay ít nhất là 1 phần) của thứ vật chất không rõ ràng mà chúng ta đặt tên là vật chất tối. Có lẽ, do vậy không cần thiết phải có phương pháp hay phương tiện đặc biệt nào để dò tìm vật chất tối: khối lượng tương quan của các tia vũ trụ cũng chính là vật chất tối.

TỪ TRẠNG THÁI NÓNG LÊN ĐẾN TRẠNG THÁI NGUỘI ĐI

Electron và proton là một cặp hạt mà số lượng của chúng và cũng như của các cặp hạt khác trong tự nhiên là tương đồng, chúng cùng nhau sinh ra từ chân không và cùng nhau mất tích trong chân không. Trạng thái nóng lên của vũ trụ sẽ diễn ra cho đến khi khối lượng của electron và proton vẫn chưa cân bằng. Tại trạng thái không cân bằng đó-trạng thái thoái hoá-không có sự sụp đổ vũ trụ xảy ra, chỉ đơn giản là nhiệt vũ trụ đã bắt đầu tăng lên và sẽ đạt tới điểm cực đại. Dường như, dân chúng sẽ chú ý đến các hiện tượng tự nhiên chắc chắn sẽ làm thay đổi cuộc sống của họ trong vũ trụ, ví dụ, sự bức xạ của các sao plasma, sự thay đổi đặc điểm độ sáng của các thiên hà và một số hiện tượng khác nữa-giờ đây chúng ta chỉ có thể phỏng đoán.

Và sau đó, quá trình vũ trụ lạnh đi sẽ bắt đầu. Khối lượng của electron và proton sẽ khác nhau ngược với quá trình đã xảy ra 15 tỉ năm (và có thể hơn) trong vũ trụ. Quá trình có tính chu kỳ như thế là vô hạn trong không gian và thời gian vũ trụ cũng như vũ trụ là vô hạn. Thật không may, câu hỏi được coi trọng “Vũ trụ đồng nhất đã bắt đầu như thế nào?” để vẽ ra tiến trình các sự kiện đang xảy ra ở hiện tại đơn giản là chẳng có nghĩa lý gì cả. Quá trình tiến hoá chỉ mang lại một thứ có giá trị, đó là cuộc sống bất diệt trong không gian không giới hạn và thời gian vô tận của vũ trụ.

Vấn đề cuối cùng. Cho rằng vũ trụ của chúng ta, chỉ là một tập vô hạn, định hình cái gọi là miếng bọt xốp tồn tại mà bây giờ đang lộ ra. khoảng không gian chúng ta quan sát được là cái “bong bóng” bản địa của chúng ta mà trong đó chúng ta tồn tại. Và sẽ có vô số bong bóng như thế, cũng như là có vô số vật lý học thiên thể và những kỳ dị. Không biết sao vào những năm 60 của thế kỷ trước Lev Landau đã nói: “Sức mạnh của khoa học hiện đại là ở chỗ, bây giờ chúng ta có thể hiểu biết ngay cả những cái mà chúng ta không thể tự mô tả chúng.”

Dù thế nào thì cả những fan của lý thuyết vụ nổ lớn, và cả những người phản đối, đưa ra kết luận cuối cùng vào lúc này là vội vàng. Cần phải có các nghiên cứu sâu hơn.

***

Hằng số Hubble có mối liên hệ đến khoảng cách vật thể nằm ngoài hệ Ngân Hà của chúng ta, với vận tốc ánh sáng. 80 năm trước Hubble đã xác định độ lớn của nó là 500 km/s trên khoảng cách 1 triệu năm ánh sáng. Tính toán cuối cùng đã thay đổi về căn bản, cũng như độ chính xác đo đạc đã tăng lên. Ngày nay, các nhà vật lý thiên văn tính toán hằng số này là 72 km/s ở khoảng 1 triệu năm ánh sáng. Như vậy, các đối tượng ở xa Ngân Hà của chúng ta 1 triệu năm ánh sáng dịch chuyển ra xa với vận tốc 72km/s.

***

Bài viết tham khảo từ nguồn: Science and Life và được đăng ở, trang này đã không còn truy cập được;
http://www.inauka.ru/analysis/article96270.html

SSX 16-06-2013 01:17

Sai lầm ngớ ngẩn nhất của Anhxtanh - Câu chuyện bí ẩn của vũ trụ
 
Bài nói chuyện của giáo sư Úc, Lawrence Krauss;



Khi Anhxtanh giới thiệu thuyết tương đối tổng quát, hệ phương trình đưa đến phỏng đoán rằng vũ trụ phải hoặc là co lại suy sụp hoặc là dãn nở. Có vẻ như khác thường, Anhxtanh đưa thêm vào số hạng phụ để giữ cho vũ trụ ổn định tĩnh tại. Số hạng đó tương đương với năng lượng "hư vô", Hư vô chứa đầy các hạt thực sinh và huỷ.

Năm 1929, Edwin Hubble chứng tỏ vũ trụ đang giãn nở vì thế các thiên hà ở mọi hướng đang chạy ra xa khỏi chúng ta với tốc độ phụ thuộc vào khoảng cách. Ông đưa ra một hệ số tỷ lệ gọi là hằng số Hubble. Đó là một tri thức to lớn cho dù giá trị của ông chỉ là ước đoán và sai khác 10 lần.

Theo thuyết tương đối rộng, không-thời gian có thể có 3 dạng hình học: cong mở, cong kín hay phẳng. Chúng ta có thể phân biệt 3 dạng bằng cách "đo lường khối lượng" vũ trụ. Có thể làm điều đó bằng thấu kính hấp dẫn, một hiệu ứng tiên đoán nhờ Anhxtanh. Tất nhiên là Anhxtanh, nhưng nhớ rằng Newton mới là người đầu tiên tính toán độ cong (hội tụ) ánh sáng do hấp dẫn trước cả Anhxtanh. Người ta phát hiện, vật chất tập trung 50 lần lớn hơn giữa các thiên hà so với bên trong chúng. Họ gọi đó là vật chất tối.

Hệ quả của khối lượng gây ra là ở chỗ, mật độ của vũ trụ là Ωm= 0.30 ± .1 ở đây Ωm cần phải = 1 để vũ trụ phẳng.

Các lý thuyết gia tin tưởng nếu vũ trụ phẳng thì phần năng lượng thêm vào sẽ ở đâu? Đã có câu trả lời vào năm 1998, khi 2 đội thiên văn độc lập phát hiện ra rằng vũ trụ không chỉ dãn nở mà nó còn dãn nở với tốc độ tăng dần hay có gia tốc. Họ đã quan sát vụ nổ các ngôi sao ở xa, sao siêu tân tinh dạng Ia, như là "các cây nến chuẩn". Họ thấy năng lượng cần để gia tốc là ΩΛ= 0.7 cho nên Ωm + ΩΛ = 0,3 + 0,7 = 1 nghĩa là vũ trụ phẳng và như thế giờ đây các lý luận gia rất sung sướng.

Gia tốc đáng lẽ là do hằng số Λ được Anhxtanh giới thiệu, và sau đó bị bỏ đi để vũ trụ tĩnh tại như một sự ngớ ngẩn vĩ đại của ông ta. Tuy thế thật khó hiểu, khi các nhà vật lý hạt cố gắng để tính toán giá trị của cái năng lượng "hư vô" này, hoá ra là lại 120 lần lớn hơn giá trị đo được.

Trong quá khứ xa xôi của vũ trụ mật độ năng lượng của vật chất là lớn hơn nhiều so với thời kỳ gia tốc trong khi trong tương lai xa mật độ năng lượng do tăng tốc sẽ lớn hơn nhiều so với vật chất thông thường. Chúng ta đang sống ở một thời kỳ đặc biệt khi cả hai gần như là cân bằng.

Điều này đưa đến một dạng thức của nguyên tắc vị nhân mà như một nhà thiên văn tôi thích nó, "Vũ trụ ở đây vì nhà thiên văn học đang ở đây để quan sát nó."

Theo Lawrence Krauss, ý tưởng rằng có thể có nhiều vũ trụ, mà mỗi cái có các giá trị hằng số vật lý khác nhau xuất hiện trong các nhà vật lý lý thuyết dây. Các nhà khoa học làm việc trên mô hình toán học phức tạp dựa trên ý tưởng rằng các hạt tất cả là dao động của một sợi dây nhỏ một chiều. Nếu có nhiều vũ trụ họ không còn cần phải đưa ra dự đoán với lý thuyết và có thể nói về nó "cảnh quan của hư vô".

Vũ trụ chúng ta sẽ kết thúc như thế nào? Một vũ trụ phẳng sẽ tiếp tục mở rộng mãi mãi. Cuối cùng, tất cả các thiên hà khác sẽ vượt qua tầm nhìn của chúng ta và tất cả chúng ta sẽ chỉ thấy thiên hà của mình. Sẽ không có nhu cầu về nhà thiên văn học ngoài thiên hà khi đó!

SSX 16-06-2013 02:10

VŨ TRỤ CHẲNG CẦN PHẢI KHỞI ĐẦU
 
Hồi ở 4rum Pravda.ru có rất nhiều anh tài. Có tên người Serbia và 1 nick tên là Babu tạo ra cái topic "NASA - The hoax of the century" vô cùng nhiều dữ liệu, phân tích tỷ mỷ, đọc thỏa thích. Mình cũng sủa góp được ít bài.

Sau 4rum bị đóng cửa mất, tiếc quá chẳng lưu giữ được gì. Nó liên tục bị tấn công, ngay cả khi không có gì thì google cũng vẫn cảnh báo virus đỏ lòm khiến ngươi ta chẳng dám truy cập. Sau nữa Babu đăng một số bài trên pravda.ru trong mục Science » Planet Earth - "Science and Religion", mình giữ được 1 số bài của Babu ở đó. Sau nữa có trang http://www.religionscience.com/ và blog Babu ở http://bgrnathan.blogspot.com


Bài của Babu đăng trên 4rum pravda.ru tên là "VŨ TRỤ CHẲNG CẦN PHẢI KHỞI ĐẦU", về sau ông post bài trên trên trang chính pravda.ru và blog lấy tên là "God Didn't Need A Beginning" và cũng đã sửa khác bài cũ.

Chúng ta thắc mắc từ năm lên 2 tuổi. Tại sao vũ trụ có một khởi đầu nhưng Thượng đế thì không? Nếu Thượng đế đã không phải khởi đầu thì tại sao vũ trụ lại phải khởi đầu. Có thể hay là không, vũ trụ chỉ đơn giản là luôn luôn tồn tại? Cái gì là ý muốn của Thượng đế?

Còn khi chúng ta trưởng thành, ngắm nhìn các cô ả õng ẹo trên sàn diễn thời trang. Hôm qua các cô mặc áo đỏ, hôm nay mặc quần xanh, còn ngày mai có thể là mốt... chẳng mặc gì cả.

Thế giới thiên văn và khoa học cũng vậy. Trái đất là trung tâm vũ trụ rồi không phải. Mặt trời là trung tâm vũ trụ rồi vũ trụ không có tâm. Vũ trụ hữu hạn rồi vô hạn, rồi hữu hạn nhưng lại vô biên. 3 chiều, 4 chiều, n chiều rồi lý thuyết dây nhợ lằng nhằng, siêu hình học rồi vô hình học, rồi thuyết thống nhất. Bigbang rồi không bigbang, lỗ đen rồi chẳng lỗ đen. Vũ trụ tĩnh rồi lại động, giãn rồi lại co. Thậm chí đa vũ trụ rồi đa vũ trụ lồng vào nhau khiến cho loài người chúng ta đang sống cùng Alien nhưng ở chiều khác. Một thời rồ dại với siêu hình Anhxtanh rồi người ta thấy tương đối giả mạo, thủng lỗ chỗ. Suy cho cùng đó cũng là sàn diễn thời trang-thiên văn học.

Câu trả lời vũ trụ có khởi đầu hay không được tìm thấy trong sự hiểu biết tại sao vũ trụ phải có một khởi đầu. Fan Anxtanh tuyên bố vũ trụ của họ là một hệ thống khép kín. Điều đó có nghĩa là năng lượng của nó là hữu hạn. Mặc dù năng lượng không thể được sinh ra hay hủy đi (bởi bất kỳ quá trình tự nhiên nào), qua thời gian năng lượng hữu ích trong vũ trụ càng trở nên kém hữu ích và đến chỗ vô dụng. Điều này được biết đến trong khoa học là Định Luật nhiệt động thứ 2. Nếu vũ trụ là vĩnh viễn thì toàn bộ năng lượng đã có thể trở nên hoàn toàn vô ích và giờ đây chúng ta không thể ngồi viết bài cũng như chẳng còn ai có thể đọc! Đó là fan Anhxtanh cố tình lờ đi cái định luật nhiệt động 2 vô cùng "vĩ đại" chẳng thua kém Anhxtanh tẹo nào.

Không phải là định luật nhiệt động thứ 2 chỉ đơn thuần là một biểu thức xác xuất đấy chứ? Có, nhưng xác suất là rất cao và nhất định là sự chênh lệch dù chỉ 1 calori năng lượng tự cũng không thể vượt qua định luật 2 với xác xuất hàng tỉ của hàng tỉ lần gần đến 1, và vũ trụ thì tạo thành bởi hơn quá nhiều là năng lượng 1 calori! Bất cứ mô hình vũ trụ hữu hạn nào cũng sẽ bị xử chết bởi định luật nhiệt động 2. Và kẻ đưa ra mô hình vũ trụ kín, hữu hạn và tĩnh tại, đã bị định luật nhiệt động 2 xử tử trên ghế điện. Vậy mà các thần dân trong ngồi đền ma quái Anhxtanh vẫn tôn sùng cái thây ma chết đã lâu lắm rồi.

Chúng ta biết từ định luật nhiệt động 1, năng lượng/vật chất không thể nào sinh ra từ chân không trong bất cứ quá trình tự nhiên nào. Trong khi định luật 2 dạy chúng ta rằng vũ trụ không có khả năng duy trì chính nó vĩnh cửu. Định luật 1 cũng có nghĩa là vũ trụ cũng không thể tự nó sinh ra và tồn tại từ không có gì. Chỉ có một logic là quyền lực siêu nhiên đã khai sinh ra vũ trụ. Hơn nữa, sự phức tạp và trật tự trong vũ trụ nói một cách có lý là ý muốn của đấng siêu nhiên. Sự hỗn loạn vũ trụ là bởi may rủi nhưng mức độ trật tự cao chỉ có thể được giải thích hợp lý là bởi ý muốn và trí thông tuệ của ngài.

Các qui luật tự nhiên có thể giải thích trật tự vũ trụ được sắp đặt như thế nào, nhưng chỉ có các qui luật định trước là không đủ để giải thích nguồn gốc của trật tự đó. Ngay cả trong cuộc sống, khi một tế bào sống hình thành và tồn tại thì các đoạn gene mã hoá và cơ chế tồn tại để chỉ dẫn sao chép hình thành tế bào mới như thế nào có vẻ chúng ta đã biết. Nhưng vấn đề là sự sống đi đến đâu khi không có các đoạn gene và cơ chế nhân đôi gene trong tự nhiên.

