![]() |
Xin giúp về các cách Tiếng Nga
Chào các anh các chị!
Em đang học tiếng Nga đến phần 6 cách tiếng Nga .em vẫn cứ mơ hồ ko thể hiểu 6 cách này phân biệt như thế nào ạ .theo em tìm hểu thì 1. Cách 1 trả lời cho câu hỏi: Кто? Что? - Ai? Cái gì? 2. Cách 2 trả lời cho câu hỏi: Кого? Чего? - Thuộc về ai? Thuộc về cái gì? 3. Cách 3 trả lời cho câu hỏi: Кому? Чему? - Cho ai? Cho cái gì? 4. Cách 4 trả lời cho câu hỏi: Кого? Что? - Thuộc về ai? Cái gì? 5. Cách 5 trả lời cho câu hỏi: Кем? Чем? - Với ai? Với cái gì? 6. Cách 6 trả lời cho câu hỏi: О ком? О чём? - Về ai? Về cái gì? Nhưng khi thực hành em hay bị loạn ko thể phân biệt dc nhưnhx cách trên .anh chị nào có thể giúp em với.lấy ví dụ bằng tiếng việt và tiếng nga về những cách này ạ VD : МОЯ ЛЮБИМАЯ КНИГА :câu này là cách 1 .nhưng dịch ra tiếng việt em lại thấy là nó ở cách 2...... em đã xem qua bài của bác USY trong phần hỏi đáp rồi nhưng vẫn ko hiểu lắm http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=2028&page=7 |
Trích:
1. là câu từ coi như nguyên thể, vì nó chỉ mang thông tin cơ bản như: đây là bút chì, đó là cái cây, vật sáng kia là ngọn đèn...Dĩ nhiên trong thông tin này thì có vật thể danh từ kèm tính từ đi trước nó như МОЯ ЛЮБИМАЯ КНИГА, dịch ra TV có vẻ cách 2 nhưng ta đang nói tiếng Nga, và trong tiếng Nga thì nó là cách 1, tức tính từ ЛЮБИМАЯ ở dạng nguyên thể. Mình thì nôm na gọi nó là NGUYÊN CÁCH. 2. cái này thì dễ biết vì nó coi như thay cho từ "của" trong tiếng Việt, toàn bộ cụm từ liên quan không còn dạng nguyên thể mà chịu biến cách theo cách 2, ví dụ câu của bạn МОЯ ЛЮБИМАЯ КНИГА bây giờ trở thành КНИГА МОЕЙ ЛЮБВИ với cụm từ МОЕЙ ЛЮБВИ chịu sở hữu cách 2. Mình gọi cái này là SỞ HỮU CÁCH 3. Giả sử bạn rất thích cuốn sách trên và viết bài khen nó, thì có ai hỏi bạn sẽ bảo: tôi dành những lời khen này cho QUYỂN SÁCH YÊU QUÍ CỦA TÔI và khi ấy nó là cụm từ МОЕЙ ЛЮБИМОЙ КНИГЕ. Mình gọi cái này là CHO (hay TẶNG) CÁCH. 4. Cách thứ 4 này thực ra nó đơn giản về gần cách 1, là khi cụm từ nguyên thể đi sau bổ ngữ cho động từ nào đó, ví dụ theo cách 1 bạn nói: "đây là quyển sách yêu quí của tôi" thì cách 4 bạn nói: "tôi đang đọc quyển sách yêu quí của tôi" nên khi ấy cụm từ của bạn trở thành МОЮ ЛЮБИМУЮ КНИГУ. Mình gọi cái này là CHỊU CÁCH. 5. Cách 5 là thứ khá hay dùng cho tính văn vẻ, nó tương ứng với từ Việt "bởi, bằng, với"... mà "bằng" theo nghĩa "đập bằng búa, nghĩ bằng đầu" chứ không phải "bằng vai phải lứa" he he. Theo cách này thì khi bạn thấy con gián nó bò lên bàn, liền vớ ngay cuốn sách kia đập nó nhừ tử thì bạn nói "tớ đập chết nó bằng quyển sách yêu quí của mình", hoặc bạn nói "tôi luôn đến trường với quyển sách yêu quí của tôi", rồi cụm từ kia hóa ra là МОЕЙ ЛЮБИМОЙ КНИГОЙ. .Cuốn sách của bạn trở thành một dụng cụ hay công cụ thực hiện hành vi hoặc đi kèm hành vi. Mình gọi cái này là DỤNG CỤ CÁCH, chỉ là cho nó dễ nhớ. 6. Cái này thực ra gần với cách 4, nhưng thường đi sau giới từ chỉ mục đích hay nơi chốn. Ví như bạn nói "con gián đang bò trên quyển sách yêu quí của tôi" hay "tôi viết về quyển sách yêu quí của tôi" thì cụm từ trên trở thành МОЕЙ ЛЮБИМОЙ КНИГЕ, trông có vẻ giống cách 3 nhưng ý nghĩa thì khác. Mình chả biết gọi tên riêng cho nó là gì, vì thấy nó quá dễ nhớ và trùng với cách 3 về biến đổi giống cái, chỉ khác khi biến đổi giống đực. Trên đây chỉ là hiểu biết cơ sở, các cách tiếng Nga - trừ cách 1- đều thường gắn với giới từ hoặc động từ và nó biến hóa đa dạng, tạo nên cái hay và ý nghĩa của ngôn ngữ. Bạn nên đọc sách văn học để nắm được các cách này chuẩn mực về lý thuyết. P.S: có lẽ bạn nên đặt cho cách 6 là NGHĨ CÁCH, để nhớ nó khi nghĩ hay nói về điều gì, cái gì. rồi suy ra cái khác! |
Cảm ơn bạn nhé !lâu nay mình cứ bị vướng ở mấy cách tiếng nga này .mà kko sao hiểu dc .
