![]() |
Ngày xưa ơi 2 - qua các ca khúc
Mấy ngày nghỉ Tết Độc Lập lang thang trên mạng tìm nghe các bài hát đi cùng năm tháng không phai mờ do các ca sĩ xưa (và nay) hát. Nhiều bài nghe vẫn thấy cảm động lắm, gợi nhớ vô cùng về những năm tháng đã qua, những năm tháng dẫu còn quá nhiều gò bó và trói buộc, vẫn còn vô cùng thiếu thốn song con người sống hồn nhiên hơn, thân tình hơn, thành thật hơn. Hơi thở cuộc sống những năm tháng gian khó mà đẹp đẽ ấy như vẫn toát ra từ những giọng ca giản dị, đầy tình cảm không chải chuốt.
Lại muốn lục lại bao ký ức cũ, thường chỉ chợt lóe lại như không chịu bị chôn vùi dưới bao nhiêu toan tính, lo lắng của cuộc sống đầy gượng gạo giả dối và mưu mô ngày hôm nay, dẫu bữa ăn đã có nhiều thịt hơn chứ không chỉ đạm bạc như những ngày xưa ơi ấy, áo mặc đã nhiều màu sắc hơn chứ không chỉ tối xám đơn điệu một màu. Xin bắt đầu với Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi với giọng hát sang trọng không trộn lẫn của Mỹ Bình. Link YouTube: http://www.youtube.com/watch?v=zrYDjhWepyk Tôi biết bài hát này từ ngày còn rất bé, dường như chỉ mới chập chững biết đi và mới cất những từ non đớt đầu đời. Ấy là bởi vì ngày tôi mới sinh cùng Hải Phòng giải phóng thì nhà chúng tôi chuyển về gác 2 trong tòa nhà chính của ngõ 26 Cát Dài thuê của nhà nước - một ngôi nhà mà chủ của nó đã cuốn đồ đạc cùng bầu đoàn thê tử chạy vào Nam trên những con tàu của Pháp vào giai đoạn 300 ngày. Ngôi nhà ấy xây theo kiến trúc kiểu Pháp, đằng sau là những dãy nhà ngang cho người ở và nhà bếp, có cả một chỗ như yên ngựa xây gạch tráng men xi-măng trắng để giặt chiếu hay rửa xe ô tô cũng không rõ dưới gốc một cây bàng lớn mà sau này lũ trẻ con chúng tôi hay nút lỗ thoát nước lại, đổ đầy nước vào đó và vùng vẫy chơi đùa. Sàn tầng 2 và 3 thì lát gỗ lim đen bóng. Đầu ngõ, đè lên cả cái cổng gạch là một cây me cổ thụ (mãi năm 1970 hay 1971 mới bị bão quật đổ làm đổ tan luôn cả cái cổng gạch cũ), dưới gốc có một cái miếu thờ nhỏ xây bằng gạch. Lúc bấy giờ ngõ vẫn còn ít dân ở lắm như sau này mẹ tôi kể, mãi sau này khi tôi đã lớn xóm mới dần lấp đầy với những người lao động từ mọi miền quê duyên hải tới Hải Phòng lập nghiệp, họ làm việc trong các xưởng máy mới mở của công cuộc dựng xây ban đầu, góp phần làm xanh xám cả các con đường vào những giờ tan ca. Một dạo, tầng 3 của ngôi nhà vẫn để trống và lúc tôi đã bắt đầu biên biết - tức là đã biết đi và biết nói, thậm chí đã biết bi bô hát những câu hát học lỏm được của các anh chị - trên gác 3 có một đoàn văn công tới trú tạm chuẩn bị cho biểu diễn ở HP. Họ là đoàn văn công nào, bây giờ có lẽ không sao còn biết được. Nhưng khắc sâu vào tâm trí non nớt của tôi tự ngày ấy là những giai điệu lúc khoan thai tha thiết, lúc dập dồn thôi thúc của thanh âm bài hát họ tập - cả cái cầu thang dốc và hẹp lên tầng 3 như đầy ắp tiếng piano - mà mãi sau này lớn hẳn lên tôi mới biết là Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Cùng với Cảm xúc tháng Mười, Người Hà Nội là một trong những ca khúc về Hà Nội mà tôi yêu thích nhất. Tận đến những ngày đã sang Hung làm NCS, nhiều buổi sáng thức giấc còn cuộn trong chăn ấm, trộn lẫn trong nỗi nhớ nhà, nhớ nước da diết, tôi vẫn còn mơ màng như thấy lại cái cảm giác thích thú mỗi sáng chủ nhật mùa đông từ đơn vị về thăm nhà nằm nướng trong chăn nghe đài, suốt từ lúc loa truyền thanh ngân nga những nốt nhạc dạo đầu tiên của bản Người Hà Nội - nghe như thấy cả được tiếng chuông xe điện leng keng, tiếng bánh sắt lạch xạch của chuyến xe điện đầu tiên từ phía Bưởi chạy lên Đồng Xuân giữa hơi sương từ Tây Hồ còn lan tỏa khắp đường Thụy Khuê - cho tới tận mục Kịch truyền thanh do anh hàng xóm Vũ Hà đạo diễn trên Tiếng nói Việt nam. Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi có nhiều người đã hát, trong đó có cả Lê Dung, song với tôi, không ai hát tha thiết, truyền cảm và sang trọng được như Mỹ Bình. Tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, mãi gần 30 mới lập nghiệp ở Thủ Đô, song có lẽ từ những câu ca Hà nội vui sao/những cửa đầu ô/ríu rít gánh gồng/đây Ô Cầu Dền/kia Ô Chợ Dừa/làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm với giọng hát quí phái của Mỹ Bình mà thấy yêu da diết Hà Nội như thể nơi chôn rau cắt rốn của mình vậy. Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu! |
Xin phép bác nqbinhdi cho em lanh chanh một tý - em không nói là bản hay nhất, nhưng bản độc đáo nhất đối với em thì có lẽ là bản thu của NSND Mai Khanh. Lý do là bài Người Hà Nội chủ yếu do các ca sĩ nữ trình bày, còn bản em đang nói ở đây là do một giọng nam thể hiện. Tiếc là file thu âm chất lượng rất không cao mà em download được đã ... tan vào hư vô cùng cái laptop cũ rồi...
|
Hóa ra chú Vũ Hà, nghệ si ưu tú (nay đã thành người thiên cổ) là hàng xóm của cụ Dị ạ? Thèng cu Ph. con trai chú ấy một dạo làm chỗ em, bị bọn em trêu suốt hihi.
Sáng nay trong khi thiên hạ nô nức đi chơi thì em bị vợ sai ngồi nhặt rau, buồn quá bèn bật đài Tiếng nói Việt Nam lên nghe. Trên đài là tiếng của nghệ sĩ ghita Văn Vượng nói về những kỷ niệm gắn bó với Đài TNVN nhân dịp kỷ niệm 66 năm thành lập Đài. Ông Văn Vượng có nhắc đến Nguyễn Đình Thi với bài hát Diệt phát xít. Em vừa ngồi tỉ mẩn nhặt rau, vừa lẩn thẩn nghĩ đến cụ Nguyễn Đình Thi, sao mà có người xuất chúng và toàn năng đến thế. Chỉ cần 2 bài hát Diệt phát xít và Người Hà Nội mà đã thành bất hủ trong nền âm nhạc VN. Rồi tiểu thuyết, thơ, kịch...mảng nào cũng có thành tựu. Thì khuya nay mất ngủ lọ mọ vào đây lại có người chong chong gõ bài về Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Đó là cụ Dị, hay thế chứ. Em lại thích chị Lê Dung hát bài này. |
Trích:
Văn Vượng chơi ghi-ta gỗ thì nhất hạng rồi song bài về Hà Nội mà ông ấy chơi thật hay - nghe lần đầu thì có lẽ thấy cũng thường thôi nhưng tôi rất thích, càng nghe càng thích - lại là bài Tiếng nói Hà Nội. Thể nào tôi cũng có bài về bài này bởi nó gắn với những hình ảnh không bao giờ tắt trong ký ức của mình. Link đây: http://mp3.zing.vn/bai-hat/Tieng-Noi.../IWZACDIU.html |
Trích:
Ngày xưa tôi cũng đã từng đọc Con nai đen, bản giấy mà mặc dù có lệnh cấm mẹ tôi vẫn cố giữ lại cho chúng tôi đọc. Tiếc là chiến tranh phá hoại, đi sơ tán tôi làm mất cuốn đó ở quê ngoại bên Quảng Yên mất. |
Cũng chưa định viết ngay về Tiếng nói Hà Nội song chợt nhớ trên diễn đàn khác mình đã từng viết về nó bèn lục tìm mang về đây.
Tôi nghe Tiếng nói Hà nội đã từ rất lâu, từ ngày vẫn còn chưa thành người Hà nội. Mà rất yêu bài hát này bởi cứ nghe, lại xao xuyến nhớ những ngày chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và da diết yêu Thủ đô. Dạo 1966, mùa hè không học, cha tôi lên Hà nội họp ở Bộ Tổng tham mưu, cho tôi theo xe lên chơi với gia đình bà chị cả lúc đó sống ở 1A Hoàng Văn Thụ. Nhớ cảnh đã xế chiều, nắng ngả vàng mặt sông, lấp lánh trên những tấm thép mới trên cầu, xe chạy chầm chậm qua cầu Long Biên, các tấm sắt lát ngang những nhịp cầu bộ hành bị rocket Mỹ bắn hỏng kêu lạch cạch, ken két dưới bánh xe. Ngẩng đầu lên thấy sừng sững trên tít chóp ngọn những nhịp cầu là những người lính trên các khẩu 4 nòng 14ly5 đang xoay, một người đứng với ngọn cờ đỏ đuôi nheo nhỏ trên tay - dáng chừng là khẩu đội trưởng. Những năm tháng ấy cầu Long Biên bị đánh rất rát, ngoài các trận địa cao xạ bên hai bờ, bộ đội ta còn cẩu lên đỉnh những tháp cầu những khẩu đội 4 nòng và những người lính cảm tử luôn sẵn sàng trên đó nhằm bắn máy bay bổ nhào - sẵn sàng hy sinh cho cầu Long Biên trụ vững. Lời bài hát Tiếng nói Hà nội chính là lời nhắn gửi tự trái tim của những người lính cảm tử ấy, dưới chân là Hồng Hà vẫn ngàn năm sóng vỗ, nghẹn ngào nói về tình yêu với Hà nội vẫn từng phố phường thân yêu đang vọng về đây tiếng nói sớm chiều, gửi gắm tin yêu vào những người con anh dũng của Thủ đô. Từ Đống Đa gió gọi hồn dân tộc Từ Ba Đình gió rung lời thề độc lập Tiếng ngày nay vọng với tiếng ngày xưa... Trong chiến tranh thế giới thứ II, lính cao xạ quân đội Nhật Hoàng phải xích chân vào bệ súng để chỉ có một con đường sống là nhắm bắn thẳng vào máy bay Mỹ đang bổ nhào cắt bom. Trên những đỉnh tháp cầu Long Biên ngày ấy, những người lính Việt Nam chỉ buộc mình với pháo bằng tình yêu Hà Nội, bằng niềm tự hào và tinh thần quyết tử cho Thủ đô sống mãi: Hà Nội sắt son giữ vững một lời thề Tôi đứng đây với bao niềm tự hào Giữ Thủ đô, diệt tan quân cướp Mỹ Nhắm quân thù, nòng súng vươn tới trời cao. Gửi tặng các bác bản độc tấu guitar gỗ bài Tiếng nói Hà nội của Văn Vượng, người nghệ sĩ mù đất Thăng Long: http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/....IW6WE0CB.html |
Cụ Dị ơi!
