![]() |
Cựu chiến binh Liên Xô từng ở Việt Nam trong những năm chiến tranh
Chào các anh chị 3N!
Tôi muốn lập chủ đề này để đưa thông tin về các cựu chiến binh Liên xô đã từng giúp đỡ nhân dân Việt nam trong những năm chiến tranh.Biết đâu cụ nào đó là cựu chiến binh Việt nam, từng làm việc cùng, có thể nhận ra các gương mặt quen thuộc của những người bạn. |
Xin mời bác cứ việc đưa ra những ý kiến cụ thể và tranh ảnh cần thiết! Chúc bác thành công!
|
Đây là ảnh và tư liệu của 2 cụ từng là chuyên gia quân sự ngành phòng không
[IMG]http://i1103.photobucket.com/albums/...a/DSC00888.jpg[/IMG] |
|
[IMG]http://i1103.photobucket.com/albums/...a/DSC00939.jpg[/IMG]
Đây là ảnh buổi nói chuyện của 2 cụ với anh em học viên sỹ quan, chiến sĩ Việt nam học tập tại thành phố nơi các cụ sinh sống. |
Về các cựu chiến binh Nga hiện có vấn đề rất nghiêm trọng như sau:
Nhiều kẻ lừa đảo giả mạo làm các cựu chiến binh đã từng chiến đấu ở nơi này, nơi kia để hưởng bổng lộc của Nhà nước và của những người nhẹ dạ cả tin. Báo KP của Nga có một bài về bọn lừa đảo, tuổi ngoài 70, đeo cả quân hàm tướng lên lễ đài duyệt binh mừng ngày 9/5 vừa qua: http://www.kp.ru/daily/25885/2847161/ Chính phủ VN, Bộ quóc phòng VN và nhiều doanh nhân người Việt cũng rất hay mua vé máy bay mời nhiều CCB Nga sang VN nghỉ ngơi... Chúng ta cũng phải rất CẢNH GIÁC kẻo cũng dễ bị lừa. |
HỒI ỨC CỦA CÁC CHUYÊN GIA QUÂN SỰ LIÊN XÔ
(Tư liệu từ cuốn sách: Chiến tranh Việt Nam là thế đó Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia - 2007) 1.THIẾU TƯỚNG ĐEMSENCÔ IURI ALẾCHXÊÊVÍCH Ông sinh ngày 28-12-1938 tại làng Nô vô - Mưsatôp thuộc tỉnh Craxnôđa, là người Nga. Năm 1956 ông học xong lớp 10 phổ thông và vào học Trường sĩ quan Không quân Cadan và đã tốt nghiệp năm 1959. Ông tiếp tục phục vụ quân đội, là kỹ thuật viên phụ trách hỏa lực trên máy bay trong Trung đoàn không quân phóng ngư lôi số 49 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, về sau chỉ huy trung đội, trở thành sĩ quan chỉ huy khẩu đội bệ phóng tên lửa, Tham mưu trưởng tiểu đoàn hỏa lực của Trung đoàn tên lửa phòng không số 345 thuộc Quân khu phòng không Ba cu. Năm 1971 ông tốt nghiệp Học viện đào tạo sĩ quan chỉ huy của Binh chủng phòng không và được cử làm Tham mưu trưởng, Phó chỉ huy Trung đoàn tên lửa phòng không số 708, sau đó được bổ nhiệm làm chỉ huy Trung đoàn tên lửa phòng không số 726. Năm 1976 ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy phòng tác chiến của Bộ tham mưu, Tham mưu trưởng - phó chỉ huy Lữ đoàn đặc nhiệm số 17 Quân khu phòng không Mátxcơva. Từ tháng 3-1965 đến tháng 2-1966 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam, với chức vụ chỉ huy khẩu đội bệ phóng Tiểu đoàn hỏa lực số 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 238 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ,, Huân chương Vì phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng III và được tặng thưởng 9 huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị, do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng. |
ĐÃ CÓ BAO NHIÊU ĐIỀU TRẢI QUA Ở VIỆT NAM...
Thiếu tướng Đesemcô Iuri Alêxâyêvich Tiếp nhận các phương tiện kỹ thuật và những cuộc diễn tập bắn đạn thật tại bãi thử tên lửa ở Capuxtin Iarơ Năm 1964 tôi được lệnh làm thủ tục để thực hiện chuyến đi ra nước ngoài. Tháng 8-1964 tôi được đưa tới địa điểm tập huấn và đào tạo - trường đào tạo các cán bộ chuyên môn sơ cấp của binh chủng tên lửa phòng không thuộc Quân khu Bacu, tại thị trấn Subanư. Ở đó chẳng có ai giấu giếm việc chúng tôi sẽ sang nước Angiêri. Nhóm chúng tôi chủ yếu gồm các sĩ quan và các đơn vị được gia hạn phục vụ thuộc binh chủng tên lửa phòng không của quân khu và các học viên thuộc Trường quân sự Oócgiơnikítde. Thời gian đào tạo đã kết thúc vào tháng 11. Đã có chỉ thị cho tất cả chúng tôi được nghỉ phép năm 1965. Đầu tháng 1-1965, trong thời gian nghỉ phép năm ở tỉnh Iếccút tôi nhận được bức điện của chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá I. P. Têrêkhin cho biết cần lập tức có mặt tại trung tâm huấn luyện. Tôi đã lập tức đáp máy bay từ Iếccút đến Bacu. Khi đến địa điểm tập kết tôi được biết là chúng tôi không đi Angiêri, mà sẽ có chuyến công tác quan trọng hơn đến một nước khác, một nước cũng có khí hậu nhiệt đới nhưng độ ẩm cao. Bất ngờ tiếp theo là việc cơ cấu khung ban chỉ huy mới được bổ nhiệm gồm: Chỉ huy trung đoàn là Đại tá Nicôlai Vaxiliêvích Bagienốp, tham mưu trưởng là Trung tá A. Musencô, kỹ sư trưởng là Đại úy Anatôli Bôrixôvích Daica và phó chỉ huy trung đoàn phụ trách công tác chính trị là Đại tá I. I. Xmiếcnốp. Trung tá I. A. Liakisép đã được bổ nhiệm giữ chức chỉ huy tiểu đoàn tên lửa phòng không thay cho Trung tá I. P. Têrêkhin. Hàng ngày lại có thêm những sĩ quan mới, những trung sĩ và các binh sĩ đến từ các đơn vị thuộc quân khu. Tôi được lệnh xây dựng khẩu đội bệ phóng tên lửa gồm những sĩ quan, các trung sĩ và các binh sĩ mới tới. Sau khi đã tổ chức xong nhân sự của khẩu đội bệ phóng tên lửa thì bắt đầu giai đoạn tổ chức các khẩu đội chiến đấu. Trung úy Iu. N. Dakhmưlốp và A. I. Miacuscô được bổ nhiệm làm chỉ huy các trung đội, còn các trung sĩ V. Súpsencô, N. Rêva, V Xêmencô, N. Cônsencô và N. Maruxencô thì được bổ nhiệm làm chỉ huy các bệ phóng tên lửa. Đó là những chàng trai có thể lực tráng kiện, được đào tạo rất chu đáo và nắm rất vững công việc của mình. Trong các bài tập hiệp đồng thao tác của khẩu đội, Đại úy A. B. Daica đều luôn có mặt. Ông đã nhiều lần động viên những sĩ quan, các trung sĩ và binh sĩ luyện tập xuất sắc. Đến cuối tháng 1, về cơ bản đã kết thúc công việc sắp xếp hình thành các khẩu đội chiến đấu và tiểu đoàn. Hầu hết các cán bộ chuyên môn đã nâng cao thứ hạng của mình. Tôi cũng đạt được bằng "master". Đến đầu tháng 2-1965 toàn bộ anh em trong nhóm đã tập trung khẩn cấp theo lệnh của Chỉ huy trung đoàn. Đại tá N. V. Bagienốp công bố cho chúng tôi biết lệnh điều động chúng tôi thực hiện chuyến công tác đặc biệt sắp tới ra nước ngoài và toàn bộ trung đoàn được chuyển sang quy chế thời chiến: đã quy định quân phục dã ngoại, mỗi người đã được cấp bổ sung 5 bộ quần áo lót; tất cả các sĩ quan, các trung sĩ và binh sĩ được hưởng khẩu phần thời chiến. Chúng tôi cũng bị tuyệt đối cấm thông báo bất kỳ thông tin nào về chuyến công tác đặc biệt sắp tới thông qua các thư từ và trong những buổi tiếp xúc. Sau đó mọi người được yêu cầu một lần nữa cân nhắc khả năng hoàn thành nhiệm vụ sắp tới và tự đưa ra quyết định cuối cùng. Chỉ có hai sĩ quan tỏ ý không muốn sang Việt Nam: một người tỏ ý bực tức vì gia đình anh ta không được cấp căn hộ, còn người thứ hai thì tỏ ý bất bình vì không được giải quyết nguyện vọng được mua chiếc ôtô. Cả hai sĩ quan này đã lập tức được điều trở lại đơn vị cũ của mình. Sau đấy toàn bộ trung đoàn được đưa lên một đoàn tầu để đến bãi phóng tên lửa Capuxtin Iarơ nhận các thiết bị kỹ thuật và tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật. Việc tiếp nhận các phương tiện kỹ thuật bị kéo dài vì một số nguyên nhân. Trước hết vì nguyên nhân các thiết bị ấy không đồng bộ và hiệu chỉnh chưa tốt. Nhưng chúng tôi được lệnh không tham gia vào công việc khắc phục những sử trục trặc: phía cung cấp các thiết bị kỹ thuật phải khắc phục mọi trục trặc ấy. Những thiết bị máy móc của khẩu đội kỹ thuật vô tuyến thì chủ yếu được lấy từ trung tâm huấn luyện thuộc Học viện đào tạo sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng phòng không tại thành phố Calinin. còn thiết bị bệ phóng thì được lấy từ quân đoàn phòng không Xvéclốp. Đó là phiên bản đầu tiên của bộ khí tài tên lửa phòng không X-75 mang tên "Đexna". Thiết bị này được cải tiến từ bộ khí tài tên lửa có 6 cabin thành loại có 3 cabin. Các bộ khí tài tên lửa này được trang bị các tên lửa thuộc thế hệ đầu tiên V-750 (1d). Do thiết bị bệ phóng không đồng bộ nên đã có quyết định nhận các thiết bị này tại Quân khu phòng không Ba cu. |
Cuối cùng, sau khi tiểu đoàn đã nhận được đầy đủ các thiết bị kỹ thuật, sẽ còn nhiệm vụ kiểm tra hoạt động của các thiết bị ấy thông qua khâu bắn thử như trong chiến đấu. Để làm việc này chúng tôi đã triển khai khẩu đội kỹ thuật vô tuyến với đầy đủ quân số và vẻn vẹn chỉ một giàn tên lửa XM-63. Ngay khi mở máy lần đầu đã phát hiện thấy hiện tượng không ăn khớp trong hệ thống theo dõi mục tiêu: giàn phóng quay một đằng, cabin "P" quay một nẻo. Viên sĩ quan điều hành bãi phóng đã điều tiểu đoàn tên lửa phòng không bên cạnh đó - tiểu đoàn này đến từ nước Tiệp Khắc và đã nhận được sự đánh giá không tốt về lần bắn diễn tập, ông cũng đã triệu tập hai sĩ quan của giàn phóng, tuyên bố với họ rằng nếu đến sáng mai họ chuẩn bị tốt giàn phóng thì ông ấy sẽ thay đổi cách đánh giá họ. Các sĩ quan ấy (các thượng úy) đã hăng hái bắt tay và chuẩn bị giàn phóng và đến sáng thì họ đã báo cáo với sĩ quan điều hành bãi phóng rằng giàn phóng đã sẵn sàng.
Cuộc bắn thử được ấn định vào lúc 10 giờ sáng. Sĩ quan chỉ huy lần bắn thử này là Đại tá Đêmiđốp. Còn chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi và ghi nhận những thiếu sót. Tuy nhiên, vì sĩ quan trực ban tác chiến ra lệnh cấm tuyệt đối không được phát sóng, cho nên vào ngày hôm ấy cuộc bắn thử đã không được tiến hành. Mấy ngày sau lệnh cấm phát sóng đã được bãi bỏ, nhờ vậy đã tiến hành cuộc bắn thử. Khâu hướng dẫn đường bay cho tên lửa đã được thực hiện rất tốt, và tên lửa đã bắn trúng mục tiêu và tuyệt đối không sai sót. Giai đoạn đầu của cuộc chuẩn bị đã kết thúc. Các viên chỉ huy các khẩu đội đã có những báo cáo bằng văn bản, sau đó chỉ huy các tiểu đoàn đã báo cáo với ban chỉ huy trung đoàn về việc tiếp nhận các khí tài kỹ thuật và về tình hình các khí tài ấy đã sẵn sàng cho việc sử dụng. Sau đấy các khí tài đã được bốc xếp lên một đoàn tẩu, đến cuối tháng 2-1965 thì trung đoàn đã rời Capuxtin Iarơ đi xe lửa về hướng Sêliabinxcơ. Trước lúc lên tầu, Ban chỉ huy trung đoàn đã chỉ thị cho tất cả đội ngũ các sĩ quan và binh sĩ về sự cần thiết phải tuân thủ chế độ giữ bí mật hết sức nghiêm ngặt trên đường hành quân. Trên thực tế các trung sĩ và anh em binh sĩ đã bị cấm ra khỏi các toa tầu, không được phép tiếp xúc với dân thường. Trong những trường hợp hết sức đặc biệt chỉ cho phép trả lời tất cả các câu hỏi bằng một câu trả lời duy nhất: "Chúng tôi đi diễn tập". Trong phiếu ghi lộ trình, điểm đến cuối cùng của đoàn tầu là thành phố Khabarốpxcơ. Nhưng tại thành phố Sêliabinxcơ đoàn tầu chúng tôi lại quay về hướng đông, đến sáng hôm sau chúng tôi đã có mặt tại ga Cuốcgan, vào lúc 19 giờ chúng tôi đã có mặt tại Ômxcơ. Vì vợ tôi đang mang thai, nên tháng 8-1964 tôi đã đưa cô ấy về ở với mẹ vợ tại thành phố Angácxcơ. Để cô ấy lại một mình ở tiểu đoàn xa xôi trong tình trạng như vậy quả thật không yên tâm. Ngày 29-12-1964, con gái của chúng tôi đã chào đời. Tôi chỉ được ở bên cháu không quá một tuần, vào kỳ nghỉ phép. Tôi có ý định và hy vọng sẽ được gặp vợ và con gái một lần nữa. Chúng tôi được phép rời khỏi các toa tầu, nhưng chỉ được ở quanh gần đoàn tầu. Tôi và một số sĩ quan nữa đã đến nhà ga. Ở đó tôi gửi cho vợ bức điện, trong đó tôi thông báo một cách áng chừng thời điểm đoàn tầu của chúng tôi sẽ đi qua thành phố Angácxcơ và bảo vợ ra ga, đưa theo cả con gái nữa. Vào thời điểm tôi nêu trong bức điện, đoàn tầu đã đến Angácxcơ. Tôi mặc áo khoác và bước ra lối lên xuống của toa xe. Tôi thử mở cánh cửa toa xe, nhưng nó bị khoá. Đoàn tầu lúc ấy đang vào đoạn đường cua, từ xa tôi trông thấy tòa nhà ga có ánh đèn chiếu sáng, phía đối diện là ngôi nhà của mẹ vợ tôi. Nhà ga mỗi lúc một gần. Cuối cùng tôi đã nhìn thấy vợ tôi đứng cạnh cửa vào ga, em gái của vợ tôi và cả chiếc. xe nôi của con gái. Đoàn tầu chạy rất nhanh như cố tình. Vậy là đã không diễn ra cuộc gặp mặt của vợ chồng chúng tôi, mà cứ tưởng là hoàn toàn có khả năng gặp nhau được. Tôi đứng một mình hồi lâu ở lối ra vào toa xe với những suy nghĩ của mình. Đằng sau ô cửa sổ là bóng đêm. Trong toa chúng tôi chẳng có lúc nào cảm thấy buồn tẻ, đặc biệt vào các đêm. Trong nhóm chúng tôi có một chuẩn úy được gia hạn phục vụ trong quân đội. Anh ấy đến từ trung đoàn Pôtixki, là kỹ thuật viên của hệ thống vô tuyến thu - phát, là một người miên hành. Tuy anh này nằm ở giường tầng phía trên, nhưng anh ta hoàn toàn dễ dàng nhỏm dậy giữa đêm tối, mặc quân phục gọn gàng và đầy đủ mắt nhắm rồi đi đi lại lại suốt đêm trong toa xe đến sáng, đưa ra các chỉ thị khác nhau hoặc bình thản chuyện trò với người vợ tưởng tượng của mình. Nhưng không một ai trong ban chỉ huy trung đoàn biết hiện tượng này. Còn viên chuẩn úy miên hành ấy lại hoàn thành đầy đủ và xuất sắc mọi bổn phận của mình trong những tình huống bất thường và nhờ vậy đã được chính phủ khen thưởng ở mức cao. còn nữa |
Đoàn tầu chúng tôi lao nhanh về hướng đông. Khi đến sát thành phố Sita đoàn tầu dừng lại gần một ngày đêm. Sau này chúng tôi được biết, việc này được thực hiện nhằm mục đích đánh lạc hướng cơ quan tình báo của địch. Khoảng 22 giờ đoàn tầu đã đến ga Sita, đến sáng thì đến ga biên giới Dabaicanxcơ. Người ra đón đoàn tầu chúng tôi là Cục trưởng Cục tổ chức cơ động của Quân khu phòng không, Trung tướng V. Đ. Gôđun. Chỉ đến lúc ấy tất cả chúng tôi mới hay biết mình sẽ đến đâu?
Toàn bộ đơn vị có mặt trên đoàn tầu này được đưa lên những chiếc ôtô có bạt che và được chuyển đến những doanh trại đã dành sẵn cho chúng tôi. Đại tá N. V. Bagienốp đã trao cho tôi nhiệm vụ: dẫn theo một số lượng bình sĩ cần thiết và tiến hành gia cố việc bảo quản các khí tài trên các toa tầu của đoàn tầu và ngụy trang thật tốt cho các khí tài ấy. Sau khi mang theo tất cả những gì cần thiết cho việc bảo quản khí tài trên đoàn tầu, chúng tôi đã lập tức bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ được giao. Một lúc sau Trung tướng Gôđun đến. Từ lúc ấy cho đến khi kết thúc mọi việc vị tướng này đã có mặt cạnh chúng tôi để kiểm tra chất lượng công việc của chúng tôi. Sau khi kết thúc việc chằng buộc khí tài, chúng tôi đã tiến hành ngụy trang khí tài. Tất cả các ca bin điều khiển khí tài đều được phủ lưới ngụy trang. Phải nói rằng đây là công việc cực nhọc, vì lúc ấy trời rất lạnh và gió thổi mạnh. Sau khi kết thúc công việc, người ta đưa chúng tôi lên ôtô mui trần và chở thẳng đến nhà tắm. Vì chúng tôi là những người cuối cùng đến nhà tắm, nên nước đã cạn kiệt, do vậy chúng tôi đành phải bằng lòng với những giọt nước vắt từ những chiếc khăn tắm, cốt để lau người mà thôi. Mặc dù phải "tắm" theo kiểu ấy, nhưng chúng tôi vẫn thấy thỏa mãn về mặt tinh thần: dù sao thì cũng trở nên sạch sẽ hơn. Hướng đến biên giới Việt Nam - quá cảnh qua Trung Quốc thân hữu Từ nhà tắm toàn bộ nhóm chúng tôi được đưa đến địa điểm tạm trú. Khi tôi bước vào trong doanh trại, tôi không thể hiểu được gì cả: tất cả các cán bộ chuyên môn chúng tôi đều mặc thường phục. Hầu như mọi người đều lao về phía chúng tôi, rối rít thúc giục chúng tôi khẩn trương, vì tất cả mọi người chỉ chờ đợi chúng tôi: thời gian đoàn tầu khởi hành để đi tiếp sẽ phụ thuộc vào chúng tôi. Khi tôi hỏi Trung tá Liakisép, chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi, rằng tại sao chúng tôi lại mặc "thường phục" thì được trả lời rằng Chính phủ Trung Quốc yêu cầu như vậy. Ngoài bộ quần áo vét, mỗi chúng tôi còn được phát 1 áo măng tô, 2 bộ quần áo, 1 mũ, đôi giầy đen kiểu Trung Quốc. Mỗi người chúng tôi đựng bộ quân phục của mình vào một chiếc túi đặc biệt; ghi trên đó địa chỉ đơn vị phục vụ trước kia. Mỗi người đều mang theo tiền. Chúng tôi được yêu cầu tiêu hết số tiền ấy ngay lúc đó để không mang theo qua biên giới. Trong số tiền 120 rúp có trong túi, sau khi mua mọi thứ tôi vẫn còn lại cả thảy 8 rúp. Khi đã kết thúc mọi công việc chuẩn bị, tất cả chúng tôi xếp thành đội hình, Trung tướng V. Đ. Gôđun đã dặn dò chúng tôi lần cuối trước lúc lên đường. Ông nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi đại diện cho một quốc gia vĩ đại - Liên bang Xôviết, vì vậy mọi hành động của chúng tôi phải được cân nhắc và suy nghĩ kỹ càng; chúng tôi sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cùng với các chiến sĩ Việt Nam, và chúng tôi phải hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ ấy. Trước khi ngừng lời, ông hỏi: - Có ai nhát gan không? Không một ai lên tiếng. Sau đó, các quân nhân thuộc diện trong hạn phục vụ và gia hạn phục vụ được đưa ra khỏi phòng họp, chỉ còn lại các sĩ quan. Một lần nữa vị tướng đã nhắc đến nghĩa vụ quân nhân, đến danh dự của người sĩ quan và đến sự cần thiết phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức trong cách hành xử tại một nước khác. Và vị tướng ấy đã khiến chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi tuyên bố rằng ở Việt Nam hầu hết các chị em phụ nữ đều mặc áo rộng cổ"! Cuối cùng ông hỏi lại: - Có ai không muốn đi tiếp không? Từ trong hàng quân có hai sĩ quan bước ra và tỏ ý không muốn sang Việt Nam, viện lý do sức khoẻ của các thành viên gia đình mình không được tốt. Người ta đã chấp nhận nguyện vọng của hai sĩ quan này. Mỗi chuyên gia được cấp phát 75 nhân dân tệ. Sau đó tất cả mọi người được bố trí vào các toa tầu. Ban chỉ huy trung đoàn và các sĩ quan cấp cao được bố trí trong các cupê, những người còn lại thì được bố trí trong các toa có giường nằm cứng. Các toa tầu có hình dáng dễ coi, tất cả các cửa sổ đều buông rèm kín mít. Chúng tôi được lệnh về chỗ của mình, không được ra ngoài và chờ giờ khởi hành. Sau đó ít lâu, các toa tầu của chúng tôi đã lăn bánh trên lãnh thổ Trung Quốc. Đêm buông xuống. Tất cả chúng tôi đã thấm mệt, tuy chưa có chăn gối, nhưng chúng tôi mặc nguyên quần áo rồi thiếp đi trên các giường nằm của mình. Vào thời gian đó, các cán bộ chuyên môn Trung Quốc tiến hành việc chuyển các toa trần với các khí tài quân sự của chúng tôi sang các toa tầu của họ, vì chiều rộng đường sắt Trung Quốc hẹp hơn đôi chút so với đường sắt ở nước chúng tôi. Công việc thay khung toa xe bị kéo dài và chúng tôi đã thấy buồn chán vì ngồi rỗi việc. Mọi người khẩn khoản đề nghị cho phép ra ngoài toa xe. Chúng tôi đã được phép ra ngoài, đến cửa hàng tại ga xe lửa, đi dạo quanh các toa tàu. Lần đầu trong đời được đến một đất nước khác là sự kiện lớn! Khi tôi bước ra ngoài toa xe và ngó nhìn chung quanh thì vật đầu tiên đập vào mắt là vô số những ống khói cao từ 3 đến 5 mét của những ngôi nhà nằm sát ga xe lửa. Tôi đã lập tức đoán ngay được thực chất của bức tranh này. |
Vào đầu những năm 60 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thực hiện trên toàn quốc chính sách "đại nhảy vọt". Một trong những bộ phận cấu thành của chính sách ấy trong lĩnh vực kinh tế là nhiệm vụ chiến lược: đuổi kịp và vượt các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến (Mỹ và Anh) về sản lượng gang và thép (gần 220 triệu tấn/năm). Đảng Cộng sản Trung Quốc đã huy động mọi sức lực và của cải để đạt cho được những cái mốc đã định. Nhằm thực hiện mục tiêu ấy đâu đâu người ta cũng xây dựng những lò cao loại nhỏ. Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra, nhưng chất lượng của gang và thép đã đạt mức thấp đến nỗi không thể sử dụng chúng được. Tại các nhà ga xe lửa, cạnh các ngôi nhà, tại các lều cư trú của những người chăn thả súc vật, hầu như trên suốt chiều dài của tuyến đường sắt chạy từ biên giới đến Bắc Kinh đâu đâu cũng thấy la liệt những thỏi gang không được sử dụng, còn những lò cao thủ công thì đã ngừng hoạt động từ lâu.
Sau khi dạo quanh các toa trần, chúng tôi bước vào các toa tầu. Cuối cùng đoàn tầu đã chuyển bánh. Kể từ thời điểm ấy các khí tài kỹ thuật của chúng tôi được các chiến sĩ Trung Quốc bảo vệ, công việc quản lý trong toa tầu do người Trung Quốc đảm nhiệm. Cùng với chúng tôi còn có các chuyên gia sửa chữa đi trên tầu, trong một khoang riêng, và có hai phiên dịch người Trung Quốc. Cuối cùng chúng tôi được phát chăn gối và đệm trải giường. Các chiếc gối được nhồi chặt bằng rơm. Những chiếc gối ấy rất cứng và nặng đến mức có thể dùng để làm cho một người nào đó bị thương! Đệm trải giường cũng không mềm hơn. Trong đoàn tầu này, trên một toa xe có trang bị đặc biệt, người ta đã bố trí một bếp nấu ăn và phòng ăn. Chúng tôi ăn uống tại đó. Kíp nấu ăn là một tổ gồm các đầu bếp Trung Quốc và một chuyên gia Liên Xô, đó là đầu bếp binh nhất Páckhômsúc. Mọi công việc phục vụ được thực hiện với chất lượng cao nhất. Các bàn ăn được trang bị đầy đủ những dụng cụ cần thiết, trên các bàn ăn có thừa thãi các bao thuốc lá Trung Quốc. Sau khi nếm thử những điếu thuốc rất thơm nhưng quá nhẹ ấy, tất cả chúng tôi đều kết luận rằng những sản phẩm thuốc lá của chúng tôi có ưu thế hơn. Trên đường đi dần dần đã hình thành những mối quan hệ giữa chúng tôi với các chuyên gia Trung Quốc. Chúng tôi bắt đầu tích cực tiếp xúc với họ thông qua những người phiên dịch. Cả họ và chúng tôi đều đưa ra cùng một câu hỏi: có điều gì chúng tôi đã không chia sẻ với nhau, vì chúng tôi là những con người bình thường? Những người Trung Quốc trên đoàn tầu có quyền tự do ra ngoài tại các nơi tầu dừng bánh. Lợi dụng quyền này, có một lần họ đưa vào toa những chai rượu cô nhắc Trung Quốc và bia. Đến chiều chúng tôi đã tổ chức một bữa nhậu nhỏ cùng nhau. Chúng tôi đã cùng hát bài hát nổi tiếng mà người Trung Quốc nào cũng biết: "Mátxcơva - Bắc Kinh. Các dân tộc tiến lên, vì nền hòa bình bền vững, vì con đường sán lạn, dưới ngọn cờ tự do! Xtalin và Mao Trạch Đông nghe thấy tiếng nói của chúng ta, nghe thấy tiếng nói của chúng ta?..." và v.v.. Chúng tôi đã dạy tất cả những người ấy biết chơi bài tây. Trong suốt lộ trình chạy qua lãnh thổ Trung Quốc, ở tất cả các ga xe lửa chúng tôi đều không thấy bóng một người nào khi đoàn tầu chúng tôi đi ngang qua. Tất cả các cửa sổ trong các toa tầu chở khách của Trung Quốc dừng đỗ tại một ga nào đó cùng lúc với đoàn tầu chúng tôi đều được che kín phía trong bằng tấm vải đen hoặc bằng mảnh nilông. Hành khách đi trên những đoàn tầu ấy cũng bị cấm ra khỏi các toa tầu tại những nơi tầu dừng lại. Không thấy bóng dáng con người thì mọi thứ chung quanh như không có sự sống. Đến ngày thứ mười đoàn tầu chúng tôi đã đến thủ đô Bắc Kinh của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Cách Bắc Kinh khoảng 30 kilômét, đoàn tầu đi vào đường cụt. Các đại diện phía Trung Quốc đã đến chỗ chúng tôi, xem xét tất cả các toa tầu của chúng tôi, sau đó họ triệu tập mọi người vào phòng ăn để nghe ý kiến phản ánh của phía chúng tôi. Chúng tôi không đưa ra ý kiến phàn nàn gì. Tuy nhiên, phía Trung Quốc lại có những ý kiến phàn nàn. Người đại diện của Trung Quốc chịu trách nhiệm lo việc ăn uống cho các chuyên gia Liên Xô đã bầy tỏ thái độ không hài lòng do trên đường đi chúng tôi đã trả tiền ăn uống. Ông ta cho biết, lẽ ra không nên làm như thế, vì vấn đề này đã được giải quyết trong cuộc viếng thăm gần đây của A. N. Côxưghin đến Trung Quốc và số tiền trả về khoản ăn uống đã được đưa vào tổng số tiền (50 triệu rúp) mà Liên Xô đã trả cho phía Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để đảm bảo việc vận chuyển các đoàn tầu của chúng tôi quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc. Dĩ nhiên, số tiền mà chúng tôi đã trả thì không được hoàn lại. Nhưng từ lúc ấy cho đến hết lộ trình chúng tôi đã không trả tiền ăn uống nữa. Sau khi đến Bắc Kinh chúng tôi được đưa lên xe buýt và được đi tham quan thành phố. Trước hết đập vào mắt là số lượng người đông đúc trên các đường phố Bắc Kinh, có nhiều cửa hàng và quầy hàng, có hàng nghìn chiếc xe đạp được sắp xếp cẩn thận ở các bãi để xe thuộc các xí nghiệp công nghiệp, cũng như ở bên ngoài các cửa hàng. Có nhiều xe xích lô. Các xe buýt dừng lại tại quảng trường chính của thành phố, và người ta đề nghị chúng tôi ra khỏi xe. Phía bên trái là dãy khán đài, cao hơn một chút, ở phía xa là tòa nhà, nơi làm việc của Mao Trạch Đông, phía bên phải là tòa nhà to lớn làm bằng kính. Đó là nơi diễn ra tất cả những cuộc hội họp chính trị quan trọng. Sau đó các xe buýt hướng đến Bảo tàng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Vào thời điểm đó rất nhiều đơn vị quân đội có mặt tại địa điểm này. Họ được trang bị các khẩu súng CKC do Trung Quốc sản xuất. Trong các đơn vị ấy có nhiều cô gái. Ngay trước lối vào Bảo tàng là bức tượng cao và lớn của Mao Trạch Đông được làm bằng đá cẩm thạch trắng. Trên một khoảng trống ngoài trời có những chiếc máy bay cánh quạt một động cơ tịch thu được của Tưởng Giới Thạch. Sau đó toàn thể nhóm chúng tôi đến công viên phía nam. Tại đó chúng tôi rất thích thú xem tất cả những gì được giới thiệu. Đặc biệt đáng ghi nhớ là các loài cây, hồ nước do các nô lệ ngày xưa đào, những hoa văn trên tường trong các tòa nhà, những hình rồng, ngôi nhà hai tầng bằng đá được xây dựng trên một cái cột. Loại vữa xây tòa nhà này được làm bằng nước cơm với lòng trứng; được sử dụng từ trước công nguyên. Sau khi đi thăm công viên đã diễn ra buổi chiêu đãi chung tại nhà hàng, do phía Trung Quốc tổ chức. Sau bữa tiệc chúng tôi trở lại đoàn tầu. Tháp tùng chúng tôi vẫn là những nhân vật đã đón tiếp chúng tôi. Phía trước vẫn còn 2 ngày đêm đi trên lãnh thổ Trung Quốc. Trên đường đi, sau cùng chúng tôi đã nhìn thấy một gia đình những nông dân lao động bình thường ở Trung Quốc: người chồng, người vợ và đứa con. Người chồng kéo cầy, người vợ cõng trên lưng đứa con nhỏ thì đi sau chiếc cầy để trợ giúp cho người chồng. Tôi muốn nêu rõ rằng trên suốt lộ trình chạy trên lãnh thổ Trung Quốc chúng tôi đã không nhìn thấy một máy cày nào hoặc một máy gặt đập liên hợp nào. Sang ngày hôm sau, vào khoảng 20 giờ, theo giờ địa phương, đoàn tầu của chúng tôi đã tới ga biên giới với Việt Nam. |
Người "Liên Xô” trong rừng Việt Nam
Mỗi khi có ai đó trong những người Việt Nam phát âm cụm từ này thì chúng tôi hiểu rằng đó là nói về chúng tôi. Sau khi đoàn tầu đến ga biên giới với Việt Nam, chúng tôi được các xe buýt chở đến nhà khách. Chưa kịp tắm rửa cẩn thận sau khi đi đường và chưa kịp ổn định chỗ ở thì tất cả chúng tôi đã được mời đi ăn tối. Sau đấy mọi người trở về các phòng ở của mình để chờ những chỉ dẫn tiếp theo. Nhà khách là một tòa nhà không lớn, đâu đâu cũng ngăn nắp trật tự. Tôi và viên sĩ quan chỉ huy trung đội là Trung úy Iu. Dakhmưlốp được bố trí vào một căn phòng có 2 giường với đầy đủ tiện nghi: 2 chiếc giường gỗ cao, những chiếc gối mềm, mỗi giường có 1 chiếc quạt làm bằng lông công, bên cạnh là phòng tắm và toa lét. Ý nghĩ trước tiên từ lâu đã theo đuổi tôi - đó là được tắm vòi sen. Tôi cởi quần áo và bắt đẩu đứng dưới vòi tắm. Tôi chưa kịp gội đầu xong thì nghe thấy tiếng gõ cửa. Một binh sĩ ở ban chỉ huy trung đoàn đến và thông báo rằng Đại tá Bagienốp triệu tập gấp tôi đến gặp ông. Tôi lập tức mặc quần áo và đến trình diện. Trong phòng, ngoài Đại tá Bagienốp, còn có tất cả các sĩ quan chỉ huy của trung đoàn, viên chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá I. A. Liakisép và một nhân vật dân sự Liên Xô mà tôi chưa quen biết. Đại tá Bagienốp thông báo: vì khung đường sắt, cũng như tất cả các cây cầu và đường hầm trên lãnh thổ Việt Nam đều hẹp hơn nhiều so với của Liên Xô và Trung Quốc, cho nên cần chuyển tất cả các khí tài của chúng tôi từ các toa xe của chúng tôi sang các toa xe trần của Việt Nam, chằng buộc chặt các khí tài và ngụy trang. Tất cả công việc này được giao cho khẩu đội của tôi. Tôi phải chỉ huy công việc này và hoàn thành công việc trước lúc rạng đông. Để trợ giúp, một trung đội các binh sĩ Trung Quốc sẽ tới ngay sau đó, đến nơi tiến hành công việc này. Mọi vấn đề đều phải được giải quyết với nhân vật đại diện của Bộ Tổng tham mưu Liên Xô là người chịu trách nhiệm về việc vận chuyển các đoàn tẩu chở hàng của Liên Xô qua biên giới Việt - Trung. Vị này chính là nhân vật dân sự Liên Xô mà tôi chưa quen biết và đã có mặt trong cuộc họp. Tôi đã đem theo 6 chiến sĩ trong khẩu đội bệ phóng của mình: Súpsencô, Côsencô,. Xêmencô, Rê va, Máctưnsúc, Lítvinốp. Tôi đã cùng họ khẩn trương đi xe buýt đến đoàn tầu. Không chờ tới lúc có thêm bộ đội Trung Quốc tới giúp, chúng tôi đã bắt tay ngay vào việc tháo gỡ dây chằng khí tài ra khỏi khung toa xe. Ngay sau đó một đội binh sĩ Trung Quốc (gồm 15 binh sĩ) đã tới giúp, chỉ huy toán binh sĩ này là một trung sĩ. Theo lệnh của viên trung sĩ này, những binh sĩ Trung Quốc đã tiến đến một bệ phóng và tìm cách chuyển dịch nó ra khỏi bệ toa xe, nhưng tất cả mọi nỗ lực của họ đều vô hiệu. Họ hội ý, sau đó họ đem từ đâu đến một dây cáp lớn, buộc nó vào bệ phóng. Họ nắm chặt dây cáp và lại cố chuyển dịch bệ phóng xuống mặt đường nhưng không có kết quả. Sau đó, theo mệnh lệnh của viên chỉ huy, tất cả toán bộ đội Trung Quốc đã xếp hàng trên mặt đường nhựa và bắt đầu thực hiện những động tác thể dục thư giãn. Việc này diễn ra khoảng 15 phút. Tôi không còn thích thú xem cảnh đó nữa, vì trời sắp sáng rồi. Theo lệnh của tôi, 6 binh sĩ của chúng tôi tiến đến bệ phóng và theo hiệu lệnh "Một - hai, ba kéo nào” đã kéo bệ phóng ra khỏi sàn toa tầu xuống mặt đường nhựa, kéo thêm khoảng 30 mét nữa. Điều này tác động rất mạnh đến tất cả toán bộ đội Trung Quốc. Sau đó họ làm việc nhịp nhàng cùng với chúng tôi. Ngay sau đấy người ta đã chuyển những toa xe trần Việt Nam đến. Chúng quả thật hẹp hơn nhiều so với các toa xe lửa của chúng tôi. Chúng tôi bắt tay vào việc chuyển khí tài lên toa trần. Sự khác biệt về bề rộng của các toa xe trần đã gây khó khăn rất nhiều cho công việc. Mặc dù gặp những phức tạp, nhưng đến khi trời sáng chúng tôi đã kịp kết thúc công việc. Đến chiều tối người ta đưa chúng tôi lên các toa tầu có giường cứng, bây giờ là các toa giường cứng của Việt Nam. Chúng tôi cảm thấy những toa tầu ấy hẹp đến nỗi 2 người gặp nhau trong hành lang của toa tầu thì khó mà đi qua nổi. Các giường nằm thì ngắn đến nỗi nếu một người có chiều cao trung bình mà nằm xuống giường ở phía dưới thì đôi chân của anh ta sẽ thò ra ngoài chạm đến sàn. Trên đường đi, từ toa tầu có thể nhìn thấy nhiều điều thú vị. Tại một trong số các trạm dừng tầu, điều đập vào mắt là vô số những ôtô tải hạng nậng nhãn hiệu ZIL-157 do Trung Quốc sản xuất, được chất đầy hàng nghìn khẩu súng trường CKC. Cùng đi với chúng tôi có một Đại tá của Quân đội nhân dân Việt Nam, nói tiếng Nga khá tốt và kể tỉ mỉ cho chúng tôi biết về tình hình chính trị ở Đông Dương. Vị Đại tá này kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ tất cả các biện pháp ngụy trang. Ông này cũng hút thuốc như chúng tôi. Do vậy, lúc hút thuốc chúng tôi thường ra đầu toa xe và, thận trọng châm thuốc, lấy hai tay che điếu thuốc để hút. Vị Đại tá này đã nhiều lần nhắc chúng tôi rằng bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện máy bay trinh sát của Mỹ. Chúng tôi không hiểu điều này: tại sao máy bay Mỹ lại có thể bay trên không phận Việt Nam mà không bị trừng phạt? còn nữa |
Chúng tôi đi tầu gần 8 giờ trên đất Việt Nam và đến mờ sáng thì đến điểm dân cư có tên gọi là Trại Cau. Lúc đó trời nóng, ẩm ướt, mưa nhẹ. Tại nhà ga, các quân nhân Việt Nam đang chờ đón chúng tôi. Họ đã lập tức bắt tay vào bốc dỡ hàng trên tầu xuống. Và ở đây chúng tôi đã phải giúp họ vì các hòm đựng ZIP (bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng) của các bệ phóng quá nặng đối với các binh sĩ Việt Nam.
