Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=67)
-   -   HANOI, ADIEU - Hồi ký cay đắng của một người Pháp Đông Dương (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6548)

danngoc 13-02-2013 08:18

HANOI, ADIEU - Hồi ký cay đắng của một người Pháp Đông Dương
 
HANOI, ADIEU
Hồi ký cay đắng của một người Pháp Đông Dương


Mandaley Perkins
NXB Thế Giới, 2012


Hanoi, adieu là hồi ký về vẻ đẹp mong manh và các thế lực ngầm đen tối của những năm tháng người Pháp chiếm đóng Việt Nam. Michel L’Herpiniere là con đẻ của đế quốc Pháp, một thanh niên đến tuổi trưởng thành trong những năm tháng xanh xao trụy lạc của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ông tới Hà Nội khi còn tuổi thiếu niên vài năm trước Thế Chiến thứ II, đem lòng yêu đất nước này và những gì mà ông xem là một tổng hòa mê đắm giữa đông và tây. Nhưng dần dần ông nhận ra rằng không phải ai xung quanh mình cũng có chung suy nghĩ ấy.

Câu chuyện của Michel bện xoắn không thể tách rời với những tiến trình lịch sử của Việt Nam: sự trỗi dậy của phong trào dân tộc; người Nhật chiếm Đông Dương; cuộc cách mạng của Việt Minh cùng với kết cục hỗn loạn và bi thảm của Thế Chiến thứ II. Đó là câu chuyện về những chặng bước điên rồ đã dẫn nước Pháp dấn vào cuộc chiến với Việt Minh, câu chuyện về những quyết định được đưa ra từ nơi Paris, Sài Gòn và Washington xa xôi đã ảnh hưởng ra sao tới cuộc sống của những con người ở cái thành phố xinh đẹp và hấp dẫn này.

Hanoi, adieu là một chuyến du hành xúc động xuyên qua những năm tháng xáo động cuối cùng của xứ Đông Dương thuộc địa, viết về gia đình, tình yêu và sự trưởng thành – một quãng đời cảm động của một thân phận bị mắc kẹt giữa những sự kiện lịch sử. Nếu có khi bạn tự hỏi chiến tranh tại Việt Nam đã xảy ra thế nào, cuốn sách này khiến bạn thấy hấp dẫn.

danngoc 13-02-2013 08:19

Lời tác giả

Những trang sách sau đây chứa theo hồi ức của một đứa con của Đế quốc Pháp, tức cha dượng của tôi, Michel L’Herpinière. Đó là câu chuyện của chuyến du hành náo động của một cậu bé đi vào tuổi trưởng thành với cảm giác quyến luyến với nơi chốn thân thương (sense of place in the world). Đó là câu chuyện về tình yêu của ông với xứ Đông Dương và những con người của nó, và về việc tại sao Hà Nội, nơi ông muốn sống tới trọn đời, đã không bao giờ là của ông. Đó là câu chuyện về những chặng bước điên rồ đã dẫn nước Pháp dấn vào cuộc chiến với Việt Minh, và bối cảnh của tấn bi kịch chiến tranh giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Hà Nội là nơi Michel sống qua năm tháng niên thiếu từ năm 1936, và đây là câu chuyện về những quyết định được đưa ra từ nơi Paris, Sài Gòn và Washington xa xôi đã ảnh hưởng ra sao tới cuộc sống của những con người ở cái thành phố xinh đẹp và hấp dẫn này.

Đông Dương là tên gọi người Pháp dùng để chỉ thuộc địa của họ ở Đông Nam Á, ngày nay là các nước Cambodia, Lào và Việt Nam. Trong Liên bang Đông Dương thành lập năm 1888, Cambodia và Lào là các xứ bảo hộ của Pháp trong khi Việt Nam bị chia thành tam kỳ. Phía nam xứ Cochinchina (Nam Kỳ), bao gồm Sài Gòn và vùng đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ, là thuộc địa do Paris cai trị trực tiếp. Xứ Annam (Trung Kỳ), dải đất dài hẹp miền trung Việt Nam, và Tonkin (Bắc Kỳ) ở miền bắc cùng là đất bảo hộ của Pháp. Về lý thuyết hai vùng này được cai trị bởi Hoàng đế ở kinh đô Huế cùng các quan khâm sứ và quản lý hành chính người Pháp. Trong thực tế, nước Pháp cai trị cả ba miền của Việt Nam. Vị hoàng đế cuối cùng Bảo Đại lên ngôi lúc mới mười hai tuổi và đang còn học ở Pháp.

Đối với người Việt Nam, bị ngoại xâm không phải là chuyện mới mẻ gì. Suốt một ngàn năm cho tới năm 938, người Trung Hoa đã cai trị đất nước họ, đổi tên nó thành An Nam tức Bình Định Phương Nam. (Dưới chế độ thực dân Pháp người Việt Nam vẫn bị gọi là Annamite tức người An Nam). Kể từ đó nhân dân Việt Nam liên tục phải chống trả dã tâm của người hàng xóm phương bắc muốn xâm lược họ lần nữa. Những thế kỷ chống trả đó đã hình thành trong người Việt Nam sức mạnh, sự kiên trì và đức hy sinh bên cạnh tâm tính dễ thương hòa nhã của họ.

Nền đô hộ của Pháp ở Đông Dương kết thúc chỉ trong thời gian ngắn ngủi bảy mươi năm. Trong thời gian này người Pháp đã trấn áp sự kháng cự của người Việt Nam một cách tàn nhẫn và mặc dù tình cảm dân tộc rất cao nhưng cho đến đầu thế kỷ 20 thì chỉ còn rất ít cuộc nổi loạn. Cuộc nổi loạn cuối cùng trước khi câu chuyện này bắt đầu, cuộc nổi dậy đơn độc ở Yên Bái năm 1930, đã bị đàn áp tàn bạo.

Ở Đông Dương, thập kỷ sau đó là thời kỳ yên bình và thịnh vượng. Thủ phủ xứ Bắc Kỳ, Hà Nội, có dân cư khoảng 150.000 người và cuộc sống người Châu Âu tại đây thật dễ chịu, thanh lịch và vô lo. Với người Pháp, đấy là những năm tháng vàng son cuối cùng của Đế quốc.

Trong số những sách tiếng Anh từng được xuất bản về thời kỳ này, hầu hết được viết bởi những người chỉ ở Hà Nội trong thời gian ngắn hay có khi hoàn toàn chưa từng ở đây. Vì thế, Michel muốn viết lại cuốn sách này. Tôi chọn cách viết nó theo kiểu một hồi ký vì nó chủ yếu là mô tả mang tính cá nhân. Tôi làm việc chặt chẽ với Michel để viết cuốn sách này, và cố gắng dựng lại một số cảnh được ông hồi tưởng sống động nhất. Đó là những trải nghiệm, hồi ức, cảm xúc của chính ông. Chỉ có lời văn là của tôi.

danngoc 13-02-2013 08:19

Về tác giả

Tình yêu văn chương của Mandaley Perkin được kích thích bởi niềm say mê với vùng Đông Nam Á và lịch sử của nó, và những trải nghiệm của chính gia đình bà trong Thế Chiến thứ II và sau đó. Những cuốn sách của bà cho ta biết về sự sụp đổ của Đế quốc Anh ở Singapore và Malaya, và của Đế quốc Pháp ở Đông Dương, dệt nên lịch sử thông qua hồi ức cá nhân của những người từng sống tại đó.

danngoc 13-02-2013 15:05

1

Cuộc hành quyết


Tôi cảm thấy mình đang phạm một tội ác. Viên sĩ quan cấp trên của tôi rít một hơi dài điếu Gauloise Bleue rồi bình thản nhìn tôi từ sau chiến bàn giấy, xuyên qua đám khói thuốc vừa thở ra, cương quyết nhưng điềm tĩnh. Có lẽ tôi đã tái mặt đi, bởi ông ta hạ mắt xuống và làm vẻ đang xem xét ghi chép của mình như để cho tôi có thời gian lấy lại bình tĩnh. Bên ngoài sân tập, tôi nghe vẳng lại tiếng viên trung sĩ huấn luyện người An Nam đang cho một trung đội bộ binh đi đều bước. Tôi ước gì mình được thế chỗ anh ta.

“Cậu đã được học trong khóa huấn luyện sĩ quan đúng không?” ông ta nói. “Cậu biết thủ tục xử bắn đúng không?”. Đấy là những khẳng định thì đúng hơn là câu hỏi. Cứ như thể ông ta ra lệnh cho tôi tập hợp đơn vị của mình để điểm danh vậy.

Tôi trả lời bình tĩnh đến đáng ngạc nhiên, “Oui, mon capitaine”. (Vâng, thưa đại úy).

“Đây sẽ là nhiệm vụ không mấy dễ chịu”, ông ta nói tiếp, “nhưng cần thiết, và tôi chờ đợi cậu thực hiện nó nhanh chóng hiệu quả”. Giọng ông ta đanh lại một chút. “Hãy nhớ, trung úy, những tên này là gián điệp cộng sản – kẻ thù của nước Pháp”. Ông ta mỉm cười, kiểu cười quân sự ngắn gọn không có nghĩa gì hơn một lời chúc may mắn.

Tôi hầu như vừa mới tốt nghiệp trung học ở Hà Nội xong. Chẳng bao giờ tôi lại nghĩ đến chuyện này.

Vào đầu Thế Chiến thứ II tại Châu Âu năm trước, tôi gác chuyện học đại học qua một bên vì lòng ái quốc và tự tăng tuổi để xin nhập ngũ. Cha tôi là quân nhân chuyên nghiệp, nước Pháp đang lâm nguy và dường như làm vậy là rất đúng. Nhưng như thế này…

Đó là đầu tháng 9 năm 1940. Đây là nhiệm sở đầu tiên của tôi kể từ khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan, tại đồn biên phòng ở Lạng Sơn phía bắc Tonkin xứ Đông Dương, cách biên giới Trung Hoa 20 km. Tôi đã có mười hai tháng huấn luyện chuyên sâu về pháo binh và tôi chưa từng nổ một phát súng ngoại trừ khi bắn tập. Vậy mà bây giờ tôi phải chỉ huy đội hành quyết, xử bắn những con người vì bất đồng chính kiến.

Cho đến dạo gần đây việc trở thành người cộng sản vẫn còn được cho phép, không chỉ ở Đông Dương mà cả ở Pháp. Cuộc chiến ở Châu Âu đã dẫn đến nhiều thay đổi trong chính trường Pháp, nhưng tôi chưa bao giờ nghe thấy chuyện xử bắn cộng sản chỉ vì họ là cộng sản. Đây có phải là vụ xử bắn đầu tiên như vậy không? Thật là một suy nghĩ khó chịu.

Tôi cần một người bạn. Đêm hôm đó tôi đi sang nhà ăn. Gaston vẫn không có ở đây và trong thoáng chốc tôi thấy tức giận. Nhưng lại nghĩ có lẽ đó cũng là chuyện tốt. Tôi không chắc mình có nên kể cho ai kể cả Gaston nghe không, dù cậu ta là bạn thân nhất của tôi ở Lạng Sơn. Suy nghĩ về chuyện sắp phải làm khiến tôi kinh tởm bản thân. Chẳng biết cậu ấy sẽ nghĩ thế nào về chuyện này? Gaston là người An Nam. Những tù nhân ngày mai cũng là người An Nam. Liệu cậu ấy xem chuyện này thế nào?

Tên thật của Gaston là Nguyen Nga, nhưng người Pháp chúng tôi khó phát âm tên An Nam và cậu ta chẳng bao giờ thấy phiền khi bị gọi là Gaston. Tôi đã mất dấu cái đại đội yên bình, khôn ngoan của cậu ấy từ khi đi phép trở về. Cậu ta đang ở đâu?

Có một gã người mới đứng đằng sau quầy bar nơi Gaston vẫn làm việc. Gã ta nhún vai khi nghe tôi hỏi về Gaston, và xòe tay ra theo đúng kiểu Gauloise.

“Tôi không biết, mon trung úy. Tôi rất tiếc”, và hắn ta quay đi để rót cho tôi ly rượu.

Tôi không hiểu tại sao mình lại thân với Gaston đến như vậy. Chắc hẳn vì cậu ta không lớn tuổi hơn tôi là mấy; và vì tôi hơi chút cô đơn ở Lạng Sơn. Phần lớn bạn sĩ quan của tôi ở nhà ăn đều là quân nhân chuyên nghiệp, là cựu binh cận vệ Quân đội Pháp hay Lê dương. Họ chỉ huy những đơn vị lính Đông Dương lớn, và mối bận tâm của họ là những bận tâm của con nhà lính. Những gã lớn tuổi ấy ít có thời gian cho một tay blanc bec – mỏ trắng – như tôi (lính cựu thì là đại bàng nên tân binh được xem là mỏ trắng - danngoc), chưa đầy mười chín tuổi và vừa tốt nghiệp huấn luyện sĩ quan ra.

Đã thành lệ cứ cuối tuần là tôi lại ra chơi nhà bếp ngay sau giờ đóng bếp. Gaston và tôi thường ra ngồi ngoài hiên cho đến tận 2 giờ sáng, ánh trăng chiếu xuyên qua tán những tán cây me, trò chuyện về những việc ban ngày trong khi sương lạnh ban đêm rơi lách tách giữa tiếng ve sầu râm ran. Đôi khi chúng tôi cùng dạo bộ tới thị trấn biên giới Lạng Sơn, xuyên qua đám đông huyên náo của khu chợ với lác đác những chiếc képis trắng cùng ngù vai đỏ của lính Lê dương và képis đen có phù hiệu mỏ neo vàng của lính thuộc địa cao lênh khênh trên các vóc người An Nam gọn gàng cân đối.

danngoc 13-02-2013 15:07

Tôi còn trẻ và đầu óc cởi mở, luôn tò mò về cung cách suy nghĩ của người địa phương và về đức tin của họ. Tôi có mối quan tâm thực sự đến phong tục của họ và cảm thấy may mắn khi được Gaston cho làm quen với bạn bè cậu ấy. Đã nhiều lần cậu ta và tôi cùng đi xem hat tuong, thứ kịch sân khấu cổ của người An Nam. Những gánh hát lang bạt đó vốn đã lang thang khắp đất nước từ nhiều thế kỷ nay và chúng tôi thường ngồi ở chỗ xem tạm bợ ngoài trời, chân bắt chữ ngũ trên cỏ, tôi là người Châu Âu duy nhất giữa một biển người An Nam, mê mệt trước những bộ trang phục sặc sỡ, kỳ lạ của một nền văn hóa cổ xưa, tiếng hát the thé, tiếng trống và phèng la vang lên chói cả tai.

Tôi chẳng hiểu được từ nào, nhưng cũng đủ hiểu được ai là ai – vai phản và vai tà mặt trắng bệch, lông mày tô dựng ngược; mặt đỏ là vai tướng dũng, lông mày vẽ ngang để mô tả sự trung tín chính trực; lông mày thấp tố giác vai gian nịnh, còn mặt xanh lục là vai chất phác. Trong những khảng khắc yên tĩnh hiếm hoi Gaston thường ngả người giải thích cho tôi đôi chút về cốt truyện, hầu hết mang tính lịch sử, về những cuộc chiến diễn ra đã hàng ngàn năm trước. Khi tuồng hết cậu ta và tôi thường mời đoàn hát dùng trà hay ăn một bát pho, bởi hình như Gaston luôn quen biết các diễn viên.

Cho tới lúc ấy cuộc sống của tôi ở Lạng Sơn thật dễ chịu. Đơn vị tôi được biên chế vào một khẩu đội dã pháo tầm xa cách thị xã 10 km, và ở đây chẳng có mấy hoạt động. Nhưng dọc theo biên giới Trung Hoa, rắc rối đang nảy sinh. Nhật Bản đã xâm lược Trung Hoa năm 1937 và chiến sự liên miên không dứt. Nhật Bản tin rằng chiến thắng tại Trung Hoa tùy thuộc việc chặn được hàng tiếp tế cho chính phủ Trung Hoa từ Tonkin chuyển đến, vì vậy giờ đây họ đang hăm he vùng biên giới của chúng tôi.

Nhưng với sự ngờ nghệch non nớt của mình tôi chưa khi nào thật tin rằng mình sẽ bị quân Nhật tấn công. Ba tháng trước tôi đã không vội vã, vô tư lự đi tổ chức các kho đạn dược và chốt quan trắc tại những ngọn đồi quanh Lạng Sơn. Cứ tầm bốn năm giờ chiều tôi lại từ thực địa trở về. Dường như chẳng có gì phải vội.

Giờ đây, đứng một mình ở cuối quầy bar, tôi như muốn vứt khỏi đầu suy nghĩ về buổi sáng hôm sau. Dường như nó quá phi thực tế, một cơn ác mộng mà tôi có thể thức dậy bất cứ lúc nào. Tôi uống thêm một ngụm. Từ chối hay không hoàn thành nhiệm vụ có thể dẫn đến tòa án binh và án tù dài hạn, thậm chí cả bị xử bắn. Quân đội Pháp rất nặng tay với kẻ nào bất tuân thượng lệnh. Không có cách nào khác.