ak .bạn có thể lấy thêm cho mình mottj số vd nữa dc ko .thank! |
Trích:
vậy lấy thêm ví dụ dựa vào ngay từ của bạn МОЯ ЛЮБИМАЯ КНИГА (cuốn sách quý của tôi) cho giống cái và МОЙ ЛЮБИМЫЙ МОЛОТ (CÂY BÚA YÊU QUÝ CỦA TÔI) cho giống đực: 1. Đây là sách quý của tôi, kia là cây búa yêu của tôi: khỏi viết ra vì nó nguyên thể. 2. đây là trang bìa cuốn sách quý của tôi: это обложка(1) моей любимой книги(2) đây là dấu vết cây búa quý của tôi: это след(1) моего любимого молота(2) trong đó обложка và след ở cách 1, hai cụm từ kia ở cách 2 3+4. tôi đang viết đề tựa cho cuốn sách quý của tôi : Я пишу эпиграф(4) моей любимой книге(3) Tôi dành riêng chỗ này (chỗ để đồ ) cho cây búa quý của mình Я блонирую это место(4) cвоему любимому молоту(3) Сùng có thế nói : Tôi dành sẵn chỗ này (chỗ để đồ ) cho cây búa quý của tôi Я предназначаю это место(4) для моего любимого молота(2) Khi đó sắc thái sự việc hơi khác nhau, bạn sẽ phân biệt được sau khi nắm vững cách sử dụng. Từ “của tôi” - мой biến thành “của mình” – свой tuỳ theo ý nghĩa hành vi. 4. tôi đã làm mất cuốn sách quý của mình Я потерял cвою любимую книгу(4) tôi đã làm mất cây búa quý của mình Я потерял cвой любимый молот (4) Từ “của tôi” - мой biến thành “của mình” – свой trong trường hợp chịu cách 4 trực tiếp ở đây. 5. Tôi đập con gián bằng cuốn sách quý của mình Я колотил этот таракан(4) cвоей любимой книгой (5) Tôi đóng đinh nó bằng cây búa quý của mình Я пригвождал его(4) cвоим любимым молотом (5) 6. tôi thường nhớ về cuốn sách quý của mình Я часто вспоминаю о своей любимой книге (6) Tôi viết chuyện về cây búa quý của mình Я писал рассказ (4) о cвоём любимом молоте (6) Các giới từ из thường đi với biến đổi cách 2, giới từ на – в – обо đi với cách 6 và 4, giới từ к thường là cách 3, giới từ с đi với cách 2 và 5..v.v… Cái khó nhất của tiếng Nga chỉ là phải nghĩ trước các tính từ rồi đổi đuôi nó đúng cách theo ý định mình cần nói, nên bạn cần luyện nhiều việc này mới nói đủ nhanh, mà khi nói đủ nhanh thì ngữ điệu và ý tứ mới đúng. Hãy kết bạn với một người Nga mà thực tập là nhanh nhất, lúc rảnh tranh thủ đọc các truyện ngắn hay vừa mà bạn thích! |
Trích:
Cơ mà viết thế chửa phong phú. Nhân dịp Hổ gừ vừa bơm lên một loạt hình, nhà cháu xin đưa thêm một ví dụ dư vầy cho ló phong phú: Co-ca Co-la nhé потерялa cвой любимый молот! :emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm |
Thanks bác BT có những vd rất sinh động, em tiếng Nga lâu ngày ko đọc và dùng nên rất mong có các bài viết giải thích cụ thể chi tiết trong từng vd như bác.