Khoảng 9 giờ đã có lệnh báo động đầu tiên đối với chúng tôi: trên bầu trời Việt Nam đã xuất hiện 1 máy bay trinh sát của Mỹ. Mọi công việc lập tức ngừng lại. Phải nói là tất cả những chuyên gia Liên Xô chúng tôi trong ba ngày cuối cùng ấy đã bị mệt nhoài bởi lao động chân tay và ngồi tàu căng thẳng. Do mệt mỏi, mọi người đã thật sự không đứng vững, khát nước và muốn ngủ kinh khủng. Toàn bộ số khí tài vừa bốc dỡ khỏi đoàn tầu đã được bố trí phân tán từng phần quanh khu vực nhà ga và được ngụy trang. Chỉ đến tối người ta mới chuyển các khí tài ấy vào rừng là nơi dự định triển khai Trung tâm huấn luyện. Sau khi kết thúc công việc bốc dỡ, tất cả chúng tôi được chuyển đến địa điểm cư trú sau này và được đưa đến nhà ăn. Sự mệt mỏi tích tụ trong suốt thời gian đi qua một quãng đường dài, cũng như khí hậu nóng bức đã có tác động: sau vài ngày, trong số các chuyên gia chúng tôi đã bắt đầu phát sinh bệnh tật. Trên thực tế, tất cả chúng tôi trong ít nhất ba ngày liền đã bị sốt cao và bị nhức đầu ghê gớm. Đấy có phải là bệnh sốt nóng hay là sốt rét - về chuyện này tốt hơn hãy để các bác sĩ phát biểu, vì họ chữa chạy và chăm sóc cho chúng tôi. Bệnh tật đã làm chậm lại đôi chút việc triển khai các khí tài và việc chuẩn bị khí tài để huấn luyện cho các khẩu đội Việt Nam. Trong vòng một tuần lễ, tất cả chúng tôi đã được bố trí về các phòng. Tôi đã được sắp xếp nơi ở cùng với các sĩ quan chỉ huy của các trung đội - Dakhmưlốp và Miacuscô. Nhưng về đêm những con muỗi và những con thạch sùng bò trên trần nhà không để chúng tôi yên. Sau cùng: theo chỉ thị của ban chỉ huy Việt Nam, tất cả các giường nằm của chúng tôi đều có màn chống muỗi. Bấy giờ chúng tôi có thể ngủ yên giấc. Trong nhà ăn có quầy giải khát, tại đấy có bán nước khoáng nhãn hiệu "Boócgiômi", nhưng chúng tôi không có tiền Việt Nam để mua. Chẳng bao lâu sau đó mỗi người chúng tôi được phát các biđông quân đội. Thế là mỗi buổi sáng chúng tôi đổ đầy nước sôi vào đấy hoặc đổ nước trà vào đấy và uống cả ngày Hàng ngày, sau bữa điểm tâm buổi sáng toàn đoàn tập hợp để nhận các nhiệm vụ trong ngày. Ít lâu sau chúng tôi đến địa điểm triển khai Trung tâm huấn luyện tương lai. Địa điểm ấy nằm sâu trong rừng, cách điểm dân cư Trại Cau 20 phút đi xe. Đến thời điểm ấy tất cả số khí tài đã được tập trung ở đây và được bọc kín. Chúng tôi có nhiệm vụ cùng với các khẩu đội Việt Nam chuẩn bị địa điểm để triển khai tổ hợp tên lửa với quân số hạn chế. nhằm đảm bảo khâu huấn luyện lý thuyết và thực hành cho các khẩu đội với điều kiện giữ lại tối đa số lượng cây cối và đảm bảo ngụy trang. http://i1073.photobucket.com/albums/...Tet2013057.jpg Thiếu tướng Đesemcô Iuri Alêxâyêvich (ảnh chụp sau năm 1976) Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, chúng tôi đã bắt tay vào huấn luyện các khẩu đội Việt Nam. Trong mỗi nhóm có hai khẩu đội chiến đấu, với đầy đủ quân số theo biên chế thời chiến, được huấn luyện. Những buổi lên lớp về lý thuyết được tiến hành trong các nhà lán đơn sơ bằng tre, còn những buổi tập thực hành thì được tiến hành trên các khí tài chiến đấu. Mỗi chuyên gia - huấn luyện viên đều có một phiên dịch viên. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để thiết lập được sự hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng. Thoạt đầu các phiên dịch viên gặp khó khăn rất nhiều trong việc dịch văn bản tài liệu của chúng tôi, đành phải vài lần nhắc lại cùng một vấn đề, và phải thay đổi một số cách diễn đạt. Có một lần, trong những bài giảng lý thuyết trong nhóm của tôi đã xảy ra một trường hợp rất buồn cười. Trong lúc nghe giảng, các học viên của tôi bỗng nhiên kêu ầm lên, một số nhảy ra khỏi phòng học, nhiều người giơ cao chân lên và nhảy lên bàn. Sau đấy có một số người nhảy bổ về phía tường, lao xuống đất và trong nháy mắt, họ đã long trọng giơ lên cho mọi người thấy một con rắn to vừa bị tóm! Đến hôm sau người phiên dịch cho tôi biết rằng con rắn bắt được hôm qua là loại rắn ăn được và thịt nó rất ngon? Trên quãng đường từ Trại Cau đến Trung tâm huấn luyện có một nhánh sông đã bị cạn của một con suối nào đó. Trong trận mưa rào nhiệt đới, nhánh nước cạn ấy đã lập tức tràn đầy nước, thế là con suối ấy lập tức tỏ rõ sự hung dữ của mình, trong dòng thác ào ào nó cuốn trôi không những cây cối, mà đôi khi còn cuốn trôi cả những con trâu. Đối với chúng tôi đây là lần đầu tiên, khi trở về từ Trung tâm huấn luyện, cảnh tượng không đơn giản ấy trở thành một tình huống hoàn toàn bất ngờ. Tất cả chúng tôi đã phải cởi quần áo, chỉ mặc quần đùi, để quần áo trên nóc xe buýt, đóng chặt các cửa xe và hò nhau đẩy xe buýt sang bờ suối bên kia. |
Cũng như khi còn ở Liên Xô. chỗ chúng tôi cũng có tổ chức đảng hoạt động, các cuộc họp đảng vẫn được tiến hành. Trong cuộc họp tổ đảng, đầu tiên tôi được bầu làm phó bí thư chi bộ của nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Trung tâm huấn luyện số 2. Có lần, trong cuộc trao đổi với tôi Đại tá I. I Xmiếcnốp, phó chỉ huy phụ trách công tác chính trị, vì đã nắm rõ các thành tích của tôi trong trung đoàn, nên đã khuyên tôi tổ chức hoạt động văn nghệ nghiệp dư.
Sau khi nhận thêm việc này, tôi đã tích cực tìm kiếm các tài năng, lựa chọn những người biểu diễn. Trong hàng ngũ chuyên gia chúng tôi hóa ra có khá nhiều người có tài năng văn nghệ. Cần suy nghĩ và soạn thảo chương trình văn nghệ và tổ chức tập luyện cho những người tham gia hoạt động văn nghệ. Đối với tôi đó là công việc bình thường, vì trước kia tôi cũng đã tổ chức hoạt động văn nghệ nghiệp dư như vậy tại Tiểu đoàn số 2 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 345, Quân khu phòng không Ba cu. Tập thể của chúng tôi đã thành công trong những buổi biểu diễn văn nghệ trước toàn đội ngũ đơn vị và đã luôn luôn giữ những vị trí hàng đầu trong các cuộc thi văn nghệ. Sau một tháng, tổ văn nghệ nghiệp dư của Trung tâm huấn luyện số 2 đã sẵn sàng trình diễn. Một lần vào buổi sáng người ta đã cho một chiếc ôtô "Pôbêđa" đến Trung tâm huấn luyện đón tôi với lệnh của Đại tá N. V. Bagienốp yêu cầu đến gặp ông ngay lập tức. Người ta dẫn tôi vào nhà ăn. Khi tôi bước vào phòng ăn, tôi trông thấy có nhiều người Việt Nam, chủ yếu là các cô gái. Tất cả họ đều mặc quân phục, mỗi cô đều có hành lý để cạnh và có các phương tiện ngụy trang. Đại tá I. I. Xmiếcnốp giới thiệu tôi với những người có mặt rằng tôi là người chỉ đạo hoạt động văn nghệ. Tôi được mời ngồi vào bàn. Đối diện với tôi là một cô gái duyên dáng có nước da bánh mật. Cô lập tức tự giới thiệu tên cô là Vũ Thanh, và bắt đầu vồn vã rót trà và mời tôi ăn bánh. Mọi người đều có thái độ thoải mái: họ cùng nhau trò chuyện, uống trà, hút thuốc. Đó là Đoàn ca múa của lực lượng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đoàn ca múa này từ Hà Nội đã phải đi mất ba ngày mới đến được chỗ chúng tôi. Tại đây người ta đã quyết định tiến hành buổi biểu diễn văn nghệ chung để phục vụ các chuyên gia của Trung tâm và toàn thể đội ngũ của Trung đoàn tên lửa phòng không số 238 sau này của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi đã thỏa thuận chi tiết các tiết mục biểu diễn, ấn định thời gian và địa điểm tiến hành buổi biểu diễn. Đến tối đã diễn ra buổi văn nghệ chung đẩu tiên và đã rất thành công. Đội văn nghệ nghiệp dư của tôi đã giành được quyền trình diễn. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã biểu diễn thành công trước dân chúng trong tỉnh. Đã có vài nghìn người Việt Nam tụ họp trong rừng để xem buổi biểu diễn văn nghệ ấy. Vào đầu tháng 8, vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Liên Xô tại Việt Nam - ông I. X. Sécbacốp - đã đến thăm Trung tâm huấn luyện của chúng tôi. Vị đại sứ đã tìm hiểu tiến trình đào tạo các khẩu đội Việt Nam, đã tham quan các khí tài chiến đấu và đứng trước đội ngũ các chuyên gia Liên Xô, ông đại sứ đã tuyên bố rằng thời gian sắp tới chúng tôi sẽ ra các trận địa để tác chiến. I. X. Sécbacốp đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết ở mỗi chuyên gia Xôviết phải có ý thức trách nhiệm cao, vì điều đó sẽ có ý nghĩa quyết định rất lớn đối với nhiều vấn đề trong quan hệ của chúng tôi với Việt Nam. Việc cung cấp các phương tiện kỹ thuật chiến đấu đã được Liên Xô đẩy nhanh. Một phần số phương tiện ấy đã được vận chuyển qua ngả Trung Quốc, cũng như bằng đường biển. Những phương tiện kỹ thuật được chở đến đã được tập trung trong rừng bên cạnh Trung tâm huấn luyện. Để trung đoàn chúng tôi xuất kích thì cần phải thành lập bốn tiểu đoàn hỏa lực, một khẩu đội điều khiển và một tiểu đoàn kỹ thuật của trung đoàn. Tất cả số chuyên gia quân sự Liên Xô của Trung tâm huấn luyện đã được phân bổ về các đơn vị ấy, với số chuyên gia còn lại người ta đã thành lập Tiểu đoàn tên lửa phòng không số 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai (trung đoàn 238) của Quân đội nhân dân Việt Nam. Rõ ràng là phía Mỹ đã phát hiện được địa điểm đóng quân của Trung tâm chúng tôi, và chẳng bao lâu sau trên bầu trời Trại Cau đã có ba máy bay tiêm kích Mỹ bay qua rất thấp. Sang ngày hôm sau, vào khoảng 17 giờ các máy bay địch đã phóng xuống Trung tâm huấn luyện một số tên lửa không điều khiển, nhưng không gây ra tổn thất nào cả. Đến thời điểm ấy đã có ba máy bay Mỹ bị hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa thứ nhất (Trung đoàn 236) bắn rơi. Tình hình luôn luôn trở nên phức tạp. Vậy là trung đoàn của chúng tôi nhận được lệnh tiến ra trận địa chiến đấu. Đó là vào giữa tháng 8 - 1965. Đã kết thúc thêm một giai đoạn bình yên trong đời sống của Tiểu đoàn 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai (trung đoàn 238) của Quân đội nhân dân Việt Nam. |
Những hoạt động chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 82.
Những thắng lợi và những sai sót Trận địa hỏa lực thứ nhất của tiểu đoàn nằm ở phía bắc Hà Nội, trên một cánh đồng bằng phẳng với nền đất mềm và những con đường đất dẫn vào trận địa. Bên cạnh là những đồng lúa và một rặng cây non nhỏ. Trận địa không phải là một công trình kỹ thuật được xây đắp hẳn hoi. Toàn bộ khí tài được bố trí lộ thiên. Chỉ được ngụy trang bằng lưới. Tiểu đoàn luôn được đặt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Do vậy hàng ngày cả khí tài và con người đều hoạt động từ 12 giờ đến 16 giờ trong một chế độ căng thẳng và trong những điều kiện khác thường. Do bị quá hun nóng và do độ ẩm cao nên một số cụm linh kiện khí tài bắt đầu hư hỏng. Trước hết đó là những máy biến thế trong các bộ nguồn của các máy điện tử khuếch đại thuộc bệ phóng tên lửa. Những hỏng hóc ấy rất thường xảy ra. Vì trong kho linh kiện dự trữ (ZIP) không có các máy biến thế, nên chúng tôi đành phải tự sửa lại những biến thế đã hư hỏng. Một người gỡ máy biến thế ra, còn người kia thì quấn dây đồng lên một cái chai rỗng. Dây đồng có đường kính bằng sợi tóc. Cứ làm như vậy cho đến khi tìm ra chỗ dây bị đứt. Sau đấy hàn chỗ bị đứt, kiểm tra mạch điện, rồi quấn trở lại. Các sĩ quan thuộc khẩu đội kỹ thuật vô tuyến là V. Lưsaghin và V. Sennhicốp luôn giúp đỡ tôi trong việc khôi phục lại các máy biến thế và sửa chữa những hỏng hóc khác của những thiết bị phóng tên lửa. Việc thay đổi trận địa chiến đấu chỉ được tiến hành ban đêm, còn việc thu gom khí tài thì tiến hành vào khoảng 17 giờ. Thông thường thì tất cả những lần thay đổi trận địa đều diễn ra sau mỗi trận phóng tên lửa chiến đấu vào các mục tiêu. Trong suốt thời gian tội có mặt trong quân số của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 82, đã có 17 lần thay đổi trận địa. Đôi khi các trận địa cũ được sử dụng trở lại. Dần dần các chuyên gia Việt Nam đã có được những kỹ năng thực hành, kinh nghiệm. Do vậy họ đã có thể độc lập thực hiện đa số các thao tác. Cần phải nói rằng tổ chức đảng trong các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam có những quyền hạn rất lớn. Khi đưa ra lệnh thay đổi trận địa, ban chỉ huy đã tính đến tình hình thực tế trên không và những khuyến nghị của tổ chức đảng. Trên tuyến đường di chuyển của đơn vị tên lửa khi thay đổi trận địa trong khu vực có các cây cầu, hoặc đường hẹp, thì chính quyền địa phương phái các đơn vị dò đường gồm các chiến sĩ tự vệ, phần lớn là các chị phụ nữ. Họ được trang bị khá thô sơ, bằng những khẩu súng cổ lỗ, những giáo mác tự làm. Hầu như luôn luôn có các quan sát viên Trung Quốc đi theo cùng đơn vị tên lửa của chúng tôi. Họ ở cách tiểu đoàn chúng tôi không xa. Có một lần, trên đường hành quân một bộ phận của đơn vị đã bị kẹt lại do lỗi của các sĩ quan Trung Quốc tại đoạn đường hẹp. Tôi đã phải can thiệp bằng cách giãn họ sang một bên để nối lại đội hình đơn vị chúng tôi. Điều đập vào mắt là nhiều sĩ quan Việt Nam nói thạo tiếng Trung Quốc. Tình hình diễn biến tiếp theo đã buộc phía Việt Nam phải có những biện pháp bổ sung để đảm bảo an toàn. Tất cả đều được phát mũ sắt, các tiểu đoàn tên lửa bắt đầu được sự yểm trợ bảo vệ của các đơn vị pháo cao xạ với số lượng ngày càng tăng. Tất cả các sĩ quan và binh sĩ Việt Nam đều được cấp vũ khí. Họ luôn mang vũ khí bên mình. Các trận địa của chúng tôi bắt đầu được ngụy trang bằng cách trồng thêm các bụi tre hoặc bụi chuối. Tại các trận địa có các buồng điều khiển và các bệ phóng người ta bắt đầu đào hầm trú ẩn, chung quanh các bệ phóng đôi khi người ta đắp những thành bằng đất không cao. Để xây đắp trận địa người ta ngày càng sử dụng dân chúng ở các khu dân cư kế cận. Vì trời nắng nóng và độ ẩm cao nên tại trận địa tất cả các chuyên gia Liên Xô đều mặc quần đùi, đầu đội mũ cối, tay cầm biđông đựng nước trà. Đề phòng bất trắc, những chiếc mũ sắt được để trong xe buýt. Theo thông lệ, buổi tối và đêm thứ bảy chúng tôi được đưa đến trụ sở của Bộ tư lệnh trung đoàn để nghỉ ngơi, nhận thư từ, nhận tiền chi tiêu và mua sắm. Lần nào cũng vậy các đồng chí Việt Nam đều gửi tiền và liệt kê tên hàng nhờ tôi mua đủ thứ. Tại Hà Nội có duy nhất một cửa hàng quốc tế. Tại đó có thể mua sắm vài thứ, nhưng người Việt Nam không được vào cửa hàng ấy. Tại cửa hàng này cũng quy định số hàng hóa được mua mỗi lần. Vì thế, tôi đành phải xếp hàng vài lần, bởi vì có một lần người ta nhờ tôi mua, chẳng hạn, 65 chiếc đèn pin, nhưng mỗi lần chỉ đươc mua 5 chiếc. Cuối cùng thì tôi đã xuất hiện quá nhiều trước mặt các nhân viên bán hàng, làm cho họ ngao ngán, đến nỗi họ để mặc tôi đến khi đóng cửa và bán hết các mặt hàng tôi mua. Chủ yếu người ta nhờ tôi mua đèn pin Trung Quốc, bật lửa, xăng dùng cho bật lửa, len đan ao. còn nữa |
Đến mùa thu năm 1965 máy bay Mỹ tăng cường rõ rệt các trận bắn phá miền Bắc Việt Nam. Những trận bắn phá dữ dội nhất của máy bay Mỹ thường diễn ra vào những ngày chủ nhật. Thứ hai là ngày nghỉ đối với chúng. Tôi sẽ trình bày chi tiết hơn về các sự kiện đã diễn ra vào các ngày chủ nhật - 17 và 31-10-1965.
Đầu tháng 10 chúng tôi đóng quân trong một trận địa không thuận lợi xét về mặt chiến thuật: trên tất cả các hướng chính, các góc che khuất lại lớn, bên cạnh là những đồi núi, nền trận địa thì có đá và cứng như sắt. Tiểu đoàn được triển khai theo đúng "điều lệnh" - tất cả các góc, các cự ly v. v. đều hợp chuẩn. Nhưng khí tài không được bảo vệ bằng bức tường thành đất, cũng không có vật liệu ngụy trang ngoài số lưới ngụy trang được cấp. Người ta đào một số hầm trú ẩn dành cho khẩu đội chiến đấu và dựng hai nhà bạt quân y. Bên cạnh các nhà bạt của chúng tôi, trong một nhà bạt khác cùng loại là nơi ở của ban chỉ huy Việt Nam và bộ phận cơ yếu. Cách chúng tôi 100 mét về phía bắc là trận địa của trung đội súng máy cao xạ 4 nòng. Để nghỉ qua đêm, chúng tôi được bố trí trong một trường học cũ (có phên bằng tre, không có cửa ra vào và không có cửa sổ). Vào hôm trước ngày thứ bảy khẩu đội của tôi đã tiếp nhận một binh sĩ trẻ Vitali Xmiếcnốp vừa từ Liên Xô sang được mấy ngày. Anh này đến từ Trường trung cấp kỹ thuật vô tuyến Craxnôia. Tại đó anh đã phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ quân sự tại một đơn vị phụ trợ. Vợ và con gái một tuổi của anh sống ở khu nhà ga Iaia, thuộc tỉnh Kêmêrốp. Tôi có ý định chỉ định anh làm trắc thủ của bệ phóng và để anh trong tổ trực chiến tại trận địa trong thời gian thực tập. Vào chủ nhật ngày 17-10, vào lúc 8 giờ, đã có các nhân viên kỹ thuật tới trận địa để kiểm tra khí tài. Sau khi kiểm tra tư thế sẵn sàng của khí tài, chúng tôi để lại ở trận địa một tốp trực chiến và trở về nơi đóng quân. Trong khi dùng bữa điểm tâm chúng tôi trao đổi về kế hoạch công việc trong ngày hôm đó. Người thì dự định viết thư, người đi giặt quần áo, người thì chơi bài, v.v.. Chưa kịp kết thúc bữa sáng, chúng tôi đã nghe thấy còi báo động. Thế là vứt bỏ mọi việc, chúng tôi lao vào xe buýt và ra trận địa. Lúc ấy là gần 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đến nơi thì máy móc đã được khởi động, các quả tên lửa đã được tháo bạt che, khẩu đội đang tìm kiếm mục tiêu. Đội ngũ của khẩu đội phóng tên lửa đã ở khu vực trú ẩn, một số người tụ họp chung quanh bản đồ tác chiến vừa được đem đến từ buồng điều khiển và được bảo quản ở lều bên cạnh. Trong nhà bạt lớn, ngồi trên sàn là nhân viên cơ yếu Việt Nam đang bỏ tài liệu cơ yếu vào cặp, trong nhà bạt khác chiến sĩ Vitali Xmiếcnốp đang nằm trên giường gấp, tay cầm quyển sách. Phía sau các lều bạt là một thợ cắt tóc vừa từ Hà Nội đến đang cắt tóc cho một binh sĩ Việt Nam, cạnh đó còn có 5 người nữa chờ đến lượt mình. Tôi hô to gọi Xmiếcnốp vào hầm trú ẩn, còn tôi bước vào ca bin "U". Trung úy Dakhmưlốp báo cáo với tôi, tôi báo cáo với chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá Liakisép rằng khẩu đội bệ phóng đã sẵn sàng chiến đấu. Trên bản đồ quan trắc không lưu đã hiện lên những lộ trình rắm rối của các mục tiêu. Nhân viên bản đồ quan trắc người Việt đã báo cáo mọi thông tin nhận được cho vị chỉ huy tiểu đoàn của mình. Chỉ sau đó người phiên dịch mới thông báo bằng tiếng Nga cho chúng tôi. Trung tá I. A. Liakisép tỏ ra bức xúc. Trong tình hình như vậy ông đã ra lệnh cho viên sĩ quan điều khiển tên lửa là Đại úy Nicôlai Ômêlensúc phát sóng và tiến hành tìm mục tiêu, ông lệnh cho tôi đưa tên lửa vào tư thế chuẩn bị. Bắt đầu tiến hành quét sóng vòng tròn tìm mục tiêu, các bệ phóng đã được đưa vào tư thế hoạt động đồng bộ, các tên lửa đã trong tư thế sẵn sàng phóng. Sĩ quan điều khiển tên lửa báo cáo đã phát hiện một tốp mục tiêu tại một hướng. Mục tiêu này được che khuất bằng phương pháp gây nhiễu mạnh. Tách mục tiêu ra khỏi khu vực nhiễu là điều không thể làm được. Trung tá Liakisép lệnh cho tôi đem bản đồ quan trắc đặt ở cạnh ca bin "U", rồi từ đó dùng điện thoại báo cho Trung tá biết góc phương vị và khoảng cách đến mục tiêu. Tôi lập tức thực hiện lệnh này và lập tức tính toán thông số về mục tiêu trên bản đồ quan trắc, đồng thời cũng theo dõi hướng quay của các bệ phóng. Tất cả sự chú ý của tiểu đoàn đều tập trung vào các mục tiêu đang hoạt động ở hướng bắc. Nhưng các màn hình bị nhiễu dầy đặc, do đó sẽ vô nghĩa nếu phóng tên lửa vào các mục tiêu. Toàn khẩu đội ở trong tình trạng căng thẳng và tỏ ra bức xúc. Vào lúc ấy tôi nghe thấy tiếng kêu vọng lại từ các khẩu đội súng máy yểm trợ tiểu đoàn chúng tôi. Vén chiếc màn của lều bạt lên, tôi bỗng nhìn thấy ở khoảng cách 1,5 - 2 km bóng dáng đen sẫm của chiếc máy bay Mỹ, nó bay đến từ hướng nam, sà rất thấp, ngay phía trên những ngọn núi. Nó bay thấp đến nỗi tưởng chừng như sắp sửa chạm vào những ngọn núi ấy. Tôi lập tức dùng điện thoại báo cáo với Trung tá Liakisép về chiếc máy bay Mỹ. Tôi xét theo vị trí của các bệ phóng thì thấy rằng trắc thủ dẫn đường cho tên lửa đã không ngắm về hướng đó. Tôi liền thét vào điện thoại: "Ngắm về hướng trái! Về hướng trái chút nữa". Các ăngten và bệ phóng bắt đầu quay về hướng mục tiêu. |
Vào thời điểm đó, theo hiệu lệnh bằng cờ của viên chỉ huy trung đội, các khẩu đội súng máy phòng không 4 nòng đã khai hoả. Sau vài giây chiếc máy bay đã bốc cháy, kéo theo một vệt khói đen. Bay thêm 500 mét nó đâm vào núi, cách chỗ chúng tôi không xa. Mọi người trong trung đội súng máy đã reo hò.
