Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Hồ sơ chiến tranh thế giới (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=48)
-   -   Bản dịch:Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.) (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6549)

Mien trung 14-02-2013 13:04

Bản dịch:Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.)
 
Để bạn đọc thuận tiện theo dõi đúng trình tự của quyển sách: "Đông Dương: Tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)" tôi lập thêm chủ đề mới này bắt đầu từ "Lời nói đầu" (đã được hiệu đính)

Đề nghị các bác sau khi dịch xong các chương của mình thì kết nối vào đây để mọi người đọc theo đúng thứ tự. Bác Thao VN chuyển nội dung các chương 3 và 4 do bác đảm trách vào đây sau các chương 1 và 2 thì chắc thuận tiện cho các bạn đọc hơn.

MT

Mien trung 14-02-2013 13:13

Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.)
Đông Dương: Tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)

Tác giả: Mikhail Ilyinsky (nhà báo Nga)




Lời nói đầu của một đồng nghiệp: “Tôi đã bước qua đống tro tàn của 4 cuộc chiến Đông Dương. Vì thế tôi thấu hiểu giá trị hoà bình…”



Một cuộc điều tra báo chí có lần được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề "Ai trong số các nhà báo nước ngoài trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử các cuộc chiến từ những năm 40 - 70 của thế kỷ XX đã viết đầy đủ, nhiều và khách quan hơn về các sự kiện ở Đông Dương”. Kết quả là những người viết nổi trội, sung mãn nhất, có những bài báo nổi tiếng nhất được công nhận là nữ phóng viên Pháp Madelene Riffo, nhà báo Úc Wilfred Burchett, nhà văn Nga Ivan Shedrov và Mikhail Ilyinsky. Họ đã viết những phóng sự, bài báo, tiểu luận, những cuốn sách về tất cả các cuộc chiến ở Đông Dương, ở những giai đoạn và năm tháng khác nhau, và theo thời gian đã có một vấn đề nổi lên là: do hoàn cảnh khách quan, họ đã không viết được một cuốn sách đầy đủ xuyên suốt cả lịch sử quân sự, phát triển các sự kiện chính trị ở Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuốn sách kể về các cơ quan tình báo và ngoại giao bí mật của các quốc gia khác nhau tham gia vào những cuộc xung đột dữ dội nhất trong khu vực. Hiện giờ trong nhóm phóng viên báo chí quốc tế nổi bật khi đó chỉ còn lại một nhà báo, viện sỹ của hai viện hàn lâm quốc tế khác, Chủ tịch viện Hòa bình Ý (Roma) Mikhail Ilyinsky. Và ông đã nhận trách nhiệm viết một cuốn sách như vậy về Đông Dương, trong đó sẽ tiết lộ những trang chính về các cuộc chiến ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, những đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Nam Á, chỉ ra nguyên nhân và mục đích xâm lược của các thế lực bên ngoài như Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Ngay trong tên gọi của cuốn sách "Đông Dương. Đống tro tàn của bốn cuộc chiến" đã mang ý nghĩa kép. Trước hết nó nói về bốn cuộc chiến ở Đông Dương: đó là - cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống phát-xít, chống lại sự chiếm đóng Đông Dương của Nhật Bản trong các tháng đầu tiên của chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 - 1945); đó là - cuộc kháng chiến chống thực dân (1946 - 1954) chống lại thực dân Pháp; cuộc kháng chiến chống đế quốc (1964-1975) chống lại những kẻ xâm lược và đồng bọn can thiệp Mỹ; và cuối cùng, cuộc chiến thứ tư - lần đầu tiên trong lịch sử của các nước xã hội chủ nghĩa - cuộc chiến biên giới quy mô 30 ngày giữa Trung Quốc và quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đã chưa hề xảy ra trong lịch sử của thế giới, nếu như không tính các xung đột biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc vào năm 1969.

Nếu như về các cuộc chiến đầu tiên (chống quân phiệt và chống thực dân), tác giả kể dưới hình thức những cuộc phỏng vấn các nhà sử học Việt Nam và nước ngoài, các nhà hoạt động chính trị và quân sự, cũng như từ các cuộc trò chuyện với đồng nghiệp và bạn bè của mình là Madelene Riffo và Wilfred Burchett (cả hai người đã qua đời vào những năm 1980-1990), thì về cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược và sự can thiệp của Trung Quốc, với trọng trách là phóng viên quân sự, quan sát viên chính trị và bình luận viên quốc tế, đã được tặng nhiều giải thưởng khác nhau về báo chí, Mikhail Ilyinsky, với kinh nghiệm báo chí của mình, đã đưa ra những phân tích riêng của một nhà sử học, chuyên gia phương đông học về sự phát triển các sự kiện trên các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao. Ông đưa ra giải thích riêng về các khái niệm "bí mật quân sự và chính trị" ở Đông Dương: những gì được coi là bí mật tại giai đoạn lịch sử này hay giai đoạn lịch sử kia, giờ đã trở thành công khai sau một thời gian nhất định, khi thay đổi bộ máy cầm quyền, thậm chí cả hệ thống quyền lực và "bối cảnh" quốc tế khác nhau, với sự sụp đổ của các bức tường và sự “xé rào”. Việc khám phá và “công bố” nhanh hơn và sắc sảo hơn các bí mật quốc tế, được giấu kín và bảo vệ bởi hệ thống đặc vụ và các cơ quan chính quyền khác nhau – chính là công trạng của các nhà báo, những người cùng hành quân với các đơn vị quân đội, cùng sống trong hầm hào trú ẩn và những túp lều thời chiến với những người dân để lánh đạn bom, phải chạy vào khe núi và hang động, nấp thật sâu trong lòng đất. Nhưng họ đã chiến đấu và chiến thắng.

Ý nghĩa thứ hai - Quân sự, địa chính trị

Chiến tranh xảy ra vào những thời gian khác nhau trên bốn mặt trận khác nhau. Mặt trận trung tâm là Việt Nam (bao gồm chiến sự ở miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam), hai mặt trận bên sườn là Lào và Campuchia, các "mặt trận phụ" của mặt trận trung tâm. Vắt qua và kết nối tất cả các mặt trận tại đây là "đường mòn Hồ Chí Minh." Cuối cùng là mặt trận biên giới Việt-Trung. Trong những năm 40-50, nơi đây đã từng được coi là "cánh cửa" tới phe xã hội chủ nghĩa. Vào cuối những năm 70, "cánh cửa" này bị đóng sập lại, sau đó bị bao trùm bởi lửa đạn, đặc biệt khốc liệt trong cuộc xung đột vũ trang đầu xuân năm 1979.

Bây giờ bàn về “tâm lý và triết học” của các xung đột Đông Dương, về sự phát triển của các cuộc chiến "đặc biệt", “chuyên biệt”.

Trong nhiều thập kỷ đã hình thành và được khẳng định quan điểm rằng trong các giai đoạn đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc, cũng như chống lại chủ nghĩa bá quyền đã diễn ra hai quá trình song song nhưng ngược chiều nhau. Một bên là hơn trăm nhóm dân tộc của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, sống ở Đông Dương, trong phong trào giải phóng dân tộc chung đã đoàn kết, gắn bó, phối hợp tích cực và thành công trong hoạt động quân sự và chính trị của mình. Kết quả là họ đã chiến thắng.

Một bên là quân phiệt Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như các nhà tư tưởng chính trị quân sự Trung Quốc, trong những năm 1940-1970 đã chơi quân bài "đạo quân thứ năm". Vì lợi ích của mình, họ đã dùng ngón "bật lò xo" các mâu thuẫn sắc tộc đã và đang tồn tại giữa các dân tộc Đông Dương và các nhóm dân tộc thiểu số khác, cùng những toan tính với con bài "Hoa kiều", “gốc Hoa” - những người Trung Quốc sinh sống tại Đông Dương.

Và những đặc thù dân tộc cũng như văn hoá và tôn giáo này được tác giả cuốn sách trải nghiệm và phản ánh, sau khi đã nghiên cứu và sống ở Đông Dương trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Tác giả không đơn giản hoá kết quả trong những thắng lợi quân sự và các thất bại đơn lẻ của những người yêu nước Đông Dương, mà nhìn nhận chuỗi phát triển lôgic các sự kiện chính trị - quân sự tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trong suốt thế kỷ XX. Cuốn sách này là sự tổng hợp công sức của một nhà báo và nhà sử học, nhà nghiên cứu, quan sát viên và nhà biên niên sử. Tính thời sự của cuốn sách này được tiếp tục trong thế kỷ XXI, khi mà, than ôi, chiến tranh du kích vẫn chưa được loại trừ ra khỏi các mối quan hệ quốc tế và nội bộ quốc gia.

***

Các chiến lược gia, các chuyên gia tâm lý và mật vụ phương Tây đã đặt cược ở Đông Dương, tính toán tới việc chia rẽ xã hội ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, củng cố cho lối "sống và tư duy theo kiểu phương Tây", họ đã bỏ ra những khoản tài chính khủng khiếp cho bộ máy chính quyền địa phương, quân đội, cảnh sát, lực lượng hiến binh và các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng phương Đông, như chúng ta đã biết, mãi mãi vẫn là phương Đông. Và tác giả tiết lộ một số bí ẩn đã trở thành những điều "bí ẩn-bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương".

Bây giờ nói về những “đống tro tàn" cụ thể của bốn cuộc chiến Đông Dương. Phần “bi kịch” hay của cuốn sách ở chỗ này.

“Đống tro tàn thứ nhất". Tháng hai - tháng ba năm 1939. Quân đội Nhật chiếm đảo Hải Nam nằm cách cửa sông Cấm cạnh cảng Hải Phòng gần 300 km. Từ Trung Quốc lục địa quân Nhật tiến dần đến gần biên giới Việt Nam, tới phần bắc của Việt Nam - (Việt Nam được chia thành 3 phần: Тонкин (Tonkin), Аннам (Annam) và Кохинхина (Cochinchine), Nói theo kiểu người Việt là Bắc Bộ (Bắc kỳ) Trung Bộ (Trung kỳ) và Nam Bộ (Nam kỳ).

Từ những ngày đầu tiên của Chiến tranh Thế giới thứ hai, Pháp đã tìm cách sử dụng các nguồn vật lực và nhân lực của Đông Dương cho mục đích tăng thêm tiềm lực quân sự của chính quốc. Tới tháng 12 năm 1939, 70.000 binh lính và công nhân Đông Dương đã được gửi đến Pháp. (Tổng số dự kiến có 1,5 triệu người được gửi đến Pháp chỉ riêng từ Việt Nam). Paris đã buộc các nước thuộc địa ở Đông Dương phải cung cấp cho chính quốc 3,5 triệu tấn lương thực, 800.000 tấn chè, đường, cà phê, 600.000 tấn cao su, 30.000 tấn sản phẩm đay. Tất cả thuộc địa phải làm việc phục vụ chiến tranh.

Thất bại của Pháp, sụp đổ của Paris kéo theo những hậu quả nghiêm trọng cho khu vực Đông Dương. Nhà chức trách Pháp từng bước đầu hàng quân phiệt Nhật. Tháng 7 năm 1940, Nhật Bản đã ra tối hậu thư yêu cầu phía Pháp phải đóng cửa biên giới phía bắc Đông Dương và nắm quyền kiểm soát tất cả các ngả đường tới Trung Quốc.

Sau năm 1940 hai tầng xiềng xích của giặc ngoại xâm đã đè nặng trên vai của Việt Nam. Quân chiếm đóng Nhật Bản liên kết với chính quyền Vichy Pháp để cướp bóc tài nguyên của cải Đông Dương và duy trì chế độ thực dân.

Đô đốc Decoux - toàn quyền Đông Dương, một mặt, nói về "lòng yêu nước Pháp", mặt khác, dễ dàng chia sẻ quyền lực với người Nhật, nhường cho Nhật tất cả các vị trí trọng yếu, đặc biệt là trong các vấn đề quân sự chính trị và kinh tế. Từ 1941 đến 1945, người Pháp đã chi trả cho bộ chỉ huy quân sự Nhật 723 triệu piaso, số tiền gấp bảy lần ngân sách của Đông Dương vào năm 1939.

Lực lượng chiếm đóng và đặc vụ Nhật Bản ở Đông Dương đã tuyên truyền ý tưởng thành lập khu vực "Đại Đông Á" dưới sự bảo hộ của đất nước Mặt trời mọc, củng cố sự đoàn kết của các chủng tộc da vàng, thúc đẩy hoạt động các giáo phái tôn giáo mới trong thế kỷ XX như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên (có gần 1,6 triệu tín đồ). Các giáo phái này tạm thời bị cuốn hút về phía người Nhật, tách khỏi người Pháp và chủ yếu là rời bỏ Mặt trận yêu nước Việt Minh (Tổ chức liên hiệp đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, thành lập ngày 11 tháng 5 năm 1941). Mục đích của những kẻ xâm lược là thống nhất lại tất cả các hiệp hội, phong trào có những chiều hướng khác nhau, các tổ chức, các quan lại, giới tư sản mại bản, địa chủ xung quanh tên tuổi của một người Việt Nam - hoàng thân Cường Để, người sống lưu vong ở Nhật Bản. Phía Nhật Bản cũng cũng không bỏ qua các hoạt động của triều đình vua Bảo Đại (1926-1945), là người, mặc dù được biết đến như là "sống theo kiểu Tây của một kẻ thân Pháp", nhưng đã đồng ý chấp nhận độc lập giả hiệu từ tay người Nhật và cam kết hợp tác với Nhật Bản trong việc thành lập "Đại Đông Á".

Trong tháng 8 năm 1945, quân đội Liên Xô phát động cuộc tấn công tiêu diệt các đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Mãn Châu. Trong bối cảnh này, ngày 11 tháng 8 năm 1945 một cuộc nổi dậy vũ trang đã nổ ra tại tỉnh Hà Tĩnh, và sau đó ủy ban khởi nghĩa được thành lập do Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Ông đã ra lệnh tổng khởi nghĩa vào đêm 13 rạng ngày 14 tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng tám Ủy ban giải phóng dân tộc đã được tổ chức lại thành Chính phủ Cách mạng lâm thời, Hồ Chí Minh là Chủ tịch kiêm Bộ trưởng bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là Chu Văn Tấn (sau này là thượng tướng), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là đại tướng quân đội, người hùng Điện Biên Phủ) Võ Nguyên Giáp. Năm chức danh bộ trưởng đã được trao cho một số người, không tham gia mặt trận Việt Minh. Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH).

Đến tháng 12 năm 1945, tất cả các lực lượng vũ trang của Nhật Bản tại Việt Nam đã bị tước vũ khí và tập trung vào một số trại đặc biệt tại Cape Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Cũng từ đây binh lính và sĩ quan "Đại Nhật" được tổ chức cho hồi hương. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, tại Trùng Khánh, đại diện của Pháp đã ký với những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc một thỏa thuận rút những đạo quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi Việt Nam và thay thế chúng bằng quân đội Pháp, đồng thời cung cấp một số đặc quyền cho Quốc dân đảng ở miền bắc Đông Dương. (Người Trung Quốc còn nhớ điều này cho đến tận bây giờ).

Ngày 06 tháng 3 năm 1946 hiệp định sơ bộ Pháp-Việt và các biên bản kèm theo đã được ký kết. Đây là các tài liệu lịch sử, theo đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, quân đội, quốc hội, tài chính riêng, và các thuộc tính độc lập khác.

Như vậy những tưởng đống tro tàn đầu tiên của các cuộc chiến Đông Dương đã lắng xuống và những mầm xanh của cuộc sống mới bắt đầu nhú lên qua lớp tro này.

***

Mien trung 14-02-2013 13:20

Thất bại của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã được định trước khá lâu, trước khi bị sụp đổ hoàn toàn vào tháng 3 năm 1954, tại trận chiến Điện Biên Phủ.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945 chính phủ Pháp gửi đến bờ biển của Việt Nam binh đoàn lính chiến “Maccie" và Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa dưới quyền tướng Leclerk. Vị tướng được bổ nhiệm làm chỉ huy các quân đoàn viễn chinh. Ông đã liên lạc với Đô đốc Thierry d'Arzhanle - Cao ủy Cộng hoà Pháp tại Đông Dương và cam kết sẽ khôi phục lại sự cai trị của Pháp tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Như bước đầu tiên tiến hành các hoạt động quân sự, ngày 23 tháng 8, toán lính dù Pháp đã được thả xuống một vùng của Nam Bộ (Nam Việt Nam). Quân Nhật đã cho phép toán lính dù này được vào Sài Gòn.

Trong những ngày đầu tiên của tháng 9 lực lượng quân đội Anh-Ấn Độ đã có mặt tại thủ đô của miền Nam Việt Nam, họ mở cửa các nhà tù, phân phát vũ khí cho các nhóm lưu manh. Một làn sóng cướp bóc và bạo lực đã lan ra khắp Sài Gòn.

Tại sao người Anh lại sốt sắng ủng hộ Pháp ở Đông Dương? Nỗi lo sợ cho tương lai các thuộc địa của mình đã buộc họ phải hành động mạnh dạn và dứt khoát, không để ví dụ xấu của Đông Dương lây lan tới các thuộc địa của Anh ở châu Á. Đó chính là động cơ các hành động của London ở Đông Dương.

Ngày 21 tháng 10 năm 1945 quân đội Anh-Pháp phát động một cuộc tấn công ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó các đơn vị của quân đoàn viễn chinh đã tiến lên cao nguyên Tây Nguyên. Chính phủ VNDCCH đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Từ năm 1946 đến năm 1952, quân đội Nhân dân Việt Nam (khi đó được gọi là Vệ quốc quân) đã thực hiện những trận đánh chiến thuật lớn, nhưng cũng ngay trong thời gian đó, hoạt động ngoại giao tích cực từ các chiến hữu của Hồ Chí Minh đã cho phép Vệ quốc quân có thời gian ngưng chiến, có thể bí mật và nhanh chóng sắp xếp lại lực lượng cùng khí tài quân sự.

Tới tháng 5 năm 1947, lực lượng vũ trang Pháp tại Việt Nam đã có hơn 115.000 người, nhưng, như các diễn biến chiến trường cho thấy, quân viễn chinh đã không có lợi thế quyết định mà phải chịu những tổn thất nặng nề, còn chiến thắng nhanh chóng như đã hứa thì chẳng thấy đâu giữa núi rừng xứ Annamit. Các hoạt động quân sự phối hợp của lính dù, các đơn vị trong binh đoàn lính lê dương và các đội tàu chiến trên sông (tháng 10 năm 1947) đã không cho kết quả tích cực. Trong vùng giải phóng khi đó đã xuất hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng!" Đó không đơn giản chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền. Việc sản xuất vũ khí, trang thiết bị quân sự và sửa chữa khí tài, mở đường mới được thực hiện trơn tru. Việc quyên gạo cho bộ đội và dân đã tăng đến 2 triệu tấn vào năm 1947. Phong trào tiết kiệm theo phương châm: "Hũ gạo nuôi quân" được thực hiện rộng khắp. Lực lượng Vệ quốc quân không ngừng được củng cố, những cuộc vận động tổ chức bồi dưỡng chỉnh huấn-chỉnh quân được tiến hành. Nghị định ngày 4 tháng 11 năm 1949 về nghĩa vụ quân sự bắt buộc được thực hiện và vẫn còn hiệu lực đến tận bây giờ .

Uy tín quốc tế của những người cách mạng được củng cố. Ngày 30 tháng 1 năm 1950 quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và VNDCCH được thiết lập, sự công nhận quốc tế và uy tín của nước cộng hòa trẻ tuổi đã được mở rộng.

***

Vào cuối năm 1950 một viên tướng mới đã đến Việt Nam, Tướng De Lattre de Tassigny. Ông mang theo những tài liệu về chiến lược quân sự mới và "học thuyết chiến tranh dồn ép" dựa vào việc nhận được nhiều hơn trang thiết bị quân sự của Mỹ. Xuất hiện cùng lúc tại Việt Nam là các cố vấn Mỹ từ Phái đoàn thường trực của quân đội Mỹ - MAAC. “Sale Guerre” ("chiến tranh bẩn thỉu") - người ta gọi cuộc chiến tranh của Tướng De Lattre tại Việt Nam như vậy.

Lực lượng lính viễn chinh đã phải chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Trong tháng 5 năm 1953, tướng Henry Navarre được bổ nhiệm làm chỉ huy. Trước Việt Nam, ông đã đến Washington, nơi ông đã thống nhất kế hoạch "chiến tranh cơ động" ở vùng núi và thung lũng dựa theo các đặc điểm tự nhiên của Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Để tiến hành các hoạt động quân sự, tướng Navarre được Mỹ cung cấp cho 785 triệu đô la, mà sau này cho thấy, tất cả đã bay theo gió ... Ngày 15 tháng 10 năm 1953 sau cuộc "diễu binh khải hoàn" tại Hà Nội, Tướng Henry Navarre bắt tay vào thực hiện một kế hoạch "Hải âu" hợp nhất các đơn vị chiến đấu của quân đội Pháp ở các khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Kế hoạch này đã thất bại, và ngày 07 tháng 5 năm 1954 sau 55 ngày đêm kể từ khi bị vây hãm, tập đoàn cứ điểm thực dân - Điện Biên Phủ đã thất thủ.

Ở Việt Nam và Paris người ta đã tổng kết cuộc Kháng chiến thứ nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử một nước thuộc địa nhỏ bé đã trở thành người chiến thắng trong cuộc đấu tay đôi với một cường quốc thực dân to lớn.
- Sau gần 9 năm chiến tranh, quân đội thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn đã mất gần nửa triệu lính và sĩ quan.
- Pháp đã đầu tư 2.688 tỷ franc và 2,6 tỷ USD nhận được từ Hoa Kỳ cho chiến tranh.
- Trong quá trình chiến tranh, các lực lượng cách mạng nhân dân đã tiến hành chính sách kháng chiến toàn diện trường kỳ trên cơ sở tự lực, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chống các tầng lớp phong kiến, tiến hành các hoạt động quân sự cùng với việc thực hiện cải cách ruộng đất, triển khai đấu tranh vũ trang, chính trị, kinh tế và ngoại giao, dần dần chuyển chiến tranh du kích thành chiến tranh với các lực lượng vũ trang chính quy.

Đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân được thực hiện kiên định. Ví dụ như hơn 200.000 dân công đã dành hơn 3 triệu ngày lao động cho việc vận chuyển các loại hàng hóa khác nhau ở Điện Biên Phủ. Hàng chục ngàn nam nữ thanh niên đã mở đường, cùng với công binh vô hiệu hóa bom, mìn trên đường vận chuyển. Hàng chục ngàn xe đạp, xe cút kít, tàu thuyền đã được sử dụng để cung cấp cho mặt trận thực phẩm, đạn dược và vận chuyển bộ đội.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân này có nhiều thứ, nếu ở phương Tây chỉ có ý nghĩa thực dụng, còn khi được sử dụng ở phương Đông thì lại rất khác và hoàn toàn không còn mang ý nghĩa dân sự nữa. Ví dụ như chiếc xe đạp, người Pháp đã luôn luôn gọi những người Việt Nam là "dân trên xe đạp", nhưng dường như họ đã không nhận thức được rằng xe đạp là phương tiện giao thông mạnh mẽ và thậm chí còn là “loại vũ khí quân đội". Bằng một chiếc xe đạp, những người dân công đã di chuyển một quãng đường dài với 300-350 kg hàng hóa quân sự. Trên chiếc xe đạp, chiến sỹ liên lạc và quân bưu đã thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu quan trọng. Chiến sỹ súng cối đã bắn đạn cối từ bộ khung xe đạp và bộ đèo hàng phía sau.

Còn tre, loại cây thường mọc ở quanh xóm làng hoặc thị trấn? Đây là thứ vũ khí sắc bén, một cái bẫy, và là một loại vật liệu xây dựng phòng thủ. Những "người Tây" thường gọi người Việt Nam là "dân tre", trong cái tên lóng này có ý nghĩa tiêu cực, nhưng đối với Việt Nam, tre luôn có ý nghĩa tích cực, là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của nhân dân.

...Những búp măng mọc thẳng sau mùa mưa - chính là sự mạnh mẽ của thiên nhiên. Như những con ngựa chiến tung bờm. Cây tre - đó là người hiệp sĩ của mảnh đất Việt Nam. Đó là hiệp sĩ của tinh thần cao cả, vượt qua mọi sự lo toan thường nhật, là người hiệp sỹ mãi mãi sẵn sàng phục vụ nhân dân.

Với người phương Tây để hiểu biết Việt Nam không đơn giản. Đặc biệt là đối với những người đến với một thanh kiếm trong tay. Đối với những người vượt qua ngưỡng cửa của ngôi nhà Việt Nam với hòa bình và lòng tốt, Việt Nam sẽ trao tặng các bí ẩn và những đoá hoa của mình ...

Hoa cúc - biểu tượng của sức mạnh, sự cao thượng và là một dấu hiệu của mùa thu. Khi trời lạnh, hoa toả ra nhiều hương. Ý nghĩa của nó - gian nan mới biết ai là bạn.
Phù dung với những cánh hoa đỏ hồng lộng lẫy - như đời người ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Hoa này chỉ nở trong mười hai giờ.
Hoa sen - biểu tượng của sự thanh cao, đẹp đẽ, là dấu hiệu của mùa hè.
Hoa anh túc và hoa phong lan được gọi là hoa mùa xuân. Phong lan nở vào đêm trước của năm mới theo âm lịch. Được sùng bái như là hoa của tình yêu, tuổi trẻ, sự thanh lịch.
Hoa mận - biểu tượng của sự kiên cường, lòng trung thành. Cành mận - dấu hiệu của mùa đông.
Các nhà khoa học, nhà ngoại giao, nhà sử học, quân nhân, nhà văn, trí thức phải biết các biểu tượng và truyền thống Việt Nam.

