Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thi ca (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=30)
-   -   Gương mặt nhà thơ Nga (tác giả - tác phẩm) (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=6140)

NguyenAnh 16-07-2012 14:25

Gương mặt nhà thơ Nga (tác giả - tác phẩm)
 
Chào các bạn,

Tại thư mục Thi ca này, dù chưa có điều kiện xem hết nhưng cũng có thể kịp nhận ra rằng, đã có nhiều topic giới thiệu thân thế, sự nghiệp và tác phẩm của các nhà thơ Nga nhiều thế hệ. Việc tìm đọc theo từng tác giả như thế, quả là rất tiện.

Trong phạm vi topic này, N.A muốn tập hợp các biên khảo của mình và một số thành viên 3N về một số nhà thơ Nga, kèm theo bản dịch một số tác phẩm thơ của họ. Các bài này trước đây đã từng giới thiệu ở trang chủ nuocnga.net và nhiều bài trong số đó đã được đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ (phụ bản của báo Giáo dục & Thời đại).

Rất mong nhận được sự hưởng ứng của các bạn bằng những bản dịch thơ của chính các thành viên 3N cho từng tác giả. Các bạn có thể bổ sung vào đây các bản dịch thơ đã công bố trước đây ở các chủ đề khác. Các thông tin bổ sung về cuộc đời và sự nghiệp của các nhà thơ Nga cũng là điều rất đáng trân trọng.

Xin cám ơn các bạn!

NguyenAnh 16-07-2012 14:31

Vladimir Nabokov - MỘT GƯƠNG MẶT VĂN CHƯƠNG ĐẶC BIỆT
(Bài đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ)
NGUYÊN HÙNG


Trong lịch sử văn học thế kỷ 20, Vladimir Nabokov giữ vị trí độc nhất vô nhị, là tác giả viết giỏi đồng thời bằng hai thứ tiếng: Nga và Anh. Sinh ra ở nước Nga, ông luôn mang theo mình những hồi ức về quê hương, thể hiện chúng qua hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau và xứng đáng trở thành một trong những gương mặt hàng đầu của nền văn học Nga. Đồng thời, ông cũng được coi là nhà kinh điển của nền văn xuôi Mỹ hiện đại, là người mà các nhà văn “bản xứ” như K.Wonnegut, J. Bart, T.Pinchon, T.Sazern tôn vinh là vị tiền bối gần gũi của mình. Với mảng tác phẩm được viết bằng Anh ngữ, dường như Nabokov là nhà văn được sinh ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương chứ không phải là một người con của nước Nga.

Có thể nói rằng, Vladimir Nabokov đang giữ một giá trị sáng tạo kỷ lục; và điều đó chứng tỏ một điều rằng, “xuất xứ của nhà văn chỉ là điều thứ yếu, sự nghiệp sáng tạo của anh ta mới là tờ giấy thông hành đích thực”. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học thế giới, năm 1974, Vladimir Nabokov từng được đề cử xét tặng thưởng giải Nobel về văn chương cùng với Graham Greene và Saul Bellow.

Rời khỏi nước Nga

Nabokov sinh ra trong một gia đình luật sư có tư tưởng tự do, là con cháu của nhà quý tộc V.Đ.Nabokov. Ông nội của nhà văn, Đ.N.Nabokov, từng giữ chức bộ trưởng tư pháp dưới thời Aleksandr II. Mẹ ông, Elena Ivanovna, là con gái của nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov. Tuổi thơ của nhà văn trôi qua ở Peterburg, nơi mà mỗi mùa hè gia đình ông đều đi đến vùng đất riêng của mình ở Batovo. Cạnh Batovo là lãnh địa Thiên chúa giáo rộng lớn và giàu có của người bác, ông V.I.Rukavishnikov, người sau đó đã để chúc thư truyền lại cho cháu mình, nhà văn tương lai. Nơi đây đã khắc sâu trong tâm khảm Nabokov suốt cả cuộc đời về sau. Ngay trước sự kiện Cách mạng tháng Mười Nabokov đã kịp tốt nghiệp trường kỹ thuật Tenishevsky, nơi anh đã đạt thành tích xuất sắc trong cả hai lĩnh vực học văn hóa và thể thao. Năm 1918, chàng thanh niên Nabokov cùng với gia đình sơ tán đến Krưm, sau đó một năm thì rời khỏi nước Nga. Gia đình Nabokov định cư ở Brlin, và V.Nabokov vào học trường Đại học tổng hợp Kembrizsky. Ra trường, Nabokov lập nghiệp tại Berlin trong vòng 15 năm (1922-1937). Sau đó số phận run rủi ông đến Pháp trong hai năm, rồi cùng vợ con đi Mỹ vào năm 1940, ngay trước khi những sư đoàn đầu tiên của phát-xít Đức tiến vào Paris. V.Nabokov ở lại Mỹ trong thời gian gần 20 năm, vừa dạy học vừa viết văn. Năm 1945, Nabokov nhận quốc tịch Mỹ. Tại đây ông đã tạo dựng tên tuổi trước hết với tư cách là nhà côn trùng học chuyên sưu tầm, nghiên cứu về bướm và đã phát triển thú đam mê từ thời thơ ấu này thành một trò giải trí chuyên nghiệp. Đây là một điểm khá thú vị trong sự nghiệp của Nabokov, và sinh thời đã từng có không ít ý kiến cho rằng, thú chơi bướm chẳng qua chỉ là một cách “đánh bóng tên tuổi”, “làm bộ làm tịch” của nhà văn.

Nước Nga trong Nabokov

Năm 1959 Nabokov trở về châu Âu và định cư tại Thụy Sỹ cho đến những ngày cuối đời. Dù ở đâu - Berlin, Paris hay Mỹ, V. Nabokov luôn chiếm được vị trí xứng đáng trong văn học. Nước Nga trong ông không giống nước Nga của Bunin, Kuprin, I.S.Smeliev, B. K.Zaitsev. Trong tác phẩm Nabokov không có các thành phố, các làng mạc được chỉ tên, không có những hình tượng nhân vật có thể gọi theo kiểu Nga, cũng không mảy may có sự miêu tả trực tiếp các thảm họa gây chấn động lịch sử dân tộc trong thế kỷ qua. Nước Nga của Nabokov – đó là bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất, đó là thời mà “mỗi lời khẩn cầu, một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Nabokov đã viết như thế trong “Massenka” (1926), cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho tác giả sự nổi tiếng đầu tiên, và lối ẩn dụ này được ông tiếp tục với nhiều dạng văn phong khác nhau trong suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà văn, cho tới bộ sách đồ sộ cuối cùng của mình bằng tiếng Nga là “Những bến bờ khác”.

Nước Nga của Nabokov – đó là một thứ ngôn ngữ riêng hoàn hảo, điều mà ông coi là thế mạnh chủ yếu của mình. Trong lời mở đầu cho tiểu thuyết “Những bến bờ khác”, Nabokov viết: “Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh, và điều tai hại là ở chỗ, trước đó trong vòng hơn 15 năm trời tôi viết bằng tiếng Nga, từng để lại dấu ấn riêng lên các “công cụ và trợ thủ” của mình. Khi chuyển sang một ngôn ngữ khác, vô hình trung tôi phải từ bỏ thứ tiếng của Avvakum, Puskin, Tolstoy và các ấn phẩm Nga”. Cuối cùng, nước Nga của Nabokov – đó là nền văn học Nga kinh điển. Về đóng góp của Nabokov trong mảng văn học ngoài tiếng Nga, đã có ý kiến cho rằng, phương Tây chịu ơn ông vì các bản dịch ra tiếng Anh (và một số ra tiếng Pháp) các tác phẩm của Puskin, lermontov, Chiutchev.

Quan điểm sáng tạo của Nabokov

Hơn hết thảy, Nabokov căm ghét, căm ghét một cách sâu sắc điều mà ông gọi là “sự tầm thường” trong sáng tạo, khi đưa vào khái niệm này một nội dung rất rộng lớn.

Sự tầm thường – đó là sự xâm hại về mặt đạo đức, triết học, lịch sử đến các lằn ranh có chủ quyền của nghệ thuật. Nabokov đã công kích một cách thù địch những tác giả như Tomas Mann, Andre Malro, thậm chí cả Đostoevsky, và phủ nhận một cách miệt thị nhận định phổ biến về Gogol như là người lên án các tệ nạn xã hội, là người thương cảm “những thân phận bé nhỏ”. Sự tầm thường – đó cũng là đòi hỏi về tính dân tộc trong văn học. Như một họa sĩ, một nhà nghiên cứu văn học và triết học, một giáo sư đại học, Nabokov luôn trong tình trạng đấu tranh không ngừng với các truyền thống của nền phê bình ở nước Nga.

Cuối cùng, sự tầm thường – đó là các chế độ độc tài, được phản ánh một cách sinh động qua các tiểu thuyết: “Giấy mời đến pháp trường” (1938), “Những đứa con hoang” (nguyên bản tiếng Anh là «Bend Sinister»), các truyện ngắn “Hoàng đế” (1933), “Tiêu diệt cuồng bạo” (1936), “Hồ, đám mây, bể nước” (1937), kịch “Sự phát minh điệu Van-xơ” (1938) và trong một loạt tác phẩm khác.

Nabokov - nhà văn Mỹ


Các đề tài trung tâm và cơ sở mỹ học chính của V. Sirin (bút danh cho các tác phẩm bằng tiếng Nga của Nabokov) đã tìm được sự kế tục và phát triển trong giai đoạn sáng tạo bằng tiếng Anh của Nabokov.

Ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo của Nabokov không chỉ là công cụ và trợ thủ, mà còn là nhân vật trong tất cả các cuốn sách của ông. Người ta đã từng so sánh Nabokov với Joseph Conrad, người cũng trở thành nhà kinh điển của văn học không bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (Joseph Conrad là người Ba Lan), nhưng điều đó đã xúc phạm tác giả tiểu thuyết “Lolita”, vì thực tế thì Joseph Conrad có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tốt hơn nhiều so với Nabokov, và nhà văn này cũng không hề bị chi phối bởi hệ thống của ngôn ngữ sla-vơ.

Về tác phẩm chính được viết bằng tiếng Anh của Nabokov, có thể kể: các tiểu thuyết “Cuộc sống thực của Sebastian Knight” (The Real Life of Sebastian Knight, 1941), “Những đứa con hoang” (Bend Sinister, 1944), “Ngọn lửa xanh xao” (1962), truyện hài Pnin (1957), nhiều tác phẩm hồi ký độc đáo (“Chứng cứ xác thực”, 1951, “Những bến bờ khác”, 1954, “Ơi tri giác, hãy lên tiếng”, 1966).

Theo cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn học Nga N.A. Anastasev (Н. А. Анастасьев), Nabokov là nhà văn của các nhà văn, và sự nghiệp sáng tạo của ông là văn học của văn học, là một thư viện lớn. Trên các trang sách của ông không ngừng vang lên tên tuổi của Shakespeare, Lev Tolstoy, Shiller và Kolridj, Edgar Po và Bodler, Dante và Gotorn, Shekhov và Rembo và hàng loạt các tên tuổi vĩ đại khác. Trong đó, Puskin giữ một vị trí đặc biệt, vì đối với Nabokov, Puskin là một tên tuổi mẫu mực, là nhà thơ vĩ đại, xứng đáng để ông bỏ ra cả chục năm trời dịch ra tiếng Anh trường ca “Evgheni Oneghin”, bản dịch từng gây náo động trên văn đàn và trong dư luận bạn đọc.

Nabokov và Thơ

Trong kho tàng văn học của Vladimir Nabokov, ngoài các tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Nga và tiếng Anh, còn có một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ bằng tiếng Nga. Trọn cả cuộc đời sáng tạo sống xa tổ quốc, nhưng thơ Nabokov vẫn luôn đau đáu một tình yêu giành cho quê hương đất nước:

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.
(Gửi nước Nga - Quỳnh Hương dịch)

Vladimir Nabokov là gương mặt nổi tiếng trên văn đàn thế giới, nhưng do nhiều lý do khác nhau, nên hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến. Để góp phần giúp bạn đọc có thêm một số thông tin về Nabokov, ngoài những điều khái quát trên đây, sau đây Tài Hoa Trẻ xin giới thiệu một số tác phẩm thơ của ông với các bản dịch của Tạ Phương, Nguyên Hùng, Thu Hương và Quỳnh Hương.
1. ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

1. Đàn sếu

Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.

(Nguyên Hùng dịch)

2.
Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.

2. Không đề 1

Tự do có trong cô đơn
Và ngọt ngào – trong mộng ước.
Giọt mật, ánh sao, bông tuyết
Tôi gom trong một câu thơ.

Và sau mỗi đêm hấp hối
Tôi mừng sớm mai sống lại.
Ngày mới - giọt sương thiên đường
Còn ngày qua - hạt kim cương.

(Tạ Phương dịch)

3. ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит,
вдоль по стенке... Лежи, не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь, а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах, как воет, как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно, не слушай...
Обойдемся и так, без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах, жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.

3. Bão tuyết

Bóng tối trên tường dồn bóng tối,
Hãy nằm yên, trằn trọc làm chi!
Gió rên rỉ thì thây kệ gió
Hay mi chưa đủ ấm bên lò?

Đêm tai ương...Nỗi nhớ căn lều nhỏ
Mi khó ngủ ư, hay sợ gió rồi?
Đâu phải là thảo nguyên bão tuyết,
Là nước Nga trăn trở lúc tối trời!

Nào rú rít, giật rung, gào thét!
Có sức thì ra cứu giúp đi!
Sao thế nữa? Đủ rồi, bưng tai lại...
Sẽ qua thôi, dù nước Nga chẳng bên mi!

Tiếng gió rên khe khẽ yếu dần
Rồi lại tru lên... Ôi, thảo nguyên đáng sợ!
Sáng mai ra, băng ngập dày kín cửa...
Bão tuyết cơ mà! Thôi kệ nó, ngủ đi!

(Thu Hương dịch)

4.
О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди, вон там одна, беззвучная, как дух,
алмазною стезей прорезывает воздух,
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня, куда звезда скатилась.
О, я тебя молю, безмолвствуй, не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.
26 августа 1918

4. Không đề 2

Tôi nghĩ gì ư? Về những sao băng
Em nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng ngắt
Bay vút qua không gian vệt sáng kim cương
Đến tận cùng đường, và lụi tắt.

Đừng hỏi tôi, sao rơi nơi đâu
Tôi xin em, hãy lặng im và nín thở!
Tôi cảm thấy ngôi sao đang tan vỡ
Thành muôn tia trong sâu thẳm hồn mình.

(Tạ Phương dịch)

5. России

Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!
1921?

5. Gửi nước Nga

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.

Nhưng ta cô đơn, ôi nước Nga!
Giờ đây người đã xa ta quá!
Qua mất rồi những ngày ta vẫn nhớ:
Người với ta chung một niềm đau.

Tiếng người cười như vang vọng tới ta
Từ thẳm sâu cánh rừng Nga xanh mát!
Dịu dàng quá khiến tim ta đau thắt
Và tràn đầy đam mê trẻ trung.

Ta khẽ hôn đóa đồng thảo tháng năm,
Đôi mắt Nga thơ ngây trong vắt,-
Những cánh hoa dường như cũng hiểu,
Long lanh sương đáp lại tình ta...

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!

(Quỳnh Hương dịch)

NguyenAnh 16-07-2012 14:44

Thơ Vladimir Nabokov - Một số bản dịch khác

1. ЖУРАВЛИ - Đàn sếu

Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội,
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.

(Tạ Phương dịch)

Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.

Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.

(Quỳnh Hương dịch)

Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.

(Thu Hương dịch)

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...

(Phan Chí Thắng dịch)

Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ

(Lưu Hải Hà dịch)

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu

Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !

(Minh Nguyệt dịch)

2. Không đề 1

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng đẹp.
Sao trời, tuyết bay, giọt mật
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnh,
Mỗi ngày qua - là kim cương long lanh

(Thu Hương dịch)

Trong cô đơn luôn sẵn có tự do,
Trong mộng ảo - vị ngọt ngào mơ ước.
Ánh sao, giọt mật và bông tuyết
Tôi giam vào chỉ một câu thơ.

Và mỗi đêm là một lần hấp hối,
Tôi vui mừng mỗi rạng sáng hồi sinh.
Sương thiên đường lấp lánh ngày mới đến
Khi ngày qua - thành kim cương long lanh.

(Quỳnh Hương dịch)

3. ВЬЮГА – Bão tuyết

Trên tường chập chờn bóng tối
Nằm yên đi, thôi đừng có càu nhàu.
Gió thét gào? Ừ thì kệ gió.
Nằm bên lò sưởi chẳng ấm sao?

Đêm tai hoạ... Buồn chán trong nhà gỗ...
Sao khó ngủ thế này? Ta sợ gió hay sao?
Nước Nga đấy, đâu phải là bão tuyết!
Là nước Nga đen tối chuyển mình thôi!

Chà, tiếng rú gào, tiếng gió rít rợn người!
Nếu có thể - hãy đi ra mà cứu lấy!
Ta á? Đủ rồi, thôi đừng nghe xui dại...
Ta lo được cho mình, dù chẳng có nước Nga!

Tiếng gió gào như đang dần lặng đấy...
Lại đột ngột rít lên! Ôi đáng sợ thảo nguyên...
Rồi sáng ra chất chồng từng đống tuyết...
Đến tận mái nhà! Thôi mặc bão! Cứ ngủ ngon.

(Quỳnh Hương dịch)

Bóng đen trên tường đuổi nhau rối rít
Hãy nằm yên, mi trằn trọc mãi chi
Gió rền rĩ? Ừ thì mặc gió
Hay bên lò chưa đủ ấm sao, mi?

Đêm ương ngạnh... Mái lều tranh thổn thức...
Khó ngủ ư? Hay mi sợ gió gào?
Đây nước Nga, đâu phải thảo nguyên bão tuyết –
Nước Nga đêm đen đang vật vã, lộn nhào.

Tiếng gió rít, tiếng rú gào thảm thiết
Nếu mi có gan, có thể cứu - hãy ra!
Ồ sao thế? Đủ rồi, vậy đừng nghe nữa...
Không có nước Nga, ta vẫn vượt được mà.

Gió rên rỉ, ngày càng lắng dịu...
Lại tru lên... Ôi hoang dã thảo nguyên...
Ngày mai tuyết ngập mái nhà, từng đụn...
Bão tuyết mà! Thây kệ nó, hãy ngủ yên!

(Tạ Phương dịch)

4. Không đề 2

Tôi nghĩ về gì nhỉ? Về những vì sao rơi...
Nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng lẽ
Cắt qua không gian một vết ánh kim cương,
Rồi tắt ngấm vĩnh viễn trong đêm trường...

Xin đừng hỏi nhé em, điểm đến của vì sao.
Van em đấy, hãy lặng im và tạm ngừng hơi thở!
Tôi thấy như vì sao đang vụn vỡ
Thành ngàn tia sáng nơi thẳm sâu của hồn tôi.

(Quỳnh Hương dịch)

Anh nghĩ gì ư? - Về những thoáng sao rơi...
Em thấy không, kia một ngôi, như linh hồn câm lặng
Vạch trời đêm ánh kim cương lấp lánh,
Rồi giữa không trung - tắt lặng, chẳng còn chi...

Đừng hỏi anh, sao bay đi đâu.
Van em đấy! Lặng yên, đừng thở nữa!
Anh cảm thấy sao kia đã vỡ
Thành muôn tia sáng rỡ trong sâu thẳm hồn anh.

(Thu Hương dịch)

5. России - Gửi nước Nga

Ta chẳng ngợp trong giận hờn vô nghĩa,
Rủa nguyền, van vỉ cũng không;
Ta vẫn yêu Tổ quốc mình sau trước,
Như yêu ai đã đổi dạ, thay lòng.

Nhưng, ơi nước Nga, ta cô độc quá chừng!
Người với ta giờ ngàn trùng cách trở!
Vậy mà từng có những ngày quá khứ:
Người cùng ta chia sẻ, bao dung!

Ta cảm nhận nỗi đau êm dịu
Niềm đam mê rất đỗi trẻ trung
Khi từ cánh rừng xanh tươi vọng lại
Tiếng Người cười tựa nhạc ngân rung.

Ta từng hôn đoá hoa đồng thảo tháng năm, -
Những con mắt Nga ngây thơ, trong trắng, -
Và những cánh hoa, chừng hiểu lòng ta,
Những giọt lệ-sương yêu lấp lánh…

Và vậy đó, ơi nước Nga của ta,
Ta đâu dám giận hờn, sầu tủi…
Ta biết rằng ánh mắt sáng trong kia
Chẳng thể có ở người lầm lỗi.

(Tạ Phương dịch)

NguyenAnh 17-07-2012 09:16


ANNA AKHMATOVA
VỚI TRÁI TIM KHÔNG TRÓI BUỘC

NGUYÊN HÙNG - BẠCH DƯƠNG

Anna Akhmatova (1889-1966) sinh ra và lớn lên trong gia đình một đại úy hải quân tại Bolsoi Fontan gần thành phố Odessa. Năm 1890, lúc mới lên một Anna theo gia đình chuyển nhà về Pavlosk, và một năm sau lại chuyển đến Hoàng Thôn, một trung tâm văn hóa nổi tiếng gần kinh đô Peterburg thời bấy giờ.

Năm hăm mốt tuổi Anna Akhmatova trở thành vợ của nhà thơ N.Gumilov. Từ đầu những năm 20, Anna đã là nhà thơ nữ nổi tiếng trên thi đàn Xô-viết. Thơ Anna được lưu truyền rộng rãi khắp nước Nga, được những người dân Nga bình thường yêu thích tìm đọc và thuộc lòng nhiều bài. Nhưng cuộc đời của nữ sĩ đã trải qua hai lần biến cố. Lần đầu thì chồng bà, nhà thơ N. Gumilov bị kết tội chống chính quyền Xô-viết và bị lãnh án tử hình. Lần thứ hai, chính Anna bị lên án trong một nghị quyết về tạp chí Ngôi sao và Leningrad; theo đó, vào năm 1946 bà bị khai trừ ra khỏi Hội nhà văn Liên Xô. Mãi 7 năm sau, tức vào năm 1953 bà mới được tái gia nhập Hội Nhà văn Liên Xô. Và đến tận năm 1988, tức sau 42 năm thì danh dự của Anna Akhmatova mới được khôi phục bằng một nghị quyết khác của TƯ Đảng CSLX phủ nhận nghị quyết sai lầm của năm 1946.

