![]() |
Nước Nga và sứ mệnh Lịch Sử
Vào lúc này đang diễn ra việc kiểm phiếu bầu cử TT Nga 2012, đánh dấu Putin quay lại chính trường trên cương vị cao nhất Tổng thống LB Nga.
Do đó, trùng với ngày bầu cử theo giờ Mat-xcơ-va, SSX lập topic này để tri ân Putin, để cảm ơn ông và vì ông đã cho cả một thế giới nhận thức, rất khác rất lạ so với sách vở. Vốn dĩ định đặt tên là "Mặt tối của lịch sử nước Nga" nhưng nghĩ lại, nên đặt là sứ mệnh lịch sử thì hay hơn, tuy không định mưu đồ gì to tát, chỉ là nhìn nhận cho đúng đắn quá khứ-hiện tại-tương lai, những điều mà chính Putin đã gợi mở ra. Ta nói ngay, Putin và nước Nga tự nhiên đứng vào vị trí sứ mệnh lịch sử, chống lại sự thống trị toàn cầu của tập đoàn tài phiệt quốc tế. Lịch sử của nó và diễn biến tiếp theo sẽ được đề cập ở đây. Nguồn tư liệu về vấn đề này có rất nhiều. Tôi ưu tiên chọn nguồn Nga vì độ tin cậy. |
Крестовые походы
Câu chuyện được mở đầu bằng thuật ngữ đã từng quá quen thuộc nhưng ngày nay có những kẻ muốn người ta quên: Cuộc thập tự chinh!!
Vào lúc tập đoàn tài phiệt quốc tế huy động bù nhìn phương tây và quốc tế tấn công Lybia, một đất nước độc lập và tự do, có mức sống cao nhất châu Phi, thập chí có nhiều tiêu chuẩn sống của dân chúng cao hơn cả phương Tây. Chúng điều khiển LHQ ra nghị quyết bao vây cấm vận và mở đường cho chiến tranh. Putin phản đối, nhưng người đứng đầu nhà nước Nga lúc đó là Medvedev thì không còn lựa chọn nào khác. Có ai nhớ đã có vụ nổ bom khủng bố kinh hoàng ở sân bay Mat-xcơ-va? Thằng ngốc mới tin nổ bom là tình cờ. Putin đã phản đối Nghị quyết của HĐBA LHQ về Lybia, ông gọi nó là “kém giá trị và gây thiệt hại”. “Nó (nghị quyết) cho phép lấy đi mọi thứ, mọi hành động của một quốc gia có chủ quyền. … Nó gợi tôi nhớ đến lời kêu gọi thánh chiến thời Trung Cổ khi một kẻ nào đó hối thúc kẻ khác tiến đến một nơi nào đó và giải phóng một cái gì đó.” ( http://www.aif.ru/society/article/41722 ) Có thể nói lịch sử luôn lặp lại, nhưng xem ra cách nói đó nhàm chán. Chính xác hơn là lịch sử vẫn như cũ và thế giới này vẫn bị cai trị bởi cùng 1 chủ. Ta sẽ tiếp tục... |
Trích:
|
Thực ra kỳ bầu cử này ở Nga nói chung không ai băn khoăn về người chiến thắng, nhưng băn khoăn về chính sách sau bầu cử.
Lần này, trong giai đoạn tranh cử, ông Putin đã cho đăng rất nhiều bài báo dài và tỉ mỉ (đọc phát mệt), tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều điểm mờ :) Ví dụ về nhân sự - gần như chắc chắn là ông Medvedev sẽ làm thủ tướng trong giai đoạn đầu rồi. Nhưng giai đoạn này kéo dài bao lâu, sau đó ai sẽ làm thủ tướng, vân vân. |
Ý kiến một số danh nhân Nga!
Ta đang đề cập đến vấn đề không mới, chỉ có điều phương tây không nhắc đến. Các danh nhân Nga cũng đã đề cập từ rất lâu rồi. Ở đây có thể dẫn một số trong họ.
Maxim Gorky (1868-1936) viết: Tuyệt đối rõ ràng rằng châu Âu… bị thống trị bởi những kẻ điên khùng mà chẳng có tội ác nào chúng không dám làm, chẳng có bao nhiêu máu mà chúng sợ phải đổ… Rõ ràng là chúng ta, những con người của Liên Bang XHCN Xô Viết đang ngăn cản sự sống của băng nhóm trộm cướp và sát nhân quốc tế, và do đó mà chúng rất thèm muốn chúng ta bị phá tan thành từng mảnh, từng mảnh để trở thành nô lệ. Feodor Dostoevsky viết năm 1877 trong 1 bài viết nhan đề: Vấn đề Do Thái, bài viết mang tính chất đánh động từ rất sớm với những dấu hiệu nhìn thấy trước rất đáng sợ, mà cho đến ngày nay lại hoàn toàn đúng. Dostoevsky đã chỉ ra từ ngày đó sự thống trị văn hóa chính trị của DT đối với nước Nga. “Người DT tìm kiếm sự thống trị thế giới. Điều đó đòi hỏi họ giữ tính đặc tính đoàn kết chặt chẽ. Nếu DT được trao quyền bình đẳng ở Nga, nhưng lại cho phép họ giữ “quốc gia trong quốc gia”, họ sẽ có được đặc quyền hơn người Nga. Hậu quả của tình trạng này thực sự rõ ràng ở châu Âu.” Không chỉ có vậy, Dostoevsky đã giải thích, nhà băng DT đã chiếm châu Âu như thế nào giữa những năm 1880: Ở châu Âu, người DT ngự trị thị trường chứng khoán, họ kiểm soát vốn tư bản, họ là chủ nhân của tín dụng, họ là ông chủ của những chính sách khôn ngoan… Cái sẽ đến là chiến thắng toàn bộ của tư tưởng DT, mà trước nó, tình cảm con người, lòng tin vào sự thật, đức tin Christian, và niềm tự hào quốc gia đại chúng của châu Âu sẽ phải chịu đầu hàng… Sự thống trị của họ đang đến, họ sẽ hoàn toàn thống trị! Dostoevsky đã sợ hãi: Cái gì đến nếu chỉ có 3 triệu người Nga và có 80 triệu người DT? Họ sẽ đối xử với người Nga như thế nào và sẽ sai khiến người Nga ra sao? Những quyền nào người DT sẽ trao cho người Nga? Liệu họ có biến chúng ta thành nô lệ? Tồi tệ hơn thế, họ sẽ không lột da toàn bộ người Nga? Họ sẽ không tàn sát người Nga đến kẻ cuối cùng, đến tận chỗ hoàn toàn bị hủy diệt? Alexander Solzhenitsyn (không cần thiết phải dẫn nguồn bởi có quá nhiều) cũng viết về DT rất nhiều, tư tưởng của ông phức tạp hơn và đi sâu vào khía cạnh tinh thần, tôn giáo. Ông cũng bị DT gán cho cái mác Anti-Semitic và các tác phẩm của ông bị cấm xuất bản hầu hết bên trời Tây và “Two Hundred Years Together” là 1 tác phẩm như vậy. (bác danngoc có biết điều này hay vẫn tưởng tượng bên tây tự do lắm lắm?) Solzhenitsyn viết năm 1995: Dân tộc Nga không chỉ là máu mà còn là tinh thần. Sự vĩ đại nhất của dân tộc chúng ta đó là sự phát triển bên trong, là bề rộng tâm hồn. Tinh thần Nga và văn hóa Nga đã tồn tại trong hàng thế kỷ. Tất cả những ai cảm nhận mình là một phần của di sản tinh thần ấy, họ thực thụ là người Nga. Người DT không tự mình cảm nhận họ là một phần của “di sản tinh thần” Nga, họ coi Christian là Anti-Semitic. Nhưng trận chiến Judas và Theotokos, Theotokos sẽ chiến thắng! Chính Solzhenitsyn thẳng thắn chỉ ra: Gulag điều hành bởi những người DT! http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3238 Mặc dù thế, sách của Solzhenitsyn lại được đón nhận bằng phản ứng khá tích cực từ cộng đồng DT. Không phải ai cũng theo Zionist. Trong tác phẩm “200 năm cùng nhau”, ông viết, người DT đơn giản là lệ thuộc hoàn toàn vào tư tưởng Xô-Viết như một sự nhờ cậy trước chủ nghĩa phát-xít Đức, nhưng thay vào đó, họ lại chấp nhận Bolshevic hết lòng. Ông kết tội người DT: nghịch đạo trong việc phổ biến tính hung bạo trên nước Nga mà trong đó họ là một dân tộc thiểu số. Solzhenitsyn kêu gọi toàn thể cộng đồng Do Thái “ăn năn hối cải” và điều đó nằm trong khả năng của họ để thoát khỏi số phận bị diệt vong. Nhưng ông cũng buồn nói: Ăn năn hối cải là một cái gì đó mà hầu hết người DT chẳng muốn làm… |
Bác SSX này vừa quảng cáo tốt âm nhạc Nga, vừa có nhiều lập luận tân Việt về Lịch sử chính trị thế giới, giờ đây lại tiếp tục lấp lửng với Sứ Mệnh Lịch Sử: đối với ai và cho ai???
Nhưng dù sao nhà em thích các câu lấp lửng của cả Đời và Luật, nó thường tạo không khí sôi động trên Tòa, làm đất diễn thực tập cho các Luật gia, nâng cao tay nghề cho các ý tưởng lãnh đạo...Góp chút ý đầu về "Nước Nga và sứ mệnh LS" này như sau: - Cái Lịch sử nhất mà nhà em chưa từng nghe và đọc thấy là hình ảnh những giọt nước mắt của VVP (xin lỗi phải viết tắt nhưng vẫn tôn trọng đấy ạ) đêm qua trên 3N, có lẽ nhà em cũng hiểu biết có hạn nên không rõ có nguyên thủ nào trúng cử mà khóc mắt cười miệng như vậy không, nếu các bác biết thì xin đính chính để nhà em học tập và rút kinh nghiệm. - Còn bỏ qua chuyện cái khóc duy nhất trên của chính trường thế giới, thì ta ngẫm được gì với hình ảnh đó: VVP với những giọt nước mắt hiếm hoi lại nói "chúng ta chiến thắng trong cuộc đấu trung thực..." và hứa sẽ đối thoại - tranh luận với các quan điểm đối lập khác... Chuyện dân chủ và nhân quyền có thể để sau, ta phải coi như đây là những giọt nước mắt thật, và lý do của nó là từ tâm trạng chủ nhân, và thử xem tâm trạng đó là thế nào. - Một giả thiết: đây là nước mắt giả tạo, mục đích lấy lòng cử tri chẳng hạn... thì lẽ ra nó phải đã có từ vài ngày trước trong thời gian tranh cử. Thế thì chắc tin hơn rằng nó là thật, và nếu thế thì nói lên điều gì? - Một chính khách khóc sau khi trúng cử cương vị đứng đầu QG thì có 2 khả năng logic đối lập mà thôi: 1) do thỏa mãn như ý để sẽ có một tương lai quá giàu có như trúng số chẳng hạn, hoặc 2) do đã có được vị thế DUY NHẤT CUỐI CÙNG để thực hiện nốt những ước nguyện cá nhân vì một mục đích cao hơn cá nhân rất nhiều, là sẽ làm được những giúp ích cuối cùng cho ĐẤT NƯỚC của mình, một sự thành tâm và tin tưởng đến mức phải có những giọt nước mắt đàn ông! - Nếu là ý 1) thì hai nhiệm kỳ trước hẳn VVP đã có một tài sản kếch sù đáng kể sau khi đương quyền, và lẽ nào tránh thoát các con mắt săm soi của hàng ngàn, hàng triệu đối thủ cho dù họ có đàng hoàng hay không, vì XH đa Đảng là vậy. Nhưng đến nay thì có thể tin logic nhất là mục đích của VVP nắm quyền không phải để làm giàu cá nhân hay gia đình, bạn bè, cứ suy từ dáng vẻ "gầy rộc" đi của ông sau vài năm tại vị trong hai nhiệm kỳ trước là hiểu, và đến nay mọi cáo buộc tham nhũng về VVP và Đảng của ông đều bay lên cung Trăng cả rồi, còn sót lại cũng chỉ chơi vơi trong không khí mà thôi... Vì vậy, ý tưởng 2) có vẻ logic hơn, và nó hứa hẹn mở ra một sứ mệnh Lịch sử mới nếu VVP thực hiện được với kết quả tốt các dự định mà hai NK trước đã đặt nền móng. Phải nhớ rằng vực dậy một Quốc gia từ tro tàn chiến tranh còn đơn giản hơn nhiều so với việc vực dậy nó từ đám tro tàn tư tưởng, từ tình trạng hỗn mang kỷ luật, trục lợi và từ một nền Kinh tế "bỏ thì thương-vương thì tội" trong vòng vây thèm muốn của thị trường cạnh tranh với những hàm răng sói mạnh mẽ chực chờ! Nước Nga luôn làm những chuyện thay đổi Thế giới cả khi thành công cũng như thất bại, và hy vọng rằng vòng quay LS lần này sau thất bại sẽ đến một thành công khác, có lẽ đó là Sứ Mệnh Lịch Sử mới của tương lai chăng, khởi đầu chỉ từ vài giọt nước mắt chân thành của một chính khách kỳ lạ bước ra từ cõi hỗn mang 12 năm trước? |
Bác minminixi đã có lời, em sợ mình trình độ và ngôn ngữ cũng có hạn thôi trước một vấn đề quá lớn. Nhưng vì đã để ý đến vấn đề này đã lâu rồi. Xuất phát điểm thì cũng thật tình cờ, trong quá trình tìm hiểu thêm về Putin cách đây vài năm thì thu thập được như vậy.
Ta cứ tạm hiểu sứ mệnh ở đây là Nga+Putin là chốt chặn cuối cùng chống sự thống trị toàn cầu của tập đoàn tài phiệt quốc tế. Hiện tại bọn chúng đang chiếm 50% sức mạnh thế giới. Ta sẽ dần dần dẫn ra từ chính câu nói của ông: Thập tự chinh. Về giọt nước mắt Putin, sẽ còn phải bàn luận nhiều. Dĩ nhiên là nước mắt thật chứ không phải "do gió", Putin rơi nước mắt vì vui mừng, vì kỳ vọng và vì sẽ lại được tiếp tục vô số vấn đề đang dang dở. Ta cũng thêm lý do để nói về sứ mệnh. Những việc mà Putin đang dang dở, thì cỡ khoảng gần 2 chục vấn đề đối nội, đó là những thứ làm các trí thức Nga nôn nóng thấy chán nản đánh mất ủng hộ. Việc trọng đại: Putin đang âm mưu biến Nga thành trung tâm tài chính, chỗ neo đậu của đồng tiền thời khủng hoảng thế giới. WW-1 đế chế Tây ban nha Bồ đào nha thành chú lùn. WW-2 đế chế Anh mặt trời không lặn thành chú lùn. WW-3 Mỹ chăng? Nga lên ngôi chăng? Chúng ta phải chờ. Trong cuộc diễu binh trên Quảng trường đỏ 2008 lúc mới nhậm chức, Medvedev cũng gần khóc. Đó là lúc quốc ca cất lên, cảm xúc dâng trong khóe mắt, ông đã phải 1 thoáng quay mặt đi tránh ống kính. |
Trích:
Đối nội quốc gia thì thông thường ai cũng biết là phải biến nội lực thành sức mạnh, nó rất phức tạp và muốn làm trong thời gian ngắn thì phải có các tư tưởng động lực như tư tưởng về CNCS đối với CCCP xưa, còn hiện nay thì ngoài tinh thần dân tộc chưa thấy nước Nga có gì mới lạ, ta phải chờ xem VVP sẽ dùng cái gì làm động lực mới, cùng là Dân tộc tính nhưng sao cho "thêm bạn bớt thù" bởi không thể tự tôn theo cách "dân tộc Đức thượng đẳng" được nữa... Chuyện chàng Gấu suýt khóc và VVP đêm qua có khác biệt lớn: một người kìm nén và một người tự nhiên, tâm trạng do vậy là hoàn toàn khác (nhưng không phải là đối lập hay xấu - tốt, chỉ đơn giản là khác). Mình chỉ ước sao có chính khách VN chực khóc chút chút cũng là quý lắm rồi! |
Chốt chặn, ngăn cản thì em có thể dẫn chứng được, căn cứ trên lịch sử và những diễn biến gần đây. Tuy nhiên Putin là người dễ thỏa hiệp nên chưa biết thế nào.
Đồng ý với bác ở chỗ: cần có hệ tư tưởng động lực, cũng như cần một "độc tài" mạnh và sáng suốt. Các nước châu Á, trừ Ấn độ đều phát triển theo kiểu độc tài khốc liệt như thế. Nói ngay, mọi hệ dân chủ đều có yếu kém cả. Nga hiện nay đáng tiếc lại không có hệ tư tưởng chủ đạo mà thừa nhận da dạng hệ tư tưởng Điều 13 khoản 2 hiến pháp qui định: Никакая идеология не может устанавливаться в качестве государственной или обязательной. (Không một hệ tư tưởng nào được lấy làm hệ tư tưởng của nhà nước hay hệ tư tưởng bắt buộc) |
Trích:
Những giọt nước mắt hiếm hoi kia đã có tác dụng: 3/4 ứng viên TT đã chúc mừng - tức công nhận - chiến thắng của VVP, một trong những lý do có lẽ - logic thôi - là họ đã thấy dấu hiệu chân thành của VVP, điểu mà một người có cái tâm với Quốc gia đều phải có (đừng nên nói các ứng viên đó không thật tâm vì nước Nga nhé, nếu không họ đã không thể ứng cử TT). Sớm hay muộn thì ông Diuganov cũng sẽ phải công nhận, bởi nếu chỉ mình ông phản đối thì chỉ làm ĐCS thêm mất chút uy tín cuối cùng: người CS thường hay tự coi chỉ có riêng mình mới xứng đáng hay duy nhất vì Đất nước, và thế thì càng tự chứng minh ngược lại. Một mình ông Diuganov thì sẽ không còn cửa để kiện cáo nữa! cũng may cho nước Nga đỡ mất thời gian. Làm đi thôi ông VVP ơi! Thời gian lần cuối là quý lắm! |
Rất mong các bác viết bài đóng góp. Một mình nhà em độc thoại sẽ buồn tẻ nhạt nhẽo!!!
Bây giờ là một câu chuyện giản dị, như bao người đã trải qua hay sắp trải qua. Câu chuyện này thực ra đã có ở trên pravda.ru hay ở đâu đó. Giả sử rằng bạn là công dân đáng kính của xứ phương tây văn minh (nhiều người mơ). Bạn có mọi quyền từ nhân quyền, vật quyền, dân chủ quyền, tự do quyền... (nhiều nơi thèm khát). Nhưng trong những quyền đó, quyền sống vẫn là lớn nhất. Bạn phải làm gì đó để sống, dĩ nhiên thế. Làm ông chủ chẳng hạn, lại còn đáng kính đáng mơ hơn nữa. Bạn có tài, có kiến thức và muốn làm ông chủ, muốn mở một doanh nghiệp cỡ 100 triệu đô. Nhà tài phiệt sẵn sàng giúp bạn. Tuyệt vời nhé, ở xứ khác thì khó lắm lắm. Ông ta sẵn lòng cho bạn vay, không kèm điều kiện gì cả, hơn khối các thể loại ODA, ODB mà xứ mù vật vã mới có được... ngoài lãi suất rất hữu nghị là 2% một năm. Giờ bạn đã là ông chủ của doanh nghiệp 100 triệu đô, cuộc đời như ở thiên đường, ít ra thì xứ mù tưởng là thế. Hết hạn 1 năm bạn phải trả tiền cho nhà tài phiệt, cả vốn lẫn lãi 102 triệu hay đến hạn một số năm cũng thế. Câu hỏi lấy đâu ra lãi để trả? cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Sự việc sẽ càng rắc rối nếu khách hàng của bạn cũng đi vay như bạn. Bạn không thể lấy ở đâu ra con số lẻ 02 triệu lãi ấy theo nghĩa đen vật lý bởi bạn không có cái máy in tiền. Rất giản dị! Vậy thì mọi nỗ lực của bạn là làm sao bán sản phẩm mà doanh nghiệp làm ra để có nhiều hơn 102 triệu. Có nghĩa là bạn bắt người khác trả hộ. 25 năm có lẽ là 1 đời công danh sự nghiệp, bạn phải trả 50 triệu và 50 năm là đời con bạn phải trả 100 triệu. Bằng trị giá cái doanh nghiệp bạn gây dựng, nhưng như đã nói bạn không thể nào lấy đâu ra số lãi 100 triệu, ngoại trừ lấy của người khác. Nhà tài phiệt xuất hiện, ông ta đề nghị sang tên cái doanh nghiệp của bạn và bạn không để lại gì cho con bạn, con bạn đã là đời làm thuê trên chính sự nghiệp bạn gây dựng. Lúc này mọi thứ quyền hào nhoáng bóng bẩy ở trên chẳng còn gì nữa cả. Ở những xứ bị coi là kém văn minh, có lẽ phần may mắn lại hơn xứ văn minh: họ (nhà nước) có máy in tiền nên sẽ trả hộ bạn bằng cách này hay cách khác. Nước Mỹ đánh mất cái máy in tiền FED, còn EU thì sao? Ai nắm cái máy in euro? Câu hỏi này cũng rất khó trả lời, chỉ thấy nước Đức nai lưng ra trả nợ hộ các nước khác mà người ta gọi là giải cứu. Ở đây có một hệ quả khác, vụ Vinashin đúng là ví dụ trên, thậm chí tồi tệ hơn nhiều ví dụ trên. Tuy nhiên cũng có thể có khía cạnh tích cực: đó là nếu cp không đi vay mà chỉ đơn giản là in tiền phát cho họ. Tiền đó không phát huy hiệu quả và thất thoát, nhưng vẫn nằm đâu đó trong dân và trong quan. Nó gây lạm phát vì tương đương tiền-hàng mất cân đối nhưng chưa đến nỗi bị nhà tài phiệt giở trò. Đó là khác biệt! |
России рано или поздно предстоит сокрушить глобального мародёра
Nga sớm hay muộn sẽ phải đập tan bọn trộm cướp toàn cầu
Совершенно ясно, что Европой … правят люди обезумевшие, что нет преступления, на которое они не были бы способны, нет такого количества крови, которое они побоялись бы пролить…. Известно, что мы, люди Союза Социалистических Советов, мешаем жить группе всемирных грабителей и убийц, и что они очень хотели бы часть нас уничтожить, часть обратить в рабство. Максим Горький Maxim Gorky (1868-1936) viết: Tuyệt đối rõ ràng rằng châu Âu… bị thống trị bởi những kẻ điên khùng mà chẳng có tội ác nào chúng không dám làm, chẳng có bao nhiêu máu mà chúng sợ phải đổ… Rõ ràng là chúng ta, những con người của Liên Bang XHCN Xô Viết đang ngăn cản sự sống của băng nhóm trộm cướp và sát nhân quốc tế, và do đó mà chúng rất thèm muốn chúng ta bị phá tan thành từng mảnh, từng mảnh để trở thành nô lệ. Không nghi ngờ gì, câu hỏi chính yếu của cộng đồng quốc tế trong những năm tới: Ai sẽ thắng ai? Văn minh phương Tây đã quyết làm tan rã Liên bang Nga đến cùng và cùng với đó thế giới Nga, một nền văn minh lâu đời nhất hành tinh, hoặc Nga sẽ phải có khả năng để tìm ra câu trả lời đối với kế hoạch kiến trúc "Trật tự thế giới mới - New World Order" và vô hiệu hóa các lực lượng phương Tây, những kẻ đang hăm hở tiếp tục phá hoại hành tinh và nhân loại. Nga và thế giới Sla-vơ đã chống phương Tây trong hơn 1000 năm. Toàn bộ lịch sử phương Tây là biên niên sử cướp bóc, giết người, bạo lực, trộm cướp, là ‘săn đuổi” các bộ tộc bộ lạc, dân cư và các nền văn minh. Đó là nền văn minh tồn tại dựa vào ăn bám thành quả lao động. Trung tâm quyền lực đầu tiên ở phương Tây chính là Catholic Rome hay Vatican. Trải qua quá trình hơn một ngàn năm xâm chiếm châu Âu, đã có biết bao nhiêu dân tộc và nền văn hóa bị phá hủy hoàn toàn, bị biến thành nô lệ, bị mất ý thức của mình theo nhiều cách khác nhau. Vì thế, “đạo quân Thập tự chinh” đã hầu như phá hủy hoàn toàn nền văn minh Nga - Sla-vơ ở Trung Âu. Mặc dù không thể nói các cuộc chiến tàn bạo và đẫm máu kéo dài vài thế kỷ là dễ dàng. Liên minh đông đảo các bộ tộc kiêu hãnh đã bị tiêu diệt, các bộ phận dân cư bị đồng hóa, một phần chạy về phía đông, hàng chục trong số hàng trăm thành phố Sla-vơ bị đổi tên, bị áp đặt văn hóa phương Tây. Vatican đã khuất phục cả nền văn minh Celtic, mà ngày nay Bretons, Scots là những mảnh vụn của một nền văn hóa giàu có còn sót lại. Arkona bài #4, nghệ sĩ Nga đã, sáng tác bản trường ca saga «На моей Земле» (trên đất tôi), kể về cuộc hành trình di cư về phía Đông của người Sla-vơ trên lục địa châu Âu trong giai đoạn lịch sử này: http://youtu.be/7QClpr7qQ0o Sau khi khuất phục tây, trung tâm, bắc Âu và một phần phía nam, Rome tấn công đất Nga. Nhưng bị đánh bại, Alexander Jaroslavovich Nevsky đã nện cho đạo quân thập tự chinh Thụy Điển và Đức nhừ tử. Dường như vì thế mà, có một số nhân vật trong văn hóa Nga rất bị căm ghét. Kể từ đó, thập kỷ này đến thập kỷ khác, thế kỷ này sang thế kỷ khác đất Nga lại càng cương quyết chống phương Tây. Khi đã không thể tiến về phía đông, thì những kẻ ăn bám bắt đầu tìm kiếm nạn nhân mới, và chúng đã tìm thấy. Thời kỳ khai phá địa lý cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 bắt đầu. Dẫn đến cướp bóc và hủy hoại hàng chục nền văn minh, văn hóa, các bộ tộc và dân tộc châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Hàng chục triệu người bị biến thành nô lệ, cả hành tinh bị biến thành “bãi săn” nô lệ. Ông chủ của phương Tây đã trở nên cực kỳ giàu có và đã có thể cho phép mình tiến vào “thế giới tư bản” khi đã có “tích lũy tư bản nguyên thủy”. Cũng trong thời kỳ này một tôn giáo mới, hay chính xác hơn là tôn giáo giả mạo ra đời ở phương Tây. Nó thành chỗ dựa cho tâm lý “đi săn” của loài thú ăn thịt, của những kẻ buôn nô lệ, sở hữu nô lệ, những kẻ cho vay và những kẻ đầu cơ. Đó là đạo Tin Lành, một thứ cổ súy cho thói tham lam và nói những nhà giàu là do được “Chúa chọn”. Nó thực sự chia rẽ dân chúng ra thành kẻ “thành công” được chúa chọn và kẻ “thất bại” nghèo đói, kẻ nghèo cần phải ngoan ngoãn và tuân lệnh tầng lớp ông chủ bởi ý chúa muốn thế. Hơn nữa, Tin Lành dựa vào Kinh Cựu Ước nhiều hơn chứ không phải Phúc Âm, cho nên từ sự hung bạo cổ lỗ cho đến đa thần, hạ đẳng lại được khuyến khích bởi “sách thánh”. Tin Lành trở thành công cụ tuyệt hảo đối với một hành tinh nô lệ và bị cướp bóc, điều mà ngay cả Thiên Chúa giáo với “đặc ân” tự do cướp bóc, giết chóc cũng không thể làm Chủ nhân New World Order hoàn toàn thỏa mãn. Sau khi đã thay thế hệ tư tưởng, chủ nhân phương Tây cũng thay thế “trung tâm cai trị”, tức là London khi đó. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trung tâm quyền lực mới của “thập tự chinh” là Washington và New York. Vì lý do này mà các ông chủ phương Tây thường được gọi tên là Anglo-Saxons. Đại Anh và Mỹ nằm ở vị trí dẫn đầu, các bộ tộc già cũ bị coi là hạ đẳng là Rome và German. Cho đến đầu thế kỷ 20, phương Tây đã hầu như thống trị toàn bộ thế giới, 2 đế chế Persia và Ottoman trở thành nửa thuộc địa, phần khác là thế giới Hồi giáo chuyển thành thuộc địa của phương Tây. Chúng cũng đã hoàn toàn chế ngự Ấn Độ, Trung Quốc trở thành nửa thuộc địa và chìm ngập trong thuốc phiện. Nhật Bản là “đối tác” phụ thuộc. Châu Phi da đen bị nô dịch hóa toàn bộ. Các nước Nam Mỹ cũng bị lệ thuộc kinh tế, tài chính và văn hóa, giới cai trị ở đây chỉ là con rối của phương Tây. Đó là lúc chủ nô phương Tây bắt đầu sử dụng một lược đồ “Kim tự tháp tài chính - Ponzi scheme”, một hình thức nô dịch tín dụng, tài chính-hàng hóa áp dụng cho toàn thể thế giới. Phương pháp hoàn toàn bạo lực mà những kẻ chinh phạt khổng lồ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là nạn nhân điển hình đã bị bóc và lột cho đến khi thành chú lùn trên mặt đất. Dù vậy, chủ nô không nhất thiết phải xóa đi khỏi mặt đất cả một dân tộc hay một quốc gia, ví như hãy đọc “Trái tim Nam Mỹ đã phải chết như thế nào" về cuộc tiêu diệt nền độc lập Paraguay. Nô lệ bị cai trị trực tiếp bằng gông xiềng và và đội quân cai nô đã được thay thế bằng mạng lưới tài chính, cái “kim tự tháp tài chính” này được cầm đầu bởi những nhà băng xưa cũ ở châu Âu và FED Mỹ, đi kèm với nó là giới thiệu những nguyên tắc đạo đức xã hội thích hợp – với ưu tiên của “tiểu thể vàng”. Hậu quả là hầu như toàn bộ dân chúng hành tinh đã sống và đang sống mà không hề biết rằng mỗi cái cổ nô lệ, từng cái một đã được giành chỗ rất rõ ràng trong một cái “trại tập trung” toàn cầu. Dân tộc duy nhất trên thế giới chưa bị hủy hoại và chinh phục hoàn toàn – là Nga. Mọi nỗ lực để phá hủy Nga đã dẫn đến hậu quả ngược lại – kẻ thù sợ hãi bị đánh bại hoàn toàn, lãnh thổ Nga kiểm soát lại được mở rộng. Đế chế xâm lược Thụy Điển thành quốc gia trung lập và đã phải trả lại Nga một phần biển Ban-tích và Phần Lan. Ba Lan liên tục bị xâm lược và cuối cùng phần lớn lãnh thổ nhập vào đế chế Nga. Đế chế Ottoman bị điều khiển bởi những khát vọng đế quốc và “Hội đồng” bạn bè phương Tây đã tấn công Nga rồi thất bại và đánh mất Crimea, bắc biển Đen, một phần đáng kể Kavkaz, phải rời bỏ Balkans. Sau WW-II, hệ thống thuộc địa tan rã, hàng chục quốc gia độc lập hay nằm trong ảnh hưởng của Liên Xô. Nhưng phương Tây không từ bỏ nỗ lực phá hoại Nga, chúng kết hợp cả trực tiếp tấn công quân sự với các hoạt động phá hoại đặc biệt và “đạo quân thứ 5 - fifth column”. Mỹ và Anh chu cấp tài chính vũ trang cho Nhật Bản, Tokyo bị kích động chống Nga. Anh-Mỹ là 2 kẻ tổ chức cả WW-I và WW-II, cũng là kẻ tổ chức tất cả các cuộc cách mạng Nga từ cuộc cách mạng 1905-1907, 1917 cho đến 1991. Phương tây đã dường như bẻ gãy nước Nga 2 lần trong thế kỷ 20. Người Nga đã phải chịu đựng mất mát to lớn con người và vật chất. Chỉ cần nói thế này là đủ: Nga đầu thế kỷ 20 có dân số chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ, nếu không bị diệt chủng trong thế kỷ trước, thì dân số hiện nay sẽ ở mức nửa tỷ người. Cướp bóc, mà phương Tây tiến hành ở Nga sau 1917 và 1991, đã tồn tại kéo dài mấy chục năm. Bây giờ hoàn cảnh đã lặp lại, xã hội phương Tây đang quằn quại trong khủng hoảng hệ thống (không thể ăn bám mãi), hoặc chúng cần nạn nhân mới. Iraq, Libya, Syria, hay Iran, chỉ là những nạn nhân khởi đầu. Các nạn nhân đó không thể giúp thế giới phương Tây vượt qua khủng hoảng. Chỉ có người Nga và đất Nga với nguồn tài nguyên giàu có mới có thể kéo dài sự tồn tại của những kẻ hút máu. Không gian rộng lớn và tài nguyên của Bắc Cực, Siberia và Viễn Đông có thể bị biến thành thuộc địa của “phương Tây hoang dã”. Hoàng triệu người Nga, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, những “bộ não” có thể ngập chìm trong máu để duy trì sự tồn tại của phương Tây đổ nát. Đừng quên những kẻ giàu, luôn luôn muốn sống đẹp và sống thọ. Và một lần nữa, phương Tây được “những con quỉ” (бесы - từ của Dostoevsky) giúp sức theo cách smerdyakovsky (tên một nhân vật con hoang, nghĩa là ‘bốc mùi’, làm đầy tớ trong nhà Karamazov trong tác phẩm “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevsky), mà trong đó, thiên tài Nga Feodor Dostoevsky đã mô tả tính cách một cách xuất sắc: ít học thức, nhưng cũng đủ để làm người có học, để làm người có học chỉ cần ít nhất nhu nhược và vẻ bề ngoài, với tất cả thói quen của mình, với thành kiến mới, với bộ quần áo mới - ở chỗ này luôn luôn và khởi đầu bằng chính thực tế họ khinh rẻ hoàn cảnh thấp kém của mình, họ hàng của mình và thậm chí tín ngưỡng của họ, đôi khi thậm chí là căm thù (Nhật ký của nhà văn). Hàng thế kỷ, như là bệnh dịch, xuất hiện ở Nga một nhóm người, những kẻ sẵn lòng giúp phương Tây hủy hoại, phản bội đất Nga. Những kẻ đó, “cộng tác viên” Nga của phương Tây, là “đội quân thứ 5” đã tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau với những cái tên khác nhau: “Hội đồng 7 Boyars”, "Mazepians", "Hội tam điểm", "Vlasov", “Chỉ huy trưởng cải tổ”. Nhưng trên thực tế, tất cả chúng là giống nhau, bị dẫn dắt bởi lợi lộc, lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm hẹp hòi ích kỷ, và ghét nước Nga ("the country", "Raschke."). Đối với chúng con tàu chậm chạp, nhưng mang tên «Русь», được định rõ bởi người cầm lái đất nước Putin, còn tồi tệ hơn cái chết. Nước Nga một lần nữa chậm rãi nhưng chắc chắn trở nên mạnh mẽ hơn, cả thế giới đã nghe giọng nước Nga qua các sự kiện như Libya and Syria. Nước Nga đã hồi sinh, và chúng ta chờ đợi một trận đánh mới, hoặc chúng ta đánh chúng, hoặc chúng đánh chúng ta… Tham khảo: Samsonov Alexander http://topwar.ru/11598-rossii-rano-i...-marodera.html http://oko-planet.su/first/103715-ro...-marodera.html |