Và những ngôi sao thì sao? Ồ vâng, hấp dẫn có thể giải thích một cách chính xác tiến trình hàng tỷ ngôi sao tồn tại như thế nào, nhưng hấp dẫn không thể giải thích nguồn gốc của cái trật tự ấy!

Thế còn chọn lọc tự nhiên? Chọn lọc tự nhiên là một quá trình thụ động trong tự nhiên và đảm bảo rằng chỉ những sinh vật sống phù hợp tồn tại. Lựa chọn tự nhiên, không tạo ra bất cứ cái gì. Nó chỉ có thể "chọn" từ những cái gì đã có sẵn. Chọn lọc tự nhiên, không phải là quá trình chuyển đổi năng lượng mà là cỗ máy định hướng, và chọn lọc tự nhiên chỉ có tác dụng một khi đã có sự sống và sinh sản mà trước đó không có.

Thế giới tự nhiên của Thượng đế không đòi hỏi rằng ngài phải có một sự khởi đầu. Thượng đế tự tồn tại còn vũ trụ thì không. Và bởi vì vũ trụ rốt cục không thể tự tồn tại, thì đòi hỏi phải có ai đó tạo ra nó (một sự khởi đầu) cũng như một đấng tối cao để thiết kế ra nó. Nói cách khác, vũ trụ cần một đấng thượng đế tối cao.

Cuối cùng, tuy nhiên, các nhà khoa học thừa nhận rằng định luật nhiệt động thứ 2 sẽ chế ngự toàn bộ vũ trụ và vũ trụ tự nó, sẽ đi đến chỗ kết thúc như cái mà các nhà khoa học dự đoán là một cái chết nhiệt bởi tất cả năng lượng của vũ trụ sẽ đạt đến một trạng thái cân bằng mà ở trạng thái đó sẽ không còn gì có thể hoạt động được. Ngay cả vũ trụ dãn nở hay co lại cũng sẽ không còn nữa trong trạng thái ấy. Điều này chứng tỏ, như đã đề cập trước đó, rằng vũ trụ không phải là vĩnh viễn, hay nói cách khác, nó đã đạt đến trạng thái cân bằng nhiệt động từ lâu trước kia và phân huỷ.

Tất cả điều này chỉ đơn giản là củng cố cho niềm tin rằng có một quyền lực thông minh, siêu nhiên đứng bên ngoài thế giới tự nhiên và vũ trụ chịu trách nhiệm về nguồn gốc và trật tự của vũ trụ.

Khoa học có lẽ đã không thể chứng minh rằng chúng ta sinh ra là nhờ tạo hoá hay bằng một quá trình biến đổi, nhưng các nhà giáo dục và học sinh phải được tự do để nghiên cứu và hình thành tâm trí họ những quan điểm hiện thực được củng cố bởi nhiều bằng chứng khoa học nhất.

Niềm tin giả tạo mang danh khoa học hay khoa học thời trang trình diễn không phải là căn bản và cũng không tạo ra cơ sở cần thiết cho học tập và nghiên cứu khoa học thực sự. Ai có thể hiểu được cơ thể con người và trở thành bác sĩ phẫu thuật hạng nhất bất kể người đó tin rằng cơ thể con người ta là kết quả của sức mạnh biến đổi tự nhiên hay của một đấng tối cao. Ai có thể hiểu biết về vũ trụ và trở thành nhà vật lý thiên văn vĩ đại nếu cứ giữ niềm tin vào những lý thuyết không hoàn thiện hay đã bị rách nát tơi tả.

SSX 16-06-2013 02:43

Biên niên giám sai lầm - thất bại Einstein
 
TG: Hans C. Ohanian “Einstein's mistakes the human failings of genius”

http://img-fotki.yandex.ru/get/9060/...c8666957_L.jpg

1. 1905 Sai lầm trong phép đồng bộ hoá thời gian mà thuyết tương đối hẹp dựa trên đó, tạo ra nghịch lý đồng hồ, twin (triple) clock, twin paradox

2. 1905 Thất bại trong việc xem xét thử nghiệm Michelson-Morley

3. 1905 Thất bại trong việc chuyển đổi khối lượng hạt có tốc độ cao

4. 1905 Thất bại kép trong việc sử dụng toán học và vật lý học tính toán độ nhớt chất lỏng mà từ đó Anhxtanh suy luận ra kích thước phân tử

5. 1905 Thất bại trong việc tìm các mối liên hệ giữa bức xạ nhiệt và lượng tử ánh sáng

6. 1905 Thất bại lần 1 chứng minh E = mc2

7. 1906 Thất bại lần 2, 3, 4 chứng minh E = mc2


8. 1907 Thất bại trong việc đồng bộ hoá đồng hồ có gia tốc

9. 1907 Thất bại trong nguyên lý cân bằng hấp dẫn và gia tốc

10. 1911 Thất bại trong việc tính toán lần 1 sự bẻ cong ánh sáng bởi hấp dẫn

11. 1913 Thất bại trong nỗ lực giới thiệu thuyết tương đối tổng quát

12. 1914 Thất bại lần thứ 5 chứng minh E = mc2

13. 1915 Thất bại trong thử nghiệm Einstein-de Haas (còn gọi là hiệu ứng Richardson)

14. 1915 Thất bại trong việc vài lần giới thiệu thuyết tương đối

15. 1916 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý Mach

16. 1917 Thất bại trong việc giới thiệu hằng số vũ trụ học (“biggest blunder” nói ở bài #19)

17. 1919 Thất bại trong 2 nỗ lực thay đổi/sửa chữa thuyết tương đối rộng

18. 1925 Thất bại và càng sai lầm trong nỗ lực đề ra thuyết thống nhất (unified theory)

19. 1927 Thất bại trong việc bàn cãi với Bohr về tính mất/không ổn định lượng tử

20. 1933 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý cơ học lượng tử (chúa chơi trò may rủi?)

21. 1934 Thất bại lần thứ 6 chứng minh E = mc2

22. 1939 Thất bại trong việc giải thích kỳ dị Schwarzschild và sự sụp đổ hấp dẫn (lỗ đen)

23. 1946 Thất bại lần thứ 7 chứng minh E = mc2

Cuối cùng, E=mc2 vì tôi nói thế!

SSX 16-06-2013 02:44

Biên niên sử cuộc đời trộm cắp Anhxtanh
 
TG: Marcus Coleman

1700: Newton tiên đoán ánh sáng bị mặt trời bẻ cong, Anhxtanh đã mượn một số thứ trong dự đoán năm 1911 mà quên không trích dẫn Newton. Một dạng cầm nhầm còn hơn bỏ xót, khá thịnh hành ở các xứ cạc cạc và swine.

1801: Johann Soldner, nhà thiên văn người Đức công bố các dự đoán và tính toán của ông về việc ánh sáng bị bẻ cong bởi hấp dẫn khi đi gần các thiên thể lớn. 114 năm sau, Anhxtanh thuổng phát biểu của ông viết thành phát kiến vĩ đại của ông ta, công bố năm 1915. Cũng quên không đề tên Johann Soldner.

1827: 78 năm trước khi Anhxtanh được vinh danh nhờ “giời ơi đất hỡi” chuyển động Brown trong chất lỏng. Robert Brown người Scotland đã giải thích thế nào là chuyển động Brown.

1878: James Maxwell ở Scotland công bố thuyết tương đối đặc biệt (còn gọi là thuyết tương đối hẹp/chật) trên Encyclopedia Britannica và Anhxtanh thuổng năm 1905 và viết như đúng rồi của ông ta mà không hề nhắc đến Maxwell.

1879: Ngày 14-3, có một ngôi sao Hô-li-út sáng loè trên bầu trời rồi sà xuống máng cỏ. Anhxtanh ra đời tại Württemberg Đức.

1887: Michelson-Morley, các nhà vật lý thực nghiệm đưa ra giả thiết rằng không hề có ether, Anhxtanh lại ăn cắp ý kiến này viết tên mình vào như người phát kiến đầu tiên và giấu tiệt tên 2 ông Michelson-Morley đi.

1988: Heinrich Hertz xuất bản bài viết về hiệu ứng quang điện. Sau đó nhiều năm bị Anhxtanh ăn cắp và thật hài hước, giải Nobel quang điện được trao cho tên ăn cắp.

1889: George Fitzgerald viết bài từ Ireland công bố ý tưởng thuyết tương đối. Sau này, tự nhiên tất cả những gì tương đối là của Anhxtanh tất.

1890: Ludwig Boltzmann người Áo và Josiah Gibbs Mỹ phát triển hằng số Boltzmann.

1892: Hendrik Lorentz công bố phép biến đổi Lorentz.

1895: Tuổi 16, Anhxtanh thi trượt vào trường kỹ thuật ở Zurich.

1896: Tuổi 17, Anhxtanh rời trung học, vào trường Polytechnic ở Zurich.

1898: Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức(tương tự Science of Mechanics),tờ này Anhxtanh đã đọc và học. 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn trộm phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

1898: Poincare-Pháp viết về thuyết tương đối và không hề dính dáng gì đến Anhxtanh. Anhxtanh sau đó cóp nhặt thành của ông ta và công bố lại năm 1905 và lờ Poincare đi.

1900: Max Planck và Wilhelm Wien Đức phát triển thuyết lượng tử. Anhxtanh ăn cắp viết lại thành “lượng tử ánh sáng” năm 1905 chẳng hề đề cập đến Planck hay Wien.

1901: Tuổi 22, sau 5 năm ở trường Polytechnic, Anhxtanh tốt nghiệp với điểm số thấp nhất lớp, trở thành công dân Thuỵ sĩ và làm thủ thư tại văn phòng đăng ký phát minh sáng chế Bern.

1902: Anhxtanh loạn luân với cháu gái 13 tuổi và sinh con Lieserl. Người con này bị mắc chứng down.

1903: Olinto de Pretto nước Ý công bố phương trình E=mc^2 trên tờ Atte,một tạp chí khoa học mà Anhxtanh đọc. 1904, tạp chí Royal Science Institute of Veneto đăng lại bài của de Pretto. Sau đó Anhxtanh tuyên bố phương trình là của ông ta. Không hề đề cập đến Pretto cũng chẳng biết chứng minh phương trình “của mình” thế nào.

1904: Anhxtanh sinh con Hans Albert, người chủ yếu được cho là giữ tiền quyên góp cho tạp chí Mechanics Reviews trong 20 năm.

1904: Friedrich Hasenohrl-Đức, cùng nêu tên J.J. Thomson-Anh và W. Kaufmann-Thuỵ điển, công bố phương trình E=mc^2 trên cùng một tạp chí mà sau đó Anhxtanh cũng viết E=mc^2 vào năm sau như là của ông ta năm 1905, và không hề đề cập đến bất cứ ai trong 3 người đã công bố phương trình năm 1904.

1905: Philipp Eduard Anton von Lenard, người dạy vợ Anhxtanh nhận giải Nobel về khám phá hiệu ứng quang điện. Anhxtanh thuổng nguyên công trình của von Lenard công bố cùng năm. Tất nhiên kẻ cắp chẳng hề nhắc đến tên Lenard.

1905: Tuổi 26 và vẫn làm ở văn phòng cấp bằng phát minh sáng chế. Anhxtanh công bố nghiên cứu về lý thuyết vật lý,cơ chế lượng tử trên tờ Annalen der Physik. Tất cả là sao chép-ăn cắp-cóp nhặt. Được phong là đốc tờ vật lý của trường ĐH Zurich. Bắt đầu lộ rõ là người của tổ chức Zionist rất chi là yêu hoà bình. Trong các thư từ trao đổi với các giới có đề tên vợ đứng đầu làm người ta nghi ngờ vợ đã làm toán cho ông ta.

1907: J. Precht nói Anhxtanh lố bịch bóp méo logic “có lẽ sẽ chứng minh khả năng thử nghiệm thuyết này bằng cách sử dụng cơ thể mà năng lượng của nó chứa ở dạng biến đổi mức độ cao (như muối của radium), thử nghiệm như thế “nằm ở phía bên kia của lĩnh vực có khả năng thử nghiệm.”

1909: Tuổi 30, 4 năm sau khi nhận học vị đốc tờ, bậc kỳ tài này vẫn làm thủ thư ở văn phòng cấp bằng sáng chế. Thế giới DT đang thu xếp để đôn lên hàng giáo sư ĐH Zurich.

1910: Đẻ đứa con tâm thần thứ 2, đứa con này chết ở viện điều dưỡng năm 1965.

1915: Ngày 20-11, David Hilbert trình bày tài liệu ở Berlincùng Marcel
Grossmann, phương trình chính xác như những gì Anhxtanh ăn cắp và công bố 5 ngày sau đó. 2 tuần sau người ta biết Anhxtanh đã copy phương trình của Hilbert chứ Hilbert không hề copy “của Anhxtanh” như media tung tin đồn. Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp năm 1972.

1915: Ngày 25-11, Anhxtanh công bố thuyết tương đối tổng quát dựa trên toán học của Marcel Grossmann và Berhard Riemann, đầu tiên như là dựa trên hình học phi Euclide, đó là cơ sở của toàn bộ toán học dùng để mô tả thuyết tương đối.

1919: Ngày 7-11, bắt đầu chiến dịch đánh lạc hướng của dân Zionist DT ở tờ London Times, bơm thổi tâng bốc Anhxtanh thành bậc “thiên tài”.

1921: Lần đầu đến Mỹ theo sự bảo trợ của Zionist.

1922: Nhận giải Nobel Prize về hiệu ứng quang điện.

1932: Ngày 9-12, Anhxtanh bị từ chối cấp thị thực vào Mỹ vì “liên hệ với CS”.

1955: Ngày 18-4, gã dơ dáy DT chết.

1972: Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp.

1993: Peter Beckman viết rằng thuyết tương đối hẹp sẽ bị trảm.

1995: Hệ thống định vị toàn cầu “làm việc tốt” khi bỏ qua “thuyết” Anhxtanh.

1998: Ngày 21-12, Tom Van Flandern công bố trên “Lá thư Vật lý” vận tốc lan truyền sóng hấp dẫn (nếu có) phải lớn hơn sóng ánh sáng 20 tỷ lần, điều đó bác bỏ thuyết Anhxtanh.

1999: Time Magazine đặt tên ăp cắp Anhxtanh lên trang bìa với dòng tít “nhân vật của thế kỷ”. Anhxtanh không phải người Mỹ và người Mỹ cũng chả xem Anhxtanh là 1 trong 100 nhân vật kiệt suất của TK20.

2000: Anedio Ranfagni chứng minh "thuyết Anhxtanh" về vận tốc ánh sáng không thay đổi SAI!

