![]() |
ANH EM NHÀ HIMMLER, Lịch sử một gia đình Đức
“Bố là phi thuyền cho em bay vào tương lai...”
Những mong muốn tốt đẹp thường lan tỏa đi thật xa. Mong muốn tốt đẹp của Khrushev lan tới tận bài hát cuối thế kỷ 20 của nhạc sĩ Thập Nhất. Một số mong muốn tốt đẹp lại dẫn đến hậu quả vô cùng tàn khốc. Xuất phát từ những mong muốn tốt đẹp, Stalin quyết định thủ tiêu tầng lớp trung-phú nông, âm hưởng của nó lan tỏa tới tận rìa Châu Á cho đến năm 1955. Xuất phát từ những mong muốn tốt đẹp, Lenin tìm cách thủ tiêu tầng lớp trí thức tiểu tư sản, âm hưởng của nó lan tỏa tới tận rìa Châu Á cho đến năm 1956. Xuất phát từ những mong muốn tốt đẹp, Hitler và Himmler đã tiến hành thủ tiêu hàng loạt người Do Thái Châu Âu cùng nhiều dân tộc khác, âm hưởng của nó lan tỏa tới tận rìa Châu Á đến cuối những năm 1970. Để biến những mong muốn tốt đẹp của mình thành hiện thực, họ đã tiến hành hủy diệt sự đa dạng của cuộc sống. “...Trong một triệu căn nhà gỗ ở Nga, sẽ không có và không bao giờ có được hai căn nhà giống hệt nhau. Hết thảy sự sống - đều độc đáo và duy nhất, cũng như không thể có sự giống nhau tuyệt đối giữa hai con người hay hai bụi tầm xuân … Nếu tìm cách xóa bỏ nét đặc sắc và đa dạng của cuộc sống bằng bạo lực thì chính bản thân cuộc sống sẽ lụi tàn. ..... ... Những tổ chức liên kết của loài người, ý nghĩa của chúng chỉ nhằm vào một mục đích chính yếu - giành lại cho con người quyền được khác biệt nhau, được độc đáo theo cách của mình, được cảm nhận, suy nghĩ và sống trên đời theo một cách riêng biệt. Để hoặc là giành được cái quyền ấy, hoặc là bảo vệ nó, hoặc là phát triển nó lên, người ta phải liên kết lại với nhau. Và thế là nảy sinh một thứ thành kiến khủng khiếp nhưng vô cùng mạnh mẽ, theo đó cho rằng những tổ chức liên kết kia tiến hành nhân danh chủng tộc, nhân danh Chúa, nhân danh Đảng, nhân danh quốc gia, và đấy là ý nghĩa của cuộc sống, bất chấp phương pháp thực hiện. Không, không và không! Trong con người, trong những cá tính đơn giản của anh ta, trong quyền của anh ta được có cá tính ấy – tồn tại cái ý nghĩa duy nhất, chân chính và vĩnh cửu của cuộc chiến đấu vì cuộc sống.” (Cuộc đời và Số phận, Vasily Grossman) Học thuyết Darwin nói về đấu tranh sinh tồn để chọn lọc ra những cá thể của giống loài có khả năng tồn tại cao nhất, nhưng cuộc chiến sinh tồn ấy cũng nhằm mục đích giữ được sự đa dạng sinh học của giống loài, nhằm trước mỗi thay đổi của điều kiện môi trường giống loài ấy luôn có được các cá thể có khả năng thích nghi tốt nhất với điều kiện mới. Tiêu diệt sự đa dạng của cuộc sống cũng đồng nghĩa với hủy diệt cuộc sống. Trong thực tế, các quy luật của sự sống là khách quan, nằm ngoài tính toán chủ quan của con người. Quy luật của sự sống khiến con ong thợ, khi đàn ong bị bắt mất ong chúa, đã được các ong thợ khác cho uống sữa ong chúa để bắt đầu đẻ ấu trùng ong non. Quy luật của sự sống cũng khiến con gấu trắng mẹ khi không thể tìm được thức ăn quay về xé xác con gấu con mình. Những cố gắng của con người khi phớt lờ quy luật khách quan của sự sống đều thất bại và phải trả giá đắt. Những mong muốn tốt đẹp, khi lấy điểm tựa là lòng căm thù, sự kiêu ngạo và vô nhân tính, sẽ dẫn con người tới cái ác tột độ. Cuốn sách sau đây nhắc nhở chúng ta về điều này. |
ANH EM NHÀ HIMMLER
Lịch sử một gia đình Đức Katrin Himmler “Một công việc đầy dũng cảm” – David Cesarani, Literary Review “Nỗi khó chịu tăng dần khi đọc cuốn sách của bà phần nào do ta từng bước biết được lý lịch trung lưu bình thường đến không ngờ của ba người con trai của một vị hiệu trưởng tỉnh lẻ khá phô trương và thấy được làm thế nào, cho đến tận lúc kết cục cuối cùng, hầu như ông ta vẫn có thể tự thuyết phục mình rằng mọi chuyện không phải như đã xảy ra trong thực tế” Sunday Times “Ta có được một cảm nhận sống động về loại hình đặc trưng của chủ nghĩa bảo thủ Đức – vừa Thiên Chúa giáo La Mã, vừa bảo hoàng – và thấy được một cách kỳ lạ làm cách nào mà nó tìm thấy lối thoát trong cái lối khát máu mới nổi, có phần nào tà giáo của chủ nghĩa Quốc xã” Independent “Đây là một so sánh song song giữa cuộc sống đời thường với sự gớm ghiếc, giữa sự thương yêu trìu mến với lòng căm thù, khiến cho câu chuyện có một độ éo le rất đặc biệt” Mail on Sunday “Ta chỉ còn biết khâm phục sự dũng cảm của bà... Theo một cách nào đó, cuốn sách của Katrin Himmler không phải là câu chuyện về quá khứ mà là về hiện tại. Các chi tiết mà bà tự tìm thấy chính là những điều thú vị nhất” Daily Telegraph |
Katrin Himmler là cháu họ của Heinrich Himmler, người đứng đầu SS, Gestapo và là kẻ cầm đầu việc tổ chức tàn sát hàng loạt người Do Thái. Bà sinh năm 1967.
Dịch từ bản tiếng Anh 2008 của NXB PAN BOOKS |
Viết cho con trai tôi
|
“Nếu chúng ta ở vị trí của họ, có lẽ chúng ta cũng sẽ làm như vậy”
Tzvetan Todorov “Về sự đa dạng của con người” |
Lời nói đầu: Những chuyện cũ
Khi mười lăm tuổi, một trong những bạn cùng lớp bất ngờ hỏi tôi trong giờ học môn sử rằng tôi có liên quan gì tới “nhà Himmler”. Tôi lúng búng đáp rằng “Có”. Một sự im lặng chết người trong phòng học. Mọi người thật căng thẳng và cảnh giác. Nhưng rồi cô giáo hoảng sợ và tiếp tục dạy như thể không có chuyện gì xảy ra. Cô đã bỏ qua cơ hội cho phép chúng tôi tìm hiểu liệu có mối liên hệ nào đó, nếu có, vẫn còn nối giữa thế hệ trẻ chúng tôi với “những chuyện cũ” đó. Đó là câu hỏi mà chính tôi đã né tránh suốt một thời gian dài. Tôi có biết rằng Heinrich Himmler là ông họ của mình. Tôi có biết về “tên sát nhân kinh khủng nhất thế kỷ”, kẻ đã ra lệnh tiêu diệt người Do Thái Châu Âu và giết hại hàng triệu người khác. Cha mẹ tôi ngay từ rất sớm đã đưa tôi đọc những cuốn sách về thời kỳ Quốc xã. Vừa run rẩy vừa khóc, tôi đọc về cuộc nổi dậy thất bại của người dân khu ghetto Warsaw, về hồi ức của những người chạy nạn và cố gắng để sinh tồn của các trẻ em được che giấu ẩn nấp. Tôi nhập mình vào với những nạn nhân, cảm thấy xấu hổ với tên họ của mình và thường cảm thấy mình có tội theo một cách không thể cắt nghĩa được nhưng rất đau đớn. Sau này, khi theo học ngành chính trị học, lịch sử nước Đức là môn học chính đối với tôi. Nhưng đồng thời tôi luôn né tránh nhìn lại lịch sử của chính gia đình mình. Động lực thúc đẩy tôi làm vậy chỉ xuất hiện về sau này, và có phần tình cờ nhiều hơn. Cha tôi bảo tôi lục trong Kho Lưu trữ Liên bang ở Berlin để tìm hồ sơ về ông tôi. Cho tới trước lúc ấy ông nội tôi Ernst, người tôi không hề biết mặt, đối với tôi vẫn đơn giản chỉ là em út của Heinrich Himmler, một chuyên gia về công nghệ, kỹ sư, giữ chức Kỹ sư Trưởng của Công ty Truyền thông Đế chế tại Berlin – một con người khá phi chính trị theo lời kể từ mọi người. Cho tới khi ấy chẳng có điều gì về ông có thể khiến tôi thấy tò mò thắc mắc. |
Ngay từ lần xem kỹ đầu tiên các tài liệu tôi đã có một phát hiện đáng lo rằng hầu hết những chuyện mình nghe gia đình kể về ông đều không khớp với những gì chứa trong tập hồ sơ mỏng này. Hóa ra ngay từ rất sớm Ernst Himmler đã là một người Quốc xã kiên định, và để đáp lại sự hỗ trợ sự nghiệp từ người anh ruột, Thống lĩnh SS Heinrich, đã thực hiện những nhiệm vụ đáng ngờ cho anh mình. Tôi cũng dần dần phát hiện ra Gebhard, người lớn nhất trong ba anh em trai, là một người hãnh tiến đầy tham vọng và là Đảng viên Quốc xã kiên định ngay từ những ngày đầu lập Đảng. Năm 1923 ông tham gia vụ Hitler Putsch, hay còn gọi là Biến cố Quán Bia, cùng với em trai Heinrich; sau này ông thăng tiến nhanh trở thành Vụ trưởng Bộ Giáo dục Đế chế. Tôi buộc phải kết luận rằng cả hai anh em đều đã tình nguyện cống hiến chuyên môn của mình với cùng chung niềm tin vững chắc như Heinrich và những người bà con khác, cũng giống như nhiều đồng nghiệp và hàng xóm.
Điều này cũng đúng với cha mẹ của ba anh em. Trước năm 1933 Gebhard Himmler Cha, hiệu trưởng một trường cấp hai, cùng với bà vợ Anna đã đầy nghi ngờ và chê trách người con thứ của mình, xem Heinrich là thiếu tham vọng. Tuy nhiên về sau, theo như các lá thư họ gửi cho Heinrich, họ đã trở thành những người Quốc xã nhiệt thành. Họ cũng thích thú với những ưu đãi và lợi lộc mà Heinrich có thể kiếm được cho họ nhờ địa vị của mình tại trung tâm quyền lực của Đệ tam Đế chế. Trong mấy năm tiếp sau tôi chủ yếu tập trung vào nhiều chuyện khác hơn là về lịch sử gia đình mình. Đồng thời tôi bị thu hút bởi những đất nước như Ba Lan hay Istrael, với lịch sử vốn có mối liên hệ gần gũi và đầy bi thảm đối với lịch sử nước Đức và cả với lịch sử gia đình của chính tôi. Ba Lan không chỉ là đất nước mà Heinrich Himmler đã tổ chức chiến dịch không khoan nhượng của Quốc xã để hủy diệt người Do Thái và người Slav “dưới người” (1). Năm 1939 người anh cả Gebhard đã tham dự cuộc xâm lược Ba Lan với vai trò một đại đội trưởng, điều mà sau này khi chiến tranh kết thúc đã lâu vẫn được ông ta mô tả là một chuyến phiêu lưu “táo bạo” thực hiện “với tốc độ chóng mặt”. Anh vợ của Gebhard là Richard Wendler từng làm Thủ hiến Cracow vào thời gian người Do Thái trong thành phố bị trục xuất. Và Warthegau, tên mà người Đức dùng để gọi phần đất Ba Lan bị sáp nhập vào lãnh thổ Đế chế tháng 10 năm 1939, cũng là nơi bà nội tôi cùng các con đã chuyển đến sống sau khi sơ tán khỏi Berlin thời chiến, tại một điền trang mà vị chủ cũ người Ba Lan trước đó đã bị đuổi đi. Tôi tiếp tục dò theo những dấu vết về gia đình mình. Nhưng dường như tội ác ghê gớm của Heinrich Himmler lại khiến con cái các anh em của ông ta miễn tội thoải mái cho cha của họ, mặc dù trong lòng vẫn mang nỗi sợ hãi mập mờ nhưng dai dẳng rằng sự liên can của cha họ có lẽ nhiều hơn nhiều so với những gì họ vẫn nghĩ. (1) Untermensch: Khái niệm Quốc xã dùng để chỉ những dân tộc thấp kém, đặc biệt là các dân tộc ở phía Đông, gồm có người Do Thái, người Digan, các dân tộc Slav như Ba Lan, Serb, Nga, Belorussia và một phần người Ukraina. - Wikipedia |
Tôi cũng chịu cùng những nỗi sợ đó. Nhưng, mặc dù nghe có vẻ khó tin, phải mất tròn năm năm sau khi bắt đầu tiến hành nghiên cứu tôi mới dám đọc đến những tài liệu giấy tờ, chứng chỉ, thư từ và sổ ghi chép quan trọng cất trong căn nhà của cha mẹ tôi. Tôi biết rằng, trong gia đình Himmler mọi mẩu giấy viết tay, từ hóa đơn tiền điện cho tới bản nháp thư từ hay giấy tờ tùy thân và ảnh chụp đều vẫn còn được lưu giữ miễn có điều kiện cho phép, nhưng cho tới lúc đó tôi chưa khi nào chủ ý dò hỏi hay lục lọi đến chúng. Có một cặp tài liệu mà trong đó bà nội tôi, người tôi biết tính ý và rất kính trọng, cất giữ khá nhiều thứ. Khi biết được khá muộn mằn về việc một thời gian dài sau 1945 bà vẫn là thành viên của một mạng lưới cựu Đảng viên Quốc xã nhằm hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, tôi đã cảm thấy vô cùng đau đớn.