Chiếc quạt Việt Nam có một vai trò đặc biệt. Đối với người Việt, quạt có một khái niệm rộng. Vật dụng này được phú cho quyền hạn đặc biệt, và mỗi chuyển động của chiếc quạt đều có thể mang một ý nghĩa nhất định.
Chiếc quạt - đó vừa là nhà hát, vừa để biểu lộ tình yêu. Và đôi khi một cái phẩy tay cầm quạt là một dấu hiệu của một lời tuyên chiến. Vài thế kỷ trước một nhà văn Việt Nam đã từng viết: "Tâm hồn tôi được mở ra cùng với chiếc quạt...". Thế kỷ XV, nhà quân sự và nhà thơ Nguyễn Trãi đã khuyên nhủ các nhà ngoại giao không bao giờ được rời khỏi chiếc quạt. Trong khi nói chuyện, các vệ sĩ đứng đằng sau viên sứ giả chỉ nhờ duy nhất vào chuyển động của chiếc quạt đã có thể biết cuộc đàm phán được tiến hành như thế nào. Chiếc quạt đã chuyển tải tâm trạng nhà ngoại giao: quạt vẫy chậm có nghĩa là có sự hiểu biết, bình tĩnh và nồng ấm trong cuộc trò chuyện giữa hai bên. Khi viên sứ giả vẫy quạt nhanh nhưng đều đều có chừng mực thì đó là một dấu hiệu của sự hòa giải. Nhưng nếu nhà ngoại giao bất ngờ gấp quạt lại và nâng nó lên mặt mình, thì có nghĩa là - chiến tranh không thể nào tránh khỏi. Đã bao nhiêu lần chiếc quạt đã phải gấp lại trong 4000 năm lịch sử của Việt Nam!

***

Đống tro tàn của cuộc chiến thứ hai. Sự kết thúc cuộc phiêu lưu thực dân của nước Pháp trên sân khấu Đông Dương (1946 - 1954). Thất bại của quân đội Pháp đã được Mỹ lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Hạm đội 7 của Mỹ đã tiến gần đến bờ biển Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã đề xuất các lực lượng đế quốc ở Đông Dương phải "phối hợp hành động".

Phản đối các biện pháp này, vào tháng giêng năm 1954, theo sáng kiến của Moskva, một hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đã đạt được thoả thuận triệu tập. Sau 72 ngày đấu tranh ngoại giao phức tạp và nhạy cảm, ngày 20-21 tháng 7 năm 1954 hội nghị Genève về Đông Dương đã tiến hành thông qua các quyết định về việc chấm dứt chiến sự, đã có kế hoạch vạch ra sự phát triển của ba nước Đông Dương theo hướng hòa bình, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau. Nhưng điều đó không nằm trong các kế hoạch quân sự và chính trị của Hoa Kỳ ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Hoa Kỳ từ chối tham gia tuyên bố cuối cùng của hội nghị, nhưng đối mặt với yêu cầu của dư luận quốc tế, đã buộc phải cam kết thực hiện theo "tinh thần và câu chữ" của hiệp định Genève năm 1954. Trên thực tế, đó là khởi đầu của việc can thiệp về chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự quy mô lớn của Mỹ vào công việc của các dân tộc Đông Dương. Thậm chí khi đó đã bùng cháy ngọn lửa một cuộc xung đột quân sự khu vực mới, không chỉ một lần có xu hướng phát triển thành thảm họa quân sự toàn cầu. Đống tro tàn cuộc chiến Đông Dương thứ ba sẽ được phân tán chỉ sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Và bây giờ, hơn hai mươi năm sau, theo trình tự thời gian, theo dõi từng bước diễn biến của chiến dịch quân sự "Hồ Chí Minh" (mùa xuân 1975), nhà sử học và nhà báo đã kể lại với nhiều chi tiết cụ thể về chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Bộ máy tuyên truyền phương Tây đã gọi những hoạt động của Việt Cộng là "hành động khủng bố". Nhưng đó là một cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân vì tự do và giải phóng dân tộc. Chính Hoa Kỳ đã đóng vai trò của một tên sen đầm quốc tế.

Thảm họa cuộc chiến thứ ba ở Đông Dương đã cướp đi một triệu rưỡi sinh mạng, kết thúc bằng những núi tro tàn ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Nhưng khi những vết thương chiến tranh thậm chí chưa kịp lên da non, thì một cuộc xung đột mới lại bắt đầu. Lần này là với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tham vọng lãnh đạo chính trị trong khu vực Đông Nam Á, nhưng không thể áp đặt "luật chơi " lên các dân tộc Đông Dương. Cuộc chiến tranh ba mươi ngày đã trải dọc theo toàn bộ chiều dài (1.400 km) biên giới Trung Quốc-Việt Nam trong tháng 2 - tháng 3 năm 1979. Cuộc chiến tranh này là đòn đáp trả của Bắc Kinh cho sự thất bại của chế độ Pol Pot ở Campuchia, một nỗ lực để "trừng phạt Việt Nam bướng bỉnh", biểu dương ”sức mạnh cơ bắp” và đồng thời để đưa ra một lần nữa tuyên bố lãnh thổ của họ trên một số các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, ...) ở khu vực biển Đông. Nhưng không được.

Những chương đặc biệt của cuốn sách được hướng tới các khu vực "sườn" Đông Dương - hai nước Lào và Cam-pu-chia, là nơi mà lãnh thổ của họ cũng đã bị bao phủ bởi ngọn lửa chiến tranh và được miêu tả trong một bối cảnh chung của cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc và chống chủ nghĩa bá quyền của các dân tộc Đông Dương vì độc lập, hòa bình, tự do và tiến bộ xã hội.

Các chương về cuộc xung đột vũ trang Việt Nam-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1979 có lẽ là tác phẩm báo chí đầu tiên của tác giả nước ngoài này, là người đã chứng kiến các sự kiện và có thể mô tả chúng một cách khách quan, đầy đủ. Vào thời điểm đó, trên biên giới bị bao phủ bởi lửa đạn đã có khoảng 70 nhà báo của gần 40 quốc gia từ các châu lục khác nhau. Tuy nhiên, cuốn sách này, hơn hai mươi năm sau, là tác phẩm đầu tiên của các sự kiện tại thời điểm đó, nhiều sự việc cho đến tận bây giờ vẫn còn được coi là các bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương trong thế kỷ XX.


Ngô Gia Sơn
Nhà báo Việt Nam

Мужик 22-02-2013 13:56

Cuốn sách này con kính tặng cha, người đã hy sinh năm 1941, kính tặng mẹ, người đã hiến cả đời mình cho các con, cho Tổ quốc và làm rất nhiều cho nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Chương I
ĐÔNG DƯƠNG: LỬA ĐẠN VÀ HOA HỒNG

”VÀO LÚC 6 GIỜ CHIỀU SAU CHIẾN TRANH...” VÀ MỘT VÀI BÍ MẬT HÉ MỞ TRONG CUỘC XUNG ĐỘT ĐÔNG DƯƠNG

Chúng tôi hẹn gặp nhau ”vào lúc 6 giờ chiều sau chiến tranh...” Năm nào cũng vậy. Ngày mùng 5 tháng 8. Trên quảng trường Sverdlov ở Moskva. Bất kể thời tiết thế nào. ”Chúng tôi” - đó là những chiến binh quốc tế, như thời nay người ta gọi những ai từng làm việc trong chiến tranh Việt Nam. Còn ngày mùng 5 tháng 8 - bởi vì chính đêm hôm đó năm 1964 đã mở màn các đợt ném bom miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Mỹ được bắt đầu rồi sau đó lan rộng khắp Đông Dương, tới cả Lào và Cam-pu-chia. ”Chúng tôi”- những chiến binh nay đầu đã bạc, những người chứng kiến và tham gia vào các sự kiện xa xưa ấy - đã ở đó...

Cũng vài năm rồi, từ khi địa điểm gặp gỡ, tưởng như ”không được thay đổi”, đã chuyển từ Quảng trường Sverdlov (nó không còn tồn tại nữa) đến toà nhà của Uỷ ban Cựu chiến binh hay loanh quanh tới mấy địa điểm khác của Thủ đô. Nhưng thời điểm và ý nghĩa cuộc gặp mặt của những người bạn chiến đấu vẫn như cũ. Năm tháng cứ trôi qua và chúng tôi còn lại ngày một ít hơn, các câu chuyện của chúng tôi (theo thời gian và theo việc gỡ dấu ”tuyệt mật” cũng như việc một số quy định đã bớt phần hà khắc) ngày một cởi mở và đầy đủ hơn. 35 năm qua, tất cả hay gần như tất cả mọi chuyện đều đã được vén màn bí mật: cả con người, cả vũ khí, thậm chí cả các mối quan hệ giữa con người, cả các cuộc đột kích vũ trang nguy hiểm khi đó là bí mật quốc gia. Nó được giữ kín tuyệt đối và được bảo vệ bởi các lực lượng đặc biệt. Giờ thì người ta đang chờ đợi sự cởi mở.

Liệu ở Hà Nội, Moskva, Bắc Kinh và các thủ đô khác người ta có biết Mỹ sẽ bắt đầu ném bom Việt Nam dân chủ trong tháng 8 năm 1964 không? Có. Có biết. Ví dụ, cựu tướng Ý Nino Pasti đã nói với tôi về việc này. Ông ta từng 2 năm làm Phó Tư lệnh quân đội NATO ở Tây Âu. Nhưng rất ít người khi đó lại có thể tin vào khả năng của cuộc phiêu lưu quân sự này. Thế nhưng đầu hè năm 1964, CIA và Lầu năm góc đã khuyến cáo Nhà trắng phê chuẩn việc ném bom. Uỷ ban Nghị viện Hoa Kỳ về các vấn đề đối ngoại đã buộc phải thú nhận: ”Sự cố Vịnh Bắc bộ, tín hiệu của cuộc xâm lược, do CIA dựng lên để Nhà trắng nhận được quyền lực không hạn chế trong việc mở rộng chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng những dòng này khi đó là bí mật quốc gia của Mỹ.

”Sự cố” vịnh Bắc bộ được chuẩn bị như thế nào? Ngày 23 tháng 7 năm 1964 tàu khu trục ”Maddox” rời cảng Iokosuka Nhật Bản với nhiệm vụ theo dõi các hoạt động của lực lượng hải quân Bắc Việt Nam trên vịnh Bắc bộ. Chiến dịch bí mật này mang mã hiệu tình báo ”34-A”.

Tại một cảng của Đài Loan tàu khu trục ”Maddox” tiếp nhận ”container đen” với thiết bị điện tử dùng để phát hiện các trạm ra-đa đặt tại các vùng ven biển và đất liền Bắc Việt Nam.

Sau đó ”Maddox” được tàu khu trục ”Terner Joy” đến hỗ trợ. Nhóm 2 tầu bắt đầu tuần tra vũ trang với cùng mã hiệu chung: ”71-2”. 19 giờ 40 phút ngày 4 tháng 8, ra-đa của ”Maddox’ phát hiện [21] dấu hiệu của 5 tầu ngư lôi cỡ nhỏ của Bắc Việt Nam và lập tức khai hoả với các loạt đạn có mục tiêu. Jonh Harry, chỉ huy đội tuần tra ngay lập tức điện báo sự việc về Hoholulu cho Bộ tham mưu hải quân Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

”Có đánh nhau thật không? Các anh có thể khẳng định là bị tấn công không? Có chứng minh được các tầu ngư lôi của Bắc Việt bị đánh chìm không?” - Từ Hoholulu Đô đốc Sharp căn vặn.

Không nhận được câu trả lời khẳng định từ hạm trưởng Harry, song cỗ máy chiến tranh của Mỹ vẫn được khởi động. Lệnh ”tấn công đáp trả Bắc Việt” được ban bố. 64 máy bay chiến đấu từ các tàu sân bay ”Ticonderog” và ”Constellation” trút bom dữ dội xuống 5 mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam. Sự kiện vịnh Bắc Bộ đã được sắp đặt như vậy.

Mỹ bắt đầu chiến tranh trên không với Bắc Việt Nam như thế. Nó kéo dài hơn 8 năm, đến tận ngày 27 tháng giêng năm 1973. Tôi biết chính xác, vào cái đêm tối trời ngày 4 tháng 8, các tàu chiến nhỏ của Bắc Việt Nam đã tấn công 2 tàu khu trục Mỹ. Khi đó việc này không được tiết lộ. Sự việc xảy ra trên lãnh hải của Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), tức là người Mỹ đã xâm nhập và vì thế hạm trưởng Harry đã im lặng. VNDCCH cũng không thông báo vụ chạm súng. Khi đó còn chưa có sự ủng hộ mạnh mẽ của báo chí quốc tế, trong khi mỗi từ không khéo nào đó của các nhà ngoại giao, nhà báo hay nhà quân sự có thể làm người ta nghĩ sai các sự kiện đối với Bắc Việt Nam. Lúc ấy, vào tháng 8 năm 1964, Hà Nội chỉ thông báo việc có chạm súng nhưng không bình luận gì hết. Đất nước nhanh chóng khoác ngay trang phục thời chiến.

Ở Việt Nam mỗi người dân đều trở thành một chiến sĩ, đàn ông hay đàn bà, người già hay trẻ nhỏ, nông dân, công nhân, nhà văn, hoạ sỹ, nhà thơ, nhà ngoại giao... Hàng trăm ngàn cây số giao thông hào được đào trên khắp đất nước. Chúng có thể quấn hàng chục vòng Trái đất. Việt Nam hứng chịu nhiều ngàn cuộc dội bom, oanh tạc từ trên không, pháo kích từ ngoài khơi. Đôi lúc còi báo động rú lên tới 3 chục lần một ngày đêm. Chúng tôi, các nhà báo, các chuyên gia quân sự là nhân chứng của thực tế này.

Мужик 22-02-2013 14:03

Máy bay Mỹ đã trút 8 triệu tấn bom xuống đất Việt Nam. Washington chi hơn 352 tỷ đô la, sử dụng 32% lực lượng không quân chiến thuật và 50% lực lượng không quân chiến lược, đưa sang Việt Nam 68% lực lượng bộ binh, 60% lính thuỷ đánh bộ, tức là hàng triệu lính. Hơn 1,5 triệu người Việt Nam bị giết. Hàng triệu người bị tàn phế bởi mảnh bom, đạn, lửa na-pan, nhiễm các chất độc hoá học...

Hơn 4 ngàn máy bay Mỹ bị bắn hạ chỉ trên bầu trời Bắc Việt Nam, hàng trăm phi công bị bắt làm tù binh và được trao trả cho phía Mỹ (tất cả, ngoại trừ Alwares, phi công đầu tiên bị bắt ngày 5 tháng 8 năm 1964 được trao trả cuối cùng vào năm 1975, sau khi Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27 tháng Giêng năm 1973).

Trong chiến sự Đông Dương hơn 40 ngàn binh lính, sỹ quan Mỹ bị chết. Tên tuổi của họ được khắc trên bức tường của nghĩa trang Arlington ở Washington. Nhưng đến 01/01/2000vẫn chưa tìm được 1072 người Mỹ bị mất tích. Với họ và gia đình họ chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc. Việc tìm kiếm hài cốt vẫn đang tiếp tục.

...Điện thoại tại văn phòng phóng viên thường trú của tôi ở Roma đổ chuông. Phía đầu dây bên kia là đại tá, cựu nhân viên CIA James Connell, giám đốc bộ phận hỗ trợ uỷ ban liên hợp Nga-Mỹ về các vấn đề tù binh và người mất tích.
- Cú điện thoại của tôi có lẽ làm anh ngạc nhiên. – James nói sau khi tự giới thiệu. – Tôi muốn gặp anh ở Roma, ở Moskva hay bất cứ ở đâu trên Trái đất đều được. Chúng tôi tìm kiếm hài cốt người Mỹ chết tại Việt Nam, tất cả những người bị mất tích. Nói chung, chúng tôi mơ ước khép lại thế kỷ XX một cách trọn vẹn trong lịch sử của từng gia đình Mỹ và các gia đình khác tại các quốc gia khác nhau trên thế giới,...

...Chúng tôi gặp nhau tại Roma, bên tường khách sạn ”Eden” sang trọng và James cho tôi biết rõ ngọn ngành:
- Hoa Kỳ đang tìm kiếm và làm rõ số phận của 78 ngàn quân nhân Mỹ bị mất tích trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, 8 ngàn binh lính và sỹ quan ở Triều Tiên; 2130 - ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia; 90 quân nhân trong đội bay của 39 máy bay Mỹ bị hạ trên bầu trời Liên Xô trong thời ”Chiến tranh lạnh” từ năm 1950 đến hết năm 1965. Thời gian từ giờ đến cuối thế kỷ và thiên niên kỷ thứ 2 chỉ còn đếm được từng ngày, thế mà nhiều người vẫn còn chưa được coi là đã chết, tên tuổi của họ chưa được đưa vào danh sách trên tường của nghĩa trang Arlington ở Washington. Nga cũng đang tìm kiếm những người mất tích ở Afganistan, ở Trechnia, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Các bạn cũng hãy giúp chúng tôi!

Ủy ban liên hợp Nga-Mỹ (được thành lập vào tháng 3 năm 1992 dưới sự bảo trợ của 2 tổng thống Hoa Kỳ và Liên bang Nga) đặt cho mình các mục đích nhân đạo chưa không phải tình báo, thực hiện thu thập và xử lý các dữ liệu và tài liệu lưu trữ. Không ít thành tựu đã đạt được. Một trong những phát hiện những năm gần đây là tài liệu về các quân nhân Xô viết bị mất tích trong chiến dịnh Phần Lan 1939-1940 và trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Phía Mỹ chuyển cho Nga hơn 8 ngàn trang tài liệu lưu trữ về số phận 475 ngàn người lưu lạc trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, tài liệu về các phi công và lính tàu ngầm hy sinh trong ”Chiến tranh lạnh” và cả những người mất tích và hy sinh ở Afganistan. Phía Nga đã chuyển cho Uỷ ban hơn 12 ngàn trang tài liệu từng có thời là tuyệt mật được Mỹ nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Một kết luận quan trọng được khẳng định và tôi xin nhắc lại: không một công dân Mỹ nào bị giữ ở Nga trái với ý muốn của họ. Trong trao đổi thông tin, các bên hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau, tuân thủ các nguyên tắc hiểu biết lẫn nhau và tạo thuận lợi cho nhau, dù thông tin đó có tính chất tế nhị thế nào đi nữa. ”Mẫu số” chung trong các mối quan hệ giữa các cơ quan pháp lý được xác định, nhưng khi thảo luận đến những giá trị nhân đạo thì các bên thường giữ quan điểm cũ của mình. Chúng tuy gần nhau nhưng vẫn cần có định nghĩa phù hợp, cái được coi như điểm xuất phát để bắt đầu bước vào thế kỷ XXI. Không đối đầu, với trách nhiệm chung vì số phận của thế giới, với việc khôi phục sự công bằng, xứng đáng cho những ai phụng sự Tổ quốc mình mà từng bị coi là ”kẻ thù” tại các quốc gia khác, trong phe của đối thủ về tư tưởng, chính trị, quân sự. Anh hùng của dân tộc này có thể là cừu thù của dân tộc khác. Đã xây dựng được các tiêu chí thống nhất cho các khái niệm ”người yêu nước”, ”nhà tư tưởng”, ”tướng lĩnh” v.v.... Mỗi quốc gia có những danh nhân riêng. Họ được thế giới công nhận. Nhưng đó là về các thê đội cấp cao. Có những anh hùng ở ”cấp nhân dân”. Trong từng ”quốc gia Đông Dương riêng biệt”. Hầu như chẳng ai biết gì về họ.

Và ở đây các định hướng luân lý đạo đức, các điểm xuất phát cũng rất quan trọng. Ví dụ, đã đến lúc xem lại nhiều thứ, trong đó thậm chí phải từ bỏ những gì ở Mỹ hàng chục năm được coi là ”định lý” và công bố để ai cũng biết rằng không có bất kỳ quân nhân hay công dân Xô viết nào, nhà báo hay cán bộ y tế, cán bộ quân đội hay dân sự tham gia vào việc lấy cung tù binh Mỹ. Lời tuyên bố này sổ toẹt nhiều thứ: hàng chục tác phẩm văn học, điện ảnh được phát hành ở Mỹ. Nhưng thay cho các ”Rambo” Mỹ hiện tại thực tế vẫn chưa có các ”phản Rambo” - là những kịch bản và tiểu thuyết gay cấn, nơi các đối thủ Xô-Mỹ chống lại nhau trong các cuộc chiến khác nhau: Triều Tiên, Việt Nam, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Afganistan, ở nhiều vùng và quốc gia khác nhau trên thế giới. Nhưng những viễn tưởng văn học không được bóp méo bức tranh hiện thực hơn nữa, không được khơi lòng thù hận nhau. Chúng tôi ở hai bên chiến tuyến, nhưng không đụng độ trực tiếp với nhau. Cuộc chiến được gọi là ”không tiếp xúc” đã diễn ra. Không quân Mỹ ném bom Việt Nam nơi chúng tôi, những người Xô viết, có mặt ở đó. Nhưng không chỉ có chúng tôi, cùng với chúng tôi có cả đại diện của nhiều quốc gia và dân tộc khác. Ở Hà Nội có nhân viên các đại sứ quán và cơ quan đại diện của tất cả các nước phe xã hội chủ nghĩa, đại diện của Uỷ ban quốc tế về kiểm tra và giám sát việc thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm 1954 (lúc đó có Canada, Ấn Độ, Ba Lan), đại sứ quán và phái đoàn Pháp, An-giê-ri, Thuỵ Điển, Phần Lan, Cộng hoà Ả rập thống nhất, muộn hơn có Anh, Ý, Iraq. Trong số người bị chết vì bom không chỉ có 30 công dân Liên Xô mà có cả viên trung sỹ Ấn Độ của Uỷ ban quốc tế về kiểm tra và giám sát, đại sứ Pháp, một nữ công dân Cộng hoà Ả rập thống nhất, một nhà báo Columbia và những người khác.

Các nhà văn Nga nhiều lần đề nghị các đồng nghiệp Mỹ hợp tác viết sách và dựng phim về chiến tranh của Mỹ từ các quan điểm mới. Không có áp lực tư tưởng và tuyên truyền. Hiện chưa có hồi âm. Đây cũng là một trong số những bí ẩn vì sao nhiều ”bí mật” đến giờ vẫn là bí mật.

***

Мужик 22-02-2013 14:38

Vâng, người Mỹ đã thử thực hiện vai trò ”sen đầm quốc tế”, cứu Nam Việt Nam khỏi ”xâm lăng phương Bắc”, cản trở quá trình thống nhất Việt Nam. Đồng thời Washington cũng tiến hành kiểm tra tất cả các loại vũ khí hiện đại trong các điều kiện tác chiến, chỉ trừ mỗi vũ khí hạt nhân. Đây là một thao trường lớn.

Liên Xô thực hiện và đã thực hiện xong nghĩa vụ quốc tế giúp Việt Nam, đồng thời cũng thử nghiệm vũ khí của mình và nghiên cứu vũ khí của người khác.

Gần 60% sự giúp đỡ (thể hiện trong giá trị vật chất) là của nhân dân Liên Xô; 35% - của Trung Quốc và 5% của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại và của tất cả loài người tiến bộ. Sự giúp đỡ này không vụ lợi, nhưng Moskva cũng xem Việt Nam như một ”bãi” thử nghiệm đặc biệt. Trong thời gian chiến tranh có 22 ngàn chuyên gia làm việc tại Việt Nam. Vũ khí chiến đấu của Mỹ không thể không khiến các chuyên gia quân sự Liên Xô chú ý. Ví dụ, ở Việt Nam các bác sỹ quân y Xô viết lần đầu tiên được tiếp cận với bom bi, với các loại đạn gây sát thương rộng và các ”phát minh” khác của trí tuệ quân sự Hoa Kỳ. Đại tá quân y Karl Tabatagie, công dân Moskva, người đầu tiên trong điều kiện dã chiến, không có máy chụp X-quang, đã tiến hành phẫu thuật cứu người bị thương bởi bom bi.

Đại uý tên lửa Valery Kuplevakhsky, một trong những người đầu tiên tìm ra cách vừa tiêu diệt được muc tiêu là máy bay Mỹ, vừa bảo vệ được các trạm ra-đa của mình. Nhóm chuyên gia của tuỳ viên quân sự, Anh hùng Liên Xô, phi công chiến đấu, đại tá (sau được phong thiếu tướng) Aleksei Ivanovich Lebedev đã khẳng định được rằng ”Mig-19” và ”Mig-21” trong tay phi công Việt Nam hoàn toàn có khả năng đọ sức ”ngang ngửa” với bất kỳ loại máy bay nào của Mỹ. Còn ”B-52” bất khả chiến bại trong thập kỷ 50, hay máy bay tiêm kích cánh cụp cánh xoè ”F-111A”-sản phẩm mới của không quân Mỹ thập kỷ 60, bị ”tơi tả” bởi các đơn vị tên lửa. Bây giờ người Mỹ nhớ lại những chuyện đó để làm gì?! Màn ”quảng cáo” thất bại trên thị trường vũ khí, cũng là đòn giáng vào tinh thần yêu nước Hoa Kỳ.

Còn cán cân trong lĩnh vực thông tin đại chúng ra sao? Trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược Mỹ có hơn 2,5 ngàn nhà báo Mỹ và phương Tây tác nghiệp tại Sài Gòn. Tại Hà Nội chỉ có 5 phóng viên đến từ Moskva đăng ký. Thật khó để viết về chiến tranh. Nhiều thứ bị giấu kín. Phải có giấy phép của cơ quan kiểm duyệt quân sự. Không có nó thì không một bức ảnh nào từ mặt trận được đăng tải. Danh tính của đại đa số người tử trận không được công bố. Không ai biết gì về họ. Những người như thế trong số công dân Liên Xô làm việc ở Việt Nam, xin nhắc lại, là 30 người.

Bây giờ người ta đặt ra cho chúng tôi - các nhà báo - những câu hỏi đã từng được cho là tế nhị. Ví dụ, chính quyền Việt Nam có cho phép nhà báo nước ngoài phỏng vấn phi công tù binh Mỹ không? Các cuộc gặp gỡ với tù binh được Bộ Ngoại giao VNDCCH tổ chức thường xuyên. Tất nhiên lúc đó không có và không thể có những cuộc phỏng vấn đúng nghĩa như thường thấy ngày nay. Trước hết, việc này không được các công ước quốc tế cho phép. Phi công trong tình trạng sốc nặng sau khi máy bay bị bắn hạ, phải nhảy dù. Được phép nhìn thấy mặt họ, chụp ảnh họ, nhưng đừng đề cập đến chuyện hỏi-đáp. Song bao giờ cũng công khai cái quan trọng nhất: số hiệu trên bộ áo liền quần đặc trưng của phi công. Các phóng sự của chúng tôi, trong đó có dẫn ra số hiệu riêng của ”các phi công mặc pijama”, một mặt như là bằng chứng rằng ”tên giặc lái” đã bị trừng phạt, mặt khác chứng minh là phi công Mỹ còn sống và sau này biết người để mà tìm, mà lập và tra soát thông tin, để họ được trở về Tổ quốc. Đây giống như ”sứ mệnh kép” của chúng tôi: vửa tố cáo các chứng cứ xâm lược và thông tin về dư luận xã hội của thế giới, vừa thông báo cho Lầu năm góc về số phận của các phi công Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam. Bộ Ngoại giao VNDCCH có biết và chú ý đến điều này.