SSX 16-06-2013 03:00

Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng trong vũ trụ!
 
tham khảo Poor Magazine; Science New; Naeye, Robert-Astronomy "Was Einstein Wrong?";

Từ ngày nọ đến giờ, các fan Anhxtanh thường vênh mặt lên phán rằng: Tiên đoán Anhxtanh về cực cận sao Thuỷ theo thuyết tương đối là minh chứng hùng hồn về sự "đúng dồi" của thuyết tương đối. Vạn tuế vạn vạn tuế!!! Chỉ có thuyết siêu phàm như tương đối mới có thể tính chính xác quĩ đạo sao Thuỷ như vậy. Vạn tuế vạn vạn tuế!!!

Năm 1989, Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức (tương tự Science of Mechanics). 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn cắp phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

Bây giờ chúng ta bỏ chút thì giờ xem cái sự "Đúng dồi" này thế nào và cách các fan Anhxtanh hô Vạn Tuế! thế nào.

Có thể khẳng định, phương trình quĩ đạo sao Thuỷ không dính dáng gì đến "Tương đối Anhxxtanh". Điều này không phải chứng minh, những ai học sâu về toán cao cấp phần phương trình dao dộng đều có thể hiểu, nếu đủ dữ liệu đầu vào họ có thể tính toán quĩ đạo vệ tinh hay sao Thuỷ như thế nào. Tính luôn phương trình quĩ đạo chứ không tính cực cận cực viễn gì cả. Tất nhiên, để đạt độ chính xác, cần tính đến ảnh hưởng của các thiên thể khác, đến khí quyển, thậm chí là lực đẩy photon... Còn Anhxtanh và các fan nổ tung giời rằng: thuyết tương đối giải quyết những vấn đề mà cơ học cổ điển vô dụng.

Ai có hứng thú với phương trình quĩ đạo, có thể tham khảo cách tính cho quĩ đạo sao kép DI Herculis ở đây: Anhxxtanh bị báo ứng: http://www.wbabin.net/physics/nahhas.pdf

Trước tiên là sao Thuỷ có quĩ đạo phức, có điểm cực cận, qua quan sát, người ta biết điều này cuối thế kỷ XIX. Trong đó có độ lệch tâm sao Thuỷ và quĩ đạo giao điểm của sao Kim (có liên quan đến mặt phẳng quĩ đạo trái đất).

Tương đối vô dụng. Tương đối không thể nào giải thích nổi thậm chí là thuật ngữ toán học sự méo và lệch tâm quĩ đạo của sao Thuỷ và giao điểm sao Kim. Các thông số được tính bằng giây cung/một thế kỷ như bảng dưới.

Đương nhiên tương đối vô dụng cũng không thể nào chỉ ra sự xáo trộn quĩ đạo của các hành tinh khác. Cũng đương nhiên fan Anhxtanh tuyên rằng thuyết tương đối có qui mô vũ trụ. Đương nhiên tính toán theo tương đối của Anhxtanh với sao Thuỷ là gần đúng nhất. Gần đúng bởi phương trình ăn cắp của Paul Gerber năm 1989.

Lý thuyết của Gerber có thể đúng hay không thật chính xác nhưng 2 phương trình là 1. Chúng ta có thể thấy ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Gerber

http://i456.photobucket.com/albums/q...E08/Gerber.jpg

Phương trình toàn tài qui mô vũ trụ Anhxtanh khi áp dụng sang các hành tinh khác, dĩ nhiên là thiếu Gerber nên.... Sai bét nhè. Lấy trường hợp sao Kim, tương đối Anhxtanh tính ra độ xoay quĩ đạo là +8,6"/thế kỷ với qũi đạo tiến, trong khi đó máy tính tính là -7,3" với quĩ đạo lùi. Thiên tài Toàn tài Qui mô vũ trụ là như vậy đấy. Trường hợp khác là sao kép DI Hercules sẽ đề cập sau. Và thế là các fan Anhxtanh lấy 1 trường hợp đúng trong vô số cái sai bét nhè để tung hô Vạn Tuế! Vạn Vạn Tuế!

Anhxtanh công bố 43" và tuyên nó không khác phần nhỏ nào so với quan sát của Leverrier (38") và Newcombe các năm 1859 và 1882. Newcombe tính lại năm 1895 là 41,6". Dù thế nào thì tính theo tương đối Anhxtanh cũng có sai lệch so với quan sát. Đó là chưa có ai, trình bày 1 cách tường tận, làm thế nào từ phương trình tương đối, suy ra phương trình cực cận sao thủy Gerber.

Poor: Chuyển động có cực cận khác không chỉ là nguỵ biện duy nhất thấy ở lý thuyết tương đối Anhxtanh...

http://i456.photobucket.com/albums/q...08/Mercury.jpg

Ảnh động mô phỏng một hành tinh có quĩ đạo dịch chuyển kiểu sao Thuỷ.
http://i456.photobucket.com/albums/q...eAnimation.gif

Anhxtanh bị bắt quả tang ăn cắp. Ông ta đã thú nhận hành vi ăn cắp. Nhưng sau đó bào chữa: tôi sử dụng chúng theo một cách khác, mang ý nghĩa khác hẳn và mới mẻ!

Điều này cũng tương tự tên trộm ăn cắp 1 con gà, khi bị bắt thì hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và mới mẻ!

DI Herculis là sao kép cách trái đất 2000 năm ánh sáng, 2 ngôi sao khá gần nhau, có quĩ đạo xoay quanh tâm chung với chu kỳ 10,55 ngày.

Vấn đề hóc búa là 2 ngôi sao quay quanh nhau và trục quĩ đạo của chúng xoay chậm. Tương đối Anhxtanh tính ra chúng xoay 4,27 độ/thế kỷ. Nhưng thực ra chỉ có 1,05 độ/thế kỷ. Như thế là ít nhất 3 lần lớn hơn quan sát được.

Guinan và Maloney tính toán theo Newton là 1,93 độ/thế kỷ, còn chính xác hơn cả Anhxtanh.

Các tính toán này đã được đăng trên tạp chí Thiên văn. Các nhà thiên văn rất lo lắng.

Edward F. Guinan và Frank P. Maloney: Vũ trụ bây giờ lộ ra, "rõ ràng là ngược với thuyết tương đối rộng".

D. Popper tại UCLA: Quan sát là rất rõ ràng, Tôi không nghĩ có bất kỳ câu hỏi nào là trái ngược ở đây, và nói một cách ngay thẳng, đó là điều quan trọng và chưa được giải quyết.

Còn thách đố hơn nữa với thuyết tương đối khi phát hiện ra, quĩ đạo e-líp sao thứ 2, AC Camelopardalis, cũng chẳng đúng mà lại vi phạm nghiêm trọng thuyết tương đối theo cùng một cách. Cho dù là 2 sao gần nhau, hấp dẫn mạnh không-thời gian siêu cong, siêu vặn xoắn bóp méo, thì tương đối rộng càng hỏng nặng.

Thật mỉa mai, điều này tương tự như một số quan sát thiên văn đã được Anhxtanh lấy làm cột trụ để xây nên ngôi đền ma quái tương đối đầu thế kỷ XX. Quĩ đạo sao Thuỷ tính bị xoay nhanh hơn một chút theo tính toán hấp dẫn Newton. Anhxtanh nhờ "nhặt được" phương trình, tuyên bố tương đối chính xác hoá nó, nó là bằng chứng chứng minh tương đối vô cùng vĩ đại. Đó là sau khi đã có đầy đủ dữ liệu quan sát chứ không như Gerber, đưa ra tính toán từ khi chưa có gì nhiều.

Còn bây giờ người ta, cần đi tìm một lý thuyết mới, để thay cái vĩ đại ấy. It nhất là ở những chỗ không-thời gian bị bẻ vặn xoắn cực mạnh, như ở chỗ sao kép DI Herculis. Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng ở qui mô vũ trụ cơ mà. À chỗ này không phải là vũ trụ. Cực cận sao Thuỷ, trong tương quan với tính toán Anhxtanh với các hành tinh khác, không gì hơn trở thành căn cứ khó bác bỏ, cũng như chính ông ta đã thú nhận về hành vi ăn cắp thành quả của người khác. Đổi lại, những tính toán tương đối sai bét nhè kia, cũng không gì khác là bộ mặt thật của cái lý thuyết thiên tài vĩ đại được tung hô vạn tuế suốt gần một thế kỷ.

Goebbel, trùm tuyên truyền phát xít nhận thấy rằng, dối trá lừa đảo thì cuối cùng cũng bị phát hiện, nên ông ta phát minh ra một phương pháp gọi là nói láo lớn. Nói rất láo, nói láo liên tục thì cuối cùng người ta cũng phải tin là thật.

Cỗ máy tuyên truyền nhồi sọ quốc xã không còn, đạo hữu Do Thái Goebbel của Anhxtanh đã chết, nhưng phương pháp của ông ta ngày nay được sử dụng vô cùng rộng rãi, cám bã vung vãi khắp nơi, càng những người tài càng xơi lắm cám. Goebbel mới là đại tài, siêu thiên tài vĩ đại.

SSX 16-06-2013 03:27

Sùng kính Anhxtanh
 
Ông A. Pays viết cuốn sách mang tên: The Science and the Life of Albert Einstein, xuất bản tại New York năm 1989. Trang 298 có đoạn: Trong trường hợp Anhxtanh hóa ra điều lớn nhất, trái lại, không có cống hiến thực sự của một nhà khoa học cho khoa học, gọi là cá nhân, mà nếu muốn, là sùng kính cá nhân này, được tạo ra bởi phương tiện truyền thông khắp thế giới.

Phương tây luôn luôn chỉ trích Liên Xô tệ sùng bái cá nhân! Dĩ nhiên người ta vẫn nhớ. Nhưng Sùng kính Anhxtanh thì không.

Đã có một danh sách dài những nạn nhân, đổ máu, và thiệt mạng cũng y như những người đã chết bí hiểm vì phản đối hay dám nêu ý kiến trái chiều vụ 911. Và đã có quá nhiều hậu quả.

Chúng ta cùng xem tiếp theo!

SSX 16-06-2013 11:34

Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Như đã nói những nạn nhân của Einsteinism có rất nhiều. Hều hết đều có số phận bi thảm!

Mileva Maric (1875-1948) là vợ đầu của Anhxtanh, cô là người Serbia từ Nova Garden di cư sang Áo. Cô học cùng trường polytechnic và cùng khóa với Anhxtanh, họ lấy nhau. Năm 1914, Einstein cùng gia đình chuyển đến Berlin nhưng vì một số lý do Mileva và con phải quay lại Zurich [22]. Ai đó đã không thích gốc Serbia của cô, đang có chiến tranh và căng thẳng giữa Đức và Serbia.

Cho đến tận năm 1917, Anhxtanh vẫn đánh vật với thuyết tương đối mà chẳng nhận được mấy chú ý, ông ta ốm nặng và phải chuyển đến căn hộ của người cháu gái Elza để có người chăm sóc. Nhanh chóng, ông ta sống với cháu gái Elza như vợ chồng và năm 1919 thì chính thức cưới người cháu này làm vợ, còn Mileva thì được hứa sẽ cho tiền giải Nobel nếu nhận được. Mặc dù ở châu Âu từ lâu đời, việc lấy bà con họ hàng, chị em hay con chú con bác, bị phản đối và kỳ thị kịch liệt, bởi thoái hóa nòi giống, nhưng đối với người DT, quan hệ họ hàng cận huyết thống lại không bị ngăn cấm bới Talmud.

Có đồn đại rằng con của Einstein với Mileva là Edward, khi đã lớn (20 tuổi) tuyên bố rằng chính mẹ Mileva của mình mới là người viết bài về tương đối năm 1905. Thực sự, trong tiểu sử Anhxtanh ở LX [36] có đoạn viết rằng, Edward là chàng trai trẻ thực sự có tài năng, một người biểu diễn piano tuyệt vời, và chuẩn bị trở thành bác sĩ thần kinh, đã viết thư cho cha với những lời lẽ “kết tội điên khùng”. Anhxtanh ngay lập tức chạy đến Zurich. Kể từ đó cho đến hết cuộc đời, Edward là bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần Zurich và chết ở đó năm 1965 [22]. Ông A. Pays đề cập rằng Anhxtanh khi sống ở Thụy Sĩ, có bạn thân là lãnh đạo bệnh viện tâm thần Zurich, ông ta cũng là 1 DT…

Sẽ là không thừa khi đọc lại Rơi xuống lỗ ký ức ở đây!

Edward sinh năm 1910. Do đó có thể cho rằng, khi đã lớn và lúc đó Anhxtanh đã nổi tiếng, được mẹ kể cho về bí mật khủng khiếp của gia đình. Chàng trai trẻ yêu kính cha rõ ràng đã bị sốc rất nặng và viết bức thư kể trên mà không hề nghĩ về sự an toàn của mình. Nghi vấn chính Mileva là người đã viết những tờ giấy tương đối năm 1905 cũng có cơ sở, khi mọi thư từ trao đổi học thuật với các đồng nghiệp thường được ký tên là Ms. Einstein!

Tạp chí “Cận vệ trẻ” Guard (Молодая гвардия) [15] viết rằng năm 1917, Friedrich Adler (1879-1960) trước kia cũng đã từng cùng Anhxtanh ở Zurich polytechnic, và cũng là người bị buộc phải khám nghiệm tâm thần sau khi xuât bản các bài viết công khai phản đối thuyết tương đối.

Một số phận khác cũng kết thúc tương tự trong trại tâm thần Zurich là Marseille Grossman (1878-1936), cũng như ông Pays [22] là người đã từng giúp đỡ rất nhiều cho Einstein. Trong thời kỳ WW-I, Grossman tận tụy với các hoạt động hòa bình, tổ chức các đoàn tàu cứu thương, y tế, trao đổi tù binh chiến tranh giữa các bên. Sau chiến tranh, ông không còn quan tâm đến thuyết tương đối, và năm 1931, ông công bố bài viết [37] chỉ trích cái gọi là khái niệm di chuyển tức thì (tiếng Anh thường là teleport), một thứ được được bơm thổi ngất trời khi đó và sử dụng để cổ súy cho thuyết tương đối rộng Anhxtanh. Nhưng hầu hết các bài viết của ông bị cấm xuất bản. Bọn chúng cho ông có vấn đề về thần kinh và tống vào trại tâm thần Zurich. Năm năm sau, 1936 thì Grossman chết ở đó, trại tâm thần Zurich.

Vì thế mà khi các tín đồ Anhxtanh hiện tại vu cho người ta là hoang tưởng khi chỉ trích thuyết tương đối, là chuyện chẳng có gì mới. Cũng trên tờ “Cận vệ trẻ” cho biết về A.Bronstein và cuốn sách “Trò chuyện về vũ trụ và các giả thuyết” (Conversations about Space and Hypotheses), rằng “chỉ trong năm 1966 Khoa vật lý ứng dụng và tổng quát thuộc Viện khoa học USSR đã ‘giúp đỡ” cho 24 nhà vật lý tỏ ra hoang tưởng”…

Cho đến nay, 1 thế kỷ sau thuyết tương đối vĩ đại, đã có ai di chuyển tức thời trong không thời gian cong Anhxtanh chưa nhể???!!!

