![]() |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Paven Bazốp
1. Bà chủ Núi Đồng
Người dịch : Đoàn Ngọc Trinh Một hôm, hai người thợ một già một trẻ đi vào núi thăm cánh đồng cỏ dưới thung lũng. Xỉ đồng của nhà máy chất cao như núi nên mọi người gọi nó là Núi Đồng Sau cơn mưa, trời trở nên nóng khủng khiếp. Hai người mệt mỏi vì đường xa nóng nực. Khi vào tới rừng, họ cảm thấy dễ chịu hơn, liền nằm lăn dưới gốc cây thanh lương mà ngủ. Bỗng người thợ trẻ choàng tỉnh dậy, anh cảm thấy như có ai hích mạnh vào sườn mình. Anh nhìn thấy một cô thiếu nữ ngồi trên tảng đá. Tóc nàng tết bím, chắc chưa có chồng. Hai bím tóc nặng trĩu buông xuống gót chân. Nàng thắt nơ, xa xa trông như hai dải đồng. Chàng trai say sưa ngắm cô gái. Thân hình nàng mảnh dẻ, trông thật đáng yêu. Nàng đang cúi xuống tìm vật gì dưới chân, lúc quay bên này, lúc quay bên kia, miệng thì thầm như đang to nhỏ với ai. Chàng trai vừa định bắt chuyện với cô gái, bỗng sựng lại như ai đánh mạnh vào đầu. Chàng chợt hiểu ra : - Trời ơi, đó chính là Bà Chủ Núi Đồng. Bà ta ăn mặc như vậy mà sao ta không nhận ra bà ta. Mắt ta để đi đâu không biết nữa ? Quả thật như vậy, không thể tìm thấy một bộ quần áo như thế : bà ta mặc một chiếc váy dài hàng tơ màu xanh lông công rực rỡ, trông xinh đẹp tuyệt trần. Thật là không may cho ta – chàng trai nghĩ – phải mau mau trốn khỏi nơi này, trước khi bà ta quay trở lại. Chàng thường nghe các cụ già trong làng kể lại : ai không may gặp phải Bà Chủ Núi Đồng thì thường gặp những điều rủi ro hơn là điều lành. Nhưng không kịp nữa rồi! Vừa lúc đó Bà Chủ Núi Đồng quay lại. Nhìn thấy chàng trai, bà ta vui vẻ nói : - Thế này Stephan, sao chàng lại ngây ra nhìn em vậy ? Sao không lại gần đây và trò chuyện với em ? Chàng trai sợ hãi nhìn Bà Chủ Núi Đồng. Chàng cố trấn tĩnh, tự nhủ : mặc dù cô ta có phép thần, nhưng dù sao ta cũng là một đứa con trai, sợ cô ta thì thật đáng xấu hổ - Tôi đi thăm cánh dồng cỏ chứ đâu phải đến đây tán dóc với cô ? - Tôi sẽ có cách bắt anh phải lại đây ! Tôi có chuyện cần nói với anh . Chàng trai tức giận nói : - Lại thì lại, chẳng việc gì tôi phải sợ cô ! Stephan đi lại phía Bà Chủ Núi Đồng . Bà ta giơ tay cao lên, vung khắp bốn phương. Stephan cũng đi vòng quanh. Chàng nhìn xuống chân – vô số thằn lằn đủ các màu không biết từ đâu bò ra, con màu xanh lá cây, con màu xanh da trời, con màu vàng, con màu trong suốt như pha lê, con sáng lấp lánh như những giọt sương đọng trên ngọn cỏ. Bà Chủ Núi Đồng mỉm cười : - Đừng có tránh ra, hỡi người lính can đảm của ta. Trông chàng to lớn nhường ấy mà lại sợ những con thằn lằn của ta à ? Bà ta vỗ tay, các chú thằn lằn tản ra, nhường lối cho Stephan. Chàng trai đã tới gần bên Bà Chủ Núi Đồng, chàng dừng lại. Bà ta liền vỗ tay, nói : - Bây giờ anh không trốn đi được nữa. Cẩn thận kẻo dẫm chết những kẻ hầu cận của ta. Stephan cúi nhìn xuống, các chú thằn lằn bò quấn lấy chân anh, trông giống như những đường hoa văn trang trí sàn nhà. Stephan định thần nhìn lại – chao ôi, đó chính là những quặng đồng, toàn loại hảo hạng, sáng lấp lánh. Những đường hoa văn ấy như trong ảo mộng, đẹp như những đường vân đá khổng tước. - Thế nào, bây giờ anh đã nhận ra ta là ai chưa ? – Bà Chủ mỏ đá khổng tước, hay còn gọi là Bà Chủ Núi Đồng hỏi Stephan. Bà ta gật đầu nói : - Chàng không việc gì phải sợ ta, ta không làm hại chàng đâu . Chàng trai khổ tâm vì bị cô gái cười nhạo,lại còn nói những lời như vậy, chàng liền kêu lên : - Nếu tôi sợ ai thì tôi đã chẳng dám lên núi - Vậy thì tuyệt quá – Bà Chủ Núi Đồng nói – Ta đang cần người can đảm như vậy, một người không biết sợ ai. Sáng mai khi đi làm, chàng hãy nói với ông chủ của chàng rằng : Thưa ông chủ kính mến, Bà Chủ Núi Đồng ra lệnh cho ông – đồ con lừa – phải lập tức dọn dẹp núi Đồng đi. Nếu ông còn làm hỏng chiếc mũ sắt của Bà Chủ Núi Đồng Bà ta còn dặn thêm : - Chàng có hiểu không, Stephan ? Chàng đã nói chàng không sợ ai, vậy chàng hãy nói với ông chủ của chàng như ta dặn. Bây giờ chàng hãy về chỗ bạn chàng. Đừng có nói với ai về những gì chàng đã nghe và đã thấy ở đây Bà Chủ Núi Đồng vỗ tay, đàn thằn lằn biến mất. Bà ta đứng lên, đặt tay vào tảng đá, nhảy vọt lên, biến thành con thằn lằn : chân tay biến thành chân tay của thằn lằn, mọc thêm cái đuôi chỉ đầu là đầu người. Bà ta bò tới đỉnh núi còn quay đầu lại : - Hãy nhớ lấy những lời ta dặn, làm theo lời ta, ta sẽ lấy anh. Chàng trai trả lời : - Ai thèm lấy thằn lằn . Bà Chủ Núi Đồng quay lại nhìn Stephan, thấy chàng đang tức giận khạc nhổ, bà ta cười ha hả : - Thôi được, chúng ta sẽ nói chuyện ấy sau – biết đâu chẳng có lúc anh nghĩ lại ! Nói xong, bà ta bò lên đỉnh núi, chỉ còn nhìn thấy cái đuôi xanh ve vẩy, rồi biến mất. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Bà chủ Núi Đồng (tiếp theo) Paven Bazốp
Stephan còn lại một mình. Anh đánh thức người bạn dậy. Hai người cầm liềm đi cắt cỏ tới chiều
Về tới nhà, Stephan băn khoăn không biết mình phải làm gì bây giờ . Câu chuyện vừa xảy ra ở trong núi đối với anh giống như một giấc mơ. Nói với ông chủ những lời như Bà Chủ Núi Đồng dặn không phải là chuyện đùa – lôi thôi mất việc như chơi, mà không nói cũng sợ bà ta, vì bà ta là Bà Chủ Núi Đồng. Quặng có thể biến mất, và ngượng với bà ta là vì đã khoác lác là không sợ ai. Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, Stephan tự giễu mình : - Có thật hay không thì mình cứ thử làm theo lời bà ta dặn xem sao Sáng hôm sau, khi kẻng đi làm vang lên, mọi người tập trung trước cổng nhà máy chờ ông chủ tới cắt đặt công việc. Ông chủ tới, mọi người ngả mũ chào. Stephan bước lại trước mặt ông ta : - Thưa ông chủ kính mến, hôm qua tôi gặp Bà Chủ Núi Đồng, bà ấy nhờ tôi nhắn lại với ông rằng : ông hãy cho dọn dẹp bãi thải quặng đi, nếu ông làm gẫy chiếc mũ sắt của bà ta, thì bà ta sẽ hóa phép làm cho quặng đồng ở Gumexco biến mất, lúc đó không còn ai khai thác được quặng đồng ở đây nữa Ông chủ không tin vào tai mình nữa : - Này, mày nói gì thế hở Stephan. Mày có điên không mà dám nói những lời như thế với tao. Tao sẽ tống cổ mày lên núi cho chó sói ăn thịt. - Tùy ông, chẳng qua tôi chỉ nói lại lời nói của Bà Chủ Núi Đồng nhắn ông mà thôi - Hãy trói nó lại – Ông ta hét lên – Xích nó vào mỏ hoang trên núi để nó làm mồi cho chó sói, cho nó một bài học về sự vô lễ. Nó có chết cũng chẳng đáng thương Thế là chàng trai bị đưa lên núi. Stephan quan sát mỏ than đá, chó sói cũng chưa phải là điều tệ hại nhất, mỏ than này bỏ hoang đã lâu ngập đầy nước. Chúng trói chàng bằng sợi xích dài, nên chàng còn có thể xê xích được. Rõ ràng thời gian là một thành trì vững chãi. Mọi sự như chế giễu con người. Chàng ngắm kĩ hầm mỏ rồi nói : - Ăn không ngồi rồi ở đây chỉ là chuyện nhỏ, nhưng thật vô lý khi ta nhận được bài học như thế này. Stephan làm gì được ngoài việc ngắm nghía mỏ than. Bỗng nhiên như có ai đó dùng tay hạ nóc hầm bằng đá khổng tước xuống, nước rút khỏi hầm mỏ. Mỏ trở nên khô ráo. - Có thế chứ - Stephan nghĩ – Dù sao Bà Chủ Núi Đồng vẫn còn nhớ tới ta Chàng vừa nghĩ như vậy thì thấy Bà Chủ Núi Đồng hiện ra trước mặt - Chào chàng trai Stephan. Có thể ghi tên chàng vào sổ vàng danh dự, chàng đã không sợ đồ con lừa, đã nói với hắn đúng lời ta dạy. Nào mời chàng đi xem của hồi môn của ta Bà Chủ Núi Đồng tháo xích cho Stephan rồi đi trước, Stephan đi sau. Bà Chủ Núi Đồng đi tới đâu, cửa tự động mở ra tới đó. Mỗi bức tường ở các phông màu khác nhau, phông màu xanh lát cây, phông màu vàng óng ánh, trong phòng trang trí bằng những chùm hoa bằng đồng, bông màu xanh da trời, bông màu xanh lá cây. Áo của Bà Chủ Núi Đồng cũng đổi màu, khi thì sáng lấp lánh màu bạc, khi tỏa sáng rực rỡ như kim cương, khi biến thành màu xanh lông công Họ đi tới căn phòng hình bầu dục lớn, đồ đạc bày biện trong phòng sang trọng như ở trong cung của nữ hoàng. Tưởng là đá cẩm thạch khảm kim cương, trên trần treo một chùm bông bằng đồng - Xin mời chàng ngồi xuống đây Họ ngồi xuống ghế. Bà Chủ Núi Đồng hỏi : - Chàng đã nhìn thấy hết của hồi môn của thiếp chưa ? - Tôi đã nhìn thấy - Vậy chàng có muốn lấy thiếp làm vợ không ? Stephan không biết phải trả lời như thế nào. Chàng đã có vợ chưa cưới là Natasia. Nàng là một cô gái mồ côi, nàng rất tốt và thương chàng. Nhưng cũng khó mà cưỡng lại được vẻ đẹp quyến rũ của Bà Chủ Núi Đồng. Dù sao chàng Stephan cũng chỉ là một chàng trai như bao nhiêu chàng trai khác mà thôi. Chàng suy tính hồi lâu, cuối cùng chàng nói : - Của hồi môn của nàng sánh với các bậc vua chúa, nhưng tôi chỉ là một người thợ tầm thường - Anh tế nhị lắm. Hãy nói thẳng ra là anh không muốn lấy tôi có phải không ? Stephan trả lời : - Tôi không thể lấy nàng làm vợ, vì tôi dã có hứa hôn với nàng Natasia. Chàng trả lời xong, chờ đợi một cơn thịnh nộ, nhưng chàng không ngờ nàng lại vui vẻ trả lời : - Chàng là một con người chung thủy, đã không vì sự giàu sang của ta mà phản bội cô bé mồ côi đáng thương. Đây là quà tặng của ta cho vợ chưa cưới của chàng. Bà Chủ Núi Đồng trao cho chàng một chiếc tráp bằng đá khổng tước rất lớn, trong tráp chứa đầy nữ trang quý giá, vòng vàng, nhẫn kim cương. Ngay cả một vị hôn thê giàu có cũng không thể có được một món quà cưới quý giá như vậy. - Bây giờ làm sao tôi có thể lên tới mặt đất ? - Đừng lo, ta sẽ đưa chàng ra khỏi đây. Nhưng trước khi ra khỏi đây, chàng hãy nghe rõ lời ta, chàng sẽ sống sung sướng với vợ chàng với một điều kiện, chàng hãy quên ta đ, quên tất cả những gì mà chàng đã nghe thấy, đã nhìn thấy ở đây. Đó là điều thử thách cuối cùng của chàng. Bây giờ xin mời chàng ăn lót dạ. Bà Chủ Núi Đồng vỗ tay, đàn thằn lằn bò ra bày thức ăn ngon lành ra bàn |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Bà chủ Núi Đồng (tiếp theo) Paven Bazốp
Sau đó Bà Chủ Núi Đồng nói :
- Vĩnh biệt Stephan. Hãy quên ta đi. Nói rồi chính nàng lại khóc. Nàng giơ tay hứng những giọt nước mắt , nước mắt từng giọt từng giọt rơi xuống lòng bàn tay nàng, biến thành những đồng tiền vàng lấp lánh. Nàng đưa số tiền vàng đó cho chàng. Stephan cầm lấy, cúi chào nàng và hỏi : - Bây giờ tôi phải đi về hướng nào ? - Đừng lo, ta sẽ đưa chàng ra khỏi đây, nhưng hãy nhớ kỹ những lời ta dặn. Bà Chủ Núi Đồng giơ tay về phía trước, hiện ra một lối đi như đường hầm lò. Trong đường hầm sáng như ban ngày, Stephan theo đường đó lên tới mặt đất. Bọn thằn lằn quấn xích vào chân chàng như cũ. Cửa hầm khép lại sau lưng chàng, các chú thằn lằn biến mất. Chiếc tráp khổng tước và túi tiền vàng của Bà Chủ Núi Đồng tặng chàng biến thành nhỏ, chàng giấu chúng vào ngực áo Chẳng bao lâu, tên chủ mỏ tới, mỉa mai nhìn Stephan. Khi thấy trên đầu Stephan toàn bụi đá khổng tước hảo hạng, hắn sửng sốt : của quý này ở đâu ra nhỉ. Hắn sục sạo khắp tầng lò rồi nói : - Tầng lò này sụp hết rồi . Hắn chuyển Stephan sang hầm lò khác và cắt người cháu ở lại canh chừng chàng. Người cháu của hắn bản tính khác hẳn. Chàng ta đối xử với Stephan rất tốt, để mặc chàng muốn làm gì thì làm. Stephan lại lấy tay đào bới, dọn sạch đất đá, lớp đá khổng tước lại lộ ra. Tên giúp việc của chủ mỏ thấy thế vội về báo với chủ của hắn là Stephan đã bán linh hồn cho quỷ dữ Tên chủ mỏ nói : - Bán linh hồn cho quỷ hay không là việc của nó, còn chúng ta thì phải nhân việc này mà kiếm lợi về cho mình. Hãy bảo nó : ta sẽ thả nó ra nếu nó tìm được một tảng đá khổng tước nặng một trăm pút. Tên giúp việc của chủ mỏ sai tháo xiềng cho Stephan và ra lệnh cho chàng đi tìm đá khổng tước trên Núi Đồng. Hắn nói rõ đó là lệnh của ngài chủ mỏ. Hắn nói : - Ai biết được tại sao thằng ngốc đó lại ra một cái lệnh oái ăm như vậy. Biết đâu hắn nói lúc mất trí. Ở đây thì thậm chí đến quặng đồng cũng chẳng có, nói gì đến đá khổng tước Nhưng Stephan trả lời : - Tôi sẽ cố gắng đi tìm, bởi vì nếu tìm thấy đá khổng tước tức là tìm thấy hạnh phúc của tôi. Nhưng các ông đừng có quên lời đấy nhé Stephan đã tìm thấy một tảng đá như vậy. Anh mang nó tới cho chủ mỏ. Tên chủ mỏ rất tự hào về tảng đá đó, nhưng nuốt lời hứa, không chịu thả Stephan ra. Một tên quý tộc ở Pê-tec-bua nghe nói về tảng đá quý này, liền mò về. Hỏi thăm người dân địa phương, hắn biết Stephan là người đã tìm ra tảng đá đó. Hắn liền lân la tới gặp Stephan và dỗ dành chàng : - Này chú em – Hắn nói – Ta hứa danh dự với chú nếu chú tìm được cho ta một tảng đá có thể xẻ ra thành những phiến dài từ một thước trở lên, ta sẽ chuộc lại tự do cho chú Stephan trả lời : - Tôi đã bị người ta lừa một lần rồi. Tôi đã rút được kinh nghiệm. Bây giờ nếu ông muốn tôi tìm tảng đá đó cho ông, thì hãy viết trên giấy trắng mực đen lời cam kết trả lại tự do cho tôi khi tôi tìm thấy tảng đá khổng tước. Tôi sẽ đi tìm bằng được cho ông Tên quý tộc giận dữ giậm chân hét lên, nhưng Stephan vẫn thản nhiên nói tiếp : - Và đừng quên viết kèm lời cam kết phải tôn trọng tự do của vợ tôi. Nếu không thì chỉ là sự đổi chỗ giữa hai chúng tôi, tôi được tự do còn vợ tôi thì lại vào tù. Tên quý tộc hiểu rằng chàng trai không phải kẻ dễ bảo, hắn đành viết giấy cam đoan rồi đưa cho Stephan. - Đây, hãy nhìn xem ! – Hắn nói Stephan nói : - Tôi đi tìm đá quý cũng như đi tìm hạnh phúc của tôi. Tất nhiên Stephan đã tìm thấy tảng đá như tên quý tộc yêu cầu, vì chàng đã sục sạo khắp Núi Đồng và được sự giúp đỡ của Bà Chủ Núi Đồng. Người ta xẻ từ tảng đá đó những phiến đá dài, tên quý tộc dung những phiến đá đó để lát những bức tường trong lâu đài của hắn. Những phiến đá cẩm thạch đó vẫn còn trong thành phố của chúng ta đến tận bây giờ Từ ngày Stephan tìm thấy đá khổng tước, nhiều kẻ giàu có đổ xô tới Gumexco để tìm đá quý. Họ đào được nhiều đá màu lam, nhưng phần nhiều là đá giả. Chẳng thấy cung điện nguy nga đâu, mà chỉ thấy đất đá bị đào bới, những mạch nước ngầm tuôn trào mọi ngả. Bọn giàu có bị lỗ vốn to, cuối cùng phải bỏ cuộc. Nhiều kẻ bị nước lũ cuốn đi mất. Người ta còn nói rằng Bà Chủ Núi Đồng đã đốt cháy những tấm đá mà chúng đặt trong cung điện, chẳng để lại một chút gì. Chàng Stephan cũng không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống. Chàng đã lấy vợ và sống một cuộc đời giàu sang. Lẽ ra chàng phải vui sướng mới đúng, Natasia là một cô gái hiền dịu, nàng rất yêu chồng. Nhưng thật là bất hạnh cho Stephan cũng như cho vợ chàng, vì chàng không thể làm theo lời dặn của Bà Chủ Núi Đồng là hãy quên đi tất cả những gì có liên quan đến Bà Chủ Núi Đồng, Chàng buồn bã, phiền muộn, gầy sút hẳn đi, người chỉ còn da bọc xương. Chàng mua một khẩu súng săn và thường xuyên vào vùng Núi Đồng để săn bắn, nhưng chẳng bao giờ chàng mang được con thú nào về. Một hôm không thấy chàng đi săn về nữa, mọi người đổ xô đi tìm . Cuối cùng họ tìm thấy xác chàng ở mỏ quặng. Chàng nằm trên tảng đá cao, miệng mỉm cười, khẩu súng săn rơi bên cạnh, đạn vẫn chưa ra khỏi nòng. Người đầu tiên tìm thấy chàng kể lại rằng, khi anh ta chạy tới nơi thì thấy một con thằn lằn rất to, chưa bao giờ có con thằn lằn nào to như thế ở trên đời đang ngóc cao đầu lên nhìn chàng và khóc. Thấy động, thằn lằn bỏ đi mất. Moi người mang xác Stephan về nhà. Khi tắm rửa cho chàng, họ thấy tay chàng còn nắm chặt một viên ngọc xanh. Một ông già trong làng sành về các loại ngọc nhìn viên ngọc nói : - Đây là một viên ngọc bích rất quý. Natasia cô đã trở thành người giàu có nhât Vợ Stephan nói nàng chưa bao giờ nhìn thấy viên ngọc đó. Ngày cưới, chàng có tặng cho nàng một chiếc hộp đá đựng đầy trang sức, nhưng không có viên ngọc nào đẹp như viên ngọc này. Người ta lấy viên ngọc ra khỏi tay Stephan, đưa cho Natasia cất đi, rồi an táng chàng ở trên núi. Stephan đã mang theo bí mật về viên ngọc xuống mồ, vì vậy dân làng đào bới lung tung nhưng chẳng thấy gì. Sau này một người nào đó đã biết được rằng đó chính là nước mắt của Bà Chủ Núi Đồng. Stephan đã không nói với ai về Bà Chủ Núi Đồng. Ôi, Bà Chủ Núi Đồng ! Ai chẳng may trông thấy bà ta thì sẽ gặp phải điềm xấu hơn điềm lành. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Paven Bazốp
http://i793.photobucket.com/albums/y...akhongtuoc.jpg
2. Chiếc tráp bằng đá khổng tước Người dịch : Đoàn Ngọc Trinh Chắc các bạn còn nhớ khi Stephan sắp lấy vợ, Bà Chủ Núi Đồng có tặng cho chàng một chiếc tráp bằng đá khổng tước đựng đầy đồ trang sức quý giá, ngay đến vị hôn thê giàu có nhất cũng không dám mơ ước Natasia lớn lên trong cảnh mồ côi nên cũng không quen dùng đồ sang trọng. Chỉ khi nào đi lễ nhà thờ hay đi thăm họ hàng thì nàng mới đeo. Vậy mà những người phụ nữ trong làng vẫn còn xì xào bàn tán : - Kìa, nhìn xem, Stephan đã kiếm được ở đâu một nàng công chúa ra công chúa. Nghe những lời bàn tán đó, Stephan rất bực mình. Chàng không muốn vợ mình đeo những đồ trang sức đó nữa, liền bảo : - Mình hãy đem cất chiếc tráp đó xuống đáy hòm Đến khi Stephan mất, người ta thấy tay chàng cầm viên ngọc bích. Khi đó Natasia đem hộp nữ trang cho mọi người xem. Một ông lão trong làng rất sành về đồ trang sức đã bảo chị : - Chiếc tráp này đáng giá tiền nghìn. Natasia đem cất chiếc tráp vào chỗ cũ. Nhiều người hỏi Natasia làm vợ, nhưng người thiếu phụ đó không nhận lời ai, nàng ở vậy nuôi con. Stephan để lại cho vợ con một gia tài kha khá, một ngôi nhà khang trang, một đàn đầy ngựa, bò dê, cừu. Nhưng Natasia một mình nuôi con thật khó khăn. Một năm, hai năm, .... ba năm trôi qua, ... gia cảnh cứ sa sút dần, đàn gia súc cứ bán dần bán mòn, nhà cũng chẳng còn gì. Họ hàng khuyên Natasia bán hộp nữ trang đi. Nghe tin đó, nhiều lái buôn tới hỏi mua. Người trả một trăm, người trả hai trăm... Natasia vẫn nhớ lời người chồng quá cố dặn không bán chiếc tráp đá nên nàng còn do dự không muốn bán. Đứa con gái nhỏ nói : - Mẹ đừng bán kỷ vật của cha. Để con đi ở cho người ta Stephan mất đi để lại ba đứa con, hai trai một gái. Cô gái út làm cho mọi người phải sửng sốt trước sắc đẹp lạ lùng của nó. Không chỉ những người đàn bà ngồi lê đôi mách, mà ngay cả những người đàn ông cũng bảo Stephan : - Hai cha con giống nhau như hai giọt nước, tóc đen, mắt xanh. Con chúng tôi chẳng ai được như thế. Stephan nói đùa : - Chẳng có gì là lạ cả. Tóc đen vì cha nó từ nhỏ dã lăn lộn với đất. Mắt xanh vì tôi dã tìm thấy tảng đá xanh cho lão chủ mỏ. Đó là bản sao của tôi mà Từ đó Stephan gọi Tania là “Đài kỷ niệm của cha” và mỗi khi mua sắm cho Tania, chàng đều mua những thứ có màu xanh da trời, màu xanh lá cây. Tania càng lớn càng xinh đẹp. Thỉnh thoảng ngắm nhìn con, Natasia phải thốt lên : - Con gái ta đẹp thật. Dường như không phải con ta mà là ai đã đánh tráo con gái cho ta. Tania rất đau đớn trước cái chết của cha, người gầy rộc đi chỉ thấy hai con mắt. Để con đỡ buồn Natasia tính cho con gái chiếc tráp đá khổng tước. Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã thích làm dáng. Một điều kỳ diệu đã xảy ra khi cô bé chạm tay vào chiếc tráp : - Mẹ ơi, vật kỷ niệm của cha con quý giá biết bao ! Nó tỏa ra hơi ấm như con ngồi cạnh lò sưởi ấy mẹ ạ. Trong khi đó Natasia ngồi khâu quần áo hai tay tê cóng, hai tay đau buốt vì lạnh, má đỏ ửng. Nàng nghĩ như vậy thật không bình thường, vội cất chiếc tráp vào đáy hòm. Nhưng Tania lại đòi : - Mẹ ơi, lấy chiếc tráp đá cho con chơi đi Thương con, Natasia lại đưa chiếc tráp cho con chơi |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước (tiếp theo) Paven Bazốp
Sau này, khi Tania lớn lên, nàng thường tự lấy chiếc tráp đó ra ngắm nghía. Mỗi khi mẹ và các anh đi vắng, Tania thường xin phép ông chủ cho về trông nhà. Đầu tiên nàng phải lo dọn dẹp nhà cửa rửa thêm chén đĩa, giũ sạch khăn trải bàn, cho gà ăn. Nàng mong nhanh nhanh làm xong việc nhà để còn lấy chiếc tráp đá ra xem. Nàng lấy đồ trang sức trong tráp đá ra ướm thử vào người.
Một lần, khi Tania đang mải ngắm đồ trang sức thì có kẻ trộm vào nhà. Không ai biết hắn vào nhà bằng lối nào. Đã có ai nói với hắn về chiếc tráp đó, vì thế hôm nay hắn lẻn vào nhà để lấy trộm nó. Tania đang lấy vòng vàng nhẫn bạc ra đeo thì tên trộm lẻn vào. Tay hắn cầm chiếc rìu. Tania quay lại, thấy hắn đứng cạnh ổ rơm em sợ hãi ngồi im. Bỗng tên ăn trộm buông chiếc rìu hai tay ôm mặt kêu lên : - Trời ơi, mù mắt tôi rồi Mắt hắn nhắm chặt, hai thái dương giật giật Tania khó chịu nhìn người lạ mặt, hỏi : - Ông đến nhà tôi làm gì mà cầm cả rìu thế này Người lạ mặt rên rỉ vì đau. Tania thấy vậy đâm thương hại, em cầm chiếc gầu định đi lấy nước, nhưng hắn chặn cửa không cho em đi. Em đành trèo qua cửa sổ chạy sang nhà hàng xóm. Mọi người kéo sang nhà em, căn vặn tên trộm. Hắn nói : - Tôi là người qua đường, muốn vào nhà hỏi thăm, nhưng vừa bước vào nhà thì bị cái gì đâm vào mắt, nóng như tia mặt trời, mắt tôi bị mù vì bỏng Tania không hé răng gì về chiếc tráp đá và chiếc rìu.Vì vậy mọi người không tin lời kẻ lạ mặt. Họ nghĩ : - Chuyện hoang đường. Có thể cô bé quên đóng cửa, hắn đã lẻn vào nhà rồi không biết chuyện gì đã xảy ra với hắn. Họ giữ tên lạ mặt lại cho tới khi bà Natasia về. Khi Natasia về tới nhà, hắn cũng nói với bà như vậy. Bà Natasia kiểm tra thấy không mất mát thứ gì liền thả hắn đi. Mọi người trong xóm ai về nhà nấy Chờ cho mọi người về hết, Tania kể hết mọi việc cho mẹ nghe. Bà Natasia biết chiếc tráp đá đó không phải là chiếc tráp thường. Để tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra, bà cất kỹ chiếc tráp đó vào nhà kho dưới hầm nhà. Khi cả nhà đi vắng, Tania lại định lấy chiếc tráp xanh ra ngắm nghía, nhưng nàng không thấy. Tania rất buồn, thắc mắc mãi không biết mẹ cất chiếc tráp ở đâu hay đã bán mất rồi. Nàng tìm khắp nhà. Bỗng nhiên thấy dưới hầm nhà có ánh sáng hắt lên, nàng sợ hãi tưởng cháy nhà. Tania chạy lại nhìn vào kho chứa đồ, không thấy lửa và khói, chỉ thấy ở góc hầm nhà sáng bừng lên. Nàng chui vào kho chứa đồ, sung sướng nhận ra ánh sáng đó phát ra từ chiếc tráp đá. Tania không mang chiếc tráp đá đó lên nhà nữa mà trốn dưới hầm nhà chơi Trong khi đó bà Natasia vẫn đinh ninh chiếc tráp đã được giấu kỹ không ai hay biết. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước (tiếp theo) Paven Bazốp
Năm tháng trôi qua, các con đã lớn cả, hai người con trai đã đi làm, đã kiếm ra tiền giúp mẹ. Còn Tania do tình cờ mà học nghề thêu cườm.
Đó là một hôm, có một người đàn bà ngăm ngăm đen, vai đeo bị, tay chống gậy, đi đến nhà Natasia và nói : - Thưa bà chủ, bà có thể cho tôi ở trọ nhà bà ít bữa không ? Tôi mệt quá rồi, không thể đi xa hơn được nữa. Natasia nhìn người đàn bà đó nghi ngờ, không biết có phải vì chiếc tráp đá mà bà ta muốn nghỉ lại nhà mình không. Nhưng Natasia vẫn bảo : - Tôi không tiếc bà chỗ nghỉ. Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy. Nhưng nhà tôi nghèo, chẳng có giường chiếu gì cả, sáng ăn kê, uống nước kơ-vát, chiều lại nước kơ–vát với bánh kê. Quanh năm chỉ có vậy. Nếu bà không ngán thì bà có thể ở lại bao lâu cũng được Người đàn bà đi vào trong nhà, bà bỏ bị xuống rồi lấy đồ khâu ra thêu. Natasia không thích cử chỉ đó của bà ta. Natasia nghĩ : thật là con người bất lịch sự, không kịp chào hỏi ai đã giở đồ may ra Người đàn bà đó nói với Tania : - Cháu có muốn học thêu không Tania lại gần bà ta. Người đàn bà đưa cho Tania một chiếc khung thêu, ngôi nhà tự nhiên trở nên ấm áp hơn và sáng sủa hẳn ra. Tania thích thú nhìn không chớp mắt những đường thêu kì diệu, còn người đàn bà mỉm cười nói : - Thế nào, con có muốn học không ? Tania trả lời : - Cháu muốn học lắm ạ. Natasia không bằng lòng nói : - Chúng tôi không đủ tiền mua muối nói gì đến thêu thùa. Tôi không có tiền trả tiền công dạy cho bà đâu - Cứ yên trí, bà chủ ạ, tôi không lấy tiền công đâu. Nghề thêu không phải là nghề vô dụng, bà cứ để cho cháu nó học rồi bà sẽ thấy những người thợ thêu chúng tôi cũng kiếm được khá tiền - Vậy bà dạy cho cháu biết nghề, tôi xin cảm ơn bà Người đàn bà bắt đầu dạy Tania học thêu. Cô bé nhanh chóng nắm được bí quyết của nghề thêu cườm. Tania ngày càng quyến luyến người đàn bà đó. Cô đối với mẹ và những người khác trong gia đình rất hay gắt gỏng, nhưng đối với người đàn bà xa lạ này lại đặc biệt dịu dàng, điều đó đã xúc phạm đến tình cảm của người mẹ. Bà Natasia vô cùng buồn rầu, vì bà đã hy sinh cả cuộc đời hạnh phúc của tuổi thanh xuân cho con cái. Bà buồn rầu nghĩ : “Nó tìm được một người mẹ mới rồi đấy! Đối với người mẹ rứt ruột đẻ ra nó, đã cho nó cả cuộc dời thì hễ trái ý nó một chút là nó gắt, nói với mẹ độc trống không như sai phái người ở, mà đối với người xa lạ ấy lại thật dịu dàng quấn quýt. ” Dường như trêu tức Natasia người đàn bà đó còn một điều “con gái của mẹ”, hai điều “con gái của mẹ”, chứ không thèm gọi tên thánh của Tania Tania biết mẹ giận, nhưng cô bé lại khong biết che giấu tình cảm của mình. Bà Natasia vì buồn rầu mà gầy sút đi, nhưng chỉ biết nhẫn nhục cam chịu số phận không may của mình : - Người đời là vậy, biết làm sao bây giờ ! Tania còn nói lộ cho người đàn bà kia biết về chiếc tráp đá của cha. - Nhà con có một kỷ vật rất quý của cha con để lại – đó là chiếc tráp bằng đá khổng tước rất đẹp, con có thể suốt đời nhìn ngắm nó mà không chán mắt - Có thể cho mẹ xem được không ? - Để khi nào cả nhà đi vắng, con sẽ cho mẹ xem. Một hôm cả nhà đi vắng, Tania đưa người đàn bà xuống hầm nhà, lấy chiếc tráp đá ra cho bà ta xem. Người đàn bà đó xem qua rồi nói : - Đẹp lắm, con đeo vào cho mẹ xem rõ hơn Tania chỉ chờ có vậy, nàng lấy đồ trang sức đeo vào. Bà ta khen nức nở : - Đẹp tuyệt, chỉ cần sửa lại chút xíu nữa thôi! Người đàn bà chạm ngón tay vào chiếc tráp, lập tức chiếc tráp đó lóe lên những tia sáng kỳ lạ, bao phủ kín lấy Tania, làm cô bé lúc ẩn lúc hiện. Sau đó bà ta bảo Tania : - Con hãy đứng dậy đi ! Tania đứng dậy, còn người đàn bà đó im lặng vuốt ve mái tóc, bờ vai và khắp người Tania rồi nói : - Con hãy quay lại sau, nhìn thẳng về phía trước, im lặng đừng nói gì cả Tania quay lại. Trước mặt nàng hiện ra một tòa cung điện nguy nga, trần nhà, tường nhà sàn nhà đều lát đá khổng tước. Trước mặt Tania như có tấm gương, một cô thiếu nữ xinh đẹp đứng trước mặt nàng. Chỉ có trong truyện cổ tích mới có người con gái đẹp đến như vậy.Tóc nàng đen như đêm tối, mắt nàng xanh màu ngọc bích, khắp người nàng trang điểm bằng ngọc quý. Lẽ ra người con gái của một người thợ phải xấu hổ trước mọi người vì đã ăn mặc sang trọng như một công chúa mới phải, nhưng cô gái mắt xanh này vẫn bình thản như đương nhiên nàng phải ăn mặc như vậy. Trong cung điện đầy người, họ ăn mặc rất sang trọng, ngay đến người hầu của họ cũng đeo vàng bạc quanh mình. Ở đó dường như tập trung tất cả giới thượng lưu. Các bà cũng đeo găng trắng, cũng đeo đồ trang sức bằng đá quý, nhưng so với cô gái mắt xanh thì họ chỉ đáng xách dép cho nàng. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước (tiếp theo) Paven Bazốp
Cạnh cô gái mắt xanh là một chàng quý tộc, tóc bạch kim, tai dài như tai thỏ. Chàng ta ăn mặc sang trọng, khắp người đầy là đá quý, trông cũng biết ngay là ông chủ mỏ. Người tóc bạch kim nói gì đó với cô gái mắt xanh, nhưng nàng chẳng buồn đưa mắt nhìn chàng nữa, coi như không có mặt chàng trên đời.
