![]() |
Sưu tập ảnh về chiến tranh Việt Nam với sự có mặt của vũ khí-trang bị Liên xô
Hôm nay vào Internet thấy có bài này:
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/...ay-ay-bay-gio/ Với một bức ảnh rất đẹp, xét về mặt nghệ thuật. http://vnexpress.net/Files/Subject/3...a8/ba-Tam3.jpg Điều dễ nhận thấy nữa là trên tay của anh hùng La Thị Tám là một cái ống nhòm quân sự. Chỉ cái ống nhòm quân sự ấy cộng với đôi bàn chân thoăn thoắt và lòng dũng cảm vô song xuất phát từ lòng yêu nước trong trẻo của một cô gái Việt bình thường đã làm nên một anh hùng, điều có giá trị rất lớn trong việc cắt nghĩa cho chuyện tại sao người Mỹ đã thất bại ở Việt Nam. Tôi thì không chắc lắm đó có phải là một ống nhòm do Liên xô viện trợ không song nó rất giống với cái ống nhòm kỷ vật những năm chỉ huy chống chiến tranh phá hoại tại Hải Phòng của cha tôi mà tôi vẫn giữ trong nhà. http://i745.photobucket.com/albums/x...90412_0450.jpg Trên đó vẫn còn rõ những con chữ tiếng Nga http://i745.photobucket.com/albums/x...90412_0452.jpg Lẩn thẩn nghĩ, giá mà các thành viên của 3N lại có công tìm kiếm hoặc tình cờ thấy các ảnh có lưu dấu các trang bị, vũ khí Liên xô ngày trước, sưu tập lại thành bộ ở đây để ghi lại những bằng chứng về sự trợ giúp của nhân dân các dân tộc Liên xô đối với VN trong thời gian chiến tranh chống Mỹ thì có lẽ sẽ là một việc hữu ích. Ít nhất cũng hữu ích không kém việc sưu tầm nhiều ảnh khác đã có trên 4R. |
Trích:
Vào những ngày kỹ niệm tôi hay lật những ảnh sưu tập được xem lại và nghe lại những bài hát của một thời lịch sử. Nhìn nhận, nghiên cứu những góc cạnh thời đáng nhớ đó cũng góp thêm hiểu biết cho ngày hôm nay. Nhân đây xin có suy nghĩ thêm về vài chiếc trong số mấy trăm ảnh về chiến tranh VN sưu tập được. Bức ảnh này chắc là do người không chuyên nghiệp chụp. Máy không "xịn" và kỹ thuật ánh sáng chưa tốt, nhưng nó trở thành nỗi tiếng vì ghi lại rất thực giây phút đầu tiên: Bức ảnh này do phóng viên chuyên nghiệp chụp sau đó vài phút: Cháu thứ 4 (từ trái sang trong ảnh 1) bị rớt lại. trong ảnh 2 không thấy đâu, cháu thứ 2 (ảnh 1) gần như dừng lại chờ, cô chị (thứ 5 ảnh 1), ở ảnh 2 thì chạy sang lề đường (theo thói quen, hay là sợ bị nhóm lính phía sau đè lên?) và cũng ngoái lại chờ các em. Nếu ai đã "dính" bom đạn thời bấy giờ 1 lần thì sẽ hiểu tâm trạng con người lúc đó. Khi sơ tán ở Vĩnh Linh thời mới chiến tranh tôi bị 'dính" vài lần: 1 lần bị pháo tăng tốc từ Ba Dốc chụp lên cả nhóm mấy đứa, ở cô bạn đi trước vài bước sau đó chỉ còn thấy phần đầu và mái tóc mắc trên ngọn tre; 1 lần bọn tôi bị sập địa đạo, cô bạn trèo lên cuối cùng (hát hay múa đẹp nhất trường, sức khỏe có kém hơn) bị đất 2 bên thành giếng từ từ khép lại, chỉ kịp kêu "H. đang ở đây" rồi nằm lại vĩnh viển trong lòng đất... Những lúc đó, bọn tôi gần như "mạnh ai nấy chạy", không kịp để ý gì đến ai xung quanh, dù đó là cô bạn rất thân hàng ngày ngồi học cạnh mình. Sau này, khi đã ra đời, đến thăm mộ bạn, mấy đứa tôi vẫn tự dằn vặt mình: Sao lúc đó không có đứa nào trèo chậm lại để kéo dìu cô ta? Nhìn lại 2 ảnh trên, tôi cứ tự hỏi: Với tính cách đó, những cháu trong ảnh, nếu thoát nạn chắc bây giờ đã trở thành những người rất đáng trọng. Chiến tranh đã cướp mất biết bao cuộc sống tuyệt vời của dân tộc mình !. P.S. Muốn tiếp thêm chuyện ảnh chiến tranh với bác ngbinhdi, nhưng nhân ngày Chiến thắng tôi muốn đến Côn Đảo để hiểu tân mắt và đi bằng tàu thủy để được cảm nhận "Vượt Côn Đảo" của Phùng Quán in trên giấy bản đọc khi đi học. Đợt này biển hay động, sợ người đi cùng không chịu được, và với cảm hứng thiên nhiên sau đợt offline DN vừa rôi, đành chọn Phú Quốc. Chiều nay về Hà Tiên, sau đó đi tàu từ Rạch giá, ở PQ 5 ngày, với phương tiện di chuyển cá nhân chắc sẽ "lùng sục" được nhiều vẻ đẹp của miền đất này? |
Lưu ý: Bức ảnh đó không liên quan đến topic mà bác nbinhdi lập (?). Tuy vậy có bài trả lời liên quan sau đây. Nếu các mod thấy lạc đề, xin xóa giúp. Thanks!
Gặp lại Kim Phúc trong bức ảnh nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam Đó là bức ảnh mà nhiều người tin rằng đã góp phần kết thúc cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam: một bé gái 9 tuổi trần truồng với gương mặt đau đớn, đang chạy trên đường sau khi bị bỏng khắp người bởi bom napalm. http://i917.photobucket.com/albums/a...mphuc11991.jpg Phan Thị Kim Phúc hiện đang định cư cùng gia đình tại Canada. Nhưng điều mà người ta không thấy trong bức ảnh chiến tranh điển hình - được phóng viên hãng thông tấn Mỹ AP Nick Ut ghi lại năm 1972 - là nỗ lực của cô gái bé bỏng nhằm vượt qua những ngày tháng đau thương ấy để sống và tồn tại. Cô bé ngày nào giờ đã trở thành một phụ nữ 46 tuổi. Phan Thị Kim Phúc, thường được mọi người gọi với cái tên trìu mến là Kim Phúc, đã chia sẻ câu chuyện của mình và gửi đi một thông điệp hi vọng tại cuộc hội thảo gần đây của các nạn nhân bỏng và các chuyên gia điều trị bỏng tại thành phố New York, Mỹ. “65% cơ thể tôi đã bị bỏng”, Kim Phúc nhớ lại trong cuộc phỏng vấn với tạp chí HealthDay. Kim Phúc bị bỏng độ 3 khiến toàn bộ vùng da ở lưng, tay trái bị cháy xém nhưng may mắn là gương mặt không bị ảnh hưởng. Những vết bỏng đã để lại dấu tích vĩnh viễn trên người Kim Phúc và những cơn đau vẫn trở đi trở lại khi trái gió trở trời. “Tôi từng nghĩ mình sẽ chết mất. Tôi bị bỏng quá nặng nên phải phẫu thuật ghép da, chủ yếu là lấy da từ vùng chân. Tôi phải điều trị trong viện bỏng suốt 14 tháng và trải qua 17 cuộc phẫu thuật”. Kim Phúc giờ đây là một nhà diễn thuyết, nhà hoạt động vì hòa bình, Đại sứ thiện chí của Liên Hợp Quốc và người bảo vệ quyền trẻ em. Bà mẹ 2 con cũng là nguồn khích lệ đối với những nạn nhân bỏng sống sót trên toàn thế giới. Kim Phúc hiện đang định cư tại Toronto, Canada. Cô đã chuyển tới đây sống cùng chồng từ những năm 1990. Thông điệp hi vọng của Kim Phúc đã khích lệ nhiều người có mặt tại cuộc hội thảo, được Hiệp hội những nạn nhân bỏng sống sót có trụ sở tại thành phố Phoenix - tổ chức phi chính phủ lớn nhất nước Mỹ nhằm hỗ trợ các nạn nhân bỏng - chủ trì hồi đầu tháng này. Kim Phúc cho hay sự kiện Mỹ rải bom xuống ngôi làng của cô ở Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh ngày 8/6/1972 đã làm thay đổi cuộc đời cô. “Tôi nghe thấy có tiếng bom từ máy bay rải xuống. Sau đó tôi nhìn thấy lửa cháy khắp nơi quanh tôi. Tôi hoảng sợ. Toàn bộ quần áo của tôi đã bị cháy hết. Tôi thấy mình bị bỏng, còn mọi người thì hét lên “Nóng quá, nóng quá”. Hai người họ hàng của Kim Phúc đã chết vì bị bỏng quá nặng trong trận bom napalm, còn Kim Phúc được phóng viên Nick Ut, tác giả của bức ảnh nổi tiếng, giúp đỡ. Cô bé nhanh chóng được đưa vào viện để điều trị. Những ngày sau đó, Kim Phúc đã nỗ lực vượt qua nỗi đau và tiếp tục sống. Tuy nhiên, Kim Phúc cho hay vết thương năm nào vẫn dai dẳng bám theo cô. “Giờ đây tôi vẫn bị đau vì các dây thần kinh đã bị tổn thương do bị bỏng. Vì thế, một chỗ đau kéo theo tất cả những chỗ khác”. Ăn uống có lợi cho sức khỏe, tập luyện và sống lạc quan đã giúp Kim Phúc quên đi cơn đau mỗi khi chúng xuất hiện. Bức ảnh về Kim Phúc của phóng viên Nick Út đã đạt nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có giải Pulitzer danh giá. Tấm ảnh đã giúp đã phô bày những tội ác khủng khiếp về cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ phát động. An Bình Theo AP http://dantri.com.vn/c36/s36-349677/...h-viet-nam.htm |
Hôm nay 30-4-1975
Xe tăng 390 của Trung úy Vũ Đăng Toàn cùng đồng đội (Trung sỹ Nguyễn Văn Tập, Trung sỹ Ngô Sỹ Nguyên và thiếu úy Lê Văn Phượng) đã húc đổ cổng chính dinh Độc Lập lúc 10h45 ngày này 37 năm trước. http://i917.photobucket.com/albums/a...iQuangThan.jpg Xe tăng 390 (trái) húc đổ cổng chính lao vào trong dinh Độc Lập, xe tăng 843 của Trung úy Bùi Quang Thận không vào được, còn nằm ngoài cổng (đó là xe tăng CCCP). Tuy nhiên, người chạy lên nóc dinh ĐL cắm cờ giải phóng chính là Bùi Quang Thận (anh này có công cắm cờ, những cũng có "ngụy công" liên quan vụ xe tăng nào húc đổ cổng, tiến vào sân dinh ĐL) http://i917.photobucket.com/albums/a...hemxetang1.jpg Bốn anh em gặp lại trên một cỗ xe tăng khác, được sơn số 390. http://i917.photobucket.com/albums/a...hemxetang2.jpg Những con người làm nên lịch sử. |
Nhân chứng hồi tưởng ngày đại thắng qua bức hình lịch sử
http://i212.photobucket.com/albums/c...ng_Duc_Anh.jpg http://www.phapluatvn.vn/thoi-su/201...ch-su-2066405/ |
Trích:
Tôi cũng đã định đưa cái ảnh xe tăng ta húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập lên từ hôm 30-4, rồi lại không đưa lên nữa. Đó là bởi vì tôi ngờ ngợ rằng có thể 1 trong các xe tăng đó không do Liên xô sản xuất và viện trợ mà là xe của Trung Quốc. Tôi đã mất rất nhiều công tìm kiếm trên Internet, song vô vọng. Là vì, chỗ này thì viết các xe đó đều là T54, chỗ kia lại bảo là xe T59 (do Trung Quốc sản xuất nhái theo mẫu T54A của Liên xô - và vì vậy trông bên ngoài thì khá giống nhau, phải là người thành thạo mới nhận ra được mà tôi thì không phải chuyên môn về tăng-thiết giáp). Trong một số bài thì ghi rõ rằng lữ xe tăng 203 ngày ấy trang bị cả xe T54 lẫn T59. Từ rất nhiều bài báo, có thể tóm tắt lại như sau. Sáng ngày 30-4-1975, tiểu đoàn 1 (gồm 3 đại đội 2, 3 và 4) lữ xe tăng 203 tổ chức cuộc tấn công cuối cùng vào sào huyệt của chính quyền Sài Gòn, lực lượng gồm 7 xe tăng cả T59 lẫn T54 và một xe tải Giải Phóng chở 40 bộ binh tùng thiết. Tại cầu qua sông Sài Gòn, bộ binh, thiết giáp, phi cơ và cả tàu hải quân của lính VNCH chống cự quyết liệt, 4 chiếc tăng của các đại đội 2 và 3 bị bắn cháy và hỏng ở đây, tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ hy sinh. Sau khi bộ binh của sư 304 tham chiến, dùng pháo binh bắn chìm 2 tàu chiến và hạ 2 xe tăng M41 trên cầu thì địch bỏ chạy tán loạn. Xốc lại đội hình còn 3 xe tăng 387, 390 và 843 và một số xe zíp, đại đội 4 quyết định tiếp tục tiến công. Tới cầu Thị Nghè thì lại gặp ổ đề kháng của địch có tăng M41 và xe thiết giáp M113 hỗ trợ, xe 387 bị bắn cháy. Sau khi nhanh chóng dập tắt ổ đề kháng cuối cùng này, 2 xe 390 và 843 tiếp tục tiến về dinh Độc Lập theo sự chỉ đường của một người dân. Xe 843 tới trước húc phải trụ cổng quá chắc nên không đổ, trên xe còn đúng 3 quả đạn pháo, bắn 2 quả liền đều xịt (may thế chứ không thì dinh ĐL sao còn nguyên vẹn), anh Thận quyết định để dành quả đạn cuối phòng bất trắc. Lúc này xe 390 đến sau bèn vòng qua húc đổ cánh cổng chính và chạy vào sân dinh ĐL đầu tiên. Anh Thận cũng cho xe chạy vào theo, dặn anh em sau 5 phút không thấy anh trên chỗ treo cờ thì bắn quả đạn cuối cùng vào dinh. Tháo cờ trên ăng-ten xe, anh Thận cùng anh Toàn chạy lên sảnh dinh. Ở đây thì anh Toàn được chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (đã được ta bắt mối, vận động từ trước) dẫn vào bắt nội các Dương Văn Minh, còn anh Thận được mấy người dẫn lên nóc nhà cắm cờ. Tóm tắt như vậy, song tất cả những điều đọc được này càng làm tôi càng nghi ngờ tợn, bởi trong ảnh thì 2 xe 390 (do anh Toàn, chính trị viên đại đội 4, chỉ huy) và 843 (do anh Bùi Quang Thận, đại đội trưởng đại đội 4, chỉ huy) trông có vẻ không giống nhau. Cuối cùng thì tìm được bài này: http://vietbao.vn/Phong-su/Nhung-tie.../40076059/263/ Vẫn chưa thật tin chắc, vì vậy sáng nay tôi đã phải gọi điện thoại xuống Thái Bình cho anh Thận để hỏi. Anh ấy đang đi vào Tp HCM dự kỷ niệm ngày 30-4 nên tôi đã gọi theo vào máy di động. Anh Thận xác nhận chính xác: xe 390 vào dinh Độc Lập đầu tiên là xe tăng T59 do Trung Quốc sản xuất, xe 843 của anh ấy mới là xe T54 của Liên Xô. Như vậy quyết định không đưa ảnh xe tăng 390 lên đây của tôi là đúng. Cẩn thận vẫn hơn, nhỉ. |
Chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4/1975 với súng AK của Liên Xô
http://img577.imageshack.us/img577/2...nsonnhat41.jpg |
Một bình luận nhỏ.