Anna Akhmatova xuất bản tập thơ Ngợi ca hoà bình vào năm 1959, và đến cuối đời cho xuất bản tuyển tập thơ Thời gian trốn chạy (1965). Tháng 12/1964 trường Đại học Tổng hợp Oxford truy tặng học vị danh dự Tiến sĩ văn học cho Anna Akhmatova. Năm 1989, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà, UNESCO đã quyết định lấy tên nữ sĩ đặt cho năm 1989 là năm văn hoá thế giới. Thơ của Anna Akhmatova thường cô đọng, mỗi bài thơ là một tiếng nói riêng được nén chặt từ con tim chất phác, không dối lừa, tiếng nói giàu sức biểu cảm từ bên trong.

Anna Akhmatova là một hồn thơ Nga chân chính, một hiện tượng thơ lớn đáng chú ý trong nền thơ ca Nga Xô-viết. Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu dưới đây chùm thơ của bà với các bản dịch của các thành viên NuocNga.net.

Сердце к сердцу не приковано

Сердце к сердцу не приковано,
Если хочешь - уходи.
Много счастья уготовано
Тем, кто волен на пути.

Я не плачу, я не жалуюсь,
Мне счастливой не бывать.
Не целуй меня, усталую,-
Смерть придется целовать.

Дни томлений острых прожиты
Вместе с белою зимой.
Отчего же, отчего же ты
Лучше, чем избранник мой?
Con tim này đâu trói buộc tim ai?

Con tim này đâu trói buộc tim ai
Hễ đã muốn, anh cứ rời xa nhé
Hạnh phúc vẫn rất nhiều trên trần thế
Cho những người được tùy ý lãng du

Em không khóc, không than phiền trách cứ
Phận em đây không hạnh phúc bao giờ
Đừng hôn em - một con người ủ rũ
Như buộc lòng hôn cái chết âm u

Và những tháng ngày nhức nhối sầu đau
Em sẽ sống với mùa đông trắng toát
Nhưng vì sao, vì sao anh lại tốt
Hơn cả người em chọn lựa cho em?

(Phan Chí Thắng dịch)


Память о солнце (*)

Память о солнце в сердце слабеет.
Желтей трава.
Ветер снежинками ранними веет
Едва-едва.

В узких каналах уже не струится -
Стынет вода.
Здесь никогда ничего не случится, -
О, никогда!

Ива на небе пустом распластала
Веер сквозной.
Может быть, лучше, что я не стала
Вашей женой.

Память о солнце в сердце слабеет.
Что это? Тьма?
Может быть!.. За ночь прийти успеет
Зима.
Ký ức về mặt trời

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt
Cỏ hóa vàng hơn.
Gió đưa những bông tuyết sớm
Chập chờn – chập chờn.

Trong kênh hẹp nước đóng băng lạnh giá -
Không chảy lơ thơ.
Ở đây không bao giờ xảy ra điều gì nữa
Ôi, không bao giờ!

Cây liễu trải trên bầu trời trống vắng
Chiếc quạt cành xanh.
Có thể, tốt hơn nếu như tôi chẳng
Trở thành vợ anh.

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt.
Đêm? Có phải không?
Cũng có thể!... sau đêm sẽ kịp đến
Mùa đông.

(Lưu Hải Hà dịch)


Палима сладостным огнем (*)

О нет, я не тебя любила,
Палима сладостным огнем,
Так объясни, какая сила
В печальном имени твоем.

Передо мною как колени
Ты стал, как будто ждал венца,
И смертные коснулись тени
Спокойно юного лица.

И ты ушел. Не за победой,
За смертью. Ночи глубоки!
О, ангел мой, не знай, не ведай
Моей теперешней тоски.

Но если белым солнцем рая
В лесу осветится тропа,
Но если птица полевая
Взлетит с колючего снопа,

Я знаю: это ты, убитый,
Мне хочешь рассказать о том,
И снова вижу холм изрытый
Над окровавленным Днестром.

Забуду дни любви и славы,
Забуду молодость мою,
Душа темна, пути лукавы,
Но образ твой, твой подвиг правый
До часа смерти сохраню.
Lửa tình yêu

Không, em nào có yêu anh
Lửa tình yêu em tự đốt cháy mình.
Nói với em đi, sức mạnh nào ẩn giấu
Trong cái tên buồn bã của anh

Trước mặt em anh quỳ như chờ đợi
Vương miện đặt trên mái tóc xanh
Và cùng lúc những bóng đen chết chóc
Lướt qua gương mặt trẻ trung thành.

Và anh đi. Nhưng không vì chiến thắng.
Ôi đêm đen! Anh đón chết về mình.
Thiên thần của em, anh không cần phải biết
Nỗi cô đơn buồn thảm em mang.

Mỗi lần trên con đường rực nắng
Mặt trời soi qua những bóng cây
Nếu có một lần con chim nhỏ
Bay lên từ những bụi gai dầy

Em nhận ra hình bóng anh trong đó
Từ cõi chết anh về kể chuyện đã qua.
Và trước mắt em ngôi mộ mới
Bên bờ sông đầy máu lại hiện ra

Em sẽ quên cả tình yêu lẫn quang vinh
Em sẽ quên tuổi trẻ của chính mình
Những góc tối tâm hồn, những khúc quanh định mệnh
Để nhớ mãi anh cùng với những chiến công
Em sẽ nhớ đến ngày em tan vào bụi.

(Quỳnh Hương dịch)


Песня последней встречи

Так беспомощно грудь холодела,
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.

Показалось, что много ступеней,
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мной умри!

Я обманут своей унылой,
Переменчивой, злой судьбой".
Я ответила: "Милый, милый!
И я тоже. Умру с тобой..."

Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.
Khúc ca cuộc hò hẹn cuối cùng

Lạnh hẫng trong tim bất lực,
Nhưng chân đi vẫn nhẹ nhàng.
Găng trái xỏ vào tay phải
Tôi lần mấy bậc thềm hiên.

Tưởng như đến bao nhiêu bậc,
Mà tôi biết rõ - chỉ ba!
Rừng phong thu xào xạc gió
Rủ tôi: "Hãy chết cùng ta!

Ta bị số mệnh gạt lừa,
Đỏng đảnh, tẻ buồn, cay nghiệt"
Tôi đáp: "Phận tôi đâu khác
Lìa đời cùng bạn - tôi ưng..."

Đấy khúc hò hẹn cuối cùng.
Tôi ngoái trông căn nhà tối.
Ánh nến buồng ngủ bập bùng
Vàng vọt, hững hờ, trơ trọi.

(Thu Hương dịch)

NguyenAnh 17-07-2012 09:27

ANNA AKHMATOVA
Đại diện cuối cùng của “thế kỷ bạc” trong nền thi ca Nga

Tachiana Sinhitsyina
LƯU HẢI HÀ dịch
(Bài đã đăng Tài Hoa Trẻ)

Bốn mươi năm trước đây, ngày 5 tháng 3 năm 1966, Anna Akhmatova, nhà thơ Nga vĩ đại đã qua đời. Bà gọi trái tim mình là “đã thủng lỗ” từ những năm còn trẻ tuổi. Cuộc đời đã dành cho người phụ nữ này rất nhiều đau khổ tinh thần, đủ để tiêu diệt bất kỳ người nào. Nhưng số phận đã gìn giữ Anna Akhmatova gần 77 năm. Tất nhiên là gìn giữ cho những dòng chữ quý báu mà tài năng của bà đã phản xạ trên giấy.

Cái chết của Anna Akhmatova đã dừng chiếc đồng hồ của “thế kỷ bạc” trong thi ca Nga lại. Bà là người đại diện cuối cùng của thời kỳ rạng ngời này của văn học Nga, thời kỳ bắt nguồn từ nửa sau của thế kỷ XIX. “Có thế kỷ vàng và thế kỷ bạc của nghệ thuật. Cả trong thế kỷ vàng cũng như thế kỷ bạc đều có những con người xứng đáng với nhau. Và cũng chưa chắc gì những người thuộc thế kỷ vàng là những người khác với những người thuộc thế kỷ bạc” – nhà thơ Nhicôlai Otsup năm 1933 đã xác định rất chính xác hai hiện tượng ấy của văn hóa Nga như thế. Anna Akhmatova thuộc về thế hệ tuyệt vời ấy của các nhà thơ Nga.

… Trong năm đầu tiên sau cách mạng, Anna Akhmatova vừa mới mắc bệnh lao. Bà lên tàu đi Matxcơva, tránh xa những màn sương mù của Peterburg. Trong toa tàu Akhmatova muốn hút thuốc và bà lấy thuốc lá ra. Nhưng trong số những người xung quanh không ai có diêm cả. Khi đó Akhmatova thò đầu ra ngoài cửa sổ và đốt thuốc từ những tia lửa của tàu. Lúc đó một anh lính Hồng quân nhìn thấy thế đã thốt lên: “Người như thế thì chẳng bị gục ngã đâu!”. Một tư thế cuộc sống không bao giờ thay đổi đã giúp cho bà không bị gục ngã: đối với mọi đòn đánh của số phận Akhmatova chỉ có một câu trả lời – ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Chỉ có tâm hồn khóc – khóc bằng thơ.

Những dòng thơ đầu tiên Akhmatova viết vào năm 11 tuổi, khi còn sống ở thành phố Odessa, nơi bà đã sinh ra. Khi nhìn thấy tác phẩm của cô con gái thì cha bà, một kỹ sư đã nói rất nghiêm khắc: “Đó là sự suy đồi, đừng có bôi nhọ họ của tôi!”. Cô con gái vâng lời và đổi họ Gorenko sang họ của bà cố vốn thuộc dòng giõi các công tước Tatar – Akhmatova. Lần thứ hai thì người hâm mộ say đắm, Nhicolai Gumilev lại khuyên cô hãy xa cách việc làm thơ: “Em mảnh dẻ và dẻo dai thế. Có lẽ em múa sẽ tốt hơn chăng?”. Nhưng Akhmatova vẫn bị thi ca cuốn hút. Năm 1907, Gumilev muốn làm một món quà tặng người yêu và công bố trong tạp chí “Sirius” xuất bản ở Paris của ông một bài thơ của nàng. Thế là nữ sĩ Anna Akhmatova lần đầu tiên gặp gỡ với bạn đọc.

Ngày 12 tháng 5 năm 1910 Anna Akhmatova và Nhicolai Gumilev đã kết hôn ở một nhà thờ nhỏ gần Kiev – Anna học luật ở thành phố này. Sau đó họ tới Slepnhevo – điền trang của dòng họ Gumilev ở vùng Tveri. Nhưng chẳng bao lâu sau thì cuộc sống sôi động đã gọi họ tới thủ đô. Akhmatova và Gumilev cùng với M.Kuzmin, Vyach. Ivanov thành lập nhóm thơ “Phân xưởng nhà thơ”, họ tuyên bố về “trường phái acmeisme. Kết quả là tập thơ mỏng đầu tiên của Akhmatova “Chiều” đã ra đời và ngay lập tức đem lại vinh quang. Các nhà thơ trẻ sống cuộc sống bohema đầy sôi động. Họ bàn luận về nghệ thuật cuộc sống và những bí mật của thi ca trong quán cà phê sành điệu của Peterburg “Con chó lang thang”, thưởng thức rượu sâm panh và dứa. Anna luôn là tâm điểm của sự chú ý – không chỉ như một nhà thơ mà còn như một người phụ nữ, người ta so sánh nàng với bức tượng cổ đại, tỏ tình với nàng, thậm chí đấu súng vì nàng. Chính trong thời gian này họa sĩ trẻ N.Altman đã vẽ bức chân dung nổi tiếng của Akhmatova: nàng ngồi quay nghiêng, trong bộ áo màu xanh sẫm, quàng một chiếc khăn vàng.

Cuộc sống riêng tư của Akhmatova thời gian đó cũng tuân theo acmeisme – quay về với sự tự nhiên của thế giới vật chất, với những cảm xúc ban đầu. Đám cưới của Akhmatova và Gumilev không thể hạnh phúc được – họ quá khác nhau. Chỉ mới 5 tháng trôi qua sau ngày cưới thì người chồng trẻ đã vội vàng tới châu Phi một lần nữa, còn Anna thì vội vàng tới Paris. Thành phố này chờ nàng với một mối tình với một chàng họa sĩ nghèo còn chưa được ai biết đến – Amadeo Modigliani. Khi họ chia tay, Anna tặng chàng một chiếc lông đà điểu làm kỷ niệm – chiếc lông này được Gumilev đem về từ châu Phi và cắm trên mũ nàng, còn Modigliani thì tặng Anna 16 bức chân dung nàng. Tiếc rằng đến nay thì chỉ còn lại có một bức trong số đó.

Năm 1912 cặp vợ chồng Gumilev sinh được một cậu con trai đặt tên là Lev, một nhà sử học, nhà dân tộc học và triết học nổi tiếng trong tương lai. Bố mẹ cậu sống quá nhiều trong môi trường thơ văn, nên người nuôi dạy cậu bé là bà nội. Bà Anna Ivanova tha thứ tất cả cho cô con dâu “kỳ dị” vì cô đã tặng cho bà cậu cháu nội. Anna Akhmatova cũng thường tới Slepnhevo, ở đây nữ sĩ đã viết 60 bài thơ trong tập thơ “Đàn chim trắng”.

Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bắt đầu thì Akhmatova gần như biến khỏi cuộc sống công chúng và sống khép kín, một mình chịu đựng bệnh lao. Thời đó bệnh này được coi là không chữa được. Cho rằng “thời gian đã kết thúc”, Anna đắm mình trong thế giới yêu thích – văn học cổ điển, khám phá lại thế giới này. Chính thời gian đó nữ sĩ đã viết những dòng thơ nổi tiếng:

“Trái tim bây giờ chẳng cần gì nữa
Cái nóng bỏng này tôi đã uống rồi…
Khối không khí lớn của Onhegin ấy
Như đám mây treo lơ lửng trước tôi…”

Pushkin mãi mãi là lý tưởng không suy xuyển đối với Akhmatova, còn thi ca thì nhận được tính ngữ “rám nắng”. Thời gian đó là thời gian hình thành nhà thơ Akhmatova, người tuân theo sự nghiêm túc cổ điển của thi ca, sự rõ ràng và súc tích của phong cách thi ca. Và đó là những gì mà Akhmatova đã đem theo vào ngôi đền thiêng Pantheon(*) của thi ca Nga.

Akhmatova đón nhận sự sụp đổ của nước Nga cũ một cách khó khăn. Tuy nhiên, mặc dù cảm nhận đựơc toàn bộ bi kịch của sự kiện, nữ sĩ không hề chấp nhận ý nghĩ rời bỏ quê hương – “Tôi không đi cùng những người bỏ đất nước…”. Trong những đau khổ chung ấy nữ sĩ lại có thêm niềm đau riêng: năm 1918 Akhmatova và Gumilev chia tay. Anna đến sống cùng người chồng mới – nhà nghiên cứu phương Đông V.Shileiko. Nhưng Shileiko cũng không đánh giá được vai trò của Akhmatova như một thi sĩ, và ông thản nhiên đem những bản thảo thơ của Anna nấu nước. Anna thở phào hạnh phúc khi ly dị với Shileiko, để rồi lại rơi vào tay những người “chủ nô” khác. Akhmatova đi tìm “một tâm hồn gần gũi”, nhưng đến tận cuối đời vẫn không tìm thấy…

Năm 1921 cuộc đời dành cho Akhmatova hết cú đánh này đến cú đánh khác. Tháng tám năm ấy nhà thơ Alekxandr Blok qua đời, còn sau đó 2 tuần thì Nhicolai Gumilev bị tử hình. Quên đi bệnh lao, Akhmatova quay trở lại môi trường thi ca, để đón nhận lấy cây đàn lia của thi ca Nga đang run rẩy vì những mất mát lớn không bù đắp nổi. Nữ sĩ xuất bản hai tập thơ “Cây mã đề” và «Anno Domini».

Tháng 9 năm 1921 Lev, cậu con trai 9 tuổi của Anna không được phát sách giáo khoa ở trường học chỉ vì cha cậu bị xử bắn. Đó là dấu hiệu bắt đầu những năm tháng đau khổ của Anna và cậu con trai. Năm 1935 cả con lẫn chồng của Akhmatova – ông N.Punhin, ủy viên Bảo tàng Nga và Ermitage, đều bị bắt vào tù. Suốt 17 tháng Akhmatova đứng xếp hàng ở cổng nhà tù

“Mười bảy tháng mẹ kêu gào khản tiếng
Mẹ gọi mong con về được nhà thôi
Mẹ quỳ xuống dưới chân đao phủ
Con là con, là nỗi sợ con ơi”.

Anna thu hết dũng cảm viết thư cho Stalin, và Lev Gumilev được thả ra. Nhưng ba năm sau thì Lev lại bị bắt. Akhmatova can đảm theo học khóa học người mẹ của tù nhân. Những đau khổ trong những năm tháng ấy đã hợp thành tập thơ “Requiem”, mà suốt hai mươi năm Akhmatova chỉ dám để trong ký ức, không dám ghi ra giấy.

Những năm tháng Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại nữ sĩ cùng các nhà văn khác sơ tán từ vòng vây Leningrad tới Tashken. Những dòng thơ yêu nước của Akhmatova được viết lên tranh cổ động thời ấy: “Giờ khắc dũng cảm trên đồng hồ của chúng ta đã điểm, và lòng dũng cảm sẽ không rời bỏ chúng ta!”. Thời kỳ đó Anna viết trường ca “Không có nhân vật” và luôn luôn cầu nguyện cho con trai đang chiến đấu trong những tiểu đoàn trừng giới. Lev Gumilev đã nguyên vẹn trải qua chiến tranh, nhưng sau chiến thắng thì Lev lại vẫn tiếp tục ở tù. Lại một vết thương trong trái tim của Akhmatova. “Tôi đâu có một mình, tôi cùng cả nước, cùng xếp hàng vào trước ngục tù” – sau này Akhmatova sẽ viết vào tiểu sử tự thuật ngắn gọn của mình như thế.

Một thời gian khá lâu chính quyền không động đến Anna Akhmatova, mặc dù thi ca của Akhmatova bị coi là “suy thoái” và “kiểu cách”. Nhưng năm 1945 thì nữ sĩ làm Stalin giận dữ khi biết rằng I.Berlin, nhà sử học Anh đã ghé thăm Anna. Và Akhmatova cùng với nhà văn Mikhail Zoshenko trở thành đối tượng bị các nhà phê bình “đập nát thành tro bụi”. Năm 1946 trong các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” công bố nghị quyết của Hội Nhà văn Liên Xô, trong đó gọi Zoshenko là “kẻ lưu manh trong văn học” còn Akhmatova thì bị gọi là “kẻ dâm đãng”. Ngay lập tức Akhmatova bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn Liên Xô. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh đó thì Anna Akhmatova cũng chỉ nhún vai: “Một cường quốc cần gì phải đem xe tăng nghiền nát lồng ngực một bà già ốm yếu?”

Suốt 20 năm Anna Akhmatova không được in tác phẩm. Đó là một thử thách lớn đối với nữ sĩ. Nhưng bà vẫn tiếp tục “viết cho tương lai”, và sống bằng việc dịch thuật, những việc mà bạn bè tìm cho. Mãi đến năm 1965 Akhmatova mới xuất bản được tập thơ tổng kết “Bước chạy thời gian. Những bài thơ 1909-1965”. Trong đó – là sự nhận thức bi kịch của nước Nga trong thế kỷ XX, sự trung thành với những cơ sở đạo đức cuộc sống, tâm lý của tình cảm phụ nữ.

Những năm cuối đời “nữ hoàng của thế kỷ bạc” được cho phép nhận giải thưởng văn học Italia “Etna-Taormina” và danh hiệu tiến sĩ danh dự của Đại học Tổng hợp Oxford. Còn từ đất nước của chính mình thì nữ sĩ chỉ nhận được một giải thưởng, nhưng đó là giải thưởng quý giá nhất – sự thừa nhận của độc giả.

Ở quận Bezhetsk vùng Tver, trên mảnh đất “nhớ đến đau lòng” có một đài kỷ niệm tuyệt vời dành cho Anna Akhmatova, Nhicolai Gumilev và Lev Gumilev. Họ được diễn tả như một gia đình hạnh phúc, bước đi trên mảnh đất quê hương, mảnh đất được họ chiếu sáng bằng ánh hào quang tài năng của mình.

(*)- Pantheon trong tiếng Hy Lạp là đền thờ, hay nơi dành riêng cho các vị thần; Thường được dùng với nghĩa là nơi an nghỉ của những người xuất chúng.

Chùm thơ của Anna Akhmatova


Не будем пить из одного стакана
Ни воду мы, ни сладкое вино,
Не поцелуемся мы утром рано,
А ввечеру не поглядим в окно.
Ты дышишь солнцем, я дышу луною,
Но живы мы любовию одною.

Со мной всегда мой верный,нежный друг,
С тобой твоя веселая подруга.
Но мне понятен серых глаз испуг,
И ты виновник моего недуга.
Коротких мы не учащаем встреч.
Так наш покой нам суждено беречь.

Лишь голос твой поет в моих стихах,
В твоих стихах мое дыханье веет.
О, есть костер, которого не смеет
Коснуться не забвение, ни страх.
И если б знал ты, как сейчас мне любы
Твои сухие розовые губы!

1913
Ta sẽ…

Ta sẽ không cùng uống chung một cốc
Dù nước suông, hay rượu ngọt, nhé anh
Đừng hôn nhau mỗi buổi sáng trong lành
Mỗi chiều đến đừng cùng nhìn qua cửa
Anh thở mặt trời, mặt trăng em thở
Nhưng chỉ một cuộc tình nuôi sống hai ta.

Với em, anh thủy chung, dịu ngọt
Bên anh, em vui nhộn nhường nào
Mà sao thấy mắt anh nhìn hoảng hốt -
Anh chính người có lỗi khiến em đau!
Thì chúng mình hãy thôi tìm đến nhau
Và giữ cho nhau sự bình yên chưa mất.

Nhưng giọng anh trong thơ em vẫn hát
Trong thơ anh vẫn thấp thoáng hình em
Bởi ngọn lửa không thể nào lụi tắt
Trước nỗi kinh hoàng, trước lãng quên!
Giá giờ này, anh biết rằng, em khao khát
Đôi môi anh cháy bỏng lửa hồng!

(Nguyên Hùng dịch)


Помолись о нищей, о потерянной,
О моей живой душе,
Ты, всегда в своих путях уверенный,
Свет узревший в шалаше.

И тебе, печально-благодарная,
Я за это расскажу потом,
Как меня томила ночь угарная,
Как дышало утро льдом.

В этой жизни я немного видела,
Только пела и ждала.
Знаю: брата я не ненавидела
И сестры не предала.

Отчего же Бог меня наказывал
Каждый день и каждый час?
Или это ангел мне указывал
Свет, невидимый для нас?
Hỏi?

