Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Hồ sơ chiến tranh thế giới (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=48)
-   -   Nhật ký Leningrad (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3370)

nthach 20-09-2010 10:20

Nhật ký Leningrad
 
Xin giới thiệu đến mọi người cuốn: Nhật ký Leningrad, của tác giả Vera Inber do Hồng Kỳ và Mai Thúc Luân dịch. Cuốn sách này do nhà xuất bản Thanh Niên phát hành năm 1971.

Đôi điều về tác giả:

http://farm5.static.flickr.com/4130/...64669077bb.jpg
Vera Inber - Вера Инбер Sinh ngày 10 tháng bảy năm 1890, mất ngày 11 tháng 11 năm 1972.

Tác phẩm nổi tiếng nhất trên thế giới của bà, cuốn - Nhật ký Leningrad – viết năm 1946, trực tiếp mô tả về cuộc sống đau thương của người dân thành phố Leningrad trong 900 ngày đêm bị bọn phát xít phong tỏa thành phố (từ năm 1941 đến năm 1944). Cuộc vây hãm này đã giết chết hơn một triệu cư dân thành phố Leningrad, và chính bản thân Inber cũng suýt bị chết đói. Nhưng ngay cả những quan sát về mảng tối của cô, cũng thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước nồng nàn không gì có thể phá hủy, và với cả một trái tim nồng nàn hướng đến cuộc sinh tồn của đất nước Xô Viết. Mặc dù trong cuốn sách của cô, đôi khi có những đoạn mang tính chất tuyên truyền, nhưng giá trị văn học của cuốn sách là cực kỳ xuất sắc và vô giá, nó mang tính chất rất quan trọng để lột tả được toàn vẹn, hoặc có thể sử dụng làm tài liệu chân thực về cuộc thế chiến thứ hai. Bản trường thi "Pulkovsky Meridan" của cô, viết về những ngày đầu của cuộc phong tỏa thành phố Leningrad, tác phẩm này đã đoạt giải thưởng Stalin năm 1946. Vera Mikhailovna Inber sinh tại Odessa nước Nga, cô là con gái của một nhà xuất bản và cũng một thời gian theo học tại Paris. Những tác phẩm đầu tay của cô là cuốn tiểu thuyết có tựa đề - Rượu Sầu - viết năm 1914, và cuốn – Niềm vui Cay đắng – viết năm 1917, giọng văn của cô mang phong cách trữ tình theo phong cách Acmeizm của thi sĩ Anna Akhmatova; về sau cô có thiên hướng hơn về phong cách kể chuyển truyền thống. Sau cuộc cách mạng năm 1917, cô rất có cảm tình với chế độ Bolshevik, và những tác phẩm tiếp theo của cô đều viết và ca ngợi về chính quyền Xô Viết. Rồi cô gia nhập đảng Cộng sản vào năm 1941, trước khi Hitler xâm lược Liên Xô không lâu. Trong những ngày thành phố Leningrad bị Đức bao vây, Inber đã phải đương đầu với nạn đói kinh khủng, cùng với những trận oanh tạc dữ dội của kẻ thù. Cô đã chuyển thể những tình hình thực tế của thành phố thành những vần thơ, và phát thanh trên đài truyền thanh để nâng cao nhuệ khí chiến đấu cho dân chúng... Thời kỳ sau chiến tranh, cô chuyển sang lĩnh vực dịch thuật và viết chuyện cho thiếu nhi.

Lời giới thiệu do Nthach tổng hợp từ Internet.

nthach 20-09-2010 11:34

Tàu Mát-xcơ-va - Lê-nin-grad


Ngày 22 tháng tám 1941
Hai quả bom nổ liền nhau đào thành một cái hố khổng lồ. Một toa xăng đã vỡ tan, một vùng đất nâu sẫm loang vết dầu, một chiếc đầu máy xe lửa cháy rụi nằm lăn kềnh bên dốc. và ngay đấy tấm biển "cấm hút thuốc" hồi trước chiến tranh còn lại. Một chị công nhân bẻ ghi đang có chửa (sắp đẻ rồi) mặt còn ngấn nước mắt, rầu rĩ cầm lá cờ con…
Chúng tôi lại dừng. một đoàn tàu ngụy trang bằng những cành bạc dương chở máy móc và phụ tùng đang tiến đến: Các nhà máy ở Lê - nin - grát đi sơ tán hết. nhìn cành lá còn tươi đủ biết tàu này vười mới khởi hành.
Trên toa chất đầy những cỗ máy, những bánh xe răng cưa to nhỏ, những phụ tùng tròn dẹt, hình tam giác. có những bộ phận được bôi mỡ và bọc giấy dầu. cuối đoàn tàu là những toa chở gia đình công nhân, trong đó có một toa có những em bé còn nằm trên giường. những cái đầu nho nhở, chen sát bên nhau nhìn ra cửa sổ. Không có lấy một nụ cười.
Có người kể lại với tôi rằng khi Mat-xcơ-va được lệnh sơ tán khẩn cấp thì một nhà gửi trẻ dùng bút chì hóa học viết lên tay các em bé tên họ của chúng. lúc đến nơi họ tắm rửa cho các cháu, thế nào lại rửa sạch mất tên họ ở tay chúng đi. thế là phải gọi mẹ các cháu từ Mát -xcơ-va đến để nhận con. Đến nay vẫn còn một cháu chưa ai nhận.
Ôi mát-xcơ-va! … Mát-xcơ-va không rời tôi, vẫn ở bên tôi làm tim tôi nhức nhối. tôi nhớ mãi Mi-sen-ca, đứa cháu mới 6 tháng của tôi, lúc được đưa đi, nó đội cái mũ hơi rộng, mình mặc chiếc áo ngắn.
Lên toa trẻ con nó nằm yên lặng, nhìn mọi vật với đôi mắt ngời lên, hai tay nắm chặt cái chân nho nhỏ. Tôi không đủ sức để lên tàu nhìn nó lần nữa. thế là nó đi …
Rồi đoàn tàu chúng tôi cũng chạy. chuyến tàu chở hàng cũng thế. tàu kia từ lê - nin - grát xuống, con tàu chúng tôi thì lên lê - nin - grát. mọi người đưa mắt nhìn nhau hồi lâu tiễn biệt.

nthach 20-09-2010 11:34

Tại một ga không biết tên
Tàu dừng lại lúc rạng đông. và chúng tôi đứng đấy. Đây là một ga nhỏ không biết tên. còn xa mới đến ga chính. Trên trời không có máy bay, dưới đất cũng không có tiếng súng. thà cứ vậy còn dễ chịu hơn.
Toa chúng tôi không bắt chuyện nhau, mà nó cũng vắng hơn. Nó có một buồng đang đánh bài không nghỉ, nhưng lặng lẽ như một cái máy giảm âm nén chặt tiếng lại. một vị tướng trầm ngân huýt sáo và xướng tên con bài. viên kỹ sư quân đội thì luôn tay gõ tẩu thuốc bên cạnh bàn: tiếng động nhỏ to giống như tiếng mổ của chim gõ kiến. Làn khói trên tẩu thuốc bay ra hành lang tỏa ra từng lớp mỏng dần treo lên trong ảnh nắng sớm. Có lúc trở lên rất im ắng, tựa hồ như đoàn xe đang chạy trên rêu.
Trong suốt thời gian đó chỉ lúc ở Vôn-khốp có hai con quạ sắt bay qua và một toán lính thủy đám bộ đi ngang - những cái mỏ neo màu vàng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời… tất cả chỉ có thế.

Những hố bom chi chít hai bên đường sắt đã đầy nước. Nước tràn lên rất nhanh. Cạnh cột dây điện thoại cũng có hố bom nhưng rất nhỏ. Bọn đức thả bom rất tiết kiệm theo kiểu đức: Bom lớn dành thả trên mặt đường, còn cạnh cột dây điện thì chỉ ném bom con.
Một khu rừng bị bom đốt cháy trụi có một quãng đến rễ cây cũng bật tung lên hết. Cạnh rừng là một cây bạch dương. trên thân cây chi chít những vệt, những chấm làm cho ta có cảm tưởng đó là một bản thỏa tốc ký. Đây là cả lịch sử cuộc sống của cây này. Giờ đây đoạn ghi ấy tờ thì bị cháy ra tro, tờ thì rách mượp, có tờ chả còn thấy chữ giò nữa.
Tôi vừa được biết tên cái ga ngày là Mơ-ga. nói chung trước chiến tranh chúng tôi không biết đến con đường này. chúng tôi thường đi theo con đường " Tháng Mười" ( tức là đường xe lứa của Lê-nin-grát - Mát-xcơ-va - n.d). giờ đây bọn đức đã chiếm đóng vùng Bô-lô-gôi và Tô -xnô rồi. còn lại những cái tên cũ kỹ Mơ-ga, Bu-đa-gốt, Khơ-vôi-nai-a…

nthach 20-09-2010 11:35

Lê-nin-grát


Ngày 24 tháng tám 1941
Buổi tối.

