![]() |
Viết về Thăng Long-Hà Nội - Nguyễn Hữu Hùng
Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tác giả Nguyễn Hữu Hùng viết truyện "Truyện cá quả", trong đó nhắc đến các địa danh rất thân thuộc với người Hà Nội. Nơi ông câu cá ngày xưa, bây giờ đã là nhà, là phố...
Được sự đồng ý của tác giả, Siren xin gửi đến các bạn cùng đọc. "TRUYỆN CÁ QUẢ* TỔ RỒNG RỒNG Mới chưa đầy mười năm, cái nơi ấy đã đổi thay quá nhiều đến mức, chính bản thân tôi cũng không nhận ra nữa; chứ không kể những người lâu lâu mới đến. Ao hồ, sông ngòi nay đã thành đường phố; cửa hàng cửa hiệu, nhà cao tầng; biệt thự đủ kiểu: kim cổ, Đông, Tây; chen chúc nhau: cái nhô ra, cái thụt vào; tùy theo ý thích của ông chủ, bà chủ. Không những thế, trên không; người ta còn làm thêm ban công, những mái vòm kiểu nhà thờ Hồi giáo, nhô ra choán cả mặt đường, tưởng chừng ánh sáng Mặt Trời cũng khó lọt qua. Ngõ to thành ngõ nhỏ, ngách nhỏ thành ngách nhỏ hơn; vòng vèo, quanh co với những số nhà được đánh tùy theo sở thích: số nhà 10, tiếp đến số nhà 120. Đã có 10A, 10B rồi có cả 10C, 10D nữa. Những công trình kiến trúc nghệ thuật, tuổi đời hàng trăm năm cũng phải đành nhường lại không gian cho những căn nhà ống, khung bê tông, lợp mái tôn. Nếu có ai đến thăm người quen lần đầu, phải hỏi đường, chắc chắn sẽ nhận được những câu hướng dẫn đại loại như: - Ông bà, bác, cô chú, anh chị, cháu; cứ đi thẳng, đến ngã ba thứ nhất rẽ phải; đi thẳng khoảng hai mươi mét đến ngã ba thứ hai, rẽ trái; đi tiếp năm mươi mét, đến chỗ có cây cột điện, rẽ phải; đi tiếp khoảng một trăm mét, rẽ trái v.v. và v.v.. Đúng như tích hỏi đường trong truyện “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao thủa nào. Nhà tôi ở nơi ấy. Nó quanh co hoắm hó đến mức khó tả. Nhưng ít ai biết, cách đây chưa đầy một thập niên, nơi ấy chỉ là một vùng ao hồ rộng mênh mông. Khi chuyển công tác về Hà Nội, bố mẹ tôi được phân một nửa gian nhà, ngăn với gia đình bên bằng cót; trong dãy nhà cấp 4 năm gian, lợp ngói Hương Canh của khu tập thể. Một nửa gian nhà chưa đầy chín mét vuông, nhưng chẳng biết bố mẹ tôi sắp xếp như thế nào, cũng đủ chỗ kê hai cái giường: một giường đôi, một giường đơn; một cái tủ con đựng quần áo, một cái bàn con, một thùng tôn đựng hết 50-60 kg gạo và một thùng sắt mạ kẽm, đựng hết 30-40 kg mì sợi. Trên trần nhà, bố tôi làm một dãy xích đông, để đủ thứ bà giằng: va ly, sách vở, chăn chiếu. Khoảng không gian chật hẹp ở dưới gầm giường cũng được tận dụng một cách triệt để: từ giầy dép, thùng gánh nước, chậu tắm, chậu rửa mặt đến nồi niêu, xoong chảo, bát đĩa, chai lọ và cả bộ đồ sửa xe đạp nữa; đều được nhét chặt dưới cả hai gầm giường. Cả nhà chỉ có một chiếc xe đạp nam, bố mang về từ hồi học bên Ba Lan. Để mẹ đèo được cả hai anh em, khi chúng tôi đang còn đi nhà trẻ và mẫu giáo; bố lấy một tấm gỗ dài, buộc phía sau xe đạp làm ghế đèo đôi. Sau khi đón chúng tôi từ nhà trẻ về, chiếc xe đạp được móc vào đây ròng rọc, kéo treo lơ lửng lên phía góc nhà. Bố làm thêm một cái bếp bán mái, lợp bằng giấy dầu, xung quanh bao bằng cót, rộng chừng bẩy, tám mét vuông; vừa đủ để làm chỗ tắm, chỗ nuôi bẩy tám con gà; chỗ để phi nước. Trên chuồng gà là bệ bếp đầu và bếp than; phần ngoài chừng hai mét vuông, giành cho hai anh em tôi nghỉ tạm vào buổi trưa. Có một lần, bố tôi lĩnh một lúc trên chục triệu đồng cùng với giấy tờ của cả nhóm, để trong xắc cốt, chuẩn bị cho hôm sau đi công tác xa. Không biết có phải kẻ cắp tăm được? hay một sự trùng lặp ngẫu nhiên; nhân lúc bố mẹ tôi đi làm, anh em tôi đi học; chúng cưa khoá cửa chính. Đang cưa, bị các chú công nhân trong nhà máy phát hiện ra; chúng liền bỏ chạy. Từ đấy, bố tôi thiết kế thêm: trước khi vào nhà trong phải qua cửa nhà bếp. Chìa khoá cửa nhà bếp được chúng tôi đeo lủng lẳng ở cổ. Đi học về, mở khóa vào bếp, anh em tôi có cơm nguội và thức ăn mẹ chuẩn bị sẵn cho bữa trưa. Cửa nhà tôi thông ra phía cổng của nhà máy phát điện điêzen. Nhà máy sơ tán về đây từ năm 1965, gồm bốn tổ máy phát. Những chiếc máy cái to lù lù như những chiếc xe tải hạng nặng, đặt thành hàng ngang trên bệ bê tông cốt thép dầy hàng mét. Mỗi khi khởi động, tiếng máy gầm lên, thở ra hồng hộc từng hồi; kèm theo những đám khói đen, phun ra mù mịt cả vùng trời. --------- *Cá quả: còn gọi là cá chuối, cá tràu (tiếng miền Trung), cá lóc (tiếng miền Nam). |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng
Ngày nào cũng ình ình tiếng máy, inh tai, nhức óc. Ngồi chuyện trò, phải nói thật to như những người nặng tai. Tiếng kêu của máy làm chấn động đến cả những vật vô tri vô giác: mặt nước trong chiếc cốc thủy tinh để trên bàn, lúc nào cũng sóng sánh như có gió bão. Thế mà bọn trẻ con chúng tôi chẳng cảm thấy gì hết.
Hàng tuần, từng đoàn xe téc chạy vào, chạy ra tiếp dầu cho nhà máy. Không kể ngày đêm, chủ nhật hoặc lễ tết; các cô, các chú công nhân ra vào thay ca, chuyện trò rôm rả, tôi lại thấy vui vui. Cạnh nhà tôi có ba cái ao, chúng được thông ra một cái hồ lớn. Hàng ngày tôi cùng bọn trẻ con trong khu tập thể ra những cái ao này câu cua, câu cá săn sắt (sin sít). Những con săn sắt đực, rực rỡ sắc màu: các vân đen, đỏ, vàng xen kẽ. Bộ vây đuôi dài với các sọc: đỏ tía, đen nhánh, vàng chóe. Sự sặc sỡ của nó chẳng kém gì những con cá cảnh đắt tiền. Bọn trẻ con chúng tôi thường câu về thả vào lọ thủy tinh để chơi, chơi chán rồi quẳng cho gà ăn. Câu săn sắt chẳng có gì khó cả; chỉ loáng một cái, chúng tôi đã làm xong một chiếc cần câu. Nói là cần câu chứ thực ra chỉ là một đoạn tre, dài khoảng hơn một mét; chẻ thành những thanh nhỏ, to bằng ngón tay út. Đứa nào cầu kỳ hơn thì vót thon một đầu cho có dáng một chiếc cần câu. Tách một sợi đây thép từ dây phanh xe đạp, uốn thành một lưỡi câu nhỏ. Hoặc cũng chẳng cần đến lưỡi câu, dùng một sợi chỉ, buộc ngang thân con giun đất. Săn sắt là loài cá háu ăn, chẳng biết sợ là gì, khi thấy mồi là tranh nhau, lao vào ngoặn chặt lôi đi. Chỉ cần nhanh tay, giật hướng lên phía bờ. Cá ngậm mồi chưa kịp nhả, theo mồi, bắn lên bờ. Chuyện câu cá săn sắt của bọn trẻ con chúng tôi hồi đó chẳng có gì để nói cả; bởi một lẽ, bất cứ đứa trẻ nào nhà ở quanh hồ, cũng biết trò câu cá săn sắt. Nhưng ở đây, tôi muốn nói: chính từ cái ao câu cá săn sắt này mà về sau, tôi trở thành người câu cá quả có kinh nghiệm, được nhiều người thán phục, hoặc cho tôi là người “sát cá”. Buổi chiều hôm ấy, tôi ra cái ao sau nhà câu săn sắt. Tình cờ tôi phát hiện ra một đám đen, to bằng cái miệng bát ôtô, động đậy dưới nước ở sát bờ ao. Nhìn kỹ, tôi chợt nhận ra: có hàng ngàn, hàng vạn con ấu trùng, nhỏ li ti bằng đầu tăm, bơi quyện với nhau. Để thỏa chí tò mò, tôi thò ngón tay trỏ, chọc vào giữa đám đen động đậy ấy. Bỗng nhiên, một tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe lên cả mặt, đầu ngón tay tôi đau nhói. Tôi vội rút ngón tay lên, máu ở đầu ngón tay trỏ chảy ra đầm đìa. Tôi hốt hoảng, vất cả cần câu, ôm tay vừa chạy, vừa khóc về nhà. Nghe thấy tiếng khóc, từ trong nhà, mẹ tôi mở cửa chạy ra. Mẹ tôi hỏi: - Con làm sao thế? Tôi nước mắt giàn giụa, vừa khóc, vừa nói: - Chẳng biết con gì nó cắn vào tay con đây này! Mẹ đỡ tôi vào nhà, lấy bông lau sạch máu, xem kỹ vết thương, mẹ tôi hốt hoảng kêu lên: - Chết rồi, con bị rắn cắn rồi! Nghe tiếng kêu hốt hoảng của mẹ tôi; chú Biên, công nhân trực ca bên nhà máy chạy vào: - Cháu làm sao thế chị? - Cháu bị rắn cắn chú ạ! Chú Biên cầm ngón tay bị thương của tôi vẫn còn đang rỉ máu, xem đi xem lại, rồi chú hỏi: - Cháu bị rắn cắn như thế nào? Tôi thuật lại chuyện vừa xảy ra. Chú Biên tỏ ra nghi ngờ, bảo tôi dẫn ra chỗ có đám đen động đậy dưới nước ấy. Đảo mắt nhì qua, chú cười ồ, vỗ vai tôi: - Không việc gì cháu ạ. Đấy là tổ rồng rồng! Đoán tôi chẳng hiểu thế nào là tổ rồng rồng, nên chú tiếp tục giải thích: Là con của con cá quả; nó mới nở, chưa biết đi (mãi về sau tôi mới hiểu, chú Biên thường gọi ấu trùng của con cá quả chưa bơi được theo mẹ nó là chưa biết đi). Chú đưa tôi về nhà rồi bảo mẹ tôi: - Không phải rắn cắn đâu chị ạ. Cháu nó chọc tay vào tổ cá quả, cá quả bố mẹ thấy trêu con nó, nên cắn đấy. Mẹ tôi cũng chẳng hiểu gì cả, sao cá quả lại có thể cắn vào tay được, nên chú Biên tiếp tục giải thích: - Khi cá quả đẻ trứng và nuôi con, nó dữ lắm chị ạ. Nó sẵn sàng đánh nhau, thậm chí hy sinh cả thân mình để bảo vệ đàn con trước sự tấn công của kẻ thù. Cho nên tục ngữ có câu: “Cá chuối đắm đuối vì con” là như vậy. Chú xoa đầu tôi rồi bảo: - Con cá quả này liều mạng thật, dám tấn công cả cháu tôi. Ngày mai, chú sẽ cho vợ chồng con quả này một bài học đích đáng. Chú quay sang nói với mẹ tôi: - Chị yên tâm đi, lấy nước muối hoặc cồn i ốt rửa sạch vết thương để khỏi bị nhiễm trùng, rồi băng lại cho cháu là được. Ngày hôm sau, chú Biên mang đến một chiếc cần câu bằng tre hóp dài đến ba bốn mét. Trông đã cũ kỹ, ngả màu vàng thẫm, nhưng đích thực là một chiếc cần câu: gốc to bằng ngón chân cái, phần đầu cong vút một cách mềm mại. Một cái bát câu cuốn đầy cước. Một cái lưỡi câu to mà tôi chưa thấy bao giờ. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng
Hết giờ trực ca, chú Biên rủ tôi ra chỗ tổ cá hôm qua. Chú đứng cách xa đến mười mét, móc từ trong túi quần ra một gói nylon; trong nhốt bốn năm con nhái xanh, cỡ đầu ngón tay người lớn. Bắt một con, chú bẻ gẫy hai cẳng sau, lấy xương đùi, xương ống ra rồi mới móc vào lưỡi câu. Tôi chú ý quan sát: Chú móc lưỡi câu từ miệng, rồi xuyên dọc thân con nhái ra phía sau; móc chéo hai đùi sau vào lưỡi câu, chỉ để nhô ra hai cẳng và bàn chân; quàng hai vòng cước vào lưng con nhái, xâu ngang qua mũi, sau đó mới buộc đoạn cước còn thừa lên phía óc câu. Chú tìm một cánh lá rau muống, bỏ phần lá, giữ lại phần cọng, bịt đầu to vào lưỡi câu, đầu nhỏ cắm vào cái lỗ ở cục chì, gắn trên óc lưỡi câu.
