![]() |
Tinh tế trong tiếng Nga (тонкости русского языка).
Theo cảm nhận của tôi, trên NNN nhiều bác biết tiếng Nga rất tốt, hiểu rõ sự tinh tế của tiếng Nga trong những trường hợp khó khăn ngay cả đối với người Nga. Tôi nghĩ rằng, ta có thể đưa lên đây những đặc thù, tinh tế... của tiếng Nga để bàn luận thêm, những người đã biết sẽ biết rõ thêm, các bạn mới học tiếng Nga có cơ sở nâng cao thêm hiểu biết. Cho nên tôi để vấn đề này ở mục “Văn hóa” mà không “Học tiếng Nga” thông thường, và tạm gọi chuyên mục là:
Tinh tế trong tiếng Nga - Тонкости русского языка, hay là “Tiếng Nga nâng cao” cũng được. Ví dụ: Phân biệt cách dùng 2 động từ “кушать” và “есть”. Chúng có những điểm khác nhau mà trong tiếng Việt không có (cho nên đều dịch là “Ăn” cả). - Người Nga thường nói: "Кушают только свиньи, а люди едят". Động từ “есть” sử dụng trong ngôn ngữ văn học, cuộc sống hàng ngày nói chung, nó mang tính trung gian, phổ cập, nói “Я ем”, “Ты ешь”... lúc nào cũng được. Trong khi đó động từ “кушать” chỉ nói trong phạm vi những người gần gũi, thân mật, như nói với trẻ em: “Хочешь кушать?”; “Скушай вот это!”, hoặc mời khách thân quen vào bữa ăn: “Кушать подано, прошу к столу”. Và rất ít khi nói “Я кушаю”, “Вы кушаете” với những người ít quen biết. Tôi thấy các điểm khác như vậy, các bác bàn thêm!. Nếu các bạn thấy mục này có ích thì xin ủng hộ!. Gặp những từ, cụm từ, cách dùng... “khó khăn” khác cứ post lên, ta cùng bàn luận. |
Kính gửi bác Dmitri Tran.
Trong câu mà bác dùng làm chữ ký (В каждом счастье есть горе истины) nếu thay горе bằng горечь hoặc горесть thì nghĩa của câu có bị thay đổi nhiều không ạ? |
Chủ đề bác Trần mở rất hay, đúng là chúng ta hay lúng túng khi sử dụng các động từ rất thông dụng hàng ngày.
Em xin nhờ bác và các bác phân tích hộ em điểm khác biệt mà chúng ta vẫn hay sử dụng khi mời khách ngồi: Thường khách vào nhà, người Việt ta hay nói: садитесь!-Ông (bà hay anh chị cô bác chú dì... )ngồi đi! Nhưng có đứa bạn em bảo là nên dùng присаживайтесь! thì nghe lịch sự hơn, vì nghe cái từ садиться ngắn ngắn kia, dễ liên tưởng đến...ngồi khám :emoticon-0107-sweat Từ đó trở đi, nghe lời bạn, em toàn dùng присаживайтесь!, thấy người được mời ngồi rất thoải mái. Xin nghe ý kiến các bác về những động từ chúng ta hay gặp. |
Trích:
Горе - mức độ cao nhất, (đau đớn, đau khổ, tổn thương tinh thần nặng nề) Горечь - nổi đau, đau thương, mất mát... Và hay dùng chỉ vị đắng về cảm nhận. Горесть - đau nói chung, gần với buồn rầu hơn. Ví dụ, khi nói: “У меня горе!” và “У меня горесть!” khác nhau nhiều chứ! @ hungmgmi Bác nói chính xác rôi. Tất cả là ở tiếp đầu ngữ "при- " садиться – ngồi xuống, có tính bắt buộc hơn присаживаться – ngồi thêm vào, ngồi không lâu Tiếng Việt cũng khác nhau nếu nói: “Садитесь! - Anh ngồi đi!” (mệnh lệnh, gò bó) và “Присаживайтесь! - Anh ngồi tạm nhé!” (khiêm tốn, thoải mái hơn) |
Trích:
|
Trích:
жрать/пожрать, халавать/ похалавать, кушать /покушать, есть/ поесть, угощаться/угоститься. Em thấy nó tương đương các mức độ trong tiếng việt là : hốc, chén, ăn, xơi, mời. Dúng là từ "ăn" đang lẽ phải tương đương với từ есть vì từ này trung tính nhất, nhưng nếu thế thì từ халавать em không biết tìm đc từ nào tương đương. vì халавать nó đc sử dụng nhiều trong giới trẻ, bạn bè với nhau hơn nên em thấy nó thích hợp là dịch là "chén" hơn là từ "кушать" :emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands |
Trích:
(Về khoản dịch Nga sang Việt thì bác dịch hay rồi, có gì bác đính chính thêm nhé!) @ nguyentiendungrus_83 Theo kinh nghiệm của tôi, để nắm ngôn ngữ theo đúng cách hiểu của người bản ngữ thì hạn chế ít nhất việc gắn “tương đương các mức độ” trong 2 thứ tiếng. Đó là cách để cho thuận tiện khi mới học, còn khi đã biết sâu rồi thì nhiều lúc việc gắn "một - một" đó dễ gây trở ngại cho hiểu biết. Vì vậy, khi đã biết kha khá rồi, nhiều bác dùng Từ điển giải nghĩa (Толковый словарь) thì mới hiểu hết ý. Trên kia không biết bạn lấy động từ “халавать” từ đâu ra. Tiếng Nga có từ халява, халявать... chỉ sự ăn, thu nhận không mất tiền, được cho không. (Còn "Халава", theo tôi biết, là 1 kiễu bánh nướng tẩm đường, mứt...) Ví dụ, rất hay nói: “.... на халяву что ли?” – ... muốn ăn không à? P.S. Vì topic về sự tinh tế trong ngôn ngữ, các bác thấy chổ nào theo mình không ổn, có mắc mớ... xin cứ phát biểu. Tôi cũng rất cần biết nhiều trường hợp phân tích theo ngữ cảnh tiếng Việt, vì bản thân đôi lúc cảm thấy không ổn lắm khi dịch. |
Vâng! chắc nó là халявать đấy! Nó là từ lóng, giới trẻ nga hay dùng. E chỉ nghe nói rồi nói theo, trọng âm rơi vào chữ a đầu thế nên khi nói chữ я nói quá lướt nên có lẽ em nhầm. Tại cũng chả bao giờ tra từ điển từ này cả!:emoticon-0150-hands
|
Cả hai chúng ta đều nhầm bác ạ! Em mới vừa hỏi lại thì chính xác là xaвать/похавать
http://ru.wiktionary.org/wiki/%D1%85...B0%D1%82%D1%8C http://www.jargon.ru/slova.php?cat=155 :emoticon-0150-hands |
Trích:
1 - Tôi đưa ra từ “халява, халявать” là vì chúng có vần giống như động từ “халавать” mà bạn đưa ra chỉ sự ăn uống. Tôi không có ý bảo là: phải như vậy mới đúng, mà chỉ muốn nói là халява, халявать có trong tiếng Nga, và dùng như tôi đã trích dẫn ở phần dưới. 2 – Theo tôi biết, động từ “хавать” là жаргон (tiếng lóng), chỉ sự thô tục trong ăn uống, ta không nên sử dụng trong văn viết. Trong giới giang hồ dùng “хавать”, nếu dịch sang tiếng Việt kiễu như là “Chợp phân” Có thể tham khảo ở “Народный словарь современного русского языкa” (chỉ tham khảo thôi nhé, ta không lấy đó làm căn cứ) http://www.slovoborg.ru/definition/%...B0%D1%82%D1%8C (Theo tôi, ta không nên sa vào tiếng lóng trong tiếng Nga làm gì. Thanh niên Nga bây giờ nói “loạn xạ”, ngôn ngữ đó không cần thiết cho người Nga đàng hoàng, huống hồ là cho chúng ta. Với lại, bàn nghĩa tiếng lóng thì có mà bàn suốt ngày!!!) 3 – Những người làm khoa học nghiêm túc không ai dựa vào các bài viết trên Wikipedia, Từ điển Wiki… (bất kỳ bằng tiếng gì) để làm luận cứ. Vì tác giả các bài viết đó cũng là những người sử dụng internet thôi, trình độ của họ có khi còn kém hơn nhiều người trên NNN nữa. Khi bàn luận vấn đề gì ta nên dùng những tài liệu nghiêm túc, có hiệu đính của các Tổ chức, nhân vật có tên tuổi. Nếu không có thì buộc phải xem các bài viết kiễu đó, nhưng chỉ để tham khảo, không thể lấy chúng làm cơ sở trong tranh luận. |
Trích:
Với cả em thấy các bài viết trên wiki đáng tin cậy đấy chứ? Những người viết lên nếu như họ không chắc chắn về sự hiểu biết của mình thì em nghĩ họ không dám viết lên một cái trang nổi tiếng như thế đâu ạ. Wiki là một trang web nổi tiếng, từ trước đến giờ mọi người đêu căn cứ vào đó, tìm tài liệu cũng như kiến thức trên đó. Đúng là những bài viết trên đó đều là những người như chúng ta viết có thể nó không đúng, đấy ta chỉ dám nói có thể thôi ạ hơn nữa cũng chưa ai chứng minh được là những bài đó sai cả.:emoticon-0150-hands Còn về phần tiếng lóng, nó cũng là một phần của ngôn ngữ, không thể vứt nó sang một bên được. Chính nhờ nó mà tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ. :emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands |
@ nguyentiendungrus_83
Nếu bàc thấy cần hiểu biết những từ lóng kiễu như vậy thì cứ phân tích, nghiên cứu, đó là quyền của bác. Còn con tôi ở đây tôi cấm nói những từ như vậy (thỉnh thoảng đưa về nhà những từ nó nghe người lớn nói ngoài đường). P.S. Riêng về nghĩa của từ “хавать” bác đưa ra thì tôi trích ở đây để tham khảo: Давайте рассмотрим что же на самом деле означает слово или выражение ХАВАть. ХАВАТЬ в сокращении ХАВА (жидовско-зоновское) выражение, перевод чего означает простите за нецензурную лексиксику п.зда!!! Это знают не многие, что не есть не здорово, так что кому приятно питаться п.здою, либо кушать её продолжайте в том же духе!!!. Например:эй, поц, давай хавай быстрее.... http://www.slovoborg.ru/definition/%...B0%D1%82%D1%8C |
vâng ! thế thôi em xin rút, không nói nữa vậy!:emoticon-0127-lipss
|
Dịch tên riêng các tổ chức, các khái niệm cơ bản...
Một vấn đề khá rắc rối khi dịch Nga-Việt và Việt-Nga là dịch tên riêng các tổ chức, các khái niệm cơ bản. Tôi thấy rãi rác trên một số forum có đụng đến vấn đề này nên đưa ra bàn ở đây để có phương pháp và hướng chung.
Trường hợp 1: Theo tôi, cần phải thêm bổ ngữ. Vì tiếng Nga chặt chẻ nên khi dịch tên nhiều tổ chức của ta sang tiếng Nga, nếu không thêm thì người Nga không rõ. Ví dụ hay gặp: “Bộ Giáo dục và Đào tạo”. Nếu dịch sang tiếng Nga theo từng từ thì sẽ là: “Министерство образования и подготовки”. Nhưng tiếng Nga không nói cụt lủn vì “подготовка чего?” – cán bộ khoa học, dụng cụ học tập hay là gì... Cho nên phải dịch là “Министерство образования и подготовки кадров”. (Nói thêm: Trước kia chỉ có “Bộ Giáo dục" thì dịch là "Министерство Просвещения". Nay thêm chữ Đào tạo nên hay dùng "Министерство образования...". Theo tôi hiểu, nếu nói cho cùng thì 2 từ đó cũng có tý xíu khác nhau) Trường hợp 2: Tôi nghĩ là đôi lúc cần cắt bớt. Ví dụ: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”. Nếu dịch đúng thì phải là “Министерство сельского хозяйства и развития сельских местностей”. Nhưng dài quá, cho nên trong một số văn bản tôi dịch là “Министерство сельского хозяйства и сельского развития”. Trường hợp 3: Giữ nguyên bản bằng tiếng Anh (vì là tiếng quốc tế và chữ cái gần với tiếng Việt) hoặc phiện tiếng Nga theo chữ cái. Ví dụ dịch nhóm “Зонтичная группа” tôi có trình bày cụ thể ở đây Trích:
Trong nhiều văn bản tôi dịch theo cách hiểu cá nhân (tự nhận là đôi lúc không nhất quán và có tính “tùy tiện”), e rằng có sai sót gì chăng... Xin các bác góp ý thêm nhé!. |
Tôi muốn hỏi các bác: Có phải hiện nay ở Nga ở mỗi vùng (oblast) lại có một Bộ riêng không? Như là các nước tư bản ấy, có Bộ riêng, chính quyền riêng cho từng bang.