Hỡi người trai trẻ trung mạnh mẽ
Vầng dương sáng bừng mái lá xác xơ
Hãy cầu nguyện cho hồn tôi lay lắt
Khánh kiệt, bơ vơ tự bao giờ

Tôi sẽ kể bạn nghe, một khi nào đó
Với lòng biết ơn, dù sầu khổ chưa tan
Cái đêm ấy tôi lịm trong hơi ngạt,
Để sáng ra băng giá phủ tâm can

Trong đời tôi đâu chứng kiến gì nhiều,
Chỉ biết hát với mỏi mòn chờ đợi.
Tôi không hề hận thù đồng loại
Cũng chẳng khi nào phản lại người thân

Vậy cớ sao Chúa lại nhẫn tâm
Trừng phạt tôi từng giờ từng khắc ?
Hay đó chính là thiên đường hạnh phúc
Mà đấng thiên tiên dẫn dắt tôi vào ?

(Thu Hương dịch)


Сердце к сердцу не приковано

Сердце к сердцу не приковано,
Если хочешь - уходи.
Много счастья уготовано
Тем, кто волен на пути.

Я не плачу, я не жалуюсь,
Мне счастливой не бывать.
Не целуй меня, усталую,-
Смерть придется целовать.

Дни томлений острых прожиты
Вместе с белою зимой.
Отчего же, отчего же ты
Лучше, чем избранник мой?
Trái tim này chẳng níu trái tim ai

Trái tim này chẳng níu trái tim ai
Nếu có muốn cứ ra đi anh nhé.
Hạnh phúc tràn đầy dang tay lướt nhẹ
Ôm kẻ tự do trên bước đường đời.

Em không khóc, cũng chẳng hề trách móc
Cho phận mình tủi nhục bấy lâu nay.
Đừng hôn em - em mệt mỏi thế này
Chả khác gì anh hôn vào cái chết.

Ngày tháng qua đi đớn đau đan kết
Vây bên em trắng lạnh xác mùa đông.
Vì sao anh - em thổn thức trong lòng
Người em chọn cứ thua hoài anh mãi…

(Bạch Dương dịch)


Память о солнце в сердце слабеет.
Желтей трава.
Ветер снежинками ранними веет
Едва-едва.

В узких каналах уже не струится -
Стынет вода.
Здесь никогда ничего не случится, -
О, никогда!

Ива на небе пустом распластала
Веер сквозной.
Может быть, лучше, что я не стала
Вашей женой.

Память о солнце в сердце слабеет.
Что это? Тьма?
Может быть!.. За ночь прийти успеет
Зима.
Ký ức mặt trời

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt
Cỏ hóa vàng hơn.
Gió đưa những bông tuyết sớm
Chập chờn – chập chờn.

Trong kênh hẹp nước đóng băng lạnh giá -
Không chảy lơ thơ.
Ở đây không bao giờ xảy ra điều gì nữa
Ôi, không bao giờ!

Cây liễu trải trên bầu trời trống vắng
Chiếc quạt cành xanh.
Có thể, tốt hơn nếu như tôi chẳng
Trở thành vợ anh.

Ký ức về mặt trời trong tim dần nhạt.
Đêm? Có phải không?
Cũng có thể!... sau đêm sẽ kịp đến
Mùa đông.

(Lưu Hải Hà dịch)


Песня последней встречи

Так беспомощно грудь холодела,
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.

Показалось, что много ступеней,
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мной умри!

Я обманут своей унылой,
Переменчивой, злой судьбой".
Я ответила: "Милый, милый!
И я тоже. Умру с тобой..."

Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.

(1911)
Hát cho lần gặp cuối

Lồng ngực lạnh đi bất lực
Tôi dứt bước đi vẫn nhẹ nhàng.
Mang nhầm găng phải sang tay trái
Tôi rời cánh cửa nhà chàng.

Số bậc tưởng chừng nhiều lắm
Dù tôi vẫn biết chỉ có ba!
Mùa thu giữa rừng phong xào xạc:
“Nào, hãy ra đi, chết cùng ta

Số phận đỏng đảnh và cay nghiệt
Ta hiểu ra, ta đã bị lừa”.
Tôi đáp: “Còn ta, ta cũng vậy
Đợi ta cùng chết với mùa thu...”

Đấy là bài ca cho lần gặp cuối
Trong bóng tối tôi ngoái lại ngôi nhà.
Nến còn cháy vàng trong phòng ngủ
Hắt sáng lên khung cửa thờ ơ.

(Quỳnh Hương dịch)

NguyenAnh 18-07-2012 14:29

Nhà thơ Andrei Voznesensky
 
Andrei Voznesensky
KIẾN TRÚC SƯ CỦA THƠ NGA HIỆN ĐẠI

(Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 424 ngày 21-6-2006)
NGUYÊN HÙNG

Andrei Voznesensky là nhà thơ độc đáo và tài năng. Ông vốn là người có ý thức về thời đại, là người mang tham vọng về tính đa trị của hình tượng, là nhà thơ đầy chất trữ tình. Sự nghiệp sáng tạo của ông được đặc trưng bởi những sự kết hợp cô đọng và lối ẩn dụ, phóng đại với vốn tân ngữ phong phú. Ông không giống bất kỳ một nhà thơ nào khác. Voznesensky là người làm việc nhiều, nghiêm túc và đã xuất bản hơn mười tập thơ.

A.Voznesenski sinh ngày 12 tháng 5 năm 1933 tại Moskva trong một gia đình công chức khoa học. Năm 1957 tốt nghiệp đại học kiến trúc Moskva. Những bài thơ đầu tiên được đăng vào năm 1958. Năm 1960, hai tập thơ và trường ca của ông lần lượt được xuất bản: “Parabol” và “Bức khảm”. Tiếp theo sau đó là các tập “Vũ trụ” (1964), “Sự cám dỗ” (1979), “Bản năng” (1981), “Nước Nga, thơ ca” (1991), “Thơ - Trường ca - Văn xuôi” (2000), v.v…

Phương tiện ưa thích nhất của A.Voznesenski là lối ẩn dụ, phóng đại, còn thể loại chính là thơ tự sự trữ tình, ballad và kịch thơ. Andrei Voznesenski giành sự chú ý đặc biệt tới giới trí thức, “các nhà vật lý và các nhà thơ trữ tình”, những người lao động sáng tạo. Đóng góp quan trọng nhất của ông không phải ở các vấn đề tâm lý xã hội mà chính là các phương tiện và hình thức nghệ thuật thể hiện chúng.

Kết cấu các cuốn sách thơ ca và các tác phẩm riêng lẻ của A.Voznesensky thường được xây dựng trên các nguyên tắc cấu trúc học, trong đó, khi xây dựng những cuốn sách mới nhà thơ thường chia ra những chương đặc biệt gồm những gì được tuyển chọn từ các tác phẩm trước đó.

Là người cổ súy cho phong trào vì tiến bộ khoa học và kỹ thuật, A.Voznesensky từng là một trong những người đầu tiên cảm nhận được khát vọng mãnh liệt trong sự “yên tĩnh”. Nhà thơ cần sự yên tĩnh để giao hòa vào thiên nhiên, cần yên tĩnh cho tình yêu, để tập trung cho những suy tư về cuộc đời, để hiểu được những cảm xúc đa chiều trong con người. “Oza”, bản trường ca về tình yêu là một tác phẩm liên quan đến sự yên tĩnh dạng đó. Đề tài về phụ nữ tựu trung được thể hiện rất rõ nét trong thơ ca của A.Voznesensky, cụ thể có thể kể đến các tác phẩm “Đám cưới”, “Mùa thu”, “Bài ca Ofely”, v.v…Thiếu tình yêu giành cho phụ nữ và cảm xúc mãnh liệt trước thiên nhiên thì “con người sụp đổ”, và “tất cả các quá trình chỉ là vô dụng”.

Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại là một trong những đề tài quan trọng nhất trong thơ của Andrei Voznesensky. Đó là những “Ballad của năm 1941”, “Gôia”, “Cái hố”, “Bác sỹ Mùa thu”, v.v…

Đề tài về sự suy đồi xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà thơ, nhưng ý nghĩa tồn tại của nó thì thay đổi theo thời gian: nếu vào những năm 1960-x A.Voznesensky nói về sự suy đồi của những cái xưa cũ, về những hình thức lỗi thời của đời sống và nghệ thuật, thì vào những năm 1980-x và 1990-x ông lại nói về sự suy đồi của các giá trị tinh thần (“Khúc cuồng tưởng của sự suy đồi”).

A.Voznesensky coi thơ ca và nghệ thuật, sự hoạt động quả cảm của giới trí thức Nga và sự phục hưng các giá trị Ki-tô giáo là thứ thuốc giải dùng để chống lại thói vô cảm và sự tàn ác.

Tác phẩm của A.Voznesensky với nội dung tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật của mình đã được đón nhận một cách rộng rãi qua các hý trường, nhà hát, sân khấu. Trên cơ sở tác phẩm của ông, Iu.Liubimov đã dựng vở kịch “Vũ trụ”. A.Rybnikov viết vở rock-opera “Junona và Avos”, và M. Zakharov thì dựng nó tại Nhà hát mang tên “Đoàn thanh niên cộng sản Lê-nin”.

A.Voznesensky đồng thời cũng không ngại thử nghiệm trong các thể loại nghệ thuật khác như dựng các video mà ở đó thơ được phối hợp với tranh ảnh và thư pháp.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của A.Voznesensky qua các bản dịch của Quỳnh Hương:

SAGA

Tới bình minh em sẽ đánh thức anh
Rồi cứ để chân trần em tiễn anh đi nhé.
Em sẽ không bao giờ gặp lại anh lần nữa.
Em sẽ không bao giờ quên anh đâu.

Che chở em khỏi cái lạnh lúc rạng đông
Anh nhủ thầm: «Chúa lòng lành có thấu!
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em lần nữa
Anh sẽ không bao giờ quên em đâu».

Mặt nước ngã ba sông sóng lăn tăn
In bóng Bộ Hải quân và Phòng chứng khoán
Anh sẽ không bao giờ quên cảnh đó
Dù sẽ không bao giờ được thấy lại nữa đâu.

Những cây anh đào tuyệt vọng sạm nâu
Nhựa đổ dòng như lệ rơi bởi gió.
Quay đầu lại luôn luôn là điềm gở.
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em đâu.

Cả khi ta tái sinh trong kiếp khác
Thêm một lần sống trên Trái đất này
Thì vĩnh viễn với nhau ta lạc mất.
Anh sẽ không bao giờ gặp lại em đâu.

Và những hiểu lầm từ trước tới nay
Bỗng trở nên nhỏ nhoi không đáng nói
Trước tiền định của cuộc đời sắp tới
Giữa hai ta là khoảng trống không người.

Treo lửng lơ trên cao vời vô nghĩa
Là đôi câu ám ảnh suốt không thôi:
«Ta sẽ không bao giờ quên nhau trong đời.
Ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau lần nữa».

(Quỳnh Hương dịch)
САГА

Ты меня на рассвете разбудишь,
проводить необутая выйдешь.
Ты меня никогда не забудешь.
Ты меня никогда не увидишь.

Заслонивши тебя от простуды,
я подумаю: «Боже всевышний!
Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу».

Эту воду в мурашках запруды,
это Адмиралтейство и Биржу
я уже никогда не забуду
и уже никогда не увижу.

Не мигают, слезятся от ветра
безнадежные карие вишни.
Возвращаться — плохая примета.
Я тебя никогда не увижу.

Даже если на землю вернёмся
мы вторично, согласно Гафизу,
мы, конечно, с тобой разминёмся.
Я тебя никогда не увижу.

И окажется так минимальным
наше непониманье с тобою
перед будущим непониманьем
двух живых с пустотой неживою.

И качнётся бессмысленной высью
пара фраз, залетевших отсюда:
«Я тебя никогда не забуду.
Я тебя никогда не увижу».

BĂNG GIÁ ĐẦU ĐỜI

Trong cabin điện thoại em gái cóng rồi
Áo khoác mỏng manh không đủ che khỏi lạnh
Khuôn mặt nhỏ đẫm đầy nước mắt
Phấn son trôi không giấu được tái xanh.

Dùng hơi thở tạm sưởi từng ngón tay
Giá như băng. Đôi hoa tai cũng thế.
Ngại ngùng trước đường về em đơn lẻ
Con phố vắng người đã phủ một lớp băng

Băng giá đầu đời lần đầu tiên em gặp
Băng giá đầu đời từ điện thoại lạnh lùng
Vết băng giá trên má em lấp lánh.
Băng giá phũ phàng từ những người dưng.

(Quỳnh Hương dịch)
ПЕРВЫЙ ЛЁД

Мёрзнет девочка в автомате,
Прячет в зябкое пальтецо
Всё в слезах и губной помаде
Перемазанное лицо.

Дышит в худенькие ладошки.
Пальцы - льдышки. В ушах - серёжки.

Ей обратно одной, одной
Вдоль по улочке ледяной.

Первый лёд. Это в первый раз.
Первый лёд телефонных фраз.

Мёрзлый след на щеках блестит -
Первый лёд от людских обид.

1959

minminixi 19-07-2012 11:10

Bài ПЕРВЫЙ ЛЁД có bản dịch của QH chưa thấy rõ ẩn dụ chính của thơ gốc. Vả lại từ "Phấn son" gây liên tưởng đến một "Em gái chịu chơi" vấp ngã. Từ "người dưng" cuối bài lại càng lạc xa ý thơ nói về khổ đau lần đầu của nỗi hờn giận tình yêu. Băng giá bên ngoài chỉ là cái cớ, băng giá chính là từ hờn dỗi gì đó với người yêu lần đầu qua điện thoại mà thôi.
Góp với bác bản dịch chơi của nhà em:



ПЕРВЫЙ ЛЁД

Мёрзнет девочка в автомате,
Прячет в зябкое пальтецо
Всё в слезах и губной помаде
Перемазанное лицо.

Дышит в худенькие ладошки.
Пальцы - льдышки. В ушах - серёжки.
Ей обратно одной, одной
Вдоль по улочке ледяной.

Первый лёд. Это в первый раз.
Первый лёд телефонных фраз.
Мёрзлый след на щеках блестит -
Первый лёд от людских обид.

1959


BĂNG GIÁ ĐẦU TIÊN

Cô gái nhỏ lặng trong khoang điện thoại
Giá lạnh chợt về dưới áo khoác mong manh
Gương mặt nhạt nhòa và son môi đã lợt
Nước mắt chưa khô đã vội cứng màng băng

Chút ấm hơi gầy níu lòng bàn tay nhỏ
Mà ngón đóng băng, vành tai cứng tái tê
Trước mắt rồi đây cô đơn đường trở lại
Dọc lề phố quen trơn băng đóng hiểm nguy

Giá băng lần đầu. Mối tình đầu mới vấp
Băng giá đầu tiên từ điện thoại người trai
Nước mắt khổ đau trên má nào kịp chảy
Băng giá đầu tiên vào hờn giận nhân tình.

LHA


NguyenAnh 19-07-2012 11:38

Trích:

minminixi viết (Bài viết 112270)
Bài ПЕРВЫЙ ЛЁД có bản dịch của QH chưa thấy rõ ẩn dụ chính của thơ gốc. Vả lại từ "Phấn son" gây liên tưởng đến một "Em gái chịu chơi" vấp ngã. Từ "người dưng" cuối bài lại càng lạc xa ý thơ nói về khổ đau lần đầu của nỗi hờn giận tình yêu. Băng giá bên ngoài chỉ là cái cớ, băng giá chính là từ hờn dỗi gì đó với người yêu lần đầu qua điện thoại mà thôi.
Góp với bác bản dịch chơi của nhà em:



ПЕРВЫЙ ЛЁД

Мёрзнет девочка в автомате,
Прячет в зябкое пальтецо
Всё в слезах и губной помаде
Перемазанное лицо.

Дышит в худенькие ладошки.
Пальцы - льдышки. В ушах - серёжки.
Ей обратно одной, одной
Вдоль по улочке ледяной.

Первый лёд. Это в первый раз.
Первый лёд телефонных фраз.
Мёрзлый след на щеках блестит -
Первый лёд от людских обид.

1959


BĂNG GIÁ ĐẦU TIÊN

Cô gái nhỏ lặng trong khoang điện thoại
Giá lạnh chợt về dưới áo khoác mong manh
Gương mặt nhạt nhòa và son môi đã lợt
Nước mắt chưa khô đã vội cứng màng băng

Chút ấm hơi gầy níu lòng bàn tay nhỏ
Mà ngón đóng băng, vành tai cứng tái tê
Trước mắt rồi đây cô đơn đường trở lại
Dọc lề phố quen trơn băng đóng hiểm nguy

Giá băng lần đầu. Mối tình đầu mới vấp
Băng giá đầu tiên từ điện thoại người trai
Nước mắt khổ đau trên má nào kịp chảy
Băng giá đầu tiên vào hờn giận nhân tình.

LHA


Những nhận xét của BT khá tinh tế đấy, không ngờ sau mấy năm đứng đầu ngành CA mà BT vẫn giữ được điều này:emoticon-0111-blush.

Về bản dịch của BT, nếu trau chuốt chữ nghĩa cho mềm hơn và vần điệu hơn một chút thì rất tuyệt.

Cám ơn BT nhiều.

minminixi 19-07-2012 14:56

Cám ơn bác đã mạnh dạn khen em, là điều cực hiếm mà em nhận được từ 3N trong thơ thẩn. Chắc ngoài đời bác phải là người hết sức vị tha, dễ tính :D
Dù sao thì em cũng trả lời bác việc tại sao làm BT bao năm mà còn nói thơ: ấy là VN ta đã được Tố Hữu định nghĩa "Ôi VN xứ sở lạ lùng". Đã lạ lùng thì ngược với Thế giới, là nơi mà ta khi còn nhỏ luôn bị người lớn ép làm này làm khác, lúc đi học phồ thông thì chịu khó khắn rất rất nhiều. Các áp lực được giảm dần đi khi lớn lên: chỉ cần đi đúng định hướng thì chả ai quan tâm đến anh nữa, dù tai nạn lao động hay giao thông, dù là quyền lợi hay dân trí gì gì. Học đại học chỉ cần mang vài quyền vở mòng, đỡ hơn nhiều so với cặp sách khủng phổ thông. Ra đi làm thì lính khởi điểm mới vất vả, lên quan nhỏ thì vẫn còn mệt, càng thăng quan lớn càng khỏe re. Quan to đến mức to rồi thì gần như khỏi phải làm gì nhiều, chỉ cần ký và họp. To mức khủng nữa thì chữ ký cũng có con dấu đỡ cho, không phải đi dự họp nữa mà chuyên đi chỉ đạo họp... ấy là giải thích vì sao bao năm làm BT mà vẫn có thể rèn giũa thơ ca hàng ngày. Các sếp nhà ta sau khi QH bầu chừng 1 năm là thấy thay da đổi thịt hết: đẫy đà phương vệ và tóc đen lại thời trai trẻ, ngược hẳn vẻ hốc hác của Obama và Putin sau 1 năm nhậm chức...
Nhà em cám ơn bác đã khuyến cáo trau chuốt bản dịch, nhưng khó có time để ngẫm vần ý hàng giờ được bác ạ. Ngay các bài bác đưa lên thì bài dài em không đọc đủ được, chỉ ưa coi những bài ngăn ngắn, dịch cũng nhanh mà đọc cũng dễ quay vòng để hiểu ý tứ. Lúc nào rảnh em thử sửa lại lời dịch "Băng giá..." xem sao, nhưng chắc khó mà khá hơn, hay nhờ bác hoàn thiện giúp!

NguyenAnh 19-07-2012 16:20

Trích:

minminixi viết (Bài viết 112289)
Cám ơn bác đã mạnh dạn khen em, là điều cực hiếm mà em nhận được từ 3N trong thơ thẩn. Chắc ngoài đời bác phải là người hết sức vị tha, dễ tính :D

Vị tha thì chưa biết, nhưng dễ tính thì chắc có. Nhưng không có nghĩa là cứ khen đại đâu bạn nhé.

Trích:

minminixi viết (Bài viết 112289)
Quan to đến mức to rồi thì gần như khỏi phải làm gì nhiều, chỉ cần ký và họp. To mức khủng nữa thì chữ ký cũng có con dấu đỡ cho, không phải đi dự họp nữa mà chuyên đi chỉ đạo họp... ấy là giải thích vì sao bao năm làm BT mà vẫn có thể rèn giũa thơ ca hàng ngày. Các sếp nhà ta sau khi QH bầu chừng 1 năm là thấy thay da đổi thịt hết: đẫy đà phương vệ và tóc đen lại thời trai trẻ, ngược hẳn vẻ hốc hác của Obama và Putin sau 1 năm nhậm chức...

Đồng ý với bạn về điều này, nhất là phần bôi đậm ở trên.

Trích:

minminixi viết (Bài viết 112289)
Nhà em cám ơn bác đã khuyến cáo trau chuốt bản dịch, nhưng khó có time để ngẫm vần ý hàng giờ được bác ạ. Ngay các bài bác đưa lên thì bài dài em không đọc đủ được, chỉ ưa coi những bài ngăn ngắn, dịch cũng nhanh mà đọc cũng dễ quay vòng để hiểu ý tứ. Lúc nào rảnh em thử sửa lại lời dịch "Băng giá..." xem sao, nhưng chắc khó mà khá hơn, hay nhờ bác hoàn thiện giúp!

Theo mình, bản dịch của minminixi sát nghĩa nhưng chưa được thơ lắm. Nhưng bảo mình "hoàn thiện giúp" thì không dám đâu, nói bao giờ chẳng dễ hơn làm:emoticon-0102-bigsm.
Thân mến.

NguyenAnh 19-07-2012 16:32

Samuil Marshak
NGƯỜI KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH CHO THIẾU NHI

(Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 422 ngày 31-5-2006)
NGUYÊN HÙNG

http://www.ijc.ru/gze/marshak.jpg
MarshakMarshak (1887-1964) là nhà thơ Nga, tác giả kinh điển của văn học thiếu nhi xô-viết (bao gồm thơ, truyện cổ tích, kịch). Ông là tác giả của nhiều tác phẩm thơ triết học, thơ trào lộng, các áng văn châm biếm chống phát-xít; ông đồng thời là người dịch các tác phẩm nổi tiếng của Burns, Shakespeare, Black và các truyện cổ tích của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới. Marshak là dịch giả đã làm giàu nền thơ ca Nga xô-viết bằng những bản chuyển ngữ tài hoa các bản sô-nê của Shakespeare, những bài ca và ballad của R.Burns, W.Black, U.Vordsworth, Dj.Keats, R.Kipling, A.Milton và nhiều nhà thơ Ucraine, Belarus, Lítva, Armenia…

Samuil Marshak sinh ra tại Voronedzh trong gia đình một kỹ thuật viên đồng thời là nhà sáng chế có tài, người luôn ủng hộ các con hướng tới tri thức, quan tâm đến thế giới và mọi người. Thời thơ ấu của Marshak trôi qua tại thị trấn Ostrogojrsk ở Voronedzh. Từ hồi còn ở trường trung học, Marshak đã được thầy giáo ngôn ngữ truyền cho tình yêu giành cho thơ ca cổ điển, qua đó khơi dậy trong anh năng khiếu văn học của một nhà thơ tương lai. Một trong những cuốn vở ghi chép thơ ca của Marshak tình cờ rơi vào tay V. Stasov, nhà nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng Nga, người rất có ảnh hưởng tới số phận của giới trẻ. Với sự giúp đỡ của Stasov anh đã chuyển đến Peterburg, học tại một trong những trường trung học tốt nhất, có điều kiện đọc sách vào bất kỳ lúc nào tại thư viện nơi Stasov làm việc.