Vật đầu tiên mà tôi thấy ở đây, ngay từ đầu ở sân ga này là lời kêu gọi do các đồng chí Jđa-nốp, Vô -rô-si-lốp, Pốp-cốp ký tên dán trên các tường nhà, tắm trong ánh nắng ban mai, trong đó viết: " hỡi các đồng chí công dân thành phố lê - nin! các bạn thân mến!..."
Lời kêu gọi đề ngày 21 tháng tám, còn chồng tôi lên Mát-xcơ-va đón tôi ngày 13. Trong mấy ngày này tình hình Lê-nin-grát xấu rõ rệt. dù sao thì chồng tôi cũng đã làm đúng. anh thường nói: " nếu chiến tranh nổ ra thì chúng ta phải ở bên nhau". Và chúng tôi đã ở bên nhau.

nthach 20-09-2010 11:35

Ngày 26 tháng tám 1941
Căn buồng của chúng tôi ở phố pê- xôt - xanai -a, tầng 5. một căn buồng cao ráo, sáng sủa và hơi trống trải. nhưng giá sách và đĩa treo trên tường thì nhiều. những bông hồng bất diệt của thời ê- li - da - vét và ê- ca - tê- ri - na, những đồ trang trí xanh vàng kiểu ni - cô- la- ep. những đồ sứ trắng xám. thứ của rất dễ vỡ. giờ cất chúng đi đâu? !
Cửa sổ buồng ngủ và ban công trông ra vườn bách thảo. dù tời còn nóng, nhưng cây cối đã sắp sang thu. Chúng hiện ra trong mù vàng và đỏ thắm. đến tháng chín rồi sẽ ra sai!
Từ ban - công nhìn xuống có một khu nhà kính để trồng hoa rất lớn. Những đám cỏ, những con đường xanh. trong vườn rất ít nhười. Tôi chưa hề đến đó. Chúng tôi sẽ đi vào ngày chủ nhật tới.
Nơi chúng tôi ở ở còn có trường đại học dược khoa. Cạnh đó là khu nhà ở của nữ sinh viên. cũng ở gần ngay đấy chỉ đi qua con sông nhỏ Ca-rơ-pô-vca là trường đại học y khoa thứ nhất và phòng khám bệnh của trường. Phòng khám này nguyên là bệnh viện Pê-tơ-rô-pa-vlốp-xki và bây giờ gọi bệnh viện Ê- ri-xman.
Ê- ri-xman là một con người có tâm hồn lớn và trí tuệ minh mẫn - một nhà bác học y khoa đã cống hiến nhiều cho nước nga.
Bệnh viện mang tên Ê-ri-xman và trường đại học y khoa thứ nhất là cả một thành phố nhỏ: rất nhiều tào nhà to, nhỏ giữa những hàng cây cổ thụ tuyệt đẹp từ thời còn là khu rừng của các giáo chủ. Ngày xưa đây là các lâu đài và từ cái đẹp đầu lập nên thành phố Pê-tec-bua là trại ấp của Phê-ô- phan Prô-côp-pô-vit.

Trước chiến tranh chồng tôi đi phụ trách một khoa ở trường đại học, còn bây giờ thì anh được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường này.

nthach 20-09-2010 11:35

Ngày 27 tháng tám 1941

Chị Ket-lin-xcai-a, thư ký hội nhà văn ở đây rất vui mừng thấy tôi đến và lập tức gọi dây nói đến đài phát thanh. Tôi từ hội nhà văn đến thẳng đây và đồng ý ngày mai sẽ nói chuyện trên đài.
Buổi truyền hình ấy sẽ lấy tên là "Mát-xcơ-va gửi Lê-ni-grat"
Tôi bắt đầu bài nói của mình như sau:
"Thưa các đồng chí người Lê-nin-grat! thưa các bạn công dân của thành phố Lê-nin! giờ phút này nói chuyện với các bạn tôi muốn chuyển đến các bạn lời chào từ Mat- xcơ-va, từ thành phố của tôi trong những ngày bị uy hiếp này cũng dũng cảm, kiên cường như Lê-nin-grat của các bạn. Thành phố cũng đã nghĩ đến mối nguy cơ đang treo trên đất nước. Chúng tôi cũng hoàn toàn tin tưởng rằng nguy cơ đó rồi sẽ qua đi và quân thù sẽ bị đánh bại. Mát-xcơ-va Lê-nin-grat như chị em một nhà sẽ tay nắm chặt tay cùng nói: Thắng lợi sẽ về chúng ta!"
Tôi trích một câu của Ghe-rơ-xen: "những câu chuyện về những vụ cháy ở Mát-xcơ-va, về trận đánh Bô-rô- đin, về cuộc vượt sông Be-re-đin, về trận đánh chiếm Pa-ri đã từng là bài hát thuở bé bỏng cuả tôi, là những mẩu chuyện thần thoại thời thơ ấu, là I-li-át và Ô-đi-xê của tôi" còn bây giờ thì chúng tôi nghĩ rằng trước bao nhiêu thế hệ con cháu chúng ta sau này, những đêm Mat-xcơ-va ngày nay phải là cuốn sử thi anh hùng, đêm Mat-xcơ-va ngày nay phải biến thành những Ô-đi-xê của tổ quốc, I-li-át của nước nga!
Tôi kết thúc bài nói như sau: "Chủ nghĩa Hit-le sẽ bị tiêu diệt, sẽ bị quét sạch khỏi trái đất. còn Mat- xcơ-va thân yêu, thủ đô vĩ đại, trái tim của tổ quốc, cái nôi cuả những anh hùng và Lê-nin-grát, thành phố mang tên Lê-nin vinh quang là hoa hậu và niềm tự hào của cả nước. Các người sẽ đứng vững như thành đồng, cũng như các người đã đứng vững qua bao thế kỷ"
Rất nhiều người đã nghe bài nói chuyện của tôi. Ô-li-a S. đã nghe bài đó trong lúc đứng trong cửa hàng và do đó mà chị biết tôi đã đến Lê-nin-grát.

nthach 20-09-2010 11:36

Ngày 28 tháng tám 1941
Hôm nay chồng tôi tiếp một bác sĩ quen của một bệnh viện quân y. Ông đã rời khỏi Lê-nin-grát cách đây một tuần. Suốt cả thời gian đó bệnh viện ấy đặt trên toa xe lửa nằm lại trên đường mà không tài nào đi được. Thế là phải quay về.
Con đường Mơ-ga, con đường cuối cùng của chúng tôi bị giặc đức cắt nối. Mơ-ga cũng bị chiếm đóng ngay sau hôm chúng tôi đi qua.

nthach 20-09-2010 11:36

Ngày 1 tháng chín 1941
Ở đây báo động liên tiếp - mười, mười lăm lần cũng có. Đúng hơn thì đó là một cuộc báo động dài chen vào những đợt nghỉ ngắn. Nhưng vẫn yên tĩnh, đến cả tiếng pháo cao xạ cũng nghe không thấy. tất cả đều xảy ra ở đâu đến đấy bên kia chân trời. Hình như máy bay gioong-ke của Đức lởn vởn chung quanh thành phố không thể lọt vào. Rồi đến một ngày nào đó chúng sẽ bay vào như ở Mát-xcơ-va.
Và như để trên người những buổi chiều Mát-xcơ-va lúc bấy giờ thật là tuyệt đẹp. Mặt trời giống một quả cầu đỏ thắm từ từ hạ xuống chân trời. Khi mặt trời lặ xuống thì những quả bóng phòng không được thả lên giống hệt như có một cái máy điều khiển sự lên và xuống đó.
Tôi nhớ có một lần mặt trăng lên to quá, một màu hồng không tự nhiên bao trùm một cửa sổ như xoa một lớp sáp ong. Còn những vệt lõm trên mặt trăng thì như vết ngón tay in, giống như người ta nâng nó trong những bàn tay nóng bỏng. Và khi dưới ánh trăng đó mà còi báo động rú lên tôi cảm thấy trần gian như đã tàn lụi rồi.
Tôi xách máy chữ đi xuống hầm trú ẩn. tôi đang đi ở bậc thang thì trước mặt có một bà già điên. Chồng bà đã chết bà cứ tưởng rằng ông ta còn ở lại trong buồng bà vừa đi vừa khóc: " ông ấy bao giờ cũng đi với tôi thế mà bỗng nhiên ông ấy ở lại một mình. Tôi lại khoác áo bành tô của ông ấy. Bây giờ ông ấy không có áo thì làm thế nào?"
Tôi lần xuống hầm . Ở dưới có một người đàn bà lạ không phải ở ngôi nhà của chúng tôi. Chị ta hoảng hốt tìm đứa con còn đang bú của mình, chị hỏi, mọi người xem có ai nhìn thấy nó không? mà đứa bé quấn trong cái tã thì đang nằm trên tay chị.
Vào những giờ bị oanh tạc, nhà tôi ở Mát-xơ-va không bao giờ khóa cửa buồng, đề phòng khi bị bắn cháy. tầng của tôi là tầng cao nhất. Ngoài ra người trực nhật trên mái thỉnh thoảng lại vào chỗ tôi uống nước.
Có một lần tôi về nhà lúc chưa tan báo động. Có hai người ở cùng ngôi nhà chúng tôi đứng ở chỗ cửa sổ mở đang thầm thì nói chuyện với nhau. Thường trước khi trời hửng những vì sao ngời lên như bị nhòe đi vì sương. Sương ướt át lấp lánh trên những bức tường điện Cơ-rem-lanh. Xa xa bầu trời đỏ tím những đám cháy.
Tôi đến gần và ba chúng tôi đứng bên cửa sổ, nhìn mãi về đám lửa xa xăm ấy.

nthach 20-09-2010 11:36

Ngày 4 tháng chín 1941
Tôi đến tòa soạn báo quân đội vào lúc mà hai nhà văn ở Mát-xcơ-va và đồng chí lái xe vừa ở mặt trận về.
Họ vào phòng. người nào cũng mặc áo choàng nhà binh, thắt lưng đeo lủng lẳng những lựu đạn. Đồng chí lái xe đi sau cũng đeo những bốn quả. Tay anh cầm khẩu súng máy nhỏ để vào góc nhà giữa chiếc ghế dài và cái giá sách. Còn cô đánh máy thì đi lấy giấy than, cô vấp phải khẩu súng rơi đánh rầm một cái. May mà súng đã khóa kỹ rồi.
Đặt lựu đạn lên bàn, họ trải tấm bản đồ và chấu đầu vào đó. họ đều mệt mỏi. Chuyến đi không kết quả, quân ta đã thu hẹp lại. Bọn Đức ném bom bộ chỉ huy quân đội ta. Cả ba đều bị đói.
Bỗng có dây nói gọi tôi, báo tin là cao xạ pháo của ta đã hạ 15 máy bay địch. Một số con chưa từng được nghe!
Mọi người lại cầm lựu đạn và súng máy quen cả đói chạy ra cửa: họ lên đường ra trận địa.
Trên tờ báo "Sự thật Lê-nin-grat" có một bài báo đề cập đến vấn đề các hợp tác xã sản xuất nên làm việc như thế nào. Bài báo viết: "trên bàn làm việc của cơ quan lãnh đạo sản xuất có bầy một chiếc bàn là kiểu mới, bên cạnh có một cái gì nữa đấy. Chúng tôi rất trân trọng những bàn là điện này , đó là công việc của chúng tôi. Nhưng hiện nay tổ quốc đang cần những sản phẩm khác. Do đó chúng tôi muốn chấm dứt việc sản xuất là những bàn là điện này. Bà con chúng ta hãy tạm thời không dùng nó nữa mà nên sản xuất những loại phụ tùng khác. Mọi người chúng tôi đều đã suy nghĩ kỹ, đã thảo luận kỹ rồi, chỉ còn chờ được phép là bắt đầu thôi". Và họ đã được phép rồi.
Hiện nay hợp tác xã sản xuất đang chuẩn bị sản xuất những phụ tùng, những bộ phận rất nhỏ của máy mà không có nó thì súng máy cũng thành vô dụng, không thể nào bắn được

nthach 20-09-2010 11:37

Ngày 7 tháng chín năm 1941

Khi đợt báo động bắt đầu, trên sân trước cầu thang nhà tôi anh sinh viên trường Đại học Dược khoa đến trực nhật quay cái loa báo động phụ, cái loa đó trông giống cái cối xay cà phê có cái cán dài.
Hào giao thông đã đào đến gần Pê-te-gốp rồi. Còn giặc Đức thì đánh từ phía nẵng giếng phun nước vào.
Tôi đã thấy chiến lợi phẩm trong tay anh thanh niên hồng quân - một con dao găm của giặc Đức.

