![]() |
Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1941
Tóm tắt sơ lược năm 1941 Hitle bắt đầu xâm chiếm nước Nga. Nước Anh tiếp tục thất thủ tại Greece và Crete, nhưng họ cũng đã chiến thắng trong các cuộc chống trả quân Italia tại Libya cho mãi đến khi lính Đức đến họ mới tạm thu binh. Đến cuối năm, khối liên minh (Đức, Ý, Nhật) mở các cuộc tấn công dữ dội, vào thời gian này nước Mỹ bắt đầu tham chiến. Chiến tranh lại càng dữ dội khi quân Nhật tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu cảng. Cùng thời gian Nhật bản tấn công các nước Đông Nam Á như Guam, Wake, Philippines, Singapore và rất nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Quân đồng minh đã không chuẩn bị được nhiều tinh thần để đối kháng, bao gồm cả việc đánh giá quá thấp đối với quân đội Nhật Bản thời bấy giờ, Chiến tranh Trung-Nhật đã mở rộng trên khắp đất nước Trung Hoa cùng với chiến sự trên khắp thế giới. |
Đức tấn công nước Nga 22/6/1941-12/1941 Phần một Trước khi xâm chiếm Balan, Đức đã ký kết một bản hiệp ước ( Nga - Đức không gây hấn. Đóng chặt đường biên giới phía đông Đức. Hạn chế thông thương hầu như trên lãnh thổ Nga). Nhưng mọi người nhận thấy rằng nó chỉ là vấn đề thời gian. Trên ý thức, cả hai quốc gia đều không kiêng sợ lẫn nhau. Một trong các kế hoạch bá chủ của Đức quốc xã là tập trung cao độ cho việc xâm chiếm Liên Xô. Ngày 21/7, một tháng sau khi Pháp thua trận, Hitler triệu tập thống soái Walther von Brauchitsch và chỉ đạo cho ông này lập một kế hoạch tấn công Liên Xô Sự bất hòa giữa hai bên khởi đầu trong thời gian Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov sang thăm Berlin vào ngày 12-13/11/1940. Khi đó Molotov nhắc nhở Đức nên có một khoảng cách đối với Phần Lan như đã cam kết trong hiệp ước. Hitler xoa dịu rằng, ông ta đang có hướng quan tâm đến châu Á còn tại châu Âu hiện chưa có ý định. Thế nhưng trong khi đó, bộ chỉ huy tối cao Đức đang triển khai các kế hoạch cho một mưu đồ xâm lược. Ban đầu được gọi là kế hoạch Fritz sau mang tên Directive 21, nhưng Hitler lại có ý đồ tấn công nước Nga từ trước nên đã ra chỉ thị đổi tên thành Chiến dịch Barbarossa. Kế hoạch hành động đã được thông qua vào tháng 1/1941 Trong kế hoạch đã được ấn định là “Chiến dịch 10 tuần” sẽ bắt đầu vào ngày 15/5/1941. Nhưng do các sự kiện đã xảy ra dồn dập trên các mặt trận khác làm thay đổi toàn bộ các toan tính đã chuẩn bị của Đức: Trong tháng hai Afrika Korps (Đội quân Phi châu của Đức) đổ bộ vào Bắc Phi, Nam Tư được cho là một nước liên minh thân cận nhưng cũng đã từ chối các sự giúp đỡ của Đức sau nữa là quân đội Ý cần sự giúp đỡ để chinh phục Hy Lạp. Do vậy cuộc tấn công nước Nga bị lùi lại 5 tuần sau và nó bắt đầu vào ngày 22/6/1941. Sự việc này đích thân đại nguyên soái Josef Stalin đã được báo trước do các tin tức tình báo Nga cung cấp. Mặt khác, sự tăng cường lực lượng của Đức tại Balan ngay sát đường biên giới với Liên Xô là rất hiển nhiên, thậm trí cả nước Anh cũng đã cảnh báo nhưng Stalin vẫn chưa cho quân đội chuẩn bị các phương án phòng thủ. Tổng chỉ huy không lực Hermann Goering và ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop đã cố gắng thuyết phục Hitler rằng; Tấn công nước Nga là một sự lựa trọn sáng suốt. Goering cho rằng không quân của Y có thể sẽ tấn công cả Anh và Nga trong cùng một thời điểm, Ribbentrop thì nhận định: bản hòa hiệp giữa Nga và Đức đã đến hồi kết. Các lực lượng vũ trang (Wehrmacht) được huy động dốc toàn lực để hành quân tiến thẳng đến Moscow Bộ chỉ huy tối cao mặt trận phía Đông của Đức - Oberkommando des Heeres (OKH,) huy động toàn bộ lực lượng tinh nhuệ nhất để tập trung tấn công Liên Xô. 148 sư đoàn (114 sư đoàn bộ binh, 15 sư đoàn lính mô tô, 19 sư đoàn thiết giáp), 67.000 binh lính Đức đang đồn trú tại Norway, 500.000 tại Phần Lan và 150.000 tân binh Rumani tham chiến. Tổng cộng 3.050.000 binh lính, 7184 khẩu pháo, 3.350 xe tăng, 2.770 máy bay. 600.000 ôtô và 625.000 kỵ binh chia làm ba hướng tiến vào Liên Xô. Mũi thứ nhất do thống chế tập đoàn quân phía bắc của Đức Wilhelm von Leeb dẫn quân xuyên qua lãnh thổ Phần Lan và Balan tấn công các nước vùng Baltic và Leningrad. Mũi thứ hai do thống chế tập đoàn quân chính diện Fedor von Bock chỉ huy lực lượng từ Balan và đông Phổ tiến vào Minsk và Smolesk. Mũi thứ ba do thống chế tập đoàn quân phía nam Gerd von Rundstedt xuất phát từ Tiệp Khắc tiến đánh Ukraine và dãy núi Caucasus. Cuộc đánh chặn địch của Hồng quân Liên Xô vào sáng ngày 22/6/1941 có phản ứng rất chậm trễ, kết quả hàng trăm xe tăng bị loại khỏi vòng chiến, không quân vẫn chưa phát huy được thực lực của mình. Chỉ với 7 sư đoàn, Hồng quân Liên Xô đã phải chống chọi với cả tập đoàn quân phía bắc của Đức, do tương quan lực lượng quá mỏng nên đành phải thất thủ tại Phần Lan, không bao lâu sau các nước vùng Baltic cũng bị rơi vào tay địch. Ngày 1/7 tập đoàn quân phía bắc của Đức đoạt được sông Dvina. Ỏ hướng khác, Tập đoàn quân chính diện Đức đã tiến đến quanh bờ bắc của vùng đầm lầy Pripet và bao vây Bialystok sau đó tiến đánh Minsk vào tuần kế tiếp, trong đợt này có 290.000 binh sĩ bị bắt làm tù binh. Tập đoàn quân phía nam của Đức cũng đang tiến vào Kiev bất chấp những cơn mưa dữ dội đang hoành hành. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-30.jpg Quân Đức xâm chiếm Liên Xô http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2-26.jpg 22-06-1941 máy bay Đức đang trên đường đi đánh bom các thành phố của Liên Xô| http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/3-24.jpg "Tấn công!!!" Hồng quân Liên Xô trong trận đánh gần Varoshilovgrad, Ukraine 1941 http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/4-22.jpg Hồng quân Liên Xô đang phản công dưới làn mưa đạn http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/5-20.jpg Hồng quân Liên Xô, mùa hè 1941 |
Đức tấn công nước Nga 22/6/1941-12/1941 Phần hai Stalin rất sững sờ trước sự phản ước của Hitler và không kịp phản ứng trước sự tấn công bất ngờ của đối phương, do vậy Hồng quân tuy đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng không thể tránh khỏi những tổn thất. Có rất nhiều chiến sỹ đã bị bắt làm tù binh Oberkommando des Heeres tin rằng người Nga khó có thể chịu được mức độ thương vong này. 3/7 đại tá Đức - Franz Halder thông báo rằng: Quân Đức chỉ chạm trán với sự kháng cự yếu ớt tại Dnieper và trên sông Dvina. Hitler kết luận: Người Nga sẽ thất bại trong cuộc chiến này Trong khi quân Đức tiến được 20 dặm mỗi ngày, Hồng quân cũng đã bắt đầu dần chỉnh đốn lại quân đội. Ngày 30/6 Stalin tự bổ nhiệm làm lãnh đạo Ủy ban phòng vệ quốc gia, đảm đương tất cả cán sự, quân đội và nền kinh tế trong nước. Ngày 10/7 nước Nga cơ cấu lại lực lượng và chỉ định thành ba đội quân chính: Tây bắc, Tây, Tây nam. Ngày 3/7/1941, Stalin đọc diễn văn trước toàn thể công chúng nước Nga. Ông rất hoan nghênh sự trợ giúp từ các nước phương Tây và kêu gọi toàn thể người dân nước Nga hãy đứng lên chiến đấu chống lại cuộc xâm lược của kẻ thù. Trong suốt tháng bảy và tháng tám, quân Đức liên tục tiến công. Tập đoàn quân phía bắc có kế hoạch sẽ đánh chiếm Leningrad vào ngày 10/8. Tập đoàn quân chính diện, sau khi bắt giữ 138.000 tù binh trong một tuần, đã quyết định loại ra hai đội thiết giáp để trở về tiếp tục duy trang. Tập đoàn quân phía nam đã phá vỡ 20 sư đoàn của Hồng quân Liên xô cũng đang cố thoát khỏi Dnieper. Ngày 25/8 hai tập đoàn quân Đức đã bao vây 665.000 binh sĩ Hồng quân tại 150 dặm đông Kiev. Quân Phần Lan đánh chiếm lại đường biên 1940 trong ngày 31/8, trong đó có 30 dặm của thành phố Leningrad. Ngày 8/9 Leningrad bị chia cắt. Hitler điều toàn bộ xe bọc thép phía nam của tập đoàn quân phía bắc tiến thẳng đến Moscow. Quân Đức rất sửng sốt trước sự trang bị khí tài của Hồng quân Liên Xô, đặc biệt là loại xe tăng T-34. Các loại tăng của Đức được trang bị các loại pháo 37 – 50 ly khó có thể làm sứt mẻ được mui bọc thép của tăng T-34. Được trang bị pháo 105 ly, T-34 gây không ít khó khăn và đã chặn đứng các cuộc tấn công của xe tăng Đức. Sau đó, Đức cũng cho lắp đặt loại pháo 75 ly chiếm được của Nga lên thiết giáp (pzkpfw I) Ngày 8/9 Hitler kiên quyết tập trung toàn bộ lực lượng tiến đánh Moscow. Các tướng lĩnh của Y cho rằng, Liên Xô sẽ huy động toàn bộ lực lượng để bảo vệ Moscow và ở đây cũng sẽ xảy ra một trận chiến quyết định. Binh lính của tập đoàn quân chính diện Đức dừng lại 6 tuần để chỉnh đốn đội hình. Một đội quân tinh nhuệ của Đức, trong hai tuần đã tiến hành ba cuộc vây ráp lớn gần Bryansk và Vyazma. Trong các trận chiến này có 163.000 tù binh bị bắt giữ. Kết thúc giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phía đông này. Hồng quân Liên Xô bị tổn thất khoảng 3.000.000 người chết và hơn một triệu người bị bắt giữ. http://worldwar2database.com. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/6-18.jpg Hồng quân phản công http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/7-16.jpg Trận đánh gần Moscow 1941. Cuộc phản công thắng lợi đầu tiên của Hồng quân Liên Xô http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/8-17.jpg Đội quân ngụy trang trong mùa đông của Hồng quân Liên xô http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/9-15.jpg Tăng T-34 |
Cuộc chiến bảo vệ thành phố Moscow Cuộc chiến tại Moscow là một thời điểm then chốt trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai WW II. Trong cuộc chiến tại đây, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lui được sự sụp đổ thảm khốc có thể sẽ xảy ra và chứng minh rằng: Đội quân Đức quốc xã trên thực tế vẫ có thể bị đánh bại. Trận đánh tại Moscow có thể chia làm ba giai đoạn chính: Thứ nhất, quân Đức tấn công từ ngày 30/9 đến 30/10/1941. Thứ hai, quân Đức tấn công từ 16/10 đến 5/12/1941. Thứ ba, Hồng quân Liên Xô phản công từ ngày 5/12/1941 đến 5/4/1942. Cuộc tấn công của quân Đức bắt đầu từ ngày 30/9/1941 mang mật danh "Dông tố." – " Typhoon". Bộ tư lệnh tối cao Đức hy vọng sẽ chiếm được thủ phủ của Xô Viết trước mùa đông 1941. Họ dự tính, Moscow thất thủ thì toàn bộ liên bang Xô Viết cũng khó có thể còn đứng vững thêm được nữa. Với mục tiêu đó quân Đức đã dàn trận một lực lượng khổng lồ để tấn công ồ ạt vào thủ đô Xô Viết. Đức tập trung 1.800.000 binh lính, 1.700 xe tăng, 14.000 pháo và súng cối, cùng với 1.390 máy bay tấn công Moscow. Được chỉ huy bởi tướng Đức Heinz Guderain, lực lượng khổng lồ này nhanh chóng nắm bắt được thế trận trước một đội quân mỏng hơn của Xô viết và đẩy lui họ để chiếm giữ được một vài thị trấn gần Moscow ngay trong tuần đầu tiên của chiến dịch. Ngày 15/10 quân Đức phá vỡ tuyến phòng thủ của quân đội Xô Viết và chiếm giữ các thị trấn trọng yếu của các thành phổ Kaluga và Mozhaisk phía tây nam Moscow. Với những trận thắng liên tiếp và nhanh chóng chiếm giữ các vùng ngoại ô của quân Đức, người dân đã sinh ra rất hoang mang trong thành phố Moscow, họ sợ rằng quân Đức sẽ sớm chiếm giữ được thủ đô nên đã bắt đầu sơ tán về hướng đông. Trong vài ngày, nhà đương cục địa phương hoàn toàn sụp đổ và Moscow xem ra gần như hỗn loạn và đang bấp bênh bên bờ vực thẳm. Tuy nhiên , có một vài yếu tố đã tác động làm chậm sự tiến công của Đức. Đầu tiên là, quân đội Đức đã tiến nhanh hơn cả sự tiếp tế. Thứ hai, Josef V. Stalin và bộ chỉ huy tối cao Xô Viết bổ nhiệm tướng Georgy Zhukov làm tổng chỉ huy mặt trận phía Tây, ông đã ổn định và củng cố vững chắc được vành đai phòng thủ quanh Leningrad và đang tiến hành tạo dựng một vành đai tương tự để bảo vệ Moscow, Hồng quân cũng bắt đầu củng cố mạnh mẽ lực lượng cho phòng vệ thủ đô. Thứ ba, tuyến tiếp viện của Đức bị Hồng quân Liên Xô cản phá dữ dội trên đường từ Viễn Đông vận chuyển quân lương đến Moscow. Đến khi hàng tiếp tế của quân Đức được chuyển đến, thì cũng là lúc chỉ huy phòng vệ thành phổ Moscow đã yêu cầu người dân tổ chức thành những đội du kích hoặc vệ quốc quân để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô. Những đội quân này được nhanh chóng đào tạo cơ bản và họ đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến bảo vệ thành phố Moscow. Trong một lần hàng tiếp viện được tập kết, quân Đức lại tiếp tục một cuộc tấn công mới vào hạ tuần tháng 11. Lúc đầu quân Đức cũng đạt được một vài trận thắng tại các khu vực phía tây bắc thành phố Klin và Istra và quanh phía nam Tula. Nhưng với sự kiên cường kháng trả của quân đội Xô Viết cùng với sự khắc nghiệt của mùa đông nước Nga đã làm chậm bước tiến của quân Đức và cho phép Xô Viết có đủ thời gian để chấn chỉnh lực lượng thậm trí còn bắt đầu bứt phá để phản công vào đầu tháng 12. Đang trên đà thắng lợi, quân đội Xô Viết đã cố gắng phối hợp tạo thêm nhiều đợt phản công quân Đức vào những ngày 5-6/12/1941. Với mục đích dồn quân Đức lui lại Smolensk, Stalin và Zhukov đã mở rộng chiến trường ra 560 dặm kéo dài từ Kalinin phía bắc Moscow đến nam thành phố Yelets (Еле́ц) với hy vọng trong chiến dịch này sẽ nhanh chóng đạt thắng lợi, được hỗ trợ bởi các lực lượng từ Trung Á, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lui quân Đức từ hai mươi đến bốn mươi dặm, giải phóng Kalinin, Klin, Istra và Yelets, bẻ gãy vòng vây của quân Đức tại Tula. Tại rất nhiều khu vực quân Đức buộc phải nhanh chóng rút lui, do những tiếp viện của Đức càng ngày càng yếu đi và binh lính Đức không chịu được cái khắc nghiệt của mùa đông nước Nga. Cuộc chiến tại Moscow đã mang lại nhiều chân lý quan trọng. Đó là một thất bại đầu tiên của quân Đức từ khởi đầu năm 1939 trong thế chiến thứ hai. Mặc dù trên thực tế, Moscow đã gần ngã gục trong trung tuần tháng 12/1941 nhưng quân đội Xô Viết đã chứng minh rằng: Quân đội Đức không phải là vô địch. Hơn nữa, trong cuộc chiến này cũng đã sản sinh ra rất nhiều sỹ quan Xô Viết, họ là những người đã trở lên lỗi lạc trong những trận đánh bảo vệ thủ đô. Các sỹ quan như: Zhukov, Konstantin Rokossovsky, Ivan Boldin, và Dmitry Lelyshenko, cũng đã chứng tỏ rằng: Họ có năng lực để là những trụ cột chính trong quân đội Xô Viết trong cuộc chiến còn đang trước mặt. Cuối cùng, cuộc chiến bảo vệ thủ đô là một chiến thắng danh dự quan trọng của quân dân Liên Xô và là một ấn tượng khó phai trên các quốc gia Xô Viết của các nước khác trong thế chiến thứ hai www.answers.com http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/10-14.jpg Người dân trên đường phố Moscow đang nghe Radio đọc bản thông báo cuộc chiến bắt đầu http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/11-13.jpg Lính pháo binh Xô Viết http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/12-13.jpg Quân đội Nga đánh trả địch trên trận tuyến tại ngoại ô Moscow 1941 http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/13-10.jpg |