Năm 1904, tại nhà Stasov, Marshak làm quen với M.Gorky. Nhà văn Nga nổi tiếng tỏ ra đặc biệt chú ý đến Marshak và đã mời anh đến nhà nghỉ của mình ở Biển Đen. Tại đây Marshak được chữa bệnh, học tập, đọc rất nhiều sách và được gặp gỡ tiếp xúc với nhiều người khác nhau. Khi gia đình Gorky buộc phải rời Krưm vì sự khủng bố của chính phủ Nga hoàng sau cách mạng 1905, Marshak trở lại Peterburg, nơi bố anh cũng vừa chuyển đến làm việc trong một nhà máy gần Nevskaia.

Chính nơi đây Marshak đã bắt đầu những năm tuổi trẻ đầy khó khăn: vừa đến trường, vừa cộng tác với các tạp chí và các tuyển thư văn học. Mấy năm sau, Marshak rời Peterburg đi học ở Anh, đầu tiên là Trường cao đẳng kỹ thuật, sau đó là trường Đại học tổng hợp London. Vào những kỳ nghỉ Marshak thường đi bộ tham quan khắp nước Anh, nghe các bài dân ca của xứ sở sương mù. Và ngay từ lúc đó, anh đã bắt đầu các bản dịch ballad Anh mà về sau đã góp phần làm rạng danh Marshak.

Năm 1904 Marshak trở về nước, làm việc ở tỉnh, lần đầu tiên công bố các bản dịch của mình tại các tạp chí “Những ghi chép phương Bắc” và “Ý tưởng Nga”. Trong những năm chiến tranh, ông tham gia tích cực các hoạt động cứu trợ trẻ em của các gia đình chạy loạn.

Từ những năm đầu của thập niên 20 (1920-x), Marshak tham gia vào việc tổ chức các nhà trẻ ở Krasnodar, thành lập nhà hát thiếu nhi và tại đây bắt đầu sự nghiệp sáng tạo của một nhà văn thiếu nhi.

Năm 1923, trở lại Petrograd, Marshak bắt tay viết những câu chuyện đặc sắc đầu tiên của mình bằng thơ, như “Câu chuyện về con chuột ngu ngốc”, “Cháy”, “Bưu cục”, dịch từ tiếng Anh các bài dân ca thiếu nhi, như “Ngôi nhà Djrek xây”…Thời gian này ông đồng thời là người lãnh đạo một trong những tạp chí thiếu nhi xô-viết đầu tiên – “Robinzon mới”, nơi tập hợp được nhiều nhà văn thiếu nhi tài năng. Marshak là cộng tác viên đầu tiên của M.Gorky, người thành lập Nhà xuất bản văn học thiếu nhi (Detgiz).

Thơ của Marshak viết cho thiếu nhi, những bài hát của ông, các câu đố, những mẩu chuyện và những lời mào đầu cho các truyện cổ tích, những vở kịch cho nhà hát thiếu nhi đã được tập hợp thành tuyển “Truyện cổ tích, bài hát, câu đố” từng được tái bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau.

Năm 1937 Marshak chuyển về Moskva. Trong thời gian những năm 1930-x ông viết truyện trào phúng “Ngài Tvister”, tác phẩm thơ “Chuyện kể về người anh hùng vô danh”, v.v…Trong những năm Chiến tranh Vệ quốc ông hợp tác tích cực với các tờ báo – mảng thơ trào phúng, văn đả kích của ông đã góp tiếng nói chế nhạo, vạch mặt kẻ thù. Những năm sau chiến tranh, ông cho xuất bản các tập sách thơ “Bưu điện thời chiến”, “Truyện cổ tích”, bộ bách khoa toàn thư thơ ca “Cuộc hành trình vui nhộn từ A đến Z”. Ông cũng dành nhiều thời gian cho công việc dịch Shakespeare, Burns, Black, U.Vordsworth, Dj.Keats, R.Kipling, A.Milton, v.v…

Về các sáng tác kịch của Marshak, có thể kể đến những tác phẩm đặc biệt nổi tiếng, như các vở kịch “12 tháng”, “Những đồ vật thông minh”, “Ngôi nhà mèo”…

Ngoài ra, Marshak cũng đã để lại dấu ấn của mình trong các tác phẩm điện ảnh với tư cách là nhà biên kịch, như “Những chuyện phiêu lưu của chú Tễu” (1937), “Frits trẻ thơ” (1943), “Chipollino” (1973).

Năm 1963, tập “Thơ trữ tình chọn lọc” được xuất bản. Đây có thể được coi là cuốn sách cuối cùng của Marshak.

Là tác gia kinh điển của nền văn học Nga thế kỷ XX được công chúng thừa nhận, yêu mến và tìm đọc, Marshak đã được trao tặng các danh hiệu cao quý nhất: bên cạnh giải thưởng Lê-nin là giải thưởng quốc gia các năm 1942, 1946, 1949, 1951.

Samuil Marshak mất ngày 4 tháng sáu năm 1964 tại Moskva, hưởng thọ 77 tuổi.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây chùm thơ – câu đố của Samuil Marshak với các bản dịch của Nguyên Hùng được thực hiện từ nguyên bản tiếng Nga.

CHÙM THƠ CÂU ĐỐ CỦA SAMUIL MARSHAK
(Nguyên Hùng dịch)
1.
Nó ồn ào vườn cây
Nó rào rào ruộng lúa
Em không ra khỏi cửa
Khi nó còn ngoài sân.

2.
Hai càng tay kéo vắt tai
Cặp bánh xe tròn khoanh mắt
Yên ngựa leo sống mũi ngồi
Người già thường cần nó nhất.

3.
Ta đi, “hai đứa” theo ta
Giống nhau như thể chúng là em, anh
Ta ăn, chúng nghỉ dưới bàn
Mỗi lần ta ngủ, chúng “lăn” gậm giường.

4.

Xuân hè áo xống đủ đầy
Thu về cởi áo thân gầy đến thương
Ngày đông giá lạnh, bên đường
Áo lông em khoác, tuyết nhường cho em!


5.
Bước vào nhà trước thềm năm mới
Trông phương phi, đầy đặn, hồng hào
Nhưng mỗi ngày, thân mỗi gầy hao
Cho tới lúc hoàn toàn biến mất.

6.
Chúng tôi chạy đêm thâu
Chúng tôi chạy ngày dài
Nhưng chẳng đi đến đâu
Chẳng bỏ đi nơi khác.
Chúng tôi báo chính xác
Cho bạn cứ mỗi giờ
Bạn ơi, đừng xử ác
Ném làm chúng tôi hư!

7.
Nó mời em vào nhà
Nó tiễn em ra ngõ
Đêm nằm im dưới khóa
Giữ mơ hồng cho em.
1.
Шумит он в поле и в саду,
А в дом не попадет.
И никуда я не иду,
Покуда он идет.

2.
Что такое перед нами:
Две оглобли за ушами,
На глазах по колесу
И седелка на носу?

3.
Всегда шагаем мы вдвоем,
Похожие, как братья.
Мы за обедом — под столом,
А ночью — под кроватью.

4.
Его весной и летом
Мы видели одетым.

А осенью с бедняжки
Сорвали все рубашки.

Но зимние метели
В меха его одели.

5.
Под Новый год пришел он в дом
Таким румяным толстяком.
Но с каждым днем терял он вес
И наконец совсем исчез.

6.
Мы ходим ночью,
Ходим днем,
Но никуда
Мы не уйдем.
Мы бьем исправно
Каждый час.
А вы, друзья,
Не бейте нас!

7.
Она меня впускает в дом
И выпускает вон.
В ночное время под замком
Она хранит мой сон.

Mời các bạn giải đố, xem thơ viết về những gì nhé?

Siren 19-07-2012 19:19

Câu 1 có lẽ là "Mưa"
Câu 2 "Cái Kính"
Câu 3 "Dép, giầy"
Câu 4 đích thị "Hàng cây"
(5)"Cây thông Năm mới"
6 says "Đồng hồ"
Câu 7 em còn lơ ngơ
Hình như là "Chó"- cầy tơ - "Mộc tồn"


Em chạyyyyyyyyyy.:emoticon-0111-blush

Dmitri Tran 19-07-2012 23:46

5. "Quyển lịch"
7. Chắc là "Cánh cửa"

P.S. Câu 1 ở tiếng Nga dễ hơn, vì không dịch dòng: "А в дом не попадет" - Nó không rơi vào nhà.

minminixi 20-07-2012 08:04

Nhà em thấy đáp án:
1.Mưa
2.Kính
3.Đôi ủng
4.Cái cây (cây cối)
5.Cuốn lịch
6.Đồng hồ
7.Cánh cửa

nqbinhdi 20-07-2012 09:49

Trích:

Siren viết (Bài viết 112316)
Câu 1 có lẽ là "Mưa"

Không phải mô.

Chạy rào rào ngoài ruộng với lại ồn ào ngoài vườn (dạo này có vẻ đói ăn, chạy đâu mất tiêu - té ra là rình trước nhà siren) mà làm cho siren sợ đến mất vía không dám thò ra khỏi nhà, nhất là khi nó lại còn chầu hẫu ngoài sân, hẳn phải là tên Hổ gừ.

Cứ xem ảnh này thì biết có y thì siren run biết chừng nào.
http://diendan.nuocnga.net/picture.p...&pictureid=309

NguyenAnh 20-07-2012 10:44

Gửi Siren, Dmitri Tran, minminixi
 
Trích:

minminixi viết (Bài viết 112338)
Nhà em thấy đáp án:
1.Mưa
2.Kính
3.Đôi ủng
4.Cái cây (cây cối)
5.Cuốn lịch
6.Đồng hồ
7.Cánh cửa

Cám ơn Siren, Dmitri Tran, minminixi và nqbinhdi đã hưởng ứng.
Đáp án các bạn đưa ra chẳng phải chỉnh, có chăng cần nói rõ hơn ở mục 5 là Cuốn lịch block

Trích:

Dmitri Tran viết (Bài viết 112338)
P.S. Câu 1 ở tiếng Nga dễ hơn, vì không dịch dòng: "А в дом не попадет" - Nó không rơi vào nhà.

Đúng vậy, trong bản dịch, tôi đã viết "Em không ra khỏi cửa/ Khi nó còn ngoài sân" chưa thoát được ý của bản gốc, nhưng vì là câu đố nên dịch "đánh đố" người đọc hơn có lẽ cũng chấp nhận được, nhỉ:emoticon-0102-bigsm.

Thân mến,
N.H.

NguyenAnh 20-07-2012 14:45

Trong phạm vi topic này, N.A muốn tập hợp các biên khảo của mình và một số thành viên 3N về một số nhà thơ Nga, kèm theo bản dịch một số tác phẩm thơ của họ. Các bài này trước đây đã từng giới thiệu ở trang chủ nuocnga.net và nhiều bài trong số đó đã được đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ (phụ bản của báo Giáo dục & Thời đại).
(trích lời phi lộ)

F. I. CHUTTREV:
“Anh gặp lại em, và cả thời dĩ vãng…”

LƯU HẢI HÀ

Nhà ngoại giao trẻ 19 tuổi Fedor Ivanovich Chuttrev được giao công vụ ở Bavaria (Đức). Ở đó, anh đã làm quen với một thiếu nữ 16 tuổi xinh đẹp, cô Amaliya Lerchenfeld. Họ cũng nhau đi dạo dọc bờ sông Đa nuýp, cũng ngắm phong cảnh xung quanh, và dưới ảnh hưởng của những cảm xúc mà nàng Amaliya tuyệt đẹp gợi nên, nhà thơ đã viết một bài thơ, mà sau này N.A.Nekrasov đã gọi là một trong những bài thơ trữ tình Nga hay nhất.

Anh nhớ lại quãng thời gian vàng ngọc
Vùng đất đẹp tươi con tim đã mến yêu
Chung bước bên nhau, trời ngả về chiều
Trong bóng râm ồn ào sông Đa nuýp

Nơi mảnh vỡ của tòa lâu đài cổ
Em đứng nhìn xa về phía chân trời
Trên đồi cao, như một nàng tiên nữ
Bên đá hoa cương rêu phủ xanh rồi

Em vô tư nhìn phía xa tít tắp
Một khoảng trời dần tắt nắng khói mờ
Ngày cháy nốt, và dòng sông sôi động
Hát vang hơn nơi tối sẫm đôi bờ

Và em lại vô tư vui vẻ
Tiễn một ngày hạnh phúc đi xa
Và chiếc bóng của cuộc đời sôi động
Ngọt ngào bay trên tóc hai ta.

(Lưu Hải Hà dịch)
Я помню время золотое,
Я помню сердцу милый край.
День вечерел; мы были двое;
Внизу, в тени, шумел Дунай.

И на холму, там, где, белея,
Руина замка вдаль глядит,
Стояла ты, младая фея,
На мшистый опершись гранит…

Ты беззаботно вдаль глядела…
Край неба дымно гас в лучах;
День догорал; звучнее пела
Река в померкших берегах.

И ты с веселостью беспечной
Счастливый провожала день;
И сладко жизни быстротечной
Над нами пролетела тень…

Trong bài thơ này, Chuttrev đã truyền đạt buổi chiều đang dần tắt, bóng đêm đang dần buông, và niềm hạnh phúc vì bên cạnh là một người đem đến niềm vui và khát vọng sống. Amaliya không biết tiếng Nga, và không hiểu những bài thơ mà nàng là nguồn cảm hứng. Mặc dù Chuttrev không chỉ viết cho nàng, mà cho chính mình. Chưa bao giờ anh quan tâm đến chuyện công bố những bài thơ ấy. Nhà ngoại giao trẻ tuổi đang rất quan tâm đến sự nghiệp của mình và còn quan tâm hơn đến những tình cảm êm dịu. Nên mỗi khi bạn bè yêu cầu bản thảo thì anh thường đùa: Mình rất ghét những tờ giấy đã có chữ, nhất là chữ của chính mình. Vì vậy anh đã đánh mất rất nhiều những ghi chép của mình. Và người phát hiện ra anh là N.A.Nekrasov – một người có linh tính đặc biệt trong việc phát hiện những nhà văn tài năng. N.A.Nekrasov đã khâm phục một cách chân thành những vần thơ của người cùng thời: “Một bức tranh tuyệt vời!”, “Những vần thơ đáng kinh ngạc…”

Thế còn “Nàng thơ” xinh đẹp của Chuttrev thì sao? Nàng không đáp lại tình cảm của nhà thơ, mà lại đi lấy nam tước Krudener. Vào năm 1864, thì nhà thơ lúc ấy đã không còn trẻ nữa gặp lại Amaliya. Nàng vẫn xinh đẹp, dường như năm tháng không có quyền lực đối với nàng. Nhà thơ nhớ lại những cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ, và đã viết bài thơ rất nổi tiếng “Gửi B.”:

Gửi B.

Ta gặp lại nàng cùng dĩ vãng đã qua
Con tim cằn khô bỗng tươi xanh trở lại
Bừng sống dậy thời vàng son tình ái
Tâm hồn ta rạo rực lạ thường !

Như vào độ cuối thu thưa thớt lá vàng
Vẫn luôn có những ngày xuân đầy nắng
Ấy là lúc nơi ta chợt hiện về từ quên lãng
Những ký ức ngọt ngào của ngày tháng xuân xanh.

Giờ phút này, tất thảy được bao quanh
Bởi hơi ấm nồng qua bao năm chất chứa
Ta nhìn nàng, với niềm say một thủa
Nàng rất đỗi dịu dàng từ ánh mắt, dáng đi.

Như sau ngàn năm cách biệt chia ly
Ta ngắm nàng, ngỡ như là trong mộng
Và thấy lớn dần những âm thanh xao động
Đã không còn yên lặng trong ta !

Cứ thế, cuộc đời như lần nữa mở ra
Mà không chỉ đơn thuần là ký ức
Khi trái tim còn đắm say, thao thức
Là trong ta mãi còn đó tình yêu!

(Nguyên Hùng dịch)
Gửi B.

Anh gặp lại em, và cả thời dĩ vãng
Trong trái tim khô héo lại hồi sinh
Anh nhớ lại quãng thời gian vàng ngọc
Và trái tim lại ấm áp đập nhanh

Như đôi khi giữa kỳ thu muộn
Có những ngày những tháng thần tiên
Khi ta ngỡ mùa xuân đang đến
Và có gì chợt rung động trong tim

Từ những tháng ngày thân thiết cũ
Ngọn gió nào lại thổi đến bên anh
Niềm đam mê đã từ lâu quên lãng
Lại về cùng anh chiêm ngưỡng một bóng hình

Như đã cách xa nhau hàng thế kỷ
Anh nhìn em mà ngỡ trong mơ
Và những âm thanh chưa hề tắt bao giờ
Lại vang lên trong anh thánh thót

Có phải đâu chỉ là hồi ức thôi
Cả cuộc đời nhắc lại đấy em ơi
Sự quyến rũ xưa trong mắt em tuyệt diệu
Và tình yêu xưa lại lay động hồn tôi

(Lưu Hải Hà dịch)

Amaliya Krudener đến thăm nhà thơ năm 1873, lúc ông đã nằm trên giường bệnh và chẳng còn sống được bao nhiêu nữa. Nhưng tình bạn của nàng với Chuttrev thì vẫn còn tiếp tục mãi đến những ngày cuối đời của nhà thơ. Chính nàng đã đem những bài thơ của Chuttrev đến nước Nga.

Nguyên bản bài thơ “Gửi B” (K Б.):

Я встретил вас - и все былое
В отжившем сердце ожило;
Я вспомнил время золотое -
И сердцу стало так тепло...

Как поздней осени порою
Бывают дни, бывает час,
Когда повеет вдруг весною
И что-то встрепенется в нас,-

Так, весь обвеян духовеньем
Тех лет душевной полноты,
С давно забытым упоеньем
Смотрю на милые черты...

Как после вековой разлуки,
Гляжу на вас, как бы во сне,-
И вот - слышнее стали звуки,
Не умолкавшие во мне...

Тут не одно воспоминанье,
Тут жизнь заговорила вновь,-
И то же в нас очарованье,
И та ж в душе моей любовь!..

(26 июля 1870)

minminixi 20-07-2012 17:38

Hai câu cuối vốn hay nhất của bài này nhà em trình bác phương án sau:

Như sau phút chia ly bằng thế kỷ
Ta lại thấy em, như hiển hiện trong mơ,-
Và trong ta- lại nghe dồn thổn thức,
Như cả trăm năm chưa lặng tiếng bao giờ

Nơi đó có đâu chỉ niềm hoài niệm
Có cả cuộc đời đáp tiếng gọi hồi sinh
Và cả mê say trong đôi ta rực cháy,
Và cả tình yêu trong tim lại dâng đầy.

NguyenAnh 21-07-2012 08:21

Trích:

minminixi viết (Bài viết 112356)
Hai câu cuối vốn hay nhất của bài này nhà em trình bác phương án sau:

Như sau phút chia ly bằng thế kỷ
Ta lại thấy em, như hiển hiện trong mơ,-
Và trong ta- lại nghe dồn thổn thức,
Như cả trăm năm chưa lặng tiếng bao giờ

Nơi đó đâu chỉ niềm hoài niệm
cả cuộc đời đáp tiếng gọi hồi sinh
cả mê say trong đôi ta rực cháy,
cả tình yêu trong tim lại dâng đầy.

Khổ sau có vẻ chưa ổn lắm BT ạ. Theo mình, mấy chữ màu đỏ có thể bỏ, các chữ màu xanh có thể phải sửa. Riêng mấy chữ đáp tiếng gọi làm mình phân vân: ở đây chính là cuộc đời được hồi sinh, cuộc sống lại bắt đầu (жизнь заговорила вновь) chứ không có nghĩa cuộc đời đáp tiếng gọi hồi sinh:emoticon-0111-blush.

Cám ơn BT đã hưởng ứng bằng phần dịch cho 2 khổ cuối của bài thơ nhé.

Saomai 21-07-2012 08:45

Khi trái tim còn đắm say, thao thức
Là trong ta mãi còn đó tình yêu!

Hai câu cuối này của bác NA đã thể hiện được đúng ý nguyên tác: Cái đắm say còn lại ở cả hai người, nhưng nhà thơ tế nhị nói "tình yêu" chỉ còn lại trong tim mình (ta) thôi.

NguyenAnh 21-07-2012 09:20

Trích:

Saomai viết (Bài viết 112391)
Khi trái tim còn đắm say, thao thức
Là trong ta mãi còn đó tình yêu!

Hai câu cuối này của bác NA đã thể hiện được đúng ý nguyên tác: Cái đắm say còn lại ở cả hai người, nhưng nhà thơ tế nhị nói "tình yêu" chỉ còn lại trong tim mình (ta) thôi.

Cám ơn bác Saomai đã chỉ ra điều tế nhị, đúng hơn là sự tinh tế, trong hai câu thơ cuối đã được thể hiện qua mấy chữ в нас / в душе моей.
Trong bài dịch của mình, NH dùng đại từ Ta/Я có thể chưa được ok lắm, nhất là ở câu cuối cùng.

Cám ơn ý kiến của bác SM.
Trân trọng.

NguyenAnh 21-07-2012 17:07

Olga Berggolts
 
Hè muộn của Olga Berggolts
BẠCH DƯƠNG - N.H.

Ngày còn là sinh viên, Bạch Dương đã có dịp ghé thăm nghĩa trang Piscarevskoie tại thành phố Leningrad, nơi có bức tường bằng đá khá cao có gắn những dòng thơ của Olga Berggolts. Nơi đây an táng những chiến sĩ Hồng Quân đã ngã xuống bảo vệ Leningrad khi thành phố bị bao vây 900 ngày đêm. Cũng giống như nghĩa trang Trường Sơn ở Việt Nam, tại đây có rất nhiều ngôi mộ liệt sĩ vô danh. Gần nửa triệu người hy sinh trong thời gian bị vây hãm được quy tập về nghĩa trang này. Tất cả đều là liệt sĩ và trên những ngôi mộ của họ đều có gắn ngôi sao.