nthach 20-09-2010 11:37

Ngày 8 tháng chín 1941

Một mùa thu kỳ lạ, hiếm có. Trời không mưa. Trong cái khô dáo và ấm áp êm ả, cây cối vàng dần đi nhưng không rụng lá. Lá vẫn treo trên cành với màu đỏ, màu hổ phách, màu vàng da cam.
Chồng tôi ở trường Đại học suốt ngày. Chỉ có mỗi mình tôi ở mấy gian phòng quá sáng sủa ở trên tầng cao. Khi báo động tôi ra đứng ngoài ban công. Cả dãy phố Pê - xốt - xnai - a yên tĩnh này lúc ấy sẽ là một khối phố không người. Chỉ có những người trực ban phòng không, đầu đội mũ sắt đứng dưới các cổng ra vào nhìn lên bầu trời. Cũng có khi bất chợt một học sinh trường chuyên nghiệp chạy qua. Khu nhà tập thể của họ là một trong những tòa nhà ở trong khu vực bách thảo.
Một chị bán vẽ xe điện nói về họ rất hay: "Họ cứ như là những chủ nhân, đứng cả lên bậc, chen chúc nhau trong toa, nhưng tôi cũng chả cần động đến họ. Chẳng bao lâu nữa họ cũng sẽ ra mặt trận đào chiến hào thôi".
Trong một căn hầm phòng thủ có sinh viên trường Đại học Y khoa làm việc: Một chiến sĩ lái máy bay của ta bị thương nhảy dù ngay xuống đấy. Cuộc chiến đấu đến sát một bên rồi.

nthach 20-09-2010 11:38

Ngày 9 tháng chín 1941

Gia đình một người Bôn-xe-vích già. Chồng làm dự thẩm - Vợ cơ quan, con gái là y sĩ. Chiến tranh. Bố lên đường đi mặt trận Ca-rên-li. Mẹ làm thư ký đánh máy ở ban tham mưu. Con gái vào làm dân quân. Tất cả đều ra mặt trận.
Hôm qua Lê-nin-grát bị đánh phá dữ dội lần đầu tiên. Ban ngày, như thường lệ có mấy đợt báo động, nhưng chúng tôi vẫn quyết định đến nhà hát ca kịch xem vở "con dơi". Cùng đi với chúng tôi có Ni-cô-lai I-va-nô-vích Ô-de-rét-xki và vợ là A-lê-na và cả Phê-đi-a nữa.
Đối với tôi Phê- đi - a lúc nào cũng vẫn là Phê-đi-a dù ông ta đã hơn 50 tuổi và mang danh hiệu cố vấn tư pháp của Hội đồng nhân dân. Ông không tản cư mà ở lại thành phố. Căn phòng ấm cúng, những chiếc thảm, sách vở đã giữ ông ta ở lại.
Ni-cô-lai I-va nô-Vích là hiệu phó trường Đại học Y khoa, bác sĩ khoa thần kinh, một người thông minh và hay chuyện.
Đến giờ nghỉ giữa màn một và màn hai lại có báo động. Người quản lý nhà hát đến phòng nghỉ của khán giả nói với giọng rành rọt chắc nịch như lúc ông ta báo cáo trước người xem về sự thay vai một diễn viên bị ốm.: " Đề nghị quý vị đứng nép vào tường cho, Bởi vì ở đây ( ông ta lấy tay chỉ lên vòm nhà bị mất một mảng lớn) không có trần".
Theo lời ông ta chúng tôi đứng nép vào tường đến bốn mươi phút. Xa xa có tiếng súng cao xạ . Còi báo yên. Vở kịch lại tiếp tục, nhưng với một nhịp điệu nhanh hơn, bỏ đi mấy điệu hát thứ yếu và song tấu.
Khi chúng tôi ra khỏi nhà hát trời vẫn chưa tối hắn. Ánh sáng mầu xanh của buổi chiều tà pha lẫn ánh sáng màu đỏ nhạt. Ánh lửa đỏ chiếu trên quảng trường chúng tôi không hiểu là có chuyện gì. Bỗng đồng chí lái xe Cô vrốp đưa tay ra hiệu cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi có gọi anh ấy đánh xe đến đâu. Cô-vrốp nói: " Tôi quyết định đánh xe đi đón các đồng chí. Tốt hơn là phải về nhà ngay".
Trong ánh pháo sáng, nét mặt anh sao mà xanh sao và lo lắng thế. Khi xe chúng tôi chạy qua quảng trường. Bỗng nhiên chúng tôi nhìn thấy từng đám khói đen ở phía trước, dưới đám khói là đống lửa, khói và lửa bốc mạnh lên trời loang rộng ra, kết thành từng cụm, từng luồn, khủng khiếp. Cô-vrốp quay lại nói giọng khàn : "Bọn Đức ném bom cháy mất kho lương thực rồi!".
Trong lúc xe chạy thì có một đợt báo động. Về nhà chúng tôi đứng trên Ban-công hồi lâu, nhìn mãi cái kho đang cháy. 11 giờ đêm chúng tôi mới đi ngủ. Nhưng đến 2 giờ sáng (lần đầu tiên ở Lê-nin-grát) mọi người lại phải xuống hầm trú ẩn. Tiếng máy bon Đức rít ngay trên đầu chúng tôi một cách dữ dội. Tiếng súng cao xã nổ liên hồi. Thỉnh thoảng có tiếng gầm rú mà chúng tôi đã từng nghe ở Mát-xcơ-va.
Hầm trú ẩn rất dài, cạnh tường là những chiếc ghế dài: Trên tường có một cái giá để chiếc loa phóng thanh. Bên cạnh là một tủ thuốc. Một số phụ nữ và trẻ em ngồi trên nghế đang ngủ gà ngủ gật. Những câu chuyện nói khẽ, thầm thì bên cạnh cửa nơi trực ban phòng không.
Bỗng có một em bé, một em bé trai cất bước chân bụ bẫm đi qua giữa dãy ghế dài. Mọi người im lặng nhìn nó. Nó nhấc một chiếc ghế con đặt cái giá có loa phóng thanh bên cạnh tường, trèo lên ghế - Một mình nó làm lấy - Nhấc cái loa phóng thanh lên áp sát tai vào rồi chăm chú lắng nghe xem trong đó có câu nói rất chờ mong " máy bay địch đã bay xa" không.

nthach 20-09-2010 11:40

Ngày 10 tháng chín 1941

Kho Ba-đa-ep-xki bị cháy là cái kho trung ương của Lê-nin-grát "trung tâm lương thực" của thành phố. Đám khói hung hãn kia béo ngậy, kết tầng và đặc sệt là di đường, bột và bơ bị cháy bốc lên.
Chúng tôi đã ngủ ở trường Đại học hai đêm. Đêm hôm kia còn ấm áp, một đêm trăng sáng quá đến nỗi từ trên máy bay địch nhìn xuống cả thành phố có lẽ rõ như trong lòng bàn tay.
Những cô hộ lý mặc áo trắng bị cấm không được chạy đi chạy lại ngoài sân. Những ngôi nhà của bệnh viện cũng màu trắng y như chúng cũng khoác áo choàng. Nhưng không thể lấy khăn đen mà chùm lên chúng được. Trong ánh trăng vằng vặc ấy, đạn pháo cao xạ bắn lên hình như không thấy sáng nữa. Đèn pha cũng không còn tác dụng gì. Lũ gioong-ke của địch đến từng đàn. Chúng bay đi im ắng một lúc rồi lại đến.
Hôm qua chồng tôi muốn xem lại bệnh nhân đưa xuống hầm ra sao. Tôi cũng đi theo anh ấy. Chúng tôi vừa ở phòng hộ sinh đi ra thì bỗng có tiếng bom rít. Thật hú vía. Chúng tôi chạy. Nhưng chưa kịp đến cổng tòa nhà chính thì bom đã nổ. Tôi vội ngồi thụp xuống chờ sức nổ của tiếng bom. Song không thấy gì, hay là nó đi về một hướng khác.
Sau đó có người báo cho chúng tôi ở bên tham mưu là có một quả bom rơi xuống cạnh vườn bách thú. Hình như một con voi cái bị chết. Đêm hôm sau lại có bom và vào ngay chỗ cũ. Thì ra bọn Hít-le nhằm vào nhà máy hóa chất, nhưng lại toàn ném xuống vườn bách thú người ta bảo mấy con khỉ bị tan xác và một con chồn đen mất trí chạy ra phố.
Những con chó dùng để thí nghiệm ở trường vào lúc máy bay oanh tạc gào ầm lên đến không chịu nổi. Những con vật khốn khổ, chúng nó mang những cổ họng ghép theo kiểu Páp-lốp. Không có bom đạn chúng cũng đã khổ lắm rồi!