Trong điều lệnh tác chiến của các quân đội đều có quy định về lực lượng tiến công. Tỷ lệ lực lượng tiến công/đối phương thường là 3/1 trở lên (quân Tàu với chiến thuật biển người ngày trước thì tỷ lệ này là 6/1 - thế nên trên biên giới năm 1979, có trận lúc đầu thì 6/1 song đến cuối trận thì tỷ lệ này lên đến 12/1 hay 20/1). Với quân Mỹ thì nói chung còn thêm chuyện là nếu lực lượng bị tiêu hao ngay từ đầu quá một mức nào đó (thường là 5-10%) thì cần dừng tiến công để bổ sung. Vì vậy, trong trận phục kích máy bay Mỹ ngày 17-11-1965 của quân dân Hải Phòng, khi bị bắn hạ 5/24 chiếc và mất 2 phi đội trưởng ngay khi mới bay vào thì địch tháo chạy dù còn đến gần 20 chiếc với đầy đủ vũ khí, mấy ngày sau vẫn còn chưa tổ chức đánh phục thù nổi (và rồi thì chẳng bao giờ có trận phục thù ấy nữa bởi tàu sân bay Oriskany sau đó được rút khỏi Vịnh Bắc Bộ). Bộ đội VN thì không như vậy, chỉ có một ý chí kiên quyết tiến công thực hiện nhiệm vụ đến cùng. Trong suốt chiến tranh VN, có vô số ví dụ cho điều này. Sau khi bị bắn cháy đến 4 chiếc trên tổng số 7 chiếc, xe chở bộ binh tùng thiết bị bắn xịt lốp nên hầu như không còn bộ binh theo sau, 3 chiếc tăng của đại đội 4 tiểu đoàn 1 lữ 203 vẫn quyết định tiếp tục tiến công mà không chờ tăng viện. Chỉ còn 2/7 xe - lúc bấy giờ gần như đơn độc và lạc lõng trong rừng phố xá Sài Gòn vẫn còn đầy địch - vẫn tiếp tục kiên quyết tiến công và tới đích. Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ bên suối La La, đã 1 đánh 20 với lính Mỹ có phi pháo yểm trợ và giữ vững trận địa, tiêu diệt hàng trăm lính địch. Trong chiến tranh biên giới 1979, tại mặt trận Quảng Ninh, một nữ chiến sỹ vô danh đã bằng B41 lần lượt bắn hạ 7 chiến xa địch, chặn đứng cả một đoàn xe tăng và thiết giáp Tàu trước khi hy sinh. Thật là gan góc. |
Trích:
Nhưng, bác thận trọng 1 thì SM cũng đã 2-1 đấy. Trong bức ảnh đen trắng SM chú thích rõ, chỉ có cái xe tăng bên phải (là xe 843 của anh Thận, còn kẹt bên ngoài, vẫn thấy ghếch nòng pháo vào sân dinh ĐL) là xe tăng CCCP. Còn cái 390 đã vào lọt bên trong, SM không nói gì về xuất sứ của nó, vì biết nó là của ông bạn láng giềng "tốt bụng". Ngay chi tiết của ảnh trên cũng cho thấy lời mô tả của anh Thận trong một số bài viết không khớp với sự thật. Đến 2007 anh Thận còn trả lời phỏng vấn như sau: "- Có gặp thêm trở ngại gì không thưa ông? - Có chứ! Đi trước chúng tôi là một chiếc xe của Đại đội 3 do đồng chí Hùng chỉ huy. Cách cầu Thị Nghè 200m, xe đồng chí Hùng bị xe tăng M41 của địch bắn cháy. Ngay lúc ấy, xe 843 của tôi vọt lên tiêu diệt xe địch và tiếp tục vượt cầu. Chạy qua nhiều ngã tư mà không thấy Dinh Độc Lập đâu cả?! Thấy có người phụ nữ chạy xe qua. Chúng tôi gọi lại nhưng người phụ nữ này sợ nên không đứng lại (sau này tôi mới biết vì họ sợ bị ngụy trả thù). Cuối cùng chị cũng chịu chỉ đường đến Dinh. Khi đến Dinh Độc Lập, thấy cổng đóng. Tôi ra lệnh cho pháo thủ 2 Nguyễn Văn Kỷ giục pháo thủ 1 Thái Bá Minh nhắm giữa cổng Dinh Độc Lập khai hỏa. Không hiểu sao đạn không nổ? Hai lần như vậy, tôi ra lệnh quay nòng pháo ra sau để cho xe húc đổ cổng Dinh. Trong 10 phút, phải húc 3 lần thì cánh cổng trái mới bung ra. Ngay lúc đó xe tăng 390 do anh Vũ Đăng Toàn lao vào húc đổ cổng chính. Thế là cả hai xe cùng tiến vào bên trong." Nhưng trong ảnh thì không thấy nòng pháo quay ra sau, mà trên cả 2 tăng nòng pháo đều vẫn hướng vào dinh ĐL. Và cho đến lúc này, nghĩa là sau vụ nhà báo Pháp cung cấp cho ta ảnh thời sự đúng ngày 30-4 đó, anh Thận vẫn nói sau khi xe của anh húc 3 lần thì bung được cánh cổng phụ và cùng lúc tiến vào sân dinh ĐL với xe 390 của anh Toàn. Nhưng trên thực tế là cho đến lúc anh ra khỏi tăng, chạy vào sân dinh (mũi tên trong ảnh chỉ vị trí anh đang cầm cờ chạy vào dinh) thì xe của anh vẫn kẹt bên ngoài. Lúc đó thì xe 390 đã vào sân rồi (nên không có chuyện 2 xe cùng tiến vào được). Nếu có vào, chỉ có thể là đi sau xe 390, có thể là theo lối cổng chính mà xe 390 đã húc đổ thành công ngay từ cú húc đầu tiên. http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2007/4/97418/ Lịch sử rất sòng phẳng. SM hiểu thế. Và biết thêm: “ngày 5-10-2009, anh Toàn và anh Thận đã bắt tay nhau...". (đấy là theo lời kể của ông Lê Trí Dũng, hình như là người thầy dạy về nghiệp vụ xe tăng thiết giáp cho họ) http://cuuchienbinh.com.vn/index.asp...t=4215&Style=1 Còn đây ảnh là chiếc xe tăng 843 (CCCP) hiện trưng bày ở Bảo tàng lịch sử quân sự VN: http://i917.photobucket.com/albums/a...net14_copy.jpg |
Trích:
Trong ảnh, ta thấy rõ xe 390 vào trước, lọt cả xe vào trong cổng chính, còn xe 843 thì lúc đó mới nhú nguyên mũi xe vào bên trong cổng ngách (song chắc chắn là đã vào bên trong chứ không còn bên ngoài cổng - chị xem lại ảnh một chút sẽ thấy rất rõ là vào thời khắc cái ảnh ấy được bấm máy thì xe 843 đã nhô lọt cả đầu xe vào trong sân qua cổng ngách được chừng 1.5m). Đó là do sau khi xe của anh Thận húc vào trụ không đổ, anh Thận bèn rời xe tiến vào cắm cờ (chạy vòng qua đuôi xe 390 nên trong các clip sau này có được từ mấy thước phim quý giá của phóng viên nước ngoài có mặt trong dinh ĐL lúc ấy thì anh Thận chạy bên phải xe 390). Xe của anh Thận tới trước, bắn 2 phát không nổ mới định húc cổng, song lại húc phải trụ cổng quá chắc nên không đổ, lúc đó lùi lại húc mới tiến vào qua cổng phụ chứ không chạy sau xe 390 lối cổng chính. Các xe này tiến vào bên trong sân dinh, cái trước cái sau có lẽ không quá vài giây (hơn kém nhau có vài mét - thấy được trên ảnh là chỉ kém nhau có chừng 1 thân xe). Thế nên anh Thận có nói là 2 xe cùng tiến vào một lúc cũng không sai mấy đâu. Lúc xe của anh Thận húc đổ được cổng phụ thì anh ấy đã tháo cờ trên ăng-ten và nhảy xuống trước đó rồi nên có lẽ anh ấy cũng chẳng rõ xe có quay nòng mới húc hay không đâu (rất có thể trước khi rời xe anh ấy đã ra lệnh quay nòng mới húc cổng song không còn ở trong xe lúc xe húc đổ cổng ngách nữa rồi). Trong bài chị đã dẫn (trên trang cựuchiếnbinh.com) thì anh Tỏa, lái xe 843, kể rất rõ là húc thẳng vào, nòng pháo mắc ở cánh cổng nên lùi ra tiến vô mới gỡ nòng ra được mà. Là bởi vì xe anh Thận (xe 843) vốn đi sau cùng (sau khi xe đi đầu 387 bị bắn cháy ở cầu Thị Nghè - cho tới cầu Thị Nghè thì thứ tự là 387, 390, 843) được dân chỉ đường rẽ ngay được nên đến ngay trước cổng dinh ĐL trước vài phút, còn xe 390 đi trước từ sau cầu Thị Nghè, mất thời gian quay đầu thành ra lại đến sau - mà cũng đến từ hướng hơi khác hướng xe 843 - mới tông thẳng vào cổng giữa vì cổng ngách lúc đó đã có xe 843 chắn đường. Lúc đó thì xe 843 cũng vừa húc đổ cổng, gỡ xong nòng pháo tiến vào. Có thể thấy được là từ lúc cài số thấp để đủ lực húc cổng đến khi cài được số cao để chạy nhanh vào cũng mất một ít thời gian nên vào đến bên trong thì anh Thận (còn đội nguyên mũ công tác trên xe tăng) còn kịp chạy lên ngang xe 390. |
Trích:
|
Vâng, bác nbinhdi ạ, xe vào trước, vào sau thì cuối cùng ai cũng rõ rồi. Ai cũng khâm phục chiến công của những người chiến sĩ quả cảm ấy.
Và trong bức ảnh đen trắng SM đưa lên có 1 chiếc xe tăng CCCP lấp ló, thì cũng đúng phải không ạ? Có điều, trước 2005, dân ta chỉ biết có Bùi Quang Thận và chiếc 843 của anh húc cổng dinh Độc Lập, tiến vào đầu tiên thôi. Chưa bao giờ anh Thận nhắc đến chiếc 390 đã vào trước xe anh. Mà điều này thì anh Thận quá biết, vì anh ấy chạy vào trong cổng, song song với chiếc 390 ấy, trong khi xe 843 của anh còn kẹt phía ngoài cổng phụ... Giá trị to lớn của bức ảnh của Francoise Demulder chính là việc nó đã góp phần làm sáng tỏ một chi tiết lịch sử: Hiện diện trong bức ảnh mà Francoise Demulder ghi lại được trong trưa ngày 30/4/1975, từ góc nhìn phía trong cổng Dinh Độc Lập ấy là chiếc xe tăng đã húc đổ cổng dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng mang số hiệu 390 chứ không phải mang số hiệu 843 như sách báo Việt Nam từng viết. Chiếc xe tăng 843 đã bị kẹt lại ở cổng phụ của Dinh. Bùi Quang Thận từ xe 843 nhảy xuống cầm cờ chạy vào Dinh. Một điều đáng nói, theo tiết lộ của phóng viên báo Tuổi trẻ, Việt Nam, là loạt ảnh, trong đó có bức ảnh lịch sử này của Francoise Demulder chỉ được đăng một lần trên một tờ báo Pháp, rồi sau đó “nằm im” trong văn phòng của chị. Gần 20 năm sau, có một người VN phát hiện ra những tấm ảnh lịch sử ấy và đưa chúng về VN. Đó là anh Phạm Công Dũng (Trung tâm báo chí nước ngoài, Bộ Ngoại giao). Theo anh Dũng, “Năm 1994, tôi được Bộ Ngoại giao cử sang thực tập ở Pháp. Một lần, tôi ghé văn phòng của Francoise Demulder chơi. Ở đó có treo những bức ảnh để đời của chị. Tôi sửng sốt khi nhìn thấy những bức ảnh về ngày 30-4 ở dinh Độc Lập. Đặc biệt, tôi phát hiện chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh không phải là chiếc 843 như sách báo VN từng viết. Francoise cũng ngạc nhiên về điều này. Và năm 1995, Francoise trở lại VN, cùng tôi bước vào cuộc hành trình tìm lại những người lính tăng xe 390”. Những tấm ảnh của Francoise, sau khi được công bố ở VN, đã góp phần làm sáng tỏ một chi tiết lịch sử. Và những người lính tăng 390 đã được biết đến và được quan tâm nhiều hơn. http://i917.photobucket.com/albums/a...unhabaoP01.jpg Francoise Demulder (1947-2008) và bức ảnh lịch sử. http://baonga.com/tin-tuc/VIP0C0I601...to-lich-su.bic Riêng chi tiết bác bảo đầu xe 843 đã lọt trong cổng phụ khoảng 1,5 m, thì ta cùng xem lại. SM thì thấy nó vẫn hoàn toàn ở bên ngoài, và phần bánh xích phải của nó thấy rõ phía bên phải của trụ cổng. Nếu như nó ở nguyên tư thế đó mà tiến thẳng, có thể lại húc vào trụ cổng lần thứ 4. (SM cũng hơi nghi ngờ khả năng cái xe đó có thể chui lọt giữa 2 cổng phụ, nếu không húc đổ được 1 trong 2 cột. Điều này nếu bạn htienkenzo vào đây, với con mắt hình học không gian, may ra cho lời giải chính xác hơn). Còn chi tiết bác nbinhdi nói xe 843 tiến vào theo cổng phụ, liệu có mâu thuẫn với lời của chính ông Bùi Quang Thận sau đây không? “Trên xe của tôi lúc bấy giờ chỉ còn 2 viên đạn pháo. Đến cách Dinh Độc Lập khoảng 50m, tôi lệnh cho đồng chí pháo 2 nạp đạn ngắm chính giữa Dinh Độc Lập bắn. Mục đích không phải là phá hoại Dinh Độc Lập mà mục đích là uy hiếp quân ngụy còn trong dinh và củng cố tinh thần cho mình. Bắn lần thứ 1 không nổ. Tôi bảo tháo ra bắn lại nhưng vẫn không nổ. Tôi mới hỏi đồng chí pháo 2 thì mới biết trong xe chỉ còn 1 viên đạn nữa thôi. Tôi bảo, không bắn nữa và lệnh cho đồng chí lái xe ngắm chính giữa cổng Dinh Độc Lập tông vào nhưng lúc đó xe gặp trục trặc, húc 3 lần nhưng không thành. Ngay lúc đó, xe anh Vũ Đăng Toàn đến húc tung cánh cửa Dinh và 2 xe tiến vào.” http://www.petrotimes.vn/chinh-tri/2...ay-304-lich-su |
Trích:
Tuy nhiên, trên các xe ấy lúc đó không một ai trong những người lính tăng biết được rằng quân Sài Gòn đã tan rã, không ai biết trước được là sẽ chẳng còn ổ đề kháng nào nữa, khi vừa mới đấy thôi từ cầu Sài Gòn vào đến sau cầu Thị Nghè họ đã mất đến 5/7 xe, bộ binh thì đã không còn theo kịp cùng, vậy mà họ vẫn tiến vào chứ không dừng lại chờ đại quân. Không phải họ liều mạng và ngu ngốc, mà lúc đó họ chỉ nung nấu có mỗi một mục đích là tiến vào chiếm mục tiêu đã định. Dẫu có hy sinh vài phút trước giờ toàn thắng như nhiều đồng đội của họ vừa mới ngã xuống cũng cứ kiên quyết tiến vào, không chờ bổ sung lực lượng. Cái đó được gọi là tinh thần kiên quyết tiến công. Và cả một chút may mắn nữa, chí ít là họ đã may mắn không bị bắn cháy như 5 chiếc kia. Song xét cho cùng thì đó là thế trận lúc đó đã đến như vậy, quân ta đã phải kiên quyết tiến công, tận dụng và khai thác mọi cơ hội tiến công ngay từ đầu chiến dịch chứ lần chần/ngập ngừng thì cái may mắn ấy còn lâu mới có được đấy. |
Đúng như SM dự đoán trên kia, cú húc cuối cùng của xe tăng 843 lại đâm vào trụ cổng phụ bên phải, và xe phải khựng lại. Có vẻ như cổng phụ quá hẹp so với xe tăng... Đúng lúc xe 843 dừng lại đó thì anh Thận nhảy xuống, cầm theo cờ chạy vào sân, trong khi xe 390 dũng mãnh tiến vào.(Có thể đây là video dựng lại. muốn mô phỏng những gì thực sự đã xảy ra)
Vì vậy, xe 843 sau đó vào sân dinh ĐL kiểu gì chưa rõ, nhưng không thể chỉ vào sau xe 390 vài giây được. Điều khiển nó rất nặng nề, nghe nói nó còn bị chết máy. http://video.google.com.vn/videoplay...+saigon&hl=vi# Dù sao cũng rất cảm ơn bác nbinhdi đã tạo điều kiện để SM tìm hiểu thêm về sự kiện LS đáng nhớ này. Biết thêm một chút cũng thật quý. Thêm 1 phim đáng xem nếu muốn tìm hiểu những gì xảy ra trưa 30-4 tai dinh ĐL: |
Trích:
Nói thật với chị, rất may cho tôi là đã xong được việc đọc và duyệt sửa ĐATN cho các SV của mình để mai hoặc ngày kia họ nộp nên có thể tự cho mình tạm nghỉ ngơi và xem lại rất nhiều tư liệu (dù việc vẫn còn ngập trước mắt, kệ đã, đêm nay sẽ tiếp tục). Tuy nhiên, càng đọc, càng xem lại càng thấy rối rắm. Có một số điểm bất nhất hoặc đáng nghi ngại: 1. Về thời gian, mỗi tài liệu mỗi khác. Cái này có thể là do trước 1975 thì trong miền Nam ăn theo múi giờ 8, sớm hơn múi giờ 7 của Hà Nội 1 giờ, thành thử bây giờ, ông nói gà, bà nói vịt loạn cả lên. Cái giờ phút 11h30 ấy không rõ là theo giờ Sài Gòn hay theo giờ Hà Nội nữa. Trong một bài thì thấy một người lính nói có đồng hồ Poljot và dặn anh Thận ghi giờ 10h45 lên lá cờ thu được, giờ ấy là giờ Sài Gòn hay giờ Hà Nội? 2. Cũng về thời gian, tôi đã rất bối rối khi đọc một số tài liệu nói rằng tận 13h30 ngày 30-4-1975 thì Bộ chỉ huy ngoài miền Bắc lúc đó đang họp tại phòng họp Sân Rồng trong thành Hà Nội (sở chỉ huy đầu não lúc bấy giờ) mới hay tin quân đội Sài Gòn đã đầu hàng. Trong khi đó thì tôi lại nhớ rất rõ rằng gần trưa hôm ấy, đang học 2 tiết cuối môn Đo lường vô tuyến điện (tức là chừng hơn 11h30 trưa thôi) chúng tôi đã nghe vọng ra tiếng của tướng Minh Lớn kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí trên làn sóng đài Sài Gòn từ radio của ai đó trong phòng ở của lớp Hữu tuyến khóa 5 (ở kế ngay đằng sau lớp học của chúng tôi, giữa 2 phòng trên đỉnh tường có khoảng trống lớn từ trần làm bằng liếp cót tới mái lợp fibrocement nên nghe rõ mồn một) và tiếng anh em khóa 5 hò reo "Bọn ngụy hàng rồi anh em ơi!", bọn tôi khi đó nhất quyết không học nữa, thày giáo chỉ đỏ mặt bẽn lẽn cho chúng tôi nghỉ và cùng chúng tôi ùa ra khỏi phòng học, hò reo vang trời. 3. Cái clip chị dẫn ra ấy, người ta đã xác định là clip được phục dựng lại sau này, có cả người hướng dẫn cho xe tăng 843 vào. Điểm dễ thấy nhất của điều này là trong ảnh do phóng viên Pháp chụp thì anh Thận vừa nhảy khỏi xe ở bên trong sân dinh (bởi nếu ngoài sân dinh sẽ bị tường chắn không nhìn thấy chân) về phía bên phải xe 843, lúc vừa tiếp đất chân còn đang khuỵu xuống, song trong clip kia thì người lính cầm cờ lại xuống phía mũi xe bên trái. 4. Ngoài chuyện bàn cãi quanh việc ai là người soạn thảo văn bản đầu hàng cho tướng Minh Lớn đọc như đã được trình chiếu qua phim tư liệu của Truyền hình Tp HCM nhằm phản bác kết luận của Viện LS quân sự mà chị đã dẫn link YouTube, ngày trước còn có cả ông Bùi Tín cũng kể ông ta mới chính là người nói với tướng Minh Lớn câu "Các ông không thể bàn giao cái mà các ông không có, chỉ có đầu hàng vô điều kiện", nghĩa là ông ta có mặt tại dinh ĐL vào giờ phút ấy, mà nay hầu như không thấy nói đến nữa. ... Còn bao nhiêu là điều chưa sáng tỏ. |
Trích:
|
Trích:
Đầu năm 1966, để chuẩn bị đánh lớn ở Quảng Trị, ta tập kết các loại đạn pháo lớn, kể cả tên lửa không giật A12, H12 ở một quả đồi thấp đầy sim, mua và cỏ tranh thuộc làng Chanh, xã Tân Kim, huyện Cam Lộ. Đồi không có tên nhưng dưới chân đồi có con suối La La “nước trong xanh hiền hoà chảy quanh đồi Không Tên”. Để bảo vệ kho đạn, một tiểu đội ghép được thành lập gồm 10 người từ các đơn vị pháo binh mặt trận hợp lại. Trung đội phó Bùi Ngọc Đủ được giao nhiệm vụ trực tiếp làm tiểu đội trưởng. Cả tiểu đội khẩn trương xây dựng công sự hầm hào chiến đấu và hạ quyết tâm chốt giữ bảo vệ kho đạn đến cùng. Địch phát hiện được ta, liền cho một tiểu đoàn lính Mỹ có phi pháo yểm trợ đánh lên đồi không tên. Suốt từ bảy giờ sáng ngày 28-2-1966, địch tiến công lên trận địa 15 lần nhưng đều bị tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đẩy lui. Nhiều đợt đánh giáp lá cà diễn ra ngay tại mép chiến hào. Đến tối, địch phải rút quân, bỏ lại trận địa gần 200 xác. Tiểu đội hy sinh hai chiến sĩ là Nguyễn Nhân Nhe và Nguyễn Văn Chính. Trước chiến công vang dội “một thắng 20” của các dũng sĩ trên “đồi không tên”, nhạc sĩ quân đội Huy Thục đã viết bài hát: Con suối La La để ca ngợi. Bài hát thường xuyên được phát trên sóng phát thanh, góp phần động viên khí thế chiến đấu của quân và dân cả nước. Đồi Không Tên từ đó được bộ đội ta gọi là đồi “Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ”. |
Trích:
Tiểu đội của Bùi Ngọc Đủ chỉ có 10 người có nhiệm vụ giữ kho vũ khí. Ngày 28/2/1967 địch phát hiện nên bí mật đổ quân, định bất ngờ tiến công. Khốn cho bọn địch là lúc đó Bùi Ngọc Đủ đang đi lấy nước ở suối về (đi vào phía sau của hàng quân địch) phát hiện lính Mỹ đang bí mật áp sát nên vừa đánh vừa hô anh em vận động ra chiếm lĩnh trận địa chống trả. Họ đã ngoan cường bẻ gãy 15 đợt xung phong của lực lượng Mỹ gồm chừng 200 lính trong suốt gần 1 ngày, buộc địch rút lui, để lại tại trận 41 xác lính Mỹ mà địch không kịp lấy mang đi (số lấy được xác thì không đếm được, tất nhiên rồi). Tất nhiên là tiểu đội của Bùi Ngọc Đủ cũng thương vong nhiều đấy song họ đã giữ được kho đạn. Không giữ được kho, để địch thu được cả 3000 trái H12 - Cachiusa - thì đã triển lãm rùm beng lên rồi. Mặt khác, nếu không có chiến thắng ấy thì anh em trong đại đội của anh - chắc giờ vẫn còn nhiều người sống, cả các cấp chỉ huy nữa - lại chịu im lặng sao? Riêng chuyện người nữ chiến sĩ vô danh kia thì tôi theo tin trên mạng, từ cái được xem là bản dịch một bài báo của chính một cựu sĩ quan tình báo Trung Quốc (Xu Meihong) đã chạy sang Mỹ kể lại về giai đoạn chiến tranh biên giới Việt-Trung. Rất tiếc là chuyện này không kiểm chứng được, dù tôi cũng đã cố công tìm song không có bản online của bài báo ấy: Xu Meihong and Larry Engelmann, Chinese Ordeal, tạp chí Vietnam, Oct. 1993, pp 18-26, và cũng vì thế, chẳng ai biết người nữ chiến sĩ vô danh ấy - nếu có - là ai. Tin này thì thực sự là có thể không chính xác, ít nhất là không thể kiểm chứng về nguồn tin và vị tất lời kể của cô cựu sĩ quan tình báo TQ kia đã đáng tin, nhất là cô này tận 1981 mới nhập ngũ. Dẫu vậy, trong chiến tranh biên giới 1979, hẳn phải có vô số những chuyện đại loại như thế và do đó quân TQ với tỷ lệ áp đảo hơn 10/1 mới tiến như rùa bò và không vào sâu được. @ bác TLV, Theo một số tài liệu thì địch chỉ bỏ lại Đồi Không Tên bên suối La La có 41 xác thôi chứ địch chỉ có khoảng 200 mà bỏ lại những 200 xác thì hơi kỳ lạ ạ. |
Trích:
Tôi nhớ ra rồi. Giờ thì tôi không chắc được có phải là nghe thấy tiếng của Minh Lớn qua radio không nữa (he he, bởi vì từ trước đó tôi đã bao giờ nghe ông này nói trên radio đâu) mà chỉ chắc chắn là đã nghe thấy cái câu sau (sau khi anh em ùa ra sân và chạy vào nghe đài cho chắc ăn): "Tôi, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh...", chẳng hiểu sao bây giờ lại thấy vụt ra như một tia chớp rõ mồn một cái câu ấy. Cái bản kêu gọi ấy không chỉ phát đi một lần. Như vậy, lúc đó chúng tôi hẳn mới chỉ bắt đầu vào 2 tiết cuối của buổi sáng - tôi vẫn nhớ là mới chỉ học được mỗi tí sau khi anh Thanh vào lớp giảng bài thôi, trên bảng vẫn còn chưa có mấy chữ cả. Như vậy chứng tỏ 2 điều: 1. Bản chúng tôi nghe được là bản phát đi từ khoảng 10h30 sáng giờ Sài Gòn, được phát đi phát lại nhiều lần. Nhiều tài liệu cũng nói vào giờ ấy tướng Minh Lớn cũng đã cho phát đi lời kêu gọi các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa ngưng súng chuẩn bị bàn giao chính quyền cho phía MTDTGPMNVN, có thể là sau tuyên bố đó, đài Sài Gòn đã phát đi phát lại nhiều lần lời kêu gọi này. 2. Từ lần phát tuyến bố thứ nhất của Tổng thống Dương Văn Minh cho đến lúc chiều phát bản tuyên bố lần thứ hai của ông ta do các sĩ quan Việt Nam soạn thảo yêu cầu quân đội VNCH hạ vũ khí và đại diện của quân giải phóng là trung tá Bùi Tùng tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng, đài Sài Gòn còn phát một lúc lâu nữa, phát nhiều lần tuyên bố lần 1 của TT DVM và lời kêu gọi của chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nữa chứ không im hơi lặng tiếng như có lần BBC đã đặt câu hỏi. Cũng có đoạn im lặng vì lúc quân giải phóng đưa ông Minh đến đó thì đài này đang chẳng phát gì vì nhiều nhân viên của đài đã đào nhiệm sở. Sau khi phát xong lời tuyến bố đầu hàng của tướng Minh thì Trịnh Công Sơn và học sinh SV mới vào hát Nối vòng tay lớn. |
http://i917.photobucket.com/albums/a...i09/ooSAM2.jpg
SAM-2, loại vũ khí CCCP phát huy tác dụng rất tốt trong tay lực lượng phòng không, không quân VN. |
Từ lâu em cũng có đọc những tư liệu từ cả 'đài ta' lẫn 'đài địch' về vấn đề thời khắc buổi trưa 30/04/1975. Đến hôm nay em cũng chưa biết chính xác là lúc mấy giờ, bởi khi ấy Sài Gòn ở múi giờ thứ 8, còn Hà Nội ở múi giờ thứ 7. Rồi "lùm xùm" câu chuyện xe tăng nào đâm vào cổng Dinh Độc lập trước, phát thanh trên Đài Phát thanh Sài Gòn năm đó...
Các bác tham khảo thêm hồi ức của Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái: Trích đoạn cuốn: Những điều chưa nói hết về 30-4-1975 Đó là một cuốn sách rất mỏng với nội dung liên quan cuộc chiến Việt Nam, chưa đầy 50 trang giấy. Tác giả cuốn sách không phải là người ở phía bên kia, mà đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên ở Sài Gòn, ở lại Việt Nam cho đến năm 1990. Ông vẫn giữ quan hệ với người ở trong nước và thường viết bài cho các báo ở Việt Nam. Tuy vậy, khi gửi về Việt Nam để in, bản thảo chỉ nhận sự im lặng và theo tác giả, cuốn sách ‘hơi tế nhị và nhạy cảm trong giai đoạn này’ vì không đúng với một số văn bản chính thức trong nước. Tác giả, ông Nguyễn Hữu Thái, nói với đài BBC rằng trong sách, ông mô tả lại từ góc độ nhân chứng về diễn biến của ngày 30-4-1975 ở Sài Gòn. Ông nói với đài BBC rằng ông vẫn để dành bản thảo để chờ một ngày in trong nước vì đối tượng độc giả ông nhắm đến là người ở Việt Nam và vì trong thời chiến, ông là người có cảm tình và hoạt động trong phong trào cách mạng chứ không phải đứng ở bên ngoài. Dưới đây là trích đoạn một phần trong tập sách chưa xuất bản này: Vào khoảng trên 9 giờ có người báo tướng Dương Văn Minh đã tuyên bố lệnh ngưng bắn nhưng các đơn vị VNCH có vẻ như không nghe lệnh và tiếp tục phản kích. Thực tế, lệnh ‘bàn giao chính quyền’ của ‘tổng thống’ và ‘nhật lệnh’ hạ vũ khí của ‘tổng tham mưu trưởng’ không có hiệu lực ! Đại đội 4 được lệnh vượt cầu. Xe đi đầu mang số 387 do Nguyễn Văn Hùng chỉ huy, tiếp theo là xe 390 của chính trị viên Vũ Đăng Toàn, kế đến là xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận. Đến cầu Thị Nghè lại bị cản, xe 390 bắn cháy 2 chiếc M113, Nguyễn Văn Hùng bị thương. Xe 390 vượt lên dẫn đầu đội hình, theo sau là chiếc 843. Nhà báo Nguyễn Vạn Hồng thuật lại : "Sau khi đưa các anh Thái và Tòng vào dinh Độc lập, tôi lái xe ra hướng cầu Sài Gòn xem tình hình thế nào. Khi tôi vừa đến cầu Thị Nghè thì gặp đoàn xe tăng giải phóng tiến vào. Tôi nép xe bên lề định quay lại thì các anh bộ đội trên xe tăng hỏi tôi chỉ đường đến dinh Độc lập. Tôi quay xe, chạy trước và cứ thế cùng đoàn xe tăng hướng dinh Độc lập. Tôi quẹo xe rẽ đường Công Lý (nay là đường Nam kỳ Khởi nghĩa) trong lúc xe tăng húc thẳng vào cánh cổng sắt trước dinh. Tôi chạy sang đường Nguyễn Du để vào cửa hông của dinh. Lúc đó khoảng trên 11 giờ". Nhiều loạt đạn từ các cao ốc trên đường Thống Nhất còn lẻ tẻ bắn ra. Xe tăng phải nổ súng thị uy, nhưng không bắn vào nhà cửa dân cư, công trình, súng mới im. Trong thực tế, xe tăng 390 lạc đường, chạy thẳng một đoạn, sau phát hiện sai đường mới quay trở lại. Xe 843 chạy trước đến dinh Độc Lập húc vào cổng phụ bên trái, cổng không sập và xe chết máy. Chiếc 390 tăng tốc húc sập cổng chính, Bùi Quang Thận từ trên chiếc 843 nhảy xuống giật lá cờ giải phóng xanh đỏ hình tam giác tả tơi, nhuốm màu lửa đạn và bụi đường gắn trên cần ăng ten xe tăng chạy lúp xúp sau xe 390 tiến vào thềm dinh Độc Lập. Nguyễn Hữu Thái và Lý Quý Chung đang loay hoay ở thềm dinh Độc Lập thì bỗng mọi người cùng hướng nhìn về đại lộ Thống Nhất. Một cảnh tượng hùng tráng diễn ra : một đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng dinh. Bổng chốc cửa dinh bị húc đổ, đoàn tăng cày lên thảm cỏ, tiến thẳng đến thềm dinh. Có lẽ nhìn thấy Thái và Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi Thái đề nghị dẫn đường thì Thận liền đi theo. Không ai rành bố cục bên trong dinh và cũng chưa biết dùng thang máy nào để lên nóc dinh. Có một người mặc thường phục đi qua (sau này biết là đại tá Nguyễn Văn Chiêm của lực lượng phòng vệ phủ tổng thống), Thái yêu cầu Chiêm dẫn họ đến thang máy phụ. Thái giúp Thận bẻ gập chiếc cần ăng ten, mới vào lọt được bên trong chiếc thang máy loại nhỏ này. Đến nóc, họ còn phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Phải hạ lá cờ Sài Gòn xuống, cờ quá lớn lại cột giây ny lông. Phải mất cả mấy phút mới giật nỗi nó xuống và kéo lá cờ Giải phóng lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời. Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập, trước kia là dinh Toàn quyền Pháp, có 3 chàng trai của 3 miền đất nước : anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, chàng giáo sư Tòng quê Tây Ninh và sinh viên Thái gốc ở một thành phố cảng miền Trung. Phải chăng khoảnh khắc lịch sử ấy đánh dấu sự cáo chung của 117 năm thống trị thực dân đế quốc phương Tây và mở ra một thời kỳ mới độc lập thống nhất đất nước Việt Nam. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện. Vào giây phút này chắc nhân dân cả nước đang reo mừng. Sài Gòn đã được giải phóng, hòa bình được lập lại, dân tộc này từ nay trở lại thống nhất làm một, không gì còn thể chia cắt được. Sau này, lá cờ lệnh xe tăng nhỏ được thay thế bằng lá cờ lớn hơn. Nguyễn Vạn Hồng kể với nụ cười đắc ý : « Tôi thấy anh bộ đội cầm lá cờ lệnh lịch sử đó, liền nảy ý định xin làm kỷ niệm… ». Lá cờ đã ngả màu vì khói đạn, bụi đường hành quân và thời gian phôi pha. Lá cờ « màu đỏ của đất, màu xanh của trời, ngôi sao chân lý trên đời » (thơ Tố Hữu) – một thời oanh liệt. Tiếng nói Cách mạng đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn Sáng sớm 30-4, Hà Thúc Huy và Nguyễn Tân cùng nhóm sinh viên tập trung ở đại học Vạn Hạnh. Họ đã gặp giáo sư Huỳnh Văn Tòng và Nguyễn Hữu Thái, một lãnh tụ sinh viên tranh đấu và được phân công xuống trường đại học Nông lâm súc đối diện đài truyền hình Sài Gòn để tiếp thu đài. Thấy nhiều người hôi của lục lọi phá phách, họ phân công một nửa số sinh viên ở lại canh giữ. Huy dẫn nhóm còn lại ra cổng Hồng thập tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) để chuẩn bị sang tiếp thu đài phát thanh. Đang lúc đó thì xe tăng giải phóng ầm ầm kéo vào, theo đường Hồng Thập Tự tiến vào dinh Độc Lập. Họ mừng rỡ chạy theo xe tăng để hoan hô. Đến ngã tư Đinh Tiên Hoàng-Hồng Thập Tự thì gặp một xe tải quân sự chở đầy bộ đội dừng lại hỏi đường đến đài phát thanh. Họ nhảy lên xe quân sự này để dẫn đường. Khi đến nơi, đài bỏ trống. Đơn vị bộ đội triển khai canh giữ chung quanh. Họ ùa vào đài để tìm cách mở máy nhưng thất bại vì không ai rành kỹ thuật. Và không ai biết mình sẽ phát đi lời gì. Tại dinh Độc Lập, một số bộ binh, công binh và đơn vị đặc công phối thuộc đã án ngữ các cửa lớn. Các chiến sĩ Toàn, Nguyên, Đô đã canh giữ phòng nội các. Ban chỉ huy lữ đoàn xe tăng cũng kịp đến. Chỉ huy Nguyễn Tất Tài lệnh cho các chiếc tăng còn lại vây quanh dinh phòng địch phản kích. Chính ủy Bùi Văn Tùng và chủ nhiệm chính trị Lê Minh xuống xe thiết giáp bước vội vào sảnh dinh. Đại đội trưởng đơn vị đặc công Phạm Duy Đô chạy đến : « Báo cáo, anh em đang giữ Dương Văn Minh và cả nội các ngụy ngồi trong đó. Mời thủ trưởng đến giải quyết ». Suốt một đời trận mạc tưởng đã quen với mọi đổi thay, những biến cố to tát, vậy mà lúc đó chính ủy Tùng đã sững sờ. Chân đi dép cao su đang bước lên nền dinh lát đá cẩm thạch bóng loáng, ông bỗng sững lại giây lát, hơi choáng váng. Rồi những lời dặn dò của tư lệnh quân đoàn Nguyễn Hữu An khi còn ở Rừng Lá giúp ông bình tâm lại. Tướng An giao mọi việc trong dinh Độc Lập phải do ông trách nhiệm giải quyết. Ong đường hoàng bước vào phòng lớn, nhìn thấy một nhóm người có vẻ buồn bã, cam chịu đang ngồi im lặng ở giữa căn phòng bài trí cực kỳ sang trọng. Thấy các cấp chỉ huy bộ đội vào, một người cao lớn, mang kính trắng đứng lên : -Thưa ông, chúng tôi đang chờ các ông vào để bàn giao. Chính ủy Tùng cố gắng nén sự khó chịu trước hai tiếng ‘bàn giao ’ , cố không to tiếng : -Các anh chẳng còn gì để mà giao. -Thưa ông… -Các ông chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Chính ủy Tùng nghĩ ngay đến việc phải buộc họ tuyên bố đầu hàng sớm để đỡ đổ máu. Sài Gòn vẫn còn vang tiếng súng, miền Tây Nam Bộ và các hải đảo vẫn chưa được giải phóng. Ong quay sang hỏi chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (đang đảm nhiệm chức vụ ‘quyền tổng tham mưu tưởng quân lực VNCH’ và cũng là một cơ sở cách mạng) hỏi : « Đường dây đến đài phát thanh còn hoạt động không ? ». Ong ta nói không sử dụng được nữa. Chính ủy Tùng nói : -Ngay bây giờ, yêu cầu ông Minh đến đài phát thanh công bố điều đó trước nhân dân, trước thế giới. Tướng Minh nhẫn nhục im lặng. Sau đó, ông quay sang trao đổi nho nhỏ với người đứng cạnh là tướng Hạnh. Người này hướng về chính ủy Tùng : -Thưa ông, Đại tướng ra ngoài lúc này sợ phe đối lập ám hại, vì họ biết ông Minh đi tuyên bố đầu hàng. Chính ủy Tùng nói ngay : -Đi với tôi, ông Minh khỏi lo. Quân giải phóng đã hoàn toàn chiếm lĩnh thành phố, chúng tôi bảo đảm an toàn. Ong Minh đồng ý. Phạm Xuân Thệ, đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 hộ tống tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu, tổng trưởng thông tin Lý Quý Chung lên xe jeep thứ nhất. Nhà báo Tây Đức Von Borries Gallasch với nào các máy ảnh, ghi hình, ghi âm đeo lỉnh kỉnh quanh người có mặt ở đó, xin chính ủy Tùng cho đi theo và hứa sẽ viết bài có lợi cho cách mạng. Ong hỏi xin nói tiếng Pháp có được không vì chắc rằng những người ở lớp tuổi chính ủy Tùng (năm đó ông Tùng 45 tuổi) còn nói được tiếng Pháp. Chính ủy Tùng trả lời : « Peut-être (có thể)… ». Như vậy là cả Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng cùng các nhà báo Gallasch, Hà Huy Đĩnh tháp tùng theo xe chính ủy Tùng ra đài phát thanh. Ở đài phát thanh, sinh viên và bộ đội đang loay hoay chưa biết làm gì thì bỗng dưng có hai chiếc xe jeep chở đầy người chạy vào khuôn viên đài phát thanh. Rất nhiều bộ đội cùng dân sự bước xuống và họ nhận ra ngay hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu, tổng thống và thủ tướng mới nhậm chức của chính quyền Sài Gòn. Một trong hai người chỉ huy yêu cầu sinh viên tìm cách cho tướng Minh đọc lời đầu hàng trên đài phát thanh. Ong nói xong, kéo cả đoàn người mới đến lên lầu một, vào phòng khách theo hướng dẫn của sinh viên. Trong lúc đó, một sinh viên chạy đi tìm nhân viên đài. Tại phòng khách, ngoài hai ông Minh-Mẫu, hai chỉ huy bộ đội (sau này họ mới biết là chính ủy Bùi Văn Tùng và đại úy Phạm Xuân Thệ) và vài anh bộ đội còn có hai người dân sự nữa là anh Nguyễn Hữu Thái và một nhà báo nước ngoài. Nhà báo Đức cho mượn chiếc cát xết thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Tùng. Tướng Minh nhìn thấy Nguyễn Hữu Thái trong đám người này có vẻ cũng yên lòng. Trông ông mệt mõi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to lớn nhưng mặt ông hốc hác. Chính ủy Tùng nhớ lại : "Tôi lúng túng không biết làm sao thảo một văn kiện đầu hàng. Từ bé đi học, lớn lên là anh bộ đội Cụ Hồ đã mấy chục năm, chưa có ai chỉ vẽ cho tôi cách soạn thảo văn bản đầu hàng cho đối phương cả. Mặt khác tôi cũng chưa kịp xin ý kiến cấp trên. Viết sao dây ?... A phải rồi, với cách mạng chỉ có hai vấn đề cơ bản nhất : chính quyền và quân đội. Khi mất chính quyền thì quân đội không còn. Và ngược lại, không có quân đội thì thì chính quyền không thể tồn tại. Vậy thì…" Sẵn tập giấy pơ-luya trên bàn, suy nghĩ mấy phút, tôi viết lời đầu hàng của tướng Minh. Ong Minh đề nghị thay vì ‘tổng thống’ xin dùng chữ ‘đại tướng’, dân chúng có cảm tình hơn. Tôi nghĩ rằng tướng Minh phải đầu hàng ở cương vị tổng thống, vì dẫu sao ông cũng ở cương vị này 3 ngày rồi, mới ra lệnh được cho cả dân sự lẫn quân sự. Nghe lời phân tích có lý lẽ, tướng Minh gật đầu : -Dạ, tôi xin nghe quý ông. Chính ủy Tùng suy nghĩ tiếp : có người đầu hàng thì cũng phải có người chấp nhận đầu hàng, nếu không, có thể nhiều người lầm tưởng ông Minh có thiện chí. Và ông thảo luôn lời chấp nhận đầu hàng. Pin máy cát xết quá yếu, anh em sinh viên chạy đi tìm pin thay thế. Họ cũng đi tìm ngay kỹ thuật viên cho đài phát sóng lại. Tất cả đều nhờ anh em sinh viên lo liệu. Chính ủy Tùng xác nhận : « Không có các cậu sinh viên giúp phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh thì thật là gay go… ». Họ tìm được anh Trần Văn Bảng kỹ thuật viên phát sóng trú ngụ ngay gần đấy. Anh còn lên tiếng gọi thêm mấy người khác đến giúp vận hành đài. Thu băng lời tướng Minh phải thử đi thử lại mấy lần mới xong. Lời phát biểu của thủ tướng Mẫu thì ông được nói trực tiếp. Đài phát thanh Sài Gòn phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh. Chính ủy Bùi Văn Tùng nhìn đồng hồ, lúc này là 1 giờ 20 phút chiều (giờ Hà Nội, sớm hơn giờ Sài Gòn vào thời đó một giờ). Như vậy là loay hoay khá lâu, đài phát thanh Sài Gòn mới vận hành được và phát đi tiếng nói Cách mạng đầu tiên, vào lúc trên 2 giờ chiều, giờ Sài Gòn. Nguyễn Hữu Thái nói lời mở đầu : "Chúng tôi là những người đại diện cho Uy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái… Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…" Tiếp theo là lời của tướng Dương Văn Minh : "Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam". Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu tiếp theo : "Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Nhân viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng". Và cuối cùng là lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi Văn Tùng : "Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn". Và Thái tiếp tục nói : "…Quân Giải phóng đã tiến vào dinh Độc Lập và đã làm chủ hoàn toàn các điểm chốt quân sự cũng như dân sự của vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định…" Phải chăng những khoảnh khắc, những tuyên bố đó đã chấn động lòng người, làm nước mắt trào ra từ nhiều đường rừng, mặt trận và cả ở miền Bắc nước ta. Người ta mừng rỡ, hồi hộp và lắng nghe từ xa. Sáng 30/4, trong chiến khu miền Đông, nhà báo Đinh Phong không dám rời chiếc radio nhỏ đeo bên mình. Các anh em đã xuất quân hết vào sáng 29/4. Trước khi đi anh Hai Khuynh (Nguyễn Huy Khánh) trong ban biên tập báo Giải Phóng nói nhỏ với anh : "Phải bám chặt đất Sài Gòn suốt đêm ngày". Gần trưa đài phát thanh Sài Gòn mất sóng. Anh nghĩ thầm : Chắc là có chuyện rồi. Hồi Tết Mậu Thân năm 1968, mình cũng chờ mãi như thế. Thì ra ta đã chiếm được đài phát thanh Sài Gòn rồi nhưng không vận hành được ! Gần trưa thì có tiếng rọt rẹt. Tất cả anh em đều bỏ ăn cơm ngồi bên chiếc radio chờ đợi. Bỗng có tiếng nói, giọng nam còn trẻ : "Chúng tôi là những người đại diện cho Uy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định… Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái…" Tiếp đó là lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh. Cả cơ quan reo hò tung chén dĩa, mũ nón. Biết tôi là người theo dõi phong trào đô thị, anh em quây lại hỏi : -Huỳnh Văn Tòng và Nguyễn Hữu Thái là ai ? Nhà báo Đinh Phong chỉ biết tên Nguyễn Hữu Thái qua phong trào học sinh sinh viên Sài Gòn, biết anh là chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn khóa 1963-64. Vì vậy, anh bèn nói với anh em : -Nhất định đó là ‘người của ta’ rồi, người của ta chiếm đài phát thanh mới cho đọc lời đầu hàng của Dương Văn Minh… Xong việc, hai chỉ huy bộ đội đưa đoàn tướng Minh về lại dinh Độc lập. Chính ủy Bùi Văn Tùng tuy đã thực hiện được một công tác cấp bách và cần thiết phát đi được lời đầu hàng của tướng Minh, nhưng ông vẫn bị cấp trên rầy rà cho đó là một việc làm mạo hiểm. Nếu có mệnh hệ nào cho tướng Minh thì rất khó ăn nói cho phía cách mạng đối với dư luận trong và ngoài nước. Thái đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh ấy, đọc thêm bảng công bố của Cách mạng đối với vùng mới giải phóng, mượn của một chính trị viên. Thái và Tòng cố tình xưng tên tuổi mình là nhắm tạo tâm lý trấn an nhân dân Sài Gòn. Gần đây, nhân dân phía Nam từng bị guồng máy tâm lý chiến của Mỹ và Sài Gòn ra rả tung tin thất thiệt, mô tã nào cảnh tắm máu khi bộ đội đến miền Trung làm dân Sài Gòn sợ điếng hồn. Mọi người thực sự đang kinh hoàng, chỉ mong tìm đường tháo chạy thoát thân với bất cứ giá nào! Hy vọng khi nghe được tên tuổi Thái, Tòng họ sẽ nghĩ : "À, nếu mấy tên tư sản kiểu như Tòng, Thái mà còn đó thì chắc cũng không đến nỗi nào!". Về sau nghe nói có nhiều người lấy tàu chạy ra biển xa đã quay lại và bị bắt đi học tập hoặc bị giam giữ đã trách cứ Thái, Tòng lừa gạt họ ! Nhóm sinh viên chủ động tự biên tự diễn chương trình phát thanh, chủ yếu làm sao đưa ra được lời tuyên bố đầu hàng của tướng Minh, thông báo chính sách của chính quyền cách mạng lâm thời về vùng mới giải phóng và trấn an dư luận dân chúng Sài Gòn, vùng Đồng bằng sông Cữu Long, các hải đảo. Xen kẽ vào các lời ghi âm sẳn phát đi phát lại nêu trên, họ tranh thủ kêu gọi đại diện đồng bào các giới đến lên tiếng trên làn sóng phát thanh. Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào và tất cả cùng anh hát vang bài "Nối vòng tay lớn". Bài hát ra đời từ năm ’68 nói lên giấc mơ của dân tộc nay mới trở thành hiện thực. Đây là bài hát đầu tiên được phát lên sóng của đài phát thanh Sài Gòn ngày giải phóng. Vậy là phải 18 năm sau Thái mới gặp lại người bạn học cũ ở Huế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Gặp lại nhau trong ngày trọng đại thống nhất đất nước này ! Đến chiều tối sinh viên mới giao được đài lại cho bộ phận phát thanh Giải phóng vừa về đến Sài Gòn. Nhóm sứ giả chiều hôm qua tướng Dương Văn Minh gửi đến gặp đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam gồm linh mục Chân Tín, giáo sư Châu Tâm Luân và luật sư Trần Ngọc Liễn núp suốt đêm trong hầm tránh pháo tại trại Davis hân hoan ra khỏi trại sau một đêm bị pháo kích kinh hoàng và trở về nhà thì đã nhìn thấy bộ đội có mặt khắp thành phố rồi. Những tiếng súng bắn tỉa lẻ tẻ im bặt và người hôi của không còn dám chường mặt ra đường. Sài Gòn đang tưng bừng vui mừng ngày giải phóng. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regi...thaibook.shtml |
Cảm ơn htienkenzo dẫn 1 bài hay. SM thấy tin được văn bản này, về tính chân thực của nó. Và cũng phù hợp với những gì SM suy nghĩ mấy ngày qua.