Trích:
- Trước em học tiếng Đức cũng khó lắm, nhưng thấy tiếng Nga còn khó hơn trong cấu trúc ngữ pháp. Bên LX đi em đi "à ơi" các cô gái Nga thì mạnh dạn lắm, ko sợ sai do nghĩ mình là người NN, nhưng về VN thì lại sợ giao tiếp vì ngại sai ngữ pháp hihi. Ah mà bác bận mải kiểu gì ko đi off mừng SN, em tháng 4 đến Phan Thiết có việc rồi vào SG alo mời các bác rảnh rỗi chút thời gian đi nhậu bia SG đỏ voeis emnhes, ok? |
Trích:
Về vụ off thì mình đang làm cái báo cáo gấp nên không dứt ra được. Cũng có công trình ở khu vực Huế nhưng bị hoãn lại vô hạn định nên cũng không lợi dụng kết hợp được. Còn thanhnam76 có vào SG thì vô tư như mọi khi thôi, thông báo cho thư kí của bác Cả là ok! Nếu nói về tiếng Nga thì mình học kiểu Việt hóa không quy chuẩn đâu, chỉ là thấy bạn trẻ uranni hỏi qua 1 ngày mà không thấy bác nào giúp chắc vì vấn đề quá đơn giản hoặc mọi người đang đi Đà Nẵng off hết, mình không đi thì bớt chút time giúp bạn trẻ học thôi. Bác ngbinhdi còn là nhà sư phạm đã lên tiếng rồi đấy, có thể bài sau bác ấy có hứng viết dài và chuyên sâu hơn để bạn trẻ học thì "bá cháy"...! Nói ví dụ mình hay Việt hóa theo kiểu riêng mà nói ra thì sẽ bị các nhà Nga ngữ của 3N ném đá bươu đầu, nhưng với riêng mình thì kiểu tự học này ngày xưa lại hiệu quả ra phết: mình ít phải đọc và viết ra từ mới nhiều lần hay nghe đi nghe lại băng cat xet để nhớ, mà chỉ cầm sách coi rồi ngẫm nghĩ, cố áp dụng hoặc để ý đến các từ và giới từ vào câu nói cụ thể ít lần là xong! Riêng giới từ thì trong tiếng Việt ít chú ý phân biệt, trong tiếng Anh thì nó là các đơn âm nổi bật để định hướng ý nghĩa câu nói, nhưng trong tiếng Nga nó rất đặc biệt mà nếu không hiểu bản chất ngôn ngữ thì sẽ không hiểu kịp cái hay của ý nghĩa câu nói hay viết. Trong câu nói Nga thì giới từ còn khó hơn vì nhiều khi chúng "câm", đứng hơi xa là không nghe thấy gì hết. May thay tiếng Nga còn có trò đổi đuôi từ theo các cách để ta phân biệt các giới từ cũng như ý nghĩa câu nói. Mà giới từ tiếng Nga thì viết ra chắc chưa hết vài ba dòng: без,благодаря,близ,в,в-виду,включая,вместо,вне,воп реки,вследствие,из,из-за,из-под,исключая,К-ко,кроме меж,о-обо,на,над,наподобие,насчёт ,начиная,несмотря,передо,по мимо,посредством,пред-предо,про,ради,c-со,сообразно,среди,средь... Có vài nguyên tắc đầu tiên: -các giới từ thể hiện không gian và thời gian về cả vật chất lẫn tinh thần để giúp định hướng (không - thời gian) cho các danh và đại từ sau nó. -sau giới từ không thể là động từ. -sau giới từ không thể có cách 1 nguyên thể. Như vậy một nguyên tắc cú pháp cơ bản là các danh-đại từ cùng tính từ đi kèm phải chuẩn bị chịu biến cách thích hợp theo giới từ ta muốn dùng. Tạm thời như thế, nói nhiều sẽ sai nhiều :D |
Trích:
Con gián là động vật (одушевленное существительное). C4 cho người và động vật biến đổi giống cách 2 chứ bác nhỉ?:):emoticon-0150-hands |
"Con gián là động vật"
Chính xác! tự nhiên lại quên kỳ cục, cám ơn bác nguyentiendung83 nhé! tại lúc viết vội không hiểu sao trong đầu cứ nghĩ là cтакан - cái ly. Thật ra khi nói thì ít khi quên, nhưng viết thì lắm khi đầu lại không nghĩ gì mấy mới kỳ lạ, chắc do mình hết đát rồi chăng? |
Trích:
Còn несмотря thường phải có thêm giới từ на đi kèm nữa. Cháu đoán vậy và không tự tin lắm. |
Trích:
Thường thì khi thấy các cụm từ trông giống như động từ là ta hay giật mình nghĩ chắc nó là cái gì đó! ví dụ начиная с... hay несмотря на ...Nhưng bạn có thể xem các giới từ của họ ở đây. Trong cái несмотря на thì на là giới từ thứ sinh do gốc động từ несмотря đòi hỏi, mình cũng chẳng hiểu sao lại thế, tại sao chỉ cần gọi несмотря là giới từ cũng đủ! Bạn nên hỏi bác Nina đã bấm thanks cho bạn đó, bác ấy có chuyên ngành tiếng Nga nên sẽ giải thích chuẩn hơn, còn mình thì học kiểu à ơi Việt hóa quên gần hết cái chuẩn mực mất rồi! Nếu học giới từ thì nên để ý cái đám chuẩn tắc như без, в, до, для, за, из, к, на, над, о, об, от, по, под, перед, при, про, с, у, через, из-за, из-под, ... gọi là Непроизводные предлоги là xài được hầu hết các giao tiếp thông dụng rồi bạn ạ! P.S mấy từ mà bạn nghi ngờ như благодаря, включая, исключая, спустя, начиная (с)... hình như gọi là отглагольные предлоги thì phải! |
Thưa bác minminixi, sự thực là Nina chưa hề theo học chuyên ngành tiếng Nga ở bất kỳ cơ sở đào tạo nào. Поэтому специально для Вас прошу не cделать далеко идущие выводы из неверных исходных данных.