Tania nhìn chàng tóc bạch kim nói : - Trông ông ta như ngập trong đống đá Còn người đàn bà nói : - Thôi đủ rồi, con đừng nhìn nữa. Tất nhiên Tania hỏi : - Tòa nhà đó ở đâu hả mẹ ? Còn cô gái mắt xanh và chàng trai tóc bạch kim là ai ? - Tòa nhà đó chính là cung điện của Sa hoàng. Cha con đã tìm đá về lát cung điện. Còn cô gái mắt xanh và chàng trai tóc bạch kim là ai thì sau này con sẽ rõ. Ngay trong ngày hôm đó, người đàn bà thợ thêu từ biệt Natasia lên đường. Bà ta cúi đầu thật thấp chào chủ nhà, đưa cho Tania chiếc túi thêu hạt cườm và một chiếc khuya thủy tinh rồi nói : - Con hãy cầm lấy làm kỷ niệm. Khi nào gặp khó khăn trong cuộc đời, con hãy nhìn vào chiếc khuy, nó sẽ trả lời con. Bà ta nói xong rồi đi. Mọi người tiễn chân nhìn theo. Từ đó Tania trở thành cô thợ thêu. Nàng vốn là một cô gái xinh đẹp, nhiều chàng trai quanh vùng thầm yêu Tania, nhưng họ chỉ dám đứng dưới cửa sổ nhà nàng, ngắm nàng ngồi thêu chứ không dám lại gần. Bởi vì trong con mắt của dân làng, Tania là một cô gái khó gần không vui vẻ. Họ cho rằng cái chết thảm thương của cha nàng đã làm cho nàng thành một cô gái cau có. Mọi người thường hỏi không biết trái tim nàng có chỗ nào để cho tình yêu lọt vào được không ? Ai sẽ lọt được vào mắt xanh của nàng. Nhà của ngài quý tộc trong vùng cũng thường gửi đồ tới thuê Tania thêu. Một người hầu trẻ ăn mặc sang trọng như ông chủ thường mượn cớ vì một việc gì đó để đến nhà Tania. Hắn ta ngồi hàng giờ ở nhà nàng. Dân làng nghĩ có lẽ cô gái sẽ bị hắn chinh phục chăng. Mọi người xì xào bàn tán. Tania chỉ nói với hắn những gì liên quan đến công việc, ngoài ra chẳng chú ý gì đến hắn cả, mặc cho hắn tán hươu tán vượn. Cô chán ngấy : - Hãy thử xem, hỡi con người lịch thiệp, hãy đợi đấy. Chỉ sợ rồi tôi cũng lại được đối xử như cái đồng hồ chết của các ngài mà thôi Chàng trai hầu bảnh trai đó cùng các chàng trai quý tộc khác nghe những lời như thế đều rất tức tối. Bọn họ tru lên như chó sủa : - Chẳng lẽ đó là một cô gái ? Chúng ta mà lại thèm tìm một cô gái như vậy à ? Nói vậy nhưng chính họ lại vẫn không thể quên được vẻ đẹp của Tania. Họ vẫn đi qua nhà nàng mặc dù chỉ để ngắm nhìn nàng qua cửa sổ. Ngày lễ hầu như tất cả các chàng trai đều tụ tập đi lại trên con đường nhỏ chạy qua cửa sổ nhà Tania. còn Tania chẳng buồn đoái hoài gì tới họ. Láng giềng bắt đầu trách Natasia : - Sao Tania nhà bà lại làm cao vậy ? Chẳng thèm để mắt tới các chàng trai của chúng tôi nữa, hay còn chờ đợi một chàng hoàng tử nào đó ? Sợ rồi già kén kẹn hom thôi. Natasia nghe những lời trách cứ đó chỉ thở dài : - Ôi, tôi cũng chẳng biết phải làm sao với nó nữa. Con tôi quả có xinh đẹp hơn người thật, nhiều chàng trai tuấn tú đã tới chơi, họ nói chuyện, còn nó thì cứ nhìn vào cái khuy áo và im lặng. Dường như nó nhifnt hấy con mắt xanh ấy trả lời thế nào đó, còn tôi nhìn vào thì chẳng thấy nó có gì khác chiếc khuy bình thường. Chính cái con mụ phù thủy mà tôi cho ở nhờ đã biến nó thành như vậy. Ôi rồi nó cũng đến trở thành bà cô thôi. Tôi cứ nghĩ đến đó mà bực cả mình. Mắng nó thì nó lại bảo : “Con biết làm sao bây giờ. Số phận của con không phải ở đây, con không thể nhận lời cầu hôn của ai cả. Con ngồi cạnh cửa sổ vì công việc của con đòi hỏi như vậy, còn họ cứ đi qua cửa sổ nhà mình là quyền của họ. Con có làm điều gì xấu đâu.” Vậy các bà bảo tôi còn biết nói làm sao với nó nữa nữa ? Có phải nó kén chồng đâu, là cái khuy ma quái đó kén chồng cho nó đấy chứ. Tuy vậy cuộc sống của của gia đình bà Natasia vẫn êm ấm. Hàng thêu của Tania bán rất chạy, không chỉ ở trong làng mà các nơi khác cũng biết tiếng. Nhiều nhà quý tộc ở nơi khác cũng tới nhà Tania dặt mau hàng thêu của nàng. Gia đình Tania trở nên sung túc. Nhưng rồi nỗi bất hạnh lại ập đến với họ. Một hôm nhà của Tania bị cháy, gia sản của nhà nàng bị cháy hết trong vụ hỏa hoạn, chỉ còn lại chiếc tráp đá mà thôi. Natasia bảo các con : - Gia đình ta trên bờ vực thẳm rồi, đành phải bán chiếc tráp đá đi vậy Các con trai của bà cũng nói : - Mẹ bán đi mẹ ạ, chỉ cần đừng bán rẻ quá. Tania nhìn vào chiếc khuy, con mắt xanh nhấp nháy, như bảo hãy để mẹ bán đi. Đằng nào cũng phải để mẹ bán kỷ vật của cha, Tania thở dài nói : - Bán thì bán – Nàng chẳng buồn nhìn chiếc tráp lần cuối để tạm biệt nó - Nhà bên cạnh có người thương gia ở trọ đấy – Nàng nói tiếp Cả nhà quyết định phải bán chiếc tráp đá quý. |
Các nhà buôn ngọc đổ xô tới nhà Tania. Họ ngắm nghía, xem xét kỹ càng cò kè bớt một thêm hai, người trả năm trăm, người trả bảy trăm, có kẻ trả tới một nghìn. Những người trong nhà máy cũng không thiếu tiền. Họ cũng muốn sắm sửa nhiều, nhưng bà Natasia nhất định đòi đủ hai ngàn mới bán. Người mua vẫn ùn ùn kéo tới nhà bà Natasia . Người mua muốn bớt chút ít, kẻ bán lại muốn bán đắt một chút, rốt cuộc chẳng ai thuyết phục được ai. Những người mua cứ lần lượt bỏ đi. Cứ như vậy cho tới khi có một một người đốc công mới tới nhà máy
Ngài đốc công mới này đã từng du học ở nước ngoài. Ngài nói tiếng ngoại quốc thì thạo, nhưng tiếng Nga lại rất tồi. Ngài ta thường nói “ cút đi” thành “ cát đi”. Vì vậy dân làng gọi ngài là ngài Cát – đi. Tuy nói “cút đi” nhưng ngài ta không đuổi ai cả. Cha của ngài đốc công – một quý tộc già đã bị liệt toàn thân, chân tay hoàn toàn không cử động được nữa. Ông ta mong con trai sẽ kết hôn với một nàng bá tước hay một công tước. Nhưng số phận trớ trêu, con ông lại yêu một cô gái nhạc công. Ông đã nhiều lần ngăn cấm nhưng không ăn thua gì, con trai ông rất chung thủy với cô ta. Cuối cùn ông đành đồng ý cho con trai mình muốn làm gì thì làm. Những người bạn của cô nhạc công thường bảo nàng : - Chị sẽ ra sao sau khi lấy chồng. Theo chồng về cái chốn khỉ ho cò gáy đó thì tài năng của chị cũng sẽ một sớm một chiều mai một mà thôi. Bởi thế nàng dao động, khi thì cãi nhau với chồng chưa cưới, khi thì lại tỏ ra âu yếm. Chỉ có ngài quý tộc già là ranh mãnh. Dần dần ông ta cũng thuyết phục được cô con dâu tương lai. Thế là đám cưới được cử hành, đôi trẻ trở về Pô – lê – va . Vi vậy Cát- đi xuất hiện ở nhà máy. Nhưng Cát đi sống ở đây chẳng được bao lâu. Chàng ta biến đi đột ngột cũng như khi xuất hiện. Đó không phải là một người xấu. Mọi người trong nhà máy cảm thấy tiếc con người đó. Cát- đi và vợ tới nhà bà Natasia hỏi mua chiếc tráp đá. Cô vợ mê ngay chiếc tráp. Cô ta lớn lên ở Petecbua, đã sống nhiều năm ở nước ngoài, nên rất sành sỏi về các loại trang sức. Vậy mà cô ta cũng phải ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc tráp đá. Cô ta nhủ thầm “Cái gì thế này. Đến công chúa cũng chẳng thể có được những đồ trang sức đẹp như vậy. Vậy mà ở cái chốn khỉ ho cò gáy này lại có được ?” - Bà bán bao nhiêu ? Natasia trả lời : - Đúng hai nghìn. - Vậy bà hãy mang tới nhà tôi rồi lấy tiền ở đó. Natasia không bằng lòng, bà nói : - Hãy mang đủ tiền tới đây, bà sẽ nhận được chiếc tráp Vợ Cát- đi nhìn bà Natasia thấy không thể bắt bà ta làm theo ý mình được, đành nói : - Thôi được, nhưng xin bà đừng có bán chiếc tráp ấy cho ai, tôi sẽ về lấy tiền trả. Bà Natasia trả lời : - Điều ấy có thể được. Tôi không quen nuốt lời hứa của mình. Tôi sẽ chờ bà tới chiều, còn lâu hơn nữa thì tôi không dám hứa. Vợ Cát- đi về nhà lấy tiền. Cô ta vừa đi khỏi thì lại có vài người tới hỏi mua chiếc tráp. - Nghe nói bà có chiếc tráp đá khổng tước muốn bán ? - Tôi bán rồi - Bà bán cho người ta bao nhiêu ? - Hai ngàn, vẫn giá mà tôi đã nói với các ông thôi - Bà điên rồi sao. Sao bà không bán cho người mình, mà lại bán cho người lạ ? Thôi để lại cho chúng tôi đi. Chúng tôi trả thêm cho bà Nhưng bà Natasia trả lời : - Không được, tôi đã hứa bán nó cho người ta rồi. Thấy lợi mà quên cả danh dự là việc mà các ông quen làm, chứ tôi không phải hạng người đó . Thôi các ông đi đi. Tôi không muốn mặc cả mặc lẽ gì nữa. Vợ Cát đi đã mang tiền đến, đếm đủ hai ngàn trao cho bà Natasia rồi cầm lấy chiếc tráp bằng đá khổng tước, nhưng vừa ra khỏi cổng thì gặp Tania. Nàng vừa đi đâu về. Cuộc trao đổi mua bán đã diễn ra khi không có Tania. Khi thấy vợ Cát- đi cầm chiếc tráp đá đi ra, nàng cứ nhìn chằm chằm. Vợ Cát đi bắt gặp cái nhìn kỳ lạ ấy, ngạc nhiên hỏi : - Ai đây ? Chiếc tráp đá này là của bà hay của cô ta ? - Đó là người mà mọi người vẫn quen gọi là con gái tôi – Bà Natasia trả lời – Đó là người thừa kế của chiếc tráp đá đó. Nếu như chúng tôi không bị cháy nhà thì không bao giờ chúng tôi phải bán vật kỷ niệm thiêng liêng mà cha nó đã để lại. Từ nhỏ con gái tôi đã thích chơi những đồ trang sức đựng trong chiếc tráp đó. Nó say mê đến mức đã có lần khen ngợi chiếc tráp đó tỏa ra hơi ấm sưởi cho nó trong những ngày mùa đông rét buốt. Bà đã bao giờ nghe thấy chuyện kỳ lạ như vậy chưa. Vợ Cát đi nhủ thầm : “Cô gái mắt xanh đã không biết trong tay mình từng có một kho báu quý giá như thế nào. Những đồ trang sức như thế mà trưng ra ở kinh đô thì đến công chúa cũng phải ngoái đầu lại nhìn. Mình sẽ là con ngốc nếu không phát hiện ra chúng ở Tu-tran-nhi này” Họ chia tay nhau. Vợ Cát- đi vừa về đến nhà đã liến láu nói : - Bây giờ, thưa người bạn lịch sự của tôi ạ, tôi sẽ chia tay với anh. Ở Tu – tran – nhi này chẳng còn hy vọng thấy điều gì mới mẻ nữa. Chúng ta chia tay nhau từ đây. Tôi sẽ đi Petecbua hoặc là ra nước ngoài. Tôi sẽ bán chiếc tráp này và ở đó những người chồng như anh tôi có thể kiếm được hàng tá, nếu như tôi muốn. Tuy nói vậy nhưng cô ta cũng chưa vội ra đi mà chạy lại trước gương để thử các món đồ trang sức. Ôi, đàn bà muôn thuở vẫn là đàn bà. Việc đầu tiên của Cát- đi phu nhân là đeo chiếc vương miện lên mái tóc. Nhưng sao thế này. Chiếc vương miện cuốn các sợi tóc lại đau nhức không thể chịu được. Cô ta đành tháo ra, đeo thử chiếc vòng bạc thì chiếc vòng siết chặt lấy cổ tay, chút nữa không tháo ra được. Ngài Cát- đi mỉa mai : - Tưởng gì ghê gớm lắm. Chưa gì đã vội lên mặt với chồng Cô vợ Cát- đi nghĩ : “Phải ra thành phố sửa lại cho vừa với mình” Nói là làm, sáng sớm hôm sau vợ Cát- đi tới ngay nhà người thợ kim hoàn nổi tiếng ở gần nhà máy. Đó là một người thợ già rất giỏi. Ông ta hỏi vợ Cát đi đã mua chiếc tráp đá này của ai. Vợ Cát- đi kể lại những gì mà cô ta biết. Người thợ già nhìn chiếc tráp một lần nữa rồi từ chối : - Mặc dù tôi có thể sửa lại cho vừa ý bà, nhưng tôi không dám làm. Tất nhiên vợ Cát- đi không thể hiểu được tại sao người thợ già không chịu làm dù cô ta đã hứa sẽ trả công rất hậu. Vợ Cát đi chạy khắp nơi, nhưng ai cũng chỉ say mê ngắm chiếc tráp đá. Nhiều người thậm chỉ chẳng buồn mở chiếc tráp ra xem mà đã từ chối lời yêu cầu của cô ta. Vợ Cát- đi liền ranh mãnh nghĩ ra kế đánh lừa người thợ bạc. Cô ta bảo rằng mình đã mang chiếc tráp này về từ Pêtecbua. Người thợ cười nói : - Tôi biết chiếc tráp này bà đã mua từ đâu. Câu chuyện bi thảm về chiếc tráp đá này đã lan truyên trong đám thợ chạm khắc đá chúng tôi. Một người thợ đã chạm khắc đá quý cho một người nào đó, thì người thợ khác không bao giờ làm lại. Vợ Cát-đi không thể hiểu hết sự tình, nhưng cô ta lờ mờ cảm thấy hình như họ sợ một người thợ nào đó. Cô ta chợt nhớ người chủ chiếc tráp đã nói con gái bà ta rất thích đeo những đồ trang sức trong tráp, dường như chúng làm riêng cho con gái bà ta mà thôi. Như thế thì thật là bất hạnh cho mình, tốn tiền vô ích. - Thôi ta sẽ tìm cách bán quách chiếc tráp này cho một đứa ngốc nghếch nào đó để lấy lại tiền Nghĩ vậy, vợ Cát-đi liền trở về Pô - lô - va Về tới Pô-lô-va cô ta hay tin cha chồng đã qua đời. Còn Cát-đi nhận được một bức thư : “Em thân yêu, đã bao nhiêu thời gian trôi qua kể từ ngày em ra đi ...” |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước (tiếp theo) Paven Bazốp
Từ ngày vợ bỏ đi, Cát- đi trở nên buồn rầu, suốt ngày say sưa rượu chè với những người làm công. Tất nhiên những người làm công đó ra sức chuốc rượu cho ông chủ. Một lần, trong khi Cát- đi uống rượu ngà ngà say có một người nói :
- Trong nhà máy chúng ta có một cô gái đẹp tuyệt vời, trên đời này không thể tìm thấy một cô gái thứ hai như vậy Cát- đi hỏi : - Ai vậy ? Nàng là con cái nhà ai nhà ở đâu ? Mọi người cho Cát- đi biết dó chính là người con gái ở nhà vợ Cát- đi mua tráp ngọc. Cát- đi nói : - Giá như được nhìn thấy cô ta một chút nhỉ. Có thể mượn cớ gì để tới thăm nàng được không ? - Chúng ta có thể đi ngay bây giờ. Họ vừa xây xong nhà mới. Tuy họ là những người tự do, nhưng nhà của họ cất trên vùng đất của nhà máy, nên có thể mượn cớ đi qua tiện thể vào thăm họ. Ba người làm công cùng đi với Cát- đi tới nhà Tania. Họ hồi hộp không biết bà Natasia có nhà hay không ? Không biết bà sẽ đón tiếp những người khách lạ đường đột tới thăm như thế nào. ? Cuối cùng họ cũng tìm đến nơi. Tania ở nhà một mình, nàng đang ngồi thêu. Cát- đi nhìn Tania mà chẳng biết nói gì. Chàng ta chưa bao giờ nhìn thấy một vẻ đẹp như vậy nên cứ đứng ngây ra, còn Tania thì vẫn bình thản ngồi thêu, như chẳng có việc gì liên quan đến nàng. Mãi sau Cát- đi mới nói : - Nàng đang làm gì đấy ? Tania trả lời : - Tôi đang thêu hàng cho người ta. - Vậy tôi có thể đặt nàng cho tôi một cái gì đó không ? - Tại sao lại không được. Miễn là giá cả phải chăng - Nàng có thể thêu cho tôi bức chân dung của nàng được không ? Tania nhìn vào chiếc khuy, con mắt xanh nhấp nháy tỏ vẻ đồng ý : “Hãy nhận lời đi” Tania trả lời : - Tôi sẽ không thêu chân dung của tôi mà sẽ thêu chân dung một cô gái ăn mặc như công chúa, trang điểm bằng những đồ trang sức quý giá. Chỉ cần ông trả giá cho phải. - Về giá cả, nàng khỏi lo – Cát- đi trả lời – Cho dù một trăm hay hai trăm đồng tiền vàng ta cũng vui lòng trả cho nàng, chỉ cần khuôn mặt của cô gái đó phải là khuôn mặt thiên thần của nàng là được - Khuôn mặt nhất định giống, nhưng ăn mặc thì khác. Họ ngã giá một trăm đồng tiền vàng, thời hạn giao hàng là một tháng. Nhưng Cát- đi vẫn dùng dằng không chịu đi. Chàng ta như bị mất hồn, ăn nói chẳng ra đâu vào đâu. Tania vẫn làm như chẳng nhận thấy gì, nói vài ba câu chuyện cho qua chuyện. Ba người đi theo Cá-t đi lén nghe chuyện của hai người, họ chê cười ông chủ : - Người chi mà vụng về như vậy. Bọn ta phủi sạch giày theo ông chủ đi hỏi vợ cũng vô ích thôi. Một tháng trôi qua, tới ngày hẹn, Cát- đi tới nhà Tania, nàng đưa bức chân dung ra. Cát- đi sửng sốt nhận ra đó chính là Tania đẹp lộng lẫy trong bộ y phục công chúa, trang điểm bằng ngọc bích. Màu xanh lam của đá khổng tước làm cho mắt nàng càng thêm long lanh. Cát- đi ngây ngất trước bức tranh. Chàng ta đưa cho Tania ba trăm đồng tiền vàng, nhưng nàng chỉ nhận hai trăm và nói : - Tôi không lấy đắt của ông làm gì, tôi sống bằng sức lao động của tôi. Cát- đi về nhà, giấu vợ bức chân dung đó. Từ đó, Cát -đi cũng bớt uống rượu hơn, và chăm chú tới công việc của nhà máy hơn. Mùa xuân năm đó có một chàng quý tộc trẻ đẹp trai tới nhà máy. Dân trong vùng tổ chức lễ tạ ơn, sau đó tới quán uống rượu, khiêu vũ. Dấn chúng nâng cốc để tưởng nhớ ngài quý tộc già, chúc mừng ngài quý tộc trẻ. Họ uống tới đồng kopec cuối cùng. Sáng hôm sau đi làm, chiều về họ lại tới quán say sưa. Họ đi thuyền trên sông, cưỡi ngựa vào rừng, khắp nơi tưng bừng tiếng nhạc. Cát đi chè chén suốt ngày. Bồi bàn đặt trươcs mặt chàng ta con gà quay ngon nhất nhưng chàng từ chối. Mọi người ra sức phục vụ ngài quý tộc mới đến Cát đi dù say sưa nhưng không hề bỏ qua bất kỳ chuyện gì xảy ra trong mấy ngày lễ. Một lần chàng ta kêu to lên giữa bàn tiệc : - Tôi biết ngài quý tộc Tu-tra-nhi-nốp muốn đoạt vợ của tôi. Nhưng chẳng cần. Hãy mang cô ta đi. Tôi đã có người khác rồi, hãy nhìn xem. – Cát- đi rút trong túi ra bức chân dung thêu. Mọi người thở dài, còn Cát- đi phu nhân không thể mở miệng nói bất kỳ câu gì. Chàng quý tộc Tu-tra-nhi-nốp tò mò nhìn bức chân dung, hỏi : - Đây là ai ? Cát- đi trả lời : - Có chất đầy vàng ngay trên mặt bàn này tôi cũng không trả lời Nhưng những người trong nhà máy biết ngay đó là Tania. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước (tiếp theo và hết) Paven Bazốp
Mọi người giải thích cho Tu-tra-nhi-nốp. Còn Cát đi phu nhân tức giận giậm chân nói :
- Anh là loại người gì vậy ? Đứa con gái làm công lấy đâu ra những đồ trang sức bằng ngọc và quần áo sang trọng như một nàng công chúa như vậy. Còn bức chân dung này anh đã mang ở nước ngòai về, trước hôm cưới anh còn đưa cho tôi xem. Bây giờ lại còn đơm đặt bịa chuyện làm gì . Cát- đi hằn học nhìn vợ : - Đồ điêu ngoa. Chính cô mới là người bịa chuyện, vất cái danh dự quý tộc xuống chân. Tôi đã cho cô xem bức tranh này hồi nào. Tôi đã đặt thêu bức chân dung đó ở ngay đây. Đó chính là cô gái mà mọi người vừa nói đến. Tôi không biết cô ta lấy đâu ra bộ quần áo công chúa, còn những đồ trang sức mà cô ấy đeo chính là trong chiếc tráp ngọc mà cô đã bỏ ra hai ngàn rúp để mua nhưng lại không đeo vừa. Điều đó cả nhà máy này đều biết Chàng quý tộc vừa nghe tới ngọc đã vội hỏi : - Hãy cho tôi xem chiếc tráp đó. Đó là một chàng quý tộc được thừa hưởng một gia tài rất lớn, nghe đâu có bán ngọc là chàng ta liền tới xem xét, nếu là ngọc tốt lập tức bỏ tiền ra mua. Cát đi phu nhân nhìn mọi người rồi cô ta mang chiếc tráp ra. Chàng quý tộc nhìn chiếc tráp hỏi ngay : - Bao nhiêu ? Trong giây lát họ đã thỏa thuận xon giá cả và làm giấy bán cho Tu-tra-nhi-nốp. Chàng ta đặt chiếc tráp trên bàn và sai người đi gọi Tania. Tania chẳng hiểu chuyện gì cả, tưởng người ta cho gọi tới để đặt hàng, nên nàng tới ngay. Tania vừa bước vào phòng thì nhìn thấy chàng quý tộc tai thỏ, giống như chàng quý tộc mà nàng đã nhìn thấy ở tòa lâu đài mà người dạy thêu cho nàng đã chỉ cho nàng xem. Trước mặt chàng ta là chiếc tráp đá của cha nàng. Tania hỏi : - Ngài gọi tôi tới có việc gì ? Tu-tra-nhi-nốp ngây ngất trước sắc đẹp của nàng nên không thể trả lời ngay, mãi sau mới nói được : - Chiếc tráp này của nàng phải không ? - Vâng, trước đây đã có một thời gian nó là của tôi, còn bây giờ tôi đã bán cho người khác rồi. - Bây giờ nó sẽ là của nàng . – Chàng quý tộc nói - Sao ông lại nói vậy ? - Nếu như tôi muốn tặng lại nó cho nàng ? - Vì sao ông lại muốn tặng lại nó cho tôi ? - Nào bây giờ nàng có thể đeo thử lên người cho tôi xem một chút được không ? - Điều ấy thì tôi có thể làm được . Tania cầm lấy chiếc tráp, lấy đồ trang sức ra đeo. Việc đó là một việc hết sức quen thuộc đối với nàng. Chàng quý tộc chỉ còn biết đứng ngây ra nhìn nàng, không thốt lên được lời nào. Tania lộng lẫy hỏi : - Thế nào ? Tôi có thể về được chưa ? Tôi còn bao nhiêu công việc ở nhà. Tu-tra-nhi-nốp hỏi : - Nàng có đồng ý làm vợ tôi không ? Tania cười mỉa mai : - Chỉ có các ngài quý tộc mới ăn nói như vậy . Nàng cởi bỏ đồ trang sức rồi đi về. Nhưng ngay ngày hôm sau, chàng quý tộc lại tới nói với bà Natasia hãy gả con gái cho mình. Natasia trả lời : - Hãy hỏi ý nó, nhưng theo tôi chắc nó chẳng lấy ông đâu. Tania nghe lời cầu hôn của chàgn quý tộc trẻ liền nói : - Tôi nghe nói trong hoàng cung có căn phòng khảm toàn bằng đá khổng tước. Nếu ông tặng tôi căn phòng đó tôi sẽ lấy ông Chàng quý tộc bằng lòng ngay. Chàng ta chuẩn bị lên đường về Petecbua, và muốn mang Tania đi theo, nhưng Tania nói : - Theo tục của chúng tôi thì chỉ có những cặp vợ chồng sắp cưới mới cưỡi ngựa đi bên nhau, mà chúng ta chưa phải như vậy. Điều ấy để cho sau này, khi nào ông thực hiện được lời hứa của mình. Chàng quý tộc chẳng buồn nhìn tới vợ Cát- đi, đi thẳng về Petecbua. Chàng ta lùng khắp thành phố để mua ngọc cho vợ chưa cưới. Chàng ta đã vơ vét được khá nhiều ngọc. Cả thành phố tò mò muốn biết mặt vợ chưa cưới của Tu-tra-nhi-nốp. Tới mùa thu thì căn phòng chuẩn bị chi lễ cưới của Tania đã xong, chỉ còn việc đặt may quần áo và giày cưới cho nàng. Tania nhận được tin đó liền tới ở nhà một người đàn bà góa ở ngoại ô Petecbua. Tu-ra-nhi-nốp tới đó thăm nàng và nói : - Sao nàng lại ở đây. Căn phòng đã chuẩn bị xong, đẹp tuyệt vời, lát toàn loại đá hảo hạng. Tania trả lời : - Tôi ở đây rất dễ chịu. Công chúa nghe nói về căn phòng lát đá khổng tước và vợ chưa cưới của Tu-tra-nhi-nốp liền tới nhà chàng. Công chúa ra lệnh : - Hãy cho ta xem mặt vợ chưa cưới của ngươi. Ta đã nghe nói nhiều về cô ta. Chàng quý tộc tới nơi Tania ở để bàn nốt một số việc chuẩn bị cho lễ cưới. Cần phải may cho nàng một bộ áo cung đình để xứng với những đồ trang sức mà nàng đeo. Nhưng Tania trả lời : - Chàng khỏi bận tâm về trang phục của thiếp, và cũng chẳng cần gửi ngựa đến cho thiếp. Ngựa thiếp đã có rồi, chỉ cần chàng đợi ở bậc tam cấp để dẫn thiếp vào trong cung. Tới ngày cưới, trong cung điện rất đông các bậc vương tôn công tử, quận chúa tới dự lễ. Ngựa để chật cả sân, còn Tu-tra-nhi-nốp sốt ruột chờ vợ chưa cưới ở bậc tam cấp. Cuối cùng Tania cũng tới. Từ xa mọi người tò mò nhìn chàng. Nàng đeo những đồ trang sức tuyệt vời. Màu xanh của ngọc rất hợp với màu xanh của mắt nàng. Nhưng nàng lại khoác chiếc áo khoác của người thợ và đi bộ, có rất nhiều dân thường lũ lượt đi theo nàng. Tania đã tới cổng cung điện. Đám quý tộc xì xào bàn tán tỏ vẻ khinh bỉ. Tu-tra-nhi-nốp xấu hổ bỏ trốn vào bên trong. Tania cởi bỏ khăn quàng và áo khoác ra, đám đông kinh ngạc vì bộ trang phục của nàng, đến công chúa cũng không thể có được những thứ sang trọng như vậy. Màu xanh của áo, màu xanh của ngọc hòa lẫn với màu xanh của mắt nàng. Mọi người xì xào : - Nàng công chúa đó là ai vậy ? Tu-tra-nhi-nốp kiêu hãnh đáp : - Đó là vợ chưa cưới của tôi. Tania nghiêm khắc nhìn chàng : - Điều ấy còn phải xem lại. Tại sao ngài lại lừa dối thiếp. Sao không đợi thiếp ở bậc tam cấp. Tu-tra-nhi-nốp vội vã xin lỗi và năn nỉ mời nàng vào trong cung điện. Họ bước vào cung điện. Tania thấy trong đó đã đông nghẹt người, chẳng còn chỗ mà len chân nữa. Nàng hỏi Tu-tra-nhi-nốp : - Lại một sự lừa dối nữa. Thiếp đã dặn chàng là chỉ mời ít người tới dự lễ cưới của chúng ta trong cung điện đá khổng tước cơ mà ? Nói xong nàng bước vào trong cung điện bình thản như ở nhà. Các bậc vương tôn công tử cũng vào theo nàng Không ai có thể rời mắt khỏi Tania, còn nàng đứng dựa vào bức tường lát đá khổng tước chờ đợi. Tu-tra-nhi-nốp vẻ mặt khổ sở nói với nàng là đứng ở đây chờ đón công chúa không tiện một chút nào. Nhưng Tania vẫn bình thản đứng đó, chẳng để ý đến lời cầu khẩn của Tu-tra-nhi-nốp. Công chúa bước vào tiền sảnh, chẳng có ai ở đó để đón tiếp nàng. Công chúa đi tiếp đến cung lát đá khổng tước, thấy Tu-tra-nhi-nốp cùng vợ chưa cưới đứng ở đó cùng với tất cả mọi người làm nàng rất bực mình. Nàng tức giận xăm xăm bước vào phòng. Mọi người cúi chào công chúa, riêng Tania vẫn đứng im một cách bình thản. Công chúa liền thét lên : - Con bé bướng bỉnh này là vợ của Tu-tra-nhi-nốp đấy ư ? Nghe những lời hống hách như thế, Tania không kìm được mình nữa. Nàng cau mày nói với Tu-tra-nhi-nốp : - Chàng lại còn bày đặt những gì thế này. Thiếp đã bảo chàng hãy chỉ công chúa cho thiếp xem, còn chàng lại để công chúa xúc phạm thiếp. Lừa dối. Toàn những chuyện lừa dối. Tôi không còn muốn nhìn thấy mặt chàng nữa. Xin trả lại chàng những viên ngọc của chàng. Nói xong, nàng đứng tựa lưng vào bức tường lát đá khổng tước. Trong phút chốc, nàng tan biến mất. Trên tường chỉ còn lại những vệt sáng lấp lánh. Mọi người sợ hãi chạy toán loạn. Công chúa ngã lăn xuống sàn bất tỉnh. Người hầu nâng nàng dậy, đưa về hoàng cung. Mãi sau mọi người mới hoàn hồn. Có người bảo Tu-tra-nhi-nốp : - Hãy nhặt những đồ trang sức đó lên. Toàn những thứ quý giá cả đấy ! Tu-tra-nhi-nốp nhặt những viên đá lên, nhưng chàng ta cầm tới viên nào thì viên đó tan biến thành những giọt như những giọt nước mắt. Giọt màu vàng, giọt màu đỏ như máu. Chàng ta chẳng nhặt được một chút gì cả. Cuối cùng, chàng chỉ nhặt được một chiếc khuy màu xanh. Trông nó giống như một chiếc khuy thủy tinh khác. Nhưng khi chàng nhìn vào chiếc khuy thì hình ảnh Tania đáng thương hiện lên, nàng nói : - Ôi, sao chàng lại nỡ đối xử với thiếp như thế vậy ? Chẳng lẽ chúng ta không xứng đôi vừa lứa hay sao ? Từ đó Tu-tra-nhi-nốp bị mất trí, nhưng chàng không chịu vứt chiếc khuy đi. Thỉnh thoảng, chàng lại nhìn vào chiếc khuy. Tania lại hiện lên với những lời trách móc nặng nề. Buồn rầu vì đau khổ, chàng ta lâm vào cảnh bần cùng, mang công mắc nợ. Những người thợ cũng chẳng buồn đến làm việc cho chàng nữa. Vợ của Cát- đi cũng chẳng lợi lộc gì. Cô ta nhận được giấy đòi nợ, phải cầm cố toàn bộ số sắt và quặng của khu mỏ. Từ đó ở nhà máy không ai nghe thấy tin tức gì của Tania nữa. Tania tuy là con đẻ của Natasia nhưng đã từ lâu nàng đối xử với mẹ lạnh lùng như người dưng. Tuy vậy, Natasia vẫn vô cùng đau khổ vì sự mất tích đáng thương của con gái mình. Hai người con trai của Natasia đều đã lấy vợ và có con. Những chàng trai chưa vợ vẫn tới chờ dưới cửa sổ nhà Tania. Họ đợi Tania, hy vọng nàng sẽ xuất hiện trở lại Sau đó tất nhiên rồi họ cũng lấy vợ và câu chuyện về nàng Tania vẫn thường được kể lại như một huyền thoại “Ở nhà máy chúng ta từng có một cô gái tuyệt vời như vậy, trên đời này không thể tìm thấy cô gái thứ hai như thế nữa....” Sau này, có người kể rằng có hai Bà Chủ Núi Đồng chứ không phải chỉ có một như ngày trước. Đã có người nhìn thấy hai cô gái mặc áo xanh màu lông công xuất hiện trên đỉnh núi.... |
Chi Siren ơi, có một bạn vừa gửi mail cho em file văn bản truyện này, do hai bạn Lam Anh và A Thanh gõ đăng trên Việt Kiếm từ năm 2007.