Một trong những phi công như vậy là đại uý Peterson, bị bắn rơi cách Hà Nội 60 km vào một đêm tháng 2 năm 1968. Ông ngồi trong trại giam của Việt Nam 6 năm rưỡi, sau đó về Mỹ phục vụ quân đội tiếp tới hàm đại tá, giải ngũ và trở thành nghị sỹ, còn sau đó thành… đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam. Trường hợp hy hữu nhưng không phải nó không xảy ra! Bây giờ, sau cái chết của bà vợ Sharlotta, ông thậm chí còn cưới một phụ nữ Việt Nam, chỉ có điều bà mang quốc tịch Úc.

Мужик 22-02-2013 14:41

Nhưng thời đó không phải lúc nào và cái gì cũng có thể viết. Còn bây giờ? Khi các cánh cửa hé mở thì chúng tôi đã bạc đầu. Venia Nikolsky, trưởng phân xã Thông tấn ”Tin tức” tại Hà Nội, hy sinh trong thời chiến và dàn quân nhạc tại lễ truy điệu đã làm lộ ông còn thuộc biên chế của Cục tình báo Bộ Quốc phòng (GRU). Không còn nữa phóng viên báo ”Sự thật” Ivan Shedrov, Aleksandr Serikov-Alabin (Serbin), hiệu thính viên Nikolai Solntsev, phóng viên ”Tin tức” Boris Shumeev. Rất nặng nề để tiếp tục danh sách giờ đã trở nên dài này. Rồi còn bao nhiêu quân nhân nữa, trong đó có cả trung tướng Vladimir Abramov.

Tôi đang cạnh tranh một vị trí cao về độ giàu có thông tin. Với đầy đủ ý thức trách nhiệm tôi nhấn mạnh: từng thông tin của tôi đều được chắt qua trái tim, trí nhớ, tư tưởng và lọc qua nhận thức, thời gian. Và đây là ”những định hướng” chính:

- Không khi nào và không có bất kỳ ”nhóm đặc nhiệm”, đội ”đặc trách” nào được KGB và GRU thả xuống rừng rậm Nam Việt Nam để thực hiện các hoạt động tình báo và biệt kích.

- Mùa xuân năm 1975, khi chiến dịch ”Hồ Chí Minh” được bắt đầu tại miền Nam Việt Nam, các cơ quan tình báo Xô viết cũng như Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, không được thông báo trước về nó và không một ai đoán trước được sự sụp đổ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó thì đương nhiên TẤT CẢ đều biết TẤT CẢ.

- Các cố vấn quân sự Liên Xô không đồng hành cùng các đoàn xe tăng tiến xuống Nam Việt Nam, ở Lào hay Cam-pu-chia.

- Tình báo chính trị và quân sự Liên Xô ở Đông Dương gặp cùng một lúc vài cản trở: đặc điểm thời chiến, chế độ di chuyển, khó khăn trong tiếp xúc với công dân Việt Nam. Chủ ý từ phía Việt Nam tránh cho người Nga và Trung Quốc chạm mặt nhau trên lãnh thổ Việt Nam, tại cảng Hải Phòng, sau đó là Sài Gòn và Đà Nẵng... Việt Nam tế nhị tính đến sự đối đầu Xô-Trung, hạn chế để xảy ra những ”tiếp xúc” không mong đợi.

- Tuỳ viên quân sự Aleksei Ivanovich Lebedev (thiên hạ đồn rằng vị này số ”hên”. Tháng 5 năm 1967, một quả đạn pháo rơi trúng tầng trệt ngôi nhà khi chủ nhân đang cạo râu ở tầng 2 mà ông thậm chí không hề bị vết xước nào) từng sẵn sàng cho bất kỳ ai ”tắm trong rượu” (tiền khi đó không thông dụng) nếu mang đến cho ông bất kỳ chi tiết điện tử nào từ máy bay Mỹ bị bắn rơi. Lebedev lúc đó có 3 trợ lý: trung tá Evgeni Legostaiev, Ivan Shport, và Ilya Rabinovich. Người thứ 3, như thiên hạ nói, là nhà báo ”hụt”, có thể lập báo cáo trên giấy tất cả những gì đồng nghiệp thu thập được mà không hề bước ra khỏi phòng làm việc. (Còn sống giờ chỉ có thiếu tướng về hưu người Moskva Ivan Petrovich Shport, sau này từng là tuỳ viên quân sự ở Washington và Praha).

- Tình báo Liên Xô ở Việt Nam (và điều này phải thú nhận với sự tiếc nuối lớn) đã không sẵn sàng ngay từ đầu chiến tranh. Nếu như bộ máy tư tưởng của Liên Xô, các nước XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quôc tế, lực lượng giải phóng dân tộc, phát động các cuộc biểu tình chống chiến tranh với tốc độ rất nhanh và mạnh mẽ, thì các phương tiện tình báo đối ngoại rõ ràng không theo kịp. Các ”đòn bẩy” xã hội, đảng phái... hoá ra lại mạnh hơn nhiều.

Мужик 22-02-2013 14:44

Trong những năm 1964-1965 tại Hà Nội chỉ có 4 cán bộ tình báo (tính cả nhân viên mật mã) làm việc tại phòng đại diện Cục 1 KGB Liên Xô trong Đại sứ quán dưới mác ngoại giao. Và chỉ có mỗi một nhân viên tình báo (nhà ngoại giao), tốt nghiệp Đại học quan hệ quốc tế Moskva (MGIMO) năm 1962, lúc đó mang quân hàm trung uý Georgi Sergeevich Pesherikov, biết tiếng Việt (những người khác giống như ”thợ giày đi chân đất”). Ông được Aleksandr Petrov, nhà ngoại giao ”sạch”, nhà bác học tương lai, ”hỗ trợ” trong công việc. Ngay trong GRU, ở tất cả các vụ không có một nhân viên nào biết tiếng Việt. (trung uý phiên dịch đầu tiên xuất hiện vào năm 1967). Mà tiếng nói lại không phải là vũ khí cuối cùng trong kho vũ khí của người tình báo. Đến cuối chiến tranh GRU và KGB cử hàng chục chuyên gia Việt Nam học sang Hà Nội. Nhưng chiến tranh đã đến hồi kết. Còn lúc đầu cuộc chiến, những huân, huy chương chiến công đầu tiên trao cho Georgi Sergeevich Pesherikov (ông qua đời ngày 7 tháng 8 năm 1996) có giá đắt. Với một vài điệp viên ông gặp gỡ vài lần trong một tuần. Lần nào thần kinh cũng căng thẳng cao độ, lần nào cũng là những thử thách với sức chịu đựng và nghị lực.

Trong văn học lịch sử và ”trinh thám-phản gián” Xô viết hay Nga, trong phim truyện hay tài liệu, tôi thậm chí không thấy có bất kỳ cốt truyện nhỏ nào về Việt Nam, mà trong đó có hình tượng siêu nhân Xô viết, thậm chí chỉ là ”cái bóng” của Rambo. Tại sao? Phải chăng là sự khiêm nhường Xô viết quá mức? Đơn giản chỉ là ”chủ đề yêu nước Xô viết” không cần ở xứ Đông Dương, khi mà sức mạnh của chủ nghĩa chống Mỹ, chống đế quốc, tình đoàn kết quốc tế các dân tộc được phát động và hoạt động hiệu quả hơn. Sức mạnh này cùng với tinh thần dũng cảm Việt Nam đã trở thành một trong số những yếu tố chủ yếu làm nên chiến thắng xâm lược Hoa Kỳ. Có vấn đề với kiểm duyệt, với siêu bảo mật. Nhưng người kiểm duyệt to nhất nằm trong chính mỗi chúng tôi: các nhà báo, nhà văn, nhà sử học, thậm chí cả các nhà địa chất, địa vật lý. Không còn các nhà văn Mikhail Lukonin, Konstantin Simonov, Evgeni Dolmatovsky, Leonid Sobolev, Iulian Semenov, những người ”viết và chụp” khác... Không còn các nhà khoa học Zelentsov, Vorozhtsov, Eidlin, Kozhevnikov, Isaev... Tất cả họ còn trong ký ức của chúng tôi, tất cả họ đều là thành viên ”hàm thụ” mãi mãi của buổi gặp mặt các chiến binh quốc tế ngày 5 tháng 8 tại Moskva. Nhưng sự ”vắng mặt vĩnh viễn” của họ giờ đây không biện hộ cho những ”người Nga trầm lặng” và các nhân vật khác không xuất hiện dưới ngòi bút của chúng tôi trong các tác phẩm nghiêm túc với cốt truyện gay cấn.

Và bây giờ chúng tôi mới đưa ra kết luận, Việt Nam đã hoàn toàn nhất quán trong chính sách của mình. Họ đã chịu những tổn thất to lớn, nhưng hoàn thành các nhiệm vụ chiến lược đã đặt ra được đúc kết trong Di chúc của Hồ Chí Minh: đất nước đã giành chiến thắng, quốc gia thống nhất Bắc Nam, không rời khỏi con đường của mình vào những năm 90. Trung thành với lời thề trước mộ những người đã hy sinh là công việc vĩ đại mà chúng tôi đang cố gắng thực hiện.

Việt Nam không thay đổi trước những gì xảy ra trên thế giới trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một trong số không nhiều quốc gia không quên lòng biết ơn đối với nhân dân Liên Xô đã giúp đỡ và ủng hộ.

”Ngày 5 tháng 8” đối với những người quốc tế Đông Dương chúng tôi mang một ý nghĩa tượng trưng. Và đó không đơn giản chỉ là ngày kỷ niệm. Đó là ngày đau thương. Không chỉ đối với chúng tôi. Cho đến tận bây giờ ở Washington, New York, dọc theo phố Pensilvania và Đại lộ số 5, những chiếc xe jeep Mỹ méo mó với các khẩu súng cối trần trụi của các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam vẫn diễu hành ngang dọc. Họ yêu cầu không cho phép những cuộc chiến phiêu lưu mới tại bất kỳ điểm nào trên hành tinh, ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ La tinh, châu Phi, họ giữ gìn ký ức về quá khứ.

***

Мужик 22-02-2013 15:37

Hồi tưởng - đó là cái nhiều trong tất cả những cái ít ỏi còn lại trong chúng ta. Chúng tôi đã sống qua ”Tây Ban Nha những năm 30”, qua Vệ quốc vĩ đại, qua khủng hoảng Ca-ri-bê, qua Đông Dương - Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, muộn hơn - Afganistan, giờ đây - Chesnia... của mình.

Câu chuyện của tôi thú vị bởi chính những cái mà tôi cho phép mình thấy nhiều và biết nhiều. Tháng 5 năm 1945, khi chiến tranh đã kết thúc, tôi còn kịp làm nổ phuy xăng trong sân nhà trên phố Tretya Meshanskaya. Hai anh em bác sỹ Filatov phẫu thuật cho tôi. Họ cứu được tôi, cả cái mặt lẫn đôi mắt... Khoảng 20 năm sau, sau khi tốt nghiệp MGIMO về chuyên ngành Phương Đông học với kiến thức tiếng Việt, tôi sang Đông Dương làm phóng viên thường trú cho báo ”Tin tức” ngay sau thời điểm Mỹ bắt đầu ném bom Việt Nam. 9 năm chiến tranh dài đằng đẵng trôi qua ở đó. Ở đó tôi trở thành nhân chứng cuộc xung đột quân sự Việt-Trung vào tháng 2-tháng 3 năm 1979. Nó làm tôi nhớ lại nhiều về những sự kiện năm 1969 trên biên giới Xô-Trung. Sau đó là Afganistan năm 1980. Hiện nay trên Trái đất này không có một phóng viên thường trú, phóng viên đặc biệt nào lại được trải nghiệm cả Việt Nam, cả Afganistan, cả biên giới Xô-Trung và Việt-Trung. Có Ivan Mikhailovich Shedrov (phóng viên báo ”Sự thật”) từng như tôi, nhưng ông đã mất ở Paris (năm 1987). Ông là một nhà báo đặc biệt.

Chúng tôi, những người quốc tế, bắt tay nhau tại nhiều châu lục khác nhau, nhưng không quên quá khứ. Giờ đây chúng tôi phải nhìn lại quá khứ với sự chính xác lịch sử, không định kiến chính trị hay hệ tư tưởng, không tiên nghiệm ”phải” và ”trái”. Vì tất cả mọi người hành động theo luật pháp, theo quyền và theo phong tục của mình. Bởi vậy bây giờ chúng ta, hãy lấy hết lòng dũng cảm và thẳng thắn dân sự, để công nhận tất cả những người đã bảo vệ bầu trời Hà Nội, tất cả những người vượt qua lưới lửa phòng không dày đặc tới châu thổ sông Hồng, mạo hiểm mạng sống để ném bom các mục tiêu trong cơn ác mộng chiến tranh - đều là những chiến binh kiên cường. (Hơn 4 ngàn máy bay bị bắn rơi chỉ tại miền Bắc Việt Nam.). Trong bản tổng hợp quân sự bí mật năm 1971 cho thấy, trên lãnh thổ VNDCCH có 735 tù binh Mỹ. Những người chết không tính. Trong một tài liệu khác năm 1972 đã đưa ra con số 1205 người gồm phi công và những người Mỹ khác. Con số này cao hơn nhiều số 591 người quay về Mỹ đầu năm 1973 trong chiến dịch hòa bình ”Hồi hương”. Đằng sau chiến dịch này là cuộc thương lượng ngoại giao, quân sự-chính trị lớn giữa Hoa Kỳ, Bắc, Nam Việt Nam với sự tham gia của các đồng minh và đối tác của họ.

Nhưng nếu như người sống, dù khó, song vẫn có thể tìm được, thì với những người đã chết, bị vùi trong rừng rậm, núi cao, bãi bồi ven biển, việc tìm kiếm gian nan gấp vạn lần. Đối với Washington các phi công là những anh hùng; đối với Hà Nội - họ là quân thù, bị gọi một cách khinh bỉ là ”giặc” hay ”bọn”. Các xử sự tương tự được dành cho tất cả những ai tham chiến bên phía Mỹ. Nhưng ngược lại, ở Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Niu Di-lân và Úc lại đối xử với những người sang lò lửa chiến tranh Việt Nam như những người hùng. Dù sao họ cũng là người ra trận, đi vào chỗ chết, nhiều khi không hề nghĩ là vì lợi ích của ai, vì cái gì. Họ chỉ biết một điều mạng sống, nỗi sợ của họ có giá bao nhiêu một năm, một tháng, một ngày... Với ”Liên Xô” thì ngược lại, người ta biết chiến đấu vì cái gì, nhưng không có tờ séc nào trong ngân hàng hết. ”Chúng tôi mang bên mình chiếc mũ cối và mảnh cánh của ”F-105”!.. ”- khi ấy, những chiến binh quốc tế hôm nay đã hát vang như thế.

Ngày nay chúng tôi biết đoạn đầu và đoạn kết của nhiều sự kiện. Lòng căm thù trong thời chiến đã tạo nên sức mạnh. Cô gái bé nhỏ áp giải người phi công Mỹ khổng lồ và không bắn vào hắn thậm chí ngay cả khi hắn có ý bỏ chạy. Đó là lệnh: phi công cần bắt sống để xử lý nhiều vấn đề hậu chiến.

Bà mẹ Việt Nam trong hầm trú ẩn ghì chặt đứa con nhỏ vào lòng và thầm thì: ”Khóc to lên, con trai! Khóc cho kẻ thù nghe thấy bất chấp tất cả chúng ta vẫn sống!” Và họ sống, chiến đấu và vươn lên. Giờ đây, gần 30 năm trôi qua, lòng căm thù giống như dòng nước lũ đã thấm qua bãi cát thời gian... Lòng căm thù - đó là cảm xúc, song đó cũng là ”nền” của lịch sử.

Мужик 22-02-2013 15:41

Chúng tôi qua mọi nẻo đường đất Việt,
Mây mù giăng trên rừng rậm đẫm sương.
Trái tim Nga mang vết thương sâu thẳm.
Việt Nam ơi, còn đó những đau thương.


Đó là lời bài ca của chúng tôi, do Valery Kuplevakhsky viết. Còn trung tướng Vladimir Nikitovich, nguyên Trưởng đoàn chuyên gia quân sự ở Việt Nam thập kỷ 60 kịp lập ”Bản thống kê cuộc đời và hoạt động” của tất cả những ”người Xô viết Việt Nam” trước khi vĩnh biệt chúng tôi năm 1998. Đại tướng Aleksei Ivanovich Lebedev, Anh hùng Liên Xô cũng đã qua đời. Các đồng nghiệp ghi nhớ mãi những chiến công của ông. Một trong số đó là trung tá (thời điểm tháng 2 năm 1967) Ivan Petrovich Shport. Bao nhiêu lần ông mạo hiểm tính mạng! Có lần ông vừa ra khỏi nhà thì mảnh pháo Mỹ rơi thẳng vào...giường ngủ... ”Nước Nga và Chúa che chở cho chúng tôi”. Và che chở cho cả Ivan cho chúng tôi... Ai cũng bảo: ”Shport sinh ra trên nhung lụa với mảnh đạn pháo trên giường”... (nguyên văn ”Shport sinh ra trong chiếc áo với mảnh đạn pháo trên giường” - thành ngữ ”sinh ra trong chiếc áo” chỉ người luôn gặp may mắn, số hên - người dịch).

Ba chục năm trôi qua... Nhưng tất cả bây giờ vẫn như ngay trước mắt. Tất cả bạn hữu trong những năm tháng ấy. Georgy Pesherikov, bạn đồng môn đại học và đồng nghiệp cùng nhóm MGIMO ở Đông Dương. Ông giải ngũ sớm, khó khăn lắm mới được nhận hưu và danh hiệu danh dự chiến binh quốc tế, mất ngày 7 tháng 8 năm 1996. Ông hoàn toàn có thể trở thành hình tượng một ”Rambo” Nga, ”Rambo” Liên Xô. Con người với sức mạnh, sự bền bỉ, lòng dũng cảm, trung thực và cởi mở phi thường. Ở Hà Nội mỗi ngày ông thực hiện 3-5 cuộc tiếp xúc theo kế hoạch và cũng ngần ấy cuộc ngoài kế hoạch. Không tính nổi số lượng rượu, bia cơ thể ông tiếp nhận hằng ngày. Khi có 3 phi công Mỹ đào ngũ được đưa đến khách sạn ”Metropol” (”Thống nhất”) dưới sự bảo vệ của bộ đội để chuẩn bị chuyển sang Thụy Điển, Georgy nghĩ ra cách dòng dây chuyển chai vodka lên tầng 3 cho họ để đổi lấy thông tin cần thiết. Georgy Sergeivich qua đời trong cô đơn tại bệnh viện của KGB, được hỏa táng và chôn tại nghĩa trang Peredelkino. Nghiêng mình trước nấm mộ nhỏ bé của ông chỉ có con gái Marina, người vợ cuối Tamara và... một nhúm bạn bè Đông Dương còn lại trên thế gian. Còn Anatoly Balashov, Efim Georgievich Ivanov, ”nạn nhân thời đại” Victor Dubograi... Vladimir Pospekhov, Aleksandr Petrov...
Cuộc đời của nhiều ”Rambo” Xô viết ở Đông Dương trôi qua không đơn giản trong và sau chiến tranh Việt Nam. Nhưng đây là những nhân cách lớn. Kolos Borisovich Tregubenko - đại tá, điệp viên, hoạt động tại Hà Nội khi quân đội yêu nước giải phóng miền Nam Việt Nam. Con người trong sạch, lạc quan, năng nổ, con rể đại tướng Epishev. Sau Việt Nam ông chuyển sang In-đô-nê-xi-a làm cố vấn. Ở đó nhân viên dưới quyền ông (đại tá Vladimir Piguzov) bị bắt và xử bắn do bị tình báo Mỹ chiêu nạp từ khi còn làm việc tại Lào. Kolos Borisovich giải ngũ và ít lâu sau qua đời trong một cơn đột quỵ.

***

...Tôi mở điểm thường trú đầu tiên của báo ”Tin tức” tại Đông Dương thời chiến, nhìn thấy chiến tranh bắt đầu và kết thúc như thế nào, là nhân chứng của tất cả các sự kiện chính, quen với nhiều nhân vật quân sự, chính trị cấp cao. Tôi hạnh phúc được gặp gỡ nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng, hàng chục lần phỏng vấn ông Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Nguyễn Hữu Thọ, ở Lào được sống trong các hang động của ”hoàng thân đỏ” Xu-va-nu-vong, Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Nu-khắc, gặp gỡ với Xu-van-na Phu-ma; ở Cam-pu-chia - với Xi-ha-núc, Lon-lon, Khiêu Xam-phon và với nhiều nhà cách mạng và phản động khơ-me khác. Tôi biết nhiều về Pol Pot.

Tôi viết cuốn sách này về tất cả Đông Dương trong các giai đoạn từ năm 1939 đến 1979. Về những bí mật và động cơ của 4 cuộc chiến tranh.

Người Việt gọi đất nước mình là ”quốc gia bách chiến bách thắng”. Thế kỷ XX ghi nhận 4 chiến thắng lịch sử của nhân dân Đông Dương. Câu chuyện của tôi về họ là của một nhà báo, nhà sử học, người làm chứng và người tham gia các sự kiện bị hùng đó.

Мужик 22-02-2013 20:54

Chương II
TỪ VIỆT MINH ĐẾN VIỆT CỘNG. CÁC CUỘC ĐỌ SỨC

SỰ ĐẠI BẠI VÀ RÚT LUI CỦA NHẬT

Nhà sử học Việt Nam Nguyễn Khắc Viện, người tôi đề nghị nhận xét cho bộ sách “Phong tục, tập quán Việt Nam”, kể lại:
- Từ những ngày đầu Chiến tranh Thế giới thứ 2, giới cai trị Pháp đã ra sức sử dụng tối đa các nguồn lực của thuộc địa Đông Dương để tăng cường tiềm năng quân sự cho chính quốc. “Tăng đóng góp của Đông Dương đến tột cùng cho sức mạnh quân sự Pháp” - Pa-ri đã giao nhiệm vụ như vậy cho chính quyền bản xứ.

Vào ngày Pháp tuyên chiến với Đức ở Đông Dương cũng ban bố lệnh tổng động viên. Chế độ làm việc ngày 10 tiếng (9 tiếng đối với phụ nữ) được thiết lập. Sưu thuế tăng cao, tiền công, tiền lương bị cắt giảm đối với hầu hết các tầng lớp trong xã hội. Chính quyền thực dân tuyên bố đưa Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và tiến hành tiêu diệt tất cả các tổ chức công khai hoặc bán công khai do những người cộng sản thành lập. Làn sóng đàn áp, bắt bớ lan khắp Việt Nam, hàng vạn người bị đày ra Côn Đảo, vào các nhà tù ở Lao Bảo, Nghĩa Lộ và ra cả nước ngoài. Viên toàn quyền công khai tuyên bố phải “bảo vệ an ninh và giữ Đông Dương trung thành với Pháp”.

Sau thất bại tháng 6 năm 1940 của Pháp ở Châu Âu vị thế của chính quốc ở Đông Dương bị suy yếu nghiêm trọng. Quân đội Nhật đã tiến sát biên giới Việt-Trung từ tháng 5 năm 1940.

Ở phía Nam Đông Dương, thực dân Pháp xung đột với tham vọng bành trướng của Thái Lan. Băng Cốc, với sự hỗ trợ của Nhật, tranh chấp chủ quyền vùng lãnh thổ ở tây bắc khu vực Biển Hồ và cả rẻo đất bờ phải dọc sông Mekong thuộc Lào. Các đội quân Việt Nam nhận lệnh đi đánh lại quân đội Thái Lan. Quân đồn trú ở Sài Gòn nổi loạn. Việc này phù hợp với kế hoạch của Xứ ủy Nam kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương, từ tháng 6 năm 1940 đã tích cực chuẩn bị nhân dân khởi nghĩa, kết hợp nổi dậy trong binh lính với phong trào nổi dậy của nhân dân khắp các tỉnh thành Nam bộ.

Cuộc khởi nghĩa lẽ ra phải được bắt đầu vào đêm ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhưng chính quyền thực dân đã phát hiện được kế hoạch của những người cách mạng và tước vũ khí của binh sỹ. Kết quả là lực lượng yêu nước chỉ nổi dậy được tại 8 trong số 20 tỉnh thành Nam bộ. Ở tỉnh Mỹ Tho có 54 trong số 100 làng đã khởi nghĩa. Tại đây lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh, sau này trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu. Nhiều làng mạc bị đốt cháy, hơn 29 ngàn người bị bắt và xử bắn, trong đó có các nhà lãnh đạo phong trào cộng sản Nguyễn Văn Cừ (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương), Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai và những người khác.

Sau năm 1940 quân chiếm đóng Nhật cấu kết với chính quyền Vichy Pháp nhằm giữ chế độ thuộc địa. Để thỏa mãn các lợi ích của Pháp, đồng thời trang trải những chi phí chiến tranh ngày càng phình to của mình, Nhật đẩy mạnh bóc lột kinh tế Đông Dương. Các phong trào yêu nước bị đàn áp với sự tàn bạo khủng khiếp.

Chính quyền Pháp chấp thuận cho Nhật bố trí các lực lượng quân sự lớn ở Bắc kỳ, đồng thời cắt 70 ngàn km2 lãnh thổ Lào và Cam-pu-chia cho Thái Lan sử dụng. Cái được gọi là “Thỏa ước phòng thủ Nhật-Pháp” ký ngày 9 tháng 12 năm 1941, thực tế nó cho phép quân đội Nhật chiếm đóng toàn bộ Đông Dương. Tóm lại, ngay từ khởi đầu chiến tranh trên Thái Bình Dương, Đông Dương đã bị biến thành căn cứ quân sự và nơi vơ vét tài nguyên của phát xít Nhật - thành viên Hiệp ước Bec-lin - Roma - Tokyo.

Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ 2 chính quyền thực dân Pháp phải cung cấp gạo cho Nhật: năm 1941 – 585, năm 1942 – 973, năm 1943 – 1023, năm 1944 – 900 ngàn tấn. Thời gian đầu Nhật trả bằng vàng hoặc các mặt hàng công nghiệp, nhưng nguồn dự trữ của Nhật cạn rất nhanh và từ tháng 12 năm 1942 Nhật thanh toán bằng “đồng yên đặc biệt” (thực chất là trái phiếu Nhật bị mất giá).