Sau một loạt những động tác mắc mồi hết sức cẩn thận, chú mới nhấc cần câu lên. Chiếc cần câu vừa dài, vừa to, chú phải tỳ đốc câu vào bụng. Tay phải nắm cần câu, tay trái giữ bát cước, tung con mồi về phía tổ rồng rồng. Tiếng cước xả kêu xoèn xoẹt, xoèn xoẹt. Chú Biên làm những động tác câu trông thật uyển chuyển, nhịp nhàng và chính xác: không chỉ bằng cánh tay, bàn tay mà kết hợp cả cơ bụng, cổ tay, cả cái mềm mại của đoạn đầu cần câu nữa. Không buông mồi câu vào đúng tổ rồng rồng, chú tung mồi cách xa tổ bốn năm mét. Rồi bằng một động tác kéo mồi rất khéo, mà mãi nhiều năm sau, tôi mới học được. Đó là làm con mồi lướt trên mặt nước giống như con nhái đang bơi sát tổ rồng rồng. Mới chỉ một đường câu, tôi đã thấy mặt nước gần tổ rồng rồng cuộn sóng. Cuộn dây câu, chú Biên buông lần thứ hai. Tôi nghe thấy tiếng “bụp” rõ to vang lên từ phía tổ rồng rồng. Đấy là tiếng ăn mồi của loài cá quả tôi nghe được lần đầu tiên trong đời. Cái âm thanh này làm tôi nhớ mãi, và sau này khi làm nghề câu cá quả, tôi cũng chụm môi, bắt chiếc tiếng đớp mồi của cá quả để kích động chúng ăn mồi. Dừng tay cuộn cước, còn tay kia giữ chắc cần câu, sợi dây câu căng ra trong khoảnh khắc. Chú Biên giật nhẹ cần câu về phía sau. Vùng nước gần tổ rồng rồng nổi sóng cuồn cuộn, dây câu căng thẳng băng, đầu cần câu uốn cong vút; sợi dây câu chạy ngang, chạy xiên ra phía xa bờ. Tôi hồi hộp, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, miệng lắp bắp: - Cá cắn câu rồi! Cá cắn câu rồi! Giật đi chú! Chú Biên không vội vã giật ngay như tôi tưởng. Chú bình tĩnh cuộn dây câu vào bát một cách chậm rãi như còn đang toan tính một điều gì nữa. Sợi dây câu cứ thẳng băng, mỗi lúc một gần bờ hơn. Có lẽ lúc này con quả bị đau do lưỡi câu móc sâu vào miệng, nên không quẫy khỏe như lúc vừa dính câu. Nó ngoan ngoãn để mặc cho sự điều khiển của chú Biên. Khi vào vừa sát bờ, chú khẽ nhấc con quả lên bãi cỏ. Chiếc cần câu uốn cong veo, tưởng chừng như sắp gẫy. Con quả to quá, đen chùi chũi với các hoa văn vằn vện: sọc đen, trắng, vàng óng ánh của lớp vẩy; nhoài đi nhoài lại trên mặt cỏ, trông thật thích mắt. Tôi không ngớt trầm trồ: - Con quả sao mà to thế hở chú! Chú Biên vẫn tỏ ra bình thản. Có lẽ đối với chú, việc câu được con quả to như thế là chuyện bình thường. Chú đặt cần câu xuống bãi cỏ, tay trái nắm đầu con quả, tay phải gỡ lưỡi câu. Chú bảo: - Con quả này là con quả bố, còn con quả mẹ nữa. Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, chú Biên giải thích: - Bao giờ tổ cá quả cũng có hai con, cá bố và cá mẹ. Con này là cá bố vì đầu to hơn mình. Chú Biên bỏ con quả vào cái hốc đất gần đấy; chùi hai tay vào bụi cỏ cho sạch nhớt, rồi cầm cần câu lên. Tôi hỏi chú : - Câu tiếp nữa à chú? - Tiếp chứ, còn con mẹ nữa mà! Tháo bỏ mồi cũ, chú mắc mồi mới vào lưỡi câu, với những động tác chuẩn xác, cẩn thận như tôi đã thấy lúc ban đầu. Đám đen rồng rồng vẫn còn cụm gọn một chỗ. Bằng những động tác thong thả, không chút vội vã, chú lắc mạnh cần câu về phía tổ rồng rồng. Một đường, hai đường, ba đường, rồi nhiều đường câu; nhưng không thấy động tĩnh gì. Tôi cảm thấy sốt ruột và có chút hoài nghi về lời dự đoán của chú: - Có lẽ chỉ có con bố thôi chú ạ! Tôi tỏ thái độ nghi ngờ? Không trả lời tôi, chú vẫn kiên trì tung mồi. Nhưng có khác lần trước, thỉnh thoảng chú kéo lướt con mồi qua giữa tổ rồng rồng. Phải tới nửa tiếng sau, đám nước chỗ gần tổ rồng rồng lại cuộn sóng. Với một giọng đầy vẻ thán phục, tôi nhắc khẽ: - Nó ra đấy chú ạ! Một tiếng “bụp” vang lên từ phía tổ rồng rồng. Cả một vùng nước cuộn sóng. Với động tác giống như giật con quả bố, con quả mẹ cũng bị tóm gọn. Tuy nhiên, chú Biên tỏ vẻ đăm chiêu. Chú bảo: - Bắt cả cá bố mẹ thì đàn con sẽ bị cá săn sắt ăn hết! Quả nhiên, tôi thấy đàn cá săn sắt nhâu nhâu, lao vào xâu xé tổ rồng rồng. Không còn cá bố mẹ bảo vệ, chỉ một loáng, chừng hai ba phút; cả đám đen tổ rồng rồng đã biến khỏi mặt nước. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng
Đúng như chú Biên nhận định, con quả mẹ có cái đầu nhỏ hơn mình. Chú gỡ cá ra khỏi lưỡi câu, quẳng con quả vào cái hố cùng với con cá bố. Bằng những động tác rất thành thục, chú cuộn dây cước vào bát, tháo ròng rọc ra khỏi đầu cần câu, ngoặc lưỡi câu vào một đầu ròng rọc trông thật gọn gàng. Chú đảo mắt nhìn quanh, đi đến chân tháp nước của nhà máy. Một loáng, chú mang về ba bốn sợi dây cỏ lồng vực đã hơi bị héo, dài đến nửa mét. Dùng dây cỏ lồng vực, chú buộc vào chỗ thắt của đuôi cá. Chú bảo:
- Xâu qua mang, cá mau chết; buộc thế này, cá sống được lâu hơn. Chú đưa cho tôi con cá câu lên trước, có nhỉnh hơn con cá mẹ một chút. Tôi ngỡ là chú nhờ cầm hộ, nhưng không phải. Chú nhoẻn miệng cười bảo: - Phần của cháu đấy! Tôi chẳng hiểu ra sao cả. Từ ngỡ ngàng đến ngạc nhiên: - Sao lại là phần của cháu? Cháu không lấy đâu, về mẹ cháu mắng chết! - Sao mẹ cháu lại mắng? Đây là công lao của cháu đã phát hiện ra tổ cá. Cầm lấy đi! Lần sau phát hiện ra tổ nào nữa, báo ngay cho chú nhá. Chúng ta vẫn chia đôi. Tôi sung sướng còn hơn bắt được vàng. Tay xách cá, chẳng kịp chào chú Biên, chạy một mạch về nhà. Mẹ tôi đi làm đã về; cũng ngạc nhiên chẳng kém gì tôi. Cẩn thận, mẹ hỏi: - Con lấy cá ở đâu ra đấy? Chú Biên chia phần cho con. Tôi giải thích cho mẹ rõ lý do, tại sao chú Biên lại cho tôi con quả này. - Thôi cũng được con ạ, nhưng lần sau không được lấy của chú ấy nữa, câu được con cá đâu có dễ. Mẹ lấy cái cân thường mang theo mỗi khi đi chợ. Mẹ giải thích: - Cân của người buôn điêu lắm, một cân chỉ ăn tám chín lạng. Có cân mang theo kiểm tra, họ không dám bán điêu cho mình nữa. Con quả này nặng đến gần sáu lạng. Cũng cần phải nói lúc bấy giờ, ít có gia đình cán bộ công chức nào dám bỏ tiền ra mua một con cá quả to như vậy. Bố tôi đang đi công tác xa tít tắp, mãi trên tận Hà Giang; ở nhà chỉ có hai anh em tôi và mẹ. Mẹ bảo sẽ nấu một bát canh cá quả thật ngon cho chúng tôi. Bỏ cái làn lên giỏ xe, đạp ra chợ Láng; khoảng nửa tiếng sau, mẹ mang về một quả cà chua, một mớ rau thì là, mấy nhánh hành hoa, ba quả khế chua. Vừa lúc đó, thằng Quang, em tôi đi học về. Nhìn thấy con quả để ở cửa bếp còn đang ngọ nguậy, nó trầm trồ thốt lên: - Con quả to quá! To quá! Reo lên hai ba lần, rồi nó liên mồm hỏi, nào là: Mẹ mua cá ở đâu? Sao nó to thế! Có đắt không? Mẹ làm gì hở mẹ? Không đủ thời gian để trả lời hết những câu hỏi của em Quang, mẹ chỉ bảo: - Cá của chú Biên cho anh con đấy. Mẹ lấy sống dao, đập mạnh vào đầu; con quả giẫy lên đành đạch, nhưng vẫn chưa chết hẳn. Con dao pha bố tôi mua trong một chuyến đi công tác ở vùng miền núi. Bố bảo: - Đây là loại dao nổi tiếng của làng rèn Phúc Sen, ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; nơi có nghề rèn thủ công truyền thống trên một nghìn năm tuổi của người Tày; ai đi qua vùng này cũng rẽ vào mua một vài con về dùng trong gia đình hoặc làm quà cho những người thân. Bố tôi mua con dao này vào cuối năm trước; hôm nay mới có dịp đưa ra để thử. Con dao có vẻ rất vừa tay nên thấy mẹ tôi đánh vẩy, cắt vây, lạng thịt cá, cứ đi băng băng. Mẹ tối khen: - Đúng là dao quý. Sắc thật! Vừa làm, mẹ tôi vừa giải thích, như kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe: - Hồi còn ở quê, ông ngoại chỉ bảo cách làm cá quả rất cẩn thận. Trước tiên: đánh sạch vẩy, cắt vây lưng, vây bụng; vây đuôi để lại cắt sau cùng. Rửa sạch cá, lấy muối xát cho hết nhớt, cắt lát hoặc lạng thịt ra riêng. Mật cá quả không đắng, bóp lẫn vào thịt. Thịt cá sẽ có màu vàng nhạt như ướp nghệ và bớt tanh hơn. Người ta kiêng chặt đuôi trước, nhất là cá câu. Nếu chặt cái đuôi trước, người đi câu sẽ không được may mắn! Nhưng khác với cách giải thích của mẹ. Sau này có dịp, tôi hỏi bố; bố bảo: - Đấy là người ta kiêng thế thôi. Sợ rằng chặt đuôi trước như là chặt “đứt đuôi con nòng nọc”. Thực ra, không chặt đuôi trước là để tránh cho cá khỏi bị mất máu. Cá quả mất máu, thịt sẽ không còn giữ được vị ngọt nữa. Mẹ tôi kể tiếp: - Ở nhà quê, muốn biết cô dâu nào đảm đang, thạo việc bếp núc là giao cho làm cá quả. Khi làm thịt cá, cô dâu nào chặt vây đuôi trước, bỏ bộ lòng cá quả đi, là cô con dâu đoảng; chưa biết công việc nội trợ. Bộ lòng cá quả là ngon nhất; ruột và dạ dày rán lên, ăn rất giòn, có vị ngọt như ruột non của lợn. Bộ lòng cá quả được mẹ tôi làm cẩn thận, có phần tỉ mỉ, giống như làm lòng gà vịt: bỏ hết phân trong ruột, thức ăn trong dạ dày, rửa sạch, cho lên chảo rán cùng với thịt cá. Bữa cơm hôm ấy quả là rất ngon. Mẹ nấu hai món: Đầu, xương và đoạn đuôi nấu canh. Bát canh cá nấu khế chua và cà chua. Gia vị có rau thì là, lất phất mấy lát hành hoa bỏ vào trước khi múc ra bát, dậy mùi thơm phức. Cái ngọt tự nhiên của thịt cá quả, cái chua tự nhiên của khế và cà chua hòa quyện với nhau thành một thứ nước súp ngon đến khó tả; trộn vào, không cần nhai, cơm cứ tuồn tuột vào dạ dày. Hai cái lườn được lọc ra, cắt khúc, rán qua cùng bộ lòng cá, sau rim với nước mắm. Mẹ chia đôi bộ lòng cá cho chúng tôi. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên- Nguyến Hữu Hùng
CHÚ BIÊN