Người phục vụ quầy đưa tôi thêm một ly Pernod. Tôi hít sâu hơi rượu thơm rồi nốc cạn, mong rằng nó sẽ giúp tôi sớm ngủ say.

Đó là một thử thách rõ ràng. Tôi cố gắng suy nghĩ một cách khách quan. Những kẻ này đang âm mưu chống lại đất nước và phải bị tiêu diệt. Tôi làm theo lệnh và đó là việc phải hoàn thành.

Tôi bứt rứt xoay trở trên ghế. Cách đây mười hai tháng tôi còn đang tập trung học lý thuyết xạ kích pháo chính xác. Có những buổi học chính trị mà tôi, không phải là kẻ mù quáng chính trị, không bao giờ tập trung quá mức cần thiết tối thiểu. Có đôi lần tôi đã nghe cha mình kể về cuộc cách mạng thất bại năm 1930, trước khi gia đình chúng tôi đến đất nước này, và về việc những người bất đồng chính kiến đã bị đàn áp dữ dội, nhưng theo như tôi biết thì cho tới gần đây nhà cầm quyền Pháp tỏ ra khoan thứ một cách vừa phải bất cứ luồng tư tưởng ngầm bất đồng chính kiến mập mờ nào tại Đông Dương. Nhưng giờ đây mọi việc đã thay đổi.

Mệnh lệnh của ngày hôm trước có nhắc đến bản hiệp ước giữa Hitler với lãnh đạo cộng sản Nga Joseph Stalin. Kể từ khi có hiệp ước năm 1939, Đảng Cộng sản Pháp đã phản đối cuộc chiến tranh chống Hitler. Từ thời điểm đó họ bị gạt khỏi vòng pháp luật. Tại Pháp những người Cộng sản, dù là đảng viên hay người có cảm tình, đã biến mất trên đường phố. Những người này, từng có thời là lực lượng chính trị hợp pháp liên minh với những người Xã hội dưới ngọn cờ Mặt trận Bình dân, nay trở thành kẻ bị săn đuổi. Dường như chuyện này cũng xảy ra ở Đông Dương. Người Cộng sản buộc phải hoạt động bí mật và đột ngột bị dán nhãn gián điệp, phản bội, là kẻ thù của đất nước. Đó là những người ngày hôm nay bị xử bắn.

Chuyến đi ra mỏ đá vôi bỏ hoang ở phía bắc thị xã không kéo dài. Chúng tôi quay mặt khi ánh bình minh bắt đầu xiên xuống hố chôn, và tôi nhận ra vách đá phẳng, nơi dùng làm phông nền xử bắn. Mọi chuyện bắt đầu diễn biến thật nhanh. Trong khi đám lính An Nam nhảy xuống xe, tôi đánh dấu bốn điểm mốc trên mặt đất, cách phía trước vách đá khoảng 10 mét. Một mệnh lệnh ngắn gọn, và đám lính đi đến đứng vào vị trí.

Tôi đứng chờ, trong bụng cảm thấy bứt rứt. Giết người khi chiến đấu khác hẳn việc bình thản bắn vào một kẻ tay không tấc sắt. Tôi không nhìn sang đám lính mà đứng nguyên tại chỗ, mắt dõi thẳng phía trước. Dường như có một sự im lặng chết chóc đang bao trùm xung quanh. Đến tiếng chim hót cũng không có. Chúng tôi đã sẵn sàng.

Tiếng động của chiếc xe tải chở tù giật tôi ra khỏi trạng thái mất hồn. Thời gian để chiếc xe tiến vào khu mỏ đá và dừng lại dường như kéo dài đến lê thê. Lính gác nhảy xuống và bắt đầu mở cửa hậu. Đột nhiên có ai đó hô lên, là một trong số các tù nhân: “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc! Việt Nam độc lập muôn năm!” Rồi cả bốn người bọn họ cùng hô. Tôi nhìn lướt qua họ khi họ bước đến điểm mốc tôi đã đánh dấu. Họ quay mặt lại chúng tôi – và tim tôi như ngừng đập. Người đứng cuối vung nắm đấm lên trời. “Vive le Vietminh!” (Việt Minh muôn năm)

Không thể như thế. Sao lại thế này được? Tôi nhìn chằm chằm người này và nhận ra là mình đã đoán đúng. Đó là Gaston.

Tôi thấy rối bời, choáng váng. Gaston! Đấy là Gaston, đầy kích động, không khác chút nào, đang hô những khẩu hiệu cộng sản. Nguyen Nga là một gã cộng sản? Nhưng cậu ấy là bạn tôi! Tôi thấy mình như phát bệnh. Nhọc lả người. Tôi cần thời gian suy nghĩ.

Nhưng không còn thời gian nữa. Cả bốn người giờ đang hô hét các khẩu hiệu cộng sản, khẩu hiệu chống Pháp, đang đứng ngay trên mốc, phẫn nộ, khích động, không sợ hãi. Tôi đứng như trời chồng, cho tới khi viên trung sĩ An Nam bé nhỏ chắc nịch lay tôi tỉnh lại. Tôi phải bước tới và hô khẩu lệnh bịt mắt để cho mình tỉnh lại, đúng lúc ấy Gaston chợt nhìn thấy tôi. Mặt cậu ấy thật sôi nổi, không phải là gương mặt hiền và khôi hài mà tôi quen. Nhận ra tôi nhưng cậu ấy không hề đổi sắc mặt. Không một chút gì, không tỏ ra quen biết, không một lời buột miệng. Khuôn mặt tôi không còn là khuôn mặt của một người bạn mà đã thành kẻ xử bắn, đỏ bừng cảm xúc rồi lại chuyển sang tái nhợt, u ám, kinh hãi.

Băng bịt mắt bị họ gạt đi và cả bốn cùng đứng thẳng thách thức, miệng vẫn hô “Vietnam doc lap!”. Tôi nhìn trân trân phía trước. Qua làn sương mù trong đầu tôi nghe thấy tiếng mình ra lệnh to và rõ, nhưng nghe như từ trên cao xa xăm vẳng xuống. “Sẵn sàng… Ngắm… Bắn!” Và đúng lúc ấy, cầu Chúa đoái thương, tôi quay mặt đi. Âm thanh của bốn mươi tám phát súng dội lại từ vách đá. Chỉ khi tiếng vang đã tắt tôi mới mở mắt ra, để thấy bốn cái xác đã gục xuống mặt đất. Tất cả đã hết.

Chỉ còn một nhiệm vụ nữa, pour la France, le coup de grâce, phát ân huệ. Tôi bước chuệnh choạng tới xác gần nhất trong hàng, chỗ Gaston. Người cậu ấy hơi vặn đi khi ngã, máu me và bất động, khuôn mặt thân quen của cậu ngả xuống quay về phía tôi, mắt mở to, đã trơ ra thất thần. Tay tôi đờ ra bên hông. Tôi muốn chùi mồ hôi trên bàn tay trong khi ngón tay tôi quắp chặt lấy báng súng lục. Tôi lần tìm cò súng. Một cơn buồn nôn dâng lên và tôi cố kìm khỏi nôn ọe khi nhắm bắn vào thái dương. Xác cậu ta giật một chút do sức nổ, máu đặc nhầy tuôn ra từ mũi và miệng cậu ấy thành dòng đỏ thẫm từ từ tràn xuống đất.

Tôi đã ngưng cả thở nên bây giờ phổi ứ lại đột ngột khi tâm trí khép lại. Tôi đã giết chết bạn mình. Bạn tôi đã chết. Cứng đơ và máy móc, tôi bước tới cái xác kế tiếp trong hàng.

danngoc 13-02-2013 15:10

2

Enfant d’Empire - Con đẻ của đế quốc



Khi ấy tôi không biết làm thế nào mà một đất nước không phải quê hương ta lại có thể bẻ gẫy tinh thần của ta. Nhưng rồi, trong một thời gian dài tôi đã không thể nghĩ rằng mình không thuộc về xứ Đông Dương. Người Pháp cùng người An Nam, nước Pháp với xứ Đông Dương, Hà Nội và tôi. Chúng ta là hai nền văn hóa dễ dàng hòa quyện với nhau trên các đường phố của Hà Nội thành một hỗn hợp quyến rũ giữa đông và tây. Ít nhất đó là suy nghĩ của tôi.

Nhưng tôi đang sống trong dối trá. Tất cả chúng ta đều đang sống trong lừa dối.

Tôi được nuôi dạy là đứa con đẻ của Đế quốc Pháp. Thời thơ ấu tôi không suy nghĩ nhiều về gốc gác hay quốc tịch, hay về nơi mà tôi có thể gọi là quê hương mình. Quê hương là nơi mà tôi sống, là Madagascar, hay Pháp, hay Ma-rốc. Đến năm 1936 chúng tôi tới Hà Nội và theo thời gian cảm giác nhất thời quyến luyến chốn cũ mà chúng tôi mang theo đã dần dần tan biến. Ở Hà Nội có cái gì đó thật khác. Chưa bao giờ tôi thấy cha mẹ tôi lại hạnh phúc và đầy sinh khí đến thế. Lúc ấy tôi đã lớn hơn, vừa tròn mười sáu tuổi, đang tuổi hình thành tính cách, thấm đẫm ý thức về thẩm mỹ và văn hóa đang ngày một nâng cao. Có lẽ hóc môn tuổi trẻ đã mài dũa ý thức cho tôi, lần đầu tiên trong đời tôi bắt đầu nghĩ đến tương lai và mường tượng ra nó một cách rõ ràng. Một cuộc sống ở Đông Dương, mảnh đất tôi bắt đầu tha thiết mong muốn được gọi là quê hương mình.

Khi Papa đăng ngũ vào Quân đoàn Thuộc địa Pháp năm 1926 thì cuộc chiến tranh dữ dội nhất lịch sử đã kết thúc được tám năm ròng. Quyết định của cha khiến Maman hết sức bất ngờ. Trong Thế chiến thứ I cha tôi được thưởng huân chương Chiến công Bội tinh và Bắc đẩu Bội tinh hạng Sĩ quan Quân đoàn Danh dự[1] vì thành tích đạt được. Ông mang những ký ức đau thương quay về sống cuộc đời thường dân, thề trong lòng sẽ không bao giờ cầm súng nữa. Nhưng vào thập niên 1920 nước Pháp tụt dốc, và chính phủ Pháp tìm kiếm những người sẵn lòng rời xứ đi khai phá ở nước ngoài. Cha tôi bảo với mẹ tôi rằng sẽ không bao giờ có một cuộc đại chiến thế giới nữa, và cuộc sống trong Quân đoàn Thuộc địa tệ lắm cũng chỉ là công việc gìn giữ hòa bình. Đó là một cơ hội để được đi vòng quanh thế giới đôi chút, để xem con người ở những nơi đó sống ra sao.

Ma-rốc là điểm dừng đầu tiên của gia đình tôi. Với một đứa con trai bảy tuổi, Casablanca như một câu truyện cổ tích Ngàn lẻ một đêm, ngay trong chuyến di chuyển đầy mê đắm đầu tiên dọc các con phố của thành phố này trên chiếc xe ngựa mui trần để tới cái khách sạn lớn các những ngọn tháp đọc kinh với đám khuân vác thuê lảng vảng xung quanh, tất cả bọn họ đều ăn mặc thứ áo choàng ngủ và đội chiếc mũ fez[2] kỳ dị – và tôi có cảm giác mình thật nhỏ bé trên cái sàn nhà rộng lót gạch trắng. Sau đấy chúng tôi đi dạo ở khu souk, khu chợ trời, và tôi tròn mắt nhìn đám đông những đàn ông đàn bà da sậm mặc áo choàng trắng và đội mũ trông như cái khăn lau bát, nhìn người dụ rắn bí hiểm đang ngồi xếp bằng tròn trên vỉa hè, dụng cụ kiếm ăn duy nhất của họ là cái ống sáo kỳ lạ và con hổ mang đang lờ đờ cuộn tròn trong giỏ. Những người ghali-ghali ở đây có thể hô biến con gà xuất hiện từ bên tai tôi, và khắp nơi lấp lánh các món đồ đồng thau lạ mắt trên những gian hàng trong chợ.

Papa mua cho tôi cái mũ fez đỏ rực có quả tua đen rồi chúng tôi vào ngồi ở một quán café vỉa hè giống như quán ở Paris, với những chiếc đĩa be bé đầy đồ ướp muối cắt nhỏ liên tục xuất hiện trên bàn. Trong các cửa hàng chăng đầy những tấm thảm đẹp Maman và Papa nhấm nháp cốc trà bạc hà nóng, tay lật hàng chồng thảm lụa và thảm len tuyệt đẹp. Ở một cửa hàng nọ tôi mò ra phía sau và nhìn thấy hai cô gái nhỏ đang ngồi dệt, những cuộn chỉ to xù màu sáng bay qua bay lại giữa các ngón tay xinh xinh của họ. Họ ngước mắt nhìn trong khi vẫn làm thoăn thoắt và mỉm cười với tôi, rồi một người đàn ông da sậm cáu kỉnh có bộ ria dày la mắng họ gay gắt khiến tôi ù té chạy ra trước cửa hàng.

------------------
[1] Croix de Guerre: Huân chương Chiến công Bội tinh của Nhà nước Pháp, áp dụng từ năm 1915, được trao cho các cá nhân hay đơn vị quân đội có thành tích anh dũng nổi bật trong chiến đấu. Sĩ quan Quân đoàn Danh dự (Officier de la Légion d'honneur) : là hạng tư của Huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Ordre national de la Légion d’honneur), dòng huân chương cao quý nhất của Nhà nước Pháp (gồm 5 hạng, hạng cao nhất là Grand-croix de la Légion d’honneur). - Danngoc

[2] Mũ fez: thứ mũ của đàn ông Bắc Phi bằng dạ đỏ hình tròn chóp bằng, trên đỉnh có ngù lông. - Danngoc

danngoc 13-02-2013 15:12

Sau đó chúng tôi xuôi về phương nam đến Khenifra, dưới chân dãy núi Trung Atlas, dọc theo các con đường gồ gề lộng gió, ngang qua những ngôi làng nhỏ bé có các ngôi nhà vách đất mái bằng, có mấy con lừa còng lưng thồ mớ củi tướng, và lũ nhỏ, tà áo dài lật cả lên, đang chăn đuổi đàn dê lông lốm đốm. Một đoàn du mục đi ngang, súng trường dài ngoẵng đeo cao tréo qua vai, cưỡi trên những con ngựa trang trí sặc sỡ, ngù len lắc lư. Tôi quên bẵng chứng say xe của mình vì phấn khích mỗi khi dừng lại bên một đoàn lạc đà chở các thùng gỗ lớn chứa muối, trong lúc chờ tài xế chúng tôi hỏi đường người Ả Rập cưỡi lạc đà.

Khenifra là ngôi làng nhỏ nằm bên rìa một sa mạc hoang vắng biệt lập. Đoàn Lê dương Ngoại quốc là một đội quân gồm những gã yêng hùng, phần lớn là kẻ trốn tránh xã hội nhưng hết sức có kỷ luật, đi bộ tuần tra trên sa mạc và các điểm nóng vùng núi, chúng tôi hiếm khi trông thấy họ. Bản thân cư dân làng này cũng chỉ không hơn một trăm người Ả Rập. Có thêm vài đứa trẻ người Pháp, loanh quanh tám đứa cả thảy, hầu hết đều lớn hơn tôi. Sung sướng và thường chơi cùng một nhóm bạn của mình, tôi nghĩ ra đủ thứ trò – đi bắt rùa trên sông, làm một cái hồ cho chúng trong khoảng sân có tường vây của nhà tôi, cho chúng ăn, tắm rửa cho chúng, cho chúng thi bò nhanh. Bourico, chú lừa nhỏ của tôi, người bạn thân thiết nhất, cũng sống chung trong khoảnh sân đó và cõng tôi đến ngôi trường bé tí xíu để học cùng đứa bạn cùng lớp duy nhất của tôi. Sau đó tôi thường thơ thẩn dọc chuồng ngựa để giúp chú coi ngựa chăm sóc những con ngựa Ả Rập tuyệt đẹp mà cha tôi hay cưỡi đi tuần tại tám chốt pháo binh trên sa mạc do ông chỉ huy.