Trích:
|
Tốt quá rồi, Nina! Lâu rồi chị không có thời gian ngồi gõ. Có đầy đủ các phần đọc theo mạch vẫn thích hơn mà! Cảm ơn em! :emoticon-0150-hands
|
3. Bông hoa đá
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Trong các loại đá không phải chỉ có đá hoa cương là loại tốt. Ở vùng chúng tôi nhiều hơn cả là loại đá khổng tước. Đó là loại đá quý nhất. Những sản phẩm làm từ đá khổng tước thật tuyệt diệu. Ông già Prô-cô-pích là người thợ chạm khắc đá lành nghề nhất ở vùng chúng tôi. Đến chủ mỏ cũng phải căn dặn đốc công cho người đến nhờ ông Prô-cô-pích truyền nghề cho. - Hãy nhờ ông ấy dạy cho tất cả những bí quyết của nghề chạm khắc đá quý. Nhưng không biết vì giấu nghề hay vì một lý do nào đó mà công việc dạy nghề của ông rất tồi. Những chàng trai học nghề thường bị bươu đầu sứt trán. Prô-cô-pích bảo người đốc công: - Cậu này không tinh mắt khéo tay nên không học được nghề làm đá. Người đốc công xử nhũn với ông nói: - Thôi, để tôi tìm đứa học trò khác nhờ ông kèm cặp vậy. Bọn trẻ đều sợ hãi mỗi khi nghe thấy phải đến học nghề ở nhà ông Prô-cô-pích. Cha mẹ của chúng cũng không muốn cho con bị đày ải, khổ sở ở chỗ người thợ già khó tính. Họ nghe nói bụi đá khổng tước rất độc, vì vậy cố tìm cách từ chối không cho con đi học nghề chạm đá. Tuy vậy, người đốc công vẫn nhớ tới lệnh của ngài chủ mỏ - vẫn tiếp tục gửi học trò cho ông Prô-cô-pích. Nhưng ông lão lần lượt hành hạ những đứa trẻ rồi trả lại cho người đốc công: - Những cậu này cũng không đủ khả năng học nghề. Người đốc công bực mình: - Vậy đến bao giờ mới đủ khả năng ? Người này không được, người kia không được. Hãy cứ dạy cho nó đi! Ông Prô-cô-pích trả lời: - Tôi sẵn sàng bỏ mười năm để dạy nghề cho anh ta, nhưng ông chẳng hy vọng anh ta trở thành một tay thợ lành nghề đâu. - Vậy thì ông cần một người như thế nào? - Tôi chẳng cần gì cả, mà ông cũng chẳng nên buồn vì chuyện đó. Cứ như vậy, người đốc công và Prô-cô-pích đã thử dạy cho nhiều chàng trai, nhưng chỉ dẫn đến kết quả là các chàng trai bươu đầu sứt trán mà thôi. Những người đó đã cố tình làm hỏng để ông Prô-cô-pích đuổi họ đi. Cho tới khi cậu bé mồ côi Đa-ni-lô tới thì việc tìm học trò của ông Prô-cô-pích mới kết thúc. |
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Малахитовая шкатулка (Павел Бажов, 1879 - 1950)
Đá khổng tước hay đá lông công - malachit (khổng tước là con công, mật khổng tước là độc dược số 1) vân tuyệt đẹp, giống đuôi con công thật sự: http://tamhiep.vn/content/timkiem_baiviet.php?langid=0 http://www.muabanda.com/forum/uploads/14_malachit2.jpg http://www.muabanda.com/forum/uploads/14_malachit1.jpg |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đa-ni-lô là một cậu bé mồ côi mười hai tuổi, chân tay khẳng khiu, tóc xoăn, mắt màu xanh lơ, khuôn mặt trông sáng sủa thông minh. Một người đàn bà Ca-dắc đã dẫn cậu bé tới quán rượu xin làm chân hầu bàn. Người ta sai cậu bưng hộp thuốc lá ra cho khách, đưa khăn cho khách. Công việc chỉ có vậy nhưng cậu bé này không có khả năng trong công việc chạy bàn. Các cậu thanh niên khác còn nhanh nhẹn lượn từ chỗ này sang chỗ khác. Còn Đa-ni-lô thì lánh vào một góc, mơ màng ngắm một bức tranh nào đó, khi thì ngắm nhìn một đồ trang sức, khi thì đứng ngẩn ngơ, người ta gọi Đa-ni-lô nhưng cậu còn mải nghĩ đẩu đâu nên chẳng nghe thấy gì, rồi người ta kéo cậu vào, mắng cho một trận. - Cái đồ ngớ ngẩn. Làm gì mà mong nó trở thành người hầu bàn giỏi cho được Người ta cho cậu bé vào làm việc trong nhà máy, chưa được một tuần thì lại đuổi ra. Người đốc công lại sắp xếp cho Đa-ni-lô đi chăn gia súc. Ở đây cậu cũng chẳng khá hơn. Mặc dù cậu thiếu niên tỏ ra rất cố gắng, nhưng công việc cũng chẳng trót lọt. Lúc nào cậu cũng mải nghĩ vẩn vơ, mắt nhìn đồng cỏ mà bò chạy đâu chẳng biết. Người mục đồng già ôn tồn khuyên bảo vì thương cậu bé mồ côi, nhưng sau đó nói mãi mà cậu không thay đổi tính nết, cụ bực mình, mắng: - Cháu là thứ người gì vậy hả Đa-ni-lô. Cháu tự làm mình hư đi thôi. Cháu lại dồn gánh nặng lên vai người già cả hay sao.Cháu cứ nghĩ đi đâu chẳng thèm để tâm đến công việc của mình cả. - Cháu cũng chẳng biết sao nữa. Cháu nhìn con sâu bò trên chiếc lá. Đúng là con chuồn chuồn mà ở dưới cái cánh lại ló ra cái gì vàng vàng chiếc lá thì như rộng ra. Đường răng cưa xung quanh chiếc lá cũng như rộng ra, cong lên. Trời tối hơn, chiếc lá lúc nãy còn xanh bây giờ lại biến thành đỏ, con sâu lại bò đi đâu mất. - Nào thật là đồ ngốc, Đa-ni-lô ạ. Việc của cháu có phải đi ngắm nghía con sâu đâu. Việc của cháu là đi chăn bò. Hãy vất bỏ những cái trò ngớ ngẩn ấy đi, không ông sẽ mách ngài đốc công. Một lần, khi ông lão đi đâu đó, Đa-ni-lô lấy sáo ra thổi. Tiếng sáo nghe thật du dương. Buổi chiều, tới lúc dồn bò vào chuồng, các cô gái bảo Đa-ni-lô: - Hãy thổi một bài nào đi, Đa-ni-lô. Chú bé bắt đầu thổi những bài hát lạ, nghe như tiếng suối reo, chim hót. Các cô gái say sưa lắng nghe Đa-ni-lô thổi sáo. Mọi người quây quần xung quanh Đa-ni-lô, người khâu quần, người chữa lại chiếc áo cũ. Ông lão chăn bò cũng bị lôi cuốn bởi tiếng sáo của Đa-ni-lô. Vì tiếng sáo, mọi người quên luôn cả đàn bò. Cũng vì vậy mà bất hạnh đã ập xuống đầu Đa-ni-lô. Cậu bé mải mê thổi sáo, còn ông lão chăn bò thiu thiu ngủ. Bò của họ chạy tứ tán khắp ngả. Khi họ dồn bò về chuồng thì phát hiện mất khá nhiều. Họ đổ đi tìm chúng, lặn lội tới tận E-nhi-nôi xa tít tắp. Họ lần theo vết sói, chỉ còn sót lại một con bò. Mọi người trong nhà máy nghe tin mất bò cũng tỏa đi khắp rừng tìm nhưng chẳng thấy con nào. |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đám mục đồng biết rõ sự trừng phạt như thế nào đang chờ đợi họ. Để quên nỗi lo sợ, họ đem rượu ra uống. Trong chuồng bò của viên đốc công chỉ còn có một con. Họ chẳng mong gì được hắn tha tội. Quả nhiên viên đốc công nổi giận. Đầu tiên hắn lôi ông lão chăn bò ra đánh một trận, sau đó tới lượt Đa-ni-lô. Chú bé gầy khẳng khiu trông thật đáng thương, ấy thế mà tên đao phủ còn đơm đặt them cho chú: - Lần này phải đánh cho bật những ý nghĩ vớ vẩn ra khỏi đầu mày! Hắn thẳng tay quất Đa-ni-lô một trận thừa sống thiếu chết. Nhưng Đa-ni-lô vẫn im lặng. Hắn đánh trận đòn thứ hai, chú vẫn im lặng. Đánh trận thứ ba cũng vậy. Chú bé gan góc chịu đòn. Tên đốc công vừa thẳng tay hành hạ chú bé vừa thét lên: - Im lặng này ! Tao đánh cho mày bật ra lời van xin thì mới thôi! Đa-ni-lô đau đớn quằn quại dưới trận đòn độc ác. Nhiều lúc ngất đi, nhưng chú vẫn không thốt ra một tiếng kêu nào. Viên chủ mỏ có mặt ở đấy phải ngạc nhiên nói: - Thật là sự chịu đựng phi thường. Nếu nó sống sót thì sau đợt này nên tìm cho nó một công việc gì đó thích hợp hơn. Đa-ni-lô nằm bất tỉnh. Bà Vi-khơ-ri-kha đưa chú về nhà. Bà là thầy lang giỏi nhất của vùng chúng tôi. Bà biết rất rõ các cây thuốc trong rừng: loại nào chữa đau răng, loại nào chữa đau bụng, loại nào chữa nhức xương… Bà biết rõ thời vụ của từng loại cỏ chữa bệnh và trữ chúng ở trong nhà. Thật may mắn cho Đa-ni-lô đã được bà Vi-khơ-ri-kha chữa bệnh. Đa-ni-lô sống rất dễ chịu ở nhà bà. Bà lão dịu dàng chăm sóc chú bé đáng thương. Khắp nhà bà đầy những cỏ, rễ cây và hoa phơi khô treo khắp mọi nơi. Đa-ni-lô tò mò nhìn những loại hoa cỏ đó: - Cỏ này là cỏ gì hả bà? Nó mọc ở đâu? Còn hoa này là hoa gì? Bà lão kể cho chú nghe về đời sống và công dụng của các loại cây thuốc đó. Một lần Đa-ni-lô hỏi bà: - Bà ơi, bà có biết hết tất cả các loại hoa ở trong rừng không? - Bà biết đủ hết cháu ạ. Bà lão trả lời: - Dường như bà đã biết hết các loại hoa rồi, chẳng còn tìm thêm được hoa gì mới nữa. - Chẳng lẽ không thể tìm ra loại hoa gì mới nữa à? - Có lẽ vẫn còn một số loại hoa mà bà chưa có. Cháu có nghe nói về một loại cây dương xỉ không? Hoa của nó nở vào ngày lễ thánh Ivan. Còn loại hoa tầm ma nữa. Chúng mọc ở nghĩa địa. Loại hoa đó để dành cho những người xấu. Cỏ nổ nở ra những bong hoa lửa cháy. Đó là những bông hoa ăn trộm. Nếu cháu nhìn thấy chúng – vậy là cháu đã phát hiện được tất cả các loại hoa. Còn loại hoa cá nữa. Những bông hoa này mọc ở trên núi đá khổng tước. Vào ngày lễ Rắn, chúng nở rộ. Thật là bất hạnh cho người nào nhìn thấy chúng. - Tại sao lại bất hạnh hả bà? - Tại sao thì bà không biết, cháu ạ. Bà chỉ nghe kể lại như thế. Lẽ ra Đa-ni-lô còn có thể ở nhà bà Vi-khơ-ri-kha thêm ít lâu nữa nếu như tên hầu cận của viên đốc công không nhìn thấy chú bé đã nhúc nhích đi lại được. Hắn đến mách cho tên đốc công biết điều đó. Viên đốc công cho gọi Đa-ni-lô tới và bảo chú: - Bây giờ mày hãy tới chỗ lão Prô-cô-pích mà học lấy nghề làm đá, đó chính là việc của mày. Đa-ni-lô lảo đảo đi tới nhà ông thợ đá Ông Prô-cô-pích nhìn thấy cậu bé liền nói: - Chưa đủ sức đâu. Sau trận đòn thập tử nhất sinh đó, chú không đủ sức khỏe để học nghề thợ đá đâu. Ông Prô-cô-pích bước tới gần tên đốc công nói: - Tôi không thể dạy cho một người ốm yếu như thế này. Sao ông không đánh nó thêm đi. – Ông thợ đá nói câu đó bằng giọng mỉa mai rồi bỏ đi Viên đốc công chặn ông lão lại, bảo: - Ông đi đâu? Nghe tôi nói đã nào. Không có bàn tán lôi thôi gì cả. Ông phải dạy nghề cho thằng bé này. Nó có sức chịu đựng phi thường. Đừng có nhìn vẻ bề ngoài ốm yếu của nó. - Các ông tử tế như thế đấy! Thôi được, tôi sẽ dạy nghề cho nó, nhưng không phải để các ông lại lôi nó đi. - Sẽ chẳng có ai lôi nó đi. Thằng bé này là kẻ mồ côi, không người thân thuộc, muốn làm gì nó thì làm. Ông Prô-cô-pích đưa Đa-ni-lô về nhà. Đa-ni-lô đứng cạnh chiếc máy, chăm chú nhìn tấm đá khổng tước. Ông Prô-cô-pích đang định đẽo bỏ những rìa đá. Ông nhìn Đa-ni-lô tò mò, không biết thằng bé mới tới này nhìn thấy cái gì mà chăm chú như thế. Ông liền hỏi - Này, cháu nhìn cái gì đấy? Ai đã trao việc cho cháu mà cháu mon men tới đó.? Đa-ni-lô trả lời: - Theo con mắt của cháu thì phải từ phía này cắt bỏ những mép đá. Ông hãy nhìn xem. Ở đây khắc những đường hoa văn sẽ đẹp hơn Tất nhiên ông Prô-cô-pích cáu kỉnh hét lên: - Này, nhóc, mày nghĩ mày là ai vậy? Là thợ cả hả. Tay nghề không có mà dám bàn với luận. Mày thì biết được cái gì. - Cháu biết người ta định làm chiếc tráp. - Ai làm? Mày làm chắc? Đồ hỉ mũi chưa sạch. Coi chừng tao kể lại cho viên đốc công nghe những việc vớ vẩn đó thì không hy vọng gì sống sót đâu. Ông lão thét lác ồn ã như vậy, nhưng không hề chạm một ngón tay tới Đa-ni-lô, chỉ cần nhìn qua thì ông cũng phát hiện ra chú bé nói có lý. Chốc lát, ông lão nguôi cơn giận, nhẹ nhàng bảo chú bé: - Thế đấy! Cháu đúng là sinh ra để làm thợ khắc đá. Nào, hãy thử nói xem, theo ý cháu thì phải làm như thế nào? Đa-ni-lô thành thạo nói: - Nét chạm này nên như thế này… Mài nhẵn mép đá, đặt một dây ở trên. Ông Prô-cô-pích khen ngợi: - Cháu biết khá nhiều về nghề đá đấy. Sẽ chẳng phí công vô ích đâu. – Ông lão nhủ thầm: “ Thằng bé nói đúng đấy. Chắc chắn nó sẽ trở thành một thợ đá lành nghề. Chỉ có điều bây giờ biết dạy nó như thế nào đây? Trải qua trận đòn vừa qua lẽ ra nó đã chết thẳng cẳng rồi ” Ông lão nghĩ như vậy và hỏi Đa-ni-lô: - Cháu là con cái nhà ai hở nhà thông thái? Đa-ni-lô kể cho ông lão nghe về số phận hẩm hiu của mình. Chú là một đứa trẻ mồ côi. Chú chỉ còn nhớ được lờ mờ một vài nét về mẹ, còn cha chú là ai thì chú hoàn toàn không biết. Bởi vậy người ta thường gọi chú là Đa-ni-lô mồ côi. Chú hoàn toàn không biết đến tình cha con. Chú kể tới những ngày chú lưu lạc tới nhà máy, làm việc ở nhà ăn, rồi bị người ta đuổi, rồi sau đó đi chăn bò thì lại bị đòn. |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Ông lão Prô-cô-pích thương xót nói: - Thôi đừng buồn nữa. May cho cháu đã gặp ta, ta sẽ truyền nghề cho cháu. Ở vùng ta, nghề thủ công làm đá được trọng dụng lắm. Sau đó ông lão lại bực tức cằn nhằn: - Đủ rồi, đủ rồi! Nói bằng miệng chứ không phải bằng tay. Thế là chiều nay ta chẳng làm được gì. Học trò cũng vậy. Để sáng mai xem cháu học hành thế nào. Còn bây giờ hãy ngồi xuống ăn đi rồi đi ngủ. Ông lão sống một mình. Vợ ông đã mất từ lâu. Hàng ngày có bà Mi-rô-pha-nốp-na sang dọn dẹp, nấu nướng giúp ông. Nhiều khi ông lại tự làm lấy những công việc nội trợ. Ăn xong ông lão bảo Đa-ni-lô: - Cháu nằm xuống chiếc ghế này ngủ đi Đa-ni-lô đặt mình xuống, mặc dù trời đã sang thu, căn nhà khá lạnh, nhưng chú ngủ liền. Còn ông lão Prô-cô-pích thì vẫn không ngủ được. Ông vẫn nghĩ mãi câu chuyện về những đường hoa văn lúc chiều. Trằn trọc mãi không ngủ được, ông trở dậy cầm búa, thắp nến lên, ngồi đẽo theo sự góp ý của Đa-ni-lô. Quả thật dần dần đã xuất hiện những đường hoa văn tuyệt xảo. - Ôi, chú mày như vậy mà không có người dạy dỗ. Kỳ lạ thật. Không ở trong nghề mà lại có thể chỉ bảo cho người thợ già. Đúng là chú có con mắt tinh tường, biết nhìn ra vẻ đẹp ẩn giấu trong đá. Ông lão rón rén đi vào trong buồng, lôi ra chiếc áo long cừu đắp cho Đa-ni-lô: - Hãy ngủ ngon, con nhé! Ông lão không ngủ, ngồi trên chiếc thùng gỗ trầm ngâm. Ông không có con, Đa-ni-lô đã sưởi ấm trái tim ông. Ông lặng lẽ nhìn chú bé ngủ. Đa-ni-lô ngủ say sưa không hay biết gì. Ông lão lo lắng tìm cách chăm sóc chú bé để chú nhanh chóng bình phục. Ông lão nghĩ thầm: Với sức khỏe của nó như vậy, làm sao có thể học nghề thủ công nặng nhọc này. Hãy để nó nghỉ ngơi lấy lại sức đã. Sau đó hãy dạy nghề cho nó. Sáng hôm sau, ông lão bảo Đa-ni-lô: - Bây giờ cháu hãy giúp ông làm mấy việc vặt đã. Ông có trồng mấy luống hoa kim ngân, cháu hãy chăm sóc nó. Cháu hiểu không. Đừng có đi chơi xa quá. Cháu hãy mang bánh mì, bánh nướng tới chỗ bà Mi-rô-pha-nốp-na, nói với bà cho bình sữa rồi mang tất cả những thứ đó vào rừng cho ông. Hôm khác ông lão lại bảo Đa-ni-lô: - Hãy đi câu cá về đi ông, để ăn bữa chiều Đến khi Đa-ni-lô mang cá về thì ông lão bảo không đủ, cần phải câu thêm nữa. Cứ như vậy hàng ngày ông lão toàn giao cho Đa-ni-lô làm những công việc dễ dàng, vừa chưa vừa làm cũng xong như xúc tuyết, mang củi, ngồi đằng trước xe ngựa hoặc thủng thẳng đi bộ phía sau rồi về ăn no ngủ kĩ. Ông lão còn mua mũ ấm, áo khoác, quần dài… cho chú bé. Ông chăm sóc Đa-ni-lô như con trai của mình. Sống sung sướng ở nhà ông Prô-cô-pích, Đa-ni-lô bắt đầu bình phục và quấn quýt ông lão. Lần đầu tiên trong đời có người quan tâm thương yêu, chăm sóc đến em như vậy. Mùa đông đã tới, Đa-ni-lô càng được tự do. Em chạy chơi khắp rừng, hồ ao sông suối nhưng vẫn luôn để ý quan sát nghề chạm đá. Đa-ni-lô thường hỏi ông Prô-cô-pích về đủ mọi chuyện. Ông lão giải thích cặn kẽ và bày cho Đa-ni-lô tập làm theo mình. Cũng có lúc Đa-ni-lô tự làm, ông lão đứng cạnh xem, khi cần thì hướng dẫn cho chú làm đẹp hơn Có một lần, viên đốc công thấy Đa-ni-lô đứng chơi cạnh bờ ao. Hắn hỏi người hầu của mình: - Nó là con cái nhà ai đấy? Ngày nào cũng thấy nó ra bờ ao chơi, chẳng còn bé bỏng gì nữa mà rong chơi suốt ngày. Bố mẹ nó có vẻ chiều con quá. Khi được người hầu cho biết đó chính là thằng bé chăn bò đã bị đánh thừa sống thiếu chết dạo trước thì viên đốc công không tin: - Hãy gọi nó tới đây để ta tự hỏi cho biết nó là con cái nhà ai! Người ta dẫn Đa-ni-lô lại. Viên đốc công hỏi: - Mày là con cái nhà ai? Đa-ni-lô trả lời: - Cháu là học trò của ông lão thợ đá Viên đốc công liền beo tai chú: - Mày học hành như vậy đấy phải không? Rồi hắn xách tai Đa-ni-lô tới gặp ông lão Prô-cô-pích. Ông lão nhìn thấy lão đốc công lôi Đa-ni-lô tới thì hiểu ngay đã có chuyện không hay xảy ra với cậu bé. Ông lão nói: - Tôi khó ở, thèm ăn cá nên sai cháu nó đi câu ít cá về nấu cháo ăn. Nhưng viên đốc công không tin. Hắn thấy Đa-ni-lô đã thay đổi hoàn toàn: béo ra, ăn mặc đàng hoàng, áo sơ mi có mũ ấm lại đi giày nữa. Hắn kiểm tra Đa-ni-lô: - Nào, hãy cho ta xe mày đã học được những gì rồi. Đa-ni-lô khoác chiếc tạp dề vào, lại bên máy, bắt tay vào làm, sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của viên đốc công: Làm thế nào để bào nhẵn đá, cựa đá như thế nào, tiện đá ra sao, ghép đá bằng cách nào, tạo hình như thế nào làm sao để khảm đồng trên đá…. Tóm lại Đa-ni-lô đã trả lời đúng hết tất cả các câu hỏi của viên đốc công Viên đốc công quay lại hỏi ông lão: - Thế nào? Chàng thợ trẻ này có lẽ đã làm gì vừa lòng ông. - Tôi không ân hận vì đã truyền cho nó. - Ân với chả hận. Tôi cho nó tới ông để học nghề mà ông thả nó cho đi chơi suốt ngày ở bờ ao. Hãy coi chừng đấy, ông mà còn để nó lêu lổng như vậy thì không yên với tôi đâu. Lão đốc công dọa nạt hai thầy trò một hồi rồi bỏ đi. Ông Prô-cô-pích ngạc nhiên hỏi: - Sao ban nãy cháu trả lời thành thạo thế? Cháu biết những điều đó từ bao giờ. Ông đã dạy được gì cho cháu đâu? - Ông có dạy mà. Mỗi khi ông nói chuyện và giảng giải, cháu đều để ý quan sát và ghi nhớ ạ. Ông lão mừng rơi nước mắt: - Ôi con trai yêu quý của ta. Đa-ni-lô, ta còn biết dạy con cái gì nữa. Con đã tự phát hiện ra tất cả rồi. Từ đó Đa-ni-lô không còn được chạy chơi tự do nữa. Ngay hôm sau, viên đốc công đã giao một lô việc cho Đa-ni-lô tập làm. Đầu tiên là những đồ trang sức cho phụ nữ như vòng đá đeo tay, nhẫn, sau đó là những vật đòi hỏi trình độ phức tạp hơn như giá cắm nến với những đường hoa văn khác nhau, rồi cả những bong hoa, những chiếc tráp bằng đá khổng tước nữa. Đích thân viên đốc công ngồi giám sát. Dần dần Đa-ni-lô trở nên lành nghề. |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Cho tới khi Đa-ni-lô tiện được chiếc vòng tay từ nguyên khối đá cứng thì viên đốc công phải công nhận Đa-ni-lô là thợ đá lành nghề. Hắn viết thư cho ông chủ nhỏ: "Ở chỗ chúng tôi mới có một thợ đá trẻ, đó là Đa-ni-lô mồ côi. Anh ta làm việc rất tốt, chỉ có điều còn quá trẻ nên chưa có tiếng tăm. Chúng tôi định thử giao cho anh ta những công việc giống như của Prô-cô-pích . Nếu anh ta đảm đương được, ta sẽ buộc lão Prô-cô-pích nghỉ việc. Lão ta già quá rồi". Có một lần, viên đốc công giao cho Đa-ni-lô một việc bắt phải làm xong trong năm ngày. Tuy biết Đa-ni-lô rất thành thạo công việc, nhưng ông lão Prô-cô-pích vẫn đến bên viên đốc công, nói: - Không ai có thể làm xong việc dó trong năm ngày được. Ít nhất phải mất nửa tháng mới có thể làm xong. Dù sao nó cũng chỉ là đứa trẻ đang học việc. Vội vàng chỉ tổ làm hỏng đá mà thôi. Viên đốc công tranh cãi một hồi với ông Prô-cô-pích rồi cũng phải đồng ý gia hạn. Đa-ni-lô làm việc không ngơi tay. Ông lão muốn cho Đa-ni-lô chóng hoàn thành công việc đã giúp chàng tiện đá, nhưng Đa-ni-lô không chịu. Chàng nói: - Ôi, ông làm gì thế kia. Hãy trông râu ông dính đầy bụi đá, biến thành màu xanh rồi kìa. Hại cho sức khỏe của ông lắm. Ông cứ để mặc cháu. Làm hộ cháu làm gì. Đa-ni-lô đã trở thành một chàng trai cao lớn, tóc xoắn, khéo tay và vui tính. Chàng đã làm cho khối cô gái phải để mắt đến chàng. Ông lão đã nhiều lần nói chuyện kén vợ cho chàng, nhưng lần nào chàng cũng gạt đi. - Họ chẳng chạy đi đâu mất mà phải vội. Chờ bao giờ cháu trở thành thợ cả hẵng. Lão chủ mỏ ra lệnh cho viên đốc công: - Hãy sai tên học trò của lão Prô-cô-pích làm cho ta một chiếc chén có chân. Ta muốn đích thân xem xét trình độ của hắn. Ông hãy đích thân kiểm tra không cho lão Prô-cô-pích giúp đỡ hắn. Nếu ông không đích thân coi sóc việc này, có chuyện gì man trá thì ông hãy liệu hồn. Viên đốc công liền cho gọi Đa-ni-lô tới và nói: - Có việc cho anh rồi đây. Anh hãy làm cho ông chủ một chiếc chén có chân. Đá ta sẽ cung cấp cần bao nhiêu thì có bấy nhiêu. Ông lão Prô-cô-pích nghe tin đó buồn rầu nghĩ: "Bọn họ lại giở trò gì đây". Ông lão lại gần viên đốc công định nói chuyện với hắn. Nhưng hắn chỉ nói: "Không phải việc của ông". Đa-ni-lô đi tới bàn máy, ông lão dặn với theo: - Cháu đừng có vội vàng mà hỏng việc. Hãy cẩn thận kẻo rước vạ vào thân. Đầu tiên Đa-ni-lô cắt đá. Chàng thử và ước tính nhiều lần. Trong thời gian chàng làm việc, viên đốc công ngồi giám sát chàng từ sáng tới tối. Vì buồn chán, chàng phung phí sức lực, cố gắng hết sức làm xong chiếc chén. Cuối cùng, chàng đã làm xong chiếc chén. Viên đốc công xem xét kỹ lưỡng, hài lòng nói: - Hãy làm thêm cho ta một chiếc nữa giống như vậy. Đa-ni-lô làm thêm một chiếc, rồi lại thêm một chiếc nữa. Khi chàng làm xong chiếc thứ ba, viên đốc công mới nói: - Bây giờ thì mày không trốn đi đâu được nữa. Tao sẽ bắt mày rời khỏi nhà lão Prô-cô-pích. Trong thư viết cho tao, ông chủ đã ấn định thời gian mày phải làm xong một chiếc, nhưng thực tế thì mày đã làm xong ba chiếc. Tao biết khả năng của mày. Mày đừng hòng lừa dối được tao. Tao sẽ cho lão già biết tay vì đã buông lỏng mày. Ông chủ sẽ thải lão, thuê người khác. Viên đốc công viết thư và gửi ba chiếc chén cho lão chủ mỏ. Nhưng không biết vì lý do gì mà lão không trả lời. Cuối cùng người ta cũng thả cho Đa-ni-lô về nhà, chứ không bắt hai ông cháu xa nhau nữa - bởi vì họ nghĩ có thể hai người thông minh hơn một người, hai người sẽ sớm phát minh ra cái gì mới hơn chăng. Bỗng viên đốc công nhận được bức vẽ và thư của lão chủ mỏ. Bức vẽ vẽ một chiếc chén có chân với những đường hoa văn cầu kỳ, đế chén hình chiếc lá. Trong thư, viên chủ mỏ viết: "Hãy làm theo đúng mẫu này, thời hạn trong năm năm phải xong" Viên đốc công lại cho gọi Đa-ni-lô đến, đưa cho anh hình vẽ và nói lại lời lão chủ: cho thả Đa-ni-lô về với ông Prô-cô-pích Hai ông cháu vui sướng, hăng hái bắt tay vào việc. Những họa tiết của chiếc chén này rất phức tạp, nhưng Đa-ni-lô mắt tinh, tay khéo thừa sức hoàn thành chiếc chén. Tuy vậy chàng không thấy thỏai mái vì làm mất nhiều công sức mà lại chẳng đẹp. Chàng nói với ông Prô-cô-pích điều đó, nhưng ông lão chỉ ngạc nhiên nói: - Cháu băn khoăn về việc đó làm gì. Ông đã làm ra biết bao nhiêu chiếc chén như thế, vậy mà bây giờ chúng đi đâu, ông cũng chẳng biết. Đa-ni-lô thử nói điều băn khoăn của chàng với viên đốc công, y đùng đùng nổi giận, vung tay giậm chân nói: - Mày có điên không đấy. Ông chủ đã phải tốn bao nhiêu tiền bạc mới thuê được người họa sĩ giỏi nhất kinh đô vẽ kiểu chiếc chén này đấy, thế mà một thằng nhóc học việc lại đòi sửa bản vẽ. Nhưng dường như sực nhớ tới mệnh lệnh của lão chủ: cứ để mặc hai thầy trò làm việc với nhau, biết đâu họ lại chẳng nghĩ ra điều gì hay ho, hắn bèn bảo Đa-ni-lô: - Thôi, mày hãy theo bản vẽ này mà làm cho ông chủ một chiếc chén, sau đó thì mày tha hồ mà lấy đá ở đây tạc những chiếc chén theo ý mày. Chúng tao chẳng thiếu gì đá, có khá đủ để cho mày dùng đấy, muốn lấy bao nhiêu thì tùy thích. |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Từ đấy, Đa-ni-lô suốt ngày vùi đầu vào công việc tới quên ăn quên ngủ. Những người khôn ngoan trong xóm thấy vậy đâm khó chịu, buông lời gièm pha chàng, nhưng dồn hết tâm trí vào công việc mà mình yêu thích nên chàng đâu có để ý tới những lời của họ. Đêm đêm, vì trăn trở với các kiểu chén đĩa đủ loại nhảy nhót trong đầu nên Đa-ni-lô thao thức suốt đêm. không sao ngủ được. Đa-ni-lô ngồi trước bản vẽ nhưng tâm hồn chàng lại gửi vào chiếc chén của chàng. Vì quá hao tổn tâm trí nên chàng trở nên ủ rũ như tàu lá héo, thấy vậy ông lão Prô-cô-pích khuyên chàng: - Cháu có ốm không đấy. Thôi dẹp quách cái chén đi.Tốt hơn hết, cháu hãy chạy đi đâu đó cho đầu óc thanh thản một chút, chứ ngồi ở nhà suốt ngày sẽ sinh mụ người ra đấy. - Vâng - Đa-ni-lô thở dài - có lẽ đành phải tạm gác công việc đang làm dở lại vậy, cháu vào trong rừng một lát may ra lại có thể tìm thấy cái mình tìm. Ngày nào Đa-ni-lô cũng dạo chơi trong rừng. Đang mùa hái quả, quả cây rừng chin đỏ mọng treo lủng lỉu trên cành. Đa-ni-lô tha thẩn khắp rừng chàng sục sạo từng bụi cây ngọn cỏ như tìm kiếm vật gì. Dân làng vào rừng hái quả thấy lạ bèn hỏi chàng: Chàng mỉm cười trả lời bâng quơ - Nào có mất gì đâu, nhưng chưa tìm thấy cái mình cần. Dân làng xì xào: "Không biết cái thằng này có đâm dở người không nhỉ" Chàng tha về nhà đủ loại hoa quả, lá cây, trong đó nhiều nhất là hoa anh đào dại, hoa cà độc dược. Cứ về tới nhà là chàng lại sà ngay vào đống đá đẽo đẽo gọt gọt cho tới sáng. Rạng sáng chàng lại trở vào rừng. Vì thiếu ngủ nên chàng trở nên thiếu sáng suốt, hoa mắt run tay. Ông Prô-cô-pích rất lo lắng cho sức khỏe của chàng, nhưng Đa-ni-lô lại chẳng lo gì cho bản thân mình mà còn nói: - Chừng nào cháu chưa tạc xon chiếc chén vừa ý, cháu vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên được. Cháu phải làm kỳ được chiếc chén thật đẹp để mọi người thưởng thức vẻ đẹp của đá Ông Prô-cô-pích băn khoăn: - Nhưng cháu phải khổ sở đến như vậy chỉ vì một chiếc chén của lão chủ để làm gì? Chiếc chén đẹp hay xấu thì có ích gì cho ông cháu ta đâu? Sao cháu không làm ngay chiếc chén theo yêu cầu của ông chủ? Việc của họ là nghĩ ra các kiểu chén và đường hoa văn trang trí, còn chúng ta thì chỉ việc làm theo đơn đặt hàng của họ. Nhưng Đa-ni-lô vẫn khăng khăng: - Không phải cháu cố gắng để phục vụ cho lão chủ đâu. Chỉ vì cháu không làm sao vất bỏ được những ý nghĩ về chiếc chén này, suốt ngày hình ảnh của đá cứ lởn vởn trong đầu cháu. Ông nhìn xem: Đá của quê ta đẹp biết bao, vậy mà chúng ta đã làm hỏng chúng. Chúng ta ra sức gọt giũa khắc chạm, mà kết quả sản phẩm của chúng ta chẳng ra làm sao cả. Bởi vậy cháu muốn làm sao cho mọi người thấy được vẻ đẹp và sự quyến rũ của đá. Đa-ni-lô lại không nản chí ngồi đẽo gọt chiếc chén theo bản vẽ. Chàng vừa làm vừa nói đùa: - Mảnh đá này có lỗ thủng, chắc là dễ khắc đường viền Nhưng bỗng nhiên chàng lại bỏ cuộc. Ông Prô-cô-pích khuyên cháu: - Hay là cháu thử khắc theo hình bông cà độc dược? Nhưng Đa-ni-lô lại không muốn nghe lời ông. Vài ba hôm sau chàng nói với ông: - Trước tiên cháu phải cố làm xong chiếc chén theo ý ông chủ, nhưng đến lúc ấy ông đừng cố ma ngăn cản cháu đấy. Dù sao chăng nữa thì cháu cũng không vứt được những ý nghĩ đó ra khỏi đầu. Ông Prô-cô-pích mừng rỡ trả lời: - Tất nhiên rồi, cháu cứ làm cho xong việc của ông chủ giao đi, để ông ấy khỏi rầy la ông cháu ta, xong rồi cháu muốn làm gì thì làm, ông sẽ không ngăn cản cháu đâu. - Tuy nói vậy nhưng ông Prô-cô-pích lại đã nghĩ: đã đến lúc phải lấy vợ cho nó rồi. Lúc đó nó sẽ quên đi ý nghĩ gàn dở hiện giờ mà để tâm vào lo cho vợ con nó. Đa-ni-lô rất bận rộn trong suốt một năm vẫn chưa hoàn thành chiếc chén, và tưởng như chàng đã quên mất chiếc chén lý tưởng của chàng rồi Ông già Prô-cô-pích bắt đầu thấy sốt ruột, nhắc chàng lấy vợ: - Cháu thấy cô Kachia làng ta thế nào? Ông thấy nó là một cô gái vừa đẹp lại vừa ngoan đấy chứ. Tại sao cháu không hỏi cưới nó hả thằng ngốc? Ông già nói vậy vì đã từ lâu ông nhận thấy Đa-ni-lô có cảm tình với Kachia và xem chừng cô gái cũng chẳng thờ ơ với Đa-ni-lô Nhưng Đa-ni-lô lắc đầu: - Cháu còn phải làm xong chiếc chén này đã, nó làm cháu phát ngấy lên rồi. Ông yên tâm, dầu sao thì cháu cũng thuyết phục được Kachia rồi, cô ấy hứa sẽ đợi cháu. Cuối cùng thì Đa-ni-lô cũng phải làm xong chiếc chén. Tất nhiên họ không dại gì mà cho viên đốc công biết công việc hắn giao đã hoàn thành. Kachia và bố mẹ nàng cùng với hai người thợ đến nhà chàng xem chiếc chén - chàng vừa làm xong. Kachia ngạc nhiên nhìn chiếc chén: - Chàng khắc giỏi quá. Đường hoa văn phức tạp như vậy mà chàng chạm chúng không bị mẻ chỗ nào cả. Những người thợ khác cũng khen ngợi: - Cháu đã làm rất cẩn thận. Đường chạm sắc sảo lắm. Không người thợ nào trong vùng có thể làm tốt hơn. Đa-ni-lô lắng nghe những lời bình phẩm rồi nói: - Kể ra thì các đường chạm trổ cũng tinh vi, nhưng chưa lột tả được vẻ đẹp của đá. Khi ta ngắm nhìn trái tim ta sẽ rung động trước vẻ đẹp của nó. Còn chiếc chén này thì có thể làm cho trái tim của ai rung động được? Người ta tìm thấy gì ở nó? Theo như cái nhìn của Kachia thì đây chỉ là do sự khéo tay của người thợ đá mà nó không bị sứt mẻ gì mà thôi. - Ồ, sao cháu khó tính thế, cháu còn đòi hỏi gì hơn ở một đồ vật bằng đá nhỉ? - Mà sao cháu lại bỗng nhiên đi so sánh một vật bằng đá với vẻ đẹp của một bông hoa? - Vậy thì vẻ đẹp của đá biến đi đâu. Chúng ta chạm khắc hình bông hoa trên đá, nó chỉ giống hình dáng của một bông hoa chứ đâu mang sắc thái của loài hoa. Mà đá của chúng ta mới đẹp làm sao chứ ! Chàng trở nên buồn rầu. Những người thợ đá nhắc lại những lời mà ông Prô-cô-pích đã nhiều lần nhắc chàng: - Đá thì vẫn chỉ là đá mà thôi. Thế cháu còn muốn biến đá thành cái gì mới được cơ chứ. Công việc của chúng ta chỉ là đẽo và chạm trổ nó theo ý khách hàng mà thôi. Những bỗng có một cụ già xen vào cuộc tranh cãi giữa Đa-ni-lô và những người thợ. Cụ vốn là thầy dạy của ông Prô-cô-pích và những người thợ cả trong làng. - Con thân yêu, con chớ có nên đi theo con đường đó. Hãy vứt bỏ những ý nghĩ điên rồ của con ra khỏi đầu đi, kẻo lại rơi vào bàn tay độc ác của Bà Chủ Núi Đồng đấy. Khéo lại giống những người thợ trên núi thôi. - Những người thợ nào hả cụ? - À những người thợ ấy… sống ở trên núi, nhưng chẳng ai thấy họ bao giờ. Họ làm công cho Bà Chủ Núi Đồng. Tay nghề của họ thật tuyệt vời. Mọi người trở nên tò mò hỏi: - Cụ có nhìn thấy họ? - Họ ở trên núi Rắn ấy - Cụ già nói. - Ở đấy có thể nhìn thấy họ rõ như các anh nhìn thấy bàn tay của mình. - Vậy họ như thế nào ạ? - Ta đã nói họ là những người thợ tuyệt vời mà. Bất kỳ người thợ nào cũng có thể nhận ngay ra những sản phẩm của họ không phải tầm thường. Trên núi Rắn của chúng ta đầy rẫy những tác phẩm của họ: nào là những người đá sống động như thật, đôi mắt, mái tóc mềm mại tinh nhanh. Đặc biệt là những bông hoa đá, chúng thật là biểu tượng của cái đẹp. Đa-ni-lô nghe nói tới những bông hoa đá lập tức bám lấy ông lão mà hỏi rất kỹ về chúng, nhưng ông già khuyên chàng: - Cháu chớ nên bén mảng tới đó làm gì. Ta cũng chưa nhìn thấy chúng bao giờ, nhưng có nghe nói rằng, bất kỳ ai nhìn thấy chúng thì sẽ không bao giờ còn được thấy ánh sáng mặt trời nữa. |
3. Bông hoa đá (tt)
