![]() |
CHUYỆN SINH VIÊN
Chào các bạn !
Chẳng ai quên được quãng đời đi học tuyệt đẹp của mình . Nhưng nếu ai từng trải qua thời sinh viên, thì có lẽ đó là quãng đời được nhớ đến nhiều nhất, vì nó ở khoảng giáp ranh giữa tuổi thơ và tuổi trưởng thành… Tôi cảm thấy việc hồi tưởng những kỷ niệm thời sinh viên sẽ đem lại thú vị cho rất nhiều người . Bởi vậy, tôi mong muốn các bạn cùng tham gia hồi tưởng và kể lại những kỷ niệm thời sinh viên của mình trong mục “Chuyện sinh viên” . Tôi chọn đề tài là “Chuyện sinh viên”, để mời gọi không chỉ các bạn từng là sinh viên ở CCCP hoặc nước Nga…, mà muốn mời gọi tất cả các bạn từng là sinh viên trên khắp thế giới cùng tham gia vào mục này ! Tôi hy vọng nhiều người sẽ tham gia vào đề tài “Chuyện sinh viên”. Mong nhận được sự góp ý thẳng thắn của các bạn, để giúp cho ý tưởng này có thể biến thành sự thật chăng ? Cám ơn mọi người . |
MÙA THU
http://i826.photobucket.com/albums/z...%20Kiev/21.jpg “Mùa thu” Hồi tưởng lại thời Dự bị Kiev 71, cuối tuần chúng tôi hay rủ nhau đi chụp hình tại công viên bên bờ sông Dnepr . Lần đầu tiên nhìn thấy những sắc thu rực rỡ như vậy đẹp quá, cứ mê mẩn ngắm hoài mà không thấy chán . Lần sau, cuối tuần tôi lại rủ các bạn đi, nhưng có lẽ vào kỳ kiểm tra hay thi cử gì không rõ mà chẳng ai chịu cùng đi, thế là tôi đi một mình đến công viên . Một mình thì chẳng chụp hình, chẳng bị phân tâm, chẳng phải nói chuyện… Tôi cứ lẳng lặng mà ngắm cảnh cho thỏa thích, không biết tại sao ngày hôm đó rất vắng người đến công viên, từ khoảng 2 giờ chiều trở đi thì tôi không còn gặp ai nữa, nhưng thú vị vô cùng ! Tối mịt tôi mới về tới nhà, nhưng không vào ký túc xá, mà tiếp tục một mình đi lang thang loanh quanh các phố vắng…Không bao giờ quên được kỷ niệm đó . Chẳng hiểu tại sao mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn rất thích những giờ phút thật sự được cô đơn ? |
MÙA ĐÔNG
http://doseng.org/uploads/posts/2007..._mikhail_t.jpg “Mùa đông” Tôi chẳng nhớ rõ trong năm 1971 xa xưa ấy, ngày đầu tiên tuyết rơi tại Kiev có trùng với ngày kỷ niệm Cách mạng tháng10 hay không ? Nhưng tôi nhớ rõ là ngay cả người Nga cũng rất vui mừng trong ngày tuyết rơi đầu tiên . Còn đối với chúng tôi, những sinh viên Việt Nam chưa bao giờ thật sự biết tuyết, thì vô cùng xúc động, bỡ ngỡ, hứng thú…khi nhìn thấy tuyết đầu mùa rơi . Riêng tôi nhớ rằng ngày đầu tiên trong đời nhìn thấy tuyết rơi tại Kiev, vào buổi chiều tà, bông tuyết nhỏ lắm, không nhiều, lưa thưa bay lất phất một lát rồi ngưng . Tôi đang say mê ngắm tuyết, thì đột nhiên tuyết ngừng rơi, làm tiếc nuối vô cùng . Tối hôm ấy, tôi đi lang thang một mình quanh các đường phố, thầm mong tuyết rơi để ngắm, nhưng tuyết không rơi… Suốt ngày hôm sau tuyết cũng không rơi, khi đêm xuống, tôi lại một mình dạo quanh các đường phố, và mặc kệ cho tôi thấp thỏm chờ mong, tuyết vẫn nhất quyết không chịu rơi ! Ngủ một đêm mở mắt ra, mọi người trong ký túc xá đều cùng xôn xao, nhìn ra ngoài thấy các bông tuyết to đang lừ lừ từ trên trời cao rơi xuống, phủ trắng cây cối xung quanh, và bị tan thành nước nhão nhoẹt trên đường phố… Tôi yêu mùa đông có tuyết rơi ở Nga . Sau này, tôi vẫn ưa thích ngắm nhìn những hình ảnh mùa đông, tuyết phủ trắng xóa khắp mọi nơi… |
Nghe hát dân ca Nga
Một hè khoảng tháng 8, khi sinh viên Nga về nhà hết, tôi cũng vừa đi nghỉ về, rồi đi làm thêm ở nhà máy bánh mỳ . Nghe nói nơi này khi xưa các cầu thủ đội Dynamo Kiev cũng đã từng làm, và bị Giéttapo bắt ở đây sau trận đấu Tử thần năm 1942 . Lúc này ký túc xá đang được sửa chữa để chuẩn bị cho năm học mới, chỉ có vài sinh viên ngoại quốc còn ở đây . Một sáng khi đi làm ca 3 về, tôi mệt mỏi vô cùng và chỉ muốn ngủ . Lên đến tầng 2, thấy có 3 chị thợ quét vôi đang làm việc . Tiếp tục nhấc những bước chân nặng nhọc lên tầng 5, bỗng tôi nghe một giọng ca vút lên . Các chị hát dân ca, quả thật lời ca không hiểu được hết, nhưng bài hát thật trữ tình, man mác buồn, gợi mở một không gian đồng quê bao la… Kẻ xa quê như tôi dường như thấy được đâu đấy hình ảnh quê nhà . Đó là điều diệu kỳ của dân ca, những làn điệu khởi nguồn từ cuộc sống lao động của con người mà ai cũng cảm nhận được . Tôi ngồi bệt xuống bậc thang, tận hưởng bài dân ca ngọt ngào, cái mệt cũng dần tan biến… * Chuyện gõ cửa, đóng cửa. Ở Nga phải gõ cửa trước khi vào và nhất thiết phải đóng cửa sau khi vào, vì người Nga rất sợ skvojnhiak (gió lùa) . Việc này sau vài lần bị nhắc nhở nên tôi nhớ rất kỹ . Một lần vào năm thứ 2, cô giáo môn Toán là một phụ nữ to béo, rất nghiêm khắc . Bọn lớp tôi rất hãi và đặt cho bà biệt danh puzataia (bụng bầu) . Kỳ ấy chúng tôi học buổi sáng, mùa đông, tiết đầu từ 8 h, trời còn tối, tuyết rơi nhiều nên tôi đến trường muộn . Tôi đến giảng đường, cửa đã đóng, tôi gõ cửa . “Đa” (Vâng), tiếng bà giáo vọng ra . Tôi đẩy cửa vào, khép cửa lại và lí nhí :“Izvinhiche !” (Xin lỗi) . Bà giáo nghiêm khắc nói :“ Đóng cửa lại, nhưng từ phía corridor (hành lang)!!!” . Tôi tái mặt, vì như vậy là bà đuổi khéo ! Tôi quay về, vừa xấu hổ vừa bực mình . Điên quá, tôi quyết định bãi khóa môn Toán của bà ta suốt 2 tuần liền . Sau này, bà bảo Vova ở cùng phòng :“ Mày bảo nó đi học đi, đừng trẻ con !”. Tôi lại đi học môn Toán . Gặp tôi, bà lẩm bẩm :“Kak, upoznui !” (Cứng đầu thế) . (Nguyễn Việt Trung – Bách khoa Kiev) |
Chuyện đồng hồ Liên Xô
Chiếc đồng hồ đeo tay chính là tài sản riêng đầu tiên của nhiều người tại Dự bị Kiev… Đối với tôi cũng thế ! Tại Dự bị Kiev, tôi sống cùng phòng với Bá Tòng và Duy Vinh, mỗi đứa đều sắm cho mình một cái đồng hồ đeo tay . Bá Tòng mua đồng hồ hiệu Vostok, tôi thì mua Poliot, còn Duy Vinh không nhớ đã mua hiệu gì . Tôi nhớ hồi đó một cái đồng hồ đeo tay (không phân biệt hiệu gì) nói chung khoảng 25-30 rúp một cái . Chúng tôi cũng như các bạn khác, đứa nào cũng rất quí tài sản riêng đầu tiên mà tự mình mua được . Năm Dự bị Kiev chúng mình được xem vài buổi biểu diễn văn nghệ của các sinh viên Việt Nam học tại Kiev . Trong một lần xem biểu diễn văn nghệ, đến nay tôi chẳng nhớ là tiết mục gì, nhưng sau khi xem xong tiết mục ấy, không hiểu Bá Tòng quá xúc động hay quá thích tiết mục đó, nên chàng ta dồn hết sức “bẻ gãy sừng trâu” ra để vỗ tay… Rồi tiếp tục say sưa theo dõi các tiết mục khác… Khi buổi diễn chấm dứt, đến lúc ra về, Bá Tòng giơ tay nhìn đồng hồ, thì hỡi ơi, kim giờ, kim phút, kim giây mỗi cái bay mỗi nơi trong lồng kính của đồng hồ… Bọn tôi được một phen cười bể bụng . http://www.russia2all.com/images/sho...94-Arktika.jpg “Đồng hồ Vostok của Nga hiện nay” Số phận chiếc đồng hồ của tôi hơi khác . Sau khi đi nghỉ hè thì chúng tôi đi lao động hái táo ở nông trường . Mỗi buổi chiều đi làm về, chúng tôi lao vô nhà tắm . Như mọi lần, tôi tháo đồng hồ bỏ vô túi quần lúc thay đồ tắm . Vì vẫn chưa quen nghĩ là mình đã có đồng hồ, nên một lần tôi quên lấy đồng hồ từ túi quần ra để đeo vô tay . Ăn cơm chiều xong, mệt quá tôi ngủ sớm . Sáng dậy, sực nhớ đến đồng hồ, tôi vội vã lục tay vô túi quần, thì ôi thôi, mặt kính đồng hồ đã bị vỡ nát ! Chả là tôi mặc nguyên cái quần ấy để ngủ, nên lăn lộn đè nát mặt đồng hồ, làm các kim đồng hồ không còn cái nào ở trên trục cả… Phải lộn túi quần ra tìm, mãi mới gom đủ kim giờ, kim phút, kim giây... Mấy đứa cùng phòng lại được một phen cười vỡ bụng, còn tôi thì mặt mày méo xẹo ! http://forums.watchuseek.com/attachm...h-sdc11228.jpg “Đồng hồ Poljot hiện nay” Tôi chợt nhớ tới những vần thơ của Việt Phương : "... Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sỹ ... Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ..." (Đặng Tuấn Phương – Trường Rừng Leningrad) |
CUỘC ĐỜI YÊU NHƯ VỢ CỦA TA ƠI
Việt Phương (Cửa mở - 1969) Năm xưa ta nói rất nhiều " cực kỳ" và "hết sức" Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực Chưa biết rằng "trời" còn xanh hơn "trời xanh" Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ yêu thương Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa Mạc-tư-khoa còn hơn cả thiên đường Ta nhất quyết đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào Mường tượng rằng trăng Trung-quốc tròn hơn trăng nước Mỹ Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao Một phần tư thế kỷ qua đi và có lẽ bây giờ ta mới biết Thế nào là thương yêu thế nào là chém giết Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao Sức ta tăng bội phần khi ta say đến trở thành rất tỉnh Ta có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh: "Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao" Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn Ta đã gặp những điều không hề chờ đợi gặp Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta Ta suy nghĩ tám nghìn đêm đánh giặc Nghiền tâm tư cùng những hạt ngô bung Giữa đạn bom ta lọc ra hạnh phúc Tim dần trong sáng mãi đến vô cùng Ta đã sống những phút giờ hạnh phúc Tầm dân tộc ta và kích tấc loài người Bừng vẻ đẹp chắc và bền của đất Thung lũng đau xưa vàng rực những mùa vui… Ta hiểu được những ai đã sai và có thể còn sai Và chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng con người Phía trước đằng sau bên ngoài và chính giữa Như Quảng-bình, Vĩnh-linh càng yêu trong khói lửa Ta nhìn hết sự xấu xa và bỗng nở nụ cười Mở đài địch như mở toang cánh cửa Nghe nó chửi ta mà tin ở ngày mai Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi Ta vui lắm những niềm vui cởi mở Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi… |
Trích:
Trăng Trung Hoa sảng hơn trằng Nước Mỹ! Đông hổ, chi bằng Liền Xô?! Dù cho Thuy sị đồng hồ!!! |
Chào các bạn !
Rất cám ơn sự tham gia và góp ý của các bạn trong mục mới "Chuyện sinh viên". Theo nhận xét của riêng tôi, thì hình như những vần thơ do Đặng Tuấn Phương chợt nhớ và ghi trong bài viết ấy là thơ dân gian , nhưng vì Bút Tre cũng có những vần thơ ngộ nghĩnh tương tự nên dễ gây ra sự lầm lẫn... Hiện nay vẫn chưa thể xác minh những vần thơ ấy chính xác ra sao và chính xác là của ai... , nên chúng tôi vẫn giữ nguyên như tác giả của bài viết là Đặng Tuấn Phương đã ghi ra như vậy . Khi nào các bạn sưu tầm được những vần thơ chính xác và tác giả chính xác về vấn đề này thì chúng tôi sẽ sửa đổi lại . Cám ơn các bạn |
Trích:
Chẳng phải vô cớ mà bác nbinhdi đã bỏ công post cả một bài thơ dài, rất nổi tiếng của nhà thơ Việt Phương, hồi ông còn là thư ký của TT Phạm Văn Đồng. Bài thơ nói về những suy tư ấu trí một thời..., mà trong đó, những câu sau ăn sâu vào tiềm thức của nhiều người thế hệ đó: Ta nhất quyết đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào Mường tượng rằng trăng Trung-quốc tròn hơn trăng nước Mỹ Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao Do vậy mấy vần thơ mà bác Đặng Tuấn Phương nhớ và ghi lại: “…Trăng Việt Nam sáng hơn trăng nước Mỹ Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sỹ…” hẳn có xuất xứ từ đây, chứ không phải là thơ dân gian, càng không thể là thơ Bút Tre. Ngày ấy thơ của Việt Phương được đánh giá là thơ đi trước thời đại. Tập "Cửa mở" của ông ra đời và sớm bị cấm. Mãi đến thời đổi mới mới được in lại. Kỷ niệm 80 năm ngày sinh, cách đây vài năm, ông cho ra đời tập thơ thú 2: "Cửa đã mở". |
Chào các bạn !
Với những góp ý sắc sảo và đầy thuyết phục thế này thì tôi phải thay mặt Đặng Tuấn Phương mà sửa lại những vần thơ trong bài "Chuyện đồng hồ Liên Xô" vậy ! Cám ơn các bạn . |
Bài này nếu post vào đây, có vẻ sẽ là lạc đề nặng. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ rằng việc kể chuyện SV ngày trước - dù có là SV du học - cũng nên đặt trong một hoàn cảnh cụ thể của thời bấy giờ, là cái mà đã không chủ ý vẫn cứ len vào chuyện kể bây giờ về thời kỳ mấy mươi năm trước ấy dưới bóng dáng của câu thơ mà trong dân gian chỉ còn lại giản thể của nó "trăng Trung quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/Đồng hồ Liên xô tốt hơn đồng hồ Thụy sỹ". Nghĩ như thế nên tôi vẫn muốn lôi về đây cái bài dưới đây:
PS: Nếu ban quản trị thấy không hợp và nếu các bác trên 4R thấy không hợp, xin BQT xóa hộ bài - ghi sẵn để phòng khi tôi không còn quyền sửa bài nữa sau 24 tiếng. Biên bản cuộc họp về tập thơ Cửa mở của Việt Phương Nguồn: Hội ngộ văn chương - Nguyễn Trọng Tạo http://hoingovanchuong.wordpress.com...C6%B0%C6%A1ng/ HNVC: Khi đang làm Trưởng ban biên tập báo THƠ (báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam), nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tình cờ có được Biên bản cuộc họp về tập thơ Cửa Mở, ngày 12.11.1970, (bản in roneo). CỬA MỞ là tập thơ của tác giả Việt Phương (Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) - tập thơ này sau khi phát hành được vài tháng thì bị thu hồi, và cuộc họp này đã diễn ra sau đó. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rất mừng, anh xin phép nhà thơ Việt Phương và thuyết phục Tổng biên tập Hữu Thỉnh để công bố biên bản này với mục đích để mọi người biết sự thật ý kiến của những người tham dự cuộc họp bất thường đó (vì mấy khi lại họp mật về một tập thơ!). Cuối cùng, Biên bản cuộc họp.. lần đầu tiên đã được công bố trên báo THƠ số 14 ra ngày 7-8-2004, làm xúc động người đọc cả nước. Và ngay ngày hôm sau, Biên bản này đã được báo điện tử Talawas ở nước ngoài công bố lại theo báo THƠ. Sau Cửa mở, Việt Phương đã cho ra mắt tập thơ Cửa đã mở, và mới đây là tập Bơ vơ đông đảo, được đông đảo bạn đọc yêu thích. HNVC xin đăng lại Biên bản cuộc họp… như một tư liệu quý cho những ai nghiên cứu về tình hình văn nghệ Việt Nam thời “bao cấp” và nghiên cứu về Việt Phương. Lời BBT báo Thơ: Cuối năm 1970, nhiều cửa hàng sách sau khi bán tập thơ Cửa mở của Việt Phương (Nxb Văn học – 1970), liền phải đi thu hồi sách về, nhưng rốt cuộc chỉ thu hồi được từ các thư viện, chứ không thể thu hồi được sách đã bán cho khách “vãng lai”. Nhưng theo nhiều nguồn tin, kể cả từ tác giả, thì Cửa mở không hề bị cấm. Tuy vậy, tập thơ đã được nhiều người chuyền nhau đọc, hoặc chép tay, học thuộc… 18 năm sau Cửa mở được tái bản và bán hết veo trong một thời gian ngắn. Ðể bạn đọc hiểu rõ hơn những “bí mật” phía sau Cửa mở, báo Thơ xin giới thiệu Biên bản cuộc họp quan trọng về tập thơ này tại Nxb Văn học ngày 12-11-1970, với sự tham gia của nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình, nhà quản lý và cán bộ xuất bản, phát hành thời bấy giờ như: Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trinh, Vũ Ðức Phúc, Hoàng Xuân Nhị, Nông Quốc Chấn, Huyền Kiêu, Lưu Trọng Lư, Thanh Tịnh, Vũ Tú Nam, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Trung Thông, Hoài Thanh, Xuân Tửu, Tế Hanh, Bùi Hiển, Vũ Khiêu, Phan Cự Ðệ, Phạm Hổ, Khái Vinh, Hoàng Ước, Hồng Long (thay đồng chí Phan Hiền); Trần Dũng Tiến (Văn Giáo), Việt Phương (tác giả), v.v… Có một số người được mời nhưng vắng mặt: Nguyễn Ðình Thi, Hà Xuân Trường, Nguyễn Bắc… Cuộc họp do Như Phong, giám đốc Nxb chủ trì. Dưới đây là nguyên văn các ý kiến phát biểu trong cuộc họp. (NGUYỄN TRỌNG TẠO) |
Biên bản (phải cắt làm 3 bài vì quá dài - 4R không cho post bài dài quá như vậy)