|
Trích:
Các bạn trẻ học đã có sách, nều đến mức phải hỏi mà còn chỉ tiếp theo sách chắc không cần thiết, nên nhà em chỉ nêu kinh nghiệm riêng. Viết ra tiếng Nga bây giờ cũng khó khăn nên hay nhầm lẫn do lâu không dùng đến, nếu chị có thể bớt chút thời gian giúp các bạn trẻ thì tốt biết bao, ví như chị đồng ý với thắc mắc của bạn svhn thì có thể giải thích thêm cho rõ hơn về các từ bạn ấy nghi ngờ nêu trên là giới từ hay là giới gì thì thật tốt ạ! |
Thưa bác minminixi, em tự thấy kiến thức tiếng Nga, khả năng sư phạm và lòng kiên nhẫn của em không đủ để trả lời cho bạn trẻ nào hỏi ở trong chủ đề này. Em cũng tự thấy em không đủ kiến thức và lòng kiên nhẫn để phân tích một vài sai sót của một số người trong một số bài, lại càng không đủ can đảm để đón nhận thêm một trận đá ném nếu bỗng dưng em làm việc trên, nên em nhấn cám ơn bạn svhn đã làm được việc tương tự (có thể là bạn ấy dũng cảm hơn em, có thể vì sơn ăn tùy mặt, và bạn ấy không có cái nick dễ bị ném đá như em). Em cũng nói luôn - em post bài trước đó, và bài này nữa chẳng qua xuất phát từ bản năng tự bảo vệ thôi.
|
Trích:
Tuy vậy em cũng chẳng mong đợi bạn svhn kiểm tra lại và lên tiếng về việc bạn đã nghi ngờ. Dù sao nếu bạn xem kỹ thấy đúng включая, исключая, начиная, сообразно... là các giới từ thì bạn ấy sẽ rất nhớ điều ấy, và nếu chúng không là giới từ thì bạn ấy càng nhớ để không bị sai lầm nếu sử dụng chúng như giới từ. Đấy là điều bổ ích nhất của các cuộc tranh luận nêu lên nghi vấn và giải đáp đúng cách, không có chuyện tư cách cá nhân nào của nhà em ở đây cả vì mình sai thì cũng là bình thường, cũng là bài học cho riêng mình. Bạn uranni học về giới từ cần tự xác định đó không phải là việc học trong một lúc để thi, mà là học luôn luôn trong suốt thời gian mà bản thân còn cần đến tiếng Nga. Phân biệt đâu là một giới từ thì mình thấy cũng đơn giản: trong một cấu trúc câu chuẩn tắc, ngoài nhóm từ chỉ chủ từ và đối tượng chính của hành vi và mục đích câu thì từ còn lại chính là giới từ. Khác với danh - đại từ thường đi kèm tính từ, thậm chí vài tính từ, và động từ trong câu có đuôi thay đổi theo cách từ 2 đến 6, theo giống đực - cái và theo thì, các giới từ chỉ là đơn từ, không bao giờ biến cách và chỉ đi kèm tối đa với 1 giới từ dạng Непроизводные để chỉ hướng và vị trí không gian bổ sung cho giới từ trước đó. Chúc các bạn trẻ học tốt tiếng Nga nhé! |
Trích:
Theo thông tin bác BT post lên tôii tìm trên mạng ra mấy định nghĩa, phân loại sơ lược về giới từ, đọc thấy rất bổ ích: http://www.goldrussian.ru/catalog/ra...dlogov-120.htm |
Cảm ơn tất cả các bác. Cháu có hỏi cô giáo, cô bảo, trước mắt với trình độ của cháu thì cứ nắm vững những cái đơn giản đã. Những cái phức tạp thì phải dần dần.
|
cháu mới học học cách 1, cách 2, cách 4 và cách 6. c1 và c6 thì ổn rồi nhưng c2, c4 thì cháu vẫn chưa hiểu. mong mọi người giúp cho chứ tuần sau cháu làm bài kt rồi. hi
|
Bạn chưa hiểu ở điểm nào, thắc mắc gì thì nên ghi cụ thể ra, chứ ghi chung chung thế thì khó ai giúp được.
|
Trích:
Cách 2: những từ chịu ý nghĩa cách 2 trong tiếng Nga tương đương với từ "của" trong tiếng Việt, nên được gọi là "sở hữu cách". Vài ví dụ cơ bản theo tiếng Việt như sau: 1-Bộ phận của máy, tiếng Việt thường gọi tắt là "Bộ phận máy" tức bỏ đi từ "của" nhưng vẫn phải ngầm hiểu là nó hiện diện. 2-Cánh tay của tôi, tiếng Việt thường gọi tắt hơn là "tay tôi", và ở đây chủ sở hữu chính là chủ thể câu trong vị thế đại từ nhân xưng. 3-Cái chân của bàn, tiếng Việt hay gọi đơn giản là "chân bàn". -Trong ví dụ 1 chỉ ra những khái niệm chung nhất, có thể hiểu Bộ phận thuộc cái máy nào đó. Khi từ "của" dịch tương đương ra tiếng Nga thì danh từ "máy" là chủ sở hữu của "bộ phận" sẽ chịu cách 2 với đuôi từ bị biến đổi như bạn được học: giống đực có đuôi phụ âm thêm chữ cái "a", đuôi dấu mềm thay bằng "я".từ giống cái đuôi a chuyển thành ы, đuôi dấu mềm hay я chuyển thành и ... v.v...