Những kinh hãi của nơi này thậm chí cũng trở thành trò tiêu khiển của một thằng con trai. Ban đêm bò cạp từ sa mạc bò vào, lặng lẽ chui vào phòng ngủ của tôi rồi trườn xuống dưới tờ báo mà anh cần vụ người Senegale luôn đặt trên giường cho tôi. Mỗi khi nghe thấy tiếng loạt xoạt của chúng, tôi liền dụi mắt nhỏm dậy để đập chết bằng cái dụng cụ chuyên dùng để giết bò cạp của mình. Tồn tại mối hiểm họa từ người chleuh, tức những người Ả Rập chống đối lang thang khắp sa mạc để đánh cướp có vũ trang, tấn công làng mạc và cướp đoạt gia súc, đôi khi là cả phụ nữ. Và dĩ nhiên có cả người Touareg, khiến trẻ con sợ hãi hơn cả vì mặt họ vẽ màu xanh lam, bọn này đã bắt đi toàn bộ gia đình quân nhân mà chúng tôi đến thay chỗ, gồm cả cha, mẹ và các đứa con. Họ đã thâm nhập và tản ra ở bờ cấm bên kia của sông Oumer Rebia, nơi có thể tìm thấy những con rùa to đẹp nhất đang tắm nắng trên các tảng đá.

Tôi vẫn còn là trẻ con và người duy nhất lúc nào cũng luôn bên tôi là mẹ tôi, người mà tôi tôn thờ. Sau này, khi chuyển từ tuổi niên thiếu sang thời thanh niên, có đôi lần tôi cảm thấy ngột ngạt vì mẹ quá yêu thương mình, mặc dù tình cảm ruột thịt vẫn khiến tôi dễ dàng hông cảm cho mẹ. Trong phần lớn thời niên thiếu của tôi cha tôi chỉ lâu lâu tạt ngang, tôi cũng chẳng hiểu cha mấy, một người luôn thẳng lưng, trịnh trọng, mặc bộ quân phục, hay bắt tay tôi hơn là hôn tôi và xa nhà rất nhiều. Tôi hết sức kính trọng ông nhưng không bao giờ cảm thấy mình hiểu được cha. Ông rất tôn trọng mẹ với một vẻ kiềm chế rất thịnh hành hồi đó và khá khác lối thủ thỉ tâm tình của mẹ đối với tôi.

Maman là người rất thân thiện với mọi người xung quanh. Chỉ có vài phụ nữ Pháp ở Khenifra – gồm vợ của một cựu binh giải ngũ và một sĩ quan khác, bà hiệu trưởng và hai hoặc ba người khác – và mẹ hết sức cố gắng đễ vẫn giữ cách sống cũ của mình. Căn nhà của chúng tôi là nơi chiều chiều các bà các cô và chồng họ tụ tập, bởi nhà tôi có chiếc máy hát duy nhất trong thị trấn. Sau bữa tối tôi được phép thức rất muộn để xem họ nhảy, miễn là tôi chịu khó ngồi quay tay máy hát.

Tôi thích âm nhạc, thích các bộ váy đầm dài xoay vun vút trong điệu foxtrot, điệu nhảy hai bước, bởi các quý bà ăn mặc đẹp trong những dịp như vậy để tìm cách trốn khỏi thực tế cuộc sống của mình ở cái chốn xa xôi khỉ ho cò gáy đầy bụi bặm này của đế quốc Pháp.

Khi tôi mười một tuổi, chúng tôi đi xuống phương nam đến Madagascar, đến đảo quốc phía đông của Mozambique từng có thời là mốc đệm để các hoa tiêu Pháp định hướng hải hành đi khắp đế chế. Chốt biên giới nhỏ bé Diego Suarez ở bắc hòn đảo đã trở thành nhà của chúng tôi, một nơi thật thanh bình nên Papa chẳng có gì nhiều để làm trong quân ngũ ngoài việc có mặt. Tại đây, lần đầu tiên trong đời tôi, cha đã có chút thời gian rảnh chăm sóc cho tôi.

Đôi khi chúng tôi giương một tấm buồm vuông kiểu địa phương trên bãi biển toàn đá, với một người Châu Phi to nhe răng cười đứng điều khiển, và lướt vòng quanh bờ biển theo làn gió buổi chiều tới những nơi bí mật an toàn để câu cá, bồng bềnh theo ánh hoàng hôn. Làn nước, nhung nhúc những loài khó ưa – cá sấu caiman, lươn điện, cá đuối điện và cá đá có gai cực độc – hình như chỉ làm tăng thêm nỗi tò mò hấp dẫn.

Trong khu rừng rậm ẩm ướt Papa và tôi thường đi săn bươm bướm, những con bướm tuyệt đẹp to như con chim sẻ với sải cánh đến 25 cm màu sắc sặc sỡ, bụng luôn nơm nớp canh chừng con trăn thắt người khổng lồ nổi tiếng là hay bắt ăn dân địa phương. Đất đai hãy còn hoang vắng, thực sự chưa bị bàn tay con người đụng đến, một yếu tố thu hút vài vị khách du lịch người Pháp từ thủ đô Tananarive ở phía nam đến đây tham quan. Họ thường đến thăm cái hồ gần thị trấn để nấp sau rặng tre bên bờ hồ và quan sát đám cá sấu caiman lén lút ăn mồi. Nhẹ cân hơn cá sấu thường, cá sấu caiman dài tối đa 2,4 đến 2,6 mét với cái mõm nhọn thuôn, và chúng thường quay đầu ngược về phía đuôi hệt như cá heo mỗi khi có bất kỳ chuyển động nào sau rặng tre.

Không có gì khác để làm ngoài việc đi dạo trên các con phố của thị trấn, Maman và tôi thường lạng qua chỗ mấy gian chợ yên tĩnh nơi đám thợ thủ công người địa phương da đen bán sản phẩm của họ, những món đồ tuyệt đẹp giát đá quý và chạm lộng tinh xảo. Trong con mắt của một đứa trẻ, những người Phi Châu này thật vui tươi và thân thiện hơn nhiều so với dân Ả Rập ở Ma-rốc. Cuộc sống nơi đây có vẻ như thật đơn giản. Đường phố luôn đầy ắp tiếng cười, bởi họ cười rất nhiều, họ cười trước mọi thứ mà tôi bật cười. Họ rất thẳng thắn, dễ thổ lộ và ít phức tạp hơn nhiều so với những người mà sau này tôi được biết ở Đông Dương, và có lúc tôi nghĩ lại rằng có khi chính vì sống đơn giản không phức tạp mà họ đã có được thời gian để tận hưởng cuộc đời.

Thời niên thiếu của tôi thật yên ấm và đầy đủ, do tôi được bảo bọc bởi người mẹ mang trong mình nỗi đau đã mất một đứa con trước đó. Tôi không còn nhớ nhiều về Margaret em gái mình, ngoại trừ việc suốt mấy ngày sau khi em mất vì viêm phổi lúc mới mười tám tháng, mẹ tôi, người bảo bọc tôi, chỗ dựa vững chắc của tôi, gào khóc như hóa điên; rồi sau đó, xanh xao và kiệt sức, mẹ ôm tôi chặt đến nỗi tôi phải vùng ra để thoát. Kể từ đó trở đi tôi sống như bị tách rời khỏi thế giới bên ngoài vì sự chăm chút của mẹ tôi, bất cứ chúng tôi sống ở đâu cuộc sống của tôi cũng y hệt, tôi không bao giờ chán khi được một mình ở bên cạnh Maman để làm những chuyện lặt vặt.

Thật thú vị mỗi khi từ nơi đồn trú trở về Pháp, với các lớp học luôn đầy học sinh cùng tuổi tôi. Nhưng thậm chí ở đấy tôi cũng đơn độc, bởi sau giờ học tôi không được phép đi đâu mà không có cha mẹ đi cùng và rất khó để có được một tình bạn bền lâu. Các dịp cuối tuần tôi chỉ biết lịch sự ngồi trong phòng khách nhà bạn bè cha mẹ hay vơ vẩn theo sau họ đi xem hát hay dạo bộ buổi chiều. Ngoài mẹ ra, tất cả những gì tôi có chỉ là làm bạn với lũ vật nuôi. Tôi phải bằng lòng với việc tiêu khiển thời gian một mình.

Thời niên thiếu của tôi là dõi qua hàng rào xem lũ trẻ khác chơi đùa, qua tiếng la hét cười nói của chúng tôi biết hình như chúng có một gia đình thật đông đúc. Có lẽ thời niên thiếu của tôi cũng khá hạnh phúc, nhưng thật cô đơn.

danngoc 13-02-2013 15:14

Chuyến đi tới Đông Dương kéo dài như vô tận. Lúc ấy là tháng 9/1936, còn tôi là một đứa trẻ ngượng ngịu bám chặt lấy cha mẹ hàng tuần lễ trong khoang hạng nhất trống trải của chiếc tàu thủy hơi nước André le Bon. Dù đã từng nghe qua về sự kỳ bí và lạ lùng của phương Đông, tôi lại biết rất ít về đất nước nơi chúng tôi sắp đến, thậm chí còn chẳng có mấy ý tưởng về chuyện gì đang chờ đợi trước mắt. Tại bến cảng Sài Gòn sôi động, nắng chói chang, ấn tượng đầu tiên của tôi là những đám đông, cái nóng nung người và sự bẩn thỉu – dù thời gian chúng tôi ở đấy chỉ đủ để đổi tàu cho chặng đi cuối cùng đầy ác mộng của cuộc hành trình. Và rồi, trong bốn ngày rưỡi trời, chúng tôi bị giần nhừ tử trên giường tầng trong khi chiếc tàu hơi nước chạy ven bờ Mon Kai tròng trành bơi dọc biển Nam Trung Hoa[1] hoang vu, cho đến lúc nhẹ hẳn người khi thấy con kênh đầy bùn dẫn tàu vào cảng Hải Phòng thuộc xứ Bắc Kỳ (Tonkin).

Đoàn tàu hỏa chở chúng tôi chặng 110 km từ Hải Phòng về Hà Nội chạy rất chậm, bầu không khí trong toa thật ẩm ướt. Ánh mặt trời xứ Tonkin có dịu đi đôi chút khi đi qua hàng dặm hàng dặm ruộng lúa nước, những cánh đồng xanh rực rỡ với bờ be đắp đất thấp thấp chia ngang xẻ dọc. Những con trâu nước với cặp sừng khổng lồ kềnh càng bước, bầy chim trắng nhỏ nhảy trên lưng chúng để rỉa vào bẹn. Một cậu bé vắt vẻo cưỡi trên cổ trâu giơ tay vẫy đoàn tàu chạy qua, và tôi giơ tay vẫy lại. Lấm chấm trên đồng là những bóng người gầy gò cúi gập, trên mình mặc thứ giống như bộ pyjama màu nâu, chiếc mũ rơm hình nón nhọn của họ trông như các ngôi chùa kỳ diệu di động, che cho họ khỏi nắng.

Đoàn tàu huýt còi mỗi khi chúng tôi đi ngang các ngôi làng nhỏ có những paillote, những túp lều tre mái lợp rạ. Papa nói chúng tôi đang đi qua Đồng bằng sông Hồng dân cư đông đúc, nơi hàng năm các dòng nước bùn từ những rặng núi quanh đấy đổ con sông Hồng rộng mênh mông, rút đi để lại vùng đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu, ngập bùn, từ đây sản xuất ra lượng gạo lớn cho đất nước.

Nghiêng người về phía trước, mẹ vỗ đầu gối tôi một cái. Chiếc mũ nhỏ đỏm dáng vắt vẻo sau đầu mẹ dường như không phù hợp đến buồn cười với hoàn cảnh mới này. Mẹ mỉm cười.

Ça va mieux?” mẹ hỏi. Con có thấy đỡ hơn không?

Un peu”, tôi đáp. Một chút thôi. Thực ra thì không. Một người phục vụ tới, bưng cái khay đặt đồ uống, và cốc nước chanh mát lạnh khiến tôi tỉnh người còn hơn cả giấc ngủ. Tôi lại nhắm mắt lại cho tới khi, huýt hồi còi dài cuối cùng, đoàn tàu cót két rên rỉ rồi dừng lại.

--------------
[1] Có tên gọi chính thức là Biển Đông. Edit của Nhà xuất bản Thế Giới.
Thực ra trên các bản đồ thế giới đều ghi là Southern China Sea (Danngoc)

danngoc 13-02-2013 15:14

Chúng tôi đã ở Hà Nội. Sân ga lộn xộn những hòm xiểng và hành khách, nồng nặc mùi nách và khói than đá. Những bàn tay cáu ghét cứ quặp chặt cái túi tôi đang đeo cho tới khi cha tôi, mặc bộ quân phục thiếu tá vải khaki và đội képi, đến xua đám khuân vác lui ra. Người lái xe tìm ra chúng tôi và anh ta dẫn chúng tôi tới chiếc ô tô chỉ huy khá oai vệ. Anh ta đánh xe ra và từ tốn thương lượng với một đám xe kéo tay ken nhằng nhịt với nhau, các anh culi kéo gầy giơ xương đang xô đẩy tranh giành khách hai bên vỉa hè.

Ban đầu xe đi thật chậm, dù trên đường chỉ có vài chiếc ô tô. Đường phố Hà Nội vang vảng âm điệu nhịp nhàng crích crích crích của xe kéo tay poussepousse, và tôi cũng bắt đầu ngồi chúng. Đám culi bền bỉ chạy chân trần dưới trời nắng, khách chễm chệ ngồi che nắng phía sau. Khi chúng tôi lướt qua một đại lộ rộng rợp bóng cây, tôi ngoái cổ dõi theo một toán các cô gái An Nam đang vừa bước vừa rúc rích với nhau, áo của họ vạt dài cổ cao, gọi là ao dai, tà áo bay sang hai bên để hé đôi quần rộng dài chấm mắt cá màu sắc trang nhã. Giữa các cư dân bản xứ là một vài người Châu Âu đang bước đi trên vỉa hè, đàn ông mặc comple lụa trắng, phụ nữ trong áo váy mảnh dẻ, hợp thời trang, dài chấm mắt cá; thỉnh thoảng có một nhà sư nổi bật trong áo chùng màu vàng nghệ và chiếc đầu cạo nhẵn; một ông quan đang bình thản tản bộ, tay vuốt râu trầm tư, vạt áo the đen bay hất lên, chiếc ô đen kẹp chặt dưới nách.

Đến gần trung tâm thành phố chúng tôi rẽ xuống bên bờ của một chiếc hồ lặng sóng, có một cây cầu cong bắc qua ngôi chùa cổ trên hòn đảo nhỏ bên góc hồ. Quay mặt ra hồ là một dãy biệt thự hai tầng màu son và trắng, kiểu biệt thự điển hình của Pháp hệt như mọi nơi trên thế giới mà tôi biết, mỗi nhà có một cái vườn nhỏ phía trước với tường rào gạch song sắt rèn. Đến trước một căn như vậy người lái xe dừng lại và chúng tôi bước ra đi khám phá ngôi nhà đầu tiên của mình tại Đông Dương.


HẾT CHƯƠNG 2

100k 13-02-2013 15:28

Trích:

danngoc viết (Bài viết 120494)
Đồng chí ạ, tôi cực lực phản đối mọi hình thức dân tộc chủ nghĩa... Mặc dù bản thân là người yêu nước yêu dân tộc.

Off topic của đồng chí danngoc cái. Ý tôi là hình thành cái gọi là liên bang Đông Dương gồm các bang: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cam, Lào nằm trong cái gọi là liên hiệp Pháp. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 thì bản chất nước Pháp đã thay đổi rất nhiều rồi, trước sau thì Pháp cũng phải giảm dần ảnh hưởng của mình tại Đông Dương mà thôi. Mặt khác ta có cơ hội được hưởng thụ nền văn minh Phương Tây một cách có chọn lọc.
Cách đây vài tháng tôi có đi Sapa chơi, đến ngắm nhà thờ đá và nói chuyện với một tay mắt xanh mũi lõ. Tôi hỏi là cảm nghĩ của mày về dân tao thế nào thì nó nói là dân mày còn mọi rợ lắm, chúng tao cách đây hơn 100 năm khái hóa dân mày mới được thế. Thiệt tình lúc đó cứng họng không biết nói ra sao nữa. Lúc mình sinh ra đã khóc bằng tiếng Việt rồi, yêu cái lũy tre xanh, con cò mỏi cánh bay qua cách đồng nhưng đành chấp nhận sự thật phũ phàng đó.

danngoc 13-02-2013 15:53

Chuyện ấy thì đồng chí nói đúng. Người Pháp vào còn làm một chuyện rất quan trọng, nghe có vẻ rất nghịch lý là biến người Việt 3 miền từ những cộng đồng rời rạc thành một dân tộc thống nhất để chống lại kẻ thù chung là người Pháp. Dẫn chứng nhé: chuyện Pháp đánh thành Hà Nội mà dân tình không ủng hộ triều đình mà thản nhiên đứng xem là 1 ví dụ. Hay một ví dụ khác: Thanh Thực lục, bản dịch của Hồ Bạch Thảo, NXB Hà Nội 2007 dịch in toàn bộ các chỉ dụ của Càn Long trong chiến dịch xâm lược Việt Nam. Chỉ dụ của Càn Long ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 (10/11/1788) hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị bắt đầu chiến dịch, toàn chiến dịch huy động 1 vạn quân (chưa tính dân phu). Có lẽ nếu kể cả dân phu là 5 vạn, cách xa con số 20 vạn của Hoàng Lê Nhất thống chí. Lý do của Càn Long đưa ra là lấy kinh nghiệm chiến dịch đánh Đại Việt của Thoát Hoan thất bại do quân kéo đi đông quá, không tổ chức hậu cần được. Dịch giả Hồ Bạch Thảo thì nghi ngờ là Càn Long nói láo, nhưng theo tôi thì không vì chỉ dụ lưu trong văn khố, không phải chuyện đùa. Nhưng đúng là một chiến dịch đánh nước lớn như VN thì 1 vạn quá ít. Vậy chỉ có thể hiểu là trong chiến dịch này, chủ yếu là... người Việt đánh người Việt, hay ngầm hiểu là người Việt miền bắc xem người Tây SƠn không phải là đất nước mình.