@bác nbinhdi: Bác quen anh Thận, chắc hỏi về chi tiết 3 người Bắc - Trung - Nam trên cột cờ dinh Độc lập ngày 30-4 được. SM tin là sẽ có một câu trả lời thú vị. |
Về các tuyên bố của phía VNCH, tôi xin đưa Những bản tin cuối cùng của Đài phát thanh Sài Gòn (VNCH) để các bác tham khảo. Tư liệu do "phía bên kia" cung cấp:
--- Bài diễn văn hoảng loạn của Nguyễn Văn Thiệu Trước sức mạnh tấn công như vũ bão của lực lượng vũ trang quân đội ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975, từng ngày, từng giờ, chính quyền Sài Gòn đã hoảng hốt, tháo chạy tán loạn. Đêm 20-4-1975, địch rút chạy khỏi Xuân Lộc, tuyến phòng thủ phía Đông Sài Gòn được mệnh danh là cánh cửa thép đã mở toang Ngày hôm sau 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu đã lên đài đọc bài diễn văn. Sau đây là vài đoạn trích trong bài diễn văn sụt sùi của Thiệu do đài phát thanh Sài Gòn phát trực tiếp hồi 19 giờ ngày 21-4-1975. (Xin mọi người lưu ý, đây là bài nói vo trong lúc hoảng loạn, hoang mang của Nguyễn Văn Thiệu cho nên nên hành văn, ngữ pháp không được trơn tru, lời lẽ bài diễn văn thậm chí có lúc vừa lủng củng, lộn xộn). Bản diễn văn chính thức sẽ đề cập sau --------------------------------- Trước hết tôi xin lỗi, hôm nay tôi nói chuyện 1 cách trực tiếp mà không có đọc 1 cái thông điệp trước quý vị và trước quốc dân đồng bào hay anh em chiến sỹ cán bộ Cũng vì cái vấn đề cấp bách đòi hỏi 1 quyết định cấp bách và phải được bảo vệ sự kín đáo tối đa vì lý do an ninh quốc gia. Cho nên tôi mạn phép mời Quốc hội lưỡng viện, Tối cao pháp viện, các cơ quan hiến định và tất cả quý vị với 1 thời hạn rất là ngắn ngủi ở trong 1 cái khung cảnh đáng lẽ phải là khác hơn ở cái ngôi nhà ở Dinh Độc Lập. Sau năm 1973, có những trận đánh mà chính tướng lãnh Mỹ khi khi trở vô đây phải thán phục quân đội VN từ khi tôi ra lệnh phải đánh theo lối VN, phải tiết kiệm súng đạn, liệu cơm gắp mắm. Phải nói là những trận này không chắc gì thủy quân lục chiến Mỹ với B-52 đã đánh được, mà mấy sư đoàn đánh bằng chân không và với đại pháo thường mà đánh thôi. Họ phải thán phục. Nhưng mà trong cái khoảng thời gian thì chúng ta xin 1 tỷ 400 triệu USD, họ cắt xuống còn 700, rồi còn 300, họ cứ treo lắc lư cả năm trời? Trong cái khoảng thời gian đó, quân đội VNCH đã mất hết 60% tiềm năng chiến đấu. 1 võ sỹ mất hết 60% sức lực. Và cái vấn đề đánh giặc hễ mình mà mạnh là mạnh luôn mà yếu thì nó đi luôn. Nó cũng như con bệnh, hễ mạnh là vượt qua luôn, hễ yếu là bệnh? Thì quý vị có thể tưởng tượng là trong thời gian Hoa Kỳ cắt viện trợ của chúng ta mất hết 60% tiềm lực chiến đấu thì cái gí xảy ra, số thương vong gấp bội, bởi vì không có phương tiện không quân yểm trợ, mà pháp của ta lại thua pháo của địch, thì nội cái thương vong vì pháo cho nên nó cao. Và cái số chết lại càng lên cao vì thiếu trực thăng để tản thương, thậm chi vô nhà thương 1 cái băng phải băng đi băng lại 2 lần, cứ giặt rồi lại băng lại. Đạn dược thiếu phải tính từng viên, phi cơ, đại pháo của chúng ta mà đáng lẽ Hoa Kỳ đã cam kết trong Hiệp định Paris là 1 đổi 1 cũng không có 1 đổi 1 Tôi đã nói với người Mỹ: Mấy ông bảo chúng tôi làm những việc mà chính mấy ông với nửa triệu lính binh hùng tướng mạnh xài gần 300 tỷ USD trong 6 năm trời, nhưng không muốn nói là bị CS đánh bại ở VN thì cũng phải nói 1 cách khiêm nhường là mấy ông không có thắng lợi ở VN mà mấy ông tìm 1 cái lối ra danh dự. Thì bây giờ với cái quân đội này, súng thiếu, đạn thiếu, thuốc thiếu, xăng thiếu, máy bay thiếu, không có B-52 lại bảo tôi làm cái chuyện đội đá vá trời thì có khác gì mấy ông cho tôi 3 Mỹ kim: tôi cho ông 3 Mỹ kim mà tôi bảo ông đi máy bay hạng nhất, qua ở phòng ngủ 1 ngày 30 Mỹ kim, ăn 1 ngày 4-5 miếng thịt bò, uống 1 ngày 7-8 ly rượu. Không làm được, phi lý?. Vì cái chỗ đó mà hôm cái phái đoàn nghị sỹ dân biểu qua, tôi hỏi đã đến lúc mấy ông đem 300 triệu Mỹ kim vô đây, các ông không nói. Tôi phải nói vấn đề 300 triệu Mỹ kim mà mấy ông phải giữ lời cam kết của Hoa Kỳ là giúp đỡ VN chiến đấu để bảo vệ cái sự độc lập và tự do là lý tưởng tự do mà chính mấy ông đã chiến đấu chung ở đây và sự hy sinh 50.000 công dân Mỹ của mấy ông mà mấy ông tự hào là cái người vô địch bảo vệ tự do và chính nghĩa và lý tưởng tự do trên thế giới này. Và mấy ông còn 1 năm nữa, mấy ông ăn cái lễ 200 năm. Thì tôi có hỏi họ hẳn hoi là lời nói của Hoa Kỳ có còn đáng tin cậy hay không? Mà những gì mấy ông hứa có giá trị gì hay không? 300 triệu Mỹ kim có đáng gì với mấy ông? 300 triệu Mỹ kim mà so với cái chuyện mấy ông bảo tôi rằng hãy làm 1 chiến thắng, hãy ngăn chặn 1 sự xâm lăng của mấy ông làm trong 6 năm trời không được với tất cả lực lượng của Mỹ và tiền bạc. Như vậy là phi lý! Bây giờ trở lại cái tình hình chung của đất nước với cái đà CS đưa 20 sư đoàn, đưa hỏa tiễn, đưa phòng không, đưa đại pháo, xe tăng, đại bác rầm rầm rộ rộ. Chúng ta rất tiếc, chúng tôi rất đau lòng là cái tình hình nó đã diễn tiến quá nhanh ở miền Trung. Nhưng mà chúng tôi có cái can đảm với tư cách là 1 vị tổng thống và 1 người có biết về quân sự nhanh hay chậm nhưng mà cái tình hình đến ngày nay cũng phải như vậy. Tôi thưa thật với quý vị, quý vị có dịp phối kiểm với tất cả những người quân sự, nếu như không lấy quân ở Kon Tum, ở Pleiku về với 1 ý muốn tốt đẹp là lấy lại Ban Mê Thuột thì Kon Tum, Pleiku, tôi chắc là ngày nay cũng không còn? Mà rồi lính thì mất, xe tăng mất, đại pháo mất hết chứ chúng ta rút về cũng có được phân nửa. Lúc đó Quảng Trị sẽ phải mất. Ông trung tướng Trưởng cũng nhìn nhận sẽ phải mất. Quảng Tín mất thì Quảng Ngãi cũng sẽ phải mất, Bình Định, Quy Nhơn ở trong cái thế cô lập, Huế sẽ trở thành 1 cái thế bị bao vây với 4-5 sư đoàn. Và tôi nghĩ rằng với 1 Sư đoàn 1 với 1 sư đoàn thủy quân lục chiến kể từ Huế vô cho tới Đà Nẵng, với 1 Sư đoàn 3 ở Đà Nẵng thì tôi nghĩ rằng cái nhanh thì cũng đáng trách nhưng cái hậu quả ngày nay thì nó cũng là như vậy. Hôm nay, trước lưỡng viện Quốc hội, trước Tối cao pháp viện, tôi trân trọng trước đồng bào, trước anh em chiến sỹ cán bộ toàn quốc: tôi tuyên bố từ chức tổng thống. Tôi trở lại lời yêu cầu của tôi, yêu cầu lưỡng viện Quốc hội, tối cao pháp viện chấp nhận cái sự hiện diện của quý vị đúng theo điều 55 của hiến pháp để cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương tuyên thệ nhậm chức tổng thống? |
Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 21 tháng 4 năm 1975
---- TT Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức Trước quý vị Lưỡng Viện Quốc Hội, trước Tối Cao Pháp Viện, trước chính phủ, trước đồng bào, trước anh chị em chiến sĩ cán bộ toàn quốc, tôi tuyên bố từ chức Tổng thống. Và theo Hiến Pháp, Phó tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức vụ Tổng thống, và chiếu điều 55 Hiến Pháp, khi nhậm chức Tổng thống trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối Cao Pháp Viện và Quốc Hội. Hôm nay vì tình hình cũng vì thời gian cấp tốc, cái sự từ chức của tôi nó cũng không được trân trọng đối với quốc dân đồng bào, cũng như đối với quý vị, đối với anh em chiến sĩ cán bộ tuy nó cũng không có cho thì giờ làm trang trọng hơn ở trong một cái khung cảnh trang trọng. Đáng lẽ ra, tôi có được cái sự tín nhiệm và ủy nhiệm của quốc dân bốn năm về trước, thì khi ra đi tôi cũng phải có ý kiến của quốc dân qua một cái hình thức nào đó. Dù trong Hiến Pháp không có dự liệu trưng cầu dân ý, không có dự liệu một hình thức nào để quốc dân nói lên cái sự bất tín nhiệm của mình đối với vị Tổng thống đương nhiệm. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi không đòi hỏi cái sự đó. Vì tình hình, vì tốn kém mà tôi nghĩ rằng một khi tôi đã lấy một cái quyết định và trách nhiệm để từ chức, tôi sẽ lãnh hết cái trách nhiệm về cái quyết định đó, và tôi lãnh hết cái trách nhiệm trước quốc dân. Và những lý do gì tôi sẽ giải thích. Thì hôm nay, trước điều 55 Hiến Pháp, đáng lẽ cái sự tuyên thệ nhậm chức Tổng thống của Phó tổng thống Trần Văn Hương phải được tổ chức trong một khung cảnh trang nghiêm. Nhưng tôi đã nói rằng tình thế không cho phép. Và cũng vì lý do rằng không thể có một cái sự thiếu nhu cầu của vị quốc trưởng. Để tránh những cái sự bất ổn chính trị, tránh những cái khoảng trống chính trị. Tránh những sự khai thác của kẻ thù, cho nên hôm nay tôi có một lời yêu cầu khẩn thiết, lời yêu cầu khẩn thiết của tôi và sẵn dịp có Lưỡng Viện Quốc Hội, sẵn dịp có Tối Cao Pháp Viện, tôi xin Lưỡng Viện Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện chấp nhận lời yêu cầu của tôi để cho Phó tổng thống Trần Văn Hương chút nữa sẽ làm lệ tuyên thệ nhậm chức ngay tại cái văn phòng này. Thưa quý vị, thưa đồng bào và anh chị em, tôi đã cùng với đồng bào và anh chị em suốt 10 năm nay, như tôi đã nói, tôi không phải vì thiếu can đảm. Không phải một cuộc biểu tình, một cuộc xuống đường, một cuộc vu khống mà làm cho tôi nản chí, xuống tinh thần, mất nghị lực, mà ra đi một cách vô ý thức, vô trách nhiệm. Cũng không phải vì áp lực của đồng minh, cũng không phải vì sự phải chiến đấu cam go với cộng sản mà làm cho tôi phải thiếu trách nhiệm, thiếu tin thần trách nhiệm ra đi. Những vị Tổng thống ở những quốc gia lớn, người ta đã tự hào, người ta chỉ có 6, 7 hay 10 cơn khủng khoảng. Người ta đã viết được một cuốn sách, người ta tự hào là người anh hùng, chính trị gia lỗi lạc. Tôi trong 10 năm nay, ý tôi muốn nói, tử vi mà nói, năm nào cũng xấu, tháng nào cũng xấu, ngày nào cũng xấu, giờ nào cũng xấu. Chỉ nói số mạng mà nói ................. không có lúc nào sướng, đã không sướng, đã không hưởng thụ, cũng không tìm cách hưởng thụ. Cai trị đất nước, có những cái vinh và những cái nhục. Đã chấp nhận những cái vinh và những cái nhục mới đứng ra lãnh đạo đất nước. Có những cái tốt không muốn được đồng bào khen, nhưng mà có những cái xấu, cái lỗi lầm, sẵn sàng chấp nhận cho đồng bào phê phán và buộc tội. Thì hôm nay khi tôi ra đi, tôi xin đồng bào, chiến sĩ cán bộ, tất cả các đoàn thể nhân viên tôn giáo, hãy thứ lỗi cho tôi những lỗi lầm gì đã có với quốc dân trong suốt 10 năm qua. Tôi xin cám ơn Quốc Hội, tất cả những cơ quan hiến định, tất cả các đoàn thể, các tôn giáo, những cá nhân đồng bào các giới, anh chị em chiến sĩ cán bộ, đã hợp tác với tôi, đã giúp đỡ tôi qua tất cả những thăng trầm của đất nước cho đến ngày nay. Đất nước sẽ ghi ơn đồng bào và các bạn đã đành, riêng tôi cũng sẽ ghi ơn đồng bào và các bạn. Tôi từ nhiệm chứ không phải tôi đào nhiệm. Kể từ giờ phút này tôi xin đặt mình dưới sự sử dụng của Tổng thống, của nhân dân, của quân đội. Không làm Tổng thống, hoặc Tổng thống Hương làm, thật sự đất nước cũng không mất gì. Có thể đất nước lại còn lời được một chiến sĩ ra đi. Tôi sẽ sát cánh với đồng bào với chiến sĩ để bảo vệ đất nước. Giờ đây, tôi xin cám ơn đồng bào, quý vị, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, và tôi xin từ biệt. Tôi trở lại lời yêu cầu của tôi, yêu cầu Lưỡng Viện Quốc Hội, và Tối Cao Pháp Viện chấp nhận với sự hiện diện của quý vị đúng theo điều 55 của Hiến Pháp để cho Phó tổng thống Trần Văn Hương tuyên thệ nhậm chức Tổng thống. (Vỗ tay) --- Tiếp theo đây là nguyên văn lời tuyên thệ nhậm chức của tân Tổng thống Trần Văn Hương: Tôi trân trọng tuyên thệ trước Quốc Dân, quyết bảo vệ tổ quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc, xin tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. (Vỗ tay) |
Đài Sài Gòn ngày 26 tháng 4 năm 1975
TRẦN VĂN HƯƠNG: QUÝ VỊ QUYẾT ĐỊNH, TÔI XIN TRAO QUYỀN Ghi âm diễn văn của TT Trần Văn Hương đọc trước Quốc hội Lưỡng Viện VNCH Ngày 26 Tháng 4 Năm 1975 Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Quốc Hội VNCH họp để bàn về việc TT Trần Văn Hương sẽ bàn giao chức vụ cho Đại tướng Dương Văn Minh để thương thuyết với "phe CS", tìm một giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Hương đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng. Nhưng tướng Minh không chịu và đòi "cụ" Hương phải nhường cho Minh chức tổng thống. Minh nói với "cụ" Hương: Thầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa là thầy trao trọn quyền cho tôi. Sau đây là nguyên văn lời trình bày của TTTrần Văn Hương trước phiên họp sáng thứ Bảy 26 tháng 4-1975 của lưỡng viện Quốc Hội tại Hội Trường Diên Hồng: --- Thưa Chủ tịch Quốc Hội, Thưa Chủ tịch Hạ Viện, Thưa quý vị Nghị sĩ, Thưa quý vị Dân biểu, Tôi nhiệm chức hôm nay đã được năm ngày. Nói rằng ở đây để đọc một cái thông điệp, tôi không có cái táo bạo như vậy, bởi vì tình thế nghiêm trọng của đất nước. Vả lại như quý vị đã biết, tôi không quen nói những lời văn hoa mà không có ý nghĩa, cho nên tôi xin thưa trước quý vị đây không phải là một thông điệp. Đây chẳng qua là lời thành khẩn, thật tình của một người vì nước, đến trình bày mọi việc để quý vị rõ và quyết đoán. Thưa quý vị, tình trạng đất nước khó khăn như thế nào, có lẽ quý vị đã biết rõ rồi. Tổng thống trao quyền lại cho tôi chẳng những là khó khăn, mà còn rất là bi đát. Bởi vì như quý vị đã biết, trong bốn vùng của chúng ta, hiện giờ chúng ta đã mất hơn hai vùng rồi, còn lại vùng III và vùng IV thì đã sứt mẻ, và sứt mẻ này có thể một ngày một lan rộng, và tình trạng khốn khổ, đau thương chẳng những là của toàn xứ mà của cả Sài Gòn và Chợ Lớn này trong những ngày gần đây. Kính thưa quý vị, hiện giờ bên cạnh chúng ta là thành Nam Vang vừa rồi đây quý vị đã thấy. Cảnh Sài Gòn, Chợ Lớn nếu không khéo dàn xếp thế nào thì e rồi đây Sài Gòn sẽ thành một núi xương, một sông máu. Điều mà những người có lòng yêu nước không thể không nghĩ đến được, không thể chấp nhận được. Riêng tôi đây, tôi cũng không chấp nhận được. Bởi vậy cho nên, những vấn đề nói rằng chúng ta phải tiếp tục tranh đấu, vấn đề chúng ta đành phải nhận, phải làm, bất kỳ với giá nào cũng phải làm, những cái đó không thể giải quyết như vậy được. Bởi vì vậy, khi tôi chấp nhận nhiệm vụ nối tiếp chánh quyền trước kia, thì tôi đã đưa ý rằng vấn đề phải giải quyết bằng một giải pháp chính trị, nghĩa là phải chấp nhận thương thuyết. Và đây, tôi xin công khai rằng chánh phủ của tôi và chánh phủ nào sẽ thành lập theo ý của tôi. Lẽ cố nhiên là với sự chấp thuận của Quốc Hội. Chánh phủ đó sẽ đứng ra thương thuyết. Thưa quý vị, đã nói cái chữ thương thuyết, không phải thương thuyết là đầu hàng. Nếu thương thuyết là đầu hàng thì còn thương thuyết gì nữa! Thà là chết cho đến cùng chứ sao lại gọi là thương thuyết được! Bởi vậy cho nên đã đặt là thương thuyết, tất nhiên cũng phải chấp nhận những