Đọc lời cụ viết tự dưng cháu nhớ đến hôm 2.9 nhà cháu có đi xem buổi hòa nhạc Điều còn mãi. Một buổi hòa nhạc chơi lại các tác phẩm, các bài ca đi cùng năm tháng với sự chỉ Huy của anh Lê Phi Phi. Ngày trước anh này cũng là sinh viên Việt Nam sang học và nghiên cứu sinh ở Hung, và giờ thì bác ý định cư lại Hung hay Bul với vợ con thì nhà cháu cũng chưa nhớ chính xác lắm. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam tuy không bằng các giàn nhạc giao hưởng của Nhật, Mỹ hay Đức Pháp, tuy nhiên theo cảm quan của cá nhân nhà cháu thì trong các chương trình như thế này dường như các thành viên dàn nhạc chơi có hồn hơn, có máu hơn chứ không như một số chương trình hòa nhạc biểu diễn nhạc cổ điển phương Tây khác. Có rất nhiều ca sĩ thể hiện nhiều ca khúc gợi nhớ ký ức về Hà Nội, về những năm tháng hào hùng của dân tộc. Tuy nhiên về độ sâu lắng thì cá nhân nhà cháu cảm thích Hồng Nhung qua ca khúc "Hoa sữa". Nhân một ngày mua thu mưa gió, (đầu ngõ nhà cháu thoang thoảng mùi hoa sữa rồi cụ ạ, cụ đừng ghen tỵ với cháu nhá :emoticon-0116-evilg) Cháu xin mời cụ thưởng thức và cho cháu xin ý kiến cụ nhá! Em vẫn từng đợi anh. Như hoa từng đợi nắng, Như gió tìm rặng phi lao, Như trời cao mong mây trắng. Em vẫn từng đợi anh. Trên những chặng đường quen, Tiếng hát ai xao động, Thoáng mùi hoa êm đềm. Kỷ niệm ngày xưa vẫn còn đâu đó... Những bạn bè chung, Những con đường nhỏ... Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm. Có lẽ nào anh lại quên em? Có lẽ nào anh lại quên em? |
Cám ơn nttt1211,
Cám ơn bạn đã dẫn link tới chương trình Điều còn mãi vừa rồi. Tôi đã nghe suốt từ clip đầu cho tới clip cuối và dù tai tôi là tai trâu, có lẽ cảm nhận không hết được những gì mà các nghệ sĩ đã dày công thể hiện, vẫn thấy nhiều cái hay (chỉ tiếc là không được nghe trực tiếp và chất lượng thu âm của VTV3 lại kém, chọn chỗ đặt máy thu không khéo để lẫn nhiều tạp âm không nên có: tiếng buôn điện thoại léo nhéo, tiếng lào xào chuyện trò..., cũng có lẽ vì tôi nghe qua tai nghe nên những âm thanh sạn sỏi ấy nghe rõ mồn một chăng, lại nữa là thu âm không khéo để dàn nhạc nhiều lúc lấp chìm nghỉm ca sĩ). Dẫu hát không hay, không tình cảm - hay không quen tai mình? - như Hồng Nhung, Nguyên Thảo đã hát tốt Họa mi hót trong mưa. Tôi thích cái cách thể hiện của Nguyên Thảo trên sân khấu. Mỹ Linh và Hồng Nhung thì nghe hát nhiều rồi, chủ yếu là qua tivi thôi, nên cũng không thấy gì mới lạ mà có chăng thì Mỹ Linh mất tiêu đâu cái chất man man trong Trên đỉnh Phù Vân, cái đã từng làm tôi gai cả người khi nghe cô ấy hát lần đầu bài này chừng 10 năm trước. Nay thì cô ấy đằm thắm hơn. Hồng Nhung cũng thế, cái trẻ trung ngọt ngào cũng đã hao mòn nhiều, hay tại cái gò bó khi biểu diễn với giàn nhạc giao hưởng nó làm ra như thế, cũng chẳng biết nữa bởi tôi không phải chuyên gia âm nhạc, nghe ca nhạc thì không hơn gì một anh lính thô lỗ, một lão nông mê chèo hơn ba-lê, ngay cho có là Hồ thiên nga của Tchaikovski. Lê Phi Phi, theo như những gì tìm thấy trên Internet, thì chưa từng ở Hungary hành nghề bao giờ. Anh con trai nhạc sỹ Hoàng Vân học ĐH tại Nhạc viện HN và tại Nga, sau đó có lẽ là theo duyên phận trời định mà làm việc ở Nam Tư cũ là chủ yếu: Serbia, Macedonia, và ở Bulgary, Albania, loanh quanh vùng bán đảo Ban-căng. PS: Hoa sữa Hà Nội thì tôi cũng từng có những kỷ niệm có thể nói là ngọt ngào, từ thời là lính còn gần như trẻ con, khi mà trong những lần tranh thủ hiếm hoi chủ yếu lội về Hải Phòng ăn chực bu lại có đôi lần về Hà Nội - tất nhiên là còn bởi gì hơn sức hút của một thiếu nữ phố cổ Hà Nội (hô hô, ngày đói kém ấy nếu có cái gì có thể hút ta hơn cơm ngon mẹ nấu, tất chỉ là những ánh nhìn mời gọi của thiếu nữ Hà Nội trong những đêm Hà nội mùa này mùa hoa sữa/hương bay tỏa ngát đường Nguyễn Du mà thôi:emoticon-0136-giggl). |
Thêm về Tiếng nói Hà Nội, cho bác nào thích nghe rõ lời bài hát. Nói thêm rằng trong số những ca sĩ đã thể hiện bài này như Trọng Nghĩa, Trọng Tấn... tôi vẫn thích nhất nghe Quốc Hương hát với cái giọng đặc biệt của ông.
http://baicakhongquen.net/nghe-bai-h...oi-ha-noi.html Còn đây là video clip: http://www.youtube.com/watch?v=F_u7xYrOh8Y Cái video clip của VTV4 thật hay, nó cho ta gặp lại cầu Long Biên ngày chiến tranh, gặp lại những dáng thiếu nữ sao vuông trên mũ, súng trường K44 trên vai trên nóc cao ốc bên Hồ Gươm, những bóng dáng có sức động viên người Hà Nội một thủa và không thể bảo là không đáng gờm với các phi công lão luyện của Không lực Hoa Kỳ. Thấy lại những chớp lửa kiên cường đáp trả của Hà Nội. Chẳng cần phải là chuyên gia quân sự cũng có thể thấy được rằng các khẩu đội pháo nằm một chỗ, hỏa lực khá hạn chế, so với các máy bay siêu thanh trang bị bằng rocket và bom đủ loại từ bom phá tới bom bi... thì thất thế biết chừng nào, như thể con người chúng ta có thể tùy tiện giết chết những con kiến chậm chạp trên mặt đất vậy. Song lưới lửa phòng không Thủ Đô những ngày chống lại chiến tranh leo thang (escalation war) của quân đội Mỹ lại mãi mãi là nỗi khiếp đảm với tất cả các phi công dày dạn nhất của Không quân và hải quân Hoa Kỳ đã từng tiến hành các phi vụ trên bầu trời Hà Nội. Không chỉ bằng tên lửa SAM hay pháo cao xạ mà cả bằng lưới đạn súng trường cổ lỗ K44 hay tiểu liên K50 từ chính những cô gái Hà Nội mảnh mai. Để có được đêm pháo hoa rực sáng trên mặt Hồ Gươm ngày chiến thắng. Ôi, Hà Nội thân thương biết mấy của ta. |
Trích:
Rất mong Bác Nina được vui. Tiếng hát Mai Khanh trên Đài TNVN (VOV) - 66 năm trước đây, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Mai Khanh và Thương Huyền là những giọng hát đầu tiên vang lên trên sóng Đài TNVN “…Sau khi nhận được bài hát Ngọn đèn đứng gác Nhạc Hoàng Hiệp, phổ thơ Chính Hữu, anh Phạm Tuyên ký vào văn bản và nói với Phan Nhân cùng tôi: Các bạn đưa bài này đến nhờ Mai Khanh hát, chắc là hay. Tôi và Phan Nhân đi xe đạp đến nhà Mai Khanh ở phố Ngô Thì Nhậm. Anh cầm lấy bản nhạc và lướt nhanh mà rằng: Chất liệu bài này có vẻ gần với hát Chèo, nó mang dáng dấp điệu “Con gà rừng” ngày xưa tôi từng hát. Anh xướng âm một lần rồi lắp lời vào. Chúng tôi nghe đã thấy rất ngọt: Trên đường ta đi đánh giặc Dù về nam hay ta lên bắc Ở đâu cũng gặp Những ngọn đèn dầu chong mắt đêm thâu… Sau đó một tuần tôi cùng với Triều Dâng đến để nhắc lại anh về ngày giờ thu thanh bài hát đó. Vốn là diễn viên của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) ngay từ những ngày đầu mới thành lập, nên Mai Khanh rất nhiệt tình, sẵn sàng nhận lời và đến trước giờ vào phòng thu ở 58 phố Quán Sứ… Kỷ niệm ấy với Mai Khanh, tôi nhớ mãi”. (Trích Nhật ký). 66 năm trước đây, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Mai Khanh và Thương Huyền là những giọng hát đầu tiên vang lên trên sóng Đài TNVN chỉ với nhạc đệm rất thô sơ như đàn Banjoline, hay đàn Accordion,hoặc đàn guitare cũ kỹ. Họ cứ hát thẳng vào micro để phát thanh trực tiếp trong phòng truyền âm ở sau Nhà hát Lớn (đường Phạm Ngũ Lão bây giờ). Thuở ấy làm gì có ghi âm trước, nếu hát sai giọng, lỡ nhịp thì xin lỗi thính giả và hát lại. Hoàn cảnh ấy, bạn nghe đài rộng lượng mà thông cảm, tha thứ. Mai Khanh từng nói: Lúc đó sao mà thấy hạnh phúc thế, tiếng hát của mình được bà con cả nước nghe, sướng quá. Nghe một số bài hát qua giọng hát của NSND Mai Khanh (*) Bình Trị Thiên khói lửa (Tác giả: Nguyễn Văn Thương) Ngọn đèn đứng gác (Tác giả: Hoàng Hiệp-Chính Hữu) Người Hà Nội (Tác giả: Nguyễn Đình Thi) Nhớ về quê mẹ (Tác giả: Vân Đông) Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa (Tác giả: Nguyễn Văn Tý) Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Tác giả: Nguyễn Tài Tuệ) PGS, NSND Mai Khanh đã nhiều lần về thăm Đài TNVN và trò chuyện cùng anh chị em biên tập cũng như các nghệ sĩ. Ông tên thật là Mai Trung Ngọc (1923 – 2011), quê ở Hải Dương. Cái “gen” hát từ người mẹ, vốn hay hát Đúm, hát Ví nổi tiếng một vùng. Học hết Trung học, Mai Khanh lên Hà Nội và thi vào Trường Kỹ nghệ thực hành rồi làm nghề thợ điện. Sau đó vào làm ở xưởng Avia ở phố Phan Chu Trinh (khu đất của Bộ Tài chính hiện nay). Vừa đi làm vừa cùng bạn bè đi hát ở các hội Thể Thao Đông Dương cổ vũ cho phong trào thể thao yêu nước. Năm 1944 khi các quán Tân Nghệ Sĩ (ở Bờ hồ), Thiên Thai (ở Hàng Bông) và Thăng Long (ở Hàng Gai) liên tiếp ra đời, đã trở thành những tụ điểm cà phê ca nhạc đầu tiên của trào lưu âm nhạc cải cách vào các tối thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Những nơi này không thể vắng tiếng hát của Mai Khanh, Thương Huyền với những bản nhạc: Trương Chi, Đàn chim Việt, Giọt mưa thu, Suối mơ, Con thuyền không bến… Họ đã để lại những dáu ấn đặc biệt trong lòng người nghe. Năm 1946 Mai Khanh tham gia đoàn Kịch Giải Phóng. Ông đóng kịch hát Chèo trong vở “Chị Tấm anh Điền” và vở “Chị Trầm”. Năm 1949 Mai Khanh trở lại Đài TNVN khi đó ở Việt Bắc theo đề nghị của ông Trần Lâm và ông lại tiếp tục hát với Thương Huyền, Trần Thụ, Cầm Phong… Năm 1954 Mai Khanh cùng với các nghệ sĩ khác sang thu đĩa ở Trung Quốc. Sau khi về nước ông lại được cử đi Bắc Kinh học đại học thanh nhạc. Năm 1961 về làm chủ nhiệm khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia). Ít lâu sau Mai Khanh lại được cử đi học âm nhạc ở Kiev (Liên Xô cũ). Tôi đã được dự một buổi biểu diễn của Mai Khanh gần 2 tiếng đồng hồ ở Câu lạc bộ Đoàn Kết (chếch phía bên cạnh Nhà hát Lớn hiện nay). Ông hát những bài “Tây” nhưng rất rõ lời. Rất giàu suy nghĩ, tìm tòi trong biểu diễn sau thời gian học ở nước ngoài về. Hôm ấy sau khi nghe, nhạc sĩ Tô Vũ đã nói “Mai Khanh là người có công đưa thanh nhạc phương Tây hòa vào âm nhạc dân tộc, rất Việt Nam mà rất hiện đại”. Năm 1983 nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (Viện trưởng Âm nhạc) đã mời Mai Khanh vào TP Hồ Chí Minh và tham gia giảng dạy ở Đại học Thanh nhạc cho đến khi nghỉ hưu. Một loạt nghệ sĩ mang ơn ông, vì Mai Khanh đã góp phần đào tạo các nghệ sĩ nhân dân và nghệ sĩ ưu tú như: Thanh Huyền, Tường Vi, Kim Ngọc, Vân Khánh, Trần Chất, Doãn Tần, Tô Lan Phương, v.v… 40 năm Mai Khanh hát và gần 30 năm ông giảng dạy, chung sức với các bạn nghề và góp phần đưa phong trào âm nhạc của nước nhà vươn lên. Ông từng hát bên ụ pháo, bên chiến hào với những bài hát như: Nhớ về quê mẹ (Vân Đông), Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Bình Trị Thiên khói lửa (Nguyễn Văn Thương, Những ánh sao đêm (Phan Huỳnh Điểu)… Ông từng có mặt trong đại hội liên hoan sinh viên thanh niên thế giới ở Viên (Áo) năm 1959, từng lưu diễn ở 15 nước bầu bạn gần xa. Một giọng hát bền bỉ và gắn liền với sự trưởng thành của Đài TNVN. Chắc ít người biết rằng Mai Khanh còn là tác giả của ca khúc “Việt Miên Lào đoàn kết” và đặt lời mới cho bài dân ca quan họ “Nhất quế nhị lan” để trở thành bài “Thỏa nỗi nhớ mong” mà lâu nay ta thường nghe hát. Nghệ sĩ nhân dân Mai Khanh từ trần hồi 11h30 ngày 19/8/2011 tại TP Hồ Chí Minh. Ngày đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng- 22/8/2011./. Nhạc sĩ Dân Huyền Chú dẫn: (*) Xin các bác theo link nguồn: http://vov.vn/Home/Tieng-hat-Mai-Kha...118/184016.vov để download các bài hát nêu trên của nghệ sỹ Mai Khanh. |
Cám ơn bác Dị mở topic này, bởi những ký ức của những lời ca tiếng hát của các nghệ sĩ vang vọng mãi trong tôi…nếu đem so sánh một bài hát cụ thể như: XA KHƠI của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ thì cho tới nay có rất nhiều nghệ sĩ đã thệ hiện qua từng thời gian…Những lớp nghệ sĩ xa xưa như Tân Nhân, Tường Vi, Thanh Huyền. Kế đó là những Nghệ sĩ được ăn học ở nước ngoài như Lê Dung…Thế hệ trẻ ngày nay cũng rất tài năng như Như Quỳnh, Tân Nhàn, Anh Thơ… cũng thể hiện ca khúc trên rất mượt mà đằm thắm.