Chú Biên cao rong rỏng, có lẽ đến mét bảy lăm. Khi nhà tôi chuyển về ở khu tập thể này, tôi đã thấy chú Biên làm việc ở đây rồi. Các cô, các chú trong nhà máy gọi chú với cái tên: “Biên Cầu Tõm”. Lúc đầu tôi cứ ngỡ, chắc nó cũng giống những cái tên biệt danh mà bất cứ đứa trẻ con nào trong số chúng tôi ở khu tập thể như: Hà Mít (cái Hà béo tròn như hạt mít); Trang Lỳ (cái Trang tính tình lỳ lợm); Vân Mắm (cái Vân vừa gầy lại vừa đen như con cá mắm); Hà Sên (thằng Hà làm cái gì cũng chậm chạp như sên) v.v. và v.v., theo những đặc điểm, tính cách riêng của từng đứa. Mãi sau này tôi mới hiểu cái tên “Biên Cầu Tõm” không hoàn toàn như vậy. Tất cả những người dân quê ở vùng đồng chiêm trũng của tỉnh Hà Nam cũ, ra tỉnh ngoài đều được gọi là dân “Cầu Tõm”. Do vậy, các cô, các chú công nhân trong nhà máy gọi “Biên Cầu Tõm” có hàm ý: chỉ chú Biên là người Hà Nam, và cũng có ý trêu chú; dựa vào một thói quen trước đây: người dân ở vùng chiêm trũng thường vệ sinh xuống sông, xuống ruộng. Vì vậy mới có tích truyện: buổi tối ra sông rửa khoai, mười củ thành mười một củ trong rổ, lại có mùi thôi thối... Chú hoàn toàn không tự ái với cái tên “ Biên Cầu Tõm”. Ngược lại, chú còn tự xưng với bố mẹ tôi, khi gia đình tôi mới chuyển về đây: - Em là dân “Cầu Tõm” đây mà! Anh chị ở Xuân Thủy à! Đồng hương với em đấy (Ngày ấy: Hà Nam và Nam Định thuộc cùng một tỉnh gọi là Nam Hà; Xuân Trường và Giao Thủy thuộc cùng một huyện, gọi là Xuân Thủy). Đó là cái ngày đầu chú Biên làm quen với gia đình tôi. Tính tình chú vui vẻ, rất có duyên kể chuyện, trong giọng chú còn có chút khôi hài nữa. Đôi khi chú kể những câu chuyện mà tôi thấy thật vô lý và còn buồn cười nữa: - Chú đố các cháu biết người dân Quảng Bình gọi bố mẹ là gì nào? Thằng Long Búa Liềm, cậy có bố là người miền Nam, tỏ ra hiểu biết: - Gọi bố là ba, gọi mẹ là má có phải không chú? - Sai bét! Dân Quảng Bình gọi bố là bọ, gọi mẹ là mạ. Nên có chuyện: Một người con gái Quảng Bình, hỏi anh con trai người Bắc: - Bọ mạ ở quê ăn (anh) gọi là gì? Người con trai miền Bắc tủm tỉm cười: - Gọi là giòi bọ chứ là gì nữa? - Thế thì khi nào ăn (anh) về ngoài Bắc, cho em gửi lời thăm giòi bọ hè! Thằng Long Búa Liềm phản ứng lại ngay: - Chú chỉ có bịa! Chú cười và bảo: - Nếu các cháu không tin thì về hỏi lại bố mẹ các cháu! Tôi cũng đồng tình với ý kiến của thằng Long Búa Liềm và cho rằng, chú bịa một trăm phần trăm có dư. Nhưng khi về nhà hỏi bố; bố tôi bảo: - Chú Biên nói đúng đấy. Ngôn ngữ địa phương của dân Quảng Bình là như thế! Bố còn giảng giải: - Cái bát ăn cơm, người dân Nghệ Tĩnh gọi là cái đọi; người miền Nam gọi là cái chén; chẳng nơi nào giống nơi nào. - Còn câu chuyện anh bộ đội miền Bắc nọ, nói với cô thanh nữ Quảng Bình kia rằng: “Ngoài Bắc gọi bố mẹ là giòi bọ” cũng chẳng phải chú Biên bịa ra. Đó là chuyện phiếm của cánh bộ đội người ngoài Bắc. Họ sáng tác ra để trêu chọc đám thanh niên người Quảng Bình. Ai đi bộ đội, hoặc thanh niên xung phong trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, đóng quân ở tuyến lửa Quảng Bình, đều được nghe và thuộc những câu chuyện truyền miệng đại loại như: - Con kỷ niệm lại cho bọ bộ tăng-võng hoặc cái bi đông nác (nước) cũng được! Mùa hè có bộ tăng-võng của con, mắc lên cây ngủ sướng lắm. Đi làm đồng có cái bi đông Trung Quốc đựng nác (nước) chè xanh uống cũng bõ khát. Đi vô Nam, đằng nào cũng con cũng hy sinh; còn nếu được ra Bắc, con có điều kiện xin cấp cái khác. Anh bộ đội miền Bắc láu cá, nói với bọ: - Bọ ơi! Con chẳng phải đi vô và cũng chẳng được đi ra; con được lệnh đi ngang ngang thôi! Quê chú đồng chiêm trũng. Vào mùa mưa, nhà nọ sang nhà kia phải đi bằng thuyền mủng; nhưng được cái nhiều cá, tôm, cua, ốc. Vì thế, từ nhỏ; chú đã biết đơm đó, soi cá, bắt ếch nhái; câu cá rô, cá diếc. Nhưng chỉ có câu cá quả là thú vị và kiếm ra tiền. Nhà nghèo, hết lớp 4, chú phải thôi học, ở nhà đi câu cá kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Hàng ngày, với chiếc cần câu và cái thúng đan bằng tre, sơn kín cả trong lẫn ngoài, đựng nước không bị rò; cá câu được thả vào trong đó. Chú lang thang hết cánh đồng này, sang cánh đồng khác của miền quê Bình Lục, Thanh Liêm, Ý Yên, Vụ Bản; rồi vào tận trong Ninh Bình, Thanh Hóa. Trước khi đi xa, chú chuẩn bị cẩn thận những đồ dùng thiết yếu: bàn chải, thuốc đánh răng, một miếng xà phòng Liên Xô 77%, một bộ quần áo lót; một bộ quần áo dài; một chiếc màn đơn; một cuộn dây nylon năm mét; một miếng áo mưa, khoảng mét tư. Tất cả cho vào túi nylon, buộc trên nắp thúng sơn. Chú sắm một đôi dép tông Thái xịn. Dép tông Thái vừa nhẹ vừa bền, rất tiện lợi: lội ruộng thì bỏ lên mặt thúng câu, trên đường khô ráo thì xỏ vào đi, tắm sông thì lấy ra kỳ lưng, tối ngủ dùng đi rửa chân ... Một con dao nhíp bỏ gọn trong túi quần; một chiếc khăn tay bông khổ to, vừa dùng rửa mặt, vừa dùng để tắm, vừa để trùm gáy cho mát khi đứng câu ngoài trời nắng. Chiếc nón mê đan bằng tre, tuy có nặng đôi chút nhưng cực bền, thoải mái cho mưa nắng dãi dầu và có thể dùng để múc nước khi cần. Chú nghiện thuốc lào, nên chiếc điều cày cũng được giành một chỗ thích đáng: làm hai chiếc vòng giây thép, buộc vào sườn thúng. Khi hút chỉ việc nhấc điếu ra, hút xong lại dựng vào. Trong người chú lúc nào cũng có một lọ cao con hổ, một cuộn băng, một gói bông sạch, một vỉ thuốc kháng sinh tetraxilin, mươi viên thuốc ankitamon phòng cảm cúm. Cá câu được thả vào thúng sơn. Cái giống cá quả sống dai. Thả vào thúng sơn, đổ nước xâm xấp đến mình cá, không cần cho ăn, cá quả có thể sống hàng tuần. Một ngày chú câu được từ bốn đến năm con. Hôm nào gặp may, câu được cả chục. Con nhỏ từ hai đến ba lạng; con to từ nửa cân đến cân rưỡi, hai cân. Trong cái thúng sơn của chú, lúc nào cũng có tới cả chục con cá quả lớn nhỏ. Cá quả to từ nửa cân trở lên, được giá và dễ bán. Người sành ăn thường mua về nấu cháo. Những bà mẹ nuôi con nhỏ mua làm ruốc bông. Vì vậy, cá câu được chú bán hết ngay cho khách dọc đường. Hai ba hôm; chú tạt vào chợ bán cho những người buôn cá. Tuy có rẻ một chút, nhưng người ta mua cả mớ, kể cả con to, con nhỏ. Tối ngủ nhờ nhà dân. Người dân vùng nông thôn đôn hậu, thật thà, chất phác, quý người và thông cảm với hoàn cảnh của chú, nên không bao giờ lấy tiền ngủ. Để đáp lại lòng mến khách của họ, chú biếu gia chủ một vài con quả. Họ còn nấu cơm cho chú ăn mà không lấy tiền gạo, tiền củi. Năm chú tròn mười bảy tuổi, cũng là thời kỳ đánh phá ác liệt nhất của máy bay Mỹ ra miền Bắc. Dù chưa đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, nhưng trong không khí sôi sục của tuổi trẻ lên đường đi đánh Mỹ, chú xung phong đi bộ đội. Đứng giữa hàng quân tân binh năm ấy, chú là người trông già dặn nhất: nước da bánh mật dãi dầu mưa nắng, nét mặt khô đanh. Chỉ thoáng qua, người sỹ quan về huyện tuyển quân đã nhận ra chú là người từng trải, chỉ định chú phụ trách tạm thời đoàn tân binh trên đường về nơi đóng quân. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng
Sau ba tháng ngắn ngủi học, luyện tập một số điều cơ bản của một người lính; chú được phân công về một đơn vị làm công tác thông tin ở Trường Sơn. Đơn vị chú làm nhiệm vụ bảo vệ đường dây thông tin trên tuyến Đường 15, đoạn từ thị trấn Cổn đến nông trường cao su Lệ Ninh của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Trên tuyến đường này, không ngày nào ngớt tiếng bom nổ. Hai bên Đường 15, chi chít những hố bom sâu hoắm. Nhân dân ở hai bên Đường 15 phải sơ tán vào sâu trong rừng Trường Sơn, hoặc bỏ đi nơi khác; chỉ còn lại bộ đội và thanh niên xung phong bám trụ ở đây. Họ đào hầm vào trong vách núi, làm các công sự kiên cố ven bìa rừng; hoặc tận dụng hang đá vôi ở gần đường để tránh những trận bom đánh phá của máy bay Mỹ; đồng thời cũng là nơi để ăn nghỉ, sinh hoạt hàng ngày. Không kể ngày hay đêm; máy bay Mỹ ngừng ném bom lúc nào là tất cả các đơn vị đều có mặt trên mặt đường. Thanh niên xung phong san lấp những hố bom để thông đường cho xe đi. Lính công binh tìm cách tháo gỡ nhưng quả bom hẹn giờ hoặc những quả bom, vì một lý do nào đó chưa nổ. Lính thông tin nối lại những đường dây điện thoại đã bị đứt.
Khi màn đêm xuống. Thay cho những tiếng bom nổ chát chúa, là tiếng ầm ì của đủ các loại động cơ. Từ các cánh rừng già ven đường, những ánh đèn gầm màu đỏ quạch của xe Zil, xe Giải Phóng chở bộ đội, vũ khí, lương thực, thực phẩm, xăng dầu, tên lửa; xe tăng, xe xích kéo pháo; lầm lũi nối đuôi nhau đổ ra đường. Chiếc vào Nam, chiếc ra Bắc; hối hả như đàn kiến tha mồi. Tiếng chào, tiếng hỏi thăm, tiếng cười, tiếng hát; giọng miền Bắc, miền Trung, miền Nam; hòa quyện với nhau. Những người bạn thân, những người cùng đơn vị vận tải, những người đồng hương quê ở các tỉnh ngoài Bắc; bất ngờ gặp nhau giữa tuyến lửa Quảng Bình; họ trao cho nhau những món quà hoặc những đồ vật rất đơn sơ như cái bút, quyển sổ, chiếc khăn, san sẻ cho nhau một chút thực phẩm đồ hộp hoặc lương khô. Một không khí chứa chan tình người, tình đồng đội chỉ có nơi đấy. Chú Biên cũng như bao chiến sỹ của Đoàn thông tin Trường Sơn, có nhiệm vụ đảm bảo đường dây thông tin thông suốt. Sự khốc liệt của chiến tranh lúc bấy giờ, khó có lời nào, từ nào diễn tả hết được. Nhưng trong một ngày, thường có hai khoảnh khắc bình yên: lúc bình minh và lúc chiều tà. Đó cũng là những quãng thời gian quý giá đối với người lính thông tin, có thể làm một số việc cho cá nhân: giặt quần áo, tắm rửa, nấu ăn ... Lúc bấy giờ, ở chiến trường, thực phẩm rất khan hiếm. Phần lớn là mắm ruốc*, đồ hộp và lương khô, nhưng rồi đồ hộp cũng hết, nhiều ngày sau mới có xe tiếp tế. Là người có kinh nghiệm nhận biết chỗ nào có tôm cá, nên chú nhận ra ngay: chính trong các hố bom sâu đầy nước ấy; tôm, cá, cua từ các đầm phá, sông ngòi vào sinh sống rất nhiều. Có những con quả xộp mà người dân Quảng Bình gọi là cá tràu, nặng tới hàng kilô. Tìm đến những xác ô tô đã bị bom đốt cháy, hoặc bị lật nhào xuống vực; gỡ lấy lò xo trong pha đèn. Loại thép lò xo của xe Zil vừa cứng, vừa dẻo; dũa thành những chiếc lưỡi câu quả; dùng dây dù làm dây câu. Chú làm khoảng mười dây cần câu cắm, mỗi cần không quá một mét. Bắt nhái đất làm mồi, móc dưới lớp da lưng. Mắc như vậy con nhái vẫn sống, có thể bơi được suốt đêm trong nước. Cắm cần câu quanh các hố bom vào lúc nhậm nhoạng tối, sao cho con nhái bơi lập lờ trên mặt nước. Kết quả không ngoài dự đoán. Có những buổi sáng: sáu bảy con quả dính câu; từ hai lạng đến nửa cân. Tiểu đội của chú thường xuyên có cá, không chỉ để cải thiện mà còn là thức ăn chính trong những bữa cơm đạm bạc ở chiến trường. Hôm nào bắt được con quả to, chú làm “quà tặng” cho chị em của đại đội thanh niên xung phong. Chị em coi như là món quà đặc biệt và tối hôm đó, nhất nhất: tiểu đội chú phải có một vài đại diện tham dự vào bữa cháo cá quả, do chính tay của những người chị, người em nấu. ------- *Mắm ruốc: loại mắm làm từ con ruốc (tép biển). |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng
Sự thân thiết và gắn bó giữa thanh niên xung phong với bộ đội thông tin, phần nào có công đóng góp của chú. Quần áo của các chiến sỹ trong tiểu đội chú bị rách hay bị cháy do bom đạn, đều được chuyển đến cho chị em khâu vá. Những buổi giao lưu giữa một bên là bộ đội thông tin: đa phần là nam; một bên thanh niên xung phong: đa phần là nữ. Tất cả đều ở tuổi mười tám đôi mươi, chưa có gia đình; nên cuộc giao lưu nào cũng diễn ra sôi nổi, hào hứng. Ai cũng cảm thấy thời gian trôi nhanh vùn vụt.