Ð/c Như Phong: Cuộc họp này nằm trong một sinh hoạt đã thành thường lệ của Nhà xuất bản chúng tôi, tổ chức ra để tạo điều kiện cho các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình, trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với tác giả các tác phẩm do chúng tôi xuất bản. Sau khi tác giả trình bày ý định sáng tác của mình, chúng ta sẽ hỏi thêm và sẽ góp ý kiến. Về tập Cửa mở mới ra cũng có nhiều dư luận. Vì phạm vi thì giờ, nên hôm nay, chúng ta chỉ giới hạn trong sự tìm hiểu và đánh giá nội dung tác phẩm, giúp tác giả khẳng định chỗ được, chỗ chưa được. Những điểm thuộc về phong cách, nghệ thuật sẽ bàn thêm về sau. Bây giờ mời đồng chí Việt Phương nói trước. Việt Phương: Ở đây, tôi xin nêu ý định của người viết. Còn về giá trị thẩm mỹ, phong cách và phương pháp sáng tác, nhất định tập thơ còn nhiều non yếu của người mới viết, mong có dịp được nghe ý kiến giúp đỡ, nhưng tôi hiểu là không phải trọng điểm của cuộc họp mặt này. Ý định người viết là viết về cuộc chống Mỹ cứu nước, cuộc chiến đấu cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng ta, những ý nghĩ và tâm tình của người chiến đấu viên, người đảng viên cộng sản trong cuộc chiến đấu ấy. Ý nghĩ và tâm tình này nảy sinh từ sự giáo dục của Ðảng, sự thu hoạch trong công tác, trong đời sống. Ý nghĩ và tâm tình ấy, người viết thấy trong bản thân mình, và cũng thấy trong những đồng chí, những chiến hữu cùng trong Ðảng hoặc ở ngoài Ðảng, mà mình được gặp gỡ. Vì vậy, trong tập thơ thường viết “ta”, là với ý “đồng chí ta, anh chị em “ta”. Chỉ có một bài viết “tôi” (“Người tôi theo mà chưa từng gặp mặt”). Vì bài ấy muốn nêu một tâm tình chung, nhưng thông qua một sự việc cá thể hoá đến mức không thể dùng chữ “ta” được. Mấy bài viết với cách xưng hô “anh, em” không phải chỉ là về tình yêu của một người con trai với một người con gái. Nói vắn tắt những ý nghĩ và tâm tình ấy, đó là quyết tâm chiến đấu và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, vào thắng lợi của chống Mỹ, cứu nước và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, niềm tin vào thắng lợi của lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ðó là tình yêu và lòng gắn bó với Ðảng, với Bác, với dân tộc, với đồng chí và đồng bào, với nhân dân lao động, mà tập thơ gọi là: những con người, những con người chân chính. Khi nói con người, là nói nhân dân lao động chúng ta. Ðó là lòng căm thù đối với đế quốc Mỹ, đối với bọn xâm lược, áp bức, bóc lột, đối với chủ nghĩa tư bản, mà tập thơ gọi là bọn quỷ, bầy thú dữ. Có lúc nói nỗi đau trong một số bài, với sự cân nhắc về mức độ, là nói nỗi đau vươn lên của người chiến đấu viên trong hàng ngũ cách mạng, khác hẳn nỗi đau cá nhân chủ nghĩa; tuy nỗi đau của người chiến đấu viên cách mạng là nỗi đau chuyển thành sức mạnh tấn công để trở thành niềm vui, nhưng còn cao vượt hẳn nỗi đau, và tràn đầy tâm tình người chiến đấu viên cách mạng, là niềm vui chiến đấu và chiến thắng. Trên đây là ý nghĩ và tâm tình người viết. Còn trong việc thể hiện, ở một số bài, có một số câu đã được cân nhắc thật chín chắn chưa, điều đó người viết cũng có sự suy nghĩ và ý kiến của mình, nhưng xin để trình bày sau. Huy Cận: Thơ Việt Phương, bài đã in và bài chưa in, tôi cũng được đọc trước, đọc từ lâu. Có bài tôi giục gửi đăng. Và cụ thể có dư luận tốt (Bài Khóc Bác). Làm thơ mà cứ cất đi, nín đi lâu mới đăng, cũng là ít người. Tôi nói như vậy để chứng tỏ đồng chí Việt Phương đã là người thận trọng. Hôm nay bàn về tập Cửa mở, mà chủ yếu là nói về nội dung tư tưởng, tình cảm, chưa nói về phong cách nghệ thuật, thì tôi nói rằng: Trước sau đồng chí Việt Phương là một đồng chí rất trung thực, một cán bộ, một đồng chí trung thực. Ðiều này tôi quen đồng chí Việt Phương 24 năm, những ai quen đồng chí Việt Phương chắc cũng đồng tình nh vậy. Tôi nói trung thực trong tâm hồn sáng tác. Về nội dung tập thơ, tình cảm tác giả, không phải ở đôi ý, chữ mà toát lên cả bài thơ là tốt. Nói lên những cảm nghĩ chân thành về nhiều vấn đề: Ðảng, Bác, chế độ. Quý nhất là nói đến thái độ của người đảng viên trước những góc cạnh đặt ra trong cuộc sống, trong cuộc chiến đấu của phe ta với đế quốc. Từ những bài thơ định nói, quả thật toát lên lòng tin (không phải chỉ tin bằng chữ). Lòng tin này có bề sâu, là lòng tin bên trong, đôi khi nói thầm (cũng có đôi khi cao giọng) với mình, với đồng chí. Nó có màu sắc của một người nhiều thanh niên tính, sôi nổi. Dù tuổi đời và kinh nghiệm của đồng chí Việt Phương như thế nào, nhưng trong thơ có nhiều thanh niên tính (có cái hay đáng quý và cũng có cái chưa chín). Trong thái độ sáng tác thì nghiêm túc, nói thẳng những điều mình tin là đúng. Thẳng thắn với mình, với đồng chí, với vấn đề, không né tránh. Trong một số bài, một số khía cạnh, có sự dũng cảm, bởi vì có những cái đôi khi ta nghĩ mà không dám nói, những vấn Việt Phương nói đúng. Tóm lại, tốt vì có lòng tin, nghiêm túc và trong chừng mực nào đó có dũng khí. Sở dĩ còn có một số dư luận, tôi nghĩ là do phong cách thể hiện. Có người khó hiểu về lối cấu trúc thơ, đoạn thơ. Có một số câu ở đôi bài có thể làm cho người đọc này, nọ hiểu khác đi (tôi không nói hiểu sai) hiểu khác là có thể hiểu đúng hay hiểu sai, nhưng khác với ý tác giả. Mà việc này, riêng tôi đã hai lần giải thích cho một vài bạn đọc. Ví như: chúng ta đây ai cũng hiểu câu Ðảng là những mối lo đời thường trực là ý nói Ðảng rất quan tâm đến cuộc sống hàng ngày, nhưng đồng chí X là cán bộ tốt, bảo tôi cũng có cách hiểu thứ hai. Tôi bảo bất cứ câu thơ nào cũng có thể hiểu như vậy. Anh ta bảo: những câu thơ ấy có thể biểu tượng hai mặt. Tôi trả lời: “Thế thì biểu tượng hai mặt trong đầu anh, chứ tác giả khi viết nó có thế đâu”. Ðó là sự hiểu khác, tôi có thể giải thích được. Còn trường hợp ở câu Mở đài địch… mà vẫn tin ở tương lai thì dù tôi hiểu đúng ý tác giả muốn nói: không sợ địch khi mình đã mạnh – nhưng giải thích sao cho anh ta thông, đúng với quy định đọc “bản tin mật” và khẩu hiệu “không nghe đài địch”, thì anh ta chưa chịu. Ðiều này, mà cũng chỉ một vài điều này, để đồng chí Việt Phương xem đã cân nhắc kỹ chưa? Câu Ðảng lịm đi… tôi hiểu xuất xứ từ ý Mác, mà cũng có người vặn vẹo. Nhưng thôi, phải đọc cả văn mạch người viết, không nên hiểu cắt khúc đơn giản. Tôi nghĩ nếu anh Việt Phương chú thích thêm thì tốt hơn. Trong thơ cũng cần chú thích. Ngay thơ đồng chí Sóng Hồng cũng có câu đồng chí ấy chú thích. Duy chỉ có câu nói ý về “đồng hồ Liên Xô, trăng Trung Quốc”, thì chúng tôi có nghĩ gây cho người đọc ngờ mình dè bỉu, dù tôi hiểu ý tác giả muốn nói lúc đầu đi vào cách mạng còn ngây thơ. Tóm lại là tập thơ tốt, có một số câu ở một số bài có thể cần cân nhắc tính quần chúng trong thơ. Hoàng Xuân Nhị: Tôi đã đọc kỹ. Tôi muốn nói về chủ đề của tập thơ là điều còn phân vân: Ðồng ý như tác giả là muốn nói con người đảng viên, người cộng sản. Tôi cũng thích những bài như “Tâm sự Ðảng viên” và cả bài “Ðảng”, nhất là hai bài viết về Bác (dù bài sau có yếu hơn). Nhưng chủ đề tập thơ phanh từ những bài về Ðảng, Bác hay là từ chủ đề Cửa mở? Hay là tình yêu? Giữa căm thù và tình yêu có phải đồng chí nặng về tình yêu không? Trong khi đồng chí nói say sưa về Ðảng, về Bác thì cũng say sưa về trái đất. Tôi dẫn bài “Nỗi đau trái đất» là bài tiêu biểu cho cảm hứng sáng tác của tác giả. Riêng bài này, tôi thấy dù có thẳng thắn nhiệt tình, nhưng có chỗ không tốt, về mặt tư tưởng thì nó có khuynh hướng duy tâm khách quan. Ðây là điều nghĩ của tôi thôi, vì trước đây tôi cũng là người mê hướng này, thích những câu thơ như: “Chết nhẹ nhàng ôm cả trái đất”, mãi về sau mới rứt ra được. Vậy thì đồng chí hãy xem ở bài đó, phải chăng lý trí thì tự khẳng định tính Ðảng, tính Cộng sản, nhưng khi sáng tác thì để lôi đi, có những chỗ gợi chủ quan, siêu hình. Tôi nhắc lại, tôi chỉ băn khoăn chứ không phải khẳng định. Nói thêm về các chủ đề: ngoài những bài như “Tâm sự Ðảng viên”, “Muôn vàn tình thân yêu”…, thì bài “Người tôi theo mà chưa từng gặp mặt” tôi cũng thích. Tứ thơ tốt, bài về Ðảng cũng vậy. Nhưng câu viết Ðảng lịm đi thì thực ra đồng chí cũng chưa hiểu hết chữ Déperir. Nhưng câu này sai ở chữ không còn sống nữa, chủ quan tôi hiểu như vậy, còn bài này thì nhiều chỗ tốt, nhiệt tình. Ðấy, một số bài có lỗi nghĩ trừu tượng. Ðoạn nói về đồng hồ Liên Xô, Trăng Trung Quốc nhiều người không quen đồng chí thì không hiểu. Như tôi buổi đầu còn du học thì tôi chưa tin Liên Xô. Về sau Ðảng dạy mới tin. Hình tượng hoá sự ngây thơ, dễ cho bọn xấu moi móc. Cơ bản đoạn đó, tôi không đồng ý, dù có sửa chữ thì hình tượng đó cũng không nên dùng. Ngoài ra cũng có chỗ cần xét về mặt sách lược; Ðả De Gaulle, đả sinh tồn chủ nghĩa của J.P. Sartre là không đúng. Câu viết: Ta đánh Mỹ, vậy thì ta tồn tại đã đúng chưa? Lẽ nào chỉ có đánh Mỹ ta mới tồn tại? Cần gì phải chọi lại Descartes? Nếu một người Mỹ đọc câu này thì họ lo: “Chết, thằng Việt Nam nó đánh mình mãi thôi”? Lại nói không kiên cường đánh Mỹ không nên người thì có được không? Ngoài ra, trong bài “Muôn vàn tình thân yêu…”, riêng câu diễn ý Bác nói: không thích gọi trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp, xem có phải dùng chữ mà hiểu sai ý Bác, vô tình sa vào chủ nghĩa nhân đạo chung chung siêu giai cấp? Vì có một em học sinh vướng mãi vào câu thơ đó không dứt được. Trần Dũng Tiến: Cùng làm việc và sống với anh Việt Phương, tôi khẳng định Việt Phương là cán bộ có tín nhiệm. Ðọc thơ Việt Phương tôi nghĩ không có gì vẩn đục cả, không có gì là phản tiến hoá. Ðó là suy nghĩ của một người cộng sản chân chính. Bởi vì hiện tại ít nhiều người cộng sản đều phải phấn đấu như thế, phấn đấu nhiều. Mà lẽ ra là ta phải phấn đấu. Theo tôi biết, nhân dân lao động còn yêu cầu ở đảng viên rất nhiều, nhiều vụ khiếu tố đề đạt lên trên. Việt Phương nói đến những điều đó, có dũng cảm. Trong tập thơ có những bài hay, ý hay. Tôi đã được đọc trước, có bài còn gai góc hơn mà ở tập này đã bỏ ra. Tôi nghĩ thơ Việt Phương là loại thơ tự sự, cũng như Aragon (phần nào). Còn việc dọn ra món ăn bài này, bài khác cho người ta dễ hiểu hơn, ăn được, lại là chuyện khác, cần có sự nghiên cứu. Vì không phải làm thơ cho mình nữa rồi. Nhìn kỹ vào thì Việt Phương vẫn còn hiện thực. Nhưng hiện thực mà Việt Phương hiểu, sống, khác với anh em khác như Phạm Tiến Duật, Lý Phương Liên… chất liệu mỗi người có một môi trường nhất định. Chất liệu Việt Phương còn thiếu cụ thể, mà là khái quát. Tôi nghĩ sáng tác có đa dạng như vậy cũng là tự nhiên. Ðọc thơ Việt Phương, ta thấy anh muốn nói trách nhiệm. Người Cộng sản có nhiều điều đáng lo hơn, chứ không phải chỉ lo “đánh tổ tôm”. Gớm, cái “nạn tổ tôm” còn nhiều. Tôi lại nghĩ thơ cần những hình tượng sâu sắc, chứ không cần những thứ tẻ nhạt. Tóm lại, thấy Việt Phương có những bài hay, nhiều ý hay. Tôi đồng ý khi in đã bỏ nhiều bài, giá như một số bài còn nên gọt nữa. Riêng tôi hiểu, bài “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi” là có lý tưởng, nhưng hiểu một cách trích đoạn thì hơi nguy hiểm. Dư luận về tập thơ có gây sóng gió. Nhưng tôi xin kiến nghị: để cho tự nhiên. Cần sửa chữa, cắt những chỗ cầu kỳ về hình thức. Ðôi khi mình lại gán cho Việt Phương mà không phải ý của Việt Phương chăng? Ðến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu hết chữ Em, Còi ôtô màu than đen là sao? Vậy, động cơ tư tưởng của Việt Phương tôi cho là đẹp đẽ. Thơ hay, ý hay nhưng thiếu thực tế. Xin cố gắng để dễ hiểu hơn, đề nghị cứ tự nhiên… Vũ Khiêu: Thơ Việt Phương đã có nhiều dư luận. Bản thân tôi cũng có làm nhiệm vụ giải thích. Riêng tôi thấy Việt Phương có một phương hướng sáng tác đa suy tưởng vào thơ ca. Tôi tán thành phương hướng đó. Thơ nhất định phải có tư tưởng. Trước đây, những tập thơ mô tả bằng phẳng ít được chú ý. Nhà thơ phải sáng tác với tâm trí, trách nhiệm của mình theo Ðảng. Tôi thấy đồng chí Việt Phương đã có những điểm thành công, vì đây là những suy nghĩ tốt. Ðừng tách ra từng câu, đặt vào toàn bài, toàn tập, và đặt câu đó vào bài, rút ra ý nghĩa cả tập: đây là suy nghĩ của con người vững tin ở Ðảng, có tâm hồn trong trắng. Mà những suy nghĩ đó gắn liền với thời đại, với giai cấp, với những vấn đề ta đang sống. Thành công của Việt Phương là chỗ đó, là tốt. Có những câu cụ thể gây dư luận thì ta cũng thấy là dư luận chưa nhất trí. Chưa nhất trí về cách hiểu. Cho nên chỉ có thể gợi cho tác giả suy nghĩ. Anh Việt Phương có những suy nghĩ chân thành, có tâm, về nhiều vấn đề, cả vấn đề thành tựu khoa học. Cho nên phải hiểu. Ngay câu Ðảng là cái ranh giới giữa ngay thẳng và gian tà…, tôi hiểu Việt Phương muốn nói Ðảng là sức đấu tranh của chúng ta với thói hư tật xấu. Phải hiểu như hiểu ý Lênin đã nói “Người cộng sản xây dựng bằng chất liệu khác”. Tóm lại Việt Phương viết với tâm hồn trong trắng và thành thực, bài học kinh nghiệm là chú ý đến tính quần chúng trong tập thơ, đừng để người ta không hiểu mà cứ hỏi là “nói ai?”. Hồ Tôn Trinh (Hoàng Trinh): Tôi thì trước khi đọc và sau khi đọc vẫn là tin ở tác giả, cho nên không có gì phải giải thích. Tập thơ tỏ ra có nhiệt tình, một số bài tốt. Việt Phương có những thành công bước đầu và tôi tin anh sẽ trở thành nhà thơ tốt. Có một số đoạn gây hiểu lầm là vì quan niệm đơn giản về tình hình văn nghệ, do tác giả chủ quan. Chưa biết bạn đọc thường hay liên hệ với toàn bộ bối cảnh, dù người ta có tin cậy anh Việt Phương thì vẫn cứ liên hệ. Tôi chỉ xin cung cấp một kinh nghiệm. Hiện nay châu Âu đang thịnh hành quan điểm “con người tự lừa dối” (Autohypocrisie và nó kích sáng tác phải tìm tòi, “nói thật”). Tôi nghĩ bây giờ ta nên chống những quan điểm xét lại là chính, đồng thời cũng chống sơ lược, giáo điều. Tôi hiểu anh Việt Phương không muốn bình thường, muốn sáng tạo và về cơ bản tập thơ thì ai cũng hiểu động cơ tốt. Nhưng động cơ sáng tác tốt mà thể hiện chưa được hoan nghênh lắm thì cũng nên suy nghĩ, nhất là chú ý đừng “tiền phong chủ nghĩa”. Chế Lan Viên: Ở các cuộc họp khác không nhắc con người tác giả. Nhưng ở đây các anh nhắc con người tác giả là cần thiết. Chính cần khẳng định để không cần nhắc Nhân văn, Nobel ở đây. Nên hiểu một người để đọc sách họ. Nên hiểu cả tập sách không nên hiểu qua một câu. Nếu đọc riêng một vế mong cho chóng lớn mà ăn cướp thì nguy cho người viết. Có lần tôi cũng đã nói nếu đọc tách từng câu thì đến thơ anh Tố Hữu cũng sẽ bị hiểu lầm. Nhưng sao lại không chú ý cả bài thơ của người ta? Theo kinh nghiệm của tôi thì khi mình viết phải nghĩ trước mắt mình có môi trường độc giả cả những người không thích mình. Ðọc trong phòng lại khác, tôi đã bảo anh Việt Phương đăng báo dần để làm quen với bạn đọc, cho nên khi in thành sách thì vội. Nhìn vào tập thơ mà tôi đã đọc trước khi in, tôi thấy có người tốt khen, có người chưa hiểu. Riêng tôi, khẳng định tập thơ là tốt. Vì sao? Vì nó chống chủ nghĩa đế quốc, chống xét lại. Tác giả ca tụng Việt Nam (điểm ca tụng Việt Nam) thì tôi nghĩ ca tụng quá mức, không nên đưa Việt Nam lên quá mức). Một trong những bài hay là bài viết Khóc Bác. Nhưng chỗ yếu của thơ Việt Phương: thiếu thực tế. Bảo rằng Việt Phương không có sự sống là không đúng, chỉ là thiếu cụ thể trong sự sống (nỗi đau gì, cần nói rõ, không gian và thời gian trong môi trường cụ thể hơn…). Thơ có quyền và cần đi vào suy tưởng, Việt Phương đưa đến một tiếng nói, trả giá bằng suy tưởng của mình, do đó tập thơ có sức nặng, đọc xong người ta muốn đọc lại. Vì những vấn đề nêu lên đều nói về Ðảng, về lịch sử, về nhân dân. Nói về Ðảng ngay cả những điều còn gai góc. Nói tình yêu cũng có suy nghĩ chứ không riêng trai gái. Có sự dũng cảm. Nhưng vì thiếu vốn sống cụ thể nên có bài rơi vào duy lý, không khéo sa vào duy tâm. Ví như: bây giờ thì đã cần đặt vấn đề “nỗi đau trái đất” làm gì? Ðếm tỷ lệ số câu, số bài chưa đạt ít. Xem thơ phải như xem cánh đồng. Phải nhìn vào cơ bản tốt. Như về Thái Bình 7, 8 tấn tuy cũng có đám ruộng còn bỏ hoang. Trong văn học ta hiện nay, tính bảo thủ nặng hơn sáng tạo. Người nào muốn tiến lên thì phải trả giá. Cũng có người rơi vào Formalisme vì không có nội dung. Nhưng anh Việt Phương thì có nội dung. Vậy tóm lại: 1 tập thơ tốt, có câu sai, có chỗ được, chỗ chưa được. Anh Việt Phương cứ tiếp tục. Lưu Trọng Lư: Tôi mới được đọc. Xin phát biểu chân thành với tác giả vài ý. Tôi đánh giá cao bài “Âm vang” (trước gọi là bài Quảng Bình). Tôi mừng cho Việt Phương, dù là hướng sáng tác của tôi khác Việt Phương. Tôi đồng ý thơ là phải có tư tưởng triết lý, có điều không phải tự làm tư tưởng. Những câu thơ đạt nhất là tư tưởng từ thực tế. Tư tưởng không thể thoát ly thực tế, nên đi từ cuộc sống hàng ngày mà nâng lên. Do đó, thơ Việt Phương những cái được thì rất thích. Ví như những câu trong bài “Âm vang” (ngâm một đoạn) tôi rất thích, ai dám bảo là không suy tưởng, nhưng khi suy nghĩ trừu tượng, làm tư tưởng chưa xuất phát từ thực tế thì có chỗ xa lạ. Tôi hiểu lòng của anh, tâm hồn của anh nặng về cái mới. Có những bài hay, những hình tượng hay như trong bài Khóc Bác. Tâm hồn, thiện chí của anh muốn đóng góp một cái gì đấy. Ðọc thấy không sai đã đành và không bẻ được. Ðây không nói, chính sách. Nói thì dễ, viết thì cần rút ra bài học. Trước hết, Ðảng gọi chúng ta vào thực tế là đúng. Sau đó phải nhớ câu hỏi: ai đọc chúng ta? Tôi không dám nói là “siêu hình” như anh Nhị, nhưng cũng nên rỉ nhau chú ý. Xuân Diệu: Tôi là một trong những người ủng hộ tập thơ ra. Tôi không giới thiệu, nhưng ai giới thiệu thì tôi ủng hộ. Tôi đã có đọc trước khi in và có nói với Việt Phương: “Thơ của cậu là thơ ở Laboratoire”. Tôi tuy đả thơ thuần lý nhưng không thù. Vì