nthach 20-09-2010 11:40

Ngày 11 tháng chín 1941

Các đồng chí Vi-sơ-nhep-xki, Ta-Ra-xen-cốp, Bơ-ra-un còn kịp tham gia vào việc phát hành số báo cuối cùng khi quân địch đã vào Tan-lin.
Hạm đội Ban-tich chọc thủng được vòng vây thật gian khổ. Những máy bay ném bom của địch theo sát không rời tàu của ta. Có tàu vận tải quân sự, tàu ngư lôi, thuyền máy, tàu hành khách … suốt ngày đêm các tàu ấy phải chạy dưới bom đạn của địch. Bom rơi vào những người được cứu thoát trên chiếc tàu thứ hai, có khi vào tàu thứ ba.
Thật may mà Vxe-vô-lốt Vi-sơ-nhép-xki ở đây.

nthach 20-09-2010 11:40

Ngày 13 tháng chín 1941

Hôm qua, quãng 10 giờ đên ôtô chúng tôi bị đoàn xe vận tải quân sự ngăn đường gần vườn bách thảo.
Trăng vẫn chưa lên. Đêm ngột nhạt, tối mò và đầy mây. Ôtô đến đón chúng tôi để chở một số đồ dùng đến trường Đại học Y khoa, vì bây giờ chúng tôi sống nửa ngày ở đó.
Khi chúng tôi thu dọn đồ đạc thì bóng tối dầy đặc ập đến. Xe vận tải đỗ đầy phố hết sức hỗn độn. Chúng nằm ngang đỗ dọc, leo lên hè, lên cầu, cái nọ dí mũi vào cái kia. Chỉ huy đoàn xe biến đi đâu mất.
Bác lái xe của chúng tôi vừa mới bật đèn pha lên một tí thì có tiếng người nào đó giận dữ hét lên ngay: "Tớ không thích nhìn cái thứ ánh sáng đó đâu. Nào tắt ngay đi!" Bác lái xe của chúng tôi rụt rè trả lời: "Tôi cũng chả thích đâu, ông bạn thân mến ạ, nhưng chả nhìn thấy gì cả".
Ngay sau đó lại bắt đầu báo động. Tiếng còi rầu rĩ, rú lên trong bóng tối. Lập tức ở trong những đám mây thấp vọng lên tiếng rít độc ác. Biết chạy đi đâu: đằng trước, đằng sau vấp phải xe vận tải hạng nặng, chỉ nghe thấy tiếng va chạm nhau. Cuối cùng đằng trước có cái gì chuyển động, nổ bùng bục, những chiếc xe vận tải chuyển bánh. Đi được hai ba thước. "Dừng lại!" một chiếc xe con đi thẳng vào phía chúng tôi, hai đầu xe suýt chạm vào nhau. Thế là phải tránh nhau, chạm vào xe nào đó. Cuối cùng rồi cũng đi được.
Chúng tôi đi theo con đường bên trái bờ sông ca-rơ-pốp-ca. Bác lái xe bảo: "Chả nhìn thấy chiếc cầu bắc qua sông đâu cả. May mà không rơi xuống nước!" thế vẫn chưa đủ đâu.
Dò dẫm mãi, cuối cùng cũng lên được cầu (thì ra cầu ở ngay chỗ con sông Ca-rơ-pốp-ca chảy ra sông Nê-va) nhưng xe bị chạm phải thành cầu. Chúng tôi đi trên đường phố Tôn-xtôi lại bật đèn lên một tí. Đội tuần tra hỏi: "Có giấy thông hành quân sự không?" chúng tôi trả lời "Có". xe chúng tôi có giấy đó thật nhưng tôi lại không có giấy thông hành đi đêm mà bây giờ đã hơn 10 giờ rồi bây giờ chuyện đó rất nghiêm ngặt.
Chúng tôi lại đi nhưng không tài nào tìm được cổng nhà mình. Lại bật đèn. Lập tức có một bác cảnh sát quát lên: "bật đèn lần nữa là tôi bắn ngay đấy!"
Đó không phải là chuyện đùa.
Chúng tôi về đến nhà thì gần 1 giờ sáng. Bác lái xe thật vất vả. Bác nói: "chiếc áo sơ mi của tôi ướt đẫm mồ hôi rồi, thật hết sức khổ".
Đêm hôm đó căng thẳng và đầy lo âu. Xe cộ cũng đỗ dồn lại hỗn độn trong Thành phố. Hôm nay có tin chẳng lành: Quân ta đã rút khỏi Trec-nhi-gôp.
Đạn pháo rót vào thành phố. Đêm qua có 3 quả rơi xuống phố Ve-rây-xcai-a, cạnh con sông đào Áp-cốt-nưi. Cái này còn tệ hơn là bom. Chẳng có báo trước, chẳng có báo động. Cái chết hoặc thương tích đến ngay.

nthach 20-09-2010 11:41

Ngày 14 tháng chín 1941

Báo động! ba lần, năm lần báo động! tiếng còi rú suốt ngày.
Chiến công một cô giáo. Bọn Đức chiếm một làng. Đẩy dân vào làng chiếu bóng. Bắt một cô giáo ở đấy đứng ra đọc to một tờ truyền đơn của Đức bằng tiếng Nga. Cô giáo ném tờ truyền đơn vào mặt tên sĩ quan Đức.
Một tên giặc lái Đức bị thương tỉnh lại hỏi hắn ở đâu. Sau khi biết là hắn đang nằm ở nhà thương chữ thập đỏ Lê-nin-grat, hắn khẩn khoản xin đưa hắn sang nơi khác.
-Nhưng ở đây là nhà thương … chữ thập đỏ kia mà!
-Chính vì thế mà nguy hiểm lắm. Các phi công chúng tôi chuyên ném bom các nhà thương Nga.

nthach 20-09-2010 11:41

Ngày 16 tháng 9 1941

Có cái gì nhức nhối trong lòng khi nghe giọng nói tươi mát của một người đàn bà nói ngắn gọn: "Máy nói phải cất đi cho đến khi chiến tranh chấm dứt." Tôi định phải đối nhưng nghĩ lại có nói cũng chẳng được. Sau đó ít phút chuông điện thoại réo lên, một lúc sau lại im đi, mãi … cho đến khi chiến tranh chấm dứt.
Căn phòng bỗng lặng đi trở lên lạnh lẽo, đầy lo lắng. Nó bị cách biệt với toàn thành phố. Cùng một lúc máy nói ở mọi nơi đều bị cắt. Chỉ các cơ quan, (đặc biệt quan trọng) Viện nghiên cứu, nhà thương mới được để lại.

nthach 20-09-2010 11:42

Ngày 17 tháng chín 1941

Có một chị thuộc gia đình Put-skin đến thăm tôi (bà của chị này là em họ của Put-skin. Chị ta đúng là người Gan-ni-ban: Tóc quăn đen nháy, đôi mắt của người da đen, cặp môi dày nên khi cười trông đến lạ. Thật là giòng máu mạnh!
Ve-ra-ca-e-ta-nô-vna không có chỗ ở, không biết ở đâu. Cơ quan của chị tản cư rồi, nhưng không hiểu vì sao chị ở lại. Tôi biếu chị ta nửa cân đỗ biển, một khúc bánh mì đen và năm mươi rúp. Con gái của chị bỏ chạy khỏi làng Put-skin. Con trai là một họa sĩ bị bệnh nằm liệt giường không dậy được.
Cháu của Put-skin bỏ chạy khỏi làng Put-skin, tránh bọn Đức thật là một việc khó mà tưởng tượng được. Ngay đến nhà viết tiểu thuyết có kinh nghiệm cũng không dễ nghĩ ra chuyện ấy.
Chúng tôi rất khoát dọn về trường Đại học Y khoa đến cái gọi là "tình cảnh của một trại lính".
Căn phòng của chúng tôi rất hẹp: Bàn làm việc kê cạnh cửa sổ, hai chiếc giường sát, một giá sách, chiếc ghế bành và hai cái ghế dựa. Muốn rửa mặt thì phải sách ghế và chậu ra. Trên tường treo những ảnh của những nhà bác học như: Cơ-lôt Bec-na-rơ, Bi-sa, Pa-xtơ, Vi-khơ-rốp, Cốc và một bức chạm vẽ Gien-ne Bác sĩ người Anh lần đầu tiên chủng đậu cho Giem-phix, một em bé lên 8 tuổi do chị công nhân vắt sữa Xa-ra Nhen-xơ đang bế trên tay.
Trong phòng có một chiếc lò tròn bằng sắt. Mỗi sáng chị Ê-phơ-rô-xi-nhi-a I-va-nốp-na đi đốt lò. Ngoài cửa sổ là những cây sến rất to. Chúng tôi nhủ thầm những cây này sẽ bảo vệ chúng tôi khỏi những mảnh bom. Mà căn phòng của chúng tôi cũng ở chỗ rất tốt. Nó vào sâu trong gốc theo hình chữ "U" giữa những mái nhà.
Đặc biệt về buổi tối thì căn phòng này rất tuyệt. Khi bóng đêm phủ lên toàn thành phố và cả khu vực trường Đại học Y khoa, bạn đi và sẽ không tin được rằng ở chỗ nào đó lại có ánh sáng. Bóng tối, bóng tối xây thành. Bây giờ đêm đến âm thầm. Trăng cuối tuần như chết đi, chỉ hiện ra lúc rạng đông.
Bạn đi qua sân rồi vào cái phòng ngoài xây bằng đá của tòa nhà chính. Trong một ngọn đèn xanh, chị trực nhật ngồi đọc sách. Xa xa có tiếng pháo nổ. Bầu trời chấp chới ở phía xa. Ở đấy đang có trận không chiến. Người ta vừa khiêng những người bị thương những người vào sân. Hôm qua một người bị thương khiêng lên cáng đi lên cầu thang, máu rơi xuống theo từng bậc thang. Cáng đặt xuống một phút rồi nhấc lên thế mà máu đã đóng thành vũng. Người bị thương là một thanh niên xanh nhợt như tàu lá vừa mới ở mặt trận khiêng về, và đưa anh ta lên ngay bàn mổ. Một chân anh đã bị cưa.
Qua cái sân đầy thương binh ấy, qua cái cầu thang lãnh lẽo và cái hành lang tối tăm, tôi về phòng, căn phòng sáng sủa và yên tĩnh. Cửa sổ đóng chặt không để lọt tiếng động vào. Trên bàn làm việc có một ngọn đèn điện nhỏ mà tôi mang từ Mát-xcơ-va đến. Cái vòng ánh sáng ấy đối với tôi là thiên đường yên tĩnh, là tổ ấm và chỗ dựa của tôi.
Dĩ nhiên tất cả những cái đó chỉ là ảo tưởng. Song đó là trong những ảo tưởng giúp người ta sống.
Hôm qua, đã khuya vào lúc địch còn đang bắn phá, chúng tôi đến phòng cấp cứu ở đây những người bị nạn vừa mới được đưa đến.
Một chị công nhân trẻ của nhà máy đồ hộp đang chờ mổ. Chị có thai đã tám tháng đang ngồi trên chiếc ghế bành đắp chăn mỏng. Mặt chị hồng lên vì nóng, đôi mắt xanh trong hơi dài như ướt đang lim dim, tóc xõa từng cuộn trên vai. Chiếc áo phát của người bệnh viện hơi mở cúc trên ngực.
Một quả đạn rơi trúng vào phân xưởng của chị (ngôi nhà làm bằng gỗ) làm cho 18 trong 20 số người bị chết. Chỉ còn chị và một chị nữa sống sót. Đặt chị lên bàn, chị run sợ, người ta đánh thuốc mê. Mảnh đạn bắn vào chân gần khuỷu rất sâu. Khi chiếu điện nhìn thấy rất rõ.
Bắt đầu mổ. Người ta rạch chân và dùng kìm gắp những mảnh đạn ra. Nhưng trước hết còn phải dùng kìm để tìm chúng. Và khi tìm thấy không dễ lấy được ngay vì khó mà gắp nó được. Giữa những đợt cao xạ ngừng nổ nghe rõ tiếng kìm chạm vào thép.
Bà Ô-glô-bli-na Di-nai-đa Va-xi-li-e-vna Một trong những bác sĩ già nhất ở bệnh viện này mổ hôm nay.
Bà đã học ở đây vào lúc trường này chưa có tên là trường Y khoa thứ nhất mà gọi là nữ học viện Y khoa đầu tiên của nước Nga. Bây giờ bà làm việc không biết mỏi. Có khi hàng tuần lễ bà không về nhà và đứng ở bàn mổ hàng mấy ngày đêm liền. Chúng tôi ra về trước khi mổ xong. Nhưng sau đó Bô-rix I-a-cô-vle-vich Sa-pi-rô, bác sĩ trưởng bệnh viện mang đến tôi một mảnh đạn. Đó là một mảnh kim loại nhỏ trong là thép, ngoài là đồng.
Khu Pê-trô-grat của chúng tôi được coi là khu ít nguy hiểm nhất. Nhân dân ở các khu trong thành phố tản cư về đây. Họ chở bằng xe điện về đủ thứ, nào là ba lô, nôi, chậu, nồi, xoong, hoa, sách vở …
Vùng Xret-nhi-a Rô-gat-ca nơi cách đây ít lâu tôi vẫn còn đi xe của báo "tin tức" đến tận Pun-cô-vô, bây giờ đã là những vị trí tiền tiêu rồi. Giặc Đức ở ngay cạnh đấy. Hôm nay những máy bay ném bom của ta đã thấy bay rồi. Trước đấy không thấy chúng.