100k 13-02-2013 16:14

Trích:

danngoc viết (Bài viết 120502)
Chuyện ấy thì đồng chí nói đúng. Người Pháp vào còn làm một chuyện rất quan trọng, nghe có vẻ rất nghịch lý là biến người Việt 3 miền từ những cộng đồng rời rạc thành một dân tộc thống nhất để chống lại kẻ thù chung là người Pháp. Dẫn chứng nhé: chuyện Pháp đánh thành Hà Nội mà dân tình không ủng hộ triều đình mà thản nhiên đứng xem là 1 ví dụ. Hay một ví dụ khác: Thanh Thực lục, bản dịch của Hồ Bạch Thảo, NXB Hà Nội 2007 dịch in toàn bộ các chỉ dụ của Càn Long trong chiến dịch xâm lược Việt Nam. Chỉ dụ của Càn Long ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 (10/11/1788) hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị bắt đầu chiến dịch, toàn chiến dịch huy động 1 vạn quân (chưa tính dân phu). Có lẽ nếu kể cả dân phu là 5 vạn, cách xa con số 20 vạn của Hoàng Lê Nhất thống chí. Lý do của Càn Long đưa ra là lấy kinh nghiệm chiến dịch đánh Đại Việt của Thoát Hoan thất bại do quân kéo đi đông quá, không tổ chức hậu cần được. Dịch giả Hồ Bạch Thảo thì nghi ngờ là Càn Long nói láo, nhưng theo tôi thì không vì chỉ dụ lưu trong văn khố, không phải chuyện đùa. Nhưng đúng là một chiến dịch đánh nước lớn như VN thì 1 vạn quá ít. Vậy chỉ có thể hiểu là trong chiến dịch này, chủ yếu là... người Việt đánh người Việt, hay ngầm hiểu là người Việt miền bắc xem người Tây SƠn không phải là đất nước mình.

Bạn danngoc nói chuyện này tôi mới biết đấy. Đúng là ngồi trong lều tranh, suốt ngày luyện thư pháp như tôi thì đâu biết được. Cái mạng in tẹc nét thật là kỳ diệu kéo thế giời vào trong lòng mình.
Chuyện 20 vạn quân Thanh đóng ở kinh thành Thăng Long rõ ràng không phải là con số chính xác. Ngày ấy kinh thành Thăng Long bé tí tẹo à. 20 vạn tức 200.000 người nếu đái ỉa thì ngập kinh thành rồi. Đợt tôi có chứng kiến Phan Bích Hằng nói chuyện vong hồn ở Đống Đa thì cô ấy nhăn mặt nói là người âm nói tiếng Việt ở đây cũng nhiều lắm...
Thôi bạn danngoc tiếp tục topic đi để mình ngồi hóng hớt tiếp.

caiden 14-02-2013 08:12

Trích:

danngoc viết (Bài viết 120520)
Xin BQT xóa bài trên của masha90 và để 2 bài của 100k lại!

Chào bạn danngoc! Chắc bạn cũng biết 100k là ai. Một topic hay ho gì độc thoại một mình, hoặc đã tham gia thì cứ phải múa phụ họa theo một chủ đề như thế rất gượng.
Thi thoảng off topic bàn luận một chi tiết chẳng thú vị lắm ru?
Nước Pháp là nước xâm lược nước ta nhưng tôi thực sự có thiện cảm với nền giáo dục Pháp. Hầu hết các cụ chỉ được học đến trình độ tương đương lớp 4 thôi nhưng có cốt cách và chữ đẹp kinh khủng.
Theo ý kiến tôi vấn đề độc lập không nên hẹp hòi quanh quẩn lãnh thổ. Người Pháp đến Đông Dương thì lập một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc chẳng tốt lắm sao?

danngoc 14-02-2013 09:50

Vấn đề dân tộc, như tôi đã nói ở một topic nào đó, là chủ đề tranh cãi không bao giờ có kết thúc. Vậy ta chỉ nên nêu ý kiến của mình thôi nhé. Nick masha90 rất thích ức chế mình.

Bây giờ chuyển sang chuyện khác. Những tưởng chuyện xa lắc trời Âu không ảnh hưởng đến xứ ta. Nhưng Hiệp ước Xô-Đức 1939 lại ảnh hưởng lớn đến tình thế cách mạng VN. Trước đấy, Đảng CS được hoạt động công khai ở Đông Dương. Sau Hiệp ước này, do Đảng CS Pháp ủng hộ Liên Xô nên bị Pháp loại khỏi vòng pháp luật, dẫn tới việc Đảng viên CS ở Đông Dương bị truy bắt, xử tử.

caiden 14-02-2013 09:52

Nói về người Pháp họ mang văn hóa của họ khai hóa dân tộc ta nhưng nhiều số người trong họ ác lắm.
Hôm trước trong một chuyến tàu lên Sapa có cụ già khoảng 80 tuổi kể cho mình nghe tội ác của một gã Pháp da trắng.
Gã Pháp da trắng này là sĩ quan đóng ở một cái bốt (theo suy đoán của mình là cái trại lính cỡ nhỏ). Hàng ngày gã uống rượu say ngất ngây con gà tây rồi đi tắt ra cánh đồng. Gặp chị em là gã đè ra hiếp. Có ngày gã gây ra hai, ba vụ. Gã hiếp người ta đến mức có thai. Nhân dân căm thù nhưng không dám làm gì.
Việt Minh về bắt được gã Pháp này. Gã mặt cắt không còn giọt máu, chắp tay lạy như tế sao. Nhưng cuối cùng gã vẫn phải đền tội.
Lạ một điều mộ gã sau này gọi là mả tây nhận rất nhiều hương hoa thờ cúng cho đến bây giờ. Hoạt động tín ngưỡng của dân mình thật là khó hiểu.

danngoc 16-02-2013 06:24

3

Hanoi, Enchanté – Hà Nội thật quyến rũ


Pho-o-o-o”, “Gio-o-o-o”, “Nem Ran-an-an”. Tiếng rao của người bán rong trên phố và mùi thơm ngào ngạt của nuoc mam, thứ nước sốt làm từ cá, khiến tôi hít căng cả mũi và sực nhớ rằng mình đang đói. Tôi vẫn biết Maman không muốn tôi ăn quà ngoài phố. Mẹ rất hãi thứ bát đĩa rửa sơ sài ngoài đường, một chậu sắt tráng men nước lạnh thường dùng để súc rửa bát đũa không biết bao nhiêu lần trước khi được đổ ào xuống rãnh cống dọc vỉa hè, rồi lại đem hứng đầy nước máy từ vòi nước công cộng đầu phố. Nhưng Maman và các bạn của mẹ lại rất thích chôn chân vọc tay xem những chồng vải lụa. Tiền thì tôi vẫn sẵn trong túi. Thế là nhanh chân tôi sẽ chuồn đi chén nhoắng một bát pho bo ngon lành, món súp mì nấu với thịt bò khoái khẩu của tôi, mà Maman không hề nhận ra.

Chúng tôi đang ở Vieux Quartier, khu Phố Cổ Hà Nội, gồm hai cây số vuông đường phố có từ thế kỷ mười lăm, hầu hết là những con phố chật hẹp, mỗi phố lấy theo tên món sản phẩm mà phường thợ sống ở đó sản xuất ra. Maman thường mê mẩn đến quên cả thời gian mỗi khi đi đến các phố yêu thích của mình – Hàng Bông, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Dầu và nhiều phố khác nữa. Đây là Rue de la Soie, phố Hàng Đào, nơi lui tới yêu thích của các bà các cô, trưng bày cơ man những kiểu ao dai, váy đầm và áo thêu đẹp nhất tha hồ xem.

Đây đã thành nơi dạo chơi đều đặn của chúng tôi mỗi buổi chiều. Bắt đầu từ khu biệt thự, men theo bờ hồ cỏ mọc rậm rịt của Le Petit Lac (Hồ Hoàn Kiếm), chúng tôi thường dừng chân ghé tiệm café ngoài trời nằm nhô ra trên làn nước lạnh tĩnh lặng ở phía bắc của hồ, nơi mấy con cá chép lớn vảy sặc sỡ hay ló đầu tò mò ngắm vãn khách. Sau đó chúng tôi nhẩn nha băng qua đường để tới khu phố cổ, nơi mùi hạnh nhân ngọt ngào thơm phức ven hồ hòa vào mùi thức ăn đang nấu, và vẻ tĩnh lặng thanh bình của mặt nước bị lấn át bởi tiếng huyên náo của bao nhiêu con người và tiếng rao lanh lảnh của những người bán rong trên phố đang chào mời khách mua.

Maman vẫn còn trong cửa hàng, đang trả giá mấy mét lụa xanh trứng sáo. Người chủ hàng tỏ ra đầy thân thiện, bởi ông ta cảm thấy người phụ nữ Châu Âu này có thể chấp nhận một giá khá hời. Ở gian kế đó cuộc trả giá quyết liệt hơn nhiều, bởi vị khách người An Nam cò kè gay gắt đến từng li từng tý chất lượng của mặt lụa.

Tôi đưa mắt nhìn sang một trong số những người bán hoa quả đang gánh đi trên phố trong trang phục kiểu nông thôn, quần nâu hay đen, dây lưng thắt ngang hông cái nâu cái nhiều màu, cái mũ như hình con sên, một chiếc gậy tre trên vai gánh vắt vẻo hai cái thúng to ở mỗi đầu, đựng hai hoặc ba loại hoa quả ngon lành xứ nhiệt đới. Tôi thường mua hai quả chuối nhỏ cho Poupette, kẻ luôn có mặt trên vai tôi, những chiếc móng xinh xinh của nó thỉnh thoảng mới phải bấu lấy tóc tôi để giữ thăng bằng. Hôm nay tôi mua thêm một túi quả vải cho mình để giết thời gian trong khi Maman đi xem hàng.

Poupette, con khỉ của tôi, là một sinh vật nhỏ bé vui vẻ và người bạn tốt nhất của tôi. Nó chia sẻ cùng tôi những món ăn, ngủ chung giường, cuộn tròn an toàn trong chiếc màn chống muỗi. Mỗi sáng hễ tôi mở mắt ra là lại thấy khuôn mặt ngộ nghĩnh của nó đang nhìn tôi không chớp để xem dấu hiệu đầu tiên khi tỉnh giấc. Nhẹ nhàng và lịch sự, ở đâu nó cũng được người ta chào đón, kể cả tại chuồng ngựa nơi nó đã trở thành một con vật lấy khước.

danngoc 16-02-2013 06:25

Với Papa và Maman, đua ngựa là một phần cơ bản của tiến trình định cư hòa nhập tại đây. Chính tại Trường đua Bagatelle cha mẹ tôi bắt đầu tìm được chỗ đứng trên vũ đài xã hội ở Hà Nội. Tài nhìn ngựa của Papa thật sắc bén, ông có được khi cưỡi ngựa cùng binh chủng kỵ binh trong Thế Chiến thứ I. Giờ đây cha cùng các bạn mới của mình, Maurice Jusserand, Giám đốc Điều hành của ngân hàng Banque Franco-Chinoise, và Jean Crepin, một nhà nhập khẩu và thầu khoán thành đạt, đã lập ra một hội tổ chức đua ngựa. Cuối cùng họ cùng nhau xây dựng một phức hợp đua ngựa khá lớn nằm gần trường đua ở ngoại ô Hà Nội. Khởi đầu với nửa tá ngựa hay và vài thanh niên chưa có kinh nghiệm, số lượng ngựa họ đào tạo được mau chóng tăng lên thành hai mươi bốn con.

Tình yêu ngựa của tôi cũng mạnh dần lên và tôi dành phần lớn thời gian sau giờ học của mình tại chuồng ngựa để giúp cho ngựa ăn, chải lông và cưỡi vào chuồng. Tại các cuộc đua tôi học được cách nhận biết hàng trăm con ngựa qua bề ngoài, dòng giống, tuổi và khả năng chạy của chúng. Bagatelle và chuồng ngựa trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi.

Khu phức hợp ngựa đua của chúng tôi nằm cạnh quận Tây Hồ tiếp giáp với đê Sông Hồng, một thiên đường của các con đê nhỏ rất hẹp để đi lại nhưng rất hợp để luyện ngựa, có những lối đi cứng để tập nước kiệu và có sẵn nước để cho ngựa lội qua. Có các hòn đảo nhỏ để khám phá, những cây ổi và vải với quả thơm ngon gần như quanh năm mọc hoang ven bờ.

Sau này, rất lâu sau này, tôi có dịp được tản bộ trên những con đê đáng yêu vắng vẻ ấy cùng một người con gái Pháp xinh đẹp và sôi nổi. Có một rặng cây với cành lá già cỗi oằn xuống như một dãy rèm sà sát đất, cỏ mềm mọc khắp nơi, tỏa mùi ấm áp và ngọt ngào. Những trái quả đang chín mọng trên cây và xung quanh âm thanh duy nhất là tiếng cá quẫy trên mặt nước hồ. Da nàng nâu đều, tóc dài tha thướt và tôi thấy mình như đang ở Vườn Địa đàng.

***

danngoc 18-02-2013 18:06

Trích:

danngoc viết (Bài viết 120520)
Xin BQT xóa bài trên của masha90 và để 2 bài của 100k lại!

Thật thất vọng khi BQT mặc kệ những yêu cầu chính đáng của tôi như thế này, dung túng cho masha90 (một nick chẳng bao giờ thấy đóng góp gì ra hồn hay có tranh luận thuyết phục) post những đòi hỏi linh tinh vô căn cứ.

danngoc 18-02-2013 18:07

Tại trường đua một con ngựa hồng cứng cáp đang nhảy nhót quanh vòng sân tập diễu hành trong khi cha tôi đứng xem một cách thán phục.

“Nó thật tuyệt vời”, cha nói với người trưởng nhóm luyện ngựa. “Tôi rất kỳ vọng vào con ngựa cái non này”.

Cha tôi đang ở đúng môi trường của mình. Phía sau chúng tôi một cậu bé đánh cá ngựa đang phân vân và cha tôi chỉ dẫn cậu ta đi ghi cược ở tote guichets (cửa quầy) dưới khán đài.

Chúng tôi len lỏi về chỗ cái bàn đặt trên cái sân hiên rộng mênh mông, đi ngang chiếc vạc bằng bê tông to tướng có hình dáng như cái chậu tắm cho chim, rộng 3 mét và rủ xòe những chùm hoa giấy rực rỡ. Maman đang ngồi đó dưới tán dù rộng che bóng cho chiếc bàn, cười đùa với các bạn bè. Trải rộng dưới mắt chúng tôi là toàn cảnh một trăm mét cuối của vòng ngựa đua và đích đến, những bãi cỏ được cắt xén gọn gàng cùng các luống hoa và lối đi rực bóng phượng vĩ. Sau đó chúng tôi gia nhập với đám những tay cá cược, chủ ngựa và luyện ngựa trong cái mát mẻ của hàng hiên tòa nhà chính, nơi đám đông đang tụ tập sau khi cuộc đưa kết thúc để ăn mừng hay làm vơi bớt nỗi buồn thua cược. Thời kỳ ấy ở Hà Nội tồn tại một bầu không khí vô lo, dàn nhạc sẽ trỗi lên và cuộc chè chén sẽ kéo dài thâu đêm Chủ nhật. Đấy là Bagatelle, một trong những viên ngọc quý của phương Đông, lấy mẫu theo khu Bagatelle của trường đua Longchamps gần Paris.

Chính tại Bagatelle này mà lần đầu tiên tôi được gặp Marie Claire. Nàng trở thành một vị khách thường xuyên và nhập vào nhóm bạn quen của cha mẹ tôi trong các cuộc khiêu vũ chiều tối sau khi buổi đua kết thúc. Nàng thật vui tươi và hoạt bát khiến tôi không tài nào không chú ý đến nàng. Có lẽ khi ấy nàng khoảng trên dưới ba mươi tuổi, vô cùng quyến rũ và đã lập gia đình với một thiếu tá quân đội nổi tiếng là khó gần. Chúng tôi chưa bao giờ được gặp người này.

danngoc 18-02-2013 18:08

Marie Claire nhảy tuyệt giỏi, nếu không muốn nói là mải mê quên hết xung quanh. Tôi mới chỉ mười sáu tuổi khi lần đầu tiên nàng kéo tôi từ cái góc nhà tĩnh ra ánh đèn chói chang của sàn nhảy. Tôi xấu hổ tột độ và rất miễn cưỡng, bởi lần nhảy duy nhất của tôi là một màn nhảy soirée bất hạnh trên boong tàu thủy, lần ấy tôi rời bạn nhảy mà rõ ràng chẳng ai buồn để ý. Tuy nhiên, Marie Claire dường như không bận tâm chuyện này. Lần thử đầu tiên của chúng tôi thật lóng ngóng, nhưng sau buổi chiều đầu tiên đó nàng vẫn đến với tôi. Chẳng mấy chốc tôi đã cảm thấy thật thoải mái.