Ví dụ tôi vẫn gặp khi đọc báo Nga: Bộ y tế và phát triển xã hội: Министерство здравоохранения и социального развития РФ. Rồi lại có cả Bộ lao động và phát triển xã hội nữa: Министерства труда и социального развития РФ. Tôi hiểu là các chủ thể khác như Nước cộng hòa tự trị(VD Dagestan, Karelia, Kalmykia...)đều có các Bộ tương ứng với cơ quan Bộ của Liên bang Nga. Nhưng lại gặp cả khái niệm Министерство труда и социального развития Омской области, Министерство здравоохранения и социального развития Архангельской области, министерствo социального развития, опеки и попечительства Иркутской области (tên cũng khác hẳn Bộ trung ương)...Thậm chí cả các krai cũng có Bộ nữa. Vậy cho hỏi là các Bộ của các vùng có trực thuộc ngành dọc từ Trung ương không? Và cần phải dịch nó ra sao? |
Theo tớ thì cấp toàn quốc (LB) ta dịch là Bộ, cấp oblast hoặc krai thì dịch là Sở, cấp raion thì dịch là Phòng, chứ ta mà dịch "Bộ...của tỉnh...Kaluga" thì các cụ lại mắng cho là dịch láo!
|
Trích:
|
Chuyện dịch các "Bộ" của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Nga đúng là phải dịch như bác vidinhkt nói, nếu không muốn dùng một từ trung lập là Cơ quan.. của nước CH/ thành phố.
Ví dụ như Правительство Москвы thì chỉ dịch là Chính quyền thành phố Moskva thôi, chứ không thể dịch là Chính phủ... được. Các cơ quan thuộc nước cộng hòa tự trị thì dịch như vậy được, có điều khi dịch tiếng Việt thì sau tên các nước cộng hòa ấy, dù trong nguyên bản có hay không, ta vẫn nên thêm dòng chữ "...trực thuộc Liên bang Nga". Có một chi tiết nhỏ rất quen thuộc nhưng đôi khi các bác không để ý, là khi nâng côc "cạn chén" người ta nói "До дна!" chứ không nói "До конца" |
Trích:
|
Trích:
Chẳng hạn như riêng báo Nhân Dân có Bộ Biên tập, chứ không phải Ban Biên tập, một số tạp chí thì có Hội đồng Biên tập. Tiếng Nga thì có Редакция газеты... nhưng trong một số hãng thông tấn, thì lại có ГДИ - Главная дирекция информации, rồi dưới nữa là các Дирекция (thí dụ Дирекция экономической информации), trong những trường hợp này kinh nghiệm là cứ chiểu theo tên gọi các bộ phận của cơ quan tương đương ở Việt Nam mình để dịch (Giống như TTXVN có Ban biên tập tin trong nước, Ban biên tập tin quốc tế, Ban biên tập tin kinh tế tương đương với các дирекция... информации trong cơ quan thông tấn Nga). |
Các bác ơi!
Đang nói về тонкости lại chuyển sang dịch dọt rồi, he he. Mọi con đường đều đến Roma! :emoticon-0136-giggl Trích:
Còn những tay Nga đã từng uống "trà" với bọn Việt Nam thì hầu như đều biết hô: "Trăm phần trăm" - Cто процентов! Trích:
:emoticon-0100-smile Các bác phân tích hộ тонкость của: помню тебя! và помню о тебе! |
Trích:
|
Trích:
помню тебя! – Nhớ anh (chị) qua hình tượng cụ thể, một sự kiện nào đó cụ thể. помню о тебе! - Nhớ anh (chị) nói chung = nhớ chung chung thôi. Đã nói về việc này thì nói cho “luôn mồ hôi”. Trong tiếng Nga 2 giới từ vào loại khó phân biệt là «О» cho C.6 và «Про» cho C.4 О – Về hình tượng chung, bao trùm cả đối tượng cần nói; Про – Về một vài chi tiết cụ thể, có t/c khám phá của đối tượng cần nói. (Có bài hát mốt mấy năm trước: Про любовь, про тебя, про знакомые слова…) Ví dụ, sự khác nhau giữa 2 cụm “Думать о ком-то" và "Думать про кого-то" Думать о ком-то - Nghĩ về ai đó chung chung, không đề cập đến chi tiết cụ thể Думать про кого-то - Nghĩ về ai đó với chi tiết, hình ảnh cụ thể của người đó. Trích:
Помнить себя – là nhớ về bản thân. cuộc sống, sự tồn tại của mình. Ví dụ “Я помню себя ребенком” – tôi nhớ khi tôi còn là trẻ con. “Она помнит себя со школьной скамьи” – cô ta nhớ khi mình đang còn ngồi trên ghế nhà trường. Còn “Не помнить себя” có nghĩa ngược lại, không còn một cảm nhận gì về bản thân, gần như là mất trí, tâm thần... |
Trích:
Trích:
Còn dùng cách 6 -- о тебе thì ý nói là nhớ những gì liên quan đến người đó chứ không hẳn là khuôn mặt hình dáng....Chẳng phải ta có thể nói я помню все о тебе là gì!:emoticon-0150-hands |
Bạn nguyentiendungrus_83 ơi, tên gọi chính thức của một cơ quan được xác định theo ... Quyết định thành lập cơ quan này chẳng hạn. Giống như tên của một cá nhân - văn bản chính thức phải gọi như tên ghi trong giấy khai sinh. Ví dụ giả sử ông Edison Arantes do Nascimento ra tòa án chẳng hạn, thì tòa sẽ gọi ông bằng cái tên Edison Arantes do Nascimento, còn tất nhiên báo chí và người hâm mộ bóng đá chẳng hạn sẽ gọi ông ấy là Pele.