nthach 20-09-2010 11:42

Ngày 18 tháng chín 1941

Hôm qua chúng tôi đến khu nhà tập thể của sinh viên. Trời tối. Ở phía chân trời có hai tia nắng hồng. Khu nhà tập thể của sinh viên ở vào trại lính Ge-re-na-di-a cũ. Ngày nào A-lêch-xan-đrơ Blôc đã sống ở đây. Bố dượng của ông ta là sĩ quan.
Cạnh bờ sông Nê-va êm đềm là chiếc cầu Gre-na-de, những tòa nhà bên kia sông (đặc biệt là ngôi nhà có mái dốc) in hình dưới nước, lấp lánh màu hồng, màu xám, một chiếc xà lan bập bềnh, trong tất cả cái này có cái gì giống phong cảnh Hà Lan. Nó còn gợi tôi nhớ tới một nơi ở Cô-pen-ha-vơ. Ở đấy bên cạnh một bến tàu có cái kho lúa mì cổ kính, những con chim bồ câu sạch sẽ béo tốt đang nhặt những hạt thóc rơi.
Dọc sông Nê-va ở bên trái trại lính cũng vẫn là cái vtrơn Bách thảo ấy.
Trại lính-là tòa nhà độ sộ với những bức tường hết sức kiên cố. Căn nhà hầm của ngôi nhà (ở đấy có con mèo đen hoang) hình như xây lên để làm hầm trú ẩn.
Một ý nghĩ, một câu hỏi: Liệu Lê-nin-grat có đứng vững không?

nthach 20-09-2010 11:43

Ngày 19 tháng Chín 1941

Đêm tĩnh mịch đến kinh hoàng. Hình như thành phố không thở; nằm trong bóng tối và chờ đợi. Rồi buổi sáng lại đến.
Chúng tôi nghe đài phát đi bài tùy bút của Ê-ren-bua viết về tình hình mặt trận phía tây. Bài tùy bút hay và công việc ở đó tiến hành tốt quá. Còn ở đây…
Ê-ren-bua nói rất hay: (Thắng lợi đang biểu hiện bằng đôi cánh, nhưng nó có một chân nặng nề. Thắng lợi đang nhích dần đến trong bùn lầy và máu. Giành lấy thắng lợi phải gian khổ". Đúng là như vậy.
Trong đầu óc tôi hình như có một "bãi mìn" và không thể bước vào đấy. Gian-na và Mi-sen-ca là một "trận địa". Ngôi nhà gỗ trong khu rừng thông và bạch dương ở Pe-re-den-ki-na cũng là một "trận địa". Nhưng dù sao thì bây giờ tôi không muốn ở đấy. Tôi lại mong ở mặt trận, nhưng ở nơi nào mà chúng ta đang thắng.
Chiều chiều ở đây, trong bệnh viện này, những người bị thương nặng khẩn khoản "đưa chúng tôi xuống hầm". Họ lo lắng hơn cả những người chưa từng chiến đấu bao giờ.
Ngoài sân vẫn mùa thu vàng ấy. Nhưng cây gì thả lá vàng rơi đầy những con đường nhỏ của bệnh viện. Hôm nay lại có một nhà thương chuyển đến đây: trạm quân y của Hải quân. Ở đây bây giờ tập trung nhiều thương binh quá. Thật nguy hiểm vô cùng! Chính bọn Đức ném bom xuống những nơi như thế này.
Hôm qua người nào đó gọi khu Pê-trô-grát này của chúng tôi là "hậu phương an toàn". Nhưng nếu đây là "hậu phương" đối với pháp binh địch thì không phải đổi với không quân của địch. Tình hình buổi sáng nay đủ chứng minh điều đó.
Dũng cảm cũng dễ lây giống như sự hèn nhát.

nthach 20-09-2010 11:43

Ngày 20 tháng Chín 1941

Hôm qua là một ngày vô cùng nặng nề: nhiều người chết và nhiều đổ nát. Bom đạn và tàn phá ở mọi nơi trong thành phố.
Chúng tôi đến thăm Lê-la nửa giờ sau khi hai quả bom rơi xuống phố Ra-dơ-ie-gia-i-a. Một quả rơi vào lòng đường giữa các dãy nhà ở phố Ban-sôi Mat-xcốp-xki, một quả rơi vào sân. Ngôi nhà của Lê-la bị hai quả bom này hủy hoại. Cạnh đấy tất cả đã bị đổ nát, và người ta khiêng những người chế và bị thương ở đó ra.
Sân đầy những mảnh kính và gạch ngói vỡ. Ngay trong phòng ở, trên sàn nhà cũng đầy những mảnh sơn, vôi vữa và đất vách, cứ như đang sửa chữa. Trong gian buồng bên cạnh, nơi bà Di-na Ô-xi-pô-vna, mẹ của Lê-la ngồi, lò sưởi bị sụp đổ.
Cả gian buồng trông khủng khiếp.
Lê-la là đồng hương của tôi, người Ô-đet-xa. Chúng tôi biết nhau từ thuở bé. Tôi nhớ lại chị ấy ở Pa-ri vào mùa thu năm 1913, một cô gái vui tươi, trẻ trung, thanh lịch. Chúng tôi đi cả đoàn, dạo chơi, ngồi đu quay trong tiếng nhạc. Cùng ngồi với nhau trên ghế, cùng ăn hạt dẻ, cùng ngắm Pa-ri trong lá rụng và ánh đèn mới lên buổi tối.
Giờ đây Lê-la đã có con gái tên là In-na. Một cô gái đẹp và khắc khổ, mơ ước trở thành hoa tiêu những chuyến tàu đi xa.
Khi chúng tôi đến Ra-dơ-ie-gia-i-a thì Lê-la đi làm vắng. Bà Di-na Ô-xi-pô-vna ra đón chúng tôi, giẫm lên đổ nát.
Hôm nay tôi gặp một thiếu tá vừa đáp máy bay từ Mát-xcơ-va đến, lại bay ngay về. Anh kết thúc câu chuyện: "Nhất định Lê-nin-grát phải là của chúng ta không thể nào để mất được". Rồi anh giải thích tại sao. Mặc dầu tất cả đều đã rõ ràng và người ta cũng đã nói như thế hàng chục lần rồi, nhưng được nghe một người đã từng ở Ê-li-na đến để khẳng định điều đó thì là một điều sung sướng, cần thiết và đặc biệt quan trọng.
Hôm qua bom cháy đã thiêu hủy mất một số bệnh viện như bệnh viện Cui-bư-sép-xcai-a, bệnh viện A-lêch-xan-đrốp-xcai-a và hai quân y viện khác.
Khói ở quân y viện trên đại lộ Xô viết bốc lên cứ như đốt dầu lửa.
Hôm qua bom rơi ở phía chợ trong xóm mới. Người ta khiêng 50 người ở trong đó ra. Một em bé gái lên bảy bị thương đau quá rên mãi, vì một châm em bị na-pan đốt cháy. Người ta an ủi em là chẳng bao lâu sẽ đỡ. Sau đó người ta tiêm thuốc mê cho em rồi cưa cái chân đó của em đi. Khi tỉnh dậy em nói: "Tốt quá, bây giờ không đau nữa rồi". Em bé gái ấy không biết là em đã bị mất một chân.