Trong mấy tháng tiếp theo nàng dạy cho tôi tất cả những điệu nhảy mới nhất, từ Lambeth Walk cho đến Latin American. Tôi mê mệt diễn xuất nóng hổi của nàng trong những điệu Latin. Nàng mặc những chiếc váy xuyên thấu nhất, cặp chân thon thả của nàng với bàn chân và đôi giày cài nút dọc suốt mu bàn chân thật chính xác và vững tin. Thật dễ cuốn theo các chuyển động uyển chuyển của cơ thể nàng khi nàng áp mình sát vào tôi. Điệu Tango của nàng vô cùng khêu gợi, và trong nỗi tủi nhục tôi thường cảm thấy một làn điện không hay ho lan tỏa dưới háng mình. Nếu như Marie Claire để ý thấy, mà chắc hẳn là nàng có, nàng lại chẳng tỏ ra bực mình chút nào. Khi nhạc tắt nàng cuốn tôi về chỗ ngồi và chỗ khuất của góc khăn trải bàn đã gọn gàng khéo léo che đi nỗi bối rối cho tôi.

Tôi trông chờ mỗi buổi chiều Chủ nhật, trông chờ những chòng ghẹo tàn nhẫn và ve vãn ác liệt của nàng với thái độ khá điềm đạm. Nhưng cuối cùng chồng của Marie Claire chuyển nhiệm sở ra khỏi thành phố. Sau đó thỉnh thoảng nàng mới xuất hiện, quay về bằng tàu hỏa để tham dự họp mặt cuối tuần. Cuối cùng nàng biến mất hẳn và tôi nhớ nàng vô cùng tận, tuy nhiên cuộc đời vẫn cứ thế trôi đi.

danngoc 18-02-2013 18:08

Comment:

soirée là màn nhảy sau các bữa tiệc tối.

Hồi ký sẽ dần cho thấy, lương và trợ cấp của một quan tư (thiếu tá) thời thuộc Pháp quá là cao. Lương công chức rất cao có mục đích ban đầu để hút chất xám về phát triển thuộc địa, đã dần tạo ra một tầng lớp quan liêu thực dân. Một toàn quyền Pháp đã viết bài báo trên tạp chí Đô thành hiếu cổ, kể về thực tế suy đồi đạo đức của các vị quan Pháp thực dân. Thời ấy, người Pháp qua Đông Dương sống, chủ yếu là để ăn lương cao hơn mẫu quốc. Cũng có những người nông dân bán nhà cửa của mình ở Pháp để sang đây mua ruộng đất của chính phủ lập đồn điền. Phần lớn những kẻ này đều thất bại (như tự truyện của Marguerite Duras, tác giả các tiểu thuyết Pháp về Đông Dương như L'Amant). Một số sẽ dùng mồ hôi nước mắt lập ra các đồn điền lớn ở Tây Nguyên (xem phim Apocalypse sẽ thấy) tồn tại đến tận 1975. Thương gia người Pháp ở Đông Dương không mấy thành công như người Hoa. Ngành kinh doanh béo bở nhất nằm trong tay các giang hồ người gốc đảo Corse - chăn gái, buôn thuốc phiện lậu, cờ bạc.

jackyhung12345 18-02-2013 18:22

Thiệt tình khi ấy Đông Dương vẫn bị coi là xứ mọi nên sĩ quan sang bên ấy phải được chế độ đãi ngộ hơn bổn quốc. Giống như ta nhân đôi lương binh lính đóng ở Hoàng Sa vậy.
Mình đọc tác phẩm Papillon thì những tay tử tù, hay phạm trọng tội nếu tình nguyện tham gia quân đội viễn chinh sang các nước thuộc địa thì được tha bổng. Chính vì thế dễ hiểu là quân Pháp ở Đông Dương vô kỷ luật và dã man vậy.
Mình cũng được nghe nói một khúc đê sông Hồng vỡ, tay người Pháp thấy có trách nhiệm liên quan đến mình nên nhảy xuống dòng nước lũ tự vẫn. Hay tay kỹ sư người Pháp không bắc được cầu Hàm Rồng nên phải để kỹ sư Đức bắc được cầu. Xấu hổ quá tay kỹ sư Pháp cũng nhảy sống chết luôn.
Ngày xưa trước khi cụ Phan đi Nhật cũng ngủ với cụ Hoàng Hoa Thám một đêm. Cụ Phan thấy cách chống Pháp của cụ Hoàng không ổn nhưng cho rằng mỗi người một chí. Sau cụ Phan quyên tiền cho cụ Hoàng thì cụ Hoàng đã bị Pháp chặt đầu rồi. Nói thật chứ chống Pháp như cụ Hoàng chỉ tổ làm khổ dân, thất bại là tất yêu thôi do hạn chế về tư tưởng và phương pháp đấu tranh.
May có cụ Hồ lãnh đạo nhân dân chớp thời cơ giành chính quyền. Nói như Phan Khôi là nhặt được chính quyền e rằng hơi quá. :D

danngoc 19-02-2013 18:49

@danngoc: Có lẽ, Marie Claire (một tạp chí của Pháp dành cho phụ nữ) là một cái tên giả, cả nhân thân người chồng cô này cũng là giả (cấp thiếu tá quân đội thì chắc cũng khá lớn tuổi).

Thiếu tá trong quân đội Pháp là khá to...
Francis Garnier (chết năm 1873) và Henri Rivière (chết năm 1883) khi chết cũng mới chỉ là đại úy. Thế nhưng ông Coffyn, người vẽ Bản quy hoạch thành phố Sài Gòn 500 ngàn dân năm 1862 lại là lon trung tá. Vậy là sao?
Sau khi tìm hiểu và hỏi một người đã tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Paris thì được biết như sau: Tất cả những sinh viên sau khi tốt nghiệp Bách khoa Paris đều có mối liên hệ suốt đời với trường. Trong trường không có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, chỉ tốt nghiệp là đủ. Nếu họ nhập ngũ thì được phong ngay lon thiếu tá (chủ yếu là công binh). Do vậy, Coffyn mang lon trung tá khi vẽ bản quy hoạch kia theo đặt hàng của đô đốc Bonard, là chuyện bình thường. Trong khi hai ông văn sĩ, kiêm nhà khoa học, kiêm sĩ quan chiến đấu Garnier và Riviere mới chỉ là đại úy, cũng là bình thường.

Phim tài liệu Đức "Lính đánh thuê gốc Đức tại Đông Dương", phần 1, có phụ đề Việt

https://www.youtube.com/watch?v=cu4EknDvpGM

Lính đánh thuê gốc Đức tại Đông Dương - phần 2
http://www.youtube.com/watch?v=CrDftdARWK8

Phần 3
http://www.youtube.com/watch?v=pU67GOytzbU

Phần cuối
http://www.youtube.com/watch?v=nAAKK3LiKDE

danngoc 19-02-2013 18:51

Cuộc sống gia đình ổn định mau chóng và sung túc tại đất nước mới đến này và tất cả chúng tôi đều vô cùng hạnh phúc. Do đơn vị cha tôi đóng trong thành cổ, tức Hoàng thành Hà Nội, ông làm việc giờ giấc đều đặn và cứ đến chiều là về nhà. Với Maman điều này thật tuyệt vời khi được có một cuộc sống “bình thường” sau thời kỳ đi đày cô độc ở Ma-rốc và cả Madagascar, nơi rất ít người Pháp có thể hòa nhập được.

Bep, tay đầu bếp gốc Hoa của chúng tôi, là người quản lý ở trong nhà. Mẹ tôi thường nghe thấy ông ta sai phái Thi Hai và Thi Ba, hai cô gái giúp việc nhà, cứ như thể hai người này là hạng thấp kém hơn. Thỉnh thoảng mẹ có can thiệp vào – cũng rất khó, bởi mẹ không nói được tiếng của họ và mỗi lần như vậy họ thường không ừ hử gì với bà. Bep là một đầu bếp cừ và giúp mẹ tôi nhẹ gánh nhiều việc sau vô số lần mẹ phải đánh vật với chuyện huấn luyện cho người mới. Mẹ đã học được cách không can thiệp vào chuyện của Bep, thậm chí cả khi mẹ phát hiện ra anh ta lấy hai bàn tay vê viên thịt băm thẳng trên bộ ngực trần của mình. Đơn giản là mẹ lặng lẽ rút lui lại lên lầu, quay về với bàn tiệc tối mà không để họ biết là mẹ vừa có mặt.

Tôi có nghe thấy cha mẹ nói chuyện với nhau về việc cả gia đình sẽ định cư lại đây sau khi cha tôi mãn hạn phục vụ. Dường như cha mẹ khá hài lòng với cuộc sống ở Đông Dương. Tôi cũng vậy. Nơi đây có gì đó thật quyến rũ. Tuy nhiên, khi chín chắn hơn tôi ngày càng nhận thức rõ về lối sống của chúng tôi ở xứ thuộc địa. Tôi không nghĩ nhiều về điều này, nhưng tôi bắt đầu chú ý đến nhiều điều, những điều nho nhỏ liên quan đến người Pháp và người dân của đất nước mà chúng tôi đã chiếm lấy.

Nhà cầm quyền Pháp tự xem họ là đang thực hiện mission civilatrice, một sứ mệnh khai hóa văn minh và phát triển xứ Đông Dương, và thực tế đã làm rất nhiều để xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở đây – đường xá, cầu cống và đường sắt, những thành phố hấp dẫn với các tòa nhà đẹp và đại lộ thênh thang. Nhưng phát triển và duy trì một thuộc địa là rất tốn kém, và gánh nặng chi phí chủ yếu đặt trên vai của nhân dân dưới hình thức sưu cao thuế nặng. Để thực hiện công cuộc phát triển, quản lý và trật tự phải được duy trì, và đã thành truyển thống được người Pháp chấp nhận là bạo lực là cách thức hiệu quả nhất để làm điều này. Việc thi hành cưỡng bức luật lệ và trật tự Pháp rất khắc nghiệt, thường là tàn bạo. Tiêu chuẩn trả lương cho người Pháp và người Việt làm cùng một công việc là rất chênh lệch nhau, và mặc dù xét theo một mặt thì việc này cần làm để thu hút người dân Pháp kéo sang thuộc địa, đây là một nguồn dẫn tới sự bất mãn của người An Nam.

Trường tôi học, Lycée Albert Sarraut, là trường trung học tiếng Pháp ưu tú ở Hà Nội. Khoảng phân nửa số học sinh là người An Nam, và hầu hết bọn họ là con cái những công chức chính phủ được trả lương cao. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng chính phủ Pháp chỉ cung cấp một số lượng ít ỏi giáo dục tiểu học không bắt buộc cho người bản xứ, những người không có khả năng trả tiền. Có một sự khác biệt to lớn giữa kẻ có của và người tay trắng.

Ở trường lúc mới quen ta rất khó kết bạn với người Đông Dương và họ có khuynh hướng khép kín. Họ chịu khó ganh đua, nhìn chung siêng năng học hơn nhiều so với học sinh người Pháp và đạt kết quả khá cao, nhiều người giành được suất vào Đại học Sorbonne ở Paris. Những học sinh khá giả nhất tự trả tiền học đại học. Ở Đông Dương vàng rất được xem trọng và trong khi người giàu có rất nhiều vàng trong hầm nhà băng thì người nghèo chẳng bao giờ dám mơ đến.

Hầu hết các học sinh Đông Dương ở trường đều là những người dân tộc chủ nghĩa rõ nét, một số có khuynh hướng Cộng sản, và trong những người cùng thời tôi ở trường một số sẽ là các lãnh đạo đảng và chính phủ hàng đầu của nước Việt Nam độc lập sau này. Những nhà cách mạng tiềm năng không chỉ có trong số các học sinh mà cả trong nhóm giáo viên. Hai giáo viên trường tôi – Maurice và Yvonne Bernard, đôi vợ chồng người Pháp – sau này sẽ biến mất qua biên giới Việt – Trung. Họ là thành viên công khai của Đảng Cộng sản và thường trao đổi về quan điểm chính trị của mình với bất cứ ai muốn nghe. Họ nói rằng Đảng Cộng sản, một thành phần của Mặt trận Bình dân hoạt động hợp pháp, có ưu thế khá mạnh ở Pháp.

Thầy giáo lịch sử của tôi, người đồng thời cũng dạy ở Lycée Thăng Long, được đồn đại là dân Cộng sản bị cảnh sát lưu hồ sơ vì hoạt động có tính lật đổ. Nhưng tôi không thể nghĩ Professeur Giap lại là kẻ bạo loạn. Tôi thực sự có cảm tình với ông; tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều vậy. Ông là một người An Nam sôi nổi, nhiệt tình và, phần nào do vóc người thấp nhỏ, dường như không lớn hơn chúng tôi bao nhiêu. Ông có khuôn mặt tròn phúc hậu và luôn mặc bộ vest trắng tinh với sơ-mi trắng và cà vạt. Ông rất say mê Napoleon và hình như biết kỹ từng trận đánh của Napoleon tới từng chi tiết. Nhưng ông dạy sử cho chúng tôi khá công bằng và truyền đạt mọi giai đoạn lịch sử rất sôi nổi. Không như vợ chồng Bernard, ông không bao giờ nói bóng gió đến chính trị đương đại ở trên lớp. Ngay cả nếu ông có làm vậy chăng nữa thì chúng tôi cũng chẳng thấy phiền. Nhiều học sinh, trong đó có tôi, có khuynh hướng thân tả và cảm tình với cánh xã hội, bởi hệ thống thuộc địa ở Đông Dương không làm gì để khuyến khích chủ nghĩa tư bản dân tộc. Bên cạnh đó, dường như tôi thấy rõ rằng người giàu thì có quá nhiều trong khi người nghèo thì quá nghèo khổ. Chỉ cần ta để mắt nhìn xung quanh.

danngoc 19-02-2013 18:52

Tôi không bao giờ nghĩ rằng thầy dạy sử của mình có tội. Tôi hết sức yêu mến và kính trọng Professeur Giap. Ông dạy chúng tôi lịch sử Cách mạng Pháp với niềm say mê điềm đạm nhưng nói rất ít về lịch sử Đông Dương, mặc dù đây chắc hẳn là điều luôn trong tâm trí ông. Tôi không nhận thấy ông có nỗi phẫn uất ăn sâu đối với sự chiếm đóng của ngoại bang trên đất nước mình. Tôi không mấy để tâm về thực tế rằng người Trung Hoa đã đô hộ Việt Nam suốt một ngàn năm, rằng kể từ đó cho tới khi người Pháp đến đây trong thập niên 1860 người An Nam đã phải liên tục chống trả quyết liệt sự thống trị của ngoại bang, rằng thực sự lúc nào cũng có một thế lực nước ngoài tìm cách nuốt trọn đất nước họ. Tôi không nhận thấy rằng những người trí thức nghiên cứu lịch sử Việt Nam như Giap giờ đang lãnh đạo công cuộc kháng chiến. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao người An Nam rất khác so với người Lào và người Cambodia sống dưới chế độ bảo hộ ở phía tây của vùng mà chúng tôi gọi là xứ Đông Dương, tại sao họ cương quyết và ganh đua hơn nhiều, và cuộc chiến đấu chống lại bọn xâm lược nước ngoài suốt nhiều thế kỷ của họ đã hình thành trong họ sức mạnh, sự kiên trì và đức hy sinh ra sao. Đối với tôi người An Nam thật dễ thương và thường là rất thanh nhã.

Tôi không nghĩ mình là một tên xâm lược. Tôi vẫn hạnh phúc không hay biết rằng ngay dưới bề mặt cuộc sống có vẻ điền viên ở Dông Dương này là một sự bất mãn đang sục sôi, một dòng chảy cách mạng đang cuộn ngầm.

Chuyện có suy nghĩ lọt vào trong đầu, rằng thầy dạy sử của tôi, Vo Nguyen Giap, sẽ chính mình mang số mệnh đục khắc một dấu mốc quan trọng trong lịch sử, hẳn là không thể xảy ra được. Nhưng vị giáo sư hoạt bát năng nổ này có một tương lai rực rỡ. Vài năm sau ông sẽ được trao quyền chỉ huy một nhóm du kích ngang ngạnh và rèn giũa họ trở thành một đội quân hết sức hiệu quả. Ông sẽ trở thành vị tướng mà, cùng với Ho Chi Minh, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh gồm nhiều thời kỳ oanh liệt, ban đầu là chống lại quân đội Pháp và về sau giành chiến thắng trong một tương quan hết sức chênh lệch với cỗ máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ (cùng các đồng minh). Professeur Vo Nguyen Giap sẽ trở thành người nổi tiếng thế giới như là một trong những vị tướng vĩ đại nhất thế kỷ.