Cuộc đột kích Kalinin 1941
Thiếu tướng A. Vitruk Đó là đợt tuyết đầu tiên của mùa đông gần thành phố Moscow. Dưới một màu trắng xóa tuyết rơi, tầm nhìn của binh sỹ do vậy bị hạn hẹp. Từ trên đường quốc lộ của thành phố Volokolamsk-Kalinin ta không thể nghe được tiếng ồn từ động cơ của ôtô, xe máy và tiếng rít lạo xạo của xích xe bọc thép. Quân Đức chuyển quân đến Kalinin. Chúng tôi nhận được lệnh quyết giao chiến với quân địch. Trên ngoại vi của làng Turinovo, một lữ đoàn đã hạ trại và chuẩn bị chiến đấu. Xe tăng và các phương tiện xe máy bắt đầu tiếp nhiên liệu, các lối mòn được canh gác cẩn trọng hơn, vũ khí đạn dược được chuẩn bị kỹ càng và tăng cường hiệu chỉnh các tính năng kỹ thuật của các loại xe máy. Trung đoàn trưởng, Anh hùng Liên Xô - Thiếu tá Mikhail A. Lukin trải thẳng tấm bản đồ và đánh dấu hai mũi tên trên đó hướng về Kalinin và nói: - Tôi rất có lòng tin vào dân tộc, họ không bao giờ chùn bước, nhưng chúng ta đang gặp những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Xe tăng chỉ có thể tiến trên Volokolamsk và quốc lộ Turginov, không thể cắt ngang vào các con đường khác vì ở những nơi đó toàn rừng rậm và đầm lầy. Do vậy lính Đức sẽ kéo đặc vào những nơi đây. Một lần nữa trung đoàn trưởng lại chìm sâu vào suy nghĩ rồi cương quyết: - Nhưng chúng ta không thể chần chừ thêm được nữa. Lữ đoàn trưởng đã nói đúng. Nếu như chúng ta không đập tan quân Đức tại đây, chúng sẽ tập trung lại lực lượng, đánh bật chúng ta ra khỏi thành phố và tiến đánh thẳng vào Moscow. Tất cả chúng tôi từ binh lính đến chỉ huy đều đã hiểu rõ tình hình trước mắt. Bằng bất kỳ mọi giá, chúng tôi phải đánh để làm suy yếu lực lượng của kẻ thù, ngăn không cho chúng tấn công vào đây, một vị trí rất trọng điểm của toàn mặt trận. Các chiến sỹ xe tăng rất háo hức cho trận đánh. Sáng ngày 17/10. Bầu trời vẫn tối sầm ảm đạm, Tất cả xe tăng của chúng tôi khởi động rời khỏi vị trí, tắt toàn bộ đèn pha, động cơ làm việc ở tốc độ vòng tua nhỏ nhất để giảm thiểu tiếng ồn. Tuy nhiên trên đường quốc lộ đã rất náo nhiệt. Trước tiên, một vài chiếc môtô phóng qua tầm nhìn các quan sát viên của chúng tôi, theo sau chúng là đoàn xe bọc thép xuất hiện, dày đặc những, ôtô, xe kéo theo pháo… chạy trên quốc lộ. Có quá nhiều mục tiêu hấp dẫn! nhưng chúng tôi không thể tấn công chúng do chưa có hiệu lệnh. Cuối cùng thì khẩu lệnh cũng vang lên qua ống nghe trên mũ sắt của chúng tôi: "số ba-số ba-số ba". Tất cả động cơ chạy hết tốc lực. Như kế hoạch, chiếc xe tăng thứ nhất được hộ tống chỉ huy, Anh hùng Liên Xô M.P.Agibalov bên trong chiếc xe tăng thứ nhất bất ngờ xuất hiện trên quốc lộ Volokolamsk bắt đầu ngiền nát và quét pháo vào tất cả các trang thiết bị và binh lính địch. Tăng T-34 tràn vào trận chiến, quét sạch các chướng ngại vật của quân thù trên đường tiến, xạ thủ tiểu liên trên xe tăng xả đạn như mưa vào quân Đức. Trung đoàn tăng của Anh hùng Liên Xô Lukin cũng chiến đấu rất quyết liệt ngay trên quốc lộ Turginov. Cuộc đột kích khởi đầu thắng lợi. làm cho quân Đức thực sự hốt hoảng. Tuy nhiên quân địch đã nhanh chóng tổ chức lại đội hình để phản công. Khi xe tăng của chúng tôi chiếm được làng Pushkino, hàng tá máy bay Đức "Junkers" đã tràn vào đánh bom vào xe tăng Xô Viết, thêm nữa còn có cả pháo binh địch cũng kéo đến khạc đạn điên cuồng. Dù sao thì cuộc chiến cũng đã đến. Lữ trưởng nhìn nhanh qua bản đồ tác chiến. Mục tiêu chính – Kalinin hoàn toàn giữ vững. Nhưng…(ở đây rất nhiều cái"nhưng" trong chiến tranh) số lượng máy bay oanh tạc của Đức càng ngày càng tăng thêm, nó đã làm cho xe tăng của Liên Xô rất khó có thể triển khai trên quốc lộ đến một khu rừng, lần lượt từng chiếc tăng một bị loại khỏi cuộc chiến, bất chấp các khó khăn đó, các biên đội tăng Liên Xô vẫn chiến đấu rất anh dũng. Tám chiếc tăng đã chiếm được ngoại vi Kalinin, một trong số tăng đó được chỉ huy bởi thượng sĩ Gorobets, ngay từ khi bắt đầu cuộc tấn công, xe tăng của anh luôn đi đầu trong tiểu đoàn hộ vệ số 1. Ngay trong khi bom địch bắt đầu dữ dội, Gorobets vẫn không ngừng hối thúc chiến sĩ lái tăng Litovchenko của mình: - Tiến! Tiến lên! Tăng tốc, hãy giữ hết tốc độ! Mũi kim trên đồng hồ tốc độ đạt đến giới hạn 50 và cuối cùng Kalinin đã ló hiện qua kính ngắm xe tăng. Tại thời điểm đó xe tăng của Gorobets đã bắt gặp một đoàn hộ tống Đức, quốc lộ bị tắc ngẽn bởi các hoạt động chậm chạp của xe cộ, môtô… bọn Đức không ngờ được một chiếc tăng Xô Viết đang theo sát chúng. Gorobets đã ra lệnh cho xạ thủ Kolomiets bắn thằng vào giữa đoàn quân địch. Xe cộ bốc cháy rầm rập, bọn Đức tháo chạy toán loạn. - Fedya, tiến lên! Postushin, Kolomiets – Bắn! – người chỉ huy lại ra lệnh. Khi đó, những chiếc xe tăng trong thành phố đã tiến ra quốc lộ Moscow. Tiếp tục các cuộc truy kích dữ dội khác… Không bao lâu sau, sư đoàn bộ binh súng trường số 5 đến đóng trại tại làng Gorodische, Biên đội tăng anh hùng đã được tuyên dương và trao tặng huân chương, và người chỉ huy biên đội – Thượng sĩ Gorobets được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn số một M.P. Agibalov và trung đoàn trưởng M.A. Lukin đã hy sinh trong trận chiến này trên chiếc xe tăng mà các bạn thấy trong hình ảnh phía dưới. http://www.battlefield.ru http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/14-8.jpg Chiếc tăng T-34-57 của M.Lukin bị loại khỏi vòng chiến tại ngoại vi Troyanovo. Hình được chụp vài ngày sau trận chiến |
Cuộc chiến tại Smolensk 10/7-10/9/1941 Trận đánh tại Smolensk là một trận đánh dữ dội của cuộc chiến vây giữa sư đoàn thiết giáp số hai được chỉ huy bởi Heinz Guderian và sư đoàn thiết giáp số ba, chỉ bởi Hermann Hoth thuộc Tập đoàn quân chính diện Đức, bắt đầu một cuộc tấn công vào ngày 10/7/1941 để bao vây các lực lượng của Xô Viết: Lực lượng Mặt trận phía Tây do Timoshenko chỉ huy, lực lượng Mặt trận quân dự bị do Zhukov chỉ huy, lực lượng mặt trận Trung tâm do Kuznetsov chỉ huy và lực lượng mặt trận Bryansk do Yeremenko chỉ huy. Cuối cùng là, lực lượng của các sư đoàn Thứ 16, Thứ19 và sư đoàn Thứ 20 tại phía nam Smolensk, Trận đánh tại Smolensk (10/7-10/9/1941) liên quan tới sự giao tranh dữ dội của quân Đức với Hồng quân Liên Xô tại Smolensk trên chiến trường phía đông trong thế chiến thứ hai. Nhân dân Xô Viết coi đây như: Một cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại. Sau nhiều cuộc giao tranh dữ dội và quyết liệt, Smolensk thất thủ vào ngày 16/7, nhưng Hồng quân đã phản công rất mãnh liệt. Đặc biệt là trận đánh đáng ghi nhớ nhất tại Yelnya, nó cũng là một chiến công đầu tiên của Hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến tranh Xô – Đức, Trận đánh tại Yelnya trải rộng ra 50Km về phía đông Smolensk. Ngày 26/8 lực lượng vũ trang Stavka Xô Viết nhận lệnh của Quân đoàn số 24, chỉ huy bởi thiếu tướng Konstantin Rakutin sẽ bắt đầu phản công quân Đức trong pháo đài tại Yelnya vào ngày 30/8/1941. Ngày 3/9 dưới sự bao vây và công kích dữ dội của Hồng quân, Đức buộc phải rút lui ra khỏi pháo đài. Ngày 6/9/1941 Yelnya được giải phóng, nhưng Hồng quân vẫn tiếp tục tấn công cho đến tận ngày 8/9/1941 và bẻ gãy hàng phòng thủ của quân Đức mới thành lập trên vòng ngoài tại Yelnya. Trận đánh này cực kỳ trọng yếu, nó đảo ngược tình thế làm cho lực lượng vũ trang (Wehrmacht) trở nên thật tồi tệ. 45,000 binh sĩ Đức bị chết, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh trong cuộc phản công này. Thiếu tướng Konstantin Rakutin đã hy sinh trong trận đánh. Hồng quân Liên Xô đã tạm thời bẻ gãy cuộc bao vây của quân Đức và buộc chúng phải rút khỏi Smolensk. Trận đánh dữ dội tại Smolensk đã làm trì hoãn đáng kể tới việc tiến quân thẳng vào Moscow của quân Đức, cũng do đó tuyến phòng thủ phía đông của Hồng quân được củng cố vững chắc hơn nữa, vì vậy đã thực sự đập tan thế tấn công của quân Đức. Theo như báo cáo của quân đội Đức, lực lượng của Liên Xô bị tổn thất trong trận chiến tại Smolensk này khoảng 250.000 người. Gần như toàn bộ thành phố Smolensk bị phá hủy trong khi xảy ra chiến sự. Năm 1985 Smolensk được nhà nước Liên Xô trao tặng danh hiệu Thành phố Anh hùng http://www.answers.com http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/15-8.jpg Trên các đường phố tại Smolensk trong thời gian chiến tranh |
Cuộc chiến tại thành Leningrad 8/9/1941 – 27/1/1944 Là một trung tâm văn hóa thiên niên kỷ của nước Nga và là một thành phố lớn thứ hai trên toàn Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Leningrad là một mục tiêu quan trọng hàng đầu để tấn công trong năm 1941 của tập đoàn quân phía bắc Đức quốc xã. Để bảo vệ thủ phủ cũ của Nga hoàng, thành phố St. Petersburg sau này được gọi là Leningrad. Quân đội Xô Viết đã đứng lên chiến đấu chống lại cuộc tấn công của Phần Lan, đó là một trong những lý do xảy ra cuộc chiến tranh Xô Viết – Phần Lan trong năm 1939-1940. Khi Đức đi xâm lược, họ đã yêu cầu Phần Lan tấn công Leningrad từ hướng bắc. Nằm bên cạnh bờ Hồ Ladoga, Leningrad mang tính chính trị khá quan trọng vì đó là một thành phố mang tên Người đã sáng lập ra cuộc cách mạng nước Nga. Ở đây hơn nữa còn có một lực lượng quân đội Xô Viết rất đáng kể đang chấn giữ để ngăn chặn các cuộc càn quét của quân Đức vòng quanh phía bắc nước Nga và không cho chúng tấn công Moscow từ phía sau. Dân chúng thành Leningrad rất nhanh chóng đào hào chống tăng xung quanh thành phố ngay sau có chiến sự. Có hai trăm ngàn quân Hồng binh Liên Xô chấn giữ để bảo vệ ba triệu người dân thành phố. Trong vòng vài tuần vượt qua đường biên, quân Đức cắt ngang tuyến đường sắt Leningrad-Moscow và tiến thẳng vào thành phố. Cuộc tấn công của quân Đức bị thất bại và các tướng lĩnh Quốc xã phải yêu cầu Hitler cho tiến hành vây hãm thành phố. Ngày 29/9/1941 Hitler đồng ý, hơn nữa Y còn ra lệnh, bắt buộc thành phố phải đầu hàng vì quân Đức sẽ cắt đường tiếp viện lương thực cho dân chúng trong thành phố. Do vậy Đức đã nã pháo và không kích vào Leningrad liên tục trong suốt 872 ngày đêm. Hải quân Xô Viết đã cố gắng di tản những người bị ốm và bị thương ra khỏi thành phố, Nhưng Leningrad vẫn đã trở thành một biểu tượng kinh hoàng nhất của Mặt trận phía đông. Nạn đói đã cướp đi sinh mạng hàng ngàn người và đầy dãy những tử thi nằm rải rác trên các đường phố của Leningrad. Sáu trăm năm ngàn người bị thiệt mạng trong một năm 1942. Mùa đông tàn ác năm 1941-42 đã chặn đứng quân Đức tại phía nam nhưng chỉ làm tăng thêm cho thành phố Leningrad những mất mát đau đớn. Sự tiếp viện đã đến nhưng không thường xuyên cho thành phố Leningrad được bằng xà lan chở qua hồ Ladoga trong mùa hè 1942, mùa đông thì được chuyên chở bằng xe tải trên mặt nước đã đóng băng. Các xe tải tiếp viện thường bị xa xuống các hố bom rất nhiều do các cuộc công kích Stuka và chìm mất bởi băng tan rất nhanh do nhiệt độ vào mùa xuân tăng cao. Hơn 500.000 cư dân được đưa ra khỏi thành phố, nhưng hầu hết dân chúng đã tình nguyện ở lại để bảo vệ thành phố và trong số họ bị thương vong rất nhiều. Mùa hè, tuyết bắt đầu tan nó để lộ ra quá nhiều xác chết trên các đường phố mà cách đây không lâu chính nó đã vùi lấp họ. Sự thiếu ăn đã dịu đi trong năm 1943 do những khu vườn rau được mọi người gieo trồng trên bất kỳ một khu đất trống nào. Thật không ngờ, các sản phẩm thời chiến vẫn tiếp tục sản xuất không ngừng trong các công xưởng bị đóng băng bởi mùa đông khắc nghiệt, gió lạnh vẫn lùa vào xuyên qua các lỗ hổng trên tường hay qua các hố bom trên mái nhà. Tháng một năm 1943, Hồng quân Liên Xô đã tấn công và bẻ gãy vòng vây của quân Đức, nhưng chưa chấm dứt được hoàn toàn. Tuyến đường sắt thông với Moscow được nối lại. Sau đó Hồng quân tổ chức tấn công, đập tan hoàn toàn vòng vây của quân Đức vào tháng 1/1944 và đây là lần đầu tiên hầu như trong toàn bộ 900 ngày đêm, dân chúng thành phố Leningrad được đi trên các đường phố mà không còn phải sợ đến các cuộc không kích nữa. Cuộc bao vây thành phố Leningrad đã gây xúc động cho toàn thể loài người tiến bộ trên thế giới. Dimitri Shostakovitch đã viết bản giao hưởng số bảy của ông mang tên: Bản giao hưởng Leningrag, ngay trong thời gian thành phố bị vây hãm. Leningrad đã trở thành một biểu tượng cho cuộc chiến Xô Viết – Quốc xã và người Mỹ cũng rất đặc biệt đồng cảm với dân cư thành phố Leningrad. Năm 1945, Stalin đã trao tặng huân chương Lê Nin cho thành phố Leningrad và danh hiệu: Thành phố Anh hùng của liên bang Xô Viết, được phong tặng vào năm 1965. Leningrad cho đến nay vẫn còn là một biểu tượng cho tính hung tàn của chủ nghĩa Đế quốc và xâm lăng trên mặt trận phía Đông http://worldwar2database.com. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/16-4.jpg Quân đội Xô Viết hành quân ra mặt trận. Leningrad 1941 http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/17-4.jpg 22/11/1941, bắt đầu các cuộc tiếp viện cho Leningrad bằng xe vận tải trên con đường đóng băng Một số hình ảnh thành Len. trong những ngày bị vây hãm http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/18-3.jpg http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/19-2.jpg http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/20-1.jpg |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 I. Cuộc phòng thủ đảo Hanko (22.06.41-02.12.41) Cuộc phòng thủ trên bán đảo Hanko 22/6/1941-12/1941, là trận chiến do hạm đội Baltic của Xô Viết thực hiện với mục đích để phòng vệ cho vịnh Phần Lan và ngăn chặn sự tấn công vào Leningrad, Một căn cứ lực lượng đồn trú hải quân (27 ngàn binh sĩ), pháo phòng không và chống ven biển (35 khẩu 305 ly). các phi đội (20 máy bay), 7 chiến hạm, 16 tàu phụ trợ. Sau khi Tallin thất thủ, bộ tư lệnh tối cao Xô Viết đã quyết định di chuyển từ ngày 23/10/1941 đến 5/12/1941 toàn bộ 22 ngàn binh sĩ từ bán đảo Hanko và tất cả vũ khí, khí tài đến Leningrad. http://lenbat.narod.ru |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 II. Trận đánh với Phần Lan. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-31.jpg 22/6/1941, khi quân Đức tấn công Liên Xô, Phần Lan tuyên bố trung lập, nhưng Nga vẫn thực hiện các cuộc không kích vào các tàu chiến của Phần Lan. Lãnh thổ của Phần Lan bị ném bom tại căn cứ Hanko và một vài địa điểm trên biên giới Nga - Phần Lan. Trong thời gian này, một số các hoạt động quân sự khác như: quân Đức và tàu chiến Phần Lan đánh thủy lôi vào vịnh Phần Lan, Máy bay Đức không kích xuống đảo Hanko. Bất chấp các sự chuẩn bị của lực lượng quân đội tại Phần Lan. Vào ngày 25/6/1941, 480 máy bay Xô Viết vẫn tiến hành oanh tạc xuống các thành phố và các sân bay của Phần Lan. Quyết định của phiên họp quốc hội vào buổi chiều cùng ngày, các nghị sĩ đã công khai tuyên bố rằng: Liên Xô xẽ bắt đầu triển khai các cuộc tấn công như trong (cuộc chiến Mùa đông), tất cả bang giao quân sự với Đức sẽ bị bãi bỏ. Bắt đầu cuộc chiến, bốn sư đoàn lính Đức đã đổ bộ vào Lapland. Hai sư đoàn hành quân từ phía bắc Norway đến khu vực Petsamo , một từ phía bắc Norway đóng tại Salla và một đổ bộ theo đường biển từ Đức vào Salla. Ngoài ra, sư đoàn 163 chuyển quân bẳng tàu hỏa từ Oslo qua Thụy Điển vào Honko, Với sự gia tăng của lực lượng quân đội Phần Lan lên đến 16 sư đoàn. Ban tham mưu được đặt tại Mikkeli. Tập đoàn quân mạnh nhất của Phần Lan (7sư đoàn) đã xắp sếp thành đội quân "Karelian" tại khu vực Yonsu, Binh lính Đức tại Lapland được chuyển đến Rovaniemi. Quân đoàn 3 Phần Lan ở Kuusamo chuyển dưới quyền chỉ huy của quân đội Đức. Không phụ thuộc vào quân đội Phần Lan, một quân đoàn Đức do tướng Dietl chỉ huy, có nhiệm vụ bắt đầu hành quân đóng giữ tại vùng kinh tế quan trọng Petsamo thuộc lãnh thổ Phần Lan và phòng vệ nó khỏi các cuộc tấn công của nước Nga. Khi đó ông ta cũng chiếm được Murmansk nhưng nó chỉ là một hải cảng của Nga ở Arctic Ocean Đồng thời, sáu sân bay của Phần Lan (Helsinki, To utti, Tikkakoski, Rovaniemi, Kemiyarvi, Petsamo) đã được phi đội không quân số 5 Đức trưng dụng. Các lực lượng hải quân Đức quá rệu rão đành phải quay về căn cứ, còn các lực lượng không quân chỉ kiểm soát trên bầu trời Lapland. Ngày 22/6, Quân đoàn của tướng Đức -Dietl tiến đến biên giới Norway – Phần Lan và chiếm giữ khu vực Pechenga mà không gặp một sự kháng trả nào của quân Nga. Trước khi cuộc đánh chiếm Murmansks bắt đầu, một vài lực lượng của Phần Lan cũng ra tham chiến. Bộ phận quân lực chính của Phần Lan được tổ chức lại thành một sư đoàn. Số còn lại do SS nắm giữ, có nhiệm vụ chiếm giữ Salla và tiến đến Kandalaksha để chia cắt tuyến đường sắt Murmansk. Cả hai quân đoàn Đức đều thuộc về quân đội "Norway" và chịu sự chỉ huy của đại tá tham mưu Von Fal'kengorst. Các lực lượng cơ bản của quân đội Phần Lan tập trung thành hai quân đoàn đóng tại phía đông nam Phần Lan với mục đích quay sang tấn công các vị trí trọng yếu của nước Nga trong mùa xuân 1940, phối hợp tác chiến với quân đoàn phía Bắc của Đức để tiến đánh cả hai mặt trên vùng hồ Ladoga. Quân đội của Đức và Phần Lan bắt đầu hành quân từ lãnh thổ Phần Lan không cùng một thời điểm. Ngày 29/6, quân đoàn súng trường tiến quân rất nhanh từ phía bắc, chỉ sau vài ngày đã đi được 30-40Km. Nhưng khi đó đội quân này đã gặp sự kháng cự rất mạnh mẽ của quân đội Xô Viết và phải chuyến quân qua các vùng lãnh nguyên hoang vắng đầy sỏi đá nên quân Đức đã gần như kiệt sức. Do vậy cuộc tấn công của quân đoàn Dietle buộc phải dừng lại cách khá xa với sông Zapadnaya Litsa. Quân đội Nga trong lúc này đã đổ bộ và tấn công vào phía sau quân địch, Quân đồng minh Anh cũng tham chiến trợ giúp: Các phi cơ của họ bắt đầu cất cánh từ các hàng không mẫu hạm, oanh tạc xuống Petsamo và các điểm trọng yếu chuyên tiếp tế của quân đội Đức tại cảng Kirkenes. Ngày 8/9 quân đoàn của Dietl lại mở một cuộc tấn công mới và tiến đến sông Zapadnaya Litsa, nhưng đến được Murmansk vẫn còn 50 Km đường chim bay. Trận chiến dai dẳng đã nhanh chóng phát triển rộng khắp tất cả các mặt trận, nó đòi hỏi một áp lực tối đa cho các lực lượng tiền duyên, nó không cho phép quân đoàn súng trường của Đức có đủ thời gian để củng cố lại lực lượng. Hơn nữa nó cần có một nguồn tiếp tế to lớn cho quân Đức mới chỉ tại bắc Phần Lan. Với nhiều lý do như vậy Murmansk không bị chiếm đóng trong thời gian chiến tranh. Ngày 1/7/1941 Quân đoàn 36 của Đức( Sư đoàn SS Nord thứ 169 và sư đoàn thứ 6 Phần Lan) bắt đầu tấn công vào khu vực Salla và có ý định đánh phá tuyến đường sắt Murmansk. Quân đoàn 3 cắt ngang biên giới tại Uhtua. Quân đoàn 36 của Đức cũng gặp những trở ngại không nhỏ với sự cố gắng vượt qua trận chiến tại Salla. Quân Đức bắt đầu tấn công tại đây phải triến khai đội hình qua một khu rừng rộng lớn với rất nhiều hồ nước và đầm lầy. Do vậy các khu vực này trở thành một vành đai phòng thủ rất lý tưởng và nó bắt buộc quân Đức cần phải tìm cách tránh né hoặc phải vòng sang hướng khác trong cuộc hành binh, rất không thuận tiện và làm hao tổn rất nhiều thời gian của quân Đức hòng bẻ gãy các cuộc kháng trả của Hồng quân Liên Xô. Sư đoàn SS Nord đã thực hiện một cuộc công kích ngay trên các vị trí của mặt trận Xô Viết tại Salla trong khi đó sư đoàn bộ binh 169 cùng tấn công bên sườn phía bắc của chúng, sư đoàn số 6 Phần Lan đã tiến sâu vào phía sau sư đoàn súng trường số 122 của Xô Viết tại Allakurtti từ sườn phía nam. Ngày 5/7/1941 quân Đức đóng trại tại Salla. Trung đoàn bộ binh số 14 Phần Lan được cử sang trợ giúp. 7/7/1941 quân Đức chiếm giữ Salla và gần như đã kiệt sức. Sư đoàn số 14 đánh chiếm Repola và Omelia, Đức đã điều động sư đoàn SS Nord vào quân đoàn số 36, sư đoàn số 169 và sư đoàn số 6 Phần Lan đánh phá tuyến đường sắt Murmansk tại một thị trấn Kem trên bờ vùng biển Trắng (White Sea). Sư đoàn số 122 Hồng quân Liên Xô và các lực lượng khác đã chống trả quyết liệt trong các trận đánh tại Salla và Kairala. Tuy nhiên, thời gian trong các trận chiến dữ dội diễn ra một cách rất chậm chạp, nhưng đến cuối tháng tám quân Đức đã chiếm giữ được đường biên cũ của Nga – Phần Lan và tiến sâu thêm 40 Km nữa vào Kandalaksha, khi đó cuộc tấn công của quân Đức và Phần Lan mới chấm dứt. Quân Đức dừng cuộc tấn công tại sông Verma và đóng giữ tại đây đến tận tháng 10/1944 Tình hình của quân đoàn Phần Lan tại Louhy không lấy gì làm sáng sủa. Với sự giáng trả kiên cường của Hồng quân, nên chúng không thể tiến thêm được vào thành phố Uhta. Kestenga trở thành vị trí trọng yếu nơi mà quân Đức và Phần Lan cố gắng để đánh chiếm hòng phá hủy tuyến đường sắt Murmansk, ở đây không phải là địa điểm chính để cắt tuyến đường sắt, nhưng nó thuận tiện để đánh chiếm hơn. Trận chiến dù sao cũng bị đình trệ sau khi quân đoàn 3 thực hiện công kích vào tháng 7-8/1941 (Đội quân J của Phần Lan và sư đoàn SS Nord của Đức), binh lính địch rất kiệt sức và không thể tiến thêm được nữa. Ngày 30/6/1941, Mannerheim (thống soái Phần Lan) thành lập một tập đoàn quân mang tên "Karelian" để tổ chức tấn công vào phía bắc Karelia. Tập đoàn quân này gồm hai quân đoàn, (QĐ 6 và QĐ 7) và đội quân O gồm có 5 sư đoàn, một lữ đoàn Jaeger cùng một lữ đoàn kỵ binh. Ngoài ra còn có một sư đoàn số 163 quân dự bị của Đức cũng biên chế vào tập đoàn quân này. Các lực lượng chính của quân đội Phần Lan có ý định tiến đến hai bên bờ hồ Ladoga đi thẳng hướng phía bắc của vùng hồ này, tiến quân đến hồ Onega, sau đó triến khai đội hình ở giữa hai vùng hồ tại sông Svir và tại ranh giới này chúng sẽ tổ chức tấn công tổng lực vào Leningrad. Ngày 10/7/1941 Tập đoàn quân "Karelian" bắt đầu triển khai một cuộc tấn công đầu tiên với quy mô lớn, với ý đồ chọc thủng phòng tuyến tại Korpiselka và bẻ gãy hàng rào phòng thủ của Hồng quân Liên Xô tại phía bắc hồ Ladoga. Korpiselka đã từng là phòng tuyến đầu tiên bị sư đoàn số 5 thuộc quân đoàn số 6 Đức phá vỡ trong cuộc chiến vào mùa hè năm 1941. Sau trận chiến dữ dội ngày 21/7, quân Phần Lan đã chọc thủng cánh phải của Salmy tại phía đông bờ hồ Ladoga, ngày hôm sau biên giới cũ Nga – Phần Lan bị chiếm giữ. Ngày 26/7, Petrozavodsk tại phía tây bờ hồ Onega cũng thất thủ. Quân đội Nga vẫn tiếp tục bền bỉ giữ vững tình thế ở phía sau quân Phần Lan tại Suoyarve và phòng ngự vững cánh phải hồ Yanisyarve. Ngày 8/8/1941, quân đoàn số 1 (các sư đoàn số 2, số 7, số 19) đã tổ chức đánh phá vòng vây của Hồng quân Liên Xô tại hồ Ladoga. Ngày 15/8/1941, sư đoàn số 7 Phần Lan đánh chiếm thị trấn Sortavala, hai sư đoàn số 168, 198 của Hồng quân Liên Xô bên trong thị trấn phải rút lui vào hạ tuần tháng 8/1941 sau khi đã chiến đấu rất mãnh liệt trên các vùng bờ hồ Ladoga. Họ phải di quân trên các xà lan chở qua hồ để vào Leningrad và bỏ lại tất cả các trang thiết bị, khí tài hạng nặng ở lại. Quân đội Nga đã chiến đấu rất mãnh liệt trên eo đất Karelian, phòng ngự các cuộc tấn công vào Leningrad. Ngày 29/8/1941, sư đoàn bộ binh số 18 và số 12 Phần Lan tấn công vào phía sau hàng phòng thủ của Hồng quân, hai sư đoàn Xô Viết divisions (số 43 và số 123) bị thất bại nặng nề cùng tất cả các laọi vũ khí hạng nặng đều rơi vào tay quân địch. Cuối tháng 8/1941 quân Phần Lan chiếm giữ toàn bộ khu vực. Ngày 4/9/1941 quân đội Phần Lan tiếp tục đánh chiếm từ phía nam. Chiếm giữ thành phố Beloostrov. Ngày 5/9, thành phố Olonets thất thủ, trong hai ngày quân Phần Lan đã đến được sông Svir. Ngày 12/9 chúng chiếm được Podporogye. Phần Lan có tham vọng kiểm soát toàn bộ các khu vực trước khi tiến đến hàng phòng thủ tại phía đông Kareliya đẻ đóng chặt đường biên phía đông. Sau cuộc tấn công của quân Phần Lan tại mùa hè và mùa thu năm 1941, bộ tư lệnh tối cao Phần Lan đã cố gắng giảm bớt hợp tác với quân đội Đức, do đó các cuộc chiến giữa Phần Lan và Liên Xô là một cuộc chiến rất riêng biệt. Về phía Phần Lan trong cuộc đàm phán tại Mikkeli ngày 4/9/1941 đã công khai tuyên bố không đồng ý với mục đích đánh chiếm Leningrad. Các cuộc tấn công của Đức giảm bớt đã gây ra không ít ngạc nhiên trên mặt trận Karelian. Ngày 4/9 khi quân Đức tiến đến gần phía nam Leningrad đã bắt đầu tràn đến sông Svir và chiếm giữ được nó trong 3 ngày tại khu vực Lodeynoye. Chúng hy vọng sẽ sớm sát nhập với các lực lượng khác của quân Đức sẽ từ hướng đông tràn vào phía nam vùng hồ Ladoga. Thay vì thế, ngày 26/9 bộ tư lênh Đức đã gửi cho quân Phần Lan một yêu cầu khẩn cấp tiếp tục gây sức ép vào quân đội Nga trên khu vực sông Svir, Quân Phần Lan chiếm giữ Petrozavodsk ngày 1/10, ngày 4/10 quân đội Phần Lan sau khi tấn công dữ dội vào sư đoàn số 141 Xô Viết và đã thành lập các vị trí phòng thủ giữa vùng hồ Ladoga và hồ Onega phía trước sông Svir. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2-27.jpg http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/3-25.jpg Gần Salla (nam Phần Lan) - quân Phần Lan http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/4-23.jpg Trên mặt trận Murmansk http://lenbat.narod.ru |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 III. Bảo vệ đảo Moonzun (07.09.41-22.10.41) Trận đánh này của lực lượng quân đội và hải quân Xô Viết với mục đích ngăn chặn các hành động quấy nhiễu của các hạm đội Đức tại Riga và vùng vịnh Phần Lan. Đảo Moonzun rất có sức hấp dẫn về vị trí địa lý chiến lược vô cùng thuận tiện cho nên đã thu hút sự chú ý của quân Đức. Nó bao bọc lối vào các vùng vịnh của Riga và Phần Lan, vùng biển có thể tiếp giáp được với các trung tâm công nghệ, chính trị lớn nhất phía tây bắc Liên Xô đến Leningrad, Tallin, Riga. Nếu không kiếm soát được hòn đảo này, hải quân Đức không thể trợ giúp cho quân đội của họ đổ bộ trong các chiến dịch tấn công ở Pribaltic. Mặt khác, những hòn đảo đó là vị trí chiến lược quan trọng của Liên Xô trên vùng biến Baltic. Các lực lượng của hạm đội Baltic bố trí trên đảo có thể kiểm soát tình hình chiến sự khá cao, ngoài ra nó cũng là một phần phía nam của chính trường vùng biển Baltic. Trong thời điểm quan trọng của các trận đánh trên các đảo, binh sĩ trong các đơn vị đồn trú của quân đội Xô Viết lên đến 23.663 người. Đóng trên đảo Sarema và trấn giữ Muhu, một lữ đoàn súng trường độc lập, một tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn súng trường Estonia, hai tuyến phòng thủ ( 18.615 người). Các đảo Hiuma và Vormsi được trấn giữ bởi hai tiểu đoàn súng trường và hai tuyến phòng thủ (5048 người) Để phòng thủ, trên các đảo có trang bị 142 đại bác, pháo phòng không và pháo đối đất, 60 súng cối, 795 khẩu súng máy. Pháo ven biển gồm có 17 khẩu đội (chỉ có 54 khẩu từ 100 đến 180 ly)., Ngoài ra còn có 8 tàu phóng ngư lôi và 12 máy bay chiến đấu luôn túc trực để đề phòng các cuộc đột kích từ đường biển vào. Thượng tuần tháng 9, quân Đức bắt đầu chuẩn bị các lực lượng trên không, trên biển và trên mặt đất cho chiến dịch đánh chiếm đảo, ngoài ra còn có các phương tiện để nhằm đột kích bằng đường biển vào đảo (Hơn 350 tàu thuyền các loại gồm: 26 phà tập kích, 182 tàu công kích, 140 thuyền). Binh lính tiến quân bằng đường bộ gồm có ba sư đoàn bộ binh, hai sư đoàn trong số đó sẽ trực tiếp tiến thẳng lên đảo, sư đoàn thứ ba sẽ chiếm giữ vùng bờ biển. Cánh quân Đức đột kích bằng đường biển đổ bộ và trợ giúp trên bờ biển tập trung tại các cảng Libava, Riga và Pyarnu. Ngoài ra, trong thời điểm đột kích bằng đường biển (Chiến dịch “Gió bấc”), các tàu chiến của Phần Lan cũng được tăng cường kể cả hai chiến hạm phòng duyên. Ngày 8/9, sau nhiều đợt pháo binh bắn phá dữ dội, quân Đức bắt đầu đổ bộ lên đảo Vormsi. Đơn vị đồn trú trên đảo gồm hai đại đội trang bị không đầy đủ và được tăng cường thêm quân tiếp viện từ đảo Hiuma, trong ba ngày đã kiên cường chống lại quân địch đông gấp bội, chỉ sau khi các cơ hội phòng thủ không thể trụ thêm được nữa, các chiến sĩ Hồng quân mới rút khỏi đảo Hiuma. Sau khi đã đánh chiếm đảo Vorms và đảo Kessulide nơi mà chỉ có 16 chiến sĩ Hồng quân trấn giữ, quân Đức tiếp tục đổ bộ lên đảo Muhu. Trong các ngày 11-13/9, pháo binh và máy bay Đức liên tục gây sức ép lên các tuyến phòng thủ. Ngày 13/9 chúng đột kích vào vịnh Lyu. Các tàu phóng lôi, pháo đối biển và máy bay chiến đấu của Liên Xô đã công phá dữ dội ép buộc quân Đức phải nhanh chóng rút khỏi phía tây của vịnh Lyu. Vì vậy ba tàu vận tải của Đức bị đánh chìm tại đây. Sáng hôm sau, quân Đức lại đổ bộ lên hai vị trí tại đảo Muhu. Đơn vị đồn trú trên đảo gồm hai tiểu đoàn súng trường thuộc trung đoàn súng trường số 79 và hai đại đội trang bị không đầy đủ đã giáng trả quyết liệt và kết quả một trong hai vị trí hoàn toàn bị phá hủy, Cuộc chiến trên đảo Muhu đã ba ngày trôi qua và đến ngày 17/9, tình hình trên đảo Sarema đã lắng dịu Quân Đức bắt đầu tấn công phá hủy đập ngăn nước và xuyên qua một eo biển. Chúng huy động một lực lượng mạnh hơn để đẩy dạt Hồng quân sang một bên và tiến thẳng đến phía nam bán đảo Kubassare, đến tận 23/9 vẫn diễn ra các cuộc đọ súng dai dẳng. Liên tiếp trong 6 ngày chiến đấu, quân đội Xô Viết đã suy yếu rất đáng kể. Cũng ngày 23/9 quân Đức rút quân lên tuyến phòng thủ Salme. Tại ranh giới này lực lượng Xô Viết giữ vững cho đến ngày 30/9 và sau đó rút lui về một vị trí trên bán đảo Syerve, nơi đây là ranh giới cuối cùng của tuyến phòng thủ trên đảo Sarema, tại đây quân đội Xô Viết cũng chỉ trụ lại được đến ngày 5/10/1941. 1500 binh sĩ cùng vũ khí và một số quân trang, đạn dược không đáng kể rời khỏi bán đảo và rút quân lên đảo Hiuma. Ngày 12/10, quân Đức với sự trợ giúp của pháo binh và không quân, chúng đã đổ bộ ồ ạt lên đảo Hiuma. Ngày 13/10, theo lệnh của bộ tư lệnh tối cao Xô Viết toàn bộ các lực lượng đồn trú tại đảo Hiuma được phép rút quân về đảo Hanko. Xế chiều hôm sau cuộc sơ tán bắt đầu, đến ngày 22/10 chỉ có 570 binh sĩ thoát ra được, các binh sĩ còn lại tiếp tục chiến đấu rất oanh liệt và toàn bộ đã anh dũng hy sinh Trong cuộc chiến trên quần đảo Moozun, Hồng quân Liên Xô phối hợp với hải quân, pháo phòng duyên và không quân đã tiêu diệt hơn 26 ngàn lính Đức, hơn 20 tàu chiến và 41 máy bay địch. http://lenbat.narod.ru |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 IV Tuyến phòng thủ Tallin Tuyến phòng thủ Tallin 5-28.8.41, phòng tuyến kiên cường của thủ đô Estonia và là một căn cứ hải quân chính trong thời gian WW II. Ngày 5/8, quân Đức tiến gần đến Tallin, ngày 8/8 chúng đến bờ biển của vịnh Phần Lan thuộc phía đông thành phố. Trong lúc này, một quân đoàn súng trường số 10 Xô Viết đang trấn giữ để bảo vệ thành phố, trong đó có một lữ đoàn súng trường độc lập và nhiều tiểu đoàn các lực lượng khác. Họ được yểm trợ bởi các tàu chiến, pháo phòng duyên, và hải phi cơ. Tallin chưa chuẩn bị được trước các công sự chiến đấu cùng với ba tuyến phòng thủ vẫn chưa thể sẵn sàng ứng chiến. Để đánh chiếm thành phố và MNB, quân Đức đã huy động đến 60 ngàn lính và ngày 20/8 chúng bắt đầu tiến hành công kích. Quân đội Xô Viết dưới sức ép của một lực lượng quân địch đông gấp bội nên đã phải rút về tuyến phòng thủ chính. Ngày 27/8 bất chấp sự kháng cự mãnh liệt của Hồng quân Liên Xô, quân Đức đã bẻ gãy tuyến phòng thủ và tiến đánh vào thành phố, các trận giao tranh trên đường phố đã xảy ra rất ác liệt. Thực hiện theo quyết định của bộ tư lệnh Xô Viết tối cao, lực lượng hải quân nhận lệnh di chuyển binh sĩ và tổng bộ hải quân tại thành phố Kronstadt và Leningrad. Dưới sự yểm trợ của pháo phòng duyên, các lực lượng bắt đầu xuống tàu, ngày 28/8 đã có 20,5 ngàn binh sĩ đến Tallin http://lenbat.narod.ru |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 V. Chiến dịch phòng thủ Tikhvin (16.10.41-18.11.41) Mặc dù tình hình vô cùng nặng trọng, ý định phòng thủ Leningrad không chỉ chống lại các cuộc công kích của kẻ thù mà còn cần bảo vệ thành phố không thể rơi vào tay quân địch. Khi đó quân Đức muốn siết chặt vòng vây xung quanh thành phố từ hướng đông nam, kết hợp với lực lượng quân Phần Lan đến dánh chiếm phía đông Ladoga. Để thực hiện ý đồ này, Đức đã ném vào trận chiến ba quân đoàn. Trực tiếp tiếp sức còn có quân Phần Lan được tập hợp thành quân đoàn cơ giới số 39 (hai sư đoàn tăng số 8 và số 12, hai sư đoàn môtô số 18 và 20. Tổng cộng hơn 65 ngàn binh lính và khoảng 450 xe tăng). Đội quân này được hỗ trợ bởi lực lượng không quân. Đồng thời còn có quân đoàn số 39, ba sư đoàn quân của quân đoàn số 1 bắt đầu tấn công vào hai phía trên sông Volkhov tại phương diện Volhovsroy và quân đoàn số 38 tại phương diện Malaya Vishera. Tại khu vực Gruzino chúng đã phá vỡ mặt trận của Hồng quân và các lực lượng trên sông Volkhov. Thượng tuần tháng 11, xe tăng Đức đã tiến đến ngoại ô Tikhvin. Tikhvin thất thủ - có nghĩa là tuyến đường sắt cuối cùng để cung cấp tiếp viện cho thành phố Leningrad đến phía đông nam bờ hồ Ladoga đã bị mất, Xô Viết quân số 4 không thể chặn được các đợt tấn công của quân Đức. Ngày 8/11, quân Đức chiếm đóng thành phố Tikhvin và nhanh chóng tiến đến phía đông. Các bộ phận của các sư đoàn quân Xô Viết đã rút lui đến phía bắc: Số 44 dọc theo đường Tikhvin - Lodeynoe Pole, số 191 đến phía đông con đường. Các bộ phận của sư đoàn số 44 vào thời điểm đó chỉ còn 700 binh sĩ, sư đoàn súng trường số 191 cũng đã tổn thất nặng nề, họ chỉ còn khoảng 1000 binh sĩ, tuy không có sự chỉ huy tổng thể, họ vẫn chiến đấu như những bộ phận độc lập. Tình thế tại phương diện phía đông ở Tikhvin cũng không lấy gì sáng sủa hơn, chẳng khác gì phía bắc của nó. Những sư đoàn không đủ sức chiến đấu đã dần rút lui do sức ép dữ dội của xe tăng Đức. Các trận chiến đã tiến sâu thêm 2 Km vào phía đông của Astracha. Ở đây đang trấn giữ gồm sư đoàn súng trường số 44 (khoảng 300 binh sĩ), trung đoàn số 48 có khoảng 1000 binh sĩ và trung đoàn súng trường số 305 (khoảng 200 binh sĩ). Đó là tổng số binh sĩ của quân đội Xô Viết đang sẵn sàng chiến đấu tại phương diện Vologda. Ở đó còn có sư đoàn súng trường số 65 và hai tiểu đoàn xe tăng, họ vừa đặt chân tới Bolshoy Bor. Kế hoạch phản công của quân đội Xô Viết bao gồm sự liên kết lực lượng quân dự bị với các sư đoàn súng trường số 44 và số 191 chiến đấu với sư đoàn tăng số 12 của Đức. Vai trò chính trong trận chiến đè nặng lên lữ đoàn tăng số 46, họ đã từng có kinh nghiệm chiến đấu trong địa hình vùng rừng rậm. Kế hoạch đã đến sớm hơn dự kiến trong sáng ngày 11/11. Quân đôi số 7 lữ đoàn tăng số 46 và trung đoàn súng trường số 106 cùng tương tác với các sư đoàn súng trường số 191 và số 44 đã tấn công và loại bỏ quân Đức trên 12-13 Km, Tình thế tại phía đông Tikhvin đã đổi thay có phần sáng sủa hơn. Tướng Ivanov đã sát nhập các 44-th rd, 48-th rr, 305-th rr và 60-th td thành một quân đoàn chiến đấu trên phương diện này. Họ sẽ từ sự phòng ngự chuyển sang thế tấn công trong những trận đánh mang đặc tính cực kỳ mãnh liệt. Trong khi đó quân địch vẫn bám trụ trên từng căn nhà, từng căn chuồng ngựa. Đến thời điểm này đội quân của tướng Ivanov, được tăng cường thêm sư đoàn súng trường số 191 và hai tiểu đoàn tăng đến tới cách Tikhvin 5-6 Km và đóng quân tại hướng đông bắc ngoại ô thành phố Pagolda. Như vậy quân đội Xô Viết tấn công địch trên cả hai phương diện, quân Đức buộc phải chuyển sang phòng thủ, nếu tiếp tục ở thế tấn công chúng không còn đủ lực lượng, nhưng do có ý định vây hãm thành phố Leningrag nên bằng mọi giá chúng vẫn sẽ cố thủ tại Tikhvin. Để giải phóng khu vực Tikhvin trong thời gian này là ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó là vấn đề mang tính mệnh của Leningrad và cũng là điểm then chốt trên mặt trận Leningrad. Trong hoàn cảnh này bắt buộc quân đội Xô Viết cần phải chuẩn bị để lập tức quét sạch quân địch trên tuyến đường sắt cung cấp tiếp viện cho thành phố Leningrad. Cánh tả quân đoàn của tướng Ivanov, sư đoàn số 65 đã trải rộng ra hướng đông nam gần Tikhvin. Sư đoàn này có nhiệm vụ rất nặng nề là phải kiểm soát được toàn bộ thành phố. Sư đoàn kỵ binh số 27 và sư đoàn tăng số 60 đã chuyển sang quân đoàn của Pavlovich. Các sư đoàn vệ binh số 4, số 93 và một trung đoàn tăng của sư đoàn tăng số 60, đã hợp thành "Đoàn chiến đấu phía nam". Quân Đức cũng sớm nhận thấy sự tăng cường củng cố lực lượng của quân đội Xô Viết, nên chúng cũng ráo riết chuẩn bị lực lượng. Ngày 20/10, sư đoàn bộ binh số 61 của Đức vội vã từ Pháp đáp thẳng vào khu vực Tikhvin, nhưng sư đoàn này khi đến Tikhvin rất muộn mà rất mỏi mệt, tuy nhiên tại Tikhvin, Đức đã tập hợp được 5 sư đoàn. Lực lượng của quân đội Xô Viết cũng được gia tăng. Quân đội được bổ xung thêm một sư đoàn súng trường số 65 và hai tiểu đoàn xe tăng. Nếu nói về lực lượng bộ binh, pháo binh, súng cối thì quân đội Xô Viết có phần vượt trội hơn so với quân Đức, nhưng về lực lượng tăng thì kém hơn rất nhiều. Tuy quân đội Xô Viết có nhỉnh hơn địch đôi chút về pháo binh và súng cối nhưng lại thiếu về đạn dược. Tại các kho đạn dự trữ chỉ cung cấp đủ cho cuộc chiến hàng ngày trung bình 6-3 viên đạn cho súng cối 120 ly, súng 122 ly và 8-20 viên cho súng cối 32 ly. Điều quan trọng cuối cùng là hàng phòng thủ của quân Đức, trong thời gian chiến sự tại phía bắc và phía đông Tikhvin trước đây, quân Đức đã có thời gian củng cố rất vững trong thành phố. Nhưng tình hình rất căng thẳng trong thành phố Leningrad và yêu cầu của bộ tư lệnh Xô Viêt tối cao là giải phóng Tikhvin càng sớm càng tốt. Do vậy, lực lượng quân đội Xô Viết số 4 bắt đầu tấn công, không còn thời gian để đợi chờ tiếp nhận các quân dụng cần thiết và quân tiếp viện thêm được nữa. http://lenbat.narod.ru |