Capitalism: A Ghost Story
Ta tiếp tục với câu nói của Путин: «Эта операция – бессовестный крестовый поход»; "Hành động này - Cuộc thập tự chinh đáng xấu hổ"; Và sau khi "gông xiềng và và đội quân cai nô đã được thay thế bằng mạng lưới tài chính". Đạo quân thập tự chinh đã làm cho bộ mặt Ấn Độ, một thuộc địa cũ của chúng ngày nay như thế nào. Sau đó trở về cố quốc của đạo quân này với một bài mà media phương Tây chẳng bao giờ dám đăng: KẾT THÚC CỦA MỘT HUYỀN THOẠI: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
Global Research ( http://www.globalresearch.ca/ ) là nơi tập trung rất nhiều những cây viết xuất sắc trong lĩnh vực chính trị, quan hệ quốc tế. Xin trích trong đó một bài của tác giả Arundhati Roy có đầu đề: Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma Đó là nhà hay cái chuồng? Một ngôi đền Ấn Độ mới, hoặc một cái nhà kho cho những bóng ma của nó? Kể từ khi Antilla đến Altamont Road ở Mumbai, điều huyền bí chứa chất và mối đe dọa thầm lặng, mọi thứ đã không như vậy. "Đây rồi", người bạn đã đưa tôi đến đây nói, "Hãy lưu tâm đến vua mới của chúng ta.” Antilla thuộc về người giàu có nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. Tôi đã đọc về Antilla, cư gia đắt đỏ nhất từng được xây dựng, tòa nhà 27 tầng, có 3 sân đỗ trực thăng, 9 thang máy, vườn treo, sàn nhảy, phòng thời tiết, phòng tập thể dục, bãi đỗ xe 6 tầng, và 600 nhân viên phục vụ. Không có gì giúp tôi tưởng tượng trước thảm cỏ thẳng đứng – cao vút lên, bức tường cao 27 tầng cỏ gắn bằng một khung kim loại rộng lớn. Cây cỏ đã bị khô thành từng đám, những miếng nhỏ đã rơi ra khỏi khung đỡ chữ nhật ngay ngắn. Rõ ràng là Trickledown đã không hoạt động. Nhưng Gush-Up chắc chắn còn (Gush-Up và Trickledown, vắn tắt là Dưới-lên; Trên xuống; 2 lý thuyết kinh tế có nhiều tương phản) . Đó là lý do tại sao trong một quốc gia có 1,2 tỷ người, tài sản của 100 người giàu nhất Ấn Độ chiếm tương đương một phần tư GDP. Lý lẽ trên đường phố (và trong New York Times) là, hoặc ít nhất là, sau tất cả các nỗ lực và làm vườn, các Ambanis không sống trong Antilla. Không ai biết chắc chắn. Mọi người vẫn thì thầm về những bóng ma và những câu chuyện kém may mắn, Vaastu và Phong Thủy. Có lẽ đó là tất cả lỗi lầm của Karl Marx. (Tất cả đáng nguyền rủa). Chủ nghĩa tư bản, như ông ta nói, "đã làm trò ảo thuật cho hiện lên những phương tiện sản xuất khổng lồ và đổi lại, cũng giống như mụ phù thủy, đã không còn có thể kiểm soát quyền lực của thế giới âm ty, những kẻ mà mụ ta đã gọi ra bởi phép thuật". Ở Ấn Độ, có 300 triệu người trong chúng ta thuộc về tầng lớp trung lưu mới “hậu cải tổ” IMF – thị trường – sống bên cạnh những linh hồn của thế giới khác, những bóng ma của con sông chết, giếng nước khô cạn, núi trọc và rừng trống, những bóng ma của 250 ngàn nông dân nợ nần đã tự tử, và 800 triệu người bị bần cùng hóa, bị tước đoạt để lót đường cho chúng ta, và những người sống sót với dưới 20 rupee mỗi ngày (gần 0.4 USD). Cá nhân Mukesh Ambani trị giá $20 tỷ. Nắm giữ cổ phần kiểm soát trong Reliance Industries TNHH (RIL), là công ty với vốn hóa thị trường 47 tỷ USD, có lợi nhuận kinh doanh toàn cầu bao gồm hóa dầu, dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, sợi polyester, khu đặc quyền kinh tế, bán lẻ thực phẩm tươi, trường học, nghiên cứu khoa học sự sống và dịch vụ lưu trữ tế bào gốc. RIL gần đây đã mua 95% cổ phần trong Infotel, một tập đoàn truyền thông kiểm soát 27 kênh tin tức và các kênh giải trí TV, bao gồm cả CNN-IBN, IBN Live, CNBC, IBN Lokmat, và ETV với gần như mọi ngôn ngữ trong vùng. Infotel sở hữu giấy phép duy nhất toàn quốc về băng thông rộng 4G, "đường ống dẫn thông tin" tốc độ cao, nếu công nghệ này hoạt động, có thể là tương lai của trao đổi thông tin. Ambani cũng sở hữu một đội bóng cricket. http://www.informationclearinghouse....a_20120326.jpg RIL là một trong số ít các tập đoàn vận hành quốc gia Ấn Độ. Một số những tập đoàn khác là Tatas, Jindals, Vedanta, Mittals, Infosys, Essar và Reliance (ADAG), thuộc sở hữu của Mukesh, anh em của Anil. Dòng họ này vì lớn mạnh nên đã tràn ra khắp châu Âu, Trung Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Mạng lưới của họ được trải rộng, họ vô hình và nhìn thấy được, trên mặt đất cũng như dưới lòng đất. Tatas, ví dụ, điều hành hơn 100 công ty ở 80 quốc gia. Họ là một trong những công ty năng lượng lâu đời nhất và lớn nhất khu vực tư nhân của Ấn Độ. Họ sở hữu mỏ, khu khai thác khí đốt, nhà máy thép, điện thoại, truyền hình cáp và mạng băng thông rộng, và điều hành toàn bộ đô thị, quận huyện. Họ sản xuất xe hơi và xe tải, sở hữu chuỗi khách sạn Taj, thương hiệu Jaguar, Land Rover, Daewoo, Tetley Tea, một nhà xuất bản, một chuỗi các cửa hàng sách, một thương hiệu lớn muối iốt và gã khổng lồ mỹ phẩm Lakme. Khẩu hiệu quảng cáo của họ một cách dễ dàng có thể là: Bạn không thể sống thiếu chúng tôi. Theo các quy luật của Gush-Up, bạn có nhiều, bạn có thể có nhiều hơn. Thời đại của tư nhân hóa mọi thứ đã tạo ra nền kinh tế Ấn Độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, giống như bất kỳ thuộc địa kiểu cũ đáng giá nào, một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của nó là khoáng sản. Siêu tập đoàn mới của Ấn Độ như Tatas, Jindals, Essar, Reliance, Sterlite là những tổ chức điều khiển cơ bắp của mình theo cách để kẻ đứng đầu vòi được phun đầy tiền chiết xuất từ sâu trong lòng đất. Đó là một giấc mơ trở thành hiện thực cho các doanh nhân - có thể bán những gì họ không có để mua. Nguồn chính khác của sự giàu có của công ty đến từ ngân hàng-đất. Cũng như cả thế giới này, điểm yếu, chính quyền địa phương tham nhũng đã giúp đỡ những gã môi giới Wall Street, tập đoàn kinh doanh-nông nghiệp và tỷ phú Trung Quốc để tích lũy những vùng đất khổng lồ. Tại Ấn Độ, đất của hàng triệu người đang bị thu gom để giao cho các tập đoàn tư nhân vì “lợi ích công cộng" vì các khu đặc quyền kinh tế, vì các dự án cơ sở hạ tầng, đập, đường cao tốc, nhà máy sản xuất xe hơi, các trung tâm hóa chất và đường đua công thức 1. (Quyền bất khả xâm phạm tài sản các nhân không bao giờ áp dụng cho người nghèo). Như mọi khi, người dân địa phương được hứa hẹn rằng việc chuyển đổi đất đai của họ và tước đoạt quyền sở hữu tất cả mọi thứ họ từng có là một phần thực sự của thế hệ làm thuê. Nhưng giờ đây họ biết liên hệ giữa tăng trưởng GDP và việc làm là một hoang đường. Sau 20 năm "tăng trưởng", 60% lực lượng lao động của Ấn Độ là tự làm, 90% làm việc trong khu vực không có tổ chức. Hậu Độc lập, đến thập niên 80, các phong trào quần chúng, từ Naxalites đến Sampoorna Kranti của Jayaprakash Narayan, đấu tranh cho cải cách ruộng đất, để phân phối lại đất đai của địa chủ phong kiến cho nông dân không có đất. Ngày nay bất kỳ nói chuyện phân phối lại đất hoặc tài sản sẽ bị coi không chỉ là phi dân chủ, mà còn bị coi là kẻ điên. Ngay cả các phong trào chiến đấu nhất cũng đã bị giảm sút thành một cuộc đấu tranh để giữ lại ít đất đai mà người dân vẫn còn. Hàng triệu người không có đất, phần lớn trong số họ là Dalits (có địa vị) và Adivasis (bản xứ hỗn tạp không địa vị), bị đuổi ra khỏi làng của họ, sống trong các khu ổ chuột và các khu kiều dân dựng lều ở các thị trấn nhỏ, các thành phố lớn, điều đó không thể hình dung ra ngay cả ở các bài thuyết trình cấp tiến. Như Gush-Up tập trung sự giàu có trên đầu chóp của cái đinh sáng giá, mà trên đó các nhà tỷ phú của chúng ta múa may xoay tròn, làn sóng thủy triều đổ vỡ tiền bạc thông qua các tổ chức dân chủ - các tòa án, Quốc hội cũng như phương tiện truyền thông, đã dàn xếp mạnh khả năng hoạt động của họ theo những cách họ muốn. Các lễ hội càng ồn ào huyên náo hơn xung quanh các cuộc bầu cử, chúng ta càng không chắc chắn là nền dân chủ thực sự tồn tại. Mỗi vụ tai tiếng tham nhũng mới nổi lên ở Ấn Độ làm cho kẻ cuối cùng thuần hóa dễ bảo. Mùa hè năm 2011, vụ bê bối tần số 2G đã đổ vợ toàn diện. Chúng ta đã thấy được rằng các tập đoàn đã bòn rút 40 tỷ USD tiền công quỹ bằng cách đặt ra một linh hồn thân thiện với chức vụ bộ trưởng Liên minh viễn thông, người này đặt giá quá thấp cho các giấy phép viễn thông 2G và phân chia bất hợp pháp chúng cho các bạn bè của mình. Các cuộc điện thoại ghi âm bị rò rỉ cho báo chí cho thấy mạng lưới các nhà công nghiệp và các công ty bình phong, các bộ trưởng, các phóng viên lâu năm và các nguồn truyền hình tin cậy đã can dự vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho vụ ăn cướp giữa ánh sáng ban ngày như thế nào. Các cuộn băng ghi âm là một bằng chứng xác nhận chuẩn đoán rằng những kẻ này đã làm việc đó từ lâu. Tư nhân hóa và bán bất hợp pháp tần số viễn thông không bao gồm chiến tranh, di dời và tàn phá sinh thái. Tư nhân hóa núi, sông và rừng của Ấn Độ đang tiến hành. Có lẽ vì nó không có sự rõ ràng đơn giản minh bạch, như bê bối tài chính đã rõ, hoặc có lẽ vì nó được tất cả thực hiện dưới cái tên vì sự "tiến bộ" của Ấn Độ, nó không có cùng sự cộng hưởng với tầng lớp trung lưu. Năm 2005, chính quyền các bang Chhattisgarh, Orissa và Jharkhand đã ký hàng trăm Bản ghi nhớ thỏa thuận (MOU) với một số tập đoàn tư nhân chuyển hơn nghìn tỷ đô la mỏ bauxite, quặng sắt và khoáng chất với giá rẻ mạt, bất chấp logic thiên lệch của thị trường tự do. (Thuế tài nguyên nộp cho chính phủ dao động trong khoảng 0,5% và 7%.) Sau khi chính phủ Chhattisgarh ký Bản ghi nhớ cho việc xây dựng nhà máy thép liên hợp ở Bastar với Tata Steel, thì Judum Salwa - lực lượng dân phòng đã khai mạc. Chính phủ nói đó là cuộc nổi dậy tự phát của người dân địa phương, những người đã chán ngấy bị “trấn áp” bởi du kích Mao-ít trong rừng. Hóa ra đó là hoạt động dọn mặt bằng, do chính phủ và các chi nhánh của tổ hợp khoáng sản tài trợ và vũ trang. Ở các bang khác, lực lượng dân quân tương tự được lập ra, với những cái tên khác. Thủ tướng thông báo, Mao-ít là "thách thức an ninh lớn nhất ở Ấn Độ". Đó là một tuyên bố chiến tranh. Ngày 2 tháng 1 năm 2006, ở Kalinganagar, gần bang Orissa, có lẽ là dấu hiệu mức độ nghiêm trọng chủ ý của chính phủ, 10 tiểu đội cảnh sát đến công trường một nhà máy thép Tata khác và bắn vào dân làng, những người đã tụ tập ở đó để phản đối những gì họ cảm thấy là không đủ trong bồi thường đất đai của họ. Mười ba người, trong đó có một cảnh sát đã thiệt mạng và 37 người bị thương. Sáu năm đã trôi qua và mặc dù các ngôi làng vẫn còn bị bao vây bởi cảnh sát vũ trang, các cuộc biểu tình đã không chết. Trong khi đó ở Chhattisgarh, dân quân Judum Salwa đốt phá, hãm hiếp và sát hại theo cách của chúng hàng trăm làng rừng, tản cư 600 làng, bắt bớ 50 ngàn người vào trại cảnh sát và 350 ngàn người khác buộc phải chạy trốn. Thống đốc bang thông báo rằng những người không ra khỏi rừng bị coi là 'khủng bố theo chủ nghĩa Mao'. Bằng cách này, các bộ phận của Ấn Độ hiện đại, đang cày cấy trên các cánh đồng và đang gieo hạt đã bị định nghĩa là hoạt động khủng bố. Cuối cùng, sự tàn bạo của Salwa Judum chỉ thành công trong việc tăng cường sức phản kháng và làm sinh sôi nảy nở hàng ngũ đội quân du kích Mao-ít. Năm 2009, chính phủ thông báo cái gọi là “Hoạt động truy lùng xanh”. Hai mươi ngàn binh sĩ bán quân sự đã được triển khai trên khắp Chhattisgarh, Orissa, Jharkhand và Tây Bengal. Sau ba năm "xung đột cường độ thấp" đã không chế ngự được quân nổi dậy “tràn ngập” rừng, chính quyền trung ương đã tuyên bố rằng họ sẽ triển khai quân đội Ấn Độ và lực lượng không quân. Tại Ấn Độ, chúng ta không gọi đó là cuộc chiến tranh. Chúng ta gọi nó là "tạo ra môi trường đầu tư tốt". Hàng ngàn binh sĩ đã được chuyển đến. Một trụ sở lữ đoàn và căn cứ không quân đã sẵn sàng. Một trong những quân đội lớn nhất trên thế giới đang chuẩn bị các Điều khoản của Cam kết "bảo vệ" để chống lại những người nghèo nhất, đói nhất, suy dinh dưỡng nhất trên thế giới. Chúng ta chỉ đang chờ đợi tuyên bố của Lực lượng vũ trang đặc biệt (AFSPA), theo đó sẽ trao cho quân đội sự miễn trừ hợp pháp và quyền pháp lý để giết người dựa trên "tình nghi". Xét theo hàng chục ngàn ngôi mộ không đánh dấu và các dàn hỏa táng vô danh ở Kashmir, Manipur và Nagaland, tự nó đã cho thấy quân đội thực sự rất đáng ngờ. Trong khi chuẩn bị cho việc triển khai, những khu rừng ở trung tâm Ấn Độ vẫn tiếp tục bị vây hãm, với dân làng sợ hãi khi đi ra ngoài, hoặc đi đến chợ tìm thức ăn hoặc thuốc men. Hàng trăm người đã bị giam cầm, bị buộc tội là Mao-ít theo luật lệ hà khắc, phi dân chủ. Nhà tù với những người Adivasi đông đúc, rất nhiều người trong số họ không có ý niệm tội ác của họ là gì. Gần đây, Soni Sori, một giáo viên tiểu học Adivasi từ Bastar, đã bị bắt và bị nhục hình ở nơi tạm giam của cảnh sát. Các viên đá bị nhét vào âm đạo để Soni Sori phải thú nhận rằng cô là một người đưa thư của Mao-ít. Các viên đá đã được lấy ra từ cơ thể của cô trong một bệnh viện ở Calcutta, nơi mà sau khi bị dân chúng phản đối kịch liệt, Soni Sori đã được gửi đến để kiểm tra y tế. Tại buổi điều trần của Toà án tối cao gần đây, các nhà hoạt động trình với các thẩm phán các hòn đá trong một túi nhựa. Kết quả duy nhất sau những nỗ lực của họ là Soni Sori vẫn ở trong tù trong khi Ankit Garg, tên sĩ quan cảnh sát đã tiến hành thẩm vấn Soni Sori, được trao tặng Huân chương Cảnh sát của Tổng thống vì lòng can đảm vào ngày Cộng hòa. Chúng ta nghe về các qui trình sinh thái và xã hội của Ấn Độ chỉ vì sự nổi dậy của quần chúng và chiến tranh. Chính phủ không đưa ra chút thông tin nào. Tất cả các Bản ghi nhớ là bí mật. Một số phần của truyền thông đã làm những gì họ có thể để đưa đến sự chú ý của công chúng với những gì đang xảy ra ở miền Trung Ấn Độ. Tuy nhiên, hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng Ấn Độ dễ bị tổn hại bởi thực tế rằng phần lớn doanh thu của họ đến từ quảng cáo của các công ty. Nếu đó là chưa đủ tồi tệ, thì ranh giới giữa các phương tiện truyền thông và các doanh nghiệp lớn đã bắt đầu lu mờ đến mức nguy hiểm. Như chúng ta đã thấy, RIL thực tế sở hữu 27 kênh truyền hình. Nhưng ngược lại cũng đúng. Một số nhà truyền thông có lợi ích làm ăn và hợp tác. Ví dụ, một trong những tờ nhật báo lớn trong vùng là Dainik Bhaskar (và nó chỉ là một ví dụ) có 17,5 triệu độc giả với bốn ngôn ngữ, kể cả tiếng Anh và tiếng Hin-di trên 13 bang. RIL cũng sở hữu 69 công ty với lợi ích trong lĩnh vực khai thác mỏ, máy phát điện, bất động sản và dệt may. Một bản kiến nghị gần đây được nộp lên Tòa án cấp cao Chhattisgarh cáo buộc công ty DB Power Ltd (một của nhóm các công ty) cáo buộc sử dụng "các biện pháp bị thao túng, bất hợp pháp và có chủ ý” thông qua các tờ báo mà công ty sở hữu gây ảnh hưởng đến kết quả cuộc thăm dò ý kiến dân chúng về việc mở mỏ than. Có hay không những nỗ lực gây ảnh hưởng đến kết quả ở đây là không thích hợp. Mấu chốt là ở chỗ nhà truyền thông đang ở vào vị trí để làm điều như vậy. Họ có quyền lực để làm như vậy. Pháp luật đất đai cho phép họ được ở vào vị trí tự mình can dự vào các xung đột lợi ích nghiêm trọng. Có những phần khác của đất nước mà ở đó tin tức không đến được. Ở bang dân cư thưa thớt nhưng quân phiệt ở miền đông bắc Arunachal Pradesh, 168 con đập lớn đang được xây dựng, hầu hết trong số đó là sở hữu tư nhân. Những con đập cao sẽ nhấn chìm toàn bộ các huyện đang được xây dựng ở Manipur và Kashmir, cả hai nơi đang ở trong trạng thái quân phiệt hóa cao độ, nơi mọi người có thể bị giết chết chỉ vì đơn thuần là phản đối cắt giảm điện. (Điều đó đã xảy ra một vài tuần trước đây tại Kashmir.) Làm thế nào để họ dừng xây đập? Con đập hoang tưởng nhất của tất cả các đập là Kalpasar ở Gujarat. Nó đang được lên kế hoạch như một con đập dài 34 km trên vịnh Khambhat với một đường cao tốc 10 làn xe và một đường xe lửa chạy trên đỉnh của nó. Bằng cách giữ không cho nước biển chảy ra, ý tưởng là để tạo ra một hồ chứa nước ngọt từ các con sông của Gujarat. (Không quan tâm đến các con sông này vì đã được xây đập để chặn dòng và ô nhiễm hóa chất thải). Đập Kalpasar, sẽ làm dâng cao mực nước biển và thay đổi hệ sinh thái hàng trăm km bờ biển, đã bị bác bỏ như là một ý tưởng ngu ngốc 10 năm trước đây. Bỗng nhiên nó lại quay lại để cung cấp nước cho khu vực đầu tư đặc biệt Dholera (SIR), một trong những vùng căng thẳng về nước nhất không chỉ ở Ấn Độ, mà xét đến cả thế giới. SIR là một cái tên khác của SEZ, tập đoàn xã hội không tưởng tự quản "khu công nghiệp, quận và các siêu đô thị". Dholera SIR sẽ được kết nối với các thành phố khác của Gujarat bởi một mạng lưới đường cao tốc 10 làn xe. Tiền cho tất cả những điều này sẽ đến từ đâu? Trong tháng 1 năm 2011, ở Mahatma Mandir, Thống đốc bang Gujarat là Narendra Modi chủ trì cuộc họp của 10 ngàn danh nhân quốc tế đến từ 100 quốc gia. Theo đưa tin của giới truyền thông, họ cam kết đầu tư 450 tỷ USD vào Gujarat. Cuộc họp được lên lịch vào đầu năm kỷ niệm 10 năm vụ thảm sát 2000 người Hồi giáo trong tháng 2 và 3 năm 2002. Modi bị cáo buộc không chỉ làm ngơ mà còn tích cực tiếp tay cho việc giết hại người. Dân chúng chứng kiến những người thân yêu của họ bị hãm hiếp, bị moi ruột và bị thiêu sống, hàng chục ngàn người đã bị đuổi khỏi nhà của họ, vẫn chờ đợi một hành động hướng tới công lý. Tuy nhiên, Modi đã giao dịch khi khoác khăn nghệ tây và trán đỏ son để thỏa mãn thương vụ sắc nét, và hy vọng rằng khoản đầu tư 450 tỷ USD sẽ hoạt động như tiền máu, và xuôi chèo mát mái. Có lẽ nó sẽ xuôi chèo mát mái. Thương vụ lớn sẽ chống lưng cho ông ta thật nhiệt tình. Đại số học của công lý bất tận tác động theo những cách bí ẩn. Dholera SIR, hay đặc khu kinh tế Dholera cũng chỉ là một trong những con búp bê Nga Matryoshka nhỏ hơn, một con nằm bên trong xã hội không tưởng đã được lên kế hoạch. Nó sẽ được kết nối với Hành lang công nghiệp Delhi Mumbai (DMIC), một hành lang dài 1500 km và rộng 300 km, với 9 khu công nghiệp lớn, một tuyến đường vận chuyển hàng hóa cao tốc, 3 cảng biển và 6 sân bay, đường cao tốc 6 làn xe không giao cắt và một nhà máy điện 4000 MW. DMIC là một liên doanh hợp tác giữa hai chính phủ của Ấn Độ và Nhật Bản, và các đối tác tiềm năng của họ, và đã được đề xuất bởi Viện toàn cầu McKinsey. Trang web DMIC nói rằng khoảng 180 triệu người sẽ bị "ảnh hưởng" bởi dự án. Chính xác như thế nào, thì họ không nói. Họ dự tính xây dựng một số thành phố mới và ước tính rằng dân số trong khu vực sẽ tăng từ hiện tại 231 triệu đến 314 triệu vào năm 2019. Đó là khoảng thời gian 7 năm. Khi nào là lần cuối một nhà nước, một bạo chúa, hay một nhà độc tài tiến hành di dân hàng triệu người? Liệu đó có thể là một quá trình hòa bình? Quân đội Ấn Độ có thể cần phải tuyển dụng lái xe để không bị bất ngờ khi được lệnh triển khai trên khắp Ấn Độ. Để chuẩn bị cho vai trò của họ ở miền trung Ấn Độ, phát hành công khai giáo lý của họ cập nhật về Hoạt động tâm lý quân sự, trong đó vạch ra "triển khai kế hoạch truyền đạt thông điệp tới đối tượng mục tiêu lựa chọn, để thúc đẩy các chủ đề cụ thể mà kết quả trong thái độ và hành vi mong muốn, ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu chính trị và quân sự của đất nước ". Quá trình này của "quản lý nhận thức", như người ta nói, sẽ được tiến hành bằng cách "sử dụng phương tiện truyền thông có thể để phục vụ". Quân đội có nhiều kinh nghiệm đủ để biết rằng duy chỉ cưỡng chế không thể thực hiện được hay quản lý kỹ thuật xã hội quy mô là dự kiến của các nhà quy hoạch Ấn Độ. Cuộc chiến chống lại người nghèo là một điều gì đó. Nhưng đối với phần còn lại của chúng ta - tầng lớp trung lưu, công nhân cổ trắng, trí thức, "quan điểm – tạo dựng" – sẽ phải là "quản lý nhận thức". Và đối với điều này, chúng ta phải chuyển sự chú ý của chúng ta đến với nghệ thuật tinh tế - Từ thiện doanh nghiệp. Gần đây, các tập đoàn khai thác khoáng sản chính đã ôm ấp nghệ thuật - phim ảnh, nghệ thuật sắp đặt và đổ xô vào các lễ hội văn học mà đã thay thế nỗi ám ảnh thập niên 90 bằng các cuộc thi sắc đẹp. Tập đoàn Vedanta, hiện đang khai thác ở trung tâm của quê hương bộ tộc Dongria Kondh cổ vì nhôm bauxite, đỡ đầu cuộc thi phim 'Niềm Hạnh phúc tạo dựng' dành cho sinh viên điện ảnh trẻ, người được họ ủy thác để làm những bộ phim về phát triển bền vững. Khẩu hiệu của Vedanta là 'Niềm hạnh phúc khai mỏ’. Tập đoàn Jindal sẽ cho ra đời một tạp chí nghệ thuật đương đại và hỗ trợ một số nghệ sĩ lớn của Ấn Độ (những người đương nhiên làm việc với thép không gỉ). Essar là nhà tài trợ chính của tờ Tehelka Newsweek Think Fest hứa hẹn "cuộc tranh luận chỉ số octan cao" của các nhà tư tưởng hàng đầu khắp thế giới, trong đó bao gồm các nhà văn lớn, các nhà hoạt động và thậm chí cả kiến trúc sư Frank Gehry. (Tất cả những điều này diễn ra ở Goa, nơi các nhà hoạt động và các nhà báo đã phát hiện ra vụ bê bối khai thác mỏ khổng lồ bất hợp pháp, và một phần của Essar trong cuộc chiến bày tỏ nổ ra ở Bastar). Tata Steel và Rio Tinto (những hãng có hồ sơ theo dõi bẩn thỉu của riêng của mình) nằm trong số các trưởng tài trợ của Festival văn học Jaipur (tên Latin: Lễ hội văn học Darshan Singh Construction Jaipur) được quảng cáo bởi những sành sỏi như là "Cuộc trình diễn văn học vĩ đại nhất trên trái đất”. Counselage, "chiến lược quản lý thương hiệu" của Tatas, tài trợ Trại liên hoan báo chí. Rất nhiều người trong số các nhà văn giỏi nhất và sáng giá nhất của thế giới tụ tập tại Jaipur để thảo luận về tình yêu, văn học, chính trị và thơ Sufi. Một số đã nỗ lực bảo vệ quyền của Salman Rushdie đối với tự do ngôn luận bằng cách đọc sách bị cấm của ông ta, quyển sách mang tên: “Những vần thơ của quỷ Xa tăng - The Satanic Verses”. Trong mỗi khung hình TV, mỗi ảnh báo chí, là logo của Tata Steel lờ mờ hiện ra phía sau, như chủ nhân đức độ, ôn hòa (và khẩu hiệu của hãng: Giá trị mạnh mẽ hơn sắt thép), một máy chủ, nhân từ lành tính. Những kẻ thù của tự do ngôn luận được cho là đã tàn sát dân Hồi giáo, người mà các nhà tổ chức lễ hội nói với chúng ta, có thể thậm chí còn làm hại các em học sinh tập trung ở đó. (Chúng tôi được chứng kiến sự bất lực của chính phủ Ấn Độ và cảnh sát có thể là như thế nào khi nói đến người Hồi giáo.) |
Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma
Đúng là chủng viện dòng Hồi giáo cứng rắn Darul-Uloom Deobandi phản đối Rushdie đã được mời đến festival. Đúng là có một số người Hồi giáo đã tụ tập tại địa điểm tổ chức lễ hội để phản đối và cũng đúng là quá vô nhân đạo, chính quyền bang đã không làm gì để bảo vệ các địa điểm tổ chức. Đó là bởi vì toàn bộ các tình tiết có quá nhiều việc phải làm với dân chủ, với cử tri và bầu cử Uttar Pradesh như đã làm với chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Nhưng cuộc chiến cho tự do ngôn luận chống lại Hồi giáo chính thống đã làm điều đó với các tờ báo của thế giới. Điều quan trọng là đã làm. Nhưng hầu như không có bất kỳ bài viết nào về vai trò của các nhà tài trợ lễ hội đối với cuộc chiến tranh trong rừng, với đống xác người và với các nhà tù đầy ứ. Hoặc về Luật phòng chống hoạt động bất hợp pháp và đạo luật đặc biệt Chhattisgarh về an ninh công cộng, thậm chí làm cho ý nghĩ chống chính phủ như là một tội lỗi nhìn thấy được.