HẾT CHƯƠNG 3

danngoc 20-02-2013 20:03

Mấy ông tnxm và bác Tom Cat chiến nhau kinh quá ! :))


4

Vào đời


Bức tường đá dày sừng sững trên đầu khi tôi bước qua chiếc cổng chính của thành cổ. Pháo đài An Nam lâu đời ở Hà Nội này, được Hoàng đế Gia Long cho xây vào đầu thập niên 1800, đã được thiết kế lại toàn bộ và mở rộng bởi người Pháp để làm nơi trú đóng cho Đội quân Thuộc địa Pháp. Đi đến chỗ sân trong tôi đưa mắt nhìn quanh để xác định phương hướng. Tổ hợp rộng lớn 72 ha này giờ đây là sở chỉ huy của Bộ binh, Pháo binh Thuộc địa và các đơn vị phụ trợ khác. Đây là một mê cung doanh trại và sở chỉ huy, khu quân nhu và xưởng máy, văn phòng và sân tập.

Lúc này là tháng 9/1939, do đã tốt nghiệp phổ thông và có chiến tranh ở Châu Âu tôi gia nhập quân đội dự bị với mong muốn quay về Châu Âu để chiến đấu. Dường như đó không phải một quyết định đúng. Tôi không có dự định trở thành một người lính chuyên nghiệp, nhưng cuộc đại chiến mà Papa nói sẽ không bao giờ lặp lại nay đã nổ ra.

Cha rất giận rằng nước Đức, một quốc gia vẫn được xem là văn minh, lại một lần nữa giơ nắm đấm lên gây chiến. Đối với tôi, việc nhập ngũ dường như là chuyện cần làm. Maman lặng lẽ tỏ ra không vui với quyết định của tôi và mặc dù tôi yêu mẹ tha thiết, đây là cơ hội của tôi để thoát ra khỏi nhà.

Có lẽ tác động của cha tôi đã giúp tôi nhập ngũ khi chưa đủ tuổi. Còn bảy tuần nữa mới đến sinh nhật thứ mười tám của tôi và quy định thì vốn rất cứng nhắc. Đầu óc tôi đầy những danh dự, trách nhiệm và những điều xấu xa của Đế quốc Đức. Tôi không hề biết những u ám và gian nan đang chờ đợi xứ Đông Dương ở phía trước, rằng tình báo quân đội đang ngày càng lo lắng theo dõi những trò đùa tàn ác của người Nhật trong cuộc chiến với Trung Hoa ngay tại cửa ngõ phía bắc chúng ta. Nỗi lo lắng này âm thầm dẫn tới một cuộc động viên lớn.

Tôi bước vào quân đội một cách nhiệt tình và, theo tôi nghĩ, với cặp mắt mở to. Trước đây tôi đã chứng kiến đời sống quân ngũ, nhưng điều này vẫn không đủ để chuẩn bị cho những gì sẽ xảy đến với tôi. Những khác biệt so với cuộc sống êm ấm của tôi ở nhà thật to lớn.

danngoc 20-02-2013 20:04

Tôi là một anh lính loại hai, hạng bét dem trên chiếc thang cấp bậc quân đội. Không bao giờ có được sự riêng tư, ngay từ lúc có hiệu kèn báo thức, nào là cảnh tập hợp buổi sáng chen chúc những ngực và mông trần đủ màu sắc, nào là các cái mồm oang oác và nách rậm lông trong lán ở, nào là những bữa ăn huyên náo và buổi khám y tế rất khó chịu, nào là những giờ huấn luyện bất tận, nhớp mồ hôi, đủ trò trừng phạt thể xác. Chỉ một tuần tôi đã mất hút trong đám đông, lạc lõng giữa những kẻ khác. Thế rồi xuất hiện sự cứu rỗi.

Sinh ra tại cao nguyên Pyrenees, Claude Mary là một gã Catalan thực thụ. Là hạ sĩ quan chuyên nghiệp có nước da hồng hào và tính cách nóng nảy, cặp mắt sắc sảo còn cái lưỡi thì liến thoắng. Chúng tôi thật trái ngược, bởi tôi thì cao và vẫn còn non nớt, anh ta thấp hơn nhưng mạnh mẽ và chắc nịch. Tôi ít nói và hay ngượng ngùng, anh ta sinh động và cởi mở, nhưng tình bạn của chúng tôi mau chóng trở nên thắm thiết. Lớn hơn tôi mười một tuổi, anh ta từng làm lính phát lương dưới trướng cha tôi và biết cha rất rõ. Trong đôi mắt một chàng trai mười bảy tuổi, Claude Mary thật phóng khoáng, đầy hiểu biết và là người bạn tốt để cùng bù khú trong những tuần lễ đầu bỡ ngỡ ấy.

Khi tôi đứng đầu kỳ thi tốt nghiệp Trường Huấn luyện Sĩ quan, Claude đã ra chúc mừng tôi. Nhưng sau đó một cuộc trò chuyện phàm tục trong cuộc nhậu tại căng tin đã khiến tôi ít còn nghi ngờ gì rằng anh ta muốn tôi nâng cao trình độ nhiều hơn thế.

“Nếu cậu muốn trở thành sĩ quan”, Claude giải thích trong khi châm lửa điếu Gauloise Troupe, “chúng ta cần biến cậu thành một người đàn ông thực thụ” – anh ta nhìn thẳng vào mắt tôi – “tại chỗ ấy ở Hà Nội. Maîtresse de la Maison rất kén chọn người được phép bước chân vào. Hầu hết chỉ toàn là sĩ quan hay quan chức cấp cao”.

“Cấp cao! Quên đi”, tôi phản đối. Anh ta nói nghe cứ như một câu lạc bộ, như thể thành viên của nó là một loại thành phần xã hội cao quý nào đó. Chuyện này khiến tôi phát hãi, còn Claude thì lấy làm khoái chí.

“Đừng lo”, Claude ngân nga nhạo báng. “Tớ chỉ muốn nói đến cái giống của cậu và muốn sắp xếp một cuộc gặp gỡ đặc biệt. Hãy mặc cái sơ-mi lụa và cư xử cho đứng đắn nhất. Cậu sẽ ổn thôi. Tin tớ đi”.

Tôi suýt phát nghẹn khi anh ta nói cho tôi cái giá của chuyện này. “Hai mươi piastre!” Là tên lính hạng hai tôi được nhận một khoản ngất trời là 1 piastre mỗi ngày, mức lương tiêu chuẩn cho mọi tay tân binh bất kể thuộc dân tộc gì. Tôi mới trong quân đội có hơn ba tuần và gom góp được hai món tiền tuần, tổng cộng 14 piastre. Ý tưởng đem đốt trọn tiền lương cả tháng của mình trong một nhà thổ không làm tôi thấy hứng thú.

“Ha”, Claude cười khẩy vào sự dè dặt của tôi. “Đây là các cô nàng cao cấp. Đảm bảo sẽ lo cho cậu chu đáo. Chẳng lẽ cậu muốn thử chơi gái đứng đường và bị lây giang mai à?”
“Tớ không có đến cả 20 piastre”, tôi cãi lại.

Anh ta múa tay rút trong túi mình ra một tờ bạc 50 piastre. “Cậu có thể trả lại tớ lúc nào cậu kiếm được một món khá”. Tôi cầm lấy tờ bạc. Có lẽ chẳng còn lý do gì để từ chối.

Mọi thứ phải làm cho thật nhanh. Sau không đầy hai tuần nữa tôi sẽ phải rời thành cổ để vào Trường Sĩ quan ở Tông (gần Sơn Tây-danngoc), phía tây Hà Nội, học chín tháng đào tạo sĩ quan chuyên sâu. Claude sắp xếp một cuộc làm quen vào thứ Sáu.

danngoc 06-06-2013 14:54

“Vậy sao?” tôi ngạc nhiên hỏi lại. “Ngay đây à?”

Claude nhìn tôi ngờ vực. “Ý cậu là cậu không hề biết cái nhà gì ngay sát mũi kia à?”

Tòa nhà rất quen thuộc với tôi, nhưng tôi vẫn tưởng đó là nơi ở của một vị tướng hay một quan chức cấp cao nào đó. Ngôi nhà rất rộng, tòa ngang dãy dọc và đồ sộ, xung quanh có một khu vườn khổng lồ trồng tỉa cẩn thận. Và nó nằm ngay đây, ngay trên thềm khu đất trống bao quanh thành cổ, không xa Bắc Môn là mấy.

Tôi tự hỏi làm thế nào ngôi nhà tráng lệ này lại trở thành một chỗ như vậy. Có lẽ Claude nói đúng. Có lẽ vị chủ nhà có những mối quan hệ với cấp cao nhất.

Claude tự tin gõ cửa trước trong khi tôi lo lắng lẩn sau lưng anh ta. Cảnh cửa mở, một phụ nữ An Nam ngoài trung niên ra đón chúng tôi và dẫn chúng tôi vào căn phòng chờ sang trọng. Tôi quan sát những món đồ nội thất bọc nhung, cái tủ nhiều ngăn bằng gỗ hồng tâm làm rất thanh nhã, trong bày các bức tượng nhỏ bằng ngà voi và ngọc thạch. Sau lưng tôi có tiếng giày cao gót lách cách trên sàn nhà nhẵn bóng, tôi quay lại và trông thấy Maîtresse de la Maison (Bà chủ thanh lâu. - danngoc).

“Tôi là Jo”, bà ta nói như thể chỉ giới thiệu như vậy là đủ. Tôi lúng búng gì đó và bà đưa cặp mắt đen sắc như dao nhìn tôi suốt từ đầu xuống chân như thấu tận gan ruột. May thay, Claude ra mặt đỡ lời cho tôi. Tôi chắc chắn biết ơn anh vì chuyện này.

Tôi im thin thít ngồi ngây người trên chiếc đi-văng, theo dõi bà ta. Bà là một métisse, một phụ nữ lai Việt-Pháp, có lẽ tầm năm mươi tuổi. Vóc người nhỏ nhắn mảnh dẻ, bộ váy sa-tanh màu lam ngọc có thêu rất tinh tế những bông hoa súng xinh xinh, trên cổ đeo một chuỗi ngọc trai dài hình như rất đắt tiền. Lớp trang điểm dày cho thấy tuổi tác và lối sống đã có tác động. Dưới vẻ ngoài chải chuốt thanh nhã khéo léo và cẩn thận là những nét của một con nghiện thuốc phiện, bởi làn da xếp li và đôi môi tô lớp son dày đỏ chót để che lấp màu xám cho thấy đây là con nghiện rất nặng.

Bà quay sang tôi với dáng vẻ lặng lẽ và đôi nét thông cảm của người mẹ. Liệu bà và Claude có trao đổi với nhau từ trước về tôi? Đột nhiên tôi chợt hiểu rằng bà biết tôi là trai tân, rằng điều này có lẽ khiến tôi có một vị thế đặc biệt. Có lẽ đó là lý do Claude đã nói tôi đừng lo lắng về cấp bậc của mình. Tôi đành cố gắng một cách vô vọng để mình đừng đỏ mặt. Đỏ mặt là một nét Châu Âu khiến người An Nam thấy tò mò và thích thú, và tôi cảm thấy mình bối rối hơn lúc nào hết.

Nhưng giọng nói của madame đã làm dịu nỗi căng thẳng, và cuộc thỏa thuận mau chóng đi đến thống nhất. Maîtresse de la Maison duyên dáng đứng lên tỏ ý cuộc phỏng vấn tôi đã kết thúc.

danngoc 06-06-2013 14:56

Cuối tuần đã đến, tôi gặm nhấm nỗi bẽ bàng vì “vị thế đặc biệt” của mình. Jo đón chúng tôi quay lại một cách nồng nhiệt, có hai cô gái giúp việc bé nhỏ người An Nam đứng bên cạnh. Xinh đẹp và tha thướt trong bộ ao dai, phẩm cách và sự thanh thản của họ dường như chẳng hợp mấy với nghề họ làm.

“Đây là Lụa”, Jo nói khi giới thiệu cô này cho Claude, sau đó quay sang tôi, “Còn đây là Nguyệt”. Khẽ xiết cánh tay tôi, bà nói thêm, “Cô ấy sẽ chăm sóc cậu hết sức đặc biệt, Michel ạ”. Tôi lập tức đỏ mặt khó chịu. Trong lòng bối rối vô cùng.

Nguyệt ngồi sát xuống tôi trên bộ recamier (Bộ trường kỷ kiểu tây. - danngoc), đùi cô áp vào bên tôi. Nụ cười cô thật ngọt ngào làm tôi yên lòng và cô biết rất rõ cần nói cái gì bằng thứ tiếng Pháp tuyệt hảo, khiến tôi thấy nhẹ nhõm hẳn. Rất chóng, với một cái gật đầu ra hiệu của Jo, cô nắm lấy bàn tay ướt mồ hôi của tôi và dắt tôi ra khỏi phòng. Cảm thấy còn vị thành niên hơn trước, tôi khiêm nhường bước theo cô lên chiếc cầu thang phủ thảm đỏ, vào một căn phòng ở tầng trên cùng.

Trong thoáng chốc tôi nhìn thấy chiếc giường phủ nhung trang trí lộng lẫy, rộng mênh mông, đáng sợ đang quan sát tôi từ giữa căn phòng.

Cánh cửa lách cách đóng lại sau lưng và tôi quay người nhìn thấy Nguyệt đã tháo bím tóc của mình thành một suối tóc dài đen nhánh. Cô xõa nó quanh vai và làn tóc đen mượt mà tỏa ra một mùi thơm ngọt. Tôi vừa mở miệng định nói gì đó thì cô đã đặt một ngón tay lên môi tôi. Trò chuyện lịch sự đã chấm dứt. Khoảng khắc ngượng ngịu ban đầu mà tôi kinh sợ đã tan biến chỉ vài giây sau khi chiếc ao dai của cô trượt trên làn da lụa xanh xao rơi xuống sàn nhà. Đừng nói đến chạm vào, tôi còn chưa bao giờ được thấy cơ thể trần của phụ nữ, vẻ đẹp của nó khiến tôi nín thở. Mấy ngón tay mảnh dẻ cởi nút áo sơ-mi cho tôi và vuốt ve bộ ngực hãy còn trơn nhẵn của tôi, cặp mắt nâu tươi cười nhìn tôi gọi mời. Nắm lấy tay tôi, Nguyệt đưa tôi lần tới bộ ngực nhỏ tròn của cô, ấn nhẹ những ngón tay tôi theo làn da mềm mại tuyệt hảo. Sau đó, vùng thoát ra, cô quỳ xuống và mơn trớn bụng tôi bằng cặp môi ẩm ướt. Những đầu ngón tay cô nhảy nhót như trêu ghẹo khắp mình tôi và nỗi thèm khát non nớt đột ngột của tôi khiến tôi sửng sốt. Tôi thấy mình như một khán giả bị hất lên ngựa đưa đi, và Nguyệt đã cuốn nỗi ngớ ngẩn của tôi đi bằng sự duyên dáng lão luyện của cô.

danngoc 06-06-2013 14:58

Xuống dưới lầu Claude đón chào tôi như thể vừa trở về sau chuyến đi tới nơi tăm tối nhất của Châu Phi, mặc dù tôi lại vẫn cảm thấy bứt rứt khó chịu như cũ, như một gã trai tơ ngượng ngùng bối rối khi bước vào trong nhà thổ. Nhưng rền vang dưới lớp ngượng nghịu ấy là cả một niềm hãnh diện mới mẻ. Tôi đã là đàn ông. Claude nói đúng. Tôi không thể đi chiến đấu mà còn tân, non tơ, đổ dòng máu trinh trắng và nằm chết dưới chiến hào ở đâu đó.

Thế là tôi phá lên tự cười mình. Tôi không nghĩ rằng mình sẽ ngay lập tức phải ra trận. Nhưng biết đâu đấy…

Bài tập đã thành công, Claude nồng nhiệt chúc mừng tôi và đề nghị uống mừng một chầu whisky pha soda. Tôi từ chối, bởi trong lúc hết sức biết ơn tôi đã tặng cho Nguyệt món tiền boa 10 piastre. Nhưng thuốc phiện ít tốn tiền hơn whisky nên tôi đề nghị thay vào đó thì chuyển sang món khói fumerie. Đã nghe nói nhiều về chuyện hút thuốc phiện và, được khuyến khích bởi vụ thành công trên lầu, tôi cảm thấy một liều phởn phơ hẳn sẽ giúp kết lại buổi chiều đẹp.