tôi nghĩ làm thép cũng có nhiều công thức. Sở dĩ tôi ủng hộ thơ này ra là vì nó đặt được những vấn đề. Hôm nay tôi cũng khẳng định chính trị tư tưởng của nó là tốt (tuy trong sách lược địch, ta, còn có chỗ hở như mắng De Gaulle, đả tháp Eiffel… Ðứng về tư tưởng thì không nên hợm mình mà đả tháp Eiffel). Về chính trị tư tưởng tốt, vậy thì do đâu mà có phản ứng ở vài bài? Một phần có va chạm người đọc, người đọc cho là tác giả kiêu. Tôi đồng ý cảnh giác cái kiêu cá nhân, nhưng đã là cái “kiêu” tự hào của anh thi sĩ, coi mình như long như hổ thì đúng và không sợ. Anh Nhị đòi hỏi có gắt gao và tôi không ngờ, nhưng để anh Việt Phương nghiên cứu. Tuy ta đề phòng chủ nghĩa xét lại, nhưng phải gãi cho đã ngứa và cho công chúng cái thật. Hiện còn tồn tại hai cách: Trong báo, ở đài nói khác, ra ngoài nghĩ khác. Thật là vô lý! Và nguy hiểm nếu mình thấy cái sai mà không nói. Tiết mục “Thợ xây kể chuyện” ở trên đài, tôi rất thích. Vũ Ðức Phúc: Tôi cũng khẳng định là tập thơ tốt. Và anh Việt Phương là người tốt. Ðọc cả tập thì được, nhưng tách ra còn có vấn đề. Câu Trận đánh tuyệt đẹp: không nên hiểu Bác là một anh tiểu tư sản. Tôi đồng ý có người suy luận, bẻ queo. Không cứ gì với thơ Việt Phương mà tôi viết lý luận cũng có người bẻ queo. Ðến Mác-Ăng-ghen cũng còn có người giải thích sai! Cho nên nói về Bác, về Ðảng là phải thận trọng. Không tán thành ý nói có hai sự thật và muốn giấu đi. Ý thơ Bác là phải vút lên: Bỗng nghe vần thắng vút lên cao. Ta phải hiểu từ đó mà tìm cái tiến lên, phấn khởi. Cái đau khổ không phải là cách mạng chân chính… Xuân Diệu (ngắt lời): Thế tôi hỏi anh Vũ Ðức Phúc, anh có lúc nào đau không? Bác Hồ có đau không? Vũ Ðức Phúc: … Có khi mức độ nghĩ, tiếng là đúng, nhưng đặt vấn đề vào một hoàn cảnh thành không đúng. Bây giờ mà không làm cho người đọc phấn khởi là không đúng. Phải hiểu cách nào không hại cho cách mạng đang ở trong thế tấn công. Riêng chữ lịm ở trong bài Ðảng là sai, sách kinh điển là: Nhà nước tự tiêu vong. Hoàng Ước: Tôi xin nói ý kiến cá nhân, không phải đại diện cho tổ chức. Tôi tán thành những ý kiến của các anh Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Khiêu, Chế Lan Viên, Trần Dũng Tiến. Tôi phản đối ý kiến của các anh Hoàng Xuân Nhị, và chừng nào anh Vũ Ðức Phúc và anh Hồ Tôn Trinh. Nhưng hôm nay chưa phải vấn đề tranh Luận. Ðây tôi chỉ nói hai ý kiến để góp phần làm rõ nội dung tư tưởng của tập thơ. Nếu tôi ở trong Nam, tôi sẽ dùng một số bài của Việt Phương để giáo dục anh em thanh niên trong kia, vì nó là ngọn lửa, thắp sáng tự hào của chúng ta. Từ trong B ra tôi thấy cuộc sống có Ðảng ta, tôi khâm phục lắm. Ðảng ta anh dũng lắm. Còn như vấn đề đau hay không?, thì có đau chứ, không đau thì sao mà chiến đấu. Ðừng nghĩ đơn giản. Trong Nam, chúng tôi có đau mà vẫn nghe Giao hưởng. Vậy đừng nên tầm thường hoá người đọc. Bác Hồ cũng không buồn, Bác chỉ đau. (Xuân Diệu: câu thơ của anh Tố Hữu: Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu). Vậy ta có quyền đau. Tôi chỉ sợ người ta quên mất đau. Cho nên, mỗi lần ra đây, chúng tôi đi viếng mộ anh Nguyễn Chí Thanh. Tóm lại đây là một tập thơ trong sáng. Tôi chẳng băn khoăn gì về chủ đề. Chủ đề đã rõ là chiến đấu, là đánh Mỹ, trong đó có chúng tôi. Tất nhiên còn câu hớ hênh, mong rằng tác giả cố gắng tiếp thu, để khi tái bản sửa chữa tốt hơn nữa. 18 giờ – Một vài bạn còn định nói nhưng đã quá giờ, chủ toạ đề nghị anh Việt Phương phát biểu thu hoạch. |
Biên bản (tiếp)
Việt Phương: Tình đồng chí xây dựng trong cuộc họp làm tôi rất cảm động. Nhiều lời của các anh là những bài học đối với tôi. Lúc bắt đầu buổi họp, tôi có nêu lên rằng về một số câu trong một số bài, tôi đã có suy nghĩ, tự kiểm điểm. Bây giờ là lúc tôi xin nói về chỗ ấy. Nhưng trước đó, tôi xin phép trình bày rõ thêm đôi điều: Anh Nhị nghĩ rằng tôi nặng tình yêu hơn căm thù. Vâng, đó đúng là ý nghĩ và tâm tính của tôi. Tôi đặt tình yêu Ðảng, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội là cơ sở, là nền tảng của lòng căm thù với bọn đế quốc, tư bản. Như thế không phải là ít căm thù. Tôi hiểu rằng Ðảng ta, đồng chí Lê Duẩn thường giáo dục chúng ta như thế. Cho nên, trong 1 bài của tập thơ, tôi viết câu: Ta đánh Mỹ bằng tình yêu vĩ đại…, rồi tiếp sau đến câu: Ta đánh Mỹ bằng căm thù vĩ đại. Về tên của tập thơ, vốn lúc đầu tôi đặt là: Tình thân yêu. Các đồng chí biên tập của Nhà xuất bản và một số đồng chí khác có góp ý là cái tên ấy hơi giống tên một vài tập thơ trước (Những tiếng thân yêu, Tôi đến, tôi yêu), nên tôi đổi lại là Cửa mở, cũng trong nội dung và tinh thần nói về lòng tin yêu đối với Ðảng, Tổ quốc và Nhân dân lao động, là chủ đề chính của tập thơ. Tôi có nói về nỗi đau trong một số bài, tỷ lệ không nhiều. Mà tôi nghĩ rằng tôi đã cố nói đúng như ý anh Vũ Ðức Phúc phát biểu khi nãy, tức là nói nỗi đau của người cộng sản vươn lên, chiến đấu. Tôi viết: Những nỗi đau sinh nở, Những nỗi đau sáng búa liềm, Nỗi đau ta mài sắc những bàn chông. Về bài “Nỗi đau trái đất”, thì tên bài có chữ đau, nhưng chủ đề là ca ngợi niềm vui, và niềm vui của cuộc sống của chúng ta trên trái đất, chứ không phải ở trong vũ trụ. Chủ đề ấy tôi viết rõ ràng trong 4 câu cuối: Trái đất của ta, hạt bụi li ti mà ta yêu quý thế Ôi cuộc đời người, vui đến cả khi đau Chỉ miễn là chẳng bao giờ: mặc kệ Ta sống say mê mỗi bình minh như thể sớm mai đầu Lúc viết, tôi nghĩ rằng: Ca ngợi niềm vui cuộc sống, mà trực tiếp kể những điều vui thì cố nhiên là đúng rồi. Nhưng nếu nói đến cả nỗi đau cũng làm nở ra niềm vui (của chiến đấu và chiến thắng, của trách nhiệm xoá bỏ nỗi đau, không mặc kệ được), thì niềm vui cuộc sống càng rõ, càng lớn. Còn một số giả thuyết khoa học về vũ trụ và những tưởng tượng tôi thể nghiệm đưa vào, là chỉ cốt để nêu tầm cao rộng và sức mạnh của niềm vui trong cuộc sống ở trái đất, đó là thuộc về biện pháp thể hiện, chứ không có ý gửi gắm trong đó tư tưởng vũ trụ, thoát ly trái đất. Về câu thơ: Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp, cho phép tôi được nói rõ hơn cách hiểu của tôi: đánh tiêu diệt nhiều sinh lực Mỹ, nguỵ là rất tốt, rất cần, đó là những trận đánh oan hliệt, đáng ca ngợi, kinh nghiệm nên phổ biến để đánh thêm ngày càng nhiều trận tiêu diệt lớn. Chỉ có điều là rung động thẩm mỹ ở đây thì chưa được hợp. Tiếp gần câu đó, tôi đã viết câu: Lòng Bác đối với quân thù như sắt thép. Về cách hiểu của tôi, tôi xin phép nêu vắn tắt như vậy. Bây giờ tôi xin nói về khuyết điểm của tôi trong tập thơ: Về giá trị văn học, về phương pháp sáng tác, tập thơ có những non yếu của một người mới tập làm thơ. Bên cạnh những non yếu đó, tập thơ còn có khuyết điểm là: trong một số bài, có một số câu viết dễ gây hiểu lầm của người đọc, và có thể bị giải thích trái ngược hẳn với tư tưởng và tình cảm người viết. Sự sơ xuất này, tôi tự kiểm điểm thấy là do: Trong những câu ấy, sự cân nhắc cả về ý và lời còn thiếu chín chắn, chặt chẽ, để bảo đảm nêu ra những điều thích hợp, và nêu thật chính xác, không gây hiểu lầm. Cách diễn đạt thường cầu kỳ, khiến càng dễ gây hiểu lầm thêm. Cách diễn đạt cầu kỳ này, bản thân tôi không ham chuộng, đây là một nếp cũ mà tôi cố rũ đi chưa xong. Tôi ngẫm nghĩ về hai thiếu sót trên đây, thì thấy một nguồn gốc chung là thiếu hiểu biết sâu sắc cuộc sống của quần chúng, cách nghĩ và cách nói của nhân dân lao động. Qua khuyết điểm của bản thân, tôi càng thấm thía bài học phải luôn luôn bám sát thực tế ở cơ sở và học hỏi nhân dân lao động. Có một điều mà tôi có bổn phận phải nói: Về những câu sơ hở có thể gây hiểu nhầm, một số đồng chí và các đồng chí biên tập của Nhà xuất bản, cụ thể là đồng chí Hoàng Minh Châu, đã gợi ý cho tôi cân nhắc trước lúc in vì sự thiếu kinh nghiệm, giản đơn tưởng rằng không có hiểu lầm được, nên tôi đã không sửa chữa được số câu sơ hở đó. Tôi hiểu rằng trong cuộc họp này, các đồng chí đã khẳng định cho động cơ viết và nội dung tư tưởng chính trị của toàn tập thơ là tốt. Tôi xin có lời nhờ cậy các đồng chí giúp đỡ, giải thích giúp tôi khi cần thiết, như nhiều đồng chí đã làm, để tránh sự hiểu lầm, và tránh cả cách giải thích cắt xén câu, chữ với dụng ý không tốt. Xin rất cảm ơn các đồng chí. Như Phong (kết luận): Chắc chắn rằng còn nhiều đồng chí muốn phát biểu nữa. Nhưng thì giờ chỉ có hạn. Vả lại đến đây, cuộc họp đã thu được nhiều kết quả rồi, mà kết quả tốt nhất là anh Việt Phương đã nhận ra những chỗ nào trong tác phẩm của mình là được và chưa được. Các ý kiến phát biểu ở đây đều rõ ràng cả. Xin miễn tóm tắt. Có mấy điểm rõ ràng là chúng ta đã nhất trí với nhau: Con người của tác giả không có vấn đề gì cả. Ðiểm này ở đây quan trọng. Vì nó loại trừ những dư luận này, nọ cho rằng trong thơ Việt Phương có những câu, những chữ có thể coi là “biểu tượng hai mặt”. Một cán bộ, một đảng viên như Việt Phương không có lý do gì mà có những ẩn ý xấu cần phải nói bóng, nói gió, nói cạnh, nói khoé… Tư tưởng tình cảm, chính trị trong thơ của Việt Phương không có gì lệch lạc. Ðó là những cảm nghĩ của một đảng viên về nhiều vấn đề lớn và có khi cả một số vấn đề gai góc nữa trong thời đại, trong phong trào cộng sản quốc tế. Những cảm nghĩ ấy có khi sôi nổi (chưa chín chắn), có khi xa thực tế, nhưng đều chân thành và toát lên một niềm tin ở Ðảng ta, ở dân tộc ta, ở cuộc chiến đấu của chúng ta… Trong tập Cửa mở có một số lời và ý mà người đọc hiểu khác đi (không nói hiểu đúng hay sai) nhưng hiểu khác với ý tác giả định nói. Nguyên nhân làm hiểu khác đi ấy có nhiều: do tác giả diễn đạt cầu kỳ, rắc rối; do người đọc tách rời văn mạch chung, cấu trúc chung của bài thơ mà hiểu v.v… Dù sao, cũng phải thấy rằng tác giả mới vào nghề còn thiếu nhiều kinh nghiệm, không biết môi trường quần chúng cụ thể, không biết rõ đối tượng của mình, nên không tính toán, cân nhắc rằng: thơ làm riêng cho mình thì khác, mà thơ đưa ra quần chúng có thể khác. Có một số ý kiến trong chúng ta, có người nêu lên như: thơ Việt Phương có bài có tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa siêu giai cấp không? Có bài có khuynh hướng duy tâm siêu hình không? Những ý kiến này chưa thể nhất trí được, vì chưa có thì giờ đi sâu vào thảo luận. Về phong cách, khuynh hướng, có thể cũng có nhiều ý kiến, nhưng ta cũng chưa có thì giờ thảo luận được. Anh Việt Phương đã tiếp thu một số điểm và có nói rõ ý định của mình trên một số điểm. Bây giờ Nhà xuất bản chúng tôi cũng xin tiếp thu những gì cần tiếp thu. Tôi vốn là một anh hay táo bạo ủng hộ cái mới trong văn học. Hễ cái gì mà tôi phát hiện và khẳng định là mới, thì tôi ủng hộ ngay. Cũng có khi phát hiện và khẳng định sai. Nhưng nếu cứ sợ sai thì không dám làm gì. Nếu cứ phải đắn đo, thăm dò ý kiến chung quanh mãi, thì một tác phẩm tốt chẳng hạn như Bão biển không thể nào ra được. Về tập thơ của anh Việt Phương tôi đã đọc hết cả, không những chỉ những bài đưa in ở đây mà còn nhiều bài chưa in ra. Những cảm xúc, suy nghĩ của anh Việt Phương trên một số vấn đề, không những tôi hiểu mà riêng tôi còn chia sẻ, còn tán thành… Việt Phương có một số bài phê phán trong nội bộ cán bộ ta và trong phe ta “dữ dội”. Những bài ấy, tôi đã gác lại không đưa ra, vì lúc này không có lợi. Nhưng ngay cả những bài ấy, tôi cũng tán thành. Chúng ta trong những ngày này có những niềm vui rất lớn và có cả những nỗi đau lòng lớn. Và tôi nghĩ rằng nếu chúng ta không thấy đau lòng về những chuyện ấy, không biết có còn là người đảng viên nữa hay không. Giữa chúng ta là cán bộ, với quần chúng bình thường bây giờ không khỏi không có một sự khác nhau về nhận thức, kiến thức. Có những ý kiến ta coi là thường vì luôn luôn nghiên cứu, thảo Luận, nhưng quần chúng không có điều kiện ấy thì khi nghe thấy không khỏi thấy là lạ tai, là đáng ngờ… Chính quần chúng chúng ta tốt là ở chỗ ấy; thấy cái gì lạ tai, đáng ngờ, thì phát hiện ngay, phản ứng ngay… Cần phải thấy đối tượng của mình là ai, khi nói một cái gì. Khi duyệt một bản thảo, tôi dần dần có kinh nghiệm là: nên đọc bằng mấy con mắt khác nhau. Lần đầu, đọc bằng nhận thức, cảm thụ của mình. Nhưng chưa đủ. Lại cần đọc bằng con mắt của một người đọc bình thường, với trình độ nhận thức, cảm thụ bình thường, xem có thể hiểu khác đi không. Cũng chưa đủ. Lại nên đọc bằng con mắt của kẻ địch, với những thủ đoạn, phương pháp xuyên tạc của nó, xem có gì sơ hở nó lợi dụng được không. Nhưng không phải đối với bản thảo nào cũng có thì giờ đem soi vào ba tấm gơng khác nhau như vậy… Bài học ở đây đối với Việt Phương cũng như đối với Nhà xuất bản có lẽ là phải có tính quần chúng: tính quần chúng không những chỉ là ở chỗ dùng lời lẽ giản dị, dễ hiểu, mà còn ở chỗ cân nhắc xem lúc nào, chỗ nào, nên nói gì thích hợp với quần chúng nữa. Xin cám ơn các đồng chí đến dự… (Giải tán lúc 18 giờ) Nguồn: Báo Thơ số 14, (Phụ san của báo Văn Nghệ số 32, ra ngày 07.8.2004) |
CHUYỆN SINH VIÊN
TÔI ĐÃ HỌC NÓI TIẾNG LÊ NIN NHƯ VẬY . . .
“ Cùng vui sướng khi nhận được tin ra nước ngoài anh hằng mong đợi . Tàu liên vận mùa này chật lắm .Người đi “Tây” nhớ người bên ta . . .”Lời đã được cải biên và nhại theo giai điệu bài hát:” Trường Sơn Đông,Trường sơn Tây” Hồi đó lưu truyền ở Hà nội. Chúng tôi những lưu học sinh Dbị Kiev sau này ,lên tàu liên vận vào 1 buổi tối tháng 7 năm 71.Tôi chưa đi “Tây “ lần nào và cũng chưa từng tiễn ai đi ‘Tây” cho nên o phân biệt được sự khác nhau của những lần đi “Tây”. Nhưng lần đầu tiên tôi thấy số lượng người đi “Tây” đông đến vậy, theo đó là số người tiễn đưa. Chúng tôi tập kết trước cửa nhà hát Nhân dân (Bây giờ là Cung văn hoá Hữu nghị) cùng với thân nhân,bạn bè đưa tiễn… dòng người đi bộ kín cả lòng đường từ đó cho đến cửa ga Hàng cỏ. Tàu đưa chúng tôi đến Kiev. 1 năm ở Dbị Kiev, nhiệm vụ chính của chúng tôi là học, chủ yếu học Tiếng Nga. tiếng Nga-Tiếng của Lênin. Tiếng Nga đối với chúng tôi như 1 thứ vũ khí trang bị cho người lính trước khi ra trận. Chúng tôi phải hiểu và sủ dụng tốt thứ vũ khí đó trên mặt trận tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến ở các trường Đại học trên khắp đất nước CCCP . Lớp học Nga văn ở Dbi Kiev chúng tôi có 8 người : Phạm thị Khánh , Lâm minh Châu, Đỗ minh Loan, Ng thị Anh Nhi, Trịnh long Hương, Ng bá Tòng , Võ duy Vinh và tôi Đăng tuấn Phương. Trong 8 người thì có 5 đã học Nga văn 3 năm cấp III trong nước ( các bạn chắc còn nhớ hối đó chỉ có 2 ngoại ngữ : Nga văn và Trung Văn dạy trong các trường PT cấp III đúng O ?). Ng thị anh Nhi, Trịnh long Hương và tôi 3 năm cấp III lại học tiếng “Tàu”,nay lại đi “Tây “học tiếng “Tây”. Khỏi phải nói ai cũng biết lợi thế của các bạn đã học Nga văn ở trong nước. Ngữ pháp các bạn nắm chắc, từ vựng biết nhiều . . . Còn chúng tôi như những đứa trẻ bắt đầu học vỡ lòng A ,B ,C. . . Tạm dừng việc học Nga Văn ở đây để nhắc lại 1 kỷ niệm, hay nói chính xác hơn là ấn tượng của tôi đối với tiếng Nga. Trên đường đến Kiev, chúng tôi dừng chân ở IRKURSK khoảng 1 tuần. Hàng ngày sau bữa cơm chiều, còn sớm nên chúng tôi từng nhóm hay tản bộ quanh khu vực mình sống.Quanh đó có những KTX có nhiều sinh viên Nga và các nước khác sống họ cũng hay dạo chơi quanh khu vực. Bản tính thanh niên cởi mở dễ làm quen nên chúng tôi và họ làm quen nhau 1 cách dễ dàng. Có lần tôi đi chung với Ng minh Toàn ( Toàn đã học tiếng Nga ) làm quen với mấy thanh niên Nga. Tôi câm như hến ( có biết nửa chữ Nga đây mà nói ) còn Toàn vừa nói bằng miệng, tay vừa múa, hay đáo để . . .thỉnh thoảng cũng cười nữa chứ . Tôi mặt cứ nghệt ra chẳng hiểu mô tê gì hết .Lần khác tôi đi chơi chung với Liêm. Hình như tôi và Liêm rủ nhau đi xem phim( liều thế đấy chử nghĩa o biết mà dám)Liêm có nhớ chi tiết này o Liêm? Tôi o nhớ đã xem phim gì. O quan trọng mà quan trọng là Liêm và tôi đã làm quen ( Liêm chủ yếu ) được với 1 anh sinh viên Nga. Chẳng biết Liêm lúc đó nói những gì , nhưng chỉ biết sau đó, anh ta mời Liêm và tôi về KTX nơi anh ta sống chơi cho biết. Những gì chúng tôi đã nói chuyện với nhau tôi o nhớ.Nhưng những lần như thế trong mắt tôi : Toàn, Liêm và 1 số bạn đã nói được tiếng Nga ( Dù bập bẹ ) là sự thán phục. . .Rồi thầm tự nghĩ o biết ngày mai khả năng tiếng Nga của mình có được như các bạn ấy o nhỉ???Phải cố gắng thôi tôi tự nhủ. Quay trở lại với lớp Nga văn.1,2 tháng đầu tôi và chắc Ng thi anh Nhi cũng như Trinh long Hương đều đã rất cố gắng