Vào thời điểm ấy, bỗng nhiên từ hướng khác - hướng tây có một âm thanh giống như tiếng sấm rền, cứ mỗi lúc một to. Sau vài giây có ba tiếng nổ mạnh ở phía sau cabin điều khiển. Tôi nhìn về hướng đó và trông thấy hai đám khói đen do vụ nổ, đúng chỗ các lều bạt của chúng tôi, một quả tên lửa từ bệ phóng số 1 tung lên trời và vỡ ra thành nhiều mảnh, và tôi nhìn thấy 3 chiếc máy bay Mỹ đang vòng sang hướng trái. Sau vài giây lại vang lên loạt đạn súng máy và vài tiếng nổ. Ngay lập tức tiếng động cơ các máy điêden của chúng tôi đã im bặt. Tôi nhìn thấy bóng các binh sĩ nhảy ra khỏi các cabin điều khiển và các sĩ quan chạy theo hướng vào các hầm trú ẩn gần nhất. Có ai đó đẩy tôi theo hướng ấy. Chẳng mấy chốc Chuẩn úy Nicôlencô bế trên tay anh thợ máy điêden người Việt bị thương vào ngực và đưa anh ta vào hầm trú ẩn. Sau đó binh nhất Máctưnsúc bị thương vào vai cũng chạy tới. Đột nhiên mọi chuyện im bặt, và tôi đã nhảy ra khỏi hầm trú ẩn. Điều tôi nhìn thấy trước tiên là lưới ngụy trang trên các ca bin điều khiển đang bốc cháy, trên bệ phóng số 6 lửa đang bốc cháy ở khoang chứa nhiên liệu của tên lửa. Sức nổ đã làm văng quả tên lửa ra khỏi bệ phóng số 1 và bệ phóng này ở trong vị trí xuất phát ban đầu. Còn 5 bệ phóng có các quả tên lửa thì nằm im theo cùng một hướng. Tất cả mọi người lao vào dập tắt lửa cho các tấm lưới ngụy trang. Trong lúc đó chỉ huy của tiểu đoàn, Trung tá Liakisép kêu gào mọi người hãy vào hầm trú ẩn ngay lập tức, vì bộ phận nổ (gồm 3600 mảnh) của quả tên lửa đang cháy ở bệ phóng số 6 có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Tôi không chui vào hầm trú ẩn mà chỉ ngồi tránh ở một phía và đau xót nhìn quả tên lửa đang bốc cháy. Thật uất quá vì tiểu đoàn chúng tôi đã không kịp giáng trả các máy bay Mỹ và đã bị ném bom. Thật không thể tin được rằng cảnh tượng ấy đã có thể diễn ra: tên lửa của chúng tôi đang bốc cháy, còn những chiếc máy bay ấy đã bay đi mà không bị trừng phạt, nếu không kể chiếc máy bay đã bị các chiến sĩ súng máy Việt Nam bắn rơi. Khoang nhiên liệu của quả tên lửa trên bệ phóng số 6 vẫn tiếp tục cháy, nhiên liệu chảy xuống đất. Sau vài giây đã vang lên một tiếng nổ rất mạnh mà cường độ của nó to hơn hẳn những tiếng nổ do bom gây ra. Những mảnh của đầu đạn tên lửa đã chọc thủng vỏ các cabin. Trên bệ phóng chỉ còn lại các mảnh tên lửa được giữ lại nhờ các ốc chốt và các bánh xích ở phía sau. Quả tên lửa này không gây nổ được nữa, nhưng để chắc ăn hơn, tôi đã ra lệnh tách phần khớp nối điện, tách bộ phận vận hành ra khỏi bệ phóng. Bệ phóng bị cháy mất một nửa, đa số các nắp khoang bị bong ra, trên thực tế hệ thống dây điện và các cụm linh kiện khí tài trên bệ phóng đã bị cháy trụi. Các đường dây cáp điện và cáp tín hiệu dẫn từ bệ phóng đến các động cơ điêden và dẫn đến cabin "P" đã bị vỡ đứt do một loạt đạn pháo từ máy bay Mỹ phóng xuống. Đó cũng là nguyên nhân khiến các động cơ điêden bị hư hỏng ngay từ đầu. Không đụng chạm thêm vào bất cứ thứ gì, mọi người tiến đến bệ phóng số 1. Sức nổ đã làm cho tên lửa trên bệ phóng này bị hất tung ra. Bệ phóng đã không bị hỏng. Một số quả bom rơi cạnh lều bạt. Trong một cái hố bom người ta thấy phần đầu đạn của tên lửa, còn cạnh đó, trong ruộng lúa, là những thỏi thuốc cháy của động cơ phản lực nhiên liệu rắn của tên lửa. Những thỏi nhiên liệu ấy nằm tung toé trong ruộng lúa nước. Còn thân động cơ tên lửa thì bị vỡ toang ra, bị xé nát như tờ giấy bị rách không còn dấu vết gì của khoang chứa nhiên liệu tên lửa và khoang chứa máy móc trong tên lửa. Trung úy Iu. Dakhmưlốp tiến đến đầu đạn của tên lửa, rút ống kíp nổ ra rồi đem nó ra xa, thận trọng đặt nó xuống đất. Đầu đạn của tên lửa không nguy hiểm nữa. Sau đấy tôi tới chỗ trước kia là những lều bạt. Như lúc đầu tôi đã nói, tôi đã nhìn thấy hai đám khói den do bom nổ, nghĩa là đó là tất cả những gì còn lại của các lều bạt. Ở đấy tôi còn tìm thấy chiếc thắt lưng quần mà sau khi giặt tôi đã phơi trên dây phơi bên cạnh lều bạt. Nơi mà anh thợ cạo đã cắt tóc cho các chiến sĩ Việt Nam đã đọng lại một vũng máu lớn - anh ấy đã hy sinh. |
Từ trong một hầm trú ẩn ở giữa trận địa vọng ra những tiếng rên. Tôi tiến đến chỗ ấy. Có mấy đồng chí Việt Nam đang đỡ trên tay anh Vitali Xmiếcnốp bị thương nặng. Anh ấy rên rất to. Người phiên dịch cho tôi biết rằng vào phút chót, khi nửa người đã vào được hầm trú ẩn, đồng chí Xmiếcnốp lại bị hai vết thương do mảnh bom - vào sườn và vào chân.
Tại nơi trước đó là lều bạt với các tài liệu mật, tôi trông thấy một cánh tay trái nằm lại, trên ngón tay đeo nhẫn vẫn còn chiếc nhẫn vàng. Cách đó không lâu khẩu đội của tôi tiếp nhận trung sĩ Côbưncô đến từ Quân khu phòng không Mátxcơva. Đồng chí ấy đã có vợ và cũng đeo nhẫn. Nhưng, những lo lắng của tôi không đúng. Trung sĩ Côbưncô vẫn còn sống. Người bị mất cánh tay là nhân viên người Việt Nam. Lúc đó một chiếc máy bay lên thẳng xuất hiện trên bầu trời và đã nhanh chóng hạ cánh cạnh trận địa chúng tôi. Có vài người bước ra từ máy bay, đem theo cáng thương và đi về phía trận địa. Tất cả những người bị thương và hy sinh đã được chuyển đi ngay. Sau đó tôi đã xem xét 4 bệ phóng còn lại với các quả tên lửa. Có hai tên lửa bị hư hại vì mảnh bom - các cánh ổn định hướng bay, và các cánh ổn định phía trước đã bị uốn cong queo. Trên 2 bệ phóng, những nắp đậy các khoang đã bị hất tung. Như vậy, trong 6 bệ phóng chỉ còn 2 bệ phóng và chỉ còn 2 quả tên lửa còn có khả năng chiến đấu. Tôi kiểm tra quân số của khẩu đội và thấy rằng trong thời gian bị máy bay tập kích đã có 3 chiến sĩ trẻ vì hốt hoảng do tiếng bom và tên lửa nổ, họ đã bỏ chạy khỏi trận địa và bị dân quân địa phương "bắt làm tù binh", vì họ bị nhận lầm là các phi công Mỹ nhảy dù. Người ta đã thông báo chuyện này cho chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá Liakisép. Ông đã khẩn trương đi xe commăngca đến hiện trường để "giải thoát cho các tù binh" ấy. Viên chỉ huy khẩu đội 1 là Đại úy Iu. C. Pêtơrốp tạm thay ông chỉ huy tại trận địa. Tôi đã báo cáo tình hình với đồng chí Pêtơrốp và đề nghị khẩn trương chuyển những quả tên lửa còn nguyên vẹn sang các bệ phóng chưa bị hư hỏng. Sau khi được "duyệt", tôi đã lập tức cùng với các khẩu đội bắt đầu chuyển dịch các tên lửa. Mất gần một giờ để làm việc này. Sau đó chúng tôi tháo dỡ tất cả các dây cáp và các dây điện bị dứt. Sau cùng đã khởi động được toàn bộ máy móc và bắt đầu khâu kiểm tra. Vào khoảng 12 giờ trưa người ta bắt đầu thông báo tọa độ của một tốp mục tiêu tiến đến từ hướng bắc ở độ cao trung bình, không gây nhiễu. Tốp mục tiêu này đã nhanh chóng tiến đến gần trận địa của tiểu đoàn tên lửa. Tất cả đã sẵn sàng chiến đấu. Theo lệnh của Đại úy Pêtơrốp, 2 quả tên lửa cuối cùng đã sẵn sàng xuất phát theo hướng có mục tiêu. Mọi chuyện diễn ra thuận lợi, có 2 máy bay bị bắn rơi, những chiếc khác không dám tấn công vào trận địa của tiểu đoàn, hạ độ cao, chuyển hướng và bay đi mất. Cách trận địa không xa, trong một tòa nhà lớn, chắc là một kho hàng cũ, còn có 12 quả tên lửa chưa nạp nhiên liệu được để trên các giá đỡ: Tôi lưu ý Đại úy Pêtơrốp rằng tại trận địa của chúng tôi không còn một quả tên lửa nào cả và chúng tôi cần gấp rút nạp nhiên liệu vào 12 quả tên lửa ấy và chở chúng đến trận địa. Đại úy Pêtơrốp ra lệnh cho tôi trực tiếp tới kho tên lửa ấy và đảm bảo nạp nhiên liệu rồi chuyển các tên lửa tới trận địa. Sau khi đưa ra những chỉ dẫn và ủy nhiệm cho Trung úy Dakhmưlốp thay mình chỉ huy, tôi đã đem theo trắc thủ số 1 thuộc khẩu đội bệ phóng, hai thiết bị chống hơi độc, sau đó đi trên xe kéo pháo loại ZIL-157 để đến địa điểm bảo quản các tên lửa. Sau khi tới nơi, chúng tôi tháo dỡ các tấm bạt che phủ các giá đỡ tên lửa, đeo thiết bị phòng hơi độc vào và lập tức tiến hành nạp nhiên liệu vào các quả tên lửa. Để tranh thủ thời gian, chúng tôi thực hiện công việc nạp nhiên liệu mà không sử dụng các quần áo bảo vệ, xem thường sự nguy hiểm. Sau hai giờ, tất cả các quả tên lửa đã được chuyển đến trận địa. Đến lúc này Trung tá Liakisép đã trở về cùng với mấy vị đào binh. Tiện đây xin nói rằng sau này những binh sĩ ấy không bao giờ tỏ thái độ nhát gan nữa và trong những trận bị tập kích sau này họ đã tỏ ra xứng đáng. còn nữa |
Gần đến chiều tối, Đại tá A. M. Đdưda và Đại úy A. B. Daica đã từ Hà Nội lên trận địa. Họ đã quan sát kỹ lưỡng trận địa và quyết định dời trận địa đến nơi khác. Mãi đến lúc ấy tôi mới nhận ra rằng toàn bộ trận địa đều vương vãi các mảnh bom trông giống như các mảnh gỗ. Sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá Liakisép đã ra lệnh "Báo yên - lên đường hành quân".
Sau khi kết thúc cuộc hành quân, tiểu đoàn chúng tôi được bố trí trong một khu rừng nhỏ, nhưng không triển khai khí tài. Còn chúng tôi thì, theo thông lệ, đã được bố trí nơi ở tại một ngôi làng gần nhất. Sang ngày hôm sau đã có những chuyên gia sửa chữa đến đơn vị chúng tôi và bắt tay vào sửa chữa những hư hỏng cơ khí trong các khí tài. Đến chiều tối đã có 5 bệ phóng thuộc khẩu đội bệ phóng đã sẵn sàng, còn bệ phóng có quả tên lửa bị nổ tung thì vẫn trong tình trạng cũ. Tôi hỏi Đại úy A. B. Daica rằng liệu bệ phóng ấy sẽ được đưa về Liên Xô phục hồi hay không, hay là chúng tôi sẽ thử tìm cách khôi phục nó bằng sức mình. Đại úy Daica trả lời rằng tốt nhất hãy tự mình khôi phục bệ phóng ấy. Chúng tôi đã quyết định như vậy. Sau này, khi vừa có cơ hội là tôi đã lập tức bắt tay vào công việc phục hồi bệ phóng này, cũng như trước kia, trong công việc này tôi luôn nhận được sự giúp đỡ vô giá của các sĩ quan xác định tọa độ V. Sennhicốp và V. Lưsaghin. Khó khăn lớn nhất đã nảy sinh khi phục hồi các mạch điện, vì các dây dẫn không có các ký hiệu, cho nên chúng tôi đã buộc phải tìm kiếm rất lâu các dây kép ấy ở những chỗ bị đứt dùng đồng hồ kiểm tra chúng, rồi hàn chúng lại. Điều làm chúng tôi kinh ngạc là việc này được thực hiện rất hợp lý trên các máy bay Mỹ. Các linh kiện trên các máy bay ấy là do các đồng chí Việt Nam cung cấp cho chúng tôi: cứ cách hai xăngtimét thì dây dẫn lại được nhà máy đánh dấu số hiệu của các dây. Căn cứ vào hiệu ấy có thể dễ dàng tìm ra đoạn dây thứ hai sau khi bị đứt. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những khó khăn và những bất tiện, đến cuối tháng 12 bệ phóng này đã được khôi phục hoàn toàn và được bố trí tại trận địa. Những nỗ lực của chúng tôi không uổng phí: ngày 11-1-1966 quả tên lửa được phóng đi từ bệ phóng này đã bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái. Không cần phải nói, không những chúng tôi, mà cả ban chỉ huy trung đoàn và cả các đồng chí Việt Nam đã phấn khởi biết nhường nào. Đến cuối tháng 10 Trung tá Liakisép cho tôi biết rằng có chuyến xe buýt của chúng tôi về Hà Nội và tôi cần đến Quân y viện trung ương để thăm đồng chí Vitali Xmiếcnốp đang dưỡng thương tại đó. Trước đó Đại úy Daica đã thăm anh Vitali rồi. Cũng tại quân y viện này tôi đã gặp ba nhà phẫu thuật Xôviết được điều từ Liên Xô sang để phẫu thuật thận cho anh Xmiếcnốp. Ở cổng vào quân y viện có một con khỉ to, bị cột vào một ống sắt, đã làm trò giải khuây cho những người rỗi việc xúm quanh nó. Tôi cũng dừng lại và lấy làm kinh ngạc trước những khả năng của con khỉ này. Nó nóng lòng chờ đợi người cho nó ăn, luôn ngó nghiêng nhìn về phía người kia có thể xuất hiện. Khi người ấy, mặc bộ pigiama của bệnh viện và cầm chiếc bát nhôm xuất hiện thì con khỉ đứng thẳng lên, đứng nghiêm, giơ tay trái lên đầu, tay phải ấn vào thái dương để chào, rồi nó kêu to lên những âm thanh giống như những tiếng: "Chào đồng chí?". Sau khi nhận được bát cơm với rau, con khỉ đã lập tức ăn hết, vươn thẳng người, úp chiếc bát lên đầu và phát ra câu "Tiến về Sài Gòn?" đồng thời đưa tay phải về phía trước, khiến cho những người vây chung quanh trầm trồ khâm phục. Tại quân y viện, người ta đã không cho chúng tôi gặp anh Xmiếcnốp, với lý do anh ấy đang trong tình trạng nguy kịch. Không được gặp anh ấy, tôi đã quay trở về tiểu đoàn. Như đã biết, ngay sau khi bị thương người ta đã lập tức phẫu thuật cho đồng chí ấy và cắt bỏ quả thận bị dập nát vì mảnh bom. Mặc dù các bác sĩ đã cố gắng hết sức, song quả thận còn lại đã không chịu đựng nổi sự quá tải trong điều kiện khí hậu nóng bức của Việt Nam. Đến ngày 24-10 Xmiếcnốp đã qua đời. Đây là tổn thất nặng nề đối với tất cả chúng tôi. Mỗi người đều hiểu rằng mình có thể rơi vào tình cảnh như anh ấy. Người ta đã đưa thi hài anh ấy về Liên Xô. Dĩ nhiên, cha mẹ của anh ấy đã không biết con mình đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường nào. Sau này anh Xmiếcnốp đã được truy tặng Huân chương Cờ đỏ. Sau khi kết thúc mọi công việc khôi phục khí tài, tiểu đoàn chúng tôi đã thực hiện cuộc hành quân ban đêm. Trận địa mới được chọn bố trí trên một ruộng lúa trước kia và là một khoảng trống bằng phẳng với nền đất mềm. Cách trận địa 2-3 kilômét về phía nam có những ngọn núi. Cách đó không xa là một trường học. Người ta đã bố trí nơi ở của chúng tôi tại đó. Có khoảng 100 người dân địa phương được huy động để xây dựng trận địa. Họ được trang bị những chiếc thúng, quang gánh, xẻng và cuốc. Công việc chủ yếu của họ là dùng đất ắp những bức tường thành chung quanh bệ phóng và tạo những vật liệu ngụy trang tự nhiên bằng các cành tre hoặc bằng các cây chuối. |
Vào thời điểm công việc diễn ra sôi nổi nhất thì Đại tá N. V. Bagienốp và Đại úy A. B. Daica đã đến thăm trận địa. Tôi báo cáo vắn tắt tình hình cho họ biết. Khi quan sát trận địa, Đại tá Bagienốp bắt đầu trao đổi về những việc làm của tôi ngày 17-10. Tôi đã cảm nhận được ngay lập tức thái độ thân mật đối với tôi, thân mật hơn bất kỳ những cuộc gặp gỡ nào trước kia.
Công việc chuẩn bị trận địa đã nhanh chóng được hoàn tất: Tiểu đoàn đã tiếp nhận trận địa. Sau khi triển khai khí tài, khẩu đội chiến đấu đã kiểm tra, hiệu chỉnh khí tài khả năng hoạt động của nó. Đến sáng thì tất cả đã sẵn sàng chiến đấu. Tất cả mọi người, trừ những người trực chiến, đều lên xe buýt đi về nơi đóng quân của chúng tôi. Tôi và Trung tá I. A. Liakisép đi cùng với Đại tá N. V. Bagienốp trên chiếc xe có nhãn hiệu "Vácsava" (trước kia có tên gọi là "Pôbêđa"). Trên đường đi chúng tôi trông thấy cạnh một thửa ruộng có một khẩu pháo cao xạ 57 ly không hiểu lý do gì lại nằm ở đáy một hố sâu mà nông dân vẫn lấy nước từ đó lên để tưới ruộng. Quay thẳng về phía tôi, Đại tá Bagienốp nói: - Đồng chí Đemsencô. Hãy đem theo các binh sĩ, một xe kéo ATL và thử kéo nó lên nhé. Sau khi đến nơi đóng quân, tôi đã đem theo hai chiến sĩ trong khẩu đội của mình và sau nửa giờ đã đưa xe kéo hạng nhẹ ATL đến sát khẩu pháo bị mắc kẹt. Một chiến sĩ sau khi buộc dây thừng vào xe kéo, đã bám vào dây rồi tụt xuống đáy hố nước, cột dây cáp vào khẩu pháo. Chúng tôi đã dùng tời của xe kéo đưa khẩu pháo ấy lên phía trên. Khẩu đội pháo phòng không được chỉ định yểm trợ tiểu đoàn chúng tôi và được bố trí cách đó không xa trên một điểm cao. Chúng tôi chuyển khẩu pháo tới đó và chuyển giao nó cho khẩu đội pháo trực chiến ở đó. Đến chiều một trung úy chỉ huy khẩu đội pháo phòng không ấy đã đến nơi đóng quân của chúng tôi và nồng nhiệt cảm ơn đồng chí chỉ huy, Trung tá I. A. Liakisép, về việc đã chuyển giao khẩu pháo đó cho họ. Sang ngày hôm sau, ngày 30-10-1965 (thứ bảy), ngay từ sáng sớm đã có báo động: đã phát hiện một mục tiêu bay chậm ở tầm cao. Xét theo mọi thông số thì chúng tôi xác định đây là máy bay trinh sát không có người lái. Độ cao của mục tiêu là 22 nghìn mét. Khi bệ phóng vừa kịp khởi động đồng bộ thì Trung tá Liakisép phát lệnh. - Tiêu diệt mục tiêu bằng một quả tên lửa! Điều này khiến tất cả chúng tôi ngạc nhiên. Theo "quy tắc xạ kích" thì trong trường hợp này được ấn định phóng 3 tên lửa và bắn theo loạt, mỗi lần phóng cách nhau 6 giây. Chỉ vài giây sau mục tiêu đã rơi vào rìa vùng bị tiêu diệt. Đến khi tên lửa bay đến điểm đã được tính toán thì mục tiêu đã ra khỏi vùng bị tiêu diệt, và ở độ cao lớn tên lửa đã tự nổ tung. Việc phóng tiếp tên lửa nữa là vô ích, bởi vì xét theo các thông số của mục tiêu thì thậm chí cũng không thể bắn đuổi theo được. Máy bay trinh sát đã bay đi, giờ đây có thể máy bay sẽ đến oanh tạc Nhưng trong ngày hôm đó đã không xảy ra một cuộc bắn phá nào. Một thời gian sau Đại úy Daica đến gặp tiểu đoàn chúng tôi. Thế là đã diễn ra một cuộc phân tích không thú vị về lần phóng tên lửa không thành công. Trung tá Liakisép đã công khai thừa nhận sai sót của mình, nhưng đã tuyên bố ngay rằng ông sẽ không bắn 3 quả tên lửa vào một mục tiêu như vậy! Trung tá Liakisép ở lại chỉ huy tiểu đoàn tên lửa này cho đến lúc đồng chí ấy trở về Liên Xô. Không rõ vì lý do gì mà lần này tiểu đoàn đã không thay đổi trận địa. Chúng tôi được lệnh trao quyền tự chủ nhiều hơn nữa cho các khẩu đội Việt Nam, bởi vì sẽ đến một lúc nào đó chúng tôi sẽ trao mọi thứ cho họ và trở về nước. Ngoài ra, bản thân các đồng chí Việt Nam cũng hết sức mong mỏi được tự chủ tiến hành tác chiến. Chấp hành mệnh lệnh nói trên, chúng tôi đã để cho các khẩu đội tên lửa và những chuyên viên Việt Nam đảm nhiệm độc lập khâu trực chiến. Trên thực tế, trong tác chiến tại chỗ, khẩu đội hỗn hợp đã cùng tác chiến. |
Do rút ra những bài học từ trận địch đánh trúng trận địa lần trước và do phía Mỹ sử dụng các tên lửa tự tìm mục tiêu kiểu "Sraicơ", cho nên bộ chỉ huy của Việt Nam đã áp dụng một loạt cách nghi binh mới: xây các trận địa giả, làm giả hoạt động của các phương tiện trinh sát, v.v. . Giờ đây các đường hào để ẩn nấp dành cho đơn vị đã được xây dựng hầu như chung quanh trận địa và có hình ngoằn ngoèo chứ không thẳng, để ngăn cản không cho các mảnh bom văng theo đường hào ẩn nấp. Các dây cáp dẫn đến bệ phóng tên lửa được vùi xuống những đường hào nông, đường hào cho người thì được che phủ bằng các cành tre. Trung tâm của tiểu đoàn cũng được bao quanh bằng một bức tường đất.
Vì theo lời khai của các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh thì thấy rằng những quả tên lửa mầu trắng bạc của chúng ta rất dễ trông thấy từ xa. Do vậy chúng tôi đã bức xúc nêu lên vấn đề cần sơn các quả tên lửa thành mầu ngụy trang và nhất thiết cần phải ngụy trang bệ phóng tên lửa và ăngten thu - phát của ca bin "P". Đáng tiếc là chúng tôi đã được các đại diện của ngành công nghiệp quốc phòng đưa ra câu trả lời không hoàn toàn có sức thuyết phục. Nội dung câu trả lời ấy là: nếu các quả tên lửa được sơn thì sẽ làm giảm tính năng khí động học của tên lửa. Chẳng bao lâu sau lại xảy ra một sự việc liên quan trực tiếp đến vấn đề ngụy trang? tiểu đoàn phụ trách kỹ thuật bị oanh tạc (chỉ huy tiểu đoàn này là Thiếu tá N. I. Ivanốp). Tiểu đoàn này bị phát hiện trước hết do không được ngụy trang khi tiến hành kiểm tra các quả tên lửa. Việc tranh luận về vấn đề sơn ngụy trang cho khí tài và các quả tên lửa đã kéo dài gần nửa năm. Chỉ mãi đến cuối năm 1965 vấn đề này mới được giải quyết ổn thoả. Điều đó đã cản trở nhiều đối với việc quan sát bằng mắt thường của các tiểu đoàn, nhất là khi khởi động các hoạt động đồng bộ và khi tất cả các bệ phóng được đặt vào tư thế phóng. Sang ngày hôm sau, chủ nhật 31-10-1965, vào khoảng 12 giờ trưa, chúng tôi nhận được thông báo có vài tốp mục tiêu đang hoạt động ở hướng tây và tây - nam. Nếu ở hướng tây - nam có núi thì ở hướng tây có đồng bằng. Ở phía đó, cách chúng tôi khoảng 8 - 10 kilômét, có sân bay Kép, là căn cứ của các máy bay tiêm kích MIG-17. Các khí tài hoạt động không ngơi nghỉ, các quả tên lửa đã sẵn sàng, các máy móc đã được đưa vào tư thế hoạt động đồng bộ. Chúng tôi liên tục tìm kiếm và theo dõi các mục tiêu ở hướng tây. Các quả tên lửa đã nhiều lần được đưa vào tư thế chuẩn bị phóng. Sau này, theo lời kể của những người có mặt tại trận địa, người ta đã khôi phục lại toàn bộ sơ đồ vụ oanh tạc vào tiểu đoàn. Một tốp máy bay gồm khoảng 30 chiếc đã bao vây sân bay Kép và ném một số bom và bắn một số tên lửa nhằm không để cho các máy bay tiêm kích có thể cất cánh. Tốp thứ hai gồm 3 chiếc bay ở phía trên dãy núi từ hướng tây - nam về phía tiểu đoàn chúng tôi. Khi những chiếc máy bay này hướng về phía tiểu đoàn chúng tôi thì khẩu đội pháo yểm hộ chúng tôi - và được chúng tôi trao cho khẩu pháo vớt được từ dưới hố sâu - đã khai hỏa từ tất cả các khẩu pháo và tạo một lưới lửa phía bên trên tiểu đoàn chúng tôi. Các máy bay này vòng sang phía trái, lợi dụng dãy núi để bay đi. Vào thời điểm ấy có vài tốp, mỗi tốp có 2-3 máy bay, đã tách khỏi nhóm hoạt động ở hướng tây. Chúng bay hết sức thấp và lao vào trận địa của tiểu đoàn. Chúng tôi kịp phát hiện mục tiêu đi đầu và phóng 2 quả tên lửa vào nó. Khi tên lửa bay tới gần mục tiêu đi đầu thì có 2 chiếc tiêm kích ném bom được nghi trang đã lộn nhào để tránh tên lửa rồi bay về hướng cũ. Các quả tên lửa bay tới tốp mục tiêu rồi nổ, tiêu diệt được 2 máy bay. Vào lúc ấy từ hướng đông ngày càng nghe rõ những loạt đạn pháo cao xạ. Điều này chứng tỏ máy bay đang tới gần. Nhờ những hoạt động hữu hiệu của pháo cao xạ yểm hộ, cho nên chỉ có một máy bay địch lao được vào trận địa của tiểu đoàn để oanh tạc và cũng phóng được một vài loạt rốc két. Vào thời khắc ấy bỗng nhiên tất cả các máy móc đều bị tắt. Sau khi bước ra khỏi ca bin điều khiển, tôi phát hiện thấy từ trong khoang chứa nhiên liệu của một tên lửa có luồng khói vàng tỏa ra. Sau khi xem xét tên lửa, tôi nhận ra rằng khoang chứa nhiên liệu không bị hỏng, chỉ có thùng chứa chất ôxy hóa bị một lỗ thủng nhỏ ở sườn. Nhưng trong tình trạng này không thể sử dụng được tên lửa. Nó liền được một khẩu đội Việt Nam dỡ khỏi bệ phóng và đưa tới tiểu đoàn kỹ thuật. Khi đi kiểm tra số khí tài còn lại, tôi nghe thấy từ hầm trú ẩn vọng ra những câu chửi thề rất to và không biết bao nhiêu lời nguyền rủa bọn Mỹ bằng tiếng Nga. Khi đến gần, tôi nhìn thấy một trắc thủ của khẩu đội bệ phóng. Người anh ta bị nhiều vết thương do mảnh quả rốc két nổ bên cạnh. Binh sĩ này được đưa lên cáng và đem đi khỏi trận địa. Hóa ra, trong lúc máy bay đang oanh tạc anh lính này chộp lấy khẩu tiểu liên và quát: - Lũ khốn! Tao sẽ cho chúng mày thấy”. Rồi anh ta xả súng bắn vào chiếc "Con ma" lúc ấy đang bổ nhào sát đất. Rất tiếc là tôi không nhớ họ tên của binh sĩ ấy, vì anh ta được đưa ngay về Liên Xô để chữa trị các vết thương. Sau đấy tôi không gặp lại anh ta nữa. Ngay cạnh hầm trú ẩn còn một quả rốc két nữa không nổ. Nó không có ngòi nổ. Cách bệ phóng 3 mét có một hố bom sâu. Ở gần sát nơi này đã không có các mục tiêu không kích. Ngày đã hết, cần phải đưa ra quyết định chuyển trận địa. Lần này đã lập tức nhận được lệnh di chuyển tiểu đoàn. Về cơ bản, khẩu đội Việt Nam và một số chuyên gia của chúng tôi đã kết thúc chuyến hành quân đến khu vực đã ấn định. Sau khi cho đơn vị xuất phát, chúng tôi đã thu dọn đồ đạc và lên xe buýt đến trận địa mới. Trên đường đi chúng tôi ghé thăm các chiến sĩ pháo cao xạ Việt Nam. Trung tá Liakisép đã nồng nhiệt cảm ơn họ đã yểm trợ bằng hỏa lực. Sau khi đến khu vực mới, tiểu đoàn đã triển khai khí tài bên cạnh một điểm dân cư nào đó, dưới tán lá những hàng cây. Khi chỉ còn cách địa điểm này khoảng 1 kilômét thì chúng tôi nhìn thấy một tốp 3 chiếc máy bay đang đến gần tiểu đoàn. Do thời tiết xấu, trời âm u, những chiếc máy bay ấy trông đen ngòm và hùng dữ. Chúng tôi dừng lại và bước ra khỏi xe buýt, chờ đợi những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng những máy bay ấy đã bay qua phía trên tiểu đoàn, không phát hiện ra tiểu đoàn và không gây hại gì cho tiểu đoàn nhờ được ngụy trang tốt. Đã kết thúc những ngày chủ nhật nặng nề ấy đối với nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô và các chiến sĩ Việt Nam. Mặt khác, những sự kiện xảy ra trong hai ngày ấy đã buộc chúng tôi phải xem xét nhiều vấn đề về lý thuyết và thực tiễn các hoạt động tác chiến của binh chủng phòng không. Chính vào thời gian ấy chúng tôi đã bắt đầu hiểu chiến thuật tác chiến của không quân Mỹ nhắm vào các phương tiện phòng không. Trong chiến đấu đã bộc lộ những thiếu sót và phát hiện ra những mặt yếu của khí tài. Mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy bộ đội chúng ta đã được trang bị những bộ khí tài tên lửa phòng không và những hệ thống điều khiển tối tân nhất. Khoa học quân sự đã làm thay đổi hẳn những quan điểm của chúng ta về lý thuyết và thực hành trong tác chiến. Trong vấn đề này có sự cống hiến không nhỏ của những người đã tham gia vào những sự kiện ấy. Sau khi di chuyển trận địa, tiểu đoàn đã không triển khai trong mấy ngày liền. Chúng tôi được phép nghỉ ngơi đôi chút. Không để uổng phí thời gian, nhiều người trong chúng tôi đã giúp bà con nông dân địa phương gặt lúa bằng liềm . |
Tổ quốc không quên chúng tôi
Khi mới đến Việt Nam tất cả chúng tôi đều trải qua cùng một khó khăn: sự nóng bức và độ ẩm cao, khát nước liên tục, thời gian dài vắng bóng thư từ của gia đình. Chỉ mãi tháng 8-1965 mới nhận được những bức thư đầu tiên. Khí hậu ẩm ướt, tình trạng thiếu thốn các phương tiện cần thiết bảo đảm vệ sinh cá nhân, trước hết là thiếu vòi tắm và bồn tắm, - đó là nguyên nhân đầu tiên khiến cho nhiều chuyên gia chúng tôi bị ngã bệnh. Thông thường, những căn bệnh ấy không chữa trị được ở đây và bệnh nhân được đưa về Liên Xô chữa trị. Ngoài ra, những khoản tiền cấp phát thời gian đầu là quá ít ỏi hầu như chật vật lắm mới đủ chi dùng cho ăn uống và thuốc lá. Mọi người bắt đầu công khai phàn nàn. Ban chỉ huy Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đã thông báo vấn đề này với Cục trưởng hữu quan trong Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô. Đến cuối tháng 8-1965 có một đại diện Tổng cục Tài chính Bộ Quốc phòng Liên Xô đến Hà Nội để giải quyết tất cả những vấn đề đã chín muồi. Chẳng bao lâu sau quả thật tất cả các sĩ quan đã được tăng lương, các gia đình chúng tôi ở Liên Xô được trích 70% - chứ không phải 30% - số lương của chúng tôi theo chức vụ khi còn ở Liên Xô. Việc nhận thư từ cũng được cải thiện. Giờ đây đã có thể mua sắm đôi chút cho bản thân và cho gia đình. Ngày 6-11-1965, nhân kỷ niệm Quốc khánh Liên Xô, Bộ tư lệnh phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức tại Hà Nội buổi chiêu đãi trọng thể tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô. Trong buổi lễ này Thượng tá Đdưda đã công bố lệnh phong quân hàm như thường lệ! quân hàm thiếu tướng cho Đại tá N. V. Bagienốp; quân hàm thiếu tá cho Đại úy A. B. Daica. Cuối cùng mỗi chuyên gia được phát một bao thuốc lá Liên Xô. Sau buổi tiếp đón long trọng, đoàn ca múa của Binh chủng phòng không - không quân Việt Nam đã có buổi biểu diễn văn nghệ ngắn. Vào giữa tháng 11 đã bắt đầu việc rút về Liên Xô các chuyên gia quân sự đã đến Việt Nam hồi tháng 4-1965, trong nhóm chuyên gia quân sự đầu tiên của Liên Xô. Những người về nước chủ yếu là những chuyên gia mà vai trò giúp đỡ của họ không còn cần thiết nữa, vì đa số các chuyên viên Việt Nam đã tự mình đảm đương được công việc hoặc là những người bị đau ốm hoặc do hoàn cảnh gia đình. Dĩ nhiên, những người còn ở lại cũng mong được như họ. Trong số những chuyên gia về nước có viên chỉ huy trung đoàn, Tướng N. V. Bagienốp, các viên chỉ huy các tiểu đoàn là Trung tá I. A. Liakisép, Thiếu tá Iu. G. Têrêsencô và những chuyên gia khác. Ngay trước Tết, Thiếu tá Daica đã thông báo cho chúng tôi về chuyến thăm Hà Nội sắp tới của đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Chính phủ Liên Xô. Hơn nữa, chúng tôi sẽ được gặp gỡ với những vị lãnh đạo của phái đoàn ấy, vì họ sẽ trao cho chúng tôi các phần thưởng của Chính phủ. Chúng tôi, mặc lễ phục, xếp hàng theo đội hình. Thiếu tá Daica kiểm tra từng người, nhắc nhở về phong cách bề ngoài và ấn định thời hạn sửa chữa các khiếm khuyết. Đây là Đoàn đại biểu quan trọng và có thẩm quyền. Đứng đầu phái đoàn này là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô A. N. Sêlêpin. Các đoàn viên gồm có Đ. Ph. Uxtinốp là nhân vật hồi ấy phụ trách các vấn đề quốc phòng, Đại tướng pháo binh Tôlúpcô và những nhân vật quan trọng khác. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tập hợp tại Sứ quán Liên Xô. Tôi ngồi cạnh Thiếu tá A. B. Daica, ở ghế thứ hai, cách bục phát biểu khoảng 5 mét. Ngay sau đó, tất cả các thành viên của phái đoàn đã xuất hiện trong hội trường. Ông A. N. Sêlêpin phát biểu đầu tiên. Ông đánh giá cao công việc của chúng tôi và tuyên bố rằng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chăm chú theo dõi tình hình diễn biến tại Việt Nam. Cuối cùng, A. N. Sêlêpin chúc tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đạt được nhiều thành tích hơn nữa trong nhiệm vụ quan trọng của mình. Sau đó Đại tá A. M. Đdưda công bố danh sách những người lưu lại hội trường và những người rời sang hội trường khác. Trong hội trường của chúng tôi có Đ. Ph. Uxtinốp, một cán bộ công bố Sắc lệnh khen thưởng và một nhân viên nhiếp ảnh. |
Đứng đầu danh sách những người được khen thưởng là Tướng G. A. Bêlốp - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Người thứ hai trong danh sách này là tôi. Tôi bước lên giơ tay chào Uxtinốp theo điều lệnh. Uxtinốp đã trao cho tôi Huân chương Cờ đỏ và chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng cao quý. Sau khi quay người với câu đáp lễ thông thường: "Nguyện phục vụ Liên bang Xôviết?", tôi trở về chỗ ngồi. Thiếu tá Daica cũng chân thành chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng. Sau 2 người nứa đã đến lượt thiếu tá Daica được nhận phần thưởng như vậy. Sau buổi trao thưởng mọi người đã tập hợp ở hội trường. Tướng G. A. Bêlốp tiến lại chỗ ông A. N. Sêlépin và nghiêng đầu nói nhỏ gì đó với ông Sêlêpin. Ông Sêlêpin lập tức lớn tiếng tuyên bố. "Dĩ nhiên là có thể!". Tướng Bê lốp nhìn xuống hội trường và hỏi: "Ai biết cách mở rượu sâm banh nào?"