Một hang đá vôi khá rộng rãi, trần cao tới năm sáu mét, nhấp nhô nhũ đá trong như ngà; được chọn làm nơi cho các buổi giao lưu, đủ chỗ cho cả vài trăm người. Vách đá lồi lõm làm khuyếch đại âm thanh, một tiếng động nhỏ cũng thành to. Tiếng hát càng vang, càng bay cao, bay xa, như hát trước micrô có dàn ampli và bộ phận tiếng vọng. Mặc cho bom rơi, đạn nổ; tiếng hát, tiếng cười vẫn vang lên giữa rừng cao su bạt ngàn của Trường Sơn; làm giảm bớt sự vất vả, sự nhớ nhà và cả sự đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Thời đó, quả đúng là: “Tiếng hát át tiếng bom”. Công việc vất vả, nguy hiểm đến dồn dập làm chú và đồng đội quên cả ngày tháng. Hai năm tưởng như chỉ trong khoảnh khắc. Những địa danh: Đại Phong, Bến Tiến, sông Danh, Quảng Phú, Rào Nam, Cự Nẫm, Cảnh Dương, Xuân Bồ trong bài hát “Quảng Bình quê ta ơi” nổi tiếng của nhạc sỹ Hoàng Vân; bến phà Long Đại, Xuân Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng, Đường 20, đèo Ngang, đèo Đá Đẽo, đèo Lý Hòa, bãi Đá Nhảy, dòng Kiến Giang, Bảo Ninh, Quán Hàu, Ngư Thuỷ đã đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; những nơi ấy chú cũng đã đến. Những cái tên kiểu diễm: Lệ Thủy, Cẩm Ly, Nhật Lệ chỉ có ở Quảng Bình, mà nhiều nghệ sỹ thành danh lấy đặt cho mình. Tất cả đã trở nên quen thuộc đối với chú. Rồi tiểu đội thông tin của chú được lệnh chuyển sâu vào trong rừng rậm Trường Sơn, chuẩn bị đường dây thông tin cho Bộ chỉ huy của một chiến dịch lớn: Đường 9 Nam Lào. Buổi chia tay với đại đội thanh niên xung phong ở khu vực nông trường cao su Lệ Ninh thật là cảm động. Mọi người giành nhiều thời gian dốc bầu tâm sự về quê hương, gia đình; về những kỷ niệm của những ngày đã qua và những lời hẹn hò gặp lại sau chiến tranh. Chỉ có những giọt nước mắt, tiếng khóc thút thít của chị em thay cho tiếng hát, tiếng cười như mọi khi. Khúc eo nhất của miền Trung là đây. Từ Lệ Ninh rẽ về hướng tây chỉ khoảng bốn năm mươi cây số là đến khu vực đại ngàn Trường Sơn, giáp biên với nuớc bạn Lào. Đi miết, vượt qua những rừng cây cao su trồng thành hàng thẳng tắp; sau lọt vào một thung lũng rộng mênh mông, xung quang bao bọc bởi những khối núi đá vôi cao sừng sững. Dưới chân núi là những hang, những động caxtơ; vừa cao, vừa dài và vừa rộng; là nơi trú quân, cất dấu vũ khí rất an toàn. Chú được phân công cùng hai chiến sỹ nữa đi khảo sát thực địa cho việc rải đường dây thông tin đến các vị trí đã được đánh dấu trên bản đồ. Rừng già nguyên sinh ở đây chưa bị bom đạn cũng như con người tàn phá, vẫn còn nguyên vẻ hoang sơ ban đầu của nó. Những cây gỗ mun, lát hoa, cẩm lai to vòng tay người lớn ôm không xuể. Một cây lim, đổ xuống bên bờ suối dài tới hai ba mươi mét; vỏ rác bên ngoài đã bị mục nát, còn trơ cái lõi đen sì, đường kính đến gần hai mét. Có lẽ bị đổ trong một cơn giông lớn cách đó nhiều năm. Hai chiến sỹ cứ xuýt xoa tiếc hoài về sự giàu có, có phần phung phí của thiên nhiên ở đây. Nhưng ở trong giữa đại ngàn Trường Sơn, vả lại đang thời buổi chiến tranh, gỗ lim chứ núi vàng ở đó cũng chịu. Chưa hết những cảnh hoang sơ của một vùng còn ít người qua lại. Đang rẽ những đám cỏ tranh giữa thung lũng, tìm đường tiếp cận đến vị trí đã định trên vách núi; cả nhóm giật mình: Một đàn gà, chừng trên chục con, trông rất giống gà nhà, nhưng nhỏ hơn. Lũ gà trống mào đỏ chót, bộ lông đuôi dài uốn cong màu đỏ, đen, trắng pha trộn. Lũ gà mái lông vàng nhạt điểm những hoa văn màu đen ở vùng gần cổ, giống như gà mái hoa mơ ở vùng đồng bằng. Thấy có người, như một mệnh lệnh được ban ra; cả đàn đồng loạt cất cánh vụt lên không trung. Chúng bay là là, cách mặt đất năm sáu mét; rồi sà xuống, cách chỗ chú đứng hai ba trăm mét. Cả đàn lủi nhanh, biến mất tăm trong bãi cỏ tranh rậm rạp trước sự ngơ ngác của các chú. Hai chiến sỹ trẻ tranh cãi nhau: Người thì bảo gà nuôi của người dân tộc, người thì cho là gà rừng. Mặc dù chưa một lần mục sở thị, nhưng lúc bé, có đôi lần một ai đó trong làng đã từng đến các vùng núi của các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, trông thấy loại gà này về kể lại. Do đó, chú chắc đây là đàn gà rừng, chứ không phải gà nhà. Điều lệnh quân đội không cho phép dùng súng chiến đấu đi săn. Với lại đang lúc làm nhiệm vụ, hoạt động trong một vùng được coi là tuyệt mật, nên chú và hai chiến sỹ chỉ giữ lại một sự luyến tiếc về đàn gà rừng, lần đầu tiên trong đời trông thấy chúng. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng
Chảy men theo vách đá vôi là một con suối nước trong vắt, uốn khúc vòng vèo như một con trăn khổng lồ. Đoạn thì mất hút vào chân núi đá, đoạn thì phơi mình trên thung lũng, hai bên là bờ cát vàng phẳng lặng. Chỗ thì thắt lại, chiều rộng chỉ còn bốn năm mét; chỗ phìng ra tới cả chục mét. Và có cả một doi cát nhỏ ở giữa. Lội qua một đoạn, chỗ nước ngập đến đầu gối, chỗ nước ngập đầu người. Rồi chú cũng rút ra được quy luật của dòng chảy: Đoạn nước chảy xiết lại là đoạn nông nhất. Ở đấy, có thể nhìn thấy tận đáy những hòn đá cuội to, nhỏ, đen, trắng, vàng, nâu đủ mầu; xếp chen chúc nhau, như cố tình ngăn dòng nước lại. Những đoạn nước chảy lững lờ, thường rất sâu. Muốn lội qua phải dò từng bước; bước hụt, bị chìm nghỉm như chơi. Những đoạn suối ăn sâu vào trong vách núi thường tạo ra cả một vùng nước rộng, chỉ thấy một màu xanh thăm thẳm.
Sức mạnh kỳ diệu của thiên nhiên đã tạo ra những vách đá vôi, như có bàn tay của con người sắp đặt những viên đá thành tầng tầng, lớp lớp; dựng đứng cao tới vài ba trăm mét. Chơi với giữa vách đá vôi lộ ra những vòm hang sâu thẳm, đủ sức chứa cho cả trăm người; nhưng chỉ có các loài biết bay như chim, dơi hoặc lũ vượn, khỉ có tài leo trèo mới có thể tiếp cận được. Vươn lên bầu trời xanh thẳm, nhấp nhô những chỏm núi đá tai mèo với đủ mọi hình dạng: hình người mẹ bồng con, hình kim tự tháp v.v., thả sức cho trí tưởng tượng của con người. Cái nắng, cái gió ở dải đất miền Trung, từ xứ Nghệ trở vào, nhất là những vùng giáp Lào thật nghiệt ngã. Mới chỉ tháng tư tháng năm; trời đã bắt đầu oi bức, nhiệt độ ngoài trời thường ba chín bốn mươi độ. Câu hò “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” mới chỉ khắc họa một phần cảnh nắng nóng ở vùng cát trắng ven biển, chưa thấm gì với cái nắng, cái gió ở sườn đông của dãy Trường Sơn. Ngoài cái nắng như thiêu như đốt, rừng Trường Sơn nơi đây còn phải gánh chịu một thứ gió nữa: “Gió Lào”. Mùa gió Lào bắt đầu từ tháng tư. Gió được hình thành từ vịnh Thái Lan, mang theo những đám mây đầy hơi nước, theo hướng đông bắc, bay vào lục địa. Bị chặn lại ở dãy Trường Sơn Tây, trút hết những hạt nước mát mẻ xuống nước bạn Lào. Tràn sang Trường Sơn Đông trên đất Việt Nam; chẳng còn gì mang theo, ngoài hơi nóng bốc lên từ đất và đá do bị ánh nắng Mặt Trời mùa hè thiêu đốt. Gió nóng thổi từng cơn ào ào như giông bão, làm táp lá những bụi cỏ lau, cỏ tranh; làm kiệt quệ sức sống của mọi sinh vật. Mới tám chín giờ sáng mà nhiệt độ ở ngoài trời đã lên đến ba chín bốn mươi độ. Không khí vào giữa trưa càng trở nên ngột ngạt và nóng bỏng hơn. Để tránh cái nắng hầm hập và gió nóng ở rừng Trường Sơn, các chú phải dậy đi khảo sát thực địa từ sớm tinh mơ. Buổi trưa, tìm một nơi mát mẻ để tránh nắng và tránh gió. Từ xa, chú phát hiện ra một cây cổ thụ, cành lá xum xuê, xanh mướt ở bên bờ suối. Đến nơi, chú nhận ra: cây sung -loài cây quen thuộc thường được trồng ở bên bờ ao của vùng quê chú. Gốc cây xù xì, ba bốn người ôm không xuể. Cành ngả rạp xuống một vực nước sâu, tán rộng đến bốn năm chục mét vuông. Có lẽ vùng này có nhiều cây sung, nên trên bản đồ địa hình 1:50.000 có đánh dấu một bản, tên là xóm Cây Sung. Mắc võng trên cành của cây sung cổ thụ, lấy lương khô ra ăn, ngắm cảnh thiên nhiên hoang dã ở một thung lũng kín gió, thật dễ chịu. Vòm lá sung rậm rạp và xanh mướt, chắn hết mọi tia nắng nóng bỏng của Mặt Trời. Những vách đá vôi cao sừng sững chắn những luồng gió khô và nóng từ đất Lào thổi sang. Dòng nước xanh mướt chảy từ trong hang đá vôi, tỏa hơi nước mát lạnh vào bầu không khí, chẳng khác nào một chiếc máy “điều hòa” khổng lồ đặt giữa rừng Trường Sơn. Rồi nữa, sự có mặt của bọn chú ở đây cũng không làm lũ chim sâu, lũ chim trào mào trên vòm cao của cây sung sợ hãi. Chúng vẫn mải miết cãi vã, tranh giành nhau những quả sung chín mọng, nghe thật vui tai. Thỉnh thoảng, một vài quả sung rơi bộp xuống mặt nước, làm kích động đến sự háu ăn của lũ cá chày. Chúng nhao lên mặt nước và cũng tranh giành nhau chẳng kém gì lũ trào mào và chim sâu. Bứt một vài quả sung chín ăn thử: có vị ngọt nhạt, giống như những quả sung ở vùng quê chú. Quả xanh cũng có vị chan chát, thái mỏng làm đồ nhắm hoặc muối dưa, ăn giòn chẳng kém gì cà pháo. Bắt chiếc lũ chim trào mào, các chú bứt những quả sung chín ném xuống nước. Từng đàn cá chày, to cỡ bắp tay nhao lên, ngoặm cả quả rồi biến mất trong làn nước suối trong vắt. Chú bảo với hai chiến sỹ: - Suối này nhiều cá tôm đây. Phải tìm cách cải thiện cho anh em thôi! Trở về hang đóng quân, báo cáo tình hình khảo sát thực địa với tiểu đội trưởng, chú bàn luôn phương án cải thiện bữa cơm cho anh em. Vì một lẽ, từ hôm chuyển quân vào đây, đơn vị chưa được tiếp tế thực phẩm. Mấy bữa liền, chỉ có rau rừng và măng tươi luộc chấm với mắm ruốc. Đã có hai chiến sỹ trong tiểu đội bị sốt rét, nằm liệt trên võng. Lẽ dĩ nhiên, chú tiểu đội trưởng ủng hộ và còn cử thêm hai chiến sỹ giúp chú nữa. Chú vào rừng, chặt một cây nứa bánh tẻ, cỡ cổ chân, làm ba cái rọ bắt tôm. Buổi tối, chú cùng hai chiến sỹ mang theo đèn pin, rọ bắt tôm, dao phát rừng và cả cái xoong quân dụng to tướng ra bờ suối. Hai chiến sỹ đi cùng là người Hà Nội. Những việc như thế đối với họ là lạ lẫm, có phần vừa thích thú, vừa tò mò nữa. Cầm chiếc đèn pin ba cục rọi xuống suối, chú chỉ cho hai chiến sỹ những con tôm, con cua, cá bống hoa ẩn mình trong các khe đá, giữa những hòn đá cuội. Một chiến sỹ vừa trông thấy một con tôm, giơ tay chộp ngay, nhưng con tôm đã biến đi chỗ nào mất tăm. Chú giảng giải cho hai chiến sỹ: - Không dễ bắt như thế đâu. Muốn bắt được tôm phải nhanh tay, nhanh mắt, chộp nó từ phía đuôi. Cái giống tôm thường chạy trốn kẻ thù bằng cách co cái thân nhiều đốt, dùng tấm phiến đuôi như bánh lái thuyền, đẩy nước, bật mạnh, giật lùi về phía sau. Nhưng tốt nhất và hiệu quả nhất là một tay cầm rọ chắn ở phía đuôi, tay kia lật hòn đá hoặc đánh động ở phía đầu con tôm. Nói xong, chú làm động tác mẫu cho hai chiến sỹ xem; chỉ một loáng, chú đã tóm gọn hai con tôm vào trong rọ. Chú phân công hai chiến sỹ đi cùng nhau: người rọi đèn, người bắt. Chú không cần rọ, một tay soi đèn, một tay bắt. Chỉ trên đoạn suối khoảng hai mươi mét, chú tóm được cả chục con: nào tôm, nào cua và cả một con bống hoa cỡ đầu ngón tay. Hai chiến sỹ kia loay hoay mãi mới tóm được một chú tôm càng chậm chạp. Nhưng công việc rồi cũng quen dần. Số tôm, cua, cá bắt được mỗi lúc một nhiều. Thấy việc bắt tôm của hai chiến sỹ kia tốt rồi, chú dặn họ cứ bắt ở đoạn suối này đợi chú. Cầm đèn pin và con dao quắm, chú ngược lên phía thượng nguồn con suối để tìm cá ngủ. Chú đoán: suối này sâu, nhiều tôm, cua, cá; chắc có cá to? Chỉ cách đoạn hai chiến sỹ đang bắt tôm hai trăm mét, chú đã phát hiện ra một con quả, cỡ bắp tay, đang ẩn mình trong một hốc đá; một con chép to hơn bàn tay người lớn, đang nép mình sát bụi cỏ. Hồi ở quê, đêm nào chú cũng đi soi cá ngủ và bắt ếch nhái. Với cái đèn pin đội trên đầu, chiếc lao tự chế; một đêm chú cũng kiếm được vài ba kilô, lẫn lộn cá, ếch, chão chuộc. Hôm nào gặp may, tóm được cả rắn hổ mang, bán khối tiền. Tục ngữ có câu: “Tôm nhập nhoạng, cá rạng đông”. Đúng là khi trời sắp tối, đa phần các loài cá nước ngọt đi tìm một chỗ nào kín đáo để ngủ cho ngon giấc; tảng sáng hôm sau mới dậy đi kiếm ăn. Còn loài giáp xác như tôm, cua; chập choạng tối mới mò đi kiếm ăn. Cho nên, đánh bắt tôm nên đi vào lúc nhập nhoạng tối, đánh bắt cá nên đi vào lúc sáng tinh mơ. Lũ ếch nhái thì ngược lại. Ban ngày núp trong hang sâu, hoặc ẩn mình trong các bụi cỏ rậm, đợi trời tối mới mò đi kiếm ăn, tìm kiếm côn trùng, sâu bọ và đi tìm bạn tình. Lũ sâu bọ cũng có tập tính: ẩn mình trong các lớp đất xốp dưới gốc rau, bụi cỏ; tránh sự săn lùng của lũ chim sâu; đêm đến mới bò lên, uống nước từ các giọt sương và tìm những búp rau non để thưởng thức sau một ngày dài phải nhịn đói. Đó là quy luật tồn tại của muôn loài trong tự nhiên. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng
Chú có một cây lao chuyên để đâm cá và bắt rắn vào ban đêm. Tự tay chú chế tạo ra cây lao này. Cây lao làm bằng đoạn gốc của cây trúc rừng. Loại trúc chỉ có ở vùng núi đá của tỉnh Cao Bằng: vừa dài, vừa thẳng và rất cứng. Người ta buôn về để bán cho các xưởng thủ công làm bàn ghế và đồ mỹ nghệ.