Hay về buổi điều trần công khai bắt buộc đối với nhà máy thép Tata ở Lohandiguda mà người dân địa phương khiếu kiện thực sự diễn ra xa hàng trăm dặm ở Jagdalpur, trong khu phức hợp văn phòng của nhà sưu tập, với những khán giả thuê độ 50 ngươi, và các viên bảo vệ có vũ trang. Tự do ngôn luận khi đó ở chỗ nào? Không ai đề cập đến Kalinganagar. Không ai nói rằng các nhà báo, các học giả và nhà làm phim đang khai thác các chủ đề không phổ biến với chính phủ Ấn Độ - giống như phần lén lút xảy ra trong nạn diệt chủng người Tamil trong cuộc chiến tranh ở Sri Lanka hay gần đây phát hiện ngôi mộ không tên ở Kashmir, nơi bị từ chối visa hay bị trục xuất thẳng thừng từ sân bay. Nhưng ai trong những tội đồ của chúng ta sẽ ném viên đá đầu tiên? Không phải tôi, người sống nhờ tiền bản quyền từ nhà xuất bản thuộc hãng. Tất cả chúng ta xem tivi Tata Sky, chúng ta lướt net với Tata Photon, chúng ta đi xe taxi Tata, chúng ta trú ở khách sạn Tata, chúng ta nhâm nhi trà Tata của chúng ta trong tách Tata Trung Quốc và khuấy nó bằng thìa của Tata Steel. Chúng ta mua sách Tata trong hiệu sách của Tata. Ngân nga Tata ka namak khate hain. Chúng ta đang bị bao vây. Nếu như búa tạ của lòng tinh khiết đạo đức là tiêu chí để ném đá, thì chỉ những người hội đủ điều kiện là những người đã thực sự bị bịt miệng. Những ai sống bên ngoài hệ thống, ngoài vòng pháp luật trong các khu rừng hay những ai biểu tình không bao giờ được báo chí để ý, hoặc ai cư xử tử tế bị tước quyền, đi từ tòa án đến tòa án, làm chứng cho lời khai. Nhưng thần Ánh sáng đã trao cho chúng ta Aha! Điều quan trọng. Oprah đã đến. Bà nói bà yêu Ấn Độ, do đó sẽ còn đến nữa, điều đó làm chúng ta thấy tự hào. Đó chỉ là kết thúc khôi hài của thứ Nghệ thuật tinh tế. Mặc dù Tatas đã tham gia hoạt động từ thiện gần như cả một trăm năm nay, cấp học bổng và điều hành một số trường học và bệnh viện tốt, các hãng Ấn Độ chỉ gần đây mới được mời vào Star Chamber, Camera stellata, thế giới ánh sáng rực rỡ của chính thể liên hiệp toàn cầu, chết người vì kẻ thù của nó, nhưng nếu không như vậy thì sự xảo quyệt mà bạn hầu như không biết đến nó sẽ có ở đó. Cái gì sau bài viết này, có thể xuất hiện một số phê phán có phần khắc nghiệt. Mặt khác, trong truyền thống tôn trọng đối thủ của một người, vẫn có thể đọc nó như một sự thừa nhận về tầm nhìn, tính linh hoạt, sự rắc rối và quyết tâm vững chắc của những kẻ đã cống hiến cuộc đời của họ giữ cho thế giới an toàn cho chủ nghĩa tư bản. Lịch sử mê hoặc của Từ thiện doanh nghiệp, thứ đã phai mờ trong ký ức hiện tại, bắt đầu ở Mỹ đầu thế kỷ 20, khi mà đồ nghề ở hình thức hợp pháp là các quỹ tài trợ, từ thiện doanh nghiệp bắt đầu thay thế các hoạt động truyền giáo như là sự mở đường của chủ nghĩa tư bản (và chủ nghĩa đế quốc) và tuần tra duy trì thống. Trong số các quỹ đầu tiên được thành lập tại Mỹ là Carnegie Corporation, cấp vốn năm 1911 từ lợi nhuận công ty Carnegie Steel; quỹ Rockefeller, cấp vốn năm 1914 bởi J.D. Rockefeller, người sáng lập công ty Standard Oil. Tatas và Ambanis vào thời của họ. Một số tổ chức được nhận tài trợ, cấp tiền vốn hoặc được hỗ trợ bởi quỹ Rockefeller là Liên Hợp Quốc, CIA, Ủy ban Quan hệ đối ngoại, Bảo tàng tuyệt vời nhất của New York về nghệ thuật đương đại, và, dĩ nhiên là Trung tâm Rockefeller ở New York (nơi các bức tranh của Diego Riviera đã bị thổi bay khỏi tường vì đã dám vẽ chân dung nguy hại các nhà tư bản đầy tội lỗi và Lê nin dũng cảm. Tự do ngôn luận đã tắt ngấm). J. D. Rockefeller là tỷ phú Mỹ đầu tiên và là người giàu nhất thế giới. Ông ta theo chủ nghĩa bãi nô, một người ủng hộ Abraham Lincoln và kiêng rượu. Ông tin rằng tiền bạc của ông ta đã được trao cho ông ta từ Chúa trời, điều đó phải là sự tốt đẹp cho ông ta. Dưới đây là một đoạn trích từ một trong những bài thơ đầu tiên của nhà thơ Chile, Pablo Neruda gọi là Công ty Standard Oil: Những ông hoàng béo phị của họ từ New York ngọt ngào mỉm cười sát thủ họ mua lụa, nylon, xì gà, các bạo chúa nhỏ và các độc tài. Họ mua quốc gia, dân chúng, biển, cảnh sát, Hội đồng, mua những vùng xa xôi nơi người nghèo tích trữ ngô của họ như vàng của họ kẻ keo kiệt: Standard Oil đánh thức họ, mặc cho bộ đồng đồng phục, chỉ rõ anh em nào là kẻ thù. người Paraguay chiến đấu cuộc chiến của nó, và người Bolivia bị quét đi hết trong khu rừng già với khẩu súng máy của nó. Tổng thống bị ám sát vì một giọt dầu, cầm cố triệu mẫu Anh, hành quyết nhanh chóng vào buổi sáng ghê rợn với ánh sáng, sững người, một trại tù mới cho những kẻ phá hoại, ở Patagonia, phản bội, những viên đạn vãi ra bên dưới mặt trăng có dầu mỏ, một sự thay đổi khôn ngoan bộ trưởng tại thủ đô, tiếng thì thầm giống như một làn sóng dầu, và bất thình lình, bạn sẽ thấy những chữ Standard Oil tỏa sáng trên những đám mây ra sao, trên biển, trong nhà của bạn, soi tỏ lãnh địa của họ. Khi các quỹ công ty-bảo trợ lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ, có một cuộc tranh luận gay gắt về xuất xứ, tính hợp pháp và sự vô trách nhiệm của chúng. Người ta đề nghị rằng nếu các công ty dư thừa rất nhiều tiền, họ nên nâng cao mức lương cho người lao động của họ. (Mọi người đã đưa ra những gợi ý thái quá trong những ngày đó, ngay cả ở Mỹ). Ý tưởng của các quỹ này, quá bình thường ngày nay, trong thực tế, là một bước nhảy vọt của trí tưởng tượng kinh doanh thời đó. Quỹ tài trợ - các thực thể hợp pháp không phải đóng thuế với các nguồn tài nguyên khổng lồ và ngắn gọn là gần như không giới hạn, hoàn toàn vô trách nhiệm, hoàn toàn không minh bạch – còn cách nào tốt hơn để đánh cược sự thịnh vượng kinh tế vào thủ phủ văn hóa xã hội và chính trị, để biến tiền thành quyền lực? Có cách nào tốt hơn cho đám vay nặng lãi sử dụng một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lợi nhuận của mình để vận hành thế giới? Bill Gates sẽ là thế nào khác, ông ta thừa nhận biết một hai điều hay về máy tính, lại thấy mình thiết kế các chính sách giáo dục, y tế và nông nghiệp, không chỉ cho chính phủ Mỹ, mà còn là các chính phủ trên thế giới? Trong những năm qua, như mọi người đã chứng kiến một số quỹ đã làm những việc thực sự tốt (vận hành các thư viện công cộng, xóa bỏ dịch bệnh), mối liên hệ trực tiếp giữa các hãng và các quỹ họ bảo trợ bắt đầu lu mờ. Cuối cùng, nó đã bị lu mờ hoàn toàn. Bây giờ ngay cả những ai tự coi mình là cánh tả cũng không ngần ngại chấp nhận sự hào phóng của các quỹ. Cho đến năm 1920, tư bản Mỹ bắt đầu nhìn ra bên ngoài lục địa, tìm kiếm nguyên liệu thô và thị trường nước ngoài. Các quỹ bắt đầu đưa ra ý tưởng về quản trị doanh nghiệp toàn cầu. Năm 1924, các quỹ Rockefeller và Carnegie cùng tạo ra cái mà ngày nay là nhóm gây áp lực chính sách đối ngoại hùng mạnh nhất thế giới - Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR - Council on Foreign Relations), mà sau này được tài trợ bởi quỹ Ford. Đến năm 1947, tổ chức tình báo CIA mới được thành lập, được hỗ trợ và phối hợp hoạt động chặt chẽ với CFR. Trong những năm qua, các thành viên của CFR bao gồm 22 bộ trưởng Mỹ. Có 5 thành viên CFR trong Ban chỉ đạo năm 1943 lập kế hoạch thành lập Liên Hợp Quốc, và một khoản tài trợ trị giá 8,5 triệu USD từ Rockefeller để mua đất làm trụ sở chính của Liên Hợp Quốc ở New York. Tất cả 11 Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) kể từ năm 1946 – những kẻ đã tự giới thiệu mình là nhà truyền giáo của người nghèo – là các thành viên của CFR. (Có ngoại lệ là George Woods. Và ông ta là một ủy thác của quỹ Rockefeller và của phó chủ tịch Chase-Manhattan Bank.) |
Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma
Tại Bretton Woods, Ngân hàng Thế giới (WB) và IMF quyết định rằng đồng đô la Mỹ là đồng tiền dự trữ của thế giới, và để tăng cường sự thâm nhập của tư bản toàn cầu, sẽ là cần thiết phải làm cho nó trở thành phổ biến và tiêu chuẩn hóa các hoạt động kinh doanh trong một thị trường mở. Để đạt được mục đích đó, họ đã chi tiêu một lượng tiền lớn để thúc đẩy quản trị tốt (miễn là họ kiểm soát các điều kiện ràng buộc), khái niệm Rule of Law (Vua luật lệ, họ có tiếng nói trong việc đưa ra luật lệ) và hàng trăm các chương trình phòng chống tham nhũng (để sắp xếp hợp lý hóa hệ thống mà họ đã đưa ra). Hai tổ chức mờ ám nhất, vô trách nhiệm nhất trên thế giới đi khắp nơi yêu cầu minh bạch và trách nhiệm từ chính phủ của các nước nghèo đói.
Do chỗ WB ít nhiều chỉ đạo chính sách kinh tế các nước thế giới thứ ba, ép buộc và khai phá mở cửa thị trường quốc gia này đến quốc gia khác cho tài chính toàn cầu, có thể nói rằng hoạt động từ thiện doanh nghiệp hóa ra là vụ làm ăn có tầm nhìn xa nhất mọi thời đại. Các viên quản trị quỹ doanh nghiệp tài trợ, kinh doanh và kênh hóa quyền lực của họ, đặt các cờ thủ của họ vào vị trí bàn cờ, qua hệ thống các câu lạc bộ tinh hoa, các thùng-ý tưởng, mà thành viên của nó xếp lớp, vào và ra qua các cánh cửa xoay. Trái ngược với các lý thuyết âm mưu khác nhau lưu hành, đặc biệt là trong các nhóm cánh tả, ở đây không có gì bí mật, quỷ Xa tăng, hay hội viên Tam điểm đều ưa thích cách sắp xếp này. Không phải là quá khó khăn từ con đường tập đoàn sử dụng các công ty bình phong và các tài khoản ngoại để lưu chuyển và quản lý tiền của họ - ngoại trừ rằng tiền tệ là sức mạnh, chứ không phải đồng tiền. Tương đương xuyên quốc gia của CFR là Trilateral Commission lập năm 1973 bởi David Rockefeller và cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Zbigniew Brzezinski (kẻ lập ra tổ chức Mujahideen ở Afghanistan, tổ chức này là tiền thân của Taliban ngày nay), bởi nhà băng Chase-Manhattan và một số tổ chức tên tuổi khác. Mục đích của Trilateral là tạo ra một mối liên kết lâu dài bạn bè và hợp tác giữa các tầng lớp tinh hoa Bắc Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Nó đã trở thành một hội đồng đa phương 5 thành viên, bởi bao gồm thêm các thành viên từ Trung Quốc và Ấn Độ. (Tarun Das của CII, N.R. Narayanamurthy, cựu CEO Infosys, Jamsheyd N. Godrej Giám đốc quản lý Godrej; Jamshed J. Irani, giám đốc Tata Sons và Gautam Thapar CEO Avantha Group). Viện Aspen là một câu lạc bộ quốc tế của giới tinh hoa địa phương, doanh nhân, quan chức, chính trị gia, cùng một vài hội viên ở một số nước. Tarun Das là chủ tịch viện Aspen Ấn Độ. Gautam Thapar là Chủ tịch. Một số viên chức cao cấp của viện toàn cầu McKinsey (đề xuất ra Hành lang công nghiệp Delhi Mumbai) là thành viên của CFR, Trilateral Commission và viện Aspen. Quỹ Ford (một cái nền tự do đối với quỹ Rockefeller bảo thủ hơn, mặc dù cả 2 công tác với nhau thường xuyên) được thành lập năm 1936. Mặc dù thường bị coi nhẹ, thì quỹ Ford có một ý thức hệ được xác định rất rõ ràng và hoạt động rất chặt chẽ với các văn phòng Mỹ. Dự án của Ford đào sâu thêm về dân chủ và “quản trị tốt”, là rất nhiều phần của sơ đồ Bretton Woods về thi hành thương mại qui chuẩn hóa và hiệu quả xúc tiến trong thị trường tự do. Sau WW-II, khi CNCS thay thế CN phát xít như kẻ thù số 1 của chính phủ Mỹ, các dạng mới của các tổ chức là cần thiết để đối phó với chiến tranh lạnh. Ford tài trợ cho RAND (Hãng nghiên cứu và phát triển), một thùng-ý tưởng quân sự bắt đầu nghiên cứu vũ khí cho các ban nghành quốc phòng Mỹ. Năm 1952, để ngăn chặn các nỗ lực bền bỉ của CNCS thâm nhập và phá vỡ các “quốc gia tự do”, quỹ Cộng hòa được thành lập, sau đó quỹ này biến thành Trung tâm của các viện nghiên cứu Dân chủ, là nơi chỉ dẫn tiến hành chiến tranh lạnh thông minh mà không cần sự thái quá của McCarthyite. Thông qua lăng kính này cần phải xem công việc quỹ Ford đang làm, với hàng triệu đô la đã đầu tư vào Ấn Độ - các tài trợ của nó cho các văn nghệ sĩ, các nhà làm phim và các nhà hoạt động, các khoản hiến tặng hào phóng của nó cho các khóa học và học bổng các trường đại học. Quỹ Ford tuyên bố "mục tiêu cho tương lai của nhân loại" bao gồm các can thiệp vào các phong trào chính trị cơ sở cục bộ và quốc tế. Tại Mỹ, quỹ Ford cung cấp hàng triệu tiền tài trợ và cho vay để hỗ trợ Phong trào Liên minh tín dụng, là tổ chức mở đường bởi các chủ sở hữu cửa hàng tạp hóa Edward Filene vào năm 1919. Filene tin tưởng vào việc việc tạo ra một xã hội tiêu thụ rộng lớn hàng hoá tiêu dùng bằng cách cho người lao động khả năng tiếp cận tín dụng (vay tiền mua sắm) - đó là ý tưởng cực đoan vào thời điểm đó. Trên thực tế, chỉ có một nửa của ý tưởng này là cực đoan, bởi nửa kia Filene tin tưởng vào việc phân phối công bằng hơn thu nhập quốc dân. Các nhà tư bản nắm giữa nửa đầu tiên của đề nghị Filene, và bằng cách giải ngân các khoản vay "giá cả phải chăng" hàng chục triệu đô la cho người làm công, biến giới lao động Mỹ thành những con nợ vĩnh cửu, chạy đua để đuổi kịp lối sống tiêu thụ của họ. Nhiều năm sau, ý tưởng này đã nhỏ giọt xuống các vùng nông thôn nghèo khổ của Bangladesh khi Mohammed Yunus và ngân hàng Grameen đã mang vi tín dụng đến với những nông dân nghèo đói với hậu quả tai hại. Các công ty Microfinance ở Ấn Độ phải chịu trách nhiệm hàng trăm vụ tự tử - chỉ riêng ở Andhra Pradesh năm 2010 đã là 200 người. Quốc gia này đã phải công bố lưu ý hàng ngày vụ tự tử của cô gái 18 tuổi bị buộc phải giao nộp khoản tiền cuối cùng của cô 150 Rs đóng học phí cho đám nhân viên côn đồ của công ty microfinance. Những lưu ý cho biết, hãy "làm việc chăm chỉ và kiếm tiền. Không vay vốn. (Bangladesh gần đây, trở thành nơi tranh giành giữa TQ và phương Tây, phương Tây đang thắng nhưng xem ra tương lai xứ sở này sẽ chẳng có gì tốt đẹp - ND). Có rất nhiều tiền trong nghèo đói, và một vài cái giải Nobel cũng thế. Đến năm 1950, quỹ Rockefeller và quỹ Ford, tài trợ cho một số NGO và các tổ chức giáo dục quốc tế, chúng bắt đầu làm việc hầu như là phần mở rộng của chính phủ Mỹ mà vào thời gian đó đang lật đổ chính phủ dân cử dân chủ ở Mỹ Latinh, Iran và Indonesia. (Đó cũng là khoảng thời gian chúng nhập cảnh vào Ấn Độ, lúc đó Ấn là không liên kết, nhưng rõ ràng là đang ngả về phía Liên Xô). Ford lập ra các khóa học kinh tế phong cách Mỹ tại Đại học Indonesia. Các sinh viên Indonesia ưu tú được đào tạo “chống-nổi loạn” bởi các sĩ quan quân đội Mỹ, đóng một phần quan trọng trong cuộc đảo chính CIA hậu thuẫn năm 1965 ở Indonesia qua đó đưa tướng độc tài Suharto lên nắm quyền. Tướng Suharto trả công các cố vấn của mình bằng cách sát hại hàng trăm trong số hàng ngàn phiến quân cộng sản. Tám năm sau, các sinh viên trẻ Chile, những kẻ được biết đến như là Boys Chicago, đã được đưa đến Mỹ để đào tạo về kinh tế tân tự do bởi Milton Friedman tại Đại học Chicago (nơi J.D. Rockefeller bảo trợ), để chuẩn bị cho cho cuộc đảo chính CIA hậu thuẫn năm 1973 giết chết ông Salvador Allende, đưa độc tài khét tiếng Pinochet và các thế lực của biệt đội giết chóc lên nắm quyền, chúng gây ra cuộc giết chóc, mất tích và khủng bố kéo dài 17 năm. (Tội của Allende là bầu cử dân chủ xã hội chủ nghĩa và quốc hữu hóa các mỏ của Chile). Năm 1957, quỹ Rockefeller lập giải thưởng Ramon Magsaysay cho các nhà lãnh đạo cộng đồng châu Á. Nó được đặt tên Ramon Magsaysay, TT Philippines, một đồng minh quan trọng của Mỹ trong chiến dịch chống CS ở Đông Nam Á. Năm 2000, Ford lập giải thưởng Lãnh đạo nổi bật Ramon Magsaysay. Giải thưởng Magsaysay được cho là uy tín giữa các nghệ sĩ, các nhà hoạt động và nhân viên cộng đồng ở Ấn Độ. M.S. Subbulakshmi và Satyajit Ray giành được giải đó, Jayaprakash Narayan và một trong những nhà báo tốt nhất của Ấn Độ, là P. Sainath cũng được giải. Nhưng họ đã làm cho giải thưởng Magsaysay nhiều hơn là giải đã làm cho họ. Nói chung, giải đã trở thành một quan tòa phán xử dạng hoạt động nào là "chấp nhận được" và những dạng nào thì không. Đáng chú ý, trong mùa hè gần đây, phong trào chống tham nhũng Anna Hazare dẫn đầu bởi ba giải Magsaysay - Anna Hazare, Arvind Kejriwal và Kiran Bedi. Một trong số nhiều NGO của Arvind Kejriwal được tài trợ hào phóng bởi Ford, còn NGO của Kiran Bedi được tài trợ bởi Coca Cola và Lehman Brothers. Mặc dù Anna Hazare gọi mình là Gandhian, thì luật lệ mà ông ta kêu gọi là Jan Lokpal Bill lại không Gandhian, nó thượng lưu và nguy hiểm. Một chiến dịch suốt 24 giờ của các hãng media tuyên bố ông ta là tiếng nói của "nhân dân". Không giống như phong trào “Chiếm phố Uôn - Occupy Wall Street” tại Mỹ, phong trào Hazare không thở ra một từ nào chống tư nhân hóa, chống quyền lực tập đoàn hay chống "cải cách" kinh tế. Ngược lại, phương tiện truyền thông chính của nó lại trở ngược một cách thành công biến sự chú ý xa rời các vụ bê bối tham nhũng qui mô của tập đoàn (cũng đã làm lộ ra các nhà báo cao cấp) và sử dụng phê phán công chúng vào các chính trị gia để kêu gọi rút bớt quyền hạn định đoạt của chính phủ, cải cách nhiều hơn nữa, tư nhân hóa nhiều hơn nữa. (Trong năm 2008, Anna Hazare nhận được giải thưởng của WB cho việc phục vụ cộng đồng xuất sắc). WB đã ban hành một tuyên bố từ Washington nói rằng phong trào đã "ăn khớp chặt chẽ" với chính sách của mình. Giống như tất cả những tên đế quốc ra trò, các nhà từ thiện đặt cho mình nhiệm vụ tạo ra và đào tạo cán bộ khung quốc tế tin tưởng rằng chủ nghĩa tư bản, và bằng cách mở rộng quyền bá chủ của Mỹ, là lợi ích tự thân của đám cán bộ. Do đó những ai giúp quản trị Chính phủ liên hiệp toàn cầu theo những cách tinh hoa bản địa luôn luôn phục vụ chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, bắt đầu bước đột phá nền móng vào giáo dục và nghệ thuật, sẽ trở thành lĩnh vực uy thế thứ ba của chúng sau đối ngoại và chính sách kinh tế nội địa. Chúng chi tiêu (và tiếp tục chi tiêu) hàng triệu đô la vào các trường đại học và giáo dục. Joan Roelofs trong cuốn sách tuyệt vời của mình: Foundations and Public Policy (Quỹ và chính sách công): Cái mặt nạ của chủ nghĩa đa nguyên mô tả cách làm thế nào mà các quĩ tài trợ đã tu sửa những tư tưởng cũ để giảng dạy khoa học chính trị, và để làm hợp thời cho các nguyên tắc nghiên cứu "quốc tế" và "khu vực". Điều này tạo ra cho tình báo và các cơ quan an ninh Mỹ một vũng chuyên môn trong ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài để tuyển dụng từ đó. CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục làm việc với các sinh viên và các giáo sư tại các trường đại học Mỹ, đề xuất những vấn đề quan trọng về nguyên tắc học bổng. Putin nói: miếng pho mát cho không chỉ có trong bẫy chuột! (ND); |
Trích:
Chắc ở Nga kiểu tư duy này từ thời xửa thời xưa không hợp vì nó "sòng phẳng" quá chăng?:emoticon-0100-smile |
Trích:
Tuy vậy, thiển ý của nhà em là dù CNTB có sai gì thì đó cũng chỉ là một cách gọi. Cứ giả sử các khái niệm như Chế độ PK, TBCN, XHCN rồi CSCN được đặt qua một bên và đừng cố ghép nơi này nơi kia vào chế độ nào hết thì có lẽ ta hiểu hơn chút ít cái XH loài người xưa nay: chỉ còn lại a) Những thay đổi thăng trầm nhưng luôn tiến tới của khoa học loài người và b) Những biến cách về phương pháp điều hành và phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu con người và ổn định xã hội của những người cầm quyền, cuối cùng là c) những thay đổi về tri thức và nhận thức của con người trong thời gian và không gian tác động lên kinh tế và khoa học của loài người. Cái kinh tế giống như sức mạnh cơ bắp - nội công - của một người, cái tư tưởng - nền chính trị - giống như hiểu biết võ thuật trong trận chiến sinh tồn. Chỉ có một trong hai cái thì khó kiếm được tuổi thọ qua các cuộc chiến của lịch sử. Không lạ là nhiều nhà nghiên cứu từ phương Tây phát triển lại bi quan về môi trường của chính họ, ngược lại cũng thế. Còn nước Nga trong lịch sử luôn đóng vai trò nổi bật tại các mốc thay đổi cả về lượng và chất của xã hội loải người thì xét kỹ, lại chủ yếu nhờ sức mạnh về tư tưởng, đôi lúc có được mức cơ bắp kha khá nhưng không bền, đó mới là vấn đề! Ông Putin, theo nhà em hy vọng, may mắn lắm chỉ kịp hồi sức được cho nước Nga thôi, còn để có đủ cả sức và hồn thì phải đợi Lịch sử, mà cuộc đời của LS lại luôn tính bằng nhiều thế hệ - đời người... |
Trích:
Không có vấn đề gì khi ai đó trích dẫn thành ngữ. Vấn đề là hành động, ông Putin dẫn kha khá nhiều thành ngữ, cả của các tiền bối Mỹ, cả quốc tế ca nữa cơ: Không có Chúa, không có phép màu nào... Ta cũng đã từng dẫn các thành ngữ của tiền bối Mỹ: Của dân, do dân, vì dân... dân biết dân làm... Đó là những giá trị chung. Vấn đề là hành động, là thực hiện. |
Trích:
Khối BRICS gồm 5 nước Brazin, Nga, Ấn, TQ và Nam Phi; tổng GDP của khối này là tương đương với phương Tây + giới chủ tài phiệt tài chính-ngân hàng. Họ đang bàn bỏ đồng đô la Mỹ, năm ngoái buôn bán Nga-Trung đã bắt đầu được thanh toán bằng nội tệ. Brave New Bank? BRICS moot dropping dollar, IMF http://www.youtube.com/watch?v=2vg9qvYwQHg Brave New BRICS http://rt.com/search/?q=BRICS+ Còn để bình luận về bài viết rất thú vị của tác giả Ấn Độ, thì thấy rằng Tiên Lãng xứ ta chưa là cái gì cả. Nhưng toàn bộ nội dung mà tác giả viết, có thể nói bằng một câu ngắn gọn: Muốn phá hoại, hãy làm thủ lĩnh! Bác có biết tác giả câu đó không? |
Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma
Việc thu thập thông tin để kiểm soát những kẻ mà họ cai trị là nền tảng của bất cứ thế lực cầm quyền nào. Trong khi phản kháng thu hồi đất và các chính sách kinh tế mới lây lan trên khắp Ấn Độ, trong bóng dáng của chiến tranh đang sắp nổ ra ở miền trung Ấn Độ, thì như một kỹ thuật ngăn chặn, chính phủ đã bắt tay vào một chương trình sinh trắc học lớn, có lẽ một trong những dự án thu thập thông tin đầy tham vọng và tốn kém nhất trên thế giới mang tên Số nhận diện đơn nhất (UID - Unique Identification Number).