Không hẹn nhau, tựa hồ như theo mệnh lệnh, tôi và 3 anh bạn ngồi cạnh - V. Sennhicốp, V. Lưsaghin và A Nikitin đã giơ tay. Ngay lập tức Tướng Bêlốp chỉ thị cho chúng tôi sang phòng bên cạnh, mở tất cả các chai sâm banh và rót vào cốc Chúng tôi đã nhanh chóng bước sang phòng bên và rất tích cực thực hiện tất cả mọi việc theo yêu cầu. Một lúc sau ông A. N. Sêlêpin và các thành viên phái đoàn đã có mặt trong hội trường. Mọi người đã nâng cốc, sau câu chúc mừng vắn tắt, đã cạn chén. Cùng với phái đoàn Đảng và Chính phủ đến Hà Nội còn có một máy bay nữa chở quà tặng cho chúng tôi. Mỗi người được nhận một gói quà: các sĩ quan cấp trên thì nhận được gói số 1, các sĩ quan cấp dưới nhận được gói quà số 2, những chuyên gia được gia hạn phục vụ, các hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ thì nhận được gói quà số 3. Nội dung trong các gói quà đều giống nhau, nhưng chỉ có sự khác nhau về độ giá trị của loại rượu: các sĩ quan cấp trên nhận được rượu sâm banh và 2 chai cô- nhắc, các sĩ quan cấp dưới thì nhận được rượu sâm banh, 1 chai vốt ca "Thủ đô", 1 chai rượu trắng "Mátxcơva", những chuyên gia khác thì nhận được 1 chai sâm banh, 2 chai rượu trắng "Mátxcơva':. Ngoài ra, trong mỗi gói quà đều có tấm thiệp của Bộ trưởng Quốc phòng đích thân chúc mừng, có cả giò, trứng cá, bánh bích quy, thuốc lá nhãn hiệu "Nôvốt", đôi dép đi trong nhà, đôi giầy cao cổ theo .. kiểu giầy mà bộ binh Mỹ vẫn sử dụng ở Nam Việt Nam, áo đi mưa, quần dài, áo len. Cũng còn có thêm một túi đựng 4kg bánh mì đen cho mỗi người! Bánh mì đen, cá trích muối và nước ướp lạnh - đó là mơ ước của mỗi chúng tôi. Cuối cùng thì một phần ước mơ ấy đã thành sự thật! Ai ai cũng có bánh mì đen, chỉ ăn mọi thứ với bánh mì đen, nhắm rượu cũng với bánh mì đen: Những túi quà được trao vào ngày 31-12 tại nơi ở của chúng tôi, ngay sau khi nhận phần thưởng. Vẫn còn lâu mới tới nửa đêm. Mọi người long trọng xử lý các phần thưởng vừa nhận được. Để đón đêm giao thừa Năm mới 1966, vào đúng nửa đêm tất cả mọi người tập hợp tại nhà ăn. Tại đây A. B. Daica đã tổ chức các hình thức vui chơi có thưởng, thi hát, thi khiêu vũ và thi độc tấu văn nghệ nghiệp dư. Mọi người đều hồ hởi tham gia vào các tiết mục ấy. Chúng tôi cũng không quên các đồng chí Việt Nam. Tôi đã tặng chiếc áo choàng và đôi giầy cao cổ cho anh phiên dịch. Hầu hết các chuyên gia chúng tôi đều làm như vậy. Những ngày vui đã kết thúc như thế. Nhưng chiến tranh thì vẫn tiếp tục. Thế là chúng tôi lại ra trận địa để thi hành nhiệm vụ. |
Những ngày cuối cùng trên đất Việt Nam
Ngay từ trước khi ra trận địa chúng tôi đã được biết các khẩu đội tên lửa của Việt Nam thuộc các Tiểu đoàn tên lửa 81 và 82 đã bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái. Đã có 7 tên lửa phóng vào chiếc máy bay ấy. Trong quá trình phân tích những loạt tên lửa vừa được phóng, người ta đã tìm ra nguyên nhân của việc bắn ra một số lượng lớn tên lửa như vậy: chưa có được sự điều khiển một cách thích đáng từ sở chỉ huy trung đoàn và thiếu sự hiệp đồng tác chiến giữa các tiểu đoàn. Trường hợp này cũng bộc lộ một điều nữa: các khẩu đội và ban chỉ huy trung đoàn chưa có được một sự chuẩn bị đầy đủ. Điều này có nghĩa là nếu không có sự giúp đỡ của chúng tôi thì phía Việt Nam chưa thể tác chiến một mình được. Do vậy, nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô đã phải hoãn thời gian trở về nước muộn hơn. Trong số đó có tôi. Theo quyết định của Trưởng đoàn chuyên gia binh chủng tên lửa phòng không A. M. Đdưda người ta đã tiến hành kiểm tra sự sẵn sàng của các khẩu đội Việt Nam trong việc tác chiến độc lập. Về khâu này đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Chỉ mãi đến cuối tháng 1 mới đạt được những kết quả mong muốn. Có một nhóm đông đảo chuyên gia quân sự Liên Xô chuẩn bị về nước. Trong số này có cả tôi. Trong những ngày ấy Đoàn ca múa Craxnôia đã đến Hà Nội biểu diễn. Đến tối người ta chở chúng tôi đến xem buổi biểu diễn văn nghệ kéo dài đến 3 giờ sáng. Sau đó chúng tôi còn có mặt thêm vài ngày ở trận địa. Trước ngày lên đường về nước chúng tôi tập hợp tại khách sạn Kim Liên. Đến sáng Thiếu tá Daica cho chúng tôi biết vào khoảng 5 giờ sáng mai máy bay sẽ cất cánh. Tất cả mọi người đều phấn chấn. Bỗng nhiên vào khoảng 16 giờ có một xe buýt đến khu chung cư của chúng tôi. Từ trong xe bước ra là Thiếu tá Daica và người phiên dịch. Cả hai đều tiến đến chỗ tôi. Thiếu tá cho tôi biết hiện nay bệ phóng tên lửa mà tôi phục hồi lại bị trục trặc: nó không quay đồng bộ với ăngten của ca bin "P". Do vậy tôi cần đến ngay trận địa và khắc phục sự trục trặc mới nảy sinh. Trận địa ở cách Hà Nội khoảng một giờ rưỡi đi xe. Tiểu đoàn đã triển khai trong một vườn chuối. Người ta nóng lòng chờ đợi tôi. Tôi lập tức bắt tay vào việc. Chẳng có gì đặc biệt phức tạp trong việc tìm ra và khắc phục sự cố, trên bệ phóng bộ ly hợp truyền đã bị lỏng. Để hiệu chỉnh nó chỉ cần vài phút. Sau khi kiểm tra bệ phóng đồng bộ với hệ thống ăngten và hướng dẫn thêm cho người chỉ huy khẩu đội, tôi sửa soạn ra về, nhưng người ta lại giữ tôi lại Toàn thể khẩu đội tỏa về các phía, họ lôi từ đâu ra những chiếc bàn, những chiếc bảng, tạo thành một chiếc bàn dài để tiến hành một tiết mục gì đó. Trên bàn có rượu Lúa mới (chúng tôi gọi nó là "rượu gạo"), bia, nước khoáng, các thức nhắm. Mọi người đã nhanh chóng ngồi vào bàn. Thế là bắt đầu bữa tiệc chia tay. Tất cả các bạn Việt Nam đã cám ơn tôi, hỏi han về gia đình, về nhà cửa và v.v.. Sau đó họ tặng cho tôi 12 chiếc nhẫn rất đẹp làm bằng nhôm lấy từ các ống trên các máy bay Mỹ bị bắn rơi. Họ đeo ngay 10 chiếc nhẫn lên các ngón tay của tôi, tôi bỏ 2 chiếc còn lại vào túi. Cuối cùng chúng tôi chia tay và tôi quay về khách sạn Kim Liên. Khi chúng tôi quay trở về khách sạn thì trời đã tối. Chúng tôi cho xe chạy chậm, không bật đèn. Chúng tôi đến một điểm dân cư nào đó. Trong túi tôi có 15 đồng Việt Nam, không có lý gì đem nó về nước. Dọc đường đi, tại một quán cà phê tôi đã dùng số tiền ấy mua 5 chai rượu vang nhãn hiệu "Đồng Tháp". Đến gần nửa đêm tôi về đến khách sạn Kim Liên. Tại đó hầu như không có người nào ngủ cả: mọi người sốt ruột chờ đến sáng và chờ đợi giờ phút cất cánh, vì phía trước là ngày gặp lại Tổ quốc. Cho đến sáng mọi thứ uống có cồn đều được uống hết với bạn bè. Gần 5 giờ sáng một xe buýt đến đưa chúng tôi ra sân bay. Ra tiễn chúng tôi có Thiếu tá A. B. Dai ca và viên chỉ huy tiểu đoàn tên lửa, Đại úy Iu. P. Bôgđanốp. Dĩ nhiên, mặc dù đã hết sức cố giấu nỗi hồi hộp, nhưng chúng tôi vẫn hồi hộp: tại nơi đây, trên đất Việt Nam đã có biết bao nhiêu điều trải qua. Những bạn chiến đấu của chúng tôi vẫn đang lưu lại nơi đây. Chắc chắn chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy họ. Mọi người đã nhanh chóng vào chỗ ngồi trên máy bay. Sau vài phút máy bay bay về phía biên giới Trung Quốc. Sau 30 phút chúng tôi đã bay trên không phận Trung Quốc và mãi mãi từ biệt Việt Nam. Vậy là đã kết thúc một trong những giai đoạn quan trọng và không thể quên trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Giai đoạn ấy đã có vai trò to lớn trong số phận sau này của tôi. Thị trấn Lexnôi, tháng 1-2003 |
2.THƯỢNG SĨ CẬN VỆ
CÔLÊXNHÍCH NHICÔLAI NHICÔLAIÊVÍCH Giáo sư danh dự của RAEN (PAEH) Ông sinh ngày 28-1-1943 tại tỉnh Khác cốp. Năm 1959 tốt nghiệp trung học phổ thông, năm 1951 tốt nghiệp Trường kỹ thuật sô 15 tại thành phố Gorlốpca, sau đó làm việc tại Sở hiệu chỉnh máy tự động của thành phố Gorlốpca, là thợ hiệu chỉnh điện các máy tự động trong thang máy của mỏ. Từ năm 1963 đến năm 1965 phục vụ trong Quân đội Xô viết theo chế độ nghĩa vụ. http://i1073.photobucket.com/albums/...Tet2013061.jpg Côlêxnhik Nhicôlai Nhicôlaiêvich trong những năm ở Việt Nam Từ tháng 7-1965 đến tháng 3-1966 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam. ông từng là chỉ huy bệ phóng - phó chỉ huy trung đội, chỉ huy trung đội thuộc đại đội bệ phóng của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236, sau đó là Trung đoàn số 261 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1972 ông tốt nghiệp Đại học Năng lượng Mátxcơva, là cán bộ phụ trách cơ khí - năng lượng của phân xưởng, kỹ sư thiết kế chính, phân xưởng trưởng tại các xí nghiệp công nghiệp hàng không và công nghiệp quốc phòng, đồng thời làm công tác giảng dạy. Từ năm 1994 là chuyên gia chính, sau đó là Trưởng ban Kỹ thuật điện của Đuma quốc gia. Năm 1994 ông được bầu làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Hội cựu chiến binh liên vùng của các cựu chiến binh đã chiến đấu tại Việt Nam. Ông được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ và 8 huy chương, trong đó có Huy chương Lão thành lao động, Vì sự củng cố cộng đồng chiến đấu, "Chiến đấu vẻ vang, cũng như Huy chương Hữu nghị của Việt Nam và các huy hiệu Chiến sĩ quốc tế, Cựu chiến binh của Binh chủng phòng không Liên Xô và Việt Nam. CHUYẾN CÔNG TÁC BÍ MẬT ĐẾN VIỆT NAM Cuối tháng 3-1965 người ta đã triệu tập chúng tôi - gồm 5 người thuộc khẩu đội bệ phóng của Tiểu đoàn số 3 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không cận vệ Putilốpxcơ - Kirốpxki số 236 - lên phòng tham mưu trung đoàn. Có một người trong số những người tiễn chúng tôi hình như đó là Chuẩn úy Suxtanốp, đã nói đùa? - Các anh ấy sẽ sang Việt Nam. Anh ấy nói bâng quơ như vậy... Chẳng bao lâu sau đó chuyện này đã thật sự diễn ra. Tại phòng tham mưu, sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi Thiếu tá cận vệ Ivan Cônxtantinôvích Prôxcurnin, đã chờ sẵn chúng tôi. Tại đó còn có những binh sĩ và hạ sĩ quan thuộc các tiểu đoàn khác trong cùng trung đoàn chúng tôi. Tất cả gồm 15 người. Trong tiểu đoàn chúng tôi, trừ viên chỉ huy ra, đã có mặt gần như toàn bộ Trung đội 2 của tôi thuộc các khẩu đội bệ phóng: binh nhất Raphain (Tôlia) Akhunốp, binh nhì Alếchxây Phômisép thuộc khẩu đội 5 và binh nhất Anatôli Psênhisnư và binh nhì Anđrây Xáptrúc thuộc khẩu đội 6. Trong số những người thuộc những tiểu đoàn khác của trung đoàn có các trắc thủ vận hành máy bám sát mực tiêu bằng tay - các binh nhất Alếchxanđrơ Buốcxép, Tácdan Séccơviani, Nicôlai Gavrilúc, trắc thủ vận hành máy bám sát mục tiêu bằng tay - binh nhất Víchto Cubusép và trắc thủ bệ phóng - binh nhì Ivan Agalacốp. Người ta đã mời Đại tá cận vệ An tôn Xtêpanôvích Pôbôgiacốp đến phòng làm việc của vị chỉ huy Trung đoàn. Đại tá Pôbôgiacốp nói với chúng tôi: - Dự kiến sẽ có chuyến công tác đến một đất nước có khí hậu nhiệt đới để thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong những điều kiện sát với những điều kiện chiến đấu. Cần có những người được đào tạo tốt, nắm vững các phương tiện kỹ thuật chiến đấu. Có những đòi hỏi đặc biệt về kỷ luật. Do vậy các đồng chí được đề cử thực hiện nhiệm vụ này. Trưởng nhóm của các đồng chí sẽ là Thiếu tá cận vệ Prôxcurnin. Sau cuộc trao đổi ngắn người ta dành cho chúng tôi thời gian suy nghĩ. Dĩ nhiên, chúng tôi đã đoán ngay được đó là đất nước nào. Khi còn học ở trường phổ thông, tôi chỉ biết về Việt Nam qua sách giáo khoa môn địa lý, như là một nước nhiệt đới xa xôi vừa đánh đuổi được bọn thực dân Pháp. Còn bây giờ mỗi ngày, trong chương trình "Thời sự" buổi tối trên truyền hình, chúng tôi được xem những phóng sự truyền hình về những cuộc bắn phá của không quân Mỹ đánh vào miền Bắc Việt Nam. Vì những lý do khác nhau đã có vài người từ chối việc đề cử sang Việt Nam (trong danh sách không ghi họ tên của họ). Số anh em còn lại đã phải trải qua đợt giám định y khoa nghiêm ngặt. Tất cả những người đã qua đợt giám định y khoa thì được gửi đến Hội đồng quân sự của quân đoàn. Tại đó đã diễn ra cuộc trao đổi còn ngắn gọn hơn. Trước lúc lên đường đi xa Từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7-1965 chúng tôi gồm khoảng 80 người được tuyển từ các đơn vị khác nhau thuộc Binh chủng phòng không Quân khu Mátxcơva, đã được tập kết tại khu quân sự của Trung đoàn tên lửa phòng không Putilốpxcơ - Kirốpxki, tại làng Mitinô. Chỉ còn khoảng 3 tuần lễ là đến ngày lên đường..Chúng tôi luyện tập quân sự (nghiên cứu các điều lệnh về tác chiến và những hướng dẫn về khai thác các khí tài), cũng như rèn luyện thể lực. Trước ngày lên đường mỗi người được phát một chiếc valy, khẩu phần thức ăn khô cho 3 ngày và quần áo dân sự. Khi mặc "thường phục", chúng tôi - những quân nhân - không còn nhận ra nhau. Chỉ mãi vào ngày lên đường chúng tôi mới được phát hộ chiếu xuất cảnh và được nghe tuyên bố chính thức rằng chúng tôi lên đường sang Việt Nam, nhưng chúng tôi được lệnh tuyệt đối không được viết thư thông báo việc này cho gia đình. Trong thư viết về nhà tôi thông báo rằng kỳ nghỉ mà người ta dành cho tôi sau kết quả kỳ kiểm tra mùa đông đã bị hoãn do có chuyến công tác biệt phái khẩn cấp và lâu dài. Sau bữa trưa và buổi chia tay ngắn ngủi với bạn bè và với gia đình các sĩ quan - họ tiễn đưa chúng tôi như tiễn đưa người thân, - chúng tôi lên xe buýt và đến sân bay Sơcalốp. Chúng tôi bay trên loại máy bay AN-10B. Chúng tôi đáp xuống sân bay cuối cùng và ngủ qua đêm tại Iếccút. Đến mờ sáng chúng tôi đáp máy bay rời khỏi Iếccút. Sau hơn một giờ bay chúng tôi bay qua biên giới quốc gia Liên Xô - Mông Cổ, sau 2 giờ nữa thì bay qua biên giới Mông Cổ - Trung Quốc. Trung Quốc Chúng tôi hạ cánh ở Bắc Kinh. Qua các ô cửa trên máy bay chúng tôi nhìn thấy những đội thiếu niên Trung Quốc cầm cờ hoa và biểu ngữ xếp hàng trên sân trước tòa nhà chính của sân bay. Từ các loa phóng thanh vang lên điệu nhạc hùng tráng và những tiếng hô chào mừng bằng thứ ngôn ngữ xa lạ mà chúng tôi không hiểu được. Chẳng lẽ người ta đón chào chúng tôi một cách long trọng đến thế? - chúng tôi băn khoăn tự hỏi. Chúng tôi bước xuống máy bay và nhìn thấy đoàn đại biểu Bắc Triều Tiên đang đi tới tòa nhà chính của sân bay. Bấy giờ mọi chuyện mới rõ ràng. Ra đón chúng tôi có các nhân viên thuộc Sứ quán Liên Xô và các vị đại diện của Trung Quốc. Tại quán ăn chúng tôi được phục vụ một bữa trưa ngon tuyệt. Sau đó chúng tôi được đưa về thành phố. Người ta bố trí chúng tôi nghỉ tại một khách sạn loại sang, trong những phòng có hai giường. Đến sáng chúng tôi phân thành các tốp nhỏ đi vào phố. Trong các cửa hàng có đầy các loại hàng hóa khác nhau, nhưng không một ai mua sắm thứ gì - mọi thứ đều rất đắt do vậy không hề phải xếp hàng. Trong mỗi cửa hàng đều có treo những bức ảnh của Mác, Ăng ghen, Lênin, Xtalin và bức ảnh to nhất - bức ảnh Mao Trạch Đông. Đến buổi chiều chúng tôi được đưa ra sân bay. Chúng tôi tiếp tục chuyến bay và có một lần hạ cánh giữa đường, tại sân bay của thành phố Sansa. Tại đó người ta mời chúng tôi tham quan xưởng thêu nghệ thuật của địa phương. Cho đến bây giờ, bức tranh thêu hình con mèo con mầu xám vẫn hiện rõ trước mắt tôi, với từng sợi lông như thật, còn chiếc râu thì động đậy như râu thật. Cuối cùng, máy bay của chúng tôi bay tiếp về hướng nam. còn nữa |
Trên đất Việt Nam
Chúng tôi đã bay gần nửa giờ trên lãnh thổ Việt Nam. Máy bay hạ độ cao. Qua cửa khoang máy bay, chúng tôi chăm chú quan sát tấm thảm ghép nhiều mảnh được ánh nắng rọi vào - đó là những thửa ruộng hình chữ nhật chủ yếu có mầu xanh ngọc bích. Trên những thửa ruộng ấy thấp thoáng những chiếc nón mầu vàng nhạt của những người nông dân đang làm việc. Họ ngừng tay và ngoảnh mặt về phía máy bay của chúng tôi, họ vẫy tay chào. Máy bay lượn vòng, rồi hạ cánh. Chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm của Hà Nội. Vậy là lần đầu tiên chúng tôi bước chân đến đất Việt Nam, mà với thời gian đất nước này đã trở thành thân thiết đối với chúng tôi. Ra đón chúng tôi là các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi chăm chú nhìn vào nhau. Điều đập vào mắt chúng tôi là bộ quân phục lạ lẫm, mũ đội đầu, các phù hiệu phân biệt cấp bậc. Những khuôn mặt của các chiến sĩ Việt Nam cũng chưa quen đối với chúng tôi, khiến chúng tôi thấy khuôn mặt của họ đều giống nhau như những anh em sinh đôi. “Tôi sẽ phân biệt họ bằng cách nào đây” - Tôi chợt nghĩ. Về sau mới rõ, người Việt Nam cũng thấy chúng tôi "có cùng một khuôn mặt", chỉ có tuổi tác là khác nhau và cách ăn mặc có đôi chút khác nhau. Lễ đón chính thức ngắn ngủi đã kết thúc. Chúng tôi được mời uống trà. Chúng tôi ngồi dưới "những cái ô" to rộng, được làm từ những chiếc dù của Mỹ và được giương lên cao trên những chiếc sào bằng tre. Trong lúc uống trà đã diễn ra những cuộc làm quen ban đầu, nói chuyện với nhau thông qua phiên dịch. Các bạn Việt Nam đưa ra những câu hỏi xã giao truyền thống: "Tên đồng chí là gì?", Đồng chí bao nhiêu tuổi?", "Sức khoẻ của đồng chí thế nào?", "Đồng chí có gia đình chưa?", "Đồng chí có bao nhiêu con?". Đến cuối buổi dùng trà tôi đã biết câu chào bằng tiếng Việt: "Xin chào" và "tạm biệt". Vậy là dưới bóng chiếc dù của Mỹ đã diễn ra bài học tiếng Việt đầu tiên của tôi. Chúng tôi phải đi khá lâu mới đến được nơi ở, vì đường bị cày xới bởi những hố bom sâu và tài xế phải luôn luôn tìm đường đi vòng. Quang cảnh ở Việt Nam rất độc đáo và nổi bật là cảnh tĩnh mịch và hài hòa. Những thửa ruộng được ngăn cách bằng những bờ ruộng thẳng và những con mương tưới nước bé nhỏ. Mọi cảnh vật tưởng như yên bình và rất xa chiến tranh, nếu không có vô số những hố bom .... Khi sắp tới Hà Nội, một chốt kiểm soát đã dừng xe chúng tôi. Người ta kiểm tra giấy tờ, nhưng khi biết trên xe là các đồng chí "Liên Xô" vừa từ Mátxcơva tới thì 'họ ngừng kiểm tra, họ nở nụ cười chào đón và cho hay con đường này đã bị ném bom ban ngày, do vậy chúng tôi sẽ phải đi vòng rất xa. Hà Nội vào buổi chiều tối đã đón tiếp chúng tôi với đông đảo người qua lại trên những con phố nhỏ. Những dòng người bất tận di chuyển theo các hướng ngược xuôi, làm sôi động không gian bằng tiếng người, thỉnh thoảng lại bị chặn lại bởi những chiếc ôtô rú còi inh ỏi. Đa số họ là những thanh niên. Tưởng chừng như chiến tranh đã không cản trở họ vui chơi giải trí và yêu nhau. Nhằm mục đích ngụy trang, về ban đêm phố xá Hà Nội không có đèn chiếu sáng. Do vậy, trong bóng tối thật khó ngắm nhìn thành phố này. Tuy nhiên, cũng đã hiện ra những kiến trúc với những hình dáng khác lạ đối với chúng tôi. Khi xe chúng tôi đang chạy trong thành phố thì Hà Nội đã bắt đầu chuẩn bị đi vào nghỉ ngơi có nhiều người chuẩn bị chỗ ngủ ngay trong sân nhà mình và thậm chí trên vỉa hè ở gần nhà. Tôi hỏi anh bạn Tuấn: - Tại sao họ ngủ trên đường phố?. - Bởi vì, ban ngày các ngôi nhà xây đã bị hun rất nóng và đến tối thì trong nhà vẫn còn rất ngột ngạt. Hầu như không thể ngủ trong nhà được. Vì vậy, vào lúc nóng bức nhiều người không cần đến mái nhà. Đối với người Việt Nam sân và hè phố là sự tiếp nối của ngôi nhà, - anh bạn Tuấn giải thích như vậy. Ngay trong đêm ấy tôi đã thấy rõ những lời anh Tuấn nói là đúng. Khi xe còn chạy, ngọn gió nhẹ thổi ngược chiều còn thấy mát đôi chút, cho nên chúng tôi chưa thấy khổ nhiều vì oi bức. Nhưng sau nửa giờ, sau khi chúng tôi đã tới nơi nghỉ qua đêm thì quần áo chúng tôi ướt đẫm mồ hôi, y như chúng tôi vừa giặt quần áo và mặc lên người mà chưa kịp phơi khô. Chúng tối đã phải phơi quần áo suốt đêm ấy. Đêm đầu tiên ở xứ nhiệt đới Hầu như chẳng có ai trong chúng tôi ngủ được. Người ướt đẫm mồ hôi, thỉnh thoảng chúng tôi trò chuyện với nhau, chia sẻ với nhau những ấn tượng trong những ngày gần đây. Tôi nằm nhìn qua ô cửa sổ, tôi ngắm bầu trời phương Nam chưa quen thuộc và lắng nghe những âm thanh lạ lẫm của màn đêm nhiệt đới. Mãi đến gần sáng tôi mới chợp mắt được. Đến sáng, chúng tôi ngạc nhiên phát hiện ra rằng sau cả một đêm quần áo của chúng tôi không hề khô một chút nào... Hóa ra, vào mùa ấy độ ẩm trong không khí quá cao, đến nỗi ngay cả phơi ngoài nắng chang chang thì quần áo cũng không khô hoàn toàn nếu không có gió thổi. Còn những vũng nước sau trận mưa rào thì vẫn còn nguyên, qua hàng tháng trời vẫn không cạn nước ngay cả vào thời tiết nóng bức nhất. Đến đêm lũ muỗi đã quấy rầy chúng tôi ghê gớm. Khi bị chúng đốt trên da xuất hiện những nốt sưng và thấy rất ngứa, khiến người ta bất giác phải gãi vào những chỗ bị đốt. Những chỗ ấy biến thành mụn nhọt. Với độ ẩm cao và môi trường có nhiều vi trùng những mụn ấy không lành được trong nhiều tuần lễ. Loài muỗi rất háu ăn, nên chúng đốt xuyên qua cả quần áo và - như chúng tôi vẫn nói đùa - chúng đốt xuyên cả túi sau quần và xuyên thủng cả đế giày. Xin nói thêm rằng chúng tôi đã phải nhanh chóng thay giày và chuyển sang loại mềm chân hơn, đó là những đôi dép cao su của Việt Nam mà đã có người trong chúng tôi gọi bằng một tên gọi chính xác là "dép nhũn". Dùng loại dép này quả thật dễ đi hơn. Sau đó một ngày người ta đã phát cho chúng tôi một thứ đồ trang bị nữa, rất cần thiết trong hoàn cảnh lúc đó: mỗi người đều nhận được một mũ sắt do Liên Xô sản xuất. Và biết đâu được! Nếu ngày ấy tôi xem thường dụng cụ đội đầu cổ xưa ấy của các chiến binh thì có thể giờ đây tôi đã không còn để viết những dòng hồi ức này. Những chiếc mũ sắt đã bảo vệ chắc chắn những mái đầu của chúng tôi chống lại mảnh bom Mỹ và mảnh rốc két loại "không đối đất”. Việc được phát mũ sắt nhắc tôi nhớ đến chiến tranh... Vả lại, chiến tranh cũng đã ngay lập tức tự nhắc đến sự hiện diện của nó. Cuộc oanh tạc đầu tiên Đêm đã về khuya, chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng kẻng gõ vào thân quả bom Mỹ được buộc vào một cành cây - "Báo động có máy bay địch”. Tôi vớ lấy quần áo chiếc mũ sắt, chạy theo những người khác, tôi nhảy qua ô cửa sổ ra ngoài đường. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng rít làm thót tim, ập đến với tôi từ phía trên. ‘Bom rơi", - bỗng vụt loé trong tôi ý nghĩ này. Tôi ngã xuống, cằm đập vào nền đất ướt đẫm. Tôi đội mũ sắt lên đầu, lấy tay bịt tai lại và chờ tiếng nổ. Có vật gì đó rất to, với tiếng rít dữ dội, lao thẳng vào tôi. Tôi nằm ép chặt vào đất, trong tư thế bất động. Tưởng chừng như cả một thế kỷ đang trôi qua. Bỗng nhiên, những lưới lửa mầu vàng cùng lúc đó rọi sáng những nòng pháo cao xạ dài ở phía bên phải tôi. Một loạt bom nổ. Tiếng nổ chát chúa của bom đập mạnh vào tai và trong khoảnh khắc đã không nghe thấy tiếng rít làm thắt ruột gan. Những tiếng nổ búp búp trên bầu trời, một tiếng nghe khô khốc như tiếng roi quất mạnh. Tiếng rít bỗng thay đổi, giọng điệu dữ dằn của nó thành một giọng thảm thiết, lặng đi rồi im bặt trong bất lực. “Vậy là không phải bom" - tôi nghĩ vậy và với vẻ ngạc nhiên tôi nghe ngóng sự yên tĩnh bỗng nhiên trở lại. Tôi từ từ đứng dậy và nhìn thấy có vật gì đó bùng cháy như cây nến lao nhanh xuống đường chân trời. "Máy bay bị bắn rơi!", - một ý nghĩ vụt loé trong tôi. Tôi nhìn dõi theo nó rơi xuống tận mặt đất. Một ánh chớp sáng rực trong khoảnh khắc đã chiếu sáng bầu trời. Sau đó dội lại âm thanh của một tiếng nổ đanh ở đằng xa... 20 phút sau còi báo yên vang lên. Trong trạng thái xúc động, run run, chúng tôi uể oải trở về phòng nghỉ của mình với hy vọng rằng có thể còn chợp mắt được cho đến bình minh. Đến sáng mới hay biết chiếc máy bay bị bắn rơi ban đêm đã rơi cách chỗ chúng tôi 8 km. Phi công trên chiếc máy bay này đã không còn cần đến chiếc ghế phóng dù. Tôi ghi nhớ mãi cái đêm đầy lo âu đó. Đã trôi qua tuần lễ đầu tiên chúng tôi ở trên đất Việt Nam và cuộc chạm trán đầu tiên với chiến tranh... Từ thời thơ ấu, trong tiềm thức, tôi. hình dung chiến tranh như một con quái vật hung dữ và khủng khiếp. Từ chiến tranh" luôn luôn buộc tôi nhớ đến một từ khác - đó là từ “người cha" mà chiến tranh đã cướp đi mất của tôi. Cha tôi, ông Nicôlai Đimitơriêvích Côlêxnhích, một thượng sĩ cận vệ, pháo thủ thuộc Lữ đoàn xe tăng số 186, đã hy sinh ngày 30-10-1944 trong trận đánh giải phóng thành phố Liêpaia của Látvia. Ông đã được mai táng tại đó tại nghĩa trang chôn cất các liệt sĩ ở Prixcunxcơ, với số mộ 1344. Hồi ấy ông mới có 20 tuổi. |
Bắt đầu công việc luyện tập