nthach 20-09-2010 11:45

Ngày 22 tháng Chín 1941

Quân ta đã rút khỏi Ki-ép. Sau khi chúng ta viết (Ki-ép đang và sẽ là của chúng ta". Sau khi cũng câu ấy nói về Lê-nin-grát (đã bao nhiêu lần rồi!). Bây giờ lòng những người Lê-nin-gát rối bời.
Tôi đọc cho anh em thương binh nghe truyện ngắn của Cô-din. Ngày mai tôi lại đọc nữa. Hôm nay một ngày nặng nề. Thật khó mà quên được Ki-ép.
Ngày hôm qua báo động mấy lần. Chúng tôi vào thành phố nghe báo động liền rẽ vào nhà Ô-de-ret-xki. Họ vẫn sống trong cái lâu đài trước kia là của Ki-rin Ra-du-môp-xki. Những căn phòng cao rộng và lạnh lẽo. Mọi thứ đều nói về một thế kỷ khác, thế kỷ thứ 18. Thế nhưng trên lâu đài này, thế kỷ 20 đang bay lượn qua hình tượng những chiếc "gioong-ke" chở đầy bom đạn.
Hôm nay chúng tôi vào thành phố thăm Ta-rát-xen-côp ở tòa báo của hạng đội Ban-tic. Vừa bước lên thì báo động. Một chiến sĩ hải quân đi vào nói: "Lệnh cho mọi người phải xuống hầm". Chúng tôi đi theo hành lang. Vừa lúc đó thì căn nhà rung lên: Bom rơi ngay bên cạnh, ở sân Ap-rac-xi-na.
Vào một gách hầm Ta-rát-xen-cốp trải áo khoác của mình ra. Chúng tôi ngồi xuống. Anh rút trong túi áo ra một tập thư của vợ và đọc cho tôi nghe. Thật kì lạ và không thể tưởng tượng được là trong tiếng bom đạn gầm rú lại nghe những lời yêu đương âu yếm.
Không chờ báo yên, chúng tôi lên đường về nhà. Đến trường Đại học y khoa, vừa đến cổng thì người ta báo cho chúng tôi biết là cách đây 20 phút có một quả bom rơi xuống khu nhà tập thể của sinh viên (trại lính Gre-na-de-rơ-xki). Chúng tôi đến ngay đây.
Chúng tôi hồi hộp đến xem ngôi nhà còn không? Vẫn còn. Những mảnh kính vỡ bay đây đó. Quả bom bỏ ra (không to lắm khoảng độ 50 ki lô) rơi trúng giữa sân hố bom đã đầy nước và bùn. Tuy quả bom nhỏ thôi nhưng ngôi nhà cũng bị nét rạn, những mảnh tường rơi trên giường của sinh viên. Giá ai còn nằm ở trên giường lúc đó thì cũng không còn sống nữa rồi.
Vào những ngày như vậy, trong một thành phố bị bao vây dưới bom đạn Sô-xta-cô-vich vẫn viết giao hưởng và điều chủ yếu là tờ báo "sự thật Lê-nin-grát" đã đăng tin này giữa nhưng tin tức từ mặt trận phía Nam, giữa nhưng mẩu chuyện về máy bay địch và về những chai đựng chất đốt. Thế nghĩa là nghệ thuật đã không chết, vẫn sống, vẫn ngời sáng và sưởi ấm lòng người. Thần Marx (thần chiến tranh) vẫn không đè bẹp nổi thần A-pô-lông.

nthach 20-09-2010 11:48

Ngày 23 tháng Chín 1941

Tôi đã nhìn thấy tòa nhà sáu tầng ở phố Pút-sơ-cốp-xki bị một quả bom xuyên từ nóc đến nền, thế mà nó vẫn đứng, tuy nền bị nứt nẻ. Mái nhà đã bị tung hết như cái bỏ bánh mì chửa bỏ lò vậy.
Đi qua đấy chúng tôi thấy từ trên gác sáu người ta lấy thừng buộc chiếc đi-văng đang thả dần xuống. Chiếc ghế từ từ bỏ xuống, treo lơ lửng trong khoảng trống. Bọn Đức dùng một chiến thuật mới, chúng ném bom phá trước, khi tòa nhà bị tan ra và không có gì chống đỡ nữa chúng ta mới ném bom cháy xuống. Quân y viện đã gặp tình trạng ấy. ở đó rất nhiều thương binh bị chết.
Hôm nay bác sĩ trưởng của chúng tôi nhận lệnh: "Bên cạnh giường mỗi người bệnh nặng phải có một cái cáng. Trong mỗi buồng phải có thang dây".
Cạnh chúng tôi có một khu nguy hiểm đó là doanh trại uân đội. Số là khu đó chỉ lấy một phần làm nhà tập thể cho sinh viên, số nhà còn lại do quân đội sử dụng. Ở đấy những hòm đạn đại bác thường được tải đến khi thì bằng xe điện, khi thì bằng sà-lan trên sông Ca-rơ-pô-vca. Trên bờ sông êm đềm này, cách nhà xác của bệnh viện không xa là một khẩu đội pháo. Những nơi đó bọn Đức bay trên không nhìn thấy hết.
Trên bờ bên kia, trong những lùm cây là chỗ để bóng phòng không với những quả dự trữ. Đấy cũng là láng giềng nguy hiểm đối với viện quân y. Ngay cả viện quân y nữa. Vì bọn phát-xít cố gắng hết sức đến ném bom vào những nơi này.
Tại sân trại lính, một cậu bé chỉ vào hố bom và chỗ cậu ta đứng nói với chúng tôi: "Cháu đã đứng ở chỗ kia". Tôi đã hiểu rằng chẳng có gì bảo vệ cả. Mọi việc là may rủi thôi. Chỉ phải đề phòng mảnh kính, đó là điều duy nhất có thể làm được.

nthach 20-09-2010 11:49

Ngày 24 tháng Chín 1941

Chồng tôi bảo là bài nói chuyện của tôi trên đài có đăng lại trên báo "Sự thật". Tôi đã đọc nó. Theo tin của Thông tấn Tass thì nó ở khắp nơi. Và tôi rất sung sướng, tự hào.
Sáng hôm nay (thật tuyệt vời, cái gì cũng màu vàng) khoảng mười giờ, chỉ mấy giây trước lúc báo động, một quả bom rơi xuống khu vực chúng tôi nhưng không nổ. Bây giờ nó vẫn nằm sâu dưới đất.
Quả bom rơi gần phòng khám bệnh, bên cạnh giếng phun nước. Đội công binh đào cả một ngày mà vẫn không có cách gì lôi được nó lên. Đành phải gác lại ngày mai. Quả bom rất to-qua mảnh vỡ đuôi nó đủ biết. Xe điện không chạy qua chỗ chúng tôi, người đi bộ không được đến. Chúng tôi bị phong tỏa. Phòng hộ sinh và phòng mổ số 1 gần quả bom rơi phải chuyển đi nơi khác.
Điều lạ nhất là tôi hầu như không cảm thấy bị choáng. Trong phút đầu tôi chỉ cảm thấy ở một nơi xa nào đó một cái gì như tấm cửa nặng đập vào. Căn nhà bị rung nhưng chẳng đáng sợ. Ở những dãy nhà khác người ta bảo rung chuyển rất mạnh.
Lê-li-a cùng với mẹ và con gái rời căn nhà bị bom đến ở chỗ chúng tôi ở phố Pê-sốt-xnai-a. Bây giờ tôi sẽ thường đến đó.
Hằng ngày tôi đến phòng mổ số 2 để đọc sách cho thương binh nghe. Ở đó có hai buồng. Tôi đọc Mác-xim Go-rơ-ki, Nê-cra-xốp và Mác Tuen. Anh em rất thích những truyện của Mác Tuen. Và bài thơ "Ai sống sung sướng ở nước Nga" của Nê-cra-xốp.
Đôi khi anh em thương binh nặng ngủ thiếp đi hay suy nghĩ việc riêng. Nhưng dù sao thì anh em cũng thích có người đến chuyện trò với họ. Họ buồn bã nói về kỹ thuật của bọn Đức, về việc quân ta còn ít máy bay và xe tăng quá. Có một anh cứ thầm thì nhắc đi nhắc lại mãi một cách khổ sở nhưng sôi nổi:
"Xe tăng, nếu chúng ta có nhiều xe tăng!".
Một sĩ quan cụt chân, bị thương gần Kin-ghi-xép nói: "Tôi sẵn sàng nhận thêm thương tích, chỉ mong là chúng ta thắng lợi!".
Người thứ ba cũng bị thương ở chân với chiếc huy chương "Dũng cảm" cài lên áo ngủ một cách dễ thương nói: "Phải đuổi cái loại bọ ấy đi". Đấy là anh nói về máy bay phát-xít.
Anh thứ tư nói về hầm hào chiến đấu: "chúng không để đất yên ổn" và thêm "một cuộc tấn công vô nghĩa".

nthach 20-09-2010 11:49

Ngày 26 tháng Chín 1941

Lúc báo động anh em thương binh bình tĩnh nhưng buồn rũ. Cái cảm giác mình không còn sức và không cử động được giày vò họ. Số lớn anh em không thể nhích được một bước.
Vừa rồi tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu ở giữa phòng bệnh và đọc truyện ngắn Mác-xim Go-rơ-ki cho anh em nghe. Bỗng còi báo động rú lên. Đạn cao xạ bắn đầy trời. Bom nổ ầm ầm, cửa kính rơi loảng xoảng.
Tôi ngồi trên chiếc ghế không có chỗ tựa, cũng chẳng có cái gì để dựa. Xung quanh là cửa sổ, cửa sổ… còn những người bị thương, những người đã kiệt sức tự nhiên nhìn cả vào tôi, một người còn khỏe mạnh, xem tôi như thế nào. Còn tôi tập trung hết ý chí chờ tiếng nổ qua đi rồi tôi lại đọc, chỉ chú ý là làm sao giọng đọc khỏi run.
Nhưng khi đến nhà, người tôi bủn rủn vì cơn khiếp sợ vừa qua tôi phải đi nằm đến nửa giờ.
Các chiến sĩ đều biết chuyện quả bom ấy, song chỉ nói qua. Họ có biết cho đến bây giờ quả bom ấy vẫn nằm đấy chưa nổ hay không?