Olga Berggolts sinh năm 1910 nên tuổi ấu thơ của bà gắn liền với những năm tháng dữ dội của chiến tranh thế giới thứ nhất mà nước Nga là một bên tham chiến. Thời thiếu nữ nhà thơ trải qua bão táp Cách mạng Tháng Mười và cuộc nội chiến đẫm máu, khi nước Nga non trẻ chịu sự phong toả của mười bốn cường quốc. Rồi chiến tranh thế giới, cuộc chiến tranh ác liệt nhất lịch sử nhân loại. Thành phố Leningrad quê hương bà bị phát xít Đức vây hãm 900 ngày đêm ròng rã trong đạn pháo. Đọc những dòng chữ của bà mới hình dung được thành phố Leningrad đã phải chịu trong đói khát và băng giá, không đèn, không sưởi, đói ăn và thiếu cả nước uống như thế nào. Bà đã sống và viết trong bối cảnh này. Bà bộc bạch suy tư, trăn trở về cái riêng và cái chung, cá nhân và dân tộc…Những tác phẩm mang nặng dấu ấn của bà vẫn đọng lại trong chúng ta đến tận hôm nay.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ của Olga Berggolts, người được coi là một trong những nữ thi sỹ viết thơ tình hay nhất. Bạn đọc sẽ có thể dễ dàng nhận thấy rằng, có ít nhất hai trong số những bài thơ dưới đây từng đã được dịch ra tiếng Việt; và như vậy, hy vọng bạn sẽ cảm nhận được những điều mới mẻ qua các bản dịch của các thành viên NuocNga.net.

1. HÈ MUỘN

Có một mùa trong thiên nhiên đẹp lạ
Nắng chẳng chói chang, nóng vẫn dịu dàng.
Thu chưa tới, đã cạn ngày nắng hạ
Quyến rũ yêu kiều đâu kém vẻ xuân sang.

Nếp mạng nhện mờ khẽ giăng ngang
Trên gương mặt, nhẹ thôi, như ngần ngại...
Những đàn chim bay muộn vẫn ca vang
Hoa nở muộn tưng bừng, lo âu vấn vương!

Những trận mưa ạt ào chừng nghỉ mệt
Hiến hết mình cho đồng hạn âm thầm…
Em hạnh phúc hơn nhận cái nhìn say đắm
Chẳng ghen nhiều mà đâu bớt đắng cay.

Ôi cái uyên thâm của muộn hè hào phóng
Giang tay vui mừng ta đón nhận ngươi…
Nhưng, lên tiếng đi nào, tình yêu của ta ơi,
Rừng lặng câm, nghiêm khắc ánh sao trời…

Anh thấy đấy, mùa sao rơi qua mất
Thời khắc chia tay như đã điểm rồi…
… Thế mà đến bây giờ em mới biết
Phải yêu, hờn, thương và tha thứ sao đây…

(Quỳnh Hương dịch)
1. БАБЬЕ ЛЕТО

Есть время природы особого света,
неяркого солнца, нежнейшего зноя;

Оно называется
бабье лето
и в прелести спорит с самою весною.

Уже на лицо осторожно садится
летучая, легкая паутина...
Как звонко поют запоздалые птицы!
Как пышно и грозно пылают куртины!

Давно отгремели могучие ливни,
все отдано тихой и темною нивой...
Все чаще от взгляда бываю счастливой,
все реже и горше бываю ревнивой.

О, мудрость щедрейшего бабьего лета,
с отрадой тебя принимаю... И все же.
любовь моя, где ты, аукнемся, где ты?
А рощи безмолвны, а звезды все строже...

Вот видишь — проходит пора звездопада,
и, кажется, время навек разлучаться...
...А я лишь теперь понимаю, как надо
любить, и жалеть, и прощать, и прощаться...

2.
Ta chẳng giấu gì Ngươi những nỗi buồn phiền
Cũng không biết che đâu những niềm vui ấy
Con tim đang yêu ta đâu cần che đậy
Chả khác gì tiểu thuyết thực của đời Ngươi

Trong cung điện kính - bê tông cũng chẳng đành
Chẳng phải trên bia, không trên đài kỷ niệm
Gần gũi, vô hình bóng dáng Ngươi xuất hiện
Trong trái tim già, nhiệt huyết của chúng ta

Ngươi tự nhiên trong hơi thở mặn mà
Trong mạch huyết dẫu bình yên nhưng rạo rực
Ta biến thành Ngươi – Ôi Kỷ nguyên chân thực
Ngươi mải thầm thì lướt nhẹ trái tim ta

Ta chẳng giấu nổi Ngươi những nỗi buồn phiền
Cũng không hề biết che bao điều bí mật:
Thuở ban đầu ta cởi con tim chân thật
Tựa hệt những dòng thú tội với lòng Ngươi

(Bạch Dương dịch)

2
Với Người tôi không giấu nỗi buồn
Cũng như không che được niềm vui sướng
Tôi mở lòng tôi, mở tất cả tâm hồn
Như cuốn sử về Người chân thực nhất.

Người hiển hiện vô hình, gần gụi
Trong muôn trái tim nhiệt huyết tự cổ xưa
Chẳng cần lưu tên trên bệ đá tượng thờ
Hay khắc dấu trên uy nghi cung điện.

Tự nhiên hơn hơi thở Người luôn hiển hiện
Qua bầu máu hồng rạo rực sinh sôi
Thời Đại ơi, tôi đang biến thành Người,
Và Người qua trái tim tôi cất tiếng!

Tôi không giấu Người niềm đau đớn
Cũng như điều thầm kín nhất trong lòng:
Tôi trải rộng hồn tôi chân thực
Như cuốn sử biên niên của Thời Đại nghìn năm.

(Thu Hương dịch)
2.
Tôi không giấu Người điều chi cả
Cả niềm vui, và những nỗi buồn
Ngay từ đầu tôi đã mở trái tim
Như câu chuyện của Người chân thực nhất

Không phải trong những tượng đài hoành tráng
Hay là trong những cung điện thủy tinh
Người hiện lên, vô hình và gần gũi
Như tim ta già vẫn khao khát bình minh

Người xuất hiện tự nhiên hơn hơi thở
Và lặng im xé ra giọt máu tôi
Thời đại hỡi, tôi trở thành Người đấy
Và qua trái tim tôi Người nói thành lời

Và tôi không giấu Người điều chi cả
Bí mật tột cùng, và những nỗi buồn
Ngay từ đầu tôi đã mở trái tim
Như câu chuyện của Người chân thực nhất...

(Lưu Hải Hà dịch)

2.
Chẳng giấu Người những nỗi buồn đau
Cũng như những niềm vui, tôi không giữ.
Ngay từ đầu tôi đã luôn trải rộng
Trái tim tôi như câu chuyện của Người.

Không bằng tượng đài, chẳng phải đá bia
Không phải những lâu đài bê tông - kính,
Người hiện ra vô hình nhưng gần gũi
Trong những trái tim già nua vẫn khát khao.

Người tồn tại hiển nhiên như không khí
Như dòng máu sục sôi, như khoảng lặng thinh không
Ôi Thời đại, tôi đang thành Người đấy
Và Người cất tiếng ca bằng giọng trái tim tôi.

Chẳng giấu Người những nỗi buồn đau
Cũng như những niềm vui, tôi không giữ.
Ngay từ đầu tôi đã luôn trải rộng
Trái tim tôi như câu chuyện của Người.

(Quỳnh Hương dịch)
2.
Не утаю от Тебя печали,
так же как радости не утаю.
Сердце свое раскрываю вначале,
как достоверную повесть Твою.

Не в монументах и не в обелисках,
не в застекленно-бетонных дворцах -
Ты возникаешь невидимо, близко,
в древних и жадных наших сердцах.

Ты возникаешь естественней вздоха,
крови моей клокотанье и тишь,
и я Тобой становлюсь, Эпоха,
и Ты через сердце мое говоришь.

И я не таю от Тебя печали
и самого тайного не таю:
сердце свое раскрываю вначале,
как исповедную повесть Твою...
GỬI BORIS CORNILOV

3.
Vâng, em khác xưa, đã khác xa rồi!
Đời ngắn ngủi, sắp đến ngày vĩnh biệt…
Em đã già đi ra sao, anh nào biết,
Có thể anh biết rồi? Hãy nói em nghe!

Em sẽ không thề nguyền, biết là vô nghĩa,
Cũng chẳng cầu xin được thứ tha.
Nhưng nếu – em tin – anh còn quay trở lại,
Nếu anh còn có thể hiểu ra, -
Thì mọi bận lòng ta cho qua, anh nhé!
Như những ngày xưa, lại sánh bước bên nhau, -
Mình sẽ khóc, sẽ khóc và sẽ khóc,
Và hiểu rằng… chia cắt chẳng dễ đâu.

4.
Khi ngẫm lại những buồn vui quá khứ
Em nhớ sao bài hát thuở đầu đời:
“Ngôi sao cháy trên Nêva rực đỏ
Tiếng họa mi lảnh lót lưng trời…”

… Năm tháng qua đi, thêm cay đắng, ngọt bùi,
Trái đất vẫn xoay từng vòng như nhắc
Anh nói đúng, – tình yêu đầu, đã tắt trong em, -
Em hát đã khác xưa, đã khóc về người khác…

Nay từng cặp gái trai bên Nêva sánh bước
Vẫn như xưa - ánh hoàng hôn, sóng nước long lanh…
Chúng mãn nguyện uống vào hồn khúc hát
Và tuổi trẻ, như xưa, vẫn đúng phải không anh?

(Tạ Phương dịch)
3.
О да, я иная, совсем уж иная!
Как быстро кончается жизнь...
Я так постарела, что ты не узнаешь,
а может, узнаешь? Скажи!
Не стану прощенья просить я,
ни клятвы
напрасной не стану давать.
Но если — я верю — вернешься обратно,
но если сумеешь узнать,—
давай о взаимных обидах забудем,
побродим, как раньше, вдвоем,—
и плакать, и плакать, и плакать мы будем,
мы знаем с тобою — о чем.

1939

4.
Перебирая в памяти былое,
я вспомню песни первые свои:
«Звезда горит над розовой Невою,
заставские бормочут соловьи...»

...Но годы шли все горестней и слаще,
земля необозримая кругом.
Теперь — ты прав,
мой первый и пропащий,—
пою другое,
плачу о другом...
А юные девчонки и мальчишки
они — о том же: сумерки, Нева...
И та же нега в этих песнях дышит,
и молодость по-прежнему права.

1940

NguyenAnh 22-07-2012 09:49

FEDOR SOLOGUB
 
FEDOR SOLOGUB:
“Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người!”

NGỌC BẢO - N.H.

Dẫu kiệt sức trong nỗi sầu u uất
Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người
Nào có nơi đâu trên trái đất
Thân thiết hơn Người, ôi Tổ quốc tôi!


Nhà văn Nga Fedor Sologub có tên thật là Fedor Kuzmich Teternikov (1863–1927). Sinh ngày 17 tháng 2 (1 tháng 3) năm 1863 tại Xanh Peterburg. Cha nhà văn là con ngoài giá thú của địa chủ vùng Poltava, một nhà quý tộc sau khi chế độ chủ nô bị bãi bỏ trở thành thợ may ở thủ đô. Cha ông mất vào năm 1867, mẹ ông buộc phải vào làm con hầu trong một gia đình trung lưu. Gia đình này có truyền thống yêu thích nhà hát, âm nhạc, đọc sách, và nhờ thế Sologub cũng sớm được tiếp xúc với sách vở. Căn cứ vào Bản lý lịch sơ lược (1915) do vợ ông soạn và chính ông đã xem lại, thì "Trong số các cuốn sách đầu tiên được đọc qua, ấn tượng sâu sắc nhất là các nhân vật Robinson, Vua Lia, và Don Kihote... Những cuốn sách ấy đối với Sologub gần như một loại sách kinh". Có ảnh hưởng không kém là các tác phẩm của V.G. Belinski ("Rất cảm động và lôi cuốn"), ông đã đọc toàn bộ tác phẩm của nhà văn này từ tuổi vị thành niên, và sau đó là N.A.Dobroliubov và D.I. Pisarev. Ông gần như thuộc lòng toàn bộ các tác phẩm của N.A. Hekrasov, tuy nhiên lại không thích Puskin và Lermontov mấy. Sự nghiệp sáng tác của Sologub chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nekrasov, X.Ya. Nadson và N.M. Minski.
Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo giáo viên ngắn hạn, chàng thanh niên 19 tuổi Sologub trở thành giáo viên dạy toán tại các trường nông thôn xa xôi. Ông dạy học hết mình, thậm chí viết cả sách giáo khoa toán, nhưng không coi giáo dục là sự nghiệp của đời mình. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi, và "ngay từ khi còn nhỏ đã tin chắc vào tài năng thơ ca của mình". Tuy thế, thành công không đến với nhà thơ trẻ ngay, mà chỉ từ thập kỷ 90 của thế kỷ XIX trở đi, sau khi các bài thơ được nhà thơ Minski đọc và đánh giá thì thơ ông mới bắt đầu được biết đến.

Năm 1896 tiểu thuyết đầu tiên của ông về đề tài cuộc sống của giáo viên tỉnh lẻ "Những giấc mơ trĩu nặng" ra mắt bạn đọc. Thời kỳ đỉnh cao trong sáng tác của ông là khoảng từ năm 1905–1914 và sau năm 1917.

Cuốn tiểu thuyết thứ hai nhan đề Quỷ nhỏ (Мелкий бес) được Sologub hoàn thiện vào năm 1902 nhưng mãi đến năm 1905 mới được công bố trên các trang tạp chí "Các vấn đề cuộc sống" và sau đó được tái bản nhiều lần vào năm 1907, trở thành cuốn sách mà "cả nước Nga phải đọc". Sau đó, đề tài cuộc sống thị dân được Sologub tiếp tục phát triển trong các tiểu thuyết "Navia quyến rũ" (1907–1909) và Khói và tro (1912–1913).

Ngoài thơ và văn xuôi, Sologub còn sáng tác các vở kịch lớn như "Cái chết chiến thắng" (1907) được V.E. Meierhold dựng trong nhà hát Komisargievskaya, "Vũ điệu đêm" (1908) và Vanka Kliutchnik và tiểu đồng Gian (1908).

Sau năm 1917 sự nghiệp và vinh quang của Sologub có chiều hướng đi xuống, nhưng ông vẫn xuất bản những tuyển tập thơ lớn như Một tình yêu (1921), Fimiam (1921), Cây sáo (1922), Bùa ngải (1922)... Các tuyển tập này được in với tira rất nhỏ, và không được bạn đọc chú ý.

Nhà văn chuyển sang dịch thuật. Ông dịch văn học chủ yếu từ tiếng Đức và tiếng Pháp. Năm 1923 các bản dịch thơ Verlen của ông được xuất bản. Ông còn dịch các tác phẩm của Volter, Mopassan. Cho đến nay, các tác phẩm này vẫn được tái bản.

Mười năm sau khi ông qua đời, nhà phê bình V. Khodasevich đánh giá ông cao hơn Maikov, nhưng thấp hơn Fet. Và cần phải nhấn mạnh là hơn một phần ba số thơ của ông đã không được công bố khi ông còn sống.

Nhằm góp phần giới thiệu Fedor Sologub với các độc giả yêu mến thi ca Nga, dưới đây chúng tôi xin trân trọng công bố một số tác phẩm thơ của ông qua bản dịch của Thu Hương, Quỳnh Hương, Lưu Hải Hà và Việt Hùng. Các bài thơ nguyên bản của Fedor Sologub thường không có tựa đề và các bản dịch đã trung thành với điều này.

Yêu anh em nhé, như bình minh ngời chiếu
Rắc nắng ngọc trai và giòn giã tiếng cười.
Tặng cho anh ước mơ và hy vọng,
Rồi lặng lẽ em về khuất trong sương.

Yêu anh em nhé, lặng lẽ như trăng kia
Lạnh, trong veo, giữa màn đêm lấp lánh.
Rọi vào đời anh thần kỳ và bí mật
Đường vạn dặm chậm bước cùng anh đi.

Yêu anh em nhé, như suối nguồn giản dị,
Không thuộc về ai, vẫn như của anh rồi.
Lại bên anh, róc rách cười, hôn rồi chạy biến.
Khi đã hết yêu rồi, đừng ngại, cứ quên anh, em ơi!

(Quỳnh Hương dịch)

Hãy yêu anh rỡ ràng, như ánh dương ngời chiếu
Rắc ngọc nơi nơi và lấp lóa tiếng cười.
Hãy làm anh vui bởi ước mơ, hy vọng,
Rồi lặng lẽ rời xa khi tắt ánh mặt trời.

Hãy yêu anh êm đềm như mặt trăng lung linh
Tỏa ánh sáng thấu đêm, lạnh lùng, vô cảm,
Soi đời anh bằng thần kỳ, bí hiểm,
Mình sẽ cùng nhau lần bước đường đêm...

Hãy yêu anh giản đơn như dòng suối bên đường,
Quấn quýt, reo vang, - của anh đấy mà cũng không thuộc về ai cả,
Hãy ấp ôm, hiến dâng, rồi theo dòng trôi tiếp,
Hết yêu, lãng quên, - đừng sợ mà em, đấy đâu phải dối lừa!

(Thu Hương dịch)
Люби меня ясно, как любит заря
Жемчуг рассыпая и смехом горя.
Обрадуй надеждой и легкой мечтой
И тихо погасни за мглистой чертой.

Люби меня тихо, как любит луна
Сияя бесстрастно, ясно, холодна
Волшебством и тайной мой мир освети, -
Помедлим с тобою на темном пути.

Люби меня просто, как любит ручей,
Звеня и целуя, и мой и ничейю
Прильни и отдайся, и дальше беги,
Разлюбишь, забудешь - не бойся, не лги.

(1904)


CA NGỢI TỔ QUỐC (1)

Dẫu kiệt sức trong nỗi sầu u uất
Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người
Nào có nơi đâu trên trái đất
Thương mến như Người, ôi Tổ quốc tôi!

Những thảo nguyên bao la câm lặng
Chứa nỗi buồn bất tận khôn nguôi
Bầu trời cũng thở sầu u uất
Giữa đầm lầy, trong sự bất lực lạnh người
Một nhan sắc mong manh, yếu ớt
Mọc thành đóa hoa yếu đuối chơi vơi.

Những khoảng không nghiêm trang, nghiệt ngã
Đủ làm cho mệt mỏi tầm nhìn
Và những tâm hồn tràn đầy u ám
Nhưng tuyệt vọng vẫn có vài vị ngọt
Tổ quốc ơi, có tiếng than và niềm vui
Và sự tuyệt vọng, lẫn bình yên cho Người.

Nào có nơi đâu trên trái đất
Thương mến như Người, ôi Tổ quốc tôi!
Dẫu kiệt sức trong nỗi sầu u uất
Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người.

(Lưu Hải Hà dịch)

Nước Nga ơi, kiệt sức trong nỗi buồn tê tái
Tôi viết cho người những khúc ngợi ca.
Không xứ nào trên trái đất này sánh được
Với mảnh đất thân yêu, tổ quốc ta!

Những cánh đồng Nga bao đời câm lặng
Mênh mông nỗi buồn mệt mỏi triền miên,
Dưới vòm trời váng vất sầu vương,
Giữa đầm lầy, mỏng mảnh đến đáng thương,
Như đoá hoa buồn sớm nở tối tàn,
Đẹp nhợt nhạt nhan sắc Nga sống dậy.

Nghiệt ngã những không gian vô biên
Không ôm hết trong một cái nhìn chán nản
Làm kiệt sức những tâm hồn đầy sầu thảm.
Và trong thất vọng luôn có thêm vị ngọt.
Dành cho Người, tổ quốc ơi, niềm vui và rên xiết
Có bình yên, dù tuyệt vọng vẫn còn.

Không xứ nào trên trái đất này sánh được
Với mảnh đất thân yêu, tổ quốc ta!
Nước Nga ơi, vắt kiệt mình trong nỗi buồn tê tái
Tôi viết cho người những khúc ngợi ca.

(Quỳnh Hương dịch)
ГИМНЫ РОДИНЕ (1)

О Русь! в тоске изнемогая,
Тебе слагаю гимны я.
Милее нет на свете края,
О родина моя!

Твоих равнин немые дали
Полны томительной печали,
Тоскою дышат небеса,
Среди болот, в бессильи хилом,
Цветком поникшим и унылым,
Восходит бледная краса.

Твои суровые просторы
Томят тоскующие взоры
И души, полные тоской.
Но и в отчаяньи есть сладость.
Тебе, отчизна, стон и радость,
И безнадежность, и покой.

Милее нет на свете края,
О Русь, о родина моя.
Тебе, в тоске изнемогая,
Слагаю гимны я.


CA NGỢI TỔ QUỐC (2)

Tôi yêu nỗi buồn những khoảng rộng vô biên,
Mảnh đất thân yêu, nước Nga thiêng liêng.
Dù số phận mình như án tuyên buồn thảm
Nhưng tôi có sợ đâu, có xấu hổ đâu nào.

Đáng yêu sao tất cả mọi con đường,
Dù đường tôi chọn còn nhiều gian khó
Chờ tôi là bóng đêm và cái lạnh ghê người,
Tôi đâu muốn một ngày nào rời bỏ.

Tôi chẳng trách đâu những linh hồn ác quỷ.
Và như lời nguyện cầu tôi thuộc đã từ lâu ,
Tôi vẫn nhắc với lòng mình như trước:
"Buồn làm sao! Nhưng rộng lớn làm sao!"

(Quỳnh Hương dịch)

Tôi yêu nỗi buồn của những không gian ấy
Mảnh đất mến yêu, nước Nga thiêng liêng.
Tôi không sợ, cũng không xấu hổ
Định mệnh của những lời kết án thảm sầu

Và mọi con đường người tôi đều quý mến
Dẫu có là con đường mạo hiểm đến điên rồ
Dẫu bóng đêm đe dọa với nấm mồ
Tôi vẫn không muốn lùi một bước

Tôi chẳng hề gọi linh hồn ác
Chỉ nhắc mãi lời quen tự thuở nào
Như lời cầu nguyện bao thân thuộc:
“Rộng lớn làm sao! Buồn thảm làm sao!”

(Lưu Hải Hà dịch)
ГИМНЫ РОДИНЕ (2)

Люблю я грусть твоих просторов,
Мой милый край, святая Русь.
Судьбы унылых приговоров
Я не боюсь и не стыжусь.

И все твои пути мне милы,
И пусть грозит безумный путь
И тьмой, и холодом могилы,
Я не хочу с него свернуть.

Не заклинаю духа злого,
И, как молитву наизусть,
Твержу всё те ж четыре слова:
"Какой простор! Какая грусть!"