Sau vài ngày, tại vùng Hà Đông ở ngoại thành Hà Nội, chúng tôi đã tiếp nhận các khí tài, tháo dỡ chúng, tiến hành kiểm tra chức năng các hệ thống và bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ chủ yếu của mình là: trong một thời gian ngắn huấn luyện cho các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam biết tác chiến và sau 3 tháng đưa Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Việt Nam vào hoạt động. Trong thời gian tháo dỡ và kiểm tra khí tài chúng tôi đã có dịp làm quen hơn với vị chỉ huy Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 là Đại úy Hồ Sĩ Hữu (Xo ШИ XЫY), với các sĩ quan Việt Nam và với các khẩu đội bệ phóng của Việt Nam. Vị chỉ huy tiểu đoàn này nói và viết thạo tiếng Nga: năm 1964 ông đã tốt nghiệp Học viện sĩ quan binh chủng phòng không tại Liên Xô. . Mỗi khẩu đội Liên Xô lại kèm cặp một khẩu đội Việt Nam, còn tại khấu đội bệ phóng, do thiếu quân số, nên mỗi khẩu đội phải kèm cặp một trung đội. Tôi còn nhớ về người chỉ huy khẩu đội đầu tiên của tôi - đó là Trung sĩ Thành. Anh ấy quê ở miền Nam (là người thành phố Sài Gòn), có vóc người cao hơn những người khác và có thân hình chắc nịch. Anh Thành rất cẩn thận và tập trung. Trắc thủ số một trong khẩu đội - binh nhất Sơn, là một chàng trai cần cù khiêm tốn. Đôi mắt của anh luôn nheo lại trong nụ cười e thẹn. Tuy trông có vẻ lù khù chậm chạp nhưng anh ấy đã học thành thạo trong việc thao tác chiến đấu một cách rất chuẩn xác, nhanh hơn các trắc thủ số 1 ở những khẩu đội khác. Do vậy, mọi người đều quý trọng anh vì phẩm chất ấy. Trắc thủ số 2 là binh nhất Tiến, có tầm vóc không cao, nhanh nhẹn, rắn rỏi, tự biết giá trị của mình. Anh có tuổi đời lớn hơn so với anh Sơn và anh Lai trắc thủ số 3. Cũng giống như anh Thành, anh Tiến mới 20 tuổi, còn anh Sơn và anh Lai thì mới vừa tròn 18 tuổi, nhưng vấn đề không phải ở tuổi đời. Trước ngày trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, anh Tiến phục vụ trong một trung đoàn xe tăng, đã chiến đấu ở miền Nam, rất yêu quý những gì liên quan đến xe bọc thép đã từng che chở anh trong chiến đấu. Anh không hài lòng khi được chuyển sang binh chủng tên lửa. Lúc đầu anh Tiến có thái độ hoài nghi đối với các phương tiện kỹ thuật tên lửa, đặc biệt không thích những động tác tập luyện nặng nhọc khi chuyển bệ phóng từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu và ngược lại. Sau này, trong điều kiện chiến đấu anh ấy đã thao tác tuyệt đối nhanh và chính xác. Sau khi chúng tôi bắn hạ được những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên, anh Tiến thấy quý trọng tên lửa. Pháo thủ số 3 là chiến sĩ Lai, có vóc người vừa phải, hơi gầy đã tốt nghiệp lớp 10 phổ thông trước khi nhập ngũ và làm nghề buôn bán nhỏ ở Hà Nội. Anh ấy là một thanh niên ham hiểu biết nhưng không cần mẫn lắm. Lúc đầu anh luôn phản ứng lại mọi mệnh lệnh và thậm chí đã tìm cách tranh cãi với anh Thành, nhưng anh Thành đã kiên quyết và bình tĩnh giữ ý kiến của mình. Phải nói rằng Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập gồm những người có trình độ học vấn ít nhất là lớp 8 và đã đôi chút hiểu biết kỹ thuật. Trong số các sĩ quan có những người đã từng phục vụ trong pháo binh, từng là các chiến sĩ xe tăng và thậm chí là những nhân viên kỹ thuật của ngành hàng không. Một số người đã tốt nghiệp các trường quân sự, nhưng đa số họ đã học các lớp ngắn hạn đào tạo sĩ quan, còn khoa học quân sự thì họ tiếp nhận trong thực tiễn. Đa số các chàng trai xuất thân từ nông dân thì trước đó chưa hề nhìn thấy phương tiện kỹ thuật nào phức tạp hơn chiếc xe đạp. Tất nhiên, huấn luyện họ là công việc phức tạp... nhưng như người ta vẫn nói, nếu thực lòng mong muốn thì cái gì cũng có thể học được. Trung đoàn đầu tiên cũng may mắn có người chỉ huy: Thiếu tá Nguyễn Văn Tuyên cũng nói thạo tiếng Nga, vì trước đó không lâu đồng chí này cũng tốt nghiệp Học viện quân sự tại Liên Xô. Anh Tuyên là người chỉ huy có trình độ, là một người dũng cảm và táo bạo. Anh đã được đào tạo rất tốt về quân sự. Cách đây không lâu tôi được biết tin buồn: cựu chỉ huy của Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên, Trung đoàn 236 của Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang Việt Nam, Đại tá Nguyễn Văn Tuyên đã qua đời do những vết thương trong chiến tranh. Vài nét về Quân đội nhân dân Việt Nam Vào thời ấy trong Quân đội nhân dân Việt Nam chưa có chế độ một thủ trưởng theo quan niệm của chúng tôi, vì trong một số trường hợp chính ủy có quyền bác bỏ lệnh của chỉ huy. Cấp dưới có thể thảo luận mệnh lệnh của chỉ huy... Có thể, ở miền Nam Việt Nam, trong điều kiện chiến tranh du kích, điều đó có thể chấp nhận được. Nhưng trong nhiệm vụ đánh trả các cuộc đánh phá của máy bay thì cơ chế ấy hoàn toàn không giúp cho việc giành thắng lợi. Vào thời kỳ ấy, một trong những đặc điểm của Quân đội nhân dân Việt Nam là khâu tổ chức cung cấp lương thực cho tập thể các đơn vị. Mỗi tháng mỗi người đều được cung cấp một cách tập trung một số tiền nhất định để mua lương thực. Người chỉ huy đơn vị dùng số tiền ấy mua tập trung lương thực tại các hợp tác xã nông nghiệp gần nhất (chủ yếu mua gạo và rau) và ở ngoài chợ (thịt, cá, dầu, mỡ...). Khẩu phần bữa trưa của các quân nhân Việt Nam gồm bát canh rau, tô cơm và mấy miếng cá hoặc mấy miếng thịt, sau cùng là uống nước chè theo truyền thống. Sáng và chiều thì khẩu phần gồm một tô cơm và nước chè. Vào những năm ấy ở Việt Nam chưa có bánh mì kiểu như bánh mì của chúng tôi và chưa sử dụng bột mì. Gạo đóng vai trò bánh mì của Việt Nam. Từ gạo có thể chế biến thành hơn 80 món ăn, nhưng thông thường người ta nấu cơm ăn với rau, với thịt hoặc với cá. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tạm dừng chủ đề các món ăn của Việt Nam để trở lại đề tài cuộc chiến ở Việt Nam... Quá trình huấn luyện được tổ chức như sau: Các phương tiện kỹ thuật chiến đấu được ngụy trang thành những khu nhà ở và các cơ sở kinh tế trên một khu đất cách Hà Nội không xa. Tại đó cũng có những lán trại bằng tre kiểu dã ngoại dành cho các khẩu đội Việt Nam. Còn nơi ở của chúng tôi vẫn như trước. Hàng ngày, chúng tôi thức dậy vào 5 giờ sáng, ăn sáng vào lúc 5 giờ 30 phút. Từ 6 giờ đến 12 giờ trưa lên lớp: nghiên cứu phần vật chất, những hướng dẫn thao tác trong chiến đấu, sau đó thực tập trên các khí tài - những thao tác chiến đấu, soạn thảo các khẩu lệnh, tiến hành những công việc theo quy chế. Từ 12 giờ trưa đến 14 giờ - thời điểm nóng nhất trong ngày - ăn, nghỉ trưa. Từ 14 giờ đến 17 giờ 30 - tiếp tục lên lớp: nhắc lại những điều đã học, giải đáp những thắc mắc. 18 giờ - ăn tối, từ 20 giờ đến 22 giờ - tự học.. Vào các chủ nhật chỉ lên lớp đến 12 giờ trưa. Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng thực hiện theo đúng thời gian biểu ấy. Có những việc làm không đúng thời gian biểu do hội họp, đón tiếp các đại diện bộ chỉ huy binh chủng Phòng không, do điều kiện thời tiết, nhưng thường thường là do những trận bắn phá của không quân Mỹ. Có những buổi lên lớp riêng cho các khẩu đội bệ phóng và riêng cho các khẩu đội kỹ thuật vô tuyến trong trung đoàn. Toàn đội ngũ đều có mặt trong các giờ lên lớp, trừ những người ốm đau và đang trong phiên trực. Các phiên dịch viên quân sự Trong trung đoàn chúng tôi có những phiên dịch viên rất xuất sắc là các đồng chí Lao (Лao) và Hào (Xao). Sau 10 ngày lên lớp họ đã trở thành những "kỹ thuật viên" thực sự vì họ có năng lực tuyệt vời trong việc nghiên cứu các phương tiện kỹ thuật. Tất cả các phiên dịch viên đều là các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Rất nhiều điều phụ thuộc vào thái độ của họ trong việc giải quyết một số vấn đề. Do vậy, trong Trung đoàn các phiên dịch viên là những nhân vật nổi trội và được kính trọng. Các sĩ quan Liên Xô cũng như các sĩ quan Việt Nam đều coi trọng ý kiến của họ. |
Tên lửa "trở về vị trí cũ” do hàng rào ngôn ngữ
Như tôi đã nói, việc giao tiếp thường xuyên hằng ngày với các bạn Việt Nam không phải bao giờ cũng thông qua các phiên dịch viên, vì số lượng họ không đủ. Vì vậy, chúng tôi đã cố gắng học cách hiểu bằng các từ tiếng Việt, còn các đồng chí Việt Nam thì cố gắng hiểu bằng các từ tiếng Nga. Tôi phải nói rằng việc làm này không phải không có kết quả. Tôi đã học được khá nhanh các từ Việt Nam để hiểu các mệnh lệnh, tên gọi những đồ vật, những từ chỉ sự định hướng trong không gian và trong thời gian, ví dụ: "Đã sẵn sàng", "Lên trên”, "Xuống dưới", "Nhanh hơn", "Chậm hơn", "Hướng thẳng”, "Sang trái", "Sang phải", "Hướng lên phía trước", "Lui lại", "Nhiều', "ít" và v.v.. Các bạn Việt Nam cũng đã nhanh chóng hiểu bằng tiếng Nga những khái niệm như: "Nào", "Nhanh hơn", "Dừng lại!", "Ngay bây giờ", "Về sau”, "Không được ngủ”, "Kết thúc". Thật ra, cũng có khi xảy ra những hiểu nhầm và những chuyện nực cười. Có một lần, trong giờ tự học, trắc thủ vận hành của cabin "U" Xasa Buốcxép đã chứng kiến câu chuyện xảy ra giữa hai trắc thủ vận hành là hai đồng chí Hiển (XИEH) và Phát (Фat). Họ đã ra câu hỏi cho nhau để nhắc lại tính năng các cơ quan điều khiển trong cabin. Đồng chí Hiển chỉ vào nút ấn "Trở lại vị trí cũ” - đó là nút ấn dùng để đưa hệ thống điều khiển bệ phóng vào vị trí ban đầu sau khi phóng tên lửa - và hỏi đồng chí Phát: - Còn cái nút này để làm gì? Suy nghĩ một lát, đồng chí Phát trả lời một cách thông thái: - Đó là trường hợp nếu tên lửa đi chệch mục tiêu thì ấn vào nút "Trở về vị trí cũ” để đưa tên lửa trở về bệ phóng. Đồng thời đồng chí Phát còn lấy tay vạch một cách rất ấn tượng đường bay tưởng tượng của tên lửa trở về bệ phóng. Đồng chí Xasa, sau khi nghe thấy câu giải thích như vậy đã không nhịn cười được. Các đồng chí Việt Nam thì tỏ ra ngượng nghịu vì chuyện này. Đồng chí Buốcxép giải thích một lần nữa cho các bạn Việt Nam rõ về tính năng thực sự của nút ấn "Quay trở lại". - Còn như đồng chí Phát nói, nếu tên lửa thực sự quay trở về thì tất cả chúng ta sẽ bay lên trời. Đến đấy mọi người vui vẻ cười phá lên. Tình hình chiến sự trở nên phức tạp Tình hình diễn biến khiến cho thời gian huấn luyện của trung đoàn tên lửa đầu tiên lúc đầu dự tính kéo dài ba tháng thì nay phải rút xuống còn một tháng. Không quân Mỹ đã tăng cường đánh phá ồ ạt vào lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thành thử các phương tiện cao xạ của Binh chủng phòng không và các máy bay tiêm kích của Việt Nam không đủ sức đánh trả một cách có hiệu quả những cuộc oanh tạc ấy. Đã có những ngày máy bay Mỹ thực hiện hơn 200 lần chiếc đánh phá vào lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Máy bay Mỹ đánh phá đặc biệt ngang nhiên, và trên thực tế đã không bị trừng phạt đích đáng nhất là tại các tỉnh ở phía nam của Bắc Việt Nam, tại khu vực kế cận vĩ tuyến 17 và ở phía tây gần biên giới với Lào. Bộ chỉ huy của Việt Nam biết phía Mỹ đã thảo xong kế hoạch tiêu diệt Hà Nội. Theo ý kiến của Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Giônxơn thì Hà Nội là căn cứ chủ yếu của cuộc chiến tranh du kích chống chế độ Sài Gòn. Chiến lược gia chủ chốt của chính quyền Giônxơn là Rôxtâu đã đưa ra luận thuyết: "Có thể bóp chết cách mạng, nếu chặt dứt hoặc thủ tiêu các nguồn hậu thuẫn và tiếp tế cho cuộc cách mạng đó". Nhằm phát triển luận thuyết ấy Mỹ đã thảo ra một kế hoạch như sau: Như đã biết, Hà Nội ở trong vùng trũng - thấp hơn 9 mét so với mực nước của một loạt các hồ chứa nước được xây dựng trong nhiều năm và được bảo vệ bằng một hệ thống phức tạp các con đê đất và các con đập. Phía Mỹ lên kế hoạch dùng những đợt ném bom ồ ạt để phá huỷ những đoạn đê chính dẫn từ các hồ chứa nước lớn và qua đó tạo ra dòng thác nước sẽ nhấn chìm thành phố sau vài giờ, bao gồm cả những tòa nhà cao nhất. Vì vậy, Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ chiến đấu là bảo vệ không phận ở các ngả gần Hà Nội và chặn đứng mọi mưu toan của không quân Mỹ định thực hiện những gì do các chiến lược gia tham mưu của Mỹ đã vạch ra. Trận địa đầu tiên Vào hạ tuần tháng 7-1965 Tiểu đoàn tên lửa 61 của chúng tôi đã chiếm lĩnh trận địa ở đường 32, ngoại ô thị xã Sơn Tây, cách Hà Nội 35 km về phía tây. Tại trận địa đầu tiên này các chiến sĩ tên lửa của Việt Nam đã có được một cơ hội luyện tập tốt, vì để tác chiến thắng lợi thì cần có đủ kinh nghiệm thực tế qua việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong những điều kiện thực tế. Khi huấn luyện cho các chiến sĩ tên lửa của Việt Nam thì bản thân chúng tôi cũng đã học được nhiều điều. Đã bắt đầu những ngày nóng bỏng, nói chính xác hơn, đó là những tháng nóng bỏng. Tình hình chung quanh Hà Nội càng trở nên căng thẳng. Trung tâm theo dõi mục tiêu trên thực tế, phải vất vả cả ngày lẫn đêm. Có những ngày các trắc thủ dẫn đường và toàn bộ đội ngũ khẩu đội kỹ thuật vô tuyến không bước ra khỏi ca bin điều khiển đóng kín suốt 12 - 14 giờ liền. Nhiệt độ trong các ca bin điều khiển đã từng lên đến +70 độ C. Anh em đã phải mặc quần đùi ngồi sau những cần điều khiển, nhưng như vậy cũng không thoát khỏi bầu không khí nóng nực và ngột ngạt. Hàng vũng mồ hôi người đã đọng lại phía dưới mỗi chiếc ghế xoay. Có nhiều khi vì thần kinh quá căng thẳng và không khí nóng nực không chịu nổi mà nhiều người đã bị ngất xỉu. Đáng chú ý là tình trạng này thường xảy ra vào những thời điểm tương đối bớt căng thẳng, khi các mục tiêu đã ra khỏi tầm hỏa lực của tiểu đoàn. Các khí tài chiến đấu của Liên Xô trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới và chế độ hoạt động căng thẳng gần như suốt ngày đêm đã tỏ rõ tính chất đáng tin cậy tuyệt đối và tính chất dẻo dai của mình. Trong những thời điểm căng thẳng nhất, cả người, cả khí tài đều không làm hỏng việc, nhưng đôi khi đã phải tắt các trạm dẫn đường tên lửa do có sự cố, do bị nóng quá, động cơ điện của quạt gió làm nguội các máy phát từ đã bị cháy. Chỉ mất mấy giây người ta đã thay thế động cơ bị cháy, mặc cho tay bị bỏng và thế là lại trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Thời kỳ xả hơi "trong những đợt mưa” May thay, mùa mưa nhiệt đới đã đến. Tưởng chừng như không có cách gì tránh khỏi mưa. Những cơn mưa rào kéo dài hơn một tuần lễ. Chúng tôi đã quen với những cơn mưa như vậy, đến nỗi khi hết mưa, chúng tôi cảm thấy thiếu một điều gì đó. Trong ngày đầu có nắng chúng tôi đã tiến hành kiểm tra cục bộ các khí tài, điều chỉnh độ phẳng ngang của bệ phóng, sau đó kiểm tra hoạt động của toàn bộ tổ hợp. Vào những ngày tiếp sau đó máy bay Mỹ đã nhiều lần tìm cách luồn tới Hà Nội. Nhưng lần nào cũng vậy, khi chỉ còn cách Hà Nội 50 km là chúng quay trở lại, tựa như chúng cảm nhận được rằng chỉ cần bay tới gần hơn nữa là chúng sẽ gặp điều chẳng lành. Chẳng rõ hồi ấy chúng có biết rằng trên đường bay vào Hà Nội chúng nhất định sẽ gặp phải các tên lửa Liên Xô. Có thể nghĩ rằng chúng đã biết trước điều đó. Tuy nhiên, cuộc gặp ấy vẫn đã diễn ra. Loạt tên lửa đầu tiên Sự kiện này xảy ra ngày 24-7-1965, vào buổi chiều, cách Hà Nội 50 km về phía đông bắc. Dưới sự chỉ huy của các Thiếu tá Bôrít Môgiaép và Phêđo Ilinức, bằng đòn tên lửa mạnh mẽ, các Tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 đã hạ được 3 chiếc máy bay tiêm kích chứa đầy bom của Mỹ và bay ở độ cao 2000 mét hướng về Hà Nội. Những chỉ huy đồng nhiệm Việt Nam của các tiểu đoàn ấy là các Đại úy Nguyễn Văn Thân và Nguyễn Văn Ninh. Thượng úy Vlađixláp Cônxtantinốp (trắc thủ tập sự - đồng nhiệm Việt Nam là Trung úy Lã Đình Chi) và Thượng úy Anatôli Bônđarép trắc thủ tập sự - đồng nhiệm Việt Nam là Trung úy Phạm Trường Uy - sau này là Anh hùng lực lượng vũ trang của Việt Nam) lần đầu tiên xung trận trong tư cách là các sĩ quan điều khiển đường bay của tên lửa. Sau này họ đã dược tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ và Huân chương Sao đỏ vì các chiến công đã đạt được. http://i1073.photobucket.com/albums/...Tet2013060.jpg Nhóm sỹ quan trắc thủ tham gia trận đánh ngày 24-07-1965 Đó là những chiếc máy bay thứ 399, 400 và 401 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam kể từ ngày 5-8-1964 - ngày mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các bạn Việt Nam đã dùng mảnh chiếc máy bay Mỹ thứ 400 để làm ra những vật kỷ niệm: trên nền chiếc máy bay Mỹ đang bốc cháy và đâm vào núi là con số "400", trên cuống kỷ niệm chương có dòng chữ Việt Nam "Chiến thắng đầu tiên" và ghi ngày "24.07.65". Tất cả các chiến sĩ tên lửa thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 của Quân đội nhân dân Việt Nam đều được tặng kỷ niệm chương này. Sau trận này, trừ các máy bay không người lái, trong hai tuần lễ đã hoàn toàn không có phi vụ nào của không quân Mỹ bay về hướng Hà Nội. Nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục ngang nhiên ném bom các tỉnh phía nam của miền Bắc Việt Nam. còn nữa |
Tiếp nhiên liệu cho tên lửa
Nạp chất ôxi hóa cho tên lửa là công việc khó khăn nhất khi chuyển bệ phóng từ "tư thế chiến đấu” sang "tư thế hành quân" và ngược lại. Mặc dù không tốn nhiều sức lực khi thực hiện, nhưng chẳng ai ưa thích công đoạn này. Nguyên nhân là vì cái nóng và trang bị rườm rà: trước khi làm công việc nạp chất ôxi hóa họ phải khoác lên người bộ quần áo bảo vệ may bằng dạ rất dày, phía ngoài được phủ một lớp màng cao su. Họ phải xỏ chân vào những chiếc ủng cao su, phải chụp mặt nạ phòng khí độc, phía trên mặt nạ đó là một chiếc mũ bằng cao su trùm kín đầu, hai bàn tay phải đi găng cao su. Trong bộ quần áo kiểu "thợ lặn" ấy dưới cái nóng 35 độ C họ phải thao tác gần một giờ với những chiếc clê, những ống dẫn và những cái van. Mồ hôi chảy đầm đìa. Sau mỗi lần nạp chất ôxi hóa như thế, người thực hiện công việc này trong 40 phút làm việc, bị sút cân gần 1 kg. Những ai đã thực hiện công việc này sẽ phải chờ đến lần tiếp theo, xem đó như là một sự tra tấn, nhưng ngoài người đó ra thì chẳng còn người nào khác làm việc này. Nghỉ ngơi Sau những giờ lên lớp, luyện tập và nạp nhiên liệu, chúng tôi đã không ngồi không. Chúng tôi ngồi ôn lại những câu chuyện diễn ra trong quãng đời trước khi nhập ngũ và "trước khi sang Việt Nam", kể cho nhau nghe giai thoại. Xin nói thêm là các bạn Việt Nam rất thích những giai thoại của chúng tôi. Trong những giở nghỉ các bạn Việt Nam hay hỏi chúng tôi về đời sống ở Liên Xô, về phong tục tập quán của các dân tộc ở Liên Xô, mà trong nhóm chúng tôi có các anh em thuộc 12 dân tộc: người Nga, người Ucraina, người Bêlarút, người Látvia, người Étxtônia, 1 người Tácta, 1 người Cadắc, 1 người Grudia, 1 người Kiếcghidia, 1 người Iếccút, 1 người Udơbếch và thậm chí 1 người Bungari sinh ra ở Mônđavi. Vào các buổi tối chúng tôi ca hát có đệm đàn ghita. Ở chỗ chúng tôi có một tay chơi ghita rất cừ, biết nhiều bài hát, đó là đồng chí Xasa Curakin. Những bài thường hay được hát nhất là những bài: "Anh em ơi? Điều chủ yếu là trái tim không được già!", "Người đồng chí bay đến xứ sở xa xôi", "Chiều Mátxcơva"*, "Bài ca về thời tuổi trẻ đầy lo âu”, "ở nơi ấy, xa xa bên kia sông", "Cây thùy dương"*, “Anh em ơi! Hãy tháo yên ngựa", "Trước lúc lên đường đi xa", “Chiều hải cảng"*, "Điệu van Xêvaxtôpôn", "Con tầu Vanắc", "Đàn chim di cư", "Mẹ ơi! Hãy viết thư đến Ai Cập cho con", "Cây phong mảnh mai của tôi", "Những người địa chất"*, "Lá mùa thu”, "Cuộc sống ơi! Ta mến yêu người?"*, và tất nhiên có bài hát "Cachiusa"* v.v.. Có nhiều bài trong số ấy (được đánh dấu *) được các bạn Việt Nam cùng hát với chúng tôi bằng tiếng Nga và bằng tiếng Việt. Trong số các bài hát của Việt Nam chúng tôi đã từng hát khúc quân hành của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là bài "Giải phóng miền Nam". Thỉnh thoảng chúng tôi tổ chức thi đấu bóng chuyền giữa các đội tuyển của Liên Xô và Việt Nam. Buổi tối chúng tôi vui chơi khi trời đã bớt nóng. Ngày hội thực sự là những ngày, nói đúng hơn đó là những buổi tối có đoàn chiếu phim lưu động đến chiếu các bộ phim tại trận địa. Thoạt đầu chiếu bộ phim tài liệu ngắn về những hoạt động chiến sự gần đây nhất ở miền Nam Việt Nam có lời dịch song song, sau đó chiếu phim truyện, phim của Liên Xô. Bộ phim luôn được ưa ,thích là bồ phim "Chú chó Bácbốt và cuộc thi chạy việt dã". Người ta chiếu bộ phim này mấy lần. Lần nào cũng khiến chúng tôi cười sảng khoái. Đó là bộ phim duy nhất không cần có lời dịch cũng hiểu được. Tiến về phía nam và cuộc phục kích đầu tiên Xét thấy tình hình vùng trời Hà Nội tạm lắng dịu, Bộ chỉ huy Binh chủng phòng không đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tên lửa 61 của chúng tôi trong thời gian ngắn nhất bí mật di chuyển đến vùng thị xã Phủ Lý và tổ chức cuộc phục kích ở đấy. Vào buổi tối, sau khi có lệnh "lên đường hành quân" chúng tôi đã rời khỏi trận địa, tổ chức thành đội hình và hành quân trong hai ngày đêm, chủ yếu vào ban đêm, về phía nam theo lộ trình đã vạch sẵn, về hướng tây đường số 1 . Những ai chưa được nhìn thấy các con đường ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh thì khó mà hình dung được tất cả những khó khăn trên đường hành quân của chúng tôi đi ngang qua những cánh đồng lúa, những khu rừng nhiệt đới và sau cùng là những ngọn núi. Ở nhiều nơi, những con đường bị cày xới trên hàng chục kilômét bởi những hố bom sâu do máy bay Mỹ thả xuống phá huỷ. Chúng tôi đã phải đi vòng, trực tiếp trên các ruộng lúa. Đây là công việc quá khó khăn, vì thậm chí những chiếc xe kéo kiểu ATC của Liên Xô cũng phải trầy trật lắm mới vượt qua được những thửa ruộng ngập bùn lầy. Chỉ có “những con trâu nước" của Việt Nam mới có thể dễ dàng và với một vẻ duyên dáng nào đó di chuyển được trên những ruộng bùn lầy này. Những bệ phóng nặng nề thì mắc kẹt và sa lầy đến tận khung xe. Xích của các xe kéo gầm rú, guồng mạnh và khó khăn lắm mới kéo được những bệ phóng lên nền đường cứng. Dưới sự chỉ huy của các vị chỉ huy dầy dạn kinh nghiệm - Trưởng ban vận tải của trung đoàn là Đại úy Đ. M. Uđôvencô và phó của ông là Thượng úy V. E. Abrôximốp - các tài xế trên những chiếc xe kéo kiểu ATE và KRAZ đã tỏ ra nhanh trí đến kỳ diệu để vượt qua những địa hình và những trở ngại tưởng chừng như hoàn toàn không thể vượt qua nổi. Trong các khu rừng nhiệt đới tình hình cũng không dễ dàng hơn bao nhiêu. Nhờ có những vật ngụy trang tự nhiên nên chúng tôi đã di chuyển băng qua rừng ngay cả ban ngày mà không sợ bị phát hiện từ trên không. Đến chiều tối ngày thứ hai, cuối cùng thì chúng tôi đã ra khỏi các khu rừng. Trước mặt chúng tôi là con sông rộng chừng 35-40 mét, nước chảy rất xiết. Cây cầu đã bị phá huỷ. Chỉ còn lại những khúc gỗ bị cháy sém, bị sức nổ làm văng lên bờ. Có thể thấy rõ rằng bọn Mỹ đã không tiếc bom để dội xuống nơi đây. Anh em công binh đã đến giúp chúng tôi. Họ đã nhanh chóng bắc cầu phao. Nhờ đó, dưới bóng đêm, chúng tôi đã bình yên vượt qua bờ bên kia của con sông. Chế độ "bí mật nghiêm ngặt” Suốt đêm chúng tôi tiếp tục hành quân. Điều bất ngờ nhất là mặc dù lộ trình của chúng tôi đã được giữ bí mật nghiêm ngặt, song tại mỗi điểm dân cư mà chúng tôi đi qua mọi người dân từ trẻ đến già đều đã ra đón chào chúng tôi. Người lớn chăm chú ngắm nghía những bệ phóng tên lửa có hình dáng lạ thường được phủ kín vải bạt và sôi nổi trao đổi cảm tưởng. Các em nhỏ, với những cặp mắt sáng và nép người vào nhau để đẩy các em mạnh dạn nhất lên phía trước cho gần các bác "Liên Xô" to lớn nhưng không có vẻ gì đáng sợ. Trong không khí oi ả ngột ngạt của đêm vùng nhiệt đới, những giọng nói thánh thót của họ (bằng tiếng Nga) bay vút lên tựa như những ngọn lửa nồng cháy: - Liên Xô! Liên Xô! Xin chào? Tốt lắm! Mạc Tư Khoa! Tài xế chiếc xe ATX của chúng tôi, anh Vanhia Slantrắc đã được bà con Việt Nam, đặc biệt là các cô gái Việt Nam chú ý tới. Anh này có dáng người cao, cân đối, tóc hung và đẹp trai, ngoài ra có bộ râu rất đẹp. Ngay khi anh vừa bước ra khỏi buồng lái đã lọt ngay vào một "vòng vây" khép kín. Ai cũng cố gắng nắm tay chúng tôi hoặc sờ được vào quần áo. Vào cái đêm hôm ấy chúng tôi đã có dịp tham dự vào ba cuộc mít tinh chớp nhoáng chào đón chúng tôi. Cuộc mít tinh thứ ba diễn ra lúc trời đã tảng sáng. Cơn nóng đã phần nào dịu bớt, không khí trở nên mát mẻ hơn. Trên nền bầu trời đang hửng sáng đã hiện ra những đường nét xám mờ của những ngọn núi không cao lắm . Sau khi phân tán và ngụy trang các khí tài, chúng tôi đã thoải mái tắm rửa để gột bỏ những lớp bụi mầu đỏ sau chặng đường dài, bằng những thùng nước do bà con nông dân đã có nhã ý đem đến cho chúng tôi. Sau đó, chúng tôi nhấm nháp nhanh khẩu phần khô và những quả chuối do nông dân tặng cho rồi nằm nghỉ dưới một mái che lớn làm bằng những tấm phên tre. Không khí mát mẻ buổi sáng vẫn còn (chỉ khoảng 27 độ C) và cơn đói đã dịu nhờ bữa sáng khiến cho chúng tôi buồn ngủ. Ngay khi đầu vừa chạm vào những chiếc gối độn đầy rơm là chúng tôi đã thiếp đi vì mệt nhừ sau chặng đường dài đầy khó nhọc. |