Dân chúng không có nước sạch, nhà vệ sinh, hay thực phẩm, hay tiền bạc, nhưng họ sẽ có thẻ bầu cử và số UID. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà dự án UID được tiến hành bởi Nandan Nilekani, cựu CEO của Infosys, bề ngoài có nghĩa là "cung cấp các dịch vụ cho người nghèo", sẽ được bơm một lượng tiền lớn vào ngành công nghiệp IT mỏng manh bị bao vây? (Một ước tính thận trọng ngân sách cho UID vượt quá ngân sách của chính phủ Ấn Độ chi tiêu cho giáo dục hàng năm). Để "số hoá" một đất nước với dân số lớn như thế với lượng người sống không hợp pháp rất lớn và "khó đọc" - những người đang sống hầu hết ở các khu ổ chuột, người bán hàng rong, dân adivasis không hồ sơ đất đai - sẽ là tội phạm hóa họ, biến họ từ không hợp pháp thành bất hợp pháp. Cái ý tưởng bật ra một phiên bản kỹ thuật số của hàng rào quây số đông dân chúng và đặt quyền hạn lớn vào tay nhà nước cảnh sát ngày càng cứng rắn. Ám ảnh kỹ trị của Nilekani thu thập dữ liệu là phù hợp với nỗi ám ảnh của Bill Gates với cơ sở dữ liệu kỹ thuật số, "các mục tiêu số hóa", "thẻ tính điểm tiến bộ". Như thể thiếu thông tin là nguyên nhân của nạn đói trên thế giới, mà không phải là chủ nghĩa thực dân, nợ nần và thiên lệch về hướng lợi nhuận của giới chủ, sai lệch của chính sách tập đoàn. Quĩ tập đoàn bảo trợ là kẻ tài trợ lớn nhất cho khoa học xã hội và nghệ thuật, bảo trợ cho các khóa học và học bổng sinh viên trong “nghiên cứu phát triển", trong “nghiên cứu cộng đồng”, “nghiên cứu văn hóa", trong “hành vi khoa học" và trong "nhân quyền". Khi các trường đại học Mỹ mở cửa cho sinh viên quốc tế, hàng trăm ngàn học sinh, trẻ em giới tinh hoa thế giới thứ ba, đã đổ vào. Những ai không đủ học phí đã được trao học bổng. Ngày nay ở các nước như Ấn Độ và Pakistan hầu như không có một gia đình tầng lớp trung lưu và tầng lớp trên nào mà lại không có một đứa trẻ đã học tập ở Mỹ. Từ hàng ngũ đó đã ra đời các học giả và các nhà nghiên cứu, mà còn cả thủ tướng, bộ trưởng tài chính, nhà kinh tế, luật sư, nhân viên ngân hàng và các quan chức, những người đã giúp để mở cửa nền kinh tế các quốc gia của họ cho các tập đoàn toàn cầu. Các học giả của phiên bản thân thiện-quỹ thuộc khoa học kinh tế và chính trị đã được khen thưởng bằng học bổng, kinh phí nghiên cứu, tài trợ, cấp vốn và việc làm. Những người có quan điểm không thân thiện quỹ thấy mình không có tài trợ, thiệt thòi và bị hạn chế, các khóa học của họ bị gián đoạn. Dần dần, một ai đó tưởng tượng ra chi tiết – dễ đổ vỡ, giả vờ thiển cận khoan dung và đa văn hóa (mà biến hình thành phân biệt chủng tộc, dân tộc điên cuồng, chủ nghĩa Sô vanh dân tộc hay chiến tranh – như cái nghề lái buôn Islamophobia - Ám ảnh Hồi giáo thời điểm này) dưới mái nhà của một tổng thể, uốn vòm ở trên, mỗi một tư tưởng kinh tế không phổ biến - bắt đầu thống trị các đàm luận. Nó đã như vậy đến một mức độ không ngớt được nhìn nhận như là một hệ tư tưởng ở tất cả. Nó đã trở thành vị trí mặc định, theo cách tự nhiên phải thế. Nó thâm nhập vào tính chuẩn tắc, thuộc địa hóa tính thông thường, và thách thức nó bắt đầu có vẻ là vô lý hay bí truyền như tự thách thức thực tế. Từ đây là một bước dễ dàng để “Không có gì thay thế". ND: Các giáo sư Harvard danh tiếng đã cho ra đời bao nhiêu lý thuyết, học thuyết kinh tế? Chắc người bình thường khó mà nhớ hết. Chỉ biết những pho sách đồ sộ, dầy cộp được người ta ca tụng như thánh kinh. Thế rồi khủng hoảng kinh tế đến ầm ầm, không giáo sư đáng kính nào nhận ra chứ đừng nói các đáng kính tiên đoán trước trong sách. Còn mấy thằng nhóc đánh game online ở những xứ khỉ ho cò gáy, thuộc thế giới thứ 3 lạc hậu thì lại đoán trước được những 2 năm. Thật đáng kính! Chỉ đến bây giờ, nhờ phong trào Chiếm phố Uôn, một ngôn ngữ khác đã xuất hiện trên đường phố và trường đại học Mỹ. Để thấy sinh viên với các biểu ngữ nói "Chiến tranh tầng lớp” hay “Chúng tôi không quan tâm anh giàu có, nhưng chúng tôi quan tâm anh đang mua chính phủ của chúng tôi”, cho là xung đột như thế, gần như tự nó đã là một cuộc cách mạng. Một thế kỷ sau khi bắt đầu, từ thiện doanh nghiệp càng ngày càng trở thành một phần lớn của cuộc sống chúng ta như Coca Cola. Có hàng triệu tổ chức phi lợi nhuận, rất nhiều trong số chúng liên kết thông qua một mê cung tài chính phức tạp đến các quĩ lớn hơn. Giữa chúng, khu vực "độc lập" này có tài sản trị giá gần 450 tỷ USD. Lớn nhất trong đó là quỹ Bill Gates ($21 tỷ), quỹ Lilly ($16 tỷ) và quỹ Ford ($15 tỷ). Khi IMF thúc ép điều chỉnh cơ cấu, và các chính phủ xoắn tay vào cắt giảm chi tiêu công về y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ em, và chi phí phát triển, các NGO cũng dọn nhà đến. Tư nhân hóa mọi thứ cũng có nghĩa là phi chính phủ mọi thứ. Khi công ăn việc làm và kế sinh nhai biến mất, các NGO đã trở thành một nguồn việc làm quan trọng, ngay cả cho những người nhìn nhận chúng là cái gì đó. Và họ chắc là không phải tất cả đều xấu xa. Trong số hàng triệu các tổ chức phi chính phủ NGO, một số đang làm những việc phi thường, tiến bộ, và sẽ là trò đùa khi bôi nhọ tất cả các NGO bằng cùng một chiếc bàn chải. Tuy nhiên, tập đoàn hay các NGO được quỹ bảo trợ là con đường tài phiệt toàn cầu mua các phong trào phản kháng, theo đúng nghĩa đen như cổ đông mua cổ phần trong các công ty, và sau đó nỗ lực để kiểm soát từ bên trong. Chúng ngồi như các nút trên hệ thống thần kinh trung ương, các con đường mà dọc theo đó dòng tài chính toàn cầu chảy qua. Chúng hoạt động như thiết bị truyền phát, thu nhận, giảm chấn, báo động mọi xung chấn, cẩn thận không bao giờ làm phiền chính phủ các nước sở tại chủ nhà của chúng. (Quỹ Ford yêu cầu các tổ chức mà nó cấp vốn phải ký một cam kết đối với hiệu ứng này). Vô tình (và đôi khi cẩn thận), chúng phục vụ như là cái trạm nghe ngóng, các bản tin và các xưởng, các hoạt động tuyên truyền khác của chúng cung cấp dữ liệu cho một hệ thống giám sát ngày càng hung hăng của các nước ngày càng cứng rắn. Một khu vực càng rối loạn, càng nhiều các NGO trong đó. Tinh quái, khi chính phủ hay các phần của tập đoàn báo chí muốn chạy một chiến dịch bôi nhọ chống lại phong trào quần chúng chính cống, như Bachao Narmada Andolan hoặc phản đối chống lại việc xây các lò phản ứng hạt nhân Kudankulam, chúng cáo buộc các phong trào này là các NGO nhận "tài trợ nước ngoài". Chúng biết rất rõ rằng nhiệm vụ của hầu hết các NGO, và đặc biệt là những kẻ tài trợ mạnh, là để tiếp tục các dự án toàn cầu hóa, chứ không phải ngăn chặn nó. Dưới là 2 video nói về biểu tình phản đối nhà máy điện hạt nhân Kudankulam, Nga là chủ của dự án này, họ đã xây xong 2 lò, đang triển khai tiếp 2 lò nữa thì gặp "Đội quân thứ 5". Chính phủ Ấn Độ nói thẳng thừng: NGO đứng sau những rắc rối này và Vẫn tiếp tục thực hiện, không có gì thay đổi! Được trang bị hàng tỷ USD, các NGO đã can thiệp vào thế giới, biến các nhà cách mạng tiềm năng thành các nhà hoạt động làm công ăn lương, các nghệ sĩ, trí thức và các nhà làm phim nhận tài trợ, nhẹ nhàng thu hút họ khỏi các cuộc đối đầu tiến bộ, dẫn hướng họ đến đa văn hóa, đa giới tính, phát triển cộng đồng - thuyết trình được diễn đạt bằng ngôn ngữ của bản sắc chính trị và nhân quyền. Việc chuyển đổi các ý tưởng công lý thành ngành công nghiệp nhân quyền đã là một cuộc đảo chính khái niệm mà trong đó các NGO và các quĩ tài trợ đóng một phần quan trọng. Tập trung kỹ lưỡng vào nhân quyền cho phép các phân tích dựa trên sự tàn bạo mà trong đó hình ảnh lớn hơn có thể bị phác họa và cả hai bên trong một cuộc xung đột - nói, ví dụ, người Mao-ít và chính phủ Ấn Độ, hay quân đội Israel và Hamas - cả hai có thể bị cảnh cáo như là vi phạm nhân quyền. Đất đai bị tước đoạt bởi các tập đoàn khai mỏ hay lịch sử thôn tính đất đai của người Palestine do nhà nước Israel tiến hành khi đó trở thành lời chú thích rất ít ỏi trong các thuyết trình. Điều này không phải là để nói rằng nhân quyền không quan trọng. Chúng làm, nhưng chúng không đủ tử tế để xoi lăng kính, qua đó xem xét hoặc hiểu biết chút ít những bất công rất lớn trong thế giới chúng ta đang sống. |
Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma
Một cuộc đảo chính khái niệm khác phải làm với sự can dự của quỹ vào phong trào nữ quyền (feminist). Tại sao hầu hết các phong trào feminist "chính thức" và các tổ chức phụ nữ ở Ấn Độ giữ một khoảng cách an toàn giữa họ và các tổ chức như được nói có 90000 thành viên Krantikari Adivasi mahila Sangathan (Liên hiệp phụ nữ cách mạng) chiến đấu chống chế độ phụ hệ trong cộng đồng của họ và chống di dời nhường đất cho các tập đoàn khai mỏ ở rừng Dandakaranya? Tại sao nó rằng việc tước quyền sở hữu và xua đuổi ra hàng triệu phụ nữ ra khỏi mảnh đất mà họ sở hữu và lao động không được coi là một vấn đề nữ quyền?
Việc chuyển phong trào nữ quyền tự do từ gốc rễ chống chủ nghĩa đế quốc và phong trào quần chúng chống chủ nghĩa tư bản đã không bắt đầu với thiết kế hiểm ác của quỹ tài trợ. Nó bắt đầu với sự bất lực của phong trào để thích ứng và phù hợp với cực đoan của phụ nữ gia tăng nhanh chóng trong những năm 60 và 70. Các quỹ tài trợ thấy các thiên tài được ghi nhận và đã đến để hỗ trợ và tài trợ cho các phụ nữ ngày càng thiếu kiên nhẫn với bạo lực và chế độ gia trưởng trong xã hội truyền thống của họ, cũng như hỗ trợ và tài trợ cho ngay cả những nhà lãnh đạo được cho là tiến bộ của phong trào cánh tả. Ở một đất nước như Ấn Độ, ly giáo cũng hoạt động cùng với chia rẽ nông thôn-thành thị. Phong trào chống tư bản tiến bộ nhất ở vùng nông thôn, nơi mà hầu hết trên các phần của nó, chế độ gia trưởng vẫn tiếp tục thống trị cuộc sống của hầu hết phụ nữ. Các nhà hoạt động phụ nữ thành thị đã tham gia các phong trào (như phong trào Naxalite), họ bị ảnh hưởng và lấy cảm hứng từ phong trào nữ quyền phương Tây và cuộc hành trình của họ hướng tới giải phóng phụ nữ thường mâu thuẫn với những gì các nhà lãnh đạo nam giới coi là nhiệm vụ của họ để phù hợp với "quần chúng”. Rất nhiều nhà hoạt động phụ nữ đã không sẵn lòng chờ đợi lâu hơn nữa cho một "cuộc cách mạng" để chấm dứt sự đàn áp và phân biệt đối xử hàng ngày trong cuộc sống của họ, kể cả từ các đồng chí của họ. Họ muốn bình đẳng giới phải là một phần tuyệt đối, cấp bách và không thể thương lượng của quá trình cách mạng, chứ không chỉ là một lời hứa sau cách mạng. Những phụ nữ thông minh, tức giận và thất vọng đã bắt đầu bỏ đi và tìm phương tiện khác hỗ trợ và nuôi dưỡng. Kết quả là, vào cuối thập niên 80, khoảng thời gian thị trường Ấn Độ đã được mở cửa, phong trào nữ quyền tự do trong một đất nước như Ấn Độ đã trở thành bị NGO hóa quá quắt. Nhiều NGO trong số các tổ chức phi chính phủ đã tiến hành các chuyên đề về quyền tình dục đồng tính, bạo lực gia đình, AIDS và các quyền của người lao động tình dục. Nhưng đáng kể, phong trào nữ quyền tự do đã không đi đầu trong việc thách thức các chính sách kinh tế mới, mặc dù phụ nữ là người phải chịu đựng thiệt hại lớn nhất. Bằng cách thao túng và chi tiêu các khoản tài trợ, các quỹ đã gặt hái được thành công lớn trong việc hạn chế phạm vi hoạt động "chính trị" mà lẽ ra phong trào phải có. Tóm lại tài trợ của NGO bây giờ đã sai khiến được cái gì là “vấn đề” của phụ nữ và cái gì thì không. NGO hóa phong trào phụ nữ cũng đã làm cho phong trào nữ quyền tự do phương Tây (bởi đức hạnh của nó là thương hiệu được tài trợ nhất), thành chuẩn mực sinh lời của những gì cấu thành chủ nghĩa nữ quyền. Các trận đánh, như thường lệ, đã diễn ra trên cơ thể phụ nữ, tiêm Botox (căng da) ở một đầu và Burqa (khăn trùm đầu Hồi giáo) ở đầu khác. (Và khi đó có những người phải chịu đựng cả Botox và cả Burqa.) Khi, như đã xảy ra gần đây ở Pháp, một nỗ lực được thực hiện để ép buộc phụ nữ bỏ burqa hơn là tạo ra một hoàn cảnh để trong đó một người phụ nữ có thể lựa chọn những gì họ muốn, đó không phải là giải phóng phụ nữ, mà là lột truồng phụ nữ. Điều đó trở thành một hành động sỉ nhục và cưỡng bức văn hóa của chủ nghĩa đế quốc. Đó không phải là vấn đề burqa. Đó là cưỡng chế. Ép buộc phụ nữ khỏi bộ burqa là xấu xa cũng như ép buộc người ta mặc nó. Xem xét giới theo cách này, cắt xén bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội, làm cho nó thành vấn đề bản sắc, một trận chiến của sân khấu và trang phục. Đó là những gì cho phép chính phủ Mỹ sử dụng các nhóm nữ quyền phương Tây như là vỏ bọc đạo đức khi xâm lược Afghanistan năm 2001. Phụ nữ Afghanistan đã (và đang) trong tình cảnh khó khăn tồi tệ dưới thời Taliban. Tuy nhiên, thả bom chùm daisy-cutters vào họ không phải là cách để giải quyết vấn đề của họ. Trong vũ trụ NGO, đã phát triển một ngôn ngữ giảm thiểu lạ lùng của riêng chúng, tất cả mọi thứ đã trở thành "đối tượng", vấn đề đặc biệt quan tâm, riêng biệt, chuyên nghiệp hóa. Phát triển cộng đồng, phát triển lãnh đạo, nhân quyền, y tế, giáo dục, quyền sinh sản, AIDS, trẻ mồ côi nhiễm AIDS – tất cả đã được đóng gói vào các hầm chứa của riêng chúng với sự tinh vi của riêng chúng và với các chỉ dẫn tài trợ chính xác. Tài trợ đã phá vỡ mối đoàn kết theo những cách mà đàn áp không bao giờ có thể làm được. Đói nghèo, dĩ nhiên cũng giống như feminism, thường được đóng khung như là một vấn đề riêng biệt. Như thể là đói nghèo không phải được tạo ra bởi sự bất công, mà như là một mất mát xảy ra khi sinh tồn, và có thể được giải cứu trong ngắn hạn bởi một hệ thống đền bù thiệt hại (được quản trị lý bởi các NGO đặc biệt, trên cơ sở người với người), và sự phục sinh dài hạn sẽ đến từ Quản trị tốt. Dưới chế độ của CNTB tập đoàn, nó tiêu tan mà không cần nói. Đói nghèo ở Ấn Độ, sau một thời kỳ ngắn trong hoang tàn bỗng chốc "tỏa sáng", đói nghèo đã quay trở lại như một đặc điểm kỳ lạ trong nghệ thuật, đi đầu là từ bộ phim Triệu phú ổ chuột - Slumdog Millionaire, giành đến 8 giải Oscar. Những câu chuyện thế này về người nghèo, tinh thần của họ và sức vươn lên đến kinh ngạc của họ, không có nhân vật phản diện, ngoại trừ ai đó nhỏ bé, người đưa ra câu chuyện căng thẳng và màu sắc địa phương. Các tác giả của những tác phẩm này là tương đương với thế giới đương đại của các nhà nhân loại học đầu tiên, được ca ngợi và vinh danh vì công việc trên "mặt đất", cho cuộc hành trình dũng cảm của họ đi đến chỗ không rõ. Sẽ hiếm khi thấy những người giàu có được xem xét theo những cách này. Sau khi đi đến chỗ làm thế nào để chế ngự các chính phủ, các đảng phái chính trị, các cuộc bầu cử, tòa án, các phương tiện truyền thông và quan điểm tự do, vẫn còn một thách thức đối với việc thiết lập tân tự do: làm thế nào để đối phó với tình trạng bất ổn ngày càng tăng, với mối đe dọa "sức mạnh nhân dân". Làm thế nào để thuần hóa nó? Làm thế nào để biến người biểu tình phản đối thành những con vật nuôi? Làm thế nào để hút cơn giận dữ của dân chúng và chuyển hướng nó vào lối đi mù quáng? Ở đây cũng vậy, các quỹ và các tổ chức đồng minh của chúng có một lịch sử lâu dài và lừng lẫy. Một ví dụ cho thấy là vai trò của chúng trong việc xoa dịu và đảo ngược tiến bộ của phong trào Quyền dân sự cho người da đen ở Mỹ trong những năm 1960 và chuyển đổi thành công quyền lực đen vào chủ nghĩa tư bản đen. Quỹ Rockefeller, giữ gìn những quan niệm của J.D. Rockefeller, đã làm việc chặt chẽ với Martin Luther King Sr (cha của Martin Luther King Jr). Nhưng ảnh hưởng của ông đã giảm bớt dần cùng với sự nổi lên của các tổ chức nhiều tranh đấu hơn là Ủy ban điều phối không bạo lực sinh viên (SNCC - Student Non-violent Coordinating Committee) và các Báo đen (Black Panthers). Các quỹ Ford và Rockefeller đã đến. Năm 1970, họ tặng $15 triệu cho các tổ chức da đen "ôn hòa", trao trợ cấp, học bổng, các chương trình đào tạo việc làm cho học sinh bỏ học và cấp tiền vốn cho các cơ sở kinh doanh do người da đen sở hữu. Đàn áp, ẩu đả và cái bẫy mật ong tài trợ dẫn đến sự teo tóp dần dần của các tổ chức da đen cấp tiến. Martin Luther King Jr đã bị cấm liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủng tộc và chiến tranh Việt Nam. Kết quả là, sau khi ông bị ám sát, ngay cả ký ức của ông cũng trở thành mối đe dọa nguy hại đối với trật tự công cộng. Các quỹ và các tập đoàn đã làm việc chăm chỉ để sửa sang lại di sản của ông cho phù hợp với một định dạng thân thiện với thị trường. Trung tâm tuổi trẻ Martin Luther King vì thay đổi xã hội phi bạo lực, với khoản tài trợ hoạt động 2 triệu USD, được dựng lên bởi, trong số những tổ chức khác nhau, là công ty Ford Motor, General Motors, Mobil, Western Electric, Procter&Gamble, US Steel và Monsanto. Trung tâm duy trì thư viện King và lưu trữ các văn thư của Phong trào quyền dân sự. Trong số nhiều chương trình mà Trung tâm King điều hành là các dự án "làm việc chặt chẽ với Bộ Quốc phòng Mỹ, Ban tuyên úy quốc phòng, và những cơ quan khác". Nó cũng đồng tài trợ chuỗi bài giảng Martin Luther King Jr gọi là “Hệ thống xí nghiệp miễn phí: Tác nhân thay đổi xã hội không bạo lực”. Amen! Một cuộc đảo chính tương tự cũng đã được thực hiện trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (anti-apartheid) ở Nam Phi. Năm 1978, quỹ Rockefeller tổ chức ra Ủy ban Nghiên cứu Chính sách của Mỹ đối với Nam Phi. Báo cáo cảnh báo các ảnh hưởng ngày càng tăng của Liên Xô đến Đại hội các dân tộc châu Phi (ANC - African National Congress) và cho biết rằng quyền lợi và chiến lược Mỹ (ví dụ, tiếp cận vào các khoáng sản của Nam Phi) sẽ được đáp ứng tốt nhất nếu có sự chia sẻ thực sự quyền lực chính trị của tất cả các chủng tộc. Các quỹ đã bắt đầu hỗ trợ cho ANC. ANC nhanh chóng chống lại các tổ chức tiến bộ hơn như phong trào Ý thức đen của Black Steve Biko và ít nhiều loại bỏ chúng. Khi Nelson Mandela lên nắm quyền làm tổng thống da đen Nam Phi đầu tiên, ông được phong như một vị thánh sống, không chỉ vì ông là một chiến sĩ đấu tranh cho tự do, người đã trải qua 27 năm trong tù, mà còn bởi vì ông đã hoàn toàn chiều theo Đồng thuận Washington (Washington Consensus). Chủ nghĩa xã hội đã biến mất khỏi chương trình nghị sự của ANC. Nam Phi "chuyển tiếp hòa bình" to lớn, nhưng để ca ngợi và tán dương, có nghĩa là không có cải cách ruộng đất, không có yêu cầu bồi thường, không quốc hữu hóa các mỏ của Nam Phi. Thay vào đó, là tư nhân hóa và điều chỉnh cơ cấu. Mandela trao giải thưởng dân sự cao nhất Order of Good Hope của Nam Phi, cho kẻ ủng hộ cũ của mình và là bạn bè, tướng độc tài Suharto, tên bạo chúa giết người cộng sản ở Indonesia. Ngày nay ở Nam Phi, một ổ cựu cấp tiến lái xe Mercedes và các công đoàn viên nghiệp đoàn cai trị đất nước. Nhưng thế là quá đủ để nhớ mãi ảo ảnh Giải phóng đen. Sự gia tăng Quyền lực đen ở Mỹ là một khoảnh khắc đầy cảm hứng cho sự nổi lên của phong trào tiến bộ Dalit ở Ấn Độ, với các tổ chức như Báo Dalit phản chiếu các chính sách chiến đấu Black Panthers. Nhưng thế lực Dalit không chỉ giống một cách chính xác mà cách thức hoạt động cũng tương tự, đã bị bẻ gãy và tháo ngòi với rất nhiều sự giúp đỡ từ cánh phải của tổ chức Hindu và quỹ Ford, cũng như đang trên con đường của nó để chuyển đổi thành tư bản Dalit. Tháng 10 năm ngoái, tờ báo Ấn Indian Express viết “Dalit Inc đã sẵn sàng trình bày nghiệp vụ có thể đánh bại chế độ đẳng cấp", tờ báo trích dẫn một cố vấn của Phòng thương mại và công nghiệp Dalit (DICCI). "Gặp thủ tướng đối với tập hợp Dalit không phải là khó khăn trong xã hội của chúng tôi. Nhưng đối với các doanh nhân Dalit, chụp một bức ảnh với Tata và Godrej trong bữa ăn trưa và trà là một khát vọng và là bằng chứng họ đã đến”. Đối với hoàn cảnh ở Ấn Độ hiện tại, sẽ là phân biệt đẳng cấp và phản động để nói rằng các doanh nhân Dalit không có chỗ trên chiếc bàn cao. Nhưng nếu như điều này là một nguyện vọng, khuôn khổ ý thức hệ của chính sách Dalit, thì nó sẽ là một điều rất đáng tiếc. Và không chắc để giúp một triệu người Dalits vẫn kiếm sống với nghề dọn vệ sinh bằng tay và đội chất thải của người trên đầu của họ. Học giả trẻ Dalit chấp nhận tài trợ từ quỹ Ford không thể bị đánh giá quá khắt khe. Ai đó khác cho họ cơ hội để leo lên khỏi hầm chứa phân trong hệ thống đẳng cấp Ấn Độ? Đáng xấu hổ cũng như một phần lớn trách nhiệm cho sự thay đổi này đến từ phong trào Cộng sản Ấn Độ, các nhà lãnh đạo của nó tiếp tục chiếm ưu thế ở tầng đẳng cấp trên. Trong nhiều năm, nó đã nỗ lực để ép buộc cho phù hợp tư tưởng đẳng cấp với các phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác. Nó đã thất bại thảm hại, trong lý thuyết cũng như thực hành. Sự rạn nứt giữa các cộng đồng Dalit và cánh tả đã bắt đầu bằng mối bất hòa giữa nhà lãnh đạo hư ảo Dalit, tiến sĩ Bhimrao Ambedkar và S.A. Dange, bên nghiệp đoàn và là thành viên sáng lập của đảng Cộng sản Ấn Độ. Sự vỡ mộng của tiến sĩ Ambedkar với đảng Cộng sản bắt đầu bằng cuộc đình công của công nhân dệt may 'ở Mumbai vào năm 1928 khi ông nhận ra rằng bất chấp mọi hùng biện về đoàn kết giai cấp lao động, đảng đã không thấy nó có thể bị phản đối rằng "các tiện dân" phải tránh xa các gian hàng dệt (và chỉ đủ tư cách đến chỗ giá thấp hơn) bởi vì các công việc liên quan đến việc sử dụng nước bọt trên chỉ, mà đẳng cấp khác bị coi là "gây ô nhiễm". Ambedkar nhận ra rằng trong một xã hội nơi mà các thể chế kinh Hindu đặt ra tiện dân và bất bình đẳng, cuộc chiến cho "tiện dân", cho quyền xã hội và công dân, là quá cấp bách để chờ đợi cho lời hứa của cuộc cách mạng Cộng sản. Các rạn nứt giữa Ambedkarites và cánh tả đã làm tổn hại rất lớn cho cả hai. Nó có nghĩa là một phần lớn dân Dalit, là xương sống của giai cấp lao động Ấn Độ, đã trói chặt hy vọng của họ vào sự giải thoát và nhân phẩm ở lập hiến, ở chủ nghĩa tư bản và ở các đảng phái chính trị như BSP, thực tế này quan trọng, nhưng về lâu dài, là vết nhơ tù hãm của bản sắc chính trị. Tại Mỹ, như chúng ta đã thấy, các quỹ tập đoàn bảo trợ đã đẻ ra văn hóa NGO. Tại Ấn Độ, mục tiêu của từ thiện doanh nghiệp bắt đầu một cách nghiêm túc trong những năm 1990, kỷ nguyên của Chính sách kinh tế mới. Tư cách hội viên đến Star Chamber không hề rẻ. Tập đoàn Tata đã tặng $50 triệu cho tổ chức nghèo túng, là trường kinh doanh Harvard, và $50 triệu khác đến đại học Cornell. Nandan Nilekani của Infosys và vợ ông ta Rohini tặng $5 triệu như là vốn ban đầu cho Sáng kiến Ấn Độ tại đại học Yale. Trung tâm nhân văn Harvard mà giờ là Trung tâm nhân văn Mahindra sau khi nhận được khoản tài trợ lớn chưa từng có $10 triệu, từ Anand Mahindra của tập đoàn Mahindra. |
Chủ nghĩa tư bản: Câu chuyện con ma
Ở nhà, tập đoàn Jindal, với cổ phần lớn trong khai thác mỏ, kim loại và năng lượng, điều hành trường Luật toàn cầu Jindal và sẽ sớm mở trường Jindal về chính phủ và chính sách công. (Quỹ Ford điều hành một trường luật ở Congo). Quỹ Ấn Độ mới được tài trợ bởi Nandan Nilekani, cung cấp tài chính từ lợi nhuận của Infosys, trao các giải thưởng và học bổng cho các nhà khoa học xã hội. Quỹ Sitaram Jindal được bảo trợ bởi Jindal Aluminium đã công bố 5 giải thưởng tiền mặt Rs 1 crore mỗi giải, trao cho ai làm việc trong lĩnh vực phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo, giáo dục môi trường và sự nâng cao đạo đức. Quỹ người quan sát nghiên cứu (ORF - Observer Research Foundation) của tập đoàn Reliance, hiện được cấp vốn bởi tỷ phú Mukesh Ambani, quỹ này được đúc theo khuôn mẫu quỹ Rockefeller. Nó có nhân viên là các viên tình báo đã nghỉ hưu, các nhà phân tích chiến lược, các chính trị gia (những kẻ giả vờ mắng nhiếc nhau trong Quốc hội), các nhà báo và các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu "đồng loại" và các cố vấn.
Mục tiêu của ORF dường như đủ đơn giản: "Để giúp đỡ phát triển đồng thuận trong ủng hộ cải cách kinh tế". Và để định hình, gây ảnh hưởng đến dư luận, tạo ra "tính khả thi, lựa chọn chính sách thay thế trong các lĩnh vực đầy bất đồng như thế hệ lao động trong các quận lạc hậu và chiến lược thời gian thực đối phó đe dọa hạt nhân, sinh học và hóa học ". Tác giả ban đầu đã bối rối bởi sự lo lắng về "chiến tranh hạt nhân, sinh học và hóa học," trong tuyên bố mục tiêu của ORF. Nhưng ít sau đó, trong danh sách dài “các đối tác tổ chức" của mình, thấy có tên Raytheon và Lockheed Martin, hai nhà sản xuất vũ khí hàng đầu thế giới. Năm 2007, Raytheon thông báo họ đã chuyển sự chú ý đến Ấn Độ. Có thể là ít nhất một phần trong ngân sách quốc phòng Ấn Độ $32 tỷ sẽ được chi cho vũ khí, tên lửa điều khiển, máy bay, tàu chiến và thiết bị giám sát của Raytheon và Lockheed Martin? Chúng ta cần vũ khí để cho các cuộc chiến tranh? Hay chúng ta cần chiến tranh để tạo ra một thị trường vũ khí? Sau khi tất cả, các nền kinh tế châu Âu, Mỹ và Israel phụ thuộc rất lớn vào ngành công nghiệp vũ khí của họ. Đó là thứ họ không đi thuê Trung Quốc. Trong cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Mỹ và Trung Quốc, Ấn Độ đang được chuẩn bị để đóng vai trò như Pakistan đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga. (Và hãy nhìn những gì đã xảy ra với Pakistan). Nhiều cây bình luận và các “nhà phân tích chiến lược” đang chơi trò thổi phồng sự thù địch giữa Ấn Độ và Trung Quốc, bạn sẽ thấy, có thể truy trở lại trực tiếp hay gián tiếp đến các thùng-ý tưởng Ấn-Mỹ và các quỹ. Là "đối tác chiến lược" của Mỹ không có nghĩa là những người đứng đầu quốc gia nhấc máy gọi điện thoại thân thiện với nhau lúc này lúc khác. Nó có nghĩa là hợp tác (can thiệp) ở mọi cấp độ. Nó có nghĩa là Lực lượng đặc biệt Mỹ đóng quân trên đất Ấn Độ (một chỉ huy Lầu Năm Góc mới đây khẳng định với đài BBC). Nó có nghĩa là chia sẻ thông tin tình báo, thay đổi chính sách nông nghiệp và năng lượng, mở cửa các lĩnh vực y tế và giáo dục để đầu tư toàn cầu, nó có nghĩa là mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ. Nó có nghĩa là quan hệ đối tác không ngang bằng, trong đó Ấn Độ bị khóa thân và nhảy điệu van-xơ xung quanh sàn bởi đối tác, kẻ sẽ đốt cháy đối tác ngay khi từ chối khiêu vũ. Trong danh sách “các đối tác tổ chức" cũng sẽ thấy tên tập đoàn RAND, quỹ Ford, WB, viện Brookings (nơi nêu nhiệm vụ là để "cung cấp các khuyến nghị thực tế và sáng tạo theo đuổi 3 mục tiêu rộng: để tăng cường dân chủ Mỹ, để thúc đẩy phúc lợi kinh tế và xã hội, an ninh và cơ hội của tất cả người Mỹ, và để củng cố một hệ thống hợp tác quốc tế, an toàn, thịnh vượng và cởi mở hơn") Bạn cũng sẽ tìm thấy cái tên quỹ Rosa Luxemburg của Đức. (Poor Rosa, người đã chết vì chế độ cộng sản, để thấy tên mình trong một danh sách như thế này!) Mặc dù chủ nghĩa tư bản có nghĩa là dựa trên cạnh tranh, những kẻ ở đầu của chuỗi thức ăn cũng đã chứng tỏ mình có khả năng đoàn kết và toàn diện. Các nhà tư bản lớn phương Tây đã làm ăn với phát xít, với chủ nghĩa xã hội, với những bạo chúa và những độc tài quân sự. Họ có thể thích ứng và thường xuyên đổi mới. Họ có khả năng tư duy nhanh chóng và lắm chiến thuật xảo quyệt. Nhưng mặc dù đã thành công qua các cải cách kinh tế, mặc dù đã tiến hành chiến tranh và chiếm đóng quân sự các quốc gia để thi hành thị trường tự do "dân chủ", chủ nghĩa tư bản đang trải qua cơn khủng hoảng mà sự nghiêm trọng của nó không bộc lộ hoàn toàn. Marx nói: … giai cấp tư sản đang đào mồ chôn cho mình. Giai cấp vô sản, như Marx nhìn thấy, đã bị tấn công liên tục. Nhà máy đã đóng cửa, công ăn việc làm biến mất, công đoàn bị giải tán. Giai cấp vô sản, trong những năm qua, đã chống lẫn nhau theo mọi cách có thể. Tại Ấn Độ, Ấn giáo chống lại Hồi giáo, Ấn giáo chống lại Kitô giáo, Dalit chống lại Adivasi, đẳng cấp so với đẳng cấp, khu vực đối với khu vực. Tuy nhiên, mọi nơi trên thế giới, đấu tranh đang quay lại. Ở Trung Quốc, có vô số những cuộc đình công và các cuộc nổi dậy. Tại Ấn Độ, những người nghèo nhất trên thế giới đã chiến đấu để ngăn chặn một số trong những tập đoàn giàu có nhất trên thế giới, trên con đường đi của họ. Chủ nghĩa tư bản đang trong cơn khủng hoảng. Trickledown đã thất bại. Gush-Up cũng đang trong rối loạn. Sự tan chảy tài chính quốc tế đang đến gần. Tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ đã giảm mạnh đến 6,9%. Đầu tư nước ngoài kéo ra. Các tập đoàn quốc tế lớn đang ngồi trên những đống tiền lớn, không chắc nơi đâu để đầu tư, không chắc cuộc khủng hoảng tài chính sẽ diễn ra như thế nào. Đây là một vết nứt cấu trúc lớn tàn phá tư bản toàn cầu. Thực tế “đào mồ” của chủ nghĩa tư bản có thể kết thúc là các vị Hồng y giáo chủ hoang tưởng của nó, kẻ đã biến hệ tư tưởng thành đức tin. Bất chấp chiến lược của chúng lỗi lạc, chúng dường như đang gặp rắc rối khi nắm chặt một thực tế đơn giản: chủ nghĩa tư bản đang phá hủy hành tinh. Hai thủ đoạn xưa cũ lôi ra từ những khủng hoảng quá khứ: chiến tranh và tiêu thụ - đơn giản là sẽ không tác dụng. Tôi đứng bên ngoài Antilla rất lâu nhìn mặt trời lặn. Tôi tưởng tượng rằng tòa tháp sâu như chiều cao của nó. Rằng nó có bộ vòi rễ dài 27 tầng, ngoằn ngoèo xung quanh dưới mặt đất, thèm khát hút thức ăn của trái đất, biến nó thành khói và vàng. Tại sao Ambanis chọn để gọi tòa nhà họ xây là Antilla? Antilla là tên của một cụm các hòn đảo thần thoại mà câu chuyện bắt đầu từ một truyền thuyết Iberia thế kỷ 8. Khi người Hồi giáo chinh phục Hispania, sáu giám mục Thiên chúa giáo Visigothic và giáo dân của họ lên tàu và chạy trốn. Sau vài ngày, hay có thể một tuần trên biển, họ đã tới các đảo của Antilla, nơi họ quyết định định cư gây dựng một nền văn minh mới. Họ đốt thuyền của họ để vĩnh viễn cắt đứt các liên kết của họ với quê hương đã thống trị man rợ của họ. Bằng cách gọi tháp của họ Antilla, Ambanis hy vọng cắt đứt các liên kết của họ với nghèo đói và bẩn thỉu của quê hương họ và gây dựng một nền văn minh mới? Đây có phải là hành động cuối cùng của phong trào ly khai thành công nhất ở Ấn Độ? Sự ly khai của tầng lớp trung lưu và thượng lưu vào không gian bên ngoài? Khi màn đêm buông xuống trên Mumbai, các bảo vệ trong bộ vải lanh mạnh mẽ với máy bộ đàm lách tách xuất hiện bên ngoài cửa cấm của Antilla. Ánh đèn sáng rực, xua đuổi đi các hồn ma có lẽ. Những người hàng xóm phàn nàn rằng ánh sáng của Antilla đã đánh cắp màn đêm. Có lẽ đã đến lúc cho chúng ta lấy lại màn đêm. Từ Rockefeller đến Mandela, từ Vedanta đến Anna Hazare .... Các vị hồng y của tập đoàn phúc âm có thể mua sạch sự phản kháng của chúng ta bao lâu nữa? Tuy nhiên, tập đoàn hay các NGO được quỹ bảo trợ là con đường tài phiệt toàn cầu mua các phong trào phản kháng, theo đúng nghĩa đen như cổ đông mua cổ phần trong các công ty, và sau đó nỗ lực để kiểm soát từ bên trong. Chúng ngồi như các nút trên hệ thống thần kinh trung ương, các con đường mà dọc theo đó dòng tài chính toàn cầu chảy qua. Hết; Arundhati Roy is a frequent contributor to Global Research. Global Research Articles by Arundhati Roy |
Сталин: разгром пятой колонны
Mỗi khi bàn đến những nhân vật đã để lại những dấu ấn lớn lao trong một giai đoạn lịch sử, thường có nhiều tranh cãi. Bản thân mỗi nhân vật, có những đúng đắn và cũng có những sai lầm, có những tuyên truyền ở cả 2 chiến tuyến, cũng có những bí mật bị che đậy và điều quan trọng là hoàn cảnh phức tạp khi đó, có khi buộc họ phải quyết định, phải hành động như thế. Thế cho nên, chỉ viết vài dòng là không đủ, viện dẫn đôi dòng từ các học giả cũng không đủ. Stalin là một nhân vật như vậy.