ngay từ đầu o biết Nhi và Hương thế nào. Riêng tôi o thể nào theo kịp được với các bạn trong lớp. Tôi “Cày” tiếng Nga đủ kiểu, mọi cách mà mình nghĩ ra. Thậm chí có lần tôi còn dùng bút chì phiên âm tiếng Nga theo tiếng Việt cho dễ đọc. . .Nhưng tôi đã thất bại thảm hại. Dù đã phiên âm, kể cả khi Lâm minh Châu nhắc trước tôi chỉ việc lặp lại, tôi cũng o thể nhắc lại . Ngừng tại đây 1 tí, tôi muốn nói về Lâm minh Châu. Trong lớp theo nhận xét của cá nhân thì Lâm minh Châu là người học giỏi nhất . Mọi câu hỏi, bài tập . . .bạn ấy đều đạt điểm ОТЛИЧНО.Sau phải kể Phạm thị Khánh, Đỗ minh Loan, Võ duy Vinh, Ng bá Tòng . Có lần trong 1 buổi học Bà giáo chủ nhiệm nói trước lớp (lúc đó tôi chưa hiểu được mà phải nhờ Lâm minh Châu dịch lại ) đại ý:”Các em vượt hơn 10.000km đến đây,trong lúc đất nước đang trong chiến tranh. Các em phải cố gắng học để sau này giúp xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. . . .”Với bản tính yếu mềm, dễ tủi thân. . .nên T L Hương và Ng t anh Nhi đã khóc trong buổi học đó. Nước mắt tôi o rơi nhưng rất buồn. “Học, Học nữa, Học mãi” Nhưng học như thế nào???Tôi vẫn bế tắc trong phương pháp học. Dù kết quả học tập như thế đấy. Nhưng những ngày nghỉ, tôi vẫn hay đi chơi chỗ nọ chỗ kia. Có 1 hôm,tôi nhớ vào ngày Chủ nhật.Bá Tòng, Duy Vinh và tôi ( chả là 3 đứa ở chung phòng ) rủ nhau đi chơi . Điểm đến là Công viên Bách thú Kiev. Tôi nhớ ở đây mỗi đứa chụp 1 tấm ảnh riêng và chụp chung với nhau 1 tấm. Tôi còn nhớ hôm đó Tòng và Vinh mặc khoác ngoài cái áo Vinilon mang trong nước sang, còn tôi thì mặc áo khoác mua(Kurka) trong số tiền mua đồ Đông ( Tôi sẽ có bài viết về trang phục Dbi Kiev)Tòng và Vinh còn những tấm hình đó o? Tôi sau mấy lần chuyển nhà bị thất lạc đâu mất tiếc quá. Sau 1 hồi thăm thú và dạo khắp Công viên, chúng tôi ngồi nghỉ chân, thì có mấy ông già tới làm quen nói chuyện. Tòng và Vinh cũng đã nói khá. Còn tôi vẫn bập bẹ như trẻ lên 3. Càng cố gắng nói cho đúng ngữ pháp bao nhiêu thì mấy ông già lại càng o hiểu bấy nhiêu, tay chân phụ họa cũng chẳng giúp ích bao nhiêu.Cuối cùng ông già nói chuyện với tôi nói đại ý : Mày cứ nói từng từ 1( Từ dạng nguyên thể, o chia, o đổi cách, o giống số gì hết. . .) Ấy thế mà ông già lại hiểu mới chết chứ. Cũng chính từ gợi ý của ông già Nga tốt bụng hôm đó tôi nảy ra 1 phương pháp học mới. Tôi nghĩ tại sao mình o tranh thủ học thuộc thật nhiều từ vựng, mình nhớ được nhiều từ , thì khi người ta nói là mình hiểu ngay. Cứ tạm thời gác vấn đề ngữ pháp sang 1 bên. Chứ lao đầu vào học ngữ pháp mà từ vựng o biết thì khi người ta nói mình cũng chả hiểu gì . Nghĩ là làm. Tôi lao vào học từ vựng như điên. Tôi đặt chỉ tiêu cho mình, mỗi ngày phải học thuộc ít nhất 40 từ. Tối trước khi rời phòng học về phòng ngủ bao giờ tôi cũng tự kiểm tra số từ đã học thuộc trong ngày. Có ngày nhớ 20 từ ngày nhớ 25,30. . . từ . Qua ngày sau tôi bổ sung số thiếu hụt để cho đủ. Ngày nào số từ học trong ngày cũng phải 40 từ. Cứ thế, cứ thế. . . “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Tự tôi nhận thấy có sự tiến bộ : Tôi nghe được, hiểu được. . .Khi nghe được ,hiểu, tôi bắt đầu chú ý cố gắng nhớ cách Bà giáo nói, người Nga nói. . .Hay nói cách khác tôi đang tiếp cận với ngữ pháp tiếng Nga theo cách của riêng mình. Khi còn học ở CCCP cho đến hôm nay viết những dòng này, đối với tôi vốn từ tiếng Nga tôi nhớ rất nhiều, còn ngữ pháp chỉ là tối thiểu. Thậm chí hồi học tiếng Nga ở những năm Đại học.Các bà giáo Nga văn đã từng nhận xét tôi đại ý : Anh nói hay, diễn đạt tốt, ý phong phú. . .Nhưng sao bài viết của anh nhiều lỗi thế???Tôi quay ngựơc lại đố các bà giáo biết tại sao? các bà giáo đều chịu. Tôi giải thích ;Thứ 1 vốn từ tôi nhớ nhiều, thứ 2 khi nói tôi thì họ đã nghe được phần từ gốc họ đã hiểu và họ o để ý đến cái đuôi của từ tôi có đổi cách đúng hay o (Vấn đề này trong tiếng Nga đặc biệt quan trọng và rất đặc trưng o như những ngôn khác)còn khi viết là giấy trắng mực đen, tôi o lấp liếm được,nên tôi lòi cái đuôi dốt ra. Sau này tôi cố gắng rất nhiều cho việc bổ sung kiến thức về ngữ pháp tiếng Nga. Nên cái đuôi dốt của tôi cũng ngắn đi nhiều. Trình độ tiếng Nga của tôi mỗi ngày ,mỗi tháng ở Dbị kiev được cải thiện thấy rõ. Thi học kỳ I tôi đạt loại trung bình khá. Cuối năm tôi đạt loại khá. Hết năm Dbị tôi lên Leningrat học ở khoa Kinh tế tổ chức và quản lý công nghiệp chế biến Gỗ giấy xenluylô của Học viện kỹ thuật lâm nghiệp Leningrat. Đến đây tôi muốn nhắc nhớ các Bà giáo dạy Nga văn lớp tôi thời Dbị. O hiểu sao lớp tôi 3 lần thay đổi Bà giáo chủ nhiệm. 2 Bà trước tôi chưa kịp nhớ tên. Bà thứ 3 thì tôi nhớ đầu đủ : Họ, tên và tên gọi theo cha của Bà : ASIBENKA ZINAIĐA MAKAROVNA. Sau này về nước đi làm tôi có gặp 1 cô làm chung ở Tổng công ty Giấy Gỗ Diêm cũng từng là học sinh của Bà . Cũng như 1 số Bà giáo chủ nhiệm các lớp khác . Bà giáo chủ nhiệm lớp tôi là 1 phụ nữ Châu Âu ( dĩ nhiên ) khá đẹp, dáng Bà mảnh mai ,chứ o đẫy đà,nét đẹp có vẻ hơi sắc sảo của phụ nữ phương Tây hơn là nét đẹp thuần của phụ nữ Slave.Tóc Bà màu xẫm. Đặc biệt mái tóc của Bà hay thay đổi kiểu chứ o như những Bà giáo khác hầu như chỉ để 1 kiểu tóc.Bà ăn mặc khá model và thỉnh thoảng mới thấy Bà mặc 1 bộ đồ nào đó lần thứ 2. Có1 lần Bà đến thăm chúng tôi ở KTX, xem chúng tôi sống ra làm sao, có khó khăn gì, Bà sẵn sàng giúp, hoặc đề nghị Nhà trường giúp. . .Chúng tôi rất cảm động trước sự quan tâm đặc biệt của Bà nói riêng cũng như của Nhà trừơng nói chung.Không chỉ riêng Bà giáo chủ nhiệm lớp tôi.Mà tôi nhận thấy tất cả các Thầy ,Cô giáo dạy chúng ta ở Dbi kiev đều o những coi chúng tôi như những đứa học trò nhỏ bé, mà trên cả thế Họ coi chúng tôi như những đứa con mà Họ cần giúp đỡ ,dạy dỗ. . . chúng những bước đi vững chắc đầu đời. Để chuẩn bị cho một tương lai phía trước. Sắp đến ngày 20 – 11 Ngày Nhà Giáo từ sau thẳm trong trái tim chúng ta cùng nhau nói : CÁM ƠN các Thầy các Cô.Trong lòng chúng ta Họ là những Nhà giáo Xô -Viết Vĩ Đại nhất. Khi về nước công tác với hơn 30 năm hoàn toàn o sử dụng tiếng Nga. Vốn tiếng Nga trong tôi mai một đi khá nhiều. Ấy thế mà hôm nay tôi đang “Kiếm ăn” bằng : Tiếng Nga - Tiếng của Lenin.Các bạn biết o tôi đã về hưu ( Sớm trước tuổi 10 năm ). Có người giới thiệu : Hiện nay tôi đang làm phiên dich tiếng Nga ở Chi nhánh phía Nam - Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga. Quá tốt.Vừa giết thời gian vừa có thu nhập, trang trải cuộc sống gia đình và đặc, đặc biệt được sử dụng tiếng Nga - tiếng của Lenin. Còn gì hơn thế hả các bạn? Tôi cũng o thể ngờ sau 30 năm o sử dụng, thế mà nay vẫn đáp ứng yêu cầu để được làm phiên dịch tiếng Nga. Mô Phật. Chắc Tam Bảo gia hộ cho tôi . Ông Lenin đã thương và phù hộ ???Có thể. Nhưng tôi tin chắc 1điều : Tiếng Nga-Tiếng của Lenin đã ngấm vào máu của tôi. Chỉ có điều tôi chưa biết cách học tới nơi tới chốn và sử dụng 1 cách tốt nhất đó thôi. Dù tôi có già cái đầu đi chăng nữa thì sự học , đặc biệt là học tiếng Nga và trước sự phong phú, giàu có . . . của tiếng Nga-tiếng của Lenin thì chúng ta có :”Học,Học nữa,Học mãi” cũng o bao giờ học thuộc. Cám ơn tiếng Nga, cám ơn tiếng của Lenin. Nhân ngày Nhà Giáo tôi cầu chúc cho tất cả THẦY GIÁO,CÔ GIÁO CCCP, người còn sống thì thật nhiều sức khỏe, người đã về cõi vĩnh hằng sớm được siêu sanh tịnh độ . . .Chúng ta o bao giờ quên Họ. Trong tâm trí chúng ta Họ là những NHÀ GIÁO XÔ-VIẾT VĨ ĐẠI NHẤT, ĐÁNG KÍNH NHẤT . Trang này được hoàn thành trong 0.125 Giây. |
Thật hay. Em không đầy 1 tuần nữa thì sang Nga, tuy không ở thủ đô Moscow nhưng em vẫn hồi hộp cho ngày đầu tiên nhìn thấy tuyết rơi và những con đường trải đầy lá vàng rơi :x
|
Chào bạn ngbinhdi !
Bạn đã đăng những tư liệu rất thú vị về nhà thơ Việt Phương ! Hơi tò mò muốn hỏi rằng bạn chỉ là người hâm mộ bình thường, hay có mối quan hệ hoặc kỷ niệm gì đặc biệt với nhà thơ Việt Phương chăng ? http://www.tienphong.vn/Cache/Tianyo...880/242880.jpg “Nhà thơ Việt Phương năm 2002” Tôi có một kỷ niệm nhỏ với nhà thơ Việt Phương, kể ra đây để cùng vui với các bạn : Mẹ tôi làm việc tại Bộ Y tế từ năm 1960 đến 1975 . Khoảng năm 1970-1971, tôi đến Bộ Y tế tìm gặp Mẹ vào lúc hết giờ làm việc, mọi người đang tấp nập đi ra lấy xe đạp . Vì biết tôi ưa tập tễnh làm thơ “con ếch”, nên Mẹ nói nhỏ :”Lại đây, để Má giới thiệu con với một người !”. Bà dắt tôi ra một góc đứng đợi, chẳng bao lâu thì gặp một người đàn ông trung niên nhanh nhẹn, chững chạc, khá đẹp trai… Mẹ tôi vui vẻ nói :”Chào chú Việt Phương đi con, chú ấy làm thơ hay lắm đấy !”. Nhà thơ Việt Phương hơi ngạc nhiên, rồi vỗ vai hỏi thăm tôi vài câu lấy lệ…Cuộc gặp gỡ sơ sài ngắn ngủi, nhưng để lại ấn tượng trong tôi, vì “chú ấy là nhà thơ” ! Tôi vẫn kịp cảm thấy rõ đôi mắt đượm vẻ u buồn xa xăm của chú ấy… Về nhà, tôi thắc mắc hỏi Mẹ :”Chú ấy là bác sĩ thích làm thơ hả Má ?”. Bà chỉ trả lời ngắn gọn :”Chú ấy không phải là bác sĩ, nhưng mới được biệt phái sang Bộ Y tế làm việc ít lâu thôi”. Thú thật, lúc ấy tôi chỉ nghe tiếng nhà thơ Việt Phương, nhưng chẳng hề biết gì về ông, và cũng chưa đọc bài thơ nào của ông ! Vài tháng sau, tôi lên đường sang CCCP học tập, và quên bẵng chuyện đó đi . Mãi đến hôm nay, nhờ những bài viết của bạn nên tôi mới biết thêm nhiều biến cố thăng trầm trong cuộc đời của nhà thơ Việt Phương . Bây giờ nhớ lại kỷ niệm này, có lẽ phần nào tôi hiểu được “đôi mắt đượm vẻ u buồn xa xăm của chú ấy”… Cám ơn bạn ngbinhdi ! |
Trích:
Tôi chưa bao giờ có dịp gặp nhà thơ Việt Phương (người ta vẫn gọi ông như thế dù ông mãi tới 2009 mới thành hội viên hội nhà văn) song tên ông và nhất là thơ ông thì tôi biết từ lúc còn bé. Chuyện thì có lẽ dài lắm. Số là nhà tôi có một bà chị theo nghiệp văn chương. Những năm 1967-1971 thì chị tôi học ĐH Tổng hợp văn và học rất giỏi, dù chỉ là công nhân được cử đi học sau khi tốt nghiệp lớp 10 hệ bổ túc văn hóa (từ trước khi thành SV khoa văn của ĐHTHHN chị tôi đã có một số truyện ngắn được đăng trên báo Văn Nghệ và đã có 1 vài tập truyện ngắn chung với một số cây bút trẻ ngày bấy giờ mà tên sách thì lấy từ tên truyện ngắn của chị tôi). Chuyện thế thì cũng không có gì đáng kể ra ở đây cả, song - ở đời rất hay có mấy cái song này ạ - vào năm cuối ĐH thì xảy ra một chuyện vu vạ mà chị tôi là một nạn nhân. Là vu vạ đánh nhau giữa các thày, lại lôi cả trò vào. Trong nhà tôi lúc bấy giờ ai cũng phẫn uất. Mẹ tôi viết thư phản kháng tới tận TBT Lê Duẩn, tới ông Tố Hữu (người phụ trách văn hóa văn nghệ của Đảng lúc bấy giờ), trong đó có kể ra bằng thơ những cái tên như rắn phục giữa vườn hoa, những câu: Hiểu: Thế nào là mẹ đau con xót? Ghét ghen người đến mất cả tế Nhị thông minh (Những chữ viết nghiêng là tên của các ông thày mà nhân cách của họ không thể là cái học trò nên học - mẹ tôi chua rõ điều ấy ở dưới bức thư kêu cứu tới TBT, một trong cái tên đó là Hoàng Xuân Nhị mà bác có thể thấy trong Biên bản tôi đã post ở phía trước) Ngay sau đó thư ký của Tổng bí thư đã có chỉ thị xuống trường và do đó mới gỡ được cái vạ ấy và chị tôi bình yên tốt nghiệp về một báo lớn công tác. --- Những năm đó trong các giờ bình giảng văn học, chúng tôi được nghe rất nhiều, những câu ngợi ca hoành tráng như thế này: Hỡi Sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng Chưa đâu, và ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng Những ngày ta đang sống đây là những ngày đẹp nhất Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn Chọn thời nào sống chăng, chọn đời nào sinh nhỉ Cho tôi sinh vào buổi Đảng dựng xây đời Ta với mẻ gang đầu là lứa trẻ sinh đôi Cho tôi sinh vào những ngày diệt Mỹ Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến sĩ Diệt xe tăng thù và hạ trực thăng rơi Nguyễn Văn Trỗi ra đi còn dạy chúng ta cười (Tôi ghi theo trí nhớ thơ của Chế Lan Viên, có thể còn có câu chữ/trật tự không chính xác) Song cũng trong những ngày u ám của vụ vu vạ kia, một lần chị tôi từ Hà Nội về, có mang theo một tập Cửa mở của Việt Phương, lúc ấy chỉ biết ông là thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chứ chưa là nhà gì hết (bây giờ thì khi ký tên vào các bản kiến nghị, người ta lại gọi ông là nhà nghiên cứu kia bởi đó mới là nghề chính của ông). Tôi biết câu Trăng Trung quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/Đồng hồ Liên xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ từ bấy giờ. Và biết được rằng bên cạnh những cái được học kia, còn có những suy ngẫm tỉnh táo khác, cho ta biết rằng Một phần tư thế kỷ qua đi và có lẽ bây giờ ta mới biết Thế nào là thương yêu thế nào là chém giết Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao Sức ta tăng bội phần khi ta say đến trở thành rất tỉnh Ta có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh: "Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao" Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn Ta đã gặp những điều không hề chờ đợi gặp Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta Tôi thực lòng kính trọng những nhân cách lớn như thế. |
Vâng, Chế Lan Viên, người viết những vần thơ hoành tráng ca ngợi:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi... Cũng là người, sau khi mất, có bài thơ sau đây được in trong tập Di cảo: TRỪ ĐI Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ Có phải tôi viết đâu ? Một nửa Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi! Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười, Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ, Tôi giết cái cánh sắp bay...trước khi tôi viết Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ Và giết luôn mặt trời trên biển, Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể Cho nên câu thơ tôi gày còm như thế Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình. Và thơ này rơi đến tay anh Anh bảo đấy là tôi ? Không phải! Nhưng cũng chính là tôi - người có lỗi! Ðã giết đi bao nhiêu cái Có khi không có tội như mình! Trong biên bản cuộc họp về tập thơ "Cửa mở", có rất nhiều ý kiến, từ đao to búa lớn đến ca ngợi nhiệt thành, nhưng SM cứ thắc mắc có những câu rất đỉnh của tập thơ, mà SM được đọc ngay từ hồi mới xuất bản và giờ còn giữ được, thì không ai nhắc đến. Gần như chúng được mặc định "hãy tránh xa": Một phần tư thế kỷ qua đi và có lẽ bây giờ ta mới biết Thế nào là thương yêu thế nào là chém giết Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao |
Xóa vì lạc đề. Các bài khác đã quá thời hạn 24h được sửa, xin nhờ BQT xóa dùm.
|
Trích dẫn thơ
“Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi…” Đọc hai câu thơ này của Chế Lan Viên, tôi lại nhớ đến liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, tác giả cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” ! http://www2.vietbao.vn/images/vn2/ph...7779_thac2.jpg “Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc” Khi còn học phổ thông, Thạc là học sinh giỏi cả toán lẫn văn . Còn tôi thì kém văn, thường xuyên chỉ đạt điểm trung bình . Thạc hay nghiêm túc khuyên tôi một cách chân thành :”Các bài làm văn của Liêm đều thiếu “tính cách mạng” đấy, nên chẳng bao giờ được điểm cao đâu !”. Tôi cười vui, trả lời thẳng thắn :”Còn Liêm thì chẳng bao giờ kiên nhẫn đọc đến hết được những bài văn đầy “tính cách mạng” của Thạc, sao mà ngán ngẩm chúng quá đi mất…” Năm 1970, Thạc đoạt giải nhất Văn toàn miền Bắc . Trong bài văn đoạt giải nhất ấy, Thạc đã trích dẫn hai câu thơ trên đây của Chế Lan Viên . Tất nhiên là chúng tôi đều rất vui mừng khi biết Thạc đạt thành tích này . Nhiều lần tôi đã cầm tờ báo đăng bài văn ấy của Thạc, nhưng thật sự là chưa bao giờ tôi đọc hết bài, mà chỉ đọc đến nửa chừng rồi bỏ dở… Một lần tôi hỏi Thạc :”Hai câu thơ đó của Chế Lan Viên có gì hay ho mà Thạc trích dẫn vậy ?” Thạc cười trả lời :”Chẳng có gì hay ho, nhưng mang “tính cách mạng” cao ! Liêm biết vì sao phải trích dẫn mà…” Ở đây cần nói rõ thêm một điều, là tôi luôn thán phục và mê thích đọc những gì Thạc viết tự do, khi không phải để nộp chấm điểm trong trường học ! Bởi vì lúc đó Thạc viết với một tâm hồn hoàn toàn khác… |
@ Bác nbinhdi: Khi đọc những câu thơ bác "nhớ và chép lại" của Chế Lan Viên, SM mỉm cười mãi vì thấy bác cắm đoạn đầu vào cuối... linh tinh cả. Và kể cũng tài, ngần ấy thời gian trôi qua, bác vẫn còn nhớ cốt lõi bài thơ mà mình không ưa thích.