Khi ta tiến hành nghiên cứu lịch sử gia đình của bản thân mình, rất khó để vượt qua những khoảng trắng thông tin và các vùng cấm tọc mạch do người nhà xác định đối với một chủ đề nào đó. Đó luôn là một quá trình đau đớn, và ta thường xuyên phải chịu hành hạ bởi nỗi sợ về những gì ta có thể sẽ phải đánh mất. Tôi phải mất ba năm để lần đầu tiên tìm thấy tài liệu về ông nội mình trong hồ sơ lưu trữ trước khi đi đến chấp nhận rằng tôi sẽ phải xem lại toàn bộ lịch sử gia đình mình cho tới từng tiểu tiết. Cùng lúc ấy tôi cũng sinh được một bé trai, người sẽ phải mang gánh nặng không chỉ kế thừa từ gia đình bên ngoại: cha của bé thuộc một gia đình Do Thái từng bị ngược đãi bởi đám tay chân của ông họ tôi Heinrich và những thành viên gia đình anh ấy cho đến ngày nay vẫn còn mang nỗi đau vô hạn vì nhiều người thân đã bị giết hại. Tôi thấy rõ rằng mình phải để lại cho con một lịch sử gia đình không bị vướng mắc mãi vào những huyền thoại hiện thời trong gia đình. Ý định trên dẫn đến một cuốn sách là nhờ tác động của nhiều người đã đóng góp vào đó. Tôi muốn cám ơn tất cả những người này. |
Chính cha tôi là người đã tạo động lực đầu tiên cho nghiên cứu của tôi. Giáo sư Wolff-Dieter Narr và nhóm seminar nghiên cứu “Thế hệ cháu chắt của các Đảng viên Quốc gia Xã hội tích cực” tại Đại học Tự do Berlin đã biến nó thành một dự án nghiên cứu cụ thể. Tôi cũng muốn cám ơn tất cả các thành viên gia đình tôi đã cung cấp tài liệu theo yêu cầu của tôi và đã kiên nhẫn chịu đựng những buổi phỏng vấn liên tục của tôi.
Các nghiên cứu bao quát của tôi được hỗ trợ bởi nhân viên của rất nhiều cơ quan. Tôi đặc biệt muốn cám ơn Herr Pickro của Lưu trữ Liên bang tại Koblenz, người đã giúp đỡ vô cùng nhiều và luôn sẵn sàng dành thời gian cho tôi. Tôi cũng nhận sự giúp đỡ của nhiều người làm trong Lưu trữ Liên bang tại Berlin-Lichterfelde, Lưu trữ của Đại học Kỹ thuật ở Munich, Tổng cục lưu trữ Quốc gia ở Düsseldorf, Lưu trữ địa phương của Berlin và tổ chức Kontakte (Các quan hệ) ở Berlin. Tôi đặc biệt mang nợ Michael Wildt của Viện Nghiên cứu Xã hội tại Hamburg. Ông là chuyên gia sử học đầu tiên đã đọc bản thảo nháp. Công việc của tôi không thể tiếp tục được nếu thiếu sự khích lệ, chỉ dẫn và hỗ trợ thực tế của ông. Heinz Höhne đã cung cấp tài liệu từ kho lưu trữ cá nhân của mình theo yêu cầu của tôi; Anne Prior đã rộng lượng cung cấp cho tôi thông tin về chi Dinslaken của dòng họ tôi. Andreas Sander và Peter Witte thuộc Stiftung Topographie des Terrors (Quỹ Định vị địa điểm Khủng bố) đã giúp tôi những thông tin quan trọng. Tôi muốn trao lời cảm ơn đặc biệt của mình cho Ingke Brodersen, người không chỉ tìm ra một nhà xuất bản chịu nhận bản thảo của tôi mà còn biên tập nó thật sắc sảo và sát cánh cùng nó trong suốt quá trình thực hiện. Cô đã luôn sẵn sàng vì tôi; được làm việc chung với cô thật là một may mắn xét dưới mọi góc độ. Chồng tôi đã giúp tôi qua vô số lần thảo luận; ngay từ lúc đầu anh và cha mẹ chồng tôi đều đã khuyến khích tôi viết cuốn sách này. Các bạn bè đã lắng nghe kiên nhẫn, cùng thảo luận về chủ đề, đọc những phần bản thảo và giúp tôi trong những chuyến đi lại tìm hiểu. Cuối cùng, tôi muốn cám ơn cha mẹ tôi, những người đã ủng hộ và giúp đỡ tôi gánh vác công việc suốt tất cả những năm qua. Không có họ cuốn sách này sẽ không bao giờ được viết ra. |
Trong Trailer cho phim "TT A.Linh côn: Thợ săn Ma cà rồng" có câu: Sự thật thường được thi nhau chôn giấu, còn Sự dối trá lại trở thành Lịch sử.
Nhưng những Sự thật - dù muộn màng - vẫn luôn làm nên Lịch sử của Lịch sử. Lót dép chờ nghe một phần sự thật của Lịch sử qua công sức bác Danngoc! |
Trích:
Tôi cũng không hy vọng có nhiều người đọc topic này, vì nhiều lý do. Cuộc đời có vay có trả, gieo gió gặt bão. Hôm trước có bác nào post lên bài báo của một ông nhà văn không mấy tiếng tăm sang Nga chơi với hội nhà văn bên ấy, kể chuyện được nghe một người bản xứ than thở việc mấy triệu tuần lễ lao động thứ 7 CS bị tư hữu hóa trắng trợn. Nhưng xét đi không xét lại, ngày xưa biết bao tài sản của nhiều người lương thiện và của nhà thờ Chính thống bị quốc hữu hóa thì ông nhà văn của ta không hề nhắc đến. Có vay có trả nhưng ông ta cố tình lờ đi. Ai cũng nhắc đến việc đừng bắn súng vào quá khứ, nhưng .... Thôi, tôi tiếp chuyện của Katrin nhé. |
1 Tôi không bao giờ được gọi “Ông ơi” với ông: Cuộc điện thoại Ernst Himmler đã mất từ rất lâu trước khi tôi ra đời. Với thế hệ tôi thì điều này không có gì là bất thường. Nhiều người chồng, người cha và ông đã không bao giờ trở về sau chiến tranh. Điều bất thường về ông tôi không phải ở chỗ ông đã chết, mà ở thực tế rằng ông là em trai của SS Reichsführer (1) Heinrich Himmler, người tổ chức việc giết hại hàng loạt hàng triệu người trong thời Đệ tam Đế chế. Tôi luôn biết rõ về điều này, thậm chí ngay từ lúc nhỏ. Nhưng tôi không bao giờ tự hỏi về thái độ cá nhân và thái độ chính trị của người ông chưa từng gặp mặt của mình đối với người anh trai. Điều này không hề thay đổi cho tới khi tiếng chuông điện thoại vang lên một buổi sáng nọ, giữa mùa xuân năm 1997. Cha tôi gọi. Liệu tôi có thể thực hiện yêu cầu của cha đến Lưu trữ Liên bang tìm xem liệu họ có giữ bất cứ hồ sơ nào về ông không? Ông nói tôi rằng chúng đã được công khai cho mọi người, do người Mỹ đã chuyển giao chúng lại cho người Đức. Và tôi đến đó thì dễ hơn là ông. Vâng, tôi thì dễ thực hiện yêu cầu này hơn, bởi cha mẹ tôi sống khá xa Berlin. Sau khi thống nhất, Lưu trữ Liên bang Đức thu lấy mọi hồ sơ được giữ tại Trung tâm Tài liệu Berlin cũ và công bố hầu hết các bộ tài liệu cá nhân mở rộng về những quan chức Đảng, chỉ huy SS và về những kẻ phạm tội ác Quốc xã. Nhưng tại sao cha tôi lại nghĩ trong những hồ sơ này có thể có lưu gì đó về cha mình, Ernst Himmler? (1) SS Reichsführer: chức Thống lĩnh tổ chức SS. SS: viết tắt của Schutzstaffel, tức đội cận vệ của Đảng Quốc xã. Gestapo: Geheime Staatspolizei - Mật vụ Quốc gia, nằm dưới sự quản lý toàn diện của SS. - ND |
Tôi đề nghị được xem các hồ sơ. Vào thời điểm đó yêu cầu này vẫn còn rất khó được chấp nhận và tôi phải chờ hàng tháng để được hẹn gặp. Tôi thấy nhẹ nhõm nhờ có sự chậm trễ này; nó cho tôi thời gian để suy nghĩ về con người cho tới khi ấy không hề có vai trò gì trong cuộc đời tôi. Chỉ một lần khi còn nhỏ, lúc tôi hỏi bà Paula, bà nội tôi đã mất từ lâu và là vợ của Ernst Himmler, về người thanh niên trông có vẻ hơi cứng nhắc mặc bộ com-lê đen trong tấm ảnh chụp lồng khung treo trên tường phòng khách nhà bà. Tôi nhớ mãi những giọt nước mắt bà đột nhiên túa ra và nỗi sợ hãi mà chúng mang lại. Tôi không còn nhớ bà đã kể chuyện gì về ông. Bà không bao giờ chủ động nhắc đến ông và tôi cũng không hỏi thêm lần nào nữa. Cha tôi cũng vậy, rất ít nói về chuyện này. Những mẩu thông tin mơ hồ ông tiết lộ thường là như “Ông là một kỹ sư làm cho Deutscher Rundfunk ở Berlin và bố cho rằng ông cũng là Đảng viên”, nhưng luôn đi kèm thêm câu: “Nhưng thời ấy người nào cũng vậy”. Ông nói ông cho rằng người anh trai Heinrich đã thuyết phục ông nội gia nhập Đảng, bởi “ông Ernst không mấy quan tâm tới chính trị”. Và có lẽ, cha tôi nói tiếp, ông nội “không muốn bị ảnh hưởng đến đường sự nghiệp”. Heinrich có lẽ đã cho ông vị trí trong Đài Phát thanh Đế chế. “Heinrich luôn thấy phải có trách nhiệm với em trai mình. Nhưng hai người không gặp gỡ nhau thường xuyên”.