Chú lấy một đoạn dài khoảng hai mét, đầu gốc gắn với một chạc đôi bằng sắt; cho mục đích bắt rắn; đầu ngọn gắn với chùm 5 chiếc đinh, đầu cắt ngạnh, chuyên dùng để đâm cá. Trước ngày nhập ngũ, chú buộc cẩn thận cây lao cùng với chiếc cần câu, rồi bỏ lên gác bếp. Chú hy vọng chiến tranh sớm kết thúc, trở về quê; chú sẽ tiếp tục kiếm sống bằng cái nghề mà chú yêu thích. Đấy là chuyện đâm cá ở quê. Còn ở đây, trong tay chú chỉ có con dao quắm. Chú đành phải bỏ con quả, lừa chém con chép. Trở lại chỗ hai chiến sỹ đang bắt tôm, mang con chép nặng gần hai kilô; bị chú chém bể cả đầu, máu tươi chảy ròng ròng, làm hai chiến sỹ hết sức kinh ngạc. Họ xuýt xoa, không hết lời ca ngợi. Chú bảo: - Đây là cái nghề kiếm cơm của tớ ở nhà mà, các cậu khen tớ thì khen cả đời. Nếu có cây lao, đêm nay còn kiếm được nhiều cá nữa. Khoảng gần hai giờ đồng hồ, chú cùng hai chiến sỹ đã kiếm được trên một kilô tôm, năm con bống hoa, một con chép to và hai mười con cua đá, to cỡ ba ngón tay. Tìm được nguồn thực phẩm tươi sống giữa núi rừng Trường Sơn vào thời điểm này là vô cùng quý giá. Chiến lợi phẩm đầu tiên ở nơi mới chuyển đến làm nức lòng các chiến sỹ. Do vậy, cả tiểu đội rôm rả bàn chuyện nấu một nồi súp cá-cua để thưởng thức ngay trong đêm. Không đợi được phân công, mỗi người một chân một tay: người bổ củi, người nhóm bếp, người lấy nước, người vo gạo, người làm cá ... Cá chép được luộc cùng với cua, bóc lấy thịt, xào lẫn nước mắm, thêm vào dăm quả ớt chỉ thiên rừng. Đầu cá, xương và càng cua được giã ra, lọc lấy nước. Chuẩn bị xong các thứ, hòa vào nồi cháo hoa. Nồi súp cháo cá-cua thơm lừng có vị ngọt tự nhiên của động vật hoang dã, làm mọi người chảy nước miếng. Hai chiến sỹ đang bị sốt cũng gượng dậy, ăn hết cháo đựng trong bát B.52 (loại bát ăn cơm của Trung Quốc làm bằng sắt tráng men). Ngồi xung quanh đống lửa bập bùng giữa đại ngàn Trường Sơn, cả tiểu đội xì xụp húp cháo, chuyện trò râm ran tới tận khuya. Có thức ăn tươi, bữa cơm ngày hôm sau, ai ăn cũng cảm thấy ngon miệng, nồi cơm cứ vơi đi ào ào. Hai chiến sỹ đang bị sốt, được bồi bổ bát cháo cá tối hôm trước, sáng hôm sau đã khỏe hơn, dậy ăn được vài lưng cơm. Được cả tiểu đội tin cậy và hy vọng vào tài xoay sở thực phẩm của chú; những ngày tiếp theo, sau giờ làm việc vất vả ngoài thực địa, chú tiếp tục tìm kiếm thức ăn tươi sống cho đơn vị. Với những kinh nghiệm tích lũy được trong suốt thời niên thiếu; chú lấy những chiếc kim băng, uốn thành lưỡi câu rô, câu trê đủ loại. Mồi là giun đất, châu chấu rừng, tép suối, sung chín là những thứ mà bọn cá rô, cá trình, cá thiểu, cá chày đều thích ăn. Tranh thủ những lúc sáng sớm, lúc chiều tà và cả buổi nghỉ trưa; các chiến sỹ đua nhau theo chú đi câu cá. Nhiều chiến sỹ câu được những con cá trình nặng tới nửa kilô. Cá câu được nhiều, thả vào xoong quân dụng ăn dần. Đơn vị chú ngày nào cũng có cá, tôm, cua cải thiện trong bữa ăn. Các chiến sỹ hứng khởi, làm việc quên cả mệt nhọc. Có một chuyện mà chú chưa từng gặp trong đời làm nghề câu cá. Đấy là một lần, chú ngồi câu cá thiểu dưới gốc cây sung cổ thụ. Một con cá thiểu cắn câu. Chú chưa kịp giật thì một con quả xộp, đen chũi, lừng lững to như bắp đùi người lớn, lao ra, quật mạnh đuôi, đánh “ùm” một cái, ngoặn con thiểu đang mắc câu và lôi luôn cả dây câu, cần câu vào hang dưới gốc sung. Nước tung tóe lên tận mặt chú, chẳng khác nào có người vác hòn đá to ném xuống nước. Đúng là cá ở nơi hoang dã, chưa có con người săn bắt, hơn nữa có thể nó là “Đại vương” ở đoạn suối này nên mới táo tợn như vậy. “Con quả này cũng phải đến ba kilô. Phải có cách bắt nó”. Chú thầm nghĩ. Về hang, chú sửa một dây câu. Sẵn có dụng cụ và lò xo thép kiếm được từ những chiếc ôtô hồi ở tuyến ngoài, gần thị trấn Cổn; chú dũa một lưỡi câu đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nó không chỉ to hơn lưỡi câu quả bình thường; chú còn tết thêm một lưỡi câu nhỏ vào cuống lưỡi câu to. Dây câu là ba sợi dây dù tết lại. Vất vả lắm chú mới kiếm được một con rô, cỡ bằng ngón chân cái. Móc lưỡi câu rô qua đỉnh lưng, còn lưỡi quả thì ôm lấy phía dưới bụng con mồi. Làm như vậy, con rô sống được lâu; nó có thể bơi và vùng vẫy suốt đêm. Con quả nào khôn ngoan mấy cũng bị mắc lừa. Buổi tối, chú mang câu thả dưới gốc sung; cuốn hai vòng dây câu vào một cành lớn, cách mặt nước chừng nửa mét, rồi buộc lại kiểu thắt nút quần. Giống cá rô sống dai, nhiều con mổ bụng, rút ruột rồi, nhưng khi thả xuống nước vẫn có thể bơi được. Do vậy, con mồi này của chú sẽ tạo ra một vòng tròn trên mặt nước, đường kính gần nửa mét, khuấy nước suốt đêm, làm kinh động đến tận “thủy cung” dưới gốc sung. Bị khuấy động, không ngủ được; chắc chắn con quả phải mò ra xem kẻ nào dám hỗn xược, làm kinh động đến “long cung” của nó: Hóa ra chỉ là một thằng rô nhãi nhép -miếng mồi điểm tâm ngon lành cho cái dạ dày đang còn lép kẹp của nó. Dặn hai chiến sỹ thường đi bắt tôm cá với chú trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, chú đánh thức họ dậy sớm hơn thường lệ để ra thăm câu. Thật là hồi hộp. Từ xa, chú đã thấy sóng nước dưới gốc sung; cành sung buộc đây câu cứ rung lên phần phật. Không ai bảo ai, cả ba đồng loạt lao nhanh về phía cây sung như cố để xem, ai là người tận mắt nhìn thấy con quả trước. Chú không thể tin vào mắt mình nữa: Con quả không phải ba kilô như chú dự đoán. Nó to hơn nhiều. Cái thân dài đần đẫn, cái đầu to bè bè. Khi thấy người, con quả quật đuôi rất dữ tợn, nước bắn tung tóe lên tận bờ cỏ. Được tận mắt nhìn thấy con quả to như vậy, hai chiến sỹ kia cũng không khỏi lúng túng: - Làm thế nào hở anh? - Cứ bình tĩnh, đừng làm nó kinh sợ. Để anh tính toán cái đã! Loay hoay đến năm sáu phút, chú mới nghĩ ra được phương án đưa con quả lên bờ an toàn: Cởi chiếc quần dài đang mặc, buộc chặt hai ống. Chú bơi nhẹ nhàng đến chỗ con quả. Thấy động, con quả quật đuôi càng mạnh. Sự tính toán kỹ càng của chú quả là không thừa. Con quả có khỏe đến mấy cũng không thể thoát ra được với cái lưỡi câu thép vừa to, vừa cứng và sợi dây dù tết ba có sức chịu tải tới chục kilô. Sau một hồi vật lộn, cuối cùng, chú cũng lừa đưa con quả nằm gọn trong ống quần. Con quả cố sức vùng vẫy để thoát ra. Nhưng trong cái khoảng không quá chật hẹp của cái ống quần như vậy, sức mạnh dưới nước của nó không còn phát huy được là mấy. Thít chặt đầu trên, chú hò hai chiến sỹ đến giúp sức. Một chiến sỹ leo ra cành sung tháo dây câu, một chiến sỹ bơi ra cùng chú đưa con quả vào bờ. Thành công ngoài sự mong đợi: Con quả dài đến gần một mét, mình to vừa bằng hai chẹt tay. Tìm một cành cây dài làm đòn. Hai chiến sỹ khiêng con quả như thể khiêng một con lợn con. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng
Khi chú và hai chiến sỹ khiêng con quả về; cái hang rộng mênh mông bỗng chốc trở nên huyên náo. Chẳng ai bảo ai, họ vùng cả dậy, không kịp gấp màn, đánh răng; xúm lại giúp hai chiến sỹ thả con quả vào cái nồi quân dụng. Cái nồi to cỡ trẻ lên năm ngồi vừa, nhưng giờ đây cũng trở nên quá chật chội đối với nó. Con quả nằm khoanh tròn, không thể dẫy dụa gì được. Cả tiểu đội quây quanh chiếc nồi quân dụng đựng con quả trầm trồ, bàn luận:
- Người thì bảo: trong đời chưa bao giờ thấy con quả to như vậy; có lẽ là con quả cụ, đến mươi mười lăm năm tuổi. - Người thì dự đoán trên bốn cân, người thì trên năm cân. - Người thì đề nghị nướng, người thì đề nghị kho ăn dần. Năm người mười ý; ồn ào như cái chợ vỡ. Cuối cùng, chú tiểu đội trưởng phải đứng ra cầm trịch. Đúng là giọng của chỉ huy, chú ra lệnh: - Đồng chí Mão, mang cân ra đây! Chú Mão, được mệnh danh là “anh nuôi” chuyên lo việc bếp núc của tiểu đội; tất tưởi vác chiếc cân treo loại 50 kg, dùng hàng ngày cân gạo. Có hai chiến sỹ giúp sức, con quả cân móc hàm: “đúng năm cân rưỡi, có phần tươi”. - Phần chế biến kiểu gì? ưu tiên giành cho người chủ của nó ra phán quyết. Đề nghị đồng chí Biên cho ý kiến phát biểu! Với kinh nghiệm nhiều năm câu cá quả, chú giảng giải cho mọi người: - Con quả này cũng đến bảy tám năm tuổi. Nhưng do ở đoạn suối này sẵn thức ăn, nhiều tôm, nhiều cá; lại không có đối thủ cạnh tranh, nên nó mới to như vậy. Những năm ở quê, đi câu cá quả ở khắp các vùng, kể cả ở những đầm, ao lưu cữu, không bao giờ tát cạn được; chú cũng chỉ câu được những con quả dưới ba kilô. Còn to như con quả này, thực sự là rất hiếm. Bây giờ đang là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè; vả lại, trong đơn vị còn một số chiến sỹ ốm; do vậy, nấu cháo là món thích hợp nhất. Ý kiến của chú tất nhiên là được mọi người ủng hộ. Thực hiện nghị quyết của tiểu đội, con quả được dành nấu cháo thay cho bữa cơm chiều. Một bữa cháo cá quả ăn vào buổi chiều tà ngon miệng đối với tất cả mọi người. Nhiều chiến sỹ, tuy đã no bụng rồi nhưng vẫn còn muốn ăn nữa. Kỷ niệm cuối cùng của chú ở rừng Trường Sơn, đó là việc chú cùng hai chiến sỹ bắn hạ một con voi rừng. Cứ vài hôm, đường dây thông tin của các chú bị lũ voi rừng từ phía nước bạn Lào tràn sang làm đứt, hoặc cuốn đi. Đang ở vào thời điểm sắp đến ngày mở chiến dịch; việc đảm bảo đường dây thông tin thông suốt hai bốn trên hai bốn giờ trở nên hết sức nghiêm ngặt. Chú tiểu đội trưởng phân công cho chú cùng hai chiến sỹ: phải tìm cách ngăn cản đàn voi rừng này bằng bất cứ giá nào. Nhận nhiệm vụ, nhưng làm thế nào để ngăn cản được lũ voi rừng, đó là điều không hề đơn giản. Hồi ở quê, chú chỉ được nghe các cụ nói: - Voi rừng rất hung hãn, thường đi thành bày đàn. Hổ còn sợ người chứ voi rừng thì không; đôi khi chúng còn tràn vào phá nương rẫy, ủn đổ cả nhà cửa của dân bản. Trong trường hợp không may gặp voi rừng, chỉ tìm cách tránh cho nhanh, chạy ven theo sườn núi, chứ không chạy xuống phía chân núi. Người Tây Nguyên rất có kinh nghiệm săn voi rừng, nhưng người ta đi săn là để bắt sống về nuôi. Bàn bạc với đồng đội, chú đưa ra phương án: chọn một hang đá ở lưng chừng vách núi, sát lối mòn mà đàn voi rừng thường qua lại làm chỗ mai phục. Hai đêm đầu yên tĩnh, chỉ có tiếng đi lại của hươu, nai; tiếng đào bới đất của lũ lợn rừng; tiếng kêu “tắc kè” chốc chốc vọng từ vách đá; tiếng kêu khảm khắc của đôi chim “Bắt cô trói cột” đi tìm bạn tình. Đêm thứ ba, vào khoảng hai ba giờ, đàn voi rừng xuất hiện; có lẽ đến sáu bẩy con tràn vào thung lũng. Chú nói nhỏ với hai chiến sỹ: - Phải đợi đàn voi rừng đến gần, khi nào có hiệu lệnh của tớ mới đồng loạt bấm đè pin nhá! Đàn voi rừng rẽ bụi lau đi rào rào, mỗi lúc một gần. Khi nghe tiếng cành cây khô bị voi dẫm lên kêu răng rắc ở phía dưới chân hang, chú lệnh cho hai chiến sỹ nhất loạt rọi đèn pin. Con voi đầu đàn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nó dừng lại, nghếch vòi lên nghe ngóng và chuẩn bị tư thế sẵn sàng nghênh chiến. Nhằm đúng điểm sáng màu đỏ tía phát ra từ mắt voi, bắt ánh đèn phản chiếu lại; chú nhả một băng Aka (loại súng trường cực mạnh do Nga chế tạo). Con voi đực đầu đàn ngã gục tại chỗ, những con khác hoảng loạn, tháo chạy về phía rừng bên Lào. Chú bảo: -“Vạn bất đắc dĩ”, vì sự thông suốt của đường dây thông tin, buộc các chú phải giết một con; chứ nhìn con voi bị bắn hạ, các chú cũng thương nó lắm. Chú cùng hai chiến sỹ cưa lấy đôi ngà về nộp lại chú tiểu đội trưởng; còn phần thịt, các chú để mặc cho người Vân Kiều đến lấy. Người nọ truyền tin cho người kia, họ mang dao sắc, gùi đến. Lấy hết phần thịt bên ngoài, họ khoét một cái lỗ to ở phía đuôi, chui vào lấy hết những gì còn lại bên trong. Đến gần trưa, chỉ còn trơ bộ xương to khủng khiếp của con voi đầu đàn. Từ đấy không thấy đàn voi rừng xuất hiện trở lại nữa. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng
Chú bị thương vào đùi ở trong một trận chiến trên Đường 14, gần A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chú được chuyển về điều trị ở tuyến sau; an dưỡng ở trại thương binh Hà Bắc. Sau một năm điều trị và an dưỡng, vết thương của chú lành hẳn. Lúc đó, cuộc chiến tranh đã kết thúc, miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Đơn vị gửi chú vào học ở Trường công nhân kỹ thuật điện Sóc Sơn. Tốt nghiệp, chú được phân công về làm việc tại nhà máy phát điện điêzen này.