Các cuộc chiến trên thành phố Leningrad 1941 VI. Chiến dịch tấn công Tikhvin (10.11.41-30.12.41) Với mục đích đánh chặn, liên kết nhóm Tikhvin với phía sau của nó, bộ chỉ huy quân đội Xô Viết đã quyết định. Đội quân (Phía bắc) do tướng Ivanov chỉ huy có nhiệm vụ: kiểm soát cánh phải tại mặt phía nam khống chế toàn bộ đường cao tốc và tuyến đường sắt Tikhvin – Volkhov, chặn đường rút của quân Đức tại phía tây. Hỗ trợ bên sườn phải cho đội quân (Phía bắc), đội quân "Pavlovich" có nhiệm vụ cắt ngang tuyến đường sắt Tikhvin – Budogosh và đánh chặn đường rút của quân Đức tại hướng tây nam, do đó cả hai cánh quân sẽ từ hai phía bắc và nam chặn tất cả các phương tiện liên lạc của quân Đức, phá vỡ vòng vây xung quanh thành phố và giải phóng Tikhvin. Sư đoàn súng trường số 65 xâm nhập vào thành phố từ hướng tây nam. Đội quân (Phía nam), do tướng Yakovlev chỉ huy có nhiệm vụ tiến thẳng vào phương diện chính tại Budogosh với mục đích cắt toàn bộ liên lạc và đường rút lui của quân Đức ở gần Tikhvin. Đồng thời với sự tấn công của của quân đoàn số 4, các lực lượng của mặt trận "Leningrad" tràn qua sông Volkhov để tấn công vào quân địch tại phương diện Kirishi, xúc tiến cho quân đoàn số 4 chiếm lĩn trận địa trên Tikhvin. Bên cạnh đó phía bên trái quân đoàn số 52 đã sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu. Ngày 19 tháng 11 cuộc tấn công của quân đoàn số 4 đã dần triển khai. Sáng ngày 5/12, quân đoàn số 4 ổn định lại đội hình và tăng cường củng cố thêm lực lượng, một lần nữa lại tổ chức tấn công. Quân đoàn (Phía bắc) đã chiếm được hữu ngạn sông Tikhvinka. Các cuộc tấn công của Hồng quân trên mặt trận phía đông và phía nam vào thành phố đang triển khai rất tốt đẹp. Kết quả của ngày 8/12, sư đoàn súng trường số 65 và 191 đã phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Đức và tiến vào Tikhvin. Tối ngày 9/12, cuộc tấn công quyết định bắt đầu, hai sư đoàn số 191 từ hướng bắc và sư đoàn số 65 từ hướng nam cùng một lúc triển khai lực lượng tấn công và được sự hỗ trợ bởi pháo binh. Không thể chống đỡ nổi các đợt tấn công như vũ bão của quân đội Xô Viết, quân Đức bắt đầu rút chạy. Vào đêm ngày 9/12/1941 hai sư đoàn số 191 và 65 của quân đội Xo Viết đã tấn công ồ ạt vào thành phố. Mọi chiến sự trên phương diện Budogosh đã triển khai thành công rực rỡ, với sư đoàn súng trường số 65 và sư đoàn kỵ binh số 27 đã truy đuổi kẻ thù bền bỉ làm cho sư đoàn súng trường số 4 của Đức tan rã hoàn toàn tại Sitomli và đã chế ngự được con đường trên Budogosh, đưa quân Đức vào vòng vây. Quân Đức một số rút chạy vào rừng phía tây nam một số đầu hàng và chúng đã vứt bỏ lại các khí tài, vũ khí, thương binh… Cuộc chiến đấu với quân thù trên hữu ngạn sông Volkhov cũng đã chấm dứt. Ngày 21/12 lực lượng trên cánh tả của quân đội đã giải phóng thành phố Budogosh và ngày 27/12 đã tiến đến sông Volkhov trên phương diện Kirishi. Do đó, tất cả vùng lãnh thổ và tuyến đường sắt Tihkvin-Volchov đã được quân đội Xô Viết làm chủ. Cuộc tấn công của quân Đức với chủ tâm đánh chặn con đường cuối cùng nối liền giữa Leningrad với tổ quốc và bóp ngẹt dự định phòng thủ của Leningrad bằng sự phong tỏa nguồn thực phẩm đã bị bẻ gãy. Các sư đoàn quân Đức đã bị đẩy lùi về ranh giới ban đầu. http://lenbat.narod.ru |
Trận đánh tại Minsk Trận đánh tại Białystok-Minsk là một cuộc chiến biên giới giai đoạn mở màn trong chiến dịch Barbarossa của cuộc xâm lược nước Nga do Đức tiến hành năm 1941. Đội quân vũ trang Wehrmacht tràn ra khỏi Balan cùng với quân đoàn chính diện dưới sự chỉ huy của thống chế Fedor von Bock dọc theo trục Minsk - Smolensk tiến thẳng đến Moscow. Cái gọi là: Mũi pháo đài Bialystok, mặt trận phía tây Xô Viết đổi tên lại là Quân khu đặc biệt phía tây, được phòng vệ bởi các quân đoàn số 3, số 4, số 10 nằm dọc theo tuyến biên giới dưới sự chỉ huy của tướng Dmitry Pavlov, quân đoàn số 13 lúc đầu chỉ là một sở chỉ huy và chưa được bố trí lực lượng. Hồng quân được bố trí lực lượng tại Belarussia với kế hoạch phản kháng lại các cuộc tấn công của quân Đức, chế ngự địch đang chiếm đóng tại Balan Khi quân Đức bắt đầu tấn công, tất cả các đường dậy liên lạc và các sân bay tại mặt trận phía tây bị quân Đức phá hủy hoàn toàn. Đội quân số 9 và số 4 của quân đoàn chính diện Đức xuyên qua phía bắc và phía nam đường biên giới của mũi pháo đài Bialystok. Ngày 23/6, quân đoàn số 10 Hồng quân Liên Xô tổ chức phản công theo kế hoạch đã dự định, nhưng bị thất bại. Ngày 24/6, tướng Pavlov ra lệnh cho tướng Boldin chịu trách nhiệm chỉ huy các quân đoàn cơ giới số 6, số 11 và quân đoàn kỵ binh số 6 tiếp tục tổ chức phản công theo hướng Grodno để phá vỡ vòng vây của địch cho lực lượng Hồng quân ở gần Bialystok. Cuộc phản công này bị tổn thất nặng nề, tuy nhiên một số đợn vị đã thoát ra được vòng vây và tiến đến Minsk. Chiều ngày 25/6 quân đoàn thiết giáp số 47 của Đức đã cắt đôi giữa Slonim và Volkovysk. Tướng Pavlov ra lệnh cho tất cả binh sĩ rút lui về mũi pháo đài phía sau sông Shchara tại Slonim để tránh vòng vây của quân địch. Các mũi quân chính không thể bẻ gãy được thế tiên công của quân Đức nên cũng phải rút, do cuộc rút lui nên đã mở ra hướng phía nam cho quân Đức tấn công vào Minsk. Ngày 27/6 đội quân thiết giáp số 2 và số 3 đã liên kết tiến đánh phía bắc và phía nam gần Minsk. Ngày 28/6 quân đoàn số 4 và số 9 tập hợp tại phía đông Bialystok chia cắt lực lượng Hồng quân làm hai nhóm biệt lập: Một phần lớn tại Bialystok gồm quân đoàn số 9 và phần nhỏ còn lại tại Novogrudok gồm các quân đoàn số 3 và số 13. Sau 17 ngày, mặt trận phía tây Xô Viết đã tổn thất 420.000 binh sĩ trong tổng số 625.000 người. Ngày 29/6. Minsk thủ phủ của Belarussia bị thất thủ. Cuộc phản công tiếp theo của quân đoàn hành quân hàng không số 4 và quân đoàn cơ giới số 20 của Hồng quân cũng bị thất bại. Ngày 30/6 đội quân này hoàn toàn bị tan vỡ. Trong đó, các quân đoàn số 3, số 10, số 13 và một phần của quân đoàn Xô Viết số 4 cũng bị địch làm tê liệt gần như toàn bộ, số binh sĩ còn lại của quân đoàn Xô Viết số 4 quay lại phía đông theo hướng sông Berezina. Sau cuộc chiến giành phần thắng, lực lượng vũ trang Đức (Wehrmacht) đã nhanh chóng tiến đánh Smolensk, Chỉ huy mặt trận, tướng Pavlov và một số sĩ quan khác lập tức bị triệu tập về Moscow và bị cáo buộc là có chủ ý phá hoại tuyến phòng ngự, tránh né không giao chiến với quân địch và bị hành quyết, cùng với gia quyến bị quản thúc về tội phản bội tổ quốc (họ đã được phục hồi danh dự vào năm 1956) theo lệnh số NKVD - 00486 :(Operational Order of People's Commissar of Internal Affairs of the USSR by August 15, 1937 # 00486, Оперативный приказ народного комиссара внутренних дел СССР № 00486) http://www.answers.com http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/5-21.jpg Tù binh chiến tranh Xô Viết tại Bialystok http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/6-19.jpg Białystok năm 1941 http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/7-17.gif Minsk sau thế chiến thứ hai http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/8-18.jpg Bọn Đức hành quyết nữ chiến sĩ 17 tuổi Masha Bruskina và các du kích khác tại Minsk tháng 10/1941 http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/9-16.jpg Quân thiết giáp của Đức tại Minsk (1941). |
Trận đánh đầu tiên tại Kharkov Là một phần của chiến dịch Barbarossa. Quân đoàn phía nam của Đức đổ bộ thẳng vào thành phố Kharkov của Liên Xô (nay là Kharkiv, Ukraine) vào ngày 20/10/1941. Tại trong thành phố, một quân đoàn Nga đã thành lập một vành đai phòng thủ. Trong thời gian này, toàn bộ các công xưởng, xí nghiệpđã được tháo dỡ và xây dựng lại xa hơn nữa về phía đông. Ngày 21/10, tất cả các trang thiết bị của các công xưởng đượcbốc xếp lên các chuyến tảu hỏa để di chuyển. Cũng trong ngày hôm đó, quân Đức đã đánh phá 7 dặm tuyến đường sắt. Quân đoàn số 6 và số 7 của Đức tấn công các vị trí quân sự của Nga vào ngày 24/10 và kiểm soát toàn bộ thành phố cũng trong ngay hôm đó. http://www.answers.com |
Uman 7/1941-8/8/1941 một thất bại Trận đánh tại Uman 7/1941-8/8/1941 là một trận đánh trên mặt trận phía đông của thế chiến thứ hai vào mùa hè năm 1941. Cuộc chiến đã xảy ra tại phía tây Ukraina giữa quân đoàn phía nam của Đức được chỉ huy bởi tướng Gerd von Rundstedt với lực lượng quân đội Xô Viết trên phương diện quân tây nam, được chỉ huy bởi thống soái Semyon Budyonny, bao gồm cả lực lượng mặt trận tây nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của đại tướng Mikhail Kirponos và lực lượng mặt trận phía nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của tướng quân đội Ivan Tyulenev. Trong những tuần đầu tiên của chiến dịch Barbarossa, tập đoàn quân phía nam của Đức đã nhanh chóng tiến thẳng đến phía đông , đánh chiếm Lvov, Tarnopol , Vinnitsa và làm mất hiệu lực 4 quân đoàn cơ giới của Hồng quân do tướng Kirponos chỉ huy trong một trận phản công. Vấn đề này đã diễn ra một trận giao chiến giữa các lực lượng xe tăng của hai bên. Lực lượng xe tăng của Xô Viết đông đảo hơn so với quân Đức, nhưng trong các cuộc giao chiến thì họ lại tỏ ra kém hiệu quả. Lực lượng quân Xô Viết cố gắng bẻ gãy dường hành quân của đội hình Đức, nhưng họ lại đánh cả hướng nam và bắc tại khu vực Dubno. Nhày 29/6/1941, quân Đức tạm dừng cuộc tiến, nhưng các lực lượng của quân đội Xô Viết cũng đã kiệt sức nên đành ra lệnh rút quân. Ngày 10/7/1941, Thống soái Budyonny nhận lệnh tổng chỉ huy toàn bộ lực lượng trong chiến dịch trên phương diện phía tây nam, kết hợp tác chiến giữa các mặt trận tây nam và mặt trận phía nam. Budyonny chỉ huy 1.5 triệu binh sĩ ở hai vùng rộng lớn tại Uman và Kiev. Ông đã dành thế chủ động để mở màn ba cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Ukraina. Tướng Đức Ewald von Kleist của đội quân thiết giáp số 1 đánh bạt vào một mũi nhọn tấn công giữa hai cánh quân Xô Viết tại nam Kiev và bắc Uman, chiếm giữ được thành phố Berdichev ngày 15/7/1941 và thành phố Kazatin ngày 16/7/1941. Tướng Kazatin Karl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy tập đoàn quân số 17 Đức tiến thẳng đến phía nam Uman và tướng Ritter von Schobert chỉ huy tập đoàn quân số 11 Đức tiến đến từ hướng bắc biên giới Romania (Schobert bị chết ngày 11/9/1941 khi chiếc máy bay của ông ta hạ cánh xuống một bãi mìn) STAVKA và chỉ huy của mặt trận phía nam đã sai lầm khi tính rằng quân Đức sẽ có ý định vượt qua sông Dnieper giữa Kiev và Cherkassy để tiếp tục tiến đánh Donbass cũng như đánh giá thấp mối hiểm nguy của quân Đức đang bao vây các quân đoàn Xô Viết số 6 và số 12. Ngày 28/7/1941, một mệnh lệnh của tổng chỉ huy mặt trận đã ban ra cho các lưc lượng tại mặt trận phía nam và mặt trận tây nam huy động lực lượng để đánh chặn quân Đức tại sông Dnieper và chỉ rút lui các lực lượng tại phương diện phía đông ra khỏi trận chiến. Kết quả, thời cơ rút lui của phương diện quân phía đông nam để tránh hiểm nguy trong vòng vây địch đã thất bại. Ngày 2/8/1941, vòng vây đã bị thắt chặt bởi đội quân thiết giáp số 1 và quân đoàn bộ binh số 17 của Đức. Vòng vây lại tiếp tục được tăng cường siết chặt hơn nữa vào ngày hôm sau, do sư đoàn quân thiết giáp số 16 của Đức kết hợp với quân đoàn cơ giới Hungary (hay còn gọi là Gyorshadtest) tiến hành phong tỏa. Ngày 8/8/1941, mọi sự kháng trả của quân đội Xô Viết hầu như dừng lại. Hai mươi sư đoàn của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12 gần như tan vỡ. Theo như tường trình, khoảng 100.000 binh sĩ bị bắt giữ. Trong số tù binh chiến tranh đó có cả các sĩ quan chỉ huy của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12, bốn chỉ huy quân đoàn và mười một chỉ huy sư đoàn. Tổng cộng quân đội Xô Viết bị tổn thất trong chiến dịch này rất khó để ước đoán. Nhưng cũng có thể tạm đưa ra một con số gần đúng là: 200.000 người bị chết và bị thương, 100.000 người bị bắt bắt giữ. http://www.answers.com http://www.nuocnga.net/forum/files/5_232.jpg Uman 1941 http://www.nuocnga.net/forum/files/3_304.jpg Lính Đức đi trinh sat trước trận đấu. Gần Uman- Ukraina, 8/1941 http://www.nuocnga.net/forum/files/2_303.jpg Uman- August 1941 http://www.nuocnga.net/forum/files/1_489.jpg Các khẩu pháo bỏ lại trong cuộc chiến. hầu như của dơn vị pháo binh quân đoàn số 12 Ukraina, vùng lân cận của Uman. 8/1941 |