điều kiện gì đau đớn. Nhưng những điều kiện đó không phải là đến lúc phải hoàn toàn chúng ta đầu hàng. Nếu phải đầu hàng, thì chúng ta đây, quý vị và tôi, sẽ trao lại cho quân nhân, chứ không phải là chúng tôi quyết định chuyện đó. Với ý nghĩa đó, nghĩa là ý nghĩ thương thuyết, tôi đã ra công dò xét tìm bên này, tìm bên nọ, hỏi thăm dò ý kiến mọi nơi. Tôi bữa nay cũng nói với quý vị là tôi có dịp đã gặp được Đại tướng Dương Văn Minh, bởi vì theo lời một số người, thì Đại tướng Dương Văn Minh có đủ điều kiện làm việc này. Trong các cuộc gặp gỡ, trong một tư thất của một người bạn chung ?" bởi vì họp mặt tôi muốn tránh tiếng trước, không thể mời Đại tướng đến Dinh Độc Lập nói chuyện. Một mặt tôi cũng không thể tự mình tới nhà Đại tướng mà nói chuyện. Cho nên chúng tôi đã cùng nhau đến nhà một người bạn chung ?" Sau khi nói chuyện, tôi nói rằng: ?oTheo dư luận, một số người nói rằng Anh ?" xin lỗi, bởi vì giữa Đại tướng với tôi cũng còn cái thâm tình nhiều ?" người ta bảo rằng Anh có đủ điều kiện để thương thuyết, vậy thì xin Anh vì nước nhà, mọi tỵ hiềm qua, mọi chuyện không tốt đẹp đã xảy ra, xin Anh vui lòng xóa bỏ để cùng nhau chung lưng dựng nước. Xin Anh chấp nhận cái ghế Thủ tướng để đứng ra thương thuyết với phía bên kia.? Đại tướng, lẽ cố nhiên đối tôi lúc nào cũng giữ thái độ chẳng những là người bạn thân mà giữ cả thái độ, xin lỗi, như thể một người học trò của tôi vậy, mặc dù Đại tướng không phải là học trò của tôi, Đại tướng nói: ?oThầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.? Nghĩa là trao cái quyền tổng thống cho Đại tướng. Thưa quý vị, nước Việt Nam của chúng ta mặc dầu mất rất nhiều rồi, nhưng cái gọi là pháp lý, căn bản pháp lý vẫn còn. Quốc Hội vẫn còn đây, Hiến Pháp vẫn còn đây, tôi không thể làm một chuyện qua mặt được Quốc Hội và qua mặt được Hiến Pháp... (vỗ tay). Vả lại cái quyền hiện giờ gọi là ở trong tay tôi, là một cái quyền cũng do nơi Hiến Pháp mà ra. Đây không phải là một cái khăn mouchoir, đây không phải là một tờ giấy bạc từ ở trong tay tôi, tôi móc ra đưa cho Đại tướng, ?oĐây, cái quyền đây này.? Tôi không thể làm như vậy được. Bởi vậy cho nên tôi nói vấn đề này tôi không thể giải quyết được. Nếu có muốn giải quyết chăng nữa, rồi đây tôi phải trình lại với Quốc Hội để Quốc hội quyết định coi thế nào. Thưa quý vị, Đại tướng cho rằng mình có thể nói chuyện với bên kia. Đại tướng nói rằng bên kia đã chấp nhận nói chuyện với Đại tướng. Cái chuyện này tôi xin phép không phải là tôi ngờ, nhưng mà tôi, khi nào tôi nắm được bằng cớ chính rồi, chừng đó tôi mới tin được là như vậy. Nhưng theo tôi thiết nghĩ, Đại tướng trong cuộc thương thuyết này là lãnh nhiệm vụ của một người do Quốc Hội chấp nhận đứng ra thương thuyết mà giao cho Đại tướng. Nếu mà Đại tướng tự nhiên đi nói chuyện với bên kia, xin lỗi, Đại tướng đến nói chuyện với danh nghĩa là gì? Đại tướng nói chuyện đại diện cho ai mà nói chuyện với bên kia? (vỗ tay) Lại một điểm nữa, tôi nghĩ Đại tướng đã có cái gì mà cam đoan rằng những điều kiện Đại tướng sẽ thâu thập được đó là điều kiện, tôi không nói là hoàn toàn thuận lợi, mà là điều kiện ít đau khổ, ít nhục nhã cho nước Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, nghĩa là của chung chúng ta. Ở đây có cái gì bảo đảm chuyện đó hay không? Một điểm nữa... hai chính phủ thương thuyết với nhau, có thể nào chính phủ này kêu chính phủ kia: ?oNói anh phải chỉ định người này, người này nè, ra thương thuyết tôi mới chấp nhận, bằng không phải như vậy, tôi không chấp nhận.? Có thể nào có được như vậy không? (vỗ tay) Bởi vậy, đây cái chuyện, xin lỗi, đã thật là khó hiểu nổi. Lấy cái lý trí của con người, dẫu mà sơ đẳng thế nào, cũng không thể hiểu được. Hôm nay đến trước mặt Quốc Hội, tôi trình bày vấn đề, thì như đã nói khi nãy, đây là một điểm mà Quốc Hội toàn quyền quyết định. Nếu nghĩ rằng tôi phải giao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh, tôi xin phép vâng lời Quốc Hội, tôi sẽ giao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh. Còn như nếu quý vị tính cái chuyện khác, đó là toàn quyền của quý vị, tôi không chen vào đó. Một điểm sau, nhiều khi người ta nghĩ rằng tôi bị áp lực, áp lực chỗ này áp lực chỗ nọ, thì thưa quý vị, đây không phải là tự mình vẽ bùa để cho mình đeo, tôi bình sanh tới thuở giờ, không chấp nhận một áp lực của ai hết, mặc dù là áp lực của người gọi là bạn của mình hay là người tưởng là có quyền cho mình cái lịnh đó. Xin lỗi quý vị, tôi không có cái điểm đó. Vả lại đây là việc nước chung, việc nước chung nếu may ra trong cuộc thương thuyết này chúng tôi được những điều kiện nó còn phần nào, vì nó là vấn đề nhân đạo, hai là vấn đề lương tâm, ba là vấn đề thể diện. Chúng ta còn có thể chấp nhận được, thì thưa với quý vị, chừng đó dầu thế nào cái quyền quyết định là quyền của Quốc Hội, không phải quyền của tôi. Đây tôi xin xác nhận lại một lần nữa. Bởi vậy cho nên khi tôi xin với quý vị, lát nữa đây những việc cho tôi trọn quyền chỉ định người đi thương thuyết này trong căn bản mà tôi mới vừa nói tới. Nếu được, tôi sẽ trình lại với Quốc Hội coi chấp nhận hay là không chấp nhận. Còn như quý vị nghĩ rằng không chấp nhận, bởi vì đây là một điều kiện khắt khe, một điều kiện của người thắng trận viết cho người bại trận, thì chúng ta không còn nước gì khác hơn là lúc đó chúng ta cứ việc chết tới cùng, không còn biết làm sao hơn được (vỗ tay) ... thì chừng đó dầu cái thành Sài Gòn này sẽ biến thành một biển (?), tôi nghĩ rằng người Việt Nam vì thể diện của mình, không thể nào từ chối được, trừ một số người không đáng gì (vỗ tay) nói là không thể nào chấp nhận được chuyện đó. Thôi tôi không dám nói dài làm mất thời giờ của quý vị. Tôi chỉ nhắc lại một điểm, là xin quý vị quyết định. Nếu tôi phải trao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh, tôi xin sẵn sàng vâng lời quý vị, tôi sẽ trao lại cho Đại tướng Dương Văn Minh. Như thế quý vị chấp nhận rằng tôi có thể chỉ định một chính phủ nào gọi là chính phủ để đứng ra thương thuyết trong căn bản vãn hối hòa bình, trong tinh thần hiệp định Paris, để cho hai nước, cái chuyện vì lẽ cố nhiên một chuyện chúng ta đã mất rồi, theo những chuyện chúng ta đã biết trong hai ngày... Sau bài diễn văn của TT Trần Văn Hương, Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết với đa số đồng ý giao quyền cho Đại tướng Dương Văn Minh. Hai ngày sau, 28 tháng 4-1975 lễ bàn giao đã diễn ra tại Dinh Độc Lập. |
Đài Sài Gòn, chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975
Phóng sự truyền thanh lần cuối Phóng sự của Đài Phát Thanh Sài Gòn về buổi lễ bàn giao tổng thống tại Dinh Độc Lập. Lời của phóng viên Đài Sài Gòn. Thưa quý thính giả, bây giờ là 17 giờ thiếu 5 phút, và phóng viên hệ thống truyền thanh vẫn có mặt tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập. Nơi đây, buổi lễ giao tổng thống Việt Nam Cộng Hòa sẽ diễn ra trong vòng năm phút tới. Bên trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập hiện giờ đèn sáng choang và các dân biểu, nghị sĩ, cũng như tất cả nội các xử lý thường vụ của Thủ trưởng Nguyễn Bá Cẩn hiện có mặt bên trong hội trường này. Thưa quý vị thính giả, chúng tôi đã nhận thấy ở trên hàng ghế đầu cùng là Phó thủ tướng Trần Văn Đôn, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng, quý vị cố vấn đoàn trong đoàn chính phủ. Chúng tôi cũng nhận thấy Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm kiêm Trưởng phái đoàn hòa đàm tại Ba Lê là ông Nguyễn Xuân Phong ngồi ở hàng ghế thứ nhì. Phòng khánh tiết Dinh Độc Lập này là nơi xưa kia nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn thường tổ chức các cuộc họp báo, và như quý vị đã biết, ở trên cùng của phòng khánh tiết là một bức tranh diễn tả cảnh Quốc Tổ Hùng Vương hội họp các bộ tướng thời xưa. Ở hai bên bức tranh đó là quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và quốc huy của chế độ. Đó là hình hai con rồng bay trên lá cờ Việt Nam. Tiếp đến, chúng tôi nhận thấy là diễn đàn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và cách diễn đàn đó khoảng mười thước là ghế dành cho các nhân vật trong chính phủ, các nhân vật thuộc đoàn cố vấn của chính phủ và các dân biểu nghị sĩ. Chúng tôi cũng nhận thấy một số các giám sát viên thuộc giám sát viện và quý vị thẩm phán tối cao pháp viện. Thưa quý thính giả, bên trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập cũng được kê khoảng gần 200 ghế và hiện giờ thì những ghế đó đã kín chỗ. Chúng tôi cũng nhận thấy một số các nhân vật được nhiều người biết tới ở trong Quốc Hội như ông Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm, Nghị sĩ Tôn Thất Đính, Nghị sĩ Nguyễn Văn Ân, Dân biểu Trần Văn Tuyên, Trưởng Khối Dân Tộc Xã Hội. Chúng tôi cũng nhận thấy Dân biểu Nguyễn Ngọc Nghĩa, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dân biểu Trần Cao Đế, Dân biểu Mã Sái, Dân biểu Nguyễn Bá Lương, Dân biểu Đỗ Xuân Tứ, Nguyễn Minh Đăng, Trương Tất Thịnh, Trương Xuân Bào, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Quang Phụng, Đinh Văn Đệ, Nhan Minh Trang, Nguyễn Tuấn Anh. Ở trong dãy ghế dành cho quý vị Nghị sĩ chúng tôi cũng còn nhận thấy Nghị sĩ Khế Thiện Kế, Nghị sĩ Trần Văn Đôn, Nghị sĩ Tôn Thất Đính, và Nghị sĩ Huỳnh Văn Cao. Thưa quý vị thính giả, quang cảnh trong phòng khánh tiết Dinh Độc Lập hiện nay đông nghẹt các phóng viên nhiếp ảnh trong ngoài nước. Có đến khoảng gần 100 phóng viên nhiếp ảnh đã đứng ở phía trước cửa phòng khánh tiết, tức là đứng ở hai bên và vì thế rất khó để quan sát toàn thể hội trường. Theo như chương trình thì lễ trao nhiệm chức Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa Tổng thống đương nhiệm Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh sẽ bắt đầu vào lúc 17 giờ ngày 28 tháng 4-1975. Nhìn qua cửa kính bên phải phòng khánh tiết, chúng tôi nhận thấy cựu Đại tướng Dương Văn Minh trong âu phục mùa xám tro đã tiến vào một trong các phòng làm việc của Dinh Độc Lập ở phía cánh trái của Dinh Độc Lập. Và giờ này thì có thêm các dân biểu và nghị sĩ vẫn còn tới để dự lễ trao nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa tổng thống Trần Văn Hương và tổng thống chỉ định Dương Văn Minh. Chúng tôi vừa nhận thấy nghị sĩ Nguyễn Văn Hương và nghị sĩ Vũ Văn Mẫu vừa bước vào phòng khánh tiết. Chúng tôi cũng nhận thấy ông thẩm phán tối cao Trần Văn Tiết cũng vừa bước vào phòng khánh tiết. Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền sau một thời gian từ chức để phản đối chế độ, nay đã trở lại nghị trường để sinh hoạt cùng với các bạn đồng viên của ông. Như quý vị khán giả đã biết, đất nước chúng ta đã trải qua một chuỗi dài đau thương của lịch sử, và kể từ ngày nguyên tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút lui khỏi Kontum và Pleiku, những chuỗi ngày đen tối tiếp theo nhau và đã đưa đến khung cảnh chính trị và quân sự rất u ám hiện tại. Như quý vị đã biết, vào thứ Hai 21 tháng 4, tức là cách đây một tuần, nguyên tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức cũng ngay tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập này, và anh bạn phóng viên của chúng tôi cũng đã trực tiếp truyền thanh hầu quý vị buổi lễ từ chức lịch sử đó. Phó tổng thống Trần Văn Hương, theo hiến pháp, đã lên đảm nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và nếu tính đến ngày hôm nay thì tổng thống Trần Văn Hương giữ chức vụ nguyên thủ quốc gia được đúng bảy ngày. Và hôm nay là ngày 28 tháng 4, tổng thống Trần Văn Hương với sự chuẩn chấp của Quốc Hội lưỡng viện, sẽ trao quyền thổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho đại tướng Dương Văn Minh trong một vài phút tới đây. Tổng thống Hương đã được Quốc Hội chỉ thị tìm kiếm đường lối và biện pháp vãn hồi hòa bình, mà rồi thì ông đã giao trách nhiệm đó cho Quốc Hội để tìm kiếm người thay ông có thể tìm thấy đường lối và biện pháp vãn hồi hòa bình cho miền Nam Việt Nam. Nghị quyết ngày 26 tháng 4-1975 của lưỡng viện Quốc Hội đã quyết định như vậy, và ngày hôm sau, Quốc Hội lưỡng viện một lần nữa họp khoáng đại và bỏ thăm với số phiếu đa số tuyệt đối chấp thuận thổng thống Trần Văn Hương trao quyền tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cho đại tướng Dương Văn Minh. Nói như vậy có nghĩa là Hiến Pháp đã có một vài điều khoản không được thi hành nữa. Trong hàng ghế dành cho nội các, thì khuất sau một chiếc camera của đài truyền hình chúng tôi cũng nhận thấy ông tổng trưởng phát triển sắc tộc Narouet, ông bộ trưởng phủ thủ tướng. Chúng tôi xin nhắc lại, là ở hàng ghế trên cùng chúng tôi nhận thấy phó thủ tướng đặc trách tổng thanh tra kiêm tổng trưởng quốc phòng, trung tướng hồi hưu Trần Văn Đôn trong âu phục màu đậm. Bên cạnh ông là tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách sản xuất kiêm tổng trưởng canh nông và kỹ nghệ. Phó thủ tướng Hảo mặc y phục bốn túi màu xanh nước biển và bên cạnh phó thủ tướng Hảo là phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng đặc trách các chương trình cứu trợ và định cư. Phía sau hàng ghế, chúng tôi nhận thấy linh mục Cao Văn Luận, chúng tôi cũng nhận thấy ông quốc vụ khanh Lê Trọng Quát, ông quốc vụ khanh Nguyễn Văn Ái, ông quốc vụ khanh Phạm Thái và ông Nguyễn Xuân Phong, quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm kiêm trưởng phái đoàn hòa đàm. Thưa quý thính giả, vào lúc này thì bên ngoài Dinh Độc Lập chúng tôi đã nhận thấy là trời bắt đầu mưa và Sài Gòn đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước. Đây là phóng viên hệ thống truyền thanh Việt Nam. Tôi xin nhắc lại, là quý thính giả đang theo dõi buổi trực tiếp truyền thanh về lễ trao nhiệm chức tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giữa tổng thống Trần Văn Hương và cựu đại tướng Dương Văn Minh. Tổng thống Trần Văn Hương đã rời khỏi ghế ngồi của ông. Tổng thống đang tiến tới trước bục máy vi âm ở phía trước bức tranh quốc tổ và ông bắt đầu nói... |
Đài Sài Gòn, chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975