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Nhưng Đa-ni-lô bướng bỉnh nhắc lại: - Nhất định cháu phải thấy chúng, cho dù có xảy ra chuyện gì nữa đi chăng. Vợ chưa cưới của chàng, Kachia nghe thấy vậy sợ hãi nói: - Anh làm sao vậy Đa-ni-lô? Chẳng lẽ anh lại không muốn nhìn thấy ánh sáng trên đời này nữa hay sao? - Nói rồi nàng khóc thổn thức. Ông Prô-cô-pích và những người khác cũng nhận thấy Đa-ni-lô không có vẻ gì là nói đùa bèn trách ông lão: - Ông lão già quá lẩm cẩm rồi. Làm gì có chuyện ấy. Đó chẳng qua chỉ là câu chuyện cổ tích mà thôi. Ông lão tức giận đập bàn: - Có những bông hoa đá. Chàng trai nói đúng sự thật: Chúng ta đang làm phí đá. Những bông hoa đá của những người thợ trên núi mới tượng trưng cho cái đẹp, mới không làm uổng phí đá. Những người thợ mỉa mai: - Ông già điên rồi. Còn ông lão vẫn lẩm bẩm: - Có những bông hoa đá…. Khách ra về từ lâu nhưng Đa-ni-lô vẫn không quên câu chuyện của ông lão. Chàng lại vào trong rừng suốt ngày để tìm những bông cà độc dược. Chàng chẳng còn nhớ mảy may gì tới đám cưới nữa, làm ông Prô-cô-pích phát bực mình: - Thế mày có biết thương cái cô gái đã hứa hẹn với mày không đấy? Nó còn phải làm vợ chưa cưới của mày trong bao nhiêu năm nữa hả cái thằng dở hơi kia? Mọi người đã bắt đầu chế giễu nó, gọi nó là "bà cô" rồi đấy thằng ranh con ạ. Đa-ni-lô tự nhủ: "Ông ráng chờ thêm một thời gian nữa. Chỉ khi nào cháu làm xong chiếc chén vừa ý thì mới có thể nghĩ tới đám cưới được". Thế rồi chàng lại lao lên Núi Đồng, ngắm nghía từng phiến đá ở đó và lẩm bẩm: "Không, không phải tấm này". Mãi khi chàng đã bắt đầu chán nản thì bỗng nghe như có ai nói: - Không, không phải ở đó, hãy tìm ở phía núi Rắn ấy. Chàng nhìn quanh, chẳng có ai cả. Hay ai trêu cợt chàng rồi trốn vào đâu đó chăng. Nhưng nào có ai đâu. Chàng bắt đầu định quay về thì lại nghe thấy tiếng ai nói: - Có nghe thấy không hả chàng thợ đá Đa-ni-lô? Tôi bảo ở núi Rắn kia mà. Đa-ni-lô quay lại chợt nhìn thấy bóng một cô gái ẩn hiện trong làn sương mờ xanh, sau đó biến mất. Cái gì thế? Chẳng lẽ có ma? Nếu ta cứ đến núi Rắn thì sẽ thấy cái gì nhỉ? Đa-ni-lô thuộc lòng núi Rắn như bàn tay mình. Núi Rắn cách núi Đồng không xa lắm. Ngày nay núi đó không còn nữa, nó dã bị san bằng, chứ ngày xửa ngày xưa ở đó đầy đá. Ngay hôm sau Đa-ni-lô mò đến núi Rắn. Tuy núi không lớn lắm nhưng cao, đường lên núi dốc dựng đứng. Nhìn từ một phía, trái núi có một thung lũng nhỏ. Ở đấy có các phiến đá tòan loại hảo hạng. Không một nơi nào có đá tốt hơn đá ở đây. Đa-ni-lô lại gần thung lũng, ở đó toàn loại đá khổng tước loại tốt nhất. Có một phiến đá lớn đến nỗi Đa-ni-lô dùng cả hai tay mà không nhấc nó lên được. Đa-ni-lô ngắm nghía tấm đá đó. Nó có thể thỏa mãn được yêu cầu của chàng. Màu sắc đậm ở phần dưới có những đường vân xanh ở ngay chỗ chàng muốn, tất cả như cố tình tạo nên cho chàng dùng. Đa-ni-lô vui mừng chất phiến đá lên lưng ngựa rồi đi về nhà. Vừa về tới nhà, Đa-ni-lô đã vui mừng la lên: - Ông nhìn xem này, cháu mang về một phiến đá đẹp tuyệt vời chưa này. Thiên nhiên dường như cố tình tạo ra tấm đá này để cháu dùng. Bây giờ thì cháu có thể bắt tay vào làm việc, sau đó sẽ cưới vợ. Có lẽ Kachia đã chờ đợi cháu lâu lắm rồi. Và đối với cháu, sự chờ đợi cũng chẳng phải dễ dàng gì. Bây giờ thì phải mau mau kết thúc công việc để còn lo đám cưới chứ, ông nhỉ? Đa-ni-lô bắt tay vào tiện phiến đá đẽo chạm. Chàng làm ngày làm đêm. Còn ông Prô-cô-pích thì cứ im lặng, chờ cho chàng trai bình tâm lại. Công việc tiến hành trôi chảy. Chiếc chén như hình dáng mà Đa-ni-lô đã hình dung: Dáng bông cà độc dược, chân chén là chiếc lá xòe rộng duyên dáng đỡ lấy chiếc chén. Tất cả đã được hoàn thành một cách tốt đẹp nhất. Ông Prô-cô-pích khen ngợi hết lời. Nhưng Đa-ni-lô vẫn chưa hài lòng tới mất ngủ. Chàng nghĩ nó vẫn chẳng giống bông hoa thật và lại mất đi vẻ đẹp vốn có. của những bông hoa thật. Chàng chẳng còn thiết ăn uống ngồi lỳ suốt ngày bên chiếc chén để nghĩ cách làm sao cho nó đẹp hơn. Ông Prô-cô-pích và những người thợ khác thấy vậy thắc mắc, không biết chàng trai còn cần gì nữa? Từ trước tới nay chưa có ai trong vùng này có thể chạm được chiếc chén đẹp đến như thế này, vậy mà chàng trai vẫn không hài lòng. Chắc chàng ta mắc bệnh tâm thần rồi, cần phải chạy chữa cho chàng thôi. Kachia nghe thấy mọi người bàn tán, nàng lo sợ chạy tới vừa khóc vừa kể cho Đa-ni-lô biết những lời dị nghị. - Thôi được - chàng nói - không làm gì thêm nữa. Có lẽ anh cũng chỉ làm được như thế là hết khả năng của mình rồi. Anh không có khả năng lột tả được vẻ đẹp của đá, đành vậy. Chúng ta chuẩn bị làm lễ cưới đi. Nào có gì phải vội. Cô dâu đã sẵn sàng từ lâu, chỉ còn việc chọn ngày lành tháng tốt nữa thôi. Đa-ni-lô trở nên vui vẻ. Chàng chạy đi báo cho viên đốc công biết chàng đã làm xong chiếc chén theo lệnh của hắn. Hắn chạy ngay tới xem và tỏ ra rất hài lòng. Chiếc chén đẹp biết bao. Hắn muốn gửi ngay cho lão chủ, nhưng Đa-ni-lô ngăn hắn lại: - Đợi một chút tôi còn phải sửa lại một vài họa tiết cho hoàn hảo. Mùa thu đã tới. Và như mọi khi, đó là mùa cưới ở gần núi Rắn. Không biết tự bao giờ và do ai truyền lại rằng, cứ vào thời gian đó là bầy rắn tụ tập tại núi Rắn làm lễ cưới và những bông hoa đá cũng nở vào thời gian này. Đa-ni-lô lại nhớ đến chuyện về những bông hoa đá. Chàng nghĩ: "Hay ta cứ thử đến núi Rắn xem sao?" Và chàng sực nhớ tới giọng nói của người đàn bà ở Núi Đồng mách chàng chỗ lấy đá cũng hình như vọng từ núi Rắn thì phải. Và thế là Đa-ni-lô tới núi Rắn vào đúng ngày Lễ Rắn. Lúc đó mặt đất giá băng, tuyết bắt đầu rơi lất phất. Đa-ni-lô tới chỗ lần trước đã nhặt được phiến đá. Ở đó có một lỗ hổng lớn, dường như đá bị nứt ra. Nhìn thấy tảng đá xám giống chiếc ghế, chàng bèn ngồi lên đó và lại nhớ tới những bông hoa đá. Bỗng nhiên trời trở nên ấm như đang vào hè. Đa-ni-lô ngẩng đầu lên thì thấy Bà Chủ Núi Đồng ngồi ngay ở tảng đá đối diện với chàng. Chàng nhận ngay ra bà qua vẻ đẹp và trang phục của bà: "Ta tưởng tượng ra chăng. Chắc chẳng có ai đâu". Và chàng cứ nhìn sang tảng đá bà ta ngồi, im lặng như không thấy gì. Bà Chủ Núi Đồng cũng im lặng như đang suy nghĩ điều gì, sau đó cất tiếng hỏi chàng: - Thế nào, Đa-ni-lô vẫn không nghĩ ra chiếc chén hình bông cà độc dược à? - Chưa nghĩ ra. - Chàng hãy làm cái khác đi, tôi sẽ cho chàng tấm đá khác theo mong ước của chàng. - Không, tôi không thể làm được nhiều hơn nữa. Tốt hơn hết, bà hãy chỉ cho tôi xem những bông hoa đá của bà. - Cho anh xem thì dễ thôi, nhưng chỉ sợ sau đó anh sẽ phải hối tiếc. - Không cho tôi ra khỏi núi này à? - Việc gì tôi phải không thả cho anh về. Mọi con đường đều rộng mở, duy con đường dẫn đến chỗ tôi thì không có. - Thôi, hãy chỉ cho tôi xem đi, bà chủ thân mến ơi. Bà ta còn cố thuyết phục chàng từ bỏ ý nghĩ dại dột đó, nhưng chàng không chịu nghe. Bà khuyên chàng hãy cố gắng tự nghĩ ra cách đạt nguyện vọng của mình và khuyên chàng hãy thương lấy ông già Prô-cô-pích, người đã thương chàng như con đẻ, hãy nghĩ đến Kachia, người đã khóc hết nước mắt vì chàng. - Tôi biết. Tôi biết tất cả những điều đó - Đa-ni-lô tuyệt vọng kêu lên - Nhưng thiếu những bông hoa đá thì tôi không sống nổi. Hãy cho tôi xem chúng đi. - Thôi được, đã như vậy thì anh hãy đi theo tôi vào trong vườn. Bà Chủ Núi Đồng nói vậy rồi đứng lên. Trời bỗng ầm ầm rung chuyển, Đa-ni-lô nhìn ra, không còn thấy vách núi xám nữa. Cây cối trong vườn xum xuê, nhưng không giống cây bình thường mà toàn là cây bằng đá. Cây thì bằng đá cẩm thạch, cây thì bằng đá rắn.... nhưng cây nào cây nấy từ chiếc lá cho đến những cành nhỏ đều bằng đá. Đá đỏ, đá xanh da trời muôn màu muôn vẻ. Tuy không có ánh mặt trời nhưng mọi vật vẫn sáng lấp lánh như trong buổi bình minh. Giữa những vòm cây, vô vàn rắn vàng đung đưa như nhảy múa, nhả ra những tia sáng lóa mắt. Bà Chủ Núi Đồng dẫn Đa-ni-lô đến một cánh đồng nhỏ. Đất ở đây giống như đất sét trắng, nhưng phủ lên chúng là những bụi cây đen mượt như nhung. Từ những bụi cây nở ra những bông hoa chuông màu xanh lớn, mỗi bông lại được tô điểm thêm những ngôi sao đen viền ngòai cánh hoa. Ánh sáng xanh từ những bông hoa phát ra xuyên thủng bóng đêm, còn những ngôi sao nhấp nháy như nhảy múa, như ca hát - Nào Đa-ni-lô, anh đã nhìn thấy rồi chứ? - Bà Chủ Núi Đồng hỏi chàng - Tôi không có loại đá khả dĩ có thể làm ra được những bông hoa giống như những bông hoa của bà. - Giá như anh chịu nghe lời tôi, chịu khó suy nghĩ để tìm ra kiểu hoa đá thì bây giờ tôi có thể cho anh phiến đá để từ đó anh làm ra bông hoa đá vừa ý rồi không? Tiếc là bây giờ tôi không thể giúp anh được nữa. Bà Chủ Núi đồng buồn rầu nói vậy rồi vỗ tay. Trời lại rung chuyển ầm ầm. Khi mở mắt ra, Đa-ni-lô đã thấy mình ngồi trên tảng đá xám như trước. Trời trở lạnh, rừng cây trút lá ào ào. Đa-ni-lô trở về nhà. Tối hôm đó chàng đến nhà Kachia chơi như mọi bữa. Thoạt tiên chàng rất vui vẻ trò chuyện ca hát, khiêu vũ, nhưng bỗng nhiên chàng trở nên rầu rĩ đến nối nàng phát hoảng: - Trông anh như đi đưa đám ấy. Có chuyện gì đã xảy ra với anh vậy? - Anh thấy đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, chẳng còn nhìn thấy gì nữa. Cuộc hò hẹn của cặp tình nhân bất hạnh đã tan. Theo tục lệ lúc bấy giờ, vợ chưa cưới phải đưa tiễn vị hôn phu của mình về nhà. Có nhiều cô bạn gái của Kachia đi qua quãng đường trước cửa nhà Kachia và rủ họ: - Nào hãy cùng đi với chúng tớ tới E-an-xkôi rồi hãy quay về. Kachia nghĩ thầm: "Phải tìm cách gì để chàng vui vẻ lên." Nàng rỉ tai điều gì đó với các bạn nàng, thế là các cô này trở nên vui nhộn, nhao nhao nói: - Cần phải đưa tiễn chàng về nhà, dù chàng chỉ ở gần đây thôi. Chúng ta hãy hát những bài hát thật hay để tiễn biệt chàng rể tương lai chứ. Đêm thật yên tĩnh, tuyết rơi trắng xóa, thời tiết thật thích hợp cho các cuộc dạo chơi. Họ bắt đầu đi. Các cặp vợ chồng chưa cưới thì khoác tay nhau đi sánh vai, còn các cô gái độc thân thì ngày càng ít đi, và các cô nàng tinh nghịch hát bài phàn nàn về điều này. Các cô cất giọng hát ê a như trong buổi đưa đám, nghe đến nẫu cả ruột. Kachia bực mình nghĩ: "Thật không ngờ lũ bạn quỷ sứ lại vô tâm đến như vậy. Chàng đã buồn đến nẫu ruột, mà chúng nó lại hát rên rỉ nỉ non". Nàng tìm cách lôi kéo Đa-ni-lô ra khỏi tâm trạng ủ dột nên nói lảng sang những chuyện khác. Nhưng Kachia đã phí công vô ích. Từ đó đến hết buổi Đa-ni-lô không tài nào vui trở lại được. Các cô gái đã kết thúc bài vãn ca, lại đùa nghịch như quỷ. Chỉ có Đa-ni-lô vẫn im lặng đi cạnh Kachia, mặc dù nàng đã tìm hết cách làm cho chàng khuây khỏa. Họ đã tới trước nhà Đa-ni-lô, mọi người ai giải tán về nhà người ấy. Còn Đa-ni-lô quên cả hôn từ biệt Kachia, cứ thế bước vào nhà. Ông Prô-cô-pích đã đi ngủ từ lâu. Đa-ni-lô rón rén nhóm lửa lên rồi lôi những chiếc chén của chàng ra giữa nhà. Chàng cứ đứng ngây người ra mà nhìn ngắm chúng. Vừa lúc ấy ông Prô-cô-pích lại ho. Những năm gần đây, ông cảm thấy trong người không được khỏe lắm. Tiếng ho của ông như nhát dao găm đâm vào tim Đa-ni-lô, chàng cảm thấy thương ông vô hạn và thấy mình phần nào có lỗi. Ông Prô-cô-pích lại ho nữa. Chợt thức giấc, thấy Đa-ni-lô đứng giữa nhà, ông bèn hỏi: - Sao cháu còn chưa đi ngủ, đứng đây làm gì vậy? - Cháu xem đã đến lúc mang cái của nợ này đi nộp chưa? - Lẽ ra phải đem chiếc chén đi nộp từ lâu lắm rồi mới phải. Để mãi chẳng có ích lợi gì. Cháu chẳng thể làm tốt hơn được nữa đâu Ông còn lẩm bẩm điều gì đó rồi lại ngủ thiếp đi. Đa-ni-lô cũng đi nằm, nhưng chàng cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Chàng lại dậy, thắp nến lên, nhìn hết chiếc chén này đến chiếc chén khác rồi lại nhìn ông. Chàng lại bên ông một lúc lâu, thở dài. Rồi chàng cầm chiếc búa, lại gần mấy chiếc chén, vung tay đập nát chúng. Trong nháy mắt, chỉ có chiếc chén chạm trổ theo mô hình bông cà độc dược của chàng là vỡ vụn ra, còn mấy chiếc chén làm theo mô hình của lão chủ lại không hề sứt mẻ. Chàng đành để mặc chúng trong tình trạng ngổn ngang như vậy, bỏ chạy ra khỏi nhà. Từ đó không còn ai tìm thấy chàng nữa. Có người nói chàng đã hóa điên, lang thang trong rừng, có người lại bảo chàng đã bị Bà Chủ Núi Đồng bắt về làm công cho bà ở trên núi. Nhưng câu chuyện xảy ra tiếp lại khác hẳn với những lời đồn đại. Mời các bạn xem tiếp ở những truyện sau. |
4. Người thợ núi
4. Người thợ núi Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Rốt cuộc là Kachia - vợ chưa cưới của Đa-ni-lô ấy mà - vẫn là gái chưa chồng. Hai hay ba năm đã trôi qua kể từ khi Đa-ni-lô mất tích, thế là cô ấy đã không còn ở độ tuổi kén chồng nữa. Ở làng thợ của chúng tôi, ngòai hai mươi tuổi đã bị coi là gái già, gái ế rồi. Các chàng trai chẳng mấy khi còn hỏi cưới những cô như vậy, thường chỉ có những người góa vợ mà thôi. Nhưng có lẽ vì Kachia là một cô gái nết na xinh đẹp nên các chàng trai tơ cứ quấy rầy, còn cô ấy thì chỉ nói: - Tôi đã hứa hôn với Đa-ni-lô rồi. Họ thuyết phục: - Làm thế nào được! Cô đã lỡ hứa, nhưng chưa lấy. Mà bây giờ thì nhắc đến chuyện đó làm gì. Anh ấy đã mất lâu rồi. Kachia không chịu: - Tôi đã hứa với Đa-ni-lô rồi. Chắc chắn là anh ấy sẽ về. Họ nói với cô: - Anh ấy đâu còn trên thế gian này nữa. Chắc chắn là như vậy. Cô vẫn trước sau như một: - Không ai nhìn thấy xác anh ấy cả và tôi chắc anh ấy còn sống. Thấy cô gái không thể lay chuyển được, họ đành chịu. Có kẻ còn mang cô ấy ra làm trò cười nữa chứ, chúng gọi cô ấy là Vợ chưa cưới của ma. Cái biệt hiệu ấy dính chặt lấy cô. Cứ Kachia - vợ chưa cưới của ma, Kachia - vợ chưa cưới của ma, làm như đã hết tên để gọi không bằng. Rồi một lần, nạn dịch xảy ra. Cả cha lẫn mẹ Kachia đều không còn. Gia đình cô có khá đông anh chị em, ba anh trai đã có vợ, và cũng chừng ấy chị gái đã có chồng.Thế là xảy ra chuyện cãi cọ xem ai được sống trong nhà của cha mẹ . Kachia liền nói: - Tôi sẽ sang nhà Đa-ni-lô ở. Bác Prô-cô-pích đã già yếu lắm rồi. Tôi sẽ chăm nom bác ấy. Tất nhiên là các anh chị cô ngăn lại: - Làm thế không coi được đâu Kachia. Bác Prô-cô-pích tuy già yếu thật, nhưng thiếu gì điều thiên hạ có thể bịa đặt cho cô. Kachia trả lời: - Tôi chẳng sợ gì cả. Miễn tôi không làm điều gì không phải là được. Hơn nữa bác Prô-cô-pích với tôi đâu phải người ngòai. Chẳng gì bác ấy cũng là cha nuôi Đa-ni-lô của tôi. Tôi sẽ kêu bác ấy là cha. Thế rồi cô bỏ đi. Mà cũng phải thôi, anh chị em nhà ấy không mấy gắn bó với nhau. Họ vốn nghĩ thầm trong bụng, bớt được người nào thì đỡ ầm ĩ được chừng ấy. Còn bác Prô-cô-pích thì thích là đằng khác. Bác ấy nói: - Cám ơn con đã nghĩ đến cha. Vậy là họ bắt đầu chung sống. Bác Prô-cô-pích ngồi làm đá, còn Kachia lo việc nội trợ - chăm nom vườn tược, nấu nướng giặt giũ và những việc lặt vặt khác. Nhà chỉ còn có hai người nên công việc cũng chẳng còn là mấy. Kachia lại là cô gái nhanh nhẹn, thành ra thoáng cái là cô đã xong. Hết việc, cô đâu có chịu ngồi không, lại quay sang đan lát, thêu thùa, may vá. Thời gian đầu, cuộc sống của hai người khá là êm ả, chỉ có điều sức khỏe của bác Prô-cô-pích ngày càng xấu hơn. Ngồi được một ngày thì nằm hai ngày. Già cả rồi, sức lực đâu có còn lại bao nhiêu. Kachia bắt đầu phải suy nghĩ xem họ sẽ sống tiếp bằng cách gì. "May vá và thêu thùa thì sống không nổi, mà mình lại không biết nghề nào khác cả" Một hôm, cô nói với bác Prô-cô-pích: - Cha ơi! Dạy con làm đá đi. Việc đơn giản nhất thôi cũng được. Bác Prô-cô-pích thậm chí phải phì cười: - Con nói gì vậy! Làm đồ ngọc thạch đâu phải việc đàn bà con gái. Xưa nay chưa có chuyện ấy bao giờ. Tuy thế, cô gái cũng vẫn để ý quan sát công việc của người cha nuôi. Đỡ đần việc này, việc khác, cắt đá, đánh bóng. Bác Prô-cô-pích cũng bắt đầu dạy cô làm cái nọ, cái kia. Tất nhiên không phải là những món đồ thực thụ. Mài mấy cái mặt đá dẹt làm cán dao, cán dĩa và vài ba thứ mà khách hàng thường đặt. Nói chung là những thứ lặt vặt, rẻ tiền ấy mà cũng thỉnh thoảng thôi. |
4. Người thợ núi (tt)
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Chẳng bao lâu, bác Prô-cô-pích qua đời. Mấy người anh chị lại ép Kachia: - Giờ thì cô nhất thiết phải lấy chồng. Làm sao cô sống một mình được. Kachia gạt phắt đi : - Đó không phải là việc của các anh chị. Tôi không cần ai khác cả. Đa-ni-lu-scô sẽ về. Anh ấy học xong ở trong núi và sẽ về. Các anh chị cô nhao nhao cả lên : - Cô có điên không đấy hả Kachia. Sao lại nói những điều như vậy. Người chết đã lâu rồi thế mà cô còn chờ. Liệu đấy, không khéo lại bị ma ám cho mà xem. - Tôi chẳng sợ - Cô gái đáp Khi đó, các anh chị cô bèn hỏi : - Thế nhưng cô lấy gì mà sống? - Điều này - cô gái trả lời - các anh chị cũng khỏi phải quan tâm. Một mình tôi cũng sống được. Tưởng là bác Prô-cô-pích còn để tiền lại, các anh chị cô lại thuyết phục: - Thật ngu đến thế là cùng. Nếu có tiền thì trong nhà nhất thiết phải có đàn ông. Nhỡ không may gặp bọn tham tiền thì làm sao. Chúng sẽ vặt cổ cô như một con gà và thế là hết đời. Cô gái đáp: - Việc gì phải lo trước. Đời tôi được bao lâu thì tôi sẽ sống bấy lâu. Mấy anh chị cô còn làm ầm ĩ hồi lâu. Người thì quát mắng, người thì khuyên giải, người thì khóc lóc, còn Kachia trước sau vẫn như một nói: - Một mình tôi cũng sống được. Tôi chẳng cần chàng rể nào của các anh chị cả. Tôi có người của tôi từ lâu rồi. Khuyên răn mãi không được, các anh chị cô bực mình nói: - Có chuyện gì thì đừng có vác mặt đến nhà chúng tao nữa. Cô gái vừa cười vừa trả lời: - Cám ơn các anh chị đã có lòng thương. Tôi sẽ ghi nhớ. Còn các anh chị đừng quên thỉnh thoảng ghé qua nhà tôi nhé. Mấy người anh chị tức giận sập cửa đánh rầm một tiếng và bỏ về. Kachia còn lại một mình côi cút trong căn nhà trống trải. Đầu tiên cô nức nở khóc, nhưng sau đó cứng cỏi thốt lên: - Đừng hòng, tôi không chịu đâu. Lau sạch nước mắt, cô quay ra dọn dẹp trong nhà. Lau chùi cọ rửa mọi thứ sạch sẽ. Xong xuôi, cô ngồi vào bàn làm đá. Ở đó cô cũng sắp xếp mọi việc theo ý mình. Cái gì không cần, cô cất sang một bên, còn những thứ thường xuyên phải dùng đến, cô để ngay bên cạnh. Thu vén xong đâu vào đấy, cô bỗng thấy muốn làm việc. "Mình thử tự làm một cái mặt đá dẹt xem sao" Cô định bắt tay vào làm việc nhưng lại chẳng có miếng đá nào thích hợp cả. Mảnh chiếc chiến hình hoa cà độc dược của Đa-ni-lô vẫn còn, nhưng Kachia giữ gìn không động tới. Chúng được gói riêng cẩn thận trong một tấm vải. Đá của bác Prô-cô-pích tất nhiên là còn nhiều. Chỉ có cái là cho đến lúc chết bác ấy chuyên làm đồ lớn, nên đá cũng toàn phiến to cả. Những mảnh vụn và những miếng bé đều nhặt nhạnh làm đồ nhỏ hết rồi. Kachia nghĩ bụng: "Có lẽ phải ra mỏ đá kiếm vậy. May ra thì có hòn như mình cần" Nhớ là Đa-ni-lô và bác Prô-cô-pích nói rằng họ thường lấy đá trên núi Rắn, cô bèn đi tới đó. Ở phía Gu-me-scơ bao giờ cũng đông đúc: người lấy đá, người chuyên chở. Thấy Kachia xách giỏ qua, họ ngó xem cô đi đâu. Kachia không thích bị nhìn như vậy. Cô bỏ ý định kiếm đá ở mỏ đá và vòng ra phía sau núi. Phía bên ấy là một khu rừng rậm rạp. Kachia đi qua rừng, lần lên đỉnh núi Rắn và ngồi xuống nghỉ chân. Cô chợt nhớ tới Đa-ni-lô và buồn rầu bất giác lại trào lên. Cô ngồi trên tảng đá, nước mắt chảy ròng ròng. Xung quanh chỉ có rừng, không một bóng người nào nên cô không sợ bị ai nhìn thấy. Những giọt nước mắt rơi lã chã trên mặt đất. Khóc một hồi, cô bỗng nhìn thấy một tảng đá khổng tước nằm ngập trong đất ngay bên cạnh chân. Làm sao đào được khi cả cuốc chim lẫn xà beng đều không có? Dù vậy, Kachia vẫn dùng tay lắc thử và cảm thấy hòn đá khẽ lung lay. Thế là cô vội dùng cành cây bới đất xung quanh. Khi hòn đá lộ hẳn ra cô bèn lay thật mạnh. Nó xiêu đi và phía dưới bỗng vang lên tiếng rắc nhỏ như tiếng cành khô gãy. Miếng đá không lớn lắm, trông khá vuông vắn. Bề dày độ ba ngón tay, rộng bằng lòng bàn tay và dài gần nửa ác-sin. Kachia thậm chí sửng sốt: - Thật đúng với ý mình. Xẻ ra sẽ được vô số khối mặt đá dẹt. Mà hầu như chẳng phải bỏ đi tí nào cả. Cô mang miếng đá về nhà và lập tức đem ra xẻ. Đó là một công việc tốn khá nhiều thời gian, mà Kachia còn phải lo làm việc nhà. Cứ thế, cả ngày trôi qua trong sự bận rộn và chẳng có lúc nào để buồn chán. Hễ cứ ngồi vào bàn làm đá là cô lại nghĩ đến Đa-ni-lô: - Giá mà anh ấy nhìn được cô thợ mới này nhỉ. Lại còn ngồi ngay ở chỗ anh ấy và bác Prô-cô-pích nữa chứ. |
4. Người thợ núi (tt)
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Tuy nhiên, những kẻ ong bướm đâu có chịu ngồi yên. Làm sao mà chúng bỏ qua cô cho được… Vào một buổi tối ngày lễ, khi Kachia say sưa ngồi làm việc tới tận khuya, có ba tên trai làng leo qua hàng rào vào nhà cô. Chúng muốn dọa cô hay còn định làm gì nữa thì chỉ chúng mới biết được, có điều là cả ba đều đã chếnh choáng hơi men. Mải mê với lưỡi cưa, Kachia không còn hay biết là trong buồng chứa cỏ có người lạ. Đến khi nghe tiếng đập cửa ầm ầm cô mới ngửng mặt lên. - Mở cửa ra, vợ chưa cưới của ma. Đón khách trần gian đi nào Đầu tiên Kachia nhỏ nhẹ: - Thôi, về đi các anh! Nhưng chúng nào đâu có chịu. Cánh cửa rung lên bần bật và xem chừng sắp bung ra đến nơi. Thấy vậy Kachia bật then cài, mở toang cửa và quát lên: - Nào, vào đi! Đứa nào muốn vỡ đầu trước ? Mấy tên trai làng ngước nhìn và thấy trong tay cô lăm lăm chiếc rìu. - Này, đừng có đùa thế cô em. - Chúng nói - Đùa cái gì! - Cô đáp - Đứa nào bước qua ngưỡng cửa là thủng trán. Dù đang say, ba tên trai làng cũng phải hiểu rằng đó không phải là lời nói đùa. Cô gái đứng sừng sững, điềm tĩnh, đôi vai căng tròn lực lưỡng, ánh mắt gan lỳ và chiếc rìu rõ ràng đang nằm trong một bàn tay thành thục. Rốt cuộc là chẳng tên nào dám bước vào. Chúng lè nhè vài ba câu rồi chuồn thẳng. Đã thế lại còn đem chuyện ấy ra kể nữa chứ và bị mọi người nhạo báng, tiếng rằng ba đấng mày râu lại để một cô gái dọa cho phải bỏ chạy. Hiển nhiên điều đó làm cả lũ bẽ mặt, và chúng lại bịa thêm, rằng Kachia không phải chỉ có một mình, mà đứng sau lưng cô còn có cả một con ma. - Trời ơi, trông nó khủng khiếp đến nỗi ai mà dám đứng lại Mọi người nửa tin nửa ngờ, nhưng từ đó dân làng thì thầm với nhau: - Đúng là nhà ấy có ma. Đâu phải ngẫu nhiên mà con bé sống cô độc một mình. Những lời đồn đại lan đến tai Kachia, nhưng cô chẳng lấy thế làm buồn rầu. Cô nghĩ bụng: "Kệ cho họ bịa đặt. Nếu họ sợ thì càng tốt cho mình, lần sau chẳng đứa nào dám trèo qua rào nữa." Hàng xóm rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy Kachia ngồi ngồi bên bàn làm đá. Họ giễu cô: - Chà, lại còn tập tành theo đòi nghề của đàn ông nữa chứ. Cô ta mà làm nổi cái gì! Nhận xét này làm Kachia nản lòng hơn. Bản thân cô cũng đã từng nghĩ: "Chẳng biết một mình mình có làm được cái gì không?" Nhưng rồi cô tự nhủ: "Hàng chợ ấy mà! Đâu có gì khó! Chỉ cần nhẵn nhụi là được. Không lẽ cái đó chính mình cũng không làm nổi sao?" Rồi Kachia cũng xẻ xong hòn đá. Trước mắt cô, vân đá hiện lên thật tuyệt vời, đúng ngang theo chiều cưa. Rõ là cầu được ước thấy. Chính cô cũng phải kinh ngạc trước sự may mắn ấy. Tính toán xong xuôi, Kachia bắt đầu mài bóng. Công việc không khó lắm, nhưng chưa quen tay thì cũng chẳng dễ gì làm được. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Những chiếc mặt đá dẹt tuyệt đẹp thành hình mà mất mát thì hầu như không đáng kể, trừ những phần phải mài bỏ. Nhìn chỗ mặt đá làm xong, Kachia ngỡ ngàng, không ngờ từ một miếng đá có thể được nhiều như vậy. Cô bắt đầu suy nghĩ xem nên đem bán ở đâu. Trước kia, đôi khi bác Prô-cô-pích mang những món đồ lặt vặt thuộc loại này ra thành phố và giao cho một cửa hiệu. Kachia đã nhiều lần được nghe về cửa hiệu này, và thế là cô quyết định ra thành phố. Kachia khóa nhà và lên dường đi ra thành phố. Cả làng Pê-lê-va-ja chẳng ai để ý đến chuyến đi của cô. Hỏi thăm được nhà ông chủ vẫn thường mua hàng của bác Prô-cô-pích, Kachia đển thẳng cửa hiệu. Cô bước vào và thấy trong tủ kính không biết cơ man nào là đồ ngọc thạch, riêng các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước đã xếp đầy cả một ngăn tủ. Cửa hiệu khá đông, người mua, người bán tấp nập. Chủ hiệu trông hết sức nghiêm trang và bệ vệ. Lúc đầu, Kachia thậm chí không dám bước lại gần y, nhưng sau đó, cô lấy hết can đảm và hỏi: - Ông có cần các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước không? Chủ cửa hiệu chỉ tay vào cửa kính: - Thứ đó ta đã có bao nhiêu rồi, cô không thấy sao? Những người thợ đến bán hàng nói với y: - Chà, dạo này ở đâu ra mà lắm thợ làm mặt đá dẹt đến thế. Chỉ uổng đá đi thôi. Họ chẳng thèm hiểu, để làm mặt dẹt thì đá phải có vân rất đẹp. Trong số thợ ấy có một người cũng ở làng Pô-le-va-ja. Hắn thì thầm với cửa hiệu: - Con bé ấy hơi mát. Hàng xóm thấy nó làm đá hẳn hoi. Chắc là đã kỳ cạch được một mớ đây. Nghe vậy chủ hiệu bèn nói: - Nào, cho xem cô mang gì tới đây nào? Kachia đưa cho y một chiếc mặt đá dẹt. Chủ hiệu ngắm nghía một hồi rồi trợn mắt nhìn cô và nói: - Cô ăn trộm của ai vật này? Kachia giận sôi lên và quát thẳng vào mặt chủ hiệu: - Ông có quyền gì mà nói với người chưa quen biết những điều như vậy. Nếu mắt ông còn sáng thì hãy nhìn đây. Liệu ăn trộm được của ai được chừng này chiếc mặt dẹt cùng một kiểu vân đá hả? Sao? - Cô ném lên mặt quầy số mặt đá mình làm được. Chủ hiệu và mấy người thợ thấy đây đúng là mặt đá cùng một kiểu vân thật, và đường vân thuộc loại cực kỳ hiếm có. Ở giữa trông giống như một cây cổ thụ với đôi chim, một con đậu trên cành và một con ở dưới gốc. Đường vân hiện lên rõ mồn một và mặt đá làm rất khéo. Nghe thấy câu chuyện khách mua hàng xúm lại xem nhưng chủ hiệu đã gom ngay chỗ mặt đá lại. Y thoái thác: - Để một đống thế này thì xem làm sao được. Chờ một chút, tôi xếp xuống dưới mặt kính rồi ai thich gì thì tha hồ chọn - Quay về phía Kachia y nói - Cô vào buồng kia đi. Ta sẽ tính tiền liền. Kachia bước đi, viên chủ hiệu đi theo sau. Khép cửa lại, y hỏi: - Cô tính bao nhiêu đây? Đã từng nghe bác Prô-cô-pích nói giá, Kachia cứ thế nhắc lại. Chủ hiệu lăn ra cười: - Trời ơi! Cô nói gì ghê vậy! Giá ấy ta chỉ trả cho mỗi mình ông thợ Prô-cô-pích ở làng Prô-cô-pích với Đa-ni-lô - con nuôi của ông ta thôi. Thợ như họ mới là thợ chứ. Cô gái trả lời: - Tôi cũng thuộc gia đình ấy đấy và giá cũng theo đó mà tính. - Vậy hả! - Chủ hiệu ngạc nhiên thốt lên - Thế ra đây là đồ của Đa-ni-lô còn lại ư? - Không - Kachia trả lời - đây là đồ tôi làm. - Hay là đá do cậu ấy để lại? - Cả đá cũng tự tôi kiếm. Chủ hiệu rõ ràng không tin, nhưng chắc chẳng muốn nói đi nói lại lôi thôi. Y thanh toán mọi thứ sòng phẳng và còn nói thêm: - Lần sau mà cô còn làm được những thứ như thế này thì cứ mang tới nhé. Ta sẽ mua hết, còn giá cả thì cứ yên tâm. Kachia về, lòng rộn ràng vui sướng - Chà được nhiều tiền quá! Trong khi ấy chủ hiệu bày các mặt đá vào tủ kính. Người mua quay lại: - Bao nhiêu? Tất nhiên là y không chịu hớ rồi, chẳng những nói giá cao gấp mười giá mua vào mà lại còn gióng: - Đường vân như thế này chưa bao giờ có đâu. Đồ của Đa-ni-lô - thợ ở làng Pô-lê-va-ja đấy. Đố ai làm đẹp hơn anh ta được. Kachia về đến nhà mà vẫn chưa hết ngạc nhiên: - Hay thật, hóa ra mặt dẹt của mình đẹp hơn hết thảy! Nhờ được hòn đá tốt. Chắc mình gặp vận may. - Vừa nghĩ tới đây, cô bỗng sững người: - Hay là Đa-ni-lu-scô nhắn tin cho mình. Chẳng do dự thêm, cô vòng lại và chạy thẳng lên núi Rắn. Tên thợ đá từng định bêu xấu Kachia trước người thương gia ở thành phố cũng đã trở về nhà. Hắn ghen tức với Kachia vì những viên đá đẹp hiếm thấy. Hắn nghĩ bụng: “Phải xem con bé ấy lấy đá ở đâu mới được. Hay là Prô-cô-Pích hoặc Đa-ni-lô đã chỉ cho nó chỗ lấy mới không biết?” Thoáng thấy Kachia chạy đi đâu đó, hắn liền theo sau và bắt gặp cô vòng qua Gu-me-scơ rồi đi lên núi Rắn. Tên thợ bám riết, trong bụng thầm nghĩ: “Phía ấy toàn là rừng, mà trong rừng thì mình sẽ lần đến tận nơi cho nó biết”. |
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Họ vào rừng, Kachia đi cách tên thợ không xa và chẳng hề nghĩ ngợi, không nhìn lại mà cũng chẳng dừng chân nghe ngóng. Tên thợ mừng thầm là hắn biết được mỏ đá mới quá dễ dàng. Đột nhiên có tiếng gì đó, vang lên bên cạnh hắn. Tiếng động lạ lùng đến mức làm cho tên thợ hốt hoảng. Hắn dừng lại xem đó là cái gì. Trong khi hắn ngó nghiêng, nghe ngóng, Kachia đã biến mất từ hồi nào. Chạy dọc chạy ngang trong rừng, tìm kiếm hồi lâu, cuối cùng hắn mệt mỏi lê ra ở gần ao Bắc, quá Gu-me-scơ có lẽ đến hai dặm. Ngay trong mơ Kachia cũng không tưởng tượng nổi là có người theo dõi. Cô leo lên núi, tìm tới chỗ lấy được miếng đá đầu tiên. Cái hố cũ dường như rộng thêm ra và bên cạnh lại thấy một tảng đá y như vậy. Kachia lắc thử và tảng đá lung lay và gãy đánh rắc như một cành cây khô. Cầm miếng đá trong tay, Kachia bật lên nức nở. Cô kể lể như các bá các cô khóc người chếr. - Anh yêu ơi, anh bỏ đi để em lại cho ai… Khóc lóc hồi lâu, Kachia thấy nỗi đau khổ dường như đã vơi bớt. Cô thẫn thờ đứng nhìn mỏ đá của mình. Nơi ấy là một khoảng rừng thưa. Xung quanh toàn là rừng rậm cao lớn, còn gần mỏ đá thì cây cối thưa và nhỏ hơn. Đột nhiên, ánh nắng rọi thẳng vào mỏ đá và nó chợt như bốc lửa, những tảng đá bắt lên muôn vàn tia sáng lóng lánh. Kachia lấy làm ngạc nhiên và tò mò muốn lại gần để xem. Cô tiến lên một bước và dưới chân bỗng vang lên tiếng răng rắc. Cô vội rụt chân lại và nhìn xuống thì… Trời ơi, dưới chân cô đâu có phải là mặt đất. Cô đang đứng trên ngọn một cây gì đó cao ngất, xung quanh cũng nhấp nhô những ngọn cây như vậy. Qua kẽ lá, cô nhìn thấy bãi cỏ và những bông hoa mọc ở phía dưới, nhưng sao chúng không giống như hoa cỏ quen thuộc. Ở vào chỗ ấy, các cô khác hẳn đã hoảng hốt và kêu cứu ầm ĩ, còn cô thì lại nghĩ: “Đúng núi mở cửa ra đây rồi! Giá mà thấy được Đa-ni-lu-scô nhỉ!” Cô vừa thoáng nghĩ, bỗng thấy trên bãi trống phía dưới có người trông giống hệt Đa-ni-lô đang đi, hai tay giơ lên như muốn nói điều gì đó. Quên hết mọi chuyện, kể cả việc đang ở trên ngọn cây, Kachia nhào thẳng xuống và… ngã lăn ra trên mặt đất, ngay chỗ cô vừa đứng. Khi đã tỉnh trí lại, cô tự nhỉ: “Đúng là mình bị ma ám rồi. Phải mau mau về nhà thôi”. Đang nghĩ như vậy, nhưng cô vẫn tiếp tục ngồi yên, chờ đợi xem cửa núi có mở ra lại không, xem Đa-ni-lô có xuất hiện nữa không. Cứ như vậy cô ngồi cho đến khi tối mịt và chỉ khi đó mới chịu ra về. Cô vừa đi vừa nghĩ: “Dù sao mình cũng đã gặp Đa-ni-lu-scô”. Tên thợ đá theo dõi Kachia lúc ấy cũng đã về đến làng. Chạy lại nhà Kachia và thấy cửa vẫn còn đóng im ỉm, hắn bèn nấp vào một chỗ để rình xem cô gái mang gì về nhà. Lát sau, khi Kachia xuất hiện, hắn liền nhảy ra chặn ngang đường và hỏi: - Cô đi đâu về thế? - Tôi lên núi Rắn, - cô gái trả lời. - Tối mịt thế này mà lên trên đó làm gì? - Để gặp Đa-ni-lô… Nghe đến đây, tên thợ hoảng hốt quay mình chạy mất và ngày hôm sau, người trong làng thì thầm với nhau: - Này, con bé vợ chưa cưới của ma điên thật rồi. Đêm đêm, nó lên núi Rắn chờ chồng. Không khéo lên cơn nó sẽ đốt cả làng nữa cho mà xem. Các anh chị nghe thấy và lại chạy đến nhà Kachia để canh chừng và khuyên giải cô. Không để cho họ kịp nói, Kachia giơ tiền cho họ xem và hỏi: - Thế cái này các anh các chị nghĩ là ở đâu ra? Hàng của thợ giỏi người ta còn chưa nhận, vậy mà tôi thì ngay món đồ đầu tiên đã được trả bao nhiêu đây này! Các anh các chị có biết tại sao không? Đã được nghe đồn về sự may mắn của cô, họ đáp: - Cô đã gặp may đấy thôi. Có gì đâu. - Xưa nay, - cô gái nói, - chưa bao giờ có chuyện đó. Đây chính là Đa-ni-lu-scô đã gửi cho tôi miếng đá và khiến cho đường vân đẹp như vậy đấy. Các anh trai phá ra cười nhạo báng, còn các chị gái thì đưa tay lên trời tuyệt vọng: - Đúng là nó điên thật rồi! Phải báo cho ông quản lý biết thôi. Không có nó đốt làng thật mất! Nói thế thôi chứ tất nhiên là họ không đi đâyu cả. Ai nỡ làm như vậy với em gái. Ra khỏi nhà ka, họ thống nhất với nhau: - Phải canh chừng Ca-tê-ri-na mới được. Hễ nó đi đâu là phải theo ngay. Còn Kachia sau khi tiễn các anh chị ra về, cô khoá cửa và bắt tay vào xẻ miếng đá mới. Cô vừa cưa vừa nguyện: - Nếu đường vân giống như trước thì có nghĩa là không phải mình bị ma ám mà đúng là đã gặp Đa-ni-lu-scô. Cô vội đến cuống cả tay, chỉ muốn mau mau nhìn thấy đường vân trên đá. Đêm đã khuya mà Kachia vẫn ngồi mải miết làm việc. Một người chị lúc đó tỉnh giấc, thấy trong nhà vẫn còn ánh lửa liền chạy sang, ngó qua khe cửa và sững sờ: - Đến ngủ nó cũng không chịu nữa! Thật khổ sở với nó! Rồi miếng đá cũng đã cưa xong. Đường vân hiện lên rõ mồn một và còn đẹp hơn cả lần trước. Con chim đậu trên cây giờ đây xoè cánh bay xuống, còn con ở dưới đang bay lên đó. Năm nhát cưa và cả năm lần trên mặt đá hiện lên đường vân như nhau, không xê xích một ly. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì nữa, Kachia mở cửa lao ra ngoài. Người chị gái cũng chạy theo và dọc đường đập cửa báo cho mấy người anh biết. Mấy người anh chạy ra ngay và một số người làng cũng theo họ. Trời lúc đó đã tờ mờ sáng, mọi người nhìn thấy Kachia chạy ngang qua Gu-me-scơ và lao cả đến đó. Cô gái xem chừng vẫn chưa biết có người theo sau. Cô chạy ngang qua mỏ; chậm bước khi vòng ra sau núi Rắn. Mọi người cũng ghìm chân, họ muốn xem cô làm gì ở đó. Kachia tiến thẳng lên núi theo con đường quen thuộc. Cô nhìn quanh và bỗng nhận ra mình đang ở trong một khu rừng lạ. Cầm tay vào cành cây, cô thấy nó lạnh giá và nhẵn nhụi như bằng đá đánh bóng, cỏ ở dưới chân cũng là đá nốt. Cả khu rừng vẫn còn chìm trong màn đêm. Kachia thầm nghĩ: “Chắc là mình lọt vào núi rồi”. Trong lúc đó, họ hàng của cô và dân làng nhớn nhác tìm kiếm: - Cô ta biến đâu rồi? Rõ ràng vừa mới ở ngay trước mặt thế mà thoáng cái đã không thấy! |
4. Người thợ núi (tt và hết)