Khi tôi còn bé, tôi đã rất say mê những ca khúc viết về Hà Nội, song những ca khúc viết về biển vẫn luôn mạnh mẽ , ồn ào trong tôi, cũng có lúc mượt như nhung và da diết đến nao lòng. XA KHƠI đã cùng tôi trên ghế nhà trường phổ thông-hồi đó tôi chỉ có một cảm giác xa thẳm, mênh mang…Và XA KHƠI rong ruổi với tôi suốt quãng đường hơn 5 năm khoác áo lính. Nghệ sĩ Tân Nhân thực ra là người hàng xóm với tôi khá nhiều năm mà tôi đâu biết, con gái thứ hai của bà học cùng trường phổ thông với tôi, cô ấy kém tôi hai lớp. tôi luôn yêu quý những người sinh ra trên mảnh đất miền Trung đầy nắng, đầy gió (mà là gió Lào). Nếu như ai đã sống ở Quảng trị hẳn sẽ không bao giờ quên được cái nóng khô và khó chịu của gió Lào. Nếu so sánh Nghệ sĩ Tân Nhân với nghệ sĩ trẻ đồng hương của bà Như Quỳnh cùng thể hiện ca khúc XA KHƠI thì quả là rất khó…Thế nhưng tôi vẫn luôn mong muốn được nghe Bà hát bởi ấn tượng ấy là một lâu đài nghệ thuật đã hằn sâu trong tâm khảm cuả tôi. Ca khúc XA KHƠI ra đời năm 1962, nhanh chóng giành được sự yêu thích của công chúng trên sóng phát thanh sau này phổ biến rộng rãi. Đây là một trong những ca khúc kinh điển của thanh nhạc cách mạng Việt Nam và được các ca sĩ trẻ chọn làm đề tài thi Sao Mai. Xa khơi mang đậm chất dân ca Trung Bộ, trữ tình, mênh mang. Ca khúc được viết như lời tâm sự của một cô gái trong lúc xa khơi, gửi lời nhớ thương tới người "anh" đang ở bên kia vĩ tuyến. Bài hát thể hiện khát vọng thống nhất đất nước lúc bấy giờ… Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bời anh ơi! Gió lộng buồm mây ướm chân trời Biển lặng sóng, thuuyền em dong khơi Khoan giọng hò, thương anh cách vời Kìa biển rộng con nục con măng, lướt sóng liền đôi bờ tung tăng Con chuồn còn bay nơi nơi Con ráng chiều gọi bạn đường khơi Nắng tỏa chiều nay, thuyền về mái động chiều nay Nhìn phương nam con nước vơi đầy Thương nhớ thương nhớ anh ơi Ơi mênh mông sóng xô ru thuyền ta xa bờ Âm vang tiếng hò nhịp chèo ta mong chờ Thuyền ra xa khơi đưa nhịp chèo nối liền Đường đi muôn khơi mái chèo chung đôi miền Ơ mênh mông biển khôi câu hò thương nhớ Vang về miền Nam quê ta, biển dập dìu, biển tâm tình Biển nói lên lời sóng cả ta chung lứa đôi Ơi phong ba lướt xô mái chèo ta xa bờ Phong ba sóng cồn lòng ta luôn mong chờ Kề vai bên nhau nắng biển cùng mưa nguồn Kề vai bên nhau em kề vai bên anh thương Ơi anh ơi lời ca câu hò thương nhớ, nhớ thương Vang về cùng anh không xa Biển rộng ơi, biển rộng chung tình, Biển nói lên dùm bao ngày thương nhớ biển ơn (nhớ thương cách vời, ơ biển chiều nay) http://www.youtube.com/watch?v=KlWV6n-M7pY |
Kính bác cả từ rày đã thành chị cả QKTĐ (đi ọp mà chỉ uống coca-cola thì chả phải chị em thì là cáy rì?),
Em cũng rất thích nghe Xa khơi của Nguyễn Tài Tuệ và cũng chỉ thích nghe Tân Nhân hát. Nghe nói khi NS Nguyễn Tài Tuệ nhờ bà Tân Nhân (hơn NTT 2 tuổi) hát bài này, bà đã phải hát đi hát lại mấy lần NTT mới ưng (bà vặc NTT rằng "tau có hát sai nốt nào đâu mà cứ bắt hát đi hát lại rứa"), bảo rằng mới thể hiện hết cái tình của bài hát. Tuy nhiên, về cảm xúc với Xa Khơi thì em đã có bài viết từ trước rồi: http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=2846&page=4 Bác cũng đã đọc rồi mà (hơ hơ, thấy cả bác bấm thank đấy). |
Đọc topic này làm em nhớ đến thời đi học. Ngày đó, học sáng thì cũng tầm 12h là về, học chiều thì 12h cũng mới đi nên em thường hay ăn cơm trưa vào tầm 11 - 12 h và chuyên nghe chương trình "Dân ca nhạc cổ truyền" trên đài phát thanh. Nghe nhiều bỗng thành quen, yêu thích dân ca nào Quan họ Bắc Ninh, Hò Huế, Dân ca Nghệ Tĩnh...
Chẳng hiểu sao em lại rất thích bài "Bèo Dạt Mây Trôi" và cũng chẳng hiểu sao nó cũng gắn với cuộc sống công chức bèo dạt của em bây giờ :emoticon-0136-giggl. |
Trích:
Thay vì hát: Bèo dạt, mây trôi Anh ơi, em vẫn đợi vẫn chờ.... Thì hãy ca: Bèo bọt, lương ơi Eo ôi, lương vẫn vậy vẫn... bèo:emoticon-0107-sweat... |
Trích:
Yêu nhất là cái kiểu gì mà vừa mới ứ đấy, đã ừ ngay được ấy nhé. Ngày trước em dạy tôi bài hát quê em, thấy em hát, cái miệng dẩu ra trông rất ngoa, mắt nhìn mơ mơ mà lòng ta mềm hẳn dù có đang bực bội điều gì. Giờ thì thi thoảng cũng ư ử hát một mình: Trên rừng ba mươi sáu chim ối là thứ chim Thứ chim là chim chèo bẻo Thứ chim là chim chích chòe Trong quan họ có người trồng tre Người trồng tre cho tôi hỏi ơ là thứ tre Thứ tre là tre chẻ lạt Thứ tre tôi để làm nhà Trong quan họ có người trồng cà Người trồng cà cho tôi hỏi ơi là thứ cà Thứ cà là cà tim tím Thứ cà là cà xanh xanh Trong quan họ có người trồng chanh Người trồng chanh cho tôi hỏi ấy là thứ chanh Thứ chanh là chanh ăn quả Thứ chanh tôi để gội đầu Trong quan họ có người trồng dâu Người trồng dâu cho tôi hỏi ấy là thứ dâu Thứ dâu là dâu ăn quả Thứ dâu tôi để chăn tằm Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là chín nén tơ. Cũng có nhiều bài hát VN lấy tứ lấy giai điệu từ các câu hát quan họ. Có một thời bọn lính chúng tôi rất thích (có lẽ ảnh hưởng bởi cái câu thơ của Phạm Tiến Duật: anh đã tìm em rất lâu rất lâu/một cô gái chưa hề rõ mặt) cái câu hát uốn lượn như gió, thấm đậm chất dân ca: Anh đi tìm em chứ em ở nơi đâu/phải qua, qua bao núi qua bao nhịp cầu/phải qua, qua bao suối qua bao dòng sông sâu/để anh đi tìm/em, em ở đâu?. Em, em ở đâu giờ này? |
Phải công nhận cụ Ong bò vẽ thật sự đa tài, cái gì gì gi...cái chi cũng biết...
Góp với bác lời của một bài dân ca quan họ mà em học được từ một cô bạn vùng 36 làng quan họ. Chả là hồi học ngoại ngữ ở Hà Nội, trong một buổi văn nghệ cây nhà lá vườn nghe cô ấy hát, sao mà em đâm mê cái luyến láy, í a của người quan họ gốc đến thế, nó tuyệt vời hơn các ca sỹ hát quan họ trên đài rất nhiều ở chổ luyến láy ấy. Thế là Chủ nhật nào em cũng xung phong guồng xe đạp gần 30 cây số đèo nàng về miền quê quan họ, khi thì giúp gặt mùa, làm đất, dỡ khoai...khi thì chỉ về chơi không nhưng được các phụ huynh tín nhiệm lắm...và em đã học được mấy bài quan họ từ cô ấy. Chả là sau đợt gặp mặt tháng 4 vừa rồi dù không biết có ai ở miền quan họ không nhưng trong em nó cứ ngân lên khúc "Giã bạn". "Con nhện giăng mùng"... Không phải là quan họ nhưng người về để lại cho tôi biết bao thương nhớ. Xin chép tặng các bác bài "Con nhện giăng mùng" trong cuốn sổ tay ngày xưa nay đã ố vàng: Người về mà để con nhện i...ơ...nó mới giăng...ừ...mùng là giăng...ư...mùng. Đêm năm canh (a lính tình tang) là em luống chịu(ơ..ớ..)đôi ba người ơi (i hừ lá hôi hừ)... Đêm năm canh (a lính tình tang) là em luống chịu(i..ơ...ơ) lạnh (a) lùng cả năm. Quan họ trở ra (à) về. Có nhớ i...ơ. Có nhớ chăng(ô...là) đến chúng em chăng. Quan họ trở ra à về. Có nhớ i ơ. Có nhớ chăng ô là đến chúng em chăng? Ai đem (a lính tình tang) là đem người ngọc, ớ đôi ba người ơi(i hừ lá hôi hừ). Ai đem (a lính tình tang) là đem người ngọc thung a thăng nay a chốn à này. Quan họ nghỉ chúng em ra à về. Khăn áo i ơ ơ. Khăn áo đây ố là người gửi lại đây, quan họ trở ra à về. Khăn áo i ơ ơ, khăn áo đây ô là người gửi lại đây í i i. Chữ nhớ thương (a lính tình tang) là em xếp để ơ ơ đôi ba người ơi (i hừ lá hôi hừ). Chữ nhớ thương (a lính tình tang) là em xếp để i ơ dạ này, bao quên. Quan họ trở ra à về. Đến í hẹn ơ ơ. Đến í hẹn lên ô là đến hẹn lại lên. Quan họ trở ra à về. Đến hẹn í ơ ơ. Đến ơ hẹn lại lên...ô là đến hẹn lại lên........ Nhớ quá các bác ạ. Mong ngày Đến hẹn lại lên. |
Trên kia các bác mới nhắc đến NSND Mai Khanh. Phải xấu hổ mà thú nhận rằng em hoàn toàn không biết gì đến NS này, dù rằng hồi nhỏ đã nghe ông hát trên đài nhiều lần, nhưng không để ý là ai hát.
Đêm qua nghe đài TNVN lúc hơn 19h, bỗng nghe được đoạn băng lưu trữ của đài, p/v NSND Mai Khanh ngày xa xưa và phát lại bài hát "Ngọn đèn đứng gác" nổi tiếng do ông trình bày. Hungmgmi xin mời các bác cùng nghe lại, tưởng nhớ đến một giọng ca vừa từ giã chúng ta gần 1 tháng trước: |
Trích:
Từ 1965, xa Hà nội đi sơ tán, mỗi khi nghe giọng Mỹ Bình: “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm. Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội….” Các cô, các trò đều ngước về phía Hà nội, đau đáu nỗi nhớ. Các cô nhớ người yêu, các trò nhớ cha, mẹ…và ai cũng mong chiến tranh sẽ qua mau. Đến khi xa quê hương du học, ca khúc lại làm lòng lại quặn lên nỗi nhớ nhà, nhớ Bờ Hồ, kem Hàng Vôi, những hàng Sấu, Cơm nguội…con đường đi học, bạn bè thân quen…những ngôi trường bằng phên, lá, rơm và bùn, những hầm chữ A, mũ rơm ngày sơ tán…và nhiều nhiều nữa. “Hà Nội đẹp sao! Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng. Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng .…” 1969, học lớp 10, lần đầu được nghe bản nhạc không lời “Hồn tử sỹ“ trong những ngày tang Bác, rồi những năm sau, mỗi lần giỗ Bác…cho đến giờ mỗi khi nghe nhạc điệu này, lại nhớ đến những ngày tháng 9 năm đó, đám học sinh cuối cấp dầm mưa đợi đến lượt vô viếng Bác, nhớ cái ngày 8/9 giữa Quảng trường nắng trang trang nghe giọng Quảng trị của Bác Lê Duẩn: “Vĩnh biệt người…”. Bao nhiều năm chỉ biết tác giả ca khúc là NS Lưu hữu Phước mà không hề rõ lai lịch và lời của nó, chỉ giờ đây, nhờ có Google mới biết bài ca đó được dùng chung cho liệt sỹ cả 2 phía. Rồi cuộc sống mưu sinh đưa đẩy, khoảng 84-85, bỗng nghe giọng tốp nữ: “Dù có đi bốn phương trời…” Nỗi nhớ bỗng dâng trào mà có lẽ chỉ có những “người xưa” mới hiểu: “Nhớ những cơn mưa dài cuối đông Áo chăn chưa ấm thân mình….” “Nhớ những con đê thành lối xe Bước chân năm tháng đi về Và nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya Hướng ra Đống Đa Cầu Giấy…” và: “Ôi nhớ chiều 30 tết Chen giữa đào hoa tươi thắm Đường phố đông vui chờ đón Tân niên Là phút thiêng liêng lắng nghe thơ Người..” Thu – đông 1987, đêm cô quạnh ở CCCP trong giai đoạn khủng hoảng, thổn thức mà nhớ: “Có tự bao giờ Hàng me xanh ngắt Mà nay đứng đó Cho em làm thơ…” Cho đến giờ, dù là ai ca, dù phổ nhạc kiểu gì, khi nghe 4 ca khúc đó Mì vẫn luôn thấy nhớ, nhớ những ngày xưa, ngày xưa ơi… |
Những ngày xa bố, mẹ theo anh chị đi sơ tán là những ngày tháng lôi thôi, lếch thếch, ăn đói và mặc không đủ ấm...Đã vậy mọi thứ thiếu thốn đến khổ ở một nơi chỉ cách Hà Nội có hơn 50km. Chiều về, khói lam không bay khỏi mái bếp lợp rơm, hai chị em vào bếp nấu cơm-chị tôi không biết nấu bằng rạ nên khói um, mắt cay xè. Thức ăn thì duy nhất có bắp cải luộc mà không hiểu sao loay hoay nấu hết cả giờ đồng hồ? Vật chất đã vậy, các món ăn tinh thần thì sao? cũng đơn giản như vật chất thôi! Thông tin duy nhất của thôn tôi ở là chiếc loa phóng thanh-phát đi những bản tin thời sự về chiến sự xảy ra ở miền Nam, chiến sự leo thang của Mỹ xảy ra ở miền Bắc, thi thoảng được nghe những bài hát trong chương tình của đài tiếng nói Việt nam. Khi ấy, có lẽ đối với một cậu bé như tôi ấn tượng nhất là bài hát: Bài ca Hà Nội - Vũ Thanh và NSƯT Tuyết Thanh thể hiện. Khi đó, tôi chưa có cảm nhận về một Hà nội hào hùng chống lại và chiến thắng giặc Mỹ trong cuộc chiến tranh leo thang của người Mỹ đối với miền Bắc VN. Song, lúc đó trong tôi nỗi nhớ nhà, nhớ Hà Nội nhiều hơn tất cả...