Ở xứ Đông Dương việc hút thuốc phiện được những người Châu Âu đánh giá khác nhau từ chic (bảnh) và biết chơi cho đến déclassé (hạ cấp), tùy thuộc họ đã sống ở xứ này bao lâu và chơi bời quan hệ với ai. Việc buôn bán thuốc phiện đã có từ lâu ở Đông Dương, và chiến tranh nha phiến với Trung Hoa là một phần mật thiết trong lịch sử đất nước. Ngay từ những ngày đầu người Pháp tới đây thị trường thuốc phiện đã bị chính quyền nắm lấy độc quyền, ban đầu để buôn bán trong nước và bây giờ thì cung cấp cho các công ty dược phẩm trên khắp Châu Âu. Tôi chưa bao giờ trông thấy cha tôi hút, nhưng tôi đã nghe nhiều về tác dụng tinh thần và khả năng chữa bệnh của thuốc phiện, thậm chí nó rất công dụng khi chữa cảm lạnh và cúm.

Một làn khói thơm ngọt lơ lửng trong không khí dưới ánh sáng mờ mờ trên dãy hành lang sau nhà. Chúng tôi được dẫn vào một trong sáu buồng hút. Cái trần nhà bên trong, ám màu đen xỉn, dường như khơi gợi đến chốn vô biên. Tường màu đỏ sậm với những hình vẽ huyền ảo thếp vàng và các nhân vật Trung Hoa đang cầu chúc lộc thọ và những hình gì nữa mà tôi không biết ý nghĩa. Một dãy tượng nhỏ khác bằng ngà và ngọc thạch ánh lên trong góc phòng. Hai chiếc trường kỷ rộng bằng gỗ, chạm trổ rối rắm và khảm đầy vỏ trai, nằm sát hai bên tường. Căn buồng trống không còn người hút nào khác.

danngoc 06-06-2013 14:59

Chỉ dẫn chúng tôi tháo giày, Jo chìa hai bộ áo sa-tanh vạt dài để mặc hút cho chúng tôi. Có lẽ ta phải cởi sẵn quần áo từ trước, bởi bộ áo dài này là phụ tùng để đạt tới trạng thái nội tâm và tinh thần cần thiết. Lần thứ hai trong buổi chiều hôm ấy tôi mình trần không mặc quần dài và sơ-mi. Trong bộ áo đen viền đỏ, tôi leo lên cái đệm thêu rất đẹp trải trên vạt giường gỗ cứng và ngả đầu xuống chiếc gối tựa bằng da khá bất tiện.

Người phụ nữ lớn tuổi tên là Hồng hồi nãy đón chúng tôi ở cửa trước bây giờ đem đến một cái khay rồi ngồi nửa xếp bằng xuống sàn nhà, một chân gấp lại đỡ dưới thân, chân kia làm trụ giữ thăng bằng. Bà ta châm ngọn đèn dầu, ánh sáng bập bùng nhảy múa trên nét mặt bà và chiếu xuống những gì dưới khay. Tôi dõi nhìn xuống ba dọc tẩu thuốc phiện chạm bạc, mỗi cái dài hơn năm tấc với chiếc bầu sứ nhỏ nằm ở một phần ba chiều dài thân tẩu. Một lọ bằng tre quang sơn dầu, vẽ trang trí rất đẹp, trông như bình mực, bên trong đựng thuốc phiện lỏng cô đặc, cắm một cái kim dài có tay cầm bằng ngà voi. Với những ngón tay thành thạo người đàn bà bắt đầu ngoáy cái kim, ngào trộn một ít nhựa thuốc phiện bên ngọn lửa đèn dầu, vê quện nhúng vào thuốc phiện lỏng cho tới khi quả bóng rít xèo xèo ấy đạt được kích thước cần thiết. Rồi với một lần trộn cuối cùng bà ta khéo léo ấn cục thuốc phiện vào cái lỗ nhỏ trên bầu tẩu, ép nó thành một viên nhỏ và đưa cái tẩu cho Jo để dùng. Tôi chăm chú theo dõi cách Maîtresse de la Maison cầm cái tẩu nghiêng nghiêng trên ngọn lửa đèn dầu. Viên thuốc chầm chậm sủi tăm và bà rít nhanh đôi hơi rất ngọn rồi thở ra, dài và sâu cho đến khi thuốc cháy hết. Mọi chuyện xem chừng không thể đơn giản hơn được nữa.

Người phụ nữ An Nam lớn tuổi làm một ống tẩu khác rồi, sau khi nhẹ kê đầu tẩu vào vị trí gần ngọn lửa, bà đưa nó cho tôi. Tôi thận trọng hút hơi đầu tiên từ cái dọc bằng ngà. Vị thuốc hăng xè lưỡi và khi tôi thử rít hơi thứ hai thì người tôi bất thần ngửa ra. Làn khói nóng sộc vào cổ và họng tôi. Viên thuốc phiện nhỏ bắt lửa và tôi bật ho sặc sụa, há mồm hớp hớp không khí. Trong tình trạng lả cả người tôi lờ mờ nhận ra giọng cười hô hố của Claude và tiếng gạt đi của Jo, bà nhắc tôi rằng chính khoảng ngưng giữa hai hơi rít thuốc đã khiến viên thuốc phiện bắt lửa, rằng tôi không nên ngưng rít lâu quá một giây.

Hồng kiên nhẫn châm chỗ còn lại trên tẩu với thuốc mới và tôi thử làm lần nữa, nhưng lại ho nghẹn và vẫn không thể kéo được cái hơi dài ấy. Tôi cảm thấy chút an ủi khi thấy Claude hút cũng chẳng khá hơn gì, được cổ vũ bởi sự thất bại của anh ta tôi bèn quyết tâm hơn. Nhưng sau một vòng cố gắng chả ra làm sao cả hai chúng tôi đều chào thua – chúng tôi bại trận không còn manh giáp.

Jo mỉm cười nhũn nhặn và vỗ tay gọi Hồng bưng đến khay trà Tàu. Thứ chất lỏng xanh xanh thơm ngát được rót xuống những cái chén sứ xinh xinh, chứa lượng quá khiêm tốn không đủ xoa dịu hai cái cổ họng rát cháy của chúng tôi. Tôi uống cạn mấy chén liền, nuốt luôn bã trà nổi trên mặt chén.

Ngoài trời, cái nóng oi bức buổi chiều không làm đầu tôi tỉnh được thêm và cả Claude cũng im lặng chẳng nói chẳng rằng. Cứ tưởng sẽ nghe tiếng cười hô hố khi tôi gập mình nôn ọe, vậy mà khi quay nhìn lại tôi thấy anh ta đang lảo đảo và rồi, như thể muốn tỏ ra đồng cảm, anh cũng thật lòng nôn tuột xuống thảm cỏ ẩm ướt.

Tôi nán lại thêm với cô Nguyệt ân cần, nhưng ngoài lý do túi tiền có hạn thì suy nghĩ ăn bánh trả tiền không làm tôi thấy thú vị. Tôi đã biết được rằng mình hoàn toàn ổn và và thử thách đã được vượt qua. Tuy nhiên, vụ hút thuốc phiện lại là một kinh nghiệm đáng buồn. Có một điều gì đó thuộc về thế giới bí ẩn đang chờ được khám phá và tôi quyết định sẽ phải thử lại lần nữa. Tuy nhiên, lần sau tôi sẽ tự đi một mình.

danngoc 06-06-2013 15:00

Claude xem trách nhiệm của mình trong việc dạy dỗ tôi là đã hoàn thành. Jo lại ra mặt khi tôi đến lần tới, và nhẹ nhàng mời tôi đến làm khách cho đến khi tôi hút được cho đúng cách. Bà ở lại thêm với tôi một lần nữa và hút liên tục, những đám khói xanh xanh bốc mù mịt xung quanh. Chúng tôi trò chuyện với nhau như bạn vong niên. Bà kể cho tôi là mình đã nghiện thuốc phiện gần hai mươi năm nay, và mỗi ngày để có thể cảm thấy thoải mái và tỉnh táo bà phải hút ba mươi điếu. Những lời bà nói đáng lẽ phải khiến tôi cảnh giác, nhưng tôi hãy còn quá trẻ.

Chiều hôm đó thành công lại một lần nữa vuột khỏi tay tôi. Có lẽ tôi đã ở lại quá lâu và cố gắng quá sức. Trong đêm thanh vắng tôi lảo đảo quay về doanh trại, đầu óc choáng váng còn ruột gan thì lộn nhào. Tôi tự hỏi tại sao mình lại làm như vậy. Liệu có đáng như thế không? Nhưng đến sáng hôm sau, khi đã hoàn toàn hồi phục, tôi tự nhủ rằng chuyện nó phải như vậy.

Đến cuối tuần tôi được chuyển lên Tông và suốt vài tháng liền không thể quay lại Hà Nội. Chỉ còn đủ thời gian cho thêm một lần nữa tới hít fumerie mà thôi. Lần này tôi đã bớt lóng ngóng hơn và rất quyết tâm, và trong bầu không khí mù mịt khói của ổ thuốc phiện quy trình kéo hơi và ho, phun khói phì phì rồi hồi trở lại mà giờ đã thành quen thuộc, cuối cùng cũng đã suôn sẻ.

Đến lần thử thứ hai của tôi thì khá bất ngờ, mọi thứ đã trót lọt. Tôi phun ra những vòng khói tròn và bi thuốc phiện nhè nhẹ sủi bong bóng cho tới khi tan mất hẳn. Dần dần một cảm giác an bình và hoàn toàn hạnh phúc trùm lên tôi như một làn khói thơm êm dịu. Khắp người tôi dãn ra trong trạng thái hoàn toàn mãn nguyện và phòng hút hóa thành cái tổ kén ấm cúng, một chốn trú tránh khỏi phần còn lại của thế giới. Không có những ảo giác, không có sự soi rọi, chỉ là một sự yên bình hơi thoát tục và đầu óc thư thả.

Đó là trọn vẹn những gì mà tôi đã hy vọng sẽ xảy ra.

Khi trời tảng sáng, tôi nói cám ơn Jo vì sự mến khách và kiên nhẫn, và vì đã giúp tôi cuối cùng đạt được mục đích của mình.

“Trong cuộc đời anh cần nhắm tới cao hơn thay vì là chuyện hút thuốc phiện”, bà khẽ đáp. “Tôi chúc anh may mắn trong khóa huấn luyện và anh phải quay lại đây gặp tôi khi đã thành sĩ quan. Tại nhà tôi anh sẽ luôn luôn được đón chào”. Bà ta mỉm cười, một nụ cười ấm áp, bí ẩn.

danngoc 06-06-2013 15:03

Tôi bắt đầu ghê tởm Capitaine (Đại úy) Tomasini. Gã Corsica nhỏ con này trầy trật leo tới cấp ấy mất đến hai mươi năm trời. Chuyện chúng tôi được lên sĩ quan chỉ sau có chín tháng phục vụ khiến gã tức điên. Gã tựa như một phiên bản cùng kích cỡ của Napoleon đang cưỡi ngựa đi trên đầu đoàn quân, và gã kiên quyết bắt chúng tôi phải đổ mồ hôi sôi nước mắt khi thực hành phận sự.

Huấn luyện sĩ quan là vậy đấy. Khắp người tôi đau nhức đến từng đốt xương. Ngày này qua ngày khác chúng tôi phải tập đi tập lại, leo lên leo xuống địa hình đồi dốc, mỗi người kéo theo một con la cứng đầu thồ một bộ phận pháo nặng trịch. Cứ hai tiếng một lần lão Tomasini rống khẩu lệnh bắt chúng tôi dừng lại dỡ hàng trên lưng la xuống, lắp ráp pháo và nạp đạn sẵn sàng bắn, rồi lại rống khẩu lệnh khác tháo rời pháo và chất lên lưng la. Cuối mỗi buổi tập, trăm lần như một, ngài chỉ huy của chúng tôi lại giơ tay xem đồng hồ với điệu bộ thái quá rất kịch, lắc đầu rồi phán “Quá chậm, lũ đần lười chúng mày. Làm tiếp đi”.

Đó là chuỗi ngày dài, quay về khi chiều tối sau mười tiếng đồng hồ hành quân, rồi chăm sóc cho la, cho chúng ăn, cho chúng uống và lấy rơm sạch kỳ cọ cho tới khi lông chúng sạch và khô hẳn. Chỉ sau khi khí tài đã được lau chùi và xếp lại gọn gàng sạch sẽ chúng tôi mới được rảnh tay chăm sóc cho bản thân. Nỗi mệt nhọc đã khiến tôi phải trả giá khi một đêm nọ tôi lê bước lên giường mà vẫn mang theo khẩu súng trường thay vì phải trả nó vào kho. Chuyện này khiến tôi mất hai ngày cuối tuần bị biệt giam trong khối phạt và đây cũng là lần cuối tôi mắc phải sai sót như vậy.

Giờ đây tôi thuộc biên chế Đại đội 2 Trung đoàn số 4 Pháo binh thuộc địa, tiểu đoàn cha tôi từng chỉ huy trước khi thăng lon thiếu tá. Trong suốt một ngày mệt nhoài chỉ có điểm sáng duy nhất là bữa sáng – không phải suất sáng quân đội, mà là bữa sáng ngon lành của già Ma Lee với giá ba đồng rưỡi piastre nếu ta sớm chuồn được khỏi trại để vào phố và trở về kịp điểm danh lúc bảy giờ. Lúc này với lon Đội nhất, lương của tôi tăng đáng kể lên thành 20 piastre một ngày và tôi có thể thoải mái tiêu xài ở chỗ Ma Lee: một tách lớn cà phê nóng hổi với váng sữa tươi và hai chiếc bánh nhỏ giòn tan, vừa ra lò hãy còn nóng hổi và đẫm bơ béo ngậy. Thật là một trời một vực so với suất sáng quân đội chỉ độc món cà phê loãng thếch với một mẩu bánh mì đầu thừa đuôi thẹo.

Tông là một thị trấn nhỏ khiêm tốn vây quanh khu doanh trại quân đội dành cho 5000 quân nhân đóng cách phố phường Hà Nội 60 cây số – đủ gần mỗi khi hữu sự. Ma Lee là một trong số nhiều dân buôn đến sống ở đây để phục vụ nhu cầu của quân đội. Phố xá ở đây cửa hiệu san sát. Mỗi gian lều tre đều có bán rượu trắng và có riêng những cô gái để nhử lũ trai tơ mặc áo lính đến ăn uống. Các cô gái An Nam trông thật mảnh dẻ và tha thướt, duyên dáng và e thẹn lướt bên quán với vẻ bẽn lẽn trong trắng, chỉ có đôi mắt là lúng liếng. Nhưng hiện đang lan tràn bệnh hoa liễu như lời cha tôi đã cảnh báo, và tôi đành chỉ để cho các cô gái ấy quyến rũ mình trong trí tưởng tượng.

Thay vào đó, tôi phát hiện ra một vài cách khác để dân địa phương moi tiền lính. Bài bạc là một thú đam mê của dân An Nam. Thậm chí chuyện mua hoa quả hay đi chợ cũng có thể biến tướng thành đánh may rủi, ngoài cái bàn tính nhiều tay bán hàng còn mang bên người chiếc bát xúc sắc. Tôi cũng thử trò này vài lần, một kiểu được ăn cả ngã về không và gian lận rất dữ chủ yếu bằng cách nhanh tay tráo gạt theo ý người bán hàng. Mặc dù chuyện này khiến việc mua bán thú vị hơn, đây không phải cách hay khi ta muốn mua một nải chuối. Dù còn trẻ, tôi đã bắt đầu cảm nhận được văn hóa của người An Nam và nhận thấy sự say mê bài bạc của họ hình như bắt nguồn từ niềm tin rằng vận may luôn điều khiển số phận của họ. Bài bạc gần như trở thành một tín lễ mỗi khi họ phải quyết định xem làm việc gì, như thế nào.

danngoc 06-06-2013 15:04

Năm 1939 đã sắp kết thúc để bước sang 1940, những bài tập đi đều bước đến phát ốm theo sau đít ngựa của Tomasini thưa đi và thời gian ngồi lớp học tăng dần lên. Khía cạnh kỹ thuật của pháo binh đã mê hoặc tôi bởi toán là môn tủ của tôi, đồng thời có thêm mối quan tâm mới dưới hình thức các buổi học chay về tình hình khu vực, đặc biệt là về thái độ gây hấn của quân đội Nhật.

Nhật Bản xâm lược Mãn Châu năm 1931 và tới năm 1937 đã chiếm đóng một loạt trung tâm quan trọng ở Trung Hoa như Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Nam Kinh. Phải mất nhiều thời gian để tin tức dù là cô đọng nhất lọt về đến được Hà Nội, nhưng giờ đây chúng tôi biết được rằng trong vài tuần tiếp sau sự kiện Nam Kinh thất thủ tháng 12/1937, quân đội Nhật nhúng tay vào một cuộc trả thù dữ dội trên khắp thành phố, hãm hiếp, tra tấn và tàn sát cư dân của nó. Những ai bị xả súng máy bắn chết là được nhận số phận nhẹ nhàng nhất. Những người không may mắn bằng thì bị dùng để tập đâm lê, bị chặt đầu, thiêu sống, bị cắt xẻo hay bị buộc vào lưỡi treo lên trong cơn say sưa tàn bạo. Việc này chỉ kéo dài vài tuần, nhưng trong khoảng thời gian đó hơn 260.000 thường dân Trung Hoa đã phải chết trong kinh hoàng.