SSX 16-06-2013 16:05

Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh
 
"Trừng phạt y học", đã đến USSR trong thập kỷ 70, nhưng nó bắt đầu ở phương Tây từ năm 1917 và thậm chí còn sớm hơn. Không có gì ngạc nhiên khi nhà biên soạn nổi tiếng Thụy Sĩ A.Dyurenmatt, người viết các tác phẩm hầu hết trong thập kỷ 50, về các nhà khoa học-vật lý bị nhốt kỹ trong các nhà thương điên. Như thấy đó, ông chẳng cần đi đâu xa để tìm hình mẫu cho nhân vật của mình.

Max Abragam (1875-1922) là người chế nhạo Anhxtanh dữ nhất, nhưng ông là nhà vật lý lý thuyết rất có tài. Thậm chí Anhxtanh đã từng đề nghị Abragam làm người kế nhiệm mình ở Zurich khi chuyển đến Berlin. Abragam lúc đó đang ở đại học Goettingen và nổi tiếng vì đã tạo ra mô hình electron cổ điển mô tả và giải thích kết quả thử nghiệm Kauffman. Nhưng Abragam không định làm kẻ kế nghiệm Anhxtanh mà thành kẻ thù khoa học của Anhxtanh. Than ôi! Ông đã bị đánh bại trong trận chiến với Anhxtanh.

Vào năm 1911, khi mà Anhxtanh chết đứng trong lúng túng vì thực tế vận tốc ánh sáng hay thay đổi trong trường hấp dẫn, Abragam đã không chỉ cười nhạo Anhxtanh, mà còn mở rộng kết luận trong thuyết tương đối hẹp (TĐH). Ông Pays viết: ông ấy cố gắng để giành được điều không thể - đưa ý tưởng vận tốc ánh sánh thay đổi vào TĐH. Abragam từ đó rút ra kết luận chính xác: Các phép biến đổi Lorent tồn tại hiển nhiên trong vô hạn nhỏ”.

Anhxtanh ngay lập tức chống lại tuyên bố này. Ông Pays viết rằng: “điều này xảy ra trên tạp chí " Annalen der Physik", cuộc tranh luận mà trong đó Abragam đã cho thấy đối thủ (Anhxtanh) thiếu xử trí và nghèo nàn hiểu biết về bản chất vấn đề. Ban đầu, Abragam tuyên bố là TĐH đe dọa sự phát triển lành mạnh của vật lý bởi những người quan sát rõ ràng thiếu tỉnh táo, và lý thuyết này sẽ không bao giờ dẫn đến mô tả bức tranh thế giới một cách đầy đủ. Nếu như nó không thành công… đưa hấp dẫn vào” [22].

Khi đó Abragam đã đề nghị một lý thuyết khác thay thế: "Tôi sẽ đề nghị phát triển lý thuyết hấp dẫn mới, mà không cần đề cập đến vấn đề không thời gian.” Và hoàn toàn loại bỏ biến đổi Lorent, quay lại với hệ thống tính toán tuyệt đối [38, 39].

Kết quả cuộc luận chiến giữa Anhxtanh và Abragam trên các trang tạp chí khoa học đã kích động một lực mạnh hơn. Nhưng Anhxtanh vội vàng đến Berlin, ông ta không có thì giờ để tranh luận thêm với đối thủ. Tất cả đều hiểu chuyện ông ta đề nghị Abragam ứng cử vào vị trí giáo sư ở trường polytechnic chỉ là khôi hài. Điều thực sự là ý đồ với Abragam, có thể xem trong đoạn sau của sách ông Pays:

"Abragam đã tỏ ra là có tài năng đáng ghen tỵ làm phức tạp ra cuộc sống của mình, thực sự là ở những chế nhạo vô cùng tai hại của ông. Giữa thực tế và quan niệm của ông thường xuyên đụng vào “linh hồn ác quỉ” – Anhxtanh. Abragam hiểu thuyết tương đối, nhưng không thể hòa hợp với nó. Không thể gọi ông là nhà khoa học lớn, nhưng ông xứng đáng được nhớ đến như một con người có những thay đổi mạnh mẽ khoa học. Abraham chết năm 1922 vì u não. Born và Laue đã cùng nhau viết trong cáo phó: ông là người phản biện đáng kính trọng chiến đấu trung thực nhất và gặp thất bại mà không hề kêu ca phàn nàn. Còn Anhxtanh thì rất lạc lõng: ông ấy yêu ether tuyệt đối, hệ phương trình, electron bền vững của mình, chúng đối với ông như là tình yêu đầu tiên… Nhưng ông luôn luôn tư duy trong sáng… sự phản đối của ông dựa trên sức thuyết phục sâu sắc… và không thiếu am hiểu” [22, 24].

Tất cả là rõ ràng? Không chỉ là giải thoát khỏi kẻ thù Anhxtanh, sau khi sắp đặt để ông phải vào bệnh viện, nơi được “điều trị” vì u não? (Liệu có phải như thế không?) mà còn là chứng tỏ rằng, tranh cãi với thiên tài chỉ có thể là đau ốm trong đầu…

Điều đó làm dấy lên câu hỏi: Liệu có thể nào G. Minkowski, người cũng ở Goettingen, và đã chết năm 1909 vì bệnh ruột thừa, không phải là cái chết tự nhiên? Sau tất cả, ông ấy không thực sự quan tâm đến Anhxtanh, chỉ làm công việc tính toán và định dạng TĐH, và Anhxtanh lại kém hiểu biết về điều này.

Đúng là nhà vật lý danh tiếng A. Poincare cũng đã chết đột ngột trước đó, vào tháng 4-1912 khi đang đọc bài giảng [41] về thuyết tương đối, mà không hề đề cập đến Anhxtanh [22]. Bạn bè của Poincare cho rằng cái chết của ông là đáng ngờ, như một học trò, là viện sĩ Pháp L. Brillyuen [42] cho biết. Bất ngờ, Brillyuen cũng chết đột tử năm 1960, khi chỉ vừa viết xong cuốn sách của mình, trong đó khám phá một số thiếu sót và mâu thuẫn thuyết tương đối Anhxtanh.

Ông Brillyuen bắt đâu viết sách vì ấn tướng bởi cuốn sách nhỏ của P. Bridzhmen [43], trong đó tác giả nỗ lực phân tích phản biện thuyết tương đối “theo quan điểm của người có kiến thức ABC”. Cuốn của Bridzhmen cũng chỉ vừa xuất bản không lâu sau cái chết sớm của tác giả.

SSX 16-06-2013 22:23

Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Sau khi biết tất cả những điều đó, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên thêm nữa về cái chết của viện sĩ người Ukraina A. Z. Petrov (1910-1972), là người chết tiếp theo sau khi viết lời tựa cho bản tiếng Nga của sách Brillouin năm 1972, lời tựa đó như thế này: TĐH vẫn diện cái quần ngắn cũn cơn của “trẻ con”, nó cho phép tất cả và thậm chí – miễn trừ khỏi kiểm tra thử nghiệm”. Thực sự là đúng ngày 9-5-1972, viện sĩ chết đột tử vì loét dạ dày.

Nhưng chúng ta quay lại đầu thế kỷ XX, nạn nhân tiếp theo Poincare có lẽ là nhà nghiên cứu Đức F. Garres [44], ông làm việc cho hãng danh tiếng "K.Tseys-Yena", và nhà khoa học Pháp M. G. Sagnac [45] (Sanyak). Các năm 1912-1914 họ tiến hành thử nghiệm tia sáng trên chiếc đĩa quay. Kết quả là có hiệu ứng Sagnac không hề hợp với “cái giường hẹp” TĐH (Procrustes) thậm chí trái ngược TĐH [46]. Năm 1928, viện sĩ S. I. Vavilov viết: “Nếu hiện tượng Sanyak được phát hiện sớm hơn… thì sẽ là bằng chứng tuyệt vời của ethe” [47].

http://i277.photobucket.com/albums/k...ct_256x128.gif

Đương nhiên, cả 2 nhà nghiên cứu đã bị thiệt mạng trong WW-I [46], và kết quả của họ cho đến nửa thế kỷ sau đã bị lấp liếm đi. Ví dụ, từ trước đến nay không có một từ nào trong sách giáo khoa tái bản USSR về quang học vũ trụ G. S. Landsberg. [48]

Viện sĩ hàn lâm Phổ Karl Shvartsshild (1873-1916) – giám đốc Viện vật lý-thiên văn Potsdam nổi tiếng, chưa bao giờ phản đối Anhxtanh hay có liên quan đến công việc đó. Trong khi giới khoa học quan tâm thuyết tương đối là rất nhiều, và cái đài quan sát thiên văn Potsdam bị biến thành cả một học viện.

Ngay từ đầu chiến tranh, ông đã ra mặt trận với Nga [22]. Từ mặt trận gửi về viện 2 công trình lý thuyết, mà thấy có giải pháp chuẩn xác cho phương trình của Anhxtanh về trường hấp dẫn của vật thể có khối lượng. Khái niệm bán kính hấp dẫn được gọi là “khối cầu Shvartsshild” lần đầu tiên là từ đây.

Anhxtanh đã đọc báo cáo của Shvartsshild và gặp gỡ lần đầu tại viện hàn lâm Phổ ngày 16-1-1916. Lần thứ 2 là ngày 24-2. Và ngày 29-6 ông ta đã phát biểu ở viện, tưởng nhớ Shvartsshild. Shvartsshild không chết vì đạn pháo quân thù ngoài tiền tuyến. Mà chết bất ngờ ngày 11-5 vì bệnh mắc phải trên mặt trận. Tác giả 1 cuốn sách viết [22].

Nhưng bệnh dịch ở mặt trận Nga vào mùa xuân 1916 thì không hề có ấm áp cần thiết đủ để vi khuẩn dịch phát triển. Mà có thể là ông ta đã mắc phải từ lá thư gửi đến từ Berlin bị tẩm vi khuẩn. Nhưng ít ỏi như thế là không đủ để khẳng định. Sau tất cả, y tế đang nằm dưới sự kiểm soát của Zionist, thực sự bọn chúng rất tài giỏi.

Cùng một cách nhiễm bệnh như thế là viện sĩ A. Fridman năm 1925, một người Nga là đối thủ của thiên tài, đã chứng tỏ khả năng vượt trội Anhxtanh và ông ta có thể bị thất bại.

Và vẫn còn người khác nữa tài hơn thiên tài, ứng viên giải Nobel Gunnar Nordstryom (1883-1923). Đó là nhà vật lý Phần Lan này cũng chết chẳng phải lúc, khi nghiên cứu những khó khăn Anhxtanh đang phải đối mặt năm 1911, ông tính toán sự phụ thuộc của tốc độ ánh sáng vào trường hấp dẫn và đề xuất một ý tưởng tài tình vào năm 1912 [49] để giải quyết tình trạng lúng túng đã cả thập kỷ. Nordstryom bắt đầu xây dựng thuyết hấp dẫn, trong đó không có hằng số vận tốc ánh sáng C và khối lượng m. Và dĩ nhiên cũng không giống Anhxtanh, ông đi ngay đến chuyển đổi Lorent và làm thỏa mãn định luật bảo toàn.

Norgstryom đã không thể rời Helsinki để dự hội nghị về hấp dẫn vào tháng 10-1913 ở Vienna. Do đó Anhxtanh đã rảnh tay để đọc báo cáo về lý thuyết của mình. Ở lý thuyết của Norgstryom có nhiều thứ làm Anhxtanh hài lòng, ngoại trừ 1 thứ - đó là nó phát triển từ kết quả của Abragam, địch thủ dữ dằn nhất của Anhxtanh.

Trong báo cáo, Anhxtanh cũng không hề nói một lời nào về một lý thuyết hấp dẫn khác, được phát triển bởi Gustav Mi, người không chỉ có mặt tại hội nghị, mà còn hành xử như địch thủ chính của Anhxtanh. Trả lời câu hỏi tại sao ông ta không đề cập đến thuyết của Mi, Anhxtanh không hề do dự trả lời rằng, ông ta chỉ đề cấp đến các thuyết thỏa mãn nguyên lý cân bằng [22]. Như chúng ta thấy, ngay cả ở đó cũng bắt đầu có sự im lặng về những gì gọi là không dựa trên thuyết hấp dẫn!

Tại hội nghị, lý thuyết của Norgstryom được công nhận chỉ như một lý thuyết gắn liền với hấp dẫn trong số hàng chục đề xuất, có cả của Anhxtanh trong đó.

Những tín đồ Anhxtanh ở đây, rõ ràng là đã quên Norgstryom. Năm 1923 ông chết ở tuổi 40 (mà hoàn cảnh cho đến nay vẫn không ai biết). Chẳng còn ai cạnh tranh với thiên tài Zionist nữa.

SSX 16-06-2013 22:29

Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Lực lượng nào đứng đằng sau Anhxtanh để chống lưng cho ông ta trong những năm đó, để tính sổ các địch thủ khoa học và những đối thủ cạnh tranh? Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu nhớ lại thời kỳ làm việc ở Berlin Anhxtanh có quan hệ thân cận với K. Blyumenfeld, kẻ này từ 1910 đến 1914 là Tổng thư ký Ủy ban điều hành tổ chức Zionist thế giới đặt trụ sở tại Berlin khi đó, còn sau 1924 là chủ tịch Liên đoàn Zionist Đức [22]. Không lạ gì, Anhxtanh là thành viên của Hội Ju-đa ở Berlin, và đã không chỉ 1 lần tin cậy vào đào tạo cho những tuyên bố chính trị của mình. Năm 1921, Blyumenfeld thuyết phục Anhxtanh đến Mỹ để gây quĩ thành lập “Viện Do Thái” ở đây [22].

Ở Nga khi đó, Lenin lên nắm quyền năm 1917, 2/3 chính phủ là Do Thái, Zionist ở Berlin kỷ niệm ăn mừng còn hơn cả một ngày lễ chiến thắng quốc tế của họ - sau tất cả, Lenin đã vay tiền từ Berlin để làm cách mạng tháng 10. Và khi mà Lenin cố gắng xuất khẩu cách mạng sang Đức, thì Anhxtanh đã xung phong vào đảng CS Đức năm 1919 [22]. Năm 1923, Anhxtanh tham gia vào tổ chức “Bạn bè của nước Nga mới”. Nhưng người Đức sớm hiểu ra điều đó, CNCS đã không thành ở Đức. CN phát xít đã phát triển, trước mối đe dọa khủng khiếp quá đỗi của cả CNCS và Zionism.

Rõ ràng là trong những năm này Đức có thái độ thù địch với Anhxtanh, không chỉ là từ các nhà khoa học mà còn là từ dân chúng. Vì thế, buổi giảng của Anhxtanh ở ĐH Berlin ngày 12-2-1920 đã biến thành hỗn loạn. Hiệp hội lao động của các nhà khoa học Đức sau đó xuất bản xuốn sách “100 tác giả chống Anhxtanh” [50], người ta thu xếp ở sảnh hòa nhạc Berlin buổi thảo luận về thuyết tương đối và đó là cuộc tuyên truyền bất nhã mà các tác giả này thực hiện.