Thôi thì, vẫn cần cảm ơn "Những vần thơ đánh giặc" của CLV. Ông chỉ có cây bút, và đã dùng cây bút ấy làm vũ khí đánh giặc. Cũng không ít người yêu thơ ông và nhận thấy chất trí tuệ cao trong đó. Ông đã khuấy động lòng tự hào dân tộc, và khơi dậy ngọn lửa chiên đấu trong thời nước sôi lửa bỏng. Xin cóp lại bài trọn vẹn bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?", để cùng nhớ lại một thời đã xa và chưa thật xa... Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm! Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc. Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng... Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn: Trái cây rơi vào áo người ngắm quả, Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn, Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ, Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn... Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời, Cửa vẫn đóng và Đời im im khoa Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi! Có phải cha ông đến sớm chăng và cháu con thì lại muộn? Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút giây bây giờ Buổi đất nước của Hùng Vương có Đảng, Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ, Thịt xương ta, giặc phơi ngoài bãi bắn Lại tái sinh từ Pắc Bó, Ba Tơ... Không ai có thể ngủ yên trong đời chật Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng. Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt, Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm, Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt, Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng... Ôi! Trường Sơn vĩ đại của ta ơi! Ta tựa vào ngươi, kéo pháo lên đồi, Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát, Dưới chân ta, đến đầu hàng Đờ-cát, Rồng năm móng vua quan thành bụi đất, Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười! Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tác Chim cu gần, chim cu gáy xa xa... Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cắt, Đêm no ấm, giọng chèo khuya khoan nhặt, Lúa thêm mùa khi lúa chín về ta. Rồi với đôi tay trắng từ Đinh, Lý, Trần, Lê... Đảng làm nên công nghiệp. Điện trời ta là sóng nước sông Hồng An Dương Vương hãy dậy cùng ta xây sắt thép, Loa thành này có đẹp mắt Người chăng? Ong bay nhà khu Tỉnh ủy Hưng Yên Mật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi em Cây xanh ngắt đất bạc mầu Vĩnh Phúc... Ôi! Cái thuở lòng ta yêu Tổ quốc Hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên? Ôi, cái buổi sinh thành và tái tạo Khi thiếu súng và khi thì thiếu gạo Nhưng phù sa đẻ ra những Cà Mau thịnh vượng mai sau. Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu, Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau? Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn! Ôi! Thương thay những thế kỷ vắng anh hùng, Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận, Nhà thơ sinh đồng thời với mưa phùn và những buổi hoàng hôn, Cả xứ sở trắng một màu mây trắng, Ai biết mây trên trời buồn hơn hay thơ mặt đất buồn hơn? Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn năm nào đấy nhỉ? - Cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời, Mắt được thấy dòng sông ra gặp bể, Ta với mẻ thép gang đầu là lứa trẻ sinh đôi, Nguyễn Văn Trỗi ra đi còn dạy chúng ta cười... Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ, Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi. Nhà viết Hồ Tây, 1965 |
Xin chào bác Haphaohoa:
Em là em rất khoái chuyện thời sinh viên của bác kể, có chuyện giống em vì có thể chúng ta cùng hành trình trên một chuyến tàu liên vận hoặc cùng một chuyến bay, cùng sang đó vào cuối mùa thu, cùng háo hức đón tuyết rơi, cùng cảm nhận được tình cảm trìu mến thương yêu của các Ông giáo, Bà giáo Nga và những con người đôn hậu...Có chuyện khác, mới mẽ thì không nhưng rất thú vị vì bác sang Liên Xô trước em nhiều năm. Xin bác cứ kể chuyện sinh viên đi bác, em rất muốn nghe. Em chỉ nói được đến thế thôi. |
Xin xóa vì lạc đề. Các bài khác của tôi trong topic này, như đã viết ngay từ đầu, nếu thấy lạc đề đề nghị BQT xóa dùm vì một số đã quá thời hạn tôi có thể xóa.
|
Trích:
|
Trích:
Xin lỗi bác chủ topic vì đã lan man nhiều sang chuyện bàn về thơ. Chuyện lan man này có lẽ tôi cũng đã ngờ ngợ từ đầu, dù ban đầu chỉ có ý nhắc về mấy câu thơ trong bài của bác post lên, sau nghĩ rộng ra lại muốn đặt các câu chuyện thời SV vào trong hoàn cảnh thực tế thời bấy giờ bởi có lẽ nhiều bạn, nhất là các bạn còn trẻ nhiều khi sẽ không hiểu hết những cái mọi người đã kể. Cũng như nhiều người, tôi cũng có thời SV, không chỉ một mà vài thời SV nữa cơ: thời SV đại học, thời SV ngoại ngữ, thời PhD student... Kỷ niệm tốt có và xấu cũng không phải là ít. Bây giờ thì xem phim hay thấy có cái câu bad news and good news, cái nào nói trước. Xin nói ngay rằng, mặc dù bác chủ topic đã có ý nói về thời SV tuyệt đẹp, song tôi thì tin rằng chắc chắn nó phải gồm cả kỷ niệm xấu lẫn kỷ niệm tốt - cả bad lẫn good news, bởi đơn giản là ta sẽ không thấy được cái gì là đẹp hay tuyệt đẹp nếu không có cái gì xấu bên cạnh (xin nói thêm là cái từ xấu ở đây không chỉ có nghĩa xấu xa, đáng ghê tởm mà nghĩa của nó có thể rộng hơn đôi chút, không được đẹp đẽ cho lắm chẳng hạn). Và để sửa chữa lỗi lạc đề, tôi sẽ xin tham gia ở đây một chút, với bad news trước. Nếu các bác thấy chán sẽ xin kể sang good news ngay ạ. Thời SV của chúng tôi bắt đầu trải ra trong rừng và nơi sơ tán, bởi khi ấy chiến tranh phá hoại đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Song bom đạn, thương vong cũng có lẽ chưa khắc sâu vào tâm trí chúng tôi bằng cái đói. Cái đói thường trực suốt gần 6 năm SV gian khó. Bắt đầu là từ tháng Chín, 39 năm về trước. Từ nơi tập trung đi nước ngoài trên Đại Từ về, như tôi đã kể ở đâu đó - chờ đợi rất lâu nên đã hết sạch cả tiền, tôi chỉ còn đúng 1 đồng. Xe chở 23 anh em chúng tôi (9 về ĐHQY, 14 về ĐHKTQS) từ Đại Từ về đến ngã ba cầu Giá Bảy thì máy bay Mỹ kéo đến dội bom khu gang thép Thái Nguyên. Dừng xe xuống tạm tránh, cả bọn tạt vào quán nước bên đường - gọi là quán nước chứ thực ra chỉ là mấy cái cọc tre cắm tạm trên phủ lá chuối, cái úa vàng, cái còn xanh, với một cái chõng tre ọp ẹp bày dăm thanh kẹo lạc, vài nải chuối và bộ ấm chén. Dốc nốt 1 đ trong túi tôi mua kẹo lạc chia cho anh em trong đoàn, mỗi người chỉ một mẩu. Không có hơn vì chẳng chỉ có mình tôi mà anh em trong đoàn ai cũng đều đã hết sạch cả tiền (nào ai biết trước được rằng sẽ không đi nước ngoài nữa mà để dành tiền?). Về đến đơn vị thì đã chập choạng tối, trên đường từ QL2 vào nơi đóng quân trong rừng dưới chân núi Trống, đám học sinh mới lớn chúng tôi tròn mắt nhìn những tốp lính vừa từ bãi tập trở về đi thành hàng trên con đường ô tô đắp đất rải đá cấp phối, trên vai là súng và bia. Có chú trong đoàn còn khoái chí hát "Chiều xuống dần áng mây hồng bay/Chiến sĩ ta bắn bia trên đường trở về/Bông hoa trên ngực còn tươi thắm lá cờ hồng bay" (hình như là một bài hát Tàu, của quân giải phóng nhân dân TQ). Vừa may về đến đơn vị đúng bữa tối. Liên lạc thời đó khó khăn chứ làm gì tốt như ở nước ngoài hay bây giờ, vì vậy không thể báo trước và cả 14 tên lính mới cò ke chúng tôi không có suất ăn. Đại đội linh hoạt san cơm và thức ăn của cả đại đội cho chúng tôi - cả nhà ăn náo nhiệt như một cái tổ ong toàn áo xanh như lặng đi khi 14 tên mặc thường phục chúng tôi sắp hàng đi vào nhà ăn. Hầu như không có cơm, chỉ là ngô bung vàng chóe, thức ăn chỉ là một ít tép và rau muống. Bữa đói đầu tiên trong đời SV quân sự cũng chẳng ngăn được niềm vui của mấy anh em mới vào lính chúng tôi. Trang nhật ký đầu tiên đời bộ đội tôi chỉ ghi vẻn vẹn câu hát "Sung sướng bao nhiêu, tôi là đồng đội của những người đi đánh giặc hôm nay". Cơ mà không chỉ có bữa ấy đói. Cái đói bám chằng chằng chúng tôi những năm sau đó. Bài học đầu tiên đời lính là bài "Đầy - vơi - đầy", nghĩa là bát đầu thì xúc cho đầy, bát thứ hai thì vơi, gần như chỉ nửa bát, bát thứ 3 mới lại đầy, bởi nếu lần nào cũng xúc cho đầy thì bao giờ cũng chỉ được 2 bát. Bài học thứ hai vẫn chưa là gấp quần áo và sắp vào ba lô thế nào để không bị xô lệch khi hành quân, hay dép/giày đặt ở đâu tính từ cuối giường nằm để đêm có báo động thì nhổm dậy thò chân xuống đã chọc đúng ngay vào, buộc màn ra sao để chỉ túm mấy đầu dây giật là gỡ xong, cuộn màn và đạp nhồi vào ba lô ra sao cho nhanh để còn kịp ra sân điểm danh khi có báo động di chuyển. Không, mấy bài ấy tiểu đội phó của tôi, một anh lính cựu từ mặt trận về, dạy sau, bài học thứ hai là câu: Bát đũa là vũ khí bất ly thân. Còn như sử dụng vũ khí - tiểu liên AK, trung liên RPD, ném lựu đạn thì mãi sau mới học. Đói mãi cũng thành quen, cả lũ cứ nhăng nhẳng gầy mãi chẳng lên cân - ăn như thế, tập như thế, học như thế, lên cân sao nổi. Tôi đi bộ đội lúc cân nặng 45 kg, 17 năm sau, khi lên đường ra nước ngoài làm NCS cũng chỉ lên được đến 49 kg là kịch kim, lúc đã là thiếu tá. Cũng chẳng ai kêu ca nữa vì biết rằng anh em ngoài mặt trận còn thiếu thốn hơn bội phần và cả nước bấy giờ đều thiếu thốn như vậy. Chỉ có một chuyện tôi không bao giờ quên. Những năm ấy, một lần sư tử nhà tôi bây giờ lúc đó đang học ở LX viết thư về kể chuyện sống và học hành bên đó, có viết rằng "Ở đây khổ nhất là chen xe bus đi học". Nhận được thư tôi bần thần mất mấy ngày, không viết trả lời nổi nữa, mãi tận rất lâu sau, hàng hơn 1 năm trời mới viết lại được. Biết viết gì được chứ? Chuyện khổ nhất của mình là gì nhỉ, đói cũng chưa phải là cái khổ nhất của lính và không lẽ kể chuyện ở đơn vị đói thế nào ư? Chả lẽ kể cho cô ấy rằng vào giờ ăn cơm, đại đội sắp hàng thành khối trước nhà ăn, trực ban cho vào là ùa vào cho nhanh, đơn giản chỉ để vớt hành? Là thế này, cơm độn ngô hay bo bo, nấu xong chia ra các chậu, còn lại cháy dưới đáy nồi quân dụng đem đun tiếp cho thành cháy đen rồi cho nước vào nấu cho có màu cà phê, cho muối vào khuấy làm nước chấm, chỉ tốt mỗi cái là trên đó chị nuôi đã phi hành mỡ và cho một ít ớt quả thái nhỏ đổ lên thành một lớp váng mỏng. Vào sớm, vớt được lớp váng ấy thì có thêm tí chất cho bữa ăn. Mà vẫn phải học cho thật tốt, bởi mặt trận rất cần cán bộ có chuyên môn giỏi. Kỹ thuật bảo đảm tốt là có thể bớt xương máu nhiều lắm. Đến tận bây giờ, khi đã có của ăn của để, đã qua những ngày no đủ ở nước ngoài, nghĩ lại thời SV tuyệt đẹp (có lẽ tuyệt đẹp không kém ở bất cứ đâu) tôi vẫn rùng mình mỗi khi nhớ lại cái đói. |
Trích dẫn thơ
“Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi…” Đọc hai câu thơ này của Chế Lan Viên, tôi lại nhớ đến liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, tác giả cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” ! http://www2.vietbao.vn/images/vn2/ph...7779_thac2.jpg “Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc” Khi còn học phổ thông, Thạc là học sinh giỏi cả toán lẫn văn . Còn tôi thì kém văn, thường xuyên chỉ đạt điểm trung bình . Thạc hay nghiêm túc khuyên tôi một cách chân thành :”Các bài làm văn của Liêm đều thiếu “tính cách mạng” đấy, nên chẳng bao giờ được điểm cao đâu !”. Tôi cười vui, trả lời thẳng thắn :”Còn Liêm thì chẳng bao giờ kiên nhẫn đọc đến hết những bài văn đầy “tính cách mạng” của Thạc, sao mà ngán ngẩm chúng quá đi mất…” Năm 1970, Thạc đoạt giải nhất Văn toàn miền Bắc . Trong bài văn đoạt giải nhất ấy, Thạc đã trích dẫn hai câu thơ trên đây của Chế Lan Viên . Tất nhiên là chúng tôi đều rất vui mừng khi biết Thạc đoạt thành tích này . Nhiều lần tôi đã cầm tờ báo đăng bài văn ấy của Thạc, nhưng thật sự là chưa bao giờ tôi đọc hết bài, mà chỉ đọc đến nửa chừng rồi bỏ dở… Một lần tôi hỏi Thạc :”Hai câu thơ đó của Chế Lan Viên có gì hay ho mà Thạc trích dẫn vậy ?” Thạc cười trả lời :”Chẳng có gì hay ho, nhưng mang “tính cách mạng” cao ! Liêm biết vì sao phải trích dẫn mà…” Ở đây cần nói rõ thêm một điều, là tôi luôn thán phục và mê thích đọc những gì Thạc viết tự do, khi không phải là những bài để nộp chấm điểm trong trường học ! Bởi vì lúc đó Thạc viết với một tâm hồn hoàn toàn khác… |
Chẳng lạc đề đâu !
Tôi đồng ý với quan niệm rằng mọi việc, mọi vật đều có hai mặt tốt và xấu, thời sinh viên cũng vậy . Chúng ta không thể nhớ tất cả mọi việc đã xảy ra . Kỷ niệm chỉ là một phần cô đọng từ cuộc sống quá khứ, bao gồm những sự kiện gây ấn tượng, nên chúng ghi khắc lâu vào tâm trí chúng ta… Bất kể là kỷ niệm xấu hay tốt, chúng đều thuộc về cuộc sống quý giá, tuyệt đẹp của chúng ta ! Ai không tìm thấy cái đẹp trong hoàn cảnh khó khăn, thì sẽ vô cùng bất hạnh, đau khổ… Ngược lại, ai cố tình không nhìn thấy cái xấu trong hoàn cảnh tốt đẹp, thì cũng sẽ bất hạnh, đau khổ khi nhận biết rằng mình đã tự lừa dối chính mình… Chúng ta đã bàn luận về thơ của Việt Phương và Chế Lan Viên trong chương mục “Chuyện sinh viên” này . Một nhà thơ đã dũng cảm phơi bày cái xấu trong hoàn cảnh “tưởng như tốt đẹp” nhất, và nhà thơ kia thì cố tình giết phân nửa cuộc sống để "tô hồng" hoàn cảnh… Theo tôi nghĩ, những bàn luận ấy chẳng hề lạc đề trong “Chuyện sinh viên” đâu, bởi vì đấy là những suy nghĩ hiện tại của những người sinh viên ! Tôi quan niệm rằng “Chuyện sinh viên” phải bao gồm cả những "chuyện" trong quá khứ lẫn những "chuyện" trong hiện tại . Từng giây từng phút hiện tại mới thật sự là cuộc sống của chúng ta ! Vừa mới trôi qua đã trở thành quá khứ… Các sinh viên sôi nổi bàn luận, nói chuyện với nhau, kể chuyện cho nhau nghe… về tất cả mọi đề tài, mọi chuyện trong cuộc sống..., đó chính là “Chuyện sinh viên”, phải không các bạn ? "Chuyện sinh viên" đâu chỉ đóng khung trong việc kể chuyện về thời sinh viên, mà bao gồm luôn cả những suy nghĩ, hành động, những "chuyện" của sinh viên trong quá khứ cũng như hiện tại..., về tất cả mọi đề tài, về tất cả mọi "chuyện"... trong cuộc sống của chúng ta, những sinh viên và cựu sinh viên... Cám ơn các bạn cùng tham gia vào chương mục này, làm cho nó trở thành “Lắm chuyện sinh viên” ! |
Cùng với cái đói nghèo của toàn dân trong cuộc chiến chống Mỹ, thì SV hình như được xếp vào "nhóm đáy". Nên những điều bác BD kể hoàn toàn không xa lạ đối với thế hệ của SM.
Có lần, đói quá, mấy đứa con gái rủ nhau đi hái ngọn khoai lang về luộc ăn. Đang lúi húi, thấy bóng thầy giáo đi qua, mấy đứa ra hiệu nhau quay mặt đi, để thầy không trông thấy. Những ngọn rau khoai lang đã cứu nhiều bữa đói, giờ ngẫm lại thấy vẫn ngon và bùi. Có lẽ 1 trong những SV của thuở ấy đã sáng tạo ra món đặc sản ngọn rau lang sào trong các cửa hàng đặc sản ngày nay (?). Mãi về sau này, học thêm về thực vật, SM được biết rau khoai lang là một trong những thứ rau bổ nhất, về nhiều phương diện… Ngày ấy, trong lớp của SM, có 1 bạn nam quê vùng Xô Viết…. Bọn SM vẫn nói thế. Anh này luôn nâng quan điểm, đến dễ sợ. Một lần 1 bạn gái bê chồng bát, chẳng may vướng bàn rơi vỡ hết. Chàng kia liền thuyết: “Bạn có biết bát này là mô hôi, nước mắt của nhân dân, của công nhân? Bao người thợ đã phải đào đất thó trắng, rồi nhào nhuyễn dưới trời nắng gắt. Rồi những người khác làm khuôn, đúc bát, tráng men… Rồi thợ vẽ làm miệt mài ngày đêm. Rồi công nhân than ở Quảng Ninh không quản bom đạn, đào vét từng goòng than. Rồi những tài xế vất vả đưa than về, rồi đắp lò rồi nung, rồi dỡ… (Còn bao nhiều cái rồi nữa, không nhớ hết)… Mỗi cái bát đã ra đời như thế, mà bạn nỡ làm vỡ cả một chồng. Điều đó thật ngang với tội ác…” Cô bạn cùng lớp SM đứng như trời trồng, nghe mà cứ ngỡ mình bị tuyên án tử hình đến nơi, mặt tái mét… Thời gian trôi. Cũng trên 40 năm qua rồi. Cách đây hơn 1 năm, bạn bè lớp SM đã vào Hà Tĩnh dự lễ tang người bạn Xô Viết ấy. SM không về được, nghe tin cũng gửi phong bì phúng viếng. Giai đoạn cuối đời của bạn ấy nghe kể thật tội… Cầu mong linh hồn bạn ấy được an lành nơi chín suối. |
Chào các bạn !
Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc (1952-1972) từng học cấp III tại trường Yên Hoà B, sau đó là sinh viên khoa Toán Cơ tại Đại Học Tổng hợp Hà Nội . Năm 1972, Nguyễn Văn Thạc cùng với hàng ngàn sinh viên khác phải xếp bút nghiên, nhập ngũ lên đường đi chiến đấu . Anh đã hy sinh tại chiến trường khốc liệt Thành cổ Quảng Trị, để lại cho tuổi trẻ Việt Nam cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi”… Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7, tôi trân trọng gởi đến các bạn bài thi đoạt giải Nhất Văn toàn miền Bắc năm 1970 của Nguyễn Văn Thạc . * BÀI ĐOẠT GIẢI NHẤT CUỘC THI HỌC SINH GIỎI VĂN LỚP 10 TOÀN MIỀN BẮC NĂM 1969-1970 . Đề thi: Trong bức thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ tư có viết :”Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là những đề tài cao đẹp của văn học nghệ thuật nước ta lúc này.” Anh (chị) hãy giải thích ý kiến trên và chứng minh rằng văn học ta đã làm theo lời dạy đó của Đảng . BÀI LÀM Hiện thực xã hội, một vườn hoa cho các nhà thơ văn – những con ong hút mật – tìm thấy ở đó hương thơm, sắc đẹp . Ở chế độ xưa thiếu ánh sáng mặt trời, hiện thực đó chỉ là lá vàng rơi lả tả, xao xác đến tận bài thơ, tận nhà thơ “nằm trên gác lạnh viết thơ sầu” (Lưu Trọng Lư) . Yêu biêt mấy hiện thực vĩ đại của chúng ta ngày nay, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã thổi vào văn học một nguồn cảm hứng mới, tràn trề hơi thở cuộc sống . Đúng như trong bức thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ tư có viết :”Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là những đề tài cao đẹp của văn học nghệ thuật nước ta lúc này”. Lúc này . Chính là lúc dân tộc ta đang trải qua những biến cố phi thường ! Chúng ta đang chiến đấu vô cùng dũng cảm để chống lại đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ, hung hãn nhất thê giới, nhằm giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc – đồng thời chúng ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nửa nước – Miền Bắc thân yêu, để mở ra một kỷ nguyên huy hoàng sáng lạn cho lịch sử dân tộc . Hiện thực vĩ đại đó, dưới ánh sáng đường lối cách mạng của Đảng, chính là biểu hiện sinh động của hai nhiệm vụ chiến lược giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội . “Tổ quốc” mà Trung ương Đảng nhắc tới đây chính là nhiệm vụ giải phóng dân tộc và “chủ nghĩa xã hội” chính là nhiệm vụ xây dựng của miền Bắc chúng ta . Cuộc sống anh hùng, vĩ đại của dân tộc ta hướng tới hai mục tiêu đó . Thật là cao đẹp, một nguồn đề tài hết sức phong phú, một nguồn cảm hứng vô tận, giục giã, thôi thúc những người cầm bút : hãy lăn mình vào cuộc sống tươi đẹp, vĩ đại đó mà sáng tác . Văn học của ta là một nền văn học “của dân, vì dân và do dân”, là “một bánh xe nhỏ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, nền văn học đó phải phục vụ cho cách mạng, cho nhân dân . Là một bộ phận của cách mạng, văn học của ta phải phục vụ đường lối chính sách của Đảng qua từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử . Nhiệm vụ chiến lược hiện nay là “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”, là giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước . Muốn phục vụ cách mạng, muốn “hiểu biết khám phá, sáng tạo phục vụ Tổ quốc, phục vụ chủ nghĩa xã hội” (Phạm Văn Đồng) các nhà văn nghệ của ta phải đi sâu, cắm sâu vào hiện thực cuộc sống, phải tìm thấy ở “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội” một nguồn cảm hứng sôi nổi, say sưa, bất tận . Tại sao “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội” lại là đề tài hết sức cao đẹp của văn học nghệ thuật ta lúc này ? Chính bởi vì chúng ta đang tiến hành một cuộc cách mạng hết sức cao cả là giải phóng triệt để nhân dân lao động Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp giải phóng nhân loại, nhằm đạt ước mơ từ ngàn xưa : độc lập – tự do và công lý cho tất cả mọi người dân lao động . Cách mạng không chỉ có phá – phá tận gốc, phá nền móng áp bức bóc lột của kẻ thù từ bao năm đè đầu cưỡi cổ người lao động ; chúng ta còn xây, xây những lâu đài hạnh phúc cho “thằng Dân”, “cái Tỉu”, đem lại tiếng sáo thanh bình cho “Vợ chồng A Phủ”, mang lại “bát cơm, tấm áo” và mang cả “hương hoa, hồn người” cho mỗi một kiếp người . Cuộc cách mạng đó, không chỉ cao cả xa vời, quá trình phát triển của nó mang trong lòng biết bao điều đẹp đẽ . Mỗi tấm thân người chiến sĩ cộng sản, mỗi người anh hùng, mỗi suy nghĩ rung động thiết tha của con người Việt Nam lúc này đều đủ sức làm rung sợi tơ đàn của tâm hồn thi sĩ . Và đẹp biết mấy, những “cái mới”, cái tươi rói của cuộc sống xã hội chủ nghĩa đang nảy lộc đâm chồi trên Tổ quốc ta . Nền văn nghệ của chúng ta, văn nghệ nhân dân, phản ánh đầy đủ tâm tư, tình cảm, mơ ước của nhân dân ta, gắn liền mật thiết, hữu cơ với những vấn đề của dân tộc, gắn liền với đời sống tinh thần và vật chất của cả dân tộc . Không thể làm ngơ trước hiện thực vĩ đại, trước “cuộc đổi đời” của cả dân tộc và hơn nữa, trước sứ mệnh lịch sử mà Đảng ta tiến hành . Văn học của chúng ta phải lấy những đề tài đó, những đề tài hết sức cao đẹp ấy mà sáng tác, các văn nghệ sĩ chúng ta phải rung động, phải đi sâu vào hiện thực tốt đẹp ấy mà sáng tác ; có như vậy mới xứng đáng là nhà văn nghệ của nhân dân ; và tác phẩm của họ - những áng văn thơ, truyện kí – mới là tiếng nói của tâm hồn quần chúng . Và làm được như vậy, chính là họ đã phản ánh đúng hiện thực, phản ánh đúng vấn đề trung tâm của thời đại chúng ta : Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội . Văn, thơ là “tiếng nói của tình cảm, là hình thức nhuần nhị và sắc bén của tư tưởng”, làm nhiệm vụ của mình bằng cách giáo dục quần chúng, hướng họ vào con đường đấu tranh cải tạo cuộc sống .Bằng hình tượng và ngôn ngữ, văn học đi vào trái tim bạn đọc, thúc dục họ vững bước đi lên . Nắm rất chắc nguồn cảm xúc vô tận đó, các nhà văn, nhà thơ của chúng ta đã có nhiều cố gắng vươn lên cho kịp với đời sống, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng trong giai đoạn hiện nay . Tổ quốc chúng ta đang kiên cường trên tuyến đầu chống Mĩ, từng ngày,từng giờ, mỗi người dân Việt Nam đang bám đất, bám làng, bám lấy Tổ quốc yêu thương của mình . Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước lúc này sáng ngời trong lòng mỗi người dân đất Việt . Các nhà văn nghệ của chúng ta, bằng ngôn ngữ và hình tượng văn học đã miêu tả, biểu dương và xây dựng cho quần chúng lòng yêu nước vô sản của Đảng ta . Cảm ơn những nhà thơ miền Nam đã sáng tác những bài thơ xuất sắc trong máu lửa, căm thù : Đã bao đêm tôi nằm không ngủ Nghe súng địch dội vào tim bé nhỏ Máu sôi lên và nước mắt tuôn trào Cắn chặt hàm răng viết vội vài câu Giấy nhỏ quá mà bài thơ rất lớn (Giang Nam) Chính vì cuộc sống của dân tộc, dưới ánh sáng mặt trời của Đảng mà các nhà thơ, nhà văn ta đã được phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc . Yêu biết mấy cảnh vật, quê hương qua bài thơ Tố Hữu : Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đung đưa Mát rượi lòng ta, ngân nga tiếng hát Bài thơ làm cho ta thêm yêu, thêm quý cảnh vật quê hương ; đâu phải chỉ lòng nhà thơ cất lên tiếng hát, mà cả cả lòng ta cũng muốn bay lên… Bay lên đi, theo tiếng nhạc róc rách của suối, của đàn tơ-rưng giữa trời bồng bềnh mây trắng (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành) . Càng yêu đất nước, càng quý độc lập, tự do . “Con sông quê hương trong thơ Tế Hanh đâu chỉ là con sông bình dị, mà đó là một giải tâm hồn trong suốt, tâm hồn của người Việt Nam thiết th yêu nước, yêu độc lập, tự do : Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới Quê hương ơi, lòng tôi cũng như sông Tình Bắc – Nam chung chảy một dòng Không ghềnh thác nào ngăn cản được (Tế Hanh) Cùng một làn điệu tâm hồn đó, Anh Đức, nhà văn trẻ miền Nam, say sưa ca ngợi người phụ nữ miền Nam “kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong hình tượng chị Sứ, người con gái xứ Hòn, có suối tóc mượt mà rủ từ đỉnh đầu xuống sát gót chân, đỉnh đầu bất khuất và gót chân cũng bất khuất (Hòn Đất – Anh Đức) Và đây, hình ảnh hùng vĩ của anh chiến sĩ giải phóng quân trong thơ Tố Hữu : Anh đi xuôi ngược tung hoành Bước dài theo gió lay thành, chuyển non Mái chèo một chiếc thuyền con Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương Khiến ta yêu quý vô cùng con người Việt Nam “rũ bùn đứng dậy sang lòa”, từ than bụi đứng lên làm chủ cuộc đời . Quân thù xâm lược đang ngày đêm giày xéo lên đất nước ta, chúng đã gây ra biết bao tai họa, tội ác của chúng “trời không dung, đất không tha, người người đều căm giận” . Lửa cháy ở miền Nam ? Không, chúng đốt cháy lòng các nhà văn, nhà thơ ta đấy ! Em bé miền Nam bị kẻ thù trói vào gốc cau, và tiếng thét thất thanh của em vọng ra, vang dội vào thơ, từ trong ngọn lửa cháy đỏ cả không gian… Ca Lê Hiến lặng người, trăn trở : Ôi ! Có phải gốc cau này thủa nhỏ Nơi ta nằm chờ mãi tấm mo rơi ? Căm thù dồn lên đầu súng , ngọn lê, cả dân tộc đổ ra tiền tuyến sống chết với quân thù . Xốc mạnh ba lô lên vai, các nhà thơ, nhà văn dân của ta cũng ở trong đoàn quân ấy : Cha còn đeo quân hàm Con đã ra nhập ngũ Một hòn đá Trường Sơn Cha con cùng gối ngủ (Trịnh Đường) (còn tiếp) |
(tiếp theo)
“Đêm nay suốt Trường Sơn . Nổi lên bao đống lửa…” (Thúy Bắc), có đống lửa nào ấm hơn hơi thở của hai cha con cùng gối đầu lên một hòn đá lạnh… Cả tình yêu ra trận, niềm lạc quan trong sáng trong cảnh vất vả, gian lao gói trọn trong một câu thơ nhỏ . Cảm ơn nhà thơ đã miêu tả được khí thế của Tổ quốc ta trên đường ra tiền tuyến, con đường của tình yêu lớn . Lạc quan tin tưởng vốn là một đặc điểm truyền thống của con người Việt Nam . Nguyễn Đức Thuận, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, trước giờ phút hy sinh vẫn bình tĩnh, vẫn nhìn “hòn núi Chúa dưới trăng nom hùng vĩ chứ không ghê rợn như những đêm nổi bão . Và hòn núi lóa sáng xanh gợi nhớ một câu thơ cổ, nhớ cái tứ sáng trăng lưng sườn núi mà không nhớ ra được lời thơ . Một câu thơ Đường thì phải…” Lạc quan tin tưởng ngay cả giờ phút sắp hy sinh, thật là vĩ đại, cao quý . Tổ quốc chúng ta đã sinh ra những con người như vậy, những con người không chịu khuất phục quân thù, “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mật nước, không chịu làm nô lệ”. Tổ quốc chúng ta đang chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập, tự do cho đất nước ; các nhà văn nghệ của ta, thấu suốt quan điểm,đường lối văn nghệ củ Đảng, đã miêu tả chân thật, hùng hồn cuộc sống chiến đấuvô cùng anh dũng của dân tộc, đã khắc họa đậm nét hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, bất khuất,quyết tâm đánh thăng giặc Mỹ xâm lược . Bên cạnh cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, chúng ta còn tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc thân yêu . Cuộc sống ngồn ngộn, tươi trẻ như một “mùa hoa mới nở, các nhà thơ, những con ong bay vào mùa, lặng lẽ, cần cù hút lấy những nhụy thơm và kết tinh cho đời thứ mật óng ánh” (Hoàng Minh Châu) . Đứng vững trên mảnh đất Việt Nam vừa giải phóng nửa mình, được ánh sáng lý tưởng của Đảng soi đường, các nhà văn, nhà thơ ta nhiệt thành ca ngợi, biểu dương cái mới đang nảy nở trên đất nước ta và đấu tranh cho cái mới thắng lợi . Cuộc sống mới đang dần dần hình thành trên đất nước “trên đường thiên lý”, Tố Hữu bỗng lặng người mà ngắm, mà say : Hỡi các chị, các anh đi trên đường có thấy Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh Gương mặt người ai cũng sáng long lanh Những đôi mắt trong lành vui ấm lạ Ôi ! Những con người Việt Nam mới “người yêu người sống để yêu nhau”. Một quan hệ sản xuất hoàn toàn mới, chẳng còn người bóc lột người, người lao động đứng lên làm chủ nhân đất nước . Người phụ nữ Việt Nam, từ ngàn xưa chìm đắm trong buồng the, bếp núc, nay đứng ra làm chủ cuộc đời . “Câu chuyện xảy ra không tránh khỏi” (Vũ Thị Thường) đối với những anh chàng chưa nhìn rõ vai trò chủ của người phụ nữ như Mùi và Mẫn chính là như vậy . Và, hình ảnh Túc rúc vào má vợ xin lỗi (Người vợ - Nguyễn Đích Dũng) cũng thật là đáng yêu, đáng trách… Miền Bắc còn đâu hình ảnh “Vợ chồng A Phủ” : “Chồng đi trước thổi sáo, vợ đi sau hát theo, tiếng hát ú dài mênh mông trong đồi xanh” ; tiếng hát mênh mông thật đấy, nhưng có vẻ gì ghê rợn, buồn buồn… Hãy xem Sa Phủ và Seo Mẩy, đôi trai gái trên miền cao Phú Pàng, vẫn là Sa Phủ thổi sáo, Seo Mẩy cưỡi ngựa đi trước, nhưng cảnh ấy giờ đây, sao nhẹ nhàng bay bướm, bay bướm trong nếp váy hoa của Seo Mẩy lướt trên cỏ, trong con ngựa thồ hàng đi khắp nẻo chim bay… bay nhẹ nhàng bởi tâm hồn con người đã được giải phóng (Sa Phủ - Ma Văn Kháng) . Yêu biết bao nhiêu, tiếng đàn của cô bé, giữa lúc trưa hè mênh mang, mênh mang : Tính tình, tính tinh, tính tang Cô bé sáng ngày nghịch cóc Giờ đây em làm ấm cả không gian Cha phải ngừng tay rửa bát Mẹ ngừng sách nửa chừng trang (Chế Lan Viên) Dường như tiếng đàn ấm áp… không, ấm áp lắm, cả câu thơ là tình người . Dưới chế độ cũ, xa lắm, những người lao động bị khinh rẻ, bạc đãi ; chắc mỗi người chúng ta còn nhớ hình ảnh người “phu làm đường” gặp Bác khi Người còn bị giam cầm… Cái hình ảnh ấy làm trăn trở người đọc… và hai chục năm sau, Hà Nội, miền Bắc được giải phóng, vẫn “Tiếng chổi tre” xao xác hàng me, xao xác cả tâm hồn người đọc : Tiếng chổi tre Xao xác hàng me Đêm hè quét rác (Tố Hữu) Ôi ! Hình ảnh chị lao công “như sắt như đồng” bỗng làm ta thêm yêu quý, biết ơn vô cùng những con người thân yêu của dân tộc đã đổ máu để bảo vệ Tổ quốc, quét sạch quân thù, cũng như chị lao công đang quét rác lúc đêm khuya để góp phần giữ gìn cho cuộc sống của chung tathe6m phần lành mạnh, tươi đẹp . Đọc những bài ký, chuyện ngắn của Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ… ta thấy yêu “hương cỏ mật” ngòn ngọt, thơm dịu dàng, yêu cơn mưa mùa xuân xôn xao, thắm đượm lòng ta… và càng yêu hơn tâm hồn bà mẹ, sẵn sàng chịu cảnh vất vả, gieo neo cho con mình ra trận (Tiếng mưa – Nguyễn Thị Như Trang) . Cuộc sống mới đang lên men ngây ngất . Như dưới những chùm hoa đẹp, vẫn còn là những con sâu, những cánh hoa tàn . Phải gạt bỏ đi hết . Đấy là Tuy Kiền trong “Tầm nhìn xa” (Nguyễn Khải), người phó chủ nhiệm nhiệt tình với phong trào, hăng hái, xốc nổi, nhưng trong nguồn lợi của hợp tác xã mà Tuy Kiên hết lòng yêu quý, gắn bó, ông cũng muốn gấm ghé tí ti… Đấy cũng là lão Am (Cái sân gạch – Đào Vũ) vẫn chưa muốn rời bỏ “cái sân gạch” trong đầu óc lão, làm cho đầu óc lão cằn cỗi đi vì cái sân bé nhỏ, cô đơn . Cái ‘tôi” lẻ loi, đơn độc từ ngàn xưa đang dần dần bị xóa bỏ, để cái “ta” chung, bản trường ca tập thể, đang hình thành… Lời ca tập thể đang cất lên cao vút, trong tiếng hát ấy xuất hiện một lớp thanh niên trẻ, khỏe, hăng say, tràn đầy sức sống thở căng lồng ngực ; tiếng hát của họ cất lên từ trái tim yêu quý vô cùng chê độ ta . Đó là tập thể Quyện, Chấm, Trọng, Trà (Cái sân gạch – Đào Vũ), là Biền trong (Tầm nhìn xa – Nguyễn Khải) . Niềm kính yêu chân thành chế độ ta đã chứng minh một chân lý : chủ nghĩa xã hội là bình minh của cuộc đời . Cảm động biết bao, giữa “chuồng cọp”, địa ngục trần gian của Côn Đảo, các chiến sĩ của chúng ta vẫn giành cho mình, gìn giữ cho mình một “thiên đường xã hội chủ nghĩa” . Ôi ! Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội : tâm hồn, tư tưởng của chúng ta đó . “Hiện thực vĩ đại mà dân tộc ta đang đấu tranh chính là một cống hiến hết sức to lớn, rất cơ bản, rất vĩ đại vào văn học nghệ thuật” (Phạm Văn Đồng) . Cống hiến ấy chính là nguồn đề tài hết sức phong phú, cao đẹp cho văn nghệ sĩ ta… Được mang ngòi bút của mình phục vụ Tổ quốc, nhằm giáo dục lập trường tư tưởng và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho nhân dân ta, các nhà thơ ta, bằng nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tái hiện cuộc sống muôn màu muôn vẻ của dân tộc ta đang chiến đấu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Le6nin, và dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, chính trị của Đảng . Nhờ đó, các tác phẩm văn nghệ của ta đã làm toát lên được lòng yêu nước vô sản hêt sức cao đẹp…, đồng thời nâng cao được nhận thức và tình cảm xã hội chủ nghĩa, một thứ tình cảm mới, trong sáng, ấm áp tình giai cấp, tình đoàn kết quốc tế vô sản ; các tác phẩm văn nghệ của ta đã làm rạng lên lòng yêu thiết tha chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta . Đi sát thực tế cuộc sống, nắm chắc yêu cầu của cách mạng, nhờ lập trường tư tưởng vững chắc, các nhà văn nghệ ta đã trở thành “những thư kí của thời đại”, trở thành những nhà văn nghệ chân chính, thành “giác quan” của quần chúng, đã phục vụ đắc lực cho cách mạng, đấu tranh cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, và đã trở thành những chiến sĩ xung kích trên trận địa văn hóa tư tưởng, một bộ phận không thể thiếu được của cách mạng . Đáng yêu biết mấy hiện thực vĩ đại của chúng ta đã nuôi dưỡng tâm hồn các nhà thi sĩ để “trổ ra những trái ngọt cho đời” . Cảm ơn Đảng của chúng ta “Đảng làm ra ánh sáng” rọi chiếu cuộc sống tươi đẹp hôm nay, và cảm ơn cuộc sống của dân tộc, đó là dòng nhựa tươi nguyên màu sữa nuôi tâm hồn nghệ sĩ lớn lên . Các nhà thơ văn chúng ta đã sống, đang sống và sẽ sống mãi cuộc sống mãi cuộc sống của cả dân tộc, cuộc sống máu lửa với tiếng hát trữ tình điềm đạm, cuộc sống cách mạng khẩn trương, sôi nổi với “cuộc tấn công lên thẳng tận trời” (Lênin) và cuộc sống tâm tình thầm thì, xao động với tiếng cười ngây thơ của trẻ nhỏ suốt tám năm trời còn đọng lại tươi mát trong lòng người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Đức Thuận giữa bóng đêm dày đặc man rợ của Côn Đảo ! Hãy biết đi tìm cảm xúc trong dòng thác lớn, trong cái “ta”, trong lòng dân tộc đang chiến đấu và chiến thắng vì “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”. Cho tôi sống những ngày đánh Mĩ Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng địch ngoài đồng Và hạ trực thăng rơi (Chế Lan Viên) (hết) * Bài làm được giải Nhất (16 / 20 điểm), của NGUYỄN VĂN THẠC, trường cấp III Yên Hòa B – Hà Nội . * Năm 1970, bài thi văn này đã được đăng trên báo Nhân Dân . Hiện nay, bài thi văn này được in trong những trang cuối của cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi”. |