Điều bất ngờ dưới gối vào buổi sáng
Chúng tôi bừng tỉnh vì tiếng kêu thất thanh: Á - á! Lêsin Phômisép, một anh chàng thường ngày là người bình tĩnh và không hay bực tức, đang gào thét, tay cầm chiếc gối và mắt thì mở to vẻ sợ hãi. Tuy chưa hiểu điều gì đã xảy ra, nhưng tôi lao đến giúp anh ấy và nhìn thấy một con rắn to với cái lưng có các khoang trắng đen đang từ từ trườn khỏi nơi Lêsin vừa đặt chiếc gối rơm. Sau khoảnh khắc con rắn đã biến mất trong một bụi rậm đầy gai mọc bên cạnh bức phên tre. Nhưng ngoài con rắn ấy, trong khi ngủ chúng tôi còn bị những "cư dân" khác của vùng này viếng thăm. Có hai cậu, khi ngủ dậy đã phát hiện thấy trên tay mình có những vết đỏ không rõ do đâu mà xuất hiện. Những vết đỏ ấy gây ra một cơn ngứa khá mạnh và một lúc sau thì nổi lên những cái mụn con li ti. Bác sĩ của chúng tôi nhận định đây là vết rộp bỏng do hóa chất. Các bạn Việt Nam đã khẳng định sự phán đoán ấy và giải thích nguồn gốc của các vết rộp là: ở vùng này có một loài côn trùng hiếm thấy, giống như con sâu. Khi chạm phải chỗ hở trên thân thể người, nó tiết ra một thứ khí đặc biệt qua các lỗ nhỏ xíu dưới bụng làm cho lớp da thượng bì bị rộp bỏng. Bác sĩ của chúng tôi đã bôi lớp thuốc mỡ lên chỗ rộp bỏng và băng kín lại. Những chỗ rộp bỏng ấy rất lâu sau vẫn không lành và để lại những vết sẹo thấy rõ trên tay mấy anh chàng ấy. Chuẩn bị trận địa chiến đấu - Sự giúp đỡ của nông dân Khi trời bắt đầu tối, đoàn quân chúng tôi di chuyển tới trận địa được lựa chọn sẵn cho tiểu đoàn và sau một giờ thì có mặt tại trận địa. Trận địa này rất đạt xét trên phương diện chiến thuật, vì đó là sườn dốc, chặn ngang hẻm núi chạy từ phía nam lên phía bắc. Địa hình như vậy đảm bảo cho chúng tôi có tầm nhìn bao quát tốt chung quanh ở hướng nam. Nhưng về phương diện kỹ thuật thì trận địa gây rất nhiều khó khăn: ngọn núi có độ dốc hơn 25 độ, và để bố trí bệ phóng và các ca bin điều khiển chúng tôi đã phải làm những bãi phẳng ngang nhô ra. Nền thì toàn đá, vậy mà đã phải dùng những chiếc thuổng và xẻng thông thường để khoét vào núi. Công việc diễn ra suốt đêm trong điều kiện ánh sáng được hoàn toàn ngụy trang vì vào thời điểm ấy máy bay Mỹ vẫn ném bom thị xã Phủ Lý, chỉ cách chúng tôi có 8 kilômét về hướng đông nam. Cứ sau những khoảng thời gian nhất định, máy bay Mỹ lại thả dù gắn những quả pháo sáng cháy trong 5-8 phút. Chúng đã ném bom có bài bản thị xã này, một thị xã mà dân cư đã sơ tán đi từ lâu và trở thành hoang vắng. Chúng sử dựng những đống đổ nát của thị xã như bãi tập ném bom ban đêm. Sau khi ném bom xong, trên đường trở về, các máy bay Mỹ lượn vòng ngay ở phía trên trận địa chúng tôi. Trên nền bầu trời bắt đầu hửng sáng chúng tôi nhìn thấy rõ những hình dáng màu đen hung dữ của những máy bay ấy. Tiếng động cơ phản lực gầm rú inh tai ngay trên đầu và những tiếng nổ của những quả bom ném xuống thị xã Phủ Lý đã làm tăng thêm sự lo lắng. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi có sự trợ giúp của bà con nông dân đến từ các làng gần đó. Theo lời kêu gọi của huyện ủy, mọi người đã đến giúp chúng tôi: phụ nữ, trẻ em, các cụ già. Với những chiếc rọ và đòn gánh quẩy đất, với những chiếc cuốc, cuốc chim và xẻng, bà con đã bắt tay làm việc hồ hởi. Công việc ngày càng sôi nổi, người đến ngày càng đông. Trận địa lúc ấy trông giống như một tổ kiến lớn bị khuấy động. . Vào đêm ấy đã có khoảng 300 thường dân đến giúp chúng tôi xây trận địa. Chỉ có nhờ sự giúp đỡ của họ mà đến lúc trời sáng trận địa mới được hoàn thành, chúng tôi bắt đầu triển khai khí tài. Chúng tôi đã cảm ơn mọi người đến giúp và mời họ về nghỉ. Tuy mệt nhọc, nhưng họ không bỏ về ngay mà lại chăm chú quan sát các công việc đang diễn ra lúc ấy, ngắm nghía những vật kỳ lạ - những quả tên lửa, những chiếc xe kéo có xích, những bệ phóng và ngắm nghía những người lính Xôviết chúng tôi. Bất chấp sự mệt mỏi rã rời, những động tác của cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn diễn ra một cách lôgíc, chặt chẽ và có định hướng rõ rệt. Công việc quả phức tạp khi trong đêm tối phải xác định được độ phẳng ngang của bãi đất nhô ra. Do vậy, tôi đã sử dụng tấm ván phẳng dài 2 mét trên đó có đặt một chai nước để làm dụng cụ đo độ phẳng ngang của bãi đất. Nhờ “dụng cụ đo độ phẳng" ấy chúng tôi đã nhanh chóng giảm được độ nghiêng của bãi đất so với đường chân trời xuống còn 3 độ. Như vậy đã hoàn toàn đáp ứng yêu cầu. Đôi khi, “dụng cụ đo độ phẳng" được thay bằng hai xô nước đổ lên trên bãi đất. Vì thấy nền đất có đá, và chủ yếu là để giảm thời gian tháo dỡ khí tài sau trận đánh, chúng tôi đã áp dụng một mẹo nhỏ: chúng tôi chỉ chôn sâu một nửa các chân đế của bệ phóng. Như vậy sẽ dễ dàng và nhanh chóng rút chân đế của bệ phóng và nhờ đó rút ngắn được 2-3 phút. Chúng tôi còn có những bí quyết khác của người lính để nhanh chóng chuyển khí tài từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu và ngược lại, những mẹo giảm thời gian thực hiện các định mức khác, nhưng tôi sẽ không tiết lộ những mẹo vặt ấy. Những sự chuẩn bị sau cùng Sau cùng thì các khí tài đã được triển khai. Chỉ còn nhiệm vụ đặt các đường dây cáp điều khiển và các dây dẫn điện. Để bảo vệ những dây cáp ấy cần đào một đường rãnh nông, dài khoảng 10 mét. Chúng tôi đã dồn hết sức lực còn lại vào công việc này. Tôi nhìn thấy anh Lai ngồi xổm đào đất những nhát cuốc chim bổ vào đất thưa dần... Anh ấy giáng nhát cuối cùng và rồi tiếng cuốc chim lặng im. Mệt quá bị kiệt sức, đồng chí Lai đã thiếp đi cùng chiếc cuốc chim trong tay. Đồng chí Thành đưa anh Lai về nghỉ. Cuối cùng thì chúng tôi cũng đào xong đoạn rãnh đó và nối liền các đoạn dây cáp lại với nhau. Bệ phóng "sống động" trở lại. Chúng tôi đã điều chỉnh độ phẳng ngang, định hướng, đặt các góc nạp đạn và các góc giới hạn, tiến hành kiểm tra cục bộ và kiểm tra các tính năng của hệ thống điều khiển - mọi cái đều chuẩn. Chúng tôi chuyển những xe vận chuyển nhiên liệu TZM đến và nạp vào các bệ phóng. Lúc ấy kim đồng hồ chỉ 5 giờ 30 phút sáng. Tôi dùng điện thoại báo cáo với sĩ quan chỉ huy: - Bệ phóng số 5 đã trong tư thế chiến đấu. Bệ phóng đã nạp tên lửa. - Chấp nhận. Đồng chí hãy kiểm tra bệ phóng số 6. Hãy giúp họ nếu cần. Tôi trượt xuống sườn núi có những cây đu đủ non mọc dầy để đến bệ phóng số 6. Ở đấy các chiến sĩ đang nạp tên lửa vào bệ phóng. - Công việc của các đồng chí thế nào? - tôi hỏi đồng chí Akhunốp. - Khó nhọc lắm, - đồng chí ấy đáp, - chúng tôi nạp quả đạn này lần thứ hai. Lần thứ nhất chúng tôi không quay được càng của chiếc xe chở nhiên liệu TZM. Quả tên lửa mắc kẹt vào thành vách dựng đứng. Đành phải chặt ngắn bớt khoảng 8 centimét ống dẫn của phần tiếp nhận áp lực không khí. Sau khi thấy mọi việc ở bệ phóng số 6 đâu vào đấy rồi, tôi trở lại bệ phóng số 5 của mình. Chân bước xiêu vẹo vì mệt, lưng mỏi nhừ, các ngón tay cứng đờ. Trời đã sáng hẳn. Chúng tôi tiến hành kiểm tra cục bộ một lần nữa, điều chỉnh các góc nạp đạn. Đúng vào lúc ấy còi báo động vang lên: - Báo động chiến đấu! Tôi nhìn đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ đúng 6 giờ sáng. Vòng đu quay trên trời Chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị các quả tên lửa trong tư thế sẵn sàng phóng và đi xuống phía dưới chân núi. Tôi báo cáo với người chỉ huy tiểu đoàn: - Trung đội 3 đã ở trong hầm trú ẩn. Mặc dù thật ra không có hầm trú ẩn nào cả. - Chấp nhận. Có một tốp mục tiêu từ biển tiến về phía bắc. Khoảng cách là 240. Tôi ước tính: khoảng 10 phút nữa các mục tiêu sẽ lọt vào tầm bắn, ít nhất thì cũng cần phải đào những hào ẩn nấp không sâu lắm. Ở chỗ này nền đất không có nhiều đá cứng như ở trên núi. Nhưng không có cuốc chim và xẻng thì không thể làm gì được. Sau đó nửa giờ có lệnh "Báo yên": các mục tiêu không tiến vào tầm bắn và đã quay sang hướng đông, vòng qua chúng tôi ở phía trái. Sau đó khoảng 20 phút còi báo động lại vang lên. Cả lần này nữa máy bay cũng không bay vào tầm bắn. Trò đu quay trên trời như thế đã diễn ra cả ngày hôm ấy. Còi báo động đã khiến chúng tôi phải 18 lần ngồi vào vị trí chiến đấu và chờ lệnh "Phóng". Mười tám lần thần kinh chúng tôi bị căng đến tột độ. Lần nào cũng vậy, thay vì lệnh "Phóng" lại vang lên lệnh "Báo yên": 1-2 phút trước khi bay vào tầm bắn các máy bay đã chuyển hẳn hướng bay, đi vòng qua trận địa chúng tôi ở phía bên phải hoặc phía bên trái. |
Chúng tôi đoán rằng hồi đêm các phi công Mỹ, khi lượn vòng phía trên trận địa của chúng tôi, đã đánh dấu trận địa và bây giờ chúng đang thăm dò khu vực chúng tôi, và hy vọng rằng chúng tôi sẽ hết kiên nhẫn và sẽ tự làm lộ mình bằng hành động phóng tên lửa quá sớm .
Trong ngày hôm ấy chúng tôi đã ba lần ngồi vào ăn bữa trưa - cả ba lần bữa trưa bị gián đoạn bởi hồi còi báo động, và chúng tôi đã phải bỏ mọi thứ để lao đến các bệ phóng và các cabin điều khiển. Bữa trưa đã kết thúc ngay trên các bệ phóng và trong các cabin điều khiển. Đến buổi chiều máy bay Mỹ ít xuất hiện hơn, hơn nữa chúng không bay đến gần hơn 70 km. Chúng tôi ăn tối yên ổn hơn ít nhiều. Chúng tôi đã chuẩn bị nghỉ đêm. Các khẩu đội Việt Nam dựng lều bạt cách không xa các hầm trú ẩn vừa được đào lúc ban ngày. Còn chúng tôi, nhằm mục đích phân tán thưa ra, đã dựng lều ở chỗ cao hơn một chút, ở phía bên kia dãy núi. Hôm trước đó đài phát thanh dự báo có thể sẽ có mưa rào nhiệt đới và dông. Vì vậy chúng tôi phủ bạt thật chặt và kỹ lên bệ phóng có tên lửa trên đó. Chúng tôi đã thận trọng chống sẵn các cây sào để khi cần thì tháo dỡ vải bạt. Chúng tôi bố trí người trực gác, chúc nhau ngủ ngon, rồi đi nghỉ. Trận đánh trong đêm Tôi lập tức thiếp đi... Trong mơ tôi nghe thấy còi báo động và không thể hiểu được: đó là mơ hay thật sự là còi báo động? Bởi vì cả một ngày còi báo động đã "làm ù tai" rồi. Tôi hiểu ra rằng đó không phải là mơ. Tôi chồm dậy và lay anh em dậy: - Dậy ngay? Báo động số 1! Chúng tôi chộp lấy quần áo, mũ sắt, vừa chạy vừa mặc quần áo, nhanh chóng lao đến các bệ phóng. Trong bóng tối tôi lao nhanh qua các bụi cây thấp, chạy lên phía trên. Đây rồi, bệ phóng. Tôi mò mẫm tháo những chốt cài vải bạt. Tay làm việc như cái máy. Chỉ sau 15 giây đã mở xong tất cả các chốt cài. Phải tháo bạt che. Nhưng đồng chí Thành cùng khẩu đội ở đâu? Một mình tôi không thể tháo dỡ vải bạt che bệ phóng. Tôi chạy đến chỗ có lều của khẩu đội để gọi họ. Đây là nơi chúng tôi chia tay vào buổi tối hôm qua... Nhưng quỷ tha ma bắt? Chẳng thấy lều đâu cả! Cách đó không xa tôi nghe thấy tiếng xoong nồi loảng xoảng. Tôi chạy tới chỗ có tiếng động. Ở đấy là lán ngủ của các đầu bếp thuộc trung đội hậu cần của Việt Nam. Tôi chạy đến lán. Các anh nuôi đều có mặt tại chỗ. Tôi hỏi họ: - Khẩu đội bệ phóng đâu? Lều của họ biến đi đâu rồi? Các bạn Việt Nam ngơ ngác nhìn tôi. Sau khi hiểu rõ vấn đề họ đã chỉ tay về phía đồi cao: - Họ ở đằng kia kìa Tôi chạy theo hướng đó. Được khoảng 40 mét tôi quả thật thấy có chiếc lều. Hóa ra, lúc chập tối, do sợ bị ngập nước, khẩu đội Việt Nam đã dời nó lên chỗ cao hơn và chưa kịp báo cho tôi biết. Trong cái lều bạt này chuông điện thoại réo rất to, còn chiếc lều thì cứ quay tứ tung bùng nhùng. Tôi hiểu ra, do bị ngái ngủ, các chiến sĩ ấy đã không biết làm cách nào để tìm thấy cửa ra trong đêm tối. Tôi giật mạnh cọc chốt lều ở một góc và vạch góc ấy lên. Anh em trong khẩu đội Việt Nam lần lượt chui ra qua lỗ hổng ấy. - Chạy mau ra bệ phóng! - tôi hét lên - Chạy thanh lên phía trên! Chúng tôi dùng các cây sào tháo bỏ vải bạt và hất xuống đất. Hết sức nhanh. Mỗi người thao tác rất nhanh công đoạn chuẩn bị phóng của mình. Thời gian tính bằng giây - Số 1 đã sẵn sàng! - Số 2 đã sẵn sàng? - Số 3 đã sẵn sàng! - các trắc thủ trong khẩu đội báo cáo dứt khoát. Tôi kiểm tra vị trí của các bộ cảm biến, nối mạch những ổ cắm trên thân tên lửa OS-10. Tôi báo cáo về ca bin "X": - Bệ phóng số 5 đã sẵn sàng chiến đấu! - Chấp nhận. Tôi cho phép chuẩn bị phóng. Trong ống nghe tôi nghe thấy rõ những câu trao đổi qua hệ thống liên lạc khuếch đại: - Góc phương vị 120, khoảng cách – 32, chuyển sang chế độ AX! (tự động theo dõi mục tiêu). - Rõ. Chuyển sang chế độ AX! Tôi hạ lênh: - Khẩu đội vào hầm trú ẩn! Tôi vừa đặt ống nghe và đóng sập cửa khoang trên bệ phóng thì đã nghe thấy hiệu lệnh đưa vào tư thế "Đồng bộ", và bệ phóng cùng tên lửa bắt đầu điều chỉnh các góc đã định. Chúng tôi lao nhanh xuống phía dưới, vào các hầm trú ẩn. Tôi báo cáo qua điện thoại: - Trung đội 3 đã ở trong hầm trú ẩn! - Chấp nhận! - Tiêu diệt tốp mục tiêu! Bằng một loạt 3 quả đạn, khoảng cách thời gian - 6 giây - Bệ số 1 phóng! - tôi nghe thấy giọng khàn khàn của Thiếu tá Chỉ huy trưởng Prôxcuốcnin trong ống nghe khuếch đại. - Rõ! Bệ số 1 phóng đạn? - viên sĩ quan điều khiển tên lửa báo cáo. Đó là Trung úy Carétnhicốp. Một tiếng nổ inh tai khiến chúng tôi phải nằm rạp xuống đất. Quả tên lửa như mũi tên chọc thủng bầu trời tối đen, bay vút lên và biến về hướng nam. Tiếp đó là bệ số 2, bệ số 3... - Bắt được mục tiêu rồi? - Đã dẫn đường được tên lửa! - các báo cáo của các trắc thủ thao tác và của viên sĩ quan điều khiển tên lửa vang lên qua hệ thống hên lạc khuếch đại âm thanh. Từ phía trên, các mảnh đá rơi ồ ạt xuống chỗ chúng tôi. Những mảnh đá ấy do luồng khí đẩy của động cơ tên lửa hất tung lên cao mấy chục mét. Những cú đập vào lưng khá mạnh. May mà đã có mũ sắt bảo vệ đầu. Các động cơ của tên lửa đã tách rời: của tên lửa số 1, số 2 và số 3. Có 3 chấm nhỏ màu đỏ - là các tên lửa - bay lên phía trên. - Kích hoạt ngòi nổ vô tuyến "K3"! Một ánh chớp sáng chói làm lóa mắt. - Quả thứ nhất đã nổ! Mục tiêu đã bị tiêu diệt? - tôi nghe thấy giọng đầy xúc động của viên sĩ quan điều khiển tên lửa là Trung úy Cônxtantin Carétnhicốp. - Quả thứ hai đã nổ! - Quả thứ ba đã nổ! - Cả tốp mục tiêu đã bị tiêu diệt. Số tên lửa đã phóng - 3 quả. Những chiếc máy bay nổ tan ra thành các mảnh bốc cháy, kéo theo một cột khói, vạch rõ đường rơi của chúng. Có đến nửa bầu trời rực lửa. Dần dần lửa được thay bằng một cột khói khổng lồ có mầu nâu trong ánh hồi quang lửa hồng. Đó là một bức tranh đầy ấn tượng. còn nữa |
Hồi ức mới nhất:
Chiến tranh Việt Nam trong con mắt nhà ngoại giao Xô-viết Успеть до полуночи Вьетнамская война глазами советского дипломата № 12 (354) от 28 марта 2013 [«Аргументы Недели», Анатолий ЗАЙЦЕВ ] 40 лет назад (29 марта 1973 г.) американские войска покинули Южный Вьетнам. Сама вьетнамская война длилась ещё более двух лет, но уже как гражданская – между коммунистическим Северным и антикоммунистическим Южным Вьетнамом. Но уход американцев имел далеко идущие последствия: США вынуждены были признать, что при всей их мощи мотивированный Северный Вьетнам, «играющий на своём поле», оказался сильнее. Что престиж престижем, а есть мировое общественное мнение. Что… Впрочем, сказать можно ещё многое... В общей сложности шесть лет провёл в воюющей Демократической Республике Вьетнам (ДРВ) молодой тогда советский дипломат Анатолий Зайцев. Сегодня «АН» публикуют фрагменты его воспоминаний. Мост через Красную реку В октябре 1966 г. я – теперь уже атташе советского посольства – снова прилетел в Ханой. Шёл третий год необъявленной воздушной войны США против ДРВ. Интенсивность налётов на столицу страны особенно возросла в октябре 1967 г. и в январе 1968 года. Это была реакция на крупные американские потери – части Вьетнамской народной армии и Национального фронта освобождения Южного Вьетнама тогда атаковали базу морской пехоты США в долине Кхесань, освободили город Хюэ. Постоянным объектом бомбёжек был расположенный в паре километров от нашего посольства мост через Красную реку – его построили ещё французы в колониальные времена по проекту знаменитого архитектора Эйфеля. Многократно разрушенный мост всякий раз восстанавливался героическими усилиями вьетнамцев и оставался главной артерией, снабжавшей всем необходимым воюющую армию на Юге. Так называемые точечные удары американской авиации по военным объектам «точечными» отнюдь не были. От ракет «воздух-земля» пострадали здания посольств Румынии, Монголии, торгпредства Болгарии. Позднее ракета разворотила угол дома, где жил наш военный атташе, – он отделался небольшими порезами на лице. Воздушная волна тогда вдавила внутрь и ставни окна моей комнаты (дом стоял впритык). Вернувшись с работы, я долго выгребал осколки стекла. В те дни нам выдали каски, на территории посольства и у жилых домов были вырыты бомбоубежища, в связи с перебоями в подаче электроэнергии обзавелись дизельными движками… Впрочем, поначалу мы относились к мерам безопасности с беззаботностью молодости, даже бравадой. Ночью, разбуженный грохотом разрывов, я не бежал в убежище, а оставался лежать под противомоскитной сеткой – лишь чтобы защититься от осколков стекла, нащупывал в темноте рядом с подушкой приготовленную с вечера каску, надвигал её поглубже, затыкал уши и с мыслью «будь что будет» пытался снова заснуть. Сбитый «ястреб» Этот эпизод я как-то вкратце рассказывал на страницах «АН» – но он заслуживает того, чтобы вспомнить снова, добавив подробности. У посла СССР в Ханое И.С. Щербакова, почти безвыездно пробывшего на этом посту десять трудных лет, единственной разрядкой была рыбалка. По воскресеньям, когда наступала короткая пауза в воздушных налётах, Илья Сергеевич в любую погоду выезжал на расположенные почти в центре города озёра Хо Тэй и Чук Бать. Там и сидел с удочкой до обеда (это его хобби было головной болью всех отвечавших за безопасность посла). По невероятному стечению обстоятельств в то самое озеро Чук Бать 26 октября 1967 года (правда, был четверг, и посол не рыбачил) угодил катапультировавшийся из подбитого самолёта лейтенант американских ВВС. Он вылетел с авианосца бомбить ханойскую электростанцию и был сбит ракетой советского производства. Случай этот наделал много шума. Нет, американские самолёты над Ханоем сбивали регулярно (в тот день сбили десять). Но захватить живьём пилота – да ещё в центре города! – удавалось нечасто. К озеру сбежалось и съехалось на велосипедах множество людей. Мы приехали после отбоя воздушной тревоги. Лётчик был уже в плотном кольце военных, которым еле удавалось оттеснить наседавшую толпу и предотвратить самосуд. Его имя оставалось неизвестным широкой публике более сорока лет, пока он сам, бывший лейтенант ВВС США Джон Маккейн – ныне знаменитый американский сенатор-«ястреб» и недавний кандидат в президенты США – не поведал о случившемся в автобиографии. Лётный комбинезон Маккейна, его шлем и парашют – сегодня среди экспонатов музея, открытого в бывшей знаменитой тюрьме Хоа Ло (когда-то в ней сидели борцы за независимость Вьетнама, во время войны – пленные американцы). На озере Чук Бать стоит каменная стела в честь этого события – на ней выделяется фигура с опущенной головой и поднятыми руками. Справа – звезда и буквы USA, слева – надпись на вьетнамском: «26.10.1967 на озере Чук Бать военнослужащие и жители Ханоя захватили живым Джона Маккейна, лейтенанта ВВС США, пилота самолёта А4 В1, сбитого над электростанцией Иен Фу. Это был один из десяти сбитых в тот день самолётов». Впрочем, снующие мимо на мопедах и велосипедах молодые парочки не скрывали удивления, услышав от меня вопрос, что «здесь где-то стоит памятник на месте пленения сбитого американского лётчика». Лишь пожилой охранник у входа в находящийся рядом ресторан показал, как пройти. Современный Вьетнам живёт своей жизнью, война уже стала историей. Американцы спокойно ездят сюда – и в музее Хоа Ло я обратил внимание на группу туристов из США явно ветеранского возраста. Они пристально всматривались в экран висящего посреди зала монитора, на котором шла хроника военных лет. В глазах стоявшей рядом с ветераном молодой американки читалась боль. Представляем автора Анатолий Сафронович Зайцев – Чрезвычайный и Полномочный Посол в отставке, кандидат экономических наук. Работал в Демократической Республике Вьетнам в 1960–1969 годах. В 1983–1987 гг. неоднократно бывал там в качестве заведующего отделом Юго-Восточной Азии МИД СССР и в феврале-марте 2011 г. – как руководитель инспекционной группы МИД РФ. Огонь «дружественный» и нет Выше я говорил о некотором легкомыслии, с которым мы поначалу относились к мерам безопасности. Постепенно оно прошло, сменившись осознанием ответственности за дело, пониманием, что дома за нас волнуются родители, близкие. Война есть война, всякое бывает. Меня немало образумил такой случай. В то утро сигнал воздушной тревоги я услышал по дороге на работу, неподалёку от ворот посольства. Ускорив шаг, надел каску, был уже у ворот – и где-то совсем рядом раздалась автоматная очередь, прямо над головой просвистели пули. Это солдат охраны, следуя инструкции, при первых звуках сирены прыгнул в вырытый перед постом окоп (мелкий бетонный колодец) и, не глядя по сторонам, разрядил рожок по пролетавшему самолёту. ...В январе 1968-го я оказался в Центральном госпитале Ханоя. Нет, не ранение – подхватил болезнь Боткина. Госпиталь регулярно бомбили (не защищали и знаки Красного Креста на крыше). Тогда он был переполнен ранеными вьетнамскими солдатами (поражало количество молодых парней с ампутированными конечностями). Мы подружились. В рассказах этих героических ребят вставала настоящая, не известная мне ранее и разнящаяся с официальными описаниями правда о войне. Многие наши разговоры проходили в земляном бомбоубежище, под грохот бомб и зенитную канонаду – я слушал новых товарищей, лёжа под капельницей и прикрывая ладонью введённую в вену иглу от сыпавшихся с потолка комьев земли и глины. Охотники за трофеями Даже во многие районы Ханоя въезд для машин с посольскими номерами был строго воспрещён. Дипломаты (все, в том числе советские) большую часть времени проводили в центре города и дипломатическом квартале. Передвижения вне этой зоны были ограничены властями. Но вот наступали дни главных вьетнамских праздников – время (иногда до недели) моратория на воздушные налёты. Тут уж мы старались выскочить из Ханоя. Забирались далеко на Юг вплоть до демаркационной линии. Возвращались обычно впритык к окончанию моратория, торопясь поспеть до 12 ночи. Навстречу двигались нескончаемые колонны грузовиков и бензовозов. На узких разбитых дорогах со спешно залатанными воронками часто возникали заторы. Следуя военному лозунгу «Превратим день в ночь, а ночь в день», колонны шли по ночам – хотя и это не спасало от налётов с применением осветительных бомб. Помню, как, продираясь сквозь встречные машины, разбудил уснувшего от усталости за рулём юного водителя и помог ему... Целью поездок было оценить состояние построенных с помощью СССР экономических объектов. Другое дело, что иногда попутно ставилась ещё одна, неафишируемая, задача. Главными союзниками Вьетнама в ту военную пору были Советский Союз и Китай, отношения с которым у нас были до предела накалены. А сбитые новейшие американские самолёты, их вооружение в равной степени интересовали и наших, и китайских военных специалистов. Мы помогали своим. Подробности их работы для нас были тогда, понятно, закрыты. Но некоторые детали мы узнавали из источника неожиданного. Среди «охотников за трофеями» были талантливые молодые ребята, которые писали песни. Особой популярностью пользовались песни покойного ныне Валерия Куплевахского. Они звучали на наших посиделках, мы их заучивали, переписывали друг у друга на магнитофоны. Валерий пел о Родине, мечте о встрече с близкими, а иногда с большой долей юмора описывал полную риска работу – свою и своих товарищей. Помню одну из его песен – как наши специалисты, «наперегонки» с китайскими, продираются сквозь джунгли и топи рисовых полей к упавшим американским самолётам или не разорвавшимся ракетам. Были в ней и сетования, что не мы порой становились первыми. До сих пор хранит память куплет одной из его песен: В шесть часов вечера после войны Ты на свиданье со мной приходи, На площади Арбатской тебя я буду ждать Осколок эф сто пятого под мышкою держать. Не все из нас ехали домой с обломком F-105 под мышкой, но увидеть Арбат мечтал каждый. И песни эти для тех, кто помнит воюющий Вьетнам, до сих пор – как пароль. http://argumenti.ru/history/n382/242517 |
Trước những gì đã nhìn thấy, anh em chiến sĩ không thể nào trấn tĩnh lại được. Chúng tôi vui sướng bắt tay nhau.