Vừa bóc lột nguồn tài nguyên và nhân lực của Việt Nam, vừa đàn áp tàn khốc bất kể hình thức hoạt động cách mạng nào, phát xít Nhật vừa đồng thời tuyên truyền ý tưởng thành lập “Khối Đại Đông Á thịnh vượng” dưới sự bảo trợ của Nhật. Trong khuôn khổ khối này, Việt Nam dường như có thể trở thành quốc gia tự chủ. Các khẩu hiệu của chủ nghĩa sùng Á “Châu Á là của người Á!”, “Đả đảo bọn da trắng dã man!” v.v... vang lên khắp chốn. Người Nhật tích cực chiêu nạp tay sai trong tầng lớp địa chủ và tư sản, thành lập vô số đảng phái dân tộc (gần như tất cả các tổ chức này đều tự xưng là “đảng Đại Việt”, sau năm 1944 thì tan rã hết.)

Мужик 22-02-2013 21:03

Đầu năm 1941, sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc. Tháng 5 năm 1941 tại Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), ông triệu tập Hội nghị VIII Ban Chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị nhấn mạnh cách mạng Việt Nam giai đoạn này là một bộ phận của phong trào chống phát xít thế giới, đứng đầu là Liên Xô. BCHTƯ quyết định bắt đầu tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Với mục đích này, việc thành lập và củng cố lực lượng du kích và tự vệ, cũng như các căn cứ kháng chiến, đã được tính đến.

“Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn” - Hồ Chí Minh viết.

Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là mặt trận Việt Minh ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Lực lượng chủ yếu cấu thành mặt trận là các hội cứu quốc của công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ v.v... gồm cả tư sản dân tộc và địa chủ yêu nước. Cờ đỏ sao vàng được xác lập là biểu tượng của Việt Minh.

Đến cuối năm 1943 các đội vũ trang của Việt Minh đã hoạt động trên khắp vùng núi rừng Việt Bắc rộng lớn (nằm ở phía bắc đồng bằng sông Hồng). Năm 1944 Việt Bắc trở thành vùng giải phóng. Các căn cứ du kích cũng được thành lập ở vùng trung Trung bộ và Nam bộ. Tháng 12 năm 1944, theo chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đội tuyên truyền vũ trang đầu tiên được thành lập - đứa con đầu lòng của Giải phóng quân Việt Nam (tên đặt như vậy để thể hiện tính chất chính trị trong hoạt động của quân đội). Chỉ huy đội quân là Võ Nguyên Giáp. Trang sử đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), lực lượng chiến đấu trên chiến trường chính tại vùng Đông Nam Á trong và sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, được bắt đầu như vậy.

Đến đầu năm 1945 viễn cảnh thất bại hoàn toàn của các nước thuộc trục phát xít không thể đảo ngược. Chế độ Vichy ở Pháp sụp đổ, Nhật chịu hết thất bại này đến thất bại khác ở Trung Quốc cũng như trên Thái Bình Dương. Ở Đông Dương những người ủng hộ tướng Charles de Gaulle, đặc biệt là cánh quân sự, tìm mọi cách để níu giữ sự đô hộ của Pháp. Phát biểu tại Brazzaville (Công-gô) ngày 8 tháng 2 năm 1945 de Gaulle chỉ hứa hẹn trao một phần tự trị cho Đông Dương. Chính phủ mới ở Pháp chuẩn bị đưa các lực lượng quân sự sang Viễn Đông để đảm bảo “sự hiện diện của Pháp” tại vùng đất này của thế giới.

Để cảnh cáo các hành động của Pháp, ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân đội Nhật đồng loạt tấn công các trại lính Pháp trên khắp Đông Dương và chỉ sau vài giờ đã tiêu diệt hoặc giam giữ các lực lượng vũ trang chủ yếu của Pháp. Ngày 10 tháng 3 chính phủ Nhật tuyên bố phế bỏ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Cũng ngay hôm đó đại diện Nhật gặp gỡ với vua Bảo Đại và đề nghị ông hợp tác với Nhật. Lúc đầu vị vua này không đưa ra câu trả lời dứt khoát.

Các đảng phái thân Nhật, đặc biệt là tổ chức có tên gọi “Liên minh dân tộc Đại Việt”, phát động chiến dịch tuyên truyền nhằm thuyết phục quần chúng tin vào “lòng cao thượng và thiện chí” của người Nhật, vào sự ưu việt của “Đại Đông Á”. Bảo Đại ban chiếu hủy toàn bộ các thỏa thuận với Pháp và khôi phục nền “tự chủ” của Việt Nam trong khuôn khổ “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” do Nhật Bản đứng đầu.

Мужик 22-02-2013 21:12

Mặt trận Việt Minh tiên đoán được sự đảo chính tất yếu của Nhật. Vào đêm mùng 9 rạng mùng 10 tháng 3, khi các đội quân Nhật giải giáp quân Pháp, tại làng Đình Bảng, cách Hà Nội 16 km, BCHTƯ Đảng Cộng sản Đông Dương họp phiên mở rộng. Không ngoại trừ khả năng Pháp quay lại nắm chính quyền, Trung ương Đảng chỉ rõ trong năm 1945 kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật và chế độ quân phiệt. Chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn quyết định. Quân đội Nhật rơi vào tình thế không lối thoát tại vùng Thái Bình Dương. Thời cơ cách mạng đã chín muồi. Trong hoàn cảnh đó Đảng và Mặt trận Việt Minh kêu gọi quần chúng nhân dân chuẩn bị nổi dậy giành chính quyền.

Sự quan tâm chính tập trung cho việc tăng cường các hoạt động du kích tại vùng núi và đồng bằng, kêu gọi nông dân chiếm các kho thóc, tuyên truyền chính trị tại các thành phố lớn. Đấu tranh chính trị bùng nổ tại Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Đến tháng 8 năm 1945 trên cả nước, kể cả vùng núi, vùng dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng của quần chúng ngày một sôi sục. Các hoạt động này mang tính chất cả chính trị lẫn vũ trang. Sau thất bại của đội quân Quan Đông trước Hồng quân Liên Xô và sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki, Nhật đầu hàng. Tại làng Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) đã khai mạc Hội nghị quốc dân của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết tổng khởi nghĩa được thông qua. Mục đích là: đánh đuổi xâm lược, giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền nhân dân. Chiến thuật được xác định là kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Ban hành các chỉ thị về giành chính quyền, giao nhiệm vụ tập hợp các lực lượng cách mạng tại các trung tâm quan trọng của đất nước, làm kẻ thù hoang mang và buộc phải đầu hàng.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh triệu tập đại diện các tổ chức quần chúng yêu nước, các dân tộc và các liên minh tôn giáo họp Quốc dân đại hội. Đại hội nhất trí thông qua lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, nhấn mạnh sự cần thiết phải “cướp chính quyền từ tay Nhật và chính phủ bù nhìn trước khi quân đồng minh tới Đông Dương để đón tiếp họ với tư cách là người chủ đất nước”. Vấn đề là phải đi trước quân đội “đồng minh” (quân Tưởng Giới Thạch, Anh, Pháp, Mỹ), những kẻ đã có kế hoạch chiếm và buộc Đông Dương phải chịu ách đô hộ của mình.

Đại hội thông qua chương trình gồm 10 điểm. Kế hoạch khởi nghĩa hoàn toàn bí mật:
1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
2. Võ trang nhân dân. Phát triển quân Giải phóng Việt Nam.
3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5. Ban bố những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân quyền: Quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
6. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.
7. Ban bố Luật lao động; ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở Quốc gia ngân hàng.
9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hoá mới.
10. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ.

Мужик 22-02-2013 21:21

Trong cuộc trò chuyện với tôi, ông Nguyễn Khắc Viện nói:
- Chương trình này có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn đó và giai đoạn tiếp theo của cách mạng Việt Nam. Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập thực hiện các chức năng của Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngay trong ngày thành lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra kêu gọi toàn dân tổng khởi nghĩa. Lời kêu gọi được kết thúc như sau:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”.

Khởi nghĩa tại 3 thành phố lớn - Hà Nội, Huế và Sài Gòn kết thúc thắng lợi. Ngày 19 tháng 8 hơn 100 ngàn người dân đổ ra các đường phố Hà Nội, chính quyền thuộc về tay nhân dân khởi nghĩa.

Để tránh đổ máu, đại diện Mặt trận Việt Minh thuyết phục vua Bảo Đại, lúc đó đang ở Huế - thủ đô phong kiến, thoái vị. Ngày 23 tháng 8 Bảo Đại, theo lời khuyên của thái hậu, đã vĩnh viễn từ bỏ ngai vàng. Ngày 25 tháng 8 phái đoàn của chính phủ nhân dân từ Hà Nội vào đã tiếp nhận ấn, kiếm - biểu trưng của chính quyền quân chủ, từ tay Bảo Đại.

Ngày 25 tháng 8 các đội vũ trang khởi nghĩa đã chiếm hết các vị trí then chốt và cơ quan hành chính tại Huế. Gần 1 triệu dân Sài Gòn và các vùng lân cận diễu hành thể hiện sự đoàn kết với cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa năm 1945 ở Việt Nam đã kết thúc thắng lợi. Cách mạng tháng Tám đã chấm dứt 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, đuổi quân phiệt Nhật, khôi phục nền độc lập cho Việt Nam. Như đoạn kết huy hoàng, ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi mà những tiếng súng cuối cùng của Chiến tranh Thế giới thứ 2 chấm dứt, tại Hà Nội, trên quảng trường Ba Đình cổ kính, trước hàng vạn quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

- Sau khi cách mạng thành công, - ông Nguyễn Khắc Viện tiếp tục kể,- Mặt trận Việt Minh được mở rộng và củng cố. Mặt trận tập hợp được vào đội ngũ của mình những tổ chức xã hội mới: các hiệp hội yêu nước của giới công thương, tu hành, sinh viên, công chức v.v... Chính quyền cách mạng đặc biệt chú ý đến việc củng cố sự thống nhất giữa các dân tộc và tôn giáo. Ngày 8 tháng 12 năm 1945 đại biểu của 20 dân tộc đã tụ hội về Hà Nội từ mọi miền đất nước. Họ thiết lập các nguyên tắc thống nhất, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau giữa tất cả các nhóm dân tộc. Đại diện các tôn giáo khác nhạu: Phật, Thiên chúa, nhánh Cao Đài, Hòa Hảo cũng tán thành các nguyên tắc chung này và bày tỏ ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập và xây dựng Việt Nam mới của giới tín ngưỡng.

Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về bầu cử Quốc hội. Ngày 6 tháng 1 năm 1946 tất cả công dân Việt Nam đi bầu cử. Ở Nam bộ, dù thực dân trấn áp song hơn 90% cử tri hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình. Đại đa số cử tri bỏ phiếu chọn các đại biểu của Mặt trận Việt Minh. Như vậy một lần nữa nhân dân Việt Nam lại thể hiện sự tín nhiệm của mình với Việt Minh và Chính phủ của Hồ Chí Minh (Chủ tịch nhận được 98% phiếu bầu của cử tri Hà Nội).

- Hơn 300 đại biểu được bầu vào Quốc hội khóa I đại diện cho các tầng lớp xã hội, dân tộc, tổ chức chính trị và giáo phái khác nhau, - ông Trần Duy Hưng, Thị trưởng Hà Nội đầu tiên, kể với tôi. - Tại kỳ họp Quốc hội đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được sự tín nhiệm tuyệt đối.

Với mục đích mở rộng khối dân tộc thống nhất, tháng 5 năm 1946 Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là mặt trận Liên Việt) được thành lập. Thành phần là các đảng phái, tổ chức xã hội và cá nhân, do lý do nào đó trước đây không tham gia Mặt trận Việt Minh. Mặt trận thống nhất là chỗ dựa trực tiếp của chính quyền mới ở các địa phương.

Với khởi đầu của Cách mạng tháng Tám, tại hầu hết các tỉnh, huyện, làng bộ máy hành chính cũ – quan lại, chánh tổng, lý trưởng – trao lại chính quyền cho lực lượng cách mạng mà không có bất cứ sự chống đối nào. Theo sắc lệnh số 63 do chính phủ mới ban hành, tại tất cả các địa phương trong cả nước các hội đồng được thành lập, sau đó hội đồng bầu ra các ủy ban hành chính phù hợp. Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn hệ thống các cơ quan của chính quyền nhân dân được hình thành, đảm nhiệm tất cả các chức năng của nhà nước và với sự ủng hộ của nhân dân đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó.

Мужик 22-02-2013 21:27

Chính phủ mới nhanh chóng triển khai các trách nhiệm của mình, quan tâm đặc biệt đến việc thực hiện các cải cách dân chủ, củng cố các lực lượng vũ trang và tạo dựng nền tài chính quốc gia ổn định.

Ngày 31 tháng 1 năm 1946 Chính phủ công bố sắc lệnh về phát hành và lưu thông tiền tệ của nước VNDCCH (đồng), đầu tiên ở Trung bộ sau đó trên toàn quốc. Tiền đồng được lưu hành song song với đồng bạc Đông Dương. Bước đầu tiên trong công cuộc xây dựng nền kinh tế quốc dân độc lập đã được thực hiện. Nhưng ngay lập tức cũng xác định được những đe dọa từ bên ngoài. Trong thỏa thuận giữa Pháp, Mỹ và Anh có cho phép quân đồng minh chiếm đóng một phần lãnh thổ trên bán đảo Đông Dương. Phía bắc vĩ tuyến 16 là quân Tưởng Giới Thạch, phía nam là quân Anh - lực lượng, bằng các hoạt động của mình, tìm mọi cách chuẩn bị cho “sự quay lại của người Pháp”. Đứng nấp sau lưng 200 ngàn lính Tưởng của tướng Lữ Hán là các sỹ quan Mỹ. Tại trung tâm hành chính của các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, và Quảng Yên giáp với biên giới Trung Quốc quân Tưởng và các nhóm dân tộc chủ nghĩa “Việt Cách”, “Việt Quốc” tiêu diệt chính quyền cách mạng, lập ra các cơ quan quản lý bù nhìn.

Hoảng sợ trước khí thế cách mạng tại Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch không dám công khai xâm lược Việt Nam. Nhưng 200 ngàn quân lính của Lữ Hán là mối đe dọa thường trực đối với nước cộng hòa non trẻ. Chính sách của chính phủ Hồ Chí Minh trong quan hệ với Tưởng là tránh các xung đột trực tiếp với quân đội của Lữ Hán, đồng thời không cho phép họ can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Chiến lược này hoàn toàn đúng đắn. Quân Tưởng dần dần rút khỏi Việt Nam.

Sau thất bại của Nhật, chính phủ Pháp thực hiện hàng loạt biện pháp khẩn cấp để thử khôi phục lại chính quyền của mình tại Đông Dương. Binh đoàn lính chiến, sư đoàn bộ binh lê dương được điều đến gần bờ biển Việt Nam. Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Á, tướng Mounbatten, đã làm tất cả những gì có thể để đẩy nhanh việc chuyển quân Pháp tới Đông Dương: đế quốc Anh lo lắng về tương lai các thuộc địa của mình ở Châu Á và cố giúp Pháp khôi phục càng sớm càng tốt bá quyền ở Đông Dương. Ngày 23 tháng 8 một đội lính dù Pháp nhảy xuống một vùng thuộc Nam bộ, trong số đó có phái viên của cao ủy Cedille. Quân Nhật cho Cedille vào Sài Gòn, lúc đó còn khoảng 30 ngàn người Pháp. Ngày 29 tháng 89 Cedille gặp gỡ với đại diện Ủy ban cách mạng Nam bộ và tuyên bố rằng Pháp không công nhận cả độc lập, cả thống nhất của Việt Nam, còn nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất kỳ sự áp bức và bạo lực nào của chính quyền thực dân. Ngày 2 tháng 9 binh lính Pháp nấp trong nhà thờ đã bắn vào các đoàn biểu tình khiến 47 người thiệt mạng và bị thương.

Ỷ vào sự bảo trợ của quân Anh, binh lính Pháp được thả tổ chức nhiều cuộc khiêu khích. Ngày 13 tháng 9 quân đội Anh chiếm trụ sở của Ủy ban hành chính Nam bộ và cho người Pháp treo cờ tam tài. Ngày 19 tháng 9 Cedille tuyên bố rằng phải tái lập “trật tự” tại Việt Nam và lập “chính phủ” mới phù hợp với tuyên bố của de Gaulle ngày 23 tháng 3 năm 1945.

Ngày 20 tháng 9 tướng Anh Grasay ra lệnh đóng tất cả các tờ báo Việt Nam, ngày 21 tháng 9 áp lệnh thiết quân luật, đòi giải thể lực lượng an ninh Việt Nam và giao nộp vũ khí. Phía Việt Nam bất tuân lệnh này. Khi đó Grasay thả thêm 1400 tù binh Pháp và trang bị vũ khí cho họ. Những người này ngày 22 tháng 9 đã gây ra hàng loạt vụ lộn xộn và chiếm giữ một số đồn cảnh sát.

Làn sóng kháng chiến đầu tiên bắt đầu như vậy. Ủy ban hành chính Nam bộ kêu gọi nhân dân đứng lên chống xâm lược. Khắp nơi vang lên khẩu hiệu “Độc lập hay là chết!” Ngày 26 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu đồng bào Nam bộ. Các đơn vị Quân đội nhân dân bắt đầu Nam tiến. Người Pháp không thể mở rộng sự kiểm soát của mình ra ngoài địa giới Sài Gòn. Đêm đêm quân du kích không để họ được yên ổn.

Мужик 23-02-2013 08:22

Bị rơi vào tình cảnh khó khăn, những kẻ thực dân quyết định đàm phán. Cuộc gặp giữa hai bên tham chiến được tổ chức vào ngày 2 tháng 10. Ủy ban hành chính Nam bộ yêu cầu các đại diện Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Đại diện phái Pháp từ chối đề nghị của Ủy ban, sau một tuần ngưng chiến các hoạt động quân sự lại tiếp tục. Những đơn vị của quân đội viễn chinh đầu tiên đổ bộ xuống phía Nam. Tướng Gracay hứa hỗ trợ họ. Đáp lại, Ủy ban hành chính Nam bộ gửi công hàm nêu rõ:
“Chúng tôi đối xử tôn trọng với quân đội Anh-Ấn đang thực thi sứ mệnh của mình, nhưng nếu họ có ý định lập lại sự cai trị của Pháp thì toàn bộ nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên bảo vệ nền độc lập của mình...”

Ngày 21 tháng 10 quân đội Anh-Pháp tấn công đồng bằng sông Mekong - vựa lúa đất nước và các vùng đồn điền cao su. Sau đó, vào tháng 11 và 12 năm 1945, họ tiến lên Tây Nguyên và đưa các đơn vị quân đội xuống Nam Trung bộ.

Đến cuối tháng 1 năm 1946 với sự hỗ trợ của lực lượng xe bọc thép và hải quân, thực dân Pháp kiểm soát được các thành phố chính và đầu mối giao thông ở Nam bộ, phần Nam Trung bộ và cao nguyên Trung phần. Tránh những trận chiến không cân sức, lực lượng vũ trang Việt Nam rút khỏi các thành phố và bắt đầu chuẩn bị cho kháng chiến tại các vùng nông thôn. Bao vây kinh tế và hoạt động phá hoại trở thành các phương pháp đấu tranh chủ yếu của Việt Minh tại các trung tâm thành thị. Các cơ sở kháng chiến lớn được lập trên vùng Bãi Sậy tỉnh Bến Tre và trong rừng U Minh phía Tây Nam bộ.

Tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:
“Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công”.

Ngày 25 tháng 11 năm 1945 các sắc lệnh về kháng chiến được thông qua. Đây là các nhiệm vụ (trước mặt tôi là các bản tài liệu của thời gian đó) của kháng chiến:
“...Cắt đứt giao thông giữa các thành phố bị chiếm đóng, tổ chức phong tỏa kinh tế, cách ly chính trị và không để địch được yên về quân sự... Tiến hành chiến tranh du kích ở mọi nơi, vận động người dân thành thị thực hiện chính sách không hợp tác với địch, còn người dân nông thôn tiến hành chiến thuật tiêu thổ. Giữ liên lạc giữa các quân khu khác nhau. Để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, cần phải chuẩn bị chi tiết cả kế hoạch tấn công, cả kế hoạch rút lui.”

“...Chuẩn bị trường kỳ kháng chiến và gửi lực lượng hỗ trợ miền Nam là nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ và toàn dân. Chúng ta phải hiến dâng tất cả sức lực và tính mạng của mình cho sự nghiệp kháng chiến, cho mặt trận miền Nam.”

Và kết quả không phải chờ lâu. Tướng Pháp Pelle đã viết:
“Kẻ thù ở khắp mọi nơi. Không có mặt trận nào như thế này, không có các tuyến phòng thủ cố định, nơi mà các phương tiện chiến tranh hiện đại của chúng ta có thể sử dụng hiệu quả. Từng bụi tre, từng túp lều đều có thể là nơi ẩn náu của đối phương. Binh sỹ chúng ta lúc nào cũng căng thẳng tột độ, bởi ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào họ đều có thể chạm mặt với kẻ thù không thể phát hiện”.

Còn đây là lời kể của một lính thủy Pháp, người trước khi sang Đông Dương tưởng rằng tới đó để chiến đấu chống phát xít Nhật:

“Ở Đông Dương quân đội Pháp hành xử cũng y như phát xít Đức tại Pháp. Họ làm tôi kinh tởm. Tại sao hằng ngày máy bay của chúng ta lại nã đạn vào những dân chài không vũ khí? Tại sao binh lính của chúng ta lại cướp của, đốt nhà, giết người? Không lẽ đây lại là cái văn minh mà chúng ta đang khai hóa? Trước chúng ta không phải là một đám nổi loạn, mà là cả một dân tộc tràn đầy quyết tâm bảo vệ quyền tự do của mình. Mỗi người dân ở đây đều là Việt Minh. Không thể nào tiêu diệt được cả một dân tộc”.

Người lính thủy đã viết những dòng này năm 1946 gửi về cho gia đình là Henry Martin.

Мужик 23-02-2013 08:26

Những tháng đầu năm 1946 tình hình phức tạp nổ ra ở miền Nam. Người Pháp chiếm được các thành phố lớn, nhưng bất lực trước quân du kích. Ngoài ra, một khi chính quyền cách mạng vẫn tồn tại ở Hà Nội thì sự chiếm đóng miền Nam không thể bền vững. Tiếp tục các chiến dịch quân sự và nhận được tiếp viện từ chính quốc, thực dân Pháp bắt đầu chuẩn bị kế hoạch chia tách Nam bộ và lập ra “chính phủ tự trị” ở đây. Sự hiện diện của quân Tưởng tại miền Bắc là chỗ dựa cho các đảng phái phản động và là mối đe dọa thường xuyên đối với chính quyền nhân dân Hà Nội.

Thực dân Pháp tiến hành đàm phán với Tưởng Giới Thạch. Họ nhận được sự đồng ý từ phía Tưởng cho quân Pháp thế chỗ quân Tưởng ở Bắc Đông Dương. Đổi lại, Pháp trả lại tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, “trao” cho Tưởng quyền được tự do vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt Hải Phòng-Vân Nam, “đặc khu” Hải Phòng và xác lập quy chế đặc biệt cho Hoa kiều ở Đông Dương. Hiệp ước này được ký kết ngày 28 tháng 2 năm 1946. 4000 lính Pháp trước đó đóng tại Trung Quốc tiến vào Việt Nam qua vùng Lai Châu. Cùng thời gian đó lực lượng tiếp viện từ Pháp cũng chuẩn bị cập cảng và đổ bộ vào Hải Phòng.

Để tránh xung đột cùng một lúc với cả quân Pháp và quân Tưởng, chính phủ Việt Nam quyết định nhượng bộ để tranh thủ thời gian. Ngày 6 tháng 3 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chính phủ Pháp ký Hiệp ước sơ bộ gồm các điểm sau đây:

1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đối với Nam bộ, Pháp cam kết tuân theo quyết định của nhân dân khi thực hiện trưng cầu dân ý.

2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng hữu hảo tiếp nhận quân đội Pháp khi họ vào thay thế quân Tưởng theo các hiệp ước quốc tế.

3. Ngay sau khi ký kết Hiệp ước các bên thực hiện mọi biện pháp cần thiết để chấm dứt các hoạt động vũ trang, giữ nguyên quân đội tại các vị trí đang đóng quân, tạo hoàn cảnh thuận lợi để sớm bắt đầu đàm phán hữu nghị và cởi mở. Tại các cuộc đàm phán này sẽ xem xét quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước khác, tương lai của Đông Dương và các lợi ích kinh tế của Pháp tại Việt Nam.

Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946 15 ngàn quân Pháp tiến vào Hà Nội. Cùng lúc 200 ngàn quân Tưởng cùng các phần tử phản động của các nhóm “Việt Quốc”, “Việt Cách” rút khỏi Việt Nam.

Ở miền Nam người Pháp không dừng các chiến dịch càn quét, tiếp tục ném bom và đàn áp những người Việt Nam yêu nước. Vài tuần sau khi ký Hiệp ước Cao ủy Pháp Thierry d'Argenlieu dựng lên “chính phủ Nam Kỳ Quốc” với ý đồ tách vĩnh viễn Nam bộ khỏi phần lãnh thổ còn lại của Việt Nam. Đến thủ đô VNDCCH, tướng Leclerc tuyên bố rằng “Hà Nội là giai đoạn giải phóng cuối cùng”. Giới lãnh đạo phản động Pháp ở Pa-ri khẳng định họ sẽ dễ dàng chiếm toàn bộ Đông Dương, dân Việt Nam sẽ không có cả nguồn lực vật chất, cả phương tiện chiến tranh để chống lại sức mạnh quân sự của Pháp. Những lời khẳng định này không phải là không có cơ sở. Các đàm phán sơ bộ tại Đà Lạt kéo dài từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1946 đã cho thấy lập trường khác nhau của các bên. Việt Nam kiên định tự chủ quốc gia trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Pháp đưa ra dự thảo “Liên minh Đông Dương” đứng đầu là Thống sứ người Pháp và đòi làm đại diện của Việt Nam trong tất cả các mối quan hệ quốc tế. Pháp muốn đưa Việt Nam vào khu vực đồng phrăng. Tất cả những đòi hỏi này đều nhằm mục đích khôi phục lại hệ thống thuộc địa cũ nhưng dưới tên gọi mới. Mâu thuẫn chính nằm trong vấn đề vị thế pháp lý của Nam bộ, lãnh thổ mà Pháp muốn chia cắt khỏi phần còn lại của đất nước. Đoàn đại biểu Việt Nam giữ vững nguyên tắc một Việt Nam thống nhất.