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Họ chạy nháo nhác, người lên đỉnh, người vòng quanh núi, họ gọi nhau í ới: “Có thấy không?” Kachia vừa đi trong khu rừng đá vừa nghĩ cách tìm Đa-ni-lô. Cô đi quanh một hồi rồi cất tiếng gọi lớn: - Đa-ni-lô, anh ở đâu? Tiếng gọi vang xa trong rừng, nhưng chỉ có tiếng cây cối trả lời: “Không có! Không có!” Kachia không chịu ngừng: “Đa-ni-lô, anh ở đâu?” Vẫn chỉ có tiếng rừng vọng lại: “Không có! Không có!” Kachia kiên trì gọi tiếp: - Đa-ni-lô, anh ở đâu? Đột nhiên, Bà Chủ Núi hiện lên trước mặt Kachia và hỏi: - Sao cô dám vào rừng của ta? Cô cần gì? Muốn tìm một hòn đá đẹp ư? Nếu vậy, cứ lấy bất kỳ hòn nào cũng được rồi phải đi khỏi nơi đây ngay lập tức! Kachia chẳng nghĩ ngợi đáp luôn: - Tôi không cần những hòn đá vô trí vô giác của bà! Trả Đa-ni-lô bằng xương bằng thịt cho tôi. Bà giấu anh ấy ở đâu? Bà không có quyền đi dụ chồng chưa cưới của người khác! Cô gái gan lỳ đến thế là cùng. Ngay cả Bà Chủ Núi cũng không chút nể vì. Tuy thế, bà ta vẫn thản nhiên đứng yên: - Cô còn nói gì nữa không? - Còn, trả Đa-ni-lô lại chô tôi! Ở chỗ bà anh ấy… Bà Chủ Núi cười khanh khách và nói: - Cô thật là một cô bé ngốc nghếch. Cô có biết cô đang nói chuyện với ai không? - Tôi không mù – cô gái hét lên – biết quá đi chứ. Nhưng tôi không sợ bà đâu, đồ chia uyên rẽ thuý! Tôi không sợ đâu! Dù bà có khéo léo đến đâu thì Đa-ni-lô vẫn thương nhớ tôi. Chính bà cũng thấy đấy. Chẳng lẽ tôi nói sai? Bà Chủ Núi đáp: - Được rồi, hãy xem chính anh ấy nói gì! Trước đó, khu rừng chỉ lờ mờ ánh sáng, nhưng lúc này nó đột nhiên sống dậy. Khắp nơi chan hoà ánh sáng. Thảm cỏ dưới chân lung linh như những ngọn lửa với ngàn vạn sắc màu, cây cối đẹp tươi muôn hình muôn vẻ. Trước mặt Kachia, sau mấy hàng cây là một khoảng rừng thưa, nơi có những bông hoa đá và bầy ong vàng trông tựa những đốm lửa rực rỡ lượn lờ chung quanh đám hoa. Thật là một quang cảnh diệu kỳ, nhìn cả đời cũng không chán mắt. Trên khoảng rừng thưa ấy, Kachia chợt thấy Đa-ni-lô đang hối hả chạy thẳng tới chỗ cô. “Đa-ni-lu-scớ!” – Kachia thảng thốt kêu lên và lao đến với anh. - Khoan đã - Bà Chủ Núi lên tiếng và hỏi: - Nào, Đa-ni-lô tài hoa, hãy lựa chọn đi. Về với cô ấy thì anh sẽ quên hết mọi thứ của ta, còn nếu ở lại đây thì phải quên cô ấy và mọi người. Đa-ni-lô trả lời: - Tôi không thể quên mọi người được, còn hình bóng cô ấy thì lúc nào cũng ở trước mắt tôi. Nghe thấy thế, Bà Chủ Núi dịu dàng mỉm cười và nói: - Cô thắng rồi, Ca-tê-ri-na ạ! Hãy giữ lấy anh thợ tài hoa của mình. Còn đây là phần thường cho sự can đảm và kiên cường của cô. Đa-ni-lô sẽ không phải quên đi mọi thứ của ta. Chỉ có cái này là không được nhớ! - Bà Chủ Núi vừa lời, khoảng rừng thưa với những bông hoa kỳ dị vụt nhoà đi. – Còn bây giờ thì cứ đi về đằng kia kìa, - Bà Chủ Núi đưa tay lên chỉ đường và căn dặn thêm: - Này, Đa-ni-lô, chớ có kể lại với mọi người rằng đá ở trong núi nhé. Cứ nói là đi học nghề của một người thợ ở xa. Còn cô, Ca-tê-ri-na, đừng nghĩ là ta dụ dỗ chồng chưa cưới của cô, Anh ta tự đến để tìm cái mà bây giờ đã quên mất rồi. Kachia cúi rạp mình: - Xin Người thứ lỗi cho lời đường đột! - Thôi được rồi, - Bà Chủ Núi đáp, - ta là đá chứ đâu có phải là người. Ta nói vậy cho cô biết, để hai người khỏi sinh chuyện với nhau thôi. Kachia và Đa-ni-lô sánh vai bước đi trong khu rừng, mỗi lúc một tối dần. Mặt đất trở nên mấp mô, hết hố sâu lại gò đống. Ngoảnh đi ngoảnh lại, họ thấy mình đã đang đứng giữa khu mỏ ở Gu-me-scơ. Trời hãy còn sớm và khu mỏ không một bóng người. Cả hai lặng thinh lần về nhà. Trong khi ấy, những người chạy theo Kachia vẫn còn đang lang thang trong rừng và hú gọi nhau: “Có thấy không?” Tìm mãi không được, cuối cùng, họ phải trở về làng, và đã thấy Đa-ni-lô ngồi bên cửa sổ. Tất cả được một phen hoảng hồn. Hết lời thần chú này đến câu xua tà khác được hiện lên. Vậy mà Đa-ni-lô chẳng những không biến đi mà lại còn lấy tẩu ra nhồithuốc hút. “Ma quỷ đâu có biết hút thuốc”, mọi người nghĩ bụng và lui ra xa. Khi họ theo nhau mon men đến gần ngôi nhà lần nữa thì thấy Kachia cũng ở trong nhà. Cô gái đang loay hoay bên bếp lò, nét mặt hân hoan rạng rỡ. Đã lâu không ai thấy cô vui như vậy, mọi người bạo dạn hẳn lên, họ bước vào nhà và hỏi: - Anh đi đâu lâu thế, Đa-ni-lô? - Tôi sang bên Cô-lư-van. Nghe nói ở đó có người thợ đá không ai bì kịp thành ra muốn đến học thêm, Cha tôi cản lại, nhưng tôi không nghe, bèn bỏ đi và chỉ nói cho mỗi mình Kachia biết. - Thế sao anh lại đập cái chén của mình đi? - Chậc, có trời mới biết… Đi ăn tiệc về… Có lẽ uống hơi nhiều… thấy không vừa mắt là đập thôi. Chuyện ấy người thợ nào mà không gặp. Có gì đâu. Mấy người anh chị quay ra trách Kachia không kể về việc Đa-ni-lô đi Cô-lư-van. Tuy nhiên, họ cũng chẳng biết được gì thêm. Cô lập tức cắt ngang: - Dù bò nhà ai có rống thì bò nhà tôi vẫn im. Tôi chẳng nói với các anh các chị là Đa-ni-lô vẫn còn sống là gì. Còn các anh các chị thì sao? Hết dụ lấy người nọ, lại dỗ lấy người kia! Thôi, tốt nhất là ngồi vào bàn đi, món trứng rán của tôi được rồi đấy. Chuyện thế là xong. Họ hàng ngồi kề cà ăn uống, nói chuyện nọ chuyện kia rồi ra về. Chiều hôm ấy, Đa-ni-lô đến gặp viên quản lý. Tất nhiên là y ta làm ầm ĩ một hồi, nhưng rồi cũng thu xếp đâu vào đấy. Từ đó Đa-ni-lô và Kachia nên vợ nên chồng. Người ta kể lại là họ sống rất hoà thuận. bạn trong nghề đều gọi Đa-ni-lô là thợ núi. Không ai bì được với anh cả. Hai người sống mỗi ngày một sung túc, nhưng thỉnh thoảng Đa-ni-lô lại ngồi thẫn thờ suy tư, Kachia hiểu chồng mình nghĩ gì, nhưng cô chỉ làm thinh./. |
5. Nhành quả mỏng mảnh
5. Nhành quả mỏng mảnh
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đa-ni-lô và Kachia – cái cô gái đã giành lại được chồng chưa cưới của mình từ tay Bà Chủ Núi Đồng ấy mà – có khá đông con cái. Tám đứa cả thảy mà lại toàn là con trai. Biết bao lần bà mẹ than thở, giá mình có một đứa con gái để nâng niu cho thỏa lòng. Còn người cha chỉ cười ha hả: - Chắc số mình như vậy. Các chú bé lớn khẻo mạnh, chỉ có một đứa không may. Chẳng hiểu vì ngã trên thềm nhà hay từ đâu xuống mà thành ra mang tật, ở lưng mọc ra một cái bướu. Các thầy lang đã chạy chữa nhưng không khỏi, thành thử chú bé phải chịu gù cả đời. Gặp cảnh như vậy, các đứa trẻ khác thường trở nên độc ác, nhưng chú bé này thì không. Chẳng những tính tình vui vẻ mà lại còn luôn luôn là đầu trò trong mọi chuyện, chú là con thứ ba trong nhà vậy mà các anh em rất chịu hỏi và nghe chú: - Mi-chi-a! Em nghĩ sao? Anh Mi-chi-a, thế này là thế nào? Cả cha mẹ cũng thường gọi: - Mi-chi-un-ca! Xem này! Con thấy được chưa? - Mi-chi-ai-cô, có thấy mẹ xếp cái guồng đánh sợi vào đâu không? Mi-chi-un-ca còn có tài thổi tù và y như cha hồi còn trẻ. Chú làm lấy một chiếc kèn và dường như nó tự ca hát khi nằm trong tay chú. Đa-ni-lô kiếm được kha nhiều tiền bằng nghề đánh đá, Kachia cũng chẳng chịu ngồi không, cho nên gia đình ngày càng khấm khá, không đến nỗi phải vay mượn hàng xóm. Quần áo của các con cũng được Kachia lo lắng chu đáo, đứa nào cũng tươn tất, đủ cả giầy, mũ lông, áo ấm. Mùa hè thì tất nhiên là đi tất cũng xong, da chân của mình mà, đâu có mất tiền mua. Riêng Mi-chi-un-ca là đứa bị thiệt thòi nhiều nhất nên được thêm đôi ủng da. Các anh trai của chú không lấy thế làm ghen tức, còn mấy đứa em thì nhắc mẹ: - Mẹ ơi, có lẽ phải sắm cho anh Mi-chi-a đôi ủng mới thôi. Xem kìa, anh ấy xỏ không được nữa rồi, còn chân con thì vừa như in. Mấy đứa trẻ láu lỉnh chỉ mong làm sao được thừa hưởng đôi ủng của anh. Cứ như vậy, cuộc sống trong gia đình trôi đi êm ả, hoà thuận. Hàng xóm cũng phải ngạc nhiên. - Mấy đứa trẻ nhà Ca-tê-ri-na lạ thật! Chẳng thấy chúng nó cãi lộn nhau bao giờ. Sở dĩ như vậy là nhờ ở Mi-chi-un-ca. Trong gia đình, chú bé giống như đốm lửa nhỏ trong rừng. Đùa rỡn với người này, an ủi người kia, khuyên giải người nọ. Đa-ni-lô không chịu cho các con sớm theo nghề của mình. Bác nói: - Cứ để chúng nó lớn hẳn lên đã. Gì chứ hít bụi đá thì còn kịp chán. Kachia hoàn toàn đồng ý với chồng – theo học nghề làm đá còn quá sớm đối với lũ trẻ. Hơn thế nữa, bác còn lo đưa chúng đi học cho biết số biết chữ. Khi đó, trường học còn chưa có và mấy đứa lớn được sẫn tới nhà bà giáo làng. Mi-chi-un-ca cũng đi theo. Mấy đứa trẻ nhà Đa-ni-lô đều sáng dạ và được bà giáo khen. Riêng Mi-chi-un-ca thì thật là xuất chúng. Thời ấy, cách dạy dỗ đâu có dễ hiểu như bây giờ, vậy mà chú bé vẫn học rất nhanh. Bà giáo mới vừa nói xong thì chú đã nghĩ ra. Các anh còn đang ghép vần thì chú đã bắt đầu đọc. Bà giáo nhiều lần nói với mọi người: - Tôi chưa bao giờ có đứa học trò thông minh như vậy. Nghe thấy thế, cha mẹ Mi-chi-un-ca rất lấy làm hãnh diện và sắm cho chú đôi ủng da mới đẹp hơn. Nhưng chính vì đôi ủng da đó mà cuộc sống gia đình hoàn toàn bị đảo lộn. Trong năm ấy, tên Chúa đất quay về sống ở làng. Hẳn là hắn đã tiêu xài hết sạch tiền ở Xanh Pê téc bua nên tìm về làng xem có vơ vét thêm được chút nào không. Với nghề nghiệp của dân làng có khó gì đâu mà chẳng tìm ra tiền, chỉ cần khôn khéo một chút là được. Riêng phần bọn quản lý và cai ăn cắp đã bao nhiêu rồi. Nhưng Chúa đất nào có biết chuyện đó. Một lần, đang đi xe qua đường làng, hắn nhình thấy ba đứa trẻ chơi đùa cạnh một ngôi nhà và cả ba đứa đều đi ủng. Chúa đất vẫy tay gọi chúng lại. Trước đó, Mi-chi-un-ca chưa bao giờ gặp Chúa đất nhưng chú đoán ra ngay được khi thấy chiếc xe láng bóng với cặp ngựa nòi, người đánh xe mặc đồng phục, còn ngồi trên xe là một người to lớn, mập đến mức không muốn cựa quậy, tay cầm chiếc ba-toong cán bịt vàng gác ngang trên cái bụng đầy mỡ. Mi-chi-un-ca thấy sờ sợ nhưng vẫn nắm tay hai em trai và dẫn lại gần xe. Tên Chúa đất rít lên bằng giọng khàn khàn: - Chúng mày con cái nhà ai? Mi-chi-un-ca bình tĩnh trả lời: - Chúng cháu là con của bác Đa-ni-lô thợ đá. Cháu là Mi-tơ-ri, còn đây là hai em cháu. Nghe thấy vậy, mặc Chúa đất sạm hẳn lại, hắn tức giận đến nõi suýt nữa thì nghẹt thở, miệng rên rỉ: - Ối chao ơi! Thê này thì còn trời đất nào nữa! Ối chao ơi! Sau đó, lấy lại hơi thở, hắn gầm lên như một con gấu: - Cái gì đây, hả? Cây gậy trong tay hắn chỉ thẳng vào chân ba đứa trẻ. Hai đứa bé sợ quá chạy thẳng vào nhà, còn Mi-chi-un-ca đứng ngây ra, không sao hiểu nổi Chúa đất muốn hỏi chú điều gì. Tên Chúa đất vẫn tiếp tục gào thét như một thằng khùng: - Cái gì đây? Mi-chi-un-ca sợ hãi, không biết nghĩ sao, đành nói: - Đất. Chúa đất rên lên như bị bóp cổ: - Ôi … ôi… ôi… Thật đến thế này là cùng! Thật đến thế này là cùng! Ôi…ôi… ôi… Lúc đó, bác Đa-ni-lô từ trong nhà chạy ra, nhưng Chúa đất không thèm nói nửa lời với bác. Hắn gõ cán ba-toong vào cổ người đánh xe ra lệnh đi về. Tên Chúa đất vốn là kẻ không bình thường. Từ khi còn trẻ, hắn đã vậy và đến lúc về già lại càng ngớ ngẩn thêm. Hắn có thể làm tình làm tội người ta mà sau đó không giải thích được là hắn muốn gì. Đa-ni-lô và Kachia cũng nghĩ rằng mọi chuyện rồi sẽ qua, có thể hắn sẽ quên ngay mấy đứa trẻ trước khi về tới nhà. Nhưng sự việc đâu có diễn ra như họ mong ước, tên Chúa đất đã không quên mấy đôi ủng của lũ trẻ. Vừa về đến nhà, hắn lập tức cho gọi viên quản lý. - Mắt mày để đâu, hả? Ông chủ không biết lấy gì để mua guốc đi, còn bọn nông nô thì sắm ủng da cho con cái. Mày để như vậy thì làm quản lý gì? Viên quản lý phân trần: - Đội ơn ngài, Đa-ni-lô được làm thợ tự do và mức tô của hắn cũng được ngài cho phép. Hắn nộp rất đầy đủ nên tôi nghĩ là… - Vậy thì mày đừng nghĩ nữa mà phải giương mắt lên xem bây giờ nó thế nào! Có đời thuở nhà ai lại như vậy không? Tăng tô của nó lên bốn lần. Sau đó, tên Chúa đất gọi Đa-ni-lô lên và đích thân hắn tuyên bố với bác về mức tô mới. Thấy chuyện vô lý, Đa-ni-lô nói: - Tôi không thể làm trái lời ông chủ, nhưng cũng không đóng nổi số tô như thế. Thôi thì tôi đành trở lại làm việc theo lệnh ông chủ như mọi người vậy. Đây là điều tên Chúa đất hoàn toàn không muốn. Làm thêm đồ bằng đá làm gì khi hắn đang thiếu tiền đến mức sẵn sàng bán cả những thứ còn lại trong nhà từ những năm trước. Bắt người thợ đá làm việc khác thì cũng không lợi. Hắn bèn ra sức quát tháo. Đa-ni-lô đã xin hết lời nhưng tên Chúa đất vẫn bắt bác nộp tô gấp đôi, nếu không chịu thì phải xuống mỏ đào đá. Ác đến thế là cùng. Từ ngày đó, cuộc sống của gia đình bác Đa-ni-lô và Kachia cực nhọc hẳn lên. Ai cũng vất vả, nhưng thương nhất là mấy đứa trẻ còn bé mà đã phải lao động, việc học hành đành bỏ dở dang. Tự cho là mình có lỗi nặng nhất, Mi-chi-un-ca lăn ra làm việc giúp đỡ cha mẹ. Vợ chồng bác Đa-ni-lô và Kachia rất đỗi băn khoăn: “Thằng bé vốn đã yếu ớt, giờ mà để cho làm đá thì chắc nó không sống nổi mất. Việc nào cũng hại cả. Nếu keo dán thì phải hít bụi nhựa thông, đập đá dăm thì coi chừng mù mắt, hoà thiếc bằng axít để đánh bóng thì chết sặc vì hơi độc”. |
5. Nhành quả mỏng mảnh (tt)
5. Nhành quả mỏng mảnh (tt)
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Nghĩ đi nghĩ lại mãi, cuối cùng hai bác quyết định cho Mi-chi-un-ca đi học nghề làm đồ trang sức. Vốn có bàn tay khéo léo và đôi mắt tinh nhanh, lại không cần dùng nhiều sức khoẻ, đó sẽ là nghề thích hợp nhất đối với chú bé. Bác thợ làm đồ trang sức là người trong họ và rất mừng khi có cậu học trò như Mi-chi-un-ca, bởi bác biết chú bé rất sáng dạ và chăm chỉ. Tuy bác ta là người thợ loại trung bình và chỉ làm được những món đồ loại hai hay loại ba, nhưng Mi-chi-un-ca cũng học được hết tất cả những gì mà bác ta biết làm. Một hôm, bác thợ nói với Đa-ni-lô: - Phải đưa thằng bé nhà anh ra thành phố cho nó học nghề đến nơi đến chốn đi. Nó có đôi tay khéo léo quá chừng. Bác Đa-ni-lô đồng ý ngay. Người quen trong nghề đá của bác ở thành phố thì biết bao nhiêu mà kể. Và thế là Mi-chi-un-ca được gởi đến học nghề với một ông thợ già, chuyên làm nhành quả bằng đá. Thôi thì đủ loại: nho, phúc bồn tử, mâm xôi v.v… Mỗi loại quả lại có cách thức riêng. Chẳng hạn như phúc bồn tử đỏ làm từ mã não, phúc bồn tử trắnglàm bạch ngọc, dâu đất làm bằng đá hổ phách, đũm hương thì lấy những loại đá đen nhỏ đính thành chùm…. Tóm lại là quả nào đá ấy. Cành và lá cũng vậy, có cái làm từ ngọc xanh, cái thì từ đá khổng tước, đá vân hoặc những loại đá khác. Mi-chi-un-ca chẳng những nhanh chóng học hết mọi cách thức mà còn hay sáng chế ra các kiểu mới. Thoạt đầu, ông thầy càu nhàu nhưng sau đó mới bắt đầu khen: - Ờ, đúng là thế thì cành quả trông tươi hơn. Một hôm, ông nói thẳng với Mi-chi-un-ca: - Này, cháu đúng là có khiếu với nghề này, ông già này sắp sửa phải học cháu mất thôi. Cháu thành thợ rồi đấy mà lại còn có cái đầu biết sáng chế nữa. Ngừng một chút, ông căn dặn: - Chỉ có cái là đừng để nó đi xa quá! Cái đầu biết sáng chế ấy! Không có lại bị đánh què tay cho mà xem. Có những trường hợp như vậy rồiđấy. Mi-chi-un-ca còn quá trẻ nên đâu có để tâm tới chuyện đó. Thậm chí còn cười cợt. - Miễn cái mình sáng chế ra đẹp là được. Ai lại đánh què tay người khác vì cái đẹp bao giờ. Thế là Mi-chi-un-ca thành thợ, một ông thợ trẻ măng với bộ ria chỉ mọc lún phún. Cậu khỏi phải lo ngồi rỗi vì hàng đặt rất nhiều. Chủ các hiệu bán đồ đá nhanh chóng hiểu rằng cậu là miếng mồi béo bở. Họ thi nhau đặt cậu làm hàng. Thấy vậy Mi-chi-un-ca nghĩ bụng: “Mình về nhà làm có lẽ hay hơn. Ai cần đến mình thì dù ở nhà họ cũng tìm thấy, đường sá nào có xa xôi gì, mà cũng chẳng phải mang nặng bao nhiêu, đưa nguyên liệu đến rồi đem hàng về là xong”. Nghĩ sao, làm vậy. Cậu về làng. Mọi người trong nhà tất nhiên đều mừng rỡ. Mi-chi-un-ca ngoài mặt cười đùa cho cả nhà vui nhưng trong lòng buồn rầu khôn tả. Nhà cậu gần như đã biến thành xưởng làm đá. Cha cậu cùng hai anh ngồi bàn máy trong căn buồng nhỏ, mấy đứa em cũng làm việc ngay ở đó, đứa cưa đá, đứa đánh bóng. Trên tay mẹ là đứa em gái vừa đầy năm mà mọi người mong đợi đã lâu, vậy mà không khí trong nhà thật ảm đạm. Trông cha giống như một ông già, hai anh trai bắt đầu húng hắng ho, mấy đứa em cũng chẳng khá hơn. Mọi người làm việc không ngơi tay nhưng chỉ đủ để nộp tô cho Chúa đất. Nhìn cảnh ấy, Mi-chi-un-ca lại tự trách mình rằng chỉ vì cậu không khéo với mấy đôi ủng khi trước mà giờ đây nên nông nỗi này. Nhưng tự dằn vặt mãi cũng chẳng được gì, cậu quay sang sắp xếp công việc. Ở ngoài, nhìn vào tưởng chừng đơn giản, vậy mà cũng cần không ít dụng cụ. Toàn là những thứ lặt vặt nhưng cũng phải thu xếp chỗ cho chúng. Cậu lựa cho mình chỗ ngồi sau cửa sổ và lao vào làm việc nhưng đầu không ngừng nghĩ ngợi: “Làm sao dùng được đá ở ngay đây để làm các cành quả nhỉ? Khi đó hẳn có thể đưa mấy đứa nhỏ sang làm nghề này được". Cậu suy nghĩ rất lâu nhưng không tìm ra cách nào cả. Ở Pô-lê-ja-va thường chí có đá khổng tước và đá ô liu. Đá ô liu cũng không phải dễ kiếm, hơn nữa lại không hợp. Dùng đá khổng tước thì chỉ làm được lá, mà đâu phải xong ngay, còn cần phải bọc thêm vành hoặc dán. Một hôm, cậu ngồi làm việc bên bàn máy. Lúc ấy là mùa hè nên cửa sổ trước mặt mở toang. Ngoài cậu, trong phòng chẳng có một ai. Mẹ có việc phải đi đâu đó, mấy đứa nhỏ chạy chơi hết, còn cha và hai anh ngồi trong buồng lặng lẽ làm việc. Ai mà chẳng biết, là khi ngồi mài đá khổng tước thì chẳng những nói chuyện cũng không muốn chứ đừng nói đến ca hát. Ngồi mài các trái quả của mình bằng nguyên liệu do lái buôn đem tới, Mi-chi-un-ca lại trở về với ý nghĩ hôm trước. “Dùng thứ gì trong số các loại đá dễ kiếm ở đây để làm được những vật như thế này bây giờ?”. Đột nhiên một bàn tay, không hiểu tay đàn bà hay con gái – có đeo nhẫn và đi găng – thò qua cửa sổ và đặt thẳng lên bàn máy của Mi-chi-un-ca một tấm đá da rắn khá lớn và nằm trên nó, hệt như trên chiếc khay, là một miếng xỉ từ các lò luyện đồng trong vùng mà mọi người thường dùng đề trải đường. Thò đầu qua cửa sổ Mi-chi-un-ca không thấy một ai. Đường làng vắng tanh, chẳng có gì chứng tỏ có người vừa đi qua. Thế này là thế nào? Ai đó muốn đùa cợt hay là cậu mê ngủ. Ngoảnh nhìn tấm đá da rắn với miếng xỉ đồng, Mi-chi-un-ca suýt nữa nhảy dựng lên vì vui sướng. Thứ nguyên liệu này có đem xe mà chở cũng không hết, nhưng nếu khéo chọn và chịu tốn công thì có thể làm các cành quả được. Có điều là làm loại nào? Cậu bắt đầu nghĩ xem thứ quả nào thích hợp hơn cả và bất giác đưa mắt về chỗ bàn tay khi nãy. Bàn tay ấy lại đột ngột xuất hiện, đặt lên bàn một chiếc lá ngưu bàng lớn, bên trên là ba nhành quả: Dã anh, anh đào và nhành lý gai chín mọng. Không nén được nữa, Mi-chi-un-ca chạy vọt ra đường làng xem ai đùa giỡn cậu như vậy. Cậu nhìn quanh nhưng chẳng hề nhìn thấy một ai, không gian vắng lặng tưởng chừng như mọi vật đều ngừng thở. Trời đang trưa, giữa lúc nóng nhất, ai dại gì mà ra đường vào bây giờ. Đứng một hồi, cậu tiến lại cửa sổ, cầm chiếc lá với mấy nhành quả lên ngắm nghía. Quả thật hẳn hoi, vẫn còn tươi, nhưng đáng ngạc nhiên nhất là nhành anh đào. Dã anh thì hiểu rồi, lý gai mọc khá nhiều trong vườn nhà Chúa đất, nhưng còn anh đào thì ở đâu ra? Trong vùng đâu có thứ anh đào này, vậy mà nhành quả trông như vừa mới hái trên cây xuống. Mi-chi-un-ca ngắm nhành anh đào hồi lâu, nhưng cậu vẫn thích chùm lý gai, hơn nữa, nó lại rất thích hợp với nguyên liệu. Cậu vừa mới nghĩ tới đây thì bàn tay nọ lại vuốt nhẹ lên vai cậu và bên tai có tiếng thì thầm: “Giỏi lắm! Cậu hiểu nghề đấy!” Giờ thì người mù cũng rõ dó là tay ai. Lớn lên ở làng Pô-lê-va-ja, biết bao lần Mi-chi-un-ca nghe kể về Bà Chủ Núi. Cậu thầm mong bà hiện lên, nhưng chẳng thấy ai cả. Có lẽ vì thương hại chàng gù, không muốn làm cậu mất hồn vì sắc đẹp cùa mình nên Bà Chủ Núi đã không hiện lên. Mi-chi-un-ca lật đi lật lại tấm đá da rắn và miếng xỉ đồng. Cậu chọn rất kỹ và bắt tay vào làm. Mồ hôi ướt đẫm trán. Đầu tiên cậu mài riêng từng nửa quả một, rồi mới khoét ruột ở giữa. Chỗ thì cậu mài xước thành rãnh, chỗ thì để lại một đường gờ nho nhỏ, cậu dán hai mảnh lại với nhau và mài nhẵn. Trái lý gai chín mọng bóng loáng trông như thật. Cậu dùng đá da rắn mài thật mỏng làm lá. Trên cuống lá lại còn đính thêm mấy cái gai nhỏ xíu. Nhành quả mới đẹp làm sao. Bên trong mỗi trái như có cả hột, cành lá trông cũng rất sống động, thậm chí có cả những khuyết tật nho nhỏ: một lá có lỗ thủng hệt như bị sâu ăn, lá kia có những vết màu vàng úa ngay sát cuống. Thật không khác nhành quả tươi một chút nào. Cha cậu và các anh tuy làm đồ bằng loại đá khác nhưng cũng hiểu được cái khó của nghề mỹ nghệ. Mẹ cậu cũng đã từng làm đá. Cả nhà nhìn ngắm không chán mắt tác phẩm cảu Mi-chi-un-ca và không ngớt ngạc nhiên, rằng từ thứ đá da rắn tầm thường và xỉ đồng lại có thể làm ra một vật như vậy. Bản thân Mi-chi-un-ca cũng vui sướng khôn tả. Đúng là nghệ thuật. Tất nhiên, phải người sành nghề mới đánh giá hết được. Từ đó, Mi-chi-un-ca bắt đầu làm đồ từ xỉ đồng và đá da rắn. Cả nhà cũng giúp được cậu khá nhiều. Cánh lái buôn cũng không chê loại hàng mới, họ trả tiền cậu ngang với đồ làm bằng đá quý, còn người mua bao giờ cũng chọn hàng của Mi-chi-un-ca trước vì biết đó là thứ tinh xảo nhất. Mi-chi-un-ca làm không ngơi tay. Cậu làm cả các nhành dã anh, anh đào, cả những chùm lý gai chín mọng. Riêng nhành quả đầu tiên cậu giữ lại không bán. Đã mấy lần cậu tính tặng cho một cô gái nhưng còn do dự. Các cô gái cũng không quay lưng lại giá cửa sổ nhà Mi-chi-un-ca. Cậu tuy bị gù nhưng lại là một chàng trai vui tính, nghề nghiệp tinh thông, tính tình lại không keo kiệt, cậu sẵn lòng cho các cô từng nắm hột đá để xâu chuỗi hạt. Các cô rất thích đến chỗ cậu. Còn cô gái nọ thường hay kiếm cớ đi ngang qua cửa sổ nơi cậu ngồi làm việc hơn cả, lúc khẽ cười phô hàm răng trắng muốt, lúc vung vẩy bím tóc nặng trĩu. Mi-chi-un-ca muốn tặng nhành quả của mình cho cô nhưng vẫn còn sợ. “Ngộ nhỡ các cô khác cười cô ấy thì sao, không khéo cô ấy lại giận mình nữa”. Còn tên Chúa đất, kẻ đã làm cho cả nhà Mi-chi-un-ca điêu đứng, vẫn còn sống trên trái đất để hành hạ mọi người bằng tính điên khùng của hắn. Năm ấy, hắn tính gả con gái cho một vị quận công hay nhà buôn nào đó và ra lệnh chuẩn bị của hồi môn. Nhân dịp đó, tên quản lý ở Pô-lê-va-ja quyết chí tâng công với chủ. Hắn đã được thấy nhành quả của Mi-chi-un-ca và chắc cũng hiểu rằng đó là một vật quý. Hắn sai bọn tay chân đến lấy và dặn: - Nếu mà nó kh6ong chịu đưa thì cứ việc cướp về đây. Với bọ đầu trâu mặt ngựa ấy thì việc cướp bóc đâu có gì mới lạ. Chúng mang nhành quả của Mi-chi-un-ca về và tên quản lý đem bỏ vào trong một chiếc hộp lót nhung. Chúa đất vừa về tới Pô-lê-va-ja, tên quản lý liền có mặt lập tức: - Xin ngài làm ơn nhận cho cô dâu món quà nhỏ này. Đây là vật rất hợp với tiểu thư. Tên Chúa đất ngắm nghía cành quả. Đầu tiên hắn cũng khen đẹp, sau đó hỏi: - Nhành quả làm bằng đá gì đây, giá bao nhiêu? Tên quản lý trả lời: - Thật đáng ngạc nhiên, nhưng đúng là nó làm bằng thứ vật liệu đơn giản nhất: đá da rắn và xỉ đồng. Chúa đất suýt nữa thì nghẹt thở: - Sao? Cái gì? Bằng xỉ à? Để cho con gái ta đeo ư? Xem chừng không ổn, tên quản lý đổ hết cho người thợ: - Thật đúng là một thằng đểu, nó dúi của ấy cho tôi và lại còn đòi trừ một phần tiền tô hằng tuần nữa, chứ tự mình thì tôi đâu dám. Tên Chúa đất rít lên: - Đem nó lại đây! Đem nó lại đây! Mi-chi-un-ca bị lôi tới và tên Chúa đất càng điên hơn khi nhận ra cậu. “À… cái thằng đi ủng đây mà…”. - Sao mày dám? – Tên Chúa đất hét lên và vác ba-toong xấn lại đánh Mi-chi-un-ca Thoạt tiên, Mi-chi-un-ca ngỡ ngàng, nhưng rồi cậu hiểu ra ngay và nói thẳng vào mặt tên Chúa đất. - Đây là tên quản lý cướp giật của tôi. Hắn làm thì cứ để hắn trả lời. Nhưng Chúa đất đâu có thèm nghe, hắn khăng khăng lặp đi lặp lại: - Tao sẽ cho mày biết tay… tao sẽ cho mày biết tay… Thế rồi hắn chụp lấy nhành quả trên bàn, ném mạnh xuống sàn và ra sức dẫm đạp. Nhành quả vụn nát ra thành từng mảnh. Thấy thế, Mi-chi-un-ca không còn nhớ gì nữa, người cậu thậm chí phát run. Mà cũng phải thôi, ai mà chịu nổi khi thấy vật kỷ niệm quý giá của mình bị dẫm nát một cách điên dại như vậy. Giật lấy chiếc batoong trong tay Chúa đất, Mi-chi-un-ca phang thẳng cánh cái cán bọc vàng vào trán hắn. Tên Chúa đất từ từ ngã ngồi xuống sàn, mắt trợn ngược chỉ còn thấy lòng trắng. Quá bất ngờ, tên quản lý và bọn người hầu đứng đầy trong phòng như thể bị hoá đá. Mi-chi-un-ca bước ra khỏi dinh Chúa đất và bỏ đi mất tích. Không ai biết cậu đâu cả, nhưng đồ của cậu thì sau đó vẫn xuất hiện. Ai hiểu nghề mới nhận ra được. Còn một chi tiết, là cô gái vẫn thường cười với Mi-chi-un-ca trước cửa sổ cũng mất tích luôn. Bọn người của Chúa đất tìm kiếm cô khá lâu. Chắc chúng nghĩ rằng tìm cô sẽ dễ hơn, vì phụ nữ thường không muốn xa quê hương thân thuộc. Chúng ép cha mẹ cô gái chỉ chỗ cô trốn, nhưng chẳng biết thêm gì được mới cả. Đa-ni-lô và các con tất nhiên cũng bị vạ lây, nhưng chắc chắn Chúa đất không muốn mất khoản tô lớn nên rồi cũng phải để cho bác yên. Chúa đất còn hoành hành được một thời gian nhưng chẳng bao lâu sau cũng chết ngộp vì béo./. |
6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại
6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Trong xóm thợ có một bác mu-gíc. Mọi người gọi bác ta là Lê-vôn-ti. Đó là một con người chuyên cần ít nói. Bác ta làm ở trong mỏ, ở Gumescơ ấy mà, từ khi còn trẻ. Thời trai tráng đã trôi qua dưới lòng đất, cực nhọc chẳng khác một con giun. Thiếu ánh sáng mặt trời, trông bác nhợt nhạt. Ai mà chẳng biết mỏ là như vậy, ẩm ướt, tối tăm, hôi hám. Chàng thanh niên xưa kia, giờ đây chỉ còn da bọc xương. Tên quản lý thấy bác ta chẳng còn có ích gì, bèn làm ra vẻ nhân hậu và chuyển Lê-vôn-ti sang công việc khác, sang Pô-ska-cu-kha, mỏ vàng của Chúa đất. Thế là Lê-vôn-ti trở thành thợ đãi vàng. Nhưng cũng chẳng khá hơn, bác ta đã quá ốm yếu. Ít lâu sau, viên quản lý gọi bác lên và bảo: - Này, Lê-vôn-ti. Anh là con người cần mẫn, tôi đã nói về anh với ông chủ. Ông ấy đã nghĩ ra cách thưởng công anh. Ông ấy nói: Hãy để cho Lê-vôn-ti được làm viêc tự do, không phải nộp tô, được bao nhiêu cho hết. Thời ấy, thường là như vậy. Khi anh đã kiệt sức, không còn thiết gì nữa thì người ta để anh được làm công việc tự do. Vậy là Lê-vôn-ti được tự do làm việc. Riêng phần bác thì chẳng đáng lo mấy, nhưng còn gia đình, phải làm sao kiếm được miếng bánh cho lũ trẻ. Thế nhưng kiếm ở đâu ra khi anh chỉ có hai bàn tay trắng. Lê-vôn-ti nghĩ đi nghĩ lại rồi quyết định đi đãi vàng. Dù sao, đào đất cũng là công việc quen thuộc, dụng cụ cũng chẳng cần bao nhiêu. Chạy vạy ngược xuôi, Lê-vôn-ti cũng kiếm đủ và gọi mấy đứa bé: - Nào, các con! Đi đãi vàng với cha thôi. Có thể nhờ hạnh phúc của các con mà ta sẽ gặp may và khỏi phải sống bằng của bố thí. Hai đứa con của Lê-vôn-ti hãy còn nhỏ, chúng mới hơn mười tuổi. Vậy là đoàn người đi tìm vàng lên đường. Người cha chậm chạp lê bước, hai đứa bé líu ríu theo sau. Hồi đó có tin đồn rằng ở vùng Ri-a-bi-nốp-ca có khá nhiều vàng, và Lê-vôn-ti cũng xin đến đó. Ở văn phòng hồi ấy vấn đề này giải quyết khá đơn giản. Chỉ cần thông báo và nộp vàng là được. Tất nhiên là cũng có chuyện gian lận. Làm sao mà tránh được. Mấy người ở văn phòng để ý xem đám thợ đó đi đâu và theo dõi số vàng nộp về. Hễ thấy ngon ăn là lập tức giành ngay lấy. Họ tuyên bố sẽ khai thác ở đó, và buộc mọi người phải đi chỗ khác rồi giao khu đất ấy cho người quen. Những người thợ tìm vàng cũng chẳng chịu lép, họ chỉ nộp về văn phòng vừa đủ để giữ chỗ, còn phần lớn bán lại cho đám buôn lậu. Lũ người ấy đến đây biết bao nhiêu mà kể. Chúng khôn khéo đến mức không ai phát hiện nổi. Vậy là tất cả đều lao vào vòng lừa đảo. Đám văn phòng muốn lừa thợ, còn thợ thì lừa lại văn phòng. Thế đấy. Còn muốn biết ở đâu có vàng thì phải tự mình dò la lấy. Tuy nhiên không ai nỡ dấu Lê-vôn-ti cả, ông ấy thì tìm kiếm gì cơ chứ. Thôi thì cứ để ông ta thoả chí trước khi chết. Lê-vôn-ti đến Ri-a-bi-nốp-ka, chọn một chỗ và bắt tay vào việc. Bụng thì muốn mà sức thì không đủ. Vừa mới đào được mấy nhát đã thở không ra hơi, phải ngồi nghỉ. Hai đứa trẻ cũng hăng hái giúp cha nhưng chúng thì làm được bao nhiêu. Ba cha con ở trong rừng đã hơn một tuần, Lê-vôn-ti thấy rõ là chẳng được mấy, mua bánh mì cũng không đủ. Làm sao bây giờ? Sức khoẻ của bác mỗi ngày mỗi kém, chân tay cất nhắc không nổi nữa, nhưng bác vẫn không muốn bỏ việc để rồi phải đeo bị lên cổ lũ trẻ. Vào thứ bảy, khi quay về văn phòng để nộp chỗ vàng đã đãi được, bác dặn lại hai đứa trẻ: - Các con ở lại đây giữ đồ nhé, không có lại phải vác đi vác về. Vậy là hai đứa trẻ ở lại trong chiếc lều cỏ giữa rừng. Một đứa ở lại canh, còn đứa kia chạy ra sông Chu-xô-va cách đó không xa kiếm cá. Nó câu được mấy con cá măng, cá quả đem về. Hai anh em bắt đầu nấu xúp. Trời chập choạng tối, bên đống lửa bập bùng trong khu rừng vắng vẻ, nỗi sợ hãi len dần vào lòng lũ trẻ. Đột nhiên, chúng thấy một ông già tiến lại. Ông ta cũng là người trong làng và mọi người gọi ông ta là Xê-mi-ô-nứt, còn họ thì không ai nhớ cả. Xê-mi-ô-nứt đã từng đi lính. Người ta kể rằng trước kia ông là người thợ rèn giỏi nhất và nổi tiếng là khoẻ, nhưng do có lần dám cãi lại viên quản lý nên bị hắn sai tay chân đè ra đánh. Xê-mi-ô-nứt đâu có chịu, ông ta đánh ngã được mấy đứa nhưng rồi không địch nổi cả bọn, toàn những đứa chỉ có ăn với đánh người. Chúng quần cho Xê-mi-ô-nứt một trận, rồi đem xung vào lính vì tội làm loạn. Hai mươi lăm năm sau, Xê-mi-ô-nứt quay lại xóm thợ khi đã thành một ông già. Trong thời gian ấy, người thân của ông đã qua đời cả, ngôi nhà bỏ hoang đã mấy năm và làng xóm vừa tính dỡ làm củi thì ông xuất hện. Xê-mi-ô-nứt sửa sang qua loa ngôi nhà và sống ở đó một mình, hầu như không giao thiệp với ai, tối tối mang sách ra đọc. Hàng xóm bắt đầu để ý đến nếp sống lạ lùng của ông. Đầu tiên tưởng ông biết chữa bệnh, họ chạy tới. Xê-mi-ô-nứt từ chối: “Tôi không biết chữa bệnh, mà chữa sao được cơ chứ, nếu như nghề nghiệp của các anh như vậy”. Rồi họ nghĩ rằng ông nghiên cứu đạo, nhưng cũng không phải. Xê-mi-ô-nứt chỉ đến nhà thờ vào ngày Lễ Phục sinh và Giáng sinh như những người khác, còn ngoài ra không có gì sùng kính hơn người. Hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác – ông ta không làm việc mà cũng sống được. Tất nhiên, ông ta có một mảnh vườn nhỏ, một khẩu súng thô sơ và một tấm lưới đánh cá. Nhưng chỉ với chừng ấy thứ thì làm sao sống nổi? Mà tiền thì rõ ràng là ông ta có, đôi khi đưa cho người nọ người kia. Đến kiểu cho vay cũng lạ đời, có người van xin hứa trả lãi cao, nhưng một khi ông ta đã nói không cho là không cho. Còn với người khác thì ông ta tự tìm đến và bảo: - Này, cầm lấy, I-van (hoặc Mi-kha-lô) mà mua con bò nữa, lũ trẻ nhà anh còn nhỏ, mà anh thì rõ là kham không nổi. Tóm lại, ông là một con người kỳ dị. Mọi người cho là ông ta có đi lại với ma quỷ. Sở dĩ như vậy chủ yếu là vì mấy cuốn sách. Vậy là Xê-mi-ô-nứt tiến đến, bắt chuyện với hai đứa bé. Chúng mừng rỡ gọi: - Ông ơi ngồi xuống đây, ăn xúp cá với chúng cháu đi. Chẳng đợi phải mời lâu, Xê-mi-ô-nứt ngồi xuống, nếm thử món xúp và khen hết lời. Lấy từ trong túi ra một khúc bánh mì còn mềm, ông bẻ thành miếng và để trước mặt lũ trẻ. Hai đứa bé thấy ông già thích món xúp nên cầm bánh ăn chẳng chút ngại ngần, còm Xê-mi-ô-nứt luôn miệng khen rằng lâu lắm chưa được ăn món xúp cá ngon. Chuyện qua chuyện lại, hai đứa bé ăn gần hết chỗ bánh mì của ông già. Còn Xê-mi-ô-nứt vẫn cứ tiếp tục: - Lâu lắm ta chưa được ăn món xúp ngon như thế này. Thấy hai đứa trẻ đã no nê, ông già bắt đầu hỏi về công việc của chúng. Hai đứa thi nhau kể chuyện cha chúng bị mất việc ở mỏ như thế nào, làm thợ tự do ra sao và về công việc của ba cha con ở đây. Nghe chuyện, Xê-mi-ô-nứt chỉ lắc đầu và thở dài. Cuối cùng ông hỏi: - Tất cả đãi được bao nhiêu? Hai đứa trẻ trả lời: - Mỗi một muỗng, mà cũng có thể là hơn một chút – cha chúng cháu nói vậy. Ông già đứng dậy và nói: - Thôi được rồi, rõ ràng là phải giúp đỡ các cháu. Có điều phải kín miệng đấy. Không một ai được biết cả, nếu không… - Xê-mi-ô-nứt vừa nói vừa nhìn một cách khác thường làm lũ trẻ phát sợ, dường như trước mặt chúng là một người khác hoàn toàn. Sau đó, ông già cười nhạt và nói thêm: - Hai đứa đợi ông ở bên đống lửa này nhé, ông đi gọi một người, có thể ông ta sẽ giúp đỡ các cháu. Có điều là đừng sợ, nếu không sẽ hỏng hết đấy. Đừng quên nhé. Nói rồi, ông già bỏ đi vào rừng để hai đứa bé ở lại một mình. Chúng nhìn nhau, không nói được câu nào. Lát sau, thu hết can đảm, thằng anh khẽ nói: - Này em, để ý nhé, đừng quên là không được sợ đấy. – Nói vậy, nhưng chính nó thì môi xám ngắt và răng va vào nhau lộp cộp. Mặt trắng bệch, đứa em trả lời: - Em không sợ đâu. Hai đứa trẻ ngồi yên chờ đợi. Trời đã tối hẳn và rừng trở nên im ắng, nghe được cả tiếng nước chảy róc rách trên sông Ri-a-bi-nốp-ca. Chúng chờ đã khá lâu mà vẫn không thấy ai và nỗi sợ hãi dần dần tan đi. Hai anh em ném thêm cành khô vào đống lửa. Nhìn những lưỡi lửa vàng reo vui, chúng thấy hết sợ hẳn. Đột nhiên có tiếng người nói chuyện. “Không hiểu ai đi đâu vào giờ này trong rừng”? Mấy đứa trẻ nghĩ bụng và lại co dúm người lại. |
6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại (tt)