Trái tim ta run lên vui sướng
Lại về miền bắc, lại gặp mưa rồi,
Lại dịu mềm lớp rêu dù mỏng mảnh, -
Và buồn mênh mang đến mức khiến ta vui,
Và mệt mỏi mang đến ta vị ngọt ngào mong ước,
Và mộng mơ lặng lẽ những cánh rừng phía trước,
Và hồn ta rung lên với niềm vui, -
Miền bắc thân yêu ơi! Ta lại gặp mưa rồi!

(Quỳnh Hương dịch)

Trái tim nhảy nhót reo vui
Đây rồi Phương Bắc! Đây rồi trời mưa!
Đây rồi dịu mỏng rêu mờ,-
Chán chường đến độ vỡ òa niềm vui,
Đọa đày đến mức ngọt bùi,
Trong mơ ước một khoảng trời lặng xanh,
Mừng vui run rẩy tấc lòng,-
Mến yêu phương Bắc! Thân thương mưa nguồn!

(Thu Hương dịch)
Сердце дрогнуло от радости
Снова север, снова дождь,
Снова нежен мох и тощ, -
И уныние до радости,
И томление до сладости,
И мечтания тихих рощ,
И дрожит душа от радости, -
Милый север! Милый дождь!

1913


Tháng chạp hàng năm là tôi ốm
Tôi không sao sống nổi thiếu mặt trời.
Nằm mất ngủ tôi mệt mỏi lắm rồi
Vào tháng chạp tôi như người sắp chết.
Như bông lúa chín rã rời tan tác
Bàn tay nào vứt bỏ giữa ruộng khô.
Bóng tối giết tôi vào tháng chạp
Tháng mười hai - tôi không sống nữa rồi.

(Quỳnh Hương dịch)

Tháng chạp là tôi ốm
Thiếu nắng là gay to,
Chán trò đêm trằn trọc,
Cứ tháng chạp là lo!
Như lúa chín bỏ quên
Dập vùi nơi đồng rạ,
Tối tăm - chắc chết thật,
Tháng chạp - là hết hơi!

(Thu Hương dịch)

Mỗi tháng Chạp tôi trở nên kiệt lực
Sống sao đây khi vắng ánh mặt trời
Đếm từng đêm trằn trọc với chơi vơi
Chờ Thần Chết rước đi ngày tháng Chạp
Như nhành lúa chín ép mình nằm rạp
Trên đồng khô, ai đã ném xuống đây
Bức tử tôi là bóng tối đêm dày
Vào tháng Chạp tôi giã từ cuộc sống.

(Việt Hùng dịch)
Tháng Chạp là tôi ươn người
Tôi nào sống thiếu mặt trời được đâu
Võ vàng mất ngủ đêm thâu
Tháng này tôi chết vì sầu mất thôi
Tháng chạp quỷ mở cuộc chơi
Ném bông lúa chín – là tôi giữa đồng
Xung quanh bóng tối mịt mùng
Tháng chạp tôi hết sống cùng thế gian.

(Lưu Hải Hà dịch)

Каждый год я болен в декабре
Не умею я без солнца жить.
Я устал бессонно ворожить
И склоняюсь к смерти в декабре
Зрелый колос, в демонской игре
Дерзко брошенный среди межи.
Тьма меня погубит в декабре.
В декабре я перестану жить.


Kìa màn sương bạc rơi bên sông vắng
Bờ hiền hoà thoai thoải khuất phía xa
Mặt nước làm gương nghiêng soi rặng cây già
Với một tôi đang cô đơn lẻ bóng.

Lần bờ bụi tôi tìm cành khô nỏ
Đem về nhen ngọn lửa chỗ bờ sông
Rồi chờ xem nhảy múa ngọn lửa hồng
Bó gối tôi một mình mơ mộng

Một chút thôi, rồi tôi xuôi dòng chảy
Để chân trần tôi sẽ cất bước đi
Thấy cửa sổ sáng đèn thấp thoáng phía xa kia
Tôi biết chắc nhà tôi gần đâu đó.

(Quỳnh Hương dịch)

Trên mặt sông sương phủ
Bờ thoai thoải trải dài
Bóng cây in mặt nước
Một mình, chẳng cùng ai

Kiếm tìm khắp bờ bãi
Vài dăm nhánh củi khô
Nhen lên nào đốm lửa
Ta khẽ ngồi, mộng mơ

Sông chảy phía xa mờ
Chân trần quay trở lại
Phía xa đèn nháy mãi
Biết nhà chẳng còn xa

(Việt Hùng dịch)

Mây mờ giăng trắng dòng sông.
Bờ đê thoải thoải thấp dần triền xanh.
Rặng cây nghiêng bóng soi hình,
Một mình ta lại một mình đơn côi.

Bụi bờ gom mấy cành rơi
Đem về chất lại một nơi bên bờ.
Nhen lên đống lửa chiều tà,
Khẽ ngồi mơ mộng hồn ta yên bình.

Men bờ lội nước theo dòng
Sẽ sàng ta hẳn chân trần bước đi,-
Xa xa ánh lửa lập lòe
Biết rằng mái ấm đang kề ngay đây.

(Thu Hương dịch)
Màn sương bên sông trăng trắng
Bờ sông hoàn toàn không cao,
Hàng cây nghiêng soi bóng nước
Và tôi cô đơn dạt dào

Vài cành củi khô từ bụi
Tôi nhặt, đem ra bờ sông
Và nhen lên ngọn lửa hồng
Rồi ngồi một mình mơ mộng.

Và tôi sẽ đi chân đất
Nhẹ nhàng bước theo con sông
Khi thấy xa xa lửa hồng
Tôi sẽ biết – nhà tôi đóю

(Lưu Hải Hà dịch)


Забелелся туман за рекой,
Этот берег совсем не высок,
И деревья стоят над водой,
И теперь я совсем одинок.

Я в кустах поищу хворостин
И в костер их на берег сношу.
И под ними огонь воскрешу,
Посижу, помечтаю один.

И потом, по теченью реки,
Потихоньку пойду босиком, -
А завижу вдали огоньки
Буду знать, что близок мой дом.

NguyenAnh 22-07-2012 17:57

Raxul Gamzatov
 
Raxul Gamzatov
NGƯỜI ĐÃ LÊN ĐƯỜNG
NHƯNG NHỮNG TIA NẮNG ẤM MÃI CÒN ĐÂY

NGUYÊN HÙNG

Raxul GamzatovThơ Raxul Gamzatov (1923-2003) phần lớn được viết bằng tiếng dân tộc Ava, một dân tộc vỏn vẹn chỉ có 25 ngàn người, sống ở một vùng núi cao của nước cộng hòa tự trị Đaghextan thuộc Liên bang Nga. Tuy vậy, thơ ông không những chỉ nổi tiếng ở Nga, ở Liên Xô (trước đây) mà còn được nhiều bạn đọc khắp nơi trên thế giới biết đến. Riêng ở Việt Nam, Raxul Gamzatov được ngưỡng mộ, trước hết qua tập văn xuôi đầy chất thơ “Đaghextan của tôi”, một cuốn sách được in rất đẹp cả về nội dung lẫn hình thức. Và sau đó, các độc giả thơ cũng dần dần được làm quen và yêu thích thơ ông qua những bản dịch của Thái Bá Tân, Bằng Việt, Đoàn Tuấn, Hồng Thanh Quang…

Về cuộc đời và sự nghiệp thi ca của Raxul Gamzatov, ở Việt Nam đã có khá nhiều bài viết giới thiệu trên báo Văn Nghệ và các phương tiện thông tin đại chúng khác, như gần đây là “Gặp một nhà thơ lớn của một dân tộc ít người” (Thúy Toàn), “Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học” (Văn Nghệ Trẻ), “Raxul Gamzatốp và “Hiến pháp” của riêng ông (dịch từ báo Lao động, Nga)…
Thơ Raxul Gamzatov cũng đã được chọn dịch khá nhiều ra tiếng Việt, chỉ riêng tập “Thơ Raxul Gamzatov” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành gần đây có tới 64 bài. Nhằm góp một phần nhỏ bé làm cầu nối giữa nhà thơ Nga nổi tiếng với những người yêu thích thơ ông, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của ông với các phương án dịch của các thành viên website NuocNga.net (3N).

Bài thứ nhất
ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ

Исчезли солнечные дни,
И птицы улетели,
И вот одни проводим мы
Неделю за неделей.
Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой
Остались ты да я.
Любимая, любимая,
Бесценная моя!

На косы вновь твои смотрю,
Не налюбуюсь за день.
Птиц улетевших белый пух
Пристал к отдельным прядям.

Пусть у меня на волосах
Лежит, не тая, снег...
Но ты, моя бесценная,
Как прежде, лучше всех.

Все краски вешние неся,
Вернутся снова птицы,
Но цвет волос, но цвет волос
С весной не возвратится.

И солнцу улыбнёмся мы,
Печали не тая.
Любимая, любимая,
Бесценная моя!

Bản dịch của Lưu Hải Hà:

NHỮNG NGÀY NẮNG ĐÃ HẾT

Những ngày nắng đã hết rồi em nhỉ,
Những đàn chim đã đi tránh rét rồi.
Chỉ còn hai ta với ngày với tháng,
Chỉ còn hai ta ở lại em ơi!

Chỉ có hai ta với cả đất trời,
Chỉ anh và em - người_yêu_quý_nhất
Em là niềm tin, em là số phận
Em là tình yêu - báu vật của tôi

Nhìn đuôi sam tóc em mãi không rời
Ngỡ cả đời chưa bao giờ được ngắm
Đàn chim nào chắc bay đi vội lắm
Để quên sợi lông tơ trên tóc, em ơi

Dẫu tóc anh thời gian phủ tuyết rồi,
tuyết không tan giữa mùa hè đầy nắng...
Nhưng trái tim vẫn như xưa, say đắm -
Em vẫn tuyệt vời hơn hết thảy, em ơi!

Mùa đông sẽ qua, và đàn chim trở lại
Với sắc màu xuân rực rỡ đẹp tươi
Nhưng màu tóc, em ơi, không về lại
Dẫu mùa xuân lay động cả cuộc đời...

Với nỗi buồn đã không cần che dấu
Hai chúng ta mỉm cười với mặt trời
Nhưng em vẫn là niềm tin, số phận
Vẫn là tình yêu - báu vật của tôi.

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Những ngày nắng hết rồi
Chim cũng đi tránh rét
Chỉ còn em và tôi
Bên nhau bên nhau mãi

Chỉ còn tôi và em
Những tuần đông mê mải
Bên nhau bên nhau mãi
Em quý yêu nhất đời!

Cứ ngày lại qua ngày
Tôi ngắm đôi bím tóc
Thấy những lông chim rụng
Vương trắng vài lọn tơ

Trên đầu tôi cũng đã
Tuyết đọng trắng từ lâu
Nhưng em, em yêu quí,
Vẫn như buổi ban đầu.

Rồi mùa xuân trở lại
Trên những cánh chim trời
Nhưng tóc đã bạc rồi
Không bao giờ đen lại

Ta cùng đón mặt trời
Cùng mỉm cười em nhé
Nỗi buồn, em yêu quí,
Cũng không cần giấu đâu.

Nỗi buồn, em yêu quí
Cũng không cần giấu đâu
Khi mình đón mặt trời
Cùng mỉm cười với nắng.

Bài thứ hai:
Bản dịch của Nguyên Hùng:

NHỮNG NGÀY NẮNG ẤM ĐÃ QUA

Những ngày nắng ấm còn đâu
Bầy chim lũ lượt rủ nhau bay rồi
Chỉ còn ta với ta thôi
Tháng ngày lặng lẽ nối đuôi tháng ngày
Chỉ còn anh giữa đắm say
Tình-yêu-quý-nhất đời này là em !

Ngắm nhìn bím tóc cong lên
Ngỡ như mới thấy tóc em lần đầu
Thì ra mấy sợi trắng phau
Của chim rớt lại, vướng vào đuôi sam.

Tuyết rơi làm tóc hoa râm
Mà anh chẳng muốn tuyết tan trên đầu
Còn em vẫn tựa thuở nào
Quý hơn tất thảy ngàn sao trên trời.

Sắc màu rồi sẽ lại tươi
Đàn chim sẽ lại về vui chốn này
Duy còn mái tóc màu mây
Không xanh trở lại cùng ngày xuân sang.

Nỗi buồn dẫu chẳng dễ tan
Tiếng cười vẫn đủ âm vang đất trời
Dẫu cho vật đổi sao dời
Em là báu vật suốt đời của anh !

Bản dịch của Thu Hương:

Hết rồi ngày nắng ấm
Chim tránh rét bay rồi
Chỉ còn ông bà lão
Tháng ngày bên nhau thôi!

Chỉ tôi với bà nó
Chỉ bà nó với tôi
Bà lão yêu quý ạ -
Báu vật của tôi ơi!

Tôi ngắm đôi sam tóc
Ngắm không chán cả ngày
Kìa chim rơi lông trắng
Lên tóc bà khi bay

Kệ đầu tôi tuyết bám
Đọng mãi chẳng tan ra
Thật lòng, bà nó ạ
Chẳng ai sánh được bà!

Rồi chim cũng bay về
Mang sắc xuân ấp áp
Chỉ có màu tóc bạc
Chẳng xanh lại được đâu

Nhưng không giấu buồn rầu
Mình vẫn cười với nắng
Vẫn yêu bà say đắm
Ôi báu vật đời tôi!

Mình vẫn sẽ mỉm cười
Với mặt trời ấm áp
Bà lão yêu quý nhất
Báu vật của tôi ơi!


Bài thứ hai


МНЕ В ДОРОГУ ПОРА

Дорогая моя, мне в дорогу пора,
Я с собою добра не беру.
Оставляю весенние эти ветра,
Щебетание птиц поутру.

Оставляю тебе и сиянье луны,
И цветы в тляротинском лесу,
И далекую песню каспийской волны,
И спешащую к морю Койсу,

И нагорья, где жмется к утесу утес,
Со следами от гроз и дождей,
Дорогими, как след недосыпа и слез
На любимых щеках матерей.

Не возьму я с собою сулакской струи.
В тех краях не смогу я сберечь
Ни лучей, согревающих плечи твои,
Ни травы, достигающей плеч.

Ничего не возьму, что мое искони,
То, к чему я душою прирос,
Горных тропок, закрученных, словно ремни,
Сладко пахнущих сеном в покос.

Я тебе оставляю и дождь и жару,
Журавлей, небосвод голубой...
Я и так очень много с собою беру:
Я любовь забираю с собой.

Bản dịch của Quỳnh Hương:


Đã đến lúc tôi phải lên đường

Em ạ, tôi sửa soạn lên đường
Hành lý không mang theo tiền bạc.
Tôi để lại con gió lành mỗi sáng
Và tiếng chim ríu rít chào bình minh.

Tôi để lại cho em ánh trăng lấp lánh
Hoa rừng khắp thung lũng quê hương
Những bài ca của sóng biển Kaspien
Rộng vòng tay chờ sông Koisa đổ tới.

Cả những ghềnh đá nơi núi non vĩ đại
Còn mang trên mình dấu vết bão giông
Như gò má của mẹ hiền yêu dấu
In những nếp nhăn vì nước mắt đêm trường.

Tôi không mang theo suối mát quê hương
Nơi xa kia tôi không thể giữ gìn.
Ánh mặt trời sưởi ấm đôi vai em
Cùng đồng cỏ cao cao - tôi để lại.

Tôi không mang theo những gì thân thuộc,
Một phần máu thịt của hồn tôi.
Những con đường cheo leo vòng quanh núi,
Và không khí trong lành đẫm hương thơm.

Tôi để lại cho em cả mưa và nắng,
Đàn sếu bay trong xanh thắm bầu trời.
Hành lý của tôi đã nặng lắm rồi
Tôi mang theo tình yêu trong đó.
Bản dịch của Phan Chí Thắng:

Đã đến lúc anh phải lên đường

Em thân yêu, anh phải đi rồi
Anh không hề mang theo của cải
những ngọn gió xuân, anh để lại
Và tiếng chim ríu rít ban mai

Anh để lại cho em cả ánh trăng ngời
Cả những bông hoa rừng Tliarotin ấy
Cả bài ca xưa của sóng Kaspien
Cả dòng Koixa vội vàng ra với biển

Và cao nguyên nơi đá ghềnh chen lấn
Đầy vết tích bão dông
Thân thương như vết hằn đói nghèo và nước mắt
Trên má những người mẹ hiền

Anh không mang theo những dòng nước Xulacsk
Ở những nơi anh không thể giữ gìn
Ánh mặt trời sưởi ấm vai em
Và đồng cỏ cao ngang vai – anh để lại

Anh không mang theo những gì xa ngái
Mà hồn anh đã gắn chặt rồi
Những con đường cheo leo vòng quanh núi,
Mùi cỏ mới cắt ngọt ngào hương tươi

Anh để lại cho em cả mưa, cả nắng,
Đàn sếu, trời xanh…
Anh đã mang nhiều lắm:
Anh mang tình yêu theo anh!

Bản dịch của Lưu Hải Hà:


Đã đến lúc tôi đi...

Em yêu ơi đã đến lúc tôi đi
Tôi chẳng đem gì theo em ạ
Tôi để lại gió mùa xuân êm ả
Và tiếng chim tha thiết gọi nắng hồng

Tôi để lại cho em rực rỡ vầng trăng
Hoa trong rừng Tliarotin ta dạo bước
Khúc hát xa xăm Kaxpi sóng nước
Và sông Koisa vội vã gặp biển mừng

Vùng trung du núi kề núi trập trùng
Có vết cơn giông, vết kia mưa gội
Thân thương như vết lệ gò má tối
Của mẹ ta đêm thiếu ngủ triền miên

Tia nước Sulak tôi cũng chẳng thể đem
Nơi xa kia tôi nào giữ được
Những ngọn cỏ cao đến vai em bước
Những tia mặt trời sưởi ấm vai em

Những gì của tôi chẳng thể đem thêm
Những gì gắn với tâm hồn từ bé
Đường núi cong như thắt lưng trai trẻ
Đầy mùi cỏ tươi mới cắt ngọt lành

Tôi để cho em cả mưa cả nắng
Bầy sếu kia, và cả trời xanh
Tôi có đem gì nhiều nhặn đâu em nhỉ:
Chỉ có tình yêu tôi mang mãi theo mình.

NguyenAnh 24-07-2012 11:37

TỌA ĐÀM VỀ THƠ NGA ĐƯƠNG ĐẠI
(HTV - phát sóng nhân dịp kỷ niệm CMTM Nga, 7-11-2008)


Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, mình được mời tham gia chương trình tọa đàm về Thơ Nga đương đại. Trong chương trình này, NH đã bất đắc dĩ phải múa rìu qua mắt thợ, nếu nói gì không phải trong lúc болтать thì xin các thợ cả bỏ qua cho. Sau đây xin show vài trích đoạn của cuộc tọa đàm cùng một trong hai bài thơ do NH dịch và được giới thiệu (Những ngày nắng ấm còn đâu - Raxul Gamzatov; Mùa Xuân - Veronika Tushnova).

Cùng Thạc sĩ Vũ Xuân Hương và dịch giả Đinh Trần Toán


Đôi lời về Raxul Gamzatov và nuocnga.net


Trình diễn bài "Những ngày nắng ấm đã qua" - NS Bích Ngọc

(Người dịch nói như cơm nguội, còn nghệ sĩ thì đọc thơ sai:emoticon-0127-lipss)

Trích:

NguyenAnh viết (Bài viết 112460)
NHỮNG NGÀY NẮNG ẤM ĐÃ QUA

(Raxul Gamzatov)

Những ngày nắng ấm còn đâu
Bầy chim lũ lượt rủ nhau bay rồi
Chỉ còn ta với ta thôi
Tháng ngày lặng lẽ nối đuôi tháng ngày
Chỉ còn anh giữa đắm say
Tình-yêu-quý-nhất đời này là em!

Ngắm nhìn bím tóc cong lên
Ngỡ như mới thấy tóc em lần đầu
Thì ra mấy sợi trắng phau
Của chim rớt lại, vướng vào đuôi sam.

Tuyết rơi làm tóc hoa râm
Mà anh chẳng muốn tuyết tan trên đầu
Còn em vẫn tựa thuở nào
Quý hơn tất thảy ngàn sao trên trời.

Sắc màu rồi sẽ lại tươi
Đàn chim sẽ lại về vui chốn này
Duy còn mái tóc màu mây
Không xanh trở lại cùng ngày xuân sang.

Nỗi buồn dẫu chẳng dễ tan
Tiếng cười vẫn đủ âm vang đất trời
Dẫu cho vật đổi sao dời
Em là báu vật suốt đời của anh!

Nguyên Hùng dịch từ tiếng Nga


NguyenAnh 25-07-2012 23:46

Agnia Barto
NGƯỜI CÒN MÃI VỚI TUỔI THƠ

(Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ)
NGUYÊN HÙNG

Agnia Barto là nhà thơ thiếu nhi mà ở Nga hầu như đứa trẻ nào cũng biết. Sách do Agnia Barto viết ra được in với số lượng hàng triệu bản. Bà là một người phụ nữ đặc biệt, cả cuộc đời mình bà giành trọn cho trẻ thơ: ngoài việc làm thơ cho thiếu nhi, bà còn tham gia tích cực các hoạt động vì thiếu nhi, bảo vệ thiếu nhi. Nói về bà, R.Gamzatov đã từng viết “bà luôn sẵn sàng đón nhận một thế hệ khi đưa tiễn một thế hệ khác”…

Agnia Barto sinh ra ở Moskva trong một gia đình bác sỹ thú y. Bắt đầu làm thơ từ những lớp dưới ở trường trung học. Từng mơ ước trở thành nghệ sỹ ba-lê và đã tốt nghiệp trường múa.

Agnia Bart bước chân vào lĩnh vực văn chương một cách khá tình cờ. Ở trường trung học, tại kỳ thi tốt nghiệp, Barto đã đọc bài thơ của mình, “Hành khúc đám ma”, với sự có mặt của A.Lunacharsky, nhà hoạt động xã hội đồng thời là nhà nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng. Sau đó ít ngày, Lunacharsky mời cô nữ sinh Agnia đến chỗ ông và quả quyết rằng, cô được sinh ra là để viết những bài thơ vui nhộn.

Năm 1925 Barto được nhận vào làm việc ở Ban biên tập Văn học thiếu nhi của Nhà xuất bản Quốc gia. Tại đây, Barto bị cuốn hút hoàn toàn vào công việc. Bà có dịp được học hỏi nhiều bên cạnh các nhà thơ đàn anh như Maikovsky, Chukovsky, Marshak…

Năm 1937 Barto đến Tây Ban Nha với tư cách là đại biểu của Hội nghị quốc tế về bảo vệ văn hóa. Hội nghị diễn ra dưới các trận ném bom ở Barcelona, trong sự bao vây ở Madrid. Đề tài bảo vệ hòa bình, tình hữu nghị giữa các dân tộc từ đó đã đi vào các tác phẩm thơ ca của nữ thi sỹ.