Nhìn chung, quan điểm của phương Tây hiện nay về Stalin rất tiêu cực, họ gọi ông là độc tài, là dã man tàn bạo, thậm chí là bóp méo, bôi nhọ ông, thậm chí đánh đồng ông với Hitle. Nhưng bất chấp điều đó, các cuộc thăm dò cho thấy, nhiều người Nga vẫn dành cho ông những tình cảm nhất định. Đã có topic về Stalin ở đây, nhưng bài viết này là về Stalin dẹp tan “đạo quân thứ 5”, một khái niệm đã được nhắc đến ở bài #12 của topic này. Một số media Nga gần đây vừa đăng bài viết có đầu đề: "Сталин: разгром пятой колонны", “Stalin đập tan đạo quân thứ 5”. http://www.izstali.com/films/3-5kolonna.html http://www.rospisatel.ru/st.htm Thực ra bài viết này không mới, ta biết rằng, dưới thời Putin, lịch sử chính thống Nga cũng đã được chỉnh sửa cho phù hợp, điều mà phương Tây nói là “viết lại” là “bẻ cong”... Đạo diễn Nga Vladimir Novikov vào năm 2004 đã làm một bộ phim tài liệu dài 40ph mang tên như ở trên, Stalin đánh bại đạo quân thứ năm; Và bây giờ, câu chuyện này đã lại được nhắc lại, vào thời điểm Putin sắp nhậm chức và thế giới phương tây đang khủng hoảng trầm trọng, chỉ có một cuộc chiến tranh đủ lớn cỡ WW-3 mới cứu được chúng. Không có thì giờ để tìm lại các bài viết trên NNN, nhưng có lẽ 3N chưa đề cập đến vấn đề này. Đạo quân thứ 5 đã bị Stalin thanh lọc (mà phương Tây gọi là “khủng bố - wiki”), bị tống vào trại Gulag, bị dẹp yên ngay trước WW-2. Điều này có thể cho ta thêm một sự giải thích về nhân vật lịch sử Stalin. Nhưng rõ ràng trong quá trình đó, hệ thống quan liêu đã gây ra không ít oan sai. Stalin là phiên bản Nga, mà trước đây có hiểu lầm khi cho rằng cái tên Joseph là Do Thái. Thậm chí cả cái tên khai sinh Dzhugashvili cũng như tuyên truyền làm người ta nhầm lẫn. Điều quan trọng, không phải là ai đó là người Do Thái hay người Ashkenazi hay người Khazars. Quan trọng hơn là ai đứng ở chiến tuyến nào. Nếu như tất cả điều này đúng, thì Nga sẽ lại phải viết lại lịch sử. Họ cũng đã viết lại rồi, bằng cách này hay cách khác. Quay trở lại với chủ đề Stalin đánh bại Đạo quân thứ năm - The fifth column, một cái tên bình thường chỉ những kẻ cộng tác với kẻ thù ở trong nước, kể cả những kẻ phá hoại ngầm, những kẻ khiêu khích, mà mục đích chính của chúng là hoạt động phá hoại lật đổ từ bên trong để thúc đẩy chiến thắng của kẻ thù bên ngoài. Tùy thời kỳ, và quốc gia, khái niệm này có những thay đổi, đạo quân thứ 5 có thể gồm dân chúng bất mãn với chính quyền bị kẻ thù bên ngoài lợi dụng, đôi khi là công khai (giúp tiền bạc phương tiện) đôi khi là ngấm ngầm (thao túng và khiêu khích một cách khôn khéo. Như ở Belarus, khái niệm “đạo quân thứ 5” của TT Lukashenko không chỉ gồm những kẻ thực hành “dân chủ” của bà già phương Tây, mà còn gồm những ai, bất mãn với chính quyền vì những lý do khác nhau, tự tay phá hoại đất nước cùng kẻ thù bên ngoài. Còn ở CCCP, khái niệm đạo quân thứ 5 có từ lâu đời đã thực sự được sử dụng để làm tan rã Liên Xô và tổ chức tất cả các cuộc “cách mạng màu”. Ngay trước WW-2 đạo quân này đã bị Stalin dẹp tan bằng bạo lực. Nếu không làm điều đó, giành chiến thắng trong WW-2 sẽ khó khăn hơn nhiều. Chủ đề trong bộ phim của Vladimir Novikov là Stalin đã nắm lấy quyền lực nước Nga sau khi Lenin chết, mà trên thực tế theo cách bạo lực. Để hiểu điều đó thì cũng cần phải biết rằng, cuộc cách mạng 1917 được tổ chức, được cấp tiền và hỗ trợ theo mọi cách có thể từ bên ngoài bởi các lực lượng theo đuổi những mục đích nhất định, nước Nga đối với chúng chỉ la công cụ để đoạt được mục tiêu này. Cũng giống như bao nhiêu các cuộc cách mạng khác đã xảy ra khắp châu Âu trước đó, từ Anh, Pháp, cho đến nước Đức… Đó có thể là lý do chính trong số nhiều lý do mà ngày nay người Nga không còn muốn kỷ niệm cách mạng tháng 10 nữa. Lý do khác là, sau cm tháng 10 vẫn là cuộc đấu tranh dai dẳng chống tàn dư chế độ cũ, chống phản loạn và cuộc chiến giành giật lại nước Nga từ các thế lực theo phương Tây, mà điển hình là giữa Stalin và Lion Trotsky, cuộc đấu nội bộ mà người Nga gọi là nội chiến kéo dài 15 năm rất phức tạp và đẫm máu mà con số thiệt mạng còn nhiều hơn cả WW-1. Đó thực sự là thảm họa của nước Nga. Lenin không phải là một nhân vật được ưa thích ở phương Tây, mà kẻ đó là Trotsky, một Do Thái chính cống mang tư tưởng cách mạng toàn thế giới và thống trị toàn thế giới của tập đoàn toàn cầu – chỉ cần xem cái cách hắn ta bị trục xuất hay chạy trốn qua một loạt các nước phương Tây, toàn những London và Hạ Manhattan New York là đủ biết. Hắn ta và đồng bọn tin chắc sẽ chiếm được quyền lực nước Nga sau khi Lenin chết. Trước cách mạng tháng 10 hắn tuyên bố: “Nước Nga là bụi cây chúng ta sẽ ném vào lò lửa của cách mạng thế giới.” Còn ở tang lễ Lenin hắn tuyên bố: “Trên những mảnh vụn mai táng nước Nga chúng ta sẽ thấy một thế lực mà đến nỗi trước nó cả thế giới sẽ phải quì gối.” Tham vọng hoang tưởng của Trotsky và tập đoàn cổ đông đã không thành hiện thực vì bị Stalin đập tan, tránh cho thế giới một thảm họa. Ít ra ở điểm này, cả thế giới thay vì căm ghét “độc tài Stalin”, nói Great Purge thành Great Terror, nên ngả mũ kính cẩn trước nhân vật lịch sử vĩ đại. Download video ở đây: http://turbobit.net/0hgh534u8p0i.html Xem ở đây, nếu ai có điều kiện, làm subtile cho video này thì quá tốt. |
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
Ta tiếp tục ở chỗ Đại học Harvard danh tiếng, nơi bất kỳ chàng trai cô gái nào cũng đều ước mơ được đặt chân đến, tỷ dụ như cô gái xinh xắn này, sợ rằng một ngày nào đó ở Mỹ về, giữa 2 chân cô mọc ra cái đuôi, tai vểnh lên, mõm nhọn ra, còn não thì teo đi và sủa dân chủ nhân quyền rất hăng. Đó lại là một câu chuyện khác. Còn chủ đề nói đến ở đây: Các giáo sư đáng kính ở đó viết ra những pho học thuyết đồ sộ và dầy cộp, được ca tụng như thánh kinh.
Những vi mô, vĩ mô, những top-down, bottom-up, kinh tế tri thức, thế giới phẳng, dầu mỏ càng nhiều-dân chủ càng ít… và hậu công nghiệp… Thiên hạ vẫn ca tụng những thánh kinh như thế vào cái lúc bóng ma của cuộc khủng hoảng hệ thống lùm lùm phía chân trời. Và khi những nền kinh tế sụp đổ ầm ầm, các giáo sư trốn mất dạng ở đâu không rõ. Và thế là vẫn còn chị thợ cấy, anh thợ cày và bác thợ rèn. Tất nhiên xã hội nào thì cũng cần cái ăn và cái để phục vụ cái làm ra cái ăn. Sản xuất mới tạo ra thịnh vượng xã hội, không phải các pho học thuyết đồ sộ, càng không phải các ngân hàng tài phiệt cho vay nặng lãi. Tham khảo: apn.ru http://www.apn.ru/publications/article22839.htm Huyền thoại hoang đường về sự tồn tại của cái gọi là “Xã hội hậu công nghiệp” được nhồi sọ cho chúng ta ngót ngét 3 thập kỷ nay. Không chỉ là điều không tưởng vô trách nhiệm bị đẩy vào đời sống thực, đem lại những hậu quả bi thảm. Ai là kẻ đứng đằng sau tấn trò này. Xin nói ngay, giới chủ tài phiệt ăn trên ngồi trốc. Câu hỏi còn lại: Cái gì là hiện thực trước chúng ta? Làm sao đi đến đó? |
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
NGUỒN GỐC HOANG ĐƯỜNG
Khái niệm “xã hội hậu công nghiệp” được Daniel Bell, giáo sư xã hội học Harvard giới thiệu rộng rãi năm 1973. Đó là một xã hội mà trong đó nền kinh tế, do kết quả của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và thu nhập thực tế tăng trưởng mạnh, đã chuyển đổi từ xã hội ưu tiên sản xuất hàng hoá sang dịch vụ hàng hoá. Thông tin và tri thức trở thành nguồn lực sản xuất. Phát triển khoa học trở thành động lực chủ yếu cho nền kinh tế. Đặc điểm có giá trị nhất là trình độ giáo dục, chuyên môn hoá, khả năng học tập và sáng tạo của nhân công. Công nghiệp dịch vụ phát triển nhanh chóng, nhà máy lần tìm đến học viện-nơi tập trung những kiến thức sản xuất. Thoạt đầu, tất cả có vẻ đúng đắn. Bell vẽ ra một thế giới, trông giống như hiện thực ảo Andromeda Nebula của tiểu thuyết gia viễn tưởng Ivan Efremov; http://www.youtube.com/watch?v=oJmUASO-NnQ Nhưng khái niệm này lại ngự trị trong trí óc người ta ở dạng hoàn toàn khác. Minh chứng rõ ràng chính xác là quá trình giảm thiểu công nghiệp ở phương Tây (chuyển sản xuất sang các nước có nhân công giá rẻ), toàn cầu hoá theo kiểu tân-tự do Mỹ và duy trì sự thịnh vượng kinh tế bằng đầu cơ tài chính. Thật sự là vào năm 1990, một trong những nhà tư tưởng hậu công nghiệp Alvin Toffler, viết trong sách của ông ta: "Biến thái quyền lực-Metamorphoses of power" (có nơi dịch là “Chuyển giao quyền lực-Powershift” đã vẽ ra tương lai thế giới phương tây như những quốc gia toàn các nhà máy hoạt động bằng rô-bốt mềm dẻo linh hoạt. Vô hình chung không có người. Được quản lý bằng những bộ não điện tử, chỉ sản xuất hàng hoá ở số lượng đủ dùng, theo đơn đặt hàng của khách hàng, không có khủng hoảng thừa. Thế giới thực hóa ra lại hoàn toàn khác. Thay vì là rô-bốt, thì bây giờ hàng hoá lại được sản xuất và lắp ráp tại Trung Quốc, tại những nhà máy được chuyển từ các nơi khác đến Trung Quốc. Và viễn cảnh thực sự không gì khác hơn là cái chết không tránh được của phương Tây. VẾT RẠN NỨT CỐ HỮU Ngay cả chính cái tên “hậu công nghiệp” cũng đã là học thuyết ngụy biện và ngớ ngẩn. Khái niệm gần giống với nó là “hậu thương mại” hay “hậu nông nghiệp”, nếu chúng ta chỉ nhìn vào khía cạnh thuần tuý kỹ thuật. Nhưng ở góc độ định hình xã hội một cách khoa học, liệu có “hậu nô lệ” hay “hậu phong kiến”? Rõ ràng đó là những khái niệm vô nghĩa. Có xã hội phong kiến và xã hội tư bản. Cái tiền tố “hậu” cho biết rằng một hệ thống đang tồn tại đã trở thành cái xác chết đầy ác mộng: nó đã chết nhưng lại tiếp tục đi đứng như là đang còn sống. Người ta cho là, cái học thuyết “hậu công nghiệp” đã bị thổi lên tận mây xanh chỉ vì nó che đậy mờ ám hệ thống tư bản đang đi đến chỗ thay đổi. Nó xuất hiện để bào chữa, để biện hộ cho CNTB trong một nỗ lực khốn quẫn tạo ra tư bản vô độ tột cùng và toàn cầu hoá mà 30 năm qua, đã hoàn toàn kiệt quệ-và đang kéo cả thế giới lún sâu vào khủng hoảng hệ thống. Vậy, trên thực tế, cái gì xảy ra ở xã hội “hậu công nghiệp”? |
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
SỤP ĐỔ KINH TẾ
Hậu công nghiệp tiến hành bởi tư bản thống trị phương Tây, những kẻ đã bóc lột tư bản đến mức vô độ để tìm kiếm lợi nhuận. Dưới chiêu bài “hậu công nghiệp”, bọn chúng đưa sản xuất đến các nước châu Á, nơi nhân công rẻ mạt. Trong thực tế, xã hội phương Tây đã suy đồi, đánh mất số lượng lớn lao động lành nghề. Và do vậy, đánh mất lợi nhuận tương ứng với giá nhân công ngày càng cao. Thay vì là nền kinh tế năng động, tăng trưởng, nhiều sáng tạo, công nghệ và phát minh mới, giờ là dịch vụ tài chính kinh tế, hay nói đơn giản là đầu cơ. Điều đó tạo ra một sơ đồ ngu ngốc: nhà máy sản xuất ở châu Á, tiêu thụ sản phẩm ở phương Tây. Cỗ máy in tiền (đô la và euro) để mua sản phẩm hàng hoá làm tích luỹ nợ (nợ quốc gia, nợ công ty và nợ tư nhân). Dòng tiền tệ chảy từ phương Tây về phương Đông, ngược chiều dòng hàng hoá. Và cuối cùng, cái hệ thống này tất sẽ dẫn đến chỗ khủng hoảng như hiện nay. Đó cũng là con đường chết của đế chế La Mã: gây chiến và cướp bóc, mở mang lãnh thổ, tích cực buôn bán, mang rất nhiều vàng đi đổi lụa là, gia vị đặc sản phương Đông. Rồi đến chỗ chiến phí không đủ bù bởi chiến lợi phẩm, kiệt quệ, không còn cả vàng để đúc tiền. Rõ là thông minh, những kẻ đem nhà máy từ Mỹ hay EU sang Trung Quốc - nhưng đó không phải là cách tiếp cận của kỷ nguyên mới. Đằng sau dòng chảy sản xuất hàng hóa là khoa học, giáo dục và tài chính. Và chúng là nguồn nuôi dưỡng sản xuất. Phương Tây đang trên bờ vực của một cái chết thực sự, rất nặng nề, cái chết của một nền văn minh. Còn thế giới? Thế giới đang ở vào đêm trước của một cuộc CM phân phối lại quyền lực và vùng ảnh hưởng. Chính sách “hậu công nghiệp” này, rõ ràng đưa cái chết đến các quốc gia đang mạnh khoẻ. Dẫn cả phương Tây đến cái bẫy nợ chết chóc. Vô vọng, không có gì để chấm dứt sự suy giảm dân số ở các nước G7. Số liệu của IMF, đăng trên tờ Economist số 03/04/2010, vẽ ra đoạn kết của tân-tự do hậu công nghiệp. Vào năm 1980, buổi ban đầu của tình trạng điên rồ tiền tệ, tổng nợ của G7, nhóm 7 nước tư bản giàu có nhất chỉ chiếm 40% tổng GDP. Vào năm 1990, con số đó là 60% và năm 2000 là 65%. Công nợ bắt đầu tăng nhanh chóng vào 2008, năm 2010 sẽ đạt 100% và 2014 sẽ là 110% GDP G7. Điều đó có nghĩa là G7 sẽ phá sản tài chính công năm 2010. Trong khi nhóm thống trị phương Tây lo ngại choáng váng kinh tế xã hội gây đổ vỡ, đã tăng cường vay nợ và chuyển các khoản nợ từ các công ty/ngân hàng thành nợ quốc gia (bailout). Nhưng ngay cả điều này cũng không thể kéo dài mãi. Dân số già nua, quĩ hưu trí và phúc lợi tăng, sự bế tắc của mô hình “hậu công nghiệp”, sức sản xuất sản phẩm giá rẻ ở châu Á, trên thực tế không để lại cho G7 bất cứ hy vọng nào. Nước Mỹ ngày nay, thật đau lòng, vì thâm hụt thương mại khủng khiếp. Trong khi đó, chỉ mới gần đây, năm 1960, người Mỹ sản xuất hầu hết mọi thứ họ cần. Thậm chí còn xuất khẩu ô-tô, vải, quần áo, giày da, dụng cụ gia đình và đồ điện, điện tử. Dân chúng Mỹ, những người đang sống, vẫn còn nhớ các loại tủ lạnh, máy ghi âm người Mỹ sản xuất, chỉ cần xem phim "The Mad, Mad, Mad World" (1963) là rõ. Còn nước Mỹ 2010, chỉ có 4% các hãng, 14% các nhà máy có hàng gì đó xuất khẩu. Giải thích điều này, một cách thông thái người ta nói kinh tế Mỹ bão hòa, thật tức cười. Đành rằng điều đó là có thể có ý nghĩa tích cực, khi hàng hoá Mỹ tràn ngập thị trường Mỹ. Nhưng thị trường Mỹ đang tràn ngập hàng nhập khẩu! Mọi thứ đều nhập khẩu. Khủng hoảng 2008 cho thấy, ngành công nghiệp Ô-tô, niềm tự hào khoe khoang khoác lác Mỹ đã chỉ chế tạo ra những cỗ máy già nua cũ kỹ uống xăng như nước lã, tụt hậu về kỹ thuật và tổ chức thậm chí là với đối thủ cạnh tranh Hàn Quốc. Thật kinh ngạc, cuộc khủng hoảng công nghiệp ô-tô Mỹ lần này, lặp lại đúng chính những gì mà cuộc khủng hoảng trước kia, những năm 1970, khi mà người Mỹ đánh mất sức cạnh tranh trước những nhà sản xuất ô-tô Nhật Bản. Đó là khoảng cách 30 năm! Ba mươi năm đình trệ của cái gọi là “hậu công nghiệp”. Không ai học được bài học nào. Và cả nền kinh tế đổ vỡ, theo cùng một lô-gíc như thế sau đó. |
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
SUY THOÁI DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC
Áp dụng “hậu công nghiệp” được các nước châu Á hân hoan chào đón và nhiệt tình tham gia. Ở Nga, những môn đệ cục mịch của nó tuyên quá trình hủy hoại công nghiệp nội địa “hậu công nghiệp” và rất nghiêm trọng. Tính toán cho thấy những qui luật cũ đã không được chấp nhận: tiến bộ khoa học và công nghệ cùng sức sáng tạo của nền kinh tế tri thức chỉ có khả năng trong xã hội công nghiệp có lực lượng lao động đắt đỏ! Lao động đắt đỏ và bảo hiểm xã hội cao đã khuyến khích phổ biến sản xuất tự động bằng rô-bốt và sản xuất mềm dẻo có khả năng tái cấu trúc cao. Lao động đắt đỏ đã làm nảy sinh xu hướng sản xuất công nghệ cao, tiết kiệm tài nguyên và sức lao động. Tất cả điều đó dẫn đến những đột phá công nghệ, khoa học và kỹ thuật mới một cách cơ bản. Và kết quả, làm tăng cường vai trò của khoa học cũng như các học viện trong đời sống xã hội. Nhưng việc chuyển sản xuất công nghiệp đến các quốc gia có giá rẻ đã làm ngừng trệ sự phát triển của phương Tây. Các tiến bộ chỉ còn tập trung vào một số lĩnh vực (đặc biệt là máy tính và IT), hầu hết các lĩnh vực khác là tình trạng xa lầy trì trệ. Những dự án thực sự tạo ra đột phá lớn, có tỷ lệ tăng trưởng cao thì chậm dần một cách tồi tệ. Như câu chuyện vẫn còn được kể như cổ tích, khi TT Kennedy thông báo về kế hoạch chinh phục mặt trăng, đưa người đổ bộ xuống mặt trăng chỉ trong vòng 8 năm (1961-1969). Còn bây giờ, sau bao phát triển khoa học và công nghệ, để lặp lại kỳ tích ấy lại cần tái triển khai những 20-30 năm với chi phí khổng lồ và thậm chí không thể! Sức mạnh phát triển đã bị đình đốn 30 năm. Trường đại học đã không trở thành trung tâm vũ trụ, và chúng bị xâm chiếm bởi những cấu trúc bị thao túng và số đông yếu nhược. Thay vì sáng tạo ra những tri thức mới, lại là quá trình của những luật lệ bất tận và đảo lộn đến tận nền tảng những tri thức khác. Chất lượng giáo dục đã không hề tăng, mà trái lại còn tụt giảm thảm hại. Nạn mù chữ tràn lan trong dân chúng, văn hoá đọc và nếp tư duy có hệ thống bị hư hỏng, sự xuống dốc phổ biến của những con người có phẩm chất - đó là những gì thực tế “hậu công nghiệp” đã đem lại. Đó là đủ để làm ngừng trệ phát triển, và thực tế dù có đầy “phương tiện thị giác” Tivi và Internet hướng dẫn, cũng không thể giúp cho người ta có được những kỹ năng phức tạp mà họ thừa hưởng từ những con người phức hợp và phát triển của thế kỷ XX. Chất lượng trí óc và trình độ quản lý của giới tinh hoa cũng xuống dốc, xu hướng đó ngày nay nhìn thấy ở mọi nơi. Ở “hậu công nghiệp” này, siêu tư bản tài phiệt độc quyền đã đi đến chỗ tất cả được định hướng để thu lời nhanh chóng. Một mặt, chúng giết chết các đầu tư vào các chương trình dài hạn và các cơ sở nghiên cứu, sau tất cả, chỉ có đầu tư dài hạn vào nghiên cứu phát triển mới tạo ra nền tảng tri thức kỹ thuật mới của tương lai. Mặt khác, chúng không thèm che đậy tham vọng theo đuổi mục đích thu lời nhanh chóng trở thành nguy hại khi thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các tài sản cố định. Thông thường, đó được cho là vấn đề của không gian hậu Xô Viết, nhưng trên thực tế, cùng một căn bệnh như thế nước Mỹ đã phát triển mắc phải. KỶ NGUYÊN ĂN CHƠI Có thể so sánh thời kỳ công nghiệp 1932-1962 với thời kỳ “hậu công nghiệp” 1979-2009 để thấy rõ các công trình và kiến trúc. Như ta thấy, thời kỳ mà tài chính có giới hạn và có kế hoạch, đã có qui mô xây dựng khổng lồ những công trình hạ tầng trên khắp nước Mỹ. Năm 2009 là sự tàn lụi thấy rõ của những công trình như thế cũng ở chính nước Mỹ. Hoá ra là, nước Mỹ đã xây dựng những công trình quốc gia không thể tin được. Và giờ họ không thể theo dõi tình trạng của hàng ngàn cây cầu, đê, đập nước, cống xả, bến cảng, đường xá và cầu vượt, hệ thống điện và hệ thống cấp thoát nước. Chỉ tính hệ thống cấp nước đã mất 18% sản lượng nước! Hiệp hội kiến trúc sư Mỹ nói đất nước cần 1,6 ngàn tỷ đô la để đầu tư vào cơ sở hạ tầng quốc gia trong vòng 5 năm. Và chính quyền bang cũng như cấp bộ, lại thiếu năng lực để quản lý vô số nhà thầu chính phụ thực thi những dự án quan trọng. Do đó mà nước Mỹ bị lung lay bởi những thảm hoạ cơ sở hạ tầng tiếp diễn. 2003 mất điện diện rộng ở phía đông bắc Mỹ, 2005 là thảm hoạ đập New Orlean bị vỡ, 2007 là sụp cầu Saint Anthony Falls ở Minnesota, cùng hàng chục tai nạn nhỏ hơn khác. Ở nước Mỹ có hàng trăm công trình đang ở tình trạng nguy hiểm và đang chờ để sụp đổ bất cứ lúc nào. Dan Koeppel viết trong bài "Những cây cầu đến tương lai": “… Dường như là cái thế giới được xây dựng một cách cẩn trọng đã bắt đầu vỡ vụn ra thành từng mảnh, và việc sửa chữa duy trì tất cả những công trình này bỗng nhiên trở thành vấn đề hầu như không thể thực hiện được. Ít nhất là vì có quá nhiều công việc. Người Mỹ trong thế kỷ XX là những người xây dựng hăng hái nhiệt tình nhất trong lịch sử loài người. Và giờ đây, trách nhiệm hàng đầu duy trì tất cả những gì họ đã xây dựng bị bỏ rơi, gần như tất cả: đường cao tốc, cầu cống, đập nước… Khi nào thì người Mỹ trong thế kỷ XXI sẽ khắc phục được vấn đề này? …Bây giờ, người Mỹ sống trong cái di sản to lớn được thừa kế, gồm những kỳ quan bê tông cốt thép tầm cỡ thế giới. Những đài tưởng niệm này hùng vĩ hơn tất cả mọi thứ đã từng được xây dựng ở đế chế Rome, và dựng người khổng lồ một mắt của họ, được trang bị mỏ hàn, bay xúc vữa và búa tán đinh…” Nếu không phải là lâm ly thống thiết, thì rõ ràng là thay vì con người của công nghiệp-thần Ti-tan, giờ là những gã lùn hậu công nghiệp, chẳng mấy thích thú những ngày làm việc kiên cường nữa. Tinh thần lao động, tinh thần phục vụ như thế có vẻ như đã bị phá vỡ bởi chủ nghĩa tân-tự do và tư tưởng hưởng thụ. Nếu như có một thuyết giáo trang trọng: “Bạn phải trở thành tỷ phú sau 25 năm!”, thì ai chịu làm việc siêng năng? Khi mà hàng triệu người chẳng thể thành tỷ phú. Tất cả đổ xô vào lĩnh vực đầu cơ-thông tin mơ hồ trong tài chính và pháp luật. Do vậy mà bộ máy quốc gia đi đến chỗ bị huỷ hoại: không ai muốn phải làm việc một cách nặng nhọc. Để làm gì? Khi chẳng thể vì thế mà giàu có. Và thế là người Mỹ, cho dù đã từng xây dựng những công trình vĩ đại, giờ đây thậm chí không buồn cả duy trì chúng nữa. Quốc gia Mỹ trông thấy, bị biến thành thoái hoá, lười biếng hư hỏng. Khi thiếu trách nhiệm, và hạ tầng không được củng cố, điều tồi tệ sẽ xảy ra như trận lụt lịch sử New Orleans, thậm chí người Mỹ còn không thể cứu công dân của mình nữa. TT Obama đã tuyên bố chương trình 2 năm đầu tư công vào hạ tầng đổ nát cuối năm 2008. Tình trạng phát triển hỗn loạn trong môi trường kỹ thuật, lại là một hậu quả khác của vòng xoáy tư bản! Không phải là ở nước Nga, mà ở hầy hết các nước phương Tây “đã phát triển”… |
Trường mình có ông thầy phán rằng : "Các em có tin không, ông Marx và ông Engels mà sống lại thì vẫn trượt Mác Lê như thường !". Ra thế, "khoa học" đôi khi chỉ là thứ người ta nặn ra rồi tưởng tượng là đúng. Ví như cái hội thảo về ý nghĩa trận đánh bảo vệ thành cổ vừa rồi í, hết hồn hết vía.