TT TRẦN VĂN HƯƠNG: THƯA VỚI ĐẠI TƯỚNG Diễn văn của TT Trần Văn Hương trao quyền tổng thống VNCH Cho Đại Tướng Dương Văn Minh Lúc 5 giờ chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975 tại Dinh Độc Lập Thưa ông Chủ tịch Thượng Viện, thưa ông Chủ tịch Hạ Viện, thưa quý vị Nghị sĩ, Dân biểu. Thưa quý vị, bữa nay là cái ngày đã từ lâu rồi quý vị phải có, mà ngày nay đã có, tức là đã đáp ứng được nguyện vọng của tôi từ lâu rồi. Khi Tổng thống tiền nhiệm trao nhiệm vụ cho tôi, tôi vẫn biết sức già, dầu muốn dầu không, tuổi trời đã cao, sức lực đã mòn, tức nhiên là không thể nào đảm trách được một nhiệm vụ lớn lao trong khi mà nước nhà đã trải qua một buổi khó khăn vô cùng không thể tưởng tượng được. Bởi vậy cho nên trong lòng tôi vẫn mong mỏi rằng dầu thế nào cũng phải có được một người ra lãnh cái trách nhiệm này để lo cho việc nước. Gọi là cú vét phần nào, cái gì gọi là quyền lợi, cái gì gọi là danh dự của nước Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Khi tôi đến trao đổi ý kiến với Đại tướng Dương Văn Minh, điểm làm tôi thắc mắc là điểm pháp lý, bởi vì nếu tự nhiên tôi đem cái quyền của tôi trao lại cho Đại tướng thì như vậy về phương diện pháp lý không hợp lý chút nào. Điểm đó tôi cùng Đại tướng đã có thảo luận. Sau khi ra ngoài lưỡng viện, tôi cũng có trình bày, và lưỡng viện sau khi thảo luận hai ngày thì tìm ra được giải pháp mà đây tôi tin là giải pháp đáp lại với chỗ mong mỏi của mọi người. Thưa quý vị, điểm thắc mắc về pháp lý hết rồi, thì về mặt đó chúng ta không còn băn khoăn chi nữa, thì dầu muốn dầu không cái chuyện lớn lao hiện giờ không còn là chuyện pháp lý nữa, thì việc làm sao cho nước Việt Nam Cộng Hòa dẫu tình hình có khó khăn đến đâu đi nữa, thì cũng phải giữ phần nào để bảo tồn được. Nếu không toàn vẹn hết thì cũng là phần nào cái danh dự của tổ tiên chúng ta. Thưa với Đại tướng, dù muốn dù không, một chương lịch sử đã dở qua rồi, những chương sẽ viết tới đây sẽ do nơi tay của Đại tướng. Mà bây giờ có hỏi ngay ra rằng Đại tướng sẽ viết những gì, tôi thấy là Đại tướng cũng băn khoăn, không thể trả lời. Nhưng tôi biết rằng với thiện chí của Đại tướng đã sẵn có, thế nào việc làm sau này không đến nỗi phải phụ lòng tin cậy của tất cả đồng bào, của quốc hội đã hoàn toàn đặt nơi Đại tướng. Đường đi nó có khác, nó đã khác, bởi vì triều đại đã thay đổi. Chúng ta bây giờ không nghĩ là phải luôn luôn đổ xương máu. Chúng ta không phải nghĩ là chúng ta phải đánh tới người chiến sĩ cuối cùng, viên đạn cuối cùng, khi mà còn một biện pháp nào, một giải pháp nào có thể đem lại hòa bình mà không đến nỗi tổn thương quá sức danh dự của nước nhà. Bởi vậy cho nên đường lối có lẽ là ở trong khuôn khổ đặt sẵn như thế đó. Thưa với Đại tướng, nhiệm vụ của Đại tướng rất là nặng, khi Đại tướng ra gánh vác chuyện này, tôi thấy rõ ràng là Đại tướng chẳng những có một thiện chí không mà thôi, Đại tướng còn phải có những can trường gì mới dám đảm nhận như vậy, và tôi cũng mong mỏi thế nào cho Đại tướng thành công. Vả lại, đặt lại vấn đề, giải pháp chiến đấu để giữ giải pháp dung hòa, ôn hòa, nghĩa là quên hết tất cả những gì gọi là căm thù để đem lại trước hết sự hòa giải, hòa hợp, rồi tới hòa bình để cùng nhau sống yên, mưu đồ chuyện tái tạo nước nhà. Theo ý tôi nghĩ, con đường là con đường đó. Thưa với Đại tướng, xóa hận căm thù không phải là căm thù đối với ở ngoài, mà tôi cũng xin phép nói là chúng ta cũng nên xóa căm thù tất cả những gì gọi là căm thù ở trong. Trước kia có lẽ những chỗ sai biệt đâm ra nếu là người Việt Nam thành thật thương nước, thì tất nhiên người đó dù muốn dù không cũng phải lo cho nước, yêu nước. Nhưng tiếc có một nỗi đồng sàng mà có nhiều khi dị mộng, cho nên nghĩ như vậy mà cái lòng nó nghĩ khác nhau. Việc làm khác nhau, nên sanh ra xích mích, sanh ra đến cái chỗ có thể gọi là căm thù, thì tôi thành khẩn yêu cầu Đại tướng bao nhiêu những việc gì có thể gọi là căm thù nội bộ, Đại tướng vui lòng ráng thế nào xóa bỏ hết. Vả lại trong bộ máy của chế độ, đều có những người phụng sự cho chế độ đó. Nếu chế độ kế tiếp mà còn nghĩ đến những việc trước, tìm ra chuyện ân oán giang hồ, gây chuyện căm thù nữa, thì những người bất kỳ ở chế độ nào, tôi nghĩ làm sao mà dám tận tâm với chế độ đó khi nghĩ đến chế độ sau này có thể trả thù trả oán. Cái chỗ mong mỏi của tôi là như thế, và tôi cũng hết sức thành khẩn yêu cầu Đại tướng nên nghĩ về tiền đồ của nước nhà, nên nghĩ về sinh mạng, sống còn của đất nước này, làm thế nào cho việc hòa giải khởi sự trước ở trong nước này trước khi ra tới ngoài. Còn một điểm nữa có lẽ là điểm chót. Tất nhiên là Đại tướng sẽ ráng hết sức mình mà làm, nhưng tôi cũng nhìn nhận lòng mình dẫu có thiện chí đến đâu nhưng sức mình nó có hạn. Đại tướng cũng là người, Đại tướng không phải là một vị thiêng liêng nào có phép màu cho nên chỉ phán một lời là mọi chuyện đâu đấy như ý muốn được. Tất nhiên là Đại tướng phải ráng sức, chuyện mà Đại tướng ráng sức mà thành công hay không thành công, đó là một việc tôi tưởng phần lớn không phải tùy nơi Đại tướng. Nhưng nếu Đại tướng thành tâm vì nước để lo cho nước, ráng vãn hồi hòa bình lại để dân được sống yên, làm thể nào cho máu đừng đổ, thịt đừng rơi, thì cái công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời. Dầu thế nào, tôi thiết nghĩ rằng không bao giờ mà đất nước này người ta có thể quên Đại tướng. Tôi xin cám ơn quý vị (vỗ tay). Sau đây là lời phóng viên Đài Sài Gòn: Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc bài diễn văn trao nhiệm xong, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay và thay vào đó huy hiệu Tổng thống mới là hình hoa mai năm cánh. Tân Tổng thống, Đại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở ghế giữa bên cạnh Nghị sĩ Huyền và Nghị sĩ Mẫu bắt đầu rời khỏi ghế và lên diễn đàn |
Đài Sài Gòn, chiều 28 tháng 4 năm 1975
DIỄN VĂN NHẬN CHỨC CỦA TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH Kính thưa Tổng thống, Kính thưa Thầy, Qua những lời của thầy làm cho tôi rất cảm kích. Thầy đã ghi nhận tình thế quân sự cũng như mọi mặt bi đát, làm cho tôi phần nào yên tâm vì cái sự khó khăn mà tôi gặp phải. Những lời khuyên dạy của thầy hôm nay tôi sẽ ghi mãi trong lòng và thầy hãy yên tâm. Chúng tôi đã lâu nay thấy không còn giải quyết vấn đề của chúng ta bằng võ lực không, mà không có kèm theo một giải pháp chính trị nào thì không thành công. Vì đó, anh em chúng tôi đã mấy năm nay, thảo luận tìm được giải pháp chúng tôi đã chọn lựa, giải pháp hòa giải dân tộc. Nói như thế để thầy yên tâm. Nếu có hận thù thì không thể lấy hận thù ra mà trả đối với tất cả mọi ai. Chúng tôi đã chủ trương hòa giải với đối phương, không lý do nào chúng tôi không hòa giải được với anh em một nhà. Thầy cứ yên tâm. Tôi xin hứa với thầy. Kính thưa quý vị, Quốc hội lưỡng viện trong khi họp khoáng đại ngày 27-4-75 đã được các vị hữu trách trong chính phủ và trong quân đội tường trình đầy đủ về tình trạng nguy ngập của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai mặt quân sự và kinh tế. Những điều bi đát mà chúng ta được nghe người dân miền Nam Việt Nam đang phải gánh chịu từng giờ từng phút, từng phần xác và tâm hồn, đang phải trả bằng máu và bằng nước mắt. Những trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong những giờ phút này thật chẳng có gì là vui sướng. Tôi đã nhận vì đó không những là đòi hỏi của nhân dân, mà còn là điều kiện thiết yếu để tạo một cơ may tránh được nguy cơ sụp đổ, thực hiện ngưng bắn, mở lại hòa đàm hầu đạt đến một giải pháp chính trị trong khuôn khổ hiệp định thần hòa giải. Với tinh thần đó, với tất cả thiện chí và ý thức trách nhiệm, với ý muốn trân trọng phục vụ đất nước và nhân dân, tôi xin nhận trách vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Xin cám ơn Tổng thống. (vỗ tay) Nhân dịp này tôi cũng xin thông báo cùng toàn thể quý vị và đồng bào, là tôi đã mời luật sư Nguyễn Văn Huyền, vốn Chủ tịch Thượng Viện, đảm nhiệm chức vụ Phó tổng thống (vỗ tay) và giúp tôi về vấn đề hòa đàm. Luật sư Nguyễn Văn Huyền đã chấp nhận (vỗ tay). Tôi xin long trọng giới thiệu Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền (vỗ tay). Tôi cũng xin thông báo cùng toàn thể quý vị và đồng bào rằng tôi đã mời Giáo sư Nghị sĩ Vũ Văn mẫu đảm nhận chức vụ Thủ tướng chánh phủ và giáo sư Vũ Văn Mẫu đã chấp nhận (vỗ tay). Xin long trọng giới thiệu Thủ tướng Vũ Văn Mẫu (vỗ tay). |
Tân tổng thống (Dương Văn Minh) nói với quốc dân
Sau đây tôi xin phép trả lời cùng đồng bào quốc dân. Đồng bào thân mến, trong những ngày qua, trước tình thế cực kỳ nghiêm trọng, nhiều đoàn thể, tôn giáo muốn tôi đứng ra thành lập một chánh phủ mới. Tổng thống Trần Văn Hương chiếu các quyết nghị ngày 26 và 27 tháng 7-1975 của lưỡng viện Quốc Hội đã quyết định trao quyền tổng thống lại cho tôi. Tôi đã nhận trách nhiệm đó. Sứ mạng giao phó cho tôi rất là rõ rệt: 1. Đạt tới thỏa hiệp ngưng bắn càng sớm càng tốt. 2. Thương thuyết một giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trong tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc. Tôi sẽ thành lập một chính phủ với những nhân vật tiêu biểu cho các đoàn thể tôn giáo không xu hướng chính trị tại miền nam Việt Nam vừa có đủ khả năng và đức độ để gây lại niềm tin, vừa có một lập trường hòa giải dứt khoát để không ai có thể nghi ngờ thiện chí của mình và thiện chí hòa bình. Tôi tin tưởng sẽ thành lập được một chánh phủ như vậy trong thời gian ngắn nhất có thể mở lại một hòa đàm với chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhận lãnh trách nhiệm trong những giờ phút khẩn trương này, tôi chỉ có một ý muốn duy nhất là đóng góp phần của tôi vào sự nghiệp hòa giải của dân tộc. Tôi gọi đó là sự nghiệp của dân tộc. Vì hòa giải chỉ có thể thành tựu khi mọi đoàn thể, mỗi cá nhân dứt khoát chấp nhận con đường hòa giải và dấn bước lên con đường đó với tất cả thiện chí của mình. Đó là điều mà tình thế đang đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta. Những ngày sắp tới sẽ vô cùng cam go. Tôi không hứa hẹn nhiều với đồng bào, nhưng trong ngắn hạn chính phủ sẽ hết sức cố gắng và ổn định các sinh hoạt kinh tế, xã hội, cải thiện đời sống của đồng bào, cứu trợ nạn nhân chiến thuật, chính phủ bảo đảm tôn trọng các quyền tự do dân chủ được xác định căn bản bởi tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và với điều 11 của Hiệp Định Paris. Một trong những biện pháp đầu tiên là trả tự do cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị và chấm dứt chế độ kèm kẹp báo chí. Quan trọng hơn hết, chính phủ hòa giải hòa hợp, và riêng tôi sẽ làm hết sức mình để đạt tới một giải pháp hợp tình hợp lý, bảo đảm quyền sống của mọi thành phần dân tộc và các quyền tự do căn bản của mọi công dân. Sự thành công của chính phủ sẽ tùy thuộc một phần lớn nơi sự bình tĩnh, sáng suốt của đồng bào, nơi sự hỗ trợ tích cực mà đồng bào sẽ dành cho chính phủ. Tôi kêu gọi tất cả các đoàn thể tôn giáo và chính trị, hãy bỏ qua những tỵ hiềm, vượt qua những nghi kỵ, đoàn kết với nhau trong tinh thần dân tộc, để tạo thành một sức mạnh hòa bình. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi ý kiến, mọi sáng kiến có lợi cho hòa bình, và sẵn sàng hợp tác với mọi người có thiện chí. |
Tân tổng thống (Dương Văn Minh) gửi quân lực VNCH
Anh em chiến sĩ thân mến, Tôi đã trải qua phần lớn cuộc đời trong hàng ngũ của anh em. Hơn ai hết, tôi thông cảm tất cả những gì mà anh em đã phải gánh chịu trong những tuần lễ bi thảm vừa qua, và giờ đây trang sử cũ sắp lật qua, anh em đứng trước một nhiệm vụ mới, bảo vệ phần đất còn lại, bảo vệ hòa bình. Anh em phải giữ vững tinh thần, anh em phải giữ vững hàng ngũ, anh em phải giữ vững vị trí để hoàn thành nhiệm vụ đó (vỗ tay). Khi nào có lệnh ngưng bắn, anh em phải thi hành nghiêm chỉnh, điều hành sẽ đúng với các điều khoản các hiệp định Paris gìn giữ trật tự an ninh trên phần đất của mình, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, không bỏ súng, không bỏ ngũ. Trong mọi trường hợp, một cách tuyệt đối thi hành chỉ thị của cấp trên. Mọi hành vi vô kỷ luật sẽ bị nghiêm trị ngay tức khắc, giữ vững tinh thần, giữ vững hàng ngũ, tôn trọng kỷ luật và góp phần lớn vào công cuộc vãn hồi nhanh chóng hòa bình. Tôi cũng yêu cầu các công chức, cán bộ, và lực lượng cảnh sát tiếp tục thi hành nhiệm vụ của mình và canh phòng cẩn mật, không cho ai phá hoại. |
Tân tổng thống Dương Văn Minh:
Gửi Chính phủ Cách mạng và những người anh em ở bên kia Sau đây, tôi có đôi lời gửi đến Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và những người anh em ở bên kia. Chúng tôi thành thật muốn hòa giải. Anh em biết rõ điều đó, hòa giải đòi hỏi các thành phần dân tộc phải tôn trọng quyền sống của nhau, đó là tinh thần của hiệp định Paris. Anh em đã luôn luôn chủ trương thi hành hiệp định Paris và chúng tôi cũng đã luôn luôn chủ trương như vậy. Căn cứ trên hiệp định này, chúng ta hãy ngồi lại với nhau, để cùng nhau tìm một giải pháp có lợi nhất cho tổ quốc Việt Nam và cho nhân dân miền Nam. Để biểu dương thiện chí của đôi bên và để chấm dứt nhanh chóng sự đau khổ của binh sĩ và nhân dân, tôi đề nghị chúng ta ngưng tức khắc các cuộc tấn công lẫn nhau (vỗ tay). Tôi mong anh em chấp nhận đề nghị này và cuộc thương thảo sẽ khởi sự liền sau khi chính phủ được thành lập để hòa bình sớm được vãn hồi trên đất nước thân yêu của chúng ta |
Tân TT Dương Văn Minh:
Gửi các nước bạn Đối với các nước bạn, chính phủ VNCHmong muốn duy trì mối giao hảo và hoan nghênh mọi sự giúp đỡ không điều kiện chính trị trên bình diện kinh tế và nhân đạo. Chính phủ cũng sẵn sàng thiết lập liên hệ ngoại giao với mọi quốc gia, không phân biệt ý thức hệ trên căn bản bình đẳng đồng quyền lợi và không xen vào nội bộ của nhau. Chúng tôi thiết tha kêu gọi tất cả dân tộc trên thế giới hãy tích cực hỗ trợ chúng tôi trên công cuộc văn hối hòa bình, thực hiện hòa giải hòa hợp tại miền Nam Việt Nam. --- Tân TT Dương Văn Minh: Gửi đồng bào Đồng bào thân mến, Trong những ngày qua, đồng bào đã hoang mang lo sợ trước những diễn tiến của tình hình, nhiều người đã âm thầm ra đi. Tôi muốn nói với tất cả đồng bào, đất nước này là quê hương của chúng ta, hãy cương quyết và can đảm ở lại, giữ thân bằng quyến thuộc, mồ mả ông bà tổ tiên ở lại, để cùng với chúng tôi, cùng với tất cả những người có thiện chí, xây dựng một miền Nam mới cho các thế hệ tương lai. Một miền Nam độc lập, dân chủ, tự do, thịnh vượng, trên đó người Việt sẽ được sống an lành với người Việt trên tình huynh đệ (vỗ tay). Xin cám ơn đồng bào (vỗ tay). --- Tiếp theo là lời phóng viên đài Sài Gòn: Tổng thống Dương Văn Minh vừa chấm dứt bài diễn văn nhậm chức của ông. Buổi lễ bế mạc. Chúng tôi cũng nhận thấy hai vị tướng lãnh của quân lực VNCHlà Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Tổng Tham Mưu, và Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Quân. Chúng tôi vừa thấy Phó TT Nguyễn Văn Huyền bắt tay Phó thủ tướng Dương Kích Nhưỡng, trong khi Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu bắt tay cựu Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo. Thủ tướng Mẫu cũng bắt tay linh mục Cao Văn Luận, trong khi Phó tổng thống Huyền tiếp tục chào hỏi các quý vị ở trong Nội Các cũ của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn. Phó tổng thống Huyền cũng đang trò chuyện với nguyên Tổng thống Trần Văn Hương, tân Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cũng tiếp tục chào hỏi các quý vị nghị sĩ, dân biểu, cũng như các quý vị ở trong Nội Các cũ. Phóng sự chấm dứt, mưa gió bên ngoài vẫn chưa dứt. |