- Chúc mừng chiến thắng đầu tiên! Nhưng thời gian là quý báu. - Hãy về bệ phóng! - tôi phát lệnh, và chúng tôi lại lao lên phía trên. Trong lúc tên lửa được phóng đi, luồng khí của hơi đốt đã làm bật tung một chân giá đỡ của bệ phóng và hất nó đi xa. Chúng tôi tìm thấy nó ở cách đó 15 mét và đã nhanh chóng đặt nó vào chỗ cũ. Chiếc xe TZM kéo quả tên lửa mới mãi vẫn chưa thấy tới. Tôi chạy đến chỗ đỗ xe TZM ở phía dưới dốc núi. Chiếc TZM vẫn đứng tại chỗ. Cửa buồng lái mở toang. Không thấy lái xe ở trong buồng lái. - Quỷ quái thật! - tôi lầu bầu - phải tìm kiếm tài xế ở đâu bây giờ. Tôi ngồi vào buồng lái. Chìa khóa vẫn cắm trong ổ khoá. Tôi mở công tắc điện, đạp vào bàn đạp khởi động. Máy nổ. Tôi cài số 1, bóp còi, nhả bộ ly hợp. Lập tức, tài xế Hải hốt hoảng bò ra khỏi gầm xe. Anh ta tưởng những tiếng nổ khi tên lửa được phóng đi là những tiếng bom nổ. Thế là anh ta nấp vào "chỗ an toàn" ở bên dưới quả tên lửa. Tôi nhường chỗ cho anh ta trong buồng lái. Chúng tôi lùa chiếc TZM vào phía dưới các càng đỡ tên lửa. Chúng tôi quay chiếc rầm ngang. Lập tức phát hiện thấy rằng ống phụt hơi của động cơ đẩy tên lửa đã bị mắc vào thành dựng đứng của khung đỡ, sâu vào khoảng 50 milimét. Trong đêm tối chúng tôi đưa chiếc xe TZM vào nơi cách bệ phóng quá xa. Không còn thời gian để đưa tên lửa lần thứ hai vào chỗ có bệ phóng. Chúng tôi cầm lấy xẻng, cuốc chim và vội vàng tạo một rãnh trên thành khung đỡ tên lửa, ở tầm cao chỗ động cơ đẩy tên lửa lọt qua được. Sau 3 phút mọi việc đã hoàn thành. Tôi ra lệnh cho khẩu đội: - Nạp tên lửa vào bệ phóng! Chúng tôi nhanh chóng nạp tên lửa vào bệ phóng, gắn thân tên lửa vào bệ phóng. - Bệ phóng số 5 đã sẵn sàng - tôi báo cáo về ca bin "X". - Chấp nhận. Tất cả ở yên vị trí của mình! - hiệu lệnh vang lên nhưng không cần phải phóng tên lửa nữa, vì không còn mục tiêu. Cả 4 máy bay, bay thành một đội hình kín, ở độ cao 3 nghìn mét đã bị bắn hạ bởi 3 quả tên lửa. Sự kiện này xảy ra ngày 11-8-1965 vào lúc 23 giờ 50 phút, cạnh ngôi làng Gia Sơn, xã Xích Thổ, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Chờ đợi thêm nửa giờ, sĩ quan chỉ huy quyết định rời khỏi trận địa. Sau đó 40 phút tiểu đoàn chúng tôi đã hành quân và rút vào rừng. Đó là trận đầu và là chiến thắng đầu tiên của Tiểu đoàn 61 của chúng tôi mà sau này đã trở thành "Tiểu đoàn Anh hùng". Sự cảm ơn của nông dân Nhưng khi chúng tôi rời khỏi khu vực trận địa thì cũng như vào đêm trước, bà con các làng gần đó, bị đánh thức bởi những tiếng nổ to của trận đánh, đã kéo đến trận địa. Họ chúc mừng thắng lợi và nồng nhiệt cảm ơn chúng tôi: - Xin cám ơn các đồng chí đã bắn rơi những chiếc máy bay đáng nguyền rủa. Chúng không cho chúng tôi được yên cả ngày lẫn đêm Có nhiều người đem quà đến: rất nhiều cam, chuối, mít. Chúng tôi rất cảm động trước sự quan tâm như vậy. Sau khi cảm ơn tất cả những người đã đến chúc mừng chiến thắng của chúng tôi và tặng quà, chúng tôi lên đường trở về. Những quả "tên lửa" bằng tre Khi rời trận địa ra đi, chúng tôi thấy trận địa do chúng tôi để lại đã được thay thế bằng "tiểu đoàn tên lửa" được chở trên những chiếc xe đẩy của nông dân. Thân các tên lửa ấy được làm bằng tre, bên ngoài bọc chiếu rơm. Với nước sơn bên ngoài là nước vôi, những chiếc tên lửa này trông như đang diễu binh và nếu nhìn từ trên cao xuống chúng không khác gì nhiều so với tên lửa thật sự. Những "tên lửa" này được bố trí ở trận địa, được nối với nhau bằng một "hệ thống điều khiển" sao cho mô phỏng giống việc thực hiện lệnh "kích hoạt đồng bộ". “Hệ thống điều khiển" do một người khởi động. Người này ngồi sâu dưới hầm trú ẩn ở ngoài trận địa. Nếu sử dụng phương pháp ngụy trang khéo léo thì có cảm nhận hoàn toàn rằng đây là tổ hợp tên lửa phòng không đang hoạt động. Nhân thể xin nói thêm, khi bị mảnh bom xuyên thủng, những "tên lửa" này không bị hư hại nghiêm trọng. Chỉ cần sửa chữa qua loa là "tên lửa" lại như mới. Hành quân trở về thì nhanh hơn nhiều, vì chúng tôi di chuyển không chỉ về đêm, mà cả ban ngày mà không sợ bị phát hiện. Bọn Mỹ bị choáng váng trước sự mất tích đột ngột của 4 chiếc máy bay của chúng tại khu vực mà trước đó chúng vẫn bay ngang nhiên mà không bị trừng phạt. Sau này các đồng chí Việt Nam cho chúng tôi biết rằng ngày hôm sau bọn Mỹ đã dùng máy bay trinh sát không người lái phát hiện ra trận địa giả của chúng tôi. Chúng quyết định tiêu diệt bằng được trận địa này và chúng đã phải trả giá bằng 3 chiếc máy bay nữa. Các chiến sĩ cao xạ việt Nam đã bắn rơi 3 chiếc máy bay ấy. Hồi ấy có 23 khẩu đội pháo cao xạ 37 ly, 57 ly và 100 ly cùng 3 khẩu đội súng máy phòng không loại 4 nòng - tổng cộng là 100 nòng pháo - bảo vệ trận địa của Tiểu đoàn 61 của chúng tôi. Những khẩu đội pháo ấy đã tạo thành lưới lửa dày đặc tiêu diệt máy bay. Đối với các phi công Mỹ thì đó là cái bẫy thực sự mà những "tên lửa" bằng tre là mồi nhử. Một trong số phi công trên những chiếc máy bay bị bắn rơi đã kịp nhảy dù và bị bắt làm tù binh. Trong cuộc hỏi cung, chính tên phi công này đã thổ lộ cảm nghĩ của y trong lần ném bom trận địa do chúng tôi để lại: - Có điều gì đó không thể hiểu nổi đã xảy ra. Tôi cứ nghĩ rằng mình bị rơi vào trạng thái ảo giác: tôi ném bom, nhìn thấy chúng nổ bên cạnh các bãi phóng tên lửa. Nhưng những tên lửa ấy như có phép lạ, đã không bị hề hấn gì, chúng chỉ nẩy lên một cách kỳ lạ. Tôi bổ nhào lần thứ hai - vẫn kết quả như vậy. Khi tôi vừa làm xong động tác bổ nhào và vụt lên thì bị pháo cao xạ bắn trúng. Tôi đã kịp nhảy dù. Khì chạm chân xuống đất, tôi liền bị các nông dân có vũ trang vây kín. Tôi chỉ còn biết giơ tay hàng. Sau khi hiểu ra rằng đó là trận địa giả và không phát hiện thấy những tên lửa thật ở gần đó, bọn Mỹ cứ thắc mắc không rõ từ đâu bay ra những quả tên lửa đã tiêu diệt một lúc 4 chiếc máy bay của chúng vào đêm ngày 11 rạng ngày 12-8. Chúng không hề hoài nghi đó là những quả tên lửa thực, vì sự biến mất của những chiếc máy bay của chúng đã nói lên điều đó. Ba ngày sau đài phát thanh "Tiếng nói Hoa Kỳ" đã phát đi bản tin sau đây: "ở Bắc Việt Nam, người ta đã sử dựng loại tên lửa "đất đối không" mới của Liên Xô. Loại tên lửa này có thể được phóng đi ở ngoại ô Hà Nội để bắn hạ những máy bay hoạt động ở khu vực sát Vĩ tuyến 17". |
Chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sau cuộc phục kích thắng lợi đầu tiên, tiểu đoàn của chúng tôi đã trở lại vùng ngoại ô Hà Nội và lại sẵn sàng trong tư thế trực chiến. Mấy ngày đầu máy bay Mỹ hoàn toàn không xuất hiện trên bầu trời. Sau đó bắt đầu xuất hiện các máy bay trinh sát không người lái. Chúng thường bị chúng tôi cố gắng bắn hạ chính xác, bởi vì chúng liên tục truyền thông tin về vùng chúng bay qua. Vài ngày sau - ngày 26-8-1965 - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Hồ Chí Minh đã đến thăm trận địa của chúng tôi. Người mặc bộ quần áo giản dị màu nâu sáng, chân đi dép không có bít tất. Sau khi xem xét khí tài và quan sát các thao tác chiến đấu của khẩu đội bệ phóng dưới sự điều khiển của thượng sĩ Đêlốp, Người đã chúc mừng thắng lợi đầu tiên của chúng tôi, cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ. Khi chia tay, Chủ tịch bắt tay từng người và phát biểu vài câu bằng tiếng Nga: - Cảm ơn sự giúp đỡ hiệu quả của các đồng chí. Chúc các đồng chí dồi dào sức khoẻ và giành được những thắng lợi mới. Với 3 quả tên lửa mà các đồng chí đã bắn rơi 4 máy bay địch. Tôi mong các chiến sĩ cao xạ của Việt Nam hãy noi gương các đồng chí và hãy dùng 4 viên đạn để bắn rơi chí ít 1 máy bay Mỹ, - Chủ tịch kết thúc câu nói ấy với nụ cười trên môi. Dĩ nhiên, đấy là câu nói vui của Chủ tịch. Theo con số thống kê, trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, tính trung bình khoảng 800 viên đạn cao xạ mới bắn rơi được 1 máy bay. Chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến trận địa của Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 đã được các phóng viên nhiếp ảnh Việt Nam chụp ảnh và được các nhà quay phim Việt Nam ghi hình. Song, tôi không biết liệu có lưu giữ được những thước phim lịch sử ấy hay không. Tình hình sau đó tiếp diễn như sau: bọn Mỹ tìm cách tiêu diệt các tiểu đoàn tên lửa, áp dụng mọi phương tiện kỹ thuật và những thủ đoạn chiến thuật. Còn chúng tôi thì tìm ra những mặt yếu của chúng và luôn luôn cơ động để thực hiện nhiệm vụ của mình. Không nghi ngờ gì nữa, đối với không quân Mỹ thì tên lửa Liên Xô đã trở thành kẻ thù số một, chúng đã bắt đầu thực sự săn lùng các bộ khí tài tên lửa. Để tồn tại, chúng tôi đã phải luôn luôn áp dụng chiến thuật phục kích, di chuyển trận địa sau mỗi trận đánh. Về điều này tôi đã viết một bài thơ. Những ký ức về Việt Nam Năm 65 qua đã thật lâu rồi. Thế giới đầy lo âu, không yên ắng. Chúng tôi đi, những người con Xôviêt Giữ bình yên cho mảnh đất hậu phương. Trong những cánh rừng ẩm ướt Việt Nam Ở cách xa quê hương Nga ngàn dặm, Mũ rộng vành trên đầu che đạn giặc Tôi nhớ về những bà mẹ yêu thương. Chẳng dám thật lòng nói với mẹ đâu: Cớ sao phải làm lo âu các mẹ. Phải hết sức mình đem ra bảo vệ. Điều chúng tôi đã học cách hiểu ra. Ở nơi đây toàn những cánh rừng già Khác những cánh rừng nước Nga tôi nhớ. Vẫn tràn qua rất nhiều cơn bão lửa Cao ngút bầu trời những cột khói đen. Tôi đi qua số phận trên đường đêm Những bước ngoặt nguy nan đầy trước mặt. Những ngọn núi đá, đầm lầy, rừng rậm, Đường hành quân, phục kích, “Bắn!”, ngụy trang. Tiểu đoàn tôi trận địa đã sẵn sàng. Thúc giục tôi, buổi bình minh đang đến Tôi và anh, nào có ai hay biết Trận đánh diễn ra sau đấy mấy giờ. Nơi heo hút, "bãi phóng" đá mấp mô, Nhát cuốc chim đào đường đi toé lửa. Giá tên lửa cũng đã chèn yên vị. Tôi chợt thèm mươi lăm phút thảnh thơi. Nóng triền miên như trong nhà tắm hơi Độ ẩm kinh người càng thêm ngột ngạt. Mồ hôi mặn chảy tràn qua khoé mắt Làm héo khô rát bỏng những làn môi. “Còi Báo động!". Lũ quạ đen lao đến Hòng cắn sâu vào đất nước màu xanh. “Báo cáo! Đã sẵn sàng chờ chúng tới!"' Anh em tôi hơn chúng mấy giây nhanh. Khẩu lệnh "Phóng!", thời gian như dồn nén. Phá tan bầu không khí đang tĩnh yên Trúng mục tiêu, tên lửa lao chính xác, Lũ ném bom trong chốc lát tan tành. Trong chiến đấu ta nhiều lần đã thắng Nhưng không phải trong bất cứ trận nào. Trên mảnh đất lửa bom đang rực cháy Nằm lại nhiều những đồng chí thân thương. Không phải ai cũng được trở về nhà Để sum họp với người thân xa nhớ. Mong sao chẳng bao giờ còn thấy nữa Cảnh chiến tranh lửa khói ở Việt Nam. Tên lửa "Sraicơ” Chúng tôi hoạt động khá kết quả. Vì vậy, đối với các phi công Mỹ thì khi nhận lệnh ném bom lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chẳng khác nào lĩnh bản án tử hình. Đôi khi các phi công Mỹ nhảy dù ngay khi các hệ thống thiết bị trên máy bay của chúng phát hiện tên lửa phòng không đã được phóng đi. Để yểm trợ các máy bay tiêm kích ném bom, bọn Mỹ đã sử dụng các máy tạo nhiễu, cả hình thức tạo nhiễu tích cực và nhiễu thụ động. Hình thức nhiễu tích cực là gây lóa mắt cho các pháo thủ vận hành máy theo dõi mục tiêu bằng tay, bằng cách làm cho các màn hình của các máy XNR hoàn toàn bị trắng xoá. Các tên lửa kiểu "Sraicơ" cũng là mối nguy hiểm lớn cho chúng tôi. Khi được phóng ra khỏi máy bay, những tên lửa này cứ theo sóng phát ra từ đài điều khiển tên lửa phòng không mà lao thẳng vào trạm phát sóng. Cách duy nhất để thoát hiểm là kịp thời tắt máy phát sóng của trạm. Các chiến sĩ vận hành có kinh nghiệm ở ca bin theo dõi mục tiêu bằng tay khi thấy “chớp loé" từ mục tiêu là họ xác định được thời điểm tên lửa "Sraicơ" được phóng khỏi máy bay địch. Thế là họ quay ăng ten về phía khác và lập tức tắt máy phát sóng của ra đa bám sát mục tiêu. Bằng cách này họ hướng các tên lửa "Sraicơ" bay chệch về hướng khác. Đáng tiếc là không phải bao giờ cũng làm động tác ấy một cách thành công, đặc biệt là khì những người ngồi sau các cần điều khiển là những chiến sĩ Việt Nam chưa có đầy đủ kinh nghiệm. Cuối tháng 10-1965 việc thành lập Trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành. Một bộ phận các chuyên gia quân sự Liên Xô trong tiểu đoàn tên lửa của chúng tôi đã được điều sang huấn luyện trung đoàn ấy, trong đó có cả khẩu đội bệ phóng của tôi. Thật bịn rịn khi phải chia tay với các chàng trai Việt Nam trong Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 - các anh Vinh, Thành, Sơn, Tiến và Lai. Nhưng chúng tôi đang được chờ đợi tại Trung tâm huấn luyện để huấn luyện cho Trung đoàn tên lửa phòng không 261. Công tác huấn luyện Trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba - Trung đoàn 261 Tại trung đoàn mới này, gần như mọi chuyện phải bắt đầu từ số không. Dĩ nhiên, kinh nghiệm hoạt động tại trung đoàn thứ nhất đã giúp rất nhiều, nhưng nảy sinh những khó khăn khác. Trước hết, đó là bệnh tật. Trung tâm huấn luyện sơ cấp của trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba của Quân đội nhân dân Việt Nam đóng trong vùng rừng núi Trại Cau. Phụ trách Trung tâm huấn luyện này là đại tá C. V. Davátxki, chỉ huy của Trung đoàn 261 trong tương lai. Về phía Việt Nam, chỉ huy trung đoàn này là một sĩ quan trẻ, đã tốt nghiệp trường quân sự tại Liên Xô, Thiếu tá Nguyễn Văn Phiệt. Chúng tôi được bố trí trong một số căn nhà gạch một tầng nối liền nhau được xây trên đồi cao. Phía bên dưới, cách chỗ chúng tôi khoảng 300 mét, có con đường sắt chạy qua. Đằng sau con đường sắt ấy, cũng trên quả đồi, là một nhà máy cơ khí nhỏ. Cách chỗ ở của chúng tôi không xa, trên một số ngọn núi đá, là trận địa của những cụm súng máy phòng không và những khẩu đội cao xạ với các cỡ nòng khác nhau. Cách nơi ở của chúng tôi 3 kilômét, người ta xây dựng một trận địa huấn luyện của Trung đoàn tên lửa thứ ba. Trận địa này được bố trí trong những khu rừng rậm trên sườn núi. Các bệ phóng tên lửa và các cabin điều khiển dẫn đường tên lửa thì bố trí dưới những tán lá các cây to. Cùng với các vật ngụy trang đáng tin cậy, những cây to ấy đã bảo vệ chúng tôi và các khí tài chống lại ánh nắng thiêu đốt. |
Các chiến sĩ khẩu đội bệ phóng thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 261
Theo quy định, quân số của Trung đoàn tên lửa thứ ba của Việt Nam được tuyển theo biên chế thời chiến, nghĩa là với những khẩu đội chiến đấu có số quân tăng gấp đôi. Trong các cabin điều khiển chật chội của tổ hợp tên lửa kiểu 6 “cabin điều khiển" XA-75, các khẩu đội, với quân số tăng gấp ba lần (cộng cả các chuyên gia Liên Xô) gồm các kỹ thuật viên và các trắc thủ vận hành, thì xét về thể chất, thật sự không thể ngồi được trong các cabin ấy, nhưng các chiến sĩ bệ phóng thì cảm thấy bình thường. Nhờ các khẩu đội đã tăng quân số lên gấp đôi, chúng tôi trên thực tế đã giảm được một nửa số thời gian phiên dịch. Khẩu đội bệ phóng mà tôi có dịp thường xuyên huấn luyện có trình độ am hiểu kỹ thuật đôi phần kém hơn khẩu đội của Thành, nhưng tất cả những chàng trai ấy đều dày dạn. Giữa chúng tôi đã nhanh chóng có được mối quan hệ tốt đẹp trong công việc. Chỉ huy khẩu đội tên là Chiến, có tính nết phần nào giống tính nết của đồng chí Sơn - một người cũng rất chăm chỉ và cẩn trọng. Trắc thủ số 1 - Tích là một chàng trai lực lưỡng, khoan thai, lúc đầu không mấy tự tin: anh ta không hiểu rõ lắm khi nghiên cứu các sơ đồ điện, nhưng trong thao tác chiến đấu anh ấy thuộc vào số những người đi đầu. Trắc thủ số 2 - Nin là một chàng trai thành thị có tướng mạo trí thức. Trong những giây phút nghỉ ngơi anh ta thích bàn luận về văn chương, về âm nhạc. Anh rất yêu thích nhà văn Sêkhốp. Anh Nin mơ ước một lúc nào đó sẽ sang Mátxcơva để viếng mộ nhà văn Sêkhốp. Điều thú vị là người anh của Nin tên là Lê. Nếu ghép hai cái tên này lại với nhau thì sẽ có được tên Lênin. Để tỏ lòng tôn kính vị lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười, người cha - một đảng viên cộng sản lão thành đã đặt tên ấy cho hai người con. Trắc thủ số 3, cậu Hòa là chàng trai trẻ nhất trong số tất cả các chiến sĩ. Cách đó không lâu anh ta vừa tròn 17 tuổi ảnh ấy có thân hình gầy, cao, nhanh nhẹn. Hòa được mọi người yêu quý. Như cách nói của người đời, cậu ấy nắm bắt được mọi cái rất nhanh. Nhưng cậu ấy xem như thế còn ít, nên cậu ấy đưa ra nhiều câu hỏi hơn tất cả những người khác, cố gắng đi sâu tìm hiểu cặn kẽ tài liệu nghiên cứu, dù đó là tài liệu về cơ khí hay là về các sơ đồ điện. Hòa rất thích học nói thạo tiếng Nga và anh ta tiến bộ rất nhanh trong chuyện này. Hòa phát âm rõ những từ tiếng Nga, gần như rất chuẩn. http://i1073.photobucket.com/albums/...Tet2013071.jpg Các chiến sỹ bộ đội tên lửa Việt Nam và 2 chuyên gia Liên Xô Có lúc tôi lên lớp về thao tác chiến đấu mà không có phiên dịch, vì vẫn thiếu phiên dịch. Tôi phát tất cả mọi khẩu lệnh bằng tiếng Nga và lặp lại bằng tiếng Việt. Các khẩu đội Việt Nam hiểu rất tốt những khẩu lệnh ấy. Rồi họ cũng cố gắng báo cáo đáp lại bằng tiếng Nga khi thao tác những công đoạn ấy Một thời gian sau, khi Đại úy Xirencô trở về Liên Xô thì tại Trung tâm huấn luyện của chúng tôi không có một sĩ quan nào thuộc khẩu đội bệ phóng. Một mình tôi đã phải lên lớp cho tất cả các sĩ quan Việt Nam thuộc các khẩu đội bệ phóng của Trung đoàn, giảng về cấu tạo của bệ phóng, về loại xe TZM, cấu tạo của tên lửa cũng như về các thông số kỹ thuật và chiến thuật của chúng. Trong buổi lên lớp đầu tiên giảng bài cho các sĩ quan khẩu đội bệ phóng thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 261, người phiên dịch đã giới thiệu về tôi như sau: - Chỉ huy trung đội thuộc đại đội phóng tên lửa, trung sĩ Côlêxnhích Nicôlai. Nhưng hình như trong buổi lên lớp thứ tư có một viên sĩ quan Việt Nam thuộc khẩu đội bệ phóng đã hỏi lại: - Có thể đồng chí phiên dịch của chúng tôi đã nhầm khi giới thiệu đồng chí là trung sĩ. Chắc chắn đồng chí là sĩ quan, vì trên cầu vai của đồng chí có 2 ngôi sao như ở cầu vai quân hàm trung sĩ, chỉ có sự khác biệt là có vạch kim loại phía bên dưới, có đúng như vậy không ạ? - viên sĩ quan ấy bổ sung cho chính xác vì căn cứ vào các ký hiệu quân hàm của Việt Nam. - Tại sao đồng chí nghĩ như vậy? - Tôi hỏi lại. - Trung sĩ, ngay cả một trung sĩ Liên Xô, không thể hiểu rõ kỹ thuật và giải thích chi tiết và dễ hiểu đến như thế về cấu tạo kỹ thuật của khí tài, - anh ấy trả lời như vậy. Tôi cố thuyết phục anh ta rằng quả thật tôi là trung sĩ. Nhưng anh Xuân, phiên dịch viên đã không dịch lại đầy đủ câu trả lời của tôi, mà chỉ nói: - Tôi đã "sửa lại sự nhầm lẫn" và đã thăng quân hàm trung úy cho đồng chí. Như thế sẽ chuẩn hơn và sẽ tốt hơn cho quá trình huấn luyện. Tôi đành phải đồng ý với lý lẽ của người phiên dịch. Vậy là tôi đã trở thành "trung úy” trong con mắt các đồng chí người Việt Nam. Trước khi nhập ngũ, ở tuổi 16 tôi đã tốt nghiệp trung học phổ thông (năm 1949 ở trường sơ cấp còn thiếu nhiều học sinh, cho nên theo đề nghị của tôi, người ta đã ghi tên tôi vào lớp 1 từ lúc tôi mới 6 tuổi). Về sau tôi tốt nghiệp trung học kỹ thuật và có hai năm làm thợ mắc đường dây điện trong các tổ thang máy của các mỏ than ở vùng Đônbát. Khi còn học trên ghế nhà trường tôi đã bắt đầu tham gia câu lạc bộ yêu thích vô tuyến điện: đã từng sửa chữa các máy thu thanh dùng đèn điện tủ, đã lắp ráp được những máy thu thanh bán dẫn, máy phát sóng ngắn, sửa chữa các máy thu hình. Do đó? tôi khá am hiểu kỹ thuật - bệ phóng, tên lửa và các hệ thống điều khiển tên lửa - hiểu một cách cặn kẽ. Thời gian 9 tháng huấn luyện tại trường đào tạo hạ sĩ quan thuộc binh chủng tên lửa phòng không tại Côxtêrêvô và nửa năm phục vụ tại tiểu đoàn hỏa lực của trung đoàn đã đảm bảo cho tôi có được trình độ đào tạo đầy đủ còn nữa |
Hãy nhớ tới Ácsimét
Tôi còn nhớ, ngay khi mới bắt đầu đào tạo, khẩu đội của đồng chí Chiến đã xảy ra sự cố có thể gây thương tật nặng hoặc thậm chí gây tử vong cho một người nào đó. Đó là những thao tác chiến đấu trong mục chuyển bệ phóng từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu. Mọi chuyện diễn ra bình thường. Khẩu đội của đồng chí Chiến đang kết thúc việc hạ bệ phóng xuống đất và chuẩn bị đẩy khung lăn ra. Có lẽ vì muốn chứng tỏ rằng khẩu đội của mình có khả năng thao tác độc lập, nên anh ấy đã phạm phải một sai lầm lớn. Chiến quyết định đẩy khung có bánh xe phía sau ra mà chưa đặt trụ đỡ chịu lực lớn thay vào đó. Không thể nào giữ được khung đỡ nếu không có trụ đỡ chịu lực - trọng tâm của khung đỡ ở phía cao hơn đường trục của các bánh xe, cho nên thế nào cũng sẽ xảy ra sự cố, khung đỡ tên lửa sẽ bị lật nhào. Khi lật nhào, cầu của khung đỡ sẽ đè bẹp tất cả những ai cố giữ lấy nó... Tôi nhìn thấy cảnh tượng ấy và hiểu rằng sau một khoảnh khắc nữa có thể sẽ xảy ra sự cố không sửa chữa được tôi thét lên: - Dừng lại? Phải giữ lấy cầu của khung đỡ? Không được cử động! - Rồi tôi nhanh chóng đưa chiếc kích vào, rồi định vị khung đỡ có bánh xe. Sau đó tôi giải thích cho khẩu đội thấy hậu quả có thể xảy ra với "sáng kiến của họ". Trắc thủ số 3 Hòa đã bổ sung lời giải thích của tôi; - Tôi đã nói rồi. Không có càng thì không thể tách khung đỡ ra được. Chiếc càng dài và nặng là cần thiết để dễ điều khiển và giữ được khung đỡ tên lửa. Đó là chiếc đòn bẩy để đỡ đấy. Hãy nhớ tới Ácsimét. Trận oanh kích vào chủ nhật Không lâu trước ngày Trung đoàn tên lửa phòng không 261 chiếm lĩnh trận địa chiến đấu, các máy bay cường kích của Mỹ đã dùng tên lửa "không đối đất" để bắn phá nơi đóng quân của chúng tôi ở khu Trại Cau. Sự việc xảy ra vào buổi sáng của một ngày chủ nhật. Đúng lúc đó chúng tôi đang chuẩn bị lên xe để về Hà Nội. Đột nhiên trên ngọn núi đá gần đó khẩu đội pháo cao xạ 37 ly đã phát ra tiếng "ho khan" - Khục ! Khục ! Khục ! Khục ! Hòa nhịp với những tiếng nổ ấy là những loạt đạn vội vã của các khẩu súng máy phòng không và những loạt pháo đều đều của các khẩu pháo cao xạ 57 ly. Có 2 chiếc F-105 sơn mầu xanh loang lổ vọt ra khỏi dãy núi đá phía bắc. Chúng bay ở tầm cao gần 200 mét hướng thẳng tới chúng tôi. Chúng tôi chạy tản ra chung quanh để tìm chỗ có thể ẩn nấp. Có 4 tiếng nổ mạnh của những quả tên lửa “không đối đất", gần như nổ cùng lúc, làm tung đất cách chỗ chúng tôi khoảng 120 mét. Đồng thời 2 loạt súng máy đã làm thủng các bức tường và mái ngói dãy nhà ở của chúng tôi. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vài giây. May thay, không ai bị hề hấn gì do những quả tên lửa ấy. Nhưng có hai anh không kịp nằm xuống nên đã bị thương nhẹ do những mảnh ngói văng vào. Song, điều đó cũng không cản trở chuyến đi được mong đợi từ lâu của họ về Hà Nội. Trên đường đi, sau khi đã trấn tĩnh lại đôi chút, chúng tôi sôi nổi thảo luận về những chuyện vừa diễn ra và cười sặc sụa trước sự cố là đã có một người, vì quá hoảng sợ, đã nhảy ào xuống một cái hố nước, có người đã chui rất nhanh xuống gầm xe, suýt nữa đập trán vào trục các- đăng. Trục các đăng thì còn nguyên, nhưng trên trán tay "thợ lặn" ấy thì có một cái bướu to sưng vù. Tự học Vào chiều tối chúng tôi lần lượt đến nơi tự học. Các học viên Việt Nam ôn lại các tài liệu đã học, trên cơ sở sử dụng những bức tranh minh họa và các sơ đồ. Nếu họ có những câu hỏi thì chúng tôi lập tức giải thích về những gì còn chưa hiểu. Buổi tự học tiếp tục đến 9 giờ tối. Sau một ngày anh em đều rất mệt và đến cuối buổi tự học thì họ ngủ gật. Đành phải cho giải lao và đôi khi động viên họ bằng các mẩu giai thoại hoặc kể vắn tắt về những trường hợp nực cười trong cuộc đời mình. Tất cả anh em lại tỉnh ngủ, đặc biệt là nếu trong câu chuyện kể có nói đến các cô gái hoặc về một sự cố nực cười nào đó. Đến thời điểm ấy một bộ phận chuyên gia Liên Xô trong Trung tâm huấn luyện của chúng tôi đã trở về nước. Ít lâu sau xe lửa đã chuyển khí tài đến. Chúng tôi tháo dỡ vào ban đêm. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tham gia vào công việc tháo dỡ. Cần hoàn thành công việc này trước lúc trời sáng và phải kịp giấu khí tài vào các hầm trú ẩn. Thời tiết lúc ấy tồi tệ khủng khiếp và lạnh một cách hiếm thấy: mưa lất phất kèm theo gió bấc, với nhiệt độ khoảng +10 độ C. Sau một giờ toàn bộ quần áo ướt sũng, nhưng công việc vẫn tiếp tục. Chúng tôi làm việc nhịp nhàng. Mặc dù có mưa và gió, nhưng quần áo của chúng tôi vẫn bốc hơi, người nóng lên do làm việc. Đến lúc.trời sáng mọi việc đã xong: tiểu đoàn di chuyển thành một đoàn dài gần 1 kilômét trong cuộc hành quân đầu tiên của mình. Ngay trước lúc tiểu đoàn chúng tôi tới trận địa chiến đấu lại có thêm lực lượng bổ sung: đó là Đại úy Épghênhi Ivanôvích Bôgun, chỉ huy khẩu đội bệ phóng và viên trung úy trẻ (rất tiếc là tôi quên họ tên của người này) chỉ huy trung đội bệ phóng. Họ mới bay từ Liên Xô sang Việt Nam. Trong nhũng ngày đầu tiên, do chưa nắm vững hoàn cảnh và những đặc điểm trong quan hệ ở nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Trung đoàn chúng tôi, cho nên họ định thiết lập một trật tự thường thấy ở các đơn vị phòng không tĩnh tại đóng ở Liên Xô. Dĩ nhiên, tất cả các quân nhân phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ quân sự đã kịch liệt phản đối, nhưng không xảy ra xung đột. Có đôi lần chúng tôi xếp hàng đi đến nhà ăn. Trong bữa trưa còi báo động đã rú lên: - Báo động chiến đấu Tất cả mọi người đã lập tức bỏ bát đũa, lao nhanh đến các bệ phóng và các ca bin điều khiển. Bữa trưa đã kéo dài thêm 40 phút. Khi quay trở lại nhà ăn chúng tôi cùng đi với nhau và sôi nổi thảo luận tình hình bầu trời. Tại Việt Nam chúng tôi không đi theo đội hình nữa. Trong hoàn cảnh chiến đấu các tiêu chí và những sự đánh giá về kỷ luật quân đội, nhất là về tinh thần trách nhiệm và mức độ đoàn kết của đơn vị lại mang những sắc thái hoàn toàn khác, không có tính chất hình thức. Một đội quân hùng mạnh là nhờ ở tài điều binh của các vị chỉ huy và nhờ tinh thần dũng cảm, anh dũng và kiên cường của binh lính. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyên soái Giucốp đã nói rằng đối với một vị tướng thì lời khen ngợi cao nhất là khi binh sĩ nói về vị tướng ấy rằng: "... đó là vị tướng biết chiến đấu, là một người lính đích thực". Khi làm chủ một thứ vũ khi tập thể như tổ hợp tên lửa phòng không X-75 thì mỗi người chúng tôi tuân theo nguyên tắc: Mỗi người vì mọi người, và mọi người vì mỗi người". Mỗi người đều có vai trò quyết định thắng lợi như nhau. Nếu anh là một người đàn ông đích thực thì anh phải làm tất cả để không làm hại đến các đồng chí của mình. “Mình có thể chết nhưng phải cứu người đồng chí" - đó không đơn giản là một câu nói. Bạn chiến đấu là những người bạn trung thành nhất và đáng tin cậy nhất. |
Bệnh tật