Cho đến thời điểm ấy những lưu ý này về ông nội tôi nghe luôn có vẻ hợp lý. Tôi không bao giờ thắc mắc chuyện gì. Không có điều gì về ông khiến tôi thấy nghi ngờ, không có chuyện gì khiến tôi bối rối. Điều này chỉ thay đổi sau khi cha tôi nhờ tôi lục tìm hồ sơ về ông tại Lưu trữ Liên bang. Tôi bắt đầu tự hỏi mình đã biết gì về ông nội. Không nhiều – và toàn những chuyện khá vặt vãnh. Giống như những thông tin ta có thể tìm thấy trong một bản khai lý lịch theo mẫu: sinh năm 1905 tại Munich, lớn lên trong một gia đình trung lưu đáng kính, kỹ sư radio, từ 1933 làm việc trong Deutscher Rundfunk, cùng khoảng thời gian đó lấy Paula, sau đó sinh được ba con gái và một con trai – là cha tôi. Gia đình sống trong một căn nhà song lập có vườn tại Ruhleben ngoại ô Berlin. Trong những năm cuối của chiến tranh Ernst Himmler được thăng làm Kỹ sư Trưởng và Phó Giám đốc Kỹ thuật; không lâu trước khi kết thúc chiến tranh ông được gọi vào Volkssturm, tổ chức dân quân tự vệ Đức. Ông chết vào cuối tháng Năm 1945, trong tình huống vẫn chưa được rõ. |
Tôi không biết gì về con người là ông nội tôi này: ông đã lớn lên thế nào, ông cư xử ra sao với vợ con mình, ngoài công việc ra thì ông quan tâm tới chuyện gì, thái độ của ông với Đảng Quốc xã hay thái độ của ông với anh trai Heinrich ra sao. Cho tới lúc này Ernst Himmler dường như là một con người hết sức trung bình, không có gì nổi bật. Việc nhắc đi nhắc lại rằng hai anh em không có liên lạc gì nhiều với nhau có vẻ hoàn toàn phù hợp với hình ảnh một kỹ sư không mấy quan tâm tới chính trị. Nhưng nếu vậy thì động cơ nào đã thúc đẩy Heinrich hỗ trợ cho sự nghiệp của Ernst? Thực tế có phải họ ít gặp nhau như mọi người đã nói hay không? Và nếu vậy thì tại sao? Do Ernst không quan tâm tới những gì anh mình đang làm, hay do Heinrich, người cầm đầu SS và sau này làm Bộ trưởng Nội vụ, đã hoàn toàn ngập đầu trong công việc đồ sộ thanh lọc “lũ kẻ thù của nhân dân Đức” khỏi nước Đức và các quốc gia bị chiếm đóng kế cận? Liệu ông tôi Ernst và bà tôi Paula có biết về những gì Heinrich đã làm? Cha tôi luôn nói dường như ông nội có biết điều gì đó, nhưng bà tôi, một người “rất ngây thơ về chính trị”, thì tuyệt đối không biết gì.
Tôi bắt đầu xét lại cả về tính xác thực của những điều cha nói lẫn việc thiếu hoài nghi của mình. Bất cứ ai thân cận với người đứng đầu SS tới mức như bà tôi hẳn đều phải cố gắng cực kỳ mới có thể không biết chút gì về việc bắt bớ những người bất đồng chính kiến, về chuyện người Đức gốc Do Thái bị tước hết quyền công dân và “biến mất” vào các trại tập trung. Tôi thấy mình không tài nào hình dung ra hình ảnh về ông Ernst một cách rõ nét hơn. Đột nhiên tôi cảm thấy xấu hổ vì việc thiếu hiểu biết, vì sự thờ ơ ngây thơ đối với lịch sử gia đình mình. Mặc dù biết ông nội tôi vốn gần gũi với Heinrich Himmler, tôi luôn vạch một ranh giới rõ ràng chia cắt giữa một “Heinrich Ghê rợn” với một “Ernst Phi chính trị”. Hơn nữa, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng mặc dù thực ra tôi có hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Quốc gia Xã hội từ khá lâu và có quan tâm đặc biệt tới ranh giới mong manh giữa các Đảng viên Quốc xã tích cực, những kẻ biết rõ chuyện gì đang diễn ra, với những người hưởng lợi từ nó và những người đơn giản là sống cùng với nó – nhưng tôi lại không áp dụng nó vào chính gia đình mình. |
Tháng Sáu 1997 tôi được Lưu trữ Liên bang hẹn lên gặp. Tôi lái xe tới Lichterfelde, và thậm chí khi bước vào bãi đất rộng của khu lán trại cũ tôi đã có cảm giác như mình đang đi ngược thời gian. Điều đầu tiên ta thấy qua khe hàng rào là những tòa nhà cũ bằng gạch đỏ bóng có từ thời Wilhelm II, xây vào cuối thế kỷ mười chín cho Học viện Lục quân Phổ và được sử dụng vào mục đích ấy cho tới Thế chiến thứ I. Ở cổng vào có một số tòa nhà từ thời Quốc xã – những công trình đồ sộ kỳ quái, xám xịt với các hàng cột hiên và tượng của các lực sĩ Bắc Âu. Trong thời Đệ tam Đế chế đây là nơi trú đóng của trung đoàn cận vệ của Hitler, trung đoàn Leibstandarte-SS Adolf Hitler dưới quyền chỉ huy của Sepp Dietrich, quân nhân của nó có lời tuyên thệ cá nhân trung thành với Führer và xem đơn vị mình là “đơn vị ưu tú trong số những đơn vị ưu tú”. Sau 1945 khu này do quân Mỹ trú đóng, họ thay thế các tòa nhà vốn đã bị phá hủy nhiều bằng những khối nhà ở chung cư và quản lý, gọi tên là Doanh trại Andrews. Ngày nay Lưu trữ Liên bang đóng trong một trong số những tòa nhà này.
Tại phòng đọc tôi được đưa cho mấy tập hồ sơ mỏng về Ernst Himmler cùng với một danh sách dài những tài liệu tham khảo để nghiên cứu thêm. Tôi cầm các hồ sơ ấy mà lòng lẫn lộn cảm xúc. Trước hết là cú sốc vì đã biết được ở đấy thực sự có những thông tin về ông, đồng thời còn có cả sự tò mò; cảm thấy nhẹ nhõm vì tập hồ sơ hơi mỏng, nhưng cũng sợ những gì có thể ẩn chứa ở trong đó. Trong cặp tư liệu cá nhân chỉ có vài tờ photocopy: một tấm thẻ Đảng có dán ảnh, một bản khai lý lịch và vài giấy tờ cá nhân. Tôi xem kỹ tấm thẻ Đảng và nhìn thấy ngày ông gia nhập: 1 tháng 11 năm 1931. Thật lạ. Tại sao lại 1931, hơn một năm trước khi Quốc xã lên nắm quyền? Làm sao có thể khớp với tuyên bố rằng Ernst đã bị Heinrich thuyết phục gia nhập Đảng? Tôi đọc tiếp và phát hiện trong số các tài liệu có một tài liệu cho biết rằng ông đã trở thành thành viên SS chính thức ngày 1 tháng Sáu 1933. Đó là ngày ông được nhận vị trí tại Đài Phát thanh Đế chế. SS? Chuyện này chưa bao giờ được nhắc tới! SS là tổ chức của Heinrich, và sự thật chấn động rằng việc Ernst gia nhập nó cùng với việc ông bắt đầu làm việc cho Công ty Truyền thông khớp với giả thiết của cha tôi rằng Heinrich đã hỗ trợ Ernst thăng tiến trong sự nghiệp. Tôi ngồi nhìn mớ tài liệu vừa đột ngột khiến quá khứ trở nên xác thực. Sau bao phỏng đoán và suy nghĩ rối bời của mấy tuần trước, sự thật này làm tôi thấy nhẹ người. Tôi tiếp tục nhìn xuống bức ảnh, một bức ảnh hộ chiếu bình thường trong đó Ernst trông thật trẻ và đầy niềm tin. Tại thời điểm này dường như ông trở nên xa lạ với tôi còn hơn cả trước kia. Tôi quan tâm đến điều gì ở con người này, người đã chết trước khi tôi ra đời tới hai mươi hai năm? |
Trong số giấy tờ tôi tìm thấy một chỗ đề cập tới khoản vay Ernst được nhận mùa thu năm 1937 để mua căn nhà tại quận Ruhleben ở Berlin mà ông cùng mua với một Tiến sĩ Behrends nào đó. Khoản vay lấy từ Văn phòng Cá nhân của SS Reichsführer – chính là ông anh trai Heinrich. Các giấy tờ cũng gồm một lá thư đánh máy tháng Năm năm 1944 của Ernst gửi Heinrich trong đó cho thấy rõ ràng có những lần ông góp sức phục vụ cho người anh quyền thế hơn. Trong một lần cụ thể ông trả lời cho yêu cầu của anh trai muốn đánh giá về mặt chuyên môn đối với phó giám đốc điều hành một công ty ở Berlin tên là C. Lorenz.
Khi đó tôi vẫn còn chưa hiểu rõ cả thời điểm lẫn tầm quan trọng của bức thư này. Nhưng điều này khiến tôi băn khoăn. Có lẽ là do ngôn ngữ sử dụng trong bức thư. Trong khi Ernst bám lấy văn phong điềm đạm của một báo cáo chính thức thì những câu viết lòng thòng lại được thêm mắm thêm muối bằng các cụm từ đậm chất lý tưởng như “vị trí tư tưởng” và “viễn cảnh của tiến trình aryan hóa”. Bức thư cho thấy rõ ràng sự tích cực quá mức của ông khi thực hiện một nhiệm vụ do Heinrich giao, nhưng dường như cũng bộc lộ những quan tâm của chính ông mà tôi chưa hề biết đến. Ngoài phần đánh giá, bức thư cũng đề cập tới đến một buổi trò chuyện kéo dài với Walter Schellenberg, người đứng đầu bộ phận hải ngoại của Cơ quan An ninh (Sicherheitsdienst, viết tắt là SD). Tôi không hiểu tại sao ông mình, người được cho là chỉ quan tâm đến kỹ thuật chứ không phải chính trị, lại có thể tranh luận với người đứng đầu bộ phận hải ngoại của SD, hay Schellenberg lại có thể dính dáng tới chuyện gì ở đây. Có lẽ Ernst chỉ muốn phô trương, muốn lợi dụng cơ hội để trò chuyện với một nhân vật Quốc xã cỡ bự như vậy. Toàn bộ câu chuyện là một bí ẩn đối với tôi. |
Tôi tiếp tục xem xét các hồ sơ. Tôi lướt qua nhiều loại danh hiệu: không chỉ “Huy hiệu Thể thao SA (2) ”, “Huy hiệu Danh dự Olimpic” mà còn cả huân chương “Chữ thập Vì thành tích phục vụ quân sự nổi bật, hạng Hai và hạng Nhất”. Do là sĩ quan SS cao cấp, Ernst ban đầu được phân vào Ban Nhân sự SS, sau đó về ban tham mưu của trưởng cục thông tin liên lạc. Việc bổ nhiệm dường như chỉ đơn thuần cho có hình thức – tôi không thể tìm được chỗ nào cho thấy ông từng tham gia tích cực công tác dưới vai trò một sĩ quan SS. Lần thăng cấp cuối cùng của ông, lên chức Sturmbannführer (thiếu tá SS), là vào năm 1939, mười ngày sau khi xâm chiếm Ba Lan. Nhưng tại sao ông lại được tặng Huân chương Chữ thập Vì thành tích phục vụ quân sự nổi bật? Xét cho cùng, ông chưa bao giờ dính tới công tác ở chiến trường.
Từ một báo cáo thống kê của Đảng vào mùa hè năm 1939, tôi biết được rằng Ernst, mặc dù là Đảng viên, khó có thể nằm trong vô số tổ chức chi nhánh của Đảng Quốc xã (NSDAP, Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Đức) ngoại trừ Mặt trận Lao Động Đức mà hầu như tất cả những “người sản xuất ra sản phẩm”, từ các công nhân cổ xanh và cổ trắng cho tới những người quản lý họ, đều là thành viên, và Tổ chức Phúc lợi Nhân dân Quốc gia Xã hội. Tôi nhẹ nhõm xác định rằng mọi thứ dường như đều dẫn tới thực tế Ernst không phải là một Đảng viên Quốc xã được đặc biệt giao nhiều trọng trách. Không có hoạt động cao cấp nào trong Đảng hay trong bất cứ hội đoàn chuyên môn nào của Đảng, chắc chắn không có bất kỳ ghi nhận về phân biệt đặc cách nào trên thẻ Đảng của ông, và Sturmbannführer không hẳn là một cấp bậc thể hiện nhiều tham vọng trong cái tổ chức đáng sợ đó. Hiển nhiên mối quan tâm chính của ông là kỹ thuật radio, có lẽ là trong lĩnh vực của riêng ông, nhưng ông giữ khoảng cách về mặt chính trị. Tuy nhiên tôi vẫn chưa hoàn toàn thấy thuyết phục. Chính ngày gia nhập sớm ghi trong Đảng tịch của ông khiến tôi thấy bối rối; cuộc trò chuyện của ông với Schellenberg; cùng sự thực rằng trong chiến tranh ông được đánh giá là “hết sức cần thiết” tức không bị động viên vào Quân đội. Ông được gọi nhập ngũ năm 1942 vào tiểu đoàn dự bị của Leibstandarte-SS Adolf Hitler, nhưng có vẻ như ông chưa bao giờ bước chân vào doanh trại Lichterfelde bởi ông chỉ được yêu cầu phục vụ quân ngũ không lâu trước khi chiến tranh kết thúc, lý do vì là “quản lý cao cấp và Kỹ sư Trưởng của Ban Kỹ thuật Trung tâm của Công ty Phát thanh Đế chế” nên ông “hết sức cần thiết và không thể thay thế được”. Nhưng tôi vẫn chưa rõ ông can dự đến nhiệm vụ gì mà “thiết yếu cho an ninh quốc phòng”. (2) SA: viết tắt của Sturmabteilung, đội xung kích của Đảng Quốc xã. - ND |
Cả cha tôi lẫn người chị duy nhất còn sống của ông đều ngạc nhiên vì ngày gia nhập Đảng rất sớm của ông nội. Khi tôi hỏi cha bà nội có kể gì về ông không, cha tôi trả lời rằng bà chỉ im lặng và khóc khi được hỏi. Sau đó bà không nói chuyện với cha suốt nhiều ngày liền.