nthach 20-09-2010 11:49

Ngày 27 tháng Chín 1941

Quả bom vẫn nằm nguyên. Anh em công binh đã hết sức nhưng quả bom cứ như một vật lạ không sao lôi lên được, càng ngày nó càng chui sâu xuống đất. Ban ngày người ta đào được chừng nào thì đêm nó lại chui sâu xuống chừng ấy.
Đất trong vườn đều bị đào xới lên: "Chúng không để cho đất được yên!"

nthach 20-09-2010 11:50

Ngày 28 tháng Chín 1941

Hôm nay có cuộc mít tinh phụ nữ toàn thành phố Lê-nin-grat. Tôi và chị Va-xi-li-e-va-chủ bút tờ báo "Xme-na" (Hạt giống) viết lời hiệu triệu suốt đêm. Lúc báo động đêm, những người hàng xóm của Va-xi-li-e-va từ tầng cao nhất chạy xuống nhà chị ở tầng dưới cùng và cùng với trẻ con ngồi ủ rũ dưới chỗ mắc áo ở phòng ngoài. Không hiểu sao họ lại không xuống hầm trú ẩn.
Trong lúc bị oanh tạc mà ngồi ở nhà người nhà khác thường vẫn sợ hơn là ngồi ở nhà mình.

nthach 20-09-2010 11:50

Ngày 29 tháng Chín 1941

Quả bom vẫn nằm đó. Chúng tôi hầu như đã lãng quên nó nhưng nó vẫn còn nguy hiểm.

Ngày 4 tháng Mười 1941
Phải đào một đường hầm rồi đóng một cái máng gỗ ở dưới đất để đỡ quả bom không cho nó lún sâu xuống đất nữa.
Hôm nay cuối cùng người ta vẫn gọi chúng tôi đến xem quả bom ấy. Vợ chồng tôi đến khu vườn bị ngăn cách suốt thời gian này không một ai được đến đấy cả.
Đó là một quả bom hạng nặng nằm chênh hênh sơn màu xanh da trời, có chỗ màu vàng, đầu nhọn, đuôi tà.
Cái ngòi nổ đã lấy ra và bên trong quả bom có một cái ống dài bị nước ngấm người ta moi một thứ đất sét xanh ra xem bên ngoài có vẻ lành. Đấy chính là chất nổ.
Hiện nay quả bom đã được đem đến viện bảo tàng quân đội. Tôi giữ mảnh đuôi để làm kỷ niệm.

nthach 20-09-2010 11:50

Ngày 5 tháng Mười 1941

Quả bom vẫn còn lởn vởn trong đầu óc tôi. Tôi bắt đầu viết về nó trong nhật ký đi đường của tôi.
Tôi nhận được bức thư gửi từ Tri-xtơ-pôn ngày 18 tháng Tám. Ghan-na viết về con trai như sau:"Thằng bé gầy đi nhiều quá, nhưng nó lớn lên nó đã ăn được cháo và nước bột quả".
Thật hạnh phúc là chúng nó ở đấy.

Ngày 10 tháng Mười 1941
Quân ta lại rút khỏi Ô-ri-ôn.
Quân Đức tấn công rất dữ dội vào hai phía Vi-a-dem-xki và Bri-an-xki.
Ngoại ô Mát-xcơ-va là đất bằng, không có mùi, không có thung lũng, không có biển. Trên cánh đồng bằng phẳng như thế làm sao mà ngăn được xe tăng của giặc tràn vào.
Tim tôi như giá đi khi nghĩ quân thù có thể hay đã bắt đầu tràn đến đường phố Mát-xcơ-va.

nthach 20-09-2010 11:51

Ngày 14 tháng Mười 1941

Kích chiến ở Ô-đét-xa. Tôi xa nó đã lâu rồi. Tôi đã cảm thấy hình như đối với tôi Ô-đét-xa cũng chỉ như những thành phố khác. Hầu như tôi không còn cảm thấy nó là quê hương của mình. Nhưng bây giờ thì tôi lại cảm thấy nó thân yêu và gần gũi như trước.
Tôi làm bài thơ "Gửi Ô-đét-xa". Chắc ngày mai nó được truyền đi qua làn sóng điện để Ô-đét-xa cũng nghe được tiếng nói của tôi.

nthach 20-09-2010 11:52

Ngày 15 tháng Mười 1941

Tôi không kịp nói chuyện dài. Giặc Đức đã vào Ô-đét-xa.


Ngày 26 tháng Mười 1941

Chúng tôi đến nhà tấu nhạc. Ca-men-xki đánh dương cầm bản nhạc của Trai-cốp-xki. Khán giả vỗ tay yêu cầu đánh bài Van-sơ Pra-te-rơ lần thứ hai. Phòng nhạc không được trang hoàng như lần trước nữa. Không có lò sưởi. Người nghe phải mặc áo bành tô.
Rất nhiều quân nhân.

nthach 20-09-2010 11:52

Ngày 5 tháng Mười một 1941

Tôi đọc những tin chiến đấu vùng ngoại ô Mát-xcơ-va một cách khó nhọc. Giặc Đức đã ở ngay cửa ngõ Mát-xcơ-va rồi. Hôm nay trên tờ "Sự thật Lê-nỉn-grat" đăng một phóng sự "Trận chiến đấu trên đường Mô-giai-xki".
Chúng tôi đã từng ngồi xe ô-tô đi qua con đường ấy bao nhiêu lần rồi. Bây giờ thì xe tăng của giặc Đức ở đấy. Bộ binh Đức đã đến đấy.
Hướng Ma-lơ I-a-rô-xláp hiện ra. Thành phố N. chắc chỉ Na-ra. Đến đấy có xe lửa của nhà nghỉ mát chạy qua ga Pe-re-den-kin.
Quân Đức không thể đến Mát-xcơ-va. Không thể xảy ra điều đó.
Mát-xcơ-va, người không thể không là của nước Nga, cũng như con người không thể không thở được!

nthach 20-09-2010 11:53

Ngày 6 tháng Mười một 1941

Hôm qua lần đầu tiên trong đời tôi hiểu ý nghĩa của thành ngữ "bủn rủn chân tay". Tôi đang đứng một mình trên chiếc cầu thang lớn trên sân có cửa sổ rất to thì một quả bom nổ bên cạnh. Tôi phân biệt rõ những tiếng nổ lớn lớn sau đó là những tiếng nổ phụ. Mặt đất rung chuyển chao đảo. Ngôi nhà của chúng tôi lắc lư.
Không còn hồn vía, tôi chạy thẳng xuống hầm trú ẩn, ở đó đã có mặt tất cả mọi người. Chân tôi mềm nhũn như bông. Sau đó mọi việc cũng trôi qua.
Trong cả thời gian chiến tranh, đó là lần bom rơi gần tôi nhất. Rất nhiều nhà vỡ cửa lạnh. Ngôi nhà của chúng tôi cũng vậy. Nhưng căn buồng của chúng tôi lại không việc gì. Đúng là nó ở vào vị trí tốt.
Hầm trú ẩn chỉ huy sở của trường và bệnh viện là một gian phòng nhỏ hay nói đúng hơn, đó là một phần được ngăn ra của chiếc hầm trú ẩn lớn. Ở chính giữa là chiếc bàn để đọc sách, uống nước trà, xem bản đồ tình hình mặt trận. Chiếc lò sưởi để ở một góc. Cạnh tường có hai chiếc đi-văng. Ngay đấy là máy nói mà chồng tôi và Bô-rix I-a-cô-vle-vit dùng để liên hệ với các khoa.
Tiếng bom nổ vang tới đây. Nếu chỉ mới nghe thấy có một tiếng gọn thì có nghĩa là bom chưa nổ ngay. Người ta có thể ngồi và đếm từng giây.
Bạn gái của tôi là Ma-ri-ét-ta, Ma-ri-a I-gna-chi-e-vna tết những bó hoa nhỏ bằng tơ trong lúc máy bay địch bắn phá. Khi bom rơi và chúng tôi chờ tiếng nổ, những sợi tơ treo trên không, tiếng nổ dứt, chị lại tiếp tục.
Ma-ri-et-ta chuyên về dược vật. Bộ môn của chị cũng ở cùng một tầng với chúng tôi, vẫn còn giữ mùi thỏ và lợn biển. Lồng của chúng vẫn ở ngoài hành lang. Nhưng lợn và thỏ không còn nữa.
Bên ngoài cửa hầm, con chó chăn cừu tên là Din-ca của các đồng chí bộ đội pháo cao xạ thường nép sát vào tường và run lên cầm cập. Nó hiểu hết và chạy ngay đến đấy khi còi báo động vừa cất lên.
Sở chỉ huy của đơn vị pháo cao xạ ở ngay bên kia bức tường chắn. Người chỉ huy trận địa pháo dùng máy nói liên lạc với các điểm quan sát trên mái của khu nhà giải phẫu của chúng tôi và với những điểm cao nhất của tất cả các khu phố, nghe họ báo cáo về hoạt động của máy bay địch và hướng bay của chúng. Đồng chí ra lệnh nổ súng. Chúng tôi nói chuyện rất khẽ để khỏi làm phiền đến anh.
Dù nguy hiểm đến từng giờ từng phút, và liệu tôi có còn được gặp Gian-na và cháu nữa không, dù bệnh hoạn nhưng đã lâu nay tôi chưa bao giờ cảm thấy lại khỏe mạnh và tinh thần như lúc này, lại khao khát làm việc như lúc này. Ngay bây giờ tôi có thể làm việc rất nhiều. Và tôi sẽ làm được hết nếu bom không rơi gần hơn ngày hôm qua.
Nếu tôi sống, tôi sẽ làm tất cả để giữ được cái nơi làm việc quý giá, vứt hết những cái nhỏ nhen, những điều nhảm nhí.
Để có thể viết đến giờ phút cuối cùng thì phải giữ đầu óc cho tỉnh táo.
Chết với cái bút trong tay, giữa dòng chữ một cách đột ngột, không còn một cái chết nào tốt hơn mà tôi mong muốn.