Khi đi bộ đội, chú tròn 17 tuổi. Bảy năm trong quân ngũ, một năm ở trại thương binh, một năm đi học. Như vậy, không kể thời gian đi bộ đội, đi học; lúc vào làm công nhân của nhà máy, chú mới 26 tuổi. Chú nghĩ còn trẻ chán, đến năm 30 tuổi lấy vợ là vừa. Tuy ở hai tỉnh khác nhau, hoàn cảnh bản thân và gia đình trước khi đi học có khác nhau: Chú Bảy Choắt đi thanh niên xung phong, còn chú đi bộ đội. Nhưng cả hai vào nhập học cùng ngày, ở cùng phòng tại ký túc xá; học cùng lớp, ngồi cùng bàn; lại sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày; học xong về cùng một nhà máy. Đúng là lắm thứ cùng nên hai chú thân nhau lắm. Chuyện gia đình, chuyên riêng của hai người, các chú đều rõ như lòng bàn tay. Nhưng chú Bảy Choắt lấy vợ khá sớm: vợ hơn một tuổi, làm ruộng ở quê, có hai con gái. Đứa lớn bốn tuổi, đứa bé hai tuổi và chuẩn bị đứa thứ ba nữa. Chủ nhật nào, chú Bảy Choắt cũng tất tưởi đạp xe về nhà, ở tận Phố Nối, Hưng Yên thăm vợ con. Rút kinh nghiệm từ bản thân: vất vả với chuyện gia đình; chú Bảy Choắt khuyên chú không nên lấy vợ sớm; và nếu có lấy vợ, nên lấy vợ ở Hà Nội. Chú Bảy Choắt giải thích: - Một chốn đôi nơi, đi lại vất vả; tiền lương không đủ đi tàu xe, nếu tuần nào cũng về thăm nhà; chưa nói đến chuyện mỗi khi về, phải có đồng quà tấm bánh biếu bố mẹ và cho vợ con nữa chứ! Nhưng sự đời chẳng chiều theo ý ai. Năm 1978, chú về quê ăn tết. Vừa về đến nhà, bố mẹ chú đặt vấn đề hỏi và cưới vợ ngay cho chú trong dịp tết Nguyên Đán. Thương bố mẹ già, gia đình chỉ có một mình chú là con trai, được họ hàng hùn vào nên chú đồng ý. Đám cười ở thôn quê ngày ấy còn đơn giản: tư trang, quần áo của ai, người ấy sắm. Chú có bộ quân phục được phát trước khi đi học còn mới, lấy ra diện; chỉ có sắm thêm đôi dép nhựa Tiền Phong; ai cũng khen đẹp, hợp thời trang. Lễ sang nhà gái gồm: hai tếp trầu, ba chục cau, hai chục bánh cao lâu (bánh nướng), cân chè Thái, một tút thuốc lá Tam Đảo, một chai rượu cam. Gọi là lễ ăn hỏi, rồi dẫn dâu về luôn. Bố mẹ chú nuôi được con lợn trên năm mươi kilô, vật ra; làm vài ba chục mâm cơm, mời họ hàng và hàng xóm. Năm hết tết đến; mọi người đều tất bật đi sắm sửa; nên chú cũng chẳng kịp báo với cơ quan và bạn bè trên Hà Nội. Sau tết, chú mua ít bánh kẹo, mấy bao thuốc lá, gói chè hương Hoa Đào; tạ lỗi với mọi người trong nhà máy. Chú Bẩy Choắt có trách chú đôi điều, nhưng cũng thông cảm. Thế là cái việc “trăm năm” của chú đã xong. Không biết có phải bố mẹ chú tinh đời, hay do duyên số mà chú có được người vợ: “Thắt đáy lưng ong”, da trắng như trứng gà bóc, hiền dịu, nết na; kính trọng, hiếu thảo với bố mẹ chú. Chỉ có một điều mà bố mẹ chú cũng như chú không được mãn nguyện lắm: vợ chú sinh con một bề. Vợ chú sinh hạ liền ba cô con gái: Lục, Lụa, Lài. Chú giải thích: - Lục: là để kỷ niệm quê hương Bình Lục của chú. - Lụa: có ý chỉ sự mượt mà, mềm mại như tơ lụa của người con gái. Còn cái tên Lài, không thấy chú giải thích, có thể chú đặt để cho có vần. Lúc vui vẻ, chú Bảy Choắt thường trêu chú: - Đúng là vợ ông không biết đẻ. Đẻ rặt một lũ vịt trời! Do vậy, chú Biên còn có một biệt danh khác nữa là “Biên Vua Lia”. Chuyện “Vua Lia” thì tôi phần nào cũng hiểu, giống như nhân vật “Vua Lia” trong vở bi hài kịch của Shakespeare, nói về một vị vua nước Anh thời Trung cổ, giàu có, nhưng hoàng hậu chỉ sinh hạ cho vua được ba cô công chúa. Còn chuyện ba cô con gái của chú Biên, được chú gọi là vịt trời thì lần đầu, tôi nghe thấy câu ví von như vậy. Tôi hỏi lại chú Biên: - Tại sao chú Bẩy bảo: ba cô con gái chú là lũ vịt trời? Chú cười ngặt nghẽo rồi giải thích: -“Vịt trời”, nghĩa là vợ chồng chú vừa mất công đẻ, công nuôi, công chăm sóc, công dạy dỗ. Đến khi khôn lớn thành người, làm được việc giúp đỡ gia đình; thì lại đi lấy chồng, trật khấc lại hai ông bà già ở với nhau. Ví như nuôi vịt trời con. Đến khi đủ lông, đủ cánh; nó lại bay vù theo bày đàn của nó. Chả mất công không là gì? Nói thế chứ, xem ra chú chẳng buồn chút nào. Ngược lại, chú có vẻ thực sự quý những “lũ vịt trời” nhà chú lắm. Mỗi khi về quê lên, chú thường sang khoe với bố mẹ tôi: - Con gái em nó tình cảm lắm. Bây giờ về nhà, các cháu biết lấy chậu, khăn mặt, xách nước cho bố rửa mặt, coi em như thượng khách. Nhiều khi em bảo các cháu cứ mặc kệ bố. Bố quen sống tự lập rồi. Nhưng các cháu không nghe, coi lấy nước cho bố rửa mặt, lấy tăm cho bố xỉa răng là một sự bộc lộ tình cảm thiêng liêng, quý trọng và thương yêu đối với bố. Khi đi, các cháu còn ra tận bến xe tiễn, nước mắt ngắn, nước mắt dài. Đứa nào cũng muốn theo bố ra Hà Nội, rồi nghẹn ngào dặn đi, dặn lại: - Chủ nhật thế nào bố cũng về với chúng con đấy nhá! Thực tế, mỗi lần về quê nghỉ phép hay nghỉ bù những ngày lễ tết và chủ nhật phải làm ca; tôi thấy chú đi sắm sửa khối thứ: nào bánh kẹo, nào quần áo, nào giầy dép. Chắc chẳng phải chỉ dành riêng cho bố mẹ mà cả cho vợ và các con gái chú nữa! Đó là toàn bộ lai lịch về chú Biên, mà tôi chắp nhặt được qua những câu chuyện chú kể, tâm sự với bố mẹ tôi, hoặc với chú Bảy Choắt và với cả bọn trẻ con chúng tôi nữa. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng
TỔ CÁ
Từ hôm tôi chỉ điểm tổ cá quả, cũng như nghe những chuyện câu cá quả của chú kể, là tôi thấy mê. Tôi kết thân với chú từ đấy, và chú hứa sẽ truyền cái nghề câu cá quả cho tôi. Chú bảo: - Chú không có con trai nên chẳng biết truyền cái nghề chú đã để tâm, tích lũy kinh nghiệm từ bé cho ai cả! Hôm ấy là ngày 29 tháng 4; tôi còn nhớ như in: vì hôm sau là ngày 30 tháng 4, ngày giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước; học sinh chúng trôi cũng được nghỉ học. Đi học về, men theo bờ hồ sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất; bỗng nghe thấy tiếng cá quẫy rõ to dưới bụi cúc tần. Tôi dừng lại nghó nghiêng. Một đám nước đục ngầu, đường kính đến hơn một mét. Hai con quả đang bơi quyện vào nhau. Lần đầu tiên tôi thấy một hiện tượng kỳ lạ như thế. Sau một phút do dự, tôi nghĩ: - Phải về hỏi chú Biên xem sao? Ba chân bốn cẳng, tôi chạy một mạch về nhà, cất cặp sách rồi sang nhà máy. Chú Biên đang điều chỉnh máy bơm dầu. Thấy tôi, chú ra hiệu là chú đang bận. Điều chỉnh dầu, cho máy chạy; xong việc, chú mới ra gặp tôi. Chú vui vẻ hỏi: - Có việc gì tìm chú đấy cháu? - Chú đi với cháu ra kia đi. Cháu mới phát hiện ra một chỗ có hai con quả chú ạ. Nhưng kỳ lạ lắm, chúng cắn đuôi nhau, rồi quẫy ùm ùm dưới bụi cúc tần ở bờ ao gần Nhà máy xe đạp Thống Nhất ấy. Chú cười khà khà, xoa đầu tôi: - Cháu được việc lắm. Tin tình báo có giá trị đấy! Nhưng chưa câu được cháu ạ. Chúng mới kết bạn với nhau, đang tìm chỗ làm tổ đấy. Chú bá vai, kéo tôi ra phía sau nhà máy. Bầu trời trong xanh, lác đác có một vài đám mây trắng mỏng manh, lững lờ trôi về phía tây. Chú hướng mắt chăm chú nhìn về phía đông; ngẫm nghĩ một lúc, chú bảo: - Gần sáng mai trời sẽ mưa, lúc đó cá mới đẻ. Không cần ra xem đâu cháu ạ. Đánh động, cá sẽ bỏ đi chỗ khác mất. Đợi cá đẻ xong, ra câu là chắc ăn nhất. Giọng nói của chú đầy vẻ khẳng định, chắc như đinh đóng cột. Tạm biệt chú Biên, về nhà, tôi thì cứ băn khoăn: liệu có đúng không nhỉ? Trời đang trong xanh như thế thì làm sao mưa được? Nhưng chú Biên có nói sai bao giờ đâu! Sáng hôm sau tỉnh dậy, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy những vũng nước mưa còn đọng trên sân. Ngồi trên giường, tôi hỏi mẹ: - Tối qua trời mưa à mẹ? - Gần sáng trời mưa to lắm, sấm chớp đùng đùng, anh em con ngủ say, không biết đấy thôi. Tôi thầm nghĩ: - Chú Biên tài thật, dự báo thời tiết như thần, chính xác hơn cả Đài tiếng nói Việt Nam. Nhảy ra khỏi giường, đánh răng, rửa mặt qua loa. Chẳng kịp dặn mẹ một câu, tôi chạy bổ ra bờ hồ. Sau trận mưa tối qua, nước từ khắp nơi đổ về hồ đục ngầu, dâng cao tới gần mép đường. Tiếng chão chuộc, tiếng ếch nhái: chạc chạc, chuộc chuộc; ộp ộp, ẹc ẹc; kêu vang trong bụi cỏ, bụi tre, trong các bè rau muống ở xung quanh hồ. Một dàn đồng ca đến vui tai, như lọt vào giữa cánh đồng của vùng thôn quê. Nếu như mấy hôm trước, người ta chỉ thấy một màu xanh cằn cỗi bao trùm lên tất cả các bè rau muống; thì sáng nay, chúng như vừa được thay một bộ áo mới: Một màu xanh non mơn mởn. Những ngọn rau muống non vừa mới nhú còn yếu ớt, run rẩy trước gió; như cố vươn cao, vươn xa để đón những tia nắng ban mai. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng
Hồi hộp và tò mò, tôi rón rén đi tới bụi cúc tần. Lạ thay, mặt nước lặng như tờ. Hay nó bỏ đi chỗ khác rồi? Tôi thầm nghĩ. Nhưng nhìn kỹ hơn, tôi thấy một đám màu vàng mật ong, to bằng miệng bát múc canh; gồm những hạt tròn vo, to bằng hạt tấm, kết lại với nhau. Trên lá cúc tần rả xuống mặt nước, cũng thấy lác đác những hạt như vậy. Thôi! Đúng rồi, ổ trứng cá. Tôi xuýt kêu lên vì sung sướng. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ổ trứng cá quả mới đẻ như thế nào? Không dám đứng lâu để ngó, sợ có người khác theo dõi; tôi vội vã trở về nhà, chạy sang bên nhà máy khoe với chú Biên ngay:
- Cá đẻ rồi chú ạ! Tuy là ngày nghỉ, nhưng chú vẫn phải trực ca, phòng khi điện lưới yếu, hoặc mất thì phải chạy máy ngay. Chú chỉ ghế cho tôi ngồi, rồi hỏi: - Nói cho chú nghe xem, ổ trứng trông nó thế nào? Tôi vừa dùng tay ra hiệu, vừa diễn giải như mới phát hiện ra một điều gì mới mẻ. Tôi mô tả tỉ mỉ, không bỏ sót một chi tiết nào, tất cả những gì tôi đã quan sát được: kích thước ổ, màu sắc, kích thước quả trứng. Kể cả những chi tiết: có những quả trứng bám trên lá cúc tần, sự lặng lẽ và không một bóng sinh vật ở vùng nước bao quanh ổ trứng. Tôi mô tả tuy có phần lộn xộn, nhưng khi nghe tôi trình bày xong, thấy nét mặt của chú Biên có vẻ hài lòng thực sự. Chú còn thanh minh như có ý để tôi thông cảm về sự nghi ngờ của chú đối với nguồn thông tin vừa rồi: - Chú phải hỏi cho chính xác. Vì mùa này, cũng là mùa sinh nở của bọn chẫu chuộc, ếch nhái. Chúng cũng đẻ trứng dưới nước, trong giữa các bụi khoai nước, bè rau muống hay dưới bụi cúc tần. Nếu không tinh, dễ nhầm sang ổ trứng của chúng. Trứng chẫu chuộc cũng có kích thước tương tự, thường có màu vàng thẫm; ở giữa có chấm đen, nhưng số lượng trứng ít hơn; màng nhầy bao trứng nhiều hơn. Chú nói tiếp: - Đã bắt đầu mùa cá quả đẻ rộ rồi đấy cháu ạ! - Sao chú biết ? Tôi hỏi lại chú. - Biết chứ! kinh nghiệm mà cháu. Chú trả lời tôi giọng đầy tự tin. Tôi chợt nhớ ra chuyện dự đoán trời mưa vào sáng nay, tôi hỏi: - Sao chú biết rạng sáng nay có mưa rào? Chú nghe đài có phải không? Chú cười, rồi nói: - Chú làm gì có đài mà nghe! Người ngoài Hành tinh báo cho chú đấy! - Nói đùa thế thôi, chứ dự đoán thời tiết vào chiều hôm qua là quá dễ cháu ạ. Có câu: “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”. Qua hàng ngàn năm trải nghiệm, quan sát các hiện tượng tự nhiên, ông cha ta đã đúc kết ra câu tục ngữ này. Chiều tối hôm qua, tuy vòm trời vẫn trong xanh, nhưng khi nhìn về phía đông, chú thấy dưới chân trời lóe lên những ánh chớp. Cháu biết đấy, Trái Đất quay từ tây sang đông. Do đó, đến thời điểm gần sáng, chỗ chúng ta ở sẽ gặp cơn mưa lớn. - Chú giỏi thật đấy! Tôi tỏ ra tâm phục, khẩu phục. Chú bảo: - Làm cái nghề câu này cũng phải biết dự báo thời tiết, lúc nào trời mưa, lúc nào trời nắng chứ. Có khi phải tính được thời tiết cho hai ba ngày sau; nhất là vào mùa đông. Trước khi gió mùa đông bắc tràn về, bao giờ thời tiết cũng trở nên ấm áp, có phần oi ả. Cá quả thường ra sưởi ấm và tranh thủ kiếm chút mồi cho cái dạ dày đã bị lép kẹp sau nhiều ngày giá lạnh, không kiếm được mồi. Do đó, việc dự báo chính xác thời điểm gió mùa đông bắc tràn về trước khoảng ba bốn giờ đồng hồ là hết sức quan trọng. Đi câu cá quả vào thời điểm này sẽ thắng to; trong vòng ba hoặc bốn giờ đồng hồ, ở những ao đầm nhiều cá quả, có thể kiếm được dăm bảy con đằng khác. Vào thời điểm mùa xuân thì ngược lại, khi bắt đầu xuất hiện gió nồm nam trở lại, thời tiết sẽ trở nên ấm áp; câu cá quả mới có hiệu nghiệm. Cho nên, muốn làm nghề câu cá, cũng phải thuộc những câu tục ngữ này: - Chớp đằng đông, mưa dây mà tát; - Cỏ gà màu trắng, điềm nắng đã tắt; - Cóc nghiến răng, đang nắng thì mưa; - Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước; - Kiến dọn tổ thời mưa; - Ráng mỡ gà thời gió, ráng mỡ chó thời mưa; - Mống cao gió táp, mống áp mưa rào; - Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật; - Mống vàng trời nắng, mống trắng trời mưa; - Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa; - Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi; - Mây kéo xuống bể thì nắng chói chang mây kéo lên ngàn thì mưa như trút; - Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa; - Mặt Trời có quầng thì hạn, Mặt Trăng có tán thì mưa; - Quạ tắm thì nắng, sáo tắm thì mưa; - Rồng đen lấy nước thời nắng, rồng trắng lấy nước thời mưa; - Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; - Rễ si đâm ra trắng xóa, mưa to gió lớn hẳn là tới nơi... |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng
Chú đọc một thôi một hồi, làu làu. Một số câu tôi hiểu, nhưng cũng có một số câu, từ tôi chẳng hiểu gì cả, cũng chưa nghe bao giờ. Tôi hỏi chú:
- Mống, ráng là gì? Có con rồng thật ư? Chú đã trông thấy nó lấy nước bao giờ chưa? Nghe câu hỏi ngô nghê của tôi, chú giải thích: - Mống là một đoạn cầu vồng, hiện lên ở phía chân trời. Mống xuất hiện trên bầu trời, báo hiệu sắp sửa có mưa dông. - Ráng là hiện tượng ánh sáng mặt trời chiếu vào các đám mây mưa, làm rực lên các màu sắc: vàng đỏ, hồng sẫm. Hiện tượng này thường nhìn thấy vào lúc rạng đông hoặc chiều tà. - Rồng là hình tượng một con vật linh thiêng: đầu nghê, mắt phượng, mày ngài, mình rắn, chân có vuốt, biết bay; không có trong tự nhiên. Chẳng qua do người Trung Hoa tưởng tượng ra. Họ cho rằng, rồng được Ngọc Hoàng ở trên trời phái xuống làm mưa cho hạ giới. Vào mùa hè, trong những đám mây dông, thường xuất hiện những chiếc lưỡi dài hình phễu, có đường kính tới hàng trăm mét, người ta gọi là vòi rồng. Nó có sức mạnh ghê gớm, không chỉ hút nước mà nó có thể cuốn tất cả những gì gặp trên đường đi; kể cả nhà cửa, cây cối, trâu bò, lợn gà...Đó là hiện tượng thời tiết thường thấy ở nước ta vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè. Vòi rồng thực ra là những cơn lốc, tập trung một nguồn năng lượng cực lớn, trong một vùng hạn hẹp; nhưng sự tàn phá của nó thì thật khủng khiếp, như một trận bão lớn, gió giật trên cấp 13. Chú giảng giải hay thật, làm cho tôi biết thêm nhiều điều về thời tiết. Nhưng làm sao nhớ nổi. Hẹn lúc nào rảnh, tôi mang vở sang, nhờ chú đọc chép lại. Sốt ruột về cái tổ trứng mới phát hiện vào sáng nay; tôi giục chú: - Bây giờ ra câu đi chú? - Đang là ca trực của chú, đi thế nào được cháu! Vả lại, chưa thực sự cần thiết cháu ạ. Còn bốn năm hôm nữa trứng mới nở thành ấu trùng; khi đó chú cháu mình đến câu mới chắc ăn. Rồi chú tiếp tục giảng giải: - Trong số cá nước ngọt, cá quả là loài khôn ngoan nhất, có trách nhiệm với con cái, biết cách bảo vệ, kiếm mồi và dạy con bắt mồi cho đến khi cá con có thể tự bảo vệ mình trước kẻ thù. Khi đó, cá bố mẹ mới rời đàn con. Trong thời gian chăn giắt đàn con, cá bố mẹ sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ đàn con của chúng. Sau bốn năm tháng, cá con mới bắt đầu tách đàn đi kiếm ăn một mình; sau một năm chúng đến tuổi trưởng thành và bắt đầu đi tìm bạn đời. Cá bố mẹ thường trong cùng một đàn, nhưng cá bố có đầu to hơn mình, nhỉnh hơn cá mẹ một chút. Cá mẹ có đầu nhỏ hơn mình và có thân hình thon thả hơn cá bố. Khi đã kết đôi, chúng sống chung thủy với nhau trọn đời. Nhưng cũng có một số trường hợp, vì một lý do nào đó; cá đực bị mồ côi vợ, cá cái bị mất chồng thì chúng cũng “tái giá”. Do đó, có những đôi cá rất cọc cạch: cá cái to hơn nhiều so với cá đực và ngược lại, có khi câu được con cá đực rõ to rồi; nhưng khi câu con cái lên, nó chỉ bằng một nửa. Sau những ngày đông lạnh giá, gió mồm nam đưa không khí ấm áp trở lại, xuất hiện mưa xuân. Mưa xuân không chỉ làm cây cỏ tốt tươi mà cũng thúc dục những loài lưỡng cư, các loài cá đi tìm bạn tình, thực hiện nghĩa vụ duy trì nòi giống. Cá quả cũng rời chỗ ngủ đông, đi tìm mồi, tìm bạn tình, tìm chỗ làm tổ. Sau tết âm lịch khoảng một tháng, bắt đầu xuất hiện những tổ quả đẻ sớm nhất. Nhưng chỉ khi xuất hiện những cơn mưa “rửa đền” vào dịp giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, và những trận mưa rào cuối tháng 4 đầu tháng năm; cá quả mới đẻ rộ. Cá quả đẻ hai lần trong một năm. Đợt đầu vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè, ổ trứng to hơn nhiều so với đợt đẻ lần hai vào cuối thu. Do đó, tùy thuộc vào trọng lượng của cá mẹ và thời điểm đẻ trứng, mà ổ trứng của chúng to nhỏ khác nhau. Cá mẹ tròn một năm tuổi, đẻ ổ trứng đầu tiên chỉ nhỉnh hơn quả cau một chút. Cá bố mẹ ba bốn tuổi, đạt trọng lượng từ bốn đến sáu lạng, ổ trứng đẻ lứa đầu to bằng miệng bát múc canh, nhưng lứa thứ hai vào cuối năm, chỉ còn lại bằng miệng bát ăn cơm. Những đôi quả quá già, trọng lượng từ hai đến ba kilô trở lên, ổ trứng lại rất nhỏ, chỉ bằng miệng bát ăn cơm, hoặc nhỏ hơn đôi chút. Do đó, nhìn đàn rồng rồng, cũng có thể đoán biết được trọng lượng của cá bố mẹ. Đàn rồng rồng càng đông, nghĩa là cá bố mẹ đang thời kỳ sung sức, trọng lượng đạt từ năm đến bảy lạng. Trước khi đẻ trứng, cá bố mẹ tìm đến chỗ kín đáo, có nguồn nước sạch để làm tổ. Tất nhiên, tổ quả không giống tổ chim rồi. Cá quả bố mẹ dùng bộ răng sắc nhọn, cắn nát những đám rau muống, cây cỏ hoặc cánh bèo Nhật Bản, bèo cái; tạo ra một khoảng trống hình tròn. Cá bố mẹ một năm tuổi, tổ chỉ bằng miệng rá vo gạo; cá bố mẹ ba bốn tuổi, miệng tổ bằng cái sàng. Cá bố mẹ càng to thì kích thước tổ càng lớn. Sau khi dọn tổ xong, cá bố mẹ lùng sục rất kỹ vùng nước xung quanh, trong vòng bán kính từ ba đến năm mét; đuổi sạch hết lũ săn sắt, tôm, cua, ếch, nhái; kể cả bọn rắn mòng và các loài cá khác, rồi mới đẻ trứng vào đó. Đẻ xong, cá mẹ làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài; cá bố canh gác vòng trong, nằm ngay cạnh tổ. Đấy là thời kỳ canh gác vất vả nhất của cá bố mẹ. Mùi tanh của trứng thu hút bọn ếch nhái, tôm cua và rắn mòng đến; nên chúng phải canh gác cẩn thận. Đến khi trứng nở thành cá con, công việc canh giữ của cá bố mẹ càng phải cẩn thận hơn. Vì khi đó, lại xuất hiện một kẻ thù nguy hiểm nhất đối với đàn con của chúng. Đó là loài cá săn sắt. Tạo hóa sinh ra hai loài cá có mối thù truyền kiếp với nhau, hoặc có thể vì sự đấu tranh sinh tồn của mỗi loài mà chúng luôn luôn trở thành đối thủ của nhau: Cá săn sắt thường là miếng mồi hấp dẫn đối với cá quả. Tục ngữ có câu: “Thả con săn sắt, bắt con cá rô”, chú cho là không phải thế. Cá rô và cá săn sắt như là hàng xóm thân thiện của nhau, và cùng có chung một kẻ thù là cá quả. Do vậy, đúng ra phải là: “Thả con săn sắt, bắt con cá quả”. Những con quả trưởng thành, gặp cá săn sắt ở đâu là đớp ngay; cũng không phải vì đói, mà là bản năng bảo tồn giống nòi, diệt trừ những kẻ sẽ gây hiểm họa cho đồng loại về sau. Chính vì vậy, người ta hay bắt cá săn sắt để làm mồi nhử cá quả. Để tránh những hậu họa, loài cá săn sắt cũng hình thành một bản năng tự vệ: tìm cách tiêu diệt loài cá quả ngay khi còn trong trứng nước. Chúng thường tập trung số đông, rình mò, tìm thời cơ. Khi cá quả bố mẹ mất cảnh giác, lập tức chúng đồng loạt tấn công vào đàn quả con. Cuộc chiến có vẻ như không cân sức, một số săn sắt cũng bị hy sinh; nhưng cũng không ít cá quả con bị tiêu diệt. Nếu một trong số cá bố hoặc cá mẹ; vì lý do nào đó bị bắt hoặc bị chết; việc bảo vệ đàn con trước sự tấn công của cá săn sắt là hết sức khó khăn. Trong những trường hợp như vậy, cá bố hoặc cá mẹ trẻ không bảo vệ nổi đàn con của mình; đành phải đứng nhìn, bất lực trước sự tấn công từ khắp phía của bầy cá săn sắt vào đàn con thơ dại, rồi bỏ đi. Do vậy, đàn quả con lúc mới nở thì rất đông, hàng ngàn hàng vạn con, bơi đen cả mặt nước; nhưng đến khi cá quả con có thể tự bảo vệ được mình trước sự tấn công của cá săn sắt, số lượng còn lại chỉ vài trăm con. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng
Khi cá quả con bằng đầu đũa, chúng gặp phải sự đe dọa của rắn mòng (rắn bùn). Rắn mòng là loài rắn nước, không có nọc độc, đôi mắt trông lờ đờ, nhưng dưới nước nó rất nhanh; ép mình trong rễ của bè rau muống, bèo Nhật Bản; hoặc đầm mình dưới bùn, chờ đợi đàn quả con bơi qua là đớp liền. Những tổ cá quả của cá bố mẹ một năm tuổi, chưa có kinh nghiệm cũng như sức mạnh bảo vệ quyết liệt đàn con của mình; khi trưởng thành, đàn chỉ còn lại vài chục con là nhiều.