Trận chiến Brody Trận chiến tại Brody là một trận đánh lớn giữa tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức với 5 quân đoàn cơ giới Xô Viết tại Ukraina. Đây là một trong những trận đánh dữ dội nhất trong giai đoạn mở màn của chiến dịch Barbarossa. Tập đoàn quân đoàn phía nam của Đức được triển khai lực lượng tại phía nam Balan và Romania, dưới sự chỉ huy của thống chế Gerd von Rundstedt. Tập đoàn quân đoàn này có các quân đoàn số 6 và số 17 tại Balan và quân đoàn số 11 đóng tại Romany. Lực lượng cơ giới của nó có một quân đoàn thiết giáp số 1 dưới sự chỉ huy của tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, lực lượng bộ binh bồm 33 sư đoàn, lực lượng thiết giáp gồm 3 sư đoàn môtô và 5 sư đoàn bọc thép. Hỗ trợ cho quân Đức còn có một số lực lượng khác của Romany, Italy và Slovakia. Để chống trả quân Đức, tại phía nam có lực lượng mặt trận tây nam của Nga gồm có: Các sư đoàn cận vệ số 5, số 6, số 12, số 26. 27 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 12 sư đoàn xe tăng cùng 6 sư đoàn môtô. Thêm một mặt trận Xô Viết ở phía nam cũng được gọi là mặt trận phía nam của Nga, tại đây tập trung các lực lượng quân Xô Viết như: sư đoàn số 9, số 18 cùng 17 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 6 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn môtô Phía cánh tả tập đoàn quân phía nam của Đức được tung thêm sư đoàn số 6, số 17 và quân đoàn thiết giáp số 1. Bên phía quân đội Xô Viết gồm có quân đoàn số 5, số 6, số 26. Quân đoàn số 6, số 7 của Đức tiến hành tấn công vào vị trí tiếp giáp giữa các quân đoàn số 5, số 6, số 26 của Xô Viết, để cho tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức dồn một mũi nhọn bọc thép 600 xe tăng của nó tiến xuyên qua quân đoàn số 6 của Xô Viết thẳng tiến vào thị trấn của Brody Ngày 26/6, năm quân đoàn cơ giới của Xô Viết gồm có: số 4, số 8, số 9, số 15 và số 19 với hơn 1.000 xe ào ạt phản công từ các phía bắc và nam, với mục đích đánh tạt vào sườn tập đoàn thiết giáp số 1 của Đức và cùng chiếm lĩnh trận địa gần thành phố Dubno. Trận đánh các quân đoàn cơ giới của Xô Viết với tập đoàn quân thiết giáp của Đức diễn ra mãnh liệt nhất trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh. Trong suốt 4 ngày đêm, quân đội Xô Viết chiến đấu rất mãnh liệt, các biên đội xe tăng và các khẩu đội súng chống tăng của Đức rất khiếp sợ trước loại xe tăng T-34 mới của Xô Viết do các loại súng đạn của chúng hầu như không làm gì được loại xe này. Tuy nhiên quân đội Xô Viết chưa thật sự triển khai đội hình tăng được một cách tốt nhất hoặc không tập chung hỏa lực thành từng nhóm. Xe tăng Xô Viết thường tác chiến độc lập, do vậy Luftwaffe đã thoải mái tràn khắp trên chiến trường , bẻ gãy đội hình quân Xô Viết và bắn phá loạn xạ vào bất kỳ mục tiêu nào mà chúng gặp. Kết quả, gọng kìm của các lực lượng Xô Viết dự định sẽ chiếm lĩnh trận địa tại Dubno bị thất bại. http://www.answers.com http://www.nuocnga.net/forum/files/1_258.jpg Những chiếc tăng T-35 và T-26 của quân đoàn cơ giới số 8 tại Dubno 7/1941 |
Trận đánh Tại Kiev http://library.thinkquest.org/19090/media/kiev.jpg Trận đánh tại Kiev là một trận bao vây khổng lồ trên đất Ukraina trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đến ngày nay nó vẫn được đề cập đến như là một trận đánh vây lớn nhất trong lịch sử. Trận đánh bắt đầu từ trung tuần tháng 8 đến 26/9/1941 và nó là một phần trong chiến dịch Barbarossa của quân Đức. Trong lịch sử quân đội của Xô Viết đây là một cuộc chiến đấu được coi như là một "Chiến dịch phòng thủ Kiev" – " Киевская оборонительная операция". Trong thời gian từ 7/7 – 26/9 gần như toàn bộ Hồng quân Liên Xô trên chiến trường Tây nam của Xô Viết đã giao tranh quyết liệt với vòng vây của quân Đức, 665.000 người bị bắt giữ làm tù binh. Trong trận chiến này, quân Đức đã vây kín tại Kiev không một kẽ hở, tuy nhiên chỉ có một số nhỏ binh sĩ Hồng quân thoát được ra ngoài trước khi quân Đức khép chặt vòng vây, bao gồm cả nguyên soái Budyonny, nguyên soái Timoshenko và chính ủy Khrushchev. Tuy nhiên, một sự thất bại chưa từng thấy đã xảy ra với Hồng quân tại đây nó nặng trọng hơn cả tấn thảm kịch đã xảy tại Minsk từ tháng 6 đến tháng7/1941. Ngày 1/9/1941 trên mặt trận tây nam, gồm 752-760.000 binh sĩ (850.000 cả quân dự bị và bộ phận hậu cần), 3.642 súng và pháo binh, 167 máy bay chiến đấu. Kế tiếp theo cuộc bao vây gồm 452,700 binh lính, 2,642 súng, pháo binh và 64 xe tăng, ngày 2/10 có 15.000 binh lính thoát khỏi vòng vây. Toàn bộ trên chiến trường tây nam có 700.544 bị thương vong bao gồm có 616.304 người bị chết, bị bắt giữ hoặc mất tích trong thời gian một tháng dài chiến trận trên đất Kiev. Theo kết quả đó, 4 quân đoàn Xô Viết (số 5, số 37, số 26 và số 21) gồm có sư đoàn 43 hầu như bị tổn thất toàn bộ. Cuối tháng tám, bộ tư lệnh tối cao của Đức (OKH) đã phải có sự lựa chọn: Hoặc tiếp tục tiến quân thẳng đến Moscow, hoặc triệt tiêu lực lượng quân đội Xô Viết tại hướng nam. Bởi do quân đoàn phía Nam của Đức hiện đang thiếu lực lượng để dàn trải ra các mặt trận, một phần lớn lực lượng của quân đoàn chính diện Đức lại cần phải đi thực hiện nhiệm vụ khác. Sau cuộc bàn cãi trong nội bộ OKH, phần chính của đội thiết giáp số 2 (Panzergruppe 2) và lực lượng quân đội số 2 đã được tách ra khỏi quân đoàn chính diện của Đức để chuyển đến phía nam bao vây quân đội Xô Viết và sẽ liên kết với quân đoàn phía Nam tại phía đông Kiev Các đội quân thiết giáp của Đức được xúc tiến nhanh chóng để hình thành thế trận bao vây với ý đồ đánh úp quân đội Xô Viết của nguyên soái Budyonny. Cuộc bao vây quân đội Xô Viết đã được tiến hành vào ngày 16/9 khi hai cánh quân của Đức giữa đội quân thiết giáp số 1 do Kliest chỉ huy và quân đoàn số 24 do Guderian chỉ huy đã gặp nhau tại Lokhvitsa, 120 dặm phía sau Kiev. Sau đó, vòng vây đã được bịt kín. Về phía quân đội Nga, những sự choáng váng đã bộc lộ. Họ hầu như không còn khả năng để bẻ gãy được vòng vây của quân địch. Quân đoàn số 17 và quân đoàn số 6 thuộc tập đoàn quân phía Nam của Đức cũng như quân đoàn số 2 thuộc tập đoàn quân chính diện Đức sau đó đã được thêm sự trợ giúp của lực thiết giáp nên càng siết chặt vòng vây hơn nữa. Cuộc bao vây quân đội Nga tại Kiev ngày càng quyết liệt. Một trận chiến tấn công dữ dội của quân đội Xô Viết đã bị thất bại bởi pháo binh, xe tăng và máy bay địch cũng tham chiến. Ngày 19/9, Kiev đã có rất nhiều người bị thiệt mạng nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn không lúc nào ngưng nghỉ. Sau nhiều ngày giao tranh và bị nhiều tổn thất, ngày 26/9 Kiev thất thủ, quân Đức đã bắt giữ khoảng hơn 600.000 binh sĩ Hồng quân làm tù binh. http://en.wikipedia.org |
Rostov na Donu http://www.vor.ru/55/55_h/Sevastopol.jpg http://www.vor.ru/55/55_h/Rostov.jpg Trận đánh tại Rostov (1941) là một cuộc chiến trên mặt phía Đông của Thế chiến thứ II, cuộc chiến đấu này đã bao trùm toàn bộ khu vực Rostov trên sông Đông giữa lực lượng Hồng quân của mặt trận phía Nam - Xô Viết do tướng Yakov Timofeyevich Cherevichenko chỉ huy với tập đoàn quân phía Nam của Đức dưới sự chỉ huy của tướng Gerd von Rundstedt. Sau khi đã giành phần thắng tại mặt trận Kiev trong tháng 9/1941, tập đoàn quân phía Nam của Đức từ phía sông Dnieper đã thúc quân xuống vùng bờ biển Azov. Quân đoàn số 6 của Đức do Walther von Reichenau chỉ huy tiến đánh Kharkov. Quân đoàn số 17 do Carl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy hành quân xuyên qua thành phố Poltava nhằm hướng Voroshilovgrad để tiến quân. Quân đoàn số 11 do Erich von Manstein chỉ huy tiến vào Crimea và cũng đã giành được kiểm soát toàn bộ vùng bán đảo này. Ewald von Kleist chỉ huy quân đoàn thiết giáp số 1 từ Kiev lao xuống bao vây Hồng quân Xô Viết tại Melitopol trong tháng 10/1941, chúng càn quét khắp khu vực phía đông vùng bờ biển Azov hướng về Rostov khu hạ nguồn sông Đông và cửa ngõ Caucasus. Ngày 21/11 quân Đức đánh chiếm Rostov. Tuy nhiên các tuyến quân của Đức đã bị trải rộng ra khắp các mặt trận và chính Kleist đã phải cảnh báo rằng cánh quân phía sườn trái của ông ta rất dễ bị Hồng quân tấn công do lực lượng tăng thiết giáp ở đây sẽ chẳng làm được trò trống gì trong thời tiết của một mùa đông lạnh buốt này. Ngày 27/11 quân đoàn số 37 của Hồng quân Liên Xô dưới sự chỉ huy của trung tướng Anton Ivanovich Lopatin đã tổ chức phản công vào một mũi nhọn phía bắc thuộc quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức, bắt buộc chúng phải rút chạy ra khỏi thành phố. Adolf Hitler lên tiếng phản đối cuộc rút chạy này. Khi đó Von Rundstedt đã bất tuân mệnh lệnh, do đó ông ta đã bị Hitler lập tức cách chức. Nhưng dù sao cuộc rút chạy của quân Đức cũng không thể tránh khỏi, quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức cuối cùng cũng phải tháo chạy về phía sông Mius tại Taganrog. Đây cũng là cuộc chạy trốn đáng kể nhất của quân Đức trong thời kỳ chiến tranh. http://www.answers.com |
Cuộc phá vây của chiến hạm Bismarck - 20-27 tháng năm, 1941 http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-1.jpg Chiến hạm Bismarck của Đức trong thời gian chiến tranh Mùa xuân năm 1941, trận không chiến tại Anh đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của dân chúng nước Anh. Trận đánh dữ dội trên Đại tây dương hội tụ vào các đội U-boats Kriegsmarine của Đức, chúng tấn công các thương tàu làm tác động dữ dội đến nước Anh và nó cũng ý định làm cho người Anh phải chịu khuất phục. Ngoại trừ một số ngoại lệ, một số tàu chiến chính của Đức không tham gia vào các cuộc đột kích trên Đại tây dương này. Do đó chiến sự đã chuyển sang một trận đột kích của hạm đội Bismarck và chiếc tàu tuần dương hạng nặng Prinz Eugen trong tháng 5/1941. Bismarck là một chiến hạm hiện đại được bọc thép chắc chắn, nó được trang bị 8 khẩu 15”. Các tuần dương đô đốc Gneisnau và Scharnhorst được biên chế cùng chiến hạm này, nhưng chiếc Gneisnau đã bị hư hỏng vì không kích còn chiếc Scharnhorst thì cần thay thế lại nồi hơi. Tiếp nữa còn có chiếc Tirpitz, nó cùng một kiểu với chiếc Bismarck, chiếc tàu chiến này được biên chế cùng hạm đội nhưng chưa được đưa vào sử dụng. Theo lịch trình cho tháng tư bị chậm lại do chiếc Prinz Eugen cần được tu sửa vì nó vừa bị trúng thủy lôi. Đô đốc hải quân Đức Gunther Lütjens và các chuyên viên chiến lược của Y không hề biết rằng có một sự hợp tác rất chặt chẽ hiện đang lớn mạnh giữa các lực lượng hải quân Mỹ và Anh. Người Mỹ đã đồng ý mở rộng các hoạt động tuần tra của họ đến phía tây Đại tây dương, họ cũng đã chế tạo mới một loại máy bay tuần tra tầm xa - Catalina cho nước Anh. Những thỏa thuận này cho phép nước Anh tập trung huy động năng lực phòng thủ tại quốc gia của mình. Hơn nữa, chiếc tàu vận tải HMS - Vinh quang vừa mới được trang bị thành tàu chiến, nó đang sẵn sàng được tham chiến. Cơ quan tình báo cũng phát hiện được rằng, các tàu chiến Đức đã nhận được những hải đồ mới và hải cảng của Pháp tại Brest cũng được tân trang để tiếp nhận trợ giúp tàu chiến loại lớn. Ngày19/5, Lütjens đến từ Đức để hỗ trợ cho Norway. Với nhiều lý do, Lütjens đã không ra lệnh cho Bismarck tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu. trong khi Bismarck đang ẩn nấp tại vịnh Norway, một chiếc máy bay do thám của RAF (không lực Hoàng gia Anh) đã phát hiện ra Bismarck ngày 20-21/5. Phát hiện này đã làm hoang mang cho tất cả lực lượng hải quân Hoàng gia. Bởi nếu như hai tàu chiến địch có thể đánh được vào cửa ngõ của Đại tây dương, chúng sẽ tiến hành tàn phá rất nguy hiểm cho hàng phòng thủ trên biển. Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Hoàng gia Anh, đô đốc John Tovey có trong tay một số lượng tàu chiến rất đông đảo nhưng chúng lại được trải rộng trên rất nhiều vị trí. Những vị trí của hải quân Hoàng gia từ Gibraltar đến Iceland đã được báo động để canh phòng tàu chiến. HMS Norfolk cùng với chiếc tuần dương hạm HMS Suffolk đã được điều đi tuần tra trên eo biển Đan Mạch giữa vùng Greenland và Iceland, ngày 23/5 chúng phát hiện thấy tàu chiến Đức và đã phát tín hiệu cảnh báo về tổng hành dinh đô đốc. Sáng ngày 24/5, hai chiếc HMS Hood và HMS Prince của xứ Wales đã đến phạm vi thiết lập đội hình tại phía bắc và bắt đầu triển khai hỏa lực vào quân Đức. Chiếc Bismarck và chiếc Prinz Eugen của Đức quay lại bắn trả. Trong vòng 17 phút, chiếc Bismarck đã ba lần bắn trúng vào tàu chiến của Anh. Chiếc HMS Hood nổi giận, giáng trả liên tiếp hai lần hỏa lực trúng đối phương. Chiếc Prince của xứ Wales. Một chiếc tàu chiến mới cũng bị nhiều vết đạn do chiếc Bismarck và Prinz Eugen nã trúng. Chiếc HMS Hood bị đánh chìm làm cho lực lượng Hải quân Hoàng gia và công chúng Anh nổi giận. Lütjens thấy rằng cuộc chiến sẽ bị thiệt hại giống như cuối trận Đại Tây Dương và Y quyết định đánh thẳng vào Brest để tìm lối thoát cho chiếc Prinz Eugen, trong khi đó chiếc Bismarck cố gắng lẩn trốn sự truy đuổi của các tàu chiến Anh. Lütjens hy vọng rằng, Y sẽ có được sự cứu viện từ căn cứ không quân tại Pháp trước khi các tàu chiến của Anh có thể bắt kịp. Hải quân Anh lại một lần nữa mất dấu vết của chiếc Bismarck cho đến tận ngày 26/5, một sĩ quan hải quân Hoa kỳ trên chiếc máy bay tuần tiễu Catalina phát hiện ra chiếc Bismarck xuyên qua đám mây, Tovey liền thông báo ngay cho lực lượng hải quân Hoàng gia. Với hai phát thủy lôi, chiếc oanh tạc cơ ngư lôi thuộc hạm đội HMS Ark đã phá hỏng chiếc Bismarck, phát thứ nhất chỉ đánh hỏng nhẹ ở mớn nước gần sống mũi con tàu, nhưng phát thứ hai đã phá hủy nặng nề ở phần đuôi lái của nó. Lütjens nhận thấy rằng ông ta đang gặp một trở ngại ngiêm trọng. Ông ta không thể điều khiển được con tàu được nữa và mức nhiên liệu dự trữ cho động cơ cũng sắp cạn kiệt. Ông ta cảm thấy hối tiếc vì đã không tiếp thêm nhiên liệu ở Norway. Ngày 27/5/1941,Tovey tiếp tục giáng thêm hỏa lực vào chiếc Bismarck. Với lợi thế lực lượng và trang bị vũ trang đông đảo hơn, các tàu chiến của Anh đã liên tiếp giáng cho chiếc Bismarck những đòn chí mạng, làm cho nó dường như không thể chống trả. Sau khi bị hơn 400 phát đạn pháo nã trúng, chiếc Bismarck chở thành một chiếc tàu chiến bục nát. Trong khi lực lượng hải quân Hoàng gia đang tiến hành giải cứu thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck thì một chiếc tàu ngầm Đức đã nã một phát thủy lôi vào họ làm cuộc giải cứu này bị chấm dứt, do vậy chỉ khoảng vài trăm trong số 2000 thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck được giải thoát, Sau sự va chạm này, lính thủy Đức đã phải canh gác để cho đồng đội của họ thoát ra nhưng có một số đã không thể cứu được. Lütjens và ban tham mưu của ông ta đã chìm xuống cùng với chiếc Bismarck. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2.jpg Chiến hạm Bismarck bị bắn cháy bới các hạm đội hải quân Hoàng gia Anh http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/3.jpg Những phát đạn đầu tiên của Quân Anh đã đánh trúng bên mạn chiến hạm Bismarck http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/4.jpg Chiếc Bismarck đang bị chìm http://worldwar2database.com |
Crete 27/4 - 31/5/1941 http://i187.photobucket.com/albums/x...of-crete-1.jpg Với thất bại trong cuộc kháng cự của quân đội Hy Lạp trên thềm lục địa cùng với cuộc di tản của lực lượng Anh, chỉ huy lực lượng New Zealand, tướng Bernard C. Freyberg nhận định rằng: Theo logic trên đảo Crete sẽ là mục tiêu kế tiếp. Vị trí địa lý của Crete rất thuận lợi và ba sân bay ở đây nằm giữa khoảng cách ấn tượng của mỏ dầu lửa Rumany, cắt ngang Aegean từ Địa trung hải và có thể làm một căn cứ để nhằm đánh thẳng vào Ý, Bắc phi và Hy lạp Khoảng 27.000 binh lính các nước (gồm Anh và một số nước thuộc địa khác), hầu như đã mệt mỏi và không được trang bị khí tài hạng nặng, đã đổ bộ lên Crete. Trong đó có 19.000 quân của Hy Lạp và Crete, phần lớn trong số họ chưa được đào tạo và không có trang bị đầy đủ. Ngay sau đó đội quân của Freyberg đã phải chịu những cuộc không kích khốc liệt trong suốt ba tuần lễ. 700 máy bay Đức xuất kích 300 đợt mỗi ngày, bắn phá và ném bom vào bất kỳ một mục tiêu nào tại đây. Do thấy không thể yểm trợ trên không cho Crete được nữa, RAF đã phải rút lui vào ngày 19/5/1941. Ngay sáng hôm sau, 10.000 lính dù Đức đã đổ bộ trên 3 sân bay và bắt đầu tập hợ để liên kết đội hình. Nhưng hầu hết lớp đầu bị quân lính Anh bị hạ gục. 170 chiếc Ju-52 và hầu như tất cả tàu lượn bị tiêu diệt. 4.000 lính bị chết và 2.600 lính Đức bị thương Nhưng lính Đức quay lại phản công rất dữ dội. Không thể chống trả các đợt tấn công dữ dội của quân Đức, đến ngày 31/5 tướng Freyberg phải ra tín hiệu cần phải rút lui. Hải quân Anh đã phải rút 18.000 binh lính ra Sfakia, sau đó tiếp tục di chuyển thêm 13.000 binh sĩ nữa. Kết cục, ba tàu tuần dương, sáu tàu khu trục của Anh bị phá hủy, máy bay vận tải của HMS bị thiệt hại nặng nề. http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-2.jpg http://worldwar2database.com |
Trận chiến tại Hy Lạp 1940-1945 Ngày 28/10/1940, 200,000 binh lính Ý tấn công vào Hy Lạp từ vùng Albany – Ý. Quân đội Hy Lạp dù sao cũng là một lực lượng rất khó để bị chinh phục. Do vậy quân đối Ý không những bị đánh tơi tả mà còn bị tống ra khỏi lãnh thổ Hy Lạp và buộc phải quay trở lại nơi xuất phát tại Albany. Hitler rất tỏ ra giận dữ với Mussolini vì đã không thông báo gì với ông ta về cuộc xâm lược này. Như kế hoạch của Hitler với ý định tấn công Liên Xô vào mùa xuân năm 1941, quân đội Ý cần phải tác chiến cùng với quân Đức tại sườn phía nam. Vậy nay kế hoạch đó phải trì hoãn để bảo vệ Balkan. Quân Đức tấn công Hy Lạp và Nam Tư vào ngày 6/4/1941. Chiến tuyến Metaxas, pháo đài trên đường biên giới Hy Lạp – Bulgary đã đánh chặn quân Đức dữ dội cho đến khi Nam Tư thất thủ vào ngày 17/4. Lúc này quân Đức tấn công vào Hy Lạp từ địa phận của Nam Tư và bắt đầu bao vây các vị trí quân sự của Hy Lạp. Hiler đã chuẩn bị chuyển lực lượng sang tấn công nước Nga hòng bẻ gãy sự kháng cự của quân đội Hy Lạp. Toàn bộ bán đảo Peloponnesian đã bị chiếm đóng và Athens thất thủ vào ngày 27/4. Lực lượng quân đội của khối thịnh vượng chung Anh quốc có tổng số 43.000 binh sĩ đã di tản đến Crete và Egypt. Do thiếu ưu thế về sức mạnh hải quân nên quân Đức toan tính đến con đường phải loại trừ bằng được Crete vì đây được coi như một mối hiểm họa đối với chúng. Quân đoàn dù Fallschirmjäger của Đức dưới sự chỉ huy của Kurt Student đã có câu trả lời này. Ông ta bắt đầu kế hoạch tác chiến để tấn công Crete bằng đường không. Hy lạp bị quân Đức chiếm đóng đến tận năm 1944. Chúng rút lực lượng ra khỏi đây vì quân Đức rất cần quân lính và các thiết bị để lấp vào các vị trí đã bị tổn thất tại các chiến trường ở Pháp và Liên Xô. Khi đó gần như ngay lập tức Hy lạp bị chia cách ra làm hai phe phái, một bên thì ủng hộ các nước phương tây còn một bên theo các nước xã hội chủ nghĩa và nội chiến vì thế cũng bắt đầu bùng nổ. Sau WW II nước Mỹ đã trợ giúp phe ủng hộ phương Tây mở rộng cuộc nội chiến này. http://www.jewishvirtuallibrary.org/...ce/greece6.jpg Lính Đức tai Hy Lạp http://worldwar2database.com |
Cuộc chiến Trân châu cảng http://images.encarta.msn.com/xrefme...9/T629309A.jpg Quả cầu lửa đã nhấn chìm chiếc USS Shaw trong cuộc tấn công của quân Nhật Tháng tư năm 1940, một số máy bay chiến đấu hai tầng cánh "Cá kiếm" đã quá rệu rão của Anh, thành lập một nhiệm vụ với biệt hiệu " những chiếc Túi lưới" để tổ chức một đội hình mỏng manh tấn công vào hạm đội của Ý tại Taranto. Chỉ trong vài phút, lực lường này đã bị thiệt hại đáng kể bởi sự đánh trả của hạm đội Mediterranean của Ý. Thủy sư đô đốc hải quân Nhật, Isoroku Yamamoto và ban tham mưu của ông ta tiến hành nghiên cứu kế hoạch tấn công vào Taranto, thậm trí còn làm nguyên một mô hình hải cảng này để rà soát một cách tỉ mỉ hơn nữa. Yamamoto cần tìm ra phương hướng – huy động một lực lượng lớn sẽ giao chiến ở một nơi nào đó gần Philippines, hòng thay đổi triệt để cái học thuyết chiếm ưu thế trong chiến tranh đã hằn sâu vào tiềm thức của cả hai bên lực lượng hải quân Nhật và hải quân Đồng minh. Theo các kế hoạch tác chiến khác nhau, cả hai bên cố gắng tạo ra một cuộc giao tranh chủ yếu ở một vùng biển nào đó mà các vũ khí hoặc đại pháo trên tàu chiến của mình đạt được ưu thế để dội thẳng hỏa lực vào hạm đội của đối phương để giành quyền quyết định trận đánh. Kế hoạch này đã được Togo và các sĩ quan của ông ta hoàn thành tại Tsushima, bây giờ được lực lượng hải quân đế quốc Nhật đem ra thực hiện với ý định sẽ làm được điều gì đó trên hạm đội của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. [img] Nhưng hai loại vũ khí mới đã được ra đời vào năm 1941, những thứ mà Togo đã không hề nhìn thấy chúng vào năm 1905. Đó là máy bay và tàu ngầm các loại vũ khí này đã thay đổi mọi thứ và chỉ có một vài sĩ quan trong lực lượng hải quân của cả hai bên mới được biết về chúng. Yamamoto đã công nhận tầm quan trọng của phi cơ, nhưng không thèm để ý đến sự "tiện ích" của tàu ngầm. Lực lượng hải quân của ông ta sở hữu số lượng máy bay nhiều hơn bất kỳ một lực nào của Nhật và các phi chiến của ông ta cũng là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất dù ở bất kỳ nơi đâu. Một viên sĩ quan được bổ nhiệm làm chỉ huy Hạm đội không quân Thứ nhất này, mặc dù ông ta viên sĩ quan này không đủ khả năng để đảm đương trách nhiệm, nhưng Chuichi Nagumo vẫn cho thi hành quyết định của ông ta. Tàu ngầm lại là một vấn đề khác, Nhật Bản đã có loại thủy lôi tốt nhất thế giới, các nước Đồng minh chưa được biết đến loại vũ khí này. Nó như một cây thương dài, tốc độ phóng nhanh hơn, kích thước lớn hơn và có sức công phá mạnh hơn so với bất kỳ vũ khí cùng loại nào của quân Đồng minh, riếng với Mỹ thì các loại vũ khí này của họ đặc biệt rất thiếu sự tin cậy. Đội tàu ngầm của Nhật là những chiếc tàu rất xuất sắc với những thủy thủ đoàn được đào tạo và có tay nghề cao, nhưng chúng được trang bị rất cồng kềnh để nhận nhiệm vụ đánh chìm các tàu chiến chính của đối phương và không được xác định nhiệm vụ trong các cuộc giao chiến với các tàu ngầm khác. Trong khi đó nước Anh, là một quốc đảo cũng như Mỹ đã hiểu rất rõ một chiếc tàu ngầm có thể phá hủy trực tiếp như thế nào. Cả hai quốc gia này rất thấm thía trận đánh chiếc Lusitania của Anh trong WW I Với sự thiếu hụt về khả năng tác chiến của tàu ngầm. Hải quân đế quốc Nhật đã phát triển thêm các tàu chiến mẹ để đối phó với các trận đánh tàu ngầm. Hàng loạt những chiếc HA thành lập, mỗi chiếc được mang theo hai đoàn thủy thủ đoàn và hai quả thủy lôi, năm chiếc trong số đó sẽ tiến hành phá hủy vòng ngoài mạng lưới tàu ngầm của đối phương để lẻn vào Trân châu cảng và với mục đích đánh đắm bất kỳ mục tiêu nào mà chúng có thể phá hủy. http://www.sheppardsoftware.com/imag...earlHarbor.jpg Chiếc USS Arizona sunk đang bị chìm tại Trân châu cảng. Con tàu bị đánh trúng thân bụng. Các kết cấu và dài chỉ huy bị đánh nghiêng và đổ sập Hawaii năm 1941 là một địa điểm rất khác biệt so với hầu hết người Mỹ ngày nay thường nghĩ. Nó đã từng là căn cứ xuất phát cho hạm đội Thái bình dương của Mỹ ngay từ hồi tháng mười 1941 và rất nhiều hàng hóa quân dụng để dành trang bị cho một lực lượng khổng lồ chưa được thành lập. Hạm đội nhổ neo từ vịnh Hiroshima ngày 28/11. Nó phải ẩn mình trong làn mưa bão và mất một tuần để vượt qua Bắc Thái bình dương, 6 giờ sáng hạm đội đã đến cách Oahu 200 hải lý. Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày chủ nhật bởi những người tiến hành cuộc chiến Nhật Bản tin rẳng trong lúc này hải quân Mỹ sẽ phải rút lui do cần phải thực hiện lễ Chúa nhật. Có một cuộc liên hoan được tổ chức vào đêm trước hôm đó và chiến hạm Hoa kỳ (USS) Arizona đã được thiết đãi linh đình trong bữa tiệc này. 4 giờ sáng, hầu như toàn bộ thủy thủ trên chiến hạm đã về giường ngủ, một số ít trong số họ mới biết rằng đa số xạ thủ trên tháp pháo canh số 2 đã tử trận sau một vài giờ quân Nhật nã đạn. http://www.espionageinfo.com/images/eeis_02_img0822.jpg Ba chiếc tàu chiến U.S bị không quân Nhật đánh trúng tại Trân châu cảng ngày 7/12/1941. Từ trái sang: Chiếc USS West Virginia bị thiệt hại nặng nề, chiếc USS Tennessee bị hư hại và chiếc USS Arizona bị chìm Các trang thiết bị khí tài, hỏa lực của lực quân đội và hải quân Mỹ đã hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc tấn công dữ dội mà họ đã phải đón nhận. Với kế hoạch hành động chớp nhoáng của quân Nhật đã làm cho Hawaii không thể ngờ đến. Tướng quân Short và thủy sư đô đốc hải quân E. Kimmel không hề nghĩ rằng cuộc đột kích táo bạo này đã có thể xảy ra. Những chiếc P – 40 của đoàn không quân Short được bố trí đỗ vào các dãy gọn gàng để tránh bị phá hủy, nhưng chúng được tập hợp lại dày đặc cùng với nhau do vậy đây cũng lại là một mục tiêu lý tưởng cho bom oanh tạc. Kimmel cũng lại không nghĩ rằng thủy lôi có thể hoạt động được trong các vùng nước cạn của Trân châu cảng. Trên thực tế trong khi xảy ra chiến sự, các phi cơ của hải quân Mỹ đã công kích rất thành công, một sĩ quan đã nhận xét rằng; Với một luồng nhỏ, toàn bộ hải cảng sẽ bị ách tắc nếu như chỉ có một chiếc tàu chiến bị đánh chìm phía trong cảng. Thực tế, cuộc đột kích vào Trân châu cảng đã được dự báo từ trước. Một điệp viên của Nga – Richard Sorge tại Tokyo đã thông báo cho Stalin rằng; cuộc đột kích đã được chuẩn bị thực hiện. Cơ quan tình báo của Mỹ cũng đã có dự báo; Trân