DỮ VỚI MA ; HIỀN VỚI BỤT ; ÁC VỚI BẠN ( Người kể: Đặng Tuấn Phương - Sài gòn .Trường Rừng Leningrad ) Những ai đã từng trải qua, đều tâm sự rằng thời sinh viên chính là quãng đời đẹp nhất trong cuộc sống của họ ! Tôi là Đặng Tuấn Phương cũng rất tâm đắc câu nói trên . Thời Dự bị Kiev 71, tôi sống chung phòng với Nguyễn Bá Tòng, Võ Duy Vinh, và 2 sinh viên người Nga hoặc Ucraina . Lúc đó, bản thân chúng ta còn chưa hết trẻ con, cũng chưa ra người lớn, nên tất cả những gì chúng ta suy nghĩ và hành động đều hơi dở dở ương ương... Chính nhờ dở dở ương ương, đến bây giờ chúng mới biến thành những kỷ niệm đẹp đẽ, đầy ắp trong tâm trí cựu sinh viên ! Sau đây, xin kể cùng các bạn 3 kỷ niệm không thể nào quên đối với tôi . Chuyện thứ nhất xảy ra trong phòng giải trí của ký túc xá ob.6 . Tối nào cũng vậy, rất đông sinh viên Nga, sinh viên Việt nam và sinh viên các nước khác tụ tập vào đây để xem TV . Hôm ấy, chúng tôi đang ngồi yên lặng, chăm chú theo dõi chương trình khá hay... Đột nhiên, một sinh viên người Ucraina mở cửa bước vào, chẳng nói chẳng rằng, anh ta ngang tàng tiến thẳng đến TV, bật sang kênh khác đang chiếu bộ phim thuyết minh bằng tiếng Ucraina . Đó là thứ tiếng riêng của dân tộc Ucraina, không dễ hiểu chút nào đối với những người đang học tiếng Nga, tất nhiên chúng tôi cũng như vịt nghe sấm ! Lập tức nổi lên tiếng xì xào khó chịu, kèm theo thái độ phản ứng của mọi người đã ngồi xem trước đó, kể cả các sinh viên bạn . Rồi một sinh viên Việt Nam tiến lên bật trả kênh cũ, ai nấy đều tán thưởng hành động này, lác đác vài người vỗ tay . Nhưng khi anh sinh viên Việt Nam vừa về chỗ ngồi của mình, thì anh sinh viên Ucraina hồi nãy lại ngang tàng tiến lên bật sang kênh mới ! Tiếng xì xào phản đối nổi to hơn, một sinh viên Việt Nam khác tiến lên bật trả kênh cũ, rồi sinh viên Ucraina kia vẫn ngoan cố bật sang kênh mới . Sự việc cứ lặp đi lặp lại ba bốn lần... Vài sinh viên Việt Nam nháy mắt nhau, thì thầm bàn tính . Tôi xin ngắt ngang câu chuyện ở đây, để có lời miêu tả chân dung sinh viên Ucraina kia . Đó là một người cao trung bình, mặt xương xương, tóc hoe vàng, môi mỏng, răng thưa, khi nói miệng hơi chu nhọn ra, đặc biệt là đeo kính cận khá dày . Quá bực tức nên tôi đã quan sát kỹ, nhớ rõ khuôn mặt này, thậm chí còn nhớ tên anh ta là Victor . Bất ngờ, toàn bộ ánh sáng trong phòng giải trí phụt tắt . Rồi nghe rõ tiếng đấm đá, thoi thụi huỳnh huỵch, kèm theo tiếng la oai oái thất thanh . Dù tối om chẳng nhìn thấy gì, tất cả chúng tôi đều nhận biết tiếng kêu la của chính Victor . Sau khi bị lãnh đòn, Victor cố gắng lần mò tới mở cửa, chạy thoát ra ngoài, biến mất khỏi hành lang ! Đèn liền bật sáng, mọi người vẫn trầm tĩnh, đâu ngồi yên đó, chăm chú xem tiếp chương trình cũ trên TV, như chưa từng xảy ra chuyện gì . Từ hôm ấy trở đi, mỗi khi người mới bước vào phòng giải trí có ý định chuyển sang kênh khác trên TV, đều phải lên tiếng đề nghị :" Ở bên kênh kia có chương trình hay lắm đấy các bạn... " . Nếu đa số chấp thuận, sẽ đổi kênh xem thử, hay thì cùng xem, dở thì trở lại kênh cũ . Luôn luôn thiểu số phục tùng đa số . Tôi thường gặp lại Victor trong ký túc xá, anh ta tiếp tục đến xem TV, nhưng khiêm tốn hơn và mất hẳn thái độ ngang tàng ngày nào . Tôi nghĩ Victor nhớ bài học tối hôm ấy rất lâu, có thể là đến tận bây giờ chăng ? Sinh viên Dự bị Kiev 71 chẳng những dạy anh ta phục tùng đa số, mà cao hơn, là thái độ ứng xử văn minh lịch sự ở nơi công cộng, không nên ích kỷ, phải tôn trọng mọi người và mọi dân tộc trên toàn thế giới... * Chuyện thứ hai xảy ra vào thời gian ôn thi cuối năm . Tôi nhớ rằng Dự bị Kiev 71 được chia thành bốn khối chính : khối kinh tế, khối kỹ thuật, khối xã hội, khối luật và quan hệ ngoại giao . Hồ Ngọc Phương và tôi học chung ở khối kinh tế, một hôm đẹp trời bèn rủ nhau ra vườn táo gần ký túc xá để ôn thi . Chắc chắn tất cả chúng ta đều nhớ vườn táo ấy . Đó là địa điểm lý tưởng để ăn, học, chơi, yêu... Khi “song” Phương đến vườn táo, nhiều nhóm khác đã chiếm cứ các địa điểm thuận lợi . Muốn tìm nơi riêng biệt yên tĩnh phải tiến vào sâu hơn, cuối cùng chúng tôi chọn được nơi vừa ý . Bỗng nhiên, nhìn xung quanh thấy toàn là rau dền, rất non, tươi xanh mơn mởn, nhiều lắm ! Sướng mắt quá đi thôi, nhưng bây giờ hãy học cái đã, rồi tính sau . Chiều về, chúng tôi hái một cặp táp nén đầy ắp rau dền non, cặp vẫn đóng chặt kín đáo, vì chưa muốn tiết lộ bí mật này với ai . Tại nhà bếp ký túc xá, chúng tôi đổ rau dền ra rửa sạch, chuẩn bị nấu một nồi cháo mì kinski tuyệt hảo . Trong nhà bếp lúc ấy còn có một nam sinh viên Nga, và vài nữ sinh viên châu Phi, người Côngô . Anh sinh viên Nga tròn mắt ngạc nhiên, hỏi :" Các bạn ăn thứ cỏ này à ?". Chúng tôi gật đầu, bình thản trả lời :" Vâng, chúng rất ngon !". Anh ta nhún vai, lắc đầu tỏ vẻ hồ nghi . Tôi để ý thấy các nữ sinh viên Côngô chăm chú nhìn đống rau dền của chúng tôi, xí xô xí xào với nhau bằng tiếng Pháp . Rồi một cô hỏi bằng tiếng Nga :" Các bạn mua rau này ở đâu vậy ?". Chúng tôi cười, bịa ra tên của một cửa hàng thực phẩm trên đường phố nào đó . Họ mừng rỡ, vồn vập hỏi ngay :" Ở đâu ? Xa không ? Còn bán rau này không ?...". Chúng tôi tiếp tục diễn trò nói dối của ngày 1 tháng 4 theo phong tục châu Âu :" Cửa hàng chẳng xa lắm, nhưng rau thì bán hết rồi !". Sự mừng rỡ của các cô liền biến mất, nét mặt họ xìu xuống, lộ vẻ tiếc nuối thèm thuồng... Chúng tôi bàn nhau, rồi nói :" Các bạn cũng biết ăn rau này à ? Nếu muốn, các bạn có thể lấy một ít !" . Ôi chà chà, họ chẳng thèm từ chối lời nào, mà còn thẳng tay bốc mất hơi nhiều rau dền của chúng tôi, miệng luôn cảm ơn rối rít, phụ nữ là thế đấy . Một cô cầm cây rau dền, đến hỏi anh sinh viên Nga :" Cây rau này tên gì bằng tiếng Nga, anh biết không ?". Sinh viên Nga cầm cây rau dền, ngắm nghía quan sát hồi lâu, thốt ra một từ gì đó, nhưng ngập ngừng giây lát, anh ta phất tay tự phủ nhận . Rồi suy nghĩ và nói ra một từ khác, rồi lại tự phủ nhận... Rốt cuộc, anh ta đành thú thật :" Tôi không biết !". Sự việc trên làm tôi ngạc nhiên với một phát hiện thú vị . Như vậy có nghĩa là cây rau dền cũng mọc ở châu Âu (Nga), châu Phi (Côngô), chứ không riêng gì ở châu Á (Việt Nam), và có thể là nó mọc ở hầu khắp trên thế giới . Một số dân tộc rất thích loại rau dền bổ dưỡng và ngon lành này . Ngược lại, một số dân tộc không biết rằng rau dền có thể ăn được, thậm chí chẳng cần biết nó tên gì . Tất nhiên, các nhà sinh vật học đã gán cho cây rau dền một cái tên khoa học bằng tiếng Nga, nhưng nói chung dân tộc họ chỉ coi nó là loại cỏ dại ! Sau này, trong các chuyến đi công tác, tôi lại phát hiện ra vô số cây mã đề mọc hoang ở nhiều nơi trên đất Nga về mùa hè . Chẳng hiểu họ có biết cây mã đề cũng là một loại thực phẩm chữa trị bệnh tật hay không ? * Chuyện thứ ba liên quan tới một người khác đời, chắc chắn các bạn đều nhớ “Tín lùn” ? Tín lùn sống chung phòng với Mai Hà, đối diện hơi xéo với phòng của tôi . Còn nhớ lúc ấy chúng tôi hay hát nhại bài “Bé bé bằng bông” để trêu ghẹo Tín lùn như sau :” Chú Tín dài râu, hai má bầu bầu . Chú đi sơ tán bế em theo cùng…”. Tánh tình Tín lùn hiền với bạn, nên thường hay bị chúng tôi trêu ghẹo, mà chẳng bao giờ nổi cáu giận dữ . Mỗi lần từ nhà vệ sinh đi ra, tôi đều ghé vào phòng của Tín lùn, nhìn quanh nhìn quất, rình xem hễ chẳng ai để ý thì cố tình lấy cái khăn phơi trên đầu giường của Tín lùn để lau tay ! Trong thời gian khá lâu, tôi cứ đinh ninh Tín lùn chẳng hề biết việc đó… Một hôm, nhờ nguồn tin tình báo bí mật, tôi khám phá ra Tín lùn biết thừa việc làm của tôi từ lâu, nhưng vẫn giả lơ, cứ để yên cái khăn ấy, dành riêng cho tôi lau tay . Đồng thời, Tín lùn kín đáo sử dụng một cái khăn khác để lau mặt, đem cất giấu kỹ vào tủ nhỏ riêng . A ! Thế thì chết với tớ ! Từ đó về sau, tôi không thèm dùng cái khăn để ở ngoài nữa, mà quyết rình lén mở tủ lấy bằng được cái khăn giấu trong ấy để lau tay, thích chí vô cùng . Chẳng biết Tín lùn có phát hiện điều này không ? Bây giờ nhớ lại, tôi thấy mình vừa trẻ con, vừa “ác ác” thế nào ấy với bạn . Nếu đọc những dòng thú tội này, tôi thiết tha xin Tín lùn ban cho hai chữ “Đại Xá” nhé ! Hiện nay, website Chi hội Kiev khá rôm rả, bạn bè thường gặp gỡ chào hỏi nhau, viết kể đủ thứ chuyện trên diễn đàn, vui lắm ! Tuy vậy, sau gần 40 năm xa cách, hầu hết chẳng ai nhớ rõ mặt mũi người đang giao tiếp với mình . Tôi cũng rất “máu”, vừa nghe Hội trưởng thông báo liền hấp tấp nhảy vào website . Ngỡ ngàng quá, tại sao chẳng gặp ai cả, nhìn quanh quất thấy nơi này hoàn toàn vắng lặng, yên ắng trơ trọi, loe hoe vài đóa hoa, tuy chớm tàn nhưng trang điểm sặc sỡ, đương mải mê đấu hót ầm ĩ, dòm ngó khen chê sắc đẹp của nhau… May mắn thay, một bạn Kiev vô tình đi ngang, nhận ra tôi, bảo cho biết là nhảy vào sai địa chỉ rồi, lạc quá xa sang mãi tận Chi hội Odessa, hãy mau mau trở về Kiev đi ! Tìm được lối quay về Kiev, lập tức tôi nhiệt tình tham gia, và nhanh chóng trở thành một người vừa lập công, vừa ghi tội ! Tôi hăng háí viết những bài gợi nhắc kỷ niệm, các bạn đều vỗ tay trầm trồ sao trí nhớ tốt thế ? Hứng chí, tôi bèn đề xướng lên phong trào “ Những con số thú vị “, đề nghị mọi người cùng thống kê nhiều thứ, ví dụ như ai đẹp gái nhất, ai đẹp trai nhất, ai xấu gái nhất, ai xấu trai nhất, ai cao nhất, ai lùn nhất, ai còn sống và ai đã chết… Thú vị thế mà sao mọi người chỉ ậm ừ cho qua chuyện, không tham gia ? Chẳng bận tâm ai khen ai chê, tôi quyết chí suy nghĩ bày thêm trò mới, lần này chuyển sang đề tài tình yêu, ắt hẳn mọi người sẽ phải mê thích đến chết chưa chịu thôi . Vắt óc suy nghĩ, đắn đo tìm tòi lâu lắm, tôi quyết định cái tên của phong trào mới là “ Những tình yêu song phương và đơn phương “ ! Càng suy gẫm, càng thấy cái tên này vô cùng thâm thúy, đã kêu rang rảng, lại còn ngầm ẩn chứa đến 2 lần tên riêng của chính bản thân tôi, nghe sướng tai quá đi mất : “…Phương …Phương”. Chơi chữ tuyệt vời ! Người ta nói không sai, đúng là “văn mình, vợ người”, thường thường ai chẳng khoái chí những của này, thì mình cũng vậy thôi . Nhưng hãy khoan vội vã công bố lên diễn đàn, kẻo lại dục tốc bất đạt như kỳ trước, lần này tôi muốn ngấm ngầm tiến hành công việc một cách hoàn toàn bí mật ! Trước hết, cần tìm nhớ kỹ xem lúc ấy ai đã từng da diết thầm yêu trộm nhớ hình bóng của ai ? Nếu “người ấy” ngỏ ý đồng tình, cùng rủ rỉ rù rì, thì được xếp vào loại tình yêu song phương . Nếu “người ấy” chẳng thèm quan tâm, ngoe ngoắt bỏ đi, thì bị xếp vào loại tình yêu đơn phương… Đã đến tuổi cập kê, dĩ nhiên ai cũng tìm hiểu yêu đương, nếm thử mùi đời, có làm gì xấu đâu mà chẳng dám công khai cho vui cả làng ? Bước cờ kế tiếp, tôi cần kiên quyết phơi bày vài mối tình tiêu biểu để nêu gương điển hình, vận động thành phong trào sôi nổi khắp nơi, người người phấn khởi, lũ lượt cầm tay nhau kéo lên diễn đàn, nô nức thi đua công khai tình yêu ! Thế là ngay trên diễn đàn Chi hội Kiev, một lần nữa tôi lại làm việc ác với bạn . Kỳ này ác với một người mà tôi chẳng nhớ rõ mặt mũi dài ngắn ra sao ! Tuy tự thấy câu hỏi của mình hơi ‘khí không phải’, nhưng vì quá nôn nóng, muốn xác định rõ ràng đúng người đúng việc, nên tôi vẫn kiên quyết đăng bài lên diễn đàn công cộng, hỏi thẳng thừng A như sau :” Có phải bạn là người tìm hiểu B hồi đó không ? Nếu đúng thì tôi nhớ một chi tiết như thế này : bạn và B ‘tán’ nhau rất khuya ở cầu thang . Đêm khuya tĩnh mịch, dù các bạn ‘tán’ nhau rất ‘nhỏ’, nhưng rất ‘vang’… Một lần có người đã phải lên tiếng :” Đi ngủ đi cho người khác ngủ, sáng mai còn đi học !”. Nếu có sự nhầm lẫn, xin bạn hoan hỉ bỏ qua, nhưng nếu hoàn toàn đúng vậy, thì bạn phải lên tiếng xác nhận đàng hoàng đi nhé, để mọi người còn biết rõ mặt mũi bạn là ai, đã cả gan làm những việc gì !”. Chẳng hiểu tại sao A lặn biến mất tăm, bỏ mặc tôi nóng lòng chờ đợi câu trả lời ? Còn B thì mắc bệnh hiểm nghèo, từ trần lâu lắm rồi, bây giờ biết hỏi ai hỡi trời ? Thật không ngờ, sau khi đăng bài hỏi A, lập tức tôi bị bạn bè thổi còi, góp ý rằng đem phơi bày tình yêu vụng trộm riêng tư của người khác lên diễn đàn là đi quá xa, có dám tự kể tình yêu thầm kín của mình ra nơi công cộng như vậy không ? Ai cũng có quyền phát biểu góp vui, nhưng vẫn cần đôi chút thận trọng, đừng để vượt quá xa những giới hạn vô hình của nơi diễn đàn công cộng ! Tôi cảm thấy hối hận vô cùng, đăng bài xin lỗi chân thành, bày tỏ lý do, ngỏ lời sẽ không làm vậy nữa đâu… Cũng trong bài xin lỗi này, để tỏ rõ thiện chí ăn năn, tôi thực thà thú nhận thêm chính mình đã từng phanh phui cuộc tình thầm kín giữa C và D ! Kế tiếp, tôi đưa ra kết luận hùng hồn rằng tất cả những cuộc tình vụng trộm tại Dự bị Kiev đều thất bại thảm hại, chẳng đem lại ích lợi nào cả . Thà chúng ta đem những khoảng thời gian phung phí cho các cuộc tình vô bổ ấy mà chăm chỉ siêng năng học hành, có lẽ chú Lệ và Sứ quán hài lòng biết bao . Sau đó, tôi quay sang lớn tiếng tuyên dương khen ngợi duy nhất chỉ một cuộc tình giữa E và F đạt thắng lợi vẻ vang, kéo dài dai dẳng… Thật tiếc, vẫn còn chút khuyết điểm nhỏ, nên rút kinh nghiệm nội bộ, là cặp uyên ương này đáng lẽ phải bắt đầu tò te tú tí với nhau sớm hơn, ngay trong khoảng thời gian 1971-1972, để tặng cho mọi người niềm hãnh diện lớn lao, tự hào rằng đây đích thực là mối tình tiêu biểu điển hình cho thời Dự bị Kiev ! Bài xin lỗi của tôi mới đăng còn chưa ráo mực, thì cái người thổi còi lại dở chứng, nhắn nhủ tôi tréo ngoe thế này :” Thực ra ai cũng tò mò, mê thích nghe kể những cuộc tình vụng trộm . Lần sau, nếu bạn muốn kể, phải nhớ thì thầm giữa ban ngày, đừng thì thầm giữa đêm khuya tĩnh mịch, vang to lắm, lỡ người trong cuộc nghe được sẽ gay go !”. Chẳng bao giờ tôi dại làm thế nữa đâu ! Tôi biết rõ luật nhân quả rồi, làm điều thiện được lên thiên đàng, phạm tội ác bị đày địa ngục . Nếu may mắn được lên thiên đàng, quả thật tôi rất ngại bị linh hồn của B (đã từ trần) tìm gặp quở trách . Mà xuống địa ngục thì đau khổ triền miên, cũng đáng sợ lắm… Hiện giờ, trong đời tôi mới làm vỏn vẹn mỗi 1 điều thiện là hiền với bụt, nhưng lại phạm đến 2 tội xấu là dữ với ma và ác với bạn ! Bởi vậy, thú thật tôi chỉ muốn sống mãi trên cõi trần gian này thôi, được yên tấm thân, khỏi đi đâu hết, nhưng biết chắc chắn Trời sẽ chẳng cho . Có lẽ một ngày đẹp duyên nào đấy tôi nguyện tìm đến cửa chùa, ăn năn sám hối, hy vọng làm cuộc đời mình trở nên cân bằng giữa điều thiện và việc ác :” Dữ với ma ; hiền với bụt ; ác với bạn ; tu với Phật . Trang này được hoàn thành trong 0.156 Giây. |
NHỚ BẠN
Ngày 27-7 làm tôi nhớ đến Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, cùng biết bao người lính đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt, đẫm máu của toàn thể dân tộc Việt Nam… Trước kia, tôi thường đến uống rượu trong một nhà hàng trên đường Hai Bà Trưng ở Sài gòn . Hằng đêm thường có một ca sĩ mù ăn mặc lam lũ, vai đeo cây đàn ghi-ta, được cô bé con dẫn dắt đi quanh các bàn nhậu để ca hát mua vui . Đối với riêng tôi, giọng ca của anh khá truyền cảm . Mỗi khi đã ngà ngà, tôi thường yêu cầu anh hát đi hát lại bài “Hát cho một người nằm xuống” của Trịnh Công Sơn . Tôi thường lắng đọng nghe bài hát này trong trạng thái mê say, nửa tỉnh nửa mơ…, và dường như được gặp lại người anh, người bạn cũ năm xưa Nguyễn Văn Thạc… http://img.tamtay.vn/files/2009/06/1...7771_thac5.jpg HÁT CHO MỘT NGƯỜI NẰM XUỐNG Tác giả: Trịnh Công Sơn. Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây, Đã vui chơi trong cuộc đời này, Đã bay cao trên vòm trời đầy, Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai... Không có ai, từng ngày Không có ai, đời đời, ru anh ngủ vùi. Mùa mưa tới, trong nghĩa trang này, có loài chim... thôi! Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên, Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn, Đất ôm anh đưa vào cội nguồn. Rồi từ đó trong trời rộng, Đã vắng anh, Như cánh chim bỏ rừng, Như trái tim bỏ tình. Nơi đây một lần, nhìn anh đến, Những xót xa đành nói cùng hư không. Bạn bè còn đó, anh biết không anh? Người tình còn đây anh nhớ không anh? Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên, Khi bóng anh, như cánh chim... chìm... xuống. Vùng trời nào đó anh đã bay qua? Chỉ còn lại đây những sáng bao la, người tình rồi quên, bạn bè rồi xa Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ! Anh nằm xuống như một lần vào viễn du, Đứa con xưa đã tìm về nhà. Đất hoang vu khép lại hẹn hò. Người thành phố, trong một ngày Đã nhắc tên... Những sớm mai... lửa đạn, Những máu xương... chập chùng, Xin cho một người, vừa nằm xuống.. Thấy bóng thiên đường, Cuối trời... thênh thang. ** Hôm qua là ngày 27-7-2011 ! Đúng 40 năm trước đây, đêm 27-7-1971, đoàn sinh viên Dự bị Tổng hợp Kiev chúng tôi cùng với nhiều đoàn sinh viên khác lên tàu hoả tại ga Hàng Cỏ, rời xa Việt Nam thương yêu… Trưa ngày 26-7, Phạm Như Anh và tôi đã có một cuộc chuyện trò cảm động, chúng tôi nhắc đến lần cuối cùng Như Anh gặp Thạc đêm 26-7, lần cuối cùng tôi gặp Thạc đêm 27-7, và chuyến tàu hoả đêm 27-7-1971… Ngày Như Anh và tôi cùng rời xa Việt Nam trên chuyến tàu hoả ấy lại đúng là ngày Thương binh Liệt sĩ, sự trùng lặp đó tạo cho chúng tôi có nhiều cảm hứng nhắc nhở về Thạc, về những kỷ niệm của tình bạn, tình yêu ở tuổi học trò vô tư lự 40 năm trước… http://du-lich.chudu24.com/f/d/09032...en-siberia.jpg “Tàu hoả xuyên Siberia” Đêm qua 27-7, tôi định vào Diễn đàn Kiev từ chập tối, để mong được trò chuyện cùng với các bạn trong đoàn Dự bị Tổng hợp Kiev về chuyến tàu đêm 27-7-1971... Nhưng rất tiếc là đường truyền internet bị hỏng mấy bữa rồi mà vẫn chưa được sửa chữa ! Đêm qua, chẳng biết có bạn nào hẹn nhau gặp gỡ để cùng ôn nhắc lại các kỷ niệm 40 năm trước chăng ? Đêm qua, tôi ngồi một mình tại Bình Châu vắng vẻ, nhưng chẳng hề cô đơn, vì trong tâm trí ngập tràn những kỷ niệm xa xăm về ngày 27-7 đáng nhớ này ! Tôi tâm đắc những vần thơ sau đây của anh em, bè bạn : Đêm lặng lẽ ru đàn sao ngủ Rải nỗi buồn man mác góc trời xa Không có rượu sao mà say đến thế Giải Ngân Hà mờ tỏ bóng thời gian… (Phan Chí Thắng) http://writingcreativenonfiction.fil...-night-sky.jpg “Bầu trời đêm” Và : Nháy mắt 40 năm Bắc Trường Giang sóng vỗ Nam Hoàng Hà không ngủ Tiếng tầu xưa trong đêm... Cố nhân nhớ hay quên ? Cố nhân còn thao thức ? Đêm nay ta ngồi ngắm Kỷ niệm xa tràn về… (Nguyễn Ngọc Chu) http://www.mingschina.com/Travel/pho...ze%20River.jpg “Sông Hoàng Hà” Tôi không nhớ rõ chuyến tàu đêm 27-7-1971 đã khởi hành lúc mấy giờ ? Có thể là 9 giờ tối chăng ? Vì có bạn đã hồi tưởng rằng khi đoàn tàu rời khỏi ga Hàng Cỏ, thì nghe thoang thoảng tiếng loa phóng thanh trên các đường phố Hà Nội đang “Đọc truyện đêm khuya”, kể về câu chuyện một anh thương binh… Bây giờ đã là 10.30 rồi . Có lẽ đoàn tàu của chúng tôi đang chạy trên địa phận tỉnh Hà Bắc chăng ? Lúc này, chắc chắn là chưa ai ngủ được, vì vẫn còn quá xúc động bởi cuộc chia ly… Khắp trên các toa tàu tối om vẫn nỉ non tiếng khóc nức nở ngẹn ngào, thổn thức… Khuya muộn rồi, tôi tắt máy vi tính . Sáng sớm mai mở mắt ra, hy vọng sẽ thấy lại núi đồi xanh xanh của biên giới Lạng Sơn, và phía trước mặt là Hữu Nghị Quan… http://avietnamtravel.com/Upload/Tou...angSonView.jpg “Núi đồi Lạng Sơn” |
Trích:
|
Xin cảm ơn các bác.
Cho dù thế nào thì em vẫn phục các bác đã "khai thác trí nhớ" khá thành công. Quả thực em quên nhiều rồi, dù đi sau các bác cả gần chục năm. Em còn không thể nhớ ra cái buổi chiều đầu tiên ở Liên Xô, được "ma cũ" chỉ lối, bọn em đã hái và ăn táo ở vườn MGU như thế nào. Rồi con tàu đưa bọn em từ Moskva về Kharkov sau đó 3 ngày ra sao (bóp óc ra con số 3 ngày đã là khá lắm rồi, chứ xuất phát ban ngày hay đêm thì không nhớ nổi). Nghĩ đi nghĩ lại càng thấy mình phiến diện, chỉ nhớ những gì "khoái khẩu", còn nhớ nguyên một thời kỳ thì điếc! Thôi, em ngồi chờ đọc tiếp vậy. |
Chẳng lẽ cũng vậy sao ???