... Tháng 10 năm 1946 Quốc hội VNDCCH giao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập nội các mới trên cơ sở đoàn kết rộng rãi các lực lượng dân tộc. Cũng tại kỳ họp này Quốc hội thông qua Hiến pháp, tuyên bố Việt Nam là một quốc gia thống nhất từ Bắc tới Nam. Và đó là nền tảng pháp lý của một quốc gia thống nhất.

Мужик 23-02-2013 08:30

Để đáp trả, lính Pháp đẩy mạnh khiêu khích quân sự, xâm phạm quyền tự chủ của Việt Nam. Những kẻ thực dân rắp tâm lập hải quan của mình tại Hải Phòng, cảng biển duy nhất kết nối Bắc Việt Nam với thế giới bên ngoài, còn phí hải quan là nguồn thu quan trọng của ngân sách. Ngày 20 tháng 11, quân đội Pháp nổ súng vào bộ đội Việt Nam ở Hải Phòng và Lạng Sơn. Cũng trong ngày hôm đó tàu chiến Pháp ở Hải Phòng trút đạn vào các khu dân cư. Hàng ngàn dân thường bị chết. Chiếm được Hải Phòng và Lạng Sơn - cửa ngõ vào Bắc Việt Nam - bộ chỉ huy Pháp cho rằng đã kiểm soát được Bắc bộ. Chính phủ VNDCCH kêu gọi toàn dân chuẩn bị kháng chiến, nhưng đồng thời cũng cố gắng cứu vãn hòa bình lần cuối: nhượng bộ và kí với đại diện dân sự Pháp những hiệp ước mới. Nhưng ngay cả các hiệp ước này cũng bị quân đội Pháp vi phạm.

Quân Pháp chuyển sang tổ chức các cuộc khiêu khích ngang nhiên ngay tại Hà Nội. Ngày 17 tháng 12 lính Pháp chiếm phố Hàng Bún gần khu vực buôn bán Hàng Đào, giết gần 100dân thường. Ngày 18 tháng 12 chúng chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông. Quần chúng nhân dân và các đội tự vệ dựng chiến lũy, đào hào giao thông từ nhà này sang nhà khác, chuẩn bị chống trả sự tấn công của kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm tới Léon Blum, Thủ tướng Pháp vừa được bổ nhiệm, yêu cầu tuân thủ các hiệp ước đã ký kết. Không có câu trả lời. Ngày 19 tháng 12 Bộ chỉ huy Pháp ra tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam yêu cầu gỡ bỏ chiến lũy, giải giáp vũ khí các đội tự vệ, giao cho quân đội Pháp quyền “giữ gìn trật tự” ở thủ đô Việt Nam.

Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu nhân dân:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”
(Tài liệu này được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội)

Kháng chiến trước đó chưa từng ra khỏi ranh giới miền Nam đã giờ đã bùng nổ trên toàn quốc.
... Những đồng nghiệp cùng thời sinh viên của tôi như An (sau này là đại sứ ở An-giê-ri), Du, Ất, Nam và 10 bạn đồng khóa Việt Nam khác, những sinh viên Việt Nam đầu tiên của MGIMO, khi đó đã cầm súng ra trận. Tôi được nghe những câu chuyện của họ. Họ kể rằng trong kháng chiến chống Pháp nhân dân Việt Nam là đại diện của phong trào cách mạng thế giới, gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các lực lượng độc lập dân tộc và dân chủ trên Trái đất. Đến tận năm 1950 Việt Nam vẫn bị cách ly về địa lý với các nước phe XHCN. Sau thành công của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tháng 10 năm 1949, nhân dân Việt Nam đã chọc thủng vòng vây kẻ thù và có thể dựa vào được các nước phe XHCN trong công cuộc đấu tranh của mình. Sự hỗ trợ quốc tế đã nhân sức mạnh của đất nước đang chiến đấu lên đáng kể và giúp tạo ra bước ngoặt trong cuộc chiến từ cầm cự chuyển sang tổng phản công, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Cùng lúc đó, từ năm 1950 trong cuộc đấu tranh yêu nước của Việt Nam đã xuất hiện nhân tố phức tạp mới - sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Chiến tranh Việt Nam vào giai đoạn cuối trở thành cuộc chiến Pháp-Mỹ chống lại những người yêu nước Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc tại khu vực này.

- Chúng tôi cho rằng, sự xâm lược của Hoa Kỳ đã bắt đầu từ khi đó, vào năm 1950, - ông Vũ Đăng Ất, thầy dạy tiếng Việt của tôi, nói. (Chúng tôi, những nhà Việt Nam học Xô viết đầu tiên chịu ơn anh Ất rất nhiều, không chỉ vì kiến thức tiếng Việt, phong tục, tập quán dân tộc Việt Nam. Chúng tôi yêu Việt Nam. Khi còn ở Hà Nội, năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 20 tháng 11- ngày Nhà giáo, chúng tôi lại tập trung ở nhà anh Ất. Một con người sâu sắc, một trí thức Việt Nam chân chính).

Мужик 23-02-2013 09:34

KHI CUỘC CHIẾN ĐẦU TIÊN...

Kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu ngày 23 tháng 9 năm 1945 ở miền Nam Việt Nam và lan ra toàn quốc từ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Đó là các mốc lịch sử.
Gây ra chiến tranh, những kẻ thực dân toan tính sử dụng ưu thế rõ rệt về vũ khí và số lượng lính chính quy, thử đánh nhanh và tiêu diệt những đơn vị vũ trang ít kinh nghiệm và được trang bị kém của Việt Nam, bắt những người lãnh đạo kháng chiến.

Lực lượng kháng chiến Việt Nam chống lại kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng ở Đông Dương bằng chiến lược kháng chiến trường kỳ, toàn dân. Bản chất của chiến lược này là kêu gọi toàn dân chống giặc và trong quá trình kháng chiến thành lập 3 loại hình lực lượng vũ trang phù hợp với tính chất cuộc chiến và điều kiện thực tế: quân chủ lực, quân địa phương, du kích và dân quân. Các tổ chức vũ trang và bán vũ trang này phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau chặt chẽ. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, kháng chiến có thể mang thế phòng thủ hoặc tấn công, nhưng từ góc độ tác chiến và chiến thuật chỉ có tấn công với mục tiêu trước hết là tiêu diệt lực lượng đối phương nhiều nhất có thể, chứ không phải cố giữ các vùng giải phóng.

Sự đúng đắn của chiến thuật và chiến lược này được khẳng định ngay từ những tháng đầu chiến tranh, trong cuộc chiến bảo vệ Hà Nội. Tại đây, trong hơn 2 tháng (cuối tháng 12 năm 1946 - đầu tháng 3 năm 1947) Trung đoàn Thủ đô của Vệ quốc quân đã đẩy lùi các cuộc tấn công của địch với 6500 binh lính và sỹ quan, có sự yểm trợ của lực lượng không quân và xe tăng, xe bọc thép. Địch mất 500 lính bị thiệt mạng và 1500 bị thương vong. Quân kháng chiến tận dụng được thời gian và củng cố lực lượng.

Nhân dân không “bám chặt” nơi sinh sống. Đây cũng là đặc điểm của giai đoạn đầu kháng chiến. Hàng loạt thành phố bị chính những người dân phá hủy hoàn toàn, không để kẻ thù có cơ hội đóng tại quê hương mình. Họ đánh sập cầu công, tháo dỡ đường sắt, phá đường bộ. Giao thông bị cắt đứt, không có các tiện nghi tối thiểu, những cuộc đột kích liên tục của du kích đã buộc Pháp phải rời khỏi hàng loạt thành phố phía Bắc: Phú Thọ, Việt Trì, Thái Nguyên. Tại Tam Đảo, cách Hà Nội 70 km, trong khu “Thác Bạc” du kích đánh sập hơn 50 biệt thự sang trọng của thực dân. Mục đích: thấy cảnh tàn phá, quân Pháp sẽ phải rút. Chúng chẳng có chỗ nào để quay lại và quay lại cũng chẳng để làm gì. Người Châu Âu khó hiểu logic này, nhưng đây là phương Đông. Mà đúng như thế thật. Người Pháp rời Tam Đảo vĩnh viễn. Họ còn chỗ nào để quay lại đâu... Trước mặt tôi người ta phá tháp chuông và nhà thờ ở Tam Đảo. “Để làm gì?” – tôi hỏi. “Thế chúng ở đây để làm gì?” - câu hỏi trả lời cho câu hỏi.

Trong khi chiến sự diễn ra ở các thành phố thì tại vùng núi hẻo lánh Việt Bắc, nơi Chính phủ VNDCCH sơ tán, các căn cứ được thành lập phục vụ cho cuộc đấu tranh lâu dài với ngoại xâm. Các “làng kháng chiến” xuất hiện trên khắp đất nước.

Ngày 7 tháng 10 năm 1946 Pháp huy động 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn lính dù, 2 tiểu đoàn công binh, 40 máy bay, 800 xe bọc thép và hạm đội tàu chiến trên sông tấn công chiến khu Việt Bắc. Nhiệm vụ thứ nhất - tiêu diệt đầu não của Vệ quốc quân và phá tan trung tâm lãnh đạo kháng chiến. Việt Bắc phải bị kẹp trong gọng kìm được hình thành, từ một hướng là các cánh quân di chuyển ngược theo sông Hồng và sông Lô, hướng khác là các đơn vị bộ binh vòng tới Việt Bắc từ phía vùng biên giới Lạng Sơn. Theo dự tính, cả vùng này sẽ bị lính nhảy dù chà sát. Bộ chỉ huy Pháp hy vọng vào yếu tố bất ngờ. Lúc đầu quân Pháp có thu được những kết quả tích cực mang ý nghĩa cục bộ. Nhưng lực lượng kháng chiến kịp tổ chức lại và giáng đòn đáp trả. Quân xâm lược chịu thất bại nặng nề nhất trong trận chiến trên sông Lô (24 tháng 10 và 10 tháng 11 năm 1947). Đến cuối năm 1947 địch mất 4000 quân chết và bị thương. 13 máy bay, 38 tàu chiến và ca nô, 255 xe quân sự bị phá hủy và buộc phải rút quân về Hà Nội. Một bộ phận quân Pháp cố thủ ở các thị trấn Lào Cai, Cao Bằng, Thất Khê, Lạng Sơn. Chiến thắng Việt Bắc là chiến thắng chiến lược lớn đầu tiên trong kháng chiến. Chiến lược chiến tranh chớp nhoáng bị phá sản. Từ thời điểm này Pháp lún sâu vào cuộc chiến dai dẳng và tốn kém.

Мужик 23-02-2013 09:38

Hết hy vọng thắng nhanh, từ năm 1948 quân Pháp tính đến việc đảm bảo cho mình các hậu phương vững chắc, thực hiện chiến thuật “bình định” các vùng chúng chiếm được. Ở Nam bộ và Trung bộ Pháp tiến hành hàng loạt chiến dịch tiễu phạt lớn. Dọc theo các tuyến đường giao thông trong vùng tạm chiếm các lô cốt bê tông được dựng lên. Nhưng chính chúng lại trở thành các cái bẫy đá dành cho quân Pháp.

Mở rộng chiến tranh du kích không ảnh hưởng tới việc thực hiện các chiến dịch quân sự lớn tại các địa phương thuộc Nam bộ: La Ngà (2 tháng 3), Tầm Vu (19 tháng 4), Sóc Xoài (ngày 3 tháng 8), Mộc Hoá (16 tháng 9), các trận đánh lớn tại các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, tại Nghĩa Lộ và dọc quốc lộ 4 ở miền Bắc. Đối lại, Pháp thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” (giống như chiến lược “Việt Nam hoá” chiến tranh của người Mỹ sau này). Thực dân Pháp tăng cường chiêu nạp quan lại bù nhìn địa phương, tuyển mộ thanh niên gia nhập vào quân đội viễn chinh và quân đội bù nhìn, tuyên bố thành lập “Nhà nước của người Thái” (tháng 3 năm 1948) và “Nhà nước của người Nùng” (tháng 5 năm 1948) và của các dân tộc thiểu số khác. Cùng lúc, Bộ chỉ huy Pháp đồng thời tiếp tục các chiến dịch tấn công tại các vùng khác nhau của Việt Nam. Ở Bắc bộ họ tập trung chiếm toàn bộ tam giác chiến lược Hà Nội-Sơn Tây-Hoà Bình. Ở Trung bộ họ tiến hành nhiều đợt tấn công vào các tỉnh vùng tự do phía Nam (được gọi là khu 4) Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Đến cuối năm 1948 số lượng lính của quân đội viễn chinh Pháp tăng lên tới 150 ngàn người, còn chi phí cho chiến tranh Đông Dương năm đó đạt ngưỡng 300 tỷ phrăng.

Đối với công cuộc kháng chiến của Việt Nam việc xây dựng kinh tế mang ý nghĩa quyết định. Tại sao vậy? Đối phương tiếp tục kiểm soát các trung tâm công nghiệp, phần châu thổ màu mỡ và đông dân, tất cả các cửa khẩu giao thương quốc tế. Nhiệm vụ đặt ra là phải cung cấp vũ khi và lương thực cho các lực lượng vũ trang, đảm bảo cho chính quyền nhân dân hoạt động hiệu quả, đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân dân. Cần phải giành thắng lợi không chỉ trên chiến trường mà còn trong cả chiến tranh kinh tế vừa mới xuất hiện. Quân Pháp thực hiện mọi biện pháp để cắt đứt đường tiếp tế cho các lực lượng kháng chiến. “Vành đai trắng” được thiết lập xung quanh các vùng nông thôn bị Pháp chiếm giữ nhằm ngăn việc chuyển người và lương thực sang vùng giải phóng. Việc vận chuyển thuốc men và nhu yếu phẩm sang vùng tự do bị thực dân kiểm soát gắt gao, nhưng lại không cản trở đưa tới đó hàng hoá xa xỉ phẩm để dụ dỗ dân chúng bằng sản phẩm của “văn minh phương Tây”. Để đối trọng, lãnh đạo kháng chiến đề ra các kế hoạch kinh tế của mình. Đó là “chiến tranh trí tuệ”, là cuộc chiến khôi phục kinh tế, là “chính sách kinh tế mới” của lực lượng kháng chiến.

* * *

Ông Nguyễn Khắc Viện kể lại:
- Người Pháp trong những năm đó nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ ngày một nhiều từ người Mỹ. Ngày 19 tháng 3 năm 1950 tàu chiến và không quân Mỹ thử trấn áp và dọa dẫm tinh thần nhân dân Sài Gòn. Đây là sự phô trương sức mạnh quân sự. Tháng 6 năm 1950, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, phái đoàn quân sự Mỹ MAAG (Military Aid Advisory Group) tới Sài Gòn, được bố trí ở cạnh Sở chỉ huy Pháp. Mỹ giúp Pháp về tài chính và vật chất rất nhiều. Các máy bay vận chuyển quân sự bắt đầu bay ra miền Bắc, tạo điều kiện để Bộ chỉ huy Pháp thả các đơn vị mới của quân đội viễn chinh xuống vùng biên giới Việt-Trung, tạo “vành đai” cho các cứ điểm của mình, sau đó tấn công tổng hợp từ bắc xuống nam bao vây và tiêu diệt lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam.

Мужик 23-02-2013 09:51

Bộ chỉ huy Việt Nam quyết định mở chiến dịch dọc theo biên giới Trung Quốc (Chiến dịch Biên giới). Ngày 18 tháng 9, sau đợt tấn công mạnh mẽ của quân đội Việt Nam, cứ điểm Đông Khê thất thủ, buộc Pháp phải điều quân từ Cao Bằng ra ứng cứu. Những toán quân rút chạy và lực lượng đến ứng cứu từ Thất Khê bị đánh tơi tả. Người ta nói rằng kháng chiến Việt Nam chống Pháp là “châu chấu đá voi”. Nhưng voi đã cụt ngà, còn quân đội của dân đã thành “con hổ”. Sau 98 ngày đêm giao chiến ở vùng biên giới, phía Pháp mất 8000 binh lính và sỹ quan bị chết và thương vong, buộc phải rút khỏi Lạng Sơn, Thất Khê, Lộc Bình và cả Lào Cai, căn cứ quan trọng ở phía tây bắc đất nước. Toàn bộ khu vực phía bắc dọc theo 750 km biên giới Việt-Trung sạch bóng quân chiếm đóng. VNDCCH mở được cánh cửa tới các nước phe XHCN. Ý tưởng thành lập các quốc gia “tự trị” bù nhìn tại các vùng Bắc Việt Nam bị phá sản hoàn toàn.

Ngay tại chính nước Pháp phong trào phản đối chiến tranh ở Đông Dương của quần chúng nhân dân lan rộng. Mâu thuẫn trong giới cầm quyền Pháp ngày càng sâu sắc. Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp được trao cho tướng de Lattre de Tassgny, lúc đó được coi là nhà quân sự và chiến lược đầy triển vọng của Pháp. De Lattre đưa ra các biện pháp hàng đầu là tăng số lượng quân chi viện từ Pháp và Châu Phi, tăng cường phương tiện chiến tranh, đặc biệt là không quân.

- Cũng phải công nhận là de Lattre cũng đạt được một cái gì đó, - ông Vũ Đăng Ất chia sẻ với tôi- Cuối năm 1951 vùng đồng bằng sông Hồng bị bao vây bốn phía, 2200 lô cốt và đồn bốt được dựng lên. Chỉ ở đồng bằng, ngoài 55 tiểu đoàn quân thường trú, Bộ chỉ huy Pháp tăng cường thêm 46 tiểu đoàn cơ động. Số lượng quân đội bù nhìn tăng tới 112 ngàn người. Mỹ cung cấp cho Pháp hàng chục máy bay, hàng trăm xe bọc thép và pháo đại bác. Bộ máy tuyên truyền Pháp-Mỹ cũng không ngồi im. Tướng de Lattre được đề cao như một “thiên tài” và người đại diện cho “chiến thắng của chủ nghĩa thực dân Pháp”. Cũng trong thời gian đó ở Pháp quần chúng nhân dân đòi trả tự do cho thủy thủ Henry Martin, người từ chối sang Việt Nam đánh nhau, ủng hộ hành động dũng cảm của cô gái Pháp Raymonde Dien, người nằm chắn ngang đường tàu hỏa chở vũ khí cho quân đội Pháp ở Việt Nam. Ngoài ra, chính Liên minh Pháp-Mỹ cũng không tránh khỏi các mâu thuẫn. Pa-ri hiểu rằng Mỹ âm mưu dần dần đẩy thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương.

* * *

Chướng ngại vật chính để thực thi kế hoạch của tướng de Lattre là sự lớn mạnh không ngừng của phong trào kháng chiến trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao. Tháng 12 năm 1951 tại Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 3 diễn ra đại hội sáp nhập của Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, mở rộng hàng ngũ mặt trận dân tộc. Hội nghị đại biểu liên minh nhân dân 3 nước Đông Dương công bố thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù chung vì độc lập, tự do. Các mối quan hệ chính trị quốc tế của VNDCCH được mở rộng.

Мужик 23-02-2013 10:19

THẤT BẠI VÀ CÁI CHẾT CỦA TƯỚNG DE LATTRE

Tháng 1 năm 1951, lực lượng vũ trang nhân dân mở tấn công vùng trung du tây bắc châu thổ sông Hồng, chiếm 10 cứ điểm của địch, tiêu diệt 3 tiểu đoàn cơ động của đối phương.

Ngày 20 tháng 3, sau các đợt tấn công tại vùng Đông Triều, quân kháng chiến giành được các vị trí thuận lợi để chiếm các mỏ than lộ thiên Hòn Gai và cảng Cẩm Phả và Hải Phòng. Tháng 5 tấn công thị xã Ninh Bình, cách Hà Nội 90 km. Bộ chỉ huy Pháp rất khó khăn mới điều được lực lượng tiếp viện tới những khu vực bị tấn công. De Lattre cố gắng tập trung một số binh đoàn cơ động để thực hiện đòn đáp trả trong cách vô vọng. Ông ta đã không giành lại được lợi thế.

Ngày 14 tháng 10 năm 1951 viên chỉ huy này ném 3 tiểu đoàn lính dù, 15 tiểu đoàn bộ binh cùng với 7 đơn vị pháo binh và 2 trung đoàn xe tăng đánh chiếm Hoà Bình. Các trận chiến xảy ra tại nơi cách Hà Nội có 75 km, trên bờ sông Đà. Quân Việt Nam không có ý định giữ thị xã, đã rút lui chiến thuật vào vùng núi. Bộ chỉ huy Pháp tiến hành thành lập xung quanh Hoà Bình hệ thống phòng thủ rộng với ý đồ chốt tại đó các đơn vị tinh nhuệ của quân đội viễn chinh.

Bộ chỉ huy Việt Nam tổ chức họp bí mật và đi đến kết luận de Lattre tấn công Hoà Bình đã làm lực lượng định bị phân tán, vì vậy Quân đội nhân dân có cơ hội tấn công cụm quân đối phương “đã rã đám”, đồng thời mở rộng các hoạt động du kích ở đồng bằng, nơi phòng thủ của đối phương trở nên đặc biệt yếu. Để thực hiện kế hoạch này 3 sư đoàn quân chủ lực Việt Nam, được pháo binh yểm trợ tiến, về Hoà Bình, 2 sư đoàn khác chọc thủng vòng vây vùng châu thổ sông Hồng. Các trận chiến nổ ra trên cả 2 mặt trận - khu vực Hoà Bình và khu vực đồng bằng.

Ngày 10 tháng 12 bắt đầu chiến dịch giải phóng Hoà Bình. Các cứ điểm của Pháp dọc theo sông Đà lần lượt rơi vào tay lực lượng kháng chiến đã cắt đứt tuyến tiếp tế đường sông của quân địch. Các đoàn xe cung cấp lương thực và vũ khí tới thị xã Hoà Bình theo đường số 6 bị đột kích tới tấp. Để bảo vệ chúng địch phải điều động 12 tiểu đoàn tăng và bộ binh mô-tô. Hệ thống cứ điểm tua tủa (dạng “con nhím”) không thể bảo vệ các trại lính Pháp trước những đợt tấn công của Quân đội nhân dân. Các cuộc tấn công ào ạt được kết hợp với chiến thuật bắn tỉa chính xác của các xạ thủ miền núi. Hình thức chiến đấu này lần đầu tiên được bộ đội Việt Nam sử dụng lúc đó. Ngày 24 tháng 3 năm 1951, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho các đơn vị rút khỏi Hoà Bình. Việc rút lui kéo dài trong 3 ngày đêm. Quân Pháp còn thiệt hại thêm 6 đại đội, hàng chục xe quân sự. Trong giai đoạn từ 14 tháng 10 năm 1950 đến 23 tháng 3 năm 1951 quân đội viễn chinh mất 22 ngàn binh sỹ, trong đó hơn 6000 chỉ riêng tại Hoà Bình. De Lattre de Tassigny chết bệnh từ trước khi được chứng kiến các kế hoạch của mình bị đổ bể. Con trai của de Lattre tử trận gần thành phố Thanh Hoá, cách Hà Nội 150 km. Cây thánh giá gỗ to trên đỉnh tảng đá bazan cao nhất - tấm bia không tệ nhất cho viên trung uý. Nó được thấy rõ từ cách xa nhiều cây số.

Sau thất bại Hoà Bình quân Pháp chuyển sang phòng thủ trên tất cả các mặt trận. Quân đội Việt Nam, vừa tấn công bằng lực lượng chủ lực vừa kết hợp mở rộng chiến tranh du kích, đã giải phóng hết vùng này đến vùng khác trên toàn quốc. Tháng 10 năm 1952 lực lượng kháng chiến đã làm chủ vùng thung lũng giữa sông Đà và sông Mã diện tích 28 ngàn km2 với 250 ngàn dân. Đầu năm 1953, phối hợp với các lực lượng mặt trận Pa thét Lào, quân tình nguyện Việt Nam giải phóng thị trấn Sầm Nưa vùng Thượng Lào. Một vùng giải phóng rộng lớn được hình thành với diện tích 40 ngàn km2 cùng 300 ngàn dân.

***

Мужик 23-02-2013 10:25

Tháng 5 năm 1953 chính phủ Pháp bổ nhiệm tướng Henri Navarre, người thứ 7 kể từ năm 1945, làm Tổng chỉ huy quân đội ở Đông Dương. Trước đó vị tướng này giữ chức Tổng tư lệnh lực lượng bộ binh của NATO ở Trung Âu. Cùng với Lầu năm góc, Navarre vạch ra kế hoạch giành thế chủ động chiến lược và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng kháng chiến Việt Nam trong vòng 18 tháng. Sau đó sẽ tiến hành ký kết hiệp ước hoà bình có lợi cho Pháp.

Để thực hiện kế hoạch này, Navarre tập trung tại miền Bắc Việt Nam 112 tiểu đoàn, trong đó có 44 tiểu đoàn cơ động. Lực lượng này phải thực hiện các đợt tấn công chớp nhoáng để làm tiêu hao lực lượng kháng chiến tập trung chủ yếu tại miền Bắc. Đến cuối mùa đông năm 1953, khi quân Việt Nam mất khả năng tác chiến sau những tổn thất dự kiến, Bộ chỉ huy Pháp sẽ có kế hoạch chuyển các đơn vị tinh nhuệ vào miền Nam, nơi lực lượng chủ lực của phong trào kháng chiến được coi là tương đối yếu. Vì vậy việc tiến hành “bình định” toàn bộ miền Nam, chuyển chức năng chiếm đóng cho quân đội bù nhìn được củng cố cũng được đặt ra. Còn đến mùa thu năm 1954 sẽ lại tập trung quân tinh nhuệ tấn công miền Bắc tiêu diệt hoàn toàn các lực lượng vũ trang nhân dân và ép lãnh đạo kháng chiến phải chấp nhận các điều kiện hoà bình do Pháp và Mỹ đưa ra.

Cuồng vọng chiến thắng cuộc chiến bằng bất kỳ giá nào đã đưa thực dân Pháp đến chỗ càng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ. Năm 1953 viện trợ Mỹ cho Pháp đã lên đến 385 triệu đô la, bằng 60% chi phí quân sự của Pháp ở Đông Dương. Cũng trong năm này, khối lượng vũ khí Mỹ cung cấp cho quân đội viễn chinh Pháp đạt 25 ngàn tấn mỗi tháng. Từ các căn cứ của Mỹ tại Pháp, Phi-lip-pin và Nhật Bản vũ khí, khí tài được chuyển đến Đông Dương bằng đường hàng không. Các phi công Mỹ trực tiếp tham chiến trong các chiến dịch quân sự.