Trong thời gian Chiến tranh vệ quốc, Barto thường phát biểu qua đài phát thanh, từng ra mặt trận với tư cách phóng viên của tờ “Komsomolskaia Pravda”. Để viết trường ca về lứa tuổi vị thành niên, những người vì chiến tranh mà phải trưởng thành trước tuổi, phải làm việc và nuôi gia đình, nữ thi sỹ đã cùng họ miệt mài học nghề thợ tiện, thậm chí đạt trình độ của một người thợ thủ công.

Những năm sau chiến tranh Agnia Barto trở thành nhà tổ chức của phong trào tìm kiếm những gia đình bị ly biệt trong chiến tranh, một phong trào có quy mô rộng lớn trong phạm vi toàn Liên bang Xô viết. Chương trình “Tìm người” trên sóng của đài phát thanh “Maiak” đã giúp cho 927 gia đình có được ngày được sum họp sau nhiều năm ly tán. Rất nhiều thư của bạn nghe đài từ khắp nơi được gửi đến Barto và bà trở thành một nhân vật được công chúng ngưỡng mộ.

Trong sự nghiệp sáng tạo của mình Agnia Barto đều đặn cho ra đời nhiều tập thơ. Vào thời gian đầu, đó là: “Những người anh em” (1928), “Cậu-bé-ngược-đời” (1934), “Đồ chơi” (1936), “Chim hồng tước” (1939). Trong khoảng 1940-1950, bà xuất bản các tập thơ “Bé gái lớp một”, “Thành phố chuông”, “Thơ vui”, đồng thời viết kịch bản cho các phim thiếu nhi, như “Đứa con rơi”, “Chú voi và sợi dây”, “Aliosa Ptitsyn rèn luyện tính cách”. Năm 1958, Barto viết một loạt thơ trào phúng rất dày dặn cho thiếu nhi - các tập “Leshenka, Leshenka”, “Ông cháu”, v.v...

Có thể dễ dàng thấy rằng thơ Agnia Barto có một vị trí rất đáng kể trong nền văn học thiếu nhi Nga xô viết. Thế nhưng, đối với độc giả Việt Nam, đặc biệt là các độc giả nhỏ tuổi, bà vẫn còn khá lạ lẫm. Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây chùm thơ của bà qua các bản dịch của Quỳnh Hương, Thu Hương và Nguyên Hùng.

Chú gấu

Họ ném gấu xuống sàn
Họ vặt chân của nó
Mặc kệ, em không bỏ
Vì nó tốt lắm mà.


Thỏ con

Cô chủ quẳng thỏ con
Nằm dưới mưa lạnh run
Thỏ không rời ghế nổi
Vì lông ướt hết trơn!


Qủa bóng


Em gái tôi gào khóc:
“Kìa, bóng chìm xuống kênh!”
- Nín ngoan nào, bé ngốc
Bóng rớt kênh, nổi phềnh!


Vệ sĩ là thế

Bé Lida, em trông
Đừng hòng ai ăn hiếp!
Chúng em rất đoàn kết
Em yêu bé rất nhiều
Chỉ khi nào cần chiều
Em tự mình đét bé!


Đến trường

Vì sao đêm nay Pechia
Phải đến chục lần thức giấc?
Bởi vì hôm nay cậu ta
Ngày đầu đến trường đi học.

Giờ cậu không còn trẻ con
Giờ cậu là người khác hẳn
Giờ cậu khoác áo mới coong
Cổ áo bẻ như người lớn.

Tỉnh giấc giữa đêm tối thui
Lúc chỉ mới ba giờ kém
Cuống cuồng, cậu gọi ới ời
Sợ rằng giờ học đã điểm.

Cậu mặc rất nhanh áo quần
Chộp từ trên bàn cặp vở
Bố chạy đuổi theo rần rần
Kịp thời túm tay sau cửa.

Hàng xóm cạnh nhà thức dậy
Đèn đóm lần lượt sáng trưng
Hàng xóm sau tường thức dậy
Để rồi lần nữa lên giường.

Cậu đánh thức cả căn hộ
Đến sáng, chẳng trừ một ai
Thậm chí bà như mơ ngủ
Thấy mình đang lúc ôn bài.

Thậm chí ông như mơ thấy
Mình đang đứng cạnh bảng đen
Nhìn lên bản đồ, sông ấy
Nằm đâu, sao thật khó tìm.

Vì sao đêm nay Pechia
Có đến chục lần thức giấc?
Bởi vì hôm nay cậu ta
Trở thành học sinh lớp một.

(Nguyên Hùng dịch)
МИШКА

Уронили мишку на пол,
Оторвали мишке лапу.
Всё равно его не брошу -
Потому что он хороший.


ЗАЙКА

Зайку бросила хозяйка -
Под дождём остался зайка.
Со скамейки слезть не мог,
Весь до ниточки промок.


МЯЧИК

Наша Таня громко плачет:
Уронила в речку мячик.
- Тише, Танечка, не плачь:
Не утонет в речке мяч.


ВОТ ТАК ЗАЩИТНИК!

Я свою сестрёнку Лиду
Никому не дам в обиду!
Я живу с ней очень дружно,
Очень я её люблю.
А когда мне будет нужно,
Я и сам её побью.


В ШКОЛУ

Почему сегодня Петя
Просыпался десять раз?
Потому что он сегодня
Поступает в первый класс.

Он теперь не просто мальчик,
А теперь он новичок.
У него на новой куртке
Отложной воротничок.

Он проснулся ночью темной,
Было только три часа.
Он ужасно испугался,
Что урок уж начался.

Он оделся в две минуты,
Со стола схватил пенал.
Папа бросился вдогонку,
У дверей его догнал.

За стеной соседи встали,
Электричество зажгли,
За стеной соседи встали,
А потом опять легли.

Разбудил он всю квартиру,
До утра заснуть не мог.
Даже бабушке приснилось,
Что твердит она урок.

Даже дедушке приснилось,
Что стоит он у доски
И не может он на карте
Отыскать Москвы-реки.

Почему сегодня Петя
Просыпался десять раз?
Потому что он сегодня
Поступает в первый класс.

Người giúp việc

Ta-nhi-a luôn bận rộn
Biết bao công chuyện suốt ngày
Sáng giúp anh mình ăn kẹo
Ăn hoài, đến tận trưa nay.

Em thật sự là rất bận
Nào ăn cơm, nào uống trà
Nào ngồi ở bên cạnh mẹ
Nào đứng dậy ra với bà

"Tối rồi, ngủ thôi, mẹ nhỉ,
Áo em, mẹ tự cởi đi!
Mệt quá em không cởi được.
Mai em giúp mẹ chứ gì!"


Bé Sao bằng cao su

Bé Sao bằng cao su
Bé Sao bằng cao su
Mẹ mua trong cửa hiệu
Xinh xinh trông rất điệu
Trong giỏ xách mơ màng.
Xúng xính, rồi ngó nghiêng
Thế là rơi khỏi giỏ
Lem luốc đôi ba chỗ
Phải rửa bằng ét-xăng
Bé gí tay dọa Sao:
- Chớ dại như thế nữa
Nếu không chị giận dữ
Trả Sao cho cửa hàng!

(Thu Hương dịch)
ПОМОЩНИЦА

У Танюши дел немало,
У Танюши много дел:
Утром брату помогала, —
Он с утра конфеты ел.

Вот у Тани сколько дела:
Таня ела, чай пила,
Села, с мамой посидела,
Встала, к бабушке пошла.

Перед сном сказала маме:
— Вы меня разденьте сами,
Я устала, не могу,
Я вам завтра помогу.


РЕЗИНОВАЯ ЗИНА

Купили в магазине
Резиновую Зину,
Резиновую Зину
В корзинке принесли.
Она была разиней,
Резиновая Зина,
Упала из корзины,
Измазалась в грязи.
Мы вымоем в бензине
Резиновую Зину,
Мы вымоем в бензине
И пальцем погрозим:
Не будь такой разиней,
Резиновая Зина,
А то отправим Зину
Обратно в магазин.


Có một lần tớ trót làm vỡ kính

Trong cuộc đời tớ chẳng gặp may
Có một lần tớ trót làm vỡ kính.
Kính cửa sổ dưới mặt trời lấp lánh
Sáng rực và tươi cười,
Còn tớ chơi bóng – hoàn toàn tình cờ thôi!
Thế mà tớ khổ mãi...

Từ bấy đến giờ
Từ bấy đến tận giờ,
Hễ tớ chạy xuống sân
Lập tức có ai đó,
Hét sau lưng:
- Này, cẩn thận, kính nhà ai sắp vỡ?

Dù từ cái ngày không may đó
Bao nhiêu là năm tháng đã trôi qua.

Cứ hễ tớ thở dài
Lập tức có người quan tâm hỏi:
- Lại gây chuyện gì thế?
Thêm kính nhà ai vỡ hay sao?

Không, trong cuộc đời tớ chẳng gặp may
Có một lần tớ trót làm vỡ kính

Ngay như ngày hôm qua đấy,
Cô bé xinh xinh bên hàng xóm
Đi ngược chiều, vừa đi vừa nghĩ ngợi
Cơ hội hay quá đi thôi.
Tớ vừa mới định hỏi han,
Thế mà cô nàng
Nhắc lại chuyện kính vỡ đã tám đời,
Dù vẫn không quên sửa đôi bím tóc.

Trong cuộc đời tớ chẳng gặp may
Những mảnh vỡ cứ theo tớ suốt.

Chắc còn theo đến ngày tớ hai trăm tuổi mất,
Khi lũ chắt bám theo hỏi tò mò:
- Cụ ơi, có phải
Ngày còn là trẻ nhỏ
Cụ lang thang dưới từng cửa sổ,
Với hòn đá trong tay?
Tớ thì đã quên mất, tớ chỉ biết thở dài...
Không, rõ là đời tớ chẳng gặp may
Chỉ một lần tớ trót làm vỡ kính.

(Quỳnh Hương dịch)
ОДНАЖДЫ Я РАЗБИЛ СТЕКЛО

Нет, в жизни мне не повезло,
Однажды я разбил стекло.

Оно под солнечным лучом
Сверкало и горело,
А я нечаянно - мячом!
Уж как мне нагорело!

И вот с тех пор,
С тех самых пор,
Как только выбегу
Во двор,
Кричит вдогонку кто-то:
- Стекло разбить охота?

Воды немало утекло
С тех пор, как я разбил стекло.

Но стоит только мне вздохнуть,
Сейчас же спросит кто-нибудь:
- Вздыхаешь из-за стекол?
Опять стекло раскокал?

Нет, в жизни мне не повезло,
Однажды я разбил стекло.

Идет навстречу мне вчера,
Задумавшись о чем-то,
Девчонка с нашего двора,
Хорошая девчонка.

Хочу начать с ней разговор,
Но, поправляя локон,
Она несет какой-то вздор
Насчет разбитых окон.

Нет, в жизни мне не повезло,
Меня преследует стекло.

Когда мне стукнет двести лет,
Ко мне пристанут внуки.
Они мне скажут:
- Правда, дед,
Ты брал булыжник в руки,
Пулял по каждому окну?-
Я не отвечу, я вздохну.

Нет, в жизни мне не повезло,
Однажды я разбил стекло.

NguyenAnh 29-07-2012 12:41

Nghe Nhạc Nga cùng bản dịch thơ lời Việt
 
NGHE NHẠC NGA CÙNG BẢN DỊCH THƠ LỜI VIỆT
NGUYÊN HÙNG

Từ nhiều năm nay, những giai điệu Nga đã trở nên quen thuộc với những người Việt Nam yêu nhạc. Các ca khúc và làn điệu dân ca của xứ bạch dương vốn rất êm dịu thiết tha về nhạc, lại càng trở nên quyến rũ và làm đắm say lòng người bởi vốn ca từ đầy chất thơ.

Từng góp phần tạo thêm sức sống cho những bản tình ca vượt qua thời gian và không gian như "Cánh đồng Nga", "Chiều Matxcơva", "Đôi bờ", "Cây thùy dương", "Lòng mẹ", "Cuộc sống ơi ta mến yêu người", "Triệu bông hồng"… và những làn điệu dân ca bất hủ như Kalinka, Kachiusa, Sông Volga…chính là các bản dịch lời Việt mà các “nghệ sỹ Nga học” tiếng tăm như Trung Kiên, Qúy Dương…đã thực hiện.
Những năm gần đây đời sống âm nhạc ở nuớc ta khá sôi động với các trào lưu “nhạc trẻ”. Dòng nhạc trữ tình dường như ngày càng trở nên lép vế trước các làn sóng hip-hop và rock. Trong bối cảnh đó, các bài hát Nga vốn được nhiều thế hệ người Việt Nam yêu thích cũng trở nên thưa vắng trên các sân khấu ca nhạc và trong các chương trình văn nghệ của các phương tiện truyền thông.

Tuy nhiên, tình yêu giành cho nhạc Nga vẫn luôn thường trực trong trái tim của một bộ phận không nhỏ người Việt, đặc biệt đối với những người từng có một thời sống ở nước Nga. Các thành viên website NuocNga.net là những người như thế. Họ đã miệt mài sưu tầm, giới thiệu cho nhau cả một kho tàng nhạc Nga, từ những bài hát đã nổi tiếng hàng chục năm nay đến những ca khúc hoàn toàn mới lạ. Và không ít ca khúc trong số đó đã được dịch ra lời Việt. Các bản dịch lời bàt hát do các thành viên NuocNga.net thực hiện thường đậm chất thơ. Vả chăng, bản thân các ca khúc chính là các bài thơ được phổ nhạc. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu các bản dịch tiếng Việt cho một số bài hát trong số đó:

Bài thứ nhất: “Người yêu tôi nơi đâu?”
Я спросил у ясеня, где моя любимая
Cлова - Киршон В.
Mузыка - Таривердиев М.

Я спросил у ясеня, где моя любимая
Ясень не ответил мне, качая головой.
Я спросил у тополя: "Где моя любимая?" -
Тополь забросал меня осеннею листвой.
Я спросил у осени: "Где моя любимая?" -
Осень мне ответила проливным дождем.
У дождя я спрашивал, где моя любимая,
Долго дождик слезы лил под моим окном.
Я спросил у месяца: "Где моя любимая?" -
Месяц скрылся в облаке - не ответил мне.
Я спросил у облака: "Где моя любимая?" -
Облако растаяло в небесной синеве...
Друг ты мой единственный, где моя любимая?
Ты скажи, где скрылась, знаешь, где она?
Друг ответил преданный, друг ответил искренний,
Была тебе любимая, была тебе любимая,
Была тебе любимая, а стала мне жена
Я спросил у ясеня
Я спросил у тополя
Я спросил у осени...

Lưu Hải Hà dịch:

Tôi hỏi cây tần bì
Người tôi yêu nơi đâu
Cây tần bì không đáp
Chỉ khe khẽ lắc đầu

Tôi tìm cây dương hỏi
Người tôi yêu nơi đâu
Cây dương im lặng trút
Lá thu xuống mái đầu

Tôi tìm mùa thu hỏi
Người tôi yêu nơi đâu
Nhưng mùa thu chỉ nói
Bằng mưa xối nỗi sầu

Tôi hỏi cơn mưa xối
Người tôi yêu nơi đâu
Mưa lặng im trút lệ
Bên cửa sổ thật lâu

Tôi hỏi vầng trăng bạc
Người tôi yêu nơi đâu
Vầng trăng không đáp lại
Ẩn vào đám mây sầu

Tìm đám mây tôi hỏi
Người tôi yêu nơi đâu
Đám mây tan chầm chậm
Giữa trời xanh xanh nâu

Tôi hỏi người bạn quý
Người tôi yêu nơi đâu
Nói đi anh có biết
Nàng trốn đâu bấy lâu

Người bạn trung thành nói
Bạn chân thành trả lời
Anh đã có người ấy
Người anh yêu nhất đời

Anh đã có người ấy
Nàng giờ thành vợ tôi

Gặp tần bì tôi hỏi
Hỏi cả cây dương rồi
Gặp mùa thu cũng hỏi...
Quỳnh Hương dịch:

Tôi hỏi cây tần bì
Người yêu tôi nơi nao
Cây lặng im không nói
Vòm xanh khẽ rì rào

Tôi hỏi cây phong nhỏ
Người yêu tôi đâu rồi
Lặng im cây chỉ biết
Rắc lá lên đầu tôi...

Tôi lại hỏi mùa thu
Tìm đâu người yêu dấu
Mùa thu chỉ biết dội
Mưa lạnh khắp đất trời

Tôi hỏi những hạt mưa
Tim đâu người yêu dấu
Mưa giăng ngoài song cửa
Như là lệ tôi rơi...

Tôi tìm hỏi vầng trăng
Tìm đâu người tôi nhớ
Trăng biết đâu nên vội
Lẩn trốn sau đám mây

Tôi hỏi mây, mây ơi
Chỉ giùm tôi chỗ đó
Đám mây mềm tan vội
Trong bao la trời xanh...

Tôi hỏi anh bạn tôi
Tìm đâu người yêu dấu
Hẳn bạn biết tìm đâu
Nơi nào nàng ẩn náu

Bạn tôi mới trả lời,
Thành thật, trung hậu nhất:
Nàng từng yêu anh thật
Nàng từng yêu anh thật
Nhưng đã thành vợ tôi.

Tôi hỏi cây tần bì
Tôi hỏi cây phong nhỏ
Tôi hỏi cả mùa thu....


Bài thứ hai: “Ngôi sao”
Звезда
Cлова - ?
Mузыка -?

Очень много раз я себе задавал вопрос:
Для чего родился на свет я, взрослел и рос?
Для чего плывут облака, и идут дожди?
В этом мире ты для себя ничего не жди.
Я бы улетел к облакам, да крыльев нет,
Манит меня издалека тот звездный свет.
Но звезду достать нелегко, хоть цель близка,
И не знаю, хватит ли сил для броска...

(Припев) Я подожду ещё чуть-чуть
И собираться буду в путь
Вслед за надеждой и мечтой,
Не догорай, звезда моя, постой...

Сколько же ещё мне дорог предстоит пройти?
Сколько покорить мне вершин, чтоб себя найти?
Сколь же с отвесной скалы мне падать вниз?
Сколько начинать все с нуля и есть ли смысл?
Phan Chí Thắng dịch:

Đã nhiều lần tôi tự hỏi:
Sinh ra, khôn lớn làm gì?
Mây bay và mưa làm chi?
Ở đời đừng mong gì nữa.

Tôi hẳn đã bay lên mây,
Nhưng không có đôi cánh nhẹ
Ánh sao quyến rũ tôi hoài
Tưởng gần mà sao khó hái
Liệu mình đủ sức bay lên…

(Điệp khúc:
Tôi sẽ chờ thêm, sẽ đợi
Và rồi thu xếp lên đường
Đi theo ước mơ, mong mỏi
Sao ơi, chớ tắt vội vàng…)

Bao nhiêu con đường tôi qua?
Bao nhiêu đỉnh cao tôi đến?
Để tìm thấy bản thân ta!
Bao lần từ cao rơi xuống?

Bao lần làm lại từ đầu?
Phải chăng việc này có nghĩa?

Nguyên Hùng dịch:

Nhiều lần ta tự hỏi mình:
Ta sinh rồi lớn là giành cho ai?
Cho ai mây lượn, mưa rơi?
Ta chờ gì nhỉ giữa đời hôm nay?
Cánh đâu mà đến với mây?
Sức đâu với, dẫu sao ngay trên đầu?

(Điệp khúc:
Ta chờ… và sẽ không lâu
Lên đường cùng với một bầu ước mơ
Sao ơi, sao hãy đợi chờ
Soi niềm hy vọng bất ngờ trong ta!)

Còn bao đường đất phải qua?
Bao nhiêu đỉnh núi chặn ta trên đời?
Bao lần lên được lại rơi?
Bao lần ta phải về nơi ban đầu?
Bao lần tự vấn không đâu:
Vả chăng “cố đấm chịu đau” là mình?


Bài thứ ba: “Thảo nguyên mênh mông”
Степь да степь кругом

Степь да степь кругом,
Путь далек лежит,
В той степи глухой
Умирал ямщик.

И, набравшись сил,
Чуя смертный час,
Он товарищу
Отдает наказ:

"Ты, товарищ мой,
Не попомни зла,
Здесь, в степи глухой,
Схорони меня!

Ты лошадушек
Сведи к батюшке,
Передай поклон
Родной матушке.

А жене скажи
Слово прощальное,
Передай кольцо
Обручальное.

Да скажи ты ей -
Пусть не печалится,
Пусть с другим она
Обвенчается.

Про меня скажи,
Что в степи замерз,
А любовь ее
Я с собой унес".

Lời Việt: Thanh Xuân


Toàn thảo nguyên lạnh vắng
Gió tuyết kín khắp trời
Người xà-ích sắp chết rồi
Đường về, xa vẫn mờ xa.

Cận kề bên giờ chết
Anh lấy hết sức mình
Và nói với người bạn đường
Lời trăn trối cuối, buồn đau:

“Này bạn tôi gần nhất
Xin quên hết dỗi hờn
Và chính chốn thảo nguyên này
Vùi chôn tôi nhé, bạn ơi.

Đàn ngựa đây, bạn nhớ
Giao cho bố tôi giùm
Và hãy nói với mẹ già
Lời tôi vẫn mãi cầu mong.

Còn vợ tôi, bạn nhớ
Xin hãy nói vĩnh biệt
Và đưa chiếc nhẫn nhỏ này
Là nhẫn đính cưới ngày xưa.

Nhủ nàng, xin đừng khóc
Xin hãy chớ có buồn
Và xin chớ có ngại ngùng
Cùng người thương khác thành đôi.

Còn về tôi, bạn nói
Gió rét giết mất rồi
Mà tình yêu thương của nàng
Còn mang theo suốt đời tôi.
Thảo nguyên mênh mông
Lời Việt: Lưu Hải Hà

Xung quanh toàn thảo nguyên
Đường đi còn xa lắm
Người đánh ngựa hấp hối
Chốn thảo nguyên xa này.

Cảm thấy thần chết đến
Anh dồn hết sức mình
Nói với người đồng chí
Lời trối trăng cuối cùng

"Bạn ơi, người đồng chí
Hãy quên giận hờn xưa
Hãy chôn tôi nơi đây
Chốn thảo nguyên vắng vẻ!

Hãy lùa những ngựa thương
Về nhà cha tôi nhé
Và hãy quỳ thay tôi
Thật lâu bên chân mẹ

Hãy trao lại vợ tôi
Một lời chào vĩnh biệt
Hãy gửi lại cho nàng
Nhẫn đính hôn tha thiết

Bạn hãy khuyên nàng nhé
Tôi mong nàng đừng buồn
Tôi mong rồi người khác
Sẽ cùng nàng thành hôn

Hãy nói rằng tôi đã
Chết cóng giữa thảo nguyên
Nhưng tình nàng tôi mãi
Mang theo mình không quên".