Mỗi lần được nghe lại bài hát này, trong tôi lại hiện về đầy đủ những kỷ niêm, hồi ức đã qua... Mời các bác nghe lại http://www.youtube.com/watch?v=-SHVKjyznrY Hồi đó tôi biết khi về khuya, đài tiếng nói Việt Nam còn có nhiều chương trình khác: Tiếng thơ, đọc truyện đêm khuya...Nhưng rất chán là sau 21giờ là đài truyền thanh của thôn bị tắt??? Ngày đó, anh tôi đã cho tôi một chiếc đài galen, khi đó nó là một kỷ vật của tôi, bởi chiếc loa được tạo từ cục nam châm quốn dây đồng và dặt vào trong một chiếc ống bơ (vỏ hộp sữa đặc có đường) chiếc đài bắt được sóng của đài truyền thanh-đài tiếng nói VN trong khi cả thôn không ai có! tuy rằng chất lượng lọc âm kém nên nghe tiếng lạo xạo còn rõ hợn tiếng nhạc đàn bầu trong chuyên mục "tiếng thơ"... Đúng là "ngày xưa ơi" các bác ạ! |
Cuối tuần được nghỉ, thơ thới lên mạng nghe ca nhạc. Vòng vèo thế nào Youtube lại dẫn đến chỗ có bài Bạch Long Vĩ đảo quê hương của Huy Du. Thấy bây giờ có nhiều cách thể hiện, thậm chí có đến mấy dị bản lời ca. Tuy vậy tôi vẫn thích nghe hơn cả cách thể hiện từ ngày trước - tốp nữ, đệm đàn tam thập lục. Tiếng hát nghe tình cảm, tha thiết, giai điệu dịu dàng, gợi nhớ biển trời mênh mông của quê hương.
Ký ức lại đưa tôi về hơn 40 năm trước. Tết năm 1970, cha tôi đưa mấy chị em chúng tôi đi chúc Tết bộ đội Trung đoàn 50 - đoàn Quyết Thắng - đóng quân ở Đồ Sơn. Cha tôi khi đó vừa mới được đề bạt lên Phó tư lệnh BTL 350 và cuối năm trước vừa mới được thăng quân hàm trước niên hạn lên thượng tá nhờ những thành tích trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, 1965-1968. Tết năm ấy cụ thay mặt Bộ tư lệnh sư đoàn ra thăm và mang quà úy lạo cho lính trung đoàn trực chiến ngoài Đồ Sơn. Tôi thì là con út trong nhà và có lẽ cha tôi vẫn kỳ vọng nhất tôi nối theo binh nghiệp của Người nên vẫn thường cho tôi đi theo cụ tới các đơn vị dưới quyền - để tôi làm quen với cuộc sống bộ đội - nên lần này cho bám theo là chuyện cũng bình thường. Các chị tôi thì cụ chỉ bảo: Ra hát cho bộ đội nghe. Ngoài Đồ Sơn, các chị tôi (người thì đang học ĐHBKHN, người thì học ĐH Tổng hợp HN) hát Bạch Long Vĩ đảo quê hương - bài hát mà chúng tôi rất thích - cho lính nghe trên đỉnh cao điểm 70, nơi bao quát cả một vùng trời biển mênh mang. Không có nhạc đệm, chỉ có gió xuân từ biển mơn man trên các cành lá, nhẹ nhàng rì rào hòa theo. Hát có hay không, tôi không biết, chỉ thấy lính vỗ tay hoan hô ghê lắm (một chị tôi mấy năm sau về HP làm việc đã đoạt giải nhất đơn ca hội diễn thành phố, không chỉ một lần và vẫn hay hát trên đài HP). Hát hò với lính xong thì mấy anh lính trung đoàn dẫn mấy chị em chúng tôi đi dạo chơi. Ấy là lần đầu tiên chúng tôi vào đến tận cùng bán đảo Đồ Sơn bởi trước đó chỉ quanh quẩn ngoài bãi khu I hay quá lắm là được ra đến khu Đồi Độc có cái sân bay dã chiến cũ của Pháp để lại là cùng (Khu II và khu III ngày ấy chỉ dành cho cán bộ từ TW về nghỉ và do quân đội kiểm soát). Ra đến tận mũi cuối cùng nơi có Lâu đài của vua Bảo Đại, bây giờ là chỗ Casino Đồ Sơn. Ở đấy, chỗ bây giờ là cái bãi rộng trước Casino, có một ụ pháo với một khẩu sơn pháo 75 ngạo nghễ giương nòng hướng ra biển, phía cuối hai càng pháo thúc vào thành ụ pháo có chèn 2 bó cành cây to để hoãn xung pháo giật mỗi khi nhả đạn. Cũng gần đó là cái hầm bê tông rất sâu đào cắm chếch xuống đồi, là nơi lính pháo, thông tin, công binh trú và chứa đạn cho pháo. Nhìn xuống phía dưới là đảo Hòn Dấu, cách chừng 1 km, với cái tháp đèn biển màu trắng mốc nhô lên. Anh lính đẫn chúng tôi đi chơi đã kể cho chúng tôi chuyện khẩu pháo ấy đã lập công hạ trực thăng Mỹ mấy năm trước đó, dạo đâu là vào năm 1967 hay 1968 gì đó, giờ tôi cũng không còn nhớ rõ nữa. Hôm đó máy bay Mỹ vào đánh HP, một chiếc trúng đạn lao ra tới đây thì phi công bật dù. Anh em đang trong hầm lao ra ngay, vẻn vẹn chỉ có 5 người đang trong hầm khi đó: một lính công binh, một thợ điện, một lính thông tin và hai pháo thủ. Ụ pháo này là chỗ gần nơi phi công nhảy dù nhất nên mọi người lao đến đây, song tên phi công lái dù hay gió thổi thế nào mà lúc anh em ra tới ụ pháo thì y lại rơi hơi khuất ra sau đảo Hòn Dấu, không ngắm thấy được. Anh em quyết định kéo pháo ra, đẩy dọc theo đường viền mũi bán đảo (dùng cho xe kéo pháo ra các trận địa pháo bố trí rải rác quanh mũi bán đảo) cho tới khi nhìn thấy điểm rơi của phi công Mỹ. Pháo còn đang trên đường thì nhìn thấy phi công ở phía dưới biển và trực thăng Mỹ đã vào tới nơi đang thả thang dây. Trên trời thì phản lực cũng đã kéo đến bắn phá hỗ trợ bọn trực thăng cứu hộ song đang còn bị lính ta trên cao điểm 70 bắn trả dữ dội. Anh em quyết định dừng pháo vì không còn kịp đẩy tới ụ pháo kế tiếp. Một pháo thủ nhảy vào, quá gần và phải bắn góc âm nên họ quyết định ngắm bắn qua nòng. Ác cái là máy bay đang quay dọc theo hướng ngắm bắn nên mục tiêu khá nhỏ. Phát thứ nhất nổ tung phía dưới chiếc trực thăng đang treo còn tên phi công thì đang lóp ngóp leo trên thang dây. Cột nước vừa tan thì thấy gã phi công đã rơi lại xuống nước và đang cố bám thang dây leo lên lại. Không được kê chèn nên pháo giật rất mạnh, anh lính bắn quả đạn thứ nhất bị pháo giật lại đập vào ngã gục, máu tuôn đầm đìa trên mặt, ngất tại chỗ. Anh em bế đưa xuống rãnh thoát nước ven đường vì máy bay phản lực phát hiện ra đại bác bắn bắt đầu lao xuống bắn. Người thứ hai không ngần ngại nhảy vào ngắm bắn tiếp. Thật may vì đúng lúc đó gã phi công bị bắn hạ đã gần vào được trong trực thăng và máy bay đang quay ngang để chuẩn bị bay ra. Chậm 1-2 giây nữa thì chúng thoát. Phát đạn thứ hai bắn trúng phần đuôi chiếc trực thăng làm nó cháy đùng đùng và lao xuống biển, mang theo cả phi đội đi cứu lẫn tên giặc lái vừa được giải cứu. Cũng rất may là sau lần bắn trước, pháo giật lại trên mặt đường đã tỳ được một bên càng vào vách ta-luy nên phát bắn thứ hai giật không còn mạnh nữa, dù cũng đủ quật ngã người bắn thứ hai song anh ấy chỉ bị choáng nhẹ. "Lần ấy đơn vị được huân chương chiến công!" - Anh lính kể chuyện hào hứng khoe - "Đại đội được khao thưởng một con bò theo đúng mệnh lệnh của Bộ Tổng đấy!". Đã hơn 40 năm, chú nhóc trố mắt nghe chuyện năm đó giờ đầu cũng đã điểm bạc và cũng đã có gần 40 năm quân ngũ gian khó, vẫn còn nhớ cái gương mặt ngời sáng niềm tự hào không dấu giếm của anh lính kể chuyện năm nào, và vẫn nhớ như in cái dáng hùng dũng của khẩu sơn pháo - con voi vươn vòi canh chừng biển quê hương trên mũi đất Đồ Sơn ấy, chú voi trong các câu đồng dao học từ thủa bé voi là voi ơi/ta đi đánh nhé/voi gầm voi ré/voi xé tơi bời/ta bế ta bồng/voi lên ta vác/vai ta vai sắt/chân ta chân đồng... Sau này, khi đã vào học trường sĩ quan, những đợt nghỉ hè về nhà tôi cũng còn nhiều dịp quay lại Đồ Sơn nghỉ tại Trạm Tiếp gia (đón tiếp gia đình bộ đội đến thăm) của Trung đoàn do một cô bạn gái và mẹ của cô ấy quản lý (Má Chử - bà là cấp dưỡng và là mẹ nuôi của tất cả bọn trẻ con chúng tôi ở nhà trẻ của Sư đoàn nơi chúng tôi sơ tán ngày còn bé, mà một trong số những đứa trẻ ngày ấy nay đã là Ủy viên TW, vừa mới rời Tỉnh ủy Quảng Ngữa nhà Hổ gừ về làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Còn được nghe nhiều câu chuyện (do chính những người trong cuộc kể) về những năm tháng chiến đấu anh dũng bảo vệ HP hồi chiến tranh phá hoại của Trung đoàn. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái bài hát truyền thống trung đoàn mà đội văn nghệ Trung đoàn tập hát dạo ấy ở khu nhà Tiếp gia: Đoàn Quyết Thắng là những người con từ bốn phương trời với súng phòng không tiến về biển khơi Đoàn Quyết Thắng mang trong tim dòng máu anh hùng Bao năm qua đã từng đánh quân giặc Pháp, chiến công lừng lẫy trên khắp chiến trường Trận Thái Bình, Hưng Yên năm xưa, máu quân giặc còn loang trên sông Bọn giặc Pháp khiếp vía trên đường 39, đường 5 chiến công còn vang ... Truyền thống vinh quang của Quân đội nhân dân hình thành từ chính những chiến công của những người lính anh dũng, kiên quyết tiến công ấy. PS: Bài này do Lê Dung hát cũng hay. |
Trích:
Đó là bài hát Người mẹ và Thành phố biển của nhạc sĩ Hồng Đăng. http://baicadicungnamthang.net/nghe-...887/7/6/4.html Lần tìm trước đã không thấy, dù cũng đã rất cố, chắc là mới được đưa lên sau đó. Chỉ là sao nghe lại bài này lại không thấy hay như trước nữa mới lạ. Ngày xưa, những năm còn trẻ thì tôi chỉ được nghe chị tôi hát ở nhà và nghe đài Hải Phòng phát bài này, hình như là tốp nữ xí nghiệp chị tôi hát và người lĩnh xướng là chị tôi thì phải. Lâu quá rồi cũng không còn nhớ nữa. Chị tôi hồi ấy thường hát bài này, và với tôi thì chị tôi hát tình cảm hơn, như gửi gắm cả vào câu hát tình yêu thành phố quê hương của mình. Những ngày ấy còn chưa là người Hà Nội, thành phố quê hương (với biết bao kỷ niệm đẹp đẽ thời học sinh, nơi có cả thời thơ ấu gần như trong đạn bom) là một cái gì đó rất khó tả trong tâm trí một gã lính xa nhà như tôi. Y như trong câu thơ khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn vậy. Tình yêu với thành phố quê hương của tôi có lẽ dày dặn lắm, đến nỗi cho đến tận bây giờ không còn trẻ nữa mà mỗi lần lâu lâu mới về thành phố, từ trên tàu đặt chân xuống ke ga là đã thấy một cảm xúc rất khó tả dâng lên trong lòng, vừa ấm áp, vừa bồi hồi. Nó bắt nguồn có lẽ từ các cuộc phiêu lưu con trẻ với đám trẻ con trong xóm lang thang khắp các phố xá, thám hiểm mọi ngóc ngách của thành phố từ thủa còn chưa đi sơ tán, sau đó lại tiếp nối bằng những cuộc lai nhau bằng xe đạp gấu thám thính mọi ngõ ngách, xó xỉnh của Hải Phòng hồi mới vào cấp 3 với cậu bạn nối khố bây giờ đang là Chủ tịch thành phố (anh cu này ngày trước cũng học ở LX, ĐHBK Minsk). Từ những đêm trắng đi tuần tra cùng thanh niên cờ đỏ của khu phố Ngô Quyền canh các bãi hàng bốc từ Cảng lên đề phòng phá hoại những năm chiến tranh, từ mối tình đầu ngượng ngập... tình yêu thành phố cứ thế định hình dần, như một phép cộng dồn các cảm xúc không bao giờ quên của các cuộc chia ly và đoàn tụ, với gia đình và biết bao bạn bè đã tạm buông bút để cầm súng lên đường chiến đấu, của những nỗi lo lắng thắt ruột của tuổi thơ ấu khi từ xa nơi sơ tán nhìn về những cuộn khói đen bốc lên từ đám cháy của Sở Dầu bị dội bom, của những nỗi nhớ không nguôi những chiều tà từ đỉnh Sơn Đào trong dãy đồi núi của khu Núi Đèo - Thủy Nguyên nơi trại trẻ sư đoàn sơ tán nhìn về thành phố, đèn của các con tàu đậu trong Cảng Cấm bật dần, chạy lan ra tít tắp cửa sông, mờ dần trong sương chiều đang xuống. Thành phố biết bao nhiêu thương đau và anh dũng của tôi. Ngọt bùi cay đắng vẫn tiếng ru à ơi. |