Riêng tôi cảm thấy thật khó tin rằng một quân đội chính quy có thể làm những hành động dã man như vậy. Ắt hẳn câu chuyện này đã bị phóng đại. Tôi không thấy lo lắm về những sự kiện xảy ra ở phương bắc. Nhật Bản đang có chiến tranh với Trung Hoa, họ có thể muốn gì từ chúng tôi?

Trong lớp học tôi được biết tình hình đang diễn biến nhanh như thế nào, rằng từ khi chiến tranh nổ ra ở Châu Âu, Nhật đã ngày càng nhúng sâu vào, rằng giờ đây Đông Dương đang trong tình thế khó khăn. Mặc dù đã tuyên bố trung lập ngay từ khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, chính quyền Pháp đã cho phép hàng hóa, phần lớn là viện trợ của Hoa Kỳ, được đi theo tuyến đường sắt Vân Nam ngang qua Bắc Kỳ để chở tới cho quân đội quốc gia của Tưởng Giới Thạch chiến đấu tại Trung Hoa. Nhật Bản vận động hành lang rất mạnh ở Hà Nội nhưng không thể đóng cửa được tuyến đường sắt này, và gần đây họ đã ném bom khu vực biên giới Bắc Kỳ của tuyến đường sắt Vân Nam, phá hủy đường ray và gây thương vong trong số công nhân đường sắt.

Cũng như nhiều người lính cùng tuổi tôi ở đây, tôi mong muốn ở lại Đông Dương làm lính hậu bị để được chở tới chiến trường Châu Âu khi có yêu cầu. Nhưng do căng thẳng leo thang ở khu vực của chúng tôi, chúng tôi phải ở lại Đông Dương trong khi ở Châu Âu Pháp đang oằn mình dưới sức nặng cuộc tấn công tàn bạo của quân Đức. Tương lai của nước Pháp ngày thêm ảm đạm mỗi khi chúng tôi nghe được thêm tin gì mới, dù cho tới nay tin tức vẫn rất hiếm hoi. Nhật báo từ Hà Nội không cách gì đến được các thị trấn tỉnh lẻ, còn đài radio là một thiết bị cồng kềnh đầy bóng đèn mà chỉ một vài gia đình giàu có mới mua nổi. Rồi đến tháng 3/1940, khi tình hình tại chính khu vực của chúng tôi nóng dần lên, Sở chỉ huy gửi từ Hà Nội một sĩ quan thông tin trẻ mỗi tuần ghé ở lại Tông đôi chút. Nhiệm vụ của anh ta là báo lại tất cả những sự kiện mới nhất, điểm thêm những nhấn nhá tuyên truyền thôi thúc tình cảm ái quốc.

Cũng trong tháng đó một ủy ban Nhật Bản đã tới Hà Nội để chuyển cho viên Toàn quyền, Tướng Georges Catroux, bản phản đối tuyến tiếp vận cho Trung Hoa đi qua Bắc Kỳ - gây nên ảnh hưởng tai hại. Không bên nào đưa ra được giải pháp và Nhật đáp trả bằng những trận không kích quyết liệt khác, thả bom “không cố ý” vào địa phận Đông Dương trên tuyến biên giới. Catroux ra lệnh cho các đơn vị phòng không Pháp ở khu vực biên giới triển khai vào vị trí chiến đấu và tới tháng 4 quân Nhật trả đũa bằng cách ném bom dữ dội tuyến đường sắt. Các tướng Nhật đóng tại Nam Trung Hoa khua gươm leng keng và khởi động một chiến dịch tuyên truyền hùng hổ chống Pháp.

danngoc 06-06-2013 15:06

Chính phủ Pháp đang ở trong thế thất lợi. Lực lượng quân sự của họ tại Đông Dương chưa sẵn sàng để tham chiến. Đúng là có sẵn sàng để đối phó với các nổi loạn nhỏ lẻ ở địa phương, nhưng không đủ trang bị để phòng thủ đất nước chống lại quân Nhật. Khi Nhật Bản ép sức mạnh quân sự của mình lên biên giới phía bắc xứ Bắc Kỳ, Toàn quyền Catroux chẳng có mấy quân bài trong tay. Không quân Đông Dương thực sự là không tồn tại. Trên khắp đất nước kể cả lính garde indigène – sắc lính An Nam mang tính bảo an gendarmerie hơn là lực lượng chiến đấu – chỉ có 50.000 người có vũ trang. Khoảng nửa số đó là lính văn phòng, hậu cần, và chưa tới 11.000 là người Pháp. Catroux ước tính rằng quân nhu và đạn dược chỉ đủ cho không nhiều hơn một tháng giao tranh. Hy vọng duy nhất của ông là dùng dình kéo dài thời gian và cầu xin giúp đỡ từ Anh và Hoa Kỳ.

Trong một cuộc gặp riêng với Tư lệnh Hạm đội Viễn Đông Vương quốc Anh ở Sài Gòn, Catroux được cho hay người Anh không thể hỗ trợ quân sự bởi họ không có đủ để dùng. Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ nói với Catroux rằng Hoa Kỳ sẽ không tuyên chiến với Nhật Bản trong trường hợp Đông Dương bị tấn công, nhưng sẽ tán thành một ủy ban thu mua trang thiết bị quân sự giống như đối với bất kỳ quốc gia thân cận nào. Toàn quyền Catroux gấp rút gửi đi một ủy ban như vậy.

Và rồi, ngày 18/6/1940, sau bốn ngày trời không có tin tức gì từ chính phủ Pháp ở Paris, Đông Dương nhận được tin rằng nước Pháp đã phải đình chiến với Đức. Xứ Đông Dương thuộc Pháp choáng váng. Đột nhiên vùng đất vốn bị giữ phụ thuộc cả về quân sự lẫn kinh tế với nước Pháp nay bị cắt rời khỏi chính phủ của mình ở bên kia địa cầu.

Việc lực lượng yếu ớt của Đông Dương đã bị bỏ mặc đối phó với Nhật Bản được tiếp nhận một cách hoảng hốt và thiếu tin tưởng. Ở nhà, thái độ của cha tôi từ chỗ miễn cưỡng chấp nhận những gì đã xảy ra mau chóng biến thành giận dữ và nhục nhã. Còn với những người thuộc cộng đồng Pháp đã tự cho phép mình kiếm bộn nhờ dựa vào chức vụ, câu chuyện về các tội ác của Nhật ở Nam Kinh và những nơi khác giờ đây trở thành nỗi ám ảnh.

Một ngày sau khi có tin về cuộc đình chiến tại Pháp, người Nhật đưa ra tối hậu thư cho Catroux. Với việc quân Nhật đang đe dọa tại biên giới, ngài Toàn quyền chỉ có hai mươi bốn tiếng để chấp nhận các yêu cầu. Catroux nhận thấy mình chẳng có mấy lựa chọn. Không còn hy vọng được giúp đỡ từ bên ngoài, lực lượng bên trong thì yếu ớt và trang bị kém, ông đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc vận chuyển hàng hóa cho Trung Hoa. Hy vọng việc nhượng bộ này sẽ xoa dịu người Nhật và vẫn còn muốn kéo dài thời gian, ông thẳng thừng từ chối điều nước Nhật thực sự muốn: mở rộng đường cho quân Nhật đi qua Đông Dương, cũng như cho phép sử dụng các sân bay của Pháp tại thuộc địa. Nếu không có gì xảy ra, ông hy vọng có thể trang bị cho lực lượng của mình bằng khí tài mua từ Hoa Kỳ và sẽ sẵn sàng nghênh chiến vào tháng 10.

Catroux đang trong một tình thế dễ gây ác cảm bất kể việc ông có biết được kế hoạch chiến lược tổng thể của Nhật hay không. Sẽ không ai chấp nhận nếu ông nói “không”: người Pháp hiện đang nắm giữ cửa ngõ dẫn đến mọi nguồn lực mà Nhật Bản thèm muốn. Về mặt địa lý, mở con đường xuyên qua Đông Dương là chuyện sống còn nếu Nhật muốn xâm chiếm Đông Nam Á. Từ Đông Dương Nhật có thể tấn công Miến Điện, Mã Lai, Singapore, thuộc địa Đông Ấn của Hà Lan và quần đảo Philippine. Paris đã nằm trong tay kẻ thù và Nhật Bản giờ đây ý thức rất rõ nước Pháp đang yếu đến mức độ nào.

Trong khi mặt trời còn đang chiếu êm ả trên vùng đất Đông Dương thuộc Pháp thì tôi phải ngồi làm bài tốt nghiệp. Đấy là một thứ công chuyện rỗng tuếch, và các ngài sĩ quan cao cấp ở Hà Nội ngực đầy huân chương trịnh trọng đến để thi hành bổn phận. Chỉ khoảng tám người trong số chúng tôi thi đậu, và chúng tôi nhận nhiệm sở tương ứng với kết quả thi. Tôi phải trong vòng ba mươi sáu tiếng đến nhận nhiệm vụ tại Đại đội pháo 155mm ở Lạng Sơn, đông bắc Hà Nội, gần biên giới Trung Hoa.

danngoc 06-06-2013 15:07

Chiếc nòng thép dài sáu mét sáu, chĩa họng về phía biên giới Trung Hoa. Tôi bước quanh khẩu pháo hải quân khổng lồ, sờ mó nó, vuốt ve nó, cưỡng lại cảm giác thôi thúc muốn nghịch ngợm bộ quy lát. Chúng tôi có cả thảy bốn khẩu pháo ấn tượng như vậy, và tôi chịu trách nhiệm về hai khẩu trong số này. Các khẩu pháo được thiết kế bắn xa và chính xác với tầm bắn tới 32 cây số. Tôi không thể cưỡng lại ấn tượng về chúng. Vốn là những khẩu pháo đặt tại cảng Hải Phòng để phòng ngừa bị tấn công đường biển, giờ đây chúng được chở bằng đường sắt tới chỗ ụ ngụy trang này, cách rất xa so với ụ phòng thủ bờ biển được thiết kế cho chúng.

Ban đầu tôi rất bất ngờ vì được phân công phụ trách trung đội 2 của đại đội. Tôi mới là lính dự bị, mười tám tuổi và vừa tốt nghiệp sĩ quan, vậy mà phải tự mình bố trí và quản lý hai khẩu đại pháo, tiếp nhận, tích trữ và bảo quản đạn dược, và cuối cùng là bắn chúng. Nhưng tôi không được huấn luyện theo tình huống phòng thủ tuyệt vọng đã đẩy tôi đến chỗ phải nhận trọng trách này.

Tôi không tin lắm về việc bọn Nhật sẽ tấn công chúng tôi. Tuy nhiên tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ được giao, hoàn thành ụ đất công sự bảo vệ quanh pháo và đào xong kho đạn ở sườn phía nam của quả đồi bên cạnh vị trí của tôi, cất trữ an toàn một ngàn quả đạn pháo và liều phóng đặt trong thùng chứa tỵ khí của hải quân. Tôi chọn ra vài chốt quan trắc tại những điểm cao nhất nhìn xuống khu đồi dân cư thưa thớt gần biên giới Trung Hoa, nơi chỉ có vài nông dân đang trồng lúa trên những đồng lúa trống trải. Mỗi chốt đều có tầm nhìn bao quát ra khu vực biên giới thuộc phạm vi hỏa lực của những khẩu pháo của chúng tôi. Tôi thấy hứng thú với tất cả những khía cạnh của khoa học này. Bằng phép tam giác đạc tôi tính tọa độ của những mốc cơ bản như cầu cống và giao lộ, từ đó lập ra một biểu đồ để có thể bắn trực tiếp trong vòng vài giây mà không mất thời gian canh chỉnh. Sau khi bắn vài phát hiệu chỉnh vào khu đất không người, thế là tôi đã sẵn sàng.

danngoc 06-06-2013 15:08

Lạng Sơn là một kiểu thị xã thưa thớt rợp bóng cây nằm trên một cao nguyên xanh vây quanh bởi đồi núi trùng điệp. Tuyến đường sắt đi qua thị xã tới Đồng Đăng và “Hữu Nghị Quan” để vào Trung Hoa. Do chính quyền Pháp đã ngưng việc chuyên chở chính thức vũ khí cho người Trung Hoa, Lạng Sơn giờ trở thành sào huyệt kiếm chác của những kẻ dính dáng đến chuyện buôn vũ khí. Cùng với dòng binh lính mới đổ đến gần đây, các quán bar thường lệ và sòng sóc đĩa trong thị xã lố nhố những nhân vật đầy ám muội: dân đầu cơ người Đức, những gã người Mỹ vẻ ngoài đáng ngờ và lũ côn đồ quốc tế nói chung, tất cả chen chúc tìm cách thu hút sự chú ý của các phái viên chính phủ Trung Hoa.

Tôi thì ưa cái không khí sống động, mịt mù khói thuốc của Câu lạc bộ Sĩ quan hơn. Sau giờ đóng cửa Gaston thường ra với tôi, xách theo một chai Pernod với glacé pilée (đá bào) cho tôi và một cốc nước chanh tươi cho mình.

Gaston có rất nhiều bạn bè ngoài thị xã. Vào dịp cuối tuần chúng tôi thường cuốc bộ tới những ngôi làng xung quanh nơi có năm mươi, đôi khi cả trăm người lặng lẽ sống kiểu tự cung tự cấp. Trong nhà các bạn cậu ấy tôi được hưởng cái thú hòa vào với sự mến khách hòa nhã của người Việt, mặc dù tôi chẳng hiểu mấy họ nói gì. Gaston luôn giải thích cho tôi về những chuyện xảy ra trong làng trên đường về doanh trại.

Gaston rất thích chơi với Poupette, con khỉ của tôi, và cậu ta là một trong số ít người ở Lạng Sơn mà nó thoải mái chơi cùng. Mặc dù có khuynh hướng tinh nghịch thái quá ngoài trời nhưng nó là một con vật cư xử hòa nhã, lịch sự và hiếm khi làm điều hổ thẹn trong các nhà mà chúng tôi đến làm khách. Khuyết điểm của nó là thích nghịch các dải giấy điều viết những lời chúc may mắn bằng chữ Hán mạ vàng trang hoàng trên một số ngôi nhà – dù nó biết tôi hoàn toàn không tán thành việc nó quấn mớ giấy ấy vào người. Lũ gà vịt đi rong ngoài phố cũng là một cám dỗ nghịch ngợm khác, và tôi phải thường xuyên mắng nó hay lôi nó khỏi cái trò chơi không công bằng ấy để quay về chỗ của nó trên vai tôi.

Cũng có những chuyến chơi khuya để khám phá các ngọn đồi phía trên thị xã, khi ấy Poupette có thể thoải mái chạy chơi, sục vào các hang hốc đá vôi lởm chởm uy nghiêm, còn Gaston và tôi phá lên cười trong khi đuổi theo nó trên những lối mòn chật chội khúc khuỷu không theo quy tắc nào và có vẻ như cũng chẳng dẫn tới đâu. Nó thích thú với mọi thứ, dáng bò hấp tấp của con thằn lằn, cú vỗ cánh xáo động của con chim bốc lên từ lòng đất, mùi và thậm chí cả vị của những bông hoa. Tất cả đều hạnh phúc vào buổi chiều tối, giống như ba chúng tôi, cùng lắm chuyện và hay pha trò.

Tại doanh trại ở Lạng Sơn tôi có chỗ ở của riêng mình và Poupette cũng tán thành chuyện này, bởi đông người hay khiến nó hoảng hốt. Trong phòng riêng của chúng tôi nó có thể thư giãn, nằm ườn trên lưng tựa chiếc ghế bành mà mỗi khi tôi ngồi xuống, nó lại ung dung ra vạch vẹo và chải tóc cho tôi.

Tôi còn trẻ, ngây thơ và hưởng thụ cuộc đời quân ngũ theo cách lặng lẽ của riêng mình. Tôi đã không lưu tâm thích đáng đến hậu quả của những gì đang diễn ra quanh mình, cả tại Phủ Toàn quyền ở Hà Nội lẫn trong hành lang của chính phủ Vichy trên nước Pháp đang bị quân Đức chiếm đóng. Đã từng nếm trải mùi vị cuộc đời lính trơn, tôi hiểu mọi thứ đối với tôi đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn chỉ trong thời gian ngắn sau khi tôi tốt nghiệp, và tôi lặng lẽ hài lòng với việc trở thành một sĩ quan quân đội đủ lông đủ cánh. Tôi không nhận ra rằng tất cả vẫn chưa bắt đầu đối với tôi, cũng không biết rằng cuộc đời này tàn nhẫn và thô bạo đến dường nào.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:19.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.