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Dưới ánh lửa hiện lên hai người. Đi cùng với Xê-mi-ô-nứt là một người lạ mặt ăn mặc rất lạ lùng. Áo khoác ngoài và quần của ông ta đều cùng một màu vàng, giống như màu áo gấm của cha cố, ngang lưng là chiếc đai bằng gấm thêu khá rộng có tua rủ màu xanh. Chiếc mũ trên đầu màu vàng có sọc đỏ ở hai bên, đôi ủng cũng màu đỏ. Mặt ông ta vàng khè, bộ râu quai nón rậm rì xoắn thành những khuyên tròn chặt đến mức có cảm tưởng là không thể tách rời các sợi râu ra khỏi nhau. Mắt ông ta xanh lè như mắt mèo, tuy nhiên, ánh mắt lại rất đôn hậu và dịu dàng. Dù chỉ cao như Xê-mi-ô-nứt và không mập lắm, nhưng ông ta hẳn rất nặng, bởi bàn chân dẫm ở đâu là đất lún thành vết ở đó. Hai đứa bé lấy làm ngạc nhiên, chúng há hốc miệng ra nhìn, quên cả sợ hãi, còn người đàn ông tiếp tục nói với Xê-mi-ô-nứt như người nói đùa: - Mấy ông thợ đãi vàng tự do đây hả? Tìm được bao nhiêu là lấy bấy nhiêu, khỏi phải nộp cho ai phải không? Sau đó, ông ta cau mày, quay về phía Xê-mi-ô-nứt như thể muốn bàn bạc: - Liệu ta có làm hỏng hai đứa trẻ này không? Xê-mi-ô-nứt phản đối, rằng đây là những đứa trẻ tốt, không phải loại con nhà được nuông chiều, nhưng người kia vẫn khăng khăng: - Loài người ai mà chẳng như nhau. Khi đang nghèo đói và thiếu thốn thì còn khá, vậy mà hễ cứ nắm được chót đuôi của ta là không hiểu mọi tính tồi tệ ở đâu lập tức hiện ra. Đứng yên lặng hồi lâu, cuối cùng, ông ta chặt lưỡi: - Thôi được, ta cứ thử xem. Có thể hai đứa nhỏ sẽ khá hơn. Trông chúng cũng được đấy. Thật đáng tiếc, nếu ta làm hỏng chúng. Phải cái là thằng em môi hơi dày, không khéo lại thành đứa tham lam. Anh phải để ý đến nó mới được, Xê-mi-ô-nứt ạ. Cha chúng thì tôi biết rồi, ông ta không còn sống được bao lâu nữa đâu. Một chân dưới mồ rồi mà vẫn cố gắng tự mình kiếm lấy miếng bánh ăn. Thật là một con người cương trực. Thế nhưng cứ thử làm cho ông ta trở thành giàu có đi – nhất định là hỏng cho mà xem. Người lạ mặt nói chuyện thản nhiên với Xê-mi-ô-nứt như thể không có hai đứa bé ở bên cạnh. Sau đó, ông ta quay về phía chúng và nói: - Này các cháu, giờ hãy nhìn cho kỹ nhé. Phải để ý xem dấu chân ta dẫn đi đâu. Cứ đi theo dấu đó mà đào, ở phía trên thôi, chứ đừng đào sâu vô ích. Nói xong, người lạ mặt thay đổi hình dạng ngay trước mắt hai đứa trẻ. Phần từ đai lưng trở lên biến thành đầu, còn từ đai lưng trở xuống thành cổ. Cái đầu vẫn giống y như trước, nhưng đã trở nên rất to, hai mắt như hai quả trứng ngỗng, còn cái cổ thì trông như cổ rắn. Thế rồi từ dưới đất nhô lên thân hình của một con rắn khổng lồ. Đầu con rắn từ từ vươn lên cao quá ngọn cây rừng, sau đó, thân rắn uốn vồng lên, lướt trên mặt đất thẳng vào đống lửa. Con vật kỳ dị ấy bò về phía sông Ri-a-bi-nốp-ca, và từ dưới đất bắt đầu hiện lên hết khuyên tròn này đến khuyên tròn khác, tưởng như không bao giờ hết. Điều lạ lùng là tuy đống lửa đã tắt, nhưng khoảng rừng trở nên còn sáng hơn. Có cái là ánh sáng ấy không ấm như ánh mặt trời mà dường như nó mang theo hơi lạnh. Con rắn bò đến sông Ri-a-bi-nốp-ca, trườn xuống dưới nước và nước ở cả hai bên bờ lập tức đóng thành bằng. Con rắn bò qua bên kia sông, dừng lại ở cây bạch dương cổ thụ mọc sát bờ và kêu lớn: - Thấy rõ chưa? Cứ đây mà đào. Đủ cho cả cuộc đời côi cút của hai đứa. Mà đừng có tham đấy. Tiếng nói còn vang trong không gian mà người thì đã biến mất tự bao giờ. Nước sông Ri-a-bi-nốp-ca lại chảy rì rào, đống lửa lụi lúc nãy lại cháy sáng trở lại, chỉ có đám cỏ vẫn còn nằm ẹp xuống như thể gặp cái lạnh đầu đông. Xê-mi-ô-nứt giải thích cho hai đứa trẻ: - Đó là Pô-lô-dơ vĩ đại đấy. Tất cả vàng trong lòng đất đều thuộc về ông ta. Ông ta đi đến đâu là vàng chạy đến đó. Ông ta có thể đi trên mặt đất cũng như dưới lòng đất, cần thế nào thì đi như thế, và muốn vây vùng đất rộng bao nhiêu cũng được. Vì vậy, nên có trường hợp, khi người ta tìm thấy một mạch vàng mà lại xảy ra vụ lừa đảo, đánh nhau hay thậm chí giết nhau để tranh giành thì mạch vàng ấy sẽ biến mất. Như thế là Pô-lô-dơ đã đến đó và đưa vàng đi chỗ khác. Hay còn có trường hợp như thế này: Những người đi đãi vàng tìm được một khu đất tốt, thả sức mà đãi vàng cát. Nhưng khi văn phòng tuyên bố đuổi mọi người đi để tự khai thác, đưa máy và thợ tới thì lại chẳng thấy vàng đâu cả. Đào rộng mấy, sâu mấy cũng không có, như thể xưa nay ở đó chưa từng có vàng. Sở dĩ như thế là vì Pô-lô-dơ đã vây cả vùng đất lại, một đêm bào đó ông ta tới nằm ở đấy và thu hết vàng vào những khuyên tròn trong bộ râu của mình. Cứ việc đi mà tìm xem ông ta đã nằm ở đâu. Ông ấy không thích để vì vàng mà xảy ra chuyện lừa đảo, gian dối, nhất là khi người này tranh với người khác. Còn nếu để kiếm sống thì không sao, có khi ông ta còn giúp cho nữa, như các cháu đây chẳng hạn, nhưng nhớ không được nói với ai về chuyện này đấy, không có là hỏng hết… Mà cũng đừng có lấy nhiều vàng quá. Pô-lô-dơ chỉ chỗ có vàng không phải để cho những kẻ tham lam đâu. Có nhớ ông ấy nói gì không? Đây là điều dứt khoát không được quên. Còn bây giờ thì đi ngủ đi, ông ngồi canh lửa cho. Hai anh em vâng lời đi vào trong lều và lập tức ngủ say như chết. Sáng hôm sau chúng thức dậy khá muộn, nhữngngười đãi vàng khác đã đi làm từ bao giờ rồi. Hai đứa nhìn nhau, rồi một đứa hỏi: - Hôm qua em có thấy gì không? Đứa kia hỏi lại: - Thế còn anh? Cuối cùng, chúng cũng thoả thuận được với nhau. Hai đứa thề nguyền đủ điều, rằng sẽ không nói và kể với ai, rằng sẽ không tham lam và bắt đầu lựa chỗ đào đất. Ở đây, ý kiến của hai đứa lại bất đồng. Thằng anh nói: - Phải bắt đầu ở cây bạch dương ở bên kia sông Ri-a-bi-nốp-ca kia, chỗ mà Pô-lô-dơ nói câu cuối cùng ấy chứ. Đứa em thuyết phục: - Thế không được anh ạ. Sẽ lộ bí mật ngay mất, bởi vì những người khác sẽ chạy lại xem cát ở bên kia sông Ri-a-bi-nốp-ca ra sao. Mà như thế thì vở lở hết. Hai đứa tranh cãi hồi lâu và cùng tiếc không có ông già Xê-mi-ô-nứt để hỏi ý kiến. Đột nhiên chúng thấy một cành bạch dương cắm ngay giữa đống lửa hôm trước. “Chắc đây là ông Xê-mi-ô-nứt để dấu cho mình”, - hai đứa nghĩ bụng và bắt tay vào đào ngay ở đó. Xẻng đất đầu tiên vừa lật lên đã thấy ngay hai cục vàng lóng lánh, cát cũng khác hẳn mấy hôm trước. Công việc của hai đứa mở đầu thuận lợi như vậy đấy. Tất nhiên, sau đó còn có nhiều việc nữa xảy ra, nhưng đấy lại sẽ là một câu chuyện khác rồi./. |
7. Nàng tiên lửa nhảy múa
7. Nàng tiên lửa nhảy múa
Người dịch: Nguyễn Kiên Trung Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Có một lần, những người thợ mỏ ngồi quanh đống lửa trong rừng. Trong số họ có bốn người lớn. Người thứ năm là một cậu bé tám tuổi tên là Phê-đi-a. Đến lúc đi ngủ đã lâu mà cuộc nói chuyện vẫn chưa kết thúc. Trong nhóm có một ông lão tên là E-phim. Hồi trẻ lão đã đào được một hột lúa vàng dưới đất. Lão đã từng trải mọi chuyện. Bây giờ lão ngồi kể chuyện còn những người khác ngồi nghe. Không biết đã mấy lần, người cha nói với Phê-đi-a: - Này Phê-đi-ska, đi ngủ đi! Phê-đi-a còn muốn nghe nữa: - Cho con ngồi thêm một tí nữa, cha! Rồi cuối cùng lão E-phim cũng hết chuyện. Trên đống lửa chỉ còn than hồng. Mọi người còn mỗi một việc là nhìn vào đống than. Bỗng nhiên từ giữa đống than có một cô gái bé xuất hiện, nhìn giống con búp bê biết cử động. Mái tóc màu hung, áo xanh lơ, trong tay cầm một cái khăn cũng màu xanh lơ. Cô gái ngước cặp mắt vui vẻ, hàm răng óng ánh, vẫy khăn tay và bắt đầu nhảy múa. Cô múa đẹp đến mê hồn. Mấy lão già ngồi chết lặng, như sợ bị cô gái thu hết cả hồn vía. Lúc đầu cô gái nhảy vòng trên đống than, sau đó hình như thấy chật, cô tiến dần ra, các lão cũng lùi ra nhường chỗ cho cô gái. Cứ mỗi vòng nhảy thì hình như cô gái lại lớn thêm một ít. Các lão lùi ra mãi, còn cô gái thì càng nhảy càng lớn. Khi mọi người đã lùi ra rất xa, cô gái bắt đầu nhảy theo đường chữ chi bao lấy họ tạo thành những đường vòng, sau đó cô vượt ra ngoài vòng người và đã lớn khoảng bằng Phê-đi-a. Cô dừng lại bên một cây thông già vừa dậm chân vừa tươi cười vung khăn và huýt sáo. - Phít….i…. u Ngay lúc đó một con cú cất tiếng kêu và cô gái biến mất. Nếu chỉ có mấy lão thợ mỏ ngồi thì chẳng có chuyện gì xảy ra. Chắc ai cũng nghĩ rằng nhìn mãi vào than hồng loá mắt mới thấy những điều đó. Chỉ có một mình Phê-đi-a không nghĩ thế, nó hỏi cha: - Cha ơi, ai đấy? Người cha trả lời: - Con cú chứ còn ai nữa. Con không nghe thấy nó vừa kêu à? - Con không nói con cú! Cú con còn lạ gì, con không sợ. Cha nói về cô gái vừa rồi ấy. - Cô gái nào? - Cái cô gái nhảy trên than ấy. Cha và các bác vừa lùi ra để cho cô ấy nhảy đấy! Đến đây người cha và mấy lão thợ bắt đầu tra hỏi xem Phê-đi-a thấy những gì. Thằng bé kể hết. Một lão thợ còn hỏi thêm: - Nào, thế cháu thấy cô ta cao bao nhiêu? - Lúc đầu chỉ lọt thỏm trong bàn tay cháu, nhưng sau cùng thì gần bằng cháu. Lúc đó một lão thợ nói: - Này cháu Phê-đi-a, chính bác cũng trông thấy hệt như thế. Cha Phê-đi-a và một lão thợ nữa cũng nói như vậy. Một mình lão E-phim vừa ngậm tẩu thuốc, vừa im lặng, lúc đó mọi người xán đến lão và hỏi: - Còn lão, lão E-phim, lão nhìn thấy cái gì? - Lão cũng nhìn thấy y như thế, nhưng cứ nghĩ là bị hoa mắt. Thế hoá ra là nàng tiên lửa có thật. - Nàng tiên lửa nào? Lúc đó lão E-phim mới bắt đầu giải thích: - Theo người già kể lại thì cô gái bé nhỏ nhảy là dấu hiệu có vàng, nó nhảy ở đâu thì có vàng ở đó. Tuy không nhiều, nhưng mà tốt và không thành từng vỉa mà giống như củ cải vùi trong đất. Lúc đầu nó nhảy thành vòng hẹp, sau rộng dần và biến mất. Đào chỗ đó lên thì có vàng, nhưng mà lão quên không biết đào ở đâu. Ở chỗ nó hiện lên hay chỗ nó biến mất? Các lão thợ mỏ đều đồng thanh nói: - Thế thì ăn rồi. Sáng mai sẽ đào ở chỗ đống lửa trước. Sau đó sẽ đào ở chỗ cây thông. Lúc đó sẽ biết ngay chuyện bịa hay có vàng thật. Tối đó mọi người ngủ bình thường, riêng Phê-đi-a nằm quay ra một bên và nghĩ: “Không biết tại sao con cú lại cười?”. Nó muốn hỏi ông E-phim, nhưng ông lão đã ngáy khò khò. Sáng hôm sau, Phê-đi-a dậy muộn và nó thấy chỗ đống lửa hôm qua là một đống lửa lớn. Còn bốn ông lão thì đứng cạnh bốn cây thông, ông nào cũng nói là cô bé đó biến mất đúng ở chỗ này. Phê-đi-a hét lên: - Này các bạn, các bạn quên rồi hay sao? Nàng tiên múa dừng lại ở chỗ cây thông này. Cô ấy giậm chân ở đây này. Các ông lão bắt đầu nghi ngờ. - Thằng thứ năm dậy lại chỉ đến chỗ thứ năm. Nếu có mười thằng chắc chỉ đến mười chỗ. Chắc là chuyện phiếm thôi, chẳng được gì đâu. Nhưng cuối cùng họ cũng đào cả năm chỗ. Đúng là không được gì thật. Lúc đó lão E-phim nói với Phê-đi-a: - Điềm may mắn của cháu chỉ là ảo ảnh thôi. Phê-đi-a không tin như thế và nó nói: - Ông ạ, chắc là do con cú nó phá đấy. Nó thổi cái may mắn của chúng ta lên rồi nó lại dẹp đi. Lão E-phim vẫn khăng khăng: - Con cú thì dính dáng gì đến chuyện này! - Thế mà là nó đấy! Đúng là nó đấy! Cứ thế, họ đôi co mãi. Còn các lão khác vừa nhìn họ vừa cười: - Cả ông già lẫn thằng bé đều không biết gì. Chúng mình ngu đi nghe họ. Mất cả thì giờ. Từ đó người ta gọi ông già là ông “E-phim – Củ cải vàng”, còn thằng bé là “Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa”. Bọn trẻ ở nhà máy biết chuyện, không cho thằng bé được yên. Cứ nhìn thấy nó ngoài đường là chúng lại la lên: - Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Hãy kể chuyện cô gái đi! Hãy kể chuyện cô gái đi! Ông lão thì chẳng sợ gì cái biệt hiệu đó, gọi ông là cái chậu sành cũng được, miễn đừng bỏ ông vào lò thôi. Còn thằng bé thì bực tức lắm. Nó vừa đánh nhau, vừa chửi rủa, vừa tức giận, nhưng bọn trẻ càng trêu chọc nhiều hơn. Thà đừng đi về nhà còn hơn. Ở nhà còn lắm chuyện nữa. Cha Phê-đi-a lấy vợ hai, mà dì ghẻ lại dữ như gấu, làm thằng bé chẳng thích thú gì ở nhà. Còn lão E-phim thì thường ở lại mỏ và ít khi về nhà. Tuổi già sức yếu, hơn nữa không còn ai để mà về, ông lão sống một mình. May có một lần, vào ngày thứ bảy, các lão thợ mỏ về hết, chỉ còn lão E-phim và thằng bé Phê-đi-a ở lại mỏ. Làm gì cho hết thì giờ? Họ nói hết chuyện này đến chuyện khác. Lão E-phim kể những gì lão từng nghe, từng thấy, dạy cho Phê-đi-a cách tìm vàng và cũng có lúc nhắc lại chuyện nàng tiên lửa nhảy múa. Họ nói chuyện rất vui vẻ. Chỉ có một điểm bất đồng là Phê-đi-a thì nói con cú là cái điềm không may cho lần đó còn lão E-phim thì nói hoàn toàn không phải vậy. Và thế là cãi nhau. Họi đôi co cho đến khi mặt trời sắp lặn. Cạnh lều có đống lửa để đuổi muỗi, lửa ít mà khói thì nhiều. Họ nhìn vào đó và thấy trong khói một cô gái giống như lần trước. Chỉ có cái áo và khăn quàng màu thẫm hơn. Cô gái mắt long lanh, hai hàm răng óng ánh, vẫy khăn, giậm chân và bắt đầu nhảy. Lúc đầu nhảy vòng nhỏ, sau vòng càng lớn và cô gái càng lớn dần lên. Cái lều nằm đó, nhưng không cản bước chân cô. Cô quay vòng coi như không có cái lều ở đó. Cô gái nhảy đến khi lớn bằng Phê-đi-a thì dừng lại ở cây thông lớn. Cô cười, giậm chân, vẫy tay và huýt sáo: - Phít-i-u. Ngay lúc đó có tiếng cú kêu lên. Lão E-phim hết sức ngạc nhiên: - Cú ở đâu ra nhỉ? Mặt trời còn chưa lặn kia mà? - Ông thấy chưa! Con cú lại phá sự may mắn của mình rồi. Cô gái biến mất có khi là vì sợ con cú đấy! - Thế cháu vừa nhìn thấy cô gái đó hả? - Vậy ông không nhìn thấy cô ấy sao? Họ lại bắt đầu truy nhau xem ai nhìn thấy cái gì. Mọi chi tiết đều khớp, chỉ trừ chỗ cô gái biến mất thì mỗi người chỉ một nơi. Cũng giống như lần trước, lão E-phim thở dài ngao ngán: - Hà hà! Chẳng có quái gì, toàn chuyện mình tưởng tượng ra cả! Vừa nói xong thì từ đám cỏ trong lều, khói bốc ra mù mịt. Các dây sao bắt đầu bén lửa. Nhưng may là nước ở gần. Họ vội tưới và cứu được tất cả. Chỉ có đôi găng tay của ông lão bị cháy. Phê-đi-a giật lấy đôi găng tay và thấy những lỗ cháy trên đó, giống hệt như những bước chân nhỏ. Nó đưa ông lão xem và nói: - Thế theo ông cái này cũng là tưởng tượng à? Ông lão không cãi được nữa, đành phải công nhận: - Cháu nói phải đấy, Phê-đi-a ạ. Đúng là có nàng tiên lửa thật. Ngày mai chắc mình phải đào bới để tìm hạnh phúc thôi. Chủ nhật, họ bắt đầu đào từ sáng sớm. Đào ba hố mà chưa tìm thấy gì, lão E-phim bắt đầu chán: - Người ta cười vào việc làm của mình đấy. Phê-đi-a thì lại đổ tội cho con cú: - Chắc lại do nó thôi. Nó phá cái may mắn của mình. Nếu có gậy thì nhất định cháu sẽ phang cho nó một cái. |
7. Nàng tiên lửa nhảy múa (tt)
Người dịch: Nguyễn Kiên Trung Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Sáng thứ hai, các lão thợ mỏ trở lại thấy bên lều vết đào bới còn mới nguyên. Họ đoán ngay ra việc gì đã xảy ra. Họ cười ông lão và nói: - Củ cải lại đi tìm củ cải… Sau đó thấy trong lều bị cháy, họ bắt đầu trách mắng cả hai người. Cha Phê-đi-a tức giận, định đánh cậu bé, nhưng lão E-phim đã bảo vệ nó: - Ông không biết ngượng khi đánh trẻ con à? Chả cần đánh nó cũng sợ không dám về nhà rồi. Làm thằng bé khiếp vía kinh hồn mà nó có lỗi gì đâu? Tôi ở lại đây thì có gì phải hỏi tôi, nếu ông thấy có gì thua thiệt. Chắc tro từ tẩu thuốc rơi ra bén lửa, rồi cháy, thế thôi. Tôi làm tôi chịu… Nói với cha Phê-đi-a xong, ông lão quay sang nói với cậu bé như không có ai bên cạnh: - Ôi, Phê-đi-a, Phê-đi-a! Con bé nó chọc mình đấy. Lần sau mà thấy thì phải nhổ nước bọt vào mặt nó. Cho chừa cái thói trêu chọc mọi gnười. Phê-đi-a vẫn khăng khăng: - Không phải đâu ông ạ. Cô ta không muốn điều ác, chỉ tại con cú thôi. - Tuỳ cháu, nhưng lần sau thì ông không đào bới nữa đâu. Đùa thế là đủ rồi. Chẳng còn trẻ trung gì mà đi theo nàng tiên lửa. Ông già thất vọng, còn Phê-đi-a thì vẫn thương nàng tiên lửa nhảy múa. - Ông ạ, đừng giận cô ấy làm gì. Ông không thấy cô ấy xinh đẹp và vui thế nào à? Nếu không có con cú chắc cô ấy đã đem lại may mắn cho mình rồi. Lão E-phim không muốn nói về con cú, còn nàng tiên lửa thì ông chưa thể quên được. - Cô ta đem lại cho cháu may mắn thế đấy. Thà đừng đi về nhà còn hơn. Ông già nói sao thì nói, Phê-đi-a vẫn bướng bỉnh: - Ông thấy cô ta múa mới đẹp làm sao chứ. - Đẹp thật đấy, nhưng mình thì được gì nào? Thà chẳng nhìn lại hơn. - Cháu thì vẫn muốn nhìn. Thế nếu cô gái nhảy thì ông quay đi à? - Sao lại quay đi? – Ông lão thì thào và lại bắt đầu nhiếc Phê-đi-a: - Ôi, sao mà cháu bướng bỉnh thế! Biết cái gì là tin riệt lấy. Cháu có thấy ông không? Cả đời tìm kiếm, săn đuổi may mắn mà có thấy gì đâu? - Không thấy là thế nào? Mình chẳng vừa mới thấy rành rành ra đấy là gì? - Cháu muốn sao thì muốn, ông không theo được đâu. Chạy nhiều mỏi chân rồi. Tuy tranh cãi nhưng tình cảm của hai ông cháu vẫn mặn mà. Khi làm việc lão E-phim vẫn theo dõi, chỉ bảo Phê-đi-a. Khi rảnh rỗi, lão vẫn kể đủ thứ chuyện. Nghĩa là lão dạy Phê-đi-a cách sống thế nào cho phải. Những ngày hạnh phúc nhất là những ngày chỉ có hai ông cháu ở lại mỏ. Mùa đông đã đuổi các thợ mỏ về nhà. Họ đi kiếm việc khắp nơi, chỉ trừ Phê-đi-a vì nhỏ tuổi nên phải ở nhà. Nhưng nó không muốn ở nhà. Ở nhà còn cực hơn vì bố nó bị tai nạn lao động, phải đưa vào viện, nửa sống nửa chết. Dì ghẻ thì ngày càng ác. Phê-đi-a chịu mãi không được nên đã phản ứng: - Thôi được, con đến sống với ông E-phim! Sống với ai, dì ghẻ có cần gì biết. Bà ta nói: - Đi đâu thì đi! Đi với nàng tiên lửa của mày cũng được! Phê-đi-a mặc quần, áo lông vào. Nó muốn lấy cái mũ của bố mà dì ghẻ không cho nên nó phải đội cái mũ đã quá chật của mình và đi. Ra tới ngoài đường, bọn trẻ xúm ngay lại và chọc nó: - Phê-đi-a - Nàng tiên lửa! Phê-đi-a - Nàng tiên lửa! Hãy kể về cô ta đi! Phê-đi-a vẫn lầm lũi đi, nó cằn nhằn: - Thật đúng là tụi mày không biết nghĩ gì! Bọn trẻ đã thấy ngượng, chúng bắt đầu hỏi Phê-đi-a một cách đứng đắn: - Cậu đi đâu đấy? - Đến ông E-phim. - Chỗ củ cải vàng ấy à? - Ai muốn củ cải thì tới đó. Tao đến chỗ ông E-phim! - Xa lắm, có khi bị lạc đường đấy! - Xê ra, tao biết đường! - Không khéo thì cậu bị chết cóng mất. Trời lạnh thế mà cậu thì không có găng tay. - Không có găng nhưng có tay áo. Cho tay vào tay áo là xong. Thế mà cũng không nghĩ ra. Bọn trẻ thấy Phê-đi-a nói đàng hoàng nên cũng hỏi đứng đắn: - Phê-đi-a này, có đúng cậu thấy cô gái trong lửa không? - Cả trong lửa, cả trong khói, có khi thấy ở chỗ khác nữa. Nhưng thôi, kể làm gì! – Nó nói và bước nhanh hơn. Lão E-phim sống ở Kosom Brod hoặc ga gì đó. Người ta nói ông lão ở cái nhà nhỏ ngay đầu đường, trước cửa sổ có một cây thông. Còn xa quá, mà trời thì lạnh, lại đang giữa mùa đông. Cuối cùng rồi cũng tới. Chỉ còn việc gõ cửa nữa thì Phê-đi-a bỗng nghe: “Phít..i..u… Phít..i..u!” Phê-đi-a quay lại, thấy trên đường tuyết, một gót giày giống như giày của nàng tiên lửa. Nó chạy lại gần để xem thì gót giày lại chạy xa hơn. Phê-đi-a chạy theo mãi, cuối cùng nó tới một nơi xa lạ, xung quanh toàn là rừng rậm. Ở một khoảng trống, có cây bạch dương già như đã chết. Xung quanh nó tuyết dồn thành núi. Góit giày chạy tới đó thì dừng lại và bắt đầu vòng quanh cây bạch dương. Vì quá ham mê nên Phê-đi-a không để ý tới đường, cứ theo gót giày vào chỗ toàn tuyết. “Chẳng sao, cứ chạy, chẳng lún đâu mà sợ”. – Nó nghĩ thế. Gót giày chạy, bụi tuyết tung lên, bay cả vào mắt Phê-đi-a. Phê-đi-a giận điên lên. Nhưng đó nó hấy ngay dưới chân có một lỗ tuyết tan đến tận đất và nàng tiên lửa đang đứng ngay dưới đáy lỗ đó, Cô gái nhìn hóm hỉnh và vui cười. Cô vẫy khăn và bắt đầu nhảy. Tuyết từ chân giày cô bay lên. Chỗ nào cô đặt chân xuống là chỗ đó nảy nở cỏ và hoa. Cô gái nhảy một vòng, Phê-đi-a thấy ấm hơn. Cô càng nới rộng vòng nhảy. Trên cây bạch dương lá rung xào xạc. Cô gái càng nhảy nhanh hơn và bắt đầu hát: Tôi thấy ấm hơn Tôi thấy sáng hơn… Cô nhảy như gió cuốn, cái khăn căng phồng lên. Khi cô gái đã cao bằng Phê-đi-a thì chỗ truyết tan đã lớn hơn, trên cây bạch dương chim đã hót. Trời bỗng ấm như một ngày hè, mũi Phê-đi-a lấm tấm mồ hôi. Nó bỏ mũ từ lâu và giờ đây muốn cởi luôn cả áo. Lúc đó cô gái nói: - Cày cậu bạn, hãy giữ lấy hơi ấm. Tốt hơn hết là nghĩ xem cậu sẽ về thế nào. Phê-đi-a trả lời: - Tự mời đến thì tự đưa về. Cô gái cười lớn: - Khôn gớm! Nếu tôi không muốn thì sao? - Sẽ đến lúc muốn, tôi sẽ đợi! Lúc đó cô gái mới nói: - Thế thì cầm lấy cái xẻng. Nó sẽ sưởi ấm cậu trong tuyết và đưa cậu về nhà. Phê-đi-a quay lại, thấy bên cạnh cây bạch dương một cái xẻng cũ. Cái xẻng đã rỉ hết và cán đã long ra. Phê-đi-a cầm lấy xẻng và cô gái dặn thêm: - Này, đừng để rơi đấy, cầm chặt vào. Phải nhìn đường nữa. Cái xẻng không đưa ngược đường đâu. Mùa xuân cậu có đến không? - Sao lại không? Thế nào mình cũng tới cùng ông E-phim. Mùa xuân là chúng tôi tới ngay. Cậu cũng lại đây nhảy nhé. - Khi ấy không phải lúc của tôi. Cậu tự nhảy lấy, Còn ông E-phim thì đánh nhịp. - Việc của cậu là gì? – Phê-đi-a hỏi. - Không thấy à? Mùa đông thì mua vui cho những người công nhân như cậu, câu tưởng nhẹ nhàng à? Cô gái quay lại vẫy khăn và huýt sáo: - Phit..i.u… Phít..i..u… Cô gái biến mất và chỗ trống cũng không còn. Cây bạch dương thì như chết, Trên ngọn cây có một con cú. Kêu thì nó không kêu, nhưng lúc lắc cái đầu. Bỗng nhiên xung quanh cây bạch dương tuyết dồn thành núi, ngập đến cổ Phê-đi-a. Nó vội hất cái xẻng về phía con cú. Cái cấm áp lúc này có lẽ chỉ còn lại ở cái xẻng. Nó làm ấm tay Phê-đi-a và cả người cũng ấm theo. Cái xẻng kéo Phê-đi-a và tuyết cũng dạt ra. Lúc đầu Phê-đi-a suýt nữa để tuột cái xẻng, sau đó nó quen dần và mọi việc đều tốt đẹp. Có khi Phê-đi-a đi theo cái xẻng, có khi bị nó kéo đi. Phê-đi-a rất khoan khoái nhưng cũng không quên ngắm đường cho khỏi lạc. Cái xẻng đưa Phê-đi-a về đến nàh lão E-phim lúc trời gần tối. Sau khi Phê-đi-a kể, ông lão không tin. Lúc đó Phê-đi-a nói: - Thế thì ông nhìn cái xẻng mà xem, trong xe trượt ấy. Ông lão E-phim mang cái xẻng vào và thấy bên chỗ rỉ có những cái mầm vàng, tất cả sáu cái. Lúc đó ông lão mới tin và hỏi: - Cháu còn nhớ chỗ không? - Sao lại không? Vì cháu đánh dấu đường rồi! Ngày hôm sau, ông mượn gậy trượt tuyết của ông bạn thợ săn. Ông đi mãi và rồi cũng đến đúng chỗ. Ông lão rất vui vẻ. Ông bán mấy cái mầm vàng cho một người buôn lạ và cả mùa đông hai ông cháu sống rất đàng hoàng. Mùa xuân tới, cả hai ông cháu cùng đến chỗ cây bạch dương. Họ đã thấy gì? Ngay từ xẻng đầu tiên đã dính toàn một lớp cát vàng. Ông lão E-phim nhảy lên vì vui sướng. Họ không giấu nổi của cải. Phê-đi-a thì còn dại mà ông lão thì cũng thật thà. Dân từ khắp nơi kéo đến. Sau đó tất nhiên là họ bị đuổi hết. Một viên quan nọ tuyên bố đó là khu đất của mình. Không phải ngẫu nhiên mà con cú lại gào thét. Dù sao thì ông lão E-phim và Phê-đi-a cũng lấy được một ít từ cái lần đầu tiên ấy. Năm năm liền họ sống phong lưu. Họ lại nhớ Nàng tiên lửa. - Nếu mà cô ấy lại hiện ra một lần nữa nhỉ! Nhưng cái đó không bao giờ xảy ra nữa. Còn cái mỏ đó thì bây giờ người ta vẫn gọi là mỏ Nàng tiên./. |
8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Hồi đó ở xóm thợ có chàng trai tên là I-li-a. Cậu sống một mình bởi người nhà cậu đều đã qua đời hết. Mỗi người để lại cho cậu một thứ. Cha để lại cho cánh tay rắn chắc và đôi tay vạm vỡ, mẹ cho hàm răng trắng đẹp và cái miệng ăn nói dễ thương, ông nội I-gnát để cho cái xẻng và chiếc búa chim, còn bà nội Lu-kê-ri-a cho cậu một vật kỷ niệm đặc biệt. Đấy chính là vật cần phải kể trước hết. Bà Lu-kê-ri-a là một con người khôn ngoan. Bà lượm lông chim trên đường làng, tính để dành làm gối cho cháu nội nhưng không kịp. Khi cảm thấy cái chết đã gần kề, bà gọi cháu đến và bảo: - Này I-liu-sen-ka, cháu nhìn xem, bà nội đã gom góp được bao nhiêu là lông chim đây! Gần một rổ nhé! Mà lông cũng đẹp làm sao, trăm cái như một, đủ mọi màu sắc, chỉ nhìn đã thích rồi! Giữ lấy mà làm kỷ niệm, chúng sẽ có ích cho cháu! Khi nào cháu cưới vợ và cô ấy đem gối về nhà, cháu sẽ không phải ngượng: Gối lông chim đâu có gì lạ đối với tôi, tôi cũng có, mà là của bà nội cho kia. Nhưng cháu đừng có đuổi theo nó làm gì, cái gối lông chim ấy mà! Nếu vợ cháu có gối lông chim mang về thì tốt, mà không có thì cũng đừng buồn. Hãy sống vui vẻ, và làm việc chuyên cần cháu nhé. Nếu có phải ngủ trên đệm rơm cũng chẳng sao, cháu sẽ gặp được những giấc mơ đẹp. Hễ trong đầu không có những ý nghĩ xấu xa thì mọi công việc của cháu sẽ trôi chảy, thuận buồm xuôi gió ngay thôi. Ngày sẽ mang đến cho cháu niềm vui, đêm sẽ vuốt ve âu yếm và mặt trời đỏ sẽ cười với cháu. Còn nếu cháu có ý nghĩ xấu xa thì dù có đập đầu vào gốc cây cũng không sao tìm được hạnh phúc. - Bà nói về những ý nghĩ xấu xa nào thế, hả bà? – I-li-a hỏi. - À, đó là về tiền bạc và của cải đấy cháu ạ, - người bà đáp - Không có gì xấu xa hơn chúng đâu. Chúng chỉ làm người ta đau khổ và nhọc công vô ích mà thôi. Sống trong sạch và có lương tâm thì gom góp lông chim làm gối còn khó, chứ đừng nói gì đến chuyện làm giàu. - Vậy thế còn các kho báu dưới đất thì sao hả bà? Không lẽ bà không tin có người tìm được… - Tìm được thì tìm được cháu ạ, chỉ có cái là không bền đâu. Tiền của đến rồi lại đi và chỉ làm người ta buồn chán mà thôi. Cháu đừng nghĩ đến điều ấy làm gì cho mệt người! Các cụ nói rằng, trong các kho báu dưới đất thì chỉ có một cái là trong sạch và bền thôi, đó là khi bà Si-nhiu-ska biến thành cô gái đẹp và tự tay tặng báu vật. Mà bà Si-nhiu-ska thì chỉ tặng cho người khôn ngoan, can đảm và thật thà thôi, ngoài ra không cho ai khác. Cháu hãy nhớ lấy, I-liu-sen-ka nhé, đấy là lời dặn cuối cùng của bà. I-li-a cúi đầu: - Cám ơn bà đã tặng cho cháu lông chim và những lời khuyên quý giá. Cháu sẽ không bao giờ quên. Chẳng bao lâu, bà nội Lu-kê-ri-a qua đời… I-li-a chỉ còn lại mỗi một mình, vừa là người lớn, vừa là trẻ con. Các bà già khóc mướn lập tức mò đến, họ tắm rửa, tẩm liệm cho người đã khuất, đưa quan tài ra nghĩa địa. Thật ra, các bà già ấy đi giúp các nhà có đám ma cũng không phải vì quá no đủ nhàn rỗi. Họ xin vật này, ngắm nghía thứ khác trong nhà và chỉ thoáng một cái là đồ đạc của bà nội đã biến hết. Trong lúc I-li-a quanh quẩn với mấy người phu đào huyệt thì nhà cậu đã trống trơn, chỉ có chiếc áo ấm và cái mũ lông trên người là còn. Ai đó đã tham cả lông chim mà bà nội cóp nhặt được. Chiếc rổ đựng lông sạch trơn, chỉ còn dính lại có ba cái, một màu trắng, một màu đen và một màu nâu. I-li-a tiếc ngẩn ngơ vì đã không giữ được đồ kỷ niệm của bà nội. Cậu nghĩ: “Dù sao cũng phải giữ mấy chiếc lông chim này, không có thì chẳng ra sao cả. Bà đã hết lòng gắng sức mà mình thì lại cứ như người dửng dưng”. Cậu nhặt sợi chỉ màu lam rơi dưới sàn, buộc chặt ba chiếc lông chim lại và đính lên mụ. Hài lòng, cậu nghĩ: “Đây đúng là chỗ cho chúng rồi. Hễ đội mũ lên hay bỏ xuống là chúng lại nhắc mình lời dặn của bà. Chắc đó là lời khuyên có ích trong đời, lúc nào cũng phải nhớ mới được”. Sau đó, I-li-a khoác áo, đội mũ và đi đến mỏ vàng. Cậu chẳng buồn khoá cửa nữa, bởi vì trong nhà đâu còn gì, ngoài chiếc rổ trống rỗng mà có vứt ngoài đường cũng không ai thèm nhặt. I-li-a lúc đó đã đến tuổi lấy vợ từ lâu và làm ở mở được sáu, bảy năm rồi. Hồi đó còn là thời nông nô nên trẻ em cũng bị bắt làm việc. Có người trước khi lấy vợ đã phải quần quật cho chúa đất hơn cả chục năm. Cả I-li-a cũng có thể nói là lớn lên tại mỏ vàng. Từ nhà đến mỏ khá xa. Khi đó ở Gre-mi-kha, người ta khai thác mãi tận Hòn Đá Trắng. Đường sá trong vùng, I-li-a thhuộc như lòng bàn tay. Vì thế cậu nghĩ bụng: “Mình đi tắt qua đầm lầy Diu-đen cho xong. Nắng thế này chắc đất khô và đi qua được. Vậy sẽ đỡ được ba mà có khi là bốn dặm…”. Nói là làm và I-li-a đi tắt ngang rừng theo lối mà mùa thu, khi đầm lầy đã đông cừng, cận vẫn đi từ mỏ về nhà và từ nhà lên mỏ. Đoạn đầu, cậu đi khá nhanh nhưng sau đó, dần dần nhận thấy thấm mệt và hiểu rằng đã bị lạc đường. Nhảy từ mô đất khô này sang mô đất khô kia thì sao mà giữ đường thẳng được. Anh cần đi một hướng thì mô đất lại chạy theo hướng khác. I-li-a nhảy nhót một hồi, cả người mồ hôi vã ra như tắm và cuối cùng, cậu đến một khu đất trũng. Ở đấy cỏ mọc um tùm, toàn là cỏ vô thương và bạch giới. Hai bên khu đất trũng là những gò nhỏ với mấy cây thông xanh um. Như vậy là đã tới chỗ đất khô, chỉ khổ một nỗi là I-li-a không biết phải đi tiếp về hướng nào. Cậu đã đến đây không biết bao lần mà chưa hề nhìn thấy khu đấttrũng này bao giờ. I-li-a đánh liều đi theo khe trũng chạy giữa dãy gò đất. Đi được một lát, bỗng cậu bắt gặp một vũng tròn như ô cửa sổ, nước trong vắt như nước mạch, có điều là không thấy đáy đâu cả. Vũng nước trông khá sạch, tuy có màng nhện màu lam giăng bên trên và ở giữa là một con nhện cũng màu lam. Đang khát, I-li-a mừng rỡ tiến lại gạt bỏ màng nhện và cúi xuống định uống thì bỗng cảm thấy đầu óc chao đảo, suýt nữa ngã nhào xuốngnước và tự nhiên cậu thấy buồn ngủ ghê gớm. “Đầm lầy làm mình mệt mỏi quá rồi – cậu nghĩ – phải nghỉ một lát thôi”. Cậu muốn đứng dậy nhưng không nổi, tuy thế vẫn cố bò được một đoạn về phía gò đất rồi bỏ mũ xuống gối đầu và duỗi thẳng người trên mặt đất. Nhìn lại, cậu thấy một bà già bé nhỏ bước ra từ cái cửa sổ nước ấy, bà ta chỉ cao bằng ba phần tư người thường, trên mình mặc chiếc áo màu lam, chiếc khăn đội trên đầu màu lam và cả da mặt cũng màu lam. Trông bà ta gầy còm đến mức tưởng như gió thổi cũng bay. Tuy vậy, cặp mắt màu lam của bà ta trông rất trẻ và to đến mức khó tin là chúng có thể ở trên một gương mặt như vậy được. Bà già nhìn chằm chằm vào I-li-a rồi giơ tay về phía chàng. Kìa, sao tay bà ta cứ dài dần ra thế kia, chẳng mấy chốc nữa nó sẽ đụng đến đầu I-li-a mất. Cánh tay màu lam của bà già trông mờ ảo như sương mù và không có chút khí lực nào cả, móng tay cũng không có, vậy mà nó làm I-li-a ghê sợ đến bủn rủn. Cậu muốn bò xa thêm chút nữa nhưng không hiểu sức lực đã biến đi đâu mất hết. Cậu nghĩ: “Có lẽ nên quay mặt đi thì hơn, dù sao cũng bớt khủng khiếp”. Cậu quay đầu và tình cờ chạm mũi vào mấy chiếc lông chim; thế là cơn hắt hơi ở đâu kéo đến. I-li-a hắt hơi lia lịa, hắt hơi đến bật cả máu mũi ra mà không ngừng lại được. Đột nhiên, cậu cảm thấy đầu đỡ nặng và sức lực quay trở lại. I-li-a nhanh chóng cầm lấy chiếc mũ và đứng phắt lên. Trước mặt cậu, mụ già vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ, người run lên vì giận dữ. Hai tay mụ đã thò gần đến chân I-li-a nhưng mụ không sao nhấc chúng lên được. I-li-a hiểu ngay rằng mụ già tức giận vì đã tính nhầm và ma lực của mụ đã hết tác dụng. Cậu bình tĩnh hắt hơi nốt, lau mũi đàng hoàng và nói: - Sao không vồ nữa đi, mụ già? Hẳn là miếng thịt không vừa miệng mụ rồi! Cậu nhổ một bãi nước bọt vào tay mụ và quay người bỏ đi. Thấy vậy, mụ già cất giọng lanh lảnh như con gái: - Hãy đợi đấy, đừng vội vui mừng! Lần sau mà mày tới đây, thì sẽ không mang được đầu về đâu. - Nhưng ta đâu có định tới! – I-li-a trả lời. - À! Sợ rồi! – Mụ già đắc thắng reo lên. I-li-a tức quá. Cậu dừng chân và thốt lên: - Được rồi, nếu vậy, nhất định ta sẽ đến và lấy được nước trong giếng cho mụ xem. Mụ già phá lên cười và tiếptục khích chàng trai: - Mày chỉ là đồ khoác lác! Đáng lẽ phải cảm ơn bà nội Lu-kê-ri-a rằng đã thoát được tay ta thì nó lại còn huênh hoang nữa chứ! Người lấy được nước từ giếng này còn chưa sinh ra đời đâu. - Cứ để xem, rồi sẽ biết người ấy sinh ra hay chưa, - I-li-a đáp lại. Mụ già vẫn không chịu thôi: - Mày chỉ là đồ nói dóc! Làm sao màylấy được nước giếng, nếu thậm chí đến gần còn không dám. Lời nói của mày rỗng tuếch! Có chăng là gọi người khác tới, người nào can đảm hơn mày ấy! I-li-a quát lên: - Mụ đừng hòng chờ được ta đưa người khác đến đây. Ta cũng biết mụ ác hại thế nào và lừa người ta bằng cái gì rồi. Mụ già cứ lặp đi lặp lại: - Mày không dám đến đâu! Cỡ mày ấy à, cònlâu! Khi đó, I-li-a bèn nói: - Được rồi. Hễ hôm nào chủ nhật, lại có gió lớn thì mụ cứ việc chuẩn bị mà đón khách. - Gió thì giúp gì được mày? – mụ già hỏi. - Rồi khắc biết – I-li-a trả lời – Mà này, mụ đừng quên rửa bãi nước bọt trên tay đi nhé. - Mày lo bàn tay kéo mày xuống đáy giếng bị bẩn à? – Mụ già hét lên – Dù mày có khôn ngoan thì cũng sẽ thuộc về tao thôi. Đừng có hy vọng vào gió và mấy cái lông chim của bà nội mày! Không ích gì đâu! Lời qua tiếng lại một hồi, I-li-a bỏ đi. Cậu vừa để ý nhớ đường, vừa nghĩ thầm: “Hoá ra mụ Si-nhiu-ska là như vậyđấy. Trông như người sắp chết mà cặp mắt thì đẹp mê hồn, còn giọng thì lanh lảnh như giọng con gái. Giá mà được thấy mụ biến thành cô gái đẹp như thế nào nhỉ”. I-li-a đã được nghe kể nhiều về mụ Si-nhiu-ska. Thợ ở mỏ rừng kể rằng người ta hay gặp mụ ở những vùng hoang vu hoặc các mỏ cũ. Mụ ta ngồi đâu là ở đó có của cải. Nếu đuổi được mụ đi thì cái giếng đầy vàng ngọc sẽ mở ra. Khi đó tha hồ mà lấy. Dường như khá nhiều người đã bỏ công đi tìm, nhưng hoặc tay không quay về, hoặc bỏ xác ở đâu đó. |
Thật là tuyệt, truyện này mình đọc suốt thời thơ ấu, giờ đọc lại vẫn thấy thích lắm.