Tại sao bà tôi lại khó như vậy mỗi khi nhắc đến quá khứ? Có lẽ có điều gì đó muốn che giấu, như cha tôi đã nghi ngờ khi ông còn nhỏ. Nhưng cũng có lẽ sự im lặng của bà đơn giản chỉ là một phản ứng thách thức trước sự thiếu thông hiểu của thế hệ trẻ. Đối chiếu với cuộc sống khó khăn mà bà phải trải qua sau 1945, một góa phụ phải tự mình nuôi dạy bốn con nhỏ, thời kỳ Quốc xã đối với cá nhân bà hẳn là thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời. Cha và bác gái tôi rất biết ơn tôi đã thực hiện nghiên cứu. Tuy nhiên, sau lần thứ hai tôi gửi những tài liệu tìm thấy ở lưu trữ, bác tôi tuyên bố rằng điều quan trọng nhất đối với bác từng là “được thấy mọi thứ một cách đen trắng rõ ràng” nhưng giờ thì chúng ta nên “ngừng tại đây”. Tôi phát cáu vì cả hai đều không hỏi thêm câu nào về tất cả những ám chỉ khó hiểu trong các tài liệu tìm được. Mặc dù có thể họ đã chỉ tưởng tượng được một hình ảnh lờ mờ về cha mình từ hồi ấu thơ – và thật mâu thuẫn, có thể họ đã tạo ra nó từ bà Paula mẹ mình. Đúng hơn là, qua sự nhắc đi nhắc lại thường xuyên cùng một câu chuyện, nó đã hình thành những đường nét ngày càng vững chắc hơn. Hay có lẽ cả hai vốn biết nhiều hơn tôi vẫn nghĩ? Khởi đầu tôi nghiên cứu các lưu trữ chỉ theo yêu cầu của cha tôi và với sự tán thành của chị tôi. Nhưng những gì tôi tìm thấy lại chạm đến một sợi dây thầm kín trong tôi và tôi thất vọng vì thiếu sự phản hồi từ hai người ruột thịt. Tôi muốn trò chuyện với họ về những điều chưa rõ ràng và theo đuổi các phỏng đoán. Tôi vẫn chưa rõ phải chăng sự tò mò của tôi chỉ đơn giản là do rộn ràng muốn theo đuổi, bị khuấy động bởi những sự thật trần trụi chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn những gì chúng tiết lộ, hay phải chăng tôi đột nhiên thấy quan tâm đến con người là ông nội tôi. |
Sau những phát hiện đầu tiên, tôi cảm thấy mất định hướng. Bằng trí tưởng tượng, tôi hình dung ra mọi kiểu kịch bản về những gì ông tôi có thể đã làm và nghĩ trong khoảng từ 1933 đến 1945. Tôi tự hành hạ bằng cách lên án mình đã thiếu quan tâm trong suốt những năm qua. Tôi giận cha tôi vì đã né tránh đối diện trực tiếp với các tài liệu, để mặc chuyện ấy cho tôi làm – mặc dù hẳn ông cũng không rõ gì hơn tôi về việc tôi sẽ đau khổ ra sao bởi những gì mà nghiên cứu của tôi đem lại. Dĩ nhiên tôi hoàn toàn đánh giá sai tính độc lập và khả năng giữ cho mình không bị tổn thương do ảnh hưởng từ quá khứ của ông nội. Tôi đánh vật với những bệnh tật dai dẳng. Tôi nghẹn thở trước nỗi sợ hãi về tương lai. Tôi lâm vào thế bí.
Sau đó, vào mùa thu năm 1997, tôi có cơ hội trò chuyện thật lâu với cha tôi về những điều tôi tìm thấy trong lưu trữ. Mặc dù ông nói rõ rằng ông xem quá khứ đã “qua và chấm dứt rồi”, ông vẫn sẵn sàng nói chuyện và kiên nhẫn trả lời mọi câu hỏi của tôi về chuyện gia đình. Chúng tôi trải qua một ngày thật dài, đi bộ xuyên qua các thị trấn nhỏ bé với những ngôi nhà nẹp khung gỗ và leo lên thăm các vườn nho giữa cái nắng dịu của tháng Mười. Khi chúng tôi nhìn từ dàn nho xuống đồng bằng phía dưới, tôi lần đầu tiên hỏi cha xem ký ức nào chính ông giữ được về cha mình và ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội của cha: “Con cho là bố nghĩ gì về một người cha mà chuyện duy nhất bố nhớ đến chỉ toàn là trừng phạt và đánh đập bố?!” Ông nói bà Paula có thái độ khá tự do trong việc nuôi dạy con cái, nhưng bà vẫn giữ ông nội như một hình mẫu sáng chói trước mặt con – trên tất cả là đối với cha tôi, người con trai, cho tới một lúc khi cha tôi “không thể nghe nổi những thứ ấy thêm chút nào nữa”, đặc biệt do ông ngày càng nghi ngờ về hình ảnh không tỳ vết của cha mình mà bà vẫn mô tả. Từ hai người chị mà ông biết rằng Ernst cũng có thể là một người cha yêu quý, bởi vậy ông thấy vô cùng đau khổ vì ký ức ít ỏi của riêng ông lại ngược hẳn lại. Những câu hỏi của tôi dường như đã khuấy tất cả trở lại – trái với việc ông quả quyết rằng “tất cả chuyện đó” không còn quan trọng đối với ông nữa. Trong cuộc trò chuyện tôi liên tục chạm vào những rào cản mà tôi không thể thấy hoặc hiểu nổi. |
Gần như tình cờ, cha tôi nhắc đến một chiếc rương chứa các bức ảnh gia đình mà tôi nên xem qua. Ông nói tiếp, trong đó cũng có một cặp giấy chứa tài liệu của mẹ ông, mặc dù ông không biết liệu trong đó có gì hấp dẫn hay không. Tính tò mò nổi lên, tôi mở cái cặp giấy màu xanh và lập tức nhận ra trong đó là cả một kho thông tin phong phú bổ sung cho những sự kiện trần trụi lưu trong lưu trữ. Trong số các giấy tờ liên quan tới nhà cửa của bà tôi trong mấy năm cuối đời, tôi tìm thấy một bản khai lý lịch của ông tôi từ năm 1931, lần đầu tiên cung cấp thông tin về thời kỳ trước khi ông bắt đầu làm việc cho Đài Phát thành Đế chế. Tôi tìm thấy những bức thư riêng của Ernst cùng những chứng nhận khác nhau về việc ông làm việc trong Công ty Phát thanh Đế chế do các cựu đồng nghiệp của ông gửi cho bà tôi vào thập niên 1970. Có lẽ bà cần chúng để lồng vào hồ sơ xin trợ cấp hưu trí.
Tháng Chín 1948 một kỹ sư trưởng đã xác nhận, “theo đề nghị của Frau Paula Himmler”, rằng Ernst được gọi vào Volkssturm tháng Tư 1945 và “đã được phân công cùng một số nhân viên khác của ban quản lý đài phát thanh đi phòng thủ đài phát tại Charlottenburg (một quận của Berlin)... Lần cuối cùng tôi trông thấy Himmler là chiều tối ngày 30 tháng Tư hay 1 tháng Năm trên sân trong tòa nhà. Do không bao lâu sau đó tôi bị lính Nga bắt làm tù binh nên không thể biết thêm chuyện gì đã xảy ra với anh ấy sau này”. Tôi cố gắng tưởng tượng chuyện sẽ xảy ra như thế nào đối với một nhúm quản lý kỹ thuật, biên tập viên và các nhân viên khác khi “phòng thủ” tòa nhà họ làm việc chống lại cuộc tiến công của Hồng quân, tất cả bọn họ đều là dân sự không hề có kinh nghiệm chiến đấu hay được huấn luyện đầy đủ, những người đàn ông như ông tôi, vào thời khắc cuối cùng khi việc bại trận đã rõ rành rành, bị lùa vào cuộc tàn sát Volkssturm. |
Chưa đầy một năm sau, tháng Tám 1949, Ernst Himmler được chính thức xác nhận là đã chết; tờ giấy chứng thực chuyện đó cũng kẹp trong cặp giấy này. Nhiều năm sau, đâu đó khoảng thập niên 1970, bà Paula chắc đã có thêm một yêu cầu điều tra lại gửi văn phòng tìm người mất tích của Hội Chữ Thập Đỏ ở Munich. Mãi cho tới tháng Mười 1983, hai năm trước khi bà mất, mới có thư phản hồi rằng “khả năng rất cao là Ernst Himmler đã ngã xuống trong cuộc chiến quanh khu vực Berlin tháng Tư 1945”.
Dù vậy, cái chết của ông tôi vẫn là một bí ẩn. Vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, theo lời kể của cha tôi, một người đàn ông đến gặp cả nhà và tuyên bố ông ta từng ở bên cạnh Ernst “tới tận lúc cuối cùng” và có mặt khi ông nội cắn vỡ viên nhộng thuốc độc (3). Đó là một kết cục tôi thấy rất khó chấp nhận. Tôi tự hỏi lúc ấy bà tôi thấy thế nào khi được cho hay rằng chồng mình đã tự sát, bỏ bà lại một mình nuôi nấng bốn con nhỏ. Chiếc rương đựng ảnh của bà tôi quả là một mớ lộn xộn vô vọng. Tôi đã thuộc hầu hết những bức ảnh này, trước hết là các chân dung gia đình cố Himmler của tôi với các con trai Gebhard, Heinrich và Ernst. Bà cố tôi, người gốc Munich, từng là một thiếu nữ trẻ đẹp và về sau là một cụ bà như trong tranh với nụ cười dịu dàng, tóc bạc trắng và trên đầu mũi luôn đeo đôi mục kỉnh tròn hơi bị vẹo. Ông cố tôi, hiệu trưởng một trường cấp hai và mang chức hiệu Geheimrat (ủy viên hội đồng cơ mật), trông rất kỷ luật và đường bệ bất kể tuổi tác. Mọi người kể cả hai cụ đều có cảm tình với chủ nghĩa Quốc xã. Từ các bức ảnh ta có thể nhận thấy họ là những bậc phụ huynh nghiêm khắc nhưng cũng rất yêu thương con cái. Thậm chí cậu bé bảy tuổi Gebhard, anh cả, cũng có một ánh mắt đầy tự tin và quả quyết. Ernst, cậu em út, rõ ràng là đứa con cưng trong nhà. Duy những bức ảnh chụp Heinrich là gợi cho tôi một cảm giác ghê tởm mỗi lần nhìn thấy chúng, không chỉ vì tôi đã biết cậu bé trông có vẻ vô hại lớn lên trong gia đình đáng kính này về sau sẽ trở thành kẻ thế nào, mà đơn giản còn vì cậu ta có ở đấy, giữa tất cả những người khác trong chiếc rương này; họ là gia đình của tôi, mà cậu ta là một phần không thể chối bỏ được trong đó. Tuy nhiên, sau những lần nghiên cứu đầu tiên thì tôi bắt đầu xem xét các bức ảnh ấy với một con mắt khác. Những bức ảnh cưới lãng mạn của ông bà tôi mà tôi thường thán phục vô cùng, nay đã mất hết vẻ trong sáng. Chỉ tới lúc này tôi mới nhận thấy chiếc huy hiệu Đảng trên ve áo của Ernst. Heinrich, người anh tốt nhất của ông, đứng làm kiểu trước văn phòng đăng ký kết hôn cùng đôi uyên ương. Ông ta mặc bộ quân phục SS có đeo băng tay chữ thập ngoặc, tay phải đặt lên hông, ngực ưỡn tới và trên miệng nở nụ cười. Ngoài ra, tôi nhìn thấy có nhiều bức ảnh khác rõ ràng đã bị lấy hoặc cắt bỏ từ các cuốn album. Một trong những bức đó chụp ông tôi; bên cạnh ông là một người nào đó đã bị cắt mất, có lẽ do tay bà Paula. Cha tôi rõ ràng đã thực sự bất ngờ trước những gì tôi tìm được trong nhà của mình. Cha đã giữ chúng sau khi bà mất nhưng cha nói cha chưa bao giờ mở chúng ra. Khi tôi lộ vẻ ngạc nhiên và không tin, ông nói một cách hơi cộc cằn rằng tôi biết rất rõ tính “không thích dính dáng tới mọi loại công việc giấy tờ nào” của ông. Nhiều lần tôi đã chớm định hỏi cha tại sao nếu vậy cha lại nói tôi đến lục tìm ở Lưu trữ Liên bang. Ông chờ đợi nghiên cứu của tôi, thực hiện theo yêu cầu của ông, phát hiện ra điều gì? Tôi không bao giờ ép mình hỏi được câu hỏi đó, có lẽ bởi khi ấy tôi cảm thấy trong đó có hai mặt không thể tách rời: nỗi khao khát muốn phát hiện ra và nỗi sợ đối với những gì có thể bị phát hiện. (3) Khi chiến tranh gần kết thúc, các Đảng viên Quốc xã cấp cao được phát viên con nhộng chứa cyanide để phòng trường hợp cần tự sát. - ND Hết chương 1 |
http://i982.photobucket.com/albums/a...ps64107554.jpg
Katrin Himmler http://i982.photobucket.com/albums/a...ps4bb35c44.jpg Ba anh em, bên trái là Gebhard anh cả, kế tiếp là Himmler Hung thần, bên phải là Ernst http://i982.photobucket.com/albums/a...ps3693e14d.jpg Bìa sách. |
http://i982.photobucket.com/albums/a...psc8364018.jpg
Ông Gebhard Cha và cậu út Ernst http://i982.photobucket.com/albums/a...ps37b6a644.jpg Đám cưới Ernst và Heinrich bên cạnh http://i982.photobucket.com/albums/a...ps0f798e45.jpg Hai anh em Gebhard và Heinrich trong WW1 http://i982.photobucket.com/albums/a...ps510f4f47.jpg Nhà Himmler http://i982.photobucket.com/albums/a...psac4b06de.jpg Ba anh em trong quân phục SS http://i982.photobucket.com/albums/a...ps154330ec.jpg Thống lĩnh SS Heinrich |
2
Một gia đình trung lưu hoàn hảo: Gebhard, Anna và các con trai Nhiều năm trước cha tôi đã đề nghị tôi đọc một cuốn sách mà tôi chỉ chịu liếc mắt qua: cuốn tự truyện Cha của một kẻ sát nhân của Alfred Andersch. Hồi học cấp hai Andersch đi học tại trường trung học Wittelsbacher Gymnasium ở Munich mà tại đó Gebhard Himmler, cha của ba anh em trai, làm hiệu trưởng. Cuốn sách này viết về ông ta. Câu chuyện diễn ra vài năm trước khi Đệ tam Đế chế ra đời, vào một ngày tháng 5 năm 1928 khi Himmler Lớn thực hiện một cuộc kiểm tra bất ngờ ở lớp của Franz Kien (Andersch) để kiểm tra kiến thức của học sinh về Hy Lạp Cổ đại, nhưng trên hết là để chấn chỉnh kỷ luật trong lớp. “Tôi hy vọng một ngày nào đó mọi học sinh trong lớp sẽ được phục vụ trong quân ngũ”, ông nói với lớp. Ông răn dạy một cậu bé cứng đầu cứng cổ, “Tôi hy vọng Đế chế sẽ sớm trở lại hùng mạnh”, bởi trong quân đội “họ chắc chắn sẽ dạy các em giá trị của kỷ luật”. Trong thời gian diễn ra bài giảng Franz nhớ lại rằng vào cái ngày cậu bước vào trường cấp hai cha cậu đã cảnh báo cậu về con người này, con người mà mọi thứ trên mình đều thật “nhợt nhạt, phẳng lặng, nhẵn nhụi, không tỳ vết hệt như chiếc áo sơ mi trắng ông ta mặc trên người”. “Già Himmler” rất đáng sợ, cha cậu nói, “Công giáo tới tận xương tủy”, và là một người ham địa vị khao khát được gia nhập tầng lớp thượng lưu của Munich”. Ông tóm lại, Già Himmler là một người cần hết sức cẩn trọng khi đối diện. |
Đó là một buổi học đáng nhớ, trong lúc giảng ông hiệu trưởng đã nhẫn tâm bắt Franz Kien phải đứng phạt trước cả lớp; lý do duy nhất chỉ vì vốn ngữ pháp Hy Lạp của Kien còn yếu. Ông hiệu trưởng nhiếc Kien là lười biếng, tiểu tư sản vô dụng. Giờ học kết thúc cũng là chấm dứt chuyện học của Franz Kien tức Alfred Andersch. Andersch bị đuổi khỏi trường.
Khi cha tôi lần đầu tiên đọc cuốn sách này năm 1980, ông đã bối rối sâu sắc trước nhân vật ông nội mình, người mà trong câu chuyện của Andersch là một kẻ chuyên quyền hãnh diện vì lối giáo dục cổ điển của mình, luôn tự cho mình là đúng và rất độc đoán, quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa. Cha lập tức điện thoại cho chị họ mình ở Munich tức con gái của bác cả Gebhard anh trai của Ernst, và bà này đã tìm cách làm cha tôi yên tâm. Bà nói hình ảnh mà Andersch mô tả “không giống chút nào với thực tế” mà chỉ là sự vu khống ông nội. Bà gửi cho cha tôi một bài báo trên tờ Süddeutsche Zeitung của một luật sư, Tiến sĩ Otto Gritschneder, người từng là học trò trong cùng ngôi trường kể trên và đã đưa ra một số chi tiết để khôi phục uy tín của Geheimrat Himmler. Nhiều năm sau tôi cũng được nhận bài báo này từ cô tôi, con gái của Gebhard, gửi đến. Cô viết cho tôi, ông nội của cô đúng là có nghiêm khắc nhưng cũng rất tốt bụng. Bản thân cô chỉ biết về “mặt vui tươi nhất của ông”; mỗi khi ông và cô tôi đi dạo ông thường cho cô “một cái kẹo”. Khi được xuất bản năm 1980, không lâu sau khi Andersch qua đời, cuốn sách đã gây nhiều tranh luận sôi nổi. Trước hết là các cựu học sinh của trường Wittelsbacher Gymnasium, một số là bạn cùng lớp với Alfred Andersch, đã mô tả trong thư gửi cho biên tập viên tờ Süddeutsche Zeitung về việc vị hiệu trưởng cũ của họ là người thực sự ra sao. Theo một số bọn họ, ông là “một người đầy nhiệt huyết, có văn hóa cao và rất hiểu biết, khiến mọi người phải kính trọng”, và được “cả học trò lẫn giáo viên vừa nể sợ lại vừa kính trọng và khâm phục”. Đối với một số người khác ông nổi tiếng vì “khao khát tột độ muốn được ngoi lên giới thượng lưu, là loại người đội trên đạp dưới”. Ngài Tiến sĩ Gritschneder không biết mệt mỏi đã tung tiếp một loạt nữa năm 2001: mọi thứ trong cuốn sách là “một mớ dối trá”, không gì khác ngoài “một kiểu thủ tiêu tên tuổi con người”, “vu khống ký ức về người đã khuất”. |
Hai mươi năm sau khi xuất bản, tôi đã đọc lại cuốn sách này lần nữa và cũng rối bời hệt như cha tôi khi đọc nó. Điều khiến tôi vô cùng khó nghĩ không phải là việc khắc họa tính cách về ông hiệu trưởng một cách khá thiếu thiện cảm mà là câu hỏi được tác giả gợi ra ở phần Lời bạt. Tác giả đã nêu rằng Heinrich Himmler, “kẻ hủy diệt cuộc đời con người khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại”, không phải “xuất thân từ tầng lớp vô sản thô lỗ” mà “trong một gia đình trung lưu lâu đời, được giáo dục tốt về lòng nhân đạo”. Sau đó ông hỏi một cách tuyệt vọng, “Chẳng lẽ lòng nhân đạo không giúp đỡ được chút gì cho loài người sao?” Một số sử gia về Heinrich Himmler quy tính nghiêm khắc và mô phạm của cha ông ta phần nào chịu trách nhiệm trong việc gây ra những chuyện khủng khiếp sau này. Theo họ, tính nghiêm khắc, kỷ luật, tư cách đáng trọng – những đức tính quan trọng hàng thứ nhì của người Đức – đã được nâng tầm quan trọng quá mức trong việc nuôi dạy ba người con trai của nhà Himmler.
Trong các bức ảnh cũ ông cố trông cứng đơ, trang nghiêm và bệ vệ, vợ ông bên cạnh trông thật nhỏ bé và thanh tú. Đối với các cháu bà là “Bà yêu quý”. Có rất nhiều tấm ảnh chụp hai ông bà ở giữa đám đồ gỗ nặng nề cầu kỳ của căn phòng khách cuồi thế kỷ mười chín, xung quanh là vô số bức ảnh chụp tổ tiên nội ngoại. Cả hai trông có vẻ mãn nguyện vai trò của mình: một bên là sự nghiêm khắc cần thiết của người cha, bên kia là sự dịu dàng của người mẹ để cân bằng lại. Dĩ nhiên cũng có những bức ảnh chụp gia đình trong tư thế cứng đơ tại phông cảnh ở tiệm ảnh, cũng như các bức ảnh khác cho thấy sự vô tư lự của kỳ nghỉ hè trong đó cha mẹ và con cái thật âu yếm gắn bó với nhau. Nếu xét đến bối cảnh lịch sử và xã hội của thời ấy, tôi cảm thấy dường như về mọi mặt gia đình Himmler là một gia đình trung lưu hoàn hảo. Nhưng Gebhard Himmler là ai? Ông đã quen với vợ mình Anna như thế nào? Xuất thân của hai ông bà ra sao? |
Ông cố của tôi, Joseph Gebhard Himmler, sinh năm 1865 tại Lindau bên Hồ Constance và được nuôi dưỡng trong điều kiện khá giản dị. Cha của ông, Johann Himmler, là một thợ dệt lành nghề nhưng mau chóng tìm được vận may khi đăng lính trong Trung đoàn Hoàng gia Bavarian. Tuy nhiên, tại đấy ông không đặc biệt nổi trội vì thành tích công tác, mà đúng hơn vì hay cãi nhau và “có hành vi vô đạo đức với một phụ nữ hạ lưu”, chắc hàm ý rằng ông đã đi lại với gái điếm và không tìm cách che giấu chuyện này. Dấu vết về ông biến mất trong năm năm liền, cho tới khi ông xuất hiện xuất hiện trở lại ở Munich năm 1844 trong Đại đội Cảnh sát Hoàng gia. Vào lúc ấy ông đang sống cùng, mặc dù không cưới hỏi, với một người nghèo tên là Katharina Schmid. Năm 1847 họ sinh được con trai Konrad, người sau này giành được quyền lấy họ mình là Himmler. Khi Konrad mười lăm tuổi, cha ông ruồng bỏ gia đình và giành được một chỗ làm quan chức hải quan ở Lindau bên Hồ Constance, tại đó vài tháng sau ông cưới Agathe Kien, con gái một quan chức ở Bregenz và trẻ hơn chồng đến hai mươi bốn tuổi.
Phải mất nhiều năm sau Konrad Himmler mới có được quan hệ với gia đình. Việc phát hiện được khởi động do cơn sốt nghiên cứu phả hệ bị Heinrich Himmler biến thành chuyện bắt buộc đối với lực lượng SS. Heinrich hẳn hài lòng với phát hiện họ hàng bất ngờ này và hỗ trợ thăng tiến cho Hans cháu nội của Konrad Himmler trong ngành SS. Trong cuốn The Theory and Practice of Hell: The German Concentration Camps and the System behind Them, tác giả Eugen Kogon, từng là tù trại Buchenwald từ năm 1939 tới 1945, tuyên bố rằng Heinrich Himmler “có một người cháu họ riêng, trong khi say rượu đã vô tình tiết lệ bí mật, bị giáng cấp và kết án tử hình, bản án được giảm xuống thành bị đưa ra mặt trận làm lính nhảy dù. Tay Himmler trẻ sau đó lại bị tống giam vì những lời bình phẩm gây xúc phạm nào đó và cuối cùng bị ‘thủ tiêu’ tại trại tập trung Dachau vì tội đồng tính”. Việc rất lâu sau gia đình Himmler mới biết được mối quan hệ ngoài mong đợi này không hoàn toàn đồng nghĩa với việc Johann Himmler giữ đứa con ngoài giá thú của mình không cho bà vợ biết. Có lẽ ông xem Gebhard người con trai chính thức của mình là quá trẻ nên không nói cho biết về sự tồn tại của người anh cùng cha khác mẹ kia. Gebhard chỉ vừa tròn tám tuổi khi cha cậu mất ở tuổi sáu mươi ba và bà quả phụ có lẽ phải lo tới nhiều chuyện khác hơn là về quá khứ cuộc đời người chồng muộn mằn của mình. Tiền tuất quan chức hải quan của ông dường như không dư dả gì, và chật vật lắm người góa phụ mới lo đủ chi tiêu cho mình và con trai. Gia cảnh túng thiếu là điều mà ông cố tôi sẽ luôn nhớ mãi. |
Trích:
|
Do là học trò giỏi nhưng nhà nghèo vì sớm mồ côi cha, Gebhard được hỗ trợ tài chính khi học tiểu học, và nhận một học bổng cho phép cậu vào học trường Gymnasium kinh điển ở Neuburg an der Donau với tư cách học sinh nội trú của Trường dòng Hoàng gia tại đấy. Gebhard học xuất sắc đến nỗi ông được đề cử học bổng của Viện Maximilianeum (1) ở Munich, một tổ chức giáo dục danh giá chu cấp toàn bộ chi phí cho học viên. Đáp lại, các ứng cử viên phải qua lọt các kỳ thi khắt khe tổ chức định kỳ để chứng tỏ họ có tiến bộ trong học tập. Tháng 10 năm 1884, cậu Gebhard mười chín tuổi trúng tuyển Đại học Hoàng gia Bavarian Maximilian ở Munich.
Ông đăng ký học triết học. Thời ấy, cùng với thần học, đây là ngành học ưa thích của các sinh viên kém dư dả bởi nó nhận được nhiều học bổng hơn cả. Gebhard tập trung chủ yếu vào phần Cổ điển – Hy Lạp và Latin; ông cũng theo một số khóa học phụ không thông dụng như “Nhân chủng học kết hợp dân tộc học của các bộ lạc nguyên thủy”. Ông cũng học tốc ký và sử dụng kỹ năng này trong suốt cuộc đời mình để ghi chép. Ông cũng dạy lại các con trai kỹ năng này; cả ba đều nắm vững và sử dụng nó khi trưởng thành. Trong học kỳ đầu tiên tại đấy Gebhard gia nhập hội sinh viên Apollo, một tổ chức mà sau này con trai ông Heinrich cũng là thành viên. Không như hội sinh viên Burschenschaften tự do của thế kỷ mười chín, các hội sinh viên Đức thời kỳ đế chế kiên quyết theo hướng bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa. Những hội sinh viên độc đáo nhất là các hội quyết đấu, mệnh danh là Korps, chủ yếu tụ tập các thanh niên nhà giàu để tự tiêu khiển. Tại đấy người ta gây dựng các mối quan hệ rất cần thiết cho việc thành đạt sau này của người sinh viên và hình thành các tình bạn suốt đời, nhưng trên hết tất cả các hội ấy nhận định nghĩa vụ của mình là lấp đầy quá trình nghiên cứu khoa học và chuyên môn tại đại học bằng việc rèn giũa tính cách. Điều này bao gồm cả việc phục tùng cơ cấu quản trị của hội (“Anh phải tình nguyện phục vụ để có thể chỉ huy trong tương lai”), quy định phải giữ được nhịp trong các cuộc uống rượu chính thức, nghi thức quyết đấu bằng kiếm, trong đó người sinh viên Korps phải không chỉ thể hiện được sự dũng cảm và tính kỷ luật nội tâm, mà anh ta còn phải có thể và sẵn sàng hy sinh và bảo vệ “danh dự” của mình khi bị xúc phạm. Do bị cận thị nặng, ông cố tôi hẳn đã cảm thấy cái quy định không nao núng sau cùng này là thật khó khăn. Năm 1885 do khuyết tật trên ông bị xác định là vĩnh viễn không phù hợp để phục vụ trong quân đội. Không biết sau này ông cảm thấy ra sao khi nhiều thanh niên có cùng tư tưởng bảo thủ dân tộc chủ nghĩa như vậy vội vã đăng ngũ vào thời điểm Thế Chiến thứ I mở màn? (1) Tổ chức phát triển giáo dục của Hoàng gia Bavarian do vua Maximilian II thành lập, trụ sở là tòa nhà phong cách kiến trúc Tân Phục hưng bên bờ sông Isar ở Munich. - ND |
Mặc dù vậy, Gebhard có vẻ đã rất được quý mến trong các hội nhóm ấy. Trong cáo phó đăng tháng 12 năm 1936 ta đọc thấy vị thành viên này của hội đã là “cây cột trụ chống đỡ cho ngôi nhà tráng lệ một thời từng là Hội Apollo”. Đối với ông tư cách thành viên trên tất cả là một cơ hội để bước chân vào xã hội, và chuyện này là rất quan trọng đối với ông. Ngay khi còn sinh viên ông đã đi làm gia sư, đôi khi cho nhiều nhà cùng một lúc. Một trong những người thuê ông là Geheimrat (ủy viên cơ mật) von Bacyen; một người khác là Freiherr (nam tước) von Bassus-Sanderdorf. Một sinh viên khác được ông dạy kèm tiếng Latin và Hy Lạp năm 1887 là Ernst Fischer, con trai một giáo sư tại Đại học Bách khoa sau này là bạn thành viên Hội Apollo và là cha đỡ đầu của ông nội tôi.
Mặc dù tham gia nhiều hoạt động, Gebhard vẫn đậu phần Cổ điển hạng xuất sắc vào tháng 8 năm 1888, cùng lúc với việc nhận bằng chứng nhận giáo viên đầu tiên của mình. Mùa thu năm ấy ông đến St Petersburg, tại đấy từ tháng 11 năm 1888 tới Phục sinh năm 1890 ông làm gia sư cho Albrecht và Ferdinand, hai con trai của lãnh sự danh dự Freiherr von Lamezan. Điều này không phải hoàn toàn bất ngờ, xét theo việc trước đấy ông từng làm gia sư cho các gia đình thượng lưu. Nhưng tôi vẫn ngạc nhiên khi thấy ông đi quá xa khỏi nhà, mặc dù thời ấy có nhiều người Đức đến sống ở St Petersburg: nhiều nhà khoa học, bác sĩ, dược sĩ, thương gia va thợ giỏi từng được tuyển dụng làm chuyên gia nước ngoài ngay từ thời Sa hoàng thành lập thành phố này. St Petersburg được dự định làm một “cửa sổ ra Châu Âu” cho Đế quốc Nga, qua đó Peter Đại đế hy vọng sẽ bắt kịp với đà phát triển của Phương Tây. Cộng đồng người Đức ở đây có trường học, báo chí, nhà hát và câu lạc bộ riêng; thế kỷ mười chín phát triển văn hóa và kinh tế là thời kỳ huy hoàng của cộng đồng Đức ở đây. Điều này đặc biệt hấp dẫn với những người di dân tiềm năng ở Đế quốc Đức. Nhiều thập kỷ sau thậm chí Heinrich Himmler vẫn còn tung hứng với ý tưởng di dân tới nước Nga. Sau khi Đức đánh bại Pháp trong Chiến tranh Pháp-Đức 1870-1871, quan hệ giữa Đức và Nga nguội lạnh nhanh chóng, mặc cho mọi nỗ lực của Bismarck, người cố gắng hàn gắn tình bạn với nước Nga vì những lý do chiến lược. Trong nửa sau của thế kỷ nước Đức trở thành một sức mạnh kinh tế đang lên và tầng lớp trung lưu Đức lớn tiếng đòi hỏi vị trí tương xứng trong trật tự chính trị. Thái độ dân tộc chủ nghĩa ngày càng lấn tới cũng nhắm sang các mục tiêu thuộc địa, và nó đã đùa bỡn với ý tưởng một Lebensraum (2) mới ở phía đông. Năm 1888 Wilhelm II lên ngôi hoàng đế. Ông không mặn với “chính sách ngoại giao với ý thức cân bằng” của thủ tướng Bismarck, thay vào đó ông xem việc bành trướng đế quốc là tuyệt đối cần thiết cho dân tộc Đức nếu nó muốn giữ được chỗ đứng trên sân khấu quyền lực thế giới. (2) Lebensraum: không gian sinh tồn của một dân tộc theo học thuyết Quốc xã Đức. - ND |
Giữa bầu không khí căng thẳng đó ông cố tôi đến nhận làm gia sư tại nhà của ngài lãnh sự Đức ở St Petersburg. Cân nhắc chủ yếu của ông có lẽ ở chỗ ông thấy vị trí này là cơ hội lớn để thăng tiến xã hội. Một vị trí gần cận ngài lãnh sự không chỉ đem lại lý lịch làm việc tốt – một ông chủ như Freiherr von Lamezan cũng có thể đem đến cho người thanh niên hãnh tiến có xuất thân khiêm tốn một cơ hội tuyệt vời được gặp gỡ những người quan trọng thuộc tầng lớp trên trung lưu và giới quý tộc. Lamezan là bạn của Luitpold công tước nhiếp chính xứ Bavarian, thông qua ông ông cố tôi đã liên hệ được với gia đình hoàng gia Bavarian, nhà Wittelsbach (3) – một mối quan hệ sẽ giữ nguyên tầm quan trọng đối với ông cho đến cuối đời. Gebhard Himmler hẳn đã gây ấn tượng với gia đình Lamezan; tận cuối năm 1936 một người bạn gia đình vẫn nhớ lại trên tờ báo tỉnh Bavaria việc ông cố được hai con trai của Lamezan kính trọng khi làm thầy dạy ra sao. Ngoài ra, nhiệm vụ của ông ở St Petersburg là “làm một gia sư Đức để gieo trồng tính cách và văn hóa Đức vững chắc hơn vào những người ông chịu trách nhiệm”.
Khi Gebhard quay về Munich dịp Phục Sinh năm 1890 ông được bổ nhiệm làm trợ lý giảng viên tại trường Ludwigsgymnasium. Nhưng ông muốn thăng tiến thêm. Ba năm sau – chắc chắn nhờ có lý lịch công tác tốt, nhưng có lẽ cũng thông qua các quan hệ của Lamezan với gia đình hoàng gia – ông nhận thêm việc làm gia sư cho Công tước Heinrich von Wittelsbach, một vị trí ông làm tròn trong bốn năm. Cha của cậu học trò của Gebhard là Công tước Arnulf, con trai thứ ba của Công tước Nhiếp chính Luitpold. Việc ông được bổ nhiệm thường trực làm giáo viên tại trường Wilhelmsgymnasium sau khi kết thúc thời hạn làm gia sư có lẽ phần lớn nhờ ảnh hưởng của vị bảo trợ hoàng gia. Lúc này Gebhard đã ba mươi hai tuổi, điều kiện cá nhân của ông đã được bảo đảm, vậy nên ông bắt tay vào bước kế tiếp: cùng năm ấy ông cưới Anna Maria Heyder, trẻ hơn ông một tuổi và xuất thân trong một gia đình thương gia giàu có. Vợ đầu của cha bà là một góa phụ lớn hơn ông mười tám tuổi, khi qua đời đã để lại cho ông một gia tài kếch xù. Cũng như Gebhard, Anna mồ côi cha khi bà mới tám tuổi. (3) Dòng họ Wittelsbach: dòng họ hoàng gia Bavaria từ thế kỷ 12, có nhiều người làm công tước, tuyển hầu và vua xứ Bavaria, có hai người làm hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh (1328/1742), một người làm vua La Mã (Rex Romanorum, 1400), hai ngụy-vua xứ Bohemia (1619/1742), một vua xứ Hungary (1305), một vua xứ Đan Mạch và Na Uy (1440), và một vua Hy Lạp (1832–1862). |
Vào lúc làm đám cưới bà cố của tôi Anna đã ba mươi hai tuổi, sắp sửa trở thành theo thời ấy gọi là “bà cô già” và đã qua tuổi lý tưởng để lập gia đình từ lâu. Do được bổ làm giáo viên tại Wilhelmsgymnasium, Gebhard đã khá vững về tài chính, có những mối quan hệ tốt và đầy triển vọng thăng tiến cả về nghề nghiệp lẫn địa vị xã hội. Về phần mình, Anna Heyder mang theo món hồi môn 300.000 mark vàng.