Ngày còn bé, đi sơ tán bên Thủy Nguyên với nhà trẻ của Sư đoàn (từ 12-9-1966 đến hết hè 1968), cứ 2-3 tuần thì tôi lại được các chú các cô trông trẻ cho về HP thăm nhà một lần. Những thời kỳ máy bay Mỹ đánh dữ thì có khi 1 tháng mới được về một lần. Là bố mẹ tôi xin phép trước các cô chú sĩ quan quản lý trại trẻ cho tôi. Về từ chiều thứ bảy, đi bộ hơn 10 km, chiều CN thì chừng 3 rưỡi chiều lại bắt đầu rời nhà đi để sang đến trại còn kịp bữa tối CN. Bao nhiêu lần như thế, và cứ ra đến bến Bính, khi phà bắt đầu rời bến thì thế nào cũng nghe thấy loa truyền thanh phát nhạc hiệu mục Trả lời thư thính giả lúc 4 giờ chiều CN của đài truyền thanh Hải Phòng với nhạc hiệu là bài Thành phố chúng ta, nhà máy chúng ta:
Trên sông Cấm khi sương tan Đàn cò trắng bay sang ngang Là khi chúng ta mừng vui đón xuân sang Lang thang trên mạng tìm tài liệu và nghe hát, thế nào mà YouTube lại đưa tôi đến bài hát ấy, nó gợi nhớ vô cùng những năm tháng thơ ấu đi sơ tán xa nhà, xa mẹ xưa. Tôi khi đó là đứa lớn nhất trại - anh cả của một lũ lít nhít chừng 40 đứa từ 4 đến 11 tuổi, thảy đều là con em của sư đoàn mà bố mẹ thì hoặc đang chiến đấu bảo vệ thành phố hoặc đang vào Nam chiến đấu. Vẫn nhớ mỗi lần tôi xin bố tôi cho mượn cái đài bán dẫn Hồng Kỳ 2 băng (do ông chú tôi xin được tiêu chuẩn của tướng Trần Văn Trà mua cho bố tôi), cứ chiều tối là rất nhiều đứa trong nhà trẻ lại xúm lại với tôi để nghe đài Sài Gòn và đài Tiếng nói Tự do (mãi đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái câu: Các bạn đang nghe Tiếng nói Tự do, phát thanh trên tần số xxx ki-lô-xích, sau đây Tiếng nói Tự do trình bày phần tin tức, tít tít tít tít tít), bất chấp các chú trông trại cấm đoán. Đấy là những đứa có cha đang chiến đấu trong Nam. Chúng tôi nghe mục phát thanh thông báo danh sách những cán binh Bắc Việt bị bắt hoặc bị giết của đài Sài Gòn và đài Tiếng nói Tự do ạ. Đã hơn 40 năm rồi mà tôi không sao quên được những lần ấy, không quên được những nét âu lo già dặn hiện rõ trên khuôn mặt trẻ con gày gò vì thiếu đói của chúng khi chăm chú nghe đài cũng như nỗi vui mừng không dấu diếm khi trong bản tin không có (và chưa bao giờ có) tên của cha chúng. Sau này thì tôi biết rằng cha nhiều đứa trong chúng đã không bao giờ trở về sau ngày chiến thắng, như các em Thuần và Mai 2, con cô Trang, Hiền và Hải ba phay.... Các chú ấy đã mãi mãi nằm lại đâu đó trong Nam hay trên những cánh rừng Trường Sơn xanh tím ngăn ngắt nếu nhìn từ đường QL 1 lên. Nhớ quá, những năm tháng đã xa vời vợi ấy. Các em ơi, giờ này đang ở đâu? |
Trích:
Còn đài TNVN cũng có tiết mục thông báo tin tức tử sĩ này nhưng ngắn gọn hơn. Chính vì thông tin trên đài TNVN mà gia đình Kóc đã biết được sự hy sinh của người cậu ruột tại miền Đông Nam Bộ vào năm 1966. Chương trình này phát hàng đêm khoảng 11h khuya. (Lâu quá rồi nhưng chắc là vậy!) |
Trích:
Xem bức ảnh này CK bỗng nhớ tới một bài hát rất hay của nhạc sỹ An Chung thời chiến tranh chống Mỹ. Một bài hát toàn những ca từ hết sức mộc mạc, giản dị: cày bừa, cấy lúa, phân gio, đắp mương, tát nước... nhưng nét nhạc lại vút bay, thanh thoát, thấm đượm tình người và tinh thân lạc quan CM. CK còn nhớ, ngay khi phát sóng lần đầu trên đài phát thanh, bài hát đã lập tức được đón nhận nồng nhiệt cho đến suốt thời gian dài kháng chiến. " Từ ngày anh đi việc đồng em giỏi giang Ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hàng Đào đắp mương dẫn nước quanh làng Tiếng hát "Ba đảm đang" ... Nhiều người đã hát bài này, nhưng có lẽ hay nhất là giọng nữ cao trong vắt của NSND Thanh Huyền Và giọng nữ trung đầm ấm, truyền cảm của NSND Thu Hiền |
Bài hát ''Bạch Long Vĩ đảo quê hương" của Huy Du là một bài hát hay, tình cảm, ca ngợi hòn đảo xa xôi tươi đẹp trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước đầy sóng gió gian khổ. Tôi đã được đọc ở đâu đó rằng có cô gái thanh niên xung phong đã tình nguyện xin ra đây phục vụ xây dựng đảo một phần cũng do cô rất yêu bài hát " Bạch Long Vĩ đảo quê hương ", bài hát này đã mang lại cho cô niềm lạc quan, yêu mến cảnh vật và con người nơi đây.
Một bài hát nữa của những năm tháng xa xưa, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy lạc quan hào hùng là bài hát " Người Châu Yên em bắn máy bay" của Trọng Loan. Bài hát này khi đó cũng được phổ biến rộng rãi không kém bài hát ''Bạch Long Vĩ đảo quê hương", thường được phát trên đài TNVN những năm 66-70. Ở các hiệu sách, quán báo lúc đó các bài hát hay và nổi tiếng như bài hát này thường được in vào những tờ nhạc bướm bằng bìa mà khi gấp đôi lại nhỏ bằng cỡ bao thuốc lá rất thuận tiện cho việc cất giữ và mang theo người. Nhịp điệu bài hát trong sáng, vui tươi, rất nữ tính và mang âm hưởng các làn điệu dân ca dân tộc Thái ở Yên Châu, tỉnh Sơn La, thường do các tốp ca nữ thể hiện. ..." Con gái trắng nõn những búp tay, Em có dám bắn máy bay? Bắn ngay! Nếu không bắn quân Mỹ hung ác ngay Bom đạn rơi vào nương ruộng này. Dân quân Châu Yên ta Vừa làm nương vừa bắn máy bay Mỹ rơi Tây Bắc ta mừng vui chiến thắng." Cũng những năm tháng này có một bài hát khá hay về thành phố Hải Phòng, quê hương chốn cũ của bác Ngbinhdi, nơi tôi cũng đã sống hơn 10 năm trời. Trong bài hát có những địa danh của HP như cầu Thượng Lý, nhà máy Xi măng, đường Trần Phú, Kiến Thụy, Thủy Nguyên ...Đây có lẽ là 1 trong những bài hát đầu tiên về HP, bài hát nổi tiếng "Thành phố Hoa Phượng Đỏ" thì mãi sau này mới có. Đó là bài hát "Hải Phòng đất cảng thân yêu"của nhạc sĩ Tân Huyền do ca sỹ Kim Định thể hiện http://baicadicungnamthang.net/nghe-...g-than-yeu.htm |
Ngày còn bé, đi sơ tán ở Thủy Nguyên - Hải phòng. Vào lớp, thấy quản ca của lớp là một cậu bạn dân làng đó dạy cả lớp hát mấy bài hát khá lạ với lũ trẻ thành phố lơ ngơ chúng tôi. Mấy bài ấy là thế này:
1. Hai mươi lăm tháng Mười, Thủy Nguyên năm xưa anh dũng Toàn nhân dân Thủy Nguyên căm hờn vùng lên đấu tranh Hai mươi lăm tháng Mười, còn mãi trong lòng ta Cướp lấy súng quân thù, thắng lợi ngày mai về ta... Cũng không lạ, là các bài hát truyền thống của địa phương, đâu chả có - Quảng Bình thì có Quảng Bình quê ta ơi, Hải Phòng thì có bài này (chắc còn có từ lâu trước bài Cô gái Hải Phòng đi trên cầu Thượng Lý - mà bác Miền Trung đã đưa lên trong post trước): Hải Phòng quê tôi trìu mến/Có nhiều sông uốn khúc chảy quanh/Biển khơi mênh mông dạt dào/Thuyền ra khơi cá tươi đầy lưới/Bạch Đằng ngân vang truyền thống/Đánh giặc Nguyên tan trên dòng sông..., Hà nội thì thôi rồi, nhé. Lạ là cái bài hát thứ hai này cơ, trước đó chưa nghe bao giờ. 2. Hợp tác xã a là nhà của ta Ruộng nương tốt tươi, ta làm cho chúng ta Hợp tác xã là một đại gia đình Tình giai cấp chúng ta chan hòa ... Tôi thách bác nào tìm được gốc gác bài này, hơn thế nữa là file mp3 của bài hát này đấy! Nhớ lại mấy cái bài hát ấy, tự dưng lại nhớ một chuyện, có lẽ chả ăn nhập gì, song cứ kể ở đây - cứ nhờ 4R giữ hộ, biết đâu có lúc lại cần lục lại - nhớ ra thì gõ lên, ghi vội lại thôi. Ngày sắp lên đường ra nước ngoài, tôi cố thu xếp thời gian để đảo qua về quê 2 ngày. Ồ, việc còn đầy ra đấy, song phải về. Về thắp hương lạy tổ tiên trước khi ra nước ngoài học tập, đúng rồi, song chưa phải là cái quan trọng nhất. Tôi về, nói với ông bác ruột đã già, đã về hưu, xin ngủ với bác 2 đêm. Xin bác kể ngày bác đi tù cải cách. Bác tôi, nguyên phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh thời chống Pháp, Ủy viên thường trực ủy ban tỉnh (ghép từ tỉnh cũ với hai tỉnh khác) suốt mười mấy-hai chục năm thời hòa bình, đảng viên hơn 40 năm tuổi Đảng, húng hắng ho bảo: "Mày biết làm gì hở con?...". Tôi chỉ nói rằng: "Thưa bác, ngày con vào Đảng, được học lịch sử Đảng, trong cái cuốn con được học ấy, trận đánh giết mười mấy thằng Tây cũng được ghi đến mấy dòng, riêng chuyện kia, chỉ vẻn vẹn có một câu. Vì thế cứ mông lung chưa rõ. Con đi lần này, về không chắc còn gặp bác (ngày tôi về nước được mấy tháng thì đã đến kỳ về quê sang cát cho cụ), con muốn bác kể lại những ngày ấy cho con, để con truyền lại cho con, cho cháu... Thế hệ chúng con cần biết những bài học sai lầm ấy, để sau này không bao giờ vấp phải lại". Hai đêm ấy, trong những cơn ho khan, bác tôi đã kể lại, những điều mà không chỉ chúng tôi mà chắc chắn rằng thế hệ con, cháu sẽ vẫn còn phải học, không bao giờ được quên và không được phép lầm lẫn. Là bài học viết ra bằng máu đấy. Tôi thì tin chắc rằng, một người cộng sản chân chính sẽ phải biết học từ những bài học lịch sử những kết luận dùng cho hiện tại và tương lai. --- Có vẻ như những cái ta học được, áp dụng dập khuôn, đều không cho kết quả tốt nhất nếu như không nói là hỏng. Cả đời, dù chỉ là chuyện nhỏ tôi cũng thấy đúng vậy. |
"Xin mời các bạn nghe chương trình văn nghệ của đài tiếng nói Việt Nam" và tiếp sau đó là bản nhạc dạo của chương trình - Bản nhạc được một nghệ sĩ nào đó độc tấu đàn bầu: "Tiết mục - Tiếng thơ"...Tiếng đàn bầu lúc trầm lúc bổng, réo rắt trong đêm khuya...Trải qua rất nhiều tháng năm, nay được nghe lại thấy lòng nhớ về một ngày xưa thật da diết.