|
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
PHÁN QUYẾT
Theo hiểu biết của chúng ta, tất cả những cặn bã này, được gọi là chủ nghĩa “hậu công nghiệp”, chỉ có một kết cục: thiết lập trên hành tinh này những chế độ với mức độ này khác của chủ nghĩa phát-xít. Bởi vì cái “hậu công nghiệp” này sinh ra những vấn nạn như thế và đẩy hàng triệu triệu người xuống hố như thế, họ sẽ chỉ thoát ra được khỏi khủng hoảng bằng máu và mồ hôi. Khủng hoảng tài chính và kinh tế, thảm hoạ tự nhiên, chiến tranh dầu mỏ, thảm hoạ do con người và dịch bệnh, tất cả đều thúc đẩy nhân loại đi đến chỗ thành phát-xít mới. Điều đó có thể là một trong những kịch bản của tương lai. Chúng ta không cho phép lặp lại câu chuyện cổ tích rằng tư bản và sở hữu cá nhân là bảo đảm cần thiết của dân chủ. Lịch sử tư bản đã o bế cho hàng loạt các chế độ toàn trị và đàn áp công khai. Chúng đến ngay lúc xã hội đối mặt với khủng hoảng khốc liệt. Qui luật của lịch sử nói rằng, cái gì đã đến, nó sẽ lại đến. Người ta biết mối quan hệ của giới tư bản với những độc tài Nam Mỹ đẫm máu ở Chile và Ác-hen-ti-na, những kẻ điên khùng theo đuổi học thuyết tiền và tự do, sẵn lòng sát hại vô số nhân dân của chúng. Người ta biết chủ nghĩa Hít-le, không phải dưới cái tên xã hội dân tộc hay tư bản dân tộc: mà là một mô hình hiện đại rất kỳ lạ, đã nổi lên nhanh chóng ở những năm 1930 trong lòng dân Đức. Có thể nói, đó là mô hình xã hội nhất, thành công nhất của chế độ chuyên chế. Không muốn nhớ phát-xít Franco ở Tây Ban Nha? Salazar ở Bồ Đào Nha? Franco đã dìm sự kháng cự của phe tả và phe cộng hoà trong bể máu, đã thiết lập mô hình kinh tế độc đáo, vay mượn rất nhiều ý tưởng từ CNCS, lập kế hoạch và kiểm soát giá cả. Nằm giữa độc tài tư bản cực tả và Hitle là “độc tài mềm” Franklin Roosevelt: tăng cường vai trò của an ninh, sát hại phe đối lập. Giờ là khủng hoảng của cái “hậu công nghiệp” được tán tụng trên mây. Liệu có thể nói nước Mỹ không phải là Mỹ la tinh? Sai! Để theo đuổi lợi nhuận, giới đầu sỏ tài chính đã biến nền kinh tế Mỹ thành tương tự như Mexico… Có nhiều khái niệm “hậu công nghiệp”, nhưng điều quan trọng là, các chủ nhân của phương Tây đã hiện thực hoá nó. Thế nên, chúng đã chuyển phần lớn ngành công nghiệp đến châu Á, nơi nhân công giá rẻ, nơi mà các yêu cầu môi trường, xã hội “thấp dưới chân tường” và các chính phủ phục tùng. Thay vì thấy tạo ra những siêu công nghiệp ở Mỹ và châu Âu. Chúng phân ly tiền từ quá trình sản xuất và biến cả thế giới thành sòng bạc khổng lồ, làm cằn cỗi và tước đoạt mọi thứ. “Hậu công nghiệp” của chúng trở thành vương quốc khổng lồ của trò đầu cơ, nơi đó mọi phát triển tiến bộ bị thu nhỏ xuống thành cải tiến vô tận máy tính và điện thoại di động. Cuối cùng, tầng lớp trung lưu, tầng lớp xã hội đã tạo ra sự thịnh vượng của phương Tây sẽ bị huỷ diệt. Sự phân cấp nguy hiểm trong xã hội, sự huỷ hoại môi trường, xung đột tôn giáo và nội chiến. Cuối cùng dẫn đến Đại suy thoái ở phương Tây. “Hậu công nghiệp cùng với nền kinh tế đầu cơ kém kết quả của nó làm nảy sinh ra dạng tư bản và các quản lý mới: trục lợi, săn đuổi lợi nhuận ngắn hạn ở đầu cơ. Còn viễn cảnh chiến lược, đầu tư dài hạn vào khoa học thành địa ngục. Chúng có thể kiếm được nhiều tiền một cách nhanh chóng với rất ít nỗ lực. Trở thành tỷ phú trong 25-30 năm! Ai có thể chứ con người làm ăn chân chính không thể- họ chỉ là đám đông xám xịt thất bại, kể cả giáo sư, và những kẻ bán ma tuý trên đường phố. “Chúng giờ đã buôn bán quá lâu trong không khí-những công cụ tài chính phát sinh có cấp độ 2, 3, 8…đã mua bán và đúng là nhận được những món tiền thưởng. Nhưng việc đó không thể kéo dài mãi! Chúng ta đang sống ở thời kỳ được chia lợi tức mỗi cuối năm, là sự kiện quan trọng nhất đối với các nhà băng. Và vì điều đó mà có thể làm mọi thứ. Giới quản lý kiếm chác quá nhiều và quá thể đến mức phải bàm luận về lương ở Quốc hội Mỹ! Chẳng còn ai muốn phát triển chiến lược kinh doanh dài hạn nữa. Tất cả muốn nhanh chóng gặt hái nhà băng…” Vì thế, tranh cãi về nguyên nhân khủng hoảng vang động xảy ra ở phương Tây năm 2008, không phải là dạng cộng sản hay phát xít, mà như cựu BT tài chính trường phái tự do và cải tổ thời Yeltsin là Boris Fedorov nói: “Tư bản hậu công nghiệp đã đạt đến tình trạng điên rồ tìm kiếm lợi nhuận tài chính trong khi cắt giảm đầu tư vào các hệ thống đào tạo chuyên nghiệp và nghiên cứu. Tuy thế, chính Fedorov cũng đã im lặng khi nước Nga lúc đó cũng đang trong tình trạng “cải tổ” tương tự. Chỉ có một điều là thật: tư bản hậu công nghiệp đầu cơ tài chính không phải là lực lượng có thể tạo ra kỷ nguyên đột phá phát triển khoa học kỹ thuật và tạo ra lực lượng khoa học sản xuất. Chúng chỉ ngu ngốc lợi dụng cái đã được tạo ra trước chúng. Thêm một hậu quả tồi tệ khác của việc tiến hành “hậu công nghiệp”. Đó là tiến bộ trong việc gào thét và vơ vét của giới đầu sỏ phương Tây. Chúng bây giờ cũng thích trốn thuế, tiến hành hối lộ, đeo bám ngân sách, hợp tác với các tổ chức tội phạm và lừa đảo (cứ đọc tái thiết Iraq là biết, có cả những căn cứ quân sự ma trên bãi cát, chứ không còn là những chuyến tàu ma chở hàng viện trợ cho Thiệu - ND). Tại sao? Sau tất cả những đồi bại, tiền sẽ chẳng có mùi gì. Chỉ có mỗi vấn đề là làm sao kiếm tiền nhanh chóng. |
KẾT THÚC MỘT HOANG TƯỞNG: XÃ HỘI HẬU CÔNG NGHIỆP
TƯƠNG LAI VIỂN VÔNG
Nếu quá trình phát triển là bình thường, các nước đã phát triển (G7) sẽ thực sự có công nghệ mới, và sau đó sẽ có xã hội kiểu mới. Cho rằng, họ sinh ra một thế giới mới, khác biệt với thế giới của thập kỷ 80, cũng như thập kỷ 80 khác biệt với sự bắt đầu của thế kỷ XX. Họ sẽ có các nhà máy, máy móc tự động kiểu mới, những phương thức giao thông mới về bản chất. Có những thành phố và khu dân cư hoàn toàn mới. Có những đột phá chính yếu trong y tế và giáo dục với những phát minh tầm cỡ về các loại thuốc chữa bệnh mới và phương pháp điều trị mới. Kỷ nguyên mới đã loại bỏ dầu lửa và thay thế nó bằng nguồn năng lượng mới. Cuối cùng, thế giới mới đã tạo ra siêu công nghiệp: các nhà máy hoạt động theo nguyên lý mới với công nghệ khép kín, cho phép giảm mạnh mẽ năng lượng tiêu thụ và tiết kiệm triệt để tài nguyên. Tóm lại, thế giới mới đó là CNCS, rất đơn giản. Nhưng những công nghệ như thế là thù địch với giới tư bản theo một lẽ rất tự nhiên, bởi chúng tạo ra mức độ phát triển cao của xã hội mà trong cấu trúc một xã hội như thế, vai trò chính không phải là bạo lực, không phải là tiền bạc hay sự giàu có, mà là tri thức. Những đường nét của thế giới như thế đã sáng tỏ từ 40 năm trước. Những năm 1966-1967, công ty Mỹ General Electric đã chi 7 triệu đô la hàng năm trợ giúp nhóm các nhà khoa học, kỹ sư, xã hội, kinh tế học để tạo ra bức tranh của năm 2000, song song với nó là một chương trình tương tự ở Đại học Illinois. Chúng đã chỉ ra chính xác thế giới năm 2000 có dân số gấp đôi 6 tỷ người, chúng cũng gần đúng khi nói về cuộc CM thông tin-máy tính hiện nay, mà theo đó những chiếc máy tính đủ nhẹ và mạnh để dùng cho cá nhân xuất hiện ở mọi nơi, còn dân chúng sẽ làm việc với nhau ở nhà. Các nhà tương lai học cũng đã tiên đoán sự lên ngôi của những cỗ máy tìm kiếm trên mạng như Google hay Yandex. Họ cũng đã đoán trước đúng đắn về liên lạc vệ tinh và gửi nhận tài liệu qua sóng vô tuyến. Họ không hề sai khi nói vào năm 2000, tài liệu sẽ được gửi đi ở dạng điện tử. Các nhà tiên tri Mỹ đúng khi nói về nông nghiệp với sự bùng nổ của cơ giới hóa trồng trọt, làm biến mất những nông trại nhỏ, về nhà máy tự động hóa, về những chiếc xe hơi an toàn và tiết kiệm hơn nhờ thiết bị điện tử, về cấy ghép và biến đổi gene trong nông nghiệp, về thuốc giảm đau và chất kích thích như viagra. Chỉ ngoại trừ bắt đầu từ đây, sự không nhất quán khi mô tả về “hiện thực” xuất hiện. Các nhà kỹ trị thông thái Mỹ ở thời 60 cho rằng, có cái gì đó giông giống CNXH. Tự động hoá và máy tính hoá nhà máy sẽ giải phóng con người ra khỏi công việc trong công nghiệp và tạo ra cho người ta vô số thì giờ nhàn rỗi. Nghĩa là con người có cơ hội để sáng tạo và phát triển. Các nhà thông thái tin tưởng, đói nghèo sẽ bị kết liễu vào năm 2000, mọi cá nhân sẽ đều giàu có, sự khác biệt giữa các tầng lớp sẽ giảm nhanh chóng và sẽ là xã hội tầng lớp trung lưu. Người giàu sẽ không phản đối đóng thuế lũy tiến. Sự phức tạp trong xã hội gia tăng và xuất hiện nhu cầu cần thiết phải có những kế hoạch dài hạn dẫn đến tăng cường vai trò của nhà nước. Tóm lại là người Mỹ đã vẽ ra một tương lai rất giống với những gì chứa đựng trong các chương trình của đảng CS Liên Xô những năm 1961 và 1986. Các nhà tương lai học hứa hẹn vào sự bùng nổ rô-bốt. Chúng được cho là sẽ xuất hiện trong từng gia đình. Chủ tịch Uỷ ban năng lượng hạt nhân Mỹ thậm chí còn vẽ ra viễn cảnh người hầu máy: một cái hộp với con mắt điện tử ở bên trên, một vài cánh tay và những cái chân dài. http://www.apn.ru/pictures/7623.jpg Thưa các quí ông quí bà! Các nhà thông thái Mỹ những năm 60 đã chẳng thể mường tượng ra, thay vì là nhà máy công nghiệp đầy rô-bốt, đơn giản hơn là chuyển nhà máy từ Mỹ sang châu Á và rô-bốt ở đó Made in China chạy bằng cơm giá rẻ lại có rất nhiều. Thế là viễn cảnh sáng láng tự nhiên dừng lại! Điều đó đã được thực hiện để có được lợi nhuận cao hơn cho các ông chủ tư bản, và xã hội phương Tây bắt đầu phân hóa nhanh chóng và trở nên nghèo khó. Tầng lớp trung lưu bắt đầu bị xói mòn và suy tàn. Tất cả đưa đến chỗ phương Tây giàu có bắt đầu lao vào cuộc đại suy thoái. Nước Mỹ chìm đắm trong gánh nặng nợ công, nhưng tự nó, có một thứ vẫn được ưa thích: giảm gánh nặng thuế khoá. Giới tư bản độc quyền xiết chặt hầu hết những dự án quan trọng có thể đảm bảo tương lai. Ví dụ, lĩnh vực năng lượng nhiệt hạch. Người ta không thể hình dung ra rằng giới đầu sỏ tư bản tài chính và đầu cơ lại chôn vùi hầu hết những dự án hạ tầng quan trọng. Máy tính thì vẫn được phát triển, nhưng hầu hết mọi thứ khác bị ngủ đông hay bò chậm như rùa. Ở năm 1966, người ta trông đợi năm 2000 sẽ có tàu điện ngầm tốc độ 1000 km/h, máy bay siêu thanh liên lục địa đưa con người đến bất cứ chỗ nào trên hành tinh trong vòng chưa đến vài chục phút. Vài chục nhà máy điện hạt nhân không lồ cung cấp điện cho toàn thể nước Mỹ (dự báo của GE), thậm chí có cả những cánh đồng dưới nước biển. Người ta tin có thể làm chủ thời tiết. Một nhà máy hạt nhân khổng lồ ở núi Wilson, Los Angeles sẽ thải nhiệt sưởi ấm khí quyển. Những thủ phủ cao chọc trời đến tận 6,5km. Gió đại dương sẽ đưa mưa đến sa mạc California, siêu kỹ thuật sẽ cải tạo sa mạc cằn cỗi California thành siêu vườn địa đàng Eden (Defid Wilson. "History of the Future"). Đó là tất cả những gì được tạo ra hiển nhiên là dưới siêu tư bản tiền tệ “hậu công nghiệp”? Không! rõ ràng là không phải. Thay vào đó là sự đình trệ và thụt lùi rất rõ ràng. Các nhà tương lai học của thập kỷ 60 đã sai hay sao? Không! Cũng không hẳn thế. Họ chỉ không lường trước một thứ: CNTB đã đến giai đoạn suy tàn và thối nát, chúng trở thành lực cản đối với sự phát triển của các lực lượng sản xuất. Khi cuộc đua tiền bạc lợi nhuận phá hoại khoa học. Chúng không biết Liên Xô tiêu vong, tác nhân kích thích phương Tây phát triển biến mất, bùng nổ những xu hướng của các loài hoa dại quái thai phản kỹ thuật và phản tri thức: nữ quyền (feminism), đòi đúng đắn chính trị, đòi nền tảng tôn giáo và thị trường, chủ nghĩa dân tộc và đạo thần bí sơ khai… Đó là quá trình thụt lùi, thoái hóa. Ví dụ trong giáo dục, chính giáo dục là nhân tố chủ yếu. Giáo dục xuống cấp, dẫn đến cái chết và phát triển khoa học công nghệ sẽ tàn lụi. CÁI GÌ THAY CHO “HẬU CÔNG NGHIỆP”? Bây giờ là lúc cần có câu trả lời: Nếu học thuyết hậu công nghiệp là không thể, thì chúng ta có thể chọn gì để thay thế nó? Cần thiết phải tạo ra học thuyết về hệ thống để thay thế CNTB phản tiến bộ giai đoạn cuối, mà trên thực tế đã tán dương chủ nghĩa “hậu công nghiệp”. Tác giả cho rằng, sự thay thế sẽ có khả năng ở cả 2 lựa chọn. Một là đi lên và hai là đi xuống. Phương án đầu tiên, sẽ tạo ra xã hội phát triển ở vào giai đoạn tiếp theo. Có thể gọi là xã hội “mạng nơ-ron”, có cấu trúc như mạng nơ-ron thần kinh bộ não. Xã hội này là một dạng phát triển cao hơn tư bản, dựa trên sự cởi mở thân thiện và tin tưởng giữa con người, cùng lối sống tiến bộ và khoa học công nghệ. Có thể cho rằng, đó là xã hội CS đã phát triển. Có nhiều những phỏng đoán như thế ngày nay từ rất nhiều các nhà nghiên cứu. Phương án thứ hai là sự thoái hoá, xung đột và chiến tranh. Nhân loại quay lại thời kỳ trung cổ, thậm chí thời kỳ đồ đá. Cái khác là còn giữ lại mức độ công nghệ nào đó. Vấn đề còn lại là phải xem xét thận trọng và cân nhắc những sự kiện tiếp theo. (Hết) |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Không gì khác hơn là đạo quân Crusader mà Putin nói đến. Bài viết của Chính thống giáo Nga cho ta bức tranh rất rõ ràng, trong đó giải thích tại sao, một công cụ xưa cũ của thời Chiến tranh lạnh lại trở thành mode thời thượng hiện nay. Cũng như chúng, những kẻ tham vọng thống trị thế giới đã tước đoạt và chuyển hướng những giá trị thực về quyền con người như thế nào. "Muốn phá hoại, hãy làm thủ lĩnh!"
Những con chuột nhân quyền trong đạo quân Crusader, chúng được giới tài phiệt Do Thái phong tước bằng đô la, chúng có vẻ không nguy hiểm. Nhưng dơ dáy bẩn thỉu và lây lan dịch hạch. Tham khảo từ nguồn Chính thống giáo Nga; Tiếng Nga : http://www.pravoslavie.ru/analit/040518110515.htm http://www.pravoslavie.ru/analit/040525181342.htm Tiếng Anh: http://www.pravoslavie.ru/english/7184.htm http://www.pravoslavie.ru/english/7186.htm http://www.pravoslavie.ru/sas/image/hrw.jpg |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Human Rights Watch - HRW (Giám sát nhân quyền) — trên danh nghĩa là một tổ chức Phi chính phủ (NGO) có mục đích bảo vệ quyền con người trên 70 quốc gia và trụ sở chính đóng ở Mỹ. HRW về mặt hình thức không nhận đóng góp tài chính từ các cơ cấu của chính phủ Mỹ, mà chỉ từ các quyên tặng cá nhân. Cho dù là tự giới thiệu hay Wikipedia viết về HRW, thì tốt hơn hết cần hiểu vì cái gì mà các cá nhân gây quĩ cho HRW.
Lịch sử và Mục đích Không gì khác hơn là công cụ chính trị của giới đầu sỏ tự do-toàn cầu Mỹ (thực chất là Do Thái Mỹ), đầu đề của nguồn tham khảo. Vậy mà hiện nay, chúng lại là mốt thời thượng, "phe đối lập" ở các quốc gia thường viện đến cái mốt này, giới đầu sỏ dùng cái mốt này gây áp lực lên chính quyền Mỹ, Quốc hội Mỹ để ra các chính sách ép buộc chính các công ty Mỹ và các quốc gia chúng không ưa. Nhẹ thì là "báo cáo nhân quyền", "nghị quyết", nặng thì là cấm vận, bao vây kinh tế... Nhưng không chỉ có thế. Có cả áp lực nặng nề đến "Liên hiệp quốc", tổ chức quốc tế lớn nhất được cho là cầm cân nảy mực, là công lý và dĩ nhiên không thể thiếu chiến tranh với cái cớ nhân quyền, can thiệp nhân đạo. Ngày nay "nhân quyền" là nguyên cớ của khá nhiều cuộc chiến tranh mà trong đó quyền sống của con người còn không được chúng bảo đảm, nói gì đến nhân quyền. Thật đáng xấu hổ. Ấy thế mà các nhân sĩ nước nhà sử học nọ, cũng bắt đầu lảm nhảm. Hiện tượng "tai vểnh lên, mõm nhọn ra..." đã nói ở bài #24; Dĩ nhiên tôi cũng có thể viết ra các pho sách đồ sộ, trong đó nói rằng, có mối liên kết chặt chẽ giữa đảm bảo sức khỏe và phát triển kinh tế... nên để phát triển phải đầu tư vào ý tế!!!... WB, IMF là thủ phạm của Liên Xô sụp đổ với liệu pháp sốc và tư nhân hóa mà chúng giới thiệu, của đói nghèo châu Phi, của gánh nặng khai thác tài nguyên trả nợ ở các nước thế giới thứ 3, của nợ công và khủng hoảng thế giới hiện nay, chúng nổi tiếng không phải vì những khoản đầu tư, khoản cho vay mà vì khoản gây áp lực chính trị và đặt điều kiên thưa nhà sử học đáng kính! Lịch sử HRW có thể tính đến là bắt đầu từ tháng 7 năm 1973 khi một nhóm 11 nhà văn, sử học và nhà xuất bản Mỹ thành lập Ủy ban bảo vệ Andrei Amalrik, một nhà nghiên cứu và xuất bản một số tác phẩm bất đồng chính kiến với CQ Xô viết bị xét xử. Trong ủy ban kia, có các nhà văn Mỹ có tiếng là Arthur Miller, John Updike, Robert Penn Uorren, nhà sử học Harrison của Salisbury và các nhà xuất bản sách lớn như William Jovanovich, JohnWiley and Sons, Robert L. Bernstein (Random House), Vintrop Knoulton (Harper & Row). Vị chủ tịch nhà xuất bản Random House Robert L.Bernstein (người truyền cảm hứng và tổ chức ra ủy ban này) là một thương gia có quan điểm tự do, trước đó đã từng gây quĩ cho tổ chức “Tự do ngôn luận”. Ủy ban này tuyên bố Amalrik đã bị kết án vì “công khai bày tỏ suy nghĩ” và thúc giục CQ Xô viết “khôi phục các quyền hợp pháp, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận và quyền tự do ra nước ngoài nếu anh ta muốn”. Năm sau, ủy ban này phát động chiến dịch ủng hộ nhà hoạt động đang bị quản chế Vladimir Bukovsky. Tuyên bố của ủy ban bao gồm phát ngôn về quyền tự do và quyền được bảo vệ của tù nhân cũng như quyền được thăm nom, thư từ, quyền có luật sư và quyền được chăm sóc y tế. Đặc biệt ủy ban này nhấn mạnh Bukovsky là nạn nhân bị đàn áp bởi chuyển công khai và hợp pháp cho phương Tây “tài liệu bằng chứng về xâm phạm quyền con người” trong chế độ Xô viết. Năm 1976 Robert Bernstein đã đến Mat-xcơ-va thăm nhà vật lý hạt nhân bất đồng, hoạt động nhân quyền A.D.Saharov và một số các chuyên gia có tiếng khác. Buổi nói chuyện kéo dài nhiều giờ với họ đã làm cho Bernstein có ý tưởng tạo dựng ở Mỹ một tổ chức có thể hỗ trợ thường xuyên, có hệ thống cho các nhà hoạt động Xô viết. Hai năm sau thời điểm này, tại Mat-xcơ-va và nhiều thành phố Liên Xô khác xuất hiện các nhóm giám sát nhân quyền được CQ Xô viết cho phép hoạt động theo Thỏa thuận Helsinki. Robert Bernstein cũng thành lập tại New York tổ chức giám sát nhân quyền mang tên Ủy ban giám sát Helsinki Mỹ (US Helsinki Watch). Nhiệm vụ của nó được tuyên bố là bảo vệ các nhóm nhân quyền và ở Liên Xô, Đông Âu và hỗ trợ hoạt động của họ bằng con đường công khai hợp pháp dựa trên thực tế xâm phạm nhân quyền ở các quốc gia này. Khác biệt cơ bản của US Helsinki Watch với các nhóm nhân quyền Armenia, Ukrainia, Lithuania, Estonian và Liên Xô và các nước Xô viết khác là US Helsinki chỉ chú ý đến vấn đề nhân quyền của các nước Xô viết. Trong khi trách nhiệm giám sát nhân quyền theo Thỏa thuận Helsinki là ở tất cả các quốc gia đã ký kết. US Helsinki Watch công khai tuyên bố nhiệm vụ là ở Xô viết và Đông Âu. Chúng không có trách nhiệm ở Mỹ và phương Tây. Tạo ra được Helsinki thực sự là cả một cuộc cách mạng. Cho đến lúc đó, vào cuối những năm 1970 chỉ có các tổ chức quốc tế như Ân xá quốc tế (International Amnesty) hay Liên đoàn quốc tế về nhân quyền (International Federation for Human rights - FIDH) hoạt động. FIDH lập năm 1922 có trụ sở ở Paris bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên. Một tổ chức khác của LHQ là Ủy ban nhân quyền LHQ đóng tại Geneva hoạt động trong khuân khổ hiến chương LHQ. Cho dù đã tồn tại một số tổ chức qua một vài nhiệm kỳ, thì sau đó cái tổ chức núp dưới cái tên Giám sát nhân quyền - HRW vẫn được thành lập. Cho đến tận ngày nay, chỉ duy nhất Ban lãnh đạo HRW và Hội đồng cố vấn có quyền xác định các mối quan tâm và đưa ra chính sách. Người nước ngoài tham gia vào ban lãnh đạo và cố vấn HRW rất ít ỏi và chỉ đếm trên đầu ngón tay. Không có bất cứ tổ chức có trách nhiệm và chính danh nào khác đụng vào được HRW, cho dù là LHQ hay các tổ chức quốc tế, cũng như cả QH Mỹ, CQ Mỹ hay Tòa án Tối cao Mỹ. Ban đầu, tất cả các nhân viên của US Helsinki Watch chỉ gồm có vài người. Robert Bernstein tự mình làm chủ tịch, ông phó là vị luật sư của phố Wall Orville Hickok Schell, các thành viên thuộc các đoàn luật sư nổi tiếng Hughes, Hubbard & Reed, và Adrian DeWind, cũng như các đoàn Paul, Weiss, Rifkind, Wharton & Garrison. Trong đó cũng có cả vị luật sư nổi tiếng Aryeh Neier, từng là giám đốc quốc gia của Liên đoàn tự do dân sự Mỹ (American Civil Liberties Union - ACLU), và Jeri Laber, một người đấu tranh cho quyền tự do dân sự Mỹ. Sau đó một chút, có cả vị luật sư Mỹ hàng đầu về luật quốc tế Jerome J. Shestack, ông này là người sáng lập và chủ tịch của Ủy ban luật sư dân sự Mỹ năm 1963 cũng như lập và làm chủ tịch Ủy ban luật sư về nhân quyền năm 1977. Nhắc lại Jeri Laber, cần phải nói là Robert Bernstein đã từng nói “Tiên đoán rằng nhóm nhỏ tập trung quanh bàn hội nghị của nhà xuất bản Random House, một ngày nào đó sẽ trải rộng khắp thế giới.” Dường như lúc đó, Bernstein đã thực sự có lý do quan trọng để phát biểu mạnh như vậy. Như tư liệu viết 20 năm sau, năm 1998, bởi vị chủ tịch HRW khi đó, cũng đồng chủ tịch quĩ Mac-Arthur là Dzhonatan Fanton, Robert L.Bernstein được Hội đồng ủy trị quĩ Ford, và Arthur Goldberg, một kẻ là chủ tịch Hội đồng Do Thái Mỹ, đại diện Mỹ tại LHQ dưới thời tổng thống L. B. Johnson đề nghị giữ cương vị chủ tịch US Helsinki Watch. Cũng cần phải nói đôi điều về quĩ Ford, được lập vào năm 1936 bởi nhà quản trị dây chuyền sản xuất xe hơi nổi tiếng Henry Ford. Tuy nhiên, đến thập kỷ 50, quĩ Ford đã bị chuyển giao cho Hội đồng ủy trị quĩ, đằng sau nó là cả một câu chuyện dài mà sau này ta sẽ đề cập nếu có dịp. Những kẻ ủy trị này không có bất cứ liên hệ nào với gia đình ông Ford. Ngày nay, cái hội đồng ủy trị này gồm gần 20 vị, trong số đó gồm có những vị là giám đốc, chủ tịch các tổ hợp công nghiệp-tài chính lớn nhất Mỹ như XeroxCorp., АlcoaInc., Coca-ColaCo., Carlyle Asset Management Group. Cũng kể từ 1950 quĩ Ford tài trợ cho các dự án tài chính, “tập trung vào Liên Xô và các nước Đông Âu”. Giai đoạn 1950-1988, đã có khoảng 60 triệu USD được dùng để “hỗ trợ tự do ngôn luận, đa dạng văn hóa, và giám sát nhân quyền”. Năm 1989, Hội đồng ủy trị Ford “đã quyết định ủng hộ trực tiếp các "tổ chức tiến bộ" tại Liên Xô, Ba Lan, Hungaria và sau đó là CH Czech, để thúc đẩy tiến bộ quá trình dân chủ hóa và cải tổ kinh tế ở các nước này. Cùng mục đích như thế, giai đoạn 1989-1994 đã sử dụng khoảng 30 triệu USD.” Không chỉ có những chính trị gia tên tuổi theo xu hướng tự do (Arthur Goldberg, Are Nejer, Dzherom Shestak) tham gia trực tiếp vào hình thành tổ chức nhân quyền mới HRW, mà còn có các tổ hợp công nghiệp-tài chính lớn nhất Mỹ, do đó mà nói rằng HRW là "tổ chức quần chúng" (grassroot) là không hề có bất cứ cơ sở nào. Vậy thì động cơ nào khuyến khích và thúc đẩy phe tự do Mỹ bảo vệ nhân quyền ở Liên Xô và Đông Âu? Chính sách đối nội đối ngoại trong bối cảnh US Helsinki Watch như thế nào? Năm 1989, các tổ chức nhân quyền Mỹ đã thống nhất trên cơ sở nhóm US Helsinki Watch lập thành một tổ chức lấy tên Giám sát nhân quyền (Human Rights Watch - HRW), các lãnh đạo và các cố vấn hợp nhất của HRW sau đó đổi tên thành Ban giám đốc HRW. Robert L. Bernstein trở thành chủ tịch HRW, phó là luật gia Adrian DeWind. Cựu lãnh đạo Liên đoàn tự do dân sự Mỹ - ACLU Aryeh Neier làm giám đốc điều hành, phó điều hành là “ngôi sao đang lên” về lập quyền con người-luật sư Kenneth Roth. Hội đồng cố vấn HRW gồm 22 vị, một phần là các quản lý, cố vấn các chi nhánh HRW, một phần là quản trị các quĩ hùng mạnh cũng như các tỷ phú hay làm “từ thiện” như là Dorothy Cullman và Irene Diamond. Robert Bernstein vẫn giữ chức chủ tịch US Helsinki Watch. Làm phó cho hắn ta là nhà sử học-chủ tịch New School University Jonathan Fanton và luật gia Alice H. Henkin, một trong những giám đốc của Viện, “bộ não” có ảnh hưởng nhất là Aspen. Trong cơ cấu của Hội đồng cố vấn US Helsinki Watch bao gồm cả các nhà khoa học tên tuổi Hans Bethe và Jerome Wiesner, nhà văn Ed Doctorow và Arthur Miller, mục sư Robert Drinan và giáo sĩ Do Thái Rolando Matalon, Farenthold và Stanley Sheinbaum là cựu hoạt động cho phong trào chống chiến tranh Pháp, luật gia quốc tế Marvin Frankel và Theodor Meron-vị chủ tịch tương lai của cái gọi là Tòa án quốc tế - international Tribunal trải rộng khắp cựu Nam Tư. Chưa hết, hiện còn có nhà băng tỷ phú Bernard Aidinoff, Ellen Futter, Felix Rohatyn, một số trong 3 kẻ này là giám đốc lâu năm của nhà băng Salomon Brothers, ông vua-tỷ phú phố Wall John Gutfreund. Giám đốc điều hành US Helsinki vẫn là Jeri Laber. Giám đốc “nghiên cứu” Catherine Fitzpatrick thì đã rời HRW vào cuối thập kỷ 80 do bất đồng chính sách chiến lược với ban lãnh đạo mới. Vấn đề tài chính của tất cả các nhiệm kỳ HRW hầu hết đều dựa vào các quĩ Do Thái. Trong số đó có thể kể tên Aaron Diamond Foundation, J.M. Kaplan Foundation, Revson Foundation, Scherman Foundation. Cũng như cuối thập kỷ 70 HRW được tài trợ từ quĩ Ford. Trong số các nhà “tài trợ” mới là quĩ tỷ phú có tiếng nhân đức như MacArthur Foundation, John Merck Fund, J. Mertz-Gilmore Foundation. Tài chính và hoạt động do Bernstein gây dựng từ đầu thập kỷ 70 được dùng cho “tự do ngôn luận” chi tiêu của các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật có tiếng như Аrthur Miller, Kurt Vonnegut, EL Doctorow, John Updike, kể cả Dorothy Cullman, Irene Diamond, Mark Kaplan. Bạn biết, hay đã đọc/xem bao nhiêu tác phẩm của những cái tên trên? Nhưng những quyết định “trọng yếu” nhất ảnh hưởng không chỉ đến tính chất cũng như sự lựa chọn mục tiêu phê phán của HRW mà còn là nhiệm vụ của chính tổ chức này, khi HRW trở thành “đồng minh” của kẻ cơ hội kiếm chác từ các vụ đầu cơ khủng hoảng quốc tế (sát thủ kinh tế)-tỷ phú George Soros. Hắn ta đến với HRW không chỉ một mình, còn có vợ hắn là Susan, một nhà đầu tư của quĩ Quantum, các tỷ phú John Gutfreund và John Studzinski, vợ của nhà quản trị quĩ Stanleu Druckenmiller là Fiona Druckenmiller, và thậm chí các nhân viên các công ty và các quĩ mà Soros sở hữu, cùng các nhà phân tích chính trị nổi tiếng Barnett Rubin và William D. Zabel, cũng như nhân vật ngoại giao Warren Zimmermann. Một số nhân viên trong cơ cấu và vẫn giữ các chức vụ HRW đã cùng lúc làm việc và trở thành tay chân của Soros như Thành viên quản trị và Chủ tịch HRW chi nhánh châu Âu và Trung Á, cựu US Helsinki Watch, phóng viên Peter Osnos thành giám đốc điều hành nhà xuất bản của Soros. Thành viên Hội đồng cố vấn chi nhánh quyền phụ nữ đấu tranh vì quyền đồng giới Gara LaMarche trở thành phó Văn phòng New York của Viện Xã hội mở của Soros. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Tiêu chuẩn kép của HRW