Lâu quá mới lại gặp các bạn xuất hiện giao lưu trong “Chuyện sinh viên” ! Hy vọng được gặp các bạn thường xuyên hơn để cùng vui với nhau… - Saomai : Tôi lục tìm hình ảnh với tiêu đề “viet nam lang son” trên Google, thấy hiện lên khá nhiều hình ảnh, trong đó có cả hình này nên đem đăng, và vẫn đinh ninh đây là hình ảnh của Lạng Sơn . Nếu bạn chắc chắn là hình của thác Bản Giốc, thì xin hỏi nó nằm trong tỉnh Lạng Sơn hay tỉnh nào vậy ? Nếu nằm trong địa phận tỉnh khác thì tôi sẽ tìm hình khác để đăng ! Cám ơn sự góp ý của bạn . - Ninh : Bạn viết :“Nghĩ đi nghĩ lại càng thấy mình phiến diện, chỉ nhớ những gì "khoái khẩu", còn nhớ nguyên một thời kỳ thì điếc! Thôi, em ngồi chờ đọc tiếp vậy !” Công dụng của Diễn đàn là nơi để mọi người cùng giao lưu vui vẻ với nhau, nghe người khác nói, và nói cho người khác nghe…, nó khác hẳn với một thư viện điện tử để mọi người chỉ im lặng vào tìm đọc sách báo và tin tức, rồi cũng im lặng đi ra ! Cũng vì thái độ “Nghĩ đi nghĩ lại càng thấy mình phiến diện… Thôi, chỉ ngồi chờ đọc tiếp vậy !” của nhiều người trên Diễn đàn Kiev (Vietnam-Ukraina), nên tôi đã mất hứng tham gia đăng bài nơi đó, và chuyển sang tham gia vào Diễn đàn Nước Nga này… Hôm nay, gặp bạn viết như vậy, làm tôi có cảm nghĩ :”Chẳng lẽ Diễn đàn Nước Nga cũng vậy sao ???” Hy vọng rằng chúng ta đừng mặc cảm vì “mình phiến diện”, nên chỉ im lặng “ngồi chờ đọc tiếp”… Như vậy sẽ làm cho những người viết cảm thấy lạc lõng, kém vui, không công bằng… Chẳng ai có thể biết hết mọi thứ trên mặt bằng thông tin hiện nay . Nếu bạn không nhớ gì về những kỷ niệm của chính bản thân hoặc của người quen, thì bạn vẫn có thể đọc được ở đâu đấy những “câu chuyện sinh viên”…, và đăng lên để cùng chia sẻ với mọi người . Nhất là đừng bao giờ bận tâm rằng mình “viết kém”, bởi vì chẳng ai khùng điên dám chê người khác đâu, và chẳng ai dám nhận là mình “viết hay” ! Thiếu gì cách để tham gia Diễn đàn phải không bạn ? Tôi thường tâm niệm rằng :”Điều chủ yếu là đừng để tâm hồn mình bị “chai cứng” đi vì những bận rộn mưu sinh hằng ngày, và giúp cho tâm hồn người khác được “vui tươi” hơn phần nào !”. Bởi vậy tôi thích viết và tham gia Diễn đàn . Mong được gặp bạn Ninh nhiều hơn nhé ! Chính bạn là người đã có một cách riêng độc đáo để tìm biết tên thật của tôi, mỗi khi nhớ lại điều đó tôi luôn cảm thấy vui vui . Những giao lưu ấn tượng ấy, những niềm vui nho nhỏ ấy chính là nguồn động viên khuyến khích tôi muốn tiếp tục giao lưu với các bạn đấy ! |
Đọc loạt bài viết của Haphaohoa, tôi như được sống lại thời sinh viên sôi nổi trẻ trung, lại là những người cùng thế hệ sinh ra lớn lên học tập trong điều kiện chiến tranh ác liệt nên cảm nhận được nhiều điều.
Nhân các bài viết có liên quan đến Liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc, con người "Mãi mãi tuổi hai mươi", người đã theo tiếng gọi của non sông xếp bút nghiên lên đường ra trận và anh Thạc đã dũng cảm chiến đấu hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị. Những ngày tháng Bảy, ở Quảng Trị có rất nhiều hoạt động kỉ niệm tri ân các Anh hùng Liệt sỹ nên tôi xin chép bài viết của anh Lê Xuân Tường, vừa là bạn học vừa là đồng đội cùng đơn vị của anh Thạc vào tham gia chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị. Hiện nay anh là một Thương binh, công tác trong ngành Ngân hàng. KÝ ỨC TUỔI HAI MƯƠI - SUY NGHĨ VỀ MỘT THẾ HỆ Ai đó đã từng qua thị xã Quảng Trị và tới thăm di tích Thành Cổ sẽ thấy hình tượng cây thiên mệnh vươn lên trời cao với biểu tượng Thiên - Địa - Nhân, Âm Dương, Ngũ hành hoà quyện tại nơi đây với mái đình làng thân thương như nhắn nhủ vong linh của những con người vì Nước hiến thân khi tuổi đời còn rất trẻ sẽ sống mãi với tuổi mười tám, đôi mươi của mình. Với những người lính sinh viên chúng tôi, cây thiên mệnh đó giống như ngọn bút lông - tượng trưng cho “kẻ sĩ Bắc Hà”- đang nhấn lên bầu trời xanh ngắt bản Anh hùng ca đầy bi tráng của Thành Cổ Quảng Trị. 81 ngày đêm - từ 28/6 đến 16/9/1972 - bám trụ giành giật với địch từng căn nhà, góc phố, từng tấc đất thiêng liêng của Thành Cổ để rồi một vạn bốn nghìn con người đã nằm lại nơi đây với mảnh đất đẫm máu và trộn đầy bom đạn, nằm lại với dòng Thạch Hãn lúc lành hiền êm ả, khi dữ dội nước ngập mênh mang. Trong số những con người bất tử đó có Nguyễn Văn Thạc - sinh viên Toán Cơ 15 Đại học Tổng hợp, Nguyễn Kỳ Sơn - sinh viên khoa công trình Đại học Thuỷ lợi, Lê Văn Huỳnh - sinh viên Cầu đường 13 Đại học Xây dựng và biết bao sinh viên các trường đại học khác… Tôi, Thạc và Như Anh cùng là học sinh trường cấp 3 Yên Hoà B, Hà Nội. Tôi học khoá 1966-1969, trước Thạc 1 khóa và hơn Như Anh 2 khóa. Thạc và Như Anh là 2 trong những học sinh suất sắc nhất của trường năm ấy nên ai cũng biết mặt biết tên. Năm học cuối cùng của lớp 10B chúng tôi (1968-1969) học tại thôn Hậu, xã Dịch Vọng. Lớp tôi và lớp 9B của Thạc học chung 1 lán sơ tán, lớp tôi học sáng, lớp Thạc học chiều. Biết nhau qua các hoạt động thanh niên và những buổi lao động làm hầm phòng không và đắp luỹ cho lán học. Cho đến nay đã hơn 36 năm trôi qua tôi vẫn hình dung cái lớp học sơ tán ấy, nằm dưới 1 lùm tre kề con đường làng lát gạch như bao ngôi làng khác của làng quê Bắc Bộ, cạnh ngôi nhà tranh của 1 người nông dân có 2 vợ mà cảnh đánh chửi nhau của vợ cả vợ lẽ diễn ra như cơm bữa. Phía bên kia đường là rặng tre xanh dẫn ra cánh đồng lúa, những căn hầm kèo phòng không của chúng tôi núp dưới rặng tre đó. Trường cấp 3 Yên Hoà B ngày ấy là trường gần Hà Nội nhất, bao gồm số học sinh trong nội thành sơ tán ở các vùng lân cận và học sinh ở Nghĩa Đô, Cổ Nhuế, Dịch Vọng…Lũ học sinh nội thành chúng tôi bao giờ cũng có vẻ “tự tin” và “sành điệu hơn” so với các bạn ở địa phương. Thạc trong số học sinh địa phương đó. Mặc dù là 1 người nổi tiếng ở trường nhưng ở Thạc bao giờ cũng toát ra vẻ rụt rè, khiêm nhường của 1 cậu học sinh ngoại thành. Năm 1968 Mỹ ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 rồi ngừng ném bom miền Bắc chấp nhận ngồi vào bàn Hội nghị Paris, lũ học sinh nội thành chúng tôi là sướng nhất vì được về Hà Nội không phải sơ tán nữa. Cứ hết giờ học chúng tôi ùa ra khỏi lớp, quá nửa lớp đi bộ ra Cầu Giấy để đi tầu điện về nội thành và bao giờ chúng tôi cũng gặp Thạc và mấy bạn cùng ở Cổ Nhuế nơi rặng bàng đầu xóm. Ngược lại với vẻ rụt rè, khiêm nhường của Thạc, cô bé Như Anh năm ấy mới nhập trường nhưng đã rất tự tin khi đệm đàn ắc-coóc-đê-ông cho những buổi hội diễn của trường (ngày ấy cả trường chỉ có 3 người chơi được ắc-coóc là Phú lớp 10A, Ngà lớp 10B của tôi và Như Anh). Phải có điểm xuất phát và gia thế như thế nào đó mới có điều kiện để học nhạc, có đàn và chơi đàn cũng như có điều kiện để có thể tiếp cận được những gì thuộc về nền văn minh nhân loại. Vì thế Như Anh so với Thạc và với chúng tôi có nhiều thuận lợi hơn nên đã tạo cho cô bé 1 cái gì đó chững chạc hơn, tự tin hơn so với lứa tuổi của mình. Thế rồi chẳng hiểu làm sao trong lễ sơ kết Học kỳ I tôi sơ ý làm bẹp cái đàn của Như Anh, cô bé cứ đứng giữa trời mưa mà khóc, không ai dỗ được. Hoảng vì làm bẹp đàn thì ít nhưng sợ vì động chạm tới cô học sinh giỏi được các thầy cô cưng nhất trường thì nhiều, tôi chạy ra dắt tay Như Anh vào nhà lúng túng xin lỗi. Thế rồi mọi chuyện qua đi với Như Anh còn tôi bị cô hiệu phó cho 1 trận “lên bờ xuống ruộng” vì chuyện với Như Anh thì ít nhưng vì chuyện khác thì nhiều….Cũng từ ngày ấy chúng tôi quen biết nhau, và hình như bóng dáng của cô bé đó đã ít nhiều đọng lại trong tâm tư của gã trẻ trai như tôi cho tới khi tôi vào Đại học Xây dựng sơ tán tại Vĩnh Phú. Năm 1970 trường cấp 3 Yên Hoà B thân yêu của chúng tôi giải thể, mặc dù chỉ có tồn tại 4 năm thôi nhưng đã để lại cho chúng tôi biết bao nhiêu kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và bạn bè, về lứa tuổi học trò vô tư trong sáng. Chính những kỷ niệm đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời bên cạnh những kýý ức về chiến tranh, về những đồng đội thân yêu trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chỉ có khoá của tôi và Thạc là học trọn vẹn 3 năm cấp 3 tại trường. Nghe nói đến năm lớp 10 Như Anh về học tại trường Phổ thông Công nghiệp Hoàn Kiếm. Thời gian, khoảng cách và nhiều biến cố trong cuộc đời đã làm sợi dây liên hệ giữa chúng tôi bị đứt quãng cho tới khi tôi được biết Như Anh đã đi học tại Liên Xô và sau đó định cư tại Đức. Một ngày cuối tháng tư năm 2005, trong không khí tưng bừng của 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước tôi đọc bài “Chuyện đời” bi tráng của chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc một thời đăng trên tờ An ninh thế giới, sững sờ khi ảnh của Thạc ngay ở trang nhất và lại là người đồng đội với tôi tại Quảng Trị đã hy sinh tại thôn Đầu Kênh (xã Triệu Long huyện Triệu Phong, Quảng Trị ) - mảnh đất đã gắn liền với tôi trong suốt mùa Hè đỏ lửa ấy. Tôi cũng ngỡ rằng Thạc học giỏi như thế chắc chắn phải nằm trong số học sinh đi tu nghiệp ở nước ngoài giống Như Anh và giờ đây đã thành đạt và đang làm việc tại một chân trời nào đó. Thạc đã hy sinh ngày 30/7/1972 - ngay ngày đầu tiên sau khi trung đoàn chúng tôi vượt sông Thạch Hãn đứng chân tại địa bàn Đông-Bắc thị xã Quảng Trị - cũng như bao anh em sinh viên khác tại mảnh đất đầy máu và nước mắt này.. Thạc vào Đại học Tổng hợp khoa Toán Cơ năm 1970, ngày 6/9/1971 cùng với hàng ngàn sinh viên của các trường Đại học khác, Thạc nhập ngũ và trở thành chiến sĩ thông tin 2 watt của tiểu đoàn 1, trung đoàn 101, sư đoàn 325 (D1-E101-F325) chiến đấu tại Quảng Trị. Tôi nhập ngũ sau Thạc nhưng rồi lại được tăng cường về đại đội 3, cùng tiểu đoàn 1 với Thạc (C3-D1-E101) trung tuần tháng 8/1972 (sau khi Thạc đã hy sinh). Không ngờ sau 30 năm được tin nhau thì bạn đã đi xa … Cái chất “tiểu tư sản” ấy đã được truyền từ thế hệ cha anh chúng tôi - những người lính của Trung đoàn Thủ đô, của trung đoàn Tây Tiến, của những chàng trai học sinh, sinh viên Hà Nội trong những “đoàn binh không mọc tóc” anh hùng, quả cảm làm bạt vía kinh hồn kẻ thù trong kháng chiến chống Pháp nhưng rất đỗi hào hoa, phong nhã, đầy chất lãng tử lại luôn “mơ về Hà Nội dáng kiều thơm”…Chúng tôi tự hào về cái chất ấy, nó thấm đượm lòng yêu Tổ quốc và tình cảm lãng mạn cách mạng qua những bản tình khúc Nga Xô-viết được hát lên giữa chặng đường hành quân vất vả hoặc giữa 2 đợt phản kích của quân thù. Cái chất ấy còn thể hiện những suy nghĩ rất riêng tư qua những trang nhật ký viết vội sau 1 ngày hành quân hay dưới ánh sáng ma quái của pháo sáng địch dọi qua cửa hầm. Hầu như chúng tôi ai cũng viết, viết về mình, viết về đồng đội, viết về những giấc mơ của ngày toàn thắng được trở về với Mẹ và những người thân yêu nhất…và cả những đắn đo, suy tính, dằn vặt, do dự khi bên mình là gian khổ, thiếu thốn, là khốc liệt của chiến tranh và cả những cái chết của đồng đội…Cái chất ấy còn thể hiện ở sự ham hiểu biết, tìm tòi những gì thu lượm được khi bước vào vùng mới giải phóng. Đặc biệt thu hút chúng tôi hơn cả là những sách vở, tiểu thuyết thu được của phía bên kia. “Cổ học tinh hoa”, “Thương nhớ mười hai”, “Bác sĩ Jivago”, “Tội ác và trừng phạt”, “Chùm nho nổi giận”…đã cuốn hút chúng tôi bởi những triết lý mới lạ cũng như số phận của con người…Có rất nhiều đồng đội của chúng tôi khi hy sinh đã để lại trong ba-lô của mình những cuốn Từ điển Anh, Pháp…cùng với lòng khát khao 1 ngày mai chiến thắng trở về lại tiếp tục những gì còn dang dở…Cái chất ấy đã giúp chúng tôi thêm lạc quan để chiến thắng tất cả. Và đó là niềm kiêu hãnh, tự hào của cả thế hệ sinh viên-chiến sĩ trong những năm tháng hào hùng của cả dân tộc. Với chúng tôi, những người lính - sinh viên thì Thành Cổ Quảng Trị là khúc dạo đầu bi tráng của Thiên anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nghẹn ngào nhớ đến những người bạn đã nằm lại trên chiến trường Quảng Trị, không có quan tài chỉ được bọc trong tấm tăng võng lạnh lẽo, chôn vội vàng dưới làn bom đạn. Nhớ đến những đồng đội đã ngã xuống không được toàn thây dưới những trận mưa bom, bão đạn của B52 và của đủ các loại pháo dàn, pháo bầy của địch…trong số họ không ít người là những sinh viên của các trường Đại học. Dòng Thạch Hãn với biết bao địa danh đã trở thành bất tử: Thành Cổ, Nhan Biều, Tích Tường, Như Lệ, An Tiêm, Chợ Sãi, Cửa Việt… nó luôn chảy trong lòng chúng tôi như bao đời nay vẫn chảy nhưng ở đó có cái thiêng liêng hơn, cao quýý hơn vượt lên tất cả để trở thành khúc tráng ca bất diệt: Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ, Đáy sông còn đó bạn tôi nằm. Có tuổi đôi mươi thành sóng nước, Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm . . . (Thơ Lê Bá Dương) Sau Thành Cổ Quảng Trị, chúng tôi những người lính “tiểu tư sản” đó đã cùng trung đoàn 101 và các đơn vị bạn đập nát cuộc hành quân lấn chiếm cảng Cửa Việt của lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến cùng hàng trăm xe tăng, xe bọc thép của địch giữ vững vùng giải phóng. Từ dòng Thạch Hãn chúng tôi ngược lên Trường Sơn đánh xuống Tây Thừa Thiên qua Phú Lộc cắt ngang đường 1 và đúng 13 giờ ngày 25/3/1975 từ đỉnh Phú Văn Lâu lá cờ giải phóng của trung đoàn 101 - đứa con của mảnh đất cố đô - ngạo nghễ tung bay trên bầu trời Huế chính thức báo tin thành phố được hoàn toàn giải phóng. Vượt đèo Hải Vân chúng tôi tiến đánh bán đảo Sơn Trà, giải phóng Đà Nẵng ; băng qua duyên hải miền Trung công phá phòng tuyến Phan Rang - Tháp Chàm, sân bay Thành Sơn ; rồi một ngày cuối tháng 4 năm 1975 tại Long Thành - Thành Tuy Hạ ta và địch giành giật nhau từng căn nhà, góc phố để mở đường vào Nhơn Trạch, tấn công căn cứ hải quân Cát Lái tiến về giải phóng Sài Gòn. Trong những giờ phút chiến thắng huy hoàng của dân tộc biết bao đồng đội của chúng tôi ngã xuống, các Anh đã nằm lại từ Thành Cổ Quảng Trị bên dòng Thạch Hãn cho tới cửa ngõ Sài Gòn. Trong khốc liệt của chiến tranh, giữa cái sống và cái chết bản chất con người được bộc lộ rõ nhất. Cái cao thượng và sự đớn hèn song song tồn tại và cuối cùng trụ lại được chính là bản lĩnh của những con người coi danh dự và lòng tự trọng lớn hơn tất cả. Có 1 nhân vật đến nay tôi vẫn nhớ : Anh ta tên là M. nguyên là bí thư chi đoàn của lớp C cùng ra đi từ trường Đại học Xây dựng với tôi. Đây là 1 con người mẫu mực có thành phần cơ bản, anh ta hay diễn thuyết trên các diễn đàn, nói năng rất hùng hồn và rất hay lên lớp cho tôi và 1 số người khác về tác phong, nhận thức và rất nhiều thứ linh tinh khác…Nhưng khi chúng tôi bước vào trận đầu tại chợ Sãi, thì hành động của anh ta lại hoàn toàn ngược lại cái gì mà anh ta vốn có, là người đầu tiên tháo lui bỏ mặc đồng đội đang bị vây hãm. Trước khi vượt sông sang bờ Bắc anh ta không quên vơ tất cả những quân tư trang, lương thực, thực phẩm của đồng đội để lại tại hậu cứ. Nghe nói giờ đây anh ta đang nắm giữ trọng trách về xây dựng tại 1 tỉnh bạn… Sau hơn 30 năm, khi mái đầu đã điểm bạc, thế hệ chúng tôi đã trưởng thành và có mặt khắp nẻo đường của đất nước. Nhiều người đang giữ những trọng trách trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, có người thì trở thành những nhà khoa học, những doanh nhân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nhưng không ít người còn vất vả trên con đường mưu sinh trong nền kinh tế thị trường đầy khắc nghiệt. Cũng đã có người vượt qua được cái chết của chiến tranh nhưng lại không qua được những cơn bạo bệnh của số phận. Cũng phải kể đến cả những người đã ngã ngựa trên con đường công danh sự nghiệp. Tuy vậy chúng tôi còn may mắn nhiều lắm so với những người bạn mãi mãi nằm lại ở chiến trường. Họ đã giành phần chết để chúng tôi được sống ngày hôm nay. Cứ nghĩ đến điều này thôi, tự đáy lòng chúng tôi lại trào lên niềm đau xót không nguôi… Giờ đây, trong trái tim chúng tôi - những người sinh viên - chiến sĩ khi ấy - vẫn nguyên vẹn những gương mặt rạng ngời của bạn bè, của đồng đội với nụ cười tươi rói của tuổi đôi mươi, các bạn vẫn trẻ mãi trong ký ức của chúng tôi và luôn “sống mãi trong lòng đất nước, nhân dân và đồng đội thân yêu”. Lê Xuân Tường Cựu Sinh viên-Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị 1972 |
Trích:
SM còn nhớ, hồi học phổ thông (không nhớ được lớp mấy) hình ảnh thác Bản Giốc được in ở bìa ngoài sách Địa lý. http://i917.photobucket.com/albums/a...09/BanGioc.jpg (Ảnh sưu tầm. Đây là bức ảnh hiếm, chụp được toàn cảnh thác Bản Giốc, người chụp đứng ở bên bờ sông Quây Sơn, phía TQ) |
Chào LyMysaD88 !
Tôi đã đọc đi đọc lại bài sưu tầm của bạn vài lần . Tác giả đã nhắc lại rất nhiều kỷ niệm gây ấn tượng mạnh đối với riêng tôi . Cám ơn bạn rất nhiều . |
Trích:
|
Trích:
"Cột mốc 836 đã cắm cả hai phía thác, bên phía Việt Nam là mốc 836 (2), bên đất Trung Quốc là mốc 836 (1). Đường biên giới đã phân định đi từ cột mốc 835 trên cồn Pò Thoong chạy xuống điểm giữa của mặt thác chính, rồi chạy dọc theo dòng chảy sâu nhất của sông Quây Sơn. Phía Việt Nam sở hữu phần thác phụ và một nửa thác chính, phía Trung Quốc sở hữu một nửa thác chính phía bờ bắc sông Quây Sơn. Cả mặt sông phía chân thác thành khu vực khai thác du lịch chung, khách từ Việt Nam hay từ Trung Quốc đều có thể lên bè, lênh đênh trên dòng Quây Sơn để ngắm thác từ nhiều góc độ." http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/P...t-moc-836.html Còn trong LS, đúng là SM có được xem 1 bản đồ thời Pháp thuộc, trong đó toàn bộ thác Bản Giốc nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Còn bình luận thì bài báo trên đã có lời rồi. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:37. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.