Ở trường hợp này ta nói là часть (элемент) машины. Khi có nhiều sở hữu cách trong một câu thì chuyển chủ thể (máy) sang tính từ sở hữu để đỡ bị trùng lặp cách đổi đuôi: машинная часть và toàn bộ nó lại chịu cách 2 nếu sở hữu một danh từ khác. -Trong ví dụ 2 thì người Nga có loạt đại từ sở hữu мой, твой...Trường hợp "tay tôi" sẽ là моя рука, đổi đuôi theo giống đực-cái-trung của danh từ nói về vật bị sở hữu là "tay - рука". -Trong ví dụ 3 thì tương đương ví dụ 1: ножка стола, chỉ hơi khác là ít khi chuyển thành tính từ sở hữu như ví dụ 1 khi nó chỉ các đối tượng và khái niệm cụ thể. Trường hợp nói "chân bàn" chung chung thì theo ví dụ 1 được, nhưng khi bạn chỉ cái chân bàn trước mặt hay chỉ chỗ cho người khác tìm gì đó ở chỗ chân bàn trong phòng bạn đang đứng thì không nên đổi thành tính từ sở hữu. Về cách 4, đó là cách mà danh từ hay đại từ chịu ảnh hường của hành vi của chủ ngữ trong câu. Ví dụ "tôi đánh em" hay "tôi yêu em" thì từ "em" chịu cách 4, biến thành тебя không phụ thuộc giống nào. Ở đây bạn phân biệt một chút về động từ gây ra cách 4 là "đánh", "yêu" hay động từ nào khác: - nếu động từ thể hiện hành vi liên quan đến lực vật lý, danh từ của chủ thể vị ngữ luôn chịu cách 4 trong một câu chính tắc (tuy có ít ngoại lệ nhưng nhớ vậy cho nhanh). Ví dụ "tôi đánh con bò" hay "tôi lái xe" luôn có "bò" và "xe" ở cách 4 cho dễ nhớ, viết là я бил корову - я водил машину. - nếu không phải lực vật lý mà là tinh thần, thì thường các động từ đó mang nghĩa dứt khoát, tận cùng, thể hiện hẳn một thái cực tình cảm như yêu-ghét-căm thù...Nói cho vui thì động từ đó cũng thể hiện sự "đe dọa" vật lý nào đó (yêu đương có lẽ cũng có phần là đe dọa... hi hi). các động từ "nói, thích..." không thể hiện thái cực hành vi thì gây cả cách 3,4,5,6 ... khi đi kèm giới từ hay mang nghĩa phù hợp. Một vài ví dụ về cả cách 2 và 4: - Я строил этот дом(4) культуры(2) - Та машина бодала (мою(2) корову)(4) - Сильный дождь стирал следы(4) беглеца(2) Chúc bạn học tốt! PS: cách 2 và 4 dạng phức tạp hơn đi kèm các giới từ cơ bản thì chắc lần này bạn chưa cần đến :D |
Trích:
Ngài xem lại xem chứ những gì được trích dẫn trên từ bài viết của ngài không thể là cách 2 (родительный падеж) trong tiếng Nga được đâu ạ (ít ra là em được dạy thế). Ví dụ: Та машина бодала мою(2) корову(4) thì мою là đại từ sở hữu ngôi thứ nhất số ít, giống cái, CÁCH 4 đó ạ (nó đi với danh từ và phụ thuộc vào danh từ về giống, số, CÁCH). (Em hoảng qua nên ghé. Giờ em té tiếp). |
Cách sử dụng Tính (Trạng) động từ trong Tiếng Nga
Em chào cả nhà, em rất muốn được cả nhà giải thích cách sử dụng và các trường hợp cụ thể về phần Trạng động từ và Tính động từ (cả bị động lẫn chủ động, quá khứ cũng như hiện tại). Vì phần này em thấy rất khó nhớ và không biết nên sử dụng lúc nào, em rất hay bị nhầm lẫn khi dịch những câu có tính (trạng) động từ.
|
Trích:
Một ví dụ khác khỏi liên quan đến người ngợm cho dễ hiểu: - đây là bức tường của khu vườn: это стена сада (садовая стена) - gió xô bức tường khu vườn và làm nó nghiêng đi: ветер cталкивал садовую стену и кренил её Thường thì người ta dùng từ "hàng rào"- забор cho khu vườn, nhưng nhà giàu có thể xây tường luôn cho kín. Ở đây lấy ví dụ "tường" để nó có giống cái khi đổi đuôi cho rõ và đẹp :D PS: đại từ sở hữu nên hiểu cũng là cách 2, chẳng qua nó liên quan đến sở hữu của chủ ngữ là sinh vật nên có từ riêng biệt. (Đã sửa lại ví dụ giữa ở post trên cho chính xác) |
Trích:
Tuy nhiên dù có nói ngắn gọn và đơn giản đến mấy chăng nữa thì nhà em nghĩ cũng cần phải chính xác một tí ợ. Vì ở trên đang nói về cách 2 nên nhà em nói về cách 2. Khác với tiếng Anh và một số thứ tiếng khác, trong tiếng Nga hiện đại không có khái niệm SỞ HỮU CÁCH đâu ạ. Ý nghĩa về SỞ HỮU chỉ là một trong nhiều ý nghĩa cảu cách 2 (tiếng Nga là: Родительный падеж – nếu phải dịch sang tiếng Việt thì người ta dịch là Sinh cách. Nhưng thường được gọi là Cách 2). Tại sao trong tiếng Nga không có SỞ HỮU CÁCH (поссессив, притяжательный падеж)? Vì tiếng Nga hiện đại giờ chỉ còn 6 cách: имен.; род.; дат.; вин.; твор. и предл. падежи. Và tại sao Родительный падеж (cách 2) không thể gọi là SỞ HỮU CÁCH? Bởi vì như trên đã nói: ý nghĩa về sở hữu chỉ là một trong nhiều ý nghĩa của Родительный падеж. Một số ý nghĩa của Cách 2: Trong tiếng Nga từ được sử dụng ở cách 2 (Родительный падеж) có thể đứng sau động từ và tĩnh từ. Đứng sau động từ: chỉ khách thể của hành động. Ví dụ, sau nội động từ có từ phủ định: не сказать правды; Các động từ hoàn thành thể đòi hỏi danh từ phải sự dụng ở cách 2: выпить воды, съесть хлеба, những động từ chỉ sự thiếu vắng, không có, nỗi sợ, chúc tụng, mong muốn v.v.: бояться трудностей; желать успехов v.v. Đi với tĩnh từ: chỉ các mối quan hệ như: SỞ HỮU: дом отца; mối quan hệ “toàn bộ” và “bộ phận”: như “các bộ phận của máy”, “cái chân của bàn” (VD của ngài BT); mối quan hệ tính chất: слезы радости v.v. Túm lại: Có thể nói rằng: không nên hiểu cách 2 trong tiếng Nga là SỞ HỮU CÁCH và ý nghĩa về SỞ HỮU chỉ là một trong nhiều ý nghĩ của cách này. Trích:
CÁCH (tiếng Nga падеж) trong mỗi ngôn ngữ được thể hiện một cách khác nhau. Như trên đã nói: trong tiếng anh có possessive case (притяжательный падеж), nhưng trong tiếng Nga thì không có. Vì vậy ngài nói “trong cụm từ моя корова thì моя là cách 2” thì nhà em không biết ngài áp dụng tiếng nào chứ trong tiếng Nga theo em được biết моя ở đây không thể nào là cách 2 (Родительный падеж) được. Nếu em sai, mong ngài giải thích cho. Khái niệm “cách trong cách” trong tiếng Nga em cũng chưa được học. Trích:
nói về việc sử dụng cách 2 (Родительный падеж) cho nó dễ hiểu là thế nào, hay “nó có giống cái khi đổi đuôi cho rõ và đẹp” là sao??? (trừ từ сад ở cách 2 chỉ mối quan hệ với bức tường стена) . Mong ngài chỉ giáo. Trích:
Trích:
(Nhà em không may có chém gió một tí thì mong các quan bác, quan ngài nhẹ tay ợ) |
Em cho rằng, ở đây bác BT đã đồng nhất ý nghĩa ngữ pháp của cách 2 (thể hiện quan hệ sở hữu giữa các danh từ) với ý nghĩa ngữ nghĩa của đại từ sở hữu (chỉ sự sở hữu).
Những nội dung bác giải thích về cách 2 ở trên thuộc về cách được gọi là Притяжательный падеж vốn điển hình trong tiếng Anh, còn trong tiếng Nga chỉ là một trong số những ý nghĩa ngữ pháp của cách 2. Trong tiếng Anh những đại từ sở hữu như my, your, his, its, our, their… cũng không được coi là Притяжательный падеж . Vì vậy, trong tiếng Nga мой, твой, ее, его, наш, ваш, их, свой ... là đại từ sở hữu chứ không không phải là sở hữu cách, tức cách 2. |
Trích:
Cái cách hiểu chính xác và rắc rối nó không giúp mấy cho việc nắm vững tiếng Nga- ấy là quan điểm riêng nhà em. Nội cái Sở hữu cách mà anh Hổ nói nó chỉ là một phần trong Sinh cách, thì có nghĩa nó vẫn là cách 2, và thực tế nó chiếm đa số trường hợp sử dụng của cách 2 này. Còn cái việc ngài Hổ bảo "uống nước" mới là cách 2 chuẩn của Sinh cách, thì có giải thích nào kèm theo đó không ợ? và tại sao từ вода lại phải chuyển là воды ? Còn đại từ sở hữu không thuộc cách 2 thì là cách mấy ợ? Nói ví dụ : "cái cánh của máy bay, còn cái máy bay của tôi", thì từ "của tôi" và "của máy bay" có khác gì nhau về bản chất mà phải dùng từ riêng biệt là Đại từ sở hữu? ấy là bởi cái "tôi, ta, nó ..." ở đây dính đến chủ thể tư duy. Dĩ nhiên trong phim hoạt hình mà cái máy bay nói chuyện thì nó sẽ lại nói "cánh của tôi" và dùng Đại từ sở hữu, chứ không dùng "cái cánh của cái máy bay (tôi)" được nữa. Còn tại sao nói uống nước lại là воды? ấy bởi trước nó người ta ngầm hiểu có "ngụm, giọt..." của Nước, vì thế воды mới chịu cách 2. Anh HỔ hỏi một nhà ngôn ngữ Nga sẽ xác định được, chứ nó chả phải cái gì đặc biệt. Nói nhỏ nhé: chính người Nga bình thường không để ý mấy đến những cách giải thích này, vì họ chỉ biết tiếng Nga nói thế. Tuy nhiên nếu có người ngoài hành tinh viết báo cáo về loài người trên trái đất, thì họ sẽ viết : đây là giống sinh vật hít thở không