|
8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt)
8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt)
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh I-li-a về tới mỏ khi mặt trời đã tối. Tên cai mỏ tất nhiên trợn mắt lên với cậu: - Đi đâu mà lâu thế? I-li-a giải thích ngọn ngành, rằng cậu vừa mới chôn bà nội Lu-kê-ri-a. Tên cai cảm thấy ngường ngượng nhưng vẫn chưa chịu thôi: - Thế còn mấy cái lông trên mũ mày là thế nào? Vui sướng quá hay sao mà đính lên đó? I-li-a trả lời: - Đấy là của thừa tự của bà nội Lu-kê-ri-a. Tôi đính nó lên đấy để làm kỷ niệm. Tên cai và tất cả những người đứng ở gần đó đều phá lên cười món đồ thừa tự, riêng I-li-a vẫn thản nhiên. Cậu nói: - Thế mà nếu có mang toàn bộ mỏ vàng của ông chủ ra đổi tôi cũng không chịu đâu. Đây không phải lông chim thường mà là lông chim thần. Cái lông trắng này là để cho ngày vui, cái đen là để cho đêm yên tĩnh, còn cái nâu là cho mặt trời rực rỡ. Tất nhiên là I-li-a đùa cho vui. Thế nhưng trong số đứng đó tình cờ lại có Ku-zka Hai Mặt. Tuy nó cùng tuổi với I-li-a, thậm chí sinh cùng tháng, nhưng về mọi mặt thì khác hẳn với I-li-a. Hai Mặt là con một gia đình khá giả. Đúng ra thì một đứa như nó chẳng cần đặt chân đến mỏ làm gì, ở nhà cũng kiếm được việc nhẹ nhàng hơn, Nhưng Ku-zka nghĩ khác. Nó quanh quẩn ở những nơi có vàng từ lâu, chỉ chờ dịp may, còn mang đi thì nó thừa sức. Mà quả thế thật, về phần cuỗm đồ của người khác, Hai Mặt rất tài. Đồ của ai để hớ hênh là lập tức vào tay nó ngay và sau đó thì khỏi tìm. Tóm lại, đó là một thằng ăn cắp và nghề nghiệp ấy đã lưu lại dấu vết cho nó. Một người thợ đãi vàng đã cho nó nếm mùi xẻng, tuy chỉ sượt qua nhưng cũng lưu dấu làm kỷ niệm – môi và mũi Ku-zka bị xẻ làm đôi. Chính vì thế mà mọi người gọi nó là thằng Hai Mặt. Ku-zka vô cùng ghen ghét I-li-a vì cậu là một chàng trai to khoẻ, tài ba và vui tính. Mọi việc vào tay cậu cứ răm rắp đâu và đấy. Hết việc, cậu chén no bụng rồi vui vẻ ca hát, có khi hăng lên còn nhảy múa nữa, nhất là khi đến làm giúp ao việc gì đó. Làm sao mà Hai Mặt so được với chàng trai như vậy, nếu như nó chẳng những không có sức, không say mê mà ngay cả trong đầu cũng là những suy nghĩ hoàn toàn khác. Thế nhưng, Ku-zka lại đánh giá sự thua kém ấy theo kiểu của nó: “Chắc hẳn I-liu-ska có bùa gì đấy. Chẳng thế mà nó luôn thành công và làm việc không biết mệt”. Nghe I-li-a kể về mấy chiếc lông chim, Ku-zka reo thầm trong bụng: “Đây rồi, bùa của I-liuska đây rồi”. Tất nhiên là đêm đó nó mò đến đánh cắp ngay mấychiếc lông chim. Hôm sau, I-li-a giật mình khi không thấy ba cái lông chim. Cậu cho là mình đánh rơi và đi tìm ở khắp nơi trong mỏ. Mọi người chế giễu: - Này, cậu có điên không đấy! bao nhiêu chân đi qua đilại mà cậu mong kiếm mấy cái lông nhỏ xíu! Chắc mọi người dẫm ta chúng thành bụi rồi. Mà tìm chúng làm gì cơ chứ? - Sao lại làm gì? – I-li-a trả lời – Đấy là vật kỷ niệm của bà nội tôi mà! Một người nói: - Nếu là vật kỷ niệmt hì phải cất cẩn thận, hoặc giữngay trong đầu chứ không phải là đeo trên mũ. “Có lẽ mọi người nói đúng”, - I-li-a nghĩ và thôi không tìm nữa. Cậu không hề ngờ là mấy chiếc lông chim đã rơi vào một bàn tay bẩn thỉu. Tâm trí của Ku-zka bấy giờ hoàn toàn tập trung vào việc theo dõi I-li-a, xem mất bùa của bà nội thì công việc của cậu sẽ ra sao. Khi thấy I-li-a lấy chiếc gáo đãi vàng đem vào rừng, nó bám theo, trong bụng nghĩ rằng chắc I-li-a tìm được một chỗ đãi vàng mới. Nhưng kìa, sao I-li-a lại buộc gáo vào một chiếc sào dài đến hơn hai thước. Vậy làm sao mà đãi vàng được? Thế thì để làm gì nhỉ? Ku-zka càng ngờ vực hơn. Trời chuyển dần sang thu, gió ngày một mạnh. Vào thứ bảy, khi thợ mỏ được phép về nhà, I-li-a cũng xin về. Tên cai lúc đầu chế nhạo cậu rằng mới về xong thì về làm gì, hơn nữa gia đình không có, cả gia tài gồm ba chiếc lông chim thì để mất rồi, nhưng cuối cùng cũng để cho cậu đi. Ku-zka đâu có chịu để mất một dịp như vậy, nó đến nơi I-li-a giấu chiếc gáo có cán rất sớm và ngồi chờ. Nó phải chờ rất lâu nhưng không nản. Ai mà chả biết cái tài đó của bọn trộm cắp, chúng sẵn sàng chờ thi với cả chó chứ đừng nói là người. Mãi sang chủ nhật, I-li-a mới xuất hiện. Cậu lấy chiếc gáo ra, miệng lẩm bẩm: - Chà, sao mình lại để mất mấy chiếc lông chim cơ chứ. Còn gió thì thuận đây, mới sáng mà đã rít lên thế này thì đến trưa phải biết là mạnh. Mà đúng là gió mạnh thật, cả khu rừng rên rỉ vặn mình răng rắc. I-li-a đi theo dấu cũ, còn Hai Mặt vừa lần mò theo cậu vừa mừng thầm : “Công dụng của ba chiếc lông chim đây rồi. Hoá ra chúng chỉ chỗ có của báu”. I-li-a phải đi khá lâu, còn gió mỗi lúc một yếu. Khi cậu đến khu đất trũng thì hầu như đứng gió, cây cỏ lặng thinh không hề lay động. Ngước mắt, I-li-a thấy mụ già đang đứng chờ bên giếng. Mụ kêu lên lanh lảnh: - À, dũng sĩ đến đó à! Lông chim của bà nội thì để mất, còn gió cũng đón trượt rồi. Giờ làm sao đây? Mau chạy về nhà mà chờ gió đi, may ra chờ được đấy! Mụ đứng yên chẳng hề vươn tay về phía I-li-a, còn trên miệng giếng là một đám sương mù màu lam bốc lên dày đặc trông như chiếc mũ, I-li-a lấy đà và từ trên gò đất chọc thẳng cái gáo vào chiếc mũ sương mù màu lam ấy, miệng hét: - Cẩn thận đấy, mụ phù thuỷ kia! Không khéo ta nhỡ tay đè chết mụ đấy! Cậu múc nước trpng giếng và cảm thấy chiếc gáo trở nên nặng trĩu, kéo mãi mới nhúc nhích. Mụ già cười khanh khách để lộ hàm trăng trắng và đều như răng con gái. Mụ khích: - Để xem cậu kéo chiếc gáo về như thế nào, để xem cậu sẽ uống được bao nhiêu nước của ta đây! I-li-a đã thấy quả là nặng thật, cậu nổi khùng hét lên: - Vậy thì mụ hãy uống đi! Vừa nói, cậu vừa lấy hết sức nâng chiếc gáo lên mợt chút và chực đổ ụp vào người mụ già. Mụ tránh sang một bên, I-li-a đưa tay theo, mụ lại né ra xa hơn. Đúng lúc ấy, chiếc sào gẫy đôi và nước đổ tung toé. Mụ già lại phá lên cười khanh khách: - Sao cậu không buộc cái gáo vào cây cột gỗ có phải chắc hơn không? I-li-a đáp lại bằng một giọng đe doạ: - Hãy đợi đấy, mụ phù thuỷ kia. Ta sẽ còn tắm bằng nước của mụ. Đến đây, bà già bỗng đổi giọng và nói: - Thôi, đùa thế là đủ rồi. Ta thấy cậu là một chàng trai khôn ngoan và can đảm. Lúc nào muốn cứ trở lại đây vào đêm có trăng, ta sẽ cho cậu thấy đủ mọi thứ báu vật, muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Nếu không thấy ta ở trên thì cứ nói: “Không có gáo đã đến: - và cậu sẽ có mọi thứ. I-li-a trả lời: - Tôi còn muốn thấy bà biến thành cô gái đẹp như thế nào nữa. - Lúc đó hẵng hay – bà già cười nhạt và lại để lộ hàm răng con gái. Hai Mặt nhìn thấy mọi chuyện và nghe rõ từng lời. Nó nghĩ: “ Phải chạy ngay về nhà và chuẩn bị túi mới được, không có I-liu-ska sẽ đến trước mình mất”. Hai Mặt bỏ chạy đi, còn I-li-a theo lối gò đất về làng. Cậu vượt qu a đầm lầy theo các mô đất khô về đến nhà và ngẩn người khi không thấy chiếc rổ của bà nội. Cậu hết sức ngạc nhiên: “Ai cần cái rổ nát ấy làm gì nhỉ?”. Quanh quẩn ở nhà một lát, I-li-a tìm đến chuyện trò với mấy người bạn trong làng rồi trở lại mỏ. Lần này cậu không đi tắt qua đầm lầy mà đi theo đường làng cùng với mọi người. Năm ngày đã trôi qua kể từ chủ nhật ấy, vậy mà câu chuyện trên đầm lầy vẫn in đậm nét trong đầu I-li-a, lúc làm việc cậu cũng nghĩ đến nó, đêm nằm, cậu mất ngủ vì nó. Đôi mắt màu lam luôn lởn vởn trước mắt cậu, còn giọng nói lanh lảnh lúc nào cũng như ở bên tai: “Lúc nào muốn, cứ trở lại đây vào đêm có trăng”. Đúng dịp ấy, trăng non bắt đầu mọc và đêm trở nên sáng hơn. Đột nhiên ở mỏ có tin – Hai Mặt mất tích. Cử người về làng tìm không có, tên cai sai người vào rừng cũng không thấy. Mà cũng phải nói rằng mọi người chỉ tìm chiếu lệ, trong bụng ai cũng nghĩ: “Thằng ăn cắp mất tích thì có thiệt hại gì đâu”, chuyện chỉ đến đó là dừng. Chờ đúng đêm trăng tròn, I-li-a lên đường. Đến nơi cậu chẳng thấy một ai. Mặc dù vậy, I-li-a vẫn đứng nguyên trên gò đất và chỉ khẽ thốt: - Không có gáo đã đến! Cậu vừa dứt lời, bà già lập tức hiện lên và dịu dàng nói: - Mời khách quí lại đây! Ta chờ đã lâu. Cứ lại và lấy được bao nhiêu thì lấy. Bà già giơ tay như người giở nắp giếng và ở đó bỗng hiện lên cơ man nào là báu vật, đầy đến tận miệng. I-li-a tò mò muốn xem kho báu ấy, nhưng vẫn không chịu rời gò đất. Bà già giục: - Cậu còn đứng gì nữa? Ta đã bảo túi đựng được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà! I-li-a trả lời: - Tôi không mang túi theo, mà bà nội Lu-kê-ri-a dặn tôi khác kia. Bà tôi nói sự giàu có chỉ trong sạch và bền vững khi bà tự tay tặng cho người. - Ái chà, cậu này tệ thật đấy! Còn bắt người ta mang đến cho mình nữa! Nhưng thôi, cậu muốn vậy cũng được! Bà già nói xong, ở dưới giếng bỗng bốc lên một cột khói lam. Từ đó bước ra một cô gái đẹp tuyệt trần, ăn mặc như công chúa, nhưng sao quá to lớn. Cô ta phải cao bằng tới lưng chừng cây thông già là ít. Trong tay cô gái là một chiếc khay vàng, trên có đủ mọi thứ báu vật, vàng cát, ngọc, vàng khối to bằng cả chiếc gáo múc nước. Cô gái bước lại gần I-li-a, cúi đầu chào và đưa chiếc khay cho cậu: - Xin người trai trẻ hãy nhận lấy! I-li-a lớn lên ngay tại mỏ, cậu đã từng cân vàng và biết nó nặng đến mức nào. Cậu nhìn chiếc khay và quay lại nói với bà già: - Đây chỉ là trò đùa chơi thôi. Không ai đủ sức mang chừng ấy vàng cả. - Cậu không lấy phải không? – Bà già hỏi. - Dứt khoát là không! – I-li-a trả lời. - Thôi thì đành chiều cậu vậy! Ta sẽ tặng cậu món quà khác, - Bà già nói. Lập tức cô gái bê chiếc khay vàng biến mất và từ dưới giếng lại bốc lên cột khói màu lam. Một cô gái khác bước ra, vóc người nhỏ hơn cô trước một chút. Cô này cũng cực kỳ xinh đẹp, ăm mặc theo kiểu con nhà thương gia. Trong tay cô ta là chiếc khay bạc xếp đầy báu vật. I-li-a lần này cũng vẫn từ chối và nói với bà già: - Sức người không thể mang nổi chừng ấy, hơn nữa, không phải tự tay bà đưa cho. Nghe thấy thế, bà già cất tiếng cười khanh khách không khác gì tiếng con gái: - Thôi thì đành chiều cậu vậy! Ta sẽ mua vui cho cậu và cả ta nữa. Chỉ có sau này đừng có hối hận nhé. Hãy chờ đấy. Nói dứt lời, cả bà già lẫn cô gái mang chiếc khay bạc đều biến mất. I-li-a đứng đợi đã lâu mà vẫn chưa thấy một ai. Nhưng khi cậu chán nản định bỏ đi thì ở bên cạnh bỗng có tiếng cỏ khua loạt soạt. I-li-a quay lại và thấy một cô gái vóc người tầm thước, tuổi chừng mười tám đang bước tới. Cô ăn mặc rất giản dị, chiếc áo liền váy màu lam, đầu đội tấm khăn màu lam và chân xỏ trong đôi giày cũng màu lam. Đôi mắt cô long lanh như hai vì sao, e thẹn ẩn dưới hàng lông mày cong dài thanh thú. Môi cô đỏ mọng như trái mâm xôi, mái tóc dài kết thành bím vắt qua vai và được buộc bằng dây băng màu lam. Cô gái tiến lại gần I-li-a và cất giọng thánh thót: - Xin bạn I-liu-sen-ka quý mến hãy nhận lấy món quà tặng với cả tấm lòng! Bàn tay trắng muốt của cô nâng niu trao cho I-li-a chiếc rổ cũ của bà nội Lu-kê-ri-a, bên trong đựng đầy ắp hoa quả. Thôi thì đủ thứ, cả dâu đất lẫn lý gai, cả dã anh vàng tươi lẫn phúc bồn tử tím đen chín mọng. Để trên cùng là ba chiếc lông chim được buộc chặt bằng sợi chỉ lam, một màu trắng, một màu đen và một màu nâu. |
8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt và hết)
8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt và hết)
I-li-a đưa tay nhận chiếc rổ. Cậu đứng đờ người ra như một thằng ngốc, không hiểu cô gái hiện ra từ đâu và làm sao cô kiếm được chừng ấy thứ quả vào mùa thu này. Khó khăn lắm, cậu mới thốt ra được: - Cô ở đâu vậy? Gọi cô thế nào đây? Cô gái cười nhạt và nói: - Người ta gọi tôi là mụ Si-nhiu-ska, còn với người khôn ngoan, can đảm và chất phác thì tôi thrế này đây. Chỉ có điều là ít khi được như vậy lắm. Giờ thì I-li-a đã hiểu mình đang nói chuyện với ai. Cậu hỏi: - Cô tìm đâu ra những chiếc lông chim vậy? - À, đó là thằng Hai Mặt tới kiếm kho báu đấy mà, - cô gái trả lời, - nó tự đâm đầu xuống giếng và chìm nghỉm cùng với chiếc túi rồi, còn mấy cái lông chim thì nổi lên. Anh thật đúng là chàng trai quá chất phác. I-li-a không biết nói gì hơn nữa, còn cô gái cũng đứng yên lặng, mân mê dây băng buộc tóc. Hồi lâu, cô khẽ nói: - Vậy đấy, anh bạn I-liu-sen-ka thân mến ạ! Tôi là Si-nhiu-ska, lúc nào cũng già, lúc nào cũng trẻ và bị cột chặt muôn thuở vào kho báu vật ở đây. Im lặng một lát, cô hỏi: - Sao, nhìn chán chưa? Thôi đủ rồi đấy, không có lại nằm mê thấy tôi mất. Vừa nói, cô vừa khẽ thở dài và I-li-a cảm thấy tim mình nhói lên như vừa bị một nhát dao đâm trúng. Cậu sẵn sàng đánh đổi mọi thứ trên đời, chỉ cần Si-nhiu-ska biến thành một cô gái bằng xương bằng thịt thật sự, nhưng ngay cả bóng cô giờ đây cũng đã tan biến đi rồi. I-li-a đứng lặng ở đó rất lâu. Chỉ khi làn sương mù màu lam từ giếng bốc lên lan rộng trên khu đất trũng cậu mới chịu ra về. Đến nhà thì trời đã hửng sáng. Cậu vừa bước qua ngưỡng cửa thì rổ trái cây bỗng trở nên nặng trĩu, đáy rổ bung ra những viên ngọc quý cùng các hạt vàng rơi tung toé khắp sàn nhà. Được chỗ báu vật ấy, I-li-a lập tức chuộc mình khỏi tay chúa đất, trở thành người tự do. Cậu dựng cho mình một ngôi nhà xinh xắn và chắc chắn, sắm cả ngựa cưỡi, vậy mà không sao lấy vợ được. Hình ảnh cô gái nọ luôn luôn hiện lên rõ mồn một trong ký ức. Cậi ăn không biết ngon, ngủ không biết yên. Ba chiếc lông chim của bà nội Lu-kê-ri-a cũng chẳng giúp gì được. Không biết cậu đã than thở bao nhiêu lần: - Bà nội Lu-kê-ri-a ơi! DSao bà chỉ cho cháu cách tìm kiếm báu vật của Si-nhiu-ska mà không dạy cho cháu cách xua đuổi phiền muộn. Có lẽ chính bà cũng không biết điềuđó. Dằn vặt, tương tư mãi, cuối cùng cậu nghĩ bụng: “Thà nhảy xuống chiếc giếng nọ còn hơn là phải chịu đựng sự đau khổ như thế này”. I-li-a tìm đến đầm lầy Diu-đen, nhưng vẫn không quên đem theo ba chiếc lông chim của bà nội. Lúc đó đang mùa quả chín và dâu đất bắt đầu rộ. I-li-a vừa vào tới bìa rừng thì bắt gặp một toán gần chục cô gái đi hái dâu về. Cô nào cô ấy đều mang một giỏ nặng trĩu. Trong nhóm có một cô gái đi tách riêng ra một bên. Vóc người thanh mảnh ẩn dưới chiếc áo liền váy màu lam, cùng màu với chiếc khăn chít trên đầu. Cô gái tuổi chừng mười tám và có một sắc đẹp lạ thường. Hàng lông mày thanh mảnh vút dài ôm lấy đôi mắt sang long lanh như hai vì sao, môi cô đỏ mọng như trái mâm xôi. Mái tóc dài bện thành bím và buộc bằng một dải băng màu lam. Thật không khác gì cô gái thuở nào. Chỉ có điểm khác nhau duy nhất là cô kia đi giày màu lam, còn cô gái này đi chân đất. I-li-a đứng ngây người ra nhìn, còn cô gái bạo dạn nhìn thẳng vào cậu bằng đôi mắt màu lam và mỉm cười chế giễu, để lộ hàm răng trắng muốt. Sững sờ giây lát, I-li-a mới thốt được: - Tại sao tôi chưa bao giờ nhìn thấy cô nhỉ? - Vậy thì nhìn đi, - cô gái đáp, - nếu anh muốn về chuyện này thì tôi dễ tính lắm, không lấy xu nào đâu. - Cô sống ở đâu vậy? – I-li-a hỏi. - Anh cứ đi thẳng nhé, - cô gái trả lời, - rồi rẽ sang bên phải, ở đó có một gồi cây rất to. Anh hãy lấy đà cho xa rồi lao thẳng đầu vào đó, phải làm sao cho mắt nổ đom đóm ra ấy. Lúc đó anh sẽ thấy tôi… Cô gái còn trêu chọc I-li-a một hồi theo kiểu mà các cô gái thường dùng để đối đáp với các chàng trai, nhưng rồi cũng nói cho cậu biết tên tuổi và nhà ở của mình. Nhìn đôi mắt của cô, cậu có cảm tưởng chúng đã chiếm trọn tâm hồn cậu. Thế là I-li-a đã tìm được hạnh phúc của mình bên cô gái ấy! Nhưng nào có được lâu. Sở dĩ I-liu-kha trước kia không nhìn thấy cô là vì cô sinh trưởng trong một gia đình làm nghề mài đá hoa cương. Mà về họ thì rõ quá rồi. Trong vùng này, không đâu có con gái đẹp như ở đó, nhưng cưới các cô ấy thì rất dễ thành người goá vợ. Do phải mài đá từ nhỏ nên họ thường mắc bệnh lao. Bản thân I-li-a cũng không sống được lâu. Có thể là vì thương vợ mà cũng có thể là vì không quên được cô gái nọ. Ít lâu sau, người ta mở mỏ mới ở đầm lầy Diu-đen. Hẳn là I-li-a đã không giấu diếm nơi cậu tìm thấy kho báu. Thế rồi người ta bắt đầu đào bới và tìm được khá nhiều vàng. Đến thời tôi, mỏ ở Diu-đen vẫn còn khai thác được nhiều, nhưng không ai tìm thấy cái giếng kia cả. Còn làn sương mù màu lam thì ngay bây giờ vẫn đang dăng trên vùng đó như để chỉ đường đến kho báu. Thật ra, khai thác thì khai thác, nhưng cũng chỉ mới đào sơ sơ ở trên chứ đâu đã xuống sâu… Còn như các cụ kể lại thì cái giếng của bà Si-nhiu-ska sâu lắm. Sâu không thể tưởng tượng nổi. Và nó đang còn chờ người đến. |
9. Con dê móng bạc
9. Con dê móng bạc
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh http://nashideti123.ru/wp-content/up...-Nikolaeva.jpg Hồi đó, trong xóm thợ có một ông già, biệt hiệu là Kô-kô-va-nhi-a. Gia đình ông chẳng còn ai nên muốn tìm một đứa trẻ mồ côi về nuôi. Ông đem ý định đó ra hỏi hàng xóm láng giềng và mọi người bảo: - Mới rồi có hai vợ chồng nhà Gri-gô-ri Pô-tôi-pa-ép cùng qua đời. Viên quản lý sai đưa mấy đứa con gái lớn vào xưởng thêu may của ông chủ, còn con bé nhỏ nhất mới lên sáu thì không ai nhận cả, ông đến mà đem về. - Con gái thì ở với tôi sao được. Giá là đứa con trai thì tốt hơn. Tôi sẽ truyền nghề cho nó và nó sẽ là người trợ lực của tôi. Còn với đứa con gái thì làm thế nào. Tôi biết dạy nó cái gì? Ngẫm nghĩ một hồi, ông nói: - Tôi có biết Gri-gô-ri và cả vợ anh ấy nữa. Hai người đều vui tính và nhanh nhẹn nữa. Nếu con bé giống bố mẹ thì nó sẽ làm nhà cửa thêm vui. Được, tôi sẽ xin nó. Nhưng liệu nó có chịu về không? Hàng xóm láng giềng giải thích: - Nó khổ lắm. Viên quản lý đem nhà của Gri-gô-ri cho người khác và dặn phải nuôi con bé cho đến khi nó lớn thêm chút nữa. Nhưng bản thân gia đình người ấy cũng đã hơn chục miệng, ăn không đủ no thì lấy đâu của thừa. Vì thế, người vợ rất nghiệt ngã với con bé mồ côi, lấy miếng ăn ra để xỉ vả nó. Con bé mới tí tuổi đầu mà nhiểu hết. Nó oán họ lắm nên làm gì mà không về. Với lại ông phải dỗ nó nữa chứ. - Phải đấy – ông già Kô-kô-va-nhi-a nói – tôi sẽ tìm cách dỗ nó. Chờ đến ngày lễ, ông tìm đến nhà đứa trẻ mồ côi. Bước qua ngưỡng cửa, ông nhìn thấy đầy một nhà người, lớn nhỏ đủ cả. Ngồi một mình bên bếp lò là một đứa bé gái, cạnh nó là một con mèo hung. Con bé bé tí xiu, con mèo cũng bé tí xíu và trông nó gầy còm, xơ xác đến mức ít ai muốn cho vào nhà. Đứa bé đang âu yếm vuốt ve con mèo và nó khoái chí kêu gừ gừ vang cả nhà. Ông già Kô-kô-va-nhi-a nhìn đứa bé và hỏi: - Pô-đa-re-nu-ska của Gri-gô-ri đấy phải không? Bà chủ nhà trả lời: - Nó đấy. Mình nó chưa đủ, lại còn nhặt đâu được con mèo ghẻ nữa. Chúng tôi không sao đuổi nó đi được. Mấy đứa trẻ nhà tôi bị nó cào không thiếu đứa nào. Đã vậy lại còn phải nuôi nó nữa. - Chắc tại mấy đứa nhà chị ghét nó thôi, chứ với con bé thì nó hiền lành thế cơ mà. Sau đó ông quay lại và hỏi cô bé mồ côi: - Thế nào, Pô-đa-re-nu-ska, cháu có về sống với ông không? Cô bé ngạc nhiên: - Sao ông biết tên cháu là Đa-ren-ka? - Tự nhiên thôi. Ông chẳng đoán, cũng chẳng hỏi, vậy mà lại đúng mới hay chứ. Cô bé hỏi tiếp: - Thế ông là ai? - Gọi ông là thợ săn cũng được, - ông già trả lời, - mùa hè ông đi đãi cát tìm vàng, còn mùa đông ông đi vào rừng tìm một con dê, nhưng đến bây giờ vẫn chưa thấy nó. - Ông sẽ bắn nó à? - Không. Ông chỉ bắn những con dê thường thôi, còn con này thì không. Ông muốn xem nó dậm chân trước bên phải xuống đâu. - Thế để làm gì? - Để làm gì thì cháu cứ về nhà ông đi, rồi ông sẽ kể hết cho mà nghe, - ông già Kô-kô-va-nhi-a trả lời. Cô bé lấy làm tò mò muốn biết chuyện về con dê, đồng thời cũng thấy mến ông già vui vẻ và hiền hậu. Cô bé bèn nói: - Cháu sẽ về. Nhưng ông cho cả con Mu-ren-ka về với nhé. Ông xem này, nó ngoan lắm. - Ồ, nhất định là thế rồi, - ông già Kô-kô-va-nhi-a trả lời. – Không lấy con mèo có tiếng kêu hay như vậy thì thật là ngốc. Trong nhà chúng ta, nó sẽ thay cho chiếc đàn ba-la-lai-ca. Chủ nhà đã nghe thấy hết câu chuyện của hai người. Bà ta rất mừng vì ông già Kô-kô-va-nhi-a gọi cô bé mồ côi về với mình. Bà ta bèn vội vàng gói ghém quần áo đưa cho Đa-ren-ka, sợ rằng ông già đổi ý. Con mèo dường như cũng hiểu câu chuyện, nó cọ mình vào chân ông già, miệng gừ gừ như muốn nói: - Đúng đấy, đúng đấy! Thế là ông già Kô-kô-va-nhi-a đưa cô bé mồ côi về nhà mình. Hai người dắt tay nhau đi trên đường làng, Ông già cao lớn với bộ râu xồm, còn Đa-ren-ka bé tí tẹo với chiếc mũi hếch trông như cái cúc áo lon ton bên cạnh. Chú mèo Mu-ren-ka chạy dằng sau. Họ bắt đầu chung sống với nhau, ông già Kô-kô-va-nhi-a, cô bé mồ côi Đa-ren-ka và con mèo Mu-ren-ka. Tháng ngày qua nhanh, cuộc sống của họ trôi đi êm ả, chẳng giàu cũng chẳng nghèo, ai có việc người nấy. Ông Kô-kô-va-nhi-a đi làm từ sáng sớm, Đa-ren-ka thu dọn nhà cửa và nấu nướng, còn chú mèo Mu-ren-ka đi săn chuột. Chiều tối, họ mới gặp nhau và tất cả đều vui vẻ. Ông già Kô-kô-va-nhi-a có tài kể chuyện và Đa-ren-ka rất thích nghe các câu chuyện cổ tích của ông. Những lúc ấy chú mèo Mu-ren-ka thường nằm trong lòng cô bé và khẽ gừ gừ như muốn nói: - Đúng đấy, đúng đấy. Tuy đã được nghe nhiều chuyện, nhưng sau mỗi lần Đa-ren-ka đều nhắc: - Ông kể chuyện con dê đi ông. Trông nó như thế nào? Hồi đầu ông Kô-kô-va-nhi-a còn khất, nhưng rồi ông cũng kể: - Con dê ấy là một con dê đặc biệt. Ở chân trước bên phải của nó có cái móng bạc. Hễ nó gõ cái móng đó xuống đâu là ở đó hiện lên một viên ngọc. Gõ một lần – một viên, gõ hai lần – hai viên, còn nếu nó dậm liên tục thì ở đó sẽ có cả một đống ngọc. Ông già kể xong và lập tức lấy làm hối hận. Từ hôm đó, Đa-ren-ka cứ mở miệng là lại hỏi về con dê. - Ông ơi, thế nó có to không? Ông Kô-kô-va-nhi-a kể cho cô bé rằng con dê chỉ cao bằng cái bàn, bốn chân của nó trông rất mảnh khảnh còn cái đầu rất thon. Đa-ren-ka lại hỏi: - Ông ơi, thế nó có sừng không? - Sừng của nó ấy à, - ông già đáp, - đẹp tuyệt. Sừng dê thường chỉ có hai nhánh, còn con này có tới năm nhánh. - Ông ơi, thế nó ăn thịt gì? - Nó chẳng ăn thịt gì cả, chỉ ăn cỏ và lá cây thôi. Mùa đông thì nó ăn cỏ khô ở các đống ngoài rừng. - Ông ơi, thế lông nó màu gì? - Mùa hè thì màu hung, giống như của con Mu-ren-ka ta đây này, - ông già đáp, - nhưng đến mùa đông thì lông nó màu xám. - Ông ơi, thế nó có hôi không? Ông già bực bội thốt lên: - Hôi là thế nào! Chỉ có dê nhà mới hôi thôi, còn đây là dê rừng nên mùi của nó cũng giống mùi rừng. Trời đã sang thu và Kô-kô-va-nhi-a bắt đầu chuẩn bị vào rừng. Ông già muốn xem lũ dê về ăn cỏ ở đâu nhiều hơn. Thấy thế, Đa-ren-ka liền xin theo: - Ông ơi, cho cháu đi với. Cháu muốn xem con dê ấy quá, dù từ xa cũng được. Ông Kô-kô-va-nhi-a giải thích: - Từ xa thì không thể thấy nó được. Vào mùa thu, con dê nào cũng có sừng cả, sao mà đếm được là bao nhiêu nhánh. Còn mùa đông thì khác, dê thường sẽ rụng sừng, còn con Móng Bạc này thì không, hè hay đông đối với nó cũng vậy. Khi đó sẽ nhận ra được nó từ xa. Vậy là Đa-ren-ka ở lại nhà còn ông già Kô-kô-va-nhi-a vào rừng. Năm ngày sau, ông Kô-kô-va-nhi-a quay trở về và kể cho Đa-ren-ka: - Năm nay, dê về ăn cỏ ở phía Pô-nép-xkai-a nhiều lắm. Mùa đông ông sẽ tới đó. Đa-ren-ka hỏi: - Thế mùa đông làm sao ông ngủ trong rừng được? Ông già trả lời: - Ở đó, ông có một căn nhà làm trên sườn đồi. Nó còn khá tốt, có cả bếp và cửa sổ. Sống ở đó rất thích. Đa-ren-ka hỏi tiếp: - Thế con Móng Bạc có ăn cỏ ở đấy không? - Ai mà biết được. Có thể là có. Đa-ren-ka lại xin: - Ông ơi, ông cho cháu đi với. Cháu sẽ ngồi yên ở trong nhà. Có thể con Móng Bạc lại gần và cháu sẽ được thấy nó. Ông già giang rộng hai tay: - Không, không được đâu! Cháu còn bé quá, mùa đông không vào rừng được! Cháu đâu đã biết truợt tuyết, chết cóng thì ông biết làm thế nào. Đa-ren-ka vẫn cứ khẩn khoản: - Cho cháu đi với ông ơi! Cháu hơi biết trượt tuyết rồi mà. Đầu tiên, ông già Kô-kô-va-nhi-a hết lời ngăn cản, nhưng sau đó ông nghĩ bụng: “Hay là cứ cho nó đi? Biết một lần là sau sợ thôi mà”. Ông nói: - Thôi được, ông sẽ cho cháu đi. Nhưng ở trong rừng nhất định không được khóc và không được đòi về nhà sớm đâu đấy. ______ (còn tiếp) |
9. Con dê móng bạc (tt và hết)
9. Con dê móng bạc (tt và hết)
Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đợi cho trời sang đông thật sự, hai ông cháu bắt đầu chuẩn bị vào rừng. Ông Kô-kô-va-nhi-a chất lên chiếc xe trượt tuyết kéo tay hai bao bánh mì khô, đồ dùng đi săn và mọi thứ cần thiết ckhác. Đa-ren-ka cũng sửa soạn cái túi riêng của mình. Cô bé mang theo mấy mảnh vải vụn để may áo cho búp bê, một cây kim, một cuộn chỉ và thêm sợi dây. Cô bé thầm nghĩ: “Không biết có bắt được con Móng Bạc bằng sợi dây này không nhỉ?”. Đa-ren-ka rất thương con mèo của mình và không muốn để nó ở lại. Nhưng làm thế nào được. Cô bé vuốt ve từ biệt con mèo và nói với nó: - Mu-ren-ka, tao với ông vào rừng đây, còn mày ở nhà bắt chuột nhé. Hễ nhìn thấy con Móng Bạc là tao về ngay và sẽ kể cho mày nghe hết mọi chuyện. Chú mèo ranh mãnh nhìn Đa-ren-ka, miệng kêu gừ gừ như muốn nói: - Đúng đấy, đúng đấy! Ông Kô-kô-va-nhi-a cùng Đa-ren-ka ra đi. Hàng xóm láng giềng kinh ngạc nìn theo: - Ông già này điên rồi! Ai lại đưa con bé bé như thế vào rừng vào mùa đông bao giờ! Hai ông cháu vừa ra khỏi xóm thợ bỗng nghe có tiếng chó sủa ăng ẳng. Chúng sửa dữ dội đến mức tưởng chừng có con thú rừng chạy qua làng. Họ quay lại và thấy Mu-ren-ka đang ở giữa làng, nó vừa chạy vừa chống chọi với lũ chó. Mu-ren-ka bây giờ đã khác xưa rồi, nó lớn và khoẻ hơn nhiều. Mấy con chó chỉ sủa chứ không dám lại gần. Đa-ren-ka muốn bắt con mèo đưa về nhà, nhưng nào có được. Mu-ren-ka đã chạy tới bià rừng và tót ngay lên cây thông. Giờ thì có trời mới bắt được nó. Đa-ren-ka kêu khan cả cổ mà không dỗ được con mèo. Không biết làm sao, hai người tiếp tục đi. Khi họ ngoảnh lại thì đã thấy Mu-ren-ka chạy phía sau. Thế là cả bộ ba lại có mặt đầy đủ ở ngôi nhà trong rừng. Đa-ren-ka nói: - Thế này vui hơn ông nhỉ? Ông Kô-kô-va-nhi-a đồng ý: - Tất nhiên là vui hơn rồi. Còn chú mèo Mu-ren-ka đã kịp khoanh tròn bên bếp lò và kêu gừ gừ vang cả nhà như muốn nói: - Đúng đấy, đúng đấy! Mùa đông năm ấy dê về nhiều. Dê thường ấy mà. Mỗi ngày ông Kô-kô-va-nhi-a lại lôi về nhà khi thì một, khi thì hai con. Da và thịt dê muối nhiều đến nỗi không thể dùng xe trượt tuyết kéo tay chở về nhà được. Phải quay về làng mượn ngựa, nhưng còn Đa-ren-ka và con mèo thì làm thế nào. Nhưng Đa-ren-ka đã quen dần với rừng, cô bé tự nói: - Ông ơi, phải về làng lấy ngựa thôi, không thì làm sao chở hết thịt muối về được. Ông Kô-kô-va-nhi-a cũng phải ngạc nhiên: - Cháu ông thông minh quá! Suy nghĩ như người lớn ấy. Nhưng ở lại đây một mình cháu không sợ ư? - Sợ cái gì. Nhà chắc chắn lắm, chó sói đâu có vào được. Với lại con Mu-ren-ka nữa. Cháu không sợ đâu. Nhưng ông cũng về nhanh lên nhé. Thế là ông già Kô-kô-va-nhi-a về làng, còn Đa-ren-ka ở lại với chú mèo Mu-ren-ka. Ban ngày, cô bé đã quen ở nhà một mình khi ông Kô-kô-va-nhi-a đi săn dê, nhưng khi đêm xuống thì đúng là hơi sợ. Nhìn chú mèo Mu-ren-ka bình thản nằm yên, Đa-ren-ka thấy vui hơn. Cô bé đến ngồi trước cửa sổ, nhìn về phía sườn đồi và thấy một vật đen thấp thoáng giữa rừng cây. Khi nó lại gần, cô bé nhận ra đó là một con dê. Bốn chân nó thật mảnh khảnh, cái đầu thon thon, còn sừng thì có năm nhánh. Đa-ren-ka chạy vội ra ngoài để xem thì không thấy gì cả. Cô bé quay vào nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm: - Chắc là mình ngủ mê đấy thôi. Chú mèo Mu-ren-ka lại gừ gừ như muốn nói: - Đúng đấy, đúng đấy! Đa-ren-ka nằm xuống cạnh nó và ngủ yên tới sáng. Ngày thứ hai trôi qua, ông Kô-kô-va-nhi-a vẫn chưa về. Đa-ren-ka buồn lắm nhưng nhất định không khóc. Cô bé vuốt ve Mu-ren-ka và thì thầm với nó: - Đừng buồn nhé, Mu-ren-ka! Ngày mai là nhất định ông về. Chú mèo Mu-ren-ka lại hát bài ca của mình: - Đúng đấy, đúng đấy! Đa-ren-ka lại đến bên cửa sổ ngắm các vì sao trên trời. Cô bé đã định đi ngủ thì bỗng giật mình nghe thấy tiếng lộc cộc từ đâu đó vọng vào. Tiếng lộc cộc vang lên ở sau nhà, sau chuyển ra phía cửa sổ rồi dừng lại ở ngay ngoài cửa ra vào. Tiếng lộc cộc ấy không to lắm, nó nhè nhẹ như tiếng chân vội vã. Thấy thế, Đa-ren-ka nghĩ bụng: “Hay con dê hôm qua lại đến nhỉ?” Lòng ham muốn được nhìn thấy con dê Móng Bạc đã thắng cả sự sợ hãi. Cô bé mở cửa nhìn ra và thấy con dê ở ngay trước mắt. Nó giơ cao chân trước bên phải như chuẩn bị dậm xuống. Dưới ánh trăng, chiếc móng bạc lấp lánh, còn cái sừng thì rõ ràng có năm nhánh. Đa-ren-ka không biết phải làm gì nữa, cô bé lên tiếng gọi nó như gọi dê nhà: - Be…e…e… Con dê nhe răng như muốn cười rồi quay mình bỏ chạy. Đa-ren-ka quay vào nhà và kể lại cho Mu-ren-ka: - Tao đã nhìn thấy con Móng Bạc rồi đấy. Thấy sừng năm nhánh này, thấy cả móng bạc này, chỉ chưa được thấy nó dậm chân làm nảy ra ngọc quý thôi. Chắc lần sau nó mới cho xem. Mu-ren-ka vẫn không đổi câu trả lời: - Đúng đấy, đúng đấy! Ngày thứ ba lại qua đi mà ông Kô-kô-va-nhi-a vẫn bặt tăm hơi. Đa-ren-ka ngồi ỉu xìu một chỗ, nước mắt đã chực tràn ra. Cô bé muốn nói chuyện với Mu-ren-ka thì cả nó cũng không thấy đâu hết. Hoảng hốt, Đa-ren-ka chạy vội ra khỏi nhà tìm kiếm. Đêm sáng trăng, tròn lại trong nên mọi vật đều hiện lên rõ mồn một. Đa-ren-ka ngó quanh và nhìn thấy Mu-ren-ka đang ngồi trên sườn đồi dốc, trước mặt nó con dê đang giơ cao chân, chiếc móng bạc lấp lánh. Đầu Mu-ren-ka lắc lư và con dê cũng vậy, dường như chúng nói chuyện với nhau. Sau đó chúng bắt đầu chạy quanh trên sườn đồi. Con dê chạy trước rồi dừng lại, gõ móng cồm cộp. Khi Mu-ren-ka nhảy tới, nó bỏ chạy, rồi lại gõ móng cồm cộp. Chúng đùa với nhau khá lâu trên sườn đồi, có lúc bỏ tít ra xa rồi lại quay về bên ngôi nhà. Bất thình lình, con dê nhảy lên bậc thềm và ra sức dậm chiếc móng bạc xuống đất. Những viên ngọc đủ mọi màu sắc văng ra tung toé từ dưới chân nó như những tia lửa. Vừa lúc đó ông Kô-kô-va-nhi-a về đến nơi. Ông không nhận ra ngôi nhà của mình nữa, nó như đã biến thành một đống ngọc quý, hắt ra vô vàn tia sáng lấp lánh. Trên ngọn đống ngọc, con dê vẫn không ngừng dậm chiếc móng bạc và ngọc cứ tiếp tục văng ra. Bất ngờ Mu-ren-ka nhảy tót lên đó đứng cạnh con dê. Nó kêu meo meo rất to rồi đột nhiên cả hai con cùng biến mất. Ông Kô-kô-va-nhi-a xúc ngay nửa mũ ngọc. Ông còn định lấy nữa thì Đa-ren-ka lên tiếng: - Đừng lấy nữa ông ơi! Để đấy ngày mai ta còn xem nữa. Ông Kô-kô-va-nhi-a nghe lời. Nhưng đến sáng hôm sau, một cơn mưa tuyết lớn đổ xuống phủ kín cả đống ngọc. Sau đó, lúc hai ông cháu bới tuyết để tìm thì không còn thấy gì cả. Tuy nhiên chỗ ngọc mà ông Kô-kô-va-nhi-a đựng trong mũ cũng thừa đủ cho hai người. Thế là mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ tiếc là mất con Mu-ren-ka. Sau đó, không ai thấy nó ở đâu hết và cả Móng Bạc cũng không xuất hiện nữa. Vui một lần, thế là đủ lắm rồi. Trên sườn đồi dốc, nơi con dê Móng Bạc đùa chạy tối hôm đó, thỉnh thoảng mọi người lại nhặt được những viên ngọc màu xanh ánh vàng. Ngọc ô-liu ấy mà. Bạn đã thấy chưa? |
10. Sợi Tóc Vàng
10. Sợi Tóc Vàng
Người dịch: Nguyễn Kiên Trung Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Vào những năm xa xưa, ở nơi đây hoàn toàn không có người Nga cư trú. Những người Ba-ski-a cũng không sống gần nhau. Họ thấy rằng đối với đàn súc vật cần phải có môt khoảng trống bao la, ở đó có những cánh đồng cỏ, những thảo nguyên. Ở đấy, thảo nguyên, rừng chạy dọc theo thung lũng sông Na-si và thung lũng lòng chảo sông U-rai-na. Bây giờ là rừng, có kẽ hở nhìn thấy trời, chứ lúc bấy giờ hầu như không thể đi bộ hoặc đi xe qua đươc. Chỉ những ai săn bắn thú mới đi vào rừng. Và người ta kể lại rằng, trong những người Ba-ski-a có một người thợ săn tên là Ai-lứp. Không ai dũng mãnh bằng anh. Bắn gấu với một mũi tên, nắm sừng nai quẳng qua người thế là xong. Còn sói thì khỏi nói, không một con nào thoát khi Ai-lứp đã nhìn thấy. Một lần, Ai-lứp cưỡi ngựa chạy qua khoảng trống và thấy một con cáo đang chạy. Đối với người thợ săn như anh thì con cáo là một mồi nhỏ. Nhưng anh nghĩ : “Nào, ta hãy vui đùa, quất roi chơi”. Ai-lứp xuống ngựa, nhưng không thể đuổi được cáo. Anh giơ cung lên bắn thì con cáo biến mất. “Thôi được, chạy mất thì cho chạy luôn – may cho nó”, - vừa nghĩ thế xong thì con cáo lại xuất hiện, nó chép chép miệng như cười : “Anh làm gì được tôi nào?”. Ai-lứp giơ cung lên bắn, con cáo lại biến mất. Anh vừa hạ cung tên xuống thì ngay trước mặt, con cáo lại chép chép miệng : “Anh làm gì được tôi nào?”. Ai-lứp hăng lên đuổi : “Liệu hồn đấy, con cáo vàng kia!”. Cánh đồng cỏ đã khuất, Ai-lứp bắt đầu đến khu rừng rậm. Ai-lứp dừng lại, xuống ngựa và chạy bổ đuổi cáo. Nhưng không ăn thua gì. Có lúc nó ở rất gần nhưng không thể bắn được. Bỏ cuộc thì Ai-lứp không muốn. Ôi! Một thợ săn như mình mà không thể bắn được một con cáo! Và cứ thế, Ai-lứp đi đến một nơi rất huyền bí. Không thấy con cáo đâu. Anh tìm mãi cũng không thấy. “Nào – anh nghĩ – ta sẽ tìm một chỗ quan sát trước đã”. Anh chọn một cành cây hơi cao và trèo lên. Anh đưa mắt nhìn, cách không xa là một con sông có núi bao bọc. Con sông không lớn đang rì rầm trò chuyện với đá và ở một chỗ bỗng sáng chói lên đến nỗi mắt không chịu đựng được. “Cái gì thế?” – anh nghĩ. Anh đưa mắt nhìn, sau lùm cây, trên một phiến đá trắng, một cô gái đẹp chưa từng thấy đang nâng bím tóc qua vai và thả đuôi tóc xuống nước. Bím tóc của cô gái bằng vàng và dài tới mười xa-gien (1). Dòng sông ở chỗ bím tóc chiếu sáng lên làm loá mắt. Ai-lứp ngắm nhìn cô gái đẹp. Cô bỗng ngẩng đầu lên và nói: - Chào Ai-lứp! Em được nghe nhũ mẫu cáo của em nói về anh đã lâu. Hình như anh là nhà đi săn vô địch? Anh có nhận em làm vợ không? - Vậy có phải nộp tiền dẫn cưới không? – Ai-lứp hỏi lại. - Tiền dẫn cưới? – Cô gái hỏi lại – Cha em là chủ kho vàng của cả vùng này. Ông ta sẽ không chịu gả em đâu. Chúng ta cần phải trốn thôi, nếu có đủ cam đảm và nghị lực. Ai-lứp sung sướng, tụt xuống khỏi cành cây và chạy đến chỗ cô gái, nói: - Nếu em muốn thế thì anh còn biết nói gì hơn nữa? Anh sẽ bế em trên tay và không cho ai cướp em đâu. Trong lúc đó, con cáo cũng đứng trên phiến đá kêu chép chép, dúi mũi xuống đất. Sau đó nó ngẩng đầu và nói một cách ranh mãnh: - Ôi! Ai-lứp! Anh nói trời nói biển gì thế? Anh cho mình là vô địch, thế mà không thể bắn được tôi! - Đúng rồi! – Ai-lứp trả lời – Đây là lần đầu tiên trong đời tôi để cho con mồi trốn thoát. - Cứ cho là như thế. Còn bây giờ công việc sẽ khó hơn nhiều đấy. Cô gái đẹp này tên là Tóc Vàng, con gái của Pô-lô-ốp. Tóc của cô ta là vàng đấy. Chính vì mái tóc ấy mà cô ta bị chôn chân ở đây, ngồi rũ tóc ra, thế mà vẫn không nhẹ được chút nào. Đó, anh thử nâng bím tóc của cô ta lên xem và liệu có thể mang cô ta đi được không? Ai-lứp là một con người tài giỏi, anh kéo bím tóc và quấn nó quanh người. Cuốn xong mấy vòng, anh nói với cô gái đẹp: - Nào, em Tóc Vàng yêu quý của anh, bây giờ chúng ta được quấn chặt bằng bím tóc của em. Không ai có thể chia cắt chúng ta được. Vừa nói, Ai-lứp vừa bế cô gái lên tay và bước đi. Nhũ mẫu cáo dúi chiếc kéo vào tay Ai-lứp: - Nếu khôn hồn, hãy cầm lấy cái này đi! - Cần gì cái đó? Tôi đã có dao rồi. Ai-lứp đã định không cầm, nhưng Tóc Vàng nói: - Hãy cầm lấy, nó sẽ có ích : nếu không cho anh thì cho em. Và thế là Ai-lứp đi vào rừng. Theo cành lá Ai-lứp biết là đi hướng nào. Lúc đầu anh bước đi xăm xăm, nhưng càng về sau, càng nặng nhọc. Người yêu nhận thấy anh mệt lả, nói: - Thôi, để em tự đi lấy, còn anh nâng bím tóc giúp em. Như vậy sẽ nhẹ hơn và chúng ta sẽ đi được xa hơn. Nếu không, cha em bắt được thì nguy. - Nguy thế nào? – Ai-lứp hói. - Cha em được trời phú cho sức mạnh ghê gớm – cô gái trả lời. – Nếu muốn, cha em sẽ kéo hết vàng về với mình. Vì muốn giữ mái tóc của em nên cha em sẽ không tha cho bất cứ ai chống lại mình. - Để rồi xem! – Ai-lứp trả lời. Còn người yêu Tóc Vàng của anh chỉ cười mát. Họ vừa nói chuyện vừa đi một cách nhẩn nha. Tóc Vàng vẫn luôn giục: - Chúng ta cố đi nhanh và xa hơn nữa. Có như thế thì cha em mới không thể bắt lại được. Họ đi, đi mãi cho đến khi mệt rã rời. - Ta hãy nghỉ một chút – Ai-lứp nói. Và vừa ngồi xuống cỏ, lập tức họ bị hút chặt xuống đất. Tóc Vàng chỉ kịp lấy chiếc kéo cắt mái tóc mà Ai-lứp quấn quanh mình. Chính vì thế Ai-lứp mới thoát chết. Cô gái đẹp cùng mái tóc đã chui xuống đất, còn lại một mình anh. Ai-lứp chỉ bị kéo chúi xuống một cái hố nhỏ, còn người yêu của anh bị biến mất, cứ như là hoàn toàn không có chuyện gì xảy ra. Ai-lứp nhảy lên khỏi cái hố nhỏ và nghĩ: “ Cái gì thế nhỉ? Họ cướp người yêu của mình khỏi tay mình. Ai đã làm việc đó? Thật là xấu hổ. Không thể thế được. Thà chết đi cho xong nếu không tìm được cô ấy. Nào, hãy đào đất ở chỗ mà cô ấy đã ngồi”. Một ngày đào, hai ngày đào, vẫn không tìm thấy gì. Sức mạnh thì Ai-lứp có thừa, nhưng dụng cụ thì chỉ có con dao và cái mũ. Thế thì làm sao được! “Cần phải đánh dấu và về nhà lấy xẻng”. – Ai-lứp nghĩ. Ai-lứp vửa nghĩ thế thì con cáo xuất hiện và gọi anh, cứ như là nó đã đứng ở đó từ lâu. Con cáo dúi mũi xuống đất rồi ranh mãnh ngẩng lên, nói: - A, anh khôn nhỉ! Anh tìm vàng hay tìm cái gì đấy? - Không, tôi muốn tìm người yêu của tôi – Ai-lứp trả lời. - Người yêu của anh à? Cô ta đang ngồi ở chỗ cũ đã lâu, đang ngâm bím tóc xuống dòng sông và khóc. Bím tóc của cô đã dài tới hai mươi xa-gien. Bây giờ thì chắc gì anh đã đủ sức nâng nổi bím tóc. - Thế thì phải làm thế nào hả nhũ mẫu? – Ai-lứp hỏi cáo. - Nếu ngay từ đầu anh hỏi tôi thì đâu đến nỗi! Nhưng thôi, bây giờ thế này: Hãy về nhà và sống bình thường như lâu nay đã sống. Nếu trong ba năm anh không quên người yêu Tóc Vàng của anh thì tôi sẽ lại đến với anh. Bây giờ một mình anh chạy đi tìm khắp nơi cũng không sao thấy lại cô gái nữa đâu. Ai-lứp không quen chờ đợi. Anh muốn tìm gặp người yêu ngay, nhưng biết làm sao được! Anh đành buồn rầu đi về nhà. Ôi, ba năm mới dài làm sao! Mùa xuân đã đến, không thấy vui vẻ gì. Hãy mau lên để ta được gặp người yêu. Mọi người xung quanh bắt đầu chú ý: Chuyện gì đã xảy ra với Ai-lứp của họ? Anh ta cứ như người mất hồn. Những người thân thì hỏi thẳng: - Anh có khoẻ không đấy? Ai-lứp túm được năm người giữ chặt trong một tay, nhấc lên cao, quay một vòng và nói: - Nếu còn hỏi sức khoẻ của tôi nữa thì tôi sẽ ném tất cả các người lên ngọn núi kia! Hình ảnh người yêu lại hiện lên trong đầu Ai-lứp như là cô ta đang ngồi trước mặt anh. Anh lại muốn ra đi. Chỉ cần nhìn cô từ xa cũng được. Nhưng nhớ đến lời căn dặn của nhũ mẫu cáo, Ai-lứp lại đành chờ đợi. Chỉ mới qua năm thứ ba, một hôm Ai-lứp nhìn thấy một cô gái trẻ, nhí nhảnh như con chim vành khuyên. Cô gái này đã cắt đứt dòng suy nghĩ về người yêu của Ai-lứp. Anh nghĩ : “những người trạc tuổi mình đều đã có gia đình, còn mình thì vừa mới tìm được người yêu thì đã lại để tuột mất khỏi tay. May mà không ai biết chuyện này, nếu không, họ đến cười cho bể mặt. Chẳng lẽ mình không thể cưới cô gái nhí nhảnh này được sao. Chắc gì tìm lại được người yêu của mình? Còn ở đây chỉ cần có tiền dẫn cưới là lấy được vợ. Bố mẹ cô ta sẽ rất vui lòng gả cô ta cho mình. Cô ta trông cũng được và chắc sẽ không từ chối đâu”. Nghĩ như vậy, nhưng liền ngay đó Ai-lứp lại thấy nhớ người yêu Tóc Vàng của mình, nhưng cũng không còn da diết như trước. Anh cũng không thấy tiếc cô ta lắm, chỉ thấy bực mình vì đã để mất cô ta một cách quá dễ dàng. Năm thứ ba vừa bết, Ai-lứp nhìn thấy con cáo nọ, anh không giơ cung bắn vào nó, mà đi theo cáo. Cáo dẫn đâu anh đi đến đấy. Anh chỉ bắt đầu chú ý đường và đánh dấu bằng cành cây, cào lên đá và làm những dấu hiện khác. Họ đi tới đúng con sông lần trước. Cô gái đẹp vẫn ngồi đó, còn bím tóc của cô thì đã dài gấp đôi. Ai-lứp tiến đến và quỳ xuống: - Chào người vợ chưa cưới Tóc Vàng yêu dấu của anh! - Chào anh Ai-lứp! đừng băn khoăn vì tóc em dài hơn. Nhưng gần đây em bỗng cảm thấy hình như có chuyện gì đó khác lạ. Anh không quên em chứ? Hay là có ai đó đã làm anh phải nghĩ ngợi? Hỏi như vậy rồi cô gái mỉm cười một cách khó hiểu, làm như cô đã biết hết mọi chuyện. Lúc đầu Ai-lứp xấu hổ, nhưng rồi sau anh quyết định nói hết sự thật rằng đã ngắm nhìn cô gái nhí nhảnh kia, đã nghĩ đến chuyện cưới cô ta về làm vợ. Đến đây, Tóc Vàng nói: - Thế là tốt, anh đã thành thật nói hết. Em tin anh. Chúng ta hãy đi nhanh lên. Có thể lần này chúng mình chạy được đến một nơi nào đó mà cha em không thể bắt được. Ai-lứp kéo bím tóc từ dưới sông lên, cuốn quanh mình, cầm lấy kéo của nhũ mẫu đưa và họ đi về nhà. Họ đi theo con đường mà Ai-lứp đã đánh dấu. Khi trời đã tối đen, Ai-lứp nói: - Chúng ta hãy trèo lên cây, có thể cha em không bắt được chúng ta từ trên cây đâu. - Đúng đấy! – Tóc Vàng trả lời. Nhưng làm sao cả hai trèo lên cây, khi mà bím tóc đã buộc họ lại với nhau. Tóc Vàng nói: - Cần phải cắt bớt tóc đi. Chỉ giữ đến gót chân là đủ rồi. Nhưng Ai-lứp tiếc: - Không, phải giữ lấy trọn vẹn. Ôi, tóc em mềm mại làm sao! Anh chỉ muốn đưa tay vuốt thôi. Ai-lứp tháo bím tóc quấn quanh người. Tóc Vàng trèo lên trước nhưng không quen nên không thể nào trèo được. Ai-lứp đẩy cô lên, giúp cô nắm những cành cây trèo lên. Ai-lứp vui vẻ trèo theo và kéo theo bím tóc khỏi mặt đất. - Chúng ta sẽ chờ đến sáng – Ai-lứp nói, và anh quấn tóc của người yêu vào cành cây - Phải buộc chặt tóc vào cành cây, nếu không khi ngủ sẽ bị té. Ai-lứp buộc thật chặt và nói: - Bậy giờ hãy ngủ một giấc, anh canh cho. Khi nào sáng anh sẽ đánh thức. Tóc Vàng tin tưởng vào người yêu, nhanh chóng thiếp đi. Chính Ai-lứp cũng thiu thiu. Cơn buồn ngủ ập đến không thể cưỡng lại được. Đầu Ai-lứp gục xuống. Trên cành cây có một con cú. Nó kêu lên lo ngại : "Phu-bu, phu-bu! Hãy cẩn thận!”. Ai-lứp vẫn ngủ và nằm mơ thấy mình trở về lều của mình và từ trong lều đó người vợ Tóc Vàng của anh bước ra đón. Cô dễ thương hơn, bím tóc của cô như con rắn vàng uốn lượn trên thảm cỏ. Đến đúng nửa đêm, bỗng nhiên những cành cây rung lên và bốc cháy, Ai-lứp bị bỏng, rơi xuống đất. Anh vừa nhìn thấy từ dưới đất một vòng lửa to sáng rực lên và người yêu Tóc Vàng của anh trở thành một đám mây từ những mảnh vàng nhỏ vụn rồi phụt tắt. Ai-lứp chạy đến nhưng không thấy gì. Trời tối như bưng. Anh quờ tay xuống, chỉ thấy đá và lá rừng. Ở một chỗ anh quờ thấy đuôi tóc dài tới hai mươi xa-gien của người yêu. Ai-lứp hơi vui : “Cô ấy để dấu lại đây, chắc chắn là cha cô ấy không thể lấy được tóc của con gái”. Ai-lứp vừa nghĩ vậy, thì đã thấy dưới chân, con cáo chép chép miệng. Nó dúi mũi xuống đất rồi ngẩng lên, ranh mãnh nói: - Ôi! Ai-lứp khôn nhỉ! Anh cần gì: bím tóc vàng hay người yêu? - Cháu cần người yêu của cháu với bím tóc hai mươi xa-gien chĩu nặng của nàng. - Muộn rồi, bím tóc bây giờ dài tới ba muơi xa-gien. – Con cáo nói. - Mái tóc chỉ là thứ yếu. Cháu muốn lấy được người yêu mến của cháu. - Thà nói thế còn hơn! Nào, bây giờ tôi nói lần cuối cùng: hãy đi về nhà và chờ đợi thêm ba năm nữa. Tôi sẽ không đến mà anh phải tự tìm đường mà đi. Đừng đi sớm quá, cũng đừng đi muộn quá. Chớ có quên cúi chào bác Cú. Nói rồi cáo biến mất. Trời sáng Ai-lứp đi về nhà và suy nghĩ : “Sao nhũ mẫu Cáo lại nói đến con cú? Thiếu gì cú ở trong rừng! Tại sao phải cúi chào nó?”. Nghĩ mãi và Ai-lứp sực nhớ : khi anh ngồi trên cây, có một con cú bay trước mặt và kêu : “Phu-bu, phu-bu! Hãy cẩn thận!”. Đúng là cáo nói về con cú đó rồi. – Ai-lứp nghĩ và quay trở lại chỗ đó, ngồi đến chiều và kêu: - Bác Cú ơi! Hãy dạy cháu trí khôn! Hãy chỉ đường cho cháu. Ai-lứp kêu mãi, không ai đáp lại. Anh vẫn kiên trì chờ thêm một ngày. Ai-lứp lại kêu, cả lần này nữa không ai đáp lại. Anh chờ đến ngày thứ ba. Chỉ đến chiều, Ai-lứp mới gọi: - Bác Cú ơi! Từ trên cây có tiếng vọng xuống: - Phu-bu! Tôi đây. Ai cần đến tôi đấy? Ai-lứp kể hết sự không may của mình và nhờ bác Cú giúp cho. Bác Cú nói: - Phu-bu! Khó lắm con trai à, khó lắm! Ai-lứp trả lời: - Khó mấy cũng không đáng sợ, cháu chỉ cần tìm được người yêu của cháu thôi. Dù có thiệt thân cháu cũng chả tiếc. - Thế thì nghe đây! – Bác Cú thương trình nói: - Thằng cha Pô-lô-ốp ở vùng này có quyền lực lắm, hắn là chủ tất cả vàng ở đây, muốn lấy của ai cũng được. Mỗi khi ở thấy đâu có vàng là hắn chiếm lấy thành lãnh địa của mình. Đất của hắn phi ngựa ba ngày cũng chẳng hết. Nhưng ở vùng này còn một chỗ mà hắn chịu bó tay chưa cai quản được. Nếu khôn khéo có thể lấy vàng ở đó được. Nhưng chẳng phải dễ đâu. Đã định tới thì phải ttheo đến cùng, nếu bỏ dở thì chết. Ai-lứp nói ngay: - Bác làm ơn chỉ cho cháu chỗ đó. Bác Cú trả lời: - Chỉ thì không chỉ được và bác cháu ta có những cái khác nhau: Ban ngày bác không nhìn thấy đường, còn ban đêm bác đi đâu thì cháu lại chịu. Thôi được, bác sẽ chỉ cho cháu mấy cái mốc. Cứ đi và chú ý tới các hồ nước, khi thấy hồ nào có thảng đá lớn như núi ở giữa, một bên có mấy cây thông còn ba bên phẳng như tường xây thì đó chính là chỗ cần tìm. Nếu ai mang vàng đến được tảng đá đó thì người ấy sẽ mở được đường xuống dưới hồ và Pô-lô-ốp sẽ không bắt được nữa. Ai-lứp ghi nhớ hết và đầu và nghĩ chắc đó là hồ I-xức-xun. Anh mừng quá la lên: - Thế thì cháu biết chỗ đó rồi! Bác Cú vẫn dặn đi dặn lại: - Nhưng cháu cần xem kỹ để khỏi nhầm. - Được rồi, cháu sẽ đi xem. Cuối cùng bác Cú còn nói thêm: - Phu-bu! Đừng quên là đã trốn được Pô-lô-ốp thì không trở lại được nữa đâu. Ai-lứp cám ơn bác Cú và đi về nhà. Sau đó anh tìm được ngay cái hồ có tảng đá ở giữa và nhận thấy đi một ngày sẽ không thể kịp, dứt khoát phải mở đường cho ngựa. Và thế là Ai-lứp bắt đầu mở đường. Chẳng nhẹ nhàng một tí nào. Rừng thì rậm mà lại phải phá hơn một trăm dặm. Mỗi khi kiệt sức, Ai-lứp lại lấy đuôi tóc ngắm nghía vuốt ve và như lấy lại được sức. Rồi lại bắt đầu công viêc. Cứ như thế ba năm trôi qua và cuối cùng anh đã chuẩn bị xong tất cả. Ai-lứp vừa kịp đến đón người yêu. Anh kéo bím tóc từ dưới sông lên, cuốn vào mình và hai người cùng chạy vào rừng. Chạy đến đoạn đường Ai-lứp đã phát quang thì đã có sáu con ngựa đợi sẵn. Ai-lứp cưỡi lên một con, đặt người yêu lên một con, còn bốn con kia thì kéo theo. Khi cặp ngựa này mệt, họ đổi cặp ngựa khác và cứ thế tiếp tục chạy. Nhũ mẫu cáo thì chạy đằng trước. Chắc không ai có thể đuổi được họ. Đến chiều thì họ kịp đến hồ. Ai-lứp nhảy ngay lên thuyền và đưa người yêu cùng nhũ mẫu cáo ra tảng đá giữa hồ. Vừa đến nơi, tảng đá lập tức tách ra cho họ đi vào đó, khi mặt trời vừa lặn. Ngay lúc đó, ôi, cái gì đã xảy ra? Khi mặt trời vừa lặn thì Pô-lô-ốp bao vây hồ bằng ba vòng lửa. Khắp mặt nước, những tia lửa vàng rực lên, nhưng dù vậy, hắn cũng không lấy lại được con gái. Bác Cú đã cản hắn. Bác ngồi trên tảng đá và cứ hú từng hồi : “Phu-bu! Phu-bu! Phu-bu!”. Bác kêu lên ba lần như vậy thì lửa tắt. Khi Pô-lô-ốp đốt lên thì bác lại kêu tiếp. Pô-lô-ốp làm nhiều đêm như vậy, nhưng không đạt được gì. Hắn đã kiệt sức. Từ ngày đó, trên hồ xuất hiện vàng. Vàng ở đâu ra. Người ta nói rằng vàng chảy từ tóc của con gái Pô-lô-ốp. Vàng nhiều lắm. Sau đó tôi còn nhớ xung quanh chuyện này người Ba-ski-a và người ở nhà máy cãi nhau, không biết bao nhiêu lần. Còn Ai-lứp và người vợ Tóc Vàng của mình thì ở lại dưới hồ. Họ có đồng cỏ, bầy ngựa. Tóm lại là họ sống tự do và hạnh phúc. Người ta nói rằng đã có lần người ta thấy cô gái Tóc Vàng ngồi trên tảng đá. Hình như vào lúc hoàng hôn cô ta lên và ngồi đó, còn bím tóc như con rắn cuốn xung quanh mới đẹp làm sao. Còn tôi thì chưa thấy cảnh tượng đó bao giờ. Chưa trông thấy nên tôi không muốn… ----------------- (1) Một xa-gien bằng 2,134m. Đến đây là trang cuối cùng của tập truyện. Xin chân thành cám ơn bạn Lam Anh (tức Tiêu Tương) và A Thanh ở diễn đàn Vietkiem đã đánh máy, cám ơn bạn Lam Anh đã chia sẻ file, và đã đồng ý cho phép mình sử dụng bản đánh máy đó. Xin cám ơn những bạn đã đọc chủ đề này. Xin chào tạm biệt chiếc tráp bằng đá khổng tước. Nhân tiện mình cũng quảng cáo là Nga có làm phim hoạt hình cùng tên! Nếu bạn nào có quan tâm, hãy tìm xem, và hay là chúng ta làm phụ đề cho nó các bạn nhỉ? Vì phần tiếng Việt đã có sẵn rồi, chỉ cần biên tập thôi? |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:43. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.