Đến cuối năm 1953 quân đội viễn chinh Pháp có 250 ngàn binh sỹ. Nó có 26 tiểu đoàn pháo binh, 528 máy bay, 390 tàu chiến và ca nô. Quân số quân đội bù nhìn lên tới 300 ngàn người.

Bộ chỉ huy Pháp vẫn chờ đợi lực lượng tiếp viện mới. Trong điều kiện này các kế hoạch chiến lược được lập với các mục tiêu dài hạn. Pháp bắt đầu mở các đợt tấn công lên Lạng Sơn cùng lúc với Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình, các tỉnh được giải phóng năm 1952. Các chiến dịch càn quét quy mô lớn được thực hiện song song tại các tỉnh miền Trung Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Tưởng rằng Pháp lại giành thế chủ động lần nữa.

Quân đội chủ lực Việt Nam tập trung tại 2 hướng chính - tây bắc Bắc bộ và cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên). Ngoài ra họ còn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Pa thét Lào tấn công vào các vị trí đối phương tại vùng Trung và Thượng Lào. Tóm lại, chiến sự đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam và chiếm phần lớn Đông Dương. Hàng triệu người được huy động đi mở đường, phục vụ hậu cần cho các đơn vị quân đội hoạt động xa căn cứ chính hàng trăm km. Nguồn nhân lực và vật lực chủ yếu của đất nước luôn tập trung tại các vùng đồng bằng, trong khi chiến trận lại diễn ra tại các vùng núi xa xôi. Đặc điểm tình hình chính là ở chỗ này. Về quy mô và tầm cỡ của công tác hậu cần cho các chiến dịch tấn công của Quân đội nhân dân có thể đánh giá chỉ cần qua những ví dụ như việc mở đường từ Yên Bái đến Sơn La tổng số mất hơn 2 triệu ngày công, còn làm đường nối liền Quân khu 2 với Quân khu 3 mất 2,6 triệu ngày công. Hơn 90% sỹ quan và chiến sỹ của Quân đội nhân dân là con em nông dân, họ biết làm việc với đất, đá.

- Chưa khi nào có từng ấy con người ra mặt trận. Chưa bao giờ trai gái thanh niên Việt Nam chất phác lại đi xa làng quê ruột thịt của họ đến thế, - ông Ất nói. - Ở đồng bằng, cũng như ở miền núi, trên rừng hay dưới biển, trên đường quốc lộ hay đường làng, trên sông hay trên suối - đâu đâu cũng có hàng ngàn người. Hậu phương gửi họ ra tiền tuyến, hậu phương cùng quân đội tham gia đánh giặc giải phóng đất nước.

Мужик 23-02-2013 10:51

ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đông xuân năm 1953-1954 Tây Bắc - vùng chiến lược quan trọng phía tây bắc trên biên giới Việt Nam, Lào và Trung Quốc, trở thành sân khấu chính của các hoạt động quân sự Tháng 11 năm 1953 quân đội Việt Nam bắt đầu tấn công thị xã Lai Châu, trung tâm hành chính của tỉnh cùng tên. Như dự đoán, Pháp ngay lập tức bổ sung lực lượng và vũ khí, khí tài để củng cố vị trí tại vùng này. Ngày 20 tháng 11, 6 tiểu đoàn lính dù nhảy xuống Điện Biên Phủ, thung lũng nằm giữa vùng núi cao Tây Bắc gần biên giới Việt-Lào. Ngay đầu tháng 12, số tàn quân Pháp tại Lai Châu cũng kéo về đóng tại Điện Biên Phủ.

Thung lũng Điện Biên Phủ giữ vị trí đặc biệt trong các kế hoạch của Bộ chỉ huy Pháp. Tại đây Pháp tính cố thủ lâu dài, dựng lên một căn cứ quân sự lớn có thể thường xuyên đe doạ vị trí của các lực lượng yêu nước vùng Thượng Lào và tây bắc Việt Nam. Từ đây, đến thu năm 1954, theo kế hoạch sẽ giáng một đòn sấm sét vào cơ quan đầu não của lực lượng kháng chiến tại Việt Bắc. Dường như hình thành 2 tuyến di chuyển đối lập nhau của các lực lượng quân sự. Sau giải phóng Lai Châu, lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam tiến về Điện Biên Phủ, còn đối phương lại ném xuống đây các đơn vị chi viện mới: bộ binh, pháo binh, xe tăng, không quân và công binh, xây dựng công sự bê tông, phủ kín thung lũng bằng hệ thống hầm hào và mạng lưới giao thông, liên lạc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ kể lại:
- Ngày 21 tháng 11 năm 1953, gần như đồng thời với chiến dịch Lai Châu, quân đội Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang Pa thét Lào mở đợt tấn công vào vùng Bắc và Trung Lào, đến ngày 27 tháng 12 chiến được thị xã Thà Khẹt. Navarre vội vã tung lực lượng mới của quân đội viễn chinh tới hỗ trợ một cứ điểm đang bị đe doạ gần Sa-van-na-khẹt. Nhưng việc này cũng không cứu được các cánh quân tại Nam Lào khỏi thất bại. Ngày 31 tháng 12, thị xã Attop thất thủ sau các trận đánh của lực lượng yêu nước, còn đến tháng giêng năm 1954 toàn bộ cao nguyên Bô-lô-ven rơi vào tay những người yêu nước.

Bộ chỉ huy Pháp nhận định rằng sức mạnh tấn công của lực lượng kháng chiến Việt Nam đã cạn và bắt đầu triển khai kế hoạch phản công “Atlante”. 20 tiểu đoàn bộ binh và cơ động với sự hỗ trợ của 4 tiểu đoàn pháo binh tấn công vào các tỉnh vùng giải phóng thuộc Khu 5 Trung bộ. Nhưng lực lượng chính của những người yêu nước đã được chuyển về vùng cao nguyên Trung phần. Tại đây, từ 26 tháng 1 đến 17 tháng 2, sau các trận chiến khốc liệt, tỉnh Kon Tum được giải phóng hoàn toàn. Navarre buộc phải khẩn cấp điều động 13 tiểu đoàn đến giải vây cho thị xã Pleiku. Lực lượng Quân đội nhân dân tấn công vào các vị trí yếu của quân Pháp và giành được các thắng lợi chiến thuật.

Đến lúc này Bộ chỉ huy Việt Nam thông qua quyết định bí mật bắt đầu chuẩn bị chiến dịch công phá tập đoàn cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ. Để đánh lạc hướng và buộc đối phương tiếp tục phải phân tán lực lượng, hàng loạt cuộc tấn công nghi binh vào các vùng do Pháp kiểm soát tại Thượng Lào được thực hiện. Cùng lúc hoạt động vũ trang của du kích đột ngột tăng mạnh tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mekong và duyên hải Trung bộ. Quốc lộ 5 nối Hà Nội với Hải Phòng trở thành mục tiêu tấn công dồn dập của lực lượng dân quân. Ngày 4 và 7 tháng 3 năm 1954, lực lượng đặc công của Quân đội nhân dân đột nhập vào sân bay Cát Bi và Gia Lâm, phá huỷ hàng chục máy bay, gây khó khăn lớn trong việc tiếp tế vũ khí, lương thực bằng đường hàng không cho các cánh quân bị bao vây tại Điện Biên Phủ.

Tuy vậy Bộ chỉ huy Pháp cho rằng căn cứ quân sự Điện Biên Phủ được xây dựng kiên cố, được 17 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị pháo binh, xe tăng, máy bay, công binh bảo vệ sẽ trụ được và trở thành cái bẫy nhử lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam.

Мужик 23-02-2013 10:53

Từ đồng bằng, nơi tập trung các nguồn vật lực của phong trào kháng chiến, đến Điện Biên Phủ cần phải vượt khoảng cách 500 km theo các con đường mòn băng qua núi cao, rừng rậm. Cả lương thực, cả vũ khí đều được chuyển ra mặt trận chủ yếu bằng gồng gánh, xe thồ, thuyền, bè nhỏ, hiếm lắm mới bằng xe tải. Công việc còn phức tạp hơn vì Điện Biên Phủ là khu vực lòng chảo, tứ bề xung quanh được che chắn bởi các dãy núi cao hơn 1000 m. Cần phải kéo các khẩu pháo hạng nặng lên đỉnh núi, sau đó lại phải hạ chúng xuống thung lũng đến những vị trí cắm chốt dưới làn bom đạn oanh tạc của pháo binh, không quân kẻ thù. Quân đội Việt Nam, vốn không được trang bị kỹ thuật hiện đại, đứng trước những khó khăn, thử thách tưởng như không thể vượt qua. Tháng 2 năm 1954 tướng Mỹ O’Daniel đi thị sát cứ điểm này. Sau khi xem xét các vị trí, viên tướng đã tuyên bố sự “hài lòng đặc biệt” của mình về viễn cảnh cuộc chiến. Rồi với tâm trạng thoải mái, ngày 12 tháng 3, một ngày trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Bộ chỉ huy Pháp điều tới Quy Nhơn lực lượng đáng kể để chuẩn bị cho chiến dịch “Atlante". Như vậy, lực lượng quân dự phòng đã được điều đến không đúng vùng hoạt động.

Ngày 13 tháng 3 quân Việt Nam bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ, trước tiên là vào một trong số cứ điểm đề kháng - đồi Him Lam.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với người Pháp, vốn không bao giờ nghĩ rằng vũ khí hạng nặng lại có thể chuyển qua núi cao rồi lại được nguỵ trang giỏi như vậy. Thật không tưởng khi quân đội Việt Nam chỉ trong một thời gian rất ngắn lại có thể huấn luyện được những pháo thủ giỏi đến thế. Chỉ sau vài giờ cứ điểm Him Lam đã thất thủ. Ngày 14 tháng 3 cứ điểm đề kháng thứ 2 - đồi Độc Lập cũng bị tiêu diệt, còn ngày 17 tháng 3 cánh quân bảo vệ vị trí Bản Kéo, cũng thuộc phân khu phòng thủ phía bắc, đã đầu hàng. Các cứ điểm mang những cái tên phụ nữ ái mộ của các tướng lĩnh Pháp (“Marie”, "Isabelle” …) lần lượt bị tiêu diệt.

Chỉ còn lại phân khu trung tâm Mường Thanh và phân khu phía nam Hồng Cúm. Để tiếp cận đến đó phải vượt qua vùng đất bằng được “rà soát” bởi lưới lửa dày đặc của pháo và xe tăng địch. Lực lượng công binh Việt Nam đã đào mạng lưới giao thông hào và đường hầm và mỗi ngày tiến lại một gần các chốt địch. Tổng cộng có tới hơn 100 km giao thông hào và đường hầm được đào, khoét. Vòng vây khép dần lại xung quanh cứ điểm mà chỉ có thể tiếp viện được bằng đường hàng không. Cùng thời gian đó tình hình quân Pháp trên các mặt trận khác - đồng bằng Bắc bộ và cao nguyên Trung phần cũng xấu đi rất nhanh.

Lo lắng, Bộ chỉ huy Pháp cử tướng Ely sang Washington xin cứu viện. Với sự đồng ý của Tổng thống Eisenhower, kế hoạch giải thoát Điện Biên Phủ có tên “Chim kền kền” được vạch ra. Theo kế hoạch này, không quân Mỹ sẽ oanh tạc dồn dập các vị trí của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 30 tháng 3. Mọi khâu chuẩn bị đã hoàn tất. Kháng chiến bắt đầu đợt sóng tấn công thứ 2, chiếm các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm. Các trận đánh chiếm các cứ điểm phòng thủ then chốt diễn ra hết sức khốc liệt. Đặc biệt cứ điểm tại đồi A1 và C1 bị giành đi, cướp lại nhiều lần. Đến cuối tháng 4 bộ đội Việt Nam đã đào đường hào tới sân bay trung tâm, nơi tiếp nhận hàng cứu viện cho Điện Biên Phủ. Quân Pháp tổ chức các đợt phản công tuyệt vọng, cố giành lại các khu vực này, nhưng thất bại. Số lượng lớn lương thực và vũ khí, khí tài người Pháp thả dù xuống lại rơi vào các vị trí của người Việt Nam. Không quân Pháp tăng cường các chuyến bay oanh tạc giới tuyến mặt trận và đường giao thông của các đội quân kháng chiến. Nhưng các chiến sỹ Việt Nam vẫn giữ chắc các cứ điểm đã chiếm được, còn các đoàn dân công vẫn tiếp tục chuyển tới mặt trận tất cả những thứ cần thiết. Ngày 15 tháng 4 một nhóm sỹ quan cao cấp Mỹ tới Hà Nội để thảo luận việc triển khai kế hoạch “Chim kền kền”. Các bên đã nhận thức được rằng, sự can thiệp của không quân Mỹ không thể xoay chuyển được tình thế ở Điện Biên Phủ. Kế hoạch “Chim kền kền” bị huỷ bỏ…

***

Ngày 1 tháng 5 bắt đầu giai đoạn 3, giai đoạn kết thúc của đợt tấn công. Đồi A1, C1 và nhiều cứ điểm khác hoàn toàn rơi vào tay lực lượng kháng chiến. Chiều ngày 7 tháng 5, sau những đợt tấn công dồn dập quân đội Việt Nam đã chiếm được vùng trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nơi có sở chỉ huy quân đội Pháp. Toàn bộ nhóm chỉ huy, đứng đầu là tướng de Castries bị bắt làm tù binh. Cũng đêm đó Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm nốt phân khu phía nam. Cuộc chiến lớn nhất kết thúc bằng chiến thắng hoàn toàn của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn 16 ngàn binh lính và sỹ quan thành tù binh, trong đó có một tướng và 16 đại tá…

Trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 các trận giao chiến ác liệt xảy ra trên khắp các mặt trận. Tại vùng cao nguyên Trung phần quân đội Việt Nam đã tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn số 100 mà Pháp điều đến từ Triều Tiên. Chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Mekong và sông Hồng, ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên đạt tới quy mô sánh được với các chiến dịch của quân chủ lực. Tổng thiệt hại của Quân đội viễn chính Pháp và quân đội bù nhìn tới 112 ngàn binh lính và sỹ quan, 117 máy bay và nhiều khí tài quân sự khác.

Thất bại tại Điện Biên Phủ và tại các mặt trận khác vào đông xuân 1953-1954 buộc chính phủ Pháp phải ngồi xuống bàn đàm phán hoà bình. Tâm trạng phản chiến thậm chí còn bao trùm tất cả lực lượng cánh hữu trong xã hội Pháp.

Мужик 23-02-2013 11:12

CUỘC ĐẤU SÚNG NGOẠI GIAO Ở GIƠ-NE-VƠ

Tháng 2 năm 1954 hội nghị các bộ trưởng ngoại giao của các cường quốc tại Bec-lin đã quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế xem xét vấn đề chiến tranh Đông Dương cùng với vấn đề về giải pháp hòa bình tại Triều Tiên.

Ngày 26 tháng 4 Hội nghị Giơ-ne-vơ về Triều Tiên và Đông Dương bắt đầu công việc của mình. Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 7 các hiệp ước về chấm dứt các hoạt động quân sự tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia được ký kết, tuyên bố Hội nghị Giơ-ne-vơ được thông qua.

Các hiệp ước về Việt Nam trù định việc bố trí lại lực lượng của các quân đội tham chiến vì tính chất đặc thù của chiến tranh bị phân bố đan xen với nhau, chuyển quân về 2 miền đất nước - miền Bắc và miền Nam với ranh giới là vĩ tuyến 17. Thời gian để bố trí lại lực lượng được xác định trong thời hạn 300 ngày.

Về mặt chính trị, Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận quyền độc lập, tự chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương - Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Giới tuyến theo vĩ tuyến 17 không được xem như là đường biên giới quốc gia. Muộn nhất đến tháng 7 năm 1956 Việt Nam phải thực hiện bầu cử tự do toàn dân dưới hình thức bỏ phiếu kín để thành lập chính phủ Việt Nam thống nhất.

Trước khi thống nhất, 2 miền đất nước không được gia nhập vào bất kỳ khối quân sự nào, không được xây dựng căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình, không cho phép nhập cảnh nhân viên quân sự mới và vũ khí. Mỹ tìm mọi cách để phá hoại công việc của Hội nghị, không đặt bút ký vào văn kiện cuối cùng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói với chúng tôi:

“Nhân dân và quân đội Việt Nam chiến thắng kẻ thù mạnh hơn vì quân và dân kiên quyết chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì ruộng đất cho nông dân...Chúng tôi cho rằng, trong thời đại của chúng ta không đội quân đế quốc nào, dù nó có mạnh đến đâu, không một tướng đế quốc nào, dù tài giỏi đến mấy, cũng không thể chiến thắng được nhân dân, dù bé nhỏ và yếu ớt nhưng đoàn kết kiên quyết đứng lên đấu tranh và trong cuộc đấu tranh ấy được lãnh đạo bởi một đường lối chính trị và quân sự đúng đắn. Kinh nghiệm của chúng tôi đã chỉ ra rằng, không được ảo tưởng về sự thiện chí của đế quốc, rằng chủ nghĩa thực dân mới trong tất cả biểu hiện của nó nguy hiểm hơn chủ nghĩa thực dân cũ. Chúng ta không sợ sức mạnh của vũ khí hiện đại, bởi vì con người, với các phẩm chất đạo đức và tinh thần của mình, quyết định kết quả cuối cùng của cuộc chiến...”

Hiệp ước Giơ-ne-vơ năm 1954 củng cố sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam: quyền độc lập, tự chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng tương quan lực lượng giữa phong trào kháng chiến Việt Nam và phe đế quốc nói chung, liên minh Pháp-Mỹ nói riêng, tại thời điểm đó ở mức mà chỉ có thể giải phóng nửa phía bắc đất nước. Ranh giới tạm thời nằm dọc theo sông Bến Hải chảy về hướng biển.

Ngay sau khi Hiệp ước được ký kết, Mỹ, với sự đồng thuận của Chính phủ Pháp đã thiết lập tại miền Nam Việt Nam chế độ thực dân mớí - công cụ để chia cắt Việt Nam vĩnh viễn và biến phần phía nam đất nước thành căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, thành thuộc địa kiểu mới. Trong hoàn cảnh này, nhân dân Việt Nam cần đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ: xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, bảo vệ miền Bắc trước mọi xâm hại từ bên ngoài và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Мужик 23-02-2013 11:15

- Nhưng Washington từ trước năm 1954 rất lâu đã bắt đầu can thiệp vào công việc của Việt Nam, ông Ngô Điền, tuỳ viên báo chí của đoàn Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, sau này là Vụ trưởng vụ báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại sứ Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam tại Cam-pu-chia, nói với tôi. - Đặt mục tiêu bóp chết phong trào giải phóng của nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành bàn đạp quân sự chống lại phong trào cách mạng ở Đông Nam Á. Lãnh đạo 3 đế quốc lớn nhất Mỹ, Anh, Pháp, ngay từ tháng 4 năm 1950 tại hội nghị các bộ trưởng ngoại giao tại London đã thoả thuận chương trình hợp tác ở Đông Dương. Sau hội nghị này Mỹ tăng mạnh viện trợ quân sự và tài chính cho thực dân Pháp. Ngày 27 tháng 6 năm 1950 Tổng thống Mỹ Truman cử đến Đông Dương một phái đoàn quân sự đặc biệt có nhiệm vụ phải làm việc trong sự phối hợp chặt chẽ với Bộ chỉ huy quân sự Pháp. Ngày 23 tháng 12 năm 1950, Mỹ ký với Pháp và “các nước gia nhập” Đông Dương hiệp ước “phòng thủ chung”, theo đó “Pháp và các nước gia nhập cam kết tiếp nhận tất cả biên chế cần thiết đến từ Mỹ để đưa hiệp ước này vào cuộc sống, tạo các điều kiện cần thiết để các tổ chức Mỹ có thể hoàn thành sứ mệnh của họ”.

Sau khi ký hiệp ước này Washington tiến hành sự can thiệp của mình một cách dữ dội. Tháng 9 năm 1951, Mỹ ký với chính phủ Bảo Đại thoả thuận về hợp tác kinh tế. Người Mỹ cài tay chân của mình vào bộ máy hành chính bù nhìn một cách có hệ thống. Năm 1953, đổi lấy sự viện trợ quân sự lớn để thực hiện “Kế hoạch Navarre” Mỹ đã được Pháp đồng ý cho nhân viên Mỹ trực tiếp tham gia huấn luyện quân đội bù nhìn. Từ năm 1954 quyền lãnh đạo việc tổ chức và huấn luyện quân đội bù nhìn đã chuyển vào tay tướng Mỹ O’Daniel. Nhưng lần đầu tiên không phải tất cả các tướng lĩnh Mỹ đều ủng hộ việc can thiệp vào công việc của nhân dân Đông Dương. Tướng Ridgway, nguyên tư lệnh quân đội Mỹ tại Triều Tiên, đã phát biểu chống lại việc triển khai kế hoạch “Chim kền kền”. Bằng chính kinh nghiệm của mình ông khẳng định rằng, việc đưa quân viễn chinh đến Châu Á đe doạ Mỹ và các nước khác bị sa vào cuộc chiến tranh dai dẳng mà kết cục chẳng vẻ vang gì… Nhưng những tiếng nói này bị “chìm nghỉm” trong tiếng thét gào của tập đoàn quân phiệt.

Sau Hiệp ước Giơ-ne-vơ về Đông Dương Mỹ vội vàng liên kết các nước đế quốc, các lực lượng phản động địa phương vào khối quân sự khu vực để tiếp tục chiến tranh. Người Mỹ đòi được từ người Pháp một nhượng bộ quan trọng: Ngô Đình Diệm, tay chân của Washington, được CIA tuyển chọn [68] năm 1948 và được đào tạo bài bản tại Mỹ từ cuối những năm 30, được bổ nhiệm vào ghế Thủ tướng ở Sài Gòn.

***

Tháng 9 năm 1954 những cố gắng ngoại giao của Mỹ kết thúc bằng việc thành lập tại khu vực này của thế giới khối quan sự xâm lược SEATO gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Pakistan, Thái Lan, Phi-lip-pin và Niu Di-lân. Trong biên bản hiệp ước thành lập khối này có đề cập rằng “Lào, Cam-pu-chia và phần lãnh thổ tự do nằm dưới chính quyền quốc gia Việt Nam thuộc phạm vi hoạt động của hiệp ước”. Như vây, cánh cửa can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam và các nước Đông Dương khác đã được mở toang bằng “chìa khoá ngoại giao”.

Washington đã tăng cao biên chế bộ máy ngoại giao quân sự và kinh tế của mình ở miền Nam Việt Nam. Các phái đoàn, “cố vấn” Mỹ giành sự lãnh đạo tất cả hoạt động của chế độ Sài Gòn - từ việc dự thảo hiến pháp, huấn luyện quân đội và cảnh sát cho đến xây dựng các chương trình học tập bậc phổ thông và đại học. Tháng 12 năm 1954 tại Pa-ri một hiệp định được ký kết, theo đó Mỹ nhận trách nhiệm tổ chức toàn bộ cơ cấu chính trị-xã hội của chế độ thực dân mới tại miền Nam Việt Nam. Sự tham gia của Pháp bị hạn chế và trở thành thứ yếu, không quyết định.

Мужик 23-02-2013 11:18

Ngày 26 tháng 10 năm 1955 Sài Gòn tuyên bố thành lập nước “Việt Nam cộng hoà”, ngay lập tức được chính phủ Mỹ và Anh công nhận, sau một chút là Pháp. Cuộc trưng cầu dân ý được lập trình sẵn giúp Ngô Đình Diệm lấn át và thậm chí gạt bỏ Bảo Đại, khẳng định với vai trò của độc tài duy nhất. (Bảo Đại, tên thật là Vĩnh Thuỵ, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913, lên ngôi năm 1926. “Thiên Tử” lấy Nam Phương (hoàng hậu “phượng hoàng phương Nam”, thời con gái có tên Nguyễn Hữu Thị Lan), thường xuyên có ảnh hưởng tích cực đến “vị hoàng đế phóng khoáng, vui tính, nhưng tư duy tỉnh táo”. Tôi thấy Bảo Đại tại Pa-ri vào những năm 1995-1996. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, sau khi thua Ngô Đình Diệm, Bảo Đại vĩnh viễn rời Việt Nam và sang Pháp, nơi nhận được học vấn rất tốt thời trẻ. Bảo Long, con trai ông, định cư tại thành phố Nice, nơi có thể thấy ông trên con đường ven biển, ngồi trầm ngâm trên cái ghế dài, mắt nhìn về phía biển xa xăm với những chấm trắng của những cánh buồm phía chân trời...)

Đúng nửa năm sau khi Bảo Đại rời tổ quốc, ngày 28 tháng 4 năm 1956 người lính Pháp cuối cùng rời miền Bắc Việt Nam từ Hải Phòng. “Chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam gạt bỏ tất cả đề nghị của VNDCCH tiến hành hiệp thương chuẩn bị cho tổng tuyển cử tự do, tăng cường lực lượng quân đội và hô hào “Bắc tiến”. Mỹ đưa vũ khí, khí tài quân sự vào miền Nam, tiến hành xây dựng các căn cứ không quân và hải quân và hệ thống giao thông chiến lược. Trong giai đoạn từ 1955 đến 1960 quân đội Sài Gòn nhận từ Lầu năm góc số lượng quân trang trị giá 463 triệu đô la.”

- Từ năm 1954, - nhà sử học tiếp tục, - chính sách của Mỹ ở Việt Nam theo đuổi các mục đích sau: gạt Pháp ra khỏi Đông Dương và kiểm soát miền Nam Việt Nam; thiết lập chế độ thực dân mới độc tài phía nam vĩ tuyến 17, tiêu diệt các lực lượng cách mạng và dân tộc ở miền Nam Việt Nam; chuẩn bị và tiến hành chiến tranh chống VNDCCH.

Phong trào giải phóng dân tộc bị đàn áp, làn sóng khủng bố ác liệt lan khắp miền Nam Việt Nam từ Sài Gòn đến các vùng xa xôi hẻo lánh nhất ở Quảng Trị, Thừa Thiên. Nhân dân miền Nam chưa từng thấy thời kỳ đen tối nào như vậy trong lịch sử của mình: giết người, thủ tiêu, tra tấn hàng loạt, trại tập trung, các chiến dịch tàn sát xảy ra khắp nơi. Trong những năm1955-1959 được gọi là “hoà bình” đồng bào miền Nam chịu tổn thất nhiều hơn 7 năm chiến tranh đẫm máu với thực dân Pháp.