khí, uống водy và ăn sinh vật khác, kể cả chính mình :D. Tại sao Nước ở đây lại là cách 4, cũng có lý do cả ợ. Nhưng thôi, cái kiểu giảng giải của nhà em đã nói trước là quái chiêu đấy, chỉ chắc chắn người mới học mà cứ theo đó làm bài tập thì trúng điểm đạt thôi, hiểu phức tạp hơn cũng chẳng để làm gì. Có điều lạ là các bạn trẻ vào hỏi tiếng Nga thì các nhà sư phạm chuẩn không thèm đáp ứng, chỉ chờ nhà em phóng tác để giúp thì lại xông vào giảng giải... he he. Rất có thể vì câu hỏi quá tầm thướng nên các bác không thèm giảng chăng? nhà em chỉ ái ngại cho các bạn mới học abc mà vào cái 4R duy nhất yêu nước Nga lại không thể biết thêm gì về tiếng Nga, dù là với câu hỏi đời thường ngữ pháp nhất. Thôi, nhà em sẽ vẫn trả lời cho các bạn trẻ theo cái khả năng hạn hẹp kém chuẩn của mình, còn nếu có bác nào lên tiếng rồi thì nhà em không dám bàn luận đâu ợ... :D và sau đây cũng sẽ không dám tranh cãi. Chỉ nên coi đấy như một kiểu thông tin, nhận hay không là tùy người hỏi. Cũng tha thiết mong các bác nắm chuẩn ngữ pháp xin bớt chút thì giờ vàng ngọc giúp các bạn trẻ mới học, dù có mắc lừa cũng nên vui vẻ rằng đã làm một việc đúng, hơn là để BT này xông ra nói năng với thứ tiếng Nga ngọng...! |
Trích:
http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3751 Bạn đưa những trường hợp bạn bị nhầm lẫn lên đây để mọi người giúp. Đi từ những cái cụ thể sau đó khái quát lên thì sẽ dễ dàng hơn cả cho người hỏi lẫn người trả lời. |
Ngài BT cho em chém thêm vài nhát nhá.
Trích:
Trích:
Trích:
Như post trước nhà em đã nói, ngài phân biệt hộ em khái niệm (trong ngôn ngữ nó khác với ngoài đời): ý nghĩa SỞ HỮU (отношениe принадлежности) ví dụ như дом отца nó khác với ý nghĩa thể hiện mối quan hệ giữa toàn bộ với bộ phận (отношениe целого к части) ví dụ như của ngài “cánh máy bay” крыло самолeта. Xin ngài chú ý trong ví dụ: “cánh máy bay” trong tiếng Nga người ta không nói là sở hữu. Ngoài những ý nghĩa ở post trên em đã nói, từ ở cách 2 được sử dụng rất nhiều sau các giới từ от, около, из, из-за, без, до, у, для, ради v.v. nó chẳng liên quan gì đến ý nghĩa sở hữu cả. Và từ đúng sau động từ đòi hỏi ở cách 2 cũng vậy: chẳng liên quan gì đến sở hữu. Vị vậy theo nhà em nói “thực tế chiếm đa số…” là không chính xác. Trích:
Một trong các tính chất của danh từ chỉ vật chất như вода, водка, молоко, рис, сахар, хлеб v.v là không thể đếm được. Không thể nói одна вода, одно молоко, один хлеб (còn trong cuộc sống nhiều khi ta vẫn nghe thấy thì là chuyện khác nhé). Khi nó được sử dụng với các nội động từ không hoàn thành thể thì sẽ ở cách 4 bình thường: пить воду, есть хлеб. Nhưng khi sử dụng với động từ hoàn thành thể thì các danh từ đó biến đổi sang cách 2: выпить воды, съесть хлеба. Hiện tượng này được giải thích như sau: Khi dùng động từ không hoàn thành thể пить, hoặc , есть nó chỉ nêu lên hiện tượng của hành động: uống, ăn cái gì?, không chỉ ra kết quả của hành động: uống, ăn xong (hết) cái gì? Do đó những danh từ chỉ vật chất theo nguyên tắc sau nội động từ phải ở cách 4. Nhưng khi dùng hoàn thành thể выпить thì ta không thể dùng từ воду bởi vì như trên đã nói tính từ vật chất nó chỉ khối thống nhất, không biến đổi theo số và không đếm được. Không thể nói выпить воду bởi vì trên thực tế không thể uống hết được tất cả nước ở trên thế gian này, mà phải dùng từ воды để chỉ là ta chỉ có thể uống hết một phần nào đó (часть предмета) của nước, như uống hết một cốc, một chai, một lít nước v.v. Ngài cứ hỏi bất kỳ người Nga nào cũng sẽ được trả lời như thế. Còn đúng là hỏi ở cách nào? Tại sao lại cách 2 hay cách 4 thì không phải người Nga nào cũng có thể trả lời được. Trích:
Ví dụ: мой đại từ sở hữu giống đực, cách 1, số ít, sang cách 2 nó là моего, cách 3: моему, cách 4: моего, cách 5 моим, cách 6: моем Còn nếu ngài có tài liệu nào nói về đại từ sở hữu thuộc cách 2 thì cho nhà em biết với. Trích:
Ngài nói đến bản chất thì nhà em không hiểu ngài nói về bản chất cái gì cụ thể: từ CỦA nghĩa là bản chất của sự SỞ HỮU, hay là các từ “Máy bay” và Tôi”. Nếu là CỦA thì cái “CỦA” của ngài ở đây là của tiếng Việt chứ không phải tiếng Nga. Còn nếu là các từ “máy bay” và “tôi” xét về ngôn ngữ là 2 loại từ loại khác nhau: một cái là danh từ, một cái là đại từ. Bản chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Trích:
Trích:
Trích:
Trích:
Có điều nhiều lúc tùy vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người, thời gian, hiểu biết v.v. và nhất là cảm hứng nên không phải lúc nào cũng có thể chia sẻ, thảo luận hay trả lời trên 4R được. Trích:
Thứ nhất, theo quan điểm của những gì người ta đã dạy cho em thì ngài đã không đúng ở các trường hợp em đã phân tích ở trên; Thứ nhì: Sợ những người hỏi tiếp nhận được cái không đúng đó thì nguy. |
Trích:
Nhiều chổ tôi cũng muốn sửa (chứ không "chém") để tránh lây lan việc hiểu sai về tiếng Nga nhưng sợ hàm BT của NNN phong. |
это стена сада - Ngày xưa em cũng nhầm như vậy, cứ nghĩ nó là sở hữu. :) Nhưng thực tế sau khi được đọc sách vở và học sâu hơn chút thì em mới biết nó không phải là sở hữu!:D
|
Trích:
Về bản chất, gọi là sở hữu hay sinh cách là do người Việt ta gọi, chứ russian chỉ là vẫn 1 từ đó không đổi. Mình cũng chứng kiến thời mình học ở Thanh Xuân, thầy giáo dịch từ giáo trìng Bash là "sở hữu cách", về sau lại có thấy khác gọi là "sinh cách". Đối với mình thì không quan tâm nhiều chuyện đó, vì cách 2 chỉ cần hiểu là có một vật thể là "của" vật thể khác, bất kề vật thể trừu tượng hay không, dù có đổi thành tính từ hay không. Chuyện ngầm hiểu và chuyện dịch dọt đôi khi hơi khác nhau, nhưng đa phần khi dịch xuôi ta có từ "của" ở đây. Nếu muốn hiểu sâu hơn, đối với mình chuyện "sinh cách" chỉ là chuyện dịch nghĩa đen của từ родительный падеж. Bản chất các ngôn ngữ đều có cái gốc nằm ở trường sinh học. Bác nào đã thử mấy cái bàn xoay Quảng Nam hiện nằm ở Đà Lạt thì rõ: người ta có thể ra lệnh cho nó bằng bất cứ thứ tiếng nào chỉ hành động đơn giản là nó thực hiện được gồm quay phải-trái và dừng, quay nhanh lên hay chậm đi. Dĩ nhiên không phải cái bàn có tư duy, nhưng nó có dạng trường từ "chết" vì vốn là vật hữu cơ, và trường này cộng hưởng được với trường sinh học phát sinh khi nói hay nghĩ của con người. Học ngoại ngữ mà quá lệ thuộc ngữ pháp thì khó mà "cảm" hay "hiểu" ngoại ngữ đó, ai nắm ngoại ngữ ở mức "quên" chuyện ngữ pháp thì mới dễ nghe-nói-đọc-viết được. Gắn ngữ pháp ngoại với ngữ pháp tiếng mẹ đẻ là một cách để quên ngữ pháp khi thực hành nghe nói. Những điều trên chẳng có gì cao siêu mà chỉ là cách hiểu của một cá nhân. Tuy nhiên mình có biết nhiều người nắm tốt ngoại ngữ (không chỉ Nga), khi bàn luận về bản chất ngôn ngữ thì đều công nhận cái chung tương tự là có. Với những người mới học, mình thấy đào sâu chuyện ngôn từ ngữ pháp không hiệu quả bằng việc họ hiểu sự tương quan với tiếng mẹ đẻ để nắm nhanh hơn. Sau khi nắm cái đơn giản rồi thì tha hồ hiểu những cái phức tạp trong cả đoạn đời cần đến, chứ không chỉ chuyện "nhớ-quên" cho các kỳ kiểm tra. |
Trích:
Chỉ có điều em thấy người Nga gọi "tường của vườn" là забор, dù nó là rặng cây, làm từ gỗ, hay xây từ gạch, đá... Có thể ví dụ này được dẫn ra неудачно về mặt nghĩa. Это стена дома có lẽ phù hợp hơn. Em bày tỏ cách hiểu cá nhân của em về một số cách hiểu của cá nhân bác minminixi: Trích:
Trích:
Trích:
Anh yêu em = Я любить ты. |
Trích:
книга брата chẳng hạn! :emoticon-0150-hands |
Trích:
Về sự phân biệt này em đã giải thích tại post #25. Tuy nhiên sau ý kiến của bác vẫn có ý kiến khác, nên em hỏi hơi "cài" bác một chút. Rất vui vì bác đã hiểu rõ bản chất của vấn đề và đưa ra một ví dụ thuyết phục. "книга брата": về ngữ pháp thể hiện mối quan hệ sở hữu, về nghĩa thể hiện sự sở hữu, vì trả lời cho câu hỏi чья!:emoticon-0150-hands |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 10:04. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.