Một điều trớ trêu thay, trong môi trường tự nhiên, luôn luôn song hành đồng thời hai loài cá này: ở đâu có cá quả, là ở đó có cá săn sắt. Thời kỳ đang ấp trứng, cá bố mẹ cũng canh giữ cẩn thận, nhưng khi trứng nở thành ấu trùng (rồng rồng con) rồi; cá bố mẹ liều mình bảo về đàn con bằng bất cứ giá nào. Đợi trứng nở thành cá quả con rồi mới câu, chắc chắn sẽ tóm được cả đôi. Với lại bốn hôm nữa, vào đúng chủ nhật, cháu được nghỉ học, chú được nghỉ ca. Hai chú cháu mình cùng đi. Mải nghe chú Biên kể chuyện, tôi quyên cả ăn sáng; mãi khi em Quang sang gọi, tôi mới rời được chú Biên. Thấp thỏm đợi đến ngày chủ nhật. Thấy tôi dậy sớm, mẹ tôi hỏi: - Hôm nay chủ nhật, không phải đi học, con dậy sớm làm gì? - Chú Biên hẹn, nhờ con chút việc! Mẹ không vấn hỏi chú Biên nhờ tôi việc gì? Chỉ dặn, xong việc rồi về ăn sáng. Đánh răng, rửa mặt xong, tôi vào khu tập thể của nhà máy gọi chú Biên. Chú Biên vẫn còn ngủ, vì đêm qua chú trực ca. Chú Bẩy Choắt ở cùng phòng với chú Biên cũng đã dậy. Chú đang lau chùi chiếc xe Cub sừng hươu-máy cánh ở ngoài hè. Nghe đâu chú mua lại của một tay thủy thủ tàu viễn dương, giá những hai cây vàng. Vợ chú bán cả đôi hoa tai, của “hồi môn” duy nhất của bố mẹ cho khi đi lấy chồng. Bố mẹ cho thêm 5 chỉ, vợ chú và chú cũng phải vay thêm bạn bè, họ hàng; mỗi người một vài chỉ mởi đủ tiền. Chiếc xe màu ốc bươu đã bị bong sơn một số chỗ nên chú Biên gọi là chiếc “Cub gẻ”, nhưng nó lại là tài sản lớn nhất của vợ chồng chú, ngang giá với căn nhà 4 gian xây gác tường và cái thổ 5 sào đất của bố mẹ chú ở quê. Dưới bàn tay chăm chút và gìn giữ của chú Bẩy Choắt, lúc nào trông nó cũng bóng mượt. Sở dĩ chú Bẩy có biệt danh là “Bảy Choắt” vì chú vừa bé, vừa thấp; chỉ cao khoảng 1m55-1m56, và chưa đầy 48 kilô. Chú Biên bảo: - Bố mẹ chú Bảy trông có đến nỗi nào! Cô em gái chú cao to lừng lững. Có lẽ chú Bảy khôn quá nên người mới choắt lại! Chú Bẩy cũng là người vui tính, hay kể chuyện tiếu lâm. Hai chú ở với nhau xem ra rất hợp, mặc dù dáng dấp có phần đối chọi nhau: người cao, kẻ thấp; chẳng khác nào thày trò hiệp sỹ Don Quixote và Sancho Pauza ở xứ Mantra trong truyện Đôkihôtê của nhà văn Tây Ban Nha Xecvantex. Vừa trông thấy tôi, chú Bẩy trêu ngay: - Chào anh bạn, sang thăm bố vợ sớm thế! Chả là chú Biên có ba cô con gái: cô lớn nhất còn kém tôi bốn năm tuổi. Có lẽ thấy tôi lúc nào cũng cặp kè với chú Biên, nên trêu cho vui, chứ không có ý gán ghép gì. Còn tôi thân với chú Biên vì nhiều nhẽ: Chú Biên vui tính, quý bọn trẻ con chúng tôi. Tôi quý trọng sự cư sử hào hiệp của chú ấy... Chứ thực tình, tôi còn rất trẻ con, chưa có một khái niệm gì về chuyện chú Bảy trêu. - Cháu sang rủ chú ấy đi câu ạ! Tôi bẽn lẽn trả lời. Chỉ vào chiếc ghế con, đóng bằng những miếng gỗ nhặt nhạnh trong nhà máy; chú Bẩy bảo: - Ngồi uống nước cái đã, còn sớm chán. Chú Biên đêm qua trực ca, còn đang “kéo gỗ”. Tôi ngồi xuống cạnh chú Bẩy, giả vờ như cũng rất quan tâm đến công việc lau xe của chú ấy; chứ tâm trạng tôi lúc này: mong chú Biên dậy. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng
Chú Bẩy vẫn hì hụi lau từng bộ phận trên chiếc xe một cách say sưa, gần như không để ý đến chuyện tôi sang tìm chú Biên nữa và tiếp tục trêu:
- Làm rể chú Biên cũng được đấy. Vùng quê “Cầu Tõm” lắm cá, nhiều tôm. Nhưng đi ăn hỏi phải có rổ khoai lang đấy nhé (ý chú muốn nhắc chuyện ra sông rửa khoai, 10 củ thành 11 củ). - Nhưng chú bảo này, cái giống nhà chú Biên chỉ có đẻ con gái thôi. Chú rút ra quy luật rồi: - Nhà nào đẻ toàn con gái; đời sau, con gái họ cũng chỉ đẻ con gái. Cháu thấy đấy: nhà vợ chú Biên có ba chị em gái; nhà vợ bác Thắng Trắng (bác Thắng, phó giám đốc nhà máy, lớn tuổi hơn chú Bẩy và chú Biên, có nước da trắng) cũng ba chị em gái; cô Mây vợ bác Khâm, giám đốc nhà máy; đẻ ra cái Vân, cái Hà, cái Phương; bạn của cháu nhá (không biết có đúng thế không? Đâu tôi có biết lai lịch nhà vợ chú Biên, nhà vợ bác Thắng và nhà cô Mây). Có phải rặt một lũ con gái không? Vẫn cái giọng trêu chọc, có phần khôi hài nữa, làm chú Biên tỉnh giấc. Từ trong nhà, chú Biên nói vọng ra: - Thôi đi, ông! Đừng có nói phét nữa. May cho ông đấy. Vợ ông không đi cầu Trời, khấn Phật thì lấy đâu ra thằng chống gậy cho ông sau này (ý nói đứa con trai thứ ba của chú Bẩy là con cầu tự). Chú Bẩy chuyển giọng ngay: - Ông dậy rồi đấy à. Cháu nó sang đợi lâu rồi đấy. Nói chuyện cho vui thôi, chứ có gì đâu! Đã có lần, chú Biên xạc chú Bẩy về chuyện gán ghép trẻ con với nhau. Chú bảo: - Không nên lấy chuyện của người lớn ra đùa với trẻ con. Chú Biên đã nhớ lời hẹn: - Cháu sang rồi à, đợi chú một lát nhá! Chú vội vã gấp màn, ra hè đánh răng, rửa mặt. Nhìn thấy chú Bẩy vẫn còn mải mê lau từng cái tăm xe máy, chú cũng chẳng kém cạnh: - Cố giữ lấy cái xe này ông ạ. Bảo tàng xe máy Nhật sắp sang mua lại của ông đấy. Của độc mà. Phải ra giá thật cao vào ông ạ! Chẳng biết chú Biên nói thế là thật hay đùa, nhưng chú Bảy Choắt tỏ ra từ tốn: - Của bền tại người ông ạ. Đúng là xe máy Nhật tốt thật. Chục năm rồi chứ chơi đâu, thế mà chỉ hết một lít rưỡi thôi ông ạ (ý nói 1,5 lít xăng trên 100 km); khẽ đạp một cái là nổ ngay. Vừa đánh răng, chú Biên vừa hỏi: - Ông pha chè chưa? - Rồi! Chỉ đợi ông dậy nữa thôi! Kéo cái ghế con ngồi, chú Biên với tay lấy chiếc điếu cầy để cạnh bờ tường. Vỗ đánh bốp một cái vào miệng ống, cho rơi bã ra khỏi lõ điếu; vê vê điếu thuốc mới nhồi vào, bật lửa hút một hơi dài. Khói trắng từ miệng chú phun ra trông như rồng bay, phượng múa. Khà một tiếng, chú khen: - Đúng! Thuốc lào Tiên Lãng của vợ ông cho quá ngon đi. Nhưng lần sau, ông để tôi gửi tiền nhá! - Chuyện vặt! Rồi chú Bẩy giãi bày: - Vợ tôi cảm động mãi lần ông về thăm thằng con trai tôi tròn tháng. Cho nên, trong lòng bà ấy lúc nào cũng đau đáu một điều: có cái quà gì gửi biếu ông. Biết ông nghiện thuốc lào; bà ấy bảo dì Thi, làm ở Nhà máy thuốc lào Tiên Lãng lấy về, biếu ông một ít. Có phải mua đâu mà chi ly. - Nhưng tôi nghĩ ngợi lắm! Có phải một lần đâu? Chú Biên thanh minh. Ba chén nước chè Thái rót ra còn đang bốc hơi nghi ngút. Biết tôi không uống được nước chè; chú lấy phíc nước sôi, rót vào một chén cho loãng ra, đưa cho tôi: - Uống đi cháu! Rồi chúng ta đi. Tôi thì muốn đi ngay, nhưng chú Biên chẳng để ý đến sự sốt ruột của tôi. Khề khà, chuyện phiếm với chú Bẩy đến khi uống hết nước hai. Bảo tôi vào trong nhà cầm chiếc túi đựng bát câu treo trên tường ở phía đầu giường. Chú vươn vai đứng lên, rút chiếc cần câu gác trên hiên. Như sực nhớ ra điều gì, chú quay lại dặn chú Bẩy: - Ông ở nhà đi chợ cái nhá. Ra chợ Láng ấy. Mua mấy thứ về nấu canh cá. Nhớ mua vài cây xà lách và dăm quả ớt tươi; canh cá mà không có ớt thì chẳng ra gì đâu. Chú cháu tôi đi đây! - Yên chí, sẽ có ngay. Nhưng có chắc ăn không đã? Chú Bẩy tỏ vẻ nghi ngờ. Cũng có đôi lần, chú Biên vác cần câu đi cả buổi rồi về tay không, nên sự nghi ngờ của chú Bẩy cũng không thừa. - Không! Không thể về không được. Tin tình báo của cháu tôi là chắc ăn một trăm phần trăm rồi! Ra khỏi nhà, chú Biên nói nhỏ với tôi: - Thằng cha này tính cẩn thận lắm, giữ xe như giữ mả tổ! Đến đầu ngõ, đáng lẽ rẽ phải ra phía bờ hồ, chú lại rẽ trái đi vào trong xóm. Đường trong xóm tôi chẳng lạ gì, đi ra đầu phía tây nam Hồ Ba Sáu, chứ đâu đi ra phía tổ cá. Ngỡ chú nhầm, tôi nhắc: - Tổ cá ở sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất chú ạ! - Chú nhớ rồi, nhưng giờ phải đi kiếm con mồi cái đã. Thì ra là như vậy! Chúng tôi đi qua con hẻm ngoằn ngoèo trong làng, qua con mương, qua dãy nhà E1 bốn tầng Thái Thịnh; qua cầu bê tông, rồi rẽ vào khu đất hàng chục hecta bỏ hoang phía sau Trường phổ thông cơ sở Thái Thịnh và Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội. Ở đấy có những thùng đấu ngập nước, hai cái lò gạch cũ đã đổ nát, còn lại những bức tường nham nhở. Bên kia con mương, một hồ sen rộng mênh mông đến tận Trường Nguyễn Ái Quốc. Đi qua một bãi cỏ um tùm, chúng tôi đến một cái ao khá rộng. Bờ ao mọc đầy cỏ dại. Chú Biên đưa tôi cầm cần câu, rồi chỉ tay vào bụi cỏ nước: - Bọn nhái xanh thường sống trong đám cỏ nước. Nó khờ khạo hơn gống nhái đất, nên dễ bắt hơn. Thấy động là nó nhảy tõm xuống nước, nhưng lặn không lâu đã nhoi lên khỏi mặt nước để thở. Còn bọn nhái đất, đã nhảy xuống nước là nó dũi mất tăm; không phát hiện được nó chui lên chỗ nào trong bụi cỏ rậm hay dũi xuống bùn nữa! Vừa giảng giải, chú vừa khua cái chân dài ngoẵng xuống bụi cỏ. Thấy động, bốn năm con nhái xanh, đồng loạt nhảy tõm xuống nước; rồi bơi vội lên, bám vào các bui cỏ khác. Nhanh như cắt, chú chộp những con vừa mồi câu, bỏ vào túi nylon nhỏ mà chú đã chuẩn bị sẵn từ ở nhà. Chỉ một nhoáng, chú đã tóm được năm sáu con, đủ mồi câu cho cả buổi. Dùng dây cao su buộc túm một đầu. Cẩn thận, chú lấy mũi lưỡi câu, đục thủng mấy lỗ, để có không khí cho bọn nhái thở. Chúng tôi đi về phía hồ dài. Đúng như lời dự đoán của chú Biên; cái tổ trứng vàng óng cách đây bốn hôm, nay đã nhung nhúc những con ấu trùng, đen nhánh bơi đầy mặt nước; giống như tổ cá lần đầu tiên tôi phát hiện ở ao phía sau nhà máy. Quan sát một lúc, chú Biên đưa ra nhận xét: - Tổ cá này khó bắt đây, lại vướng bụi cúc tần nữa! Chú móc túi, bắt ra một con nhái. Khác với cách mắc mồi mà tôi đã quan sát được ở lần trước. Lần này, chú vặt bỏ hai cẳng sau; mắc gọn con mồi lên phía thân lưỡi câu. Chẳng cần để tôi hỏi, chú Biên giải thích: - Những tổ quả làm sát bên đường đi, cá bố mẹ đã dạn dày với con người. Do đó, không câu bóng được. Phải câu chọc tức cá bố mẹ mới có thể tóm được. Mồi nhử phải mắc gọn, cốt để cho cá cắn nhầm phải lưỡi câu. |
Mắc xong mồi, chú khẽ buông câu vào đám rau muống gần sát tổ rồng rồng; nhấp nhấp con mồi giống như động tác nhấp nước của con gián nước: khẽ nhô lên, thụt xuống giữa những cánh rau muống. Năm phút, mười phút, hai mươi phút, nửa tiếng, rồi một tiếng. Không có động tĩnh gì. Tôi sốt ruột hỏi khẽ chú Biên:
- Hay ai bắt mất cá bố mẹ rồi? - Chưa đâu! Chú Biên khẽ trả lời. Phải kiên trì cháu ạ. Chú thay đổi chiến thuật, đưa con mồi vào giữa tổ làm đám rồng rồng con dạt ra bốn phía. Rồi lại đưa con mồi ra phía ngoài tổ, quây đàn con lại. Cuối cùng, chú cũng phải thốt nên: - Con quả bố này ranh ma lắm, biết mồi giả nên không ăn. Lúc này cũng phải đến tám giờ sáng. Ánh nắng Mặt Trời mùa hè bắt đầu trở nên chói chang. Chú Biên giục tôