![]() |
Phát minh của người Nga - Hay người Nga đã sáng tạo cái gì
Tàu điện ngầm, bay vào vũ trụ, lò phản ứng hạt nhân phát điện đầu tiên hay bom nhiệt hạch đầu tiên...
Câu hỏi có vẻ như thừa! Nhưng vẫn phải hỏi bởi trong thế giới phương Tây, Nga là nghèo nàn lạc hậu, còn phương Tây là văn minh tiến bộ! Nhưng có thật như thế không? Nếu như hiểu nước Nga thì câu trả lời là Không! Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, hay khoa học xã hội cũng như khoa học kỹ thuật, nước Nga đóng góp cho nhân loại rất nhiều thành tựu. Không cần nói họ đứng đầu hay đứng thứ bao nhiêu bởi so sánh là khập khiễng, chỉ biết rằng, những phát minh khoa học, sáng chế của Nga rất thực tế, có tính ứng dụng cao và cũng không thể thống kê hay tính đếm hết được. Trong hệ thống phương Tây, những đồ lởm thường được bơm thổi đến tận mây xanh. Thí dụ, nhà phát minh vĩ đại Edison, dưới sự bảo trợ và cấp vốn của tài phiệt Do Thái có hơn 1 ngàn phát minh. Nhưng thực sự ông ta không hề phát minh ra bóng điện hay động cơ điện... v, v. Trong di sản hơn 1 ngàn phát minh, ngoại trừ những thứ ắp cắp, còn lại là phát minh vô dụng, vô hại, thậm chí là ngớ ngẩn. Thí dụ khác là Einstein thiên tài, nhà XX vĩ đại nhất thiên niên kỷ, nhưng lại ăn cắp toàn bộ công trình của mình từ người khác, và thiên tài chẳng hề để lại chút ứng dụng thực tế nào trong khoa học kỹ thuật ngày nay, ngoài Tôn Giáo tương đối khoác áo khoa học. thậm chí là tốn vô số công sức và tiền bạc vô ích chỉ để chứng minh cho thiên tài. Что создали русские! Người Nga đã sáng tạo cái gì! Người Nga không gọi những sáng tạo của họ là phát minh, và rất nhiều sáng tạo của họ thực sự là đầu tiên trên thế giới. Nhưng vì một số lý do, phương Tây vô tình hoặc cố ý không biết đến. Chỉ cần tìm Что создали русские trên Yandex sẽ gặp nhiều bất ngờ! |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
P. N. Yablochkov và A.N.Lodygin - Bóng đèn điện đầu tiên (không hề là Edison vĩ đại)
http://myrt.ru/inter/811-istorija-lampochki.html A. S. Popov – Chiếc radio http://www.nkj.ru/archive/articles/4597/ V. K. Zvorykin – Kính hiển vi điện tử đầu tiên, Tivi và truyền hình http://zn.innovaterussia.ru/index/zvorikin A. F. Mozhaisk – Máy bay đầu tiên thế giới (Không hề là anh em nhà Wright) http://flot.com/history/b-mozhaisky.htm I. I. Sikorsky - Máy bay trực thăng đầu tiên, máy bay ném bom đầu tiên http://www.pravmir.ru/article_2402.html A. M. Ponyatov – Máy ghi video (ghi hình) đầu tiên http://www.tvmuseum.ru/catalog.asp?ob_no=7911 S. P. Korolev – Tên lửa đạn đạo đầu tiên, tàu vũ trụ, vệ tinh http://edu4.shebekino.ru/korolev/ A. M. Prokhorov và N.G.Basov – Máy phát quantum (mazer) http://biopeoples.ru/nobellaurs/page...aleksandr.html V. Kovalevskaya – Nhà toán học, giáo sư nữ đầu tiên http://pskovichka.ru/publ/devushki_p...iki/14-1-0-168 S. M. Prokudin-Gorsky – Chiếc ảnh màu đầu tiên http://prokudin-gorskiy.ru/collection.php A. A. Alekseev – Màn ảnh kim http://ru.wikipedia.org/wiki/Alekseev F. A. Pirotsky – Xe điện đầu tiên http://www.retro.tramway.ru/events/2005-09-03.html F. A. Blinov – Máy kéo bánh xích đầu tiên http://library.istu.edu/hoe/personalia/blinov.pdf V. A. Starevich – Phim hoạt hình http://otkakva.net/interview/starevich/index.htm E. M. Artamonov – Xe đạp đầu tiên có bánh đổi hướng, bàn đạp http://izobret19.narod.ru/pg_artamonov.html O. V. Losev – Thiết bị bán dẫn khuếch đại và dao động đầu tiên http://makhk.livejournal.com/252896.html V. P. Mutilin – Tổ hợp xây dựng đầu tiên http://ru-patent.info/21/30-34/2133667.html |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
A. R. Vlasenko – Máy thu hoạch ngũ cốc đầu tiên
http://www.towertech.us/static/zerno..._kombainy.html V. P. Demikhov – Cấy ghép phổi đầu tiên, tim nhân tạo đầu tiên http://www.great-country.ru/content/...st/mi_0015.php A. D. Sakharov – Bom nhiệt hạch đầu tiên http://n-t.ru/tp/it/bs.htm A. P. Vinogradov – Ngành khoa học mới – địa hóa học đồng vị http://space-memorial.narod.ru/dr/vinogradov-a.html I. I. Polzunov – Động cơ nhiệt đầu tiên http://elib.altstu.ru/elib/books/Fil...02/pap_02.html G. E. Kotelnikov – Dù đeo lưng đầu tiên http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...028/Kotelnikov I. V. Kurchatov – Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên http://aes1.ru/names/Kyrchatov M. O. Dolivo - Dobrovolsky – Hệ thống điện 3 pha, máy biến áp 3 pha http://www.electricalmachine.ru/post...notes.php?id=5 V. P. Vologdin – Máy chỉnh lưu thủy ngân cao áp, lò cao tần công nghiệp http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...30866/Vologdin S. O. Kostovich – Động cơ chạy xăng đầu tiên http://i-r.ru/show_arhive.php?year=2004&month=2&id=188 V. P. Glushko – Động cơ tên lửa đầu tiên http://odesskiy.com/g/glushko-valentin-petrovich.html V. V. Petrov – Khám phá hiện tượng phóng điện hồ quang (hàn điện sau này) http://www.emc.komi.com/03/15/035.htm N. G. Slavyanov – Hàn điện hồ quang http://publ.lib.ru/ARCHIVES/S/SLAVYA...anov_N.G..html I. F. Aleksandrovsky – Máy chụp ảnh nổi http://www.uctt.ru/version/uctt2/content/page_2217.html D. P. Grigorovich – Cha đẻ của thủy phi cơ http://www.bestreferat.ru/referat-8975.htm L V. G. Fedorov – Súng máy đầu tiên thế giới http://armor.kiev.ua/Tanks/BeforeWWII/MS1/fedorov/ A. K. Nartov – Máy tiện có giá đỡ (bàn dao) di động đầu tiên thế giới http://stanokistoriya.ru/stanok/66.html |
Danh sách chắc còn nhiều nữa ( bổ sung thêm 01 phát minh nữa mà em biết là súng cối, được sáng tạo trong chiến tranh Nga -Nhật). Em mới xem qua một số bài. Đọc bài về bom H và nhà bác học SAKHAROV thâý thích quá.
|
Trích:
Nhưng những gì liên quan đến A. Einstein thì không phải chuyện đùa. Ông ấy được vinh danh khắp TG, kể cả LX và Nga ngày nay, chứ không chỉ ở Phương Tây. Và thuyết Tương đối có ý nghĩa lớn lao thế nào đối với nhân loại trong nhận thức và ứng dụng, không chỉ qua 1 câu nhận xét của bạn mà bị sổ toẹt. Còn việc ông "ăn cắp toàn bộ công trình của mình từ người khác", theo mình cũng là chuyện thêu dệt, giống những người nổi tiếng khác thường "bị thêu dệt" những cái faute tương tự. Điều đó chỉ tô vẽ thêm cho sự vĩ đại của họ mà thôi. (Từng có những "tô vẽ" kiểu như vậy đối với Shakespeare, Sholokhov, Văn Cao v.v..) |
Gần đây có nhiều tài liệu, chủ yếu là tài liệu phân biệt chủng tộc, chống người do thái nói rằng ông Einstein đánh cắp ý tưởng về phương trình E=MC^2 từ một mục sư người Áo gốc Đức. Tất cả những tài liệu này được tung ra mục đích chính là bài bác người do thái của các thành phần cực hữu ở các nước châu âu.
Rất khó để có thể tin vào những tài liệu này vì trong giới làm khoa, lý thuyết được xây dựng trong nhiều năm liền, kể từ khi công bố chính thống cho đến lúc hoàn thiện là hàng chục năm. Một công trình bị đánh cắp sẽ ngay lập tức bị phát hiện vì những chuyên gia làm trong lĩnh vực hẹp hiểu biết các công trình này ko nhiều. Nếu có đánh cắp hoặc trùng lặp họ dễ phát hiện ra. Trong trường hợp sau khi đã công trình đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, ai đó cho rằng họ đã tìm ra lý thuyết đó trước nhưng ko công bố theo đường lối khoa học chính thống, thì đó là điều khó tin vì nhà khoa học bắt buộc phải công bố trên các tạp chí chính thống để công trình được kiểm chứng độc lập. Điều đáng lo ngại là nhiều tài liệu này được dịch sang tiếng Nga bởi những người theo chủ nghĩa cực đoan ở Nga. Họ nhồi nhét nhiều thế hệ trẻ của Nga bằng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, bài người do thái theo đúng phong cách Đức quốc xã. Chủ nghĩa này được một số nhà chính trị ở Nga sử dụng để lôi kéo những thanh niên quá khích. Chủ nghĩa này khi về Nga được bổ sung thêm các luận điệu đổ lỗi sự sụp đổ, và khó khăn của Nga cho phương Tây, và cho cả những người nước nước ngoài đang làm việc tại Nga trong đó có cả người VN. Gần đây tôi thấy SSX dịch rất nhiều bài viết như vậy đăng ở các topic tương tự, có nhiều bài lưới qua thấy ngay thông tin sai lệch, phân biệt chủng tộc và bài người do thái, viết dịch từ nhiều nguồn một cách chắp vá, vội vã đưa ra các kết luận ko có chứng cứ. Điều đáng buồn là SSX làm việc này một cách vô cảm, vì cách đây chưa đầy chục năm, có hai em sinh viên VN là nạn nhân trực tiếp của nạn phân biệt chủng tộc này ở Nga. Điều đáng buồn hơn nữa là gần đây những bài như vậy chiếm một phần đáng kể NNN, được cập nhật tích cực bởi thành viên SSX và sự kiểm định có phần thiếu khách quan của một vài mod (những mod nào đã bấm nút cảm ơn các bài viết phân biệt người do thái ở topic tương tự). Nhiều lần tôi đã muốn lên tiếng nhưng đành thôi vì nghĩ rằng dù gì thì cũng rất có ít người thực sự đọc các bài viết này. Nhưng để nó tràn lan trên bộ mặt NNN như thế này thì đến lúc cần phải lên tiếng. |
Trích:
EINSTEIN VÀ POINTCARÉ: AI ĐÃ TÌM RA THUYẾT TƯƠNG ĐỐI? .................................................. ...........PETER GALISON .................................................. .............Nguyễn Hoàng ..............................................Lược dịch từ La Recherche. Liệu có phải là Einstein đã khám phá ra Thuyết Tương đối? Hay đó chính là Pointcaré? Những câu hỏi này đã dẫn tới cuộc tranh luận bất tận kéo dài hàng chục năm qua để biết rõ thực sự ai là người đã khám phá ra Thuyết Tương đối. LỘI NGƯỢC THỜI GIAN. Tính tương đối, đặc biệt là tính tương đối của thời gian là hình ảnh tượng trưng không chỉ cho vật lý hiện đại mà cho cả kỷ nguyên hiện đại của con người. Chúng ta hãy quay ngược trở lại quá khứ một chút để nhìn nhận lịch sử phát triển của thời gian và hiểu rõ hơn những việc mà Einstein và Pointcare đã làm. Điểm quan trọng nhất trong công việc này là định vị được một trong hai điểm nút của việc xác định lại giá trị thời gian. Hãy xem xét việc họ đơn giản hóa tính thời gian : Thời gian đối với hai nhà khoa học chỉ là sự kéo dài tự nhiên của những độ dài đã được chuẩn hóa. Nó được biểu hiện trên mặt của những chiếc đồng hồ đặt ở nơi công cộng để chỉ thời gian tàu đi, tàu đến, đem đến sự chính xác cho các giờ học hoặc thời gian làm việc. Tại Đài thiên văn Paris trong những năm 1890, nhà thiên văn người Pháp Charles Wolf đã sử dụng các nam châm điện để đảm bảo cho các đồng hồ thiên văn không bị sai và áp dụng phương pháp này cho hơn chục chiếc đồng hồ khác lắp đặt trên các đường phố Paris. Afred Cornu, một kỹ sư đồng thời là nhà vật lý người Pháp đã phối hợp các nguyên tắc cơ khí và điện từ để chỉnh giờ cho chiếc đồng hồ quả lắc khổng lồ của mình. Qua đó, ông cũng hình thành được một phương pháp phân tích đồng bộ điện tử rất chính xác. Thời đó, các nhóm quan sát thiên văn lưu động thường phải làm các công việc đổi giờ theo các hệ thông múi giờ khác nhau như Paris, Senegal, Quito, Boston, Berlin hay Greenwich. Các nhà thiên văn Anh thì thường bán các thông tin thời gian chính xác cho ngành đường sắt. Trong khi đó nước Pháp lại mong muốn một ngày nào đó đem lại sự chính xác của Đài thiên văn Paris làm thời gian mẫu cho toàn bộ đất nước. Việc thiết lập một tiến trình chuẩn hóa thời gian quả là một công việc khổng lồ, đòi hỏi nhiều thiết bị như hàng trăm cột đồng hồ và hàng ngàn cây số cáp. Như vậy, nó phải huy động được việc phát triển đồng bộ nhiều tiềm lực công nghệ chế biến khác nhau như chế biến thép, cao su, giấy… Chính vì vậy mà việc đồng bộ hóa thời gian chung không chỉ là ước muốn của các nhà chính trị mà cả các nhà công nghiệp, khoa học và tư tưởng. Sẽ là đơn giản nếu điều này chỉ nhằm phục vụ cho một mục đích duy nhất như cung cấp giờ chính xác cho các công ty đường sắt, thỏa mãn tham vọng của các nhà khoa học hay đáp ứng khát vọng nóng bỏng của các nhà triết học. Trên thực tế, việc chuẩn hóa thời gian phức tạp hơn nhiều. KHÁI NIỆM PHỨC TẠP CỦA THỜI GIAN. Trước thế kỷ XIX, thời gian quả là một vấn đề phức tạp vượt qua khuôn khổ của những máy móc, những chiếc đồng hồ quả lắc và những chiếc kim đông hồ. Thí dụ trong thế kỷ XVIII, những chiếc đồng hồ chính xác do người thợ đồng hồ John Harrison làm ra đã nổi tiếng ở phạm vi toàn thế giới và vượt ra khỏi lĩnh vực chế tạp đồng hồ. Người ta thấy nói đến sự chính xác này trong những công trình nghiên cứu về kinh độ, trong các tập chuyên san và trong các tác phẩm trào phúng viết về chủ đề giờ giấc hay địa lý. Tiếp tục lội ngược thời gian trở về trước, người ta thấy những chiếc đồng hồ trong các nhà thờ không chỉ có tác dụng chỉ giờ giấc. Chúng phục vụ các công việc của cha xứ và các lãnh địa. Hơn thế nữa, nó nhắc nhở con người, dù giàu hay nghèo về khái niệm của cái chết. Khó mà có thể miêu tả được một thời khắc nào đó của thời nguyên thủy – qua các khái niệm của văn hóa mà không phải nhắc tới hình tượng nhỏ nhất của thời gian như những hạt cát đang chảy trong những chiếc đồng hồ cát hay chiếc bóng trên mặt đất và sau này là chiếc kim của đồng hồ. Cái mới của thời cuối thế kỷ XIX chắc chắn không phải là sự kiện ra đời một phát minh đặc biệt : những chiếc đồng hồ chuẩn mà trước kia con người không hề có. Thực ra đó là sự thay đổi có tính chất đặc biệt hơn ở một tầm lớn hơn nhiều, trải dài từ mật độ của thời gian tới sự lan tỏa của khái niệm thời gian chuẩn đi khắp châu Âu và Bắc Mỹ. Khái niệm về điều cần thiết phải có thời gian chuẩn đã bao phủ trên toàn thế giới. Làn sóng lan tỏa của nhiều công nghệ đã tác động đến nhau tạo thành những trào lưu mới. Tàu hỏa có mặt đã dẫn tới sự xuất hiện của máy điện báo, máy điện báo kéo theo sự phát triển của bản đồ và bản đồ về phần mình giúp cho việc lắp đặt đường sắt thuận lợi hơn. Cả ban thứ này (tàu hỏa, máy điện báo và bản đồ) lại càng khiến câu hỏi về tính đồng thời ở những khoảng cách xa trở thành hiện hữu hơn : bây giờ là mấy giờ rồi ? Chỉ cần chú ý vào các từ vựng kỹ thuật (trong ngành ô tô, điện báo, đường săt và pháo binh) được nhắc tới rải rác trong các bài viết của Einstein và Pointcaré là ta có thể biết được khung cảnh thực tế của câu hỏi đơn giản này. Người ta có thể coi sự đông thời như các điểm nối của các vòng cung khác nhau của một hình tròn, mỗi vong cung đại diện cho một giai đoạn « tiến triển », « phát triển » hoặc « tiến lên » nào đó trong lòng của một trật tự nào đó. VẬT LÝ NÓI GÌ ? Trong lĩnh vực vật lý giai đoạn 1890 – 1905, chưa có một khái niệm nào về tính đồng thời thực sự định hình. Thời gian cục bộ (Ortszeit) đã khởi đầu như một khái niệm địa lý và trở thành thời gian cục bộ giả tưởng của Lorentz, rồi thành thời gian cục bộ có thể quan sát được (nhờ các tín hiệu màu) và thời gian « thấy rõ » ở Pointcare trước khi có cái tên mới : thời gian tương đối của Einstein. Những thay đổi này trong việc diễn đạt thời gian không xuất hiện trong cùng một thời gian mà thực chất cũng chẳng diễn ra riêng lẻ trong lĩnh vực vật lý. Người ta sẽ hiểu rõ được tiến trình hơn khi hình dung các khái niệm này như một sự vận động không ngừng của một trò chơi trong xã hội. Một « bước đi » có thể là một tuyên bố về mặt nguyên tắc (công ước) hoặc một tiến trình vật lý. Cần nhớ là Pointcare và Lorentz là những người có một cảm giác tương đối về tính đồng thời để có thể phân biệt được các tiến triển trong công trình của họ trong khi bản thân cái đích mà họ đang tiến đến cũng không ngừng vận động (đi lên). Nếu như mục đích của Lorentz đặt ra từ năm 1894 là giải quyết cái phương trình trong đó một vật di chuyển trong một trường điện từ được coi là đang dừng lại trong ether. Trong hai năm 1904 – 1905, mục đích của ông (và cả của Pointcare) là thiết lập lên các định luật vật lý có thể dẫn tới các kết quả như nhau để có thể đo đếm được một chuyển động đều trong bất kỳ hệ thống chuyển động nào. Một trong những vòng cung của tính đồng thời do đó thuộc về lĩnh vực vật lý và đại diện cho một loạt các bước đi như chuyển động điện động lực trong các vật chuyển động. Nhưng Pointcare đã có những bước tiến ít nhất trong hai vòng cung khác : trong việc xác định kinh độ từ xa cà trong lĩnh vực triết hcoj ở Pháp vào cuối thế kỷ XIX. Trong suốt cả đời mình, ông rất quan tâm đến những câu chuyện về du lịch và khám phá. Chính vì vậy trong các công trình của mình, kể cả công trình khoa học hay tác phẩm bình thường khác, ông đều nhấn mạnh việc cần phải « lấp đầy các khoảng trống trên bản đồ thế giới » và Pointcare luôn tin rằng mình sẽ làm được việc này. Còn nhà vật lý hiện đại Einstein thì thực hiện công việc của mình theo ba hướng khác nhau, kiểu như dựa trên một chạc ba mũi : thứ nhất là tính vật lý của các vật chuyển động, thứ hai là xem xét lại khái niệm tuyệt đối của không gian và thời gian và cuối cùng là phổ cập việc chuẩn hóa thời gian. Những quan tâm của Einstein dường như có tính vật lý nhiều hơn Pointcare bởi nó dựa trên các máy móc cụ thể hơn là các cơ chế trừu tượng. Tuy nhiên, cả hai người đã để lại những công trình lớn cho vật lý hiện đại, để lại hai tham vọng cực lớn nhằm nắm rõ bản chất của vũ trụ. Cái hiện đại của Pointcare là chứng tỏ được sự thật của các quan hệ khách quan, đơn giản trong khi Einstein là xây dựng lên được một lý thuyết có khả năng giải thích và cụ thể hóa được các hiện tượng mà không cần phải tiên đoán nó. Cho dù cả Einstein và Pointcare không có những biểu hiện và lời nói công nhận sự ngưỡng mộ lẫn nhau nhưng không ai trong số họ vi phạm vào cái mới, cái hiện đại của người kia. Tuy rất gần nhưng lại khá cách xa để nói về nhau, hai cách diễn giải đồng nhất về tính tương đối lại chẳng bao giờ gặp được nhau ngay cả khi mỗi người, theo cách của mình đã biến đổi « thời gian » thành một khái niệm cách mạng trong cả lĩnh vực triết học lẫn công nghệ của loài người. |
Trích:
Vì sống trong băng giá, không có trò gì chơi nên đành ôm đống sách vở toán lý hóa để nghiền ngẫm. Vì hay nghiền ngẫm nên người Nga thông minh!!! Cũng có huyền thoại cho rằng, học là phải đa chiều, phải phản biện. Còn lối học thầy giảng trò chép rồi về ký túc xá lạnh lẽo mà nghiền ngẫm là lạc hậu. Để cho đúng tinh thần đa chiều, phản biện, tôi để cả topic Nước Nga và xứ mệnh lịch sử cho các thành viên vào đó phản biện dưới góc độ học thuật. Nhưng không hề thấy bác hanoi vào đó viết bài. Trái lại, thấy bác ở đây qui chụp này nọ. Vậy hỏi bác, phát minh của người Nga thì liên quan gì đến "phân biệt chủng tộc"? Liên quan gì đến "hai em sinh viên VN là nạn nhân trực tiếp" vậy? |
Bây giờ ta thử phản biện trường hợp của phương trình E = mC^2 theo tinh thần đa chiều.
* Olinto de Pretto nước Ý công bố phương trình E=mc^2 trên tờ Atte năm 1903, một tạp chí mà Anhxtanh đọc. Năm 1904, tạp chí Royal Science Institute of Veneto đăng lại bài của de Pretto. * Friedrich Hasenohrl-Đức, cùng J.J. Thomson-Anh và W. Kaufmann-Thuỵ điển, công bố phương trình E=mc^2 trên cùng một tạp chí mà sau đó Anhxtanh cũng viết E=mc^2 vào năm sau như là của ông ta (năm 1905), và không hề đề cập đến bất cứ ai trong 3 người đã công bố phương trình năm 1904. * Anhxtanh công bố công trình trong đó có công thức E=mc^2 năm 1905. Và thiên tài lại không thể chứng minh phương trình của mình: 1905 Thất bại lần 1 chứng minh E = mc2 1906 Thất bại lần 2, 3, 4 chứng minh E = mc2 1914 Thất bại lần thứ 5 chứng minh E = mc2 1934 Thất bại lần thứ 6 chứng minh E = mc2 1946 Thất bại lần thứ 7 chứng minh E = mc2 Why E=mc2? Because I say so! Vậy phản biện thế nào đây? Khi mà nói đến học vấn ở Nga thì đả phá người ta đọc chép nghiền ngẫm. Đòi đa chiều phản biện. Còn khi nói về Einstein thì như tín đồ đọc sách thánh? Hóa ra, phản biện hay phản đối chỉ áp dụng cho Nga, còn phía phương tây thì không!!! Sao ở chỗ nào cũng thấy tiêu chuẩn kép vậy? Nếu làm một phép thống kê, về trí thông minh của nạn nhân những vụ lừa đảo, thì chẳng cần nói cũng biết rằng, chỉ số này không được sáng sủa cho lắm. Tương tự như thế, fan Einstein ở phương tây cũng không nhiều lắm, chỉ đông đảo ở giới thấp học, xấp xỉ 50% giới có học vấn. Trong giới học vấn cao thậm chí còn ít hơn. Có rất nhiều công trình nghiêm túc nói về những vấn đề liên quan đến Einstein. Nếu ai quan tâm có thể tìm mua "Science at the Crossroads" của Herbert Dingle năm 1972, quyển "Relativity, Time and Reality" của H. Nordenson năm 1969, người Nga có cuốn "Fiction Stranger Than Truth" của Alexei Nikolaevich Rudakov năm 1981. “Einstein's mistakes the human failings of genius” của Hans C. Ohanian. Chỉ cần đọc xong 1 cuốn của Rudakov đảm bảo thấy ngay chân dung một gã plagiarist khờ khạo. |
Bác SSX mở thớt này theo nhà em là mở ra một sự thú vị. Nhưng có lẽ, việc mở đầu của bác nếu có vài còm khách quan và cẩn thận hơn thì hẳn khá nhiều người đã bấm thanks cho bác, thể hiện sự hứng thú và tán thưởng.
Khi đọc các bài đầu của bác, nhà em đã định thanks nhưng nhớ những dòng về Anhxtanh thì chợt khựng lại. Quan điểm riêng nhà em thấy phán xét một chế độ hay một nền kinh tế vẫn dễ hơn nhiều lần phán xét một chủ thuyết khoa học. Còn nếu ngay cả thuyết khoa học đó không hoàn hảo thì nó vẫn đúng trong phạm vi và quy mô của nó, như vật lý cổ điển vẫn đúng trong đới sống, dù nó sai khi tính toán ra quy mô vũ trụ. Anhxtanh cũng đã từng nói ông chỉ leo lên đứng trên vai những người khổng lồ tiền bối, và lưu ý là trên vai chứ không phải trên đầu. Người Nga có rất nhiều nhà khoa học hiểu Anhxtanh đầu tiên, và cũng có rất nhiều người muốn leo lên trên vai Anhxtanh. Thuyết tương đối chưa giải thích được mọi thứ, nhưng nó đang giúp con người nghiên cứu vũ trụ để sau này giải thích mọi thứ. Chính mình đã và đang suy nghĩ về lý thuyết rộng hơn, không nhằm đánh đổ Anhxtanh (AxT). Nhiều luận thuyết đả phá nói AxT lấy của người khác, rằng thuyết của ông không thực tế, ấy là bởi người đọc khôgn mấy ai hiểu TTĐ, dù là sinh viên chuyên ngành vật lý tương đối, chưa nói đến người ngoại đạo. Điểm khác cốt lõi của TTĐ so với những gì đã có là tính tương đối của chính thời gian, và từ đó là không gian. Cái trước dẫn đến thuyết TĐ hẹp, cái sau dẫn đến TTĐ rộng mà chủ nhân của nó là trường hấp dẫn. Ở VN cũng đã có ít nhất 2 bác sáng tạo ra những thuyết mới hy vọng bao trùm cả TTĐ, nhưng chưa đủ cơ sở lập luận để thuyết phục người hiểu và tin. Nhưng phải nói các bác đấy là nhưng người dũng cảm/ Còn người Nga cũng có nhiều hơn 2 bác đã và sẽ xây dựng những thuyết mới, và có thể đến lúc nào đó sẽ thành công. Hạt Higg đang được tìm kiếm thật ra cũng thuộc phạm trù TTĐ rộng. Dù cuối năm nay có tìm ra Higg thì từ đó đến giải thích mọi thứ vẫn còn rất xa và xa... TTĐ từ lâu đã được khoa học sử dụng trong tính toán đường bay của các trạm vũ trụ, thậm chí trong tính toán chính xác thời điểm nguyệt thực - nhật thực đến từng giây. Trước TTĐ vẫn tính được nhưng không thể chính xác đến thế. Cái vĩ đại của AxT là ở chỗ, ông không chạm tay vào bất cứ gì thuộc TTĐ mà vẫn xây dựng được nó bằng logic và trí tưởng chính xác của mình. Còn chúng ta, nhìn và thấy bao nhiêu hiện tượng xã hội kỳ lạ mà đâu dám nói, kể gì đến xây nên cái thuyết xã hội để giải thích và thay đổi. Nói một đằng làm một nẻo, sao dám so với cha đẻ TTĐ đoán trúng những gì không cần nhìn thấy! PS. Phương trình E=mc2 là của TTĐ hẹp, còn rộng hơn nữa là phương trình Tenxo cho TTĐ rộng. Chúng đều là kết quả logic của trí tưởng mà khó thể chứng minh, giống như cách xếp các nguyên tố hóa học vào bảng tuần hoàn của Mendeleev vậy, Chính Mendeleev cũng chẳng bao giờ từng giải thích làm sao ông làm ra nó. |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
Trước khi đi vào những trường hợp cụ thể, thì phải thống kê đã, quá nhiều!
M. V. Lomonosov – Phát hiện nguyên lý bảo toàn vật chất và chuyển động, nguyên nhân vật lý của hóa học, phát hiện tồn tại khí quyển trên Venus… Ông là nhà khoa học đa tài. http://znaniya-sila.narod.ru/people/000_00.htm I. P. Kulibin – Nhà cơ học, phát triển cầu vòm đơn nhịp bằng gỗ đầu tiên http://www.great-country.ru/content/...st/mi_0030.php V. V. Petrov – Nhà vật lý, phát triển pin điện kẽm lớn nhất thế giới, nghiên cứu sự phóng điện mở http://izobret19.narod.ru/hp_galvani..._batareya.html P. I. Prokopovich – Phát minh về cấu trúc tổ ong http://www.nest.by/opedia/prokopovich-petr-petrovich N. I. Lobachevsky – Cha đẻ của hình học phi Euclide http://geom.kgsu.ru/index.php?option...ask=view&id=52 http://www.bestreferat.ru/referat-46547.html D. A. Zagryazhsky – Phát minh xe bánh xích http://svistun.info/zemledelie/45 B. O. Yakobi – Mạ điện (mạ kẽm) và động cơ điện đầu tiên với rô-to trục quay trực tiếp http://ru.wikipedia.org/wiki/Якоби,_Борис_Семёнович http://www.megabook.ru/Article.asp?AID=691411 P. P. Anosov – Nhà luyện kim phát hiện bí mật chế tạo của thép Da-mát cổ đại (thép rèn, thép làm kiếm cực tốt) http://sundry.wmsite.ru/predki-muzha...-tajna-bulata/ D. I. Zhuravsky – Lần đầu tiên phát triển lý thuyết tính toán dầm cầu, sau được ứng dụng ra toàn thế giới http://nplit.ru/books/item/f00/s00/z0000054/st031.shtml N. I. Pirogov – Lần đầu tiên phát triển bản đồ giải phẫu topo-graphical anatomy, phát minh ra thuốc gây mê, bột thạch cao để bó xương và rất nhiều sản phẩm khác http://www.hrono.ru/biograf/bio_p/pirogov_ni.php I. R. Germann – Lần đầu tiên công bố phát kiến về mỏ uranium http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...Германн A. M. Butlerov – Lần đầu tiên diễn đạt cơ sở của lý thuyết cấu trúc tổ chức hữu cơ http://ru.wikipedia.org/wiki/Бутлеро...айлович I. M. Sechenov – Cha đẻ của Sinh lý học tiến hóa, công trình phản xạ của bộ não http://www.raruss.ru/russian-thought/647-sechenov.html D. I. Mendeleev Khám phá qui luật tuần hoàn các nguyên tố, cha đẻ của bảng tuần hoàn mang tên ông http://www.hemi.nsu.ru/ucheb145.htm M. A. Novinsky – Người đặt nền móng cho Ung thư học thực nghiệm http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...винский G. G. Ignatyev – Lần đầu tiên phát triển hệ thống điện thoại và điện báo trên dây dẫn http://historic.ru/books/item/f00/s0...86/st052.shtml K. S. Dzhevetsky – Người phát triển tàu ngầm đầu tiên có mô-tơ điện http://library.istu.edu/hoe/personalia/dzevetsky.pdf N. I. Kibalchich – Lần đầu tiên phát triển hệ thống máy bay động cơ tên lửa phản lực http://epizodsspace.airbase.ru/bibl/...hich/star.html N. N. Benardos – Phát minh hàn điện http://elite-home.narod.ru/inven39a.htm V. V. Dokuchaev – Người đặt nền móng cho ngành khoa học đất http://geography.kz/slovar/dokuchaev-vv/ V. I. Sreznevsky – Máy chụp ảnh trên không đầu tiên http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_t...аппарат A. G. Stoletov –Người tạo ra tấm pin mặt trời đầu tiên http://cbs.lib33.ru/jirbis/vk/AG_Stoletov.html P. D. Kuzminsky – Động cơ tua-bin khí đầu tiên http://www.biografija.ru/show_bio.aspx?id=71356 I.V. Boldyrev – Người tạo ra phim nhạy sáng không cháy đầu tiên, là cơ sở của phim sau này http://www.ispu.ru/node/7631 I. A. Timchenko – Máy chiếu phim đầu tiên http://www.segodnya.ua/news/805589.html S. M. Apostolov-Berdichevsky và M. F. Freydenberg – Trạm điện thoại tự động đầu tiên http://ru.wikipedia.org/wiki/Михаил_...денберг N. D. Pilchikov – Hệ thống điều khiển không dây đầu tiên http://kharkov.vbelous.net/politex1/pilchikv.htm V. A. Gassiev Máy sắp chữ đầu tiên http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Книгопечатание/ Konstantin Tsiolkovsky – Cha đẻ ngành du hành vũ trụ http://tsiolkovsky.ru/ P. N. Lebedev – Nhà vật lý đầu tiên chứng minh bằng thực nghiệm ánh sáng gây ra áp lực trên vật rắn http://ggorelik.narod.ru/ZS_etc/ZS9805_P.N.Lebedev.html Ivan Pavlov – Cha đẻ của ngành khoa học hoạt động thần kinh bậc cao http://nplit.ru/books/item/f00/s00/z0000054/st011.shtml B. I. Vernadsky – Người sáng lập rất nhiều trường khoa học http://dic.academic.ru/dic.nsf/dic_n...НАДСКИЙ |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
A. N. Skryabin – Nhà soạn nhạc, lần đầu tiên sử dụng hiệu ứng ánh sáng
http://ru.wikipedia.org/wiki/Скрябин...олаевич N. E. Zhukovsky khí động lực học hàng không http://hrono.ru/biograf/bio_zh/zhukovski_ne.php S. V. Lebedev – Lần đầu tiên chế tạo ra cao su nhân tạo http://www.physchem.chimfak.rsu.ru/S...s/Lebedev.html G. A. Tikhov – Nhà du hành vũ trụ lần đầu tiên phát hiện trái đất màu xanh http://ru.wikipedia.org/wiki/Тихов,_Гавриил_Адрианович N. D. Zelinsky – Người đầu tiên chế tạo mặt nạ phòng độc bằng than hoạt tính http://www.hkz.ru/museum/293-zelinskiy-kummant-gas-mask N. P. Dubinin – Nhà di truyền học khám phá sự phân chia của gene http://ru.wikipedia.org/wiki/Зелинск...триевич M. A. Kapelyushnikov – Phát minh máy khoan tua-bin http://dic.academic.ru/dic.nsf/es/25862/Капелюшников E. K. Zavoysky – Phám phá cộng hưởng điện từ http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_p...ТРОННЫЙ N. I. Lunin – Chứng tỏ có vitamins trong cơ thể sống http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...152/Лунин N. P. Wagner – Khám phá gene gốc của côn trùng http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...трович/ Svyatoslav N. Fedorov – Lần đầu tiên chữa trị bệnh glaucoma (thiên đầu thống) http://ru.wikipedia.org/wiki/Федоров, _Svyatoslav_Nikolaevich S. S. Yudin – Lần đầu tiên ứng dụng truyền máu cho bệnh nhân chết lâm sàng http://ru.wikipedia.org/wiki/Юдин,_Сергей_Сергеевич A. V. Shubnikov – Người chỉ ra hiệu ứng áp điện và tạo ra cấu trúc có hiệu ứng đó http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Шубников Алексей Васильевич/ L. V. Shubnikov – Từ tính của bán dẫn (hiệu ứng Shubnikov-de Haas) http://ru.wikipedia.org/wiki/Шубников,_Лев_Васильевич N. A. Izgaryshev – Khám phá hiện tượng âm điện của kim loại trong điện cực khô http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...гарышев P. P. Lazarev – Sáng lập ra lý thuyết kích thích i-on http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...Лазарев P. A. Molchanov - Tạo ra máy thăm dò khí tượng đầu tiên (radiosonde) http://epizodsspace.airbase.ru/bibl/...molchanov.html N. A. Umov – Phương trình năng lượng của chuyển động, khái niệm dòng năng lượng, người đầu tiên trên thực tế đưa ra thuyết tương đối không có nhầm lẫn về ete http://www.peoples.ru/science/physic...ov/index1.html E. S. Fedorov – Cha đẻ ngành tinh thể học http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Фёдоров Евграф Степанович/ G. S. Petrov – Nhà hóa học sáng chế ra chấy tẩy rửa đầu tiên http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...4/Петров V. F. Petrushevsky – Phát minh ra thiết bị đo xa cho pháo binh http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Петрушевский Василий Фомич/ |
Chúng ta có thể ấu trĩ, do nền KH của nước ta nói chung kém cỏi so với thế giới, nhất là so với Âu – Mỹ. Do vậy, nhận định cá nhân của chúng ta có thể không chuẩn xác. Nhưng, những vấn đề mũi nhọn của KH, như công thức E=mc^2 không thể ngẫu nhiên mà ngày nay gắn với tên tuổi của A. Eistein.
Những tạp chí khoa học, nếu được in đúng bằng các thứ tiếng quy định, như Anh, Pháp, Đức , Nga… thì đều được công nhận giá trị. Do vậy, nếu như Olinto de Pretto hay tập thể tác giả Friedrich Hasenohrl, J.J. Thomson, W. Kaufmann đã công bố công thức đó với đúng ý nghĩa như A. Eistein công bố năm 1905 thì là điều kỳ lạ: - Thứ nhất Ban biên tập những tạp chí KH gồm những người giỏi và thạo việc, họ không cho phép 1 phát minh lặp lại 2 lần (nhất là trường hợp mà bác SSX nói đại ý “năm trước năm sau, trên cùng 1 tạp chí khoa học”). - Giả sử những biên tập viên của một tạp chí sơ suất để xảy ra trường hợp nêu trên, thì sau này khi phát hiện ra, LUẬT ƯU TIÊN trong khoa học lập tức phát huy hiệu lực, và công thức E=mc^2 sẽ được trả về đúng tác giả của nó. Trên thực tế, đến hơn 20 năm sau khi A. Eistein công bố công thức ấy, trình độ công nghệ mới có khả năng làm các thí nghiệm khoa học để chứng minh điều mà Eistein đã cho là đúng, và thuyết của ông trở thành có giá trị. Những phép chứng minh này chắc không phải do người Nga thực hiện (thì SM tạm đoán mò thế). Khó tin được A. Eistein đã hớt tay trên được 1 công thức vật lý quan trọng, trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp, ngay trên cùng 1 tạp chí trong vòng 1 năm. Bởi thuyết Tương đối có ý nghĩa lớn lao, được giới KH toàn TG quan tâm, vậy mà sự “đạo khoa học” trong khâu cốt lõi của lý thuyết đó không bị phanh phui và trả lại công bằng trong cả trăm năm nay sao? |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
I. I. Orlov – Phát minh ra cách in tiền và phương pháp in liên tục odnoprogonny
http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...094/Орлов Mikhail Ostrogradsky – Tìm ra công thức tích phân bội mang tên ông Ostrogradsky http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...льевич/ P. L. Chebyshev – Tìm ra đa thức mang tên ông Chebyshev (đa thức hệ trực giao Chebyshev) http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Чебышев Пафнутий Львович/ P. A. Cherenkov – Tìm ra bức xạ mang tên ông Cherenkov (hiệu ứng quang mới), bộ đếm Cherenkov (dùng để phát hiện bức xạ trong vật lý hạt nhân) http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Черенков Павел Алексеевич/ D. K. Chernov – Tìm ra điểm tới hạn Chernov (trong chuyển pha của thép) http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Чернова%20точки/ V. I. Kalashnikov – Người đầu tiên lắp lên tàu sông những máy hơi nước chạy liên tục http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...ванович A. V. Kirsanov – Nhà hóa hữu cơ khám phá ra phản ứng mang tên ông Kirsanov http://dic.academic.ru/dic.nsf/enc_b...ирсанов A .M. Lyapunov – Lý thuyết cân bằng, ổn định chuyển động hệ thống cơ học đa tham số còn gọi là lý thuyết Lyapunov http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Ляпунов Александр Михайлович/ Dmitry Konovalov – Phát hiện qui luật về tính đàn hồi của đa dung môi mang tên ông Konovalov http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Коновалов S. N. Reformatsky – Nhà hóa hữu cơ với phản ứng Reformatsky http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...лаевич/ V. A. Semennikov – Nhà luyện kim, người đầu tiên thu được đồng thô từ quặng đồng nghèo http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...дрович/ I. R. Prigozhin – Nhà vật lý với định lý Prigozhin về quá trình nhiệt động không cân bằng http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Пригожин M. M. Protodyakonov – Nhà phát triển tiêu chuẩn thang đo độ cứng của đá trên thế giới http://ru.wikipedia.org/wiki/Протодь...айлович M. F. Shostakovsky – Nhà hóa hữu cơ phát triển dầu thơm Shostakovsky http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/Шостаковский M. S. Tsvet – Phương pháp nhuộm màu thực vật http://ru.wikipedia.org/wiki/Tswett A. N. Tupolev – Nhà thiết kế máy bay chở khách phản lực đầu tiên, máy bay chở khách siêu âm đầu tiên http://www.tupolev.ru/russian/Show.asp?SectionID=254 A. S. Famintsyn – Người đầu tiên phát triển phương pháp ứng dụng ánh sáng tổng hợp vào chiếu sáng nhân tạo cho cây cối http://dic.academic.ru/dic.nsf/bse/171977/Фаминцын B.S. Stechkin – Người đã cho ra đời 2 lý thuyết lớn về tính toán nhiệt động cơ máy và động cơ tên lửa http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...геевич/ A. I. Leipunsky – Nhà vật lý khám phá hiện tượng truyền năng lượng từ điện tử tự do trong va chạm đến các nguyên tử và phân tử bị kích thích http://ru.wikipedia.org/wiki/Лейпунс...р_Ильич D. D. Maksutov – Kính viễn vọng Maksutov (hệ thống gương hội tụ trong thiết bị quang học) http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...риевич/ N. A. Menshutkin – Nhà hóa học khám phá ảnh hưởng của dung môi đến tốc độ phản ứng hóa học http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...дрович/ I. I. Metchnikoff – Khám phá ngành tiến hóa phôi thai học http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...%20Ильич/ |
Người Nga đã sáng tạo cái gì
S. N. Vinogradsky – Khám phá quang quyển
http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...лаевич/ V. S. Pyatov – Nhà luyện kim phát minh phương pháp chế tạo giáp thép từ tấm thép cán http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...анович/ A. I. Bahmutskiy – Tổ hợp khai thác than đầu tiên http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...анович/ A. N. Belozersky – Phát hiện ra DNA ở thực vật bậc cao http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...лаевич/ S. S. Brukhonenko – Phát triển loại máy tim-phổi nhân tạo đầu tiên http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...геевич/ G. P. Georgiev – Nhà sinh hóa phát hiện RNA trong nhân tế bào sinh vật http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...влович/ E. A. Murzin – Phát minh ra thiết bị tổng hợp quang điện tử đầu tiên “ANS” http://www.theremin.ru/archive/murzin0.htm P. M. Golubitsky – Nhà phát minh điện thoại Nga http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...йлович/ V. F. Mitkevich – Người đầu tiên đưa ra phương pháp hàn kim loại bằng tia lửa điện 3 pha http://ru.wikipedia.org/wiki/Миткеви...дорович L. N. Gobyato – Đại tá, súng cối đầu tiên thế giới được phát minh ở Nga 1904 http://dic.academic.ru/dic.nsf/es/16097/Гобя V. G. Shukhov – Nhà phát minh đầu tiên của các tòa nhà và tòa tháp có kết cấu khung thép http://www.shukhov.ru/shukhov.html I. F. Kruzenshtern và Yu. F. Lisyansky – Hai người Nga đầu tiên thám hiểm vòng quang thế giới và khám phá các đảo trên Thái Bình Dương http://lemur59.ru/node/319 http://ru.wikipedia.org/wiki/Крузенштерн_И. F. F. Bellinsgauzen và M. P. Lazarev – Hai nhà thám hiểm khám phá Nam Cực http://info-vibor.ru/d02/074.html http://ru.wikipedia.org/wiki/Беллинс...ддеевич Dưới sự chỉ đạo của S. O. Makarova, tàu phá băng hiện đại đầu tiên thế giới: tàu "Pilot" (1864), và tàu phá băng Bắc cực "Ermak" (1899) http://www.ubrus.org/dictionary-units/?id=78977 http://ru.wikipedia.org/wiki/Макаров,_Степан_Осипович V. N. Sukachev – Một trong những nhà sinh-tâm học khám phá về quần thể thực vật, cấu trúc, phân loại, động lực, tương tác môi trường và số lượng động vật của chúng http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...лаевич/ A. Hesmeyanov, A. Arbuzov, R. Gregory – Tạo ra chất hữu cơ tổng hợp hóa học, phát hiện này góp phần hình thành con đường chế tạo vật liệu tổng hợp, có mặt ở hầu hết các vật dụng ngày nay: ô-tô, điện thoại, máy tính, mỹ phẩm, bột giặt… http://ru.wikipedia.org/wiki/Несмеянов V. I. Levkov – Thiết bị (tàu) đệm khí đầu tiên được tạo ra dưới sự hướng dẫn của ông http://volna-parus.ru/levkov.html http://ru.wikipedia.org/wiki/Левков,...аилевич G. N. Babakin – Nhà thiết kế Nga tạo ra xe tự hành trên mặt trăng http://spacea.ru/babakin-georgij-nik...971/index.html http://index.virtualcosmos.ru/index....588&Itemid=223 P. N. Nesterov – Phi công đầu tiên thực hiện đường lượn hẹp trong mặt phẳng đứng, còn gọi là “đường lượn chết chóc”, “đường lượn của Nesterov” http://slovari.yandex.ru/~книги/БСЭ/...лаевич/ B. B. Golitsyn – Cha đẻ của ngành khoa học mới: Địa chấn học http://seismos-u.ifz.ru/golitsin-140.htm Và vẫn còn nhiều nữa... Những dữ liệu trên cũng được lấy ở những nguồn sau: http://zarus1.narod.ru/ZaRus2_8_2.htm http://www.rosteplo.ru/Tech_stat/sta...lon.php?id=929 http://mgup-vm.narod.ru/kulturology/doklad05.html http://voffka.com/archives/2008/03/11/042329.html http://otvet.mail.ru/question/24682400/ http://russview.ru/read/246-russkaya-gordost.html |
Hình như trước 1970, vấn đề sở hữu trí tuệ trong khối các nước XHCN ít được quan tâm bởi luật pháp và nhận thức.
XHCN: Cung cấp kiến thức miễn phí – tri thức của anh = của chung – phát minh của anh = của chúng ta. TBCN: Mua kiến thức theo giá trị – tri thức của tôi = của riêng – phát minh của tôi = của tôi. |
Дамасская сталь
Quay trở lại câu chuyện nhà luyện kim Nga P. P. Anosov đã khám phá ra phương pháp luyện kim cổ đại của người Trung Đông. Được biết đến như huyền thoại lưỡi kiếm Damask.
http://news.ereality.ru/uploads/1222873765_lezv3.jpg “Дамасская сталь”, hay thép Damask đã quá nổi tiếng hàng thế kỷ bởi những lưỡi kiếm có độ sắc và cứng rắn dẻo dai, lại có thể uốn cong của nó. Không những thế, xung quanh lưỡi kiếm này là cả những đồn đại mang màu sắc tâm linh huyền bí cho đến tận ngày nay, ngay cả khi bí mật của nó đã được khám phá. Những lưỡi dao, lưỡi kiếm Damask được làm bằng thứ thép trắng, không bị gỉ và trên đó có những vân hoa sáng óng ánh dưới ánh sáng mặt trời rất đẹp. Vào thời của những đạo quân “thập tự chinh châu Âu” người ta chỉ biết có đến thế. Lúc đó, kiếm của đạo quân thập tự chinh, mệnh danh đi khai hóa văn minh cho dân phương Đông lạc hậu man di mọi rợ được làm bằng thứ thép mềm và yếu kém, ở một trình độ kỹ thuật lạc hậu hơn hẳn của người phương Đông. Đạo quân thập tự chinh đã quá kinh hoàng bởi những lưỡi kiếm cong Damask chặt đứt phăng cả thép mà không hề bị sứt mẻ. Huyền thoại thép Damask hay lưỡi kiếm Damask mang màu sắc tâm linh tà thuật từ đó theo chân đạo quân thập tự trinh quay trở lại châu Âu. http://www.arhangelskie.com/galer-l/800x600/61.jpg http://umma.org.ua/uploads/mediabank...5c845b4a8f.jpg Thanh kiếm Damask được khoác sắc màu huyền bí tâm linh, tà thuật lại là một cách dễ dàng để che giấu sự lạc hậu, không thể tin nổi người phương Đông lúc đó lại có kỹ thuật hơn hẳn châu Âu. Cho đến tận thể kỷ 20, ngay cả khi nhân loại đã có khoa học hiện đại, thì các nhà sử học, khảo cổ học phương Tây vẫn không mấy khi nhắc đến huyền thoại Damask. Cũng như bao nhiêu văn minh tiến bộ, phát minh sáng chế khác mà châu Âu đã thu thập từ phương Đông trong quá trình “thập tự chinh”, ngày nay đều bị cố tình lờ đi. Nhưng không chỉ riêng người Damask, kỹ thuật luyện thép tốt đã lan ra khắp phương Đông, Trung Á, đến tận Ấn Độ, chúng chỉ là bí mật đối với đạo quân xâm lược. Ngày nay, người ta biết cây cột thép Delhi huyền thoại đã 1600 năm tuổi vẫn đứng sừng sững không hề hoen gỉ. Chúng ta học, thấy lịch sử được chia thành các giai đoạn, đó là một cách để dễ nhớ về các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, đồ sắt… Vào lúc châu Âu vẫn đang cổ lỗ lạc hậu, người Trung Đông đã dùng đồ sắt chất lượng cực tốt từ rất lâu rồi. Mặt khác, thép (hợp kim của sắt) chứ không phải sắt mới là cơ sở để bùng nổ khoa học kỹ thuật ở châu Âu thế kỷ 18, 19. Phương Tây hay lấy máy hơi nước của James Watt làm tượng đài Công nghiệp, ít ai biết rằng thứ đồ chơi bằng hơi nước của trẻ con còn có trước máy của James Watt rất lâu. Cũng ít ai biết được, không có thép sẽ chẳng có nền công nghiệp nào cả, không có thép tốt, sẽ chẳng có công nghệ cao nào cả. Không hiểu đối với họ, thép là tượng đài gì? Những công xưởng cho ra đời những mẻ thép tốt chẳng bao giờ tính đếm sản lượng bằng ngàn tấn, vạn tấn. Vậy ông Anosov đã khám phá ra những gì? Ông phát hiện ra phương pháp làm ra loại thép đó của người Đa-mát vào khoảng cuối thập kỷ 1820, rất đơn giản nhưng người châu Âu mất hàng thế kỷ không hiểu nổi. Khám phá của ông xua tan nhưng hoang đường đồn đại về lưỡi kiếm Damask, đưa ra cách nhìn nhận nó theo quan điểm khoa học hiện đại và làm cho các công xưởng Nga có được loại thép tốt để sản xuất vũ khí. Người Đa-mát đã nấu gang, thép trong các lò thủ công, cũng như người châu Âu khi đó, nhưng công đoạn sau thì hoàn toàn khác, dĩ nhiên, thiên nhiên ưu đãi giúp họ có những nguồn quặng tốt, ít tạp chất có hại, họ cũng biết cách đốn gỗ, ủ lấy thứ than củi tinh khiết chứ không dùng than đá để nấu thép. Những mẻ sắt non nấu ra được họ mang ra rèn mỏng, gập lại, rồi lại đưa vào lò nung ủ đỏ. Cứ như thế lặp lại hàng trăm lần. Dấu vết của những lần gập để lại thành hoa văn trên thân kiếm. Bản chất của quá trình đó, là quá trình thấm các-bon vào bề mặt thép, việc dát mỏng và gập lại rồi nung nhiều lần, làm cho lớp thấm cuộn vào trong. Quá trình tôi sau cùng, các lớp thép giàu hợp kim các-bon hình thành cấu trúc Cementite cứng rắn hòa lẫn trên nền thép Austenite mềm hơn khiến lưỡi kiếm vừa sắc vừa uốn được mà không bị dòn, dễ gãy vỡ. Rất đơn giản nhưng là bí mật hàng thế kỷ ở châu Âu. |
Дамасская сталь
Ngày nay, những công xưởng ở Nga vẫn làm những con dao găm bằng "thép Đa-mát" để bán cho thợ săn hay đồ lưu niệm. Thật tình cờ, thanh kiếm Samurai của người Nhật cũng được làm theo một cách gần tương tự.
Ta có thể xem cách làm của họ ở đây: http://englishrussia.com/2011/10/31/...s-steel-knife/ http://englishrussia.com/2011/08/04/...-steel-master/ Dưới này là video các khách đang xem cách chế tạo những con dao Đa-mát trong một công xưởng. Cách giải thích của bác thợ cả giúp mọi người hiểu ra tất cả. |
Trích:
Hồi mấy ông Hai lúa nhà ta chế trực thăng, đi lấy mảnh máy bay thật về phân chất thấy chỉ là nhôm thông thường, nên ra chợ mua nhôm về tạm làm vỏ. Máy bay kiểu này muốn bay thật sự thì khó ai cho phép, bởi khi lên trời thì vỏ chịu các lực khác hẳn khi treo sát mặt đất, vả lại còn nhiều yêu cầu mà chỉ lá nhôm luyện theo phương pháp riêng nào đó mới đáp ứng được. |
Trích:
|
Тайна булата (первая часть - Златоустовская сталь)
http://www.kxo.ru/content/articles/i...EMENT_ID=2446/
Những nỗ lực để có được thép chất lượng tốt làm vũ khí đã được nhà luyện kim P. P. Anosov thực hiện vào cuối thập kỷ 1820 khi ông làm lãnh đạo xưởng sản xuất vũ khí Zlatoustovsky. Các thực nghiệm để thu được thép Damask đã được tiến hành trong hơn 10 năm. Có lẽ là không có sách vở nào viết về ông mà không đề cập đến những thực tế đã được biết rõ. Nhưng cùng với những quyển sách đứng đắn, cũng xuất hiện những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, đặc biệt là trên Internet. Thí dụ như câu chuyện nói rằng, thanh kiếm Đa-mát được tôi bằng máu. Người ta lấy thanh kiếm nung đỏ từ trong lò ra và đâm xuyên thấu qua thân nô lệ hay kẻ thù, để kiếm được thấm máu tươi. Nhờ máu mà nó hiện lên những vân hoa sáng óng ánh. Nhưng đó là hoang đường. Để kể về ông Anosov và thép Đa-mát, có lẽ tốt nhất là nhà khoa học luyện kim Y. G. Gurevich, người đã cống hiến cả đời cho ngành luyện kim. Sinh năm 1921 ở Yalta và cũng đã từng làm việc ở nhà máy Zlatoustovsky, nơi ông Anosov nghiên cứu thép Đa-mát. Sự nghiệp của ông Gurevich thật đáng để người ta phải nể trọng. Ông cũng tiếp tục nghiên cứu thép Đa-mát, sở hữu khoảng 100 bằng phát minh sáng chế, tác giả của hơn 400 ấn bản khoa học… trong đó có cuốn viết về thép Đa-mát: «Булат. Структура, свойства и секреты изготовления». Ông còn là nhà sưu tầm các mẫu thép Đa-mát mà ngày nay vẫn còn trưng bày trong bảo tàng Zlatoustovsky. |
Trích:
TQ thời "Đại nhảy vọt" cũng bắt đầu mày mò luyện gang-luyện thép, tuy sau phải bỏ phổ cập nhưng giúp họ nhiều kinh nghiệm để phát triển công nghiệp luyện kim-chế tạo máy sau này và cho đến nay như ta đã biết, họ đạt trình độ của công nghiệp tiên tiến, chỉ kém đỉnh cao thiên hạ chừng vài mươi năm, cách xa nhiều so với ta, vốn đang đứng ở vài thế kỷ trước :D |
Trích:
Thực ra thuyết tương đối cũng chẳng có giá trị thiết thực gì, chỉ là tưởng tượng vớ vấn vô ích, nhưng cũng chính là của người Nga phát minh ra trước, sau đó người Nga mới dùng nó để chế tạo tàu vũ trụ và thám hiểm vũ trụ đầu tiên. Tại sao có thuyết tương đối mới có tàu vũ trụ? Vì người Nga phải tạo ra thuyết tương đối trước để hiểu về nguyên lý bay và tên lửa, rồi thì mới chế tạo tàu vũ trụ! Sau này Anhxtanh mới ăn cắp thuyết này làm của mình. Người Nga còn phát minh cả bom nguyên tử ra trước cả Mỹ. Và tôi nói điều này các bạn sẽ ngạc nhiên, thậm chí ngay cả iPhone người Nga cũng phát minh ra từ lâu, gã Steve Jobs kia chỉ là gã người Mỹ ăn cắp công nghệ mạt hạng mà thôi. Xe hơi cũng do người Nga phát minh đầu tiên, điện, điện thoại, máy hơi nước và máy bay cũng thế, và thậm chí là cả điện tử, tất cả đều do một tay người Nga phát minh ra hết, sau này bọn trộm cắp kia mới ăn cắp và bán khắp thế giới, thật là lũ tư bản chó chết mạt hạng! Tẩy chay tiếng Anh! Tẩy chay tư bản! Ura Rusia muôn năm! |
Mọi người đều có quyền đưa quan điểm, nhận xét của mình dựa trên cơ sở những gì mình được học, được đọc và tin, thậm chí nghi ngờ. Có thể tranh luận để tìm ra chân lý, hoặc tiếp cận chân lý.
Nhưng nếu post lên những điều vớ vẩn, phô phang sự kém hiểu biết, ngụ ý phá bĩnh thì ai cũng nhận ra đó là kẻ vô công rồi nghề để tẩy chay (nếu như BQT chưa nỡ ra tay). |
Báo cáo nô tài SSX! Ngay cả Các Mác cũng chính là một tên Do Thái mạt hạng, lại là công dân của lũ tư bản Đức. Vì vậy theo logic này ta cần tuyên bố rằng Các Mác cũng là một tên Do Thái đại bịp bợm, và việc lập thuyết cùng thành công rực rỡ của CNCS nên chuyển sang cho Lê bang chủ, thiên tài của nước Nga. Chính Lê bang chủ mới là người phát minh ra học thuyết về Tư bản luận, học thuyết về giá trị thặng dư vân vân và con đường đấu tranh giai cấp tuyệt vời.
|
Tập Tư bản (Capital) do Cac Mac viết ra nêu rất đầy đủ và logic về hệ thống kinh tế TBCN. Tuy nhiên vào lúc bấy giờ do trình độ KHKT còn kém nên Mác không thấy được nguồn gốc của Giá trị thặng dư. Mác cho rằng sức lao động không được trả đủ lương chính là nguồn gốc GTTD. Nhưng người Nga lại đập lại cái thuyết nhố nhăng ấy đó là Robot hóa (Robota trong tiếng Nga có nghĩa là người làm các công việc thao tác) tạo ra siêu GTTD mà chẳng cần người lao động...Do đó đấu tranh giai cấp là điều không mang lại kết quả gì tốt đẹp hơn.
Lênin sang Anh tầm sư học đạo, nơi có đầy đủ các yếu tố của CNTB hiện đại, trên cơ sở đó sinh ra CNCS (Quốc tế CS 1 và 2). Nếu cứ ở nước Nga thì Lênin phải bị cách ly tận miền Xibêria vì nước Nga nửa phong kiến nửa Tư bản không có đủ các yếu tố để lập ra một học thuyết hoàn chỉnh. Ở Nga lúc bấy giờ có tầng lớp Trung nông Ku lắc đã nhận ra những điều sai lầm đó và rất kiên quyết bảo vệ bản sắc của mình. Thuyết tương đối nói về năng lượng được giải phóng ra khi nguyên tử (hoặc hạt nhân nguyên tử) bị thay đổi, không liên quan gì đến bay vào vũ trụ. Tuy nhiên 1 người Nga là Xioncopxky đã bác bỏ thuyết Verner là dùng Đại bác bắn người (và thiết bị) vào vũ trụ vì gia tốc quá lớn, mà phải dùng tên lửa tăng tốc từ từ.... Thật là đáng tiếc có những thành viên như talata viết lung tung như một kẻ điên trên diễn đàn nghiêm túc này.Đề nghị admin xử lý thứ rác rưởi này đi. |
Ở phương Tây, có đến 70%, thậm chí 90% đứng về phía đối lập. Họ bất mãn, họ phản đối, họ chống đối, họ đấu tranh...
Nhưng thật lạ lùng, không có bất cứ người Việt nào trong số đó. Hình như, họ thuộc về số 1% thống trị, số ăn trên ngồi chốc. Nếu được như thế thì tự hào quá, ai đó cũng được thơm lây. Đáng tiếc là không phải thế, phần lớn họ, những người Việt ở phương Tây, thuộc về đáy cùng của 99%. Đó là nguyên nhân chính họ hằn học, họ bực tức với một ai đó. |
Thép của nhà máy Zlatoustov
Chàng trai trẻ Pavel Anosov tốt nghiệp “Trường võ bị mỏ” với Huy chương vàng lớn năm 1817 và đến nhà máy Zlatoustovsky làm tập sự. Không rõ khi nào thì Anosov biết rằng điều đó sẽ dẫn anh vượt qua tập sự để trở thành lãnh đạo nhà máy và giám đốc xưởng vũ khí, ở đây trong nhà máy Zlatoustov, anh tạo ra lý thuyết của mình về chế tạo thép đúc và nắm được bí mật thế kỷ thép Đa-mát. Anh bắt đầu điều đó bằng luận văn “Mô tả có hệ thống lò và sản xuất chế tạo của nhà máy Zlatoustovsky”.
Vào lúc đó, nhà máy Zlatoustovsky thực sự đã cũ kỹ, nhưng đó là nhà máy sản xuất khép kín. Gang nấu trong lò cao với hai buồng thổi, qua đó không khí được đẩy vào lò từ 2 ống hình trụ nhờ hoạt động của bánh xe nước. Ngoài ra, để nấu gang thành sắt thỏi và thép, người ta sử dụng các nồi gang lót cát hay đất sét, như trong các xưởng kim loại. Người ta đúc ra búa sắt, đe, bánh xe, viên đạn, bom, cũng như quả cân, nồi, chảo, và các đồ dùng khác. Thời kỳ này, người ta nói “tất cả các chảo rán bánh ở Nga là gang Ural”. Để chuyển hóa gang thành sắt thỏi và thép thô, trong nhà máy có 2 phân xưởng với lò 12 cửa thổi, mỗi cửa có xy-lanh gió hoạt động bằng bánh xe nước. Hai xưởng chuyên chế tạo thép tốt với máy cán và rèn cho ra các dải thép đều đặn. Một lượng nhỏ thép được chế tạo thành dụng cụ và vũ khí nguội, qua công đoạn “phụ” là cementite hóa hay các-bua hóa. Quá trình các-bua hóa thép được thực hiện trong lò ủ đặc biệt ở nhiệt độ gần 1000 độ C và kéo dài 7-8 ngày. Nhà máy chế tạo ra 11 loại sắt thép. Vũ khí được chế tạo ở nhà máy nổi tiếng không chỉ ở Nga mà còn vượt ra ngoài biên giới. Các thợ cả ở Zlatoustovsky chế tạo ra những vũ khí lạnh có chất lượng: gươm, kiếm, mác, xẻng và dao săn. Những sản phẩm này đã từng cạnh tranh thành công với các kiểu mẫu của châu Âu. Nhưng lúc đó, các dụng cụ bằng thép của họ có chất lượng thua kém sản phẩm của Anh. Thực sự là, vào lúc Anosov đến Zlatoustov, thép đúc đã không còn được sản xuất. Bí mật làm ra thép đúc ở Nga vào đầu thế kỷ XIX là tài sản riêng của các bác thợ cả. Tiến bộ rõ rệt trong nghề này, như được ghi nhận, là thuộc về S. I. Badaev ở nhà máy Kamsko-Votkinsk. Badaev chế tạo ra lò vòm đặc biệt, nó có 2 ngăn – ngăn cementite hóa và ngăn chứa thép chảy. Sắt ở ngăn đầu khi các-bua hóa và chảy vào ngăn chứa. Nghĩa là thu được thép có độ cứng cao bằng các-bua hóa, với một vài loại than đá trộn với đất sét trắng, đá phấn và phụ gia khoáng. “Từ điển bách khoa Плюшар năm 1835 nói rằng, dụng cụ thép của Badaev tốt hơn cả thép nổi tiếng guntsmanovsky của Anh. |
Thép của nhà máy Zlatoustov
Còn có thép thấm cac-bon chất lượng cao từ chủ xưởng Nizhny Novgorod là Polyukhov. Theo kết luận của nhà đúc tiền thép Polyukhov:… hóa ra vấn đề của công cụ, mẻ thép chất lượng thủ công cần phải nhỏ và đồng đều.
Phương pháp ban đầu để chế tạo thép đúc được phát triển bởi Ponomarev ở nhà máy Veletminsky. Qui trình nấu thép cũng xuất hiện ở Verkh-Isetsky, Nevyansky, Kaslinsky và các nhà máy khác. Nhờ phổ biến lò phản xạ, thép được đặt cùng các vật liệu hợp kim trong nồi, bằng cách đốt gỗ và than, dòng khí nóng đi vào lò có thể đạt đến 1500 độ C. Tuy nhiên, giống như tất cả các phương pháp mới, phương pháp này không được các nhà luyện kim tin tưởng bởi nó không hoàn thiện, đôi khi thép nhận được hoặc là chất lượng thấp, hoặc là giá cao. Ví dụ, ông Peter Klyaymer ở Zolingen đã thử đưa thép đúc vào nhà máy Zlatoustobsky. Lò của ông hoạt động rất bí hiểm, để chuẩn bị cho mẻ nấu mất rất lâu, 2 năm chỉ nhận được vỏn vẹn khoảng 9 pút Nga (cỡ 147 kg) thép tương đối tốt và đắt gấp 10-15 lần thép cementite. Cũng vì thế và các lý do khác, chính phủ thường từ chối cấp ưu đãi để sản xuất thép nấu và tất cả các phương pháp đã sử dụng để nấu thép thời kỳ này biến mất. Sau phi phân tích những phương pháp thử nghiệm nấu thép làm vũ khí và dụng cụ đã tồn tại, Anosov đi đến kết luận rằng chỉ có thép đúc mới có thể cho các tính chất cần thiết. Ông viết: Thép đúc có ưu thế hơn thép bốc hơi và thép cementite ở chỗ từ nguyên liệu ban đầu đạt được sự đồng đều cũng như chặt khít hơn nghĩa là hợp chất hóa học của các phần tử các-bon với thép. Điều đó cho thấy, ông Anosov đã từ những nguyên nhân thuần túy khoa học lập luận hợp lý về sản xuất thép đúc. Những thử nghiệm ban đầu để thu được thép đúc đã hoàn toàn thuyết phục ông rằng: chỉ có tổ chức sản xuất thép đúc một cách cơ bản mới cải thiện được chất lượng của vũ khí thép và dụng cụ ở nhà máy Zlatoustovsky. |
Thép của nhà máy Zlatoustov
Anosov hình dung rất rõ, để sản xuất ra thép đúc cần những công đoạn như: thiết bị lò, chuẩn bị nồi nấu thép, nấu chảy, đúc thép vào khuân và rèn. Do vậy, ông bắt đầu từ lò nhiệt độ cao. Lò này được đốt bằng than đá cho 8 nồi nấu thép đồng thời. Lò của Anosov hoạt động ở nhà máy Zlatoustovsky cho đến tận đầu thế kỷ XX, gần như suốt 100 năm!
Một trong những khó khăn lớn nhất thời kỳ đó mà Anosov phải giải quyết đó là nồi nấu thép, là “cái thùng đựng thép nóng chảy” như người ta gọi. Trước đó, người ta biết rõ những cái nồi đất sét dùng để chứa sắt chảy từ lò cao ra, còn sau đó là để nấu thép. Bác cả Fedor Mezentsev ở nhà máy Votkinsky thậm chí còn phát minh ra bộ khuân dập xoắn ốc bằng tay để chế tạo nồi. Nhưng để nấu thép, cần loại nồi chịu nhiệt rất cao, chúng được mua về từ thành phố Passau vùng Bavaria, gần đó có mỏ sét trắng chịu nhiệt tốt. Giá của chúng rất cao, do đó mà Anosov cho rằng, nồi nấu thép nước ngoài đem về nơi xa xôi như ở Zlatoustov sẽ rất đắt đỏ cho công việc sản xuất thép, mà lại không có gì để thay thế nó, thì thành công chỉ là vô vọng. Nồi nấu của Nga dùng sét chịu lửa Chelyabinsk cũng đủ để chịu đựng nhiệt độ cao nhưng lại hay bị nứt. Nghiên cứu nguyên nhân gây ra những vết nứt, ông hiểu là chúng hình thành do các phần tử sét dãn nở ở nhiệt độ cao, một số phần tử “co kéo chèn ép” những phần tử khác, vết nứt phát triển do sét bị co ngót nhiều lúc nguội. Để ngăn ngừa, cần phải thêm vào sét “một chất”, có thể làm giảm co kéo chèn ép, có khả năng bị đốt cháy, tạo khoảng trống cho các phần tử khác chiếm chỗ. Nghiên cứu sét của nước ngoài, ông nhận ra chất đó là graphite mà ở trạng thái tự nhiên đã nằm lẫn trong sét. Vì thế mà để làm cho sét chịu lửa Chelyabinsk không bị nứt vỡ, cần phải bổ xung thêm graphite. Nhà sản xuất thép có tiếng ở Anh lúc đó B. Gentsman cũng có vật liệu tốt để làm nồi. Sét chịu lửa của ông ta được trộn graphite. Anosov đã đoán được bí mật của vật liệu chịu lửa. Nhưng có thể lấy graphite ở đâu? Mỏ graphite Ural lớn được phát hiện nằm bên bờ hồ Elanchik lớn và ông có được graphite từ đây. Nó giúp ông làm ra nồi nấu thép rẻ hơn nhập từ nước ngoài đến 50 lần. Giờ là lúc bắt đầu nấu thép và bên cạnh đó còn làm bút chì nữa. |
Thép của nhà máy Zlatoustov
Ở bờ nam của đầm Zlatoust, bên sườn núi ngày nay vẫn còn thấy những sản phẩm cũ bằng đất sét trắng trộn graphite, đó là những sản phẩm bỏ lại từ thời ông Anosov. Giờ chỗ đó là một phần của khu công viên thiên nhiên, điểm nghỉ ngơi ưa thích của người dân Zlatoust. Dân địa phương ở đây vẫn gọi nơi này là “Bút chì”. Thực tế là ông Anosov đã xây dựng nhà máy sản xuất bút chì ở đây, còn graphite được khai thác ngay trên bờ đầm. Bút chì Zlatoust được các xí nghiệp ở Ural sẵn lòng mua, thậm chí là các các trường dạy vẽ ở St. Petersburg.
Quay trở lại với công việc chính của ông Anosov. Đó là thời kỳ châu Âu và Nga đã bước vào con đường công nghiệp hóa và phần rất quan trọng của nó là sản xuất thép với qui mô công nghiệp. Trước đó, ở Nga đã diễn ra thời kỳ phát triển bùng nổ các nhà máy gang thép dưới thời trị vì của Sa Hoàng Peter I (1682-1725). Ở các nước châu Âu khác, ngành luyện kim cũng đã rất phát triển. Cho đến thời của nhà luyện kim Anosov, người ta đã sản xuất thép đúc số lượng nhỏ bằng cách nung chảy thép các-bua hóa. Thép cứng các-bua hóa hay thép cementite không rõ là phát minh của ai, nhưng cũng đã có từ trước đó rất lâu, có lẽ nó đến từ một lò rèn thủ công nào đó khi người ta nung lâu thép trong than. Nhà luyện kim danh tiếng bên Tây Âu lúc đó là Fabre du Fort viết trên tờ “Tạp chí Lò” năm 1839, ông đề nghị phương pháp chế tạo thép đúc dụng cụ: với thép thô chứa ít các-bon, thêm 3 lốt (38.4 g) bồ hóng vào 5 phun-tơ (2047 g) sắt, và với sắt đã lọc sạch thì thêm 1/4 gang vào sắt. Công thức pha chế tương tự cũng được các nhà luyện kim phương tây khác đề nghị, đó là các ông R. Myushett và G. Brean, và các nhà sản xuất thép tiên phong của phương Tây như là R. A. Reaumur (1683-1757), J. L. Gai-Lussac (1778-1850) và Rinman tin rằng, quá trình các-bua hóa sắt cần cho sắt tiếp xúc trực tiếp với vật liệu các-bon. Do đó chất lượng của mẻ thép phụ thuộc vào chất lượng cao của sắt. Anosov cũng đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm theo phương pháp này và ông thấy nó không hoàn thiện: nếu bỏ nhiều than, thì lo ngại thép bị quá cứng, còn nếu cho không đủ than thì sắt khó chảy, đặc biệt là một phần các-bon bị mất đi. Sau một chuỗi thử nghiệm, ông đã bị thuyết phục rằng quá trình các-bua hóa sắt tốt nhất là thực hiện trong môi trường khí dưới áp suất khí quyền. Khi ông đổ đầy vào nồi nấu các mảnh sắt mà không có muội than, không phủ bằng chất trợ chảy hay đậy nồi, sau khi mẻ liệu chảy ra, ông đã nhận được gang, còn khi ông đậy nồi như trước, thì ngay khi tất cả sắt nóng chảy, ông nhận được thứ kim loại dễ rèn – đó là thép đúc, ông kết luận: “Do đó, để nhận được thép đúc thì nồi nấu mở nắp đúng là cái thùng hở đơn giản nhất. Chỉ cần biết khi nào nó mở và khi nào thì đậy. Quá trình các-bua hóa sắt xảy ra trong nồi diễn ra chính xác như nồi có bột than, chỉ có điều tốc độ cao hơn, khi nhiệt độ cao hơn.” Dựa trên khám phá này, ông Anosov phát triển một phương pháp hoàn toàn mới để sản xuất thép đúc, bao gồm nấu luyện từ các mảnh sắt thép không sử dụng được đến dùng được trong nồi đất sét, nhờ nhiệt độ khí lò. |
Thép của nhà máy Zlatoustov
Như vậy, Anosov đã mở ra phương pháp mới luyện thép các-bua hóa bằng khí gas để thu được thép đúc bằng cách “tinh luyện phế phẩm”. Phương pháp này đã được ông công bố vào năm 1837, trong khi châu Âu chỉ công bố các nghiên cứu đầu tiên theo hướng này sau đó hàng chục năm. Nhưng như thế chưa đủ. Ngày nay, người ta biết rằng quá trình các-bua hóa và khử các-bon trong thép đóng vai trò quan trọng nhất trong công nghiệp sản xuất thép. Anosov đã lần đầu tiên chỉ ra mối liên hệ giữa các quá trình này với nhiệt độ và ứng dụng nó để điều chỉnh chất lượng thép nhận được: chúng là loại “mềm”, “trung bình”, hay “cứng”. Đó là khởi đầu của cách tiếp cận khoa học đến tiến trình sản xuất thép đúc của ngày nay.
|
Thép của nhà máy Zlatoustov
Năm 1833, Anosov tiến hành một loạt các thử nghiệm qua đó chứng tỏ khả năng có thể thu được thép chất lượng tốt từ gang nóng chảy với sự bổ xung chất trợ dung và gỉ sắt. Điều đó có nghĩa là tái chế thu hồi được gang và phế thải thành thép, một quá trình mà ngày nay gọi là tái chế thép vụn được Anosov phát hiện ra trước phương pháp của Martin rất lâu. Hoàn toàn tự nhiên khi vào giữa thế kỷ XIX, Emile và Martin đệ đơn kiện Anosov lên chính phủ Nga vì đã “xâm phạm” đặc quyền sản xuất thép đúc 5 năm của họ và đơn kiện đã bị bác bỏ, căn cứ vào một thực tế là thép đúc từ gang và sắt nóng chảy đã được sản xuất ở Ural từ lâu.
Các phát triển khoa học tiếp theo cho phép phân tích kỹ hơn công nghệ luyện thép nóng chảy trong nồi nấu mà Anosov đề xuất. Sự gia tăng đáng kể của quá trình phản ứng ô-xy hóa và sự vắng mặt các chất khử thể rắn, như là ma-giê và nhôm làm giảm đáng kể mức độ nhiễm bẩn của thép bởi sự thâm nhập của phi kim xuất hiện ở dạng ô-xít của các nguyên tố này. Ô-xít trong thép lò “tự hoàn nguyên” chỉ bằng silic, là vật liệu chịu lửa của nồi nấu. Quá trình “tự ô-xy hóa” tạo ra độ tinh khiết của thép trước sự tham gia của các nguyên tố phi kim, điều đó lý giải cho chất lượng cao hơn của thép. Quá trình nấu chảy thép có thể chia ra thành 3 giai đoạn: chảy, sôi và ổn định. Quá trình sôi của thép có sự tham gia một phần của nhôm từ sét thành lò. Do đó, xỉ chứa 25-30% nhôm ô-xít, vào giai đoạn cuối thép chảy “lắng xuống” càng thoát khí và thành phần phi kim. Giai đoạn ổn định cũng đồng thời là quá trình khử ô-xy của xỉ và thép, pha khí thay thế bằng các-bon thể rắn từ thành nồi. Tất cả quá trình đó tạo xỉ nhôm và để lại lượng rất ít ô-xít sắt, loại trừ ô-xy khỏi thép. Anosov phát triển một cách tỉ mỉ công nghệ chế tạo thép đúc, làm tăng nhiều giá trị của nó. Ông tạo ra các công đoạn nấu đặc biệt, phù hợp với độ lớn nồi nấu (thỏi đúc), áp dụng gia nhiệt sơ bộ và dầu béo: Mỗi công đoạn khác biệt ở hai khía cạnh, gắn với nấu thép vũ khí. Công đoạn gia nhiệt sơ bộ làm chảy chất béo trước khi thép nóng chảy, lớp cách ly với khí nóng bảo vệ thép khỏi bị không khí xâm nhập. Thép được ông đề nghị rót ra chậm để chúng không tạo các pha phụ. Đề nghị này có giá trị đến tận ngày nay. Quan sát tỉ mỉ, Anosov nhận ra rằng màu của thép đúc, cấu trúc của chúng có thể phân biệt một cách chính xác bởi hàm lượng các-bon chứa trong thép. “Thép mềm khi đông đặc tăng thể tích hay nở ra; thép trung bình có tình trạng giống gang đúc và giảm mạnh thể tích.” Do loại bỏ quá trình làm tăng cứng cho thép, và thép dụng cụ được nấu chảy lại trực tiếp từ thép thô, ông Anosov đã thu được thép tốt và làm giảm mạnh giá thành thép đúc vào thời điểm ấy. Thép nấu và đúc theo kiểu Anosov có cơ tính cao, cho phép nhà máy Zlatoustsky không cần phải mua thép ngoại để chế tạo những chi tiết khắc nghiệt nhất. Nếu năm 1830 họ cho ra lò 27 tấn thép nấu thì năm 1836 nhà máy đã sản xuất hơn 75 tấn, kể cả lần đầu tiên họ đã đúc được nòng pháo thép nặng 570 kg. Cũng năm 1836, P. P. Anosov nhận được giấy chứng nhận phát minh thép đúc và năm 1837, ông công bố nghiên cứu của mình trên “Tạp chí lò” qua bài viết “Về sản xuất thép đúc”. Bí mật thép đúc đã không còn tồn tại. Nhà luyện kim Anosov chuẩn bị cho khám phá thế kỷ: bí mật thép Damask. Đài kỷ niệm P. P. Anosov được dựng năm 1948, khánh thành năm 1954 trên Quảng trường lịch sử trung tâm thành phố Zlatoustsky. Toàn bộ cao 9,5 m. Tượng được đúc bằng đồng, tay Anosov đang cầm thanh kiếm Damask bẻ cong, dáng chăm chú nghiền ngầm, phía sau chếch bên trái là kính hiển vi, công cụ mà ông đã sử dụng để nghiên cứu thép. Đế tượng đài làm bằng đá granit đỏ lấy từ Ukraina, có hình khối tròn mô phỏng lò cao. Trên đó khắc dòng chữ: "Великому русскому металлургу Павлу Петровичу Аносову. 1797-1855" (Nhà luyện kim Nga vĩ đại Pavel Petrovich Anosov. 1797-1855). http://img-fotki.yandex.ru/get/4212/...b795f96_XL.jpg Chúng ta học sách giáo khoa, trong đó viết rằng, có 2 loại lò nấu thép nổi tiếng và phổ biến là lò thép Ba-xơ-me (Bessemer) và lò Mác-tanh (Martin) mà không hề biết rằng, P. P. Anosov là một trong những người tiên phong khám phá lĩnh vực luyện kim, cũng như không hề biết rằng, thành quả KH-KT của nhân loại là công lao đóng góp của rất nhiều người. Điều đó là bình thường khi phương Tây tự nhận toàn bộ phát minh trên thế giới này là của họ. |
Alexander Dmitrievich Zasyadko – Nhà chế tạo tên lửa quân sự đầu tiên
http://img-fotki.yandex.ru/get/6613/...b525b_orig.jpg
Tên lửa quân sự đầu tiên đã được người Nga phát minh năm 1817. Đó là tướng Alexander Dmitrievich Zasyadko - Александр Дмитриевич Засядко (1779-1838). Zasyadko lần đầu tiên tự mình và bằng kinh phí của mình nghiên cứu tên lửa vào năm 1815. Mất 2 năm để có được những quả tên lửa đầu tiên trên cơ sở pháo cháy và chất nổ. Các tên lửa đầu tiên được chế tạo theo 4 kích thước 51mm, 64mm, 76mm và 102mm. Ông giới thiệu chi tiết trong bản hướng dẫn: "Về việc phóng và cho nổ tên lửa”, trong đó mô tả cấu tạo tên lửa, chiến thuật, ứng dụng và các kết quả phóng thử. Tên lửa của ông gồm 3 phần: phần đầu chứa chất nổ công phá, phần thân hình trụ vỏ sắt chứa thuốc phóng và một cái đuôi gỗ dài định hướng. Thuốc phóng được ông dùng là thuốc pháo đúc khối thông thường, được trộn thêm bột than để làm chúng cháy chậm hơn mà không gây nổ tức thì, phá hỏng thân tên lửa. Trong khối thuốc phóng, ông khoan một lỗ dọc thân dài đến 3/4 thân khối thuốc làm đường thoát khí thuốc. Phần thân có lỗ gọi là “thân rỗng”, phần kia là “thân đặc”. Giữa thân đặc và đầu nổ đặt một ít đất sét để giữ cho khí cháy của thuốc phóng không bắt lửa vào đầu nổ. Để dẫn lửa lên đầu nổ, phát nổ đúng thời điểm, giữa lớp đất sét có đục một lỗ nhỏ, có tác dụng làm ngòi. Bộ phận châm ngòi thuốc phóng được gắn vào thân gọi là “ngòi-стопин", nó được làm bằng sợi bông bện, tẩm thuốc nitrate và bột thuốc súng kết dính. Còn đuôi gỗ thì gắn vào thân tên lửa bằng các đai sắt. http://img-fotki.yandex.ru/get/6411/...86866_orig.jpg Để phóng tên lửa dễ dàng, ông Zasyadko sử dụng giá đỡ 2 chân không khác mấy giá phóng pháo cháy. Trên giá có khoét cái rãnh nông để dẫn hướng tên lửa lúc xuất phát, đặt tên lửa lên giá đỡ, buộc chân để không cho nó trượt xuống dưới, hướng nó về phía mục tiêu, châm lửa đốt ngòi và tên lửa phóng đi. http://img-fotki.yandex.ru/get/6612/...709a7a10_L.jpg Trong kháng chiến chống Mỹ, các lực lượng của chúng ta hoạt động trên sình lấy Nam Bộ, như “chiến khu rừng Sác” cũng đã chế ra các giá phóng tên lửa tại chỗ và đơn giản để công phá đồn địch bằng tên lửa Liên Xô, khi không thể đem các bệ phóng vào. http://vov.vn/Uploaded_VOV/bichngoc/...o-hoa-tien.jpg Ngay sau đó, ông có thiết kế cải tiến tên lửa và giá phóng, bây giờ là giá 3 chân có ống phóng bằng sắt có thể quay theo các hướng để nhằm vào mục tiêu chính xác hơn. Sau đó nữa, ông chế tạo giá phóng có thể phóng một loạt 6 quả tên lửa. Loại tên lửa thân 102mm có thể phóng xa đến 2700m còn loại nhỏ hơn 1600m. http://img-fotki.yandex.ru/get/6411/...a558e_orig.jpg Loạt tên lửa đầu có số lượng giới hạn được sản xuất tại phòng thí nghiệm làm pháo cháy Petersburg. Còn sau đó, năm 1826 ở gần St. Petersburg chỗ trường bắn pháo binh Volkov có lập ra “Viện tên lửa”, một công xưởng nhỏ để chế tạo tên lửa. Hoạt động ở công xưởng là các máy móc đơn giản, máy cuốn vỏ hình trụ làm thân chứa thuốc phóng, máy dập và máy khoan. Những máy móc này không chỉ hoạt động ở đây cho đến năm 1850, khi K. I. Konstantinov về đây làm lãnh đạo sản xuất tên lửa, mà còn mãi về sau này. Khi số lượng tên lửa chế tạo nhiều lên, việc thành lập các đơn vị chiến đấu chuyên về tên lửa đã được nghĩ đến. Thời kỳ “Viện tên lửa” ra đời 1826-1850, theo một số tính toán, đã có đến 49.000 quả tên lửa Zasyadko tất cả các kích cỡ đã được chế tạo. Thử nghiệm quan trọng đầu tiên trên chiến trường, đó là trận đánh Nga-Thổ năm 1828. Ví như lễ rửa tội của pháo đội tên lửa Nga đầu tiên, chỉ huy là trung úy P. P. Kovalevsky (về sau là tướng Kovalevsky, 1808-1855). Đó là trận công đồn quân Thổ, gần pháo đài-thành trì Varna. Còn sau đó là các trận đánh khác như pháo đài Varna, Shumla, Silistra và Brailov. Đại đội của trung úy Kovalevsky được thành lập năm 1827 trong thành phần của lực lượng Cận vệ dưới sự khởi xướng của tướng A. D. Zasyadko. Trong đại đội có 6 sĩ quan, 17 xạ thủ và 300 binh lính, trang bị 6 bệ phóng tên lửa loại 8,2 kg, 6 dàn phóng tên lửa loại 5 kg và 6 dàn cho loại 2,5 kg. Họ cần khoảng 3.000 quả tên lửa và pháo cháy các loại, nhưng chỉ được cung cấp 1.100 quả. Số thiếu được bù đặp bằng sản xuất ở Tiraspol sau đó. Trận công thành đầu tiên sử dụng tên lửa Zasyadko là ở gần pháo đài Varna, diễn ra ngày 31 tháng 8 năm 1828 trong trận đánh vào các đồn nhỏ gần bờ biển phía nam Verna. Các đồn này bị tấn công bằng pháo trên tàu biển và tên lửa Zasyadko. Điều đó buộc quân Thổ phải chui xuống hầm hào để trú ẩn, tạo điều kiện cho binh lính trung đoàn Simbirsk xông lên tấn công. Quân Thổ không thể chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu để chống trả hay kháng cự. Tất cả quân Thổ bị giết chết và đồn Thổ bị hạ trong vòng 1 phút. Hình vẽ mô tả trận công thành Varna bằng tên lửa Zasyadko; http://img-fotki.yandex.ru/get/6512/...5af4a_orig.jpg Đầu tháng 9, một số đại đội tên lửa bắt đầu tham gia công thành Verna. Đến ngày 29 tháng 9, thành Verna bị hạ. Trận đánh công thành Verna đã chứng tỏ hiệu quả sử dụng của một số loại tên lửa. Tổng cộng trong chiến dịch năm 1828, quân đội Nga đã sử dụng 811 tên lửa công phá và 380 tên lửa cháy, hầu hết là trong trận công thành Verna. |
Alexander Dmitrievich Zasyadko – Nhà chế tạo tên lửa quân sự đầu tiên
Trong các chiến dịch quân sự năm 1829, tên lửa Zasyadko được tiếp tục sử dụng. Trận vây hãm pháo đài Silistra-Bulgaria, các lực lượng Nga giữ cầu phao qua sông Danube và thuyền bè dưới đạn pháo bắn ra từ pháo đài Thổ, Rushchuk và Silistra. Trên một số cầu phao họ đặt các dàn phóng tên lửa, dưới sự chỉ huy của trung úy Kovalevsky, liên tục nã tên lửa vào các tàu chiến Thổ và mục tiêu trên bờ.
Chứng kiến trận đánh, Glebov so sánh tên lửa đại đội Kovalevsky bắn phá với "con rắn lửa bay rít lên và kêu rầm rầm trong tình trạng rúng động không chỉ dũng khí kiêu căng của dân châu Á, mà còn cả lòng vững vàng thân phương tây băng giá của hàng ngũ châu Âu.” (Глебов П. Дунайская экспедиция 1829 г. СПБ, 1842. С. 11.). Lưu ý là sau thất bại của Napoleon trong cuộc tấn công nước Nga, liên quân Anh-Pháp nhanh chóng quay sang liên minh và chống lưng quân Thổ tấn công Nga. Thổ lúc đó theo Hồi Giáo, vốn bị coi là “Dị giáo không đội trời chung” với Ki-tô giáo. Việc bắn phá bằng hàng loạt tên lửa buộc quân Thổ phải rút lui bởi “quân Thổ ở Silistra không có khái niệm về loại vũ khí bắn lửa này, do đó, cũng không khó để lần 1 lần 2 trung úy Kovalevsky bắn tên lửa vào chúng cũng đạt được hiệu quả như thể lửa của quân Hy Lạp bắn vào các chiến binh của Igor.” (Глебов П. указ. соч.). Đến ngày 3 tháng 4, hạm đội Nga đã có thể tiếp cận địa điểm qui định một cách an toàn và chuẩn bị cho cuộc tấn công sắp đến. Rạng sáng ngày 17 tháng 4 năm 1829, những chiếc phà chở súng máy và tên lửa nã vào những chiếc thuyền Thổ trên sông Danube ở Silistra. Theo mô tả của Glebov: đầu tiên một con rắn lửa bay ra trên mặt sông tối sẫm, sau nó là con khác, và nhằm thẳng vào thuyền pháo. Những ánh lửa như thể từ “trận bão” pháo hoa sáng lóe lên từ tên lửa và ôm lấy toàn bộ sườn tàu địch; khói và sau đó là lửa bốc lên như dung nham núi lửa, cùng với tiếng nổ đùng đoàng trên boong tàu. Tàu cháy quân Thổ soi sáng cả lối tấn công cho binh lính Nga, họ trên những chiếc thuyền đang rượt đuổi tàu quân Thổ. Hạm đội Thổ không thể chống cự được và buộc phải rút chạy. Bởi các trận bắn tên lửa của pháo đội Kovalevsky trong đêm 17 và 18 vào Silistra, trong thành phố có đến 7 đám cháy. Thật tiếc là họ đã không còn nhiều tên lửa để tiếp tục tấn công, trước khi pháo đài Silistra bị thất thủ. Một góc pháo đài Silistra nhìn ra sông Danube ngày nay, nơi này quân Nga đã 3 lần tấn công. Lần 1 năm 968, hoàng tử Sviatoslav cùng quân Bulgaria tuy không hạ được pháo đài Silistra nhưng đã giành thắng lợi. Lần 2 năm 1829 và lần 3 năm 1854 quân Nga chiếm được pháo đài nhưng sau đó phải rút lui. http://i99.xywe.com/www.pravoslaviet...ns/krepost.jpg |
Alexander Dmitrievich Zasyadko – Nhà chế tạo tên lửa quân sự đầu tiên
Việc chuẩn bị cho quân Nga vượt Bankan bắt đầu vào mùa xuân 1829. Lúc đó binh lính Nga không có vũ khí sử dụng trong địa hình núi, vì thế tướng I. I. Dibich và người của ông buộc phải cải tiến vũ khí, pháo 1,2 kg và khẩu pháo 1,2 kg thu được của quân Thổ, trong đợt này, tướng Dibich cũng đã chỉ đạo cho trung tá Vnukovo chế tạo một loại xe chuyên dụng để vận chuyển tên lửa (bằng ngựa kéo).
Kiểu xe đầu tiên theo thiết kế của Vnukovo ra đời ngày 21 tháng 4 năm 1829, nhưng nó quá nặng ( 409.5 kg). Ngay sau đó, Vnukovo làm kiểu xe mới nhẹ hơn (245 kg). Mỗi một khẩu đội tên lửa cần 54 xe kéo loại này để vận chuyển 1.194 quả tên lửa các cỡ, trung bình mỗi xe chở nặng 262 kg. Sau chiến tranh 1828-1829, V. M. Vnukov, là lãnh đạo Viện tên lửa bắt đầu việc cải tiến tên lửa Zasyadko, dưới sự chỉ đạo của tướng Vnukovo, ông đã cải tiến thiết kế tên lửa, tăng cường chất lượng của thuốc nổ và tổ chức lại hợp lý quy trình chế tạo. Trên thực tế, vào năm 1832, tướng Zasyadko đã báo cáo với Hội đồng về các thành phần lực lượng pháo binh tại Bộ quốc phòng, trong đó ông trình bày chi tiết về “Tình hình đơn vị tên lửa” đang hoạt động của mình. Và “tình hình” như thế, chỉ được phê chuẩn sau 18 năm tồn tại, cho dù đã có những phản ánh về tổ chức và nhân sự của Viện tên lửa. Lúc đó, xưởng tên lửa gồm phòng thí nghiệm và các khẩu đội tên lửa. Phòng thí nghiệm chế tạo tên lửa nổ và tên lửa cháy, cũng như chế tạo mẫu và thử nghiệm. Các khẩu đội (mà đến năm 1831 gọi là đại đội) đào tạo nhân sự cho tên lửa, tiến hành các cuộc huấn luyện thực nghiệm và sẵn sàng tham gia chiến đấu. Các đại đội tên lửa tồn tại cho đến chiến tranh bán đảo Crimea 1856. Tư liệu của Alexander Shirokorad |
Súng cối đầu tiên
Leonid Nikolaevich Gobyato-Леонид Николаевич Гобято là người chế tạo súng cối đầu tiên.
Ngày 16 tháng 6 năm 1904, quân đoàn 3 Nhật Bản tiến đến gần pháo đài Nga đóng ở cảng Arthur (nay là cảng Đại Liên trên đất Trung Quốc). Cuộc tấn công bắt đầu ngày 6 tháng 8 và kéo dài một tuần. Khi khi bị thiệt hại nặng nề, quân Nhật quay ra phòng thủ và chuẩn bị cho đợt tấn công mới, chúng tập trung nhiều công binh củng cố vị trí cố thủ. Một số chiến hào của 2 bên chỉ cách nhau độ 30 bước chân. Trong hoàn cảnh đó, cần có loại vũ khí tầm gần khi các vũ khí thông thường khác không có hiệu quả. Sĩ quan Nga lúc đó là Leonid Gobyato đề nghị sử dụng mìn loại nhỏ để tấn công. Họ cần thứ vũ khí bay bổng lên và rơi trúng quân địch đang ẩn nấp trong chiến hào thay vì những vũ khí khác. Chế tạo ra “vũ khí pháo binh để chiến đấu tầm gần” là tên phát minh của Gobyato khởi đầu từ cuộc chiến đấu tháng 8. Mẫu đầu tiên là “khẩu phóng những quả mìn nặng đến hơn 6 kg”. Hai khẩu lựu pháo 75 mm thân ngắn để phóng mìn đã có vào tháng 8 năm 1904 là những mẫu súng cối đầu tiên trên thế giới. Gobyato đã thử nghiệm chúng thành công và đề nghị sử dụng chúng để bảo vệ pháo đài. Khẩu lựu pháo tháng 8 sau đó được thay bằng khẩu súng hạng nhẹ trên khung bánh xe, cỡ nòng 47 mm của hải quân và được đặt tên là “súng cối”. Phần đầu ngoài cỡ nòng của mìn Shestov được làm bằng thép tấm thành hình dạng chóp nón. Phần thân chứa 6,2 kg thuốc phóng và khối lượng nặng tổng cộng 11,5 kg. http://www.opoccuu.com/gobyato-1.jpg Khẩu pháo hải quân 47 mm được sử dụng làm súng cối http://www.opoccuu.com/gobyato-2.jpg Cấu tạo của quả mìn được Gobyato cải tiến thành đạn cối: 1 – ngòi chạm nổ; 2 – quả mìn; 3 – chuôi gỗ; 4 – cánh ổn định; 5 – đuôi chuôi gỗ định hướng trong nòng; 6 – cái dây nhỏ để giữ cánh; 7 - thân, 8 – đầu côn bằng chì, 9 - ống đồng nối ghép;, 10 – thân lót; 11 – vành dẫn; 12 – vỏ đồng khối thuốc phóng; Khi bắn, khối thuốc phóng đẩy cả mìn và chuôi gỗ đi, cái dây nhỏ (6) được buộc vào bộ phận ngắm sẽ kéo cánh xuống đuôi gỗ (5) để ổn định hướng. Cái đầu côn bằng chì (8) lúc đó bị đẩy bẹt ra, chắn khí thuốc và làm kín nòng cũng như có tác dụng giảm chấn để khỏi làm gãy chuôi gỗ. Khẩu cối đầu tiên của Gobyato bắn xa 50 đến 400 m theo các góc 45 đến 65 độ. Thay đổi 1 độ sẽ thay đổi tầm bắn 6-10 bước chân. Thay đổi khối lượng thuốc phóng từ 1/8 1/16 khối lượng quả đạn cũng thay đổi nhiều tầm bắn. Ngày 9 tháng 11 năm 1904 được coi là ngày chính thức ra đời của súng cối. Ngày đó, súng cối của đại úy Gobyato đã đóng vai trò quyết định trong việc đẩy lui cuộc tiến công của quân Nhật. Quân Nga từ trên các điểm cao trên núi dùng các khẩu pháo cải tiến 47 mm bắn thường xuyên, kết quả vượt quá mong đợi. Cứ mỗi khoảng 4 phút, 3 quả đạn cối bắn vào chiến hào địch, 5 ngày đêm chiến đấu cùng khẩu súng cối tuyệt vời đã làm đảo lộn kế hoạch đánh chiếm cảng Arthur của kẻ thù. Hiệu quả chiến đấu thấy rõ, đạn của nó bay cao trong không khí, rồi chúc xuống rơi thẳng đứng trên đầu mục tiêu, phá hủy cả chiến hào và quân địch. Đạn nổ quá mạnh đến mức làm quân Nhật hoảng sợ tháo chạy khỏi chiến hào. Tướng Nhật Nogi, chứng kiến chiến trận đã phải quyết định ngừng tấn công vào phía đông và tập trung tất cả quân đánh chiếm điểm cao, ông ta biết từ nơi đó nhìn ra toàn bộ cảng Arthur. Sau khi liên tục tấn công cao điểm trong 10 ngày, đến ngày 22 tháng 11 năm 1904, quân Nhật chiếm được điểm cao, khẩu súng cối bị lọt vào tay quân Nhật và sau đó khẩu súng này sớm được nói đến trên báo Anh. Cho dù vậy, thì đến tận năm 1914, mới chỉ có thêm người Đức có vũ khí loại này. Dường như các quốc gia khác không đánh giá khẩu “súng cối nhỏ” quan trọng cho lắm vì cho rằng các trận chiến trong tương lai quan trọng ở tốc độ cơ động tấn công. Còn ngày nay, chẳng có quân đội nước nào lại không có súng cối. Ông Leonid Nikolaevich Gobyato sau đó đã là thiếu tướng đầu WW-II, ông hy sinh trong một cuộc tấn công ở Przemysl-Ukraina. http://warfiles.ru/show-14090-pervyy...e-minomet.html |
Trích:
|
Quả bom của Andrei Sakharov
12 tháng 8 năm 1953 tại bãi thử Semipalatinsk quả bom khinh khí ( bom hydro hay còn gọi là bom H) đầu tiên trên thế giới được thử nghiệm. Đây là vụ thử vũ khí hạt nhân thứ 4 của Liên Xô. Công suất quả bom được mang mật danh “sản phẩm RDS-6” đạt được là 400 kiloton, gấp 20 lần quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ và Liên xô. Sau cuộc thử nghiệm, Kurchatov với sự xúc động sâu sắc nói với tổng công trình sư mới 32 tuổi Sakharov [Сахаров] “Xin cám ơn anh, vị cứu tinh của nước Nga”. Xã hội Nga hiện tại quan tâm đến các vấn đề “nóng bỏng” khác như như mạng Beeline hay MTS tốt hơn, nhưng hơn nửa thế kỷ trước trong nhóm các nhà vật lý hạt nhân Xô-Viết vấn đề bom khinh khí hay bom nguyên tử tốt hơn cũng nóng bỏng không kém. Bom nguyên tử mà người Mỹ làm vào năm 1945, còn chúng ta [người Nga] - năm 1949, được chế tạo trên nguyên tắc giải phóng năng lượng khổng lồ khi phân rã các hạt nhân Uranium hay Plutonium. Bom nhiệt hạch hay còn gọi là bom khinh khí hay bom H được xây dựng trên nguyên lý khác hoàn toàn: năng lượng sinh ra khi tổ hợp các hạt nhân nhẹ đồng vị của hydro, deuterium và tritium. Vật liệu trên cơ sở các nguyên tố nhẹ không có khối lượng tới hạn để có cấu tạo phức tạp như trong bom nguyên tử. Ngoài ra, phản ứng tổng hợp deuterium và tritium có năng lượng được giải phóng ra lớn gấp 4,2 lần phản ứng phân rã hạt nhân U-235 có cùng khối lượng. Tóm lại, bom H có công suất lớn hơn nhiều bom nguyên tử. Vào những năm này, sức công phá của bom H không làm ai trong số các nhà khoa học sợ hãi. Thế giới bước vào giai đoạn chiến tranh lạnh, tại Mỹ đang sôi sục chủ nghĩa McCarthyism, còn ở Liên xô lại dấy lên phong trào dò xét đấu tố. Sự phản ứng chỉ cho phép một mình Piotr Kapissa (Петр Капица) không xuất hiện thậm chí tại buổi lễ trọng thể của viện Hàn lâm Khoa học Liên xô nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh Stalin. Việc khai trừ Kapissa khỏi viện hàn lâm khoa học đã được bàn bạc đến nhưng chủ tịch viện Hàn lâm Liên xô lúc bấy giờ là Sergei Vavilop [Сергей Вавилов] cứu vãn tình thế bằng cách chỉ ra rằng nếu thế trước tiên cần phải khai trừ nhà văn Sholokhov [Шолохов] đã vì nhà văn này hầu như vắng mặt tất cả các buổi mít ting, hội họp. Để chế tạo được bom nguyên tử, như đã biết, các nhà khoa học Liên xô đã được giúp đỡ rất nhiều bởi các thông tinh tình báo. Nhưng đối với bom H, tình báo Liên Xô tý nữa thì làm hỏng hết mọi việc. Các kết quả nghiên cứu lấy được từ nhà bác học nổi tiếng Klaus Fuks đã không những đưa người Mỹ mà còn các nhà vật lý Sô viết vào ngõ cụt. Nhóm nghiên cứu của Zeldovich [Зельдович] mất 6 năm để kiểm tra lại các dữ liệu bị sai. Tình báo Xô-viết cung cấp các báo cáo của Nils Bor [Нильс Бор] về “tính không khả thi của siêu bom”. Nhưng ở Liên xô lúc này đã hình thành ý tưởng riêng để chế tạo “siêu bom” mà chứng minh tính khả thi của nó cho Stalin và Beria trong hoàn cảnh khắp nơi đang gấp rút chế tạo bom nguyên tử thì không phải là đơn giản mà thậm chí phần nguy hiểm. Hoàn cảnh lúc này không được phép quên đi khi các chuyện tranh cãi vô bổ về ai có công hơn trong việc tạo ra vũ khí nguyên tử - Tình báo Sô viết hay các nhà khoa học Sô viết. Cuộc chạy đua chế tạo bom H trở thành cuộc đối đầu trí tuệ đầu tiên trong lịch sử loài người. Để chế tạo bom nguyên tử - “mồi” của bom H, quan trọng đầu tiên cần giải quyết các bài toán kỹ thuật khó, triển khai các công việc đồ sộ tại các mỏ và xí nghiệp. Bom H đã làm xuất hiện các hướng nghiên cứu khoa học mới như vật lý plasma nhiệt độ cao, vật lý siêu năng lượng, vật lý siêu áp suất. Lần đầu tiên phải nhờ đến mô phỏng toán học. Lạc hậu so với Hoa kỳ trong lĩnh vực máy tính điện tử ( ở Hoa kỳ lúc này đã có máy tính của von Neiman), các nhà khoa học Xô-viết bù lại bằng ứng dụng các phương pháp tính mẹo trên các máy tính cơ học thô sơ. Nhóm tính toán trong chương trình bom H do viện sỹ nổi tiếng Keldush (Ке́лдыш) lãnh đạo. Tóm lại đây là cuộc chiến trí tuệ đầu tiên trên thế giới và cuộc chiến này Liên xô đã chiến thắng. Một sơ đồ khác của bom H được Andrei Sakharov và một nhà khoa học chưa có tên tuổi của nhóm Zeldovich [Yakov Zel'dovich] đề xuất. Ngay từ năm 1949, Sakharov đã đề nghị một ý tưởng đặc biệt được gọi là “ bánh nướng có lớp – layer cake”, nơi mà thay vì sử dụng các nguyên liệu hạt nhân hiệu suất cao thì sử dụng uran- 238 rẻ tiền, vật liệu mà khi sản xuất tinh chế uran làm bom nguyên tử được coi như là rác thải. Tuy nhiên, nếu những “rác này” bị bắn phá bởi các neutron của phản tống hợp nhiệt hạch, năng lượng gấp 10 lần bị bắn phá bởi các neutron của phản ứng phân rã hạt nhân, thì uran-238 bắt đầu phân rã và giá thành mỗi Kt (kiloton) nhận được giảm đi rất nhiều. Hiện tượng nén ion hóa nhiên liệu nhiệt hạch là cơ sở của quả bom H đầu đầu tiên của Sô viết cho đến nay mang tên nhà khoa học Nga vĩ đại này và được gọi là “saharizatsia”. Nhiên liệu nhiệt hạch được Vitaly Ginzburg đề nghị là lithium deuteride. Đây là “ý tưởng thứ nhất của Sakharov”. Bản chất của “ bánh nướng có lớp – layer cake” là trong lõi lớp vật liệu phân rã được cuốn lần lượt các lớp nhiên liệu tổ hợp - lithium deuteride trong hỗn hợp với tritium. Dự án chế tạo bom nguyên tử và bom hạt nhân được thực hiện song song. Ngay trước khi vụ thử bom nguyên tử năm 1949, Vavilov và Hariton thông tin cho Beria về “bánh nướng có lớp – layer cake”. Sau thông tư/chỉ đạo nổi tiếng của tổng thống Mỹ Truman năm 1950, tại hội nghị của ủy ban đặc biệt dưới sự lãnh đạo của Beria đã đưa ra quyết định tăng cường công tác nghiên cứu theo sơ đồ của Sakharov với công suất 1 Megaton và thời hạn chót cho thử nghiệm là năm 1954. Mùng 1 tháng 11 năm 1952 tại đảo Enewetak (Enewetak atolle) Mỹ, “quả bom” nhiệt hạch có nickname “ Ivy Mike” có công suất hơn 10 Mt, gấp 500 làn quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima được thử nghiệm. Nhưng “Mike” khó có thể gọi là bom vì đây là một thiết bị thử nghiệm có kích thước tương đương với một ngôi nhà 3 tầng. Tuy nhiên công suất vụ nổ cũng quá sức tượng tượng. Dòng neutron lớn đến mức phát hiện được thêm 2 nguyên tố mới là einsteinium và fermium. Lúc này tại Liên xô tất cả mọi nguồn lực được huy động cho bom H. Cái chết của Stalin và vụ bắt Beria cũng không hề làm ảnh hưởng và chậm tiến độ công tác nghiên cứu chế tạo bom H. Cuối cùng, 12 tháng 8 năm 1953 tại bãi thử tại Sempalatinsk quả bom H đầu tiên trên thế giới được thử nghiệm thành công. Hậu quả về sinh thái thật là khủng khiếp. So sánh trên tổng các vụ nổ hạt nhân của tất cả các thời kỳ thì 82% Strontium-90 và 75% Cesium-137 thuộc về vụ nổ nhiệt hạch đầu tiên*. Vụ thử nghiệm thành công của Mỹ (quả bom Ivy Mike) vào tháng 11 năm 1952 đã chứng tỏ có thể chế tạo được các siêu bom có công suất tới Megaton, Liên xô thực hiện dự án khác mà ý tưởng -“ý tưởng thứ 2” - được Zigburg đề xuất từ tháng 11 năm 1948 trong đó - lithium deuteride được sử dụng khi bị bắn phá bới dòng neutron tạo thành tritium và giải phóng deuterium. Có thể nói thành công trong lĩnh vực quân sự, dự án với quả bom H đầu tiên thành công là động lực cho ngành vũ trụ Sô Viết phát triển nhanh như vũ bão. Sau những vụ thử hạt nhân, phòng thiết kế thực nghiệm (OKB) giao cho tổng công trình thư Korolev nhiệm vụ nghiên cứu phát triển tên lửa đạn đạo liên lục địa (IBM) như là một phương tiện mang đầu đạn hạt nhân đến lãnh thổ kẻ thù. Kết quả nghiên cứu của nhóm Korolev là tên lửa mang tên huyền thoại nổi tiếng thế giới “R-7” hay “Semurka”. Con cháu của gia đình R-7 ngày nay vẫn tiếp tục phục vụ có hiệu quả trong ngành vũ trụ nước Nga hiện đại. Thành tịu hạt nhân này giúp cho Liên xô đi trước Mỹ trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ trong hơn 10 năm cho đến khi Mỹ thực hiện thành công chương trình Apollo. Đơn giản là Mỹ không quan tâm nhiều đến tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (IBM) vì lý do Mỹ đã có các tầu sân bay và lực lượng ném bom chiến lược hung hậu nhất thế giới. Kết quả là Liên xô phát triển tên lửa đạn đạo tầm xa trước. Trong 10 năm (1957-1967), Liên xô là người dẫn đầu trong các cuộc đua chinh phục vũ trụ, và có uy tín cao trong các chương trình vũ trũ có người lái. Tiềm năng khoa học kỹ thuật, tổ chức của LX đã cho phép Liên xô trong vòng 10 năm đầu giải quyết các vấn đề quan trọng như : (i) tạo ra tên lửa xuyên lục địa đầu tiên trên thế giới, (ii) phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, (iii) đặt quốc huy đầu tiên trên mặt trăng, (iv) chụp ảnh bề mặt tối của mặt trăng đầu tiên, (v) chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ với Yuri Gagarin, (vi) chuyến bay đầu tiên của phụ nữ vào vũ trụ Valentina Tereshkova, (vii) cuộc đi bộ đầu tiên trong vũ trụ Alexei Leonov, (viii) độ bộ nhẹ nhàng trạm tự động lên mặt trang và truyền tín hiệu video ảnh của bề mặt mặt trăng về trái đất, (ix) là người đầu tiên đưa trạm tự động vào bầu khí quyển sao Kim, (x) trạm vũ trụ lắp ghép đầu tiên trên thế giới. Nước Mỹ thực sự bị rung chuyển. Quay trở lại với nhà khoa học Sakharov. Cuối năm 1953 nhà vật lý Vitor Davudenko [Виктор Давиденко] đề nghị bố trí lõi thứ nhất ( phân rã) và lõi thứ hai (tổng hợp) trong những ngăn riêng rẽ như vậy đã lặp lại sơ đồ của Teller- Ulam. Tuy nhiên, bước tiến lớn tiếp theo được các nhà bác học Xô- Viết đứng đầu là Sakharov và Zeldovich đề nghị và phát triển vào năm 1953 đó chính là dự án 49 ( project 49) trong đó tia rơn-ghen được sử dụng cho phản ứng phân rã để nén lithium deuteride lại trước khi phản ứng tổng hợp. Đây là “ý tưởng thứ 3” của Sakharov và được thử nghiệm thành công vào tháng 11 năm 1955 với công suất bom là 1,6Mt Ngày 6 tháng 11 năm 1955 lần đầu tiên bom H được thử nghiệm ném từ máy bay ném bom TU-16. Tại Mỹ, bom H được ném từ máy bay chỉ vào ngày 21 tháng 5 năm 1956. Tuy nhiên, quả bom đầu của Sakharov cũng là ngõ cụt, và nó không được tiếp tục nghiên cứu phát triển nữa. Trước đó ngày 1 tháng 3 năm 1954 tại đảo Bikini, Mỹ quả bom kinh khí có công suất chưa từng có – 15 Megaton đã thử nghiệm thành công. Qủa bom này được chế tạo trên cơ sở ý tưởng của Teller (Edward Teller) và Ulam (Stanislaw Ulam) về nén nhiên liệu nhiệt hạch không bằng năng lượng cơ khí và dòng neutron nhanh mà bằng tia của vụ nổ đầu được gọi là gọi là “kích hoạt” (sơ đồ Teller- Ulam). Sau vụ thử nghiệm gây ra hậu quả chết người, Igor Tamm (Игорь Тамм) yêu cầu đồng nghiệp từ chối các ý tưởng trước đây, thậm chí cả niềm tự hào quốc gia “Bánh nướng có lớp” và tìm một con đường mới hoàn toàn: “Tất cả những gì chúng ta làm cho đến nay không ai cần. Chúng ta thất nghiệp. Tôi tin rằng sau một vài tháng chúng ta sẽ đạt được mục đích”. Và mùa xuân năm 1954 các nhà khoa học Sô viết đã đi đến ý tưởng “kích hoạt nổ”. Tác giả của ý tưởng này là Zeldovich (Yakov Zel'dovich) và Sakharov. Đây là ý tưởng thứ 3 của Sakharov. Ngày 22 tháng 11 năm 1955 máy bay TU-16 ném xuống bãi thử tại Semipalatinsk quả bom H công suất 3,6 Megaton. Trong khi thực hiện các thử nghiệm này có người bị hy sinh, bán kính phá hủy đạt 350 km. Phía trước là cuộc chạy đua vũ trang. Nhưng năm 1955 đã rõ ràng là Liên xô đạt được thế cân bằng hạt nhân với Mỹ. Ghi chú: *Trước đây vào những năm 70 của thế kỷ trước, quan niệm bom H là vũ khí sạch, tức là so với bom nguyên tử gây ô nhiễm môi trường do chất thải phóng xạ trên nguyên lý phân rã hạt nhân, còn nguyên lý của bom H là tổng hợp hạt nhân không gây ra / ít gây raô nhiễm. Tuy nhiên thực tế không phải như vậy mà còn tùy thuộc vào dạng phản ứng của từng thiết kế. Ví dụ khi sử dụng U-238 thì công suất tăng lên gấn 5 lần nhưng lượng phóng xạ tăng lên từ 5-10 lần. Nguồn chính: theo nguồn của anh SSX đã đưa tổng hợp thêm một số nguồn khác. Бомба Андрея Сахарова Sergei Leskov |
Julia ơi, sao ngày xưa tui nhớ người ta gọi là bom khinh khí chứ không phải bom kinh khí (bom H)
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 19:04. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.