|
Trích:
Помнить себя: Biết mình là ai. Не помнить себя: Không biết mình là ai. |
Trích:
- помню тебя: Anh nhớ em. - помню о тебе: Anh nhớ về em. Em chỉ không hiểu tại sao sau 2 cụm từ này lại có dấu chấm than (!). Câu cảm thán - không phải. Mệnh lệnh thức - càng không phải. |
Trích:
|
Tranh thủ lúc các bác còn đang thức (chưa ngủ), tớ nhờ bác nào biết thì bảo tớ với: động từ стебаться nghĩa là gì ạ? Vẫn biết rằng đây là topic về тонкостях русского языка chứ không phải về dịch Nga-Việt, nhưng khi mà tất cả các từ điển mà tớ có trong tay đều không có từ стебаться thì có lẽ nó (từ này) xứng đáng được có mặt ở topic này, phải không ạ?
|
Theo em thì từ này là tiếng lóng, chỉ nói chuyện tầm phào ạ :). Là em tư duy ra thế, chẳng dựa trên căn cứ nào (căn cứ thì bây giờ mới đi tìm) :)
|
Đúng là tự tư duy rất dễ sai lầm :), tự cho mình là đúng còn sai hơn :)
http://www.slovoborg.ru/definition/%...8C%D1%81%D1%8F http://en.wiktionary.org/wiki/%D1%81...8C%D1%81%D1%8F http://forum.lingvo.ru/actualthread.aspx?tid=34267 |
Iem tìm trên mạng thấy từ này chỉ hành vi "đùa quá lố (quá giới hạn)" gây xúc phạm (làm tổn thương) người khác. :emoticon-0107-sweat . Có lẽ dịch là "đùa dai".
|
Trích:
Gốc của từ đó là "стёб' - đùa, trêu, tếu... стебаться - biến người khác thành đối tượng đùa, cười trong hoàn cảnh nào đó không phù hợp với người đó. Ví dụ hay nói:"Хватит надо мной стебаться! Это уже слишком!" - Dừng chuyện cười đùa tôi đi!. Thế đã quá nhiều rồi! Hoặc như bác hungmgmi tếu ở trên Trích:
Liên hệ với từ стёб còn có: пристёб = bông đùa прикол = thú vị + đùa (tôi không biết từ tiếng Việt tương đương). P.S. Đã nói về тонкостях русского языка thì khó dịch nó bằng 1 phương án, nếu ta gắn với 1 trường hợp thì sẽ không hiểu hết các trường hợp sử dụng khác để dịch cho chính xác. Cho nên, theo tôi, ta bàn về ý nghĩa và cách thể hiện cụm từ, chứ không nên dịch. Mỗi người một ý thì sẽ thấy càng rõ hơn. |
Trích:
|
Trích:
Trích:
|
Trích:
Bác Мужик ạ. - Прикол khác hoàn toàn với "châm chọc", "chọc ngoáy". Nó như thú vị nhưng pha thêm đùa. Các cô gái bây giờ rất hay dùng từ đó. Khi nào "khoái chí" lên (vì hay, thú vị, lạ mắt..) các cô hay nói "- Прикольно!" (trọng âm vào chữ O đầu tiên), mắt tròn xoe lên một tý, nghe rất sướng tai! Có thể dịch "- Hay nhỉ!" nhưng Прикольно! có độ ngạc nhiên cao hơn - стебаться Không hiểu ý bác :"Em lại dùng phương pháp "đơn giản hóa" từ phức tạp bằng cách bỏ" Từ стебаться trên các forum rất hay dùng, nó khác với шутить - пошутить ở chổ: đùa tếu nhân một chuyện gì đấy, không có ý xấu, và cũng không có ý đùa dai hay chọc ghẹo gì quá đáng. (Còn шутить là đùa do tự mình bịa ra). |
Phân biệt 2 động từ носить và нести.