Anhxtanh lúc này đang ở Đức và cảm thấy khó chịu và uy tín chẳng bao lâu sau thì sụp đổ trên báo chí, nhà vật lý Đức Filipp Lenard (1862-1947) là người tham gia vào tổ chức buổi thảo luận. Ông là người phát hiện hiện tượng hiệu ứng pho-ton năm 1902 [51], là công trình được trao giải Nobel năm 1905. Những nghiên cứu đó là cơ sở cho Anhxtanh làm điều tương tự và sau này cũng lại được trao Nobel 1 lần nữa. Cũng chính Lenard vào năm 1918 đã chỉ ra sự tương đương giữa khối lượng và năng lượng được thiết lập lần đầu tiên, không phải là Anhxtanh, mà là F. Gazenorl [52].

Y. Brovko [15] nêu ra rằng, thực sự thì lần đầu tiên, một nhà vật lý Nga làm việc ở Odessa là N. Umov đã chỉ ra tương quan khối lượng và năng lượng năm 1873, và ông ấy đã được tặng thưởng vì nghiên cứu này, nhà vật lý Anh O. Hevisayd năm 1890 cũng đã đưa ra công thức “Anhxtanh” E = mC2; Ông Pays viết về tiểu sử Anhxtanh [22] biểu thức liên hệ khối lượng và năng lượng thực sự đã được biết đến tận 25 năm trước Anhxtanh. Ông tin tưởng chắc chắn lần đầu tiên nó được đưa ra từ hiện tượng tự nhiên.

Năm 1918 ông F. Lenard xuất bản cuốn "Về thuyết tương đối, ether và hấp dẫn” phê phán thuyết tương đối [53]. Sau đó Anhxtanh và các tín đồ khắp mọi nơi tiến hành chiến dịch tấn công chống Lenard, giống như những người DT nghèo khổ của Anhxtanh vì ông ta mà làm người tiên phong quan điểm chính trị-xã hội.

Tháng 9-1920, ở Bud-Naugeyme tổ chức hội nghị “Giới khoa học tự nhiên Đức và những người hâm mộ nghệ thuật”. Cả Lenard và Anhxtanh đều tham gia thảo luận, Sau đó thì Anhxtanh buộc phải hứa hẹn trong thư gửi ông M. Born “không bao giờ nổi giận nữa” [22].

Năm 1921, sau thắng lợi đinh tai nhức óc của Anhxtanh về cái gọi là tính toán tia sáng bị uốn cong gần mặt trời (xem các bài trước), Lenard viết bài trên tạp chí mà Anhxtanh cũng ưa thích là tờ “Annalen der Physik” trích đoạn từ bài báo của Y. Zoldner [55] công bố năm 1801, trong đó Zoldner bằng các dụng cụ cơ học cổ điển đã tính toán ra góc lệch tia sáng ngôi sao tại đĩa mặt trời cho kết quả tương tự như Anhxtanh năm 1911. Đó là điều mà các tín đồ Anhxtanh không bao giờ có thể tha thứ.

Thật không may, chẳng kẻ nào dám đưa nhà được giải Nobel vào trại tâm thần. Vì thế chúng làm cách khác – sau đó chúng gắn những gì F. Lenard đã làm cho khoa học cái nhãn “vật lý phát xít”. Cho dù từ năm 1919, mối bất hòa này đã bắt đầu, nhưng người ta vẫn không nghe thấy cái tên phát xít ở Đức, kể cả muộn hơn. Sau tất cả, thứ chúng giành được là: kể cả sau WW-II, cái tên Lenard bị xóa bỏ khỏi mọi quyển sách giáo khoa, mặc dù, ví dụ, lý thuyết sự nhiễm điện của giọt nước cho đến nay vẫn được các nhà vật lý nhìn nhận là 1 thành công, trong số đó có cả tôi [56].

Có thể nói gì về A. Eddington (1882-1944) – kẻ đã tiếp tay cho Anhxtanh đến giấc mơ phong thánh, bị kẹp dưới bánh xe sau khi viết những vần thơ vũ trụ được lấy để khắc vào đá thành trùm sò xào số liệu.

Đã nhiều năm trôi qua, và dường như chẳng có ai làm sáng tỏ những cái chết bi kịch và bí ẩn liệu có Zionist can dự hay không, tín đồ Anhxtanh và Zionist sẽ hét lên tất cả là tình cờ và họ đã chẳng làm gì cả. Làm sao lại có nhiều tình cờ đến vậy? Tại sao lại liên quan đến những lý thuyết tiềm năng với số lượng lớn? Người ta hiểu điều đó là gì.

Đúng là cá nhân Anhxtanh đầy mâu thuẫn, tuy nhiên lại là cá nhân được sùng kính. Ở những cá nhân được kính trọng, một mặt, họ thực sự tài năng và lao động hăng say, làm những công việc vĩ đại và mở ra những khám phá lớn, mặt khác, là những kẻ bạo ngược hay xảo quyệt, tự cho mình có quyền chiếm đoạt thành quả của kẻ khác chỉ vì hắn tuồng như không nghe thấy đó là của họ.

Đó là thăng trầm của Anhxtanh, cùng 1 lúc giống như phép lạ.

SSX 17-06-2013 02:03

Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Nạn nhân Einsteinism bên USSR thậm chí còn đông hơn gấp bội, mà viết ra đầy đủ tên tuổi của họ cần đến cả 1 tuyển tập dầy. Do đó chúng ta chỉ có thể đề cập một số trường hợp nổi bật mà thôi. A. A. Friedman (1888-1925) đã đề cập ở bài #27 là một nhà khoa học trẻ tài năng. Sau WW-I tham gia vào các khóa quan sát-quan trắc, sau đó làm lãnh đạo đài quan sát Petrograd và đưa cơ sở toán học vào ngành khoa học thời tiết. Sau đó ĐH Perm được mở, Friedman tìm hiểu thuyết tương đối vào những lúc rảnh rồi. Năm 1922, Friedman công bố 1 bài viết trên tờ tạp chí Đức [57], nó trái ngược với mô hình Anhxtanh đang phát triển về vũ trụ tĩnh, có thể nói, với Friedman, vũ trụ phải dãn nở.

Mặc dù đó là con đường đột phá, nhưng Anhxtanh đã chẳng khởi đầu ra nó, thậm chí ông ta còn nghiêm cứu nó và phản ứng bằng một ghi chép ngắn trên cùng tờ tạp chí, trong đó gọi tính toán của Friedman là hoài nghi và không chứng tỏ được vũ trụ là không tĩnh tại.

Khi đó Friedman gửi cho Anhxtanh một bức thư, năm 1923, Anhxtanh buộc phải đăng tiếp một bài ngắn, trong đó viết cho biên tập tạp chí rằng: "Phản đối của tôi… dựa trên sai lầm trong tính toán. Tôi cho rằng kết quả của Friedman chính xác và đổ ra nguồn sáng mới…” Rất hiếm, cho đến cả ngày nay, lại có một xử sự nhã nhặn đến như vậy.

Năm 1929, một người Mỹ là E. Khabbl đã bắt được quang phổ dịch chuyển đỏ của các thiên hà ở xa như hiệu ứng Doppler, chứng tỏ nguồn bức xạ đang chuyển động ra xa người quan sát. Giả thuyết của Friedman về vũ trụ dãn nở đã được ghi nhận ở hầu như tất cả giới khoa học.

A. Fridman đã không còn sống để mà ăn mừng cho lý thuyết của mình, anh đã chết ở trong khu nghỉ dưỡng ở Crimea năm 1925, khi mới 37 tuổi vì bệnh sốt phát ban.

Hầu như tất cả đều nghĩ đó là 1 cái chết thông thường, bệnh, ốm và chết. Nhưng khi nhìn vào danh sách các nạn nhân Einsteinism, dù không cố ý cũng phải bắt đầu đối chiếu. Quả là cái chết quá bất thường trong thời bình. Và chỉ cần đợi đến giữa thập kỷ 60, khi chẳng còn ai nhớ Fridman thì lý thuyết vũ trụ dãn nở đã thành thời thượng ở phương tây. Công lao được dành cho Hubble, mô hình toán học vũ trụ dãn nở cũng không dành cho Fridman mà gọi là “standard” và cũng không hề cắt nghĩa làm sao lại là “ standard”.

Nhưng nếu như Friedman có khỏi được bệnh sốt và sống đến thập kỷ 30! Thì không chắc đã thọ được thêm nữa. Lý thuyết của Friedman về vũ trụ, có một cái gì đó giống như kinh thánh, và ở thập kỷ 30, ngay lập tức anh sẽ bị qui chụp “duy tâm” và có thể ngồi tù suốt đời. Chúng ta nhớ quyển sách của nhà thiên văn B. Vorontsov-Velyaminov “Luận về vũ trụ”, thậm chí cho đến lần tái bản thứ 5 (1964), thì lý thuyết vũ trụ dãn nở vẫn bị gọi là “ngu dân” và các nhà khoa học liên quan là “duy tâm”. Do vậy, số phận Friedman kiểu gì thì cũng đã bị định đoạt.

Nhưng ở thập kỷ 20, chính quyền XV khó mà liên quan đến cái chết của Friedman, bởi lúc đó vẫn chưa có qui định cấm chỉ trích thuyết tương đối, hồi đó đúng là có rất nhiều nhà khoa học theo đuổi “duy tâm” trong khoa học, và trái lại, thuyết vị lai vẫn còn phổ biến trong các giới, kể cả giới nghiên cứu tương đối, mà Friedman cũng là 1 người đã làm quen với nó từ đó. Ngay một số trong giới lãnh đạo đảng của Lenin cũng bàn luận về nó.

Do đó không ngạc nhiên khi năm 1925, ở USSR các nhà khoa học bàn luận TĐH không thể giải thích hiện tượng quang sai các ngôi sao. Cuối thập kỷ, giáo sư K. Shapochnikov xuất bản bài báo chứng tỏ dịch chuyển đỏ vũ trụ có thể được giải thích mà không cần thuyết tương đối. Năm 1928 viện sĩ S. I. Vavilov công bố công trình [47] mà chủ đề là chỉ trích một cách thận trọng một số thực nghiệm làm cơ sở cho thuyết tương đối. Năm 1933, nhà thiên văn có tiếng G. Tikhov công bố bài viết trong đó tuyên rằng độ cong của ánh sáng trong hấp dẫn mặt trời cho đến nay vẫn chưa được chứng tỏ bằng thực nghiệm…

SSX 17-06-2013 02:08

Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Cho đến lúc đó, sự nhẫn nại của các tín đồ Anhxtanh đã hết, và USSR vẫn còn có độc lập ở USSR. Cho đến năm 1934, bắt đầu có bàn luận từ TW về việc ra nghị quyết liệt những ai đối lập với thuyết tương đối là “duy tâm” hay “lạc đề”.

Bắt đầu có các nạn nhân, ví như nhà thiên văn nổi tiếng N. A. Kozyrev, người phản đối Anhxtanh, kẻ cho rằng thời gian có thuộc tính vật chất, có mật độ và có thể chuyển đổi thành năng lượng, và bạn của ông Matvei Petrovitch Bronstein (1906-1938) là một thiên tài bẩm sinh từ Vinnytsia, tốt nghiệp ĐH Leningrad và làm việc cho Khoa vật lý kỹ thuật, cùng trong nhóm bạn bè với G. Gamov, L. LandauD. Ivanenko và cưới cô cháu của K. Chukovsky. Ngay từ sớm đã viết một số lượng lớn chưa từng thấy các bài báo khoa học trên hầu hết các chủ đề. Bronstein đầu thập kỷ 30 dễ dàng lượng tử hóa trường hấp dẫn (công việc cực khó về toán học) và thiết lập hấp dẫn lượng tử của mình [60].

Anhxtanh vào lúc đó vô cùng căm ghét cái từ ‘lượng tử’ và đang chiến tranh với các nhà phát triển cơ học lượng tử. Do đó ông ta đã không nghe về hấp dẫn lượng tử và chưa bao giờ sử sụng những khái niệm như thế trước công chúng. Hóa ra Bronstein đã lượng tử hóa trường hấp dẫn, điều đó đối lập với Anhxtanh!

Họ cùng với Kozyrev bị bắt vào một đêm năm 1937 và bị kết án cùng 1 lần. Kozyrev – 10 năm tù và Bronstein 10 năm không có quyền thư từ. Cuối cùng là bị xử bắn. Kozyrev thì gặp may đã không chết trong tù và đến thập kỷ 60 lại trở thành nổi tiếng nhờ khám phá thiên văn. Bronstein thậm chí còn không có mộ, chỉ có mỗi từ Hấp dẫn lượng tử!

Và như đã nói, Anhxtanh căm ghét không công nhận khái niệm này, trong khi cả thế giới công nhận. Cho đến 100 năm sau, những cái tên G. Minkowski, A. Friedman và M. Bronstein vẫn được nhắc đến.

Năm 1937 ở Kharkov người ta bắt 2 người nổi tiếng, 2 nhà vật lý Xô Viết L. D. Landau (1908-1968) và Y. B. Rumer (1900-1975). Cho dù là Landau lúc đó chưa phải là viện sĩ thì Y. Rumer đã được coi là ngôi sao số 2 trong lĩnh vực khoa học bầu trời. Sinh ra ở Moldova, tốt nghiệp MGU và nghiên cứu ở phương tây. Ông được coi là sinh viên của Anhxxtanh, nhưng Rumer đã bỏ đi theo cơ học lượng tử, thứ Anhxtanh rất ghét. Ông làm việc ở Goettingen, nơi được coi là thánh địa của vật lý, Rumer sáng lập ta hóa học lượng tử, là giáo sư. Dĩ nhiên, ông đối lập với Anhxxtanh và bắt đầu phát triển phiên bản của mình về lý thuyết thống nhất, thứ mà ông gọi là “5-quang học”. Landau tốt nghiệp ĐH Leningrad năm 1929 và 2 năm ở Copenhagen, trong trường của nhà vật lý N. Bor. Cả 2 quen nhau từ đó và rồi trở về USSR.

Rumer bị bắt với cớ gián điệp Romania, mặc dù ông luôn luôn né tránh chính trị. Còn Landau thì bị bắt vì tội “duy tâm”. Nhưng dường như đã có nhầm lẫn, bởi Landau chẳng dính dáng nhiều lắm đến thuyết tương đối và đáp ứng đầy đủ chuẩn mực Zionism, nghĩa là không hề có biểu hiện hoài nghi thuyết tương đối kém hoàn hảo hay mạo phạm Anhxtanh.

SSX 17-06-2013 08:54

Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Nhưng Landau vì sợ hãi đã thú nhận với các nhà điều tra rằng ở Kharkov có 1 nhóm phá hoại có tổ chức gồm toàn gốc DT (Akhiyezer, Brilliants, Vaysburg, Korets, Lifshits, Pomeranchuk, Rozenkevich, etc.) [15].