châu cảng có thể sẽ là một mục tiêu tấn công, Nhưng các nguồn cảnh báo lặp lại chiến tranh đã không hề nhắc đến hải cảng này. Trong khi đó, USS Ward đã đánh chìm một chiếc tàu ngầm Nhật bên ngoài hải cảng lúc 4: 55' AM. Một trạm rada của Anh đã bắt được tín hiệu của máy bay Nhật lúc 7AM, nhưng cũng không hề phát đi một tín hiệu cảnh báo nào. Cờ lệnh của Mỹ đã được kéo lên trên khắp hạm đội lúc 7:45 AM. Vào lúc 8 AM, 359 máy bay Nhật trong hai đợt xuất kích từ các hướng của chúng đã tấn công vào Trân châu cảng. Lúc 8:15 AM, tháp pháo canh số 2 của chiếc USS Arizona bị đánh trúng bởi một quả đạn pháo hải quân cải tiến thả xuống từ một chiếc oanh tạc cơ của Nhật. Kho vũ khí con tàu bị nổ tung và nó bị thổi bùng lên, chiếc cầu tàu bị gãy vụn, cột cờ ở phía trái mũi tàu bị văng vào trong. Chiếc USS Arizona "cơn mưa lính thủy" gần như 1200 thủy thủ trên tàu bị tử chiến. http://www.classbrain.com/artteenst/...arl-harbor.jpg Trân châu cảng, Hawaii. Một chiếc tàu cứu hộ nhỏ đang giải cứu cho một thủy thủ từ chiếc USS West Virginia trọng tải 31,800 tấn đang bị bốc cháy (cận ảnh). Khói cuốn ra từ phía giữa thân tàu nơi mà đã bị thiệt hại nặng nề nhất. Trong khi chiếc Arizona đã vĩnh viễn chìm sau dưới bùn trong hải cảng thì chiếc USS West Virginia cũng bị bốn quả thủy lôi nện trúng, chiếc USS Oglala bị lật úp và cuộc chiến mới chỉ bắt đầu. Khi đó những cơn mưa bom và thủy lôi rơi xuống trên khắp Trân châu cảng và trạm hàng không đảo Ford. Trạm hàng không quân đội Kehnoe bị băm vụn ra từng mảnh cách đó không xa. Vào lúc 8:45 chiếc USS Nevada, được chỉ huy bởi một sĩ quan cấp dưới, đã mở tốc lực chạy ra đại dương để thu hút bớt sự tập trung của quân Nhật tại cảng hòng thay đổi phần nào hướng công kích của chúng. Nó đã hút hàng chục oanh tạc cơ và máy bay chiến đấu của Nhật chuyển hướng tấn công về phía mình và cũng bị trúng đòn hàng loạt. Sau đó chiếc USS Nevada cũng bị chìm dần và viên chỉ huy đã đưa nó "an nghỉ" vào nơi gần bờ để tránh bị chìm vào luồng cảng. Lúc 9:30, Đợt công kích tiếp theo lại bắt đầu và cuộc phá hủy hạm đội Mỹ ở mức độ cao hơn. Hầu như toàn bộ 29 chiếc phi cơ Nhật đều nhả đạn xuống hải cảng trong đợt công kích thứ hai này. Chúng thậm chí còn phá hủy nặng nề các tàu chiến và máy bay của quân đội Mỹ. Chỉ có bốn hoặc năm chiếc máy bay US còn lại ở trên cao và rất nhiều những chiếc P-26 và P-35 bị phá hủy ngay bên dưới. 10:30 kẻ tấn công cuối cùng mới rút đi. Cuộc thu dọn chiến trường được bắt đầu ngay khi đó và đến tận năm 1944 mới kết thúc. Nhưng những vết thương tâm lý của nước Mỹ vẫn còn lưu mãi đến ngày nay. http://www.ussoklahoma.com/Mo.gif Trân châu cảng ngày nay, trên hình là chiếc USS Missouri và các vị trí "nhang khói" cho những chiếc USS đã bị đánh chìm xưa kia tại đây http://worldwar2database.com |
Mặt trời mọc 12/1941 – 5/1942 Các nước Đồng minh đã đánh giá quá thấp về sức mạnh của quân phát xít Nhật. Đồng minh cho rằng Nhật chưa có thể làm lên trò trống gì trong giai đoạn này. Mặc dù đã có nhiều báo cáo ở Đại lục và đến cuối năm 1941 một đội quân tình nguyện Hoa kỳ đã được huy động, họ cũng vẫn tin tưởng rằng các loại máy bay chiến đấu của phương Tây vẫn có khả năng vượt trội hơn hẳn các đối thủ cùng loại của Nhật Bản. Song, cuộc tấn công của quân Nhật vào 7 – 8/12/1941 thực sự là cú choáng váng cho những ai vẫn còn có những mộng tưởng và họ cũng không bao giờ ngờ đến một sức mạnh như vậy. Quân Nhật đã dường như ngay lập tức có mặt khắp mọi nơi trong cùng một thời điểm: Ngày đầu tiên một mình đơn độc tuyên bố chiến tranh, quân Nhật đã tấn cồng bằng đường biển, lục địa hoặc đường không trên khắp Thái bình dương: Trân châu cảng, Manila, Midway, Hong Kong, Thailand, Shanghai, Wake, Guam, Singapore, Ấn Độ và các vùng lân cận phía đông Hà Lan Malaya và Burma. Quân Nhật thường chiếm ưu thế về số lượng, trang bị khí tài cũng như chiến thuật và huấn luyện, các điều kiện đó đã cho phép chúng di chuyển rất nhanh xuyên suốt Thái bình dương. Các đảo lần lượt bị quân Nhật nhanh chóng đánh chiếm: 1941 08/12: Doanh trại quân đội nước ngoài ở Thượng Hải http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-4.jpg Col Samuel L. Howard và ban tham mưu trung đoàn hải quân số 4 của ông ta tại Thượng Hải, 28/11/1941. John E. Drake Papers, 10/12: Guam http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2-2.jpg Tù binh Nhật tại Guam. 25/12: Hong Kong http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/3-2.jpg Quân Nhật Tại Hồng Kông 1941 1942 02/1: Manila, Philippines http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/4-2.jpg Quân lính Nhật đổ bộ vào Philippines, 16/12/1941 25/1: Balikpapan, Java http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/5-1.jpg Máy bay Nhật đánh bom xuống gần tàu tuần dương của Hà Lan ở Java 14/2: Quân dù Nhật đổ bộ lên mỏ dầu Palembang, Sumatra http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/6-1.jpg Những bể dầu bị quân Nhật đốt cháy tại Palembang, Sumatra ngày 14/2/1942 17/2: Singapore http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/7-1.jpg Quân đội Nhật sau khi đánh chiếm Singapore, đang hành quân qua trung tâm thành phố, 2/1942 19/2: Hàng không mẫu hạm thứ nhất đánh bom tấn công cảng Darwin http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/8-1.jpg Đánh bom cảng Darwin 1942 05/3: Batavia, Java http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/9-1.jpg Đội quân lính xe đạp của Nhật tiến vào Batavia, Java, 3/1942 20/3: Chiếm đóng toàn bộ Admiralty và Western Solomons http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/10-1.jpg Máy bay oanh tạc B-17 của Mỹ ném bom xuống các vị trí quân sự của Nhật trên đảo Solomon 08/4: Rangoon, Burma http://i187.photobucket.com/albums/x...June-14-42.gif Lính Nhật tiến vào Burma 1942 09/4: Bataan http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/11.jpg Quân Nhật tại Bataan 07/5: Corrigedor thất thủ, kết thúc toàn bộ sự kháng trả trên Philippines http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/15.jpg Quân đội Nhật bản diễu binh mừng chín thăng tại thủ đô Manila của Philippines Trong khi lực lượng bộ binh của Nhật đang xúc tiến mạnh mẽ, lực lượng hải quân đế quốc Nhất cũng tàn phá mọi thứ trên đường đi của chúng. Duy chỉ có một thắng lợi nhỏ nhoi của quân Đồng minh là họ đã phá hủy được 5 chiếc tàu vận tải Balikpapan của địch đang thả neo vào ngày 24/1. Toàn bộ lực lượng hải quân đế quốc Nhật đều có khả năng phối hợp các cuộc tấn công của chúng với tàu chiến và binh lính đã được huấn luyện cùng nhau cho các chiến dịch ban đêm. Hầu như tất cả các lực lượng thủy quân của Đồng minh chưa hề có sự phối hợp tác chiến cùng với nhau như vậy trước đó, chứ chưa nói đến thực hiện chiến dịch vào ban đêm. Hầu như các tàu chiến của họ cũng đã bị "quá đát" và không có khả năng đánh địch ban đêm hoặc yểm trợ bằng không quân. Ngày 10/12, chiếc HMS Prince của Wales và chiếc HMS Repulse bị đánh chìm trên được đi cứu viện Singapore, những chiến hạm này không có sự yểm trợ bằng không quân trên đường. Ngày 27/2, một trận đánh trên vùng biển Java đã nổ ra, kết quả là tất cả các sức mạnh thủy quân còn lại trên vùng biển Đông nam Á của quân Đồng minh bị phá hủy hoàn toàn. Ngày 9/4, chiếc HMS Hermes và một số tàu chiến khác bị tàu hàng không mẫu hạm Thứ nhất của Nhật đánh chìm tại Ấn Độ dương. Với sự thất thủ của Philippines. Cuộc chiến của quân Nhật thực hiện đã lên đến đỉnh điểm, mặc dù nó xem ra có vẻ khó có thể hình dung được tại thời điểm đó. Lực lượng hải quân của Đồng minh hiện rất kém ưu thế về số lượng tàu chiến, máy bay và binh lính, họ trở nên quá yếu nằm giữa quân Nhật và cảng Moresby ở New Guinea. Một lực lượng đổ bộ của quân Đồng minh với mệnh lệnh phải chiếm giữ bằng được cảng Moresby đã được tiến hành, nhưng cũng bị chặn đứng và phải dừng lại tại vùng biển San hô, trong trận này Mỹ bị mất chiếc tàu Lexington, trong khi đó quân Nhật cũng bị mất chiếc IJN Shoho. Quân Nhật cuối cùng cũng tạm dừng các cuộc tấn công http://worldwar2database.com |
Nhật Bản xâm lược Việt Nam http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2-3.jpg Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp (áo trắng) gặp gỡ các sĩ quan Mỹ của văn phòng cục chiến lược (OSS) vào mùa hè năm 1945 để thỏa luận chiến dịch chống quân Nhật Cuộc xâm lược của phát xít Nhật vào Việt Nam (Indochina một thuộc địa của Pháp trước đây), được biết thêm với một cái tên (Cuộc viễn chinh Việt Nam). Cuộc xâm lược này thực sự là một cố gắng rất lớn của đế quốc Nhật, trong thời gian cuộc chiến Trung – Nhật thứ hai để phong tỏa Trung Quốc hòng ngăn chặn nước này nhập khẩu vũ khí, quân dụng, nhiên liệu và 10.000 tấn nguyên liệu/ một tháng được cung cấp từ Mỹ thông qua tuyến đường sắt Hải phòng – Vân Nam. Trong khi chiến dịch của quân Nhật đánh chiếm Long Châu và tiếp tục nhằm tới Quảng Tây, nước Pháp đã có ký hòa ước với Đức quốc xã ngày 22/6/1940, nó có ảnh hưởng đến giới chức của chính quyền Vichy trong vùng không bị chiếm đóng của Pháp. Hệ thống cai trị Vichy này ngoài ra cũng kiểm soát hầu hết các thuộc địa nước ngoài của Pháp bao gồm cả Việt Nam, một trong những lãnh thổ là cửa ngõ của Trung Quốc thông ra ngoài thế giới. Với việc quân Nhật đoạt được Lan Châu, con đường quốc lộ ở đây ngay lập tức bị cắt đứt, nhưng còn một tuyến đường sắt vẫn được sử dụng để vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng đến Vân Nam. Bất chấp các cuộc đánh bom của quân Nhật, tuyến đường sắt Vân Nam này vẫn được bảo toàn để lưu thông. Nước Nhật tức tối và bắt đầu ép buộc chính quyền Vichy đóng toàn bộ tuyến đường sắt này, ngày 5 tháng 9, đội quân mặt trận phía nam Trung Quốc của Nhật dưới sự điều khiển của bộ tham mưu lính đồn trú ở Việt Nam đã tổ chức tiến hành độ bộ để hất cẳng đội quân viễn chinh Pháp. Đội quân này được chỉ huy bởi thiếu tướng Takuma Nishimura cùng với sự trợ giúp của hải quân và máy bay chiến đấu từ hàng không mẫu hạm và các căn cứ không quân ở đảo Hải Nam. Ngày 22/9, Nhật và chính quyền Vichy ở Việt Nam đã ký một hiệp định được quyền đóng quân và mượn địa danh Việt Nam để quá cảnh sang nước khác, nhưng giới hạn quân Nhật chỉ có thể đồn trú tại Việt Nam không qúa 6000 binh lính trên địa điểm đóng quân… Hơn nữa, tại điều khoản cuối cùng của bản hiệp ước bắt buộc các lực lượng hải quân, không quân và bộ binh của Nhật phải đóng cửa các doanh trại đồn trú của mình trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong vài giờ đồng, các đội hình của sư đoàn số 5 dưới sự chỉ huy của trung tướng Akihito Nakamura đã vượt qua biên giới tại ba vị trí và đóng chặt ga đầu mối tại tỉnh Lạng Sơn. Hành động này trái ngược với những qui ước trong bản cam kết đã được ký kết và cuộc giao tranh đã xảy ra giữa quân Nhật với một lữ đoàn thực dân và đội lính Lê dương Pháp đến tận ngày 25, cuối cùng Lạng Sơn bị quân Nhật chiếm đóng. Sự việc này đã mở một cánh cửa cho quân Nhật tiến vào Hà Nội. Tuy nhiên chính quyền Vichy vẫn còn những lực lượng phònh bị tại phía bắc, phía nam và các tiểu đoàn còn nguyên vẹn đang trấn giữ trên tuyến đường Lạng Sơn – Hà Nội Ngày 23 tháng 9, chính quyền Vichy đã tiếp cận chính quyền Tokyo để phản kháng sự vi phạm điểu khoản ký kết của lực lượng quân đội mặt trận phía nam Trung Quốc của Nhật Bản Trong khi đó các máy bay chiến đấu của lực lượng đặc nhiệm ngoài khơi của Nhật Bản từ Hải Phòng Vịnh Bắc bộ Việt Nam, bắt đầu xuất kích vào rạng sáng ngày 24/9. Một đại diện ngoại giao của chính quyền Vichy đã đi đến thương lượng, nhưng cũng trong lúc đó các lực lượng phòng thủ bở biển vẫn được lệnh sẵn sàng nhả hỏa lực chống lại bất kỳ lực lượng nào của Nhật cố tình đổ bộ. Ngày 26/9, quân Nhật đã đổ bộ vào bờ biển tại xã Đồng Tac phía nam Hải Phòng và bắt đầu tiến đánh cảng Hải Phòng. Tiếp theo đó là những chiếc xe tăng Nhật cũng được đổ bộ vào bờ biển và Hải Phòng bắt đầu bị đánh bom gây ra thương vong cho một số người. Buổi chiều, khoảng 4.500 quân lính Nhật và hàng tá xe tăng của chúng đã tiến được ra ngoài thành phố Hải Phòng. Tối ngày 26/9 cuộc giao tranh đã bắt đầu tắt dần. Quân Nhật chiếm được sân bay Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, tuyến đường sắt nối toa xe trên biên giới Vân Nam tại Lào Cai và Phủ Láng Thượng (Bắc Giang) ngang qua tuyến đường sắt từ Hà Nội – Lạng Sơn gần biên giới tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Lính Nhật còn đóng 900 quân lính tại cảng Hải Phòng và hơn 600 tên tại Hà Nội. Ngày 27/9 Nhật Bản ký kết liên minh quân sự với Đức và Italya http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-5.jpg Nông dân Việt Nam đang tải đạn cho Việt Minh chống Nhật |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:16. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.