Ngày nay, HRW có văn phòng ở trên 10 nước: New York, Washington, Los Angeles, Bruxelles, London, Rio de Janeiro, Moscow, Tbilisi, Dushanbe, Hong Kong. Số lượng nhân viên của tổ chức này là trên 180 với ngân sách hàng năm cỡ hơn 21 triệu USD. Nó thường xuyên phát ra các “tuyên bố” và các “báo cáo” về vi phạm nhân quyền hầu như ở mọi quốc gia. Tuy nhiên như George Orwell đã từng viết, "mọi người là bình đẳng nhưng một số bình đẳng hơn kẻ khác”. Để xem các lãnh đạo HRW “bình đẳng hơn” và ai “kém bình đẳng hơn” thì chỉ cần nhìn vào thống kê các tuyên bố và các báo cáo của chính HRW. Rõ ràng HRW đã áp dụng tiêu chuẩn kép và lựa chọn các đối tượng để chỉ trích. Cái thống kê này cũng giống như mảnh giấy quì, nó biểu thị mức độ bịa đặt và can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia. Chỉ tính các nước cựu Xô viết, trong giai đoạn 7 năm từ 1994 đến 2001, HRW phát ra 172 tuyên bố vi phạm nhân quyền, trong số đó rành riêng cho Nga đã là 117. Để so sánh, thấy rằng cũng giai đoạn này không có bất cứ tuyên bố nào về Ukraine, Kazakhstan có 6, Turkmenistan có 3, và tất cả là quở trách Nazarbayev và Niyazov thiết lập quyền lực cá nhân, đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và đàn áp phe đối lập. HRW cũng không có bất cứ tuyên bố nào về vi phạm nhân quyền đối với người Nga sinh sống tại Latvia và Estonia, không về bắt bớ phong tỏa ở nhà thờ Chính thống giáo ở Ukraine, không về bắt giữ nhà hoạt động Nga Cossacks ở Kazakhstan, không về thanh lọc chủng tộc ở Tajikistan và Kazakhstan. Hai tuyên bố về Turkmenistan thì nằm trong số các thông điệp về hạn chế tiếng Nga tại nhà nước và các tổ chức tư nhân và xét xử tội phạm các tổ chức Nga không phép. Vấn đề là gì? Tại sao lại có sự khác biệt? Trả lời cho câu hỏi này không nằm trong phạm trù nhân quyền. Mà là ở chỗ “Kazakhstan – đó là vị trí chiến lược của chúng ta ở Trung Á bởi tài nguyên dầu khí”. Câu đó không phải là cố vấn an ninh TT Mỹ viết, mà là giám đốc điều hành HRW chi nhánh châu Âu và Trung Á Elizabeth Andersen viết. Người Nga, chắc chắn muốn tự vị chủ tịch hội Helsinki Nga, hội Memorial S.A. Kovaleva nói ra câu đó. Tương tự như vậy là Turkmenistan, nơi có nguồn dầu khí lớn và được CP cũng như QH Mỹ gây quĩ hàng năm cỡ 150-189 triệu USD. Bảo vệ nhân quyền lại có mùi hàng triệu, hàng tỷ đô la. Còn tại Trung Đông thì vấn đề bảo vệ nhân quyền là như thế này: nơi thường xuyên và thô bạo nghiêm trọng như Saudi Arabia chỉ có 8 tuyên bố trong cùng thời kỳ 8 năm 1994-2001, cũng thời kỳ đó chúng nói về Serbia là 122. HRW trong vấn đề Israel-Palestine rất đặc sắc: hàng năm chúng tung ra cùng một lượng như nhau tuyên bố về mỗi bên, 32 cho Israel và 33 cho Palestine thời kỳ 1994-2010. Tuy vậy cái “công bằng trong phán xử” này không hề giúp HRW thoát khỏi cáo buộc can dự và thiên vị với bên Israel trong cuộc xung đột này. Còn đây là các chuyên gia lão luyện HRW cung cấp cho người đọc phương Tây về các sự kiện ở CH Chechnya, từ 30-9-1999 đến 16-4-2000, HRW ra 41 tuyên bố vi phạm nhân quyền tại Chechnya. Trong đó Nga bị lên án trong 38 tuyên bố, phía “người Ichkeria” (phiến quân Chechnya theo cách gọi của HRW và phương tây) chỉ có 1 lên án, còn lại 2 tuyên bố chỉ trích cả 2 phía. Cũng theo “tư liệu” HRW, CQ Nga xâm phạm nhân quyền ở Chechnya 13 lần, thường xuyên hơn đám phiến quân khủng bố Basayev-Maskhadov-Abu Valida! Còn trước chiến dịch Chechnya 2, phía Nga cũng bị các chuyên gia HRW chỉ trích 19 lần, phía Chechnya 1, bất cứ ai ở phương Tây cũng phải lo ngại về tình trạng “chiếm đóng” và “bạo lực thú tính” của nhà cầm quyền Nga đối với “nhân dân Chechnya yêu chuộng hòa bình thuộc CH Ichkeria”. Cuộc chiến tranh Iraq loại bỏ chế độ cầm quyền Saddam Hussein và cũng là loại bỏ mối nguy hiểm tiềm tàng của Israel. HRW đã bày tỏ lòng trung thành tận tụy bằng cách dội bão lửa báo cáo nhân quyền vào dân chúng, biến Saddam thành quỉ dữ và dọn đường cho cuộc tấn công xâm lược của Mỹ vào Iraq. Vài tháng trước khi nổ ra chiến tranh, HRW bắt đầu tung ra một chuỗi các “báo cáo” và luận điệu bạo lực nhân quyền Iraq… từ thậm chí tận 10, 15 năm trước, trong đó có báo cáo Saddam Hussein sử dụng vũ khí hóa học chống người Kurd ly khai năm 1987. Những tuyên bố kiểu này có mục đích rõ ràng: làm cho cả thế giới khiếp sợ Saddam Hussein, và do đó làm “nhẹ đi” phản ứng tiêu cực của dân chúng đối với cuộc xâm lược của Mỹ vào CH Iraq. Còn sau đó, chẳng có lý do gì để nghi ngờ HRW đã “một lòng” với CQ Bush, HRW đã cố nhịn tuyên bố và báo cáo về cuộc chiến Iraq. Bạn có biết bao nhiêu cái tên xuất hiện trong loạt bài này là Do Thái Zionist? Tôi không muốn mất thì giờ tính đếm nhưng có thể khẳng định: phần lớn trong số chúng. Robert Bernstein - Zionist sáng lập ra HRW và George Soros - Zionist sát thủ kinh tế thao túng HRW http://img-fotki.yandex.ru/get/6303/...f872ce9a_L.jpghttp://img-fotki.yandex.ru/get/6209/...49ce6_orig.jpg |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
“Chúng ta là hy vọng cuối cùng của nhân loại…” , Abraham Lincoln;
Bên trên đã nói về vai trò phe tự do (đảng dân chủ) trong việc tạo ra và hoạt động HRW, đối với phe này, vấn đề nhân quyền Xô viết và Đông Âu là phù hợp với tự do lợi ích (được phe bảo thủ đảng cộng hòa chia sẻ). Khái niệm hợp tác hòa bình được chấp nhận đầu những năm 60 và lấy làm chiến lược quốc gia dưới thời TT John F. Kennedy. Khái niệm này khác với học thuyết kiềm chế CS mang tên Kennan và do cả 2 đảng cầm quyền Cộng hòa cùng Dân chủ nắm giữ từ 1947. Tuy vậy, phần chung trong vấn đề chính sách đối ngoại lớn hơn sự bất đồng, khi cả 2 học thuyết đều dựa vào khái niệm đặc trưng là tinh thần Mỹ. Đặc điểm cơ bản của CH Mỹ được kế thừa một cách có ý thức bởi cả giới đầu sỏ cai trị và quần chúng, đó là tư tưởng "nước Mỹ duy nhất" và "được Chúa chọn". Điều mà các nhà xã hội học nói, hệ tư tưởng khởi nguồn của một dân tộc được Chúa chọn, được đưa đến “miền đất hứa” của những người Anh phản kháng, trở thành chất kết dính của hệ tư tưởng quốc gia Mỹ. Các bài viết, bài phát biểu của các tiền bối sáng lập Mỹ, kể cả TT Liên minh Bắc Mỹ đầu tiên Thomas Jefferson, hay John Monroe, Abraham Lincoln, Teddy Roosevelt âm vang không chỉ những thông điệp, mà còn cả những độc ngôn về sứ mệnh đặc biệt của nước Mỹ trong “thế giới này”. Abraham Lincoln có câu phát biểu trứ danh: "Chúng ta những người Mỹ - niềm hy vọng cuối cùng của cả nhân loại." Còn đây là một đoạn văn Mỹ cổ điển viết: "Chúng ta những người Mỹ - dân tộc đặc biệt được chọn, chúng ta - Israel của thời chúng ta, chúng ta chèo lái con thuyền tự do ra thế giới" http://www.fordfound.org/ Tuy nhiên, khi mà nước Mỹ vẫn chỉ là sức mạnh lãnh đạo mỗi “Tân thế giới”, sứ mệnh “cứu thế” và “được Chúa chọn” của người Mỹ chỉ thấy được ở mỗi chỗ thiết lập kiểm soát lãnh thổ bắc và nam Mỹ cũng như thanh lọc chủng tộc lục địa bắc Mỹ khỏi người bản xứ India. Lần đầu tiên khái niệm rõ ràng, cắt nghĩa cho tuyên bố của các tiền bối Mỹ về vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ được TT Woodrow Wilson đưa ra đầu thế kỷ XX. Khái niệm này đề ra 3 giá trị Mỹ quan trọng mà nước Mỹ phải “chèo lái” ra phần còn lại của thế giới: địa cầu, thị trường và dân chủ. Nhưng cho đến tận WW-II, những ý tưởng “tự do” vẫn không có khả năng phổ biến rộng và được ủng hộ ở xã hội Mỹ. Sau chiến tranh, tư tưởng định mệnh cứu thế và độc nhất Mỹ, Tin lành tự nhiên đã được “gia cố” quan trọng từ những kẻ mang giáo điều “Chúa chọn” khác dựa trên tôn giáo Judaic. Số lượng ít (6-8 triệu) nhưng tầm ảnh hưởng cao độ, cộng đồng DT Mỹ trong thập kỷ 70 đã chiếm lĩnh hàng đầu Mỹ trong kinh doanh, tài chính, khoa học, luật gia, truyền thông, những năm gần đây chiếm nốt CP Mỹ, QH Mỹ, Tòa án Mỹ, CQ Liên bang. Do đó mà chẳng phải tình cờ, số lượng lớn các đức tin Mỹ lại quay lại - như TG viết: "Nhiều tinh thần không dung thứ cổ điển Cựu ước và đức tin vào dân tộc chúa chọn hơn là phổ quát Tân ước, đạo thiên hướng hơn với khiêm tốn và ăn năn Cơ đốc hơn - trên tinh thần thế tục và chọn lọc”. Ngay khi Mỹ tiến ra “mức độ quốc tế”, thì cũng là lúc gia tăng, mở rộng tuyên bố của họ về vai trò lãnh đạo thế giới và vai trò “cứu tinh” nhân loại khỏi đủ mọi loại “thách thức”. Sau WW-II, khi Mỹ trở thành quốc gia đầy sức mạnh về chính trị, kinh tế, kỹ thuật, quân sự của thế giới phi xã hội CN. Mỹ bắt đầu cho rằng mình đúng là thượng đẳng trên tất cả các quốc gia, các dân tộc khác, không chỉ ý niệm tôn giáo mà còn là văn hóa và văn minh. Mỹ lúc này bắt đầu đóng vai trò kẻ bảo lãnh “tự do dân chủ” toàn cầu và phổ biến giá trị Mỹ ra khắp thế giới. Bốn khái niệm cơ bản trong chính sách đối ngoại Mỹ Liên Xô đối với tầng lớp thống trị Mỹ không đơn giản chỉ là quốc gia thù địch hay xa lạ với Mỹ, xét trên các nguyên lý xã hội, kinh tế, chính trị và tư tưởng. Người Mỹ hiểu đó như một nền văn minh khác, và khi mà Liên Xô tỏ ra không thừa nhận tuyên bố bá chủ Mỹ, kiểu mẫu Mỹ và vai trò lãnh đạo thế giới Mỹ. Giới tài phiệt thống trị Mỹ không thể chấp nhận Liên Xô cả như một thực thể lớn và cả như mối đe dọa đến nước Mỹ, do đó chúng bằng mọi cách phải phá hoại Liên Xô hay ít nhất cũng phải làm cho Liên Xô chỉ có thể đứng thứ 2. Tương tự như Nhật Bản, cuối thập kỷ 80 Nhật đang đà vươn lên là nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, thì chúng đánh sập đồng yên và gây khủng hoảng Nhật bằng các thủ đoạn tiền tệ năm 1987. Tuy nhiên, các nhóm tài phiệt Mỹ khác nhau có các phương pháp ưa thích khác nhau để quét sạch “toàn trị CS” ra khỏi thế giới. Hai phái thống trị lớn nhất Mỹ sau WW-II: tự do (dân chủ) và bảo thủ (cộng hòa) có cách hiểu, tiếp cận và định đoạt khác nhau trong việc đối nội và vấn đề kinh tế. Nhưng đối ngoại, cho đến tận ngày nay thì 4 khái niệm cơ bản vẫn là “hiện thực” ở Mỹ, cho dù là phe nào cầm quyền: biệt lập, thực dụng, can thiệp và chủ nghĩa quốc tế XHCN. Biệt lập: người cầm đầu khái niệm này ngày nay là Pat Buchanan bên CH. Khẩu hiệu của nó là “Mỹ đầu tiên và trên hết”. Khái niệm này rất phổ biến trước WW-II. Sau WW-II nó mất dần ảnh hưởng khi Mỹ can dự vào chiến tranh thế giới và Liên Xô nổi lên trên chính trường quốc tế. Sau khi Liên Xô tan rã nó lại hồi sinh và bây giờ gây tranh cãi trong một bộ phận CH-thủ cựu. Những người theo khuynh hướng biệt lập thường hay chỉ trích tuyên bố tham vọng thống trị thế giới của Mỹ và hối thúc Mỹ không can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia khác, giới hạn chính sách ngoại giao trực tiếp vào việc bảo vệ lợi ích Mỹ. Thực dụng: khái niệm này có sự khác biệt giữa thực dụng CH và thực dụng DC, gắn với đường lối ngoại giao thịnh hành trong thập kỷ 60-70. CN thực dụng chia sẻ ý tưởng Mỹ là kẻ bảo lãnh và che chở chính yếu của “thế giới tự do”. Do vậy mối đe dọa lớn nhất đối với lợi ích Mỹ được nhìn nhận là Liên Xô và CS Trung Quốc, thì người ta nhận thấy được hậu quả của chiến tranh hạt nhân là một thảm họa đối với Mỹ và thế giới. Vì thế cho nên cả hai nhánh thực dụng đã có chung chính sách hợp tác hòa bình, chấp nhận đề xuất của lãnh đạo Liên Xô giữa những năm 50. Theo đó, chấp nhận giảm đối đầu trong quan hệ quốc tế, hợp tác kinh tế, chính trị và văn hóa với LX, Đông Âu và TQ. Khác biệt của 2 phái thực dụng CH và thực dụng DC là, phái CH thực dụng hơn và định hướng dân tộc chủ nghĩa hơn phái DC, không tự đặt cho mình trách nhiệm thay đổi thể chế chính trị-xã hội ở các quốc gia khác. Mức độ thù địch với các quốc gia CS không xác định dựa trên mức độ toàn trị mà dựa trên khả năng cạnh tranh của đối thủ, về địa chính trị đối với LX và TQ, kinh tế đối với LX, Czech, Đông Đức. Bảo thủ CH phê phán chính sách đối nội các quốc gia CS không dựa trên mối quan tâm chính về vấn đề vi phạm nhân quyền mà dựa vào việc thực hiện mở mang dân chủ, tự do thương mại và kinh doanh, quan hệ tư bản, cũng như thái độ đối với tôn giáo. Chủ nghĩa thực dụng (CNTD) trong chính sách đối ngoại của phe bảo thủ CH, đặc biệt thể hiện rõ ở sự ủng hộ của CQ Mỹ đối với các “chế độ áp bức”, nếu các chế độ này thực hiện chính sách đối ngoại theo Mỹ, hay tạo điều kiện thuận lợi để các công ty Mỹ đầu tư và làm ăn. Đối với các tổ chức quốc tế như UN hay OSCE (An ninh và hợp tác châu Âu), thực dụng CH cũng chỉ coi là công cụ sử dụng cho các lợi ích quốc gia Mỹ, vì thế phe mà CH dễ dàng vi phạm hay phá vỡ các thỏa thuận quốc tế, sẵn sàng can thiệp quốc tế hay gây chiến nếu như như điều đó được cho là mang lại lợi ích cho quốc gia Mỹ. Điển hình của CNTD chính là Do Thái Henry Kissinger thời chiến tranh Việt Nam. Phe tự do dân chủ thì thực dụng trong chính sách đối ngoại được xây dựng để bảo vệ lợi ích quốc gia mà không va chạm với các giá trị chung theo hiểu biết của họ. Do vậy mà, ông TT dân chủ John Kennedy tuyên bố bảo vệ triết lý Mỹ về tự do và nhân quyền. Không giống như phe bảo thủ, phe tự do không phân biệt các chỉ trích vi phạm nhân quyền giữa “cánh tả theo LX” và “cánh hữu theo Mỹ”do và chỉ trích vi phạm nhân quyền, còn DC bảo thủ thì chẳng cần phân biệt các chế độ độc đoán toàn trị kiểu “cánh tả thân Nga” hay “cánh hữu thân Mỹ”. Điều đó tạo nguyên cớ để phe cực hữu tin rằng hầu hết dân chủ cấp tiến đều là gián điệp CS. Chỉ trích các chế độ CS, thực dụng DC ít tập trung vào hệ thống chính trị “phi-dân chủ” hay vấn đề thị trường tự do mà tập trung vào vi phạm nhân quyền: tự do ngôn luận, hội họp lập hội, cư trú… Không như CH bảo thủ thẳng thắn tuyên bố lợi ích quốc gia Mỹ là ưu tiên vô điều kiện, xếp trên cả các tổ chức và thỏa thuận quốc tế. Phe DC lại nhấn mạnh ưu thế của luật lệ và thỏa ước quốc tế như Thỏa ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights), Tuyên bố chung về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights). Tương tự, phe DC ủng hộ luận điểm hạn chế độc lập của tất cả các quốc gia kể cả Mỹ, ưu tiên nhân quyền trên độc lập quốc gia. Hậu quả là luận điểm này đã phát triển thành “can thiệp nhân đạo” như ở Nam Tư, Đông Ti-mo, Sierra Leone. Phe dân chủ có John Kennedy, Jimmy Carter, Bill Clinton, Edward Kennedy, John Kerry… Can thiệp: còn được gọi với cái tên khác là “diều hâu”. Khởi đầu vào giữa thập kỷ 70, một nhóm trong phe CH, chủ yếu là phe CH nhưng cũng có cả bên DC như nghị sĩ Henry Jackson hay Jacob Javits. Nhưng phải nói là chủ nghĩa can thiệp có từ trước mà lãnh đạo là nhóm CS Do Thái Trotskist những năm 30-40, là Do Thái toàn tòng Irwing Kristol, Norman Podhoretz, Sidneu Hook, Frank Mayer. CN can thiệp phê phán kịch liệt CQ dân chủ thời TT Jimmy Carter vì “tư tưởng hão huyền” trong vấn đề “mối đe dọa CS” cũng như chính sách “giải trừ quân bị” khi phải đương đầu với cuộc tấn công của thế giới CS vào “thế giới tự do” mà đứng đầu là Liên Xô. Họ cũng chỉ trích phe CH trong lập trường “phòng thủ”, chính sách thương mại và hợp tác kinh tế với các quốc gia CS thuộc “chế độ quỉ dữ”. Tư tưởng gây hấn chiến tranh của CN can thiệp thường mang các biểu hiện của tôn giáo truyền thống dựa trên Ki-tô, tiêu biểu như nói “CS” là hệ tư tương vô thần, còn LX là hiện thân rõ rệt của “chế độ quỉ dữ”. Do vậy mà Chiến tranh lạnh với LX mang đặc điểm của một cuộc thập tự chinh và là sự giao phó cho CNTB. Khát vọng thống trị của CNCT mang vỏ bọc đạo đức và tôn giáo. Bước vào cuối thập kỷ 70, CN can thiệp từ Irwing Kristol bắt đầu có cái tên "tân-bảo thủ” hay tân diều hâu. Một số trong bọn chúng như Paul Wolfowitz, Jeane Kirkpatrick, Donald Rumsfeld, Douglas Feith, Elliot Abrams, Richard Perle, Abram Shulsky vào đầu những năm 80 đã tham gia vào CQ Ronald Reagan mặc dù không nắm giữ những vị trí quan trọng. Cho đến thời CQ Bush, chúng đã nắm giữ hầu hết các vị trí quyết định để phát động can thiệp toàn cầu đội lốt “chống khủng bố”. Dĩ nhiên, ông TT dân chủ Obama lên nắm quyền, thì khủng bố lại thành bạn bè, thành những nhà nhân quyền, nhà dân chủ. Bạn hãy thử tìm xem Obama hay bà Clinton nói gì về đám Al Qaeda, Taliban! Quốc tế: dân chủ cánh tả và phái XHCN thuộc đ. DC, các thành phần phi đảng phái và đảng Xanh cũng gia nhập cái chủ nghĩa quốc tế này, tuy nhỏ nhưng hoạt động tích cực trong lĩnh vực thanh niên, sinh viên. Mặc dù hầu hết phủ nhận mình không phải là Mác-xít nhưng trong nhiều hoạt động chính trị lại có chung mục tiêu với phong trào CHXH và các đảng phái ở Mỹ Latinh, Cuba, Sandinistas, Nicaragua, El Salvador và nhóm cánh tả Colombia. Các nhà quốc tế chủ nghĩa lên án đế quốc Mỹ ủng hộ các chế độ độc tài, lên án bóc lột các nước thế giới thứ 3 và phản đối chạy đua vũ trang… tiêu biểu là Noam Chomsky và Alexander Cockburn. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
"Vấn đề Do Thái” tại Liên Xô thập kỷ 70-80
Ngươi Do Thái hay chính xác hơn là người Ashkenazi sống khá ổn thỏa ở Liên Xô cho đến khi Stalin qua đời. Sau đó thì làn sóng bài xích miệt thị lại nổi dậy, dẫn đến cuộc hồi hương lần 2, thập kỷ 70. Ashkenazi chưa bao giờ có quê mẹ đất tổ là Palestine. Họ cũng chẳng có chút liên hệ huyết thống nào với dân tộc được gọi là Do Thái, những người đã từng làm nô lệ cho Ai-Cập hàng ngàn năm ở Trung Đông. Phong trào hồi hương về Israel của DT Xô viết (DTXV-Ashkenazi) trở thành yếu tố quan trọng làm Mỹ càng tăng cường mối quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Liên Xô thập kỷ 70. Cần nhắc lại là 3 cuộc hồi hương/di cư lớn của DT châu Âu là trong/sau WW-II, thập kỷ 70-80, và thập kỷ 90, đã có hàng triệu DT di cư chiếm đất Palestine. Ngày nay, DT ở Nga có khoảng 250 ngàn người, nhưng giáo sĩ DT nói họ có đến hơn 1 triệu, ông ta giải thích đa số người DTXV không biết đến gốc gác của mình. Nói chung, chẳng thể tin ông giáo sĩ này. Xét xử các vụ “tự làm phi công” cướp máy bay hồi hương ở Leningrad và Riga làm dấy lên các cuộc biểu tình rầm rộ của DT Mỹ yêu cầu CQ Xô viết “hãy để đồng bào của tôi ra đi!” Cuộc đấu tranh của DTXV đòi hồi hương được tiếp ứng từ Israel, DT bắc Mỹ, tây Âu. Israel nhắc lại “hậu quả” DT chống Ai-cập 1967 và giúp đỡ những người DT “cự tuyệt” trở thành mối quan tâm và khoan dung của mỗi người DT. Trong quá trình đấu tranh tìm “lối thoát” cho DTXV, ở rất nhiều bang bên Mỹ, các Do Thái cải biến tự do (một nhánh cải lương của đạo Judaism) đã thành lập “Hội đồng bảo vệ DTXV”. Năm 1972, hội đồng kiểu này đã liên kết với Liên minh các hội đồng DTXV bao gồm cả các “hội đồng” ở Anh, Mỹ, Canada. Mỗi “hội đồng” có trách nhiệm cung cấp tài chính, tin tức, sự ủng hộ chính trị và tinh thần cho những người DTXV di cư, ghi tên họ thành một danh sách đặc biệt trình lên TT Mỹ và Quốc hội. Đến cuối thập kỷ 70, gần như ở mỗi bang Mỹ đã hình thành một “hội đồng” có đến vài trăm DTXV. Sau Hội đồng bảo vệ ở Mỹ là Hội nghị quốc tế DTXV, tổ chức này có liên hệ gần về tư tưởng và tài chính với Israel. Năm 1972 lại một hội đồng nhà khoa học DT được lập ra và chuyên về giúp đỡ các nhà khoa học DTXV di cư. Những người có bằng cấp, dù là bị ngược đãi ở LX, bị thải hồi, hay phạm tội đều được khuyến khích và giúp đỡ di cư. Năm 1974, một số tổ chức sinh viên DT đã tổ chức biểu tình phản đổi để bảo vệ DTXV, các tổ chức này ở Mỹ thường là biểu tình ngồi trước lãnh sự quán LX tại Mỹ. Cuối cùng, tổ chức luật sư là Ủy ban luật sư về nhân quyền đã được lập tại New York năm 1978 để giành sự trợ giúp cho DTXV nhập cư vào Mỹ. Tổ chức luật sư này toàn là dân DT. Ở trung tâm của truyền thông Mỹ mà hầu hết đều do dân DT nắm như New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, San Francisco Chronicle, Wall Street Journal, New Republican, Newsweek, US News và World Reports – vị trí của DTXV được ví như vị trí của người da đen miền nam nước Mỹ trước khi chấp nhận luật cấm phân biệt đối xử. Chiến dịch khổng lồ đã đem lại kết quả: bắt đầu thập kỷ 80, cuộc đấu tranh để di cư DTXV từ LX đã không chỉ gây sự chú ý của cộng đồng DT Mỹ mà còn cả các nhà lập pháp Mỹ không DT, cả những người theo Tin lành có truyền thống tin tưởng “dân tộc chúa chọn” và việc DT di cư đến Israel được coi là lối thoát thánh kinh. Hoạt động quần chúng, nỗ lực lôi kéo ảnh hưởng của truyền thông, vận động hành lang đã làm cho CQ R. Nixon thực dụng, QH Mỹ năm 1974 chấp nhận luật bổ xung của nghị sĩ chủ trương can thiệp Jackson-Vanik. Áp đặt Luật Jackson-Vanik trong quan hệ thương mại với LX vì chính sách di cư của LX chống người DT chứ không phải LX thù nghịch hay vì LX ủng hộ VN đánh Mỹ. Đối tượng chịu thiệt hại là chính người Mỹ và LX. Đó là sắc lệnh đầu tiên của CQ Mỹ được đem ra sử dụng đối một vấn đề nội bộ của LX, biến nó thành vấn đề chính trị và đối ngoại. Áp đặt Jackson-Vanik đối với LX, không hề vì quyền lợi người Mỹ, mà là lấy quyền lợi của người Mỹ trao cho người Do Thái. Ai dám và ai có thể làm được điều đó nếu không phải là ông chủ nước Mỹ. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Cải cách bên trong thay cho áp lực bên ngoài