Kính mời các bác nghe: http://www.youtube.com/watch?v=pSgOp...eature=related |
Liên danh NH Quân đội (MBamc) và ECILand mở gói hỗ trợ cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình mua CHCC trong dự án Everville với khoản hỗ trợ 70%+ lãi suất thấp trả dần trong 5-15 năm. Tổng số tiền KH phải thanh toán chỉ từ 560tr cho CH từ 48m2-100.5m2. Dự án gồm 9block, DT dành cho công viên và trường THCS Công lập Bình Tân là 1,5Ha. Tọa lạc ngay TT quận Bình Tân.
Quý khách nhu cầu xem nhà mẫu hoặc biết thêm chi tiết xin liên hệ: BQL dự án - NH Quân đội ĐC: 538 CMT8, P11, Q3, TPHCM ĐT: 0854045601 - 0854045602 Mr Tiến |
Ngày tôi còn bé xíu, mỗi kỳ nghỉ hè, anh trai của tôi được tham gia sinh hoạt hè trong tổ chức Đội của làng, tôi thường "bám càng" để xem các anh chị múa hát, rất vui. Một bài hát dùng cho tốp ca, có múa minh hoạ rất ý nghĩa, nhưng nay không thấy trong các băng đĩa dành cho thiếu nhi: Em trồng hoa hồng bên anh
Em trồng hoa hồng bên anh Lòng chúng em ghi nhớ đời đời Em được nghe chuyện năm xưa Người chiến sĩ đã vì non sông. Nếu các anh mến yêu vẫn còn hôm nay Anh sẽ dạy em nhiều bài hát rất hay Em tung tăng nhảy múa bên anh Người chiến sĩ anh hùng... (Khi tôi lớn lên thì bắt đầu đói dữ, không màng đến hát hò gì nữa) |
Là một người trong muôn vàn những người yêu thích bài hát Tình ca Tây Bắc, tôi xin đưa lên đây bài viết giới thiệu tác giả cùng bài hát đã nổi tiếng cách đây hơn nửa thế kỷ trước:
Tình ca Tây Bắc Phỏng thơ: Cầm Giàng Nhạc: Bùi Đức Hạnh http://i1073.photobucket.com/albums/...untitled-1.jpg Bâng khuâng nỗi lòng nhịp sáo ai đưa khúc ca rộn vang… Nhớ lại những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước, bài hát này là một trong những bài rất nổi tiếng. Tôi khi ấy còn là một cậu thiếu nhi, nhưng lại rất thích hát những bài dành cho ngươì lớn. Và tôi đã sớm thuộc rồi say mê bài này. Khi ấy, tôi chỉ biết thích nghe, thích hát. Sau này lớn lên mới cảm nhận được vẻ đẹp, sức quyến rũ cuả Tình ca Tây Bắc. Nghe bài hát, bất cứ ai chưa đặt chân đến Tây Bắc cũng có thể hình dung được cảnh sắc sinh động, độc đáo, nên thơ của mảnh đất vùng cao này. Rừng cây xanh lá muôn đoá hoa mai mừng đón xuân về/ Vui trong nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa/ Ngập ngừng bên suối nước reo quanh mình như muôn tiếng đàn/ Bâng khuâng nỗi lòng nhịp sáo ai đưa khúc ca rộn vang… Đó là toàn bộ đoạn A- cũng là đoạn mở đầu của bài hát. Bằng tiết tấu dàn trải với 4 câu nhạc tương đối dài, phần này như những nét chấm phá đầu tiên trong một bức tranh thuỷ mặc hấp dẫn. Ngòi bút cuả tác giả quả là khá tinh tế trong việc cảm nhận và miêu tả mùa xuân ở vùng rừng núi Tây Bắc. Nghe phần lời ca cuả đoạn này, bất giác tôi nhớ đến 2 câu thơ cuả Đại thi hào Nguyễn Du cũng miêu tả mùa xuân: Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. http://i1073.photobucket.com/albums/...entrung6/1.jpg Ngập ngừng bên suối nước reo quanh mình như muôn tiếng đàn Bài hát này, nhạc sĩ phỏng thơ của Cầm Giang, nhưng cái đoạn mở đầu trên thì do ông viết. Không biết có phải từ sự ngưỡng mộ tài năng của bậc đại danh tiền bối hay không mà người nghe thấy rõ có sự ảnh hưởng rõ rệt trong cách quan sát và miêu tả thiên nhiên. Nhưng thật thú vị, đoạn mở đầu lại được nhạc sĩ viết ra sau, còn bắt đầu đặt bút, ông đã ra những nét nhạc đầu tiên từ việc cảm thụ câu thơ của Cầm Giang: Em là dòng sông Mã. Anh là núi Mường Hum/ Cho thuyền em ngược dòng, gió đưa em về núi. Đó chính là những câu dẫn vào đoạn B cuả bài hát với tiết tấu được giãn ra, dàn trải hơn cả đoạn A (mở đầu). Sau khi viết đến hết bài hát, tác giả cảm thấy bắt đầu ca khúc không thể “em là dòng sông Mã…” như trên, nghe không ổn. Vậỵ nên ông đã viết phần đầu với lời ca như ta đã từng thấy (Rừng cây xanh lá…) Về sự ra đời của bài hát, tác giả kể: Đó là năm 1957, khi ấy ông là diễn viên hát của Đoàn ca múa nhân dân Trung ương (nay là Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam). Tự thấy mình có giọng hát chỉ rất bình thường, không phải là sô lít (đơn ca) như Quốc Hương, chàng diễn viên hát tốp ca nảy ý định chuyển nghề, sáng tác hoặc nghiên cứu âm nhạc và đề xuất với lãnh đạo lên Hoà Bình một thời gian để sưu tầm nghiên cứu dân ca. Được chấp thuận, Bùi Đức Hạnh khăn gói lên đường.Đến Hoà Bình, ông đọc được bài thơ cuả tác giả Cầm Giang có nhan đề:” Em là dòng sông Mã, anh là suối Mường Hum in trên báo. Thấy bài thơ giàu yếu tố nhạc điệu, nhiều câu hay, đồng cảm, ông bèn nảy ý định sẽ phổ nhạc thành bài hát. Nhưng bài thơ dài những 64 câu, không thể phổ nguyên xi nên ông quyết định chỉ phỏng thơ để tạo thành tác phẩm âm nhạc. Tuy nhiên những câu thơ ông tâm đắc nhất đã được giữ để thành lời ca cuả bài hát: “Em hãy về bên suối, đợi anh ở bên khuông/ Anh làm no lòng mường, em làm vui ấm bản” và “Anh là rừng xanh thắm, em là suối ngàn sâu/ Cây rừng anh làm cầu, vắt ngang qua dòng suối/ Khi nắng mùa xuân tới, rừng anh in bóng suối em…”. http://i1073.photobucket.com/albums/...entrung6/2.jpg Anh làm no lòng mường, em làm vui ấm bản Với một bài thơ rất dài như vậy, Bùi Đức Hạnh đã tạo ra một ca khúc ở thể 3 đoạn có sự thống nhất hài hoà, quả là một việc khó khăn (ca khúc ở thể 3 đoạn thường khó viết, nếu không khéo dễ bị “đầu Ngô mình Sở”, không bảo đảm được tính lô gíc hài hoà cuả giai điệu trong quá trình phát triển). Tác giả cũng tiết lộ rằng khi viết Tình ca Tây Bắc, ông hoàn toàn chỉ là nghiệp dư về sáng tác với chút ít hiểu biết về nhạc lý, mới chỉ võ vẽ ký xướng âm vì là diễn viên đứng trong tốp ca, không hát được đơn ca. Vậy mà ngay từ sáng tác đầu tay, ông đã cho ra được một tác phẩm để đời, lộ rõ một tài năng đặc biệt trong lĩnh vực phổ thơ. Rất thật thà, ông kể: Sau khi hoàn thành bài hát, ông có đưa cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, khi ấy là Trưởng đoàn Ca múa nhân dân Trung ương (“sếp” cuả ông) xem. Lúc này Nguyễn Văn Thương đã rất nổi tiếng với Đêm đông, Bình Trị Thiên khói lửa. Ông vừa là cấp trên vừa là bậc thầy nên Bùi Đức Hạnh muốn được chỉ bảo góp ý cho tác phẩm. Nguyễn Văn Thương đã khen nhưng nói Bùi Đức Hạnh sửa đoạn B (từ chỗ “em là dòng sông Mã” đến hết “em làm vui ấm bản”) theo hướng cho giãn tiết tấu hơn so với đoạn A, bởi nếu không sẽ không nổi rõ thể 3 đoạn, sẽ khiến người nghe thấy đoạn A bị kéo dài quá bị nhàm. Tác giả đã nghe theo và hôm nay ông vẫn còn biết ơn mãi việc này. Ông nói: “Không có Nguyễn Văn Thương góp ý, bài hát sẽ không thể có số phận tốt đẹp như đã có. Tôi mãi mãi nhớ ơn ông.” Quả là một tấm lòng, một tình cảm, ân nghĩa đối với người tiền bối đã quá cố. http://i1073.photobucket.com/albums/...entrung6/3.jpg Tình ca Tây Bắc Khi tôi hỏi Bùi Đức Hạnh về sự quá nổi tiếng cuả Tình ca Tây Bắc rằng tác giả có bỏ công sức đi tuyên truyền dàn dựng phổ biến tác phẩm ở nhiều nơi "Anh làm no lòng mường, em làm vui ấm bản" không thì ông cho biết: Sau khi hoàn chỉnh bài hát, ông gửi đến Ban âm nhạc Đài tiếng nói Việt nam. Ông gửi vậy nhưng cũng không tin là bài được sử dụng, vì lúc ấy chỉ là một anh diễn viên hát tốp ca, còn vô danh, khó được người ta để ý. Không ngờ khi trở lại Hoà Bình chỉ sau đó ít ngày, ông thấy tác phẩm của mình được vang trên làn sóng và nhanh chóng lan truyền. Lãnh đạo khu vực Tây Bắc khi ấy đã coi ca khúc này là bài hát chính thức, là “khu ca” (như Quốc ca, tỉnh ca). Về sau bài hát được nhiều đoàn văn công dàn dựng biểu diễn khắp nơi ở trong nước và cả ở nước ngoài. Đã có rất nhiều nghệ sĩ biểu diễn bài hát này, trong đó phải kể đến cặp song ca Bích Liên – Kiều Hưng đã gây được ấn tượng đặc biệt. Chất giọng trong sáng, giọng hát long lanh như sương của Bích Liên hoà quyện vào chất giọng ngọt ngào đằm thắm cuả Kiều Hưng đã lột tả được hết vẻ đẹp kiều diễm cuả Tình ca Tây Bắc. Nghe kỹ bài hát qua sự thể hiện cuả 2 nghệ sĩ trên, người nghe thấy có cái gì đó vừa náo nức lại bâng khuâng, vừa xốn xang lại bịn rịn, vừa rộn rã muốn vút lên lại như thâm trầm lắng đọng… Rất nhiều cảm giác tâm trạng hoà trộn mà nhạc sĩ đã tạo dựng được trong giai điệu đầy sức tìm tòi sáng tạo. http://i1073.photobucket.com/albums/...entrung6/4.jpg “Em hãy về bên suối, đợi anh ở bên khuông. Anh làm no lòng mường, em làm vui ấm bản" Điều thú vị nữa là bài hát không dựa hẳn vào một làn điệu dân ca nào của Tây Bắc, nhưng nổi rất rõ phong vị âm nhạc của xứ sở này, không thể lẫn lộn với Việt Bắc hoặc bất cứ địa phương nào. Chất xoè Thái chỉ loáng thoáng xuất hiện ở đoạn C (có tiết tấu 6/8). Đây thực sự là một ca khúc đáng để cho những người mới cầm bút sáng tác có thể khai thác học tập được rất nhiều điều về tìm tòi, sáng tạo giai điệu, bố cục tác phẩm, đặc biệt là về nghệ thuật phổ thơ. Đã hơn 50 năm trôi qua, Tình ca Tây Bắc vẫn là bài hát hay nhất về Tây Bắc và là một trong những bài hát đặc sắc viết về muà xuân, về quê hương đất nước. Riêng nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh đã có được một sản phẩm tinh thần vô giá khó gì có thể so sánh. Sau này, ông trở thành nổi tiếng trong làng chèo với rất nhiều thành tựu về quản lý và sáng tác ở lĩnh vực này. Nhưng chỉ với Tình ca Tây Bắc thôi, tên tuổi ông đã không thua kém bất cứ nhạc sĩ trứ danh nào trong lĩnh vực sáng tác ca khúc./. Kiều Thẩm Bài hát do Kiều Hưng và Bích Liên thể hiện |
Trích:
Em trồng hoa hồng bên anh Lòng chúng em ghi nhớ đời đời Em được nghe chuyện (biết rằng - nqbinhdi nhớ là thế) năm xưa Người chiến sĩ đã vì non sông. Nếu các anh mến yêu vẫn còn hôm nay Anh sẽ dạy em nhiều bài hát rất hay Em tung tăng nhảy múa bên anh Người chiến sĩ anh hùng... Ghi công ơn chúng em không quên Trồng thêm hoa thắm tươi Có đúng không hở bác ninh? |
Trích:
Tôi đã định rời bỏ 4R bởi không muốn dính dáng gì tới những chuyện đang diễn ra trên 4R. Ấy là bởi vì tôi không quan tâm gì tới những chuyện đó, mà nếu bị buộc tham dự hoặc bị lôi kéo vào sẽ phản lại những nguyên tắc của mình. Rất đơn giản là vì tôi đã gắn bó với 4R bởi tôi thấy 4R là một nơi thực sự có thể kết bạn với nhiều người, có thể chia sẻ suy nghĩ của mình về nhiều chuyện, từ chuyện về nước Nga lạnh giá, xa xôi mà vẫn rất gần gũi - ít nhất là vô cùng thân thiết trong cả một thời kỳ rất dài đầy những sự kiện không thể quên trong cuộc đời mình (đời mình thôi, tất nhiên rồi, chứ đời các con và cháu tôi thì ai mà biết được chúng nghĩ về nước Nga, về LX như thế nào, dù mẹ/bà chúng đã được LX nuôi dạy nên người) - đến những chuyện của chính mình, của cuộc đời mình và của mọi người... Chia sẻ và học hỏi, từ những chuyện, những chi tiết rất nhỏ đến những thảo luận hữu ích về rất nhiều thứ khó kiếm được ở đâu. Tham gia đã nhiều 4R, tôi hiểu rất rõ rằng, là một người mà vai trò chỉ là em đi qua chốn này ới a biết đâu nguồn cội..., dừng chân em ghé chơi, nhập gia thì phải tùy tục và chỉ nên ghé và làm đúng theo cái mình định/muốn. Thực ra, ngay từ những ngày đầu tiên gia nhập 4R, tôi cũng từng có những ý kiến về hoạt động của 4R nhân những góp ý của các thành viên thanhlam, chó già... - cái thread ấy giờ đã bị khóa. Sau đận ấy, tôi chỉ tự cười giễu mình vì "ai mượn anh vào nhà người ta rồi đòi người ta lại phải thế này, thế khác chứ", và cần gì phải thế mới có thể bày tỏ ý mình. Thế nên, nhất định sẽ không can dự vào các chuyện mà mình không vào 4R vì chúng. Nghĩ lại thì thấy, cũng chẳng cần phải bỏ đi, bởi ở đây vẫn có thể học hỏi, có thể có nhiều bạn bè thực sự. --- @ bác Mientrung, Trong bài của Kiều Thẩm bác đã dẫn, có một chi tiết đáng sửa. Đó là hai câu mà tác giả dẫn của Nguyễn Du Cỏ non xanh tận chân trời Cành mai trắng điểm một vài bông hoa. Không phải là cành mai, mà là cành lê ạ. Cũng chẳng phải Nguyễn Du một mình làm ra câu ấy (và tất nhiên, cả Truyện Kiều - Đoạn trường tân thanh - cũng dựa trên cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu thôi) mà là từ một câu thơ cổ của TQ (của ai thì tôi đã cố tìm mà chưa ra) Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa Lê chi là cành lê chứ không phải là cành mai. Nói đến chuyện này, tôi rất muốn bác nào nói cho biết mấy câu thơ cổ kia là của ai, bởi tìm trên mạng thì chỉ thấy Phương thảo liên thiên. Còn chính trong Kim Vân Kiều truyện thì nó là thế này: Xuân nhật tình minh yến lộng thoa Thiều quang cửu thập lục tuần qua Vô biên phương thảo liên thiên bích Sổ điểm lê hoa tuyết ánh kha (Trương Cam Vũ dịch âm Hán-Việt) Cũng không phải là tôi nhiều/lắm chuyện, bởi tôi vốn hay cố tìm đến tận cùng những cái mình tìm hiểu. Lại nhớ có hồi, đọc Di chúc của HCT, có câu Nhân sinh thất thập cổ lai hy, dẫn là thơ của ông Đỗ Phủ, tôi ngạc nhiên lắm. Là vì xưa nay các nhà văn nhà thơ ta vốn rất giỏi chẻ sợi tóc ra làm 8, tám với tụng thì nhất quả đất (ối, tôi thì tin chắc rằng, trong văn chương, thi phú... ối cái mà người ta tán tụng ra, chính các tác giả khi viết cũng chửa bao giờ nghĩ đến đâu ạ), thế mà tịnh chả thấy ai nhắc đến xuất xứ của câu ấy nửa lời. Mới bổ đi tìm, thì hóa ra câu ấy vốn từ: Tửu trái tầm thường hà xứ hữu Nhân sinh thất thập cổ lai hy Đỗ Phủ vốn nghèo mà hay rượu, chuyên uống chịu (còn có "bùng" không thì không thấy ai nói ạ:emoticon-0102-bigsm), bạn bè chê, ông mới giả ngông làm mấy câu trên để chữa thẹn (Nợ tiền rượu, chuyện ấy thường tình, đâu mà chả có. Chỉ có người thọ đến 70 thì xưa nay mới hiếm thôi - liều dịch ạ: Nợ rượu thường tình đâu cũng có/Người thọ 70 mới hiếm thôi:emoticon-0115-inlov). Thế nên chả thấy bác lều với chõng nào nhà ta khai triển hàm nghĩ thêm là phải, khai khai cái gì chứ? |
Trích:
Lục suốt cái thớt này mới bật cười được một cái. Cám ơn pác |
Một bài hát hay phỏng theo thơ của một nhà thơ HP ngày xưa, lấy khung cảnh những cánh hoa phượng đỏ của thành phố Cảng làm nền.
THỜI HOA ĐỎ Nhạc: Nguyễn Đình Bảng Thơ: Thanh Tùng http://i1073.photobucket.com/albums/...ps6f7e4350.jpg Nguyên tác bài thơ THỜI HOA ĐỎ Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh Chẳng cho lòng ta yên Anh mải mê về một màu mây xa Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa Em hát một câu thơ cũ Cái say mê của một thời thiếu nữ Mỗi mùa hoa đỏ về Hoa như mưa rơi rơi Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi Như máu ứa của một thời trai trẻ Hoa như mưa rơi rơi Như tháng ngày xưa ta dại khờ Ta nhìn vào tận sâu mắt nhau Mà thấy lòng đau xót Trong câu thơ của em anh không có mặt Câu thơ hát về một thời yêu thương tha thiết Anh đâu buồn mà chỉ tiếc Em không đi hết những ngày đắm say Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ Không cho ai có thể lạnh lùng Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ Như vết xước của trái tim. Sau bài hát rồi em lặng im Cái lặng im rực màu hoa đỏ Anh biết mình vô nghĩa đi bên em Sau bài hát rồi em như thể Em của thời hoa đỏ ngày xưa Sau bài hát rồi anh cũng thế Anh của thời hoa đỏ ngày xưa. Bài hát do ca sỹ Thái Bảo thể hiện Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ…”. Những câu thơ trong Thời hoa đỏ của nhà thơ Thanh Tùng được nhiều thế hệ đang yêu hát trên giai điệu âm nhạc tha thiết, mãnh liệt của Nguyễn Đình Bảng. Dù nhạc sĩ có làm vơi bớt nỗi buồn: “Như gợi nhớ về một thời trai trẻ” thì thi sĩ vẫn nhận lấy vết cắt đau đớn bởi cuộc tình… Sao em không đi hết những ngày đắm say… Nguyên mẫu nhân vật “em” trong bài thơ Thời hoa đỏ chính là vợ nhà thơ. Vợ Thanh Tùng một thời nhan sắc ở đất cảng Hải Phòng và cũng nổi tiếng đa đoan. Ông, bà đến với nhau, bắt đầu và kết thúc cũng vì thơ. Lúc chưa về sống cùng ông, bà cũng có làm thơ nhưng sau đó chuyên tâm lo nội trợ vì quá yêu thơ của ông. Nhiều bạn bè cùng thời Thanh Tùng ở đất Cảng nhận định đó là một cuộc tình đẹp như thơ... Thế nhưng, dòng đời lắt léo lắm thác ghềnh, cuộc hôn nhân của hai người rồi cũng chảy đến khúc quanh chia lìa. Phải nói cho đúng, bà đã bỏ ông thi sĩ mộng mơ để mơ mộng một chân trời khác cho riêng mình. Dù người đã bỏ mình đi, vậy nhưng Thanh Tùng vẫn nhất mực yêu thương bà. Hai người có hai con chung và Thanh Tùng có thêm một tình yêu dang dở bao giờ cũng đẹp để suốt đời hoài vọng. Sau nhiều năm hai người hai ngả vui đời sống của riêng mình, khoảng năm 1973, Thanh Tùng hay tin vợ cũ qua đời vì bệnh tim. Ông tức tốc xuống Quảng Ninh, nơi bà đã sống trong những tháng ngày xa ông để tiễn đưa nhau lần cuối. Và bài thơ Thời hoa đỏ ra đời khi nỗi bi thương về cuộc tình, về phận mình trào lên cao độ: “Trong câu thơ của em anh không có mặt.../ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”. Nhiều người cho rằng để có thơ hay thì chính tác giả phải trả một cái giá nào đó. Cái giá để có Thời hoa đỏ phải chăng quá sức chịu đựng của một đời mộng mơ?! Tuy nhiên, ông đã có cùng bà những năm tháng thật đẹp tại thành phố hoa phượng đỏ. Thanh Tùng làm thợ gò trong một nhà máy đóng tàu. Hai vợ chồng rất nghèo nhưng giàu thơ, giàu bè bạn. Chính những tháng năm tuyệt đẹp ấy đã chuyển tải thành vần điệu trong sáng, lan tỏa đến mọi người. “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng/ Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh/ Chẳng cho lòng ta yên/ Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/ Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa...”(ST) Bài hát do ca sỹ Lệ Thu thể hiện |
Một điều ít người được biết: mùa đông năm 1989 của nước Nga lạnh giá cũng là một trong những yếu tố chính tạo nên bài hát tuyệt vời - Thời hoa đỏ.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng và ca khúc Thời hoa đỏ Có lẽ cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn hát lên một nỗi buồn bi lụy. Cứ đến mùa hè, dưới khung trời ngập màu phượng vĩ cùng tiếng ve bỏng rát những đường phố Hà Nội, nhiều cặp tình nhân bên nhau hay những người lang thang một mình trên phố cứ nha nhẩn câu hát: Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi, cánh mỏng manh xao xác đỏ tươi, như nuối tiếc một thời trai trẻ… Nhiều người cứ thắc mắc tại sao trong câu thơ của Thanh Tùng: Như máu ứa một thời trai trẻ hay đến vậy mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng lại thay bằng nuối tiếc trong ca khúc Thời hoa đỏ. Ông chỉ cười: Có lẽ cả đời viết nhạc của tôi sẽ có những nỗi buồn đọng lại, nhưng đó là những nỗi buồn trong sáng và đẹp, tôi không muốn hát lên một nỗi buồn bi lụy... Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng mở đầu câu chuyện bằng ca khúc Thời hoa đỏ - một ca khúc không chỉ là tiếng lòng của những con người đã đi qua một tuổi trẻ đắm say mà còn là ca khúc “ruột” của không biết bao thế hệ sinh viên mỗi tối ngồi gảy ghi ta hát trên những căn phòng nhỏ của các ký túc xá. Năm 1989, Hội Nhạc sĩ Việt Nam cử 4 nhạc sĩ sang Nga dự một trại viết, trong đó có ông. Không có giày lông, áo măng tô chỉ may bằng vải ka ki không thể chống lại cái lạnh giá bên nước bạn, chỉ 1 tuần ông bị ho ra máu. Những người bạn Nga đưa ông đi cấp cứu và suốt 1 tháng trời nằm viện, xung quanh ít có người đồng hương, ông lại không quen với bánh mì và xúp chua, nên cái gì trước mắt cũng xa lạ, chỉ có nỗi buồn và nỗi cô đơn là gần gũi, đang giày vò ông từng giờ. Sau 1 tháng, ông phải chuyển sang bệnh viện lao, hết nằm lại ngồi, ông lục trong ba lô của mình tập thơ 99 bài thơ tình, do một người bạn tặng trước lúc lên đường, để ngày ngày đọc cho khuây khỏa. Đọc đến bài thơ Thời hoa đỏ của nhà thơ Thanh Tùng, ông rất thích những câu thơ như thế này: Mỗi mùa hoa đỏ về/Hoa như mưa rơi rơi/Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/Như máu ứa một thời trai trẻ… Ông chỉ cảm nhận những tình cảm của tác giả thơ qua câu chữ. Ông liên tưởng đến điệu quân tử vu dịch: Dặm trường thân gái một mình, gánh sầu xe nửa gánh tình chia đôi mà nàng Châu Long hát tiễn Lưu Bình trước lúc đi thi trong tích chèo Lưu Bình - Dương Lễ. Nỗi buồn trong tích chèo cũng mênh mang, man mác như những câu thơ ấy và tự nhiên trong tim ông, những nốt nhạc bắt đầu thốt ra, chậm rãi, nao nao như những tiếng bước chân vọng về từ quá khứ: Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao, bước lặng trên con đường vắng năm nao, chỉ còn tiếng ve sôi ồn ào, mà chẳng cho lòng nguôi yên chút nào… Bài hát ráo mực, ông ngồi hát một mình trên giường bệnh, lòng cảm thấy nhẹ bẫng khi nỗi buồn, nỗi cô đơn hơn cả tháng nay vợi dần và sau đó ông dần bình phục trở lại. Về nước, ông bắt tay vào việc thu âm ca khúc với tiếng hát Lệ Thu, giọng alto chuẩn, cách nhả chữ tròn trịa đã gợi được hình ảnh của những cánh phượng rơi và bước chân chậm rãi của đôi tình nhân dưới vòm lá kỷ niệm. Và bài hát như là chiếc cầu nối để nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng có thể gặp tác giả của ca từ trong ca khúc Thời hoa đỏ mà ông chưa may mắn một lần gặp mặt. Nhà thơ Thanh Tùng đã được nghe ca khúc Thời hoa đỏ qua Đài Tiếng nói VN, lấy làm ngạc nhiên khi bài