Landau được thả sau nửa năm, chắc là bởi đã 'thành khẩn' khai báo và bởi viện sĩ tên tuổi P. Kapitsa và cả Nils Bohr đã cầu xin Stalin. Họ vì lý do nào đó đã chẳng giúp Rumer. Ông bị đầy đi trại cải tạo lao động ở Siberia đủ án 25 năm, ban đầu là đốn cây, sau chiến tranh nổ ra là tính toán khí động học trong cái gọi là “sharashka” trại cải tạo ở Omsk, theo thiết kế máy bay của A. Tupolev.

Có lẽ cũng thật khôi hài với những gì đã xảy ra từ cái nghị quyết TW thuyết tương đối, xem ra người ta sợ hãi lý thuyết “5-quang học” của Rumer hơn là nhóm đánh bom khủng bố Do Thái! Đã có rất nhiều các nhà khoa học bị bắt oan uổng thậm chí ngay cả khi chẳng có chút quan hệ nào với tổ chức DT quốc tế Zionist: A. Tupolev, V. Myasishchev, V. Petlyakov, Bartini, N. Vavilov, A. Chizhevsky, P. Oshchepkov, Oparin…

Giáo sư Y. Parkhomovsky trong thời gian chiến tranh đã tình cờ làm việc cùng Rumer ở sharashka, viết trong hồi ký rằng nếu như năm 1942, Tupolev và một số tù nhân tài năng khác ở sharashka đã được tha bổng trước thời hạn và sau đó họ làm việc như các công dân bình thường, thì trường hợp của Rumer, vì lý do gì đó đã không được như vậy. Và cái khác ở Rumer so với những người kia, thì chỉ là lý thuyết của ông là mối đe dọa tiềm tàng đến thuyết tương đối Anhxtanh!

Hồi ký của Landau cũng viết là ông ta không bao giờ quên Rumer và hàng năm đều gửi cho bạn bưu kiện tạp phẩm, nhưng chúng đã chẳng bao giờ đến nơi.

Năm 1951 S. Vavilov trở thành chủ tịch Viện hàn lâm khoa học USSR, còn người anh em của ông, N. Vavilov thì đã chết trong trại cải tạo. Y. Rumer được chuyển từ trại Enisei đến Novosibirsk và cuối cùng được làm giáo viên dạy học cho tù nhân. Landau đã trở thành viện sĩ, ông ta đã không bao giờ đến Novosibirsk hay thậm chí là có một lời nào để giúp đỡ cho bạn Rumer.

Sau cái chết của Stalin thì Rumer được tạm tha vài ngày đển về Mat-xcơ-va báo cáo ở Viện hàn lâm khoa học về lý thuyết “5-quang học” [63] Ông thậm chí đến tận nhà Landau mời ông ta đến nghe báo cáo. Ông ta bối rối, đi lại từ góc nhà này đến góc nhà kia… và cuối cùng đã không đến. Tất cả là dễ hiểu?

Tác giả đã được nghe kể về điều này từ chính Rumer, khi không chỉ 1 lần đến thăm ông ở Novosibirsk đầu thập kỷ 70. Ngay cả sau khi Rumer được minh oan, cuối thập kỷ 50, Landau đã thuyết phục Rumer cùng viết sách khoa học phổ thông pro-Anhxtanh mang tên “Thuyết tương đối là cái gì” [64] Trong đoạn hồi ký về Landau [65], Rumer khi đó viết rằng khi mình mang bản thảo cuốn sách đến viện sĩ, ông ta (Landau) nhìn qua và hỏi: “Rồi sao?” Trả lời: “Hai tên bợm đã thuyết phục khách hàng rằng chỉ cần bỏ ra đồng 10 cô-pếk là hắn ta có thể hiểu, thuyết tương đối là cái gì”.

Rõ là, khi Rumer dùng cái từ “các bợm -жулики” đã không chỉ ám chỉ là 2 tác giả cuốn sách này.

http://i277.photobucket.com/albums/k...8/Einstein.jpg

Nghị quyết TW thuyết tương đối năm 1934 đã gây tai họa và tước bỏ sạch bao nhiêu cơ hội của các nhà vật lý tài năng Xô-Viết chỉ vì họ không chịu núp dưới váy Anhxtanh. Nhưng không chỉ có vậy, cái tiếp theo còn rất kỳ quặc. Đó là tháng 11 năm 1942, khi mà chiến tranh WW-II đang rất dữ dội, hầu như tất cả đều phải ra trận, hy sinh và mất mát. Thế nhưng đoàn chủ tịch Viện hàn lâm KH USSR trong buổi lễ kỷ niệm 25 năm CM tháng 10 lại ra nghị quyết chấp thuận thuyết tương đối! Đó là thứ cần thiết cho chiến tranh và xương máu người dân Liên Xô? Có cái gì để làm với thuyết tương đối Anhxtanh vào lúc nước sôi lửa bỏng? Họ không có việc gì để làm? hay có lẽ các ông viện sĩ bị điên!

SSX 17-06-2013 10:36

Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh
 
Tạp chí “Cận vệ trẻ” [15] và nhiều nguồn tư liệu khác cho biết, vào thập kỷ 30, Hitle đã thu xếp 1 thỏa thuận với tổ chức World Zionist để có được những khoản vay phát triển công nghiệp. Đổi lại là thỏa mãn ước mơ lập quốc 1000 năm của người Do Thái. Họ có thể lập quốc ở bất cứ nơi đâu ngoài lãnh thổ nước Đức. Vì thế, tất cả dân Do Thái từ khắp châu Âu, Hy Lạp, Thổ… đổ về đông Ba lan tá túc trong các trại tập trung chờ Liên Xô sụp đổ để xông ra cướp đất lập quốc.

Nhưng Liên Xô không những đã chẳng sụp đổ mà Hitle còn bị nện tơi tả, thế thua cuộc hiện rõ từ nửa cuối 1942. Dân Do Thái tháo chạy về Palestine, một phương án lập quốc khác!

Rất có thể vào lúc đó, Zionist đã phải có 1 thỏa thuận khác với Stalin để thay đổi tình thế. Hitle thành vật bị phế bỏ, đổi lại, LX đã giúp đỡ cho hàng triệu người Do Thái chạy thoát qua biển Caspian, qua Iran về Palestine. Nhưng chiến tranh là chiến tranh, những người dân Do Thái bình thường trở thành nạn nhân bị hủy hoại bởi chính Zionist.

Và hậu quả phụ: tự nhiên [15] Anhxtanh được yêu mến đến thế! Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm ngồi trên đống lửa chiến tranh, quyết chấp thuận thuyết tương đối! Còn nữa, LX là nước đầu tiên công nhận Israel, như một thỏa thuận [15]. Dù sao đó cũng là điều tốt (cho LX và không cho dân tộc khác), bởi nếu không thì bà con họ hàng nhà Ju-đa đang tá túc chật cứng cả đất Nga vào lúc này. Nếu có gì sai lầm thì đó là sai lầm của Nữ Hoàng Ekaterina, bà đã làm được nhiều việc cho nước Nga, nhưng đã mắc sai lầm chết người chỉ vì lòng vị tha và tính tình thông thoáng cởi mở, đã chấp thuận cho người Do Thái được làm thần dân đế chế Nga, sao bao lần họ cầu xin mà không được.

Cái nghị quyết tương đối” của Viện hàn lâm có đoạn như sau: “Cấm chỉ tất cả các hội đồng khoa học và tạp chí, các diễn đàn khoa học chấp nhận, xem xét, thảo luận và công bố các công trình, phê phán thuyết của Anhxtanh”…

Nhưng cái nghị quyết phản khoa học của viện khoa học này cũng chỉ được chấp nhận muộn hơn 20 năm sau, vào năm 1964 [15]. Các nạn nhân bị chụp mũ “hoang tưởng” ví như đã nói: năm 1966, khoa vật lý tổng quát và ứng dụng đã “giúp đỡ” cho 24 nhà khoa học tỏ ra hoang tưởng…

Trong số đó có ông giáo sư người Belarus A. Veynik, người dám nêu câu hỏi ngờ vực thuyết tương đối trong quyển sách Nhiệt động học (Термодинамика). Lệnh của ông bộ trưởng USSR, cấm chỉ và Veynik mất dạy!

Viện sĩ hàn lâm USSR A. Z. Petrov năm 1963 viết sách [67] chứa các chỉ trích một số tiên đoán của thuyết tương đối rộng (TĐR), nhưng không ai dám đem ông viện sĩ vào viện tâm thần, bởi dù sao ông cũng là người nổi tiếng cả ở nước ngoài. Cái gì xảy đến với ông thì đã nói ở bài #27, chỉ vì dám công bố sách của Brillyuen [42], trái ngước với nghị quyết của viện khoa học.

Cũng những năm 60 còn có cuộc trừng phạt ông I. S. Filimonenko, nhưng cùng với điều đó là cả một hướng nghiên cứu mới của các nhà khoa học Xô Viết mở ra từ đó. Đó là từ đầu thập kỷ 50, ông Filimonenko đã phát hiện ra khi phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 15%. Ông đoán điều đó xảy ra là do đốt cháy hi-dro trong quá trình nhiệt phân của nước và bắt đầu nghiên cứu về hiện tượng này. Tổng hợp nhiệt hạch lạnh, điều mà ông Richard Moody Jr. Nói đến trong chùm bài #2-#15, xuất phát từ đây. Ông Filimonenko gọi đó là “Phát xạ nhiệt điện từ của thiết bị thủy phân” và nhận bằng phát minh Liên Xô năm 1962.

Công trình từ thập kỷ 50 của ông được các viện sĩ ủng hộ: I. V. Kurchatov và S. P. Korolyov, có cả nguyên soái G. K. Zhukov [68]. Dựa trên nguyên lý này, thiết bị phát điện gọi là TOPAZ (hoàng ngọc) dành cho trạm không gian được thử nghiệm. Viễn cảnh nó giúp ích hoặc thay thế 1 phần cách lò phản ứng hạt nhân là có thể. Nhưng mọi thứ trước nguy cơ đổ vỡ vì phát minh này. Một hội đồng các chuyên gia được lập ra, do Shpilraen đứng đầu [15] đưa ra kết luận nó trái ngược qui luật vật lý. Không ai còn dám mạo hiểm. Filimonenko bị bãi nhiệm. Năm 1968, sau khi phát giác ông ký đơn đề nghị cấm thử vũ khí hạt nhân, người ta tống ông vào trại tâm thần [15]. Tất cả công việc dừng lại. Cho đến tận 1989, sau khi bê bối nhạy cảm M. Fleischmann và S. Pons xảy ra người ta mới biết đến thử nghiệm hạt nhân lạnh bên Mỹ và đề nghị cho phép Filimonenko trở lại với công việc. Nhưng đã quá muộn, tàu đã trật bánh, tuổi trẻ, sức lực và trí tuệ của ông đã tiêu tan hết qua những năm tháng trong trại tâm thần. Chẳng ai trẻ được mãi, ông vẫn còn sống sót ra được khỏi đó đã là quá may mắn rồi.

I. S. Filimonenko
http://www.rusphysics.ru/picture/img/Filimonenko-2.jpg

Julia 17-06-2013 12:03

Bài viết của anh SSX có rất nhiều thông tin. Bọn em đọc và ghi nhận, coi như là những thông tin tham khảo. Đọc rất thú vị, tuy nhiên em không dám bấm like vì em cũng chưa có nguồn thông tin chính thống để khẳng định. Mặt khác, Enstein là vĩ nhân được công nhận, một cây cổ thụ quá lớn, trên thế giới các nhà bác học lớn cũng chưa ai dám phản bác nên bọn em cũng chỉ dám đọc nhưng không dám bình luận. Anh SSX cứ tiếp tục. :emoticon-0162-coffe

SSX 17-06-2013 18:15

Thay cho lời kết!
 
Đừng nghĩ rằng vấn nạn làm điêu tàn USSR đã hết. Cũng vấn đoàn chủ tịch viện hàn lâm ấy lập ra “Ủy ban đấu tranh chống ngụy khoa học”. Nếu như trước, mũ là “duy tâm” và “hoang tưởng”, giờ chúng vẫn có thể chụp mũ bất cứ ai, bất cứ cái gì là “ngụy khoa học”, là “giả tạo”… Thí dụ, cái ủy ban này đã tuyên nhiệt hạch lạnh là ngụy khoa học, trường biến dạng, máy nhiệt Potapov…[70] cũng thế. Những thứ này vẫn cứ đối lập Anhxtanh, và do đó chẳng có gì thay đổi cả. Cho dù máy nhiệt Potapov đã làm việc thường xuyên hàng bao nhiêu năm khắp các nhà máy…

Khi tác giả bài viết này đến gặp viện sĩ Nga A. N. Nikitin – người giữ chức vụ khá cao trong giới hàn lâm, để bày tỏ ý định viết 1 cuốn sách phê phán lỗi lầm và lừa gạt Anhxtanh, con người nhiều kinh nghiệm này thốt lên: "Ну и проживёшь после этого всего дня три, не больше!"

Trong di sản công lao của Anhxtanh còn có một tội lỗi nữa, ký đơn thư gửi TT Mỹ đề nghị làm bom nguyên tử [36]. Trong khi đồng minh đang tiêu diệt chủ nghĩa phát xít mà chẳng cần đến nó, và nhìn chung là bằng cái giá không thể tính đếm được xương máu của nhân dân Xô Viết. Người Mỹ ném bom xuống Nhật Bản năm 1945, hàng trăm ngàn dân chúng vô tội đã chết, hậu quả khôn lường cho đến tận ngày nay!

Khi Anhxtanh chết năm 1955, xác ông ta như kể là được thiêu và rải ra đâu đó bí mật cho gió cuốn đi [2]. Tác giả nói chuyện với một người Do Thái già am hiểu, ông ấy kêu lên: Không phải như thế! Tín ngưỡng chúng tôi cấm làm như vậy! Bởi khi Messiah trở lại, tất cả người DT như đã nói trong Talmud, sẽ đội mồ sống dậy. Ai muốn tái sinh, phải chôn trong lòng đất. Cái gì vậy! Liệu Anhxtanh mà lại chẳng biết điều này!

Tôi biết chắc chắn, Anhxtanh là con người sùng đạo, một “người DT thực sự” như ông Pays từng gọi. Và từ tuổi thơ, Anhxtanh đã siêng năng và cuồng tín học Judaism. Có lẽ ông ta đã không còn muốn sống lại để lại một lần nữa dấy binh làm loạn cái thế giới này, có lẽ ông ta sợ, có lẽ ông ta không chịu nổi mỉa mai chế nhạo và khạc nhổ vào mình thêm một lần nữa bởi những người am hiểu thực sự thế nào là vai trò đích thực của khoa học chân chính. Ông ta biết, mình cũng chỉ là một chi tiết, trong cỗ máy được vận hành bởi một thế lực khác. Ông ta đủ tài để hiểu, chẳng có ai làm một công cụ mù quáng mà được vinh danh.

Người ta sợ dân Do Thái có lắm ma thuật sẽ dựng ông dậy, và ông đã làm cái việc đúng đắn duy nhất tốt đẹp cho thế giới này. Hãy yên nghỉ vĩnh hằng Anhxtanh!