Trong hệ thống "cộng sản", bảo thủ Mỹ theo hệ tư tưởng của mình không tìm thấy sức mạnh nội lực và tài nguyên của mình để có thể tạo ra điều kiện cho một chuyển đổi xã hội "kiểu phương Tây". Đó là lý do tại sao chủ nghĩa can thiệp-bảo thủ, những kẻ lập luận về vai trò thống trị thế giới của Mỹ thấy chỉ thực sự có một cách để gạt Liên Xô sang một bên như một đối thủ cạnh tranh – đó là phải hủy diệt. Để làm điều đó dần dần hoặc ngay lập tức là vấn đề hoàn cảnh, chứ không phải nguyên tắc, việc kết liễu LX có khả năng qua kết quả của thất bại quân sự hay kiệt quệ trong cuộc chạy đua vũ trang và phong tỏa kinh tế. Vì vậy, các khái niệm về kiềm chế và vứt bỏ Liên Xô là giống nhau cho cả hai loại bảo thủ - cả bảo thủ thực dụng và bảo thủ can thiệp. Không có vấn đề mức sống cũng như vấn đề phát triển nhà nước pháp lý nào tại Liên Xô là nghị sự cho các bảo thủ Mỹ. Vấn đề nhân quyền ở Liên Xô (cũng như ở các nước khác) tự nó trở thành quan trọng cho các bảo thủ chỉ trong trường hợp sử dụng chúng cho lợi ích của Mỹ. Phe tự do coi hệ thống Xô Viết là có thể biến đổi từ kết quả của cải cách và thay đổi dần dần bên trong. Họ đã không mô tả hình thái cấu trúc xã hội Liên Xô trong ngữ nghĩa tôn giáo. Họ cho rằng CNXH là một hình thái xã hội trong lịch sử, một trong những hình thái có thể thay đổi cho nhau, có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Ưu điểm là đảm bảo công ăn việc làm cho dân chúng, y tế và giáo dục miễn phí; nhược điểm là pháp luật nhà nước. Họ nghĩ rằng nhà nước của hệ thống này không phù hợp với trình độ văn hóa của dân chúng và trình độ phát triển của công nghệ, nền công nghiệp. Chính vì tất cả những điều đó, tư tưởng "chống cộng", hoặc "đối chọi" hay "hạn chế" không có cơ sở chính trị và đạo đức, "các quốc gia cộng sản" đã trở thành đối tượng phê phán, bao gồm cả lĩnh vực nhân quyền. Theo đó, chính sách của Mỹ, trên quan điểm của phe tự do dân chủ, phải được định hướng để không đối kháng quân sự chống LX, không tổ chức các nhóm bí mật theo đuổi mục tiêu lật đổ chế độ "bolshevist", nhưng hình thành trong Liên Xô các điều kiện chủ quan và khách quan, cần thiết cho những thay đổi chính trị hơn nữa. Một trong những điều kiện "chủ quan" quan trọng nhất theo ý kiến của "chủ nghĩa tự do” là hướng việc thực thi luật pháp dần dần phù hợp với luật pháp LX, và sau khi L. I. Brezhnev ký kết Hiệp định Helsinki về nhân quyền, là hướng luật pháp LX dần dần phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Tuyên bố chung về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights). Trong những tuyên bố ban đầu trước LHQ, OSCE (tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu), trước Quốc hội Mỹ, các lãnh đạo của đa số áp đảo các tổ chức nhân quyền đã không đưa ra tuyên bố thay đổi hệ thống chính trị Liên Xô (thay đổi chế độ), mà làm cho Liên Xô tôn trọng Thỏa thuận Helsinki. Ủy ban Mỹ, Helsinki Watch đã trở thành một và duy nhất trên thế giới, là tổ chức phi chính phủ (NGO) có sứ mệnh chỉ ra cho các quốc gia khác làm thế nào để thực hiện quyền con người ở đất nước của họ. Những hướng dẫn can thiệp vào công việc nội bộ của nước ngoài, hạn chế quyền của các quốc gia độc lập giải quyết các vấn đề riêng của họ, sẽ khó có thể được “chấp nhận rộng rãi” trong các tổ chức nhân quyền, và sau này là trong các phương tiện thông tin đại chúng, nếu như HRW không tìm thấy sự hỗ trợ và những kẻ cùng chí hướng trong các quốc gia này. Một nhóm hoạt động "toàn cầu", mặc dù rất nhỏ, là những người Nga hoạt động nhân quyền đã sẵn sàng để từ bỏ tự do của họ - những kẻ tự xưng là "lương tâm của dân tộc". Chính xác thì là người Nga hoạt động nhân quyền trong các nước cộng hòa khác của Liên Xô - Lithuania, Georgia, Ukraine, Armenia, Estonia ... – trên thực tế đấu tranh, chỉ vì độc lập của nước cộng hòa của họ, hoạt động ly khai của họ được che đậy bằng cái mặt nạ ngôn từ bảo vệ nhân quyền. Đồng mộng Đến giữa thập niên 70, các dấu hiệu của sự sụp đổ trong tất cả các lĩnh vực của hệ thống Xô Viết và xã hội đã trở thành hiển nhiên. Bất đồng chính kiến và hoạt động nhân quyền chỉ là "đỉnh của tảng băng" không chính thống, trong đó có sự tham gia của một phần đáng kể các tầng lớp dân chúng có học thức của Liên Xô (bao gồm cả các đảng viên CS). Đối với phe tự do phương Tây, đo lường “tiến bộ xã hội” bằng mức độ phát triển của các quyền chính trị và dân sự, sự xuất hiện của các nhà hoạt động nhân quyền tại Liên Xô là một triệu chứng rõ ràng của một quá trình "thay đổi ý kiến", và họ tham gia vào tiến trình này. Ở thời điểm đó phương Tây đã biết đến sự chia rẽ của những người bất đồng chính kiến Nga thành phe “tiến bộ tây học” và "bảo thủ-chủ nghĩa dân tộc". Trong cái chủ nghĩa “tây học” là những người như bác sĩ A.D. Sakharov, Yu.F. Orlov, V.M. Turchin, nhà triết học G.S. Pomeranz, L. M. Batkin và những nhà hoạt động nhân quyền, những kẻ cho rằng Nga phải chọn con đường "chung châu Âu" để có "pháp lý nhà nước" với nền kinh tế thị trường. Nhà văn A.I. Solzhenitsyn, nhà toán học I.R.Shafarevich, nhà sử học và triết gia L.N. Gumilyov và những người Nga bất đồng chính kiến khác, là những người nghĩ rằng Nga có cách riêng của mình để phát triển (không phải tây học, cũng không phải đông học), và họ được coi là gần với "chủ nghĩa dân tộc". Động cơ của phe tự do dân chủ phương Tây tham gia vào các hoạt động bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền Nga có thể được giải thích bằng sự cảm thông cá nhân của họ đối với những người bất đồng chính kiến. Các nhà bảo vệ nhân quyền Phương Tây bảo vệ các đồng nghiệp Nga như những người đồng chính kiến và nỗi ám ảnh mang đặc điểm chung giống họ như ý thức công lý cao, lòng sùng kính lý tưởng nhân đạo thời đại của kỷ nguyên Khai sáng, thái độ phê phán (đôi khi không thích) các giá trị của xã hội tiêu thụ và lòng vị tha. Không ít các yếu tố trong mắt phe tự do dân chủ phương Tây, là phe tự do dân chủ bất đồng chính kiến Nga đã bảo vệ các quyền văn hóa và tôn giáo của dân tộc thiểu số bị nhà nước Nga sô-vanh áp bức (như phe tự do mường tượng). Ở khía cạnh này của hoạt động nhân quyền, đặc biệt đụng chạm vào chỗ đau của người Do Thái Mỹ, những người đã bị phân biệt đối xử tôn giáo và sắc tộc ở một số bang miền Nam nước Mỹ thập kỷ 50. Trong thập kỷ 70 - 80, họ thành lập các tổ chức chính của Mỹ về hoạt động nhân quyền. Và vấn đề chính là các nhà hoạt động nhân quyền Nga tuyên bố các quyền dân sự và chính trị, là các giá trị phổ biến và cơ bản của con người, và để bảo vệ chúng họ tuyên bố đó không chỉ là mối quan tâm của công dân Liên Xô, mà là mối quan tâm của cả nhân loại. Trong chính cái thực tại xuất hiện của "quyền phổ biến" trên nước Nga "phi dân chủ" và "không phương tây", người Mỹ ủng hộ cho "tự do hóa phổ quát" tìm thấy chứng cứ cho luận điểm "phổ biến" và "toàn cầu" của họ trong khái niệm về quyền con người. Là lẽ tự nhiên khi phe tự do dân chủ Mỹ bao gồm các thành viên của Quỹ Tự do biểu hiện của Nga tìm thấy các nhà hoạt động nhân quyền cùng chí hướng, hòa hợp tâm hồn chia sẻ cách suy nghĩ và nguyên tắc của họ. Ngoài ra sự gần gũi này đã phát triển hơn, bởi vì trong cả hai hoạt động nhân quyền Mỹ và Nga có một tỷ lệ đáng kể của người Do Thái. Đến nay ý kiến cho rằng phong trào nhân quyền Nga tồn tại giữa thập niên 60 đã được phát sinh trong môi trường trí thức tự do của người Do Thái, những nhân vật đã đưa nó vào sách vở là DT Ilya Ehrenburg, Ilya Ilf, và Isaac Babel… |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Mục đích vẫn vậy, nhưng biện pháp thì khác
Năm 1975, trong cuộc họp của các lãnh đạo hàng đầu các nước châu Âu, Mỹ và Canada tại Helsinki, Thỏa thuận Helsinki giữa các quốc gia ở châu Âu đã được ký kết và như vậy, Liên Xô đã thừa nhận nó là "hợp pháp". Đổi lấy sự nhượng bộ từ NATO, CQ Xô Viết đã đồng ý bao gồm trong Thỏa thuận điều khoản bổ xung, bắt buộc đối với tất các các nước ký kết, là giám sát nhân quyền theo cách hiểu của Tuyên bố chung về quyền con người. Với hiệp định này, LX đã chuyển đổi vấn đề quyền con người từ công việc nội bộ thành vấn đề liên quốc gia, và những chỉ trích của các chuyên gia pháp lý phương tây về hành vi xâm phạm nhân quyền tại Liên Xô đã thay đổi về cơ bản, nó trở thành chính đáng và hợp pháp. Hơn nữa, các chỉ trích hợp pháp không còn bị coi là tuyên truyền thù địch như những tuyên truyền từ quan điểm “lợi ích Mỹ”, các chuyên gia hoạt động nhân quyền bắt đầu thể hiện quan điểm trước thế giới không còn như những người bảo vệ lợi ích Mỹ mà như những nhà bảo vệ quyền con người. Jimmy Carter (phe DC) bước vào Nhà Trắng với tuyên bố lấy vấn đề bảo vệ nhân quyền làm yếu tố trọng tâm trong chính sách đối ngoại, áp lực thông tin và tư tưởng lên các nhà lãnh đạo Liên Xô đã tăng lên. Vấn đề quyền con người đã không chỉ là mối quan tâm của "thế giới bảo vệ nhân quyền" mà còn được thêm vào kho vũ khí của chính phủ Mỹ. Nhưng điều này không có nghĩa là trong những năm 1970, một mặt là US Helsinki Watch và Hội luật sư nhân quyền, mặt khác là CP Mỹ và các tổ chức nửa chính thức của Mỹ như CIA, Rand Corp, hoặc Hội đồng Quan hệ đối ngoại (CFR) chuyên nghiệp về xô viết và các tổ chức khác lúc này, đã thu xếp để có chung hành động. Mặc dù CQ của phe Dân chủ, các nhà hoạt động nhân quyền tự do có chung những nhiệm vụ cụ thể - ví dụ để tạo ra ở Liên Xô một cơ sở địa chính trị cần thiết về ý thức hệ để thay đổi cấu trúc kinh tế - chính trị - thì các tổ chức này vẫn hiểu những nhiệm vụ này một cách khác nhau. CQ dân chủ Jimmy Carter với cố vấn TT người DT Zbigniew Kazimierz Brzezinski về an ninh quốc gia đã cân nhắc đến việc truyền bá tư tưởng “tự do ngôn luận, nhân quyền và dân chủ” trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh tư tưởng giữa phương Tây với “CNCS quốc tế” và sự đối lập địa chính trị giữa LX và Mỹ. Theo đó, tuyên truyền ý tưởng nhân quyền được nhóm “nhân công” của “mặt trận tư tưởng” tiến hành (chúng gồm: Freedom House, Rand Corp, Hội đồng quan hệ đối ngoại-Council for Foreign Relations, Viện nghiên cứu Mỹ về hòa bình-US Institute for Peace, Đài phát thanh Tiếng nói Mỹ- Voice of America, Đài phát thanh Tự do và nhiều tổ chức chính phủ, viện nghiên cứu khác) với mục đích tạo ra ở LX và đông Âu các điều kiện “chủ quan” thuận lợi để thay đổi kinh tế-chính trị theo hướng có lợi cho Mỹ. Các nhà dân quyền phương tây mang tư tưởng tự do, mà nhiều trong họ có chung quan điểm chống tư bản và thậm chí là thân CNXH, coi việc “giới thiệu” những tư tưởng chung về nhân quyền tại LX như là yếu tố cần thiết để đấu tranh vì “giải phóng toàn nhân loại”, một dạng hoạt động truyền giáo. Cùng lý do như thế, họ muốn bảo vệ nhân quyền tại tất cả các nước trên thế giới, bất kể thể chế chính trị và khuynh hướng của các nước. Nói cách khác, các nhà dân quyền Mỹ không chỉ xuất hiện như các công dân Mỹ lo lắng cho quyền lợi của người Mỹ mà như những người bảo vệ nhân quyền toàn thế giới. Cánh dân quyền này, thường được công chúng Mỹ gọi bằng cái tên “phe tự do toàn cầu- liberal cosmopolitan”. Cũng không thể quên, rất nhiều nhà dân quyền phương tây và Mỹ, kể cả các thành viên của US Helsinki Watch (Catherine Fitzpatrick, Aryeh Neier), đã tham gia rất mạnh mẽ vào phong trào chống chiến tranh lúc đó đã lan rộng ra toàn thế giới đầu những năm 1980. Sự không nhất quán về mục tiêu giữa CQ Mỹ và các nhà dân quyền Mỹ trở nên rõ rệt sau khi R. Reagan lên nắm quyền. Là một tân diều hâu với chủ trương can thiệp, Reagan thực hiện chính sách gây áp lực lên LX và các nước theo XHCN, sử dụng “tiêu chuẩn kép” trong vấn đề bảo vệ nhân quyền. Như miệng lưỡi Jeanne Kirkpatrick, đại diện Mỹ tại LHQ tuyên bố rằng Mỹ sẽ phê phán nhẹ nhàng vi phạm nhân quyền ở các quốc gia mà “quyền lực” là đúng đắn, và chỉ trích mạnh mẽ hơn cũng vấn đề đó ở các quốc gia theo chế độ “cánh tả”. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Từ nhóm Helsinki đến quyền năng giám sát “toàn cầu”
Nhiệm vụ đầu tiên của Ủy ban giám sát Helsinki Mỹ bị giới hạn chỉ ra các báo cáo hàng năm về quan sát nhân quyền tại LX, khối Vacsarva và lên tiếng về đàn áp bắt bớ các nhà dân quyền, đặc biệt là các thành viên Helsinki ở các nước này. Số lượng các nhân viên của Helsinki Mỹ tăng chậm chạp. Vào đầu thập kỷ 80, số lượng nhân viên không hơn 10 người, rồi thêm vào tỷ phú M. Bernard Aidinoff, luật gia Roland Agrant, Charles Biblowit và Russel Karp. Trên thực thế hoạt động là do Catherine Fitzpatrick, một bà cô sõi tiếng Nga, chống + có danh chỉ đạo. Hội nghị quốc tế các nhóm Helsinki, họp tại khu nghỉ dưỡng Alpine mùa thu 1982 gần Como nước Ý, một sự kiện quan trọng của hội tự xưng “bảo vệ nhân loài toàn cầu”. Trong số các thành phần tham dự có không chỉ nhà dân quyền như Lyudmila Alekseeva chủ tọa nhóm Helsinki Mat-xcơ-va, và quí bà Jeri Laber của US Helsinki Watch, mà còn có nhiều nhà hoạt động chính trị xã hội cánh tả có danh ở châu Âu, Mỹ. Pháp có triết gia Pierre Emmanuel, còn Jiri Pelikan là lãnh đạo Truyền hình Czech vào thời nổi loạn “Mùa xuân Praha”. Khách mời còn có cả tác giả của bài viết tham khảo đến này. Ảnh Reuters: “quí bà” Lyudmila Alekseeva, chủ tọa Moscow Helsinki Group lại bị công lực Nga bắt, như vô số lần đã bị bắt http://4.bp.blogspot.com/_CAoFDpupTa...0/r%5B1%5D.jpg Một trong những chủ đề đem ra bàn thảo tại biệt thự David Rockefeller là chính sách “tiêu chuẩn kép” về nhân quyền của CQ Reagan, là lập chi nhánh của US Helsinki Watch để chuyên giám sát Mỹ La tinh lấy tên Americas Watch. Luật gia phố Wall và là phó chủ tịch US Helsinki Watch Adrian W. DeWind làm chủ tịch Ủy ban giám sát Americas Watch. Nhưng chủ đề chính của hội nghị là tổ chức bảo vệ nhân loại toàn cầu, qui mô thế giới, chứ không giới hạn ở chỉ trích các quốc gia CS. Sau hội nghị Alpine, Robert Bernstein và cộng sự ở US Helsinki Watch bắt đầu đẻ ra các chi nhánh và mỗi chi nhánh chịu trách nhiệm cho một vùng. Tất cả các chi nhánh đều theo hình mẫu US Helsinki Watch: thuê các luật sư, khoa học chính trị trẻ, trong số đó có các nhà hoạt động chống chiến tranh. Chiến lược hoạt động được đề ra, liên hệ với CQ liên bang Mỹ, tổ chức công khai và nhận chỉ đạo chính trị và tiền từ tài phiệt Mỹ qua các ủy ban cố vấn tại các chi nhánh. Những ban cố vấn này gồm các tỷ phú thương gia, các quản trị những quĩ phúc lợi như quĩ Ford, quĩ Carnegie Endowment. Các luật gia, các giáo sĩ mục sư Do Thái có tiếng, các chính trị gia theo khuynh hướng tự do làm bộ não trung tâm cho các chi nhánh dân quyền. Năm 1985, chi nhánh châu Á được lập, luật sư Mỹ nổi tiếng Jack Greenberg làm chủ tịch Ban cố vấn. Năm 1988 là chi nhánh châu Phi, năm 1989 là chi nhánh Trung Đông. Năm 1989, tất cả các chi nhánh hợp lại thành tổ chức duy nhất lấy tên Giám sát nhân quyền (HRW- Human Rights Watch) vẫn do Robert L. Bernstein làm chủ tịch, còn US Helsinki Watch vẫn tồn tại như cũ. Đây là nói về HRW chi nhánh châu Âu: http://web.inter.nl.net/users/Paul.Treanor/HRW.html Trong đó có đoạn: Không có công dân Mỹ nào, và không có tổ chức Mỹ nào, có quyền áp đặt các giá trị Mỹ trên châu Âu. Không có trại tập trung hoặc các ngôi mộ tập thể nào có thể biện minh cho việc áp đặt đó. Nhưng Human Rights Watch thấy nó là hiển nhiên, rằng Mỹ có thể một cách hợp pháp cơ cấu lại bất kỳ xã hội nào, nơi mà một ngôi mộ tập thể bị tìm thấy. Đó là một niềm tin nguy hiểm của một siêu cường: CN thực dân châu Âu cho thấy “sứ mệnh văn minh” đã gây ra những hành động tàn bạo của mình một cách dễ dàng như thế nào. "Sứ mệnh văn minh" của Bỉ ở Congo, tại thời điểm xúc tiến như là một sự nghiệp cao cả và đáng khâm phục, đã giết chết một nửa dân số Congo. Sớm hay muộn, càng nhiều người hơn sẽ chết trong cuộc thập tự chinh để ngăn chặn một cuộc Holocaust mới, hơn là chết trong chính Holocaust. Và binh lính Mỹ sẽ tiếp tục bắn giết, tra tấn và hãm hiếp, để ngăn chặn các vụ bắn giết, tra tấn và hãm hiếp. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Từ giám sát toàn cầu đến “xã hội mở”
Bài trước (#32) đã đề cập đến Soros, một Bin Laden trong phong trào nhân quyền. Làm “ đồng minh” với kẻ đầu cơ DT George Soros trở thành quyết định quái đản của HRW. Hắn ta đến với HRW không chỉ một mình, còn có vợ hắn là Susan-một nhà đầu tư quĩ đầu tư Quantum của Soros, các tỷ phú John Gutfreund và John Studzinski, vợ của nhà quản trị quĩ Stanley Druckenmiller là Fiona Druckenmiller, và thậm chí các nhân viên các công ty và các quĩ mà Soros sở hữu, cùng các nhà phân tích chính trị nổi tiếng Barnett Rubin và William D. Zabel, cũng như nhân vật ngoại giao Warren Zimmermann thành cố vấn HRW và các chi nhánh. Một số nhân viên trong cơ cấu và vẫn giữ các chức vụ HRW đã cùng lúc làm việc và trở thành tay chân của Soros như Thành viên quản trị và Chủ tịch HRW chi nhánh châu Âu và Trung Á, cựu US Helsinki Watch, phóng viên Peter Osnos thành giám đốc điều hành nhà xuất bản của Soros. Thành viên Hội đồng cố vấn chi nhánh quyền phụ nữ đấu tranh vì quyền đồng giới Gara LaMarche trở thành phó Văn phòng New York của Viện Xã hội mở của Soros. Người ta biết rất ít về vai trò của Soros trong HRW. Chỉ biết ít nhất là hầu hết lãnh đạo HRW (ban giám đốc và ban cố vấn) đều nhận lương từ “cơ cấu của Soros”. Nhưng vấn đề không chỉ ở chỗ bỏ vốn trực tiếp cho HRW và các thành viên quản trị của nó. Mà nằm ở chỗ những trùng khớp của các sự kiện lịch sử đổ vỡ và biến loạn ở nửa sau thập kỷ 70 cùng sự giàu lên nhanh chóng của Soros, một kẻ đầu cơ tiền tệ và tự tạo cho mình một học thuyết triết lý mà chính Soros gọi, theo sau ông thầy DT Karl Popper sáng tạo ra: “Xã hội mở”. Soros đã kiếm được hàng tỷ đô la từ đầu cơ khủng hoảng trên thị trường tiền tệ quốc tế. Tiền đó được để vào các quĩ đầu tư trong đó có quĩ mang tên Hedge Funds mà mỗi phần hùn có giá tối thiểu 100000 USD, trong đó có tên của những kẻ đầu cơ khác như Stanley Druckenmiller, Bruce Kovner, Franklin Booth, Henry Kravis. Soros để mắt đến “không gian chưa khai phá” đông Âu và LX. Nhà xã hội mở nhìn thấy ở đây, lúc đang rối ren cơ hội để tổ chức cuộc thử nghiệm kinh tế-chính trị. Mục tiêu của cuộc thử nghiệm là tạo ra trong không gian Xô Viết các điều kiện để hình thành các quốc gia để di chuyển tự do và phi nhà nước kiểm soát dòng vốn tư bản (thiết lập các ngân hàng trung tâm với điều kiện thuận lợi như đã từng làm ở phương tây hàng thế kỷ nay). Soros cho rằng điều đó là có thể khi cái gọi là “Xã hội mở” với các hình mẫu dân chủ phương tây, thị trường tự do, nhà nước pháp quyền, báo chí tự do độc lập với chính quyền được thiết lập ở đây. Vào lúc mà Soros đang thực hiện điều đó thì kinh tế thị trường không có kiểm soát nhà nước là sức mạnh phá hoại dẫn đến khủng hoảng kinh tế và tan rã hệ thống chính trị thế giới và chỉ có giải pháp toàn cầu Soros thấy là thiếp lập cơ cấu khổng lồ siêu quốc gia, siêu chính phủ. Trên thực tế, Soros kêu gọi thiết lập Chính phủ thế giới như là một “liên minh của các xã hội mở, mà nó sẽ thay thế các chức năng của LHQ và biến Đại hội đồng LHQ thành cơ cấu quyền lực thực thi luật quốc tế”. Còn các tổ chức nhân quyền qui mô toàn cầu sẽ đứng trên luật pháp quốc gia, truyền thống xã hội, tôn giáo và đạo đức. Đó là bước đệm để quyền lợi của Soros và các trùm tài phiệt tài chính (phi công nghiệp) tiến ra toàn cầu. Các tổ chức chính trị nằm dưới quyền kiểm doát của phe “tự do toàn cầu” Mỹ (chủ yếu là Do Thái) sử dụng nhân quyền để giành lấy các mục tiêu chính trị-kinh tế như được tạo ra từ “xu hướng tổng hợp” này. Nói cách khác, hoạt động nhân quyền bắt đầu được chuyển đổi từ vấn đề thông tin-nhân đạo thành thông tin-tuyên truyền, một dạng tổ chức chuyên tuyên truyền kích động quần chúng phục vụ quyền lợi nhóm tài phiệt phe “tự do toàn cầu” Mỹ. Trong một số trường hợp, tuyên truyền dưới vỏ bọc nhân quyền cũng phục vụ cho các mục đích của CQ Mỹ, khi mục tiêu là đồng nhất với mục đích của Soros như đã từng xảy ra ở Nam Tư và Nga nửa cuối thập kỷ 90. Ở Balkan các lãnh đạo HRW và Soros ngang nhiên ủng hộ Mỹ xâm lược Nam Tư, cả HRW và Soros làm việc ăn ý cùng CQ Bill Clinton (cùng 2 nhân vật trong CQ là Madeleine Albright và James Rubin). Ở Chechnya, Soros và HRW đứng hẳn về phía ly khai, cùng với nhóm Zbigniev Brzezinski thành lập cả Ủy ban Mỹ về Chechnya. Nhưng khi Soros phản đối mạnh can thiệp quân sự Mỹ vào Iraq, và sau đó tuyên bố "mục tiêu của cuộc đời” là quét J. Bush ra khỏi Nhà Trắng. HRW đã giữ vai trò trung lập với chiến tranh và sau đó phần nào làm ngơ không hợp tác với CQ Bush. Soros: Mỹ phải thôi kháng cự cái chết của đồng đô la, chấp nhận đồng tiền toàn cầu và NWO: http://english.pravda.ru/world/ameri...world_order-0/ Vai trò của Soros ở Đông Âu: http://www.mindfully.org/WTO/2003/Ge...sman2jun03.htm Một số quĩ đầu tư của Soros: Quĩ xã hội mở năm 1979, Quĩ tài trợ Đông Âu ở Hungary năm 1984 và mạng lưới quĩ hoạt động ở các nước thế giới thứ 3 trải rộng từ Trung – Đông Âu, cựu Xô Viết, nam châu Phi, Haiti, Guatemala, Mông cổ và Mỹ. Soros cũng tài trợ các Viện nghiên cứu lớn như viện Trung Âu (Central European University) và Quĩ tài trợ Khoa học quốc tế (International Science Foundation). Năm 1994, mạng lưới quĩ Soros chi tiêu gần 300 triệu USD, năm 1995 350 triệu, năm 1996 362 triệu và năm 1997, 1998 cỡ 428 triệu USD. |
Human Rights Watch - Tổ chức Giám sát nhân quyền
Từ xã hội mở đến “bắt ngay lập tức”
Bài này cho ta thấy sự leo thang chiến tranh của HRW trong đổ vỡ đông Âu và đặc biệt là tại Nam Tư. Ngay từ rất sớm khi bán mình cho Soros, các thành viên HRW đã thường xuyên đến đông Âu như Jeri Laber, Joanna Weschler, Adrian DeWind để thu thập tư liệu “vi phạm nhân quyền” ở các đất nước này. HRW và US Helsinki Watch đặc biệt chú ý đến Czech vì vụ “Hiến chương 77", ngay cả tận bây giờ, rất nhiều những gã tập tọng dân quyền dân chủ vẫn bắt chước cái hiến chương này. Các kết quả có được được CQ Mỹ và báo chí phương tây sử dụng như công cụ gây áp lực lên CH Czech không “phương tây hóa”. Đóng vai trò nặng ký trong chiến dịch tuyên truyền ở Czech là gã cố vấn US Helsinki Watch và cô vợ hắn ta, đại sứ Mỹ tại Prague thời kỳ 1982-1986 Wendy W. Luers. Có lẽ chỉ cần dẫn lời tự bộc bạch của ông TT Czech Vaclav Havel (1992-2003) tại trụ sở HRW ở New York là đủ thấy được vai trò của HRW: “Tôi biết rất rõ ràng là các bạn đã tạo ra nó cho chúng tôi, và dường như là, không có sự giúp đỡ của các bạn cuộc cách mạng của chúng tôi không thể nổ ra”. Ảnh của HRW London: Vaclav Havel trên sân khấu http://farm5.static.flickr.com/4067/...8267c19334.jpg Ảnh: Clinton tay chỉ miệng nói Vaclav Havel: “Cười nào ông bạn, camera đang ghi hình ông đấy!” ảnh chụp ngay sau khi rời ĐH Columbia, hội thảo “Các thách thức của nền dân chủ mới” có sự tham gia của 1200 sinh viên. http://img-fotki.yandex.ru/get/5304/..._ff7e194_L.jpg Ngay sau khi chế độ thân Mỹ được lập ở Czech năm 1989, W. Luers thiết lập Quĩ xã hội mở dân sự năm 1990 và nó trở thành phần bộ phận quan trọng cho các “thành phần sáng giá” đã từng ký hiến chương 77. Tiền của quĩ Luers cũng được sử dụng cho “Dự án tư pháp thời kỳ chuyển đổi” năm 1992 với mức chi hàng năm 3 triệu đô. Mục tiêu của dự án này là “tăng cường dân chủ, luật pháp nhà nước, xã hội dân sự và kinh tế thị trường.” Tổng cộng Quĩ xã hội mở dân sự đã chi 11 triệu USD cho mục đích này. Bên cạnh đó, quĩ trên còn được dùng để thuê, tuyển nhân viên người Mỹ và Tây Âu làm “cố vấn” trong các bộ, chính quyền các thành phố và các cơ quan công quyền Czech và Slovakia. Trong 3 năm (1995 - 1998) Chương trình mạng lưới dân chủ (Democracy Network Program) một tổ chức do các cố vấn HRW thành lập cùng với sự giúp đỡ của Cơ quan Mỹ vì phát triển quốc tế (United States Agency for International Development-USAID) đã chi hơn 5 triệu USD cho "phát triển và tăng cường các tổ chức phi chính phủ (NGO) ở Czechia và Slovakia". Đó là bằng chứng HRW chẳng liên quan trực tiếp đến mục tiêu bảo vệ nhân quyền, mà có những kế hoạch sâu xa ở Đông Âu. Đến cuối thập kỷ 80, bên cạnh việc vẫn duy trì đều đặn báo cáo nhân quyền, HRW bắt đầu cho ra những tuyên bố mang giọng điệu can thiệp chỉ trích hành xử của các chính phủ. Muộn hơn một chút vào giữa thập kỷ 90, HRW bắt đầu ra khuyến cáo LHQ, khối NATO, CQ Mỹ. Thường các khuyến cáo này là các biện pháp trừng phạt các quốc gia và HRW cho là vi phạm nhân quyền. Giọng điệu Soros và HRW đặc biệt giận giữ khó chịu giành cho Nam Tư khi họ không chịu “hợp tác” với Nato và không chịu “mở cửa” cho giới tài phiệt quốc tế thâm nhập. Thập kỷ 90, các “nhà nghiên cứu nhân quyền” được HRW thuê, trả lương: Fred Abrahams, Peter Bouckaert, Rachel Denber, Lotte Leicht, Benjamin Ward, Joanne Mariner, Martina Vandenberg, thường xuyên đến Bosnia, Croatia và Kosovo – để thu thập tư liệu vi phạm nhân quyền trong các chiến dịch quân sự trên lãnh thổ Nam Tư. “Tư liệu” thu thập được chế biến và “sửa soạn” thành các dạng báo cáo hay tuyên bố để tung ra trong 10 năm sau đó. Tràn ngập trong các công bố của HRW là Liên bang Nam Tư (TT Slobadan Milosevic và TT Radovan Karadzhich) “phạm tội ác” "diệt chủng" và "thanh lọc chủng tộc" người Hồi giáo và dân chúng Croatian tại Bosnia và Kosovo. HRW đã nhằm mục tiêu chia rẽ người Croatia, người Hồi, người Albany và người Kosovo – người ta nói, HRW và các cố vấn đã cộng tác với phe Kosovo ly khai. Ví dụ, cựu US Helsinki Watch Morton Abramowitz là cố vấn của đại diện ly khai Kosovo-Albany trong đàm phán với Nam Tư tại Rambouillet Pháp năm 1999. Dĩ nhiên, với vai trò của mình, HRW cũng không thể hoàn toàn làm ngơ trước sự hung bạo từ phía Croatia và Hồi giáo. Xem thống kê các tuyên bố từ 1992 đến 2001 thấy thế này: 122 tuyên bố nhằm vào Serbia, 9 của Croatia và 4 của Bosnia hồi giáo, 6 của Kosovo UCK/KLA. Do đó mà, không có gì ngạc nhiên khi phương Tây bắt đầu nhìn chế độ R. Karadzic và S. Milosevic như những tội phạm ghê tởm, sánh với Hít-le hay Stalin. Tư liệu HRW được truyền thông phương tây lấy làm hệ thống tác động tâm lý, gây ảnh hưởng đến quan điểm quần chúng ở phương tây. Nhưng không chỉ có vậy, “nhà tài trợ” Soros và HRW còn đi xa hơn. Tại Nam Tư là gây dựng các tổ chức đối lập CQ Milosevic ở dạng dân sự và hạ tầng chính trị. Các tổ chức này bao gồm hàng tá NGO, “nhóm dân sự”, “nhóm dân quyền”, câu lạc bộ, hãng phát thanh truyền hình, báo và tạp chí. Tất cả tạo ra bầu không khí “cách mạng” ở Nam Tư và không chỉ nhằm hỗ trợ chuyển giao chế độ vào tay các đ. phái nằm dưới sự kiểm soát của phương tây mà còn tạo chỗ dựa cho chế độ mới thân phương tây mọi “sân khấu chính trị” cần thiết để thay đổi cơ bản kinh tế-chính trị ở đây. Tham gia vào biến cố Nam Tư còn có cả các Quĩ nhà nước Mỹ. Thí dụ Quĩ bảo trợ dân chủ quốc gia-National Endowment for Democracy (NED) mà ban lãnh đạo của nó cũng là các thành viên lãnh đạo HRW (như Morton Abramowitz). Đây là Paul McCarthy, người của NED phát biểu: “Các chương trình của NED hỗ trợ sống còn cho một lượng đáng kể báo chí tự do Nam Tư và phá vỡ trung tâm giám sát nhà nước quan trọng đối với truyền thông… Tăng cường các nguồn ảnh hưởng của thông tin khách quan. Sự giúp đỡ của NED tạo ra cơ hội để báo chí, phát thanh truyền hình có được trang thiết bị cần thiết cho họ, kể cả máy in báo và máy phát sóng. Trong số những người được nhận quà tặng của chúng ta là báo Nasha Borba, Vremja và Danas, hãng truyền hình độc lập TV Negotin ở nam Serbia, hãng truyền thông BETA và đài phát thanh Radio B-92. HRW năm 1992 còn hành động đề xướng ra cái gọi là “tòa án” nhằm vào các lãnh đạo hàng đầu “bướng bỉnh” ở Nam Tư, mà hàng đầu là Radovan Karadzic và Slobodan Milosevic. Tòa án International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia-ICTY được lập tháng 2 năm 1993 vi phạm trực tiếp qui tắc của LHQ. Vài tháng sau, HRW ra báo cáo quân đội Nam Tư “thảm sát” 260 người Croatia vào ngày 20 tháng 11 năm 1991. Cái đầu đề của “báo cáo” này cực kỳ giật gân: “Khởi tố ngay! HRW công bố 8 hồ sơ lên tòa án ICTY”. Mặc dù có chăm chú đọc cái báo cáo này, thì cũng chẳng thấy có tý bằng chứng đáng thuyết phục nào để buộc tội quân đội Nam Tư giết hại hơn 200 người Croatia, nhưng “uy tín” của HRW lại là đủ để vô số quần chúng phương tây tin những buộc tội là thật. Ngay sau báo cáo trên là HRW phát động chiến dịch mang tên “Bắt giữ ngay!” chống các lãnh đạo Nam Tư. HRW báo tin cho dân chúng với một niềm tự hào rằng họ đã “phối hợp công việc với các luật sư, với báo chí và với sự huy động đông đảo quần chúng để buộc NATO bắt giữ nghi phạm, hoặc buộc họ phải đầu hàng”. Link đến bài “Bắt giữ ngay!” trên chính trang HRW đã bị xóa: http://www.hrw.org/annual-report/1998/20years3.html "Không có công dân Mỹ nào, và không có tổ chức Mỹ nào, có quyền áp đặt các giá trị Mỹ trên châu Âu. Không có trại tập trung hoặc các ngôi mộ tập thể nào có thể biện minh cho việc áp đặt đó. Nhưng Human Rights Watch thấy nó là hiển nhiên, rằng Mỹ có thể một cách hợp pháp cơ cấu lại bất kỳ xã hội nào, nơi mà một ngôi mộ tập thể bị tìm thấy." |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 17:54. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.