nthach 20-09-2010 11:53

Ngày 7 tháng Mười một 1941

Đêm qua mọi người đều nghe bài nói chuyện của đồng chí Xta-lin truyền đi từ Mát-xcơ-va.
Chúng tôi định làm cho căn phòng lạnh như băng ấm lên một chút vào cái giờ đó. Nhưng điều đó cũng không thực hiện được. Chúng tôi phải mặc áo bành tô. Nhưng rồi trong lò cũng lóe lên một tí than nên cũng hơi sáng và ấm lên một tí. Thật không rời được ánh lửa đó. Đêm ngoài kia không sáng, tối đen như mực với tiếng còi báo động, với những loại pháo cao xạ và tiếng máy bay rít ngay trên đỉnh đầu.
Tuy trên đài truyền đi hai lần báo động nhưng giờ đây vẫn phát lại bài nói của đồng chí Xta-lin. Tiếng nói của Xta-lin át cả tiếng còi báo động, vượt lên trên tối tăm, đi trên cả đêm nay. Tiếng nói đó mạnh hơn tất cả.
Chúng tôi vừa nghe tiếng nói đó, vừa nhìn vào ánh lửa. Hai thứ đó hòa hợp với nhau trở nên rực rỡ và là niềm an ủi lớn lao đối với chúng tôi.

nthach 20-09-2010 11:53

Ngày 10 tháng Mười một 1941

Hôm qua chúng tôi đến nhà tấu nhạc nghe bản giao hưởng số 9 của Bét-thô-ven. Nhưng hình như chúng tôi sẽ không đi nghe nhạc nữa rồi. Điều này trở lên quá phức tạp và nguy hiểm.
Trên đường về nhà đêm đen và bóng tối dày đặc như ở trong căn nhà đóng kín các cửa mà không có đèn.
Chúng tôi không có đèn pin. Nhưng chúng tôi đã lần mò được đến ga xe điện. Ở đó tí nữa thì chiếc xe vận tải đâm vào chúng tôi. Bất chợt tôi cảm thấy cái thành xe lạnh và ướt của nó ngay trên má mình.
Phòng nhạc ngày càng buồn rũ đi. Cái lạnh của miền Bắc cực.
Lần thứ hai giảm tiêu chuẩn bánh mì.

nthach 20-09-2010 11:53

Ngày 15 tháng Mười một 1941

Hôm qua có một quả bom phá lớn rơi ở gần khu nhà xác. Quả thứ hai rơi xuống vườn Bách thảo. Khu nhà kính trồng hoa bị tung hết kính, gió lạnh ập vào. Những cây cọ chết ngay từ buổi sáng.
Lúc quả bom ấy rơi xuống, cánh cửa phòng trú ẩn của chúng tôi rung lên giống như có một người cuồng lên vì kinh sợ nắm lấy nó mà giật mạnh. Tôi xô lại mở cánh cửa ra vì tôi không thể tin đó là sức ép của tiếng nổ… Cửa mở ra, không thấy ai cả. Chỉ có con chó chăn cừu Din-ca đang run trên sàn. Trên chiếc ghế dài các bà mẹ đang ôm chặt con vào lòng im lặng.

nthach 20-09-2010 11:54

Ngày 16 tháng Mười một 1941

Báo động. Rất nhiều pháo sáng. Ban đêm toàn khu vực chúng tôi chói chang ánh sáng.

nthach 20-09-2010 11:54

Ngày 21 tháng Mười một 1941

Hôm qua ở thành phố về, chúng tôi gặp hai lần báo động dài. Hai lần phải vào hầm trú ẩn, hai lần đứng lại dưới vòm cổng nhà ngoài phố. Lại phải chạy chuyển chỗ vào những đợt báo yên.
Hễ hơi lắng đi một chút là chúng tôi lại đi. Khi máy bay lượn ngay trên đầu, chúng tôi lại đứng lại chờ. Trong đêm tối những chùm sao lửa đỏ rực từ trận địa pháo cao xạ vọt lên trông thật là đáng sợ. Những mảnh đạn của chúng rất nguy hiểm.
Báo động lần thứ nhất khi chúng tôi ở ngôi nhà của Sở giao dịch. Bóng trăng trắng nhạt, tất cả đều như mờ ảo, biến dạng đi vì tuyết. Nhìn kỹ mới thấy được cột đài kỷ niệm. Giữa cảnh đó tiếng còi báo động rền rĩ. Và tiếng bom rú lên gần đâu đấy.
Chúng tôi xuống tầng hầm dưới ngôi nhà của Sở giao dịch, dưới một cái vòm cổ kính rất kiên cố.
Cùng ngồi với chúng tôi ở dưới hầm nhà này có các chị lái xe và bán vé xe điện. Chúng tôi rất mừng là mình chắc chắn được lên xe điện rồi.
Căn hầm thứ hai ở dưới một tòa nhà đồ sộ trên một đại lộ lại là một kiểu hầm khác hẳn. Cả một dãy người đang xếp hàng mua sữa đậu trước cửa hàng của tòa nhà này đều chạy cả vào đây. Và thật là ngẫu nhiên mà một chị trước kia làm công và một bác phó kẹo của một xưởng bánh kẹo thời trước cách mạng lại gặp nhau ở đây.
Người ta nhớ lại những chuyện cũ. Bác phó kẹo trước kia kể lại một câu chuyện về "Bản kinh phúc âm sô-cô-lát" mà xưởng kẹo đã làm để đưa đi dự hội chợ ở Pa-ri và chủ xưởng đã được giải thưởng 25 ngàn rúp. Thế mà hắn chia cho công nhân mỗi người một vài xu. Điều thú vị hơn hết là (theo lời bác phó kẹo) Hội đồng hội chợ Pa-ri công nhận là bản kinh phúc âm này làm bằng thứ bơ thượng hảo hạng nguyên chất, nhưng thật ra nó lại làm bằng thứ mỡ thực vật.
Đó thật là những mẩu hồi ức "ngọt ngào". Mọi người trong hầm nghe một cách thích thú quên cả để ý đến những tiếng nổ khủng khiếp ở bên ngoài.
Lúc đến quảng trường Lép Tôn-xtôi, chúng tôi không đi nữa mà cắm cổ chạy dưới làn đạn của pháo cao xạ. Bỗng nhiên cạnh cửa hàng bánh mì ở góc phố có tiếng nói rền rĩ ở trên vỉa hè băng giá. "Bà con ơi ! Cứu tôi với!".
Một bà già. Bà ta ngã trong bóng tối. Máy bay đang gầm rít trên đầu bà, đạn bắn lên đầy trời. Còn dưới đất thì ngoài chúng tôi ra chả còn ai. Chúng tôi đỡ bà cụ dậy rồi định chạy tiếp thì bà cụ lại gào lên: "Các ông các bà ơi ! Sổ mua bánh mì của tôi văng đâu mất rồi. Mất sổ bánh mì thì tôi sống làm sao. Các bác hãy tìm giúp tôi với".
Cơn sợ và mệt dã làm tôi mụ người đi. Tôi bảo:
-Cụ tìm lấy thôi, chúng tôi chẳng nói chẳng rằng, buông tay tôi ra cúi xuống đi tìm cho đến khi tìm ra được sổ của bà cụ. Sau đó chúng tôi lại dìu bà cụ đến phố Pê-trô-pa-vlốp-xcai-a. Còn chúng tôi lại tiếp tục chạy nữa.

nthach 20-09-2010 11:54

Ngày 25 tháng Mười một 1941

Hôm qua trong lúc bầu trời và mặt đất đang bắn nhau thì Bô-rix I-a-cô-vle-vich-Bác sĩ trưởng của bệnh viện-bảo vệ luận án khoa học của mình dưới hầm trú ẩn.
Người bảo vệ luận án mặc chiếc áo bông chưa hề thay lần nào và đi thẳng từ bếp lò đến, mà ở đấy ông ta đã bao nhiêu ngày cùng với người thợ đốt lò cố hàn gắn lại công việc của nhà giặt bị mảnh bom làm hỏng.
Dưới hầm trú ẩn không có điện. Hội đồng khoa học họp dưới ánh đèn dầu lửa.
Bữa cơm trưa mọi người uống chút rượu nhạt để chúc mừng nhà bác học mới của ngành Y.
Một bà cụ già cầu nguyện cho việc phá vây, bà nói: "Lạy chúa, xin người hãy mở đường cho các chiến sĩ của chúng con !"
Câu chuyện của một người xà ích bị chết ngựa vì bom. Anh ta đứng cạnh con ngựa và khóc nức nở.

nthach 20-09-2010 11:55

Ngày 28 tháng Mười một 1941

Việc sơ tán những người dân thành phố Lê-nin-grát bằng máy bay vẫn tiếp tục.
Trong số đó có những nhà văn chúng tôi cũng đáp máy bay đi. Ở trường Đại học Y khoa thì có các giáo sư Đ và K. Chuyện thật không đơn giản: sự lo sợ trước tương lai, tình yêu đối với thành phố, (làm sao mà giã từ nó trong giờ phút này) và nhận thưc: Nếu người ta đưa anh đi có nghĩa là Tổ quốc cần đến anh, thế thì tại sao anh lại không đi nếu người ta đề nghị.
Tương lai của thành phố Lê-nin-grat đầy lo lắng. Kho lương thực Ba-đa-iép-xki cháy rồi, đó không phải là chuyện đùa. Đám khói đặc sệt và nặng trình trịch-Đó là những chất mỡ và chất các-buya rất cần cho cuộc sống của con người. Hiện nay chất đạm tức là thịt chúng tôi cũng không tìm thấy đâu nữa. Gần đây giáo sư D bảo tôi:
-Hôm qua con gái tôi ở trên trần nhà suốt ngày mới tìm được một con mèo.
Tôi vừa định tỏ ý mến phục một tình thương như thế đối với con mèo thì giáo sư nói tiếp:
-Chúng tôi ăn thịt nó rồi!
Một lần khác cũng giáo sư D, một người rất ham đi săn nói:
-Cuộc đời tôi kết liễu khi nào tôi giết con chim mồi cuối cùng của tôi. Thế mà hình như tôi đã giết nó rồi.
Trong tháng Mười một đã hai lần giảm khẩu phần bánh mì. Như vậy là giảm đi hai mức.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:51.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.