Họ làm đám cưới ngày 22 tháng 7 năm 1897 tại nhà thờ Kitô giáo St Anna ở trung tâm Munich. Tiệc cưới buổi sáng được tổ chức tại Phòng Bạc của tiệm Café Luitpold thanh nhã trên phố Briennerstrasse – một con phố nơi sau này Heinrich Himmler sống qua thời sinh viên và về sau nữa đã sửa thành nhà tù SS của mình, nơi những người bất đồng chính kiến với chế độ Quốc xã bị hỏi cung. Các thành viên của gia đình hoàng gia Bavaria được mời đến dự tiệc cưới, và thực đơn – in tiếng Pháp, theo truyền thống của giới quý tộc Đức thời ấy – là sự phản chiếu các bữa ăn mà Gebhard đã quen thuộc trong những năm ông làm gia sư cho tiểu công tước, với vô số lượt soạn đĩa và mời rượu vang. Ban đầu đôi vợ chồng trẻ sống trong căn hộ của Anna tại quận trung tâm của Munich, số 14 phố Sternstrasse, nhưng mau chóng chuyển đến một căn hộ lớn hơn cùng ở khu vực đó, số 6 Hildegardstrasse. Hai tháng sau, ngày 29 tháng 7 năm 1898, con trai Gebhard Ludwig của họ chào đời (phụ danh của ông hàm ý kính trọng công tước Bavaria đang trị vì). Con thứ của họ, Heinrich Luitpold, ra đời hai năm sau, ngày 7 tháng 10 năm 1900, đặt tên theo hai vị công tước và được Công tước Heinrich làm cha đỡ đầu. Ngày 17 tháng 6 năm 1901 Gebhard Himmler được mời dự “Tiệc tối Absolutorial”: tiểu công tước đã đậu kỳ thi tốt nghiệp, vào thời ấy được gọi là bằng Absolutorium. Đây rõ ràng là một dịp đáng nhớ đối với ông cố tôi – một dạ tiệc với tám lượt soạn đĩa chọn món và mời rượu; món tráng miệng là charlotte à la Prince Henri; ông đã giữ lại tờ thiệp mời đến cuối đời, cùng với một đoạn cắt trên báo tả lại sự kiện này. Mối quan hệ giữa Gebhard Himmler với Công tước Heinrich là hết sức thân tình. Người thầy trong nhiều bức thư của mình gọi người học trò cũ là “Công tước Heinrich thương mến”, trong khi ngài công tước, thường trả lời theo kiểu tốc ký và quan tâm sâu sắc đến mọi vấn đề dính tới gia đình Himmler, ký tên là “Heinrich quý mến chân thành của ngài”. |
Đôi khi các thành viên của gia đình hoàng gia Bavaria đến thăm gia đình Himmler khi họ đi nghỉ hè ở vùng núi, và hàng năm họ đều đến dịp Giáng Sinh. “Một phần truyền thống trong lễ Giáng Sinh của chúng tôi,” Gebhard Con sau này đã viết trong “Hồi ký” của mình, là chuyến thăm của bà vợ Công tước Arnulf và con trai của họ, Công tước Heinrich von Bayern. Vào thời ấy họ phải “cư xử hết sức cung kính”, mặc dù không lần nào hai thành viên hoàng gia này “mang được một món quà nhỏ nào” tặng họ.
Những chuyến đến thăm hoàng gia ấy làm tốn một khoản tiền lớn, nhưng cũng hết sức quan trọng đối với Gebhard Cha, như ta có thể thấy qua một mảnh giấy viết tháng 4 năm 1914, trên đó ông ghi lại chi tiết của một bữa tiệc như vậy: một bữa trưa Chủ nhật truyền thống với đủ lệ bộ, bao gồm rượu vang, cà phê, rượu mùi và xì gà. Sang hôm sau ông hãnh diện cắt hai bài tường thuật trên hai tờ báo địa phương có viết rằng vào Chủ nhật ngày 26 tháng 4 công tước và mẹ ngài đã “đi dạo bằng ôtô từ Altötting đến Landsberg”, tại đó họ vào thăm “ngài gia sư cũ của công tước, hiệu phó trường Gymnasium”, và dùng bữa trưa tại nhà ông. Ngài công tước qua đời khi còn trẻ, nhưng mẹ ông vẫn tiếp tục đến thăm nhà Himmler. Con gái cả của ông Gebhard vừa cười lớn vừa kể cho tôi lần bà được gặp nữ công tước: “Bà thật thất vọng cháu ạ. Bà ấy già lẩy bẩy, ăn mặc toàn màu đen, mặt mũi nhăn nhúm – trông thế mà cũng là công tước?!” |
Mùa hè năm 1902 gia đình chuyển tới Passau, nơi Gebhard được thăng chức “giáo sư” (một chức hiệu cho giáo viên cao cấp của trường phổ thông) tại trường Gymnasium. Họ sống hạnh phúc tại đấy – họ có nhiều bạn bè và người thân sống trong thị trấn. Tuy nhiên sáu tháng sau cậu bé Heinrich bị bệnh rất nặng – ngay từ hồi còn ở Munich cậu đã rất yếu ớt. Hai vị bác sĩ chữa trị cho cậu, gồm một bác sĩ ở Passau và vị bác sĩ gia đình từ Munich đóng vai trò tư vấn, lại không thể xác định đây là bệnh lao hay viêm phổi tái phát; dù vậy cả hai đều vội khuyên cậu phải thay đổi không khí thường xuyên. Kết quả là mùa xuân năm 1904 gia đình quay về Munich, sống tại một căn hộ ở số 68 Amalienstrasse. Heinrich hồi phục được, mặc dù cho đến cuối đời sức khỏe ông ta luôn kém và dễ nhiễm bệnh, khiến luôn gây lo lắng cho bà mẹ, người khi còn bé đã phải mất cha vì bệnh thương hàn và mất anh trai vì bệnh bạch hầu.
Gebhard Con bắt đầu đi học sau khi họ quay về Munich tháng 9 năm 1904. Ban đầu cậu cũng thường bị bệnh và phải nghỉ học nhiều ngày đến nỗi cha mẹ cậu dành trọn kỳ nghỉ hè sau năm học đầu tiên để chăm sóc sức khỏe cậu và tự dạy cậu học; vào lúc bắt đầu năm học thứ hai, cậu đã theo kịp được với lớp. Anna Himmler mang thai một lần nữa và ngày 23 tháng 12 năm 1905 con trai út của họ, Ernst Himmler, tức ông nội tôi, chào đời tại Munich. Ra đời muộn mằn, nhỏ hơn hai anh người năm tuổi người bảy tuổi, cậu là cục cưng được nuông chiều trong nhà và là “tia nắng bé nhỏ” của cha mẹ cậu, cả hai đều đã trên bốn mươi khi cậu ra đời. Căn hộ tại Amalienstrasse rất rộng. Đám trẻ con Đám trẻ có riêng một phòng trẻ sáng sủa, đẹp đẽ với bộ đồ chơi xây dựng Anker bằng gỗ, một bộ đường ray xe lửa đều tăm tắp với chiếc đầu máy hơi nước. Trong phòng khách chờ ở phía sau, nhìn thẳng ra sân trong, cậu anh cả Gebhard ngồi hàng giờ để chơi những căn nhà mô hình tinh xảo và các món đồ chơi khác. Cạnh đó là căn buồng nhỏ của cô vú em Thilde, trong buồng có chiếc bồn tắm bằng sắt tráng men tuyệt đẹp, vào thời ấy là của hiếm trong nhà ở Munich. Trong khi sở thích của Gebhard là đầu máy hơi nước và kỹ thuật xây dựng giống như tuyến đường sắt treo mà cậu tự làm lấy, thì “Heini”, như gia đình và các bạn thân hay gọi, lại sớm ưa thích rõ các chú lính chì. Trò cậu khoái nhất mỗi tối Chủ nhật là ghép các lâu đài gỗ trên chiếc bàn xếp trong phòng sinh hoạt chung để chuẩn bị chơi đánh trận giả với Gebhard. Cả hai có những khẩu thần công đồ chơi có thể bắn bằng đạn nút và mẩu cao su hay đậu hột. Phần trước căn hộ là nơi nghiên cứu của người cha với những món đồ gỗ bằng gỗ sồi nặng nề theo phong cách Tân-Gothic và một thư viện liên tục được bổ sung thêm sách. Những dịp Giáng Sinh khu này được chuyển thành “phòng Chúa Hài đồng” đầy huyền bí cho lũ trẻ con, tại đấy các món quà được xếp sẵn trên chiếc ghế sofa. Chờ cho tới khi tất cả đã có mặt đầy đủ, đám trẻ tùy sức chơi đùa trong căn phòng, đến mức có thể làm chuyện vẫn bị cấm là nhòm qua lỗ khóa cửa sang ô cửa sổ nhỏ. Trong một góc phòng khách trang trí bằng nhung đỏ và gấm kim tuyến, là nơi để tiếp khách đến thăm, có một cái giá tranh kiểu baroque mạ vàng lồng chân dung của tiểu Công tước Heinrich. Tại phòng này cũng trưng bày ảnh chụp và thánh tích của dòng họ mà theo thời gian có thêm các quà tặng và đồ lưu niệm của họ hàng và bạn thân. Gebhard Himmler Cha sưu tập tem, tiền xu và giấy tờ liên quan tới lịch sử nước Đức; mọi thứ đều được tỉ mỉ lập danh mục trên thẻ tra cứu. Cả gia đình thường quây quần bên nhau mỗi buổi tối, bà mẹ bận rộn thêu thùa, người cha đọc một cuốn sách từ cái thư viện khá lớn. Những cuốn này chủ yếu là các tác phẩm về lịch sử Đức; ít nhất, các con của họ đều nắm rõ tên tuổi và ngày tháng mọi trận đánh lịch sử quan trọng ngay từ khi lên mười. Hết chương 2 |
Lời bình:
Cách viết của Katrin cho thấy bà có học kỹ về phân tâm học và phân tích sự việc dưới góc nhìn của người ngoài cuộc. Chi tiết nhận xét của bà nội họ của Katrin (con gái Gebhard Con) cho thấy tính hiếu danh và hãnh tiến ăn sâu trong ý thức dòng họ ra sao. TUy nhiên, sự việc cả gia đình dời nhà từ Pasau về lại Munich vì lo cho sức khỏe của anh con trai Heinrich cho thấy họ là những người hết sức tình cảm và yêu thương nhau. |
3
“Nuôi dưỡng bầy con trở thành người thấm đẫm tinh thần Đức”: Thời niên thiếu ở Đế quốc Đức Mỗi sáng hai người anh lớn đều cắp sách đến Trường Nhà thờ, đi củng với người cha vốn dạy học ở trường Gymnasium ngay cạnh. Gebhard Himmler Cha dùng chuyến đi bộ buổi sáng này để trò chuyện với các con trai. Việc giáo dục con là rất quan trọng đối với ông, và Gebhard cùng Heinrich là những cậu học trò giỏi. Chỉ có thể thao là Heinrich gặp phải rắc rối, vì thế cậu bù lại bằng việc vô cùng hăng hái tập luyện. Năm này qua năm khác, người cha tỉ mỉ ghi lại điểm học của bầy con và ghi nhận xét tóm tắt về những giáo viên, các bạn học và cha của các bạn học. Xét trên nghề nghiệp của những người cha, ông rút ra quyết định về việc người bạn nào là thích hợp hay có lợi cho con để chơi cùng. Sau giờ học hai anh em chơi với nhau và nghĩ ra đủ trò nghịch ngợm, vì chuyện đó cả hai được cha mẹ “thưởng thoải mái”, như lời Gebhard đùa để kể về những hình phạt phải nhận, bao gồm cả những trận đòn roi thường xuyên. Theo Gebhard nhớ lại thì Ernst, cục cưng trong nhà và vẫn còn được bà mẹ, chị vú em và vị quản gia cẩn thận theo dõi, vẫn còn nhỏ chưa thể tham gia chơi cùng hai anh. Gebhard và Heinrich được phép tự đi đến cửa hàng gần nhà nơi bán những món đồ chơi thủ công và các bộ phận của mô hình xe lửa, hai anh em thường xuyên ghé xem và thỉnh thoảng lại mua một vài món. Trên đường tới đó, ở góc đường Amalienstrasse và Theresienstrasse, theo như Gebhard nhớ lại trong cuốn “Hồi ký”, “chúng tôi đôi khi dán mắt nhìn qua cửa kính quán Café Stefanie, thường được các họa sĩ ở quận Schwabing tới đây gọi là “Café Megalomania”, và xem đám chơi cờ mặt mũi nghiêm trang đi các bước cờ, trước mặt thường đặt cốc nước trắng và ngậm que tăm ở kẽ răng”. Mấy năm sau cả hai anh em đều thành thạo môn cờ vua và Gebhard, giống như các họa sĩ mà ông vẫn khâm phục khi còn nhỏ, cũng thể hiện tài năng trong lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật. Vậy nhưng giữa đám lang thang Schwabing và hai cậu bé có gia cảnh sung túc đứng mê mẩn nhòm họ qua ô cửa sổ là hai thế giới hoàn toàn riêng biệt. Tiệm café này sẽ là nơi gặp gỡ của giới trí thức thành phố mà Gebhard vài năm sau, trong những tuần lễ vô chính phủ của cái gọi là Cuộc Cách mạng tháng Mười Một, sẽ xem đó là “lũ văn nghệ sĩ xoàng” tội phạm hoành hành Munich để thành phố này có may mắn được “giải phóng” nhờ Heinrich và các thành viên khác của Freikorps (những đơn vị bán vũ trang cực hữu). Mùa hè nào cả gia đình cũng đi nghỉ ở vùng núi phía nam Munich. Năm 1910 họ đến nghỉ ở làng Lenggries trên rìa dãy Alps. Bố mẹ đưa bầy con đi chơi rất nhiều: ví dụ như đi chiêm ngưỡng những nghệ sĩ đi dây tại quảng trường làng, hay đến thăm nhà máy làm bột giấy. Hai anh lớn thường đi bộ cùng cha đến chơi một địa điểm gần đó, trong khi bà mẹ và Ernst đến sau bằng tàu hỏa. Do là em út, cậu không thể bước kịp hai anh còn bà mẹ thì không đủ sức đi bộ. |
Đó hẳn là một mùa hè rực rỡ; vào lúc họ kết thúc kỳ nghỉ ngày 2 tháng 9, Heinrich ghi lại trong nhật ký của mình rằng cả nhà đã đi bơi đến bốn mươi lần. Chính trong những tuần lễ ấy cậu bé chín tuổi này học được cách viết nhật ký. Đây rõ ràng không phải ý tưởng của riêng cậu – có lẽ cha cậu là người đã yêu cầu cậu làm, ông đã viết dòng đầu tiên để làm mẫu cho con trai xem viết nhật ký phải như thế nào. Suốt nhiều năm sau đó Heinrich ghi lại mọi điều xảy ra với gia đình: thời tiết, các bữa ăn, những chuyến đi chơi, các bài tập piano, những chuyến đi bơi. Các đoạn ghi chép của ông ta khô khan, thực tế, không có chút rung cảm tưởng tượng nào của trẻ thơ. Và mong muốn làm việc này cũng vậy, bởi cha cậu đều đặn kiểm tra cuốn nhật ký, thường viết thêm vào hay chỉnh sửa vài chỗ, chủ yếu liên quan tới cách nhớ lại cho đúng sự việc, thường là danh xưng chính xác của mỗi nhân vật. Cha cậu cũng phê bình lỗi viết chữ xấu của con trai, mặc dù ông không gây nhiều ảnh hưởng tới Heinrich, bởi cậu ta vẫn tiếp tục viết cẩu thả. Điều này cho thấy rằng, ít nhất là lúc ban đầu, việc viết nhật ký là một nhiệm vụ chán ngắt hơn là một chuyện tất nhiên như sau này xảy ra.