Cả hai đều ở thể không hoàn thành, trong đại đa số trường hợp chúng có nghĩa giống nhau: mang, đưa, chuyển cho, chứa... Nhưng có 1 số điểm rất khác nhau, trong tiếng Nga nhiều lúc cần phải phân biệt rõ. Ta lấy tiếu lâm này làm ví dụ: Вова с отцом в ресторане. Увидев в меню блюдо «Варёные яйца верблюда», он к отцу: - Пап, а пап, верблюды яйца несут? - Нет. Это те, которые они носят! Hoặc câu sau, trong cuộc sống thanh niên hay dùng, có ý muốn chê bai khi người tiếp chuyện nói nhiều điều vô bổ: cái gì cậu mang trong đầu (несёшь в своем уме) hay ở bên dưới… - Блин, что ты несёшь? (Nếu nói "блин" trong giao tiếp thì hơi tục, nhưng bản thân nó, là tên gọi 1 loại bánh rán nhỏ, không có gì tục cả). Nhưng người đối thoại có thể chống chế: - Я несу людям счастьееее!!! Các bác bổ sung thêm những trường hợp khác nhau về nghĩa của 2 động từ trên, người học tiếng Nga chưa nhiều rất khó phân biệt. |
Khi các bác nói đến chủ đề тонкости русского языка thì em thường nghĩ đến những từ синонимы dạng như кушать - есть và стиль của chúng. Nghĩa là về ý nghĩa từ vựng của chúng giống nhau, nhưng khác nhau về сфера употребления và sắc thải biểu cảm của chúng.
Trong tiếng Nga nghiên cứu về тонкости hay theo em đúng hơn là стиль là vấn đề rất khó nhưng cũng rất hay. Đây chính là một trong những cái làm nên sự giàu có và đang dạng của bất kỳ ngôn ngữ nào. Còn vấn đề bác Tran nêu ra ở bài trên đây theo như em hiểu nó lại thuộc lĩnh vực khác chứ không phải тонкости hay стиль nữa. нести và носить là 1 trong 14 cặp động từ chuyển động trong tiếng Nga без приставок. 2 nhóm động từ này có đặc điểm như bác nói là đều không hoàn thành thể. Chúng đối lập nhau về ý nghĩa sử dụng (прямое значение) Nhóm thứ nhất là глаголы однонаправленного движения: обозначают действие, совершаемое в одном направлении и за один приём (без перерывов). Nhóm thứ 2 là глаголы неоднонаправленного движения: обозначают действие, совершаемое в разных направлениях или регулярно повторяющееся. Khi sử dụng với nghĩa bóng (переносное значение) thì mỗi một ý nghĩa chỉ được sử dụng ở một nhóm nhất định này mà không thể sử dụng ở nhóm khác. Ý em nói là theo em cái này nó thuộc về quy tắc sử dụng chứ không thuộc về тонкости hay стиль trong tiếng Nga. Ví dụ khi biểu thị khả năng của con người, động vật, một vật nào đó thì người ta dùng động từ nhóm 2. Ví dụ: Khi ta nói chim thì có khả năng bay ta dùng động từ nhóm 2 птица летает. Còn khi muốn chỉ một con chim đang bay trên trời ta nói: птица летит. Không biết em hiểu vậy có đúng không? :emoticon-0150-hands |
Trích:
Thêm một vài nghĩa chuyển của 2 động từ này ạ:) он несет чушь ( т.е говорит групость) что ты несешь ( т.е говорит групость) он носит черный костюм она носит очки он носит усы, борода |
Theo mình hiểu thì thế này cơ, bạn socola94 ạ. Trong ví dụ mà bác Dmitri Tran dẫn chứng:
- Пап, а пап, верблюды яйца несут? - Нет. Это те, которые они носят! thì động từ нести ở câu trên và động từ носить ở câu dưới mang hai nghĩa hoàn toàn khác nhau: - Bố ơi bố, lạc đà cũng đẻ trứng hả bố? - Không, đây là những quả trứng mà chúng mang theo, con ạ! Chính vì thế nên bác Dmitri Tran mới đưa ví dụ này vào topic "Tinh tế..." (cặp động từ нести-снести và danh từ носка = đẻ trứng). |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 19:12. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.