Đến năm 1959 việc đàn áp được luật pháp hoá. “Quốc hội” Sài Gòn bỏ phiếu thông qua Luật 10/59 cho phép toà án binh quyền không chỉ được kết án ngay lập tức những người bị cảnh sát bắt, cũng như trong các cuộc truy sát mà còn được thi hành án tại chỗ. Mối đe doạ bị tước mạng sống treo lơ lửng không chỉ trên phòng trào yêu nước mà còn trên đầu tất cả dân chúng miền Nam đất nước.

Nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác, ngoài việc cầm vũ khí đứng lên tranh đấu chống lại chế độ độc tài. Vào thời điểm khi những tên đao phủ lê máy chém đi khắp nước, khi chế độ độc tài của Diệm tỏ ra đặc biệt vững chắc đối với những kẻ hà hơi tiếp sức Mỹ (Diệm thậm chí còn được Mỹ gọi là “Churchill Châu Á”), thì sự căm phẫn và phản kháng của các tầng lớp nhân dân chuyển thành khởi nghĩa vũ trang. Tháng giêng năm 1960, tại tỉnh Bến Tre, trung tâm của đồng bằng sông Mekong, nông dân khởi nghĩa đã lật đổ chính quyền Diệm, thành lập chính quyền tự quản nhân dân… Ngày 11 tháng 11 năm 1960 một nhóm sỹ quan định thực hiện đảo chính vũ trang. Đảo chính thất bại nhưng nó lần đầu tiên cho thấy sự lung lay của chế độ thân Mỹ, chỉ ra rằng ngay cả quân nhân Sài Gòn cũng sẵn sàng hợp tác với các lực lượng yêu nước.

Ngày 20 tháng 12 năm 1960 các lực lượng cách mạng và yêu nước miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng (MTDTGP). Mặt trận đặt mục tiêu lật đổ chế độ Diệm, đưa đất nước thoát khỏi sự can thiệp của nước ngoài, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc, xác lập chế độ dân chủ và tiến tới hoà bình thống nhất đất nước.

Tháng 2 năm 1961 các tổ chức vũ trang quần chúng liên kết thành Quân đội giải phóng miền Nam - Lực lượng giải phóng vũ trang nhân dân. Việt Cộng (gọi tắt của “Việt Nam cộng sản ”) đã thay thế Việt Minh.

Мужик 23-02-2013 11:19

CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

Sau khi bầu J.F. Kennedy làm Tổng thống Hoa Kỳ, Nhà trắng đứng trước sự lựa chọn: hoặc từ bỏ ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, đồng thời từ bỏ duy trì sự thống trị của mình tại miền Nam Việt Nam, hoặc tiến hành chiến tranh chống lại tất cả nhân dân Việt Nam. Kennedy đã chọn chiến tranh. Chính lúc đó chiến lược chiến tranh “đặc biệt” ra đời. Miền Nam Việt Nam trở thành bãi thử của nó.

Mọi sự chuẩn bị được hoàn tất vào đầu năm 1962. Vào tháng 2 Bộ chỉ huy chiến dịch Mỹ và đội “cố vấn” đến Sài Gòn. Đến năm 1964 ở miền Nam Việt Nam có đến 25 ngàn “cố vấn” Mỹ.

- Quân số quân đội Sài Gòn, - Chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Nguyễn Hữu Thọ kể với tôi, - lên tới 500 ngàn người, trang bị gồm gần 500 máy bay chiến đấu, hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, pháo binh hạng nặng, phương tiện trinh sát và do thám điện tử hiện đại. Tại Nam Việt Nam lần đầu tiên các chất hoá học độc hại được sử dụng. Cây cối và hoa màu ở các vùng giải phóng bị huỷ diệt - khắp nơi, kể cả những vùng bị nghi ngờ hoặc có thể trở thành căn cứ của du kích.

Để thực hiện “chiến tranh đặc biệt” Mỹ đã huy động quân đội và vũ khí gấp nhiều lần Pháp khi tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ năm 1962 bộ máy chiến tranh Mỹ-Sài Gòn nhiều lần tiến hành các chiến dịch càn quét với sự tham gia của gần 20 ngàn lính.

Washington theo đuổi một mục đích kép: tiêu diệt các lực lượng của Quân đội giải phóng trong các chiến dịch quân sự và đồng thời gom dân nông thôn vào 16 ngàn “ấp chiến lược” - một dạng trại tập trung được rào quanh bằng dây thép gai, nơi chính quyền Sài Gòn có thể kiểm soát chặt được dân chúng, cắt đứt mọi tiếp xúc với những người Việt Cộng cách mạng.

Ưu thế hoàn toàn của quân đội Sài Gòn được bảo đảm nhờ các máy bay lên trực thăng của Mỹ. Chúng cho phép chiến đấu tại bất cứ vùng nào, “tóm gọn đối phương như diều hâu tóm chim sẻ”. Trong năm 1962 lực lượng quân đội Mỹ-Sài Gòn tiến hành gần 20 ngàn cuộc “bình định”, “càn quét”; viện trợ quân sự của Mỹ cho chế độ Sài Gòn lên đến 600 triệu đô la một năm. Theo tính toán của các chiến lược gia Hoa Kỳ, việc “bình định” miền Nam Việt Nam phải được kết thúc vào cuối năm 1962. Nhưng “bình định” bị phá sản.

Thất bại quân sự hàng loạt, việc dồn dân vào “ấp chiến lược” phá sản và mâu thuẫn ngay trong nội bộ lãnh đạo chóp bu Sài Gòn đã dẫn đến việc là với hậu thuẫn của Mỹ, ngày 1 tháng 11 năm 1963 tướng lĩnh Nam Việt Nam thực hiện lật đổ quân sự. Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị bắn chết. Đám sỹ quan đảo chính đứng đầu là tướng Dương Văn Minh (tên lóng là “Minh Cồ” hay “Big Minh”) được Mỹ “đỡ đầu” lên nắm chính quyền. Ở Pa-ri tôi quen bà Nhu (Trần Lệ Xuân - người dịch). Dễ hiểu khi bà ta không đánh giá cao “Minh Cồ”. Tuy nhiên hiếm ai được bà Nhu đánh giá tích cực.

Năm 1964 Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara đến Sài Gòn để xây dựng các kế hoạch quân sự mới. Theo tham mưu của vị Bộ trưởng này Washington cấp bổ sung cho Nam Việt Nam tài chính và phương tiện chiến tranh. Chính quyền và quân đội Sài Gòn lúc đó đã rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc kinh niên. Hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác và đều có bàn tay can thiệp của các cơ quan tình báo Mỹ muốn tìm kiếm một chính phủ có thể tiếp tục chiến tranh hiệu quả hơn. Kế hoạch được gọi bằng tên của chính McNamara. Bây giờ, sau hơn 30 năm, ông ta đã nhìn nhận lại các quan điểm của mình và coi chiến tranh Việt Nam là sai lầm của nước Mỹ.

Còn vào thời gian đó những vùng do Mặt trận dân tộc giải phóng kiểm soát đã chiếm tới 4/5 lãnh thổ và 2/3 dân số miền Nam Việt Nam. Đó là tình thực tế ở Việt Nam trước sự kiện Vịnh Bắc bộ dẫn đến cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất của Hoa Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, cuộc chiến 2 trong 1 được bắt đầu: một (ở Miền Bắc) là cuộc chiến trên không, “không tiếp xúc”, hai (ở Miền Nam) là cuộc chiến khốc liệt, đến cả đánh nhau tay không, nhưng không có giới tuyến chiến trường.

Thao vietnam 27-02-2013 09:09

Chương III
SỐNG DƯỚI ĐẠN BOM. VIỆT NAM NGÀY VÀ ĐÊM

Năm 1966 qua đi. Tôi mất hơn một tháng để đến được Lào qua Ấn Độ, Pakistan, Myanma, Thái Lan và Cam-pu-chia. Và chỉ từ đó mới bay được đi Hà Nội. Thời đó chưa có đường bay thẳng giữa Moskva và nước Việt Nam dân chủ. Đối với tôi, một phóng viên của “Tin tức” thì ngả qua Trung Quốc lúc ấy bị cấm. Cũng có thể đi tàu thủy từ Vladivostok qua Hồng Công, nhưng… Thế là tôi đã ở Việt Nam.
Trời mưa dầm dề mấy ngày liền. Nhưng hôm nay có vẻ như mây đen đã quang trên thành phố. Nắng lung linh nhảy múa trên mặt hồ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp, nắng hong khô vỉa hè, nắng làm hồi sinh những tán cây cổ thụ cao lớn của Hà Nội-cây sấu. Tôi ngồi ở ghế đá bên hồ Hoàn Kiếm ghi nhật ký.

Ngày đầu tiên. Tìm thấy “người mất tích”
Hà Nội bây giờ là thành phố thời chiến. Hà Nội thức dậy trước bình minh. (Đối với tôi thì phóng sự này dường như mãi mãi ở thời hiện tại).
“Tôi đi trên phố phường Hà Nội trong sương sớm. Một đoàn tàu hàng đang qua cầu Long Biên. Dường như để thay nhạc hiệu, mấy con tàu kéo trên sông thỉnh thoảng lại kéo còi. Trên phố là những dòng xe đạp mãi không kết thúc. Đúng 5 giờ sáng các cơ quan, nhà nhà máy bắt đầu làm việc. Áp phích trên phố: “Chương trình ca nhạc hôm nay ở Nhà hát Lớn Hà Nội …”

Nhưng bỗng còi báo động phòng không bỗng vang lên.
Các chiến sĩ tự vệ vào vị trí chiến đấu. Nhiều tiếng nổ đâu đó gần đây.
- Chúng ném bom khu vực sân bay Gia Lâm, - bác công nhân Nhà máy cơ khí Hà Nội bảo tôi – ngày 16 tháng 12 năm 1966 là lần đầu tiên chúng ném bom cầu Long Biên qua sông Hồng. Còn bây giờ thì ngày nào cũng đánh…”
Những vị trí đầu não quan trọng nhất của VNDCCH đều bị ném bom.
…Ngày 25 tháng 4 lần đầu tiên sau hai năm rưỡi chiến tranh, không quân Mỹ đánh sân bay dân sự ở ngoại ô Gia Lâm. Những khu phố đông dân bị phá hủy. Trường học và bệnh viện ở ngoại thành bị phá tan tành. Hơn trăm dân lành bị giết hại. Vào ngày hôm đó có vài chục máy bay Mỹ tham gia oanh tạc thủ đô Việt Nam.

Khách sạn Thống Nhất. Khách sạn “Metropol” cũ của người Pháp . Bàn làm việc tại văn phòng thường trú Hà Nội của “Tin tức”. Tôi biết chuông điện thoại sẽ reo vang vào đúng 4 giờ như liên tục trong nhiều tháng gần đây. Giọng nói của chị nhân viên tốc ký ở Moskva Rima Gasparian hay Zoia Solomina sẽ lặp đi lặp lại một câu quen thuộc: “Cậu sẽ gửi tư liệu chứ? Có nhiều không? Lại đánh bom, lại đẫm máu hả? Chiến tranh mà… Nào!...”

Thao vietnam 27-02-2013 09:12

Trong lúc chờ điện thoại, tôi dò tìm sóng trên chiếc đài bán dẫn. Đài Hà Nội đưa tin: “Mỹ tiếp tục ném bom Hải Phòng - cửa biển của nước VNDCCH, khu Liên hợp gang thép Thái Nguyên, nhiều thành phố đông dân của VNDCCH. Ở Hải Phòng máy bay Mỹ oanh tạc cả tàu buôn Anh “Dartford” có độ mớn nước 4 ngàn tấn. Quốc kỳ Anh trên tàu bị rụng. Buồng máy và phần mũi tàu bị bắn phá. Sáu thủy thủ bị thương nặng... Lực lượng phòng không VNDCCH đánh trả quyết liệt. Bốn máy bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng cũng tiêu diệt 12 “giặc trời”.
Tôi chuyển sang sóng của đài Sài Gòn: “Không lực Hoa Kỳ chỉ tấn công mục tiêu quân sự của Bắc Việt, không lực Hoa Kỳ không có tổn thất nào...” Dù sao nhà báo luôn có vị thế đặc quyền: họ có nhiều nguồn tin khác nhau, họ nhìn thấy nhiều và tự so sánh, đối chiếu...
Tôi tắt đài. Trước mắt tôi là trường học, bệnh viện tan hoang, những khu phố đổ nát. Đó chính là những “mục tiêu quân sự” ư?

Ghi chép trong sổ tay. 25 tháng 4 năm 1967.
“14 giờ 00 tôi gửi bài về Moskva. Cuối giờ chiều tôi đến một xóm nhỏ gần Hà Nội, ở đó có xác chiếc máy bay Mỹ “F-105” bị bắn rơi hôm nay. Phi công Robert Larry Westcamp bị thương nặng đã bị hai cô dân quân bắt làm tù binh”.
Lúc đó tôi không ngờ rằng chính cái tên của viên phi công lại trở thành một tin tình báo. Gần ba mươi năm sau người ta nói với tôi rằng phi công Westcamp bị liệt vào danh sách “bị mất tích”. Hóa ra tôi là người tìm thấy anh ta.
Cánh đồng lúa. Những hố bom sâu hoắm. Trong một cái hố như vậy là xác máy bay. Viên phi công nằm trong một ngôi nhà nhỏ vách đất. Anh ta đã chết nửa giờ trước đó. Trước mắt tôi là giấy tờ, vũ khí, trang bị, tiền bạt Thái Lan, tiền pesô Philippin, đô la Mỹ... Chứng minh thư sĩ quan ghi tên trung úy Robert Larry Westcamp, sinh ngày 4 tháng 7 năm 1942. Số sĩ quan 3152424. Phục vụ trong phi đội ném bom số 354 đóng ở sân bay Tacli Thái Lan.
Sinh năm 1942, kém tôi có ba tuổi... Tôi chợt nhớ lại tin của đài Sài Gòn: “Không lực Hoa Kỳ không bị tổn thất”.

Thao vietnam 28-02-2013 07:34

Ngày thứ hai, 29 tháng 4. Ở trận địa pháo cao xạ.

Ngoại thành Hà Nội. Bến phà đã ở sau lưng. Trước mặt là con đê xanh chạy ngoằn ngoèo như con rắn. Bốn bề là đồng lúa xanh rờn. Mặt trời nhiệt đới nóng bỏng treo trên đỉnh đầu. Còn phải đi 10 phút nữa. Cuối cùng tôi lọt vào bóng râm của một vườn chuối nhỏ. Ven vườn chuối có một trận địa pháo cao xạ. Ba hôm trước tôi đã ở với đội pháo này. Tôi còn nhớ, chỉ trong ngày hôm đó các chiến sĩ phòng không đã đánh nhau với bọn cướp trời tám lần. Lúc ngưng nghỉ giữa các trận đánh, các chiến sĩ quây quần quanh nồi quân dụng. Họ ăn cơm rồi sau đó ngồi lặng lẽ. Có vẻ như không ai muốn phá hỏng sự tĩnh lặng quý giá như thế.

Các chiến sĩ biết nâng niu những giây phút bình yên hiếm hoi. Ai cũng tư lự nghĩ về chuyện của mình. Trung sĩ Hùng thổi kèn acmonica một giai điệu nào đó, có thể do chính anh sáng tác ra ở ngay đây, ở đội pháo này. Binh nhì Điền 20 tuổi thì ngồi thoải mái trên càng khẩu pháo 57mm (do Trung Quốc sản xuất) viết nốt bức thư viết dở từ hôm qua cho người vợ chưa cưới ở một làng nhỏ xa xôi mãi tận Đồng Hới. Như thường lệ, Điền viết thư bằng thơ, xong gấp tờ giấy lại rồi nở một nụ cười vu vơ như trẻ con. Ai mà biết được, có thể anh ta vừa kể câu chuyện thầm kín nhất của mình trên trang giấy nhỏ.
15 giờ 20 phút. Sở chỉ huy thông báo: Một tốp máy bay “F-105” đang bay theo hướng thẳng đến trận địa. Các khẩu đội pháo đo đạc căng thẳng. Tôi nấp dưới hào giao thông chuẩn bị máy ảnh. Đây là lúc dùng nó. Bỏ bút đi!

Hùng đưa quả đạn đầu tiên lên nòng...và cũng là cú bấm máy đầu tiên của tôi. Mỗi giây qua đi đám máy bay càng đến gần hơn. Từ hầm trú ẩn, tôi chụp ảnh đội pháo. Trước mắt tôi nhóm người này là một thực thể thống nhất - hạt nhân đặc biệt được gắn chặt bằng một thanh nam châm vĩ đại mà những người khác nhau gọi theo cách khác nhau: nghĩa vụ, lòng dũng cảm, tình yêu tổ quốc. Nhưng có lẽ là cả ba.
Mỗi phút giây chờ đợi trận đánh dài như vô tận. Thời gian ở đây đánh lừa như vậy đấy. Hai chiếc F-105 bổ nhào xuống trận địa. Mấy quả “Shrike” – tên lửa có điều khiển nổ ngay bên phải cách trận địa vài chục mét. Nhưng kìa một chiếc F-105 lọt vào ống ngắm của Điền. Bắn! Trúng rồi. Chiếc máy bay bùng cháy. Mấy giây sau nó lao xuống ruộng lúa. Những chiếc khác bay về hướng mặt trời. Nhưng một quả bom vẫn kịp nổ ngay gần trận địa. Bùn đất nhão nhoét trùm lên các chiến sĩ. Hùng bị sức ép. Chân Điền bị thương nặng. Nhưng còn phải đánh trả một cuộc tập kích nữa…

Cô y tá Đào đồng thời cũng là bạn chiến đấu của các chiến sĩ cao xạ, vừa băng bó cho Điền vừa dỗ dành:
- Anh cố chịu nhé. Chúng em sẽ mau chóng đưa anh vào bệnh xá.
- Không sao đâu, nó sẽ liền trước đám cưới của anh. Em biết Liên của anh mà. Em nghĩ sao, cô ấy sẽ đợi anh chứ? Nếu chẳng may mất một chân thì sao nhỉ? Im lặng một chút rồi anh thều thào qua cặp môi khô nẻ: - Nói với anh em là vết thương không nguy hiểm đâu. Anh sẽ ở lại với anh em đến tối. Đừng đưa anh đi sớm quá. Có việc cho anh làm. Đừng loại anh ra sớm thế, Đào nhé. Được không em? Chúng ta còn chiến đấu mà. Tối nay gửi cái thư cho Liên hộ anh, nhớ thay phong bì đi, cái này dính máu rồi…

Ngay trong tối 29 tháng 4 ấy Điền được đưa vào bệnh xá, các bác sĩ đã cứu được cái chân của anh và lá thư đã bay về cái làng nhỏ xa xôi gần Đồng Hới.
Tôi nhớ chuyện này khi gặp lại Điền mấy tháng sau, vẫn ở đội pháo cao xạ đó. Cậu ta vẫn như ngày ấy, ngồi trên càng pháo 57mm và viết viết cái gì đó.

Thao vietnam 28-02-2013 07:36

Ngày thứ ba, Mùng 1 tháng 5. Bí mật rừng tên lửa.

Chúng tôi đã quen với việc máy bay Mỹ xuất hiện trên bầu trời Hà Nội chính xác vào lúc 15 giờ 30 phút nếu thời tiết cho phép. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1967 cũng như vậy. Còi báo động phòng không vang lên. Đạn pháo cao xạ nổ rầm trời. Đâu đó trong những đám mây trên vùng trời phía bắc Hà Nội đang có một trận không chiến. Những chiếc MIG Việt Nam quần nhau với lũ Fantom, Skyraider Mỹ.
Ở Việt Nam đã nhiều lần tôi được nghe: “Tít trên cao ấy, nơi đạn cao xạ đã không còn nguy hiểm và ngay cả máy bay địch cũng không lên tới đã có tên lửa đất đối không để trị bọn giặc. Tên lửa Nga hay Xô viết cũng đều là “tên lửa Liên Xô”. Ngày nào cũng có tên lửa hạ được máy bay địch trên khắp miền Bắc Việt Nam. “Bí quyết” thành công của bộ đội phòng không VNDCCH là gì? Các chiến sĩ tên lửa Việt Nam đã hé lộ cho tôi.

Sâu trong những cánh rừng nhỏ, họ đắp những lũy đất cao. Giống như thành lũy phòng thủ ở những thế kỷ trước vậy. Ở giữa chiến lũy này là vũ khí hiện đại – tên lửa. Trên đó ghi rõ bằng tiếng Việt: “Chế tạo tại Liên Xô”. Mũi nhọn chĩa thẳng lên trời đầy hăm dọa.
…Nhiều tốp máy bay Mỹ đang bay vào Hà Nội. Độ cao là 3 ngàn mét. Báo động chiến đấu. Tên lửa được đưa vào trạng thái sẵn sàng cấp một. Tiểu đoàn pháo bên cạnh cũng tham gia vào trận đánh đối mặt. Nhiều loạt đạn nối tiếp nhau bắn lên. Một trong số những mũi tên rực lửa bay lên chặn đường máy bay địch. Phát hiện thấy tên lửa, tên phi công Mỹ bay ngoặt đi ngoặt lại cố tránh. Tôi xem cuộc rượt đuổi rợn người này. Bám sát cái hình tam giác sáng bạc của máy bay là một cây kim khổng lồ đang nóng đỏ. Cảnh này thật khó có gì sánh nổi. Chớp mắt sau, một đám mây da cam sáng chói bùng lên. Mục tiêu bị diệt. – “Thế là bớt một chiếc”- Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu.

Trên trời, cuộc đấu tay đôi giữa máy bay và tên lửa vẫn tiếp tục. Tôi chợt nghĩ: những tia chớp lửa tàn khốc được điều khiển bằng bộ não điện tử này do chính đồng bào mình làm ra. Và ở đây, tại Việt Nam, chúng trừng phạt kẻ xâm lược để bảo vệ bầu trời tự do và yên bình. Trên nóc khách sạn Thống Nhất của tôi (nói là “của tôi” là vì năm 1967 tôi thường là khách trọ duy nhất của khách sạn) tôi thiết kế trên mái nhà một điểm quan sát để theo dõi bầu trời. Có lần tôi cùng chuyên gia quân sự Liên Xô, đại tá Henric Baldynov được chứng kiến chỉ trong một ô vuông trên trời sau vài giây đồng hồ có ba máy bay Mỹ liên tiếp bị bắn cháy ngay lập tức. Tôi không còn được chứng kiến cuộc xạ kích nào thiện xạ như thế nữa. Cứ như trong phim vậy!

…Chỉ trong hai năm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, tiểu đoàn tên lửa mà tôi từng đến thăm đã bắn hạ hàng chục máy bay Mỹ. Tôi biết điều đó là từ thông cáo của Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Tôi nhớ ở Ninh Bình năm 1965, - thượng úy Lê Đồng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn tên lửa 61 kể - Khi ấy phân đội tên lửa còn non trẻ của chúng tôi bước vào trận đánh đầu tiên với máy bay Mỹ. Tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa và hai máy bay địch bị tiêu diệt. Đó là chiến công đầu tiên.

Kể từ đó các bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 61 đã tham gia vài chục trận đánh. Càng ngày càng có kinh nghiệm, con người cũng được đào tạo tốt hơn. Họ không bắn sau khi đã tắt rada định vị. Họ hành động dũng cảm, thậm chí phiêu lưu. Nếu dũng cảm là tốt thì phiêu lưu lại rất nguy hiểm, nguy hiểm nhưng cần thiết trong chiến đấu… Trong những năm chiến tranh tiểu đoàn phải liên tục di chuyển, thay đổi trận địa chiến đấu. Chẳng có nơi nào mà Trung đoàn tên lửa số 6 lại không chiến đấu! Chỉ riêng Tiểu đoàn 61 đã mài lốp hơn hai ngàn dặm máu lửa trên những con đường bị bom đánh tan nát, lầy lội ổ voi, ổ gà của Việt Nam. Chiến thuật cơ động của chiến tranh hiện đại đòi hỏi phải như vậy. Biết điều động binh lực là sự đảm bảo chiến thắng cho mỗi trận đánh.

Trong những chuyến di chuyển dài ngày vất vả, không ít lần nhân dân địa phương đã giúp đỡ các chiến sĩ tên lửa. Họ dùng đòn tre đẩy kéo những bệ phóng bị sa lầy. Không phải lúc nào trên đường cũng tìm được kích hay các phương tiện nâng, cẩu khác. Mà thời gian không chờ đợi. Phía trước là trận địa mới, trận đánh mới. Nhiều lần nông dân ở các làng lân cận mang cuốc xẻng đến giúp các chiến sĩ xây dựng trận địa. Họ tự nguyện đến sau một ngày lao động, sau những trận ném bom và cái nắng thiêu đốt.

Tôi lúc nào cũng gặp các đội dân quân súng máy bên cạnh các trận địa tên lửa. Bởi vì máy bay Mỹ thường xuyên thay đổi chiến thuật đánh phá, chúng thường tấn công mục tiêu từ những độ cao khác nhau. Vì vậy phối hợp chặt chẽ hỏa lực súng máy phòng không với tên lửa sẽ mang lại kết quả tốt nhất. Súng máy không “đuổi theo” máy bay mà chỉ bắn trong phân vùng của mình và như vậy tạo nên lưới lửa dày hơn và có thể mang lại thành công.

- Ví dụ như sáng nay, – Lê Đồng kể tiếp, – trên màn hình rada xuất hiện máy bay địch đang đến gần Hà Nội. Còi báo động. Các bệ phóng tên lửa sẵn sàng chiến đấu. Pháo cao xạ, súng máy phòng không cỡ lớn và thậm chí cả súng bộ binh bắn chặn dồn dập buộc máy bay địch phải vọt lên tránh lưới đạn này. Và trên độ cao này máy bay là mục tiêu ngon ăn của tên lửa.
Các chiến sĩ trẻ Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Xuân Đài thao tác dứt khoát. Tên lửa đã lên bệ. Phóng! Vài giây sau thêm một chiếc máy bay F-4H nữa của hải quân Mỹ bị hạ trên bầu trời Hà Nội.