Đài Sài Gòn, tối 29 tháng 4 năm 1975
Bản tổng kết tình hình Đây là hệ thống truyền thanh Việt Nam, bây giờ mời quý thính giả nghe tổng kết tin tức trong 2 tháng từ trung tuần tháng Ba đến thượng tuần tháng Tư. Thưa quý thính giả, Từ 17 tháng 3, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút quân bỏ toàn vùng cao nguyên, Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuộc. Dân chúng bắt buộc phải di tản đường bộ theo quốc lộ số 7, một con đường bỏ hoang từ thời kỳ Pháp thuộc. Ngày 19 tháng 3, Phú Bổn và phần còn lại của Quảng Trị thất thủ, Huế, và Đà Nẵng bị đe dọa nặng. Dân tỵ nạn đổ dồn về Đà Nẵng. Cầu không vận được thiết lập nối liền từ Sài Gòn " Đà Lạt. Ngày 20 tháng 3, dân tỵ nạn đổ về hướng Nam tỵ nạn trong cảnh chết chóc tan thương. An Lộc thất thủ, Huế đang ở trong gọng kìm của Cộng quân. Tính đến ngày nay, cộng quân đã chiếm 8 tỉnh trong số 44 tỉnh của miền Nam. Ngày 21 tháng 3, Huế thất thủ. Bắc Việt tấn công Quảng Đức, Gia Nghĩa, Khánh Dương. Có thể nói, tại Sài Gòn lần tấn công này của cộng quân mạnh hơn hồi Tết Mậu Thân. Ngày 23 tháng 3, một tàu chở dân tỵ nạn Huế bị bão đánh chìm ngoài biển Đà Nẵng. Trời không tha dân lành. Đến ngày 24 tháng 3, Tam Kỳ tức Quảng Tín bị thất thủ. Quảng Đức và Quảng Ngãi cũng rơi vào tay Cộng quân. Ngày 25 tháng 3, dân số ở Đà Nẵng lên tới một triệu rưởi. Tổng thống Thiệu yêu cầu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cải tổ Nội Các. Và ngày 26 tháng 3, nhiều đơn vị quân đội bắt đầu hỗn loạn, mất tinh thần trong những cuộc tháo chạy. Nhiều cảnh quân bắn nhau diễn ra tại Đà Nẵng. Ngày 27 tháng 3, Đà Nẵng lâm nguy với các mũi dùi của Bắc Việt. Bảo Lộc, Lâm Đồng cùng chung số phận. Trong khi đó ở Sài Gòn, nhiều nhóm chính trị tái xuất hiện đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Hai Nghị sĩ, một Giáo sư, ba Tướng lãnh, và ba Ký giả bị bắt vì âm mưu đảo chánh. Dân tỵ nạn lên tới hai triệu. Ngày 28 tháng 3, Hội An, Lâm Đồng lọt vào tay cộng quân. Đà Nẵng vô cùng nguy ngập. Và ngày 29 tháng 3, các Tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa neo tàu ngoài khơi Đà Nẵng để chỉ huy binh lính. Dân chúng không còn đường để tháo chạy. Và ngày 30 tháng 3, đúng 3 giờ sáng, Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bỏ Đà Nẵng, mặc dù các đơn vị chiến đấu đang còn giao tranh ác liệt với Bắc Việt. Cuối cùng ngày 31 tháng 3, Quy Nhơn bị tấn công, Nha Trang bị pháo kích. Dân vùng duyên hải này ùa nhau kéo vào Sài Gòn. Khối Phật giáo Ấn Quang xuống đường đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Cựu hoàng Bảo Đại tuyên bố tại Paris sẵn sàng làm trung gian cho hai bên tại miền Nam. Thưa quý thính giả, vào ngày mùng 1 tháng 4, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang hoàn toàn đều lọt cho Bắc Việt. 14 trên 44 tỉnh miền Nam bị mất. Bắc Việt kêu gọi dân chúng tự động đứng lên lật đổ Tổng thống Thiệu. Ngày mùng 2 tháng 4 đa số tuyệt đối Thượng nghị sĩ và Dân biểu Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh kết án Tổng thống Thiệu và đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Tại Paris, bà Nguyễn Thị Bình tuyên bố một cuộc tấn công của cộng quân vào thẳng Sài Gòn rất có thể xảy ra. Ngày mùng 3 tháng 4, theo nhân viên phái đoàn của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Tân Sơn Nhất cho biết, sẵn sàng ngưng chiến và hòa đàm với một chính phủ không có Tổng thống Thiệu. Hội đồng Tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Tổng thống Thiệu từ chức. Đến ngày mùng 4 tháng 4, Thủ tướng Khiêm từ chức. Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng. Mặt trận tuyên bố, họ chỉ thương thuyết khi Tổng thống Thiệu ra đi. Một âm mưu đảo chánh khác bị lộ, nhiều người bị bắt. Cần Thơ bị pháo kích lần đầu, kể từ 7 năm nay. Và một máy bay Mỹ chở dân đi tỵ nạn rơi tại Sài Gòn. Ngày 6 tháng 4, một đơn vị nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa tự động chiếm lại Nha Trang nhưng rồi cũng không giữ được lâu. Đến ngày mùng 8 tháng 4, Dinh Độc Lập bị dội bom. Viên phi công lái máy bay ra vùng mặt trận mới chiếm. Xe tăng cộng quân mở cuộc tấn công Long Thành cách Sài Gòn 30 cây số. Đến ngày mùng 9 tháng 4, chiến trường Xuân Lộc bùng nổ. Hà Nội gửi phi cơ vào những vùng mới chiếm đóng. Các phong trào nhân dân ở Sài Gòn tiếp tục đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Đến ngày 14 tháng 4, Nội các Nguyễn Bá Cẩn trình diện. Ngày 15 tháng 4, kho bom lớn nhất miền Nam tại Biên Hòa, bị cộng quân đặt thuốc nổ phá tan. Phi trường Biên Hòa bị pháo tới tấp. Ngày 16 tháng 4, Phan Rang thất thủ. Đến ngày 17 tháng 4, Đại tướng Dương Văn Minh đòi Tổng thống Thiệu từ chức để cứu vãn tình hình. Ngày 18 tháng 4, một sư đoàn Bắc Việt gồm các đơn vị thiện chiến chỉ còn cách Sài Gòn 19 cây số. Ngày 19 tháng 4, phái đoàn mặt trận giải phóng đòi các quân nhân Mỹ kể cả đại sứ Martin rời khỏi Sài Gòn trước khi có thể có hòa đàm. Ngày 20 tháng 4, Phan Thiết thất thủ. 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức trao quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Mặt Trận Giải Phóng không chịu và đòi chỉ nói chuyện với chính phủ không có người của Tổng thống Thiệu. Ngày 23 tháng 4, Hàm Tân thất thủ. Căn cứ Không Quân Biên Hòa dời về Sài Gòn. 125 ngàn quân Bắc Việt và Mặt Trận đang vây 55 ngàn quân Sài Gòn quanh Biệt khu thủ đô. Tại đại học Philadelphia ở New Island, Tổng thống Ford tuyên bố: Đối với nước Mỹ chiến tranh Đông Dương đã chấm dứt. Ngày 24 tháng 4, Nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức. Đến ngày 25 tháng 4, Tổng thống Hương định cử một phái đoàn Tổng trưởng đi Hà Nội, nhưng Bắc Việt bác đề nghị đó. Ngày 26 tháng 4, Quốc Hội bằng lòng trao quyền Tổng thống cho bất cứ ai do Tổng thống Hương chỉ định. Đến ngày 27 tháng 4, đường Sài Gòn ?" Vũng Tàu bị cắt đứt. Đến ngày 28 tháng 4, Đại tướng Minh chính thức nhậm chức Tổng thống. Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Cộng quân vẫn không tiếp nhận đề nghị hòa đàm và vẫn đánh. Cuối cùng vào 29 tháng 4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo dữ dội. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra lệnh người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam tức khắc, trong vòng 24 tiếng. Mặt Trận Giải Phóng đòi chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng. Thưa quý thính giả đài tổng kết tin tức của chúng tôi đến đây chấm đứt. Xin kính chào quý khán giả. |
Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 29 tháng 4 năm 1975
- Thủ tướng Vũ văn Mẫu: Mỹ ra đi trong 24 giờ - Nguyên văn tuyên bố của thủ tướng Vũ Văn Mẫu - Chính sách hòa giải của chính phủ - Mỹ rút khỏi Viet Nam trong 24 giờ Tuyên bố trả tự do cho tù nhân chính trị và ký giả Cho các báo bị đóng cửa được xuất bản: (Nguyên văn lời ông Vũ Văn Mẫu) Cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã rời Sài Gòn tối hôm qua 28 tháng 4-1975 trước khi bàn giao nhiệm vụ. Do đó tôi đã đảm nhiệm ngay chức vụ Thủ tướng, do Tổng thống Dương Văn Minh giao phó. Tôi đã có những quyết định đầu tiên sau đây trong tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc: 1. Quyết định trả tự do ngay cho tất cả các chính trị phạm, đặc biệt là sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, và các sinh viên, học sinh đã bị bắt vô cớ trong những tháng vừa qua. 2. Cho xuất bản tức khắc tất cả các tờ báo đã bị đóng cửa. 3. Trả tự do cho các ký giả đã bị bắt giữ trong vụ đóng cửa các tờ báo này. --- Đài Sài Gòn tiếp tục loan báo các tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tiếp theo, mời quý thính giả nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu công bố những điểm căn bản trong chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. --- Chính sách hòa giải của tân chính phủ Sau đây là tuyên bố của ông Vũ Văn Mẫu: Như đã nói trong thông điệp nhậm chức của Tổng thống Dương Văn Minh, tân chính phủ VNCH, chủ trương những điều căn bản sau đây trong chính sách đối ngoại và đối nội. Về mặt đối ngoại: Chính phủ chủ trương tái lập hòa bình bằng đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc trên căn bản hiệp định Ba Lê. Chính phủ VNCH mong muốn duy trì giao hảo với các nước bạn, hoan nghênh mọi sự giúp đỡ, kinh tế nhân đạo mà không điều kiện chính trị, sẵn sàng thiết lập liên hệ ngoại giao với mọi quốc gia không phân biệt ý thức hệ. Chính phủ VNCH chủ trương thi hành đứng đắn và với tất cả thiện chí hiệp định Paris, trong đó có điều 1, điều 4, và điều 9 quy định Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Về mặt đối nội: Chính phủ VNCH bảo đảm tôn trọng các quyền tự do dân chủ được xác định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và nơi điều 11 của hiệp định Ba Lê. Điều này có nghĩa là những luật lệ tổ chức và biện pháp mâu thuẫn với các quyền tự do nói trên sẽ được hủy bỏ ngay khi chính phủ được thành lập. Toàn bộ guồng máy công quyền, từ trung ương đến địa phương, cũng sẽ được cải tổ nhanh chóng để phù hợp với một chế độ thực sự tự do. -- Yêu cầu Mỹ ra đi trong 24 giờ Sau đây là công bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu về việc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu cơ quan tùy viên quân sự Mỹ và các nhân viên Mỹ rút hết khỏi VNCH trong vòng 24 giờ kể từ ngày 29 tháng 4-1975. Thông cáo 29 tháng 4-1975 của chính phủ VNCH ngày 28 tháng 4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh đã yêu cầu sứ quán Mỹ đóng cửa cơ quan tùy viên quân sự Hoa Kỳ ?oDAO? và rút tất cả nhân viên khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29 tháng 4-1975. --- Lời phát ngôn viên của đài Sài Gòn: Quý thính giả vừa nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu công bố những quyết định quan trọng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hiện tại nhằm đạt tới một cuộc ngưng bắn và tiến tới thương thảo một giải pháp chính trrị cho miền Nam Việt Nam. |
Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 29 tháng 4 năm 1975
- Tướng Dương Văn Minh: Ngưng nổ súng - Nguyên văn lời TT Dương Văn Minh - Kêu gọi quân đội VNCH buông súng Lời Tướng Minh: Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam, vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận và để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào. --- Lời đài Sài Gòn: Quý thính giả vừa nghe Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống VNCH tuyên bố về ngưng bắn. --- Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh Phụ tá Tổng tham trưởng QLVNCH ra lệnh buông súng: Lời Tướng Hạnh: Thưa quý vị Tư lệnh quân đoàn, quân binh chủng, Địa phương quân, Nghĩa quân, Nhân dân tự vệ, tôi, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng, thay mặt Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng vắng mặt, yêu cầu tất cả quý vị tướng lãnh và quân nhân các cấp hãy triệt để thi hành lệnh của Tổng thống VNCH về ngưng bắn, các cấp chỉ huy QLVNCH hãy sẵn sàng liên lạc với các cấp chỉ huy quân đội của Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam, để thực hiện cuộc ngưng bắn một cách không đổ máu. |
Đài phát thanh Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975
Đại tướng Dương Văn Minh TUYÊN BỐ ĐẦU HÀNG. Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực VNCH hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn từ trung ương đến địa phương, trao lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Trung tá QDND VN Bùi Văn Tùng TUYÊN BỐ CHẤP NHẬN LỆNH ĐẦU HÀNG Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam, long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống đương nhiệm vừa rồi. --- Thủ tướng Vũ Văn Mẫu KÊU GỌI CÔNG CHỨC TRỞ LẠI LÀM VIỆC Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường, các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng. --- Đài phát thanh Sài Gòn của VNCH chính thức ngưng tiếng sau lần phát thanh kể trên |
Xin cung cấp thông tin về những gì Nhà báo Đức trong dinh Độc lập hôm 30-4 công bố (link thứ 3 đáng chú ý):
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/198768/Nhan-chung-dac-biet---Ky-1-Trung-ta-Tung-hay-dai-uy-The.html http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/P...h-Doc-Lap.html http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/P...%E2%80%9D.html |
Trang bị, vũ khí công binh Liên Xô trong chiến trang bảo vệ Tổ quốc
Góp thêm với các bác mấy ảnh về trang bị vũ khí công binh của Liên Xô được sử dụng trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
http://i60.photobucket.com/albums/h3...aoducnetvn.jpg Máy ủi này được Bộ đội Công binh sử dụng để mở đường trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972 http://i60.photobucket.com/albums/h3...aoducnetvn.jpg http://i60.photobucket.com/albums/h3...aoducnetvn.jpg Xe lội nước K61 dùng để bảo đảm vượt sông cho các đơn vị bộ binh và phương tiện cơ giới trong kháng chiến chống Mỹ http://i60.photobucket.com/albums/h3...aoducnetvn.jpg Ca nô mang số hiệu Y434 dùng để bắc cầu phao và phá bom từ trường ở bến phà Long Đại thuộc Bố Trạch – Quảng Bình năm 1967 – 1968 http://i60.photobucket.com/albums/h3...aoducnetvn.jpg Máy dò mìn do chiến sĩ Trung đoàn 219 dùng dò mìn đảm bảo giao thông ở Phan Thiết năm 1975. |
Trích:
|
Mìn chống tàu thuyền đổ bộ Liên Xô giúp ta
противодесантные мины http://i60.photobucket.com/albums/h3..._thuyen/v8.jpg http://i60.photobucket.com/albums/h3..._thuyen/v7.jpg Противодесантная донная мина ПДМ-2, СССР http://i60.photobucket.com/albums/h3..._thuyen/v6.jpg Якорная речная мина ЯРМ, СССР http://i60.photobucket.com/albums/h3..._thuyen/v5.jpg Противодесантная донная мина ПДМ-3Я http://i60.photobucket.com/albums/h3..._thuyen/v2.jpg Противодесантная донная мина ПДМ-1М, СССР |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 09:24. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.