thơ của mình là thơ tự do nhưng khi vào nhạc lại nuột nà đến thế. Còn nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng “muộn màng” xin phép được đổi mấy chữ: “Nhất là chữ tan tác và máu ứa, tớ thấy nó buồn quá, mà kỷ niệm thì buồn là đương nhiên, nhưng phải là cái buồn man mác, lạc quan chứ không bi lụy”. Ca khúc Thời hoa đỏ được liệt vào một trong những bản tình ca hay nhất của ca khúc Việt Nam thời đổi mới. Những nốt nhạc tha thiết bên những ca từ đẹp, giàu tính tượng hình. Đặc biệt, đoạn điệp khúc vang lên ở đoạn cuối như là tiếng ve và tán phượng hoa tan tác rơi và bên dưới là đôi tình nhân bước đi trong kỷ niệm gợi một tình yêu đẹp đến nao lòng: Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi, mỗi mùa hoa đỏ về… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng cho rằng, ca khúc này mang âm hưởng của âm nhạc dân gian nhưng ông đã biến hóa, phát triển thành của mình, hiện đại hóa nó. Ông cũng cho rằng những ca khúc của ông đều có chất liệu dân gian như thế và đều gợi lại bóng hình quá khứ, nhưng không phải là quá khứ đã trôi đi vĩnh viễn mà là quá khứ đọng lại với cuộc sống hôm nay để người nghe soi vào đấy. Để có được điều đó với ông là sự đánh đổi cả một đời. Sinh ra từ vùng quê chiêm trũng của tỉnh Hà Nam, 9 tuổi ông theo gia đình về sống ở Thái Bình. Làng ông thường làm gàu sòng mang xuống quê lúa bán vì quê ông nghèo, lúa ít, bán gàu cũng chẳng ai mua. Thông thường mỗi chuyến đi kéo dài 1 - 2 tháng là cùng, nhưng lần đi ấy, Pháp tràn xuống quê ông nên gia đình ông ở lại Thái Bình. Tuổi thơ ông đi đánh dậm, đơm con tép bắt con cua, đói khổ nhưng bù lại, những làn điệu chèo của quê lúa dần ngấm vào máu thịt ông. Một tuổi thơ tự lập, một đời trai tự huyễn, một đời người không tự biến mình, tự lập ngay trong âm nhạc nên ông sống rất thật và đầy trách nhiệm với từng nốt nhạc. Bài hát do ca sỹ Ngọc Khang thể hiện Nhà thơ Thanh Tùng: Âm nhạc đã chắp cánh cho thơ của tôi Tôi viết bài thơ Thời hoa đỏ khoảng năm 1972 khi vừa đổ vỡ cuộc tình cùng người vợ ở Hải Phòng. Thời hoa đỏ là nỗi đau tột cùng thăng hoa thành định mệnh của đời tôi, thành tên gọi của Thanh Tùng. Vài năm sau, Thời hoa đỏ được nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, lúc đó làm trưởng ban thơ Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, xuống đất cảng chơi đã gặp tôi và đem về in lần đầu tiên. Những năm 80 thế kỷ trước, tôi tình cờ nghe được bài hát của anh Nguyễn Đình Bảng trên sóng phát thanh. Khi ấy, tôi đã thôi làm công nhân ở nhà máy đóng tàu và đang bán sách văn học nước ngoài trên vỉa hè. Cảm giác khi nghe điệp khúc: “Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi...” khiến tôi tưởng mình đang bay lên. Âm nhạc của anh Nguyễn Đình Bảng chẳng những chắp cánh cho thơ ca mà còn chắp cánh cho tôi vượt qua những hệ lụy đời thường đang trĩu nặng. Tuy nhiên, tôi cũng hơi tiếc cho vài câu thơ mình tâm đắc lại không vào được khuôn nhạc như: “Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”. Bây giờ, thơ tôi cũng được anh Phú Quang phổ nhạc, tôi rất thích bài Hà Nội ngày trở về nhưng “ít sướng” như gần 30 năm trước khi nghe Thời hoa đỏ. Kỳ lạ là lúc gian khó như vậy, thơ tôi cũng không ra khỏi quỹ đạo thơ chống Mỹ, nhưng lại xuất hiện một Thời hoa đỏ thấm đậm vẻ đẹp buồn, trữ tình. Và anh Nguyễn Đình Bảng đã sẻ chia cảm xúc đẹp và buồn đó cùng chúng ta. (ST) Bài hát do nhóm FM thể hiện |
Cám ơn bác Miền Trung,
Chẳng có một người nào, từng có thời đạp xe hay rảo bước trưa hè dưới tán những cây phượng một thời rất nhiều trên những con phố Hải phòng, nghe bài hát này lại không xao xuyến. Dù đã từng yêu, được yêu hay chưa. Những ngày hè 1992, khi TV Hung đưa cảnh những người Việt nhốn nháo trên cầu thang các chung cư kiểu cũ kéo lê theo của nả trong các bao tải dứa xanh-trắng-đỏ giữa đợt tấn công quấy nhiễu của những phần tử dân tộc chủ nghĩa quá khích Đức vào những người lao động Việt nam ở Đông Đức, tôi đã thắt ruột tự hỏi Trong những con người bé nhỏ giúi giụi kia, liệu có em không? Giờ này em ở đâu? Tôi nào có hay, em đã bế các con về VN từ lâu, từ năm trước đó kia, sau những va chạm với các đốc công người Đức khi bảo vệ quyền lợi cho các nữ công nhân của đội lao động do em phụ trách. Chỉ còn chồng em còn ở lại bên đó. Ngày tôi về nước, đám bạn bè phổ thông cũ ở HN gọi tôi tụ bạ, đi ăn tối và đi hát karaoke với nhau, cứ như thể chúng tìm cách cho tôi gặp lại em vậy. Tôi đã tắc tị cả buổi tối hôm đó, bởi bất ngờ - có đứa nào trong bọn chúng nói trước với tôi rằng sẽ có em ở đó đâu. Trong bóng đèn mờ mờ của phòng karaoke, tôi cố thu mình cho nhỏ, lặng im ngắm em hát Em ơi Hà Nội phố với cái giọng tôi có thể lập tức nhận ra, ngay cả giữa đám đông ồn ào nhất. Chúng tôi đã không gặp nhau suốt hơn mười năm tính từ lần tình cờ gặp em khi tôi về trường cũ làm công tác tuyển sinh, lũ con gái học trò cấp 3 của em đã dúm lại với nhau, ngỡ ngàng nhìn theo cô giáo của chúng đứng với 1 chú thượng úy bộ đội, nước mắt tuôn dài trên má không buồn giấu giếm. Một cô bạn kéo tay tôi, giúi cho cái micro và bảo, giọng trêu chọc thấy rõ: Này, bạn hát đi chứ, cứ ngồi im mãi thế sao, bạn kia bạn ấy bảo rằng bạn hát hay đấy. Tôi như kẻ đi trốn tìm bị lôi ra từ bóng tối, không dám hát và ngượng ngùng không để đâu cho hết. Tôi đã từng hát cho em nghe bao nhiêu lần, bắt được bài gì thoáng qua trong đầu là hát, nhiều khi rất vẩn vơ mỗi khi chúng tôi ngồi bên khung cửa sổ phòng em, những trưa hè, tay trong tay, cùng nhìn mãi vào trong mắt nhau. Giờ lại vẫn còn hát được nữa sao? Có những chuyện tưởng chừng không bao giờ kể Thủa phố xưa vẫn còn nhiều phượng vĩ Thời cả hai ta đều còn rất trẻ Ta vẫn thường nhìn sâu vào trong mắt nhau. |
Trích:
Kính gửi Bác ngbinhdi. Em rất vui sướng vì Bác đã nhắc tới chuyện “cố tìm đến tận cùng những cái mình tìm hiểu”, vậy thì cho dù đã hơi trễ (do hôm nay mới đọc được bài viết này của Bác), em cũng xin phép trả lời như sau: Kim Vân Kiều Truyện (金云翘传) tác phẩm thơ trường thiên bằng chữ Nôm của Nguyễn Du (阮攸) người Việt Nam, đúng là phỏng theo nội dung cuốn truyện dài của Thanh Tâm Tài Nhân (青心才人) người Trung Quốc. Khi văn học cổ Việt nam được dịch ra ngoại ngữ và giới thiệu ra thế giới, thì trong đó bao gồm việc dịch ngược trở lại thơ Truyện Kiều ra tiếng Trung. Bản của dịch giả Trương Cam Vũ (張甘雨) người Việt Nam gốc Hoa, mà Bác ngbinhdi viết ở trên được NXB Văn Nghệ TP. HCM xuất bản năm 1994: http://i236.photobucket.com/albums/f...ps247a7fb3.jpg Câu thơ được nhắc tới viết như sau: 無邊芳草連天碧 數點梨花雪映柯 Wú biān fāng cǎo lián tiān bì Shù diǎn lí huā xuě yìng kē (Trương tiên sinh sử dụng chữ phồn thể) Thế nhưng, ngay từ năm 1959, tại Bắc Kinh, Nhân dân Văn học Xuất bản xã (人民文学出版社) đã in bản dịch thơ Truyện Kiều bằng tiếng Trung, do giáo sư Hoàng Dật Cầu (黄轶球) dịch và giới thiệu: http://i236.photobucket.com/albums/f...ps9c1fe28e.jpg Câu thơ được nhắc tới viết như sau: 芳草连天碧 梨枝数点花 Fāng cǎo lián tiān bì Lí zhī shù diǎn huā (Hoàng tiên sinh sử dụng chữ giản thể) Đây là hai câu thơ do giáo sư Hoàng Dật Cầu dịch từ thơ của Nguyễn Du, không phải là hai câu thơ cổ Trung Hoa. Tiện đây, em xin gửi Bác ngbinhdi cùng các bác tham khảo thêm một đoạn tạp luận của em: Rất nhiều người nhầm lẫn về hai câu thơ dịch từ tiếng Việt của Nguyễn Du ra Trung văn của Hoàng tiên sinh: Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa là hai câu thơ cổ Trung Hoa. Thậm chí SGK Ngữ Văn lớp 9, tập 1 của NXB Giáo Dục hiện nay, trang 87, có hẳn một câu luyện tập như sau: Phân tích so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung Quốc: “Phương thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa” (Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa) với cảnh mùa xuân trong câu thơ: “Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” để thấy được sự tiếp thu và sáng tạo của Nguyễn Du. Chính vì sự “gợi ý” này mà rất rất nhiều sách hướng dẫn học và làm bài văn lớp 9 hiện nay đã “tán” rất rộng, so sánh này kia nọ để thấy được sự “tiếp thu và sáng tạo” của Nguyễn Du. Thật đáng tiếc và thương cho các cháu học sinh phổ thông bây giờ đã được “định hướng” sai lầm từ rất sớm bởi những cuốn SGK như vậy. Bản dịch ra Trung văn của Hoàng tiên sinh, như chính ông đã viết là ông chỉ dám coi là “bản dịch sơ bộ”. Thời gian gần đây, PGS Phạm Tú Châu đã có xem xét đánh giá bản dịch này, kê ra rất nhiều chỗ Hoàng Dật Cầu dịch sai Truyện Kiều của Nguyễn Du (xin mời tham khảo tại link sau: http://www.talawas.org/talaDB/showFi...res=5984&rb=07) và như vậy cũng không có gì phải nhận định về việc “tiếp thu và sáng tạo” của Nguyễn Du trong hai câu thơ này. Có chăng, chỉ nên đánh giá theo chiều hướng ngược lại: Hoàng Dật Cầu đã dịch chuẩn hai câu thơ của Nguyễn Du hay chưa. Bản tiếng Trung của Hoàng tiên sinh nếu Bác ngbinhdi hoặc bác nào có nhu cầu, xin thông báo cho em biết, em sẽ xin gửi bản pdf để các bác tham khảo vì đây là trang về nước Nga, nói nhiều về các bản Trung văn e là không thích hợp. Xin cảm ơn các bác đã quan tâm. Trân trọng. |
Cám ơn bác dubravka lắm, dù đang rất vội đi dạy cũng phải gõ cho xong mấy dòng này.
Tôi không biết tiếng Trung quốc, chỉ có 2 năm học Trung văn ở phổ thông từ cách nay đã 45 năm. Tìm hiểu trên mạng thì lại cứ tưởng bản của Trương Cam Vũ mới là Thanh Tâm Tài Nhân tiếng Hán dịch qua âm Hán-Việt. Là tôi nhầm, song vẫn cứ muốn tìm hiểu câu Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa kia gốc vốn là của ại (hẳn phải là 1 câu thơ Hán, chứ Nguyễn Du làm thơ nôm, có dịch ra tiếng Hán chắc cũng không ra thế, bởi mất tiêu từ "trắng" - và có thể là cả chữ "rợn" trong Cỏ non xanh rợn chân trời theo một số dị bản). Phải đi lên lớp rồi kẻo SV chờ, mấy dòng tạm vậy thôi, có gì xin bàn kỹ sau. |
Các bác có ai nghe bài này "Sức sống Trường Sa" nhạc của Vũ Hồng Sơn, thơ: Đoàn Vũ Vinh, Khánh Hòa hát. Tặng các bác để "lấy le" (không biết dùng từ có đúng không, nếu sai đừng cười tui nhá)
Nghe ở đây: http://www.youtube.com/watch?v=7EnYyImLP34 Ca từ hay, dòng nhạc cách mạng. Phối khí có vẻ giống giống như là mấy bài hát của Trọng Đài (Mai Hoa hát). Làn điệu gợi âm hưởng của Điều giản dị (Phú Quang). Mấy bác giỏi giỏi trên này có thể dịch ra tiếng Nga được không? |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 15:36. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.