Từ tuần thứ ba của kỳ nghỉ hè, Heinrich phải hoàn tất một định mức hàng ngày về bài tập, do kỳ thi tuyển của trường Gymnasium đã gần kề. Đấy là một điểm mốc quan trọng trọng cuộc đời Heinrich và cậu phải chuẩn bị kỹ càng cho nó, đặc biệt bởi cha cậu sẽ không có ở đó để khai giảng năm học mới. Vào cuối kỳ nghỉ Gebhard Himmler Cha sẽ du lịch tới Hy Lạp, “chuyến du hành dài nhất ông từng thực hiện”, người cháu gái lớn nhất của ông nhớ lại. Và ông đã chuẩn bị rất kỹ càng và chi li – trong trường hợp ông chết giữa đường. Ông đã sắp xếp mọi thứ từ nhiều tháng trước khi khởi hành; ba tuần trước khi đi ông viết những bức thư dài vĩnh biệt mọi thành viên của gia đình, nhồi đầy mọi loại chỉ dẫn cho cuộc sống tương lai của họ. Trong bức thư viết cho vợ ông giải thích các cách giữ an toàn tài chính trong trường hợp ông chết, kể cho vợ lần lượt từng người bạn nào có thể tới xin lời khuyên về những vấn đề khác nhau, tương ứng với mỗi chuyện nhà nhỏ nhặt nào đó cần phải giải quyết, liệt kê những khoản theo đó lương của người giúp việc có thể được tăng, đi vào chi tiết về việc phải làm gì với từng cuốn sách, thư từ và sổ tay của ông, và quy định ai có thể chấp nhận làm người bảo trợ cho lũ trẻ. |
Bức thư của ông cho Gebhard Con, khi ấy mới có mười hai tuổi, thể hiện rõ mối quan hệ đầy thương yêu giữa hai cha con và sự tôn trọng của người cha đối với con trai: “Con đem lại cho cha niềm vui khôn xiết, Gebhard yêu dấu ạ, cha vô cùng cám ơn con vì điều này”. Tuy nhiên, bức thư lập tức tiếp nối bằng những lời cổ vũ và chỉ dẫn cho người con trai cả. Nếu cha cậu không quay về, Gebhard phải liệu trước “mọi mong muốn của mẹ, làm mẹ vui lòng bằng sự siêng năng, hết lòng vì trách nhiệm, và đạo đức trong sáng của con (gạch dưới trong nguyên bản. Katrin Himmler), và, do con là con cả, phải mau chóng trở thành người biết hỗ trợ cho mẹ, đặc biệt trong việc nuôi dạy hai đứa em con”. Nhưng trên hết tất cả: “Phải trở thành người chăm chỉ lao động, sùng tín và thấm đẫm tinh thần Đức”. Ý ông muốn nói đến điều gì?
Chẳng may, bức thư vĩnh biệt gửi Heinrich không được giữ lại; tuy nhiên bức thư gửi Ernst mới bốn tuổi rưỡi có nội dung như sau: Ernstimändi bé bỏng yêu dấu của cha, Chỉ cần nghĩ tới việc cha có thể không bao giờ được ôm con nữa, không bao giờ được nhìn thấy cặp mắt đáng yêu nhỏ xíu đen láy của con cũng đủ làm tim cha thắt lại, và cha đã lặng lẽ khóc; mắt cha đỏ ướt lệ. Nụ cười rạng rỡ của con khiến con luôn là tia nắng nhỏ của Mẹ và Cha. Nhưng mặc dù có đoạn mở đầu đầy trìu mến, ngay cả cậu con út cũng không tránh được cha chỉ dạy: Con phải ngoan và biết vâng lời, luôn yêu thương Mẹ và các anh, làm theo mọi điều thầy cô yêu cầu, sao cho mọi người đều mến con và con luôn đem điểm tốt về nhà giống như anh con Beda (tức Gebhard Con, Katrin Himmler). Và tới khi con lớn, con có thể làm một bác sĩ tốt, hay đóng tàu, chế tạo động cơ, nhà cửa, hay những thứ tuyệt vời khác. Chỉ có đừng trở thành một thầy giáo giống như cha con; làm thầy giáo con sẽ chẳng làm ai hài lòng đâu. Nhưng thậm chí tới khi con đã là một người đàn ông to lớn khỏe mạnh, con vẫn phải yêu Mẹ bé nhỏ của con và cùng hai anh chăm sóc mẹ, đem niềm vui cho mẹ tới tận lúc mẹ nhắm mắt xuôi tay. |
Siêng năng, hết lòng vì trách nhiệm, có đạo đức trong sáng và biết vâng lời: đó là những lý tưởng tột đỉnh của Giáo sư Himmler. Dường như ông coi vợ mình là quá yếu ớt và không tự lực được (“Mẹ bé nhỏ của con”) đến nỗi ông bắt các con phải có trách nhiệm nâng đỡ mẹ dù vẫn còn là trẻ con. Trách nhiệm đối với mẹ mà ông áp đặt lên các con lại là điều mà ông thực hiện đối với bản thân mẹ mình chỉ ở mức có giới hạn. Trong bức thư vĩnh biệt gửi vợ ông, ông cho rằng mặc dù họ đã làm rất nhiều điều cho mẹ ông trong vài năm gần đây nhưng căng thẳng giữa họ cho tới lúc ấy đã trở nên quá mức đến nỗi Anna, ông nhấn mạnh, “trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể” tiếp nhận mẹ chồng vào ở chung nhà và nếu cần thiết thì phải tìm một nhà dưỡng lão – “loại tốt nhất” – cho bà.
Thậm chí ông còn nghĩ trước về chuyện học đại học của các con: ngay từ đầu chúng phải “theo đuổi việc học dựa trên một kế hoạch được trù tính kỹ lưỡng và nhắm tới học hàm tiến sĩ”. Bản thân ông không làm được tiến sĩ, và ba con ông sau này cũng vậy. Tuy nhiên, các con được phép chọn nghề nghiệp cho mình: “Chúng không nhất thiết phải trở thành công chức nhà nước”. Nhưng ta có thể thấy rõ sự xung đột dữ dội giữa sự nuông chiều và nghiêm khắc, giữa mặt tự do và mặt gia trưởng trong lòng Gebhard Cha nằm ở thực tế rằng ông chỉ cho phép các con chọn nghề cho mình trong những giới hạn cụ thể: “Sẽ tốt hơn nếu chúng không trở thành các học giả kinh viện hay sĩ quan quân đội, và anh xin em đừng cho chúng học thần học”, ông vạch ra cho vợ mình. Đối với các vấn đề tôn giáo dường như ông cố tôi không phải lúc nào cũng muốn dính dáng tới. Anna Himmler là một con chiên Kitô ngoan đạo và việc nuôi dạy tín ngưỡng cho con cái là trách nhiệm của bà, nhưng rõ ràng chồng bà đôi khi có xen vào nếu ông cảm thấy sự ngoan đạo đã đi quá xa. Trong bức thư này cũng vậy, Gebhard nhắc nhở vợ mình rằng “đừng cho phép niềm tin Kitô can thiệp quá mức”. Vào thời điểm thích hợp, khi con cái đã lớn và trưởng thành hơn, chúng phải được vị bác sĩ gia đình “nhẹ nhàng nói cho biết về những thực tế của cuộc sống”; và cuối cùng, ông yêu cầu vợ “tìm cách dẫn dắt việc chọn lựa bạn đời cho lũ trẻ, nhưng đừng quyết định thay chúng. Khiến chúng ý thức được những tiêu chuẩn lý tưởng, nhưng khi chúng đưa ra quyết định phải ngăn chúng lao đầu một cách quá vật chất vào đáy sâu của cuộc sống khắc nghiệt, điều này có thể bóp ngạt tất cả ngay từ đầu và chính là điều mà anh đã từng phải tự lôi mình ra”. Mặc dù Gebhard Himmler luôn hết sức quan tâm đến việc không làm hư con cái, ông còn quan tâm hơn đến việc ngăn chúng không phải trải qua những kinh nghiệm cay đắng về thiếu thốn vật chất mà bản thân ông từng trải qua. Ông hết sức chú trọng đến việc giáo dục tổng thể: “Không tiếc bất cứ hy sinh nào cho việc giáo dục tốt và toàn diện các con”. Đối với ông điều này bao gồm, ngoài những gì đám trẻ được học tại trường Gymnasium nệ cổ như “các ngôn ngữ hiện đại (hướng dẫn thực hành), âm nhạc, hội họa, tốc ký”, chúng còn phải tiếp tục có được một nhóm bạn bè “nhỏ nhưng có chọn lọc”. |
Việc nuôi dạy các con trai lớn lên trở thành “những người thấm đẫm tinh thần Đức” ắt hẳn rất quan trọng đối với ông: “Như những gì chúng ta đã làm được cho tới lúc này, hãy tiếp tục nuôi dạy các con yêu dấu của tôi theo đúng cách mà chúng ta suy nghĩ, nghiêm khắc nhưng đầy thương yêu, mộ đạo nhưng đừng quá khích, để chúng trở thành những người thực sự thấm đẫm tinh thần Đức”. Những nuôi dưỡng ông dành cho con được nối tiếp bằng các lý tưởng chính trị mà cả ba người con trai sau này đều theo đuổi; trong đó Heinrich, người đầu tiên làm vậy, đã thực hiện chúng thao cách quá khích nhất. Nhưng mặc dù đầy nghiêm khắc, mối quan hệ trong gia đình Himmler thật nồng ấm và đầy trìu mến. Tuy nhiên, đám trẻ càng lớn thì những kỳ vọng và yêu cầu về kỷ luật mà cha mẹ áp đặt lên cảm xúc của chúng càng nhiều. Và ba anh em trai rõ ràng đã hết sức cố gắng để làm họ vui lòng. Cả ba đều là những học sinh xuất sắc trong suốt tuổi đi học, thể hiện rõ kỷ luật mẫu mực mà cha của họ, vừa là một thầy giáo và sau này là hiệu trưởng, luôn đòi hỏi “với sự nghiêm khắc đầy yêu thương” đối với các học trò của mình.
Ngày 31 tháng 10 năm 1910, Gebhard Himmler thanh thản khởi hành sau khi ông đã sắp xếp trước cho mọi tình huống có thể xảy ra. Đến tháng 9 Heinrich vào học trường Wilhelmsgymnasium ở Munich, nơi anh cậu đang học. Có những lúc cả hai đều học chung một đồng nghiệp của cha mình tên là Hudezeck. Tình thân giữa họ với ông này kéo dài suốt nhiều năm sau đó thông qua việc hỗ trợ lẫn nhau: Heinrich giúp đỡ Hudezeck trong sự nghiệp của ông về sau và Hudezeck đã giúp đỡ Gebhard Con trong thời kỳ thanh tẩy chủ nghĩa quốc xã sau chiến tranh. Ernst bắt đầu đi học vào tháng 9 năm 1911. Cậu mới có năm tuổi, nhưng rất vui tươi và tự tin. Cậu học thuộc bài thật dễ dàng và giống như hai anh, luôn là một trong những học sinh đứng đầu lớp. Khó khăn duy nhất cậu gặp phải, giống như anh trai Heinrich, là trong thể thao bởi cậu bị cận thị nặng và do đó phối hợp vận động không được tốt lắm. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 07:15. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.