Tôi đề nghị Lê Đồng kể về bản thân mình. Nhưng anh ấy làm như vô tình chuyển câu chuyện sang chủ đề khác, rất vui vẻ nói về những người bạn cùng đơn vị. Nhưng với tình cảm đặc biệt anh kể cho tôi về những người đồng nghiệp – các sĩ quan Liên Xô. Nhưng lúc ấy chúng tôi không thể viết một chữ nào về chuyện này. Bí mật quân sự mà. Nếu như chuyển bằng điện thoại đi qua cả thế giới này về Moskva thì tin này cũng không được khen đâu. Cả mục tiêu lẫn con người có thể bị giải mã.
Bây giờ thì tất những thứ “bảo mật” đang ở trước mặt tôi…

Thao vietnam 28-02-2013 07:38

… Cuốn sách này sắp xong, đã đưa đi sắp chữ. Bỗng một buổi sáng, nhà tổ chức khắp chốn đồng thời là bạn tôi, Nicolai Nicolaevich Kolesnic, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch tổ chức liên khu vực cựu chiến binh Việt Nam (tôi là thành viên từ khi thành lập) gọi điện hỏi: “Cậu có thể đến Viện lịch sử quân sự Bộ quốc phòng LB Nga ở số 14 đại lộ Universitet Moskva được không? Có hội thảo khoa học thực tế về chủ đề “hợp tác quân sự và kinh tế Xô-Việt trong thời gian Mỹ xâm lược Việt Nam (1964 – 1973). Sẽ có những người này tham gia: Cựu công sứ - cố vấn Evgeni Pavlovich Glazunov (còn là bạn thời đại học của tôi); giáo sư, trung tướng nghỉ hưu, cựu trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam thời kỳ 1972 – 1975, chủ tịch Hội liên hiệp cựu chiến binh phòng không Hiupenen Anatoli Ivanovich; trưởng đại diện nhóm của Tổng cục 4 Bộ quốc phòng ở Việt Nam, trung tướng Vorobiov Mark Ivanovich; tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn tên lửa phòng không ở Việt Nam năm 1966-1967, nay là trung tướng Belousov Vladimir Alecseievich; chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không; Đại tá Zaika Anatoli Borisoich; người được thưởng huân chương Chiến công hạng 3 của nước CHXHCN Việt Nam Shapkun Ivan Petrovich; chỉ huy quân y trung đoàn tên lửa phòng không vùng “V” ở Việt Nam, bác sĩ công huân LB Nga, đại tá quân y Nazarenco Evgeni Tikhonovich và những người khác. Sẽ có cả lính tên lửa Valeri Kuplevakhsky, các cố vấn ngoại giao Leshev Spartak Ivanovich, Shestopolov Lev Nilolaevich, Zuev Vladimir Andreievich, bà bạn chiến đấu của chúng ta Lidia và các người khác.

…Hội trường của Viện chật kín người. Hơn trăm người chúng tôi không chỉ là cựu chiến binh của các cuộc xung đột vũ trang khu vực mà còn là những người tham gia chống xâm lược Mỹ ở Việt Nam.
Giờ đây chúng tôi có thể nói công khai nhiều chuyện. Tôi nhớ lại câu chuyện với đại úy tên lửa Việt Nam ở trận địa. Tất cả chuyện này từng là bí mật…

– Đến hết năm 1965 thì đã có 800 máy bay Mỹ bị bắn rơi ở VNDCCH, - E.P. Glazunov nói, - Sau một năm thì số lượng lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã tăng từ 30 ngàn lên 200 ngàn, tức là tăng những 7 lần. Ngoài ra, trên vùng biển Việt Nam còn tập trung 56 ngàn lính thủy và phi công trên các con tàu của Hạm đội 7. Thêm vào số này còn có lực lượng đồng minh của Mỹ - Nam Triều Tiên, Úc, Thái Lan, Niu Di-lân (quân số từ 25 ngàn mau chóng tăng lên 75 ngàn). Quân số của chế độ Sài Gòn tăng lên 600 ngàn trong năm 1965. (Các chuyên gia Mỹ đã tính khi ấy quân số Việt cộng, tức lực lượng yêu nước, là 230 ngàn). Trong khoảng 1964 – 1967 người Mỹ đã sử dụng hơn 50 loại máy bay phản lực và trực thăng tối tân nhất.

Những cuộc ném bom ác liệt nhất bắt đầu từ năm 1968 và sau đó là từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972. Chỉ sau 12 ngày đêm đó Mỹ đã mất hơn 80 máy bay, trong đó có cả B-52.

Thao vietnam 28-02-2013 14:30

– Liên Xô đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam, - E.P. Glazunov nói, - Trong những năm chiến tranh. Liên Xô viện trợ cho Việt Nam chừng 1,5 triệu rúp, hay là, theo nhận định của các chuyên gia Mỹ, gần 2 triệu đô la mỗi ngày. Trong những năm chiến tranh đã có 22 ngàn người Liên Xô làm việc ở Việt Nam. Chính phủ VNDCCH đánh giá cao lao động xương máu của các chuyên gia Liên Xô, - trong thực tế tất cả chuyên gia Liên Xô đều được Chính phủ Việt Nam tặng thưởng.

Chuyên gia quân sự cũng như tên lửa Liên Xô bắt đầu có mặt ở VNDCCH từ mùa xuân 1965 và ngày 25 tháng 7 các đơn vị hỗn hợp Việt - Xô này đánh trận đầu tiên và tiêu diệt 3 máy bay Mỹ. Vào những năm đó báo chí xô viết không viết gì về chủ đề này nhưng ở Mỹ và nhiều nước khác người ta biết rõ là lực lượng phòng không VNDCCH được trang bị vũ khí Liên Xô. Tháng 12 năm 1966 báo Sao đỏ lần đầu đăng một phóng sự trong đó có nói rằng “tên lửa và máy bay do người Liên Xô chế tạo đang bảo vệ bầu trời VNDCCH”. (Báo Sao đỏ ngày 21.12.1966).

Tháng 6 năm 1967 khi chiếc máy bay Mỹ thứ 2000 bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam, Bộ Quốc phòng VNDCCH đã gửi lời chúc mừng tới các chuyên gia quân sự Liên Xô, trong đó bày tỏ lòng biết ơn về sự lao động hy sinh quên mình của họ, những đóng góp của họ cho tình hữu nghị và tình đoàn kết của nhân dân hai nước. Ít lâu sau, nhân dịp kỷ niệm hai năm binh chủng tên lửa phòng không Việt Nam, báo Nhân dân viết rằng binh chủng tên lửa phòng không cùng với các binh chủng khác đã bảo vệ vững chắc bầu trời VNDCCH. Mỗi độc giả Việt Nam cũng như nước ngoài đều hiểu rõ rằng đây là binh chủng hiện đại nhất ở Việt Nam được hình thành nhờ sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô và chuyên gia quân sự xô viết. Trong cuốn sách xuất bản ở New York năm 1968 với tên gọi gây tò mò: “Việt Nam: chúng ta sa lầy và thoát ra như thế nào”, tác giả là chuyên gia nổi tiếng về Việt Nam David Schönbrunn đã chỉ rõ ý nghĩa to lớn của viện trợ quân sự và kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam: “Hầu hết xe vận tải, pháo cao xạ, tên lửa và máy bay, – ông viết, – đều có nguồn gốc xô viết”.

Thao vietnam 28-02-2013 14:34

– Năm 1965 – trung tướng nghỉ hưu Mark Vorobiov nói – Liên Xô đã cung cấp cho binh chủng tên lửa phòng không VNDCCH tổ hợp tên lửa phòng không CA-75M “Dvina”.
Các phân đội tên lửa phòng không bắt đầu tham gia chiến đấu ngày 25 tháng 7 năm 1965 và hôm đó đã bắn rơi 3 máy bay. Binh chủng tên lửa phòng không nhanh chóng trở thành lực lượng chủ yếu của quân chủng phòng không không quân Việt Nam. Họ đã kết thúc chiến tranh với chiến thắng vang dội sau khi tiêu diệt 31 máy bay ném bom chiến lược B-52 trên bầu trời Hà Nội trong thời gian từ 12 đến 29 tháng 12 năm 1972.
Tổng kết chiến tranh, chính phủ Việt Nam đã tặng binh chủng tên lửa phòng không danh hiệu cao quý: “Binh chủng anh hùng”.

Từ 1965 đến 1972 đã có 95 tổ hợp tên lửa phòng không và 7658 quả tên lửa được đưa tới Việt Nam. Đến cuối cuộc chiến (tháng 1 năm 1973) lượng tên lửa đã sử dụng cộng với tổn thất trong chiến đấu và hư hỏng là 6806 quả. Số bệ phóng sẵn sàng chiến đấu còn lại là 39.
Bệ phóng tên lửa CA-75M là loại bệ phóng di động đầu tiên. Nhà sản xuất hàng đầu là Tổ hợp khoa học sản xuất Almaz (tổng công trình sư A.A. Raspletin), nhà sản xuất tên lửa là Phòng nghiên cứu Fakel (tổng công trình sư P. D. Grushin). Đơn vị đặt hàng là Tổng cục 4 Bộ quốc phòng (thủ trưởng là thượng tướng không quân G. F. Baidukov). Về việc này thiếu tướng M. I. Vorobiov đã viết ở trang 108 tạp chí “Duyệt binh”.

Đến thời chiến tranh Việt Nam thì tổ hợp này có đặc tính không cao so với trình độ tính năng kỹ thuật bay của máy bay chiến đấu Mỹ. Tuy nhiên ban đầu nó bắn thành công máy bay chiến thuật và máy bay hải quân. Trong năm 1965 lượng đạn tiêu hao là thấp nhất – 1-2 quả tên lửa để hạ một máy bay. Yếu tố bất ngờ đã lên tiếng.

Để giảm tổn thất, người Mỹ bắt đầu thích nghi với hoàn cảnh bằng cách dùng các biện pháp ban đầu là chiến thuật và sau đó là biện pháp kỹ thuật tùy theo mức độ thể hiện mặt yếu của tổ hợp Dvina: tiếp cận mục tiêu ném bom ở độ cao thấp, cơ động linh hoạt trong vùng hỏa lực, tăng cường gây nhiễu (từ máy bay có máy gây nhiễu EV-66). Tất cả các biện pháp đó có kết quả rõ rệt. Đến giữa năm 1966 để diệt một máy bay phải tốn đến 3-4 quả tên lửa. Đến năm 1967 thì người Mỹ chế tạo và lắp trên máy bay cường kích thiết bị gây nhiễu cho tổ hợp phóng trên tần số của kênh ngắm mục tiêu làm cho hiệu suất bắn giảm đi đáng kể.

Thao vietnam 28-02-2013 14:43

Đến cuối năm 1967 tình hình còn phức tạp hơn nữa đối với tổ hợp tên lửa phòng không, khi người Mỹ bắt đầu lắp máy gây nhiễu ở tần số của tên lửa trên máy bay cường kích, do vậy trong hàng loạt trường hợp tên lửa không “bắt” được sóng điều khiển và rơi, - M. I. Borobiov cho biết.
Nhìn chung thì hiệu suất của binh chủng tên lửa phòng không giảm một phần nữa là do các trận địa tên lửa bị đánh phá. Chúng ném bom phá và bom bi, phóng tên lửa “Shrike”.

Phía phòng không cũng áp dụng các biện pháp duy trì hiệu suất chiến đấu của các bệ phóng tên lửa theo hai hướng: theo hướng chiến thuật
- bằng cách nghiên cứu cách sử dụng bệ phóng tên lửa trong chiến đấu thích ứng với thay đổi chiến thuật của không quân Mỹ, và theo hướng kỹ thuật- bằng cách cải tiến một số hệ thống, trực tiếp hoàn chỉnh thiết bị ngay trong thực tiễn chiến đâu. Các tổ hợp mới cung cấp đã được hiện đại hóa, áp dụng những cách giải quyết mới về nguyên tắc được tìm ra bằng kinh nghiệm tác chiến. Chẳng hạn như dùng mô hình bệ phóng tên lửa giả.

Phân tích những lần bắn thất bại trong tháng 12 năm 1967, lúc ấy sau khi phóng lên thì nhiều quả tên lửa không bắt được tín hiệu điều khiển và rơi, - M. I. Vorobiov nêu rõ, - các chuyên gia Liên Xô kết luận rằng nguyên nhân có lẽ chỉ do nhiễu vô tuyến ở tần số của kênh dẫn đường tên lửa. Người Việt Nam cũng cho biết là cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1967 trên máy bay cường kích Mỹ đã lắp máy gây nhiễu vô tuyến “chống phát hiện, chống tên lửa đang bay”. Lập tức ngay sau đó, được chỉ huy cho phép, trong lúc không kích, trên một tổ hợp không phóng tên lửa, các công trình sư chúng ta phân tích tình trạng nhiễu trên màn hình trạm dẫn đường tên lửa và trên các thiết bị rồi tiến hành điều chỉnh tần số ra khỏi vùng nhiễu. Dựa trên kết quả thực nghiệm này, phòng nghiên cứu ở Moskva khẩn trương hoàn thành nghiên cứu, soạn thảo tài liệu kỹ thuật và chế tạo các linh kiện để cải tiến hoàn thiện máy móc. Trong lúc đó thì chiến tranh vẫn tiếp tục...

Từ năm 1967 ở Việt Nam đã có một nhóm nghiên cứu khoa học (bao gồm đại diện của đơn vị đặt hàng của Bộ quốc phòng, viện nghiên cứu khoa học, bãi thử nghiệm phòng không, phòng thiết kế công nghiệp). Nhóm này không chỉ phân tích kết quả bắn và những điều kiện cụ thể mà còn thử nghiệm nhanh những cơ sở cúa của một vài giải pháp kỹ thuật nào đó, chẳng hạn như nâng cao khả năng chống nhiễu của kênh dẫn đường tên lửa hay việc lựa chọn chủng loại đầu nổ mới của tên lửa.

Thao vietnam 01-03-2013 09:09

Khi tổng kết chiến tranh, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Liên Xô và chỉ huy nhóm chuyên gia quân sự xô viết ngày 7 tháng 2 năm 1973 tại Hà Nội, Bộ trưởng quốc phòng VNDCCH, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói thế này: “Nếu như binh chủng tên lửa phòng không không đánh thắng B-52 ở Hà Nội thì cuộc đàm phán ở Pa-ri sẽ vẫn tiếp tục kéo dài, và sẽ không ký được Hiệp định. Hay nói khác đi thì, thắng lợi của binh chủng tên lửa phòng không là thắng lợi chính trị”.

Và đây là những hồi ức của một người thực khác, sĩ quan chỉ huy tổ trung gian Anatoli Borisovich Zaika, giờ là đại tá nghỉ hưu.
- Trung đoàn 248 tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. – ông kể tại hội thảo, - bước vào chiến đấu khi chưa hoàn thành chương trình huấn luyện. Huấn luyện cho đội tác chiến của trung đoàn là các chuyên gia phòng không của Quân khu Bacu. Hầu hết họ là sĩ quan và chiến sĩ tại ngũ, có hai ba sĩ quan là giảng viên Trường sĩ quan phòng không Ordzonikidze. Đáng lẽ phải huấn luyện theo chương trình một năm thì sau 3 tháng Trung đoàn đã nhận lệnh chiếm lĩnh trận địa chiến đấu với nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa tiếp tục huấn luyện. Trung đoàn thành lập và trang bị khí tài xong thì vừa hết tháng 8. Đến tháng 9-1965 thì tất cả các tiểu đoàn đã ra trận địa. Họ lần lượt đi chiến đấu, ai huấn luyện trước thì đi trước. Họ lắp đặt bệ phóng tên lửa trong thời hạn cực kỳ gấp rút rồi tiến hành điều chỉnh.

Đại tá (từ tháng 9 năm 1965 là thiếu tướng) Bazhenov Nicolai Vasilievich – chỉ huy tổ chuyên gia Liên Xô chỉ đạo việc thành lập trung đoàn (khi ấy thiếu tá Zaika Anatoli Borisovich là kỹ sư trưởng của tổ).
Bazhenov N. V – người đã tham gia Chiến tranh giữ nước vĩ đại tỏ ra là một người rất có kinh nghiêm trong công tác tổ chức. Bên phía Việt Nam, chỉ huy trung đoàn là đại tá Hội, - người có lẽ đã tham gia tất cả các cuộc chiến tranh mà dân tộc Việt Nam đã tiến hành để giành độc lập, ông cũng đã tham gia cả cuộc chiến tranh Triều Tiên. Là một người thực tiễn, có học vấn cao, trước sau như một, ông không ngừng học hỏi để hoàn thiện kiến thức của mình. Đội ngũ sĩ quan được học hành đầy đủ. Nhiều người biết tiếng Nga vì học ở Liên Xô về, đã có kinh nghiệm chiến đấu trong giai đoạn cuộc chiến tranh thứ nhất là Kháng chiến chống Pháp.

– Thời gian đầu, chiến thuật sử dụng tổ hợp tên lửa phòng không đại khái thế này, - đại tá nói. - Sau mấy tháng huấn luyện đã định, các tiểu đoàn ra chiếm lĩnh trận địa dưới sự yểm trợ của pháo cao xạ. Chúng tôi thành lập các cụm hỗn hợp, khác nhau về quân số, tùy theo mục tiêu cần bảo vệ và tầm quan trọng của nhiệm vụ. Tất cả được làm bí mật. với các biện pháp đề phòng và ngụy trang có thể, chúng tôi giữ kín việc di chuyển và chiếm lĩnh trận địa. Chiến thuật này đã đem lại kết quả tích cực. Nó làm cho máy bay trinh sát Mỹ nhầm lẫn, tạo điều kiện để tung ra đòn đánh bất ngờ và có hiệu quả vào các tốp máy bay, làm cho chúng luôn luôn căng thẳng, bắt chúng phải tốn nhiều lực lượng và phương tiện để trinh sát và duy trì chiến đấu trên không, tức là tăng “sức đề kháng của phòng không Việt Nam”.

Thao vietnam 01-03-2013 09:11

Chiến thuật mai phục được sử dụng nhiều đủ để tạo ra những “cái bẫy du kích” trên trời. Tham gia mai phục có cả những trận địa hỗn hợp cũng như các tổ hợp tên lửa đơn lẻ.
Trận địa mai phục được bố trí gần các mục tiêu hay bị máy bay Mỹ ném bom hay trên đường máy bay địch có thể đi qua. Ý nghĩa của những cái bẫy mai phục này như sau: bí mật lập ra những cụm pháo phòng không đủ mạnh kèm theo tên lửa. Khi mục tiêu xuất hiện thì tên lửa bắn. Kết thúc trận đánh thì tên lửa rút đi để lại trận địa giả được làm y như thật. Đội quân mai phục nín thở chờ đợi nhưng thường thì chờ đợi không uổng công vô ích.
Không quân Mỹ tìm mọi cách có thể để tiêu diệt các trận địa tên lửa và thường đánh vào các tiểu đoàn tên lửa. Sự đáp trả rất khốc liệt, bão lửa hất lên lũ máy bay đang bổ nhào ở độ cao thấp. Hai ba chiếc máy bay bị bắn rơi, đôi khi còn nhiều hơn nữa. Thật sướng khi thắng trận như vậy.

Xin kể thêm một ví dụ nữa về mai phục. Trước khi bắt đầu ném bom thì phía trên các ngọn núi ở miền Bắc Việt Nam thường xuất hiện một chiếc máy bay chỉ điểm. Nó cất cánh từ Thái Lan và được máy bay tiêm kích bảo vệ kỹ lưỡng. Ngoài việc hướng dẫn bay cho không quân Mỹ nó còn thực hiện rải nhiễu tích cực. Nói ngắn gọn là nó làm ai cũng bực. Bộ tư lệnh phòng không không quân Việt Nam giao cho chỉ huy trung đoàn tên lửa 248 nhiệm vụ tìm cách bắn hạ chiếc máy bay này. Thoạt nhìn thì nhiệm vụ này có vẻ rất phiêu lưu vì có quá nhiều khó khăn. Các chiến sĩ Việt Nam đi trinh sát nhiều ngày, họ tìm được một bãi đất bằng nhỏ hẹp, bố trí vào đó một đội vô tuyến điện và hai ba bệ phóng. Họ đặt các cabin vô tuyến điện sát nhau dưới tán cây rừng. Bệ phóng tên lửa ở dưới cây khác gần nhất. Họ giữ kín và chờ đợi. Nhưng họ không uổng công và đã hạ được chiếc máy bay này.

– Kéo bệ phóng lên núi như thế nào? Làm gì có đường đi lên đó. Đây là mặt thứ hai của chiến tích. Người Mỹ không thể ngờ được rằng có trận địa tên lửa của ta ở đó, - đại tá Zaika kể tiếp.

Cần phải thừa nhận rằng trong quân sự thì, ở một mức độ nào đó, thành công và thất bại luôn luôn thay chỗ cho nhau. Sau những chiến thắng đầu tiên thì bắt đầu có những trận với kết quả thay đổi. Người Mỹ không mơ ngủ. Họ đã nghiên cứu cách đánh vào tiểu đoàn, bắt đầu tấn công từ độ cao thấp, trên máy bay có thiết bị cảnh báo khi đi vào vùng có bức xạ của ra đa phòng không, gây nhiễu tích cực, nghiên cứu các chiến thuật chống tên lửa. Họ bắt đầu sử dụng tên lửa “Shrike”, loại tên lửa tự dẫn đường theo sóng bức xạ của ra đa phòng không. Bắt đầu cuộc đấu trí tuệ. Từ người lính vận hành máy vô tuyến, sĩ quan dẫn đường, người chỉ huy bắn của tiểu đoàn đến phòng nghiên cứu trung ương, các nhà kỹ thuật chế tạo.

- Trong hoàn cảnh như vậy thì mấu chốt là; - ông đại tá gập dần từng ngón tay, - thứ nhất, kinh nghiệm và tài nghệ của người bắn, sự điềm tĩnh và gan dạ của anh ta. Thứ hai: tài nghệ của sĩ quan dẫn đường, sự điềm tĩnh của anh ta và sự nhịp nhàng của toàn bộ những người vận hành ra đa. Thứ ba: tài nghệ và sự nhịp nhàng của cả đội vô tuyến điện và đội phóng.

Thao vietnam 01-03-2013 09:15

Tài nghệ tác chiến giữ vai trò quan trọng. Đây là ví dụ.

Để bảo vệ một cây cầu đường sắt qua sông Hồng ở vùng thị xã Hải Dương, có một trận địa pháo phòng không đủ mạnh kèm theo một tiểu đoàn tên lửa của chúng ta. Việc phối hợp chiến đấu không được ăn ý. Điều này làm chỉ huy phía Việt Nam lo lắng, chúng tôi cũng lo không kém. Kiểm tra mới vỡ lẽ ra là cần thay người bắn. Viên sĩ quan có hiểu biết, được đào tạo bài bản này hay cáu gắt trong khi chiến đấu. Và việc này ảnh hưởng đến mọi tính toán.

Chúng tôi thay ngay người bắn. Đại úy Yu. P. Bogdanov được chọn. Yuri Petrovich chui vào cabin “U” (điều khiển - người dịch) ngày thứ hai với tâm trạng thế nào thì đến ngày thứ bảy, lúc ra khỏi cabin cũng vẫn y như vậy. Thức ăn được đưa tới cabin cho anh ta. Nhưng vấn đề không phải là chuyện ăn uống mà là anh ấy hoàn toàn tập trung vào công việc tác chiến và bắt toàn đơn vị làm việc hết sức lực. Sau 3 ngày tiểu đoàn đã bắn rơi 5 máy bay. Gương mặt người lính thay đổi ngay. Có vẻ như cả bầu không khí trên trận địa của tiểu đoàn vừa giành thắng lợi cũng thay đổi. Sau mấy trận này Yuri Petrovich được đề nghị khen thưởng và đã được tặng thưởng Huân chương Sao Đỏ lần thứ hai. Thủ trưởng của chúng ta thường hay hà tiện phần thưởng. Nhưng thực chất vấn đề không phải ở đó. Sau này Bondavov Yu. P. còn chỉ huy lữ đoàn, quân đoàn, tốt nghiệp Viện hàn lâm Bộ tổng tham mưu, công tác ở Bộ tổng tham mưu.

Một ví dụ nữa. Các trận không kích từ độ cao thấp vào tiểu đoàn làm phiền chúng tôi khá nhiều. Vùng tác chiến của trung đoàn là miền Bắc Việt Nam. Về mặt địa lý thì đó là miền núi. Có rất nhiều điều kiện để bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa. Ở hướng nguy hiểm nhất thiếu tá Teresenco A.G. bố trí một chiến sĩ có điện thoại trên một ngọn đồi. Chỉ thị duy nhất: “Không bỏ lọt tốp nào từ hướng này! Thấy là gọi ngay! Buộc ống nghe vào tai ấy”. Ông cũng buộc ống nghe vào tai một chiến sĩ khác ngồi trong cabin “U” gần chỉ huy. Ý tưởng đơn giản, thực hiện dễ dàng, nhưng lại đạt được mục đích. Vào thời điểm tiểu đoàn chuẩn bị bắn mục tiêu đang tới từ phía bắc thì đài quan sát báo cáo: “Mục tiêu bên sườn đang lao vào tiểu đoàn!” Lập tức quay anten, sục sạo, tóm được mục tiêu, phóng. Mục tiêu bị tiêu diệt. Lại tức tốc quay anten và thời gian vừa đủ để bắn mục tiêu từ hướng bắc.

Điển hình là trận đánh ngày 17 tháng 10 năm 1965 của tiểu đoàn 2 do trung tá Liakishov I. A. chỉ huy. Tiểu đoàn đóng quân ở một vùng bán sơn địa. Các góc lộ rất lớn, đặc biệt là từ hướng bắc, vị trí này không đạt về phương diện công binh, chỉ có vài khe núi để giấu quân.

Tiểu đoàn phát hiện mục tiêu ở hướng bắc, đang chuẩn bị bắn. Bất ngờ máy bay ở độ cao thấp đánh vào tiểu đoàn từ hướng nam. Máy phát điện, cabin phát sóng bốc cháy, hỏng ba quả tên lửa và chừng ấy bệ phóng. Hỏng cả đài dẫn đường tên lửa. Theo mệnh lệnh của đại úy Petrov Yu. K., bắt đầu sửa chữa đài dẫn đường tên lửa, dập lửa trong cabin phát sóng, kíp trắc thủ phóng chuẩn bị ngay hai bệ phóng. Đúng là chỉ sau vài phút thì tiểu đoàn lại sẵn sàng chiến đấu với hai đường đạn. Họ vừa phát sóng thì thấy ngay máy bay địch đang lao vào tiểu đoàn từ hướng bắc. Đại úy Petrov Yu. K. điểm hỏa. Tiểu đoàn đã diệt được hai máy bay. Bọn Mỹ không dám đánh vào tiểu đoàn nữa. Trong trận này chiến sĩ Smironov bị tử thương. Đấy, chúng tôi huấn luyện chiến sĩ tên lửa Việt Nam trong điều kiện như vậy đấy.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:17.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.