USY 29-07-2012 13:29

Trích:

NguyenAnh viết (Bài viết 112822)
NGHE NHẠC NGA CÙNG BẢN DỊCH THƠ LỜI VIỆT
NGUYÊN HÙNG

Bài thứ nhất: “Người yêu tôi nơi đâu?”
[TABLE1] Я спросил у ясеня, где моя любимая
Cлова - Киршон В.
Mузыка - Таривердиев М.

Я спросил у ясеня, где моя любимая
Ясень не ответил мне, качая головой.
Я спросил у тополя: "Где моя любимая?" -
Тополь забросал меня осеннею листвой.
Я спросил у осени: "Где моя любимая?" -
Осень мне ответила проливным дождем.
У дождя я спрашивал, где моя любимая,
Долго дождик слезы лил под моим окном.
Я спросил у месяца: "Где моя любимая?" -
Месяц скрылся в облаке - не ответил мне.
Я спросил у облака: "Где моя любимая?" -
Облако растаяло в небесной синеве...
Друг ты мой единственный, где моя любимая?
Ты скажи, где скрылась, знаешь, где она?
Друг ответил преданный, друг ответил искренний,
Была тебе любимая, была тебе любимая,
Была тебе любимая, а стала мне жена
Я спросил у ясеня
Я спросил у тополя
Я спросил у осени...

Em thấy chàng ca sĩ Nauy gốc Belarus Alexandr Rybak hát bài này tuyệt hay:


NguyenAnh 01-08-2012 08:49

Витас Звезда
 
Витас - Звезда



Nguyên Hùng dịch:

Nhiều lần ta tự hỏi mình:
Ta sinh rồi lớn là giành cho ai?
Cho ai mây lượn, mưa rơi?
Ta chờ gì nhỉ giữa đời hôm nay?
Cánh đâu mà đến với mây?
Sức đâu với, dẫu sao ngay trên đầu?

(Điệp khúc:
Ta chờ… và sẽ không lâu
Lên đường cùng với một bầu ước mơ
Sao ơi, sao hãy đợi chờ
Soi niềm hy vọng bất ngờ trong ta!)

Còn bao đường đất phải qua?
Bao nhiêu đỉnh núi chặn ta trên đời?
Bao lần lên được lại rơi?
Bao lần ta phải về nơi ban đầu?
Bao lần tự vấn không đâu:
Vả chăng “cố đấm chịu đau” là mình?

NguyenAnh 03-08-2012 22:26

Rozhdestvensky Robert
 
Rozhdestvensky Robert
NGƯỜI LỮ HÀNH BỊ BẮT CÓC

(Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ)
NGUYÊN HÙNG
(theo các tài liệu về văn học Nga)

Thân thế và tác phẩm Rozhdestvensky Robert

Rozhdestvensky Robert sinh ngày 20 tháng 6 năm 1932 tại làng Kosikha thuộc vùng Altai trong một gia đình quân nhân: bố là sĩ quan, mẹ là bác sỹ quân y. Từ năm lên chín, Robert đã phải sống trong trại trẻ vì cả bố và mẹ đều ra mặt trận. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh vào học Đại học tổng hợp Petrozavod và bắt đầu làm thơ với những bài thơ đầu tay được in vào năm 1950. Rời trường đại học tổng hợp, Robert trở thành sinh viên Trường viết văn Gorki và tốt nghiệp trường này vào năm 1956.

Từ khi còn là sinh viên trong trường đại học, Robert đã cho công bố các tập thơ “Những ngọn cờ của mùa xuân” (1955), “Thử thách” (1956) và cả trường ca “Tình yêu của tôi” (1955). Sau đó, các tập thơ khác lần lượt theo nhau được xuất bản: “Con đường phiêu dạt” (1959), “Gửi bạn đồng niên” (1962), “Những hòn đảo hoang” (1962), “Phạm vi ảnh hưởng” (1965), “Dâng hiến” (1970), “Hai mươi năm” (1973)…

Rozhdestvensky Robert thu hút được sự chú ý của nhiều tờ báo và nhà xuất bản bởi thơ ông mang đậm bản sắc dân tộc và tính nhân văn. Thơ ông cũng được chính ông phổ nhạc và để lại nhiều bài hát nổi tiếng: “Hãy là như thế”, “Bài ca những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt”, “Bầu trời bao la”, v.v…

Năm 1971, Rozhdestvensky Robert cho ra mắt tập tùy bút “Và trái đất không có tận cùng”.

Năm 1980, một loạt các tuyển thơ và trường ca của ông được xuất bản: “Tiếng nói thành phố”, “Bảy trường ca”, “Lựa chọn”, “Thơ, ballat, ca khúc”, “Cho những người bạn”…

Vào những năm 199x, nhà thơ tiếp tục công bố các tập thơ “Thao thức” (1991), “Giao điểm” (1992), “Tư duy Aliosa” (thơ giành cho thiếu nhi, 1991).

Rozhdestvensky Robert mất ngày 20 tháng 8 năm 1994. Tập “Những bài thơ cuối cùng của Robert Rozhdestvensky” đã được in sau đó.

Con người Rozhdestvensky Robert

Rozhdestvensky là nhà thơ Nga cùng thế hệ với Voznesensky và Evtushenko; họ là ba nhà thơ có tên tuổi ở Liên Xô lúc đương thời. Và mặc dù rất khác nhau cả về thơ ca và con người, từ những năm 195x ba nhà thơ này đã trở thành những người bạn khá thân thiết. Theo cách nói của Voznesensky, họ “như ba người lữ hành đi trên những con đường hoàn toàn khác nhau, bị bọn cướp bắt được nơi giao lộ rồi trói chung vào một gốc cây”.

Nếu như Evtushenko luôn thích được mọi người chú ý thì Rozhdestvensky lại muốn tránh tất cả mọi người để làm việc. Trong khi Voznesensky cùng với Evtushenko luôn tỏ ra thi đua với nhau xem ai là thi sĩ số một thì Rozhdestvensky lại trăn trở trước những bản thảo thơ của bạn bè và coi việc xuất bản thơ cho người khác là niềm vui.

Rozhdestvensky là người có tư tưởng tự do dân chủ và không e ngại thể hiện điều đó. Ngay từ những năm Stalin cầm quyền, ông đã tìm đọc và thuộc nhiều thơ cấm của B. Kornilov, P. Vaxiliev. Năm 1986, tại diễn đàn đại hội nhà văn ở Kremli, cùng với Voznesensky và Evtushenko, ông đã đứng lên yêu cầu dân chủ, dỡ bỏ chế độ kiểm duyệt, làm ấm lại niềm tin đang bị đóng băng trong giới viết văn. Rozhdestvensky cũng là người chủ trương viết thư cho Gorbachev vào năm 1990 với yêu cầu nhà nước phải lên án mạnh mẽ chủ nghĩa bài Do Thái.

Rozhdestvensky đồng thời cũng là một người yêu trẻ. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã giành nhiều tình cảm cho lứa tuổi trẻ thơ. Mảng thơ giành cho thiếu nhi của ông được Evtushenko đánh giá là “rất hấp dẫn và dễ thương”.

Rozhdestvensky Robert qua đời để lại niềm tự hào cho người vợ và hai cô con gái. Vợ ông, bà Alla Kireeva, nhà phê bình văn học, người từng là bạn học của nhà thơ tại Trường viết văn Gorki. Mỗi lần nhớ về chồng, Alla thường nói rằng những người như Robert bà sẽ không bao giờ gặp nữa, và sau khi ông mất đi bà cố không nghĩ về những tháng năm hạnh phúc, bởi sợ rằng nó sẽ làm vô vị mất phần đời còn lại của bà. Cô con gái lớn Ecaterina Rozhdestvenskaya là nhà báo, được đánh giá là viết rất hay về các đề tài điện ảnh và văn học. Nhưng cô luôn dùng bút danh dưới những bài viết của mình vì sợ rằng chúng chưa tương xứng với tên tuổi của người bố.

Một số bản dịch thơ Rozhdestvensky Robert

Thơ Rozhdestvensky Robert có thể còn xa lạ với nhiều độc giả Việt Nam, bởi các nhà thơ Nga thế hệ ông hầu như rất ít được dịch và phổ biến ở nước ta. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu sau đây một số thơ Rozhdestvensky qua các bản dịch của Nguyên Hùng, Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà.

1. Bé nhỏ

Nơi trái đất đáng thương bé nhỏ
Có một người nhỏ bé sống qua
Bằng việc làm bé nhỏ gọi là
Chiếc cặp bé cùng tiền lương bé nhỏ…
Một buổi sáng đẹp trời, bỗng ùa vào trước cửa
Cuộc chiến tranh, dường như chỉ nhỏ thôi
Anh được trao tiểu liên nhỏ bên người
Được phát ủng vừa đôi chân bé nhỏ
Chiếc áo choàng cho anh cùng cỡ
Chiếc mũ sắt đội đầu nhỏ bé như anh.

…Nhưng khi anh ngã xuống,
..........................dù dáng nằm không đẹp
Tiếng thét “xung phong” làm méo miệng dễ thương
Thì cả trái đất này không đủ đá hoa cương
Để tạc trọn dáng hình anh bé nhỏ.


(Nguyên Hùng dịch)
1.
На Земле безжалостно маленькой
жил да был человек маленький.
У него была служба маленькая.
И маленький очень портфель.
Получал он зарплату маленькую...
И однажды — прекрасным утром —
постучалась к нему в окошко
небольшая, казалось, война...
Автомат ему выдали маленький.
Сапоги ему выдали маленькие.
Каску выдали маленькую
и маленькую — по размерам — шинель.

...А когда он упал — некрасиво, неправильно,
в атакующем крике вывернув рот,
то на всей земле не хватило мрамора,
чтобы вырубить парня в полный рост!

2.
Giá được đến bên em, để thêm một lần
Được đơn giản lắng nghe giọng nói
Để được ngồi trên ghế, lưng hơi cúi
Và để không cần nói một lời .

Giá được đến nhà em, và gõ cửa
Và thót tim chờ đợi tiếng trả lời
Và nếu như em biết điều đó nhỉ
Thì có lẽ là em chẳng tin tôi .

Thì tất nhiên em sẽ cười khanh khách
Em sẽ nói rằng "Ồ, ngốc nghếch, nực cười ..."
Em sẽ nói "Anh cũng yêu cơ đấy!"
Và sẽ nhìn rất đỗi ngạc nhiên .

Và em sẽ chẳng ngồi yên một chỗ
Tiếng cười sẽ vang lanh lảnh thành sông
Thôi cũng được. Cứ cười đi em nhé.
Em là thế nên anh mới phải lòng.


(Lưu Hải Hà dịch)
2.
Приходить к тебе, чтоб снова
просто вслушиваться в голос;
и сидеть на стуле, сгорбясь,
и не говорить ни слова.

Приходить, стучаться в двери,
замирая, ждать ответа...
Если ты узнаешь это,
то, наверно, не поверишь,

то, конечно, захохочешь,
скажешь: «Это ж глупо очень...»
Скажешь: «Тоже мне - влюблённый!» -
и посмотришь удивлённо,

и не усидишь на месте.
Будет смех звенеть рекою...
Ну и ладно. Ну и смейся.
Я люблю тебя такою.

3.
Em ạ, em hãy là phái yếu
Anh xin em yếu đuối một chút thôi
Để anh có thể tặng em
Giản đơn điều kỳ diệu trên đời.

Và khi đó anh sẽ vươn vai
Rùng mình, trở thành người đặc biệt
Để nâng em đang say ngủ trên tay
Mang khỏi ngôi nhà đang cháy.

Anh sẽ dám làm điều rồ dại nhất
Mọi điều chưa ai ngờ đến bao giờ
Nhảy xuống biển, dù bão dông gầm thét,
Cứu em, và mang đi...!

Anh làm theo mệnh lệnh của trái tim
Trái tim ra lệnh cho anh
Nhưng sao em mạnh hơn anh thế?
Mạnh hơn và thừa tự tin!

Cứu mọi người khỏi những nỗi buồn
Em luôn đầy sức lực
Em chẳng hề sợ bão tuyết gào
Và ngọn lửa rít trong giận dữ.

Em không thể bị lạc, không thể bị chìm
Em không chất chứa trong tim điều dữ
Em không khóc và cũng không than thở
Bởi em muốn thế mà.

Nếu muốn, em có thể dịu hiền và bay bổng.
Bên một cô gái tự tin đến thế
Anh thấy mình bỗng như thừa.
Em ơi, anh xin em, hãy cố
Yếu mềm đi, dù chỉ một phút giây.
Giúp anh nhé, anh lấy lại sự tự tin
Trong khoảnh khắc em vờ yếu đuối


(Quỳnh Hương dịch)
3.
Будь, пожалуйста, послабее.
Будь, пожалуйста.
И тогда подарю тебе я
чудо запросто.

И тогда я вымахну - вырасту,
стану особенным.
Из горящего дома вынесу
тебя, сонную.

Я решусь на всё неизвестное,
на всё безрассудное -
в море брошусь, густое, зловещее,
и спасу тебя!..

Это будет сердцем велено мне,
сердцем велено...
Но ведь ты же сильнее меня,
сильней и уверенней!

Ты сама готова спасти других
от уныния тяжкого,
ты сама не боишься ни свиста пурги,
ни огня хрустящего.

Не заблудишься, не утонешь,
зла не накопишь,
Не заплачешь и не застонешь,
если захочешь.

Станешь плавной и станешь ветреной,
если захочешь...
Мне с тобою - такой уверенной -
трудно очень.

Хоть нарочно, хоть на мгновенье -
я прошу, робея, -
помоги мне в себя поверить,
стань слабее.

NguyenAnh 19-10-2012 06:01

Nhân dịp ngày Phụ Nữ Việt Nam 20-10:

PHÁI ĐẸP DỊCH THƠ “PHÁI YẾU”


NGUYÊN HÙNG

Trong loạt bài đã đăng ở thư mục “Gương mặt nhà thơ”, chúng tôi đã có dịp giới thiệu một số gương mặt thi ca Nga và các tác phẩm thơ của họ qua bản dịch của các thành viên NNN. Đó là thơ của Anna Akhmatova, Olga Bergol, Raxul Gamzatov, Boris Pasternak, Andrei Voznesensky, Robert Rozhdevensky, Nikolay Rubtsov, Marina Xvetaeva, Veronika Tushnova…

Qua đó, có thể nhận thấy rằng, các nữ thi sỹ Nga giữ một vị trí rất đáng kể trong lòng độc giả yêu thơ Việt Nam nói chung và các thành viên http://www.nuocnga.net (NNN) nói riêng. Và cũng có thể dễ dàng nhận thấy rằng, về khả năng chuyển tải thơ Nga ra tiếng Việt thì phái yếu của NNN cũng tỏ ra là một lực lượng hùng hậu bao gồm những dịch giả có vốn tiếng Nga thật phong phú như Quỳnh Hương, Thu Hương, Lưu Hải Hà, Bạch Dương…

Và điều đáng nói, các bản dịch của NNN thường được thực hiện trong “chớp nhoáng”, nhưng chất lượng không hề tồi. “Tam ca 3H” Quỳnh Hương, Hải Hà, Thu Hương vốn tự nhận là “trường phái dịch thơ 5 phút”, “thơ dịch mì ăn liền”, nhưng trên thực tế các bản dịch thơ do họ thực hiện đều lột tả được sắc thái tình cảm đầy nữ tính của bài thơ gốc. Chúng ta thử lướt qua một số đoạn trong các bản dịch để cảm nhận sự tinh tế của họ nhé:

Không, em nào có yêu anh
Lửa tình yêu em tự đốt cháy mình
Nói với em đi, sức mạnh nào ẩn giấu
Trong cái tên đượm buồn của anh
(Anna Akhmatova, Lửa tình yêu - Quỳnh Hương dịch)

Lạnh hẫng trong tim bất lực,
Nhưng chân đi vẫn nhẹ nhàng.
Găng trái xỏ vào tay phải
Tôi lần mấy bậc thềm hiên.
….
Đấy khúc hò hẹn cuối cùng.
Tôi ngoái trông căn nhà tối.
Ánh nến buồng ngủ bập bùng
Vàng vọt, hững hờ, trơ trọi.
(Anna Akhmatova, Khúc ca cuộc hẹn hò cuối cùng - Thu Hương dịch)

Lòng em cay đắng thẫn thờ
Chìa tay đêm vắng mơ bờ vai ai
Cách ngăn một dải sông dài
Chia tình hai ngả đời ai héo mòn
Nhưng lòng hy vọng vẫn còn
Em mong anh liếc nhìn em lạnh lùng
Dù sao em vẫn đinh ninh
Sông kia chảy ngược để mình bên nhau.
(Veronika Tushnova, Không đề - Thu Hương dịch)

Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mỗi tối
(Marina Xvetaeva - Lưu Hải Hà dịch)

Nhân dịp Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20-10, chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số bài thơ của các nữ sỹ Nga qua các bản dịch của họ, những người đẹp của NuocNga.net.

Gọi mưa

Bạn yêu quý, người đi xa hơn biển
Hoa hồng đây, xin bạn hãy chìa tay
Bạn yêu quý người đem đi vĩnh viễn
Điều mà tôi quý nhất đời này
Khiến bây giờ tôi như bị lừa gạt
Chằng còn thư, nhẫn kỷ niệm nữa rồi
Sao tôi nhớ vết lõm kia nhỏ xíu
Của khuôn mặt kia – ngạc nhiên mãi trọn đời

Tôi gọi mưa. Tôi gọi cơn mưa.
Anh chẳng quay về, cũng không đến nữa
Chỉ có hoa hồng trong lọ đang tàn úa
Mấy ngày rồi tôi chẳng tưới cho hoa.
Tôi gọi mưa, gọi trận mưa hôm qua.
Nhưng sao hoa vẫn run như sắp chết
Hoa đã chết rồi, đã chết được mấy ngày…

Sao tôi nhớ hoài ánh mắt như cầu khấn
Ánh mắt đăm đăm mong tôi đến ngồi cùng
Và nụ cười từ Chốn Xa Xăm
Lời khen nịnh đầm của người hấp hối
Bạn yêu quý đã đi xa vĩnh viễn
Một nấm mồ tươi giữa những nấm mồ
Giờ neo cắm thiên đường, hãy cầu nguyện cho tôi
Để không còn những thủy thủ khác nữa bạn ơi

(Marina Xvetaeva, Lưu Hải Hà dịch)

Trăng gọi kẻ mộng du

Vỗ cánh bay lên rồi dừng lại.
Trên kia là cao vời.
Đừng tỉnh lại
Vào phút giây mê man cuối.

Kẻ mộng du và các thiên tài
Không có bạn đâu.
Đừng sáng ra
Vào phút giây bừng tỉnh cuối.

Trăng thành mắt ngươi rồi.
Mắt những mái nhà như mắt cú
Trăng sẽ gọi ngươi bằng tên thân mật.
Nhưng đừng để lọt tai.

Trăng thành tâm hồn ngươi – chúa tể của bầu trời
Mở cửa đón ngươi.
Đừng ngần ngại
Vào phút giây hoà mình với trời cao.

(Marina Xvetaeva, Quỳnh Hương dịch)

Trái tim này chẳng níu trái tim ai

Trái tim này chẳng níu trái tim ai
Nếu có muốn cứ ra đi anh nhé.
Hạnh phúc tràn đầy dang tay lướt nhẹ
Ôm kẻ tự do trên bước đường đời.

Em không khóc, cũng chẳng hề trách móc
Cho phận mình tủi nhục bấy lâu nay.
Đừng hôn em - em mệt mỏi thế này
Chả khác gì anh hôn vào cái chết.

Ngày tháng qua đi đớn đau đan kết
Vây bên em trắng lạnh xác mùa đông.
Vì sao anh - em thổn thức trong lòng
Người em chọn cứ thua hoài anh mãi…

(Anna Akhmatova, Bạch Dương dịch)

Hè muộn

Có một mùa trong thiên nhiên đẹp lắm
Nắng chẳng chói chang, nóng vẫn dịu dàng.
Mùa hè muộn trước khi thu đến đấy
Cả đất trời lộng lẫy khác gì xuân.

Nếp mạng nhện mờ khẽ giăng ngang
Trên gương mặt, nhẹ thôi, rất nhẹ...
Lảnh lót những con chim chưa tránh rét
Những bồn hoa vẫn cháy rực lo âu!

Mưa mùa hạ hết rơi đã từ lâu
Cánh đồng thẫm đen lặng lẽ nhận hết rồi...
Một cái nhìn đem hạnh phúc đến trong đời
Em ít ghen hơn, nhưng ghen đắng cay hơn.

Mùa hè muộn trong đời người phụ nữ
Ta đón nhận người, nhưng ta hỏi một câu
Tình yêu ơi, anh ở đâu, ở đâu?
Rừng im tiếng, những vì sao cũng vậy...

Anh thấy đấy - mùa sao rơi qua mất
Đã đến lúc mình vĩnh viễn chia tay...
Mà sao em dại khờ, giờ mới hiểu
Cách yêu thương, giận hờn, tha thứ, chia ly...

(Olga Berggol, Quỳnh Hương dịch)

Không đề

Anh có biết chăng
Thế nào là đau khổ?
Khi dây thòng lọng
Xiết dần trên cổ?
Khi trong tim, đắng cay
Thành bờ tích tụ,
Khi chẳng thể nào
Rên rỉ, khóc than?
Cầu Trời đừng ai thấy
Cặp mắt đỏ hoe
Làn da mờ đục,
Đừng ai thấy em - mỏi mòn,
Đau yếu - già nua...
Anh có khi nào
Nếm mùi đau khổ hay chưa?

Vượt qua khổ đau
Không khác gì bơi qua biển cả
Trải qua khổ đau
Cũng sánh ngang lết qua hoang mạc mênh mông.
Thế nhưng người đời
nói về nó với ngôn từ sáo rỗng:
"Hắn bỏ ả rồi, biết không..."

Còn em không có anh
Như thuyền không mái chèo,
Như chim cụt cánh,
Như cỏ cây lìa gốc...
Biết chăng anh thế nào là đau khổ?
Em vẫn còn chưa kể hết anh nghe,-
Anh đâu biết em đã thế nào
Khi lang thang qua những nhà ga?
Khi thẫn thờ đọc giờ tàu đến,
Khi ngóng trông từng chuyến tàu trong đêm lạnh
Khi khấn thầm trước mỗi trạm thư
Như cầu mong phép mầu-
Từ nơi kia, từ nơi anh -
Dẫu chỉ một dòng thôi
Dẫu chỉ một lời thôi
Sẽ đến...

(Veronika Tushnova, Thu Hương dịch)


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 17:59.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.