Do sống trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và do luôn phải chịu sức ép, cho nên cơ thể nhanh chóng bị suy yếu. Và bệnh tật đã đến rất nhanh. Những loại bệnh quấy rầy chúng tôi nhiều nhất là những bệnh ngoài da: khắp người nổi lên các nốt phát ban và nấm xuất hiện ở chân. Một số anh em bị phát ban và nấm chân rất nặng. Họ hầu như không đi lại được do nổi các nốt ban rất dầy ở vùng bẹn và háng, ở trên da phía dưới mông, ở nách. Các nốt ban ấy nhanh chóng chuyển thành mụn nhọt khó lành. Nấm chân cũng hoành hành dữ dội. Những bàn chân bị nấm ăn khủng khiếp, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Cái chính là không có loại thuốc đặc hiệu nào để chống căn bệnh này. Điều khó chịu nhất là trong anh em chúng tôi đã xuất hiện bệnh kiết lỵ. Nguyên nhân là do sống và sinh hoạt trong những điều kiện dã chiến. Bạn thử hình dung xem: làm sao mà tránh được bệnh kiết lỵ khi mà có những lúc còi báo động làm bữa trưa của chúng tôi bị gián đoạn đến 2-3 lần, trong khi đó những con ruồi bay khắp nơi tha hồ oanh tạc bữa trưa của chúng tôi. Sau khi xuất hiện những ca bệnh kiết lỵ đầu tiên, bác sĩ của đơn vị đã tuyệt đối cấm chúng tôi dùng thức ăn bị bỏ dở chừng dù chỉ một thời gian ngắn. Biện pháp này và một số cách phòng ngừa khác đã khống chế sự lan truyền của bệnh kiết lỵ. Tuy nhiên, đã có một số người trong đó có tôi, đã phải vào bệnh viện vì bị chẩn đoán nhiễm "trực khuẩn kiết lỵ". Thật may mắn, mọi chuyện đã qua đi. Sau 17 ngày tôi đã lại về với trung đoàn. Trở về nhà Tháng 3-1966 đã đến. Thật bất ngờ đối với nhóm chúng tôi khi được rút khỏi danh sách trực chiến và được đưa về Hà Nội: chúng tôi được lệnh trở về Liên Xô. Bộ trưởng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổ chức tiễn đưa các chuyên gia quân sự Liên Xô trở về nước. Tại buổi lễ chia tay này chúng tôi đã được tặng Huy chương Hữu nghị của Việt Nam, bằng tuyên dương do Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ký, cũng như quà lưu niệm. Đã đến lúc được trở về nhà. http://i1073.photobucket.com/albums/...t2013066-1.jpg Côlêxnhik Nhicôlai Nhicôlaiêvich và phó thủ tướng nước VNDCCH Nguyễn Duy Trinh (ảnh chụp năm 1966) Ngay cả trước lúc máy bay cất cánh, tôi vẫn không tin rằng đối với tôi đã kết thúc tất cả cảnh địa ngục với những máy bay Mỹ ngày nào cũng mang trong bụng chúng đầy bom đạn và trút sự chết chóc xuống đầu dân chúng các thành phố và làng mạc Việt Nam. Cuộc chia tay thật buồn. Nỗi buồn đã đến với những ai đã kết thúc chuyến công tác, đặc biệt với những ai còn ở lại. Những người ở lại là các đồng chí Vôlôđia Ilin, Xlava Philin, Víchto Cubusép, Đại úy E. I. Bôgun, viên Trung úy trợ lý của đồng chí ấy và tất cả những người đến Việt Nam hồi tháng 12. Chúng tôi hiểu rằng sẽ hầu như không bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Ai mà biết được, có thể ngày mai đây trong số những người ở lại sẽ có người hy sinh? Chúng tôi không muốn nghĩ đến điều đó, nhưng chúng tôi đã không thể quên đi điều đó: chiến tranh vẫn là chiến tranh. Đưa tiễn chúng tôi có đại diện của các trung đoàn tên lửa phòng không số 1 và số 3. Trong số các đại diện ấy có cả đồng chí Thành. Tôi nóng ruột hỏi đồng chí ấy về tình hình trong Tiểu đoàn 61, tình hình anh em ở đó ra sao, tất cả vẫn còn sống chứ? Đồng chí Thành trấn an tôi: - Mọi cái vẫn bình thường đồng chí Nicôlai ạ. Hôm nay đã bắn hạ chiếc máy bay thứ 15. Mọi người vẫn còn sống và mạnh khoẻ. Chúng tôi vẫn luôn nhớ đến đồng chí đấy. Tất cả mọi người gửi lời thăm hỏi và chúc tất cả các đồng chí lên đường may mắn. Giờ đây đồng chí Tiến là chỉ huy khẩu đội, tôi được bổ nhiệm chỉ huy Trung đội 3, còn đồng chí Vinh đã trở thành chỉ huy phó của khẩu đội. - Đồng chí Thành, xin chúc mừng! Giỏi lắm! Cứ giữ vững như thế nhé? - Tình hình gia đình thế nào hả đống chí Nicôlai? Có nhận được thư của mẹ không? - Mọi chuyện đều ổn. Tôi vừa nhận được thư. Mọi cái đều tốt đẹp cám ơn đồng chí Thành. Để kỷ niệm, đồng chí Thành tặng tôi tấm ảnh của mình, có ghi địa chỉ nhà ở Hà Nội: - Đồng chí Nicôlai ạ, đây là địa chỉ của bà cô tôi. Cô tôi sống ở Hà Nội. Nhưng anh biết đấy, nhà tôi ở Sài Gòn. Sau ngày chúng tôi giành thắng lợi nhất định mời đồng chí đến thăm tôi ở Sài Gòn nhé. Sài Gòn là thành phố rất đẹp. Anh ấy mỉm cười nói thêm: - Con gái Sài Gòn đẹp lắm. Hãy đến nhé. Lần cuối cùng chúng tôi xiết chặt tay nhau và ôm ba lần theo kiểu Nga. Anh Thành còn muốn nói thêm điều gì đó nữa nhưng đã nở nụ cười buồn rầu, rồi lặng lẽ nhìn sang phía khác. Tôi bước chậm về phía xe buýt. Đó là những bước đi lần cuối trên mảnh đất Việt Nam đã trở nên thân thương. Chiếc xe chuyển bánh. Đồng chí Thành nhìn theo tôi với đôi mắt ướt lệ và vẫy tay hồi lâu. Tôi cũng nghẹn ngào không nói nên lời. - Tạm biệt tất cả mọi người. Việt Nam ơi? Người sẽ mãi trong trái tim tôi. Tháng Sáu 1968 |
3.RÔXLIACÔVA LIUBỐP IVANỐPNA
Bà sinh ngày 23-6-1939 tại thành phô Sácgiâu thuộc Tuốcmênia. Năm 1956 bà tốt nghiệp phổ thông ở tỉnh Tam bốp, sau đó bà đã học 2 khóa học của khoa lịch sử Trường Đại học tổng hợp quốc gia Mátxcơva. Bà làm việc tại Viện Hàn lâm không quân mang tên Giucốp ở Mátxcơva. Từ tháng 3-1967 đến tháng 7-1968 bà phục vụ trong Quân đội Liên Xô, công tác tại Văn phòng Tham mưu trưởng - Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Từ năm 1971 đến nay bà là chuyên viên cao cấp tại Viện Lịch sử quân sự thuộc Bộ Quốc phòng Liên bang Nga. Bà được tặng thưởng các Huy chương: Lao động vẻ vang, Lao động xuất sắc, Lao động lão thành, 100 năm nguyên soái Giucốp, 200 năm Bộ Quốc phòng nước Nga và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam. NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN Cuối năm 1966 tôi được triệu tập đến Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng Liên Xô và nhận được lời đề nghị sang công tác tại ban tham mưu của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Tôi chỉ biết về đất nước Việt Nam qua các sách giáo khoa cũng như qua các phóng sự truyền hình về cuộc chiến tranh tàn khốc trên đất nước ấy, nỗi đau và những nỗi khổ cực của nhân dân Việt Nam. Thật khủng khiếp khi nhìn thấy cảnh địa ngục mà bọn Mỹ đã bắt nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình phải gánh chịu. Tưởng chừng tôi phải nêu câu hỏi: liệu tôi có cần đi đến đất nước ấy không, để làm việc trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ? Nhưng tôi đã không nêu ra câu hỏi ấy, vì tôi muốn có một sự giúp đỡ nào đó dành cho nhân dân Việt Nam đánh trả cuộc xâm lược của Mỹ. Nếu ban lãnh đạo Liên Xô đã quyết định gửi đến đất nước ấy các chuyên gia quân sự để giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đang chiến đấu thì điều đó là cần thiết, tức là một giọt sức lao động của tôi sẽ được rót vào công cuộc giúp đỡ chung dành cho Việt Nam. Tất cả chỉ có vậy. Vấn đề đã được giải quyết, tôi đã đồng ý. Không một ai, kể cả gia đình tôi được biết việc tôi được cử sang công tác tại Việt Nam. Tại Đảng ủy của Bộ Thương mại - nơi hồi ấy tôi đang làm việc và là cơ quan cấp giấy nhận xét xuất cảnh cho tôi - người ta rất bất bình vì tôi không nêu tên đất nước tôi sắp tới công tác. Người ta khăng khăng đòi hỏi tôi phải nêu tên đất nước tôi sẽ đến. Người ta bảo rằng có thể tôi đang sửa soạn sang Mỹ. Sáng hôm sau tôi đành phải báo cáo chuyện này lên Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu cho Đại tá A. A. Alếchxêép. Cuối ngày hôm ấy một ủy viên trong Đảng ủy của Bộ đã đem đến cho tôi giấy giới thiệu đã được phê chuẩn, không ghi tên nước đến công tác, ngoài ra vị này còn xin lỗi về sự thiếu tế nhị xảy ra hôm trước. Vào cuối tháng 3-1967 tôi ở trong Đoàn chuyên gia quân sự xuất phát từ sân bay quân sự Sơcalốp bay đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao cho - theo cách nói tại Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu. Chúng tôi đáp máy bay đến Việt Nam vào đêm khuya, chung quanh đều im lặng. Khi vừa từ máy bay bước ra tôi lấy làm kinh ngạc trước cảnh tối như mực, không khí ngột ngạt, nóng bức và nồng nồng. Những người đến đón chúng tôi là các quân nhân Việt Nam và các đại diện ban chỉ huy của phía Liên Xô. Trong số các chuyên gia quân sự đã tới Việt Nam thì ngoài tôi ra không có phụ nữ nào cả. Từ sân bay người ta chở chúng tôi tới khách sạn ở khu Kim Liên. Người ta chuyển những chiếc vali của tôi vào phòng khách sạn và bảo rằng sẽ có người đến đưa tôi đến nơi nhận cộng tác. Khi còn lại một mình tôi mới ngắm nghía căn phòng mà tôi sẽ phải sống trong một thời gian. Mọi cái đều rất thích, chỉ có một thứ mà tôi không rõ mục đích sử dụng: đó là một tấm vải màn được chằng cột vào những que kim loại ở phía đầu giường. Nhưng vì tôi phải nhanh chóng đến nơi làm việc, cho nên không có thời gian suy nghĩ về chuyện này và tôi đã ngủ thiếp đi. Nhưng đến khi thức dậy và soi vào gương thì tôi không nhận ra mình nữa, vì bị muỗi đốt khắp người. Đến lúc đó tôi đã hiểu chiếc màn cuộn ở phía trên giường là dùng vào việc gì: để khỏi bị muỗi đốt. Vào 7 giờ sáng người ta chở tôi đến nơi làm việc (ngày làm việc bắt đầu từ 7 giờ sáng). Từ 12 giờ đến 13 giờ là giờ ăn trưa, sau đó nghỉ đến 17 giờ, sau 17 giờ lại làm việc tới khuya hoặc đến sáng. Sau bữa ăn trưa nhất thiết phải nghỉ ngơi, vì không khí nóng nực gây mệt mỏi và độ ẩm đạt đến 99%. Cả ngày lẫn đêm nhiệt độ và độ ẩm đều giống nhau, không có chút mát mẻ nào. Thời gian nghỉ ngơi sau bữa ăn trưa có tác dụng lấy lại sức lực đôi chút. Tôi bắt đầu làm việc ngày đầu tiên trong phòng làm việc của Trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam - đó là Thiếu tướng Grigôri Anđrêêvích Bêlốp. Khi người ta giới thiệu tôi với đồng chí ấy, sau khi nhìn thấy trên khuôn mặt tôi những nốt muỗi cắn chi chít, đồng chí đã tỏ ra rất hốt hoảng và bực tức trước việc người ta đã không báo trước cho tôi biết tính chất nguy hiểm của những vết muỗi đốt ấy và không bảo cho tôi phải nằm màn khi ngủ để khỏi bị muỗi đốt. Trong cuộc trao đổi với tôi, đồng chí Grigôri Anđrêêvích đã báo trước rằng công việc sẽ bận rộn và phải thực hiện những công việc ấy một cách có chất lượng, nhanh chóng, không kể giờ giấc, bởi vì mỗi tháng có 2 lần thông tin được gửi về Mátxcơva theo đường bưu điện ngoại giao. Để kịp thời chuẩn bị và lập thủ tục mọi giấy tờ tài liệu gửi Bộ Tổng tham mưu cho kịp chuyến bưu điện thường kỳ thì đôi khi tôi phải làm việc suốt từ sáng hôm trước đến tận sáng ngày hôm sau. Khi sống ở Việt Nam tất cả chúng tôi rất mong chờ những chuyến bưu điện ngoại giao. Đối với chúng tôi ngày nhận bưu phẩm luôn luôn là ngày hội, bởi vì vào những ngày ấy chúng tôi nhận được thư nhà. Không có hình thức liên lạc nào khác với gia đình, với người thân. Có rất nhiều thư từ gửi cho tất cả các chuyên gia Liên Xô: đôi khi chúng tôi tiếp nhận đến mấy bọc to những thư từ ấy. Sau một thời gian người ta chuyển chỗ ở của tôi đến một ngôi nhà đã có 4 người đang ở - đó là các cán bộ của Sứ quán. Tất cả chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận, giúp đỡ nhau theo khả năng của mình. Nếu có trường hợp nhận được bánh mì đen hoặc cá trích muối thì chúng tôi cũng chia đều cho nhau những thức ăn ưa thích đó và ngày hôm ấy cũng là ngày hội đối với chúng tôi. Khoảng đầu tháng Tư, lần đầu tiên tôi được nghe thấy còi báo động, mà vẫn chưa hay biết đó là cái gì. Sau đấy từ loa phóng thanh vọng ra những câu như: "Có máy bay Mỹ!" Có máy bay Mỹ!" hóa ra đó là báo động có máy bay Mỹ, còn phát thanh viên thì thông báo máy bay Mỹ đang đến gần, cần vào hầm trú ẩn tránh bom. Trong mỗi sân nhà và trên mỗi đường phố đều có những hầm trú ẩn như vậy. Thuật ngữ "hầm tránh bom" ở đây chưa đúng nghĩa lắm. Trên thực tế đây là cái hố có nắp đậy, sâu khoảng 1 mét rưỡi và đường kính rộng khoảng nửa mét. Chiếc hầm như vậy chỉ vừa chỗ cho khổ người Việt Nam. Tôi chưa kịp hoàn hồn thì trận oanh tạc đã bắt đầu. Thế là tôi đành phải nhảy xuống một chiếc hầm như vậy. Tôi bắt đầu đậy nắp hầm nhưng không thể đậy được nếu không có sự huấn luyện. Nhưng khi tôi tìm cách đẩy cái nắp hầm gần hơn về phía mình thì mới thấy chiếc hầm quá nông đối với tôi, cho nên đầu tôi thò ra bên trên hầm và không được bảo vệ. Sau khi hiểu ra rằng chiếc hầm sẽ không cứu được tôi, tôi đã chật vật trèo ra khỏi chiếc hầm ấy và chạy ngược trở lại vào nhà. Tại đó cảm thấy yên tâm hơn. Sau trận oanh tạc tôi lại đến nơi làm việc. Hà Nội bị oanh tạc ban ngày, với khoảng thời gian ngừng ném bom vào giờ ăn trưa, sau giờ nghỉ trưa - đến chiều và đêm thì máy bay lại oanh kích dữ dội. Hàng ngày các phi công Mỹ thực hiện đến 30-40 lần xuất kích. Vào những ngày như vậy cảm thấy rất gian khổ, đặc biệt vào ban đêm. Khi có tín hiệu báo động, tôi và những bạn hàng xóm chồm dậy khỏi chăn, với y phục như lúc ngủ, đứng trong khung cửa lối ra vào phòng ở của mình. Đôi khi những khung cửa ra vào phòng ngủ vẫn còn nguyên vẹn, không bị tường và trần nhà đổ đè vào, cứu thoát được nhiều người. Trong giờ làm việc, khi xảy ra ném bom, tất cả chúng tôi cũng đứng trong các khung cửa phòng, và có rất đông người đứng dưới khung cửa như vậy, khiến cho nhìn từ bên ngoài vào có cảm tưởng là cửa bị lèn chặt. còn nữa |
Mỗi khi diễn ra trận ném bom, cảm giác thật khủng khiếp. Tôi cảm thấy chỉ một mình tôi thấy sợ hãi. Có một lần tôi khắc phục sự rụt rè và hỏi đồng chí Thiếu tướng Vlađimia Pêtơrôvích Xensencô, Anh hùng Liên Xô và đã từng tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, rằng có khi nào đồng chí ấy cảm thấy khiếp sợ không. Đồng chí ấy trả lời rằng có cảm thấy khiếp sợ và thậm chí còn rất khiếp sợ. Chỉ có ai đã chết mới không sợ chết, còn người sống thì luôn luôn sợ chết. Điều đó là tự nhiên.
Sau đấy, ông còn nói rằng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô, khi diễn ra cuộc oanh tạc có thể nấp, chẳng hạn ở góc nhà, trong bụi cây, chạy vào rừng v.v., còn trong cuộc chiến tranh này (tức là cuộc chiến tranh ở Việt Nam) bom trút từ trên không xuống dầy đặc cho nên không nấp hoặc trốn chạy vào đâu được. Bom, và nhất là bom bi, đều gây thương vong cho người ở trong nhà, trong rừng, tóm lại, ở khắp mọi nơi. Con người không có gì và không có nơi nào để tự bảo vệ mình. Do vậy, tại nơi này, xét về phương diện tâm lý, có cảm giác gian khó hơn nhiều. Những cuộc ném bom dữ dội diễn ra đặc biệt vào tháng 5-1967 vì gần đến ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và thế là ngày ấy đã đến, ngày 19 tháng Năm. Máy bay Mỹ bắn phá từ sáng, tôi vất vả lắm mới tới được Sứ quán, đi trên đường thật là sợ hãi, đất rung chuyển, từ trên cao tới tấp rơi xuống những mảnh đạn cao xạ. Nhưng tôi luôn luôn đội trên đầu chiếc mũ sắt mà tôi được tặng vào ngày 8-3 và không rời nó cả ngày lẫn đêm. Trên đường đi đến nơi làm việc tôi cũng đội mũ sắt. Máy bay liên tục ném bom cho đến giờ ăn trưa, sau đó như mọi khi, chúng nghỉ giải lao. Thế là chúng tôi kịp ăn trưa tại nhà ăn, nhưng rồi sau giờ nghỉ trưa lại bắt đầu những gì mà tưởng như đã đến ngày tận thế. Sau đó một lúc chúng tôi ngó ra ngoài đường và nhìn thấy ở trên bầu trời, cách ngôi nhà của chúng tôi không xa, một chiếc máy bay Mỹ bốc cháy đang từ từ rơi xuống. Chiếc máy bay ấy có thể đâm vào đâu thì không ai biết: rơi vào ngôi nhà chúng tôi hay là rơi vào ngôi nhà bên cạnh. Tưởng chừng chiếc máy bay ấy rơi thẳng xuống đầu chúng tôi. Chúng tôi nhìn lên bầu trời và bắt đầu vĩnh biệt cuộc đời. Chỉ một giây nữa là chúng tôi có thể sẽ không còn nữa nếu chiếc máy bay ấy nổ tung. Không chỉ đối với chúng tôi đang sống trong ngôi nhà ấy, mà còn đối với tất cả ở chung quanh nếu máy bay rơi xuống cùng với cái bụng đầy bom. Chiếc máy bay ấy cứ rơi thấp dần, lao về phía ngôi nhà chúng tôi ở và Câu lạc bộ quốc tế, mà ở phía sau Câu lạc bộ là Sứ quán Liên Xô. Chúng tôi nín thở và nhìn về phía có một tiếng nổ mạnh khủng khiếp đến nỗi trong vài giây tôi đã không còn nghe được gì nữa. Sau khi trấn tĩnh, tất cả chúng tôi đều chạy đến chỗ đang bốc lên ngọn lửa cháy dữ dội. Khi chạy tới nơi, chúng tôi nhìn thấy máy bay rơi xuống đường phố ngay cạnh tường rào của Sứ quán Liên Xô, cắm sâu xuống đất, bên trên chỉ còn nhìn thấy những chiếc cánh của nó. May mắn là nó không rơi thẳng vào Sứ quán và khoang chứa bom cũng đã cạn. Nhưng trong các bình nhiên liệu của nó lại có kêraxin (xăng nhẹ), do vậy loại nhiên liệu này bốc cháy. Nhưng điều đó không còn khiến người ta sợ hãi nữa. Sức ép đã làm cho trần nhà bong ra và kính trong một số phòng của Sứ quán văng ra ngoài. May mắn là không có thương vong. Chúng tôi chưa kịp trấn tĩnh thì địch lại ném bom và có tin đồn rằng thế nào máy bay Mỹ cũng sẽ ném bom phá hủy đê. Một lúc sau Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng G. A. Bêlốp đến gặp tôi và ra lệnh xuống hầm tránh bom ở cách Sứ quán không xa, trong khuôn viên Cơ quan đại diện thương mại Liên Xô. Tôi đã nhanh chóng chạy tới đó, lần đầu tiên tôi trông thấy một căn hầm tránh bom thật sự và liền chui xuống đó. Ở trong hầm tránh bom đã có nhiều người rồi. Chúng tôi ngồi ở dưới đó rất lâu ở phía trên nghe thấy tiếng nổ lớn làm rung chuyển trần nhà, tường nhà, mặt đất và tất cả mọi vật chung quanh. Sau đó mọi cái dần dần lắng xuống. Có ai đó bạo dạn quyết định ló mặt ra ngoài phố. Sau đó anh ta trở vào hầm trú ẩn và vui mừng báo tin rằng đã bắt đầu trận mưa rào rất to và có thể sẽ bớt những cuộc oanh tạc, bởi vì khi bầu trời nhiều mây thì tầm nhìn sẽ giảm. Quả thật vậy, máy bay Mỹ nhanh chóng bay đi theo hướng chúng đã xuất phát, nghĩa là bay về hướng vịnh Bắc Bộ, trở về các tầu sân bay. Chúng tôi rất đỗi vui mừng vì cơn mưa này. Kể từ ngày ấy bắt đầu có những cơn mưa kéo dài, còn chúng tôi ước những cơn mưa ấy không bao giờ chấm dứt. Chúng tôi sống ở Việt Nam trong điều kiện có những trận bom dữ dội, sự nóng bức không thể chịu nổi và độ ẩm cao, tựa hồ như suốt cả ngày chúng tôi ngồi trong buồng tắm hơi. Ngay cả những chiếc ghế đá đặt ngoài đường phố cũng ướt vì hơi nước đọng lại. Trên người chúng tôi quần áo lúc nào cũng ướt sũng, chứ không chỉ bị ẩm, dính chặt vào lưng vì mồ hôi. Còn mồ hôi thì chảy dọc theo sống lưng và theo các ngón tay rồi nhỏ xuống đất. Trên những ngón tay thường xuyên có những giọt mồ hôi. Mồ hôi làm cho da xót bị cháy rát, như thể đụng phải lá han. Ngoài tất cả những điều đó ra lại còn những vết muỗi đốt, những con dĩn. Số lượng chúng nhiều vô kể, bay thành từng đàn. Tất cả những chỗ nào không có quần áo che đậy đều bị muỗi cắn khắp lượt. Đặc biệt vì lý do nào không rõ chúng rất thích đốt vào bàn chân phụ nữ. Chúng tôi không có các loại kem bôi chống muỗi - khi còn ở Mátxcơva không có ai cho chúng tôi biết về chuyện này. Đôi khi các đồng chí làm công tác địa chất có chia sẻ với chúng tôi loại kem bôi "Taiga" có tác dụng khoảng 2 giờ. Sau cuộc trò chuyện ấy, tôi cảm thấy dễ chịu hơn, như trút được tảng đá đang đè nặng người mình. Tôi hiểu ra rằng tôi thấy khiếp sợ không phải vì tôi yếu đuối và là phụ nữ. Hóa ra, ai ai cũng thấy sợ hãi, ngay cả nam giới. Những đêm không ngủ đã gây ảnh hưởng, đặc biệt sau những trận oanh tạc kéo dài: chẳng muốn uống, cũng chẳng muốn ăn, khi ngồi làm việc thì đôi mắt cứ díp lại vì thiếu ngủ, khi ấy tôi chỉ muốn ngủ, dù chỉ một giờ, nhưng phải làm việc. Không ai cho phép chúng tôi ngừng làm việc vì các trận oanh tạc. Có cả những trận bom phá và bom bi. Tôi nhớ rất kỹ ấn tượng về bom bi. Vào một ngày mùa hè đã diễn ra một cuộc ném bom như vậy, khiến giờ đây nhớ lại tôi vẫn còn cảm thấy hãi hùng. Một quả bom bi rơi vào góc ngôi nhà là chỗ ở của các cán bộ thuộc Văn phòng tùy viên quân sự của Liên Xô. Hình như ngôi nhà ấy có ba tầng. Toàn bộ một góc nhà bị phá sập, chỉ còn lại một cái hố sâu, còn toàn bộ bức tường của ngôi nhà thì bị bom bi găm vào lỗ chỗ. Những ngôi nhà bên cạnh và nằm đối diện cũng bị hư hại. May mắn thay, lúc ấy mọi người đều ở nơi làm việc, cho nên không có ai bị chết. Sau trận bom, chúng tôi đã bước vào một căn phòng của ngôi nhà nằm bên cạnh (trong ngôi nhà này có bố trí trạm y tế của chúng tôi) và nhìn thấy những lỗ bom bi chi chít trên các bức tường có lẽ dày khoảng 40 centimét. Các viên bi vương vãi trên giường, trên bàn và trên sàn nhà. Phía đối diện là những ngôi nhà của các đại diện ngoại giao và ngôi nhà của tôi. Tôi chợt nghĩ: "Không biết giờ đây căn phòng của tôi ra sao?". Khi bước vào căn phòng ấy tôi nhìn thấy cảnh tượng thế này: máy điều hòa bật ra khỏi tường và văng ra ngoài đường cách xa 3 mét, tủ lạnh thì lăn lóc ở cuối phòng, cạnh bức tường đối diện, các khung cửa vỡ nát với những mảnh kính nằm vung vãi trên sàn, các cánh cửa cũng vậy. Không thể nào bình thản nhìn cảnh tượng này. Vậy mà thời gian của chuyến công tác biệt phái chỉ mới bắt đầu... Một thời gian sau có tin đồn bọn Mỹ rải truyền đơn trong đó nói đến những cuộc ném bom hủy diệt thành phố Hà Nội, sau đấy chúng sẽ phá đê sông Hồng để nhấn chìm tất cả dân cư và mọi thứ. Những việc đó sẽ diễn ra nhanh chóng đến nỗi chúng tôi sẽ không kịp rút chạy đi đâu cả. Tôi đã hình dung ra cảnh bị chìm ngập dưới nước. Tôi không biết bơi, vì vậy tôi đã ngắm nghía một cây cao có những bông hoa đỏ mọc cạnh ngôi nhà tôi ở và một cành cây to trên ấy, để khi cần sẽ trèo lên, dĩ nhiên là nếu tôi còn kịp làm việc đó. Tôi nghĩ, việc làm ấy sẽ không cứu được tôi nhưng tôi chuẩn bị cho mình về mặt tâm lý để sẵn sàng cho "lối thoát" ấy. May thay, điều đó đã không xảy ra. Máy bay Mỹ ném bom cả ngày lẫn đêm nhưng các chiến sĩ tên lửa Việt Nam với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã không để cho bọn Mỹ ném bom phá sập đê sông Hồng. |
Sau những trận bom kéo dài làm cho tôi không thiết ăn uống, độ ẩm cao, tình trạng nhiều mồ hôi và những vết muỗi đốt đã khiến tôi cảm thấy tim bị đau, hệ thống tiêu hóa hoạt động kém, các mu ngón tay thì sưng tấy lên. Các bác sĩ quân y Ivanốp Alếchxây Ivanôvích và Pêrêguđốp Ivan Ghêóocghiêvích (nay đã qua đời) đã khẩn khoản khuyên tôi trở về Mátxcơva để tình hình sức khoẻ không xấu thêm. Tôi đã từ chối việc trở về Mátxcơva với lý do là: Tôi sẽ nói gì ở Mátxcơva? Có phải vì tôi không đảm đương nổi nhiệm vụ? Tôi không thể chấp nhận điều đó, dù họ thuyết phục tôi như thế nào cũng mặc.
Tôi đã đồng ý mọi phương pháp điều trị mà họ đề xuất. Người ta bắt đầu tiêm cho tôi, cho uống các loại thuốc viên, bôi kem và băng lại những ngón tay bị sưng tấy. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng tôi vẫn không tháo băng trong một thời gian dài. Vì vậy một số người khi chào tôi, không dám bắt tay nữa vì tưởng rằng tôi bị bệnh truyền nhiễm gì đó. Để xua tan điều nghi ngại ấy, đôi khi tôi đã phải tháo băng ra, để lộ những ngón tay sưng vù. Tôi rất biết ơn các bác sĩ A. I. Ivanốp và I. G. Pêrêguđốp. Họ đã làm tất cả những gì có thể để tôi có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế, nhờ đó mà tôi đã được Chính phủ Liên Xô tặng Huy chương Lao động vẻ vang. Trong suốt thời gian chiến tranh ở Việt Nam tôi là phụ nữ duy nhất trong Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được Chính phủ khen thưởng. Vào các ngày lễ chúng tôi nhận được những lời chúc mừng của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô: nhân ngày Quân đội Xôviết, 23-2-1968, chúng tôi được ông tặng quà, còn vào ngày 8-3 thì tôi nhận được bức thiệp chúc mừng của Anh hùng Liên Xô Alếcxây Pêtơrôvích Marêxiép. Đối với tôi đó là niềm vui lớn, vì chúng tôi được giáo dục qua những cuốn sách kể về các anh hùng của chiến tranh. Cuốn sách kể về người phi công huyền thoại ấy - "Một người chân chính" của nhà văn Bôrít Pôlêvôi là một trong số những cuốn sách tôi yêu thích nhất. Mỗi năm hai lần người ta chở hoa quả đến cho chúng tôi bằng tàu biển từ "Đất Mẹ", như cách nói của chúng tôi. Chúng tôi mua những hoa quả ấy với số lượng đủ dùng cho tới chuyến tàu tiếp sau đó. Chủ yếu đó là những hoa quả đóng hộp. Đôi khi người ta cũng còn cấp cho chúng tôi những món "khoái khẩu”: bánh mì đen đựng trong túi nilông kín để khỏi bị cứng lại, bánh sấy đựng trong các hộp kim loại. Đối với chúng tôi những thứ đó quý giá và ưa thích hơn là trứng cá, cua hộp và các loại giò đắt tiền. Có một lần người ta chở táo tới. Chúng tôi thèm nhỏ nước miếng và chờ người ta đưa táo vào cửa hiệu. Mùi thơm tỏa ra khắp phố gợi nhớ hương vị của quê hương, hương vị như ở nhà. Mà những quả táo ấy sao mà ngon đến thế, tưởng chừng như trước đó tôi chưa được ăn chúng bao giờ. Tôi cũng chia sẻ hoa quả với các bạn Việt Nam vẫn làm công việc dọn dẹp trong nhà. Những người làm công việc dọn dẹp trong nhà đều là các chị phụ nữ, đôi khi họ còn đưa các cháu nhỏ con của họ tới. Một lần có một chị đã đem đứa con trai của mình tới: cháu học lớp 4. Chị ấy nói tôi có thể nói tiếng Nga với cháu bé. Tôi hỏi cậu bé tên là gì học lớp mấy, có các anh chị em không. Cháu bé trả lời tôi rất thạo bằng tiếng Nga và sau cùng còn nói rằng cậu ấy muốn được nhìn thấy Mátxcơva và Quảng trường Đỏ. Tôi khen cậu bé nói thạo tiếng Nga và tặng cậu những chiếc kẹo. Người dân Hà Nội có tình cảm tốt với chúng tôi. Nhiều người trong số họ hiểu được tiếng Nga. Các em nhỏ đặc biệt có tình cảm tốt với chúng tôi. Nhiều lúc, tôi đi trên đường phố, mấy cháu nhỏ đi theo và hô: "Liên Xô! Liên Xô!". Bọn trẻ ngắm nghía kỹ chúng tôi. Mỗi cháu đều muốn đụng vào người bác Liên Xô. Trong chiến tranh trẻ em trông già dặn hơn tuổi. Những em lớn hơn thì chăm sóc cho những em nhỏ hơn. Ngay khi vừa rú còi báo động có máy bay địch và bắt đầu xảy ra trận ném bom thì các em nhiều tuổi hơn liền cắp các em bé nhỏ hơn vào nách và nhảy xuống hầm trú ẩn cá nhân ở ven đường. Trên đường phố không còn một ai, các con phố thực sự trở nên vắng tanh. Nét mặt của bọn trẻ thay đổi hết sức nhanh mỗi khi chúng nghe thấy tiếng động cơ của máy bay Việt Nam (máy bay Liên Xô) và động cơ của máy bay Mỹ. Ánh mắt của chúng tỏ ra hết sức sợ hãi khi máy bay Mỹ đến gần Và khi thấy những chiếc MIG bay qua chúng nhìn dõi theo với biết bao niềm hy vọng trìu mến! Tháng 3-1968 là thời điểm kết thúc chuyến công tác biệt phái của tôi. Tôi phải chuẩn bị cho chuyến trở về nước. Tôi bắt đầu đóng gói đồ đạc. Rồi tháng Ba, tháng Tư và tháng Năm trôi qua, nhưng vẫn chưa có người thay tôi. Người ta nói cho tôi biết rằng ở Mátxcơva đã làm thủ tục cho người thay tôi, nhưng vào phút chót người ấy đã từ chối sang Việt Nam, bởi vì không ai muốn đi đến một nơi có những điều kiện như vậy. Những tháng chờ đợi trôi qua rất lâu. Tháng Bảy đã tới. Một lần vào cuối ngày làm việc, Trung tướng V. N. Abramốp (nay đã qua đời), là người tới thời điểm ấy đã sang thay Thiếu tướng G. A. Bêlốp, triệu tập tôi đến phòng làm việc của ông và cho biết Chính phủ Việt Nam đã tặng tôi huy chương, ông cho biết ngày trao tặng phần thưởng này. Ngày ấy đã đến. Nhân dịp trao tặng phần thưởng người ta đã tổ chức một buổi chiêu đãi nhỏ. Cục trưởng Cục quan hệ đối ngoại Bộ Tổng tham mưu Việt Nam đã tiếp tôi cùng các sĩ quan trong Ban tham mưu của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, do Đại tá A. I. Xiđiacô dẫn đầu, và đã trao cho tôi tấm Huy chương Hữu nghị của Việt Nam. Tất cả diễn ra trong bầu không khí long trọng và hứng khởi. Trong buổi chiêu đãi ấy tôi đã được nghe nhiều lời tốt đẹp về tôi. Cuối cùng, vào cuối tháng Bảy, đã có người đến thay tôi. Vậy là thay vì một năm, tôi đã làm việc tại Việt Nam một năm và 4 tháng. Sau khi trở về Mátxcơva, một tháng sau tôi lại được cử sang một đất nước mới mẻ đối với tôi - Tiệp Khắc. Tại đó đã bắt đầu diễn ra các sự kiện khác mà chúng ta đã biết - những sự kiện tháng 8-1968. Nhưng đó là chủ đề của những hồi ức khác... Từ đó đến nay đã gần 35 năm trôi qua. Có nhiều điều đã bị lãng quên, duy chỉ có chuyến công tác biệt phái sang Việt Nam thì tôi không bao giờ có thể quên được. Tháng 6- 2003 |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 05:54. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.