Phần tư liệu chính của loạt bài trên đây lấy từ cuốn sách của tác giả Н. А. Жук, có tên: О КУЛЬТЕ ЛИЧНОСТИ ЭЙНШТЕЙНА И ЕГО НЕГАТИВНОМ ВЛИЯНИИ НА ФИЗИКУ

Chương: Взлёт и падение Эйнштейна; phần 2.7 và 2.8 Первые жертвы эйнштейнианства; Советские жертвы эйнштейнианства;

Các bạn có thể tìm thấy nó trên yandex, gần 400 000 hits, đủ nhiều để dễ tìm: http://yandex.ru/yandsearch?text=%D0...29569&lr=10552

minminixi 18-06-2013 10:53

Lâu lâu ghé thấy bác SSX vẫn sung sức nhỉ? nhưng có lẽ bác đưa tài liệu mà chưa kịp nêu chính kiến. Từ 10 năm nay BT cũng biết nhiều góc cạnh không phù hợp của TTĐ, cũng dần dần hết coi Anhxtanh là vĩ đại sáng tạo, mà chỉ đơn thuần coi ổng như một người biết tập hợp tài liệu vĩ đại, do đặc thù công việc thủ thư khoa học sáng chế của ông. Người biết đọc tài liệu là yêu cầu bắt buộc cho chương trình học thạc sĩ ngày nay (mình không nói chuyện mua bằng cấp).
Tự mình nhận thấy cái nổi nhất là vụ Nhật thực đo hồi 1917-1921 của Eddington, kết quả theo mình là không thuyết phục. Có những điều khá đơn giản mà giới khoa học cố tình lờ đi ngoài chuyện phép tính sai số, đó là:
-Cuộc thí nghiệm đó chỉ đề cập đến hiệu quả của "bẻ cong tia sáng" với vị trí 1 số sao lẽ ra khuất sau đĩa MT, nhưng khi nhật thực lại thấy chúng ló ra ở mép đĩa.
-Việc tia sáng đi gần bề mặt MT còn có thể bị khúc xạ do lớp khí loãng nóng quanh MT. Không chỉ MT mà bất kỳ ngôi sao nào cũng là các khối cầu khí, xunh quanh nó dĩ nhiên là khí loãng, và nó khúc xạ ánh sáng như bình thường theo nguyên lý thấu kính thông thường. Sự khúc xạ này ta luôn thấy khi bình minh và hoàng hôn, nó khiến MT có vẻ to hơn lúc trên đỉnh đầu và có sắc đỏ.
-Hiện tượng dịch chuyển đỏ của ánh sáng cũng chẳng liên quan gì đến TTĐ và hoàn toàn có cách giải thích khác không cần dùng đến giãn nở. Thậm chí thiên hà gần ta thứ 3 (~ 2 triệu năm AS) là Tinh vân Tiên nữ sẽ đâm vào ta trong hơn tỉ năm nữa, còn 2 đám tinh vân Magienlang thì sẽ sớm hơn thế.
-Hopking đã từ bỏ thuyết hố đen của ông, nhưng không nói lý do chỉ vì sợ làm sụp đổ TTĐ, hay người ta không cho ông nói chăng (ông tự hiểu điều đó)?
Khoa học về bản chất vẫn không thể tách khỏi các cuộc đấu tranh trong xã hội, đơn giản vì nó luôn phải phục vụ xã hội trước hết.

SSX 19-06-2013 03:27

Khoa học thời đại bế tắc
 
Lý thuyết trò chơi, có ví dụ được lấy để giảng dạy là về 2 tù nhân. Có hệ quả rút ra từ đó: Khi tồi tệ đến thì tồi tệ nhất sẽ đến! Mấy bà buôn thúng bán bưng vỉa hè gặp cái tồi tệ là chỉ thị: đường thông hè thoáng! Các bà có nguy cơ gặp phải những anh trật tự đô thị hung hãn nhất.

Khoa học cơ bản đã có thời kỳ phát triển rực rỡ thế kỷ XVII-XVIII, và sau đó suy tàn. Cái tồi tệ ở đây là khoa học đã thối nát ngay từ thế kỷ XIX, trên cái nền đó Anhxtanh xuất hiện, là cái tồi tệ nhất cho khoa học.

Thập kỷ 1930, có 1 người Áo là Kurt Godel đưa ra định luật bất toàn. Theo đó: Bất kỳ một tập hữu hạn các tiên đề nào cũng là không đủ để mô tả cho mọi sự vật hiện tượng.

Một cách nói khác của Godel: Bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng nên, đều chỉ phản ảnh một tình huống nhất định của nhận thức. Nên phàm những gì càng to lớn vĩ đại, càng hay sai. Bên trong một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt đến một bức tranh sâu rộng hơn để có thể nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó. Nhận thức có hạn còn vũ trụ vô biên! Liệu có thể đứng ngoài vũ trụ để có thể có nhận thức đúng về nó? Nhận bừa vô biên thành cái có hạn, dẫn đến kiêu ngạo và ảo tưởng. Tưởng mình bao trùm cả vũ trụ, hóa ra chỉ cầm đầu một đám tín đồ cuồng tín khi biến mình thành giáo phái khoác áo khoa học.

Mẹ hát con khen hay có gì sai không? Bà mẹ dựa trên một tập các trải nghiệm của mình và đứa con. Nó dễ sai bởi trải nghiệm là hữu hạn và càng dễ sai với qui mô tổ dân phố, phường xã.

Việc các ông TS bầu ra một ông TS làm chủ trò trong cái hội các ông TS, ông ta không chắc có thể phán xử đúng trong nội bộ cái hội ấy. Và sẽ càng nguy cơ sai khi ông đi phán vũ trụ.

Rõ ràng để có được đúng đắn, cả bà mẹ và ông chủ hội cần thêm những điều kiện khác nữa, bên cạnh cái tập tiền đề là trải nghiệm.

Chúng ta có thể có ví dụ khác nữa: Kẻ ngoài cuộc sáng suốt hơn kẻ trong cuộc, hay các anh đi Tây về bao giờ cũng ngon hơn anh trong nước… Hay thậm chí là câu châm ngôn: Cho tôi biết người bạn thân của anh như thế nào, tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào. Tất cả các điều đó có nghĩa là không bao giờ biết đầy đủ về chính mình, nếu không nhìn từ bên ngoài vào. Cũng có hệ quả khác: tranh cãi với các môn đệ giáo phái Anhxtanh là vô ích, khi họ không bao giờ đứng ngoài tầm ảnh hưởng của Anhxtanh.

Nền khoa học thế giới cũng không thể tránh được con đường thử và sai, càng sai càng thử. Chúng ta thấy, thử nghiệm nhật thực Anhxtanh được thử suốt cho đến tận 1979, chứ không phải chỉ có 2 cuộc 1919 và 1922. Thấy liên tục những trò chứng minh Anhxtanh, tốn kém tiền của, thì giờ, công sức. Cho đến nay, không có bất cứ thử nghiệm nào chứng minh nổi tương đối là đúng. Chúng ta thấy, người Mỹ liên tục cả chục lần bay lên mặt trăng, các du hành gia lên đó, lần nào cũng thế làm cùng 1 số việc, càng làm càng lộ ra là lừa đảo, trong khi chỉ cần bay 1 chuyến là đủ. Tất cả những việc đó dĩ nhiên có lý do khác nữa: tiền! Làm khoa học với động lực tiền rất nguy hiểm.

Cỗ máy Large Hadron Collider vừa qua, người ta không bao giờ công bố số liệu, chỉ tuyên: Ơ-rê-ka! Tìm ra rồi! Higg boson đây! Nếu có ai đó hỏi, họ bảo em thấy từ boson, bắn ra 4 electron về 4 hướng! Làm thế nào để 4 electron cân bằng năng lượng với 1 boson, chẳng ai thèm nói gì về bảo toàn?

Chưa yên với tốn kém chục tỷ $, có ngay phí tổn chục tỷ $ khác, mà lý do cũng tương tự: để em nhìn hạt vừa thấy cho rõ hơn!

Ở ta cũng tương tự như thế thôi: em cần ngàn tỷ đóng tàu nghiên cứu đại dương! Em cần 6 ngàn tỷ chữa cháy!

Những đồng tiền chi tiêu mà không có sản phẩm gây lạm phát, làm méo mó tất cả. Cũng chính từ hệ quả Bất toàn Kurt Godel, khi tập tiền đề càng kém, nguy cơ sai hỏng càng cao: Để phát triển kinh tế-xã hội, nếu chưa đủ dữ liệu để hoạch định mô hình, thì những dự án trăm ngàn tỷ dựa trên tư duy duy lý, khoa trương thành tầm cỡ quốc gia, qui mô vũ trụ đầy tiềm ẩn đổ vỡ mà Vinashin và Bô-xít là 2 ví dụ điển hình. Bởi người ta giấu biệt lý thuyết Bất toàn của ông Kurt Godel đi, nên không ai biết tại sao phải trả giá đắt do dự báo sai về tầm nhìn phát triển, không chỉ ta mà nhiều nước cũng thế, lại còn đổ lỗi lung tung. Tắc đường là do xe máy, hôm khác lại bảo tắc đường là do ô-tô. Hôm nữa hiên ngang đứng lên nói tất cả đi xe đạp sẽ hết tắc đường, còn ông nào chót có ô tô thì đi theo chẵn lẽ, thằng buôn xe đạp đang sắp chết cười như Liên Xô.

Kurt Godel chỉ ra giới hạn của khoa học từ 1930. Chúng ta đã với quá xa về cả 2 phía vĩ mô và vi mô. Sai rất nhiều và hỏng rất nhiều.

Vĩ mô thì như Anhxtanh, cuối đời ông mơ về lý thuyết thống nhất lớn (Grand Unified Theory), Hawking như kẻ kế thừa tuyên chỉ ít năm nữa khi nghiên cứu xong thuyết thống nhất lớn, nhân loại sẽ đi đến chỗ tận cùng, hoàn thành khoa học cuối cùng và không còn gì để làm nữa. Thì mới đây đã phải ngậm ngùi khâm phục Godel và nói rằng không thể bước qua Godel, ông đã mất lòng tin vào Grand Unified, không thể có Grand Unified Theory vì Godel đã quá đúng. Lỗ đen, bigbang, hay thậm chí sao neutron cấu tạo từ cái gì, có tồn tại hay không, chẳng ai có chút bằng chứng nào ngoài các tưởng tượng. Hay thậm chí ether có hay không vẫn còn đang tranh cãi chứ không hẳn đã hết.

Vi mô chúng ta có cơ học lượng tử, đã thấy cả thế giới khác mà tất cả đều rung rinh huyền ảo, bất định, đã giải quyết được một số vấn đề, đã biết rõ nguyên tử và hạt nhân. Nhưng ngoài ra thì hầu như chẳng còn gì. Chúng ta thậm chí không biết neutron dính với proton theo qui luật nào để thành hạt nhân, tại sao proton tồn tại tự do còn neutron thì không, chúng ta có mô hình hạ nguyên tử cấu tạo từ quark, nhưng chưa bao giờ thấy nó, thậm chí chưa không biết neutrino có tồn tại hay không ngoài những tuyên bố quá ít ỏi và rất đáng ngờ. Chúng ta có mô hình chuẩn nhưng thủng lỗ chỗ và đầy rẫy nghịch lý.

Tất cả những gì chúng ta có ngày nay, thời hiện đại là những nỗ lực tuyệt vọng của các nhà bác học và những tốn kém khổng lồ vô bổ chỉ để cho chứng tỏ: chúng em vẫn đang mò mẫm trong ngõ cụt đây!

Thế mà nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi nói từ tận đầu thế kỷ XIX: Khoa học đã bế tắc, mất phương hướng, và dĩ nhiên công lao đóng góp của Anhxtanh vào việc này không hề nhỏ.

SSX 30-06-2013 01:04

Khoa học cửa hậu - Наука с черного хода
 
Ở phương tây, do ít bị cấm đoán hơn nên nhiều phản đối Anhxtanh hơn. Có thể liệt kê 6 tác giả có những mổ xẻ phân tích rất thuyết phục. Trong đó, có 1 tác giả Nga và là người đề cập nhiều khía cạnh nhất.


Có một thuật ngữ thịnh hành trong giới học thuật Nga phản đối Anhxtanh: Khoa học cửa hậu! (Наука с черного хода). Có lẽ nó xuất phát từ một tập sách của nhà xuất bản St. Petersburg năm 1998. Chúng ta xem một số ý kiến trong đó.

Anhxtanh vĩ đại, người là tác giả duy nhất của học thuyết cách mạng mới, vậy nhưng các fan Anhxtanh lại lo lắng và bực bội với thực tế là ông ta chỉ tạo ra sự đảo lộn qui mô khoa học chưa từng có. Có 1 thực tế phũ phàng là cho đến tận ngày nay, 1 thế kỷ sau Anhxtanh, không có bất cứ ứng dụng nào của học thuyết Anhxtanh. Không có bất cứ ứng dụng nào cả! Người ta phóng vệ tinh bằng những phương trình và tính toán khác Anhxtanh, người ta có hệ thống GPS và GLONASS mà không cần Anhxtanh. Trái lại càng khi những công trình bộc lộ Anhxtanh vô dụng, các fan Anhxtanh càng rúc vào dưới váy người nhắm mắt bịt tai run cầm cập và tự an ủi với nhau Anhxtanh thật vĩ đại.

Tác giả bộ sách, S. G. Bernatosyan có ý tưởng và đặt tên cho tuyển tập sách bất thường về “những trí thức” gian lận và lừa đảo này xếp hạng Anhxtanh là kẻ ăn cắp khoa học với lý do chẳng có gì tốt đẹp: Nhiều trong các luận điểm nêu bởi nhà lý thuyết vật lý trẻ, đã được đưa ra bởi những người tiền nhiệm của anh ta (p. 159), và công trình không phù hợp với công lao của tượng đài Anhxtanh (p. 160-161).

Chúng ta đọc cuốn “Trộm cắp và lừa đảo trong khoa học” (tên tiếng Nga: Воровство и обман в науке) cuốn đầu tiên trong tuyển tập lớn “Khoa học cửa hậu” (Наука с черного хода) của nhà xuất bản St. Petersburg, 1998. Sẽ hết mọi ngờ vực không mấy dễ chịu về khái niệm tương đối bao trùm trong cuốn sách và nêu ra câu trả lời thú ví cho câu hỏi: ”Các vị có biết không... Thuyết tương đối không thuộc về Anhxtanh?”

SSX 01-07-2013 01:45

Khoa học cửa hậu - Наука с черного хода
 
N. Mikhailov viết trong “Техника и наука”, № 3/83”: “Anhxtanh là như thế nào với Anhxtanh”, theo cách của mình tìm câu trả lời cho “cửa hậu” – Vấn đề chủ chốt để hiểu về quá trình này bị che dấu ở thực tế là khi ông ta hoạt động ở độ tuổi 23-30. Bảy năm làm việc ở văn phòng sáng chế Bern đã định hình quan điểm của mình về khoa học. “Ở đó đã rèn luyện nên đặc điểm của Anhxtanh – thường xuyên và nhanh chóng tiếp xúc với những vấn đề khoa học nhạy cảm và kỹ năng tiếp cận vấn đề khoa học.”

Đặc điểm là các công trình khoa học lớn trong những năm này được thực hiện chỉ dựa trên hiểu biết ông ta có được từ các nghiên cứu có chứng nhận phát minh sáng chế. Mikhailov giải thích: Làm việc ở văn phòng sáng chế là nơi mà các ý tưởng đi qua. Các đơn đăng ký phát minh là “nguyên liệu thô”, những kết quả lao động trí óc chưa đến độ chín, Anhxtanh có thể nhanh chóng nắm bắt được vấn đề, truy cập vào “sản phẩm” và định hướng ra con đường ngắn nhất đến kết quả. Bắt được các ý tưởng đã công bố một cách rõ nét, toàn bộ… Anhxtanh cuối cùng trở thành thời đại.

Trong 1 lần phỏng vấn, khi được hỏi: Ông nghĩ có cái gì khác nhau giữa ông và những người khác? Anhxtanh trả lời: “Nếu mọi người tìm cái kim trong đống cỏ, phần lớn họ sẽ dừng tìm kiếm ngay khi thấy nó. Tôi làm khác. Tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm và nhanh chóng thấy cái thứ 2, thứ 3. Và nếu tôi rất kiên trì, thì có thể tìm thấy cái thứ 4, 5…”

Ông ta nói bằng giọng đơn giản, và người ta tưởng “thiên tài” vẫn đang nghiên cứu khoa học! Và ông ta đọc bằng giọng đơn giản…

Hai lý thuyết tương đối của Anhxtanh, rộng và hẹp không hề có bất kỳ ứng dụng thực tế nào! Bất chấp điều đó, chúng vẫn được tán tụng thiên tài và vĩ đại. Kể từ khi ra đời đến nay, đã bao nhiêu tiền bạc, thì giờ và công sức để chứng minh giả lý thuyết là đúng đắn. Nhưng quan trọng hơn, nó như chiếm ngự như khái niệm Vật lý lớn, hay Ong chúa, hay Mô hình mạnh đã nêu trong loạt bài của Richard Moody.

Thậm chí, người ta quên luôn cả những nhà khoa học, đã có những đóng góp vô cùng lớn và những công trình của họ đang có ứng dụng hàng ngày. Thí dụ, Nicolas Tesla hay M. O. Dolivo-Dobrovolsky, cả 2 đều là về điện xoay chiều 3 pha, biến áp và truyền tải. Thử hình dung ngày nay không có điện xoay chiều 3 pha?

Càng ngày càng có nhiều thứ lộ ra Anhxtanh đã hoang đường. Mỗi lúc như thế, các tín đồ giáo phái Anhxtanh lại núp dưới váy thánh, chờ sóng yên biển lặng rồi lại xông ra sủa Vạn tuế! Vạn vạn tuế! Khi hệ thống định vị toàn cầu GPS và Glonass ra đời là lúc như vậy. Đợi người ta quên, chúng sủa GPS chứng minh Anhxtanh!

GPS nào chứng minh Anhxtanh? Thậm chí trong các yếu tố gây ra sai số GPS, có một thứ mà nói ra là các tín đồ Anhxtanh trốn mất dạng: Ánh sáng đi cong! Nó bị cong bởi không khí như thấu kính, bởi lớp trên khí quyển là plasma loãng. Và điều đó làm cho GPS sai số. Thế mà nhật thực của quí ông Eddington, chưa kể ông ta đã xào nấu dữ liệu, đo thấy ánh sáng các vì sao, đi sát rìa mặt trời, xuyên qua lớp khí quyển đặc plasma, bị bẻ cong là chứng minh ánh sáng cong do hấp dẫn Anhxtanh!

Thực sự, bạn sẽ rất khó tìm thấy sai số ánh sáng cong trong GPS. Nó chìm lấp trong hàng đống những ngôn từ rối rắm phức tạp, đánh lừa người đọc kiểu bác học Mỹ! Nhưng có 1 thực tế, chiến tranh Nam tư, Iraq, các vũ khí ứng dụng GPS của Mỹ, gọi là vũ khí độ chính xác cao, toàn đánh về đêm. Chúng cần đánh về đêm để đạt được độ chính xác, ban đêm sẽ ít nhiễu hơn, ánh nắng mặt trời không còn, lớp plasma loãng sẽ mỏng hơn, không khí không bị hun nóng bốc lên gây nhiễu loạn…

Và cũng thực sự, GPS và Glonass bác bỏ thuyết tương đối, nhất là tương đối hẹp. Nếu theo tương đối Anhxtanh, chẳng có hệ thống định vị vệ tinh nào hoạt động nổi. Các con quay hồi chuyển la-de 3D dùng để định vị vệ tinh xung đột nặng với tương đối hẹp. Hệ thống định vị cần đồng bộ các đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh. Người ta phát sóng điều khiển đồng bộ từ mặt đất, còn tính toán thì theo hiệu ứng Sagnac hoặc những lý thuyết khác chính xác hơn rất nhiều, những thứ khác ấy bị Vật lý lớn đè bẹp, nhưng lại có ứng dụng.

Nhưng đúng là vật lý và vũ trụ có một số hiện tượng, không thể giải thích được theo cách hiểu thông thường, như hiệu ứng Sagnac chẳng hạn. Những hiện tượng đó bị Anhxtanh vo viên và xào xáo trong thuyết tương đối. Gã đầu bếp tồi tệ đã trình bày một món ăn hổ lốn, ghê tởm đến độ media DT có xức nước hoa vào thì những kẻ biết đến qui trình chế biến cũng đều bịt mũi chạy sạch. Thậm chí người ta quay sang giải thích những hiện tượng đó hoàn toàn bằng cơ học cổ điển. Mà lại giải thích thành công. Chúng ta có ví dụ kinh điển: Cực cận sao Thủy (bài #23), hoàn toàn có thể tính toán theo Newton mở rộng đạt chính xác hơn nhiều.

Nhưng bọn chúng nói, Anhxtanh ra đời đã đưa Newton xuống mồ! Hai ông Leonid Davidovich và Stanislav Davidovich tin rằng, những hiện tượng tự nhiên đã biết không thể giải quyết được bằng thuyết tương đối và nhấn mạnh, họ tin rằng tín đồ Anhxtanh đã tấn công Newton bằng quan điểm vô nguyên tắc và thiếu hiểu biết những luận điểm cơ sở của cơ học cổ điển và nguyên lý tương đối được đặt nền móng từ Galile. Không thiếu những ứng dụng của Newton trong khoa học kỹ thuật và đời sống hàng ngày ngày nay. Nó giản dị như chính Newton vậy.

Những ai quan tâm có thể đọc cuốn sách lạ thường : “Воровство и обман в науке” ở đây.


SSX 01-07-2013 11:41

Khoa học đáng ngờ!
 
Thực sự, cơ học cổ điển là một chương quan trọng và cơ bản của vật lý. Chưa có ai nghiêm túc có ý định bỏ nó. Ông tổ của ngành hàng không Nga, N. E. Zhukovsky từng nói: “Thật đáng ngờ công trình của Anhxtanh lại là quan trọng… và các vấn đề của lý thuyết điện từ đã được giải quyết dựa trên cơ học cổ điển.”

Còn Konstantin Tsiolkovsky (1857-1935), ông tổ ngành vũ trụ Nga nhấn mạnh: "Tôi thấy chẳng có gì hổ thẹn để bỏ cơ học Newton”. Ông phủ nhận “không gian 4 chiều” vì nó là “ngu xuẩn vật lý” và nó chẳng thêm được gì vào kho tàng kiến thức của chúng ta. Ông nói: “Tôi rất buồn vì các nhà khoa học bị mê hoặc vào thứ lý thuyết thật nguy hiểm, như Anhxtanh” (Исследования по истории механики. М., 1981, с.58-70). Tư tưởng của Tsiolkovsky là trùng hợp theo một số cách nào đó với ông P. Spolter thời nay. Spolter cho rằng: Suy luận của Anhxtanh về không thời gian 4 chiều là kết quả của định lý hóa tự biện và triết lý tục tĩu! Không đếm xỉa đến thực tế đã biết mà một lý thuyết phải đề cập (P.Spolter. Gravitational Force of the Sun 4 , 1993).

Spolter nêu rõ đặc điểm của thuyết tương đối hẹp là một thứ “khoa học giả tưởng” và cũng là ngụy khoa học. Theo những gì người ta quan sát được, càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu thấy “thuyết tương đối hẹp đã sai lầm từ tận nền móng của nó” (“Наука и жизнь”, №3/90, с.121). Nó chỉ để trình diễn mà không giải quyết được vấn đề. Còn thuyết tương đối rộng, mang tiếng là tổng quát cho toàn vũ trụ, thì lại khuyết tật đến tận cùng, với nhiều hệ lụy kéo theo nó (А. А. Денисов. Мифы теории относительности, Вильнюс, 1989). Những lý thuyết này đơn giản chẳng đáng là thế giới vật lý thực, chúng đánh mất tất cả những gì liên quan đến thực tế và, theo con đường phát triển của toán học trìu tượng, đã tích lũy đầy trái nghịch và không được thực nghiệm xác nhận (В. А. Ацюковский. Материализм и релятивизм. М., 1993, с.143).

Viện sĩ A. Logunov đã từng phải bỏ công sức để hệ thống hóa những cơ sở ngu ngốc của thuyết tương đối rộng. Gồm cả tiên đoán ngớ ngẩn kỳ quái “lỗ đen”. Chẳng có lỗ đen nào nơi vật chất bị nén đến độ đậm đặc, và về nguyên tắc là không thể. Như thế đã loại trừ “khủng hoảng lớn nhất mọi thời đại trong vật lý cơ bản”. Ông Logunov khẳng định: vật lý không được phép theo những tiên đoán như thế, bởi như vậy là thừa nhận “vạn vật tự nó”.

Logunov nói thuyết tương đối rộng chứa lắm sự mơ hồ hơn là tin cậy, “lý thuyết mà không có định luật bảo toàn thì không thể đầy đủ”. Mô tả trong thuyết tương đối rộng, trường vật lý mà có thể bị hủy hoại bởi xảo thuật toán học – đơn giản thay thế các biến… đã là gì đó xằng bậy! Ngay cả cái tên của lý thuyết đã phản ánh sự lẫn lộn rất lớn – bởi trong thuyết tương đối rộng, tính tương đối lại ít rõ nghĩa hơn trong thuyết tương đối hẹp (“Наука и жизнь”, № 2-3/87, “Техника - молодежи”, № 10/86). Và thực ra, tương đối rộng phải gọi là thuyết tuyệt đối mới đúng, theo ý tưởng bao trùm toàn vũ trụ.

Như sau này cho thấy, số phận của viện sĩ Logunov cũng chẳng ra sao, một nạn nhân khác của chủ nghĩa Anhxtanh.

SSX 01-07-2013 11:48

Khoa học đáng ngờ!
 
Nicolas Tesla, nhà vật lý để đời những phát minh quan trọng, trong một lần trả lời một tay phóng viên ông nghĩ thế nào về thuyết tương đối nói: “Đọc cái lý thuyết vật lý này chỉ có những kẻ ngây ngô” ((“Молодая гвардия”, № 8/95). Một nhà nghiên cứu Nga nổi tiếng trong lĩnh vực quân sự, ông A. A. Denisov cho rằng: thực sự, nhiều thứ to tát chết người trong tương đối chỉ là những tiên đoán toán học có tính hình thức. “Thuyết tương đối tự dẫn mình đến ngõ cụt, tạo ra hệ thống hoang đường vật lý móc xích với nhau, mà đôi khi người ta hoàn toàn chấp nhận trong mô hình tính toán mô phỏng, trông bề ngoài có vẻ hợp lý, nhưng lại lật nhào thực tế khách quan từ đầu đến cuối.”

Thực tế, trong những trường hợp thử nghiệm cả 2 lý thuyết, người ta thường phải đối mặt với ý nghĩ thèm muốn rõ ràng có xu hướng can thiệp trực tiếp vào các yếu tố (Ацюковский, с.55). Ví dụ về điều đó có rất nhiều, khuynh hướng cực đoan khó ưa của các nhà khoa học là tìm cách chứng minh Anhxtanh bằng mọi phương tiện và mọi giá có thể. Điều đó được phân tích kỹ trong cuốn sách của V. A. Atsyukovsky có tên “Những cơ sở logic và thực nghiệm của thuyết tương đối (Логические и экспериментальные основы теории относительности - М., 1990).

Có thể lấy ví dụ thực nghiệm nhật thực 1919 của Richard Moody. Cuộc thử nghiệm xào số liệu này bị phản đối ngay từ đầu. Từ sách của ông Pays chúng ta biết thêm về 1 người khác ngang bướng nhưng thông minh và phản đối thuyết tương đối, đó là Ludwik Silberstein. Trong thảo luận, Silberstein nói: trong khi không có cơ sở đầy đủ để khẳng định rằng tia sáng bị bẻ cong, sự tồn tại của những gì mà tôi thừa nhận, là gây ra bởi hấp dẫn! Ông chỉ vào bức chân dung Newton treo trên sảnh kêu lên: “Ký ức về con người vĩ đại này khiến chúng ta phải rất thận trọng trước những gì liên quan đến mưu toan sửa đổi hay xem xét lại toàn bộ qui luật hấp dẫn” (Брусины. Иллюзия Эйнштейна, с.56). Hóa ra, chứng minh Anhxtanh bằng nhật thực, lại vô tình chứng tỏ sự đúng đắn của cơ học cổ điển Newton (М.Гарднер. Теория относительности для миллионов. М., 1964 с.117).

Ether! Môi trường trung gian để truyền ánh sáng là nỗi bí bức, cơn khủng hoảng khoa học của thời 1900. Vì sao sáng lòa trên trời đã ra đời để giải quyết bế tắc khoa học! Niềm vui hân hoan vỡ òa trên gương mặt các nhà bác học. À ra thế!

Ra thế nào? Tương đối hẹp không tương thích với ý tưởng ether tồn tại, tương đối rộng lại không tương thích với ý ether không tồn tại. Hai lý thuyết vĩ đại của cùng 1 tác giả, cùng 1 giáo lý, tương đối rộng là kế thừa mở rộng của tương đối hẹp nhưng 2 thứ tự mâu thuẫn với nhau và không chỉ ở ether (Ацюковский, с.30).

Để tổng kết. Học thuyết tương đối Anhxtanh đã hỏng ngay từ cốt lõi, chúng không giải thích được các qui luật tự nhiên, không cần cho các kỹ thuật ứng dụng hay khoa học, kể cả vật lý và khoa học cơ bản. Tất cả vô số những “xác nhận” những “chứng minh” Anhxtanh – là hậu quả của sai lầm hoặc xuyên tạc, bộc lộ sự thèm muốn thật sự và là suy đoán ngụy khoa học, tiên tri hoang tưởng “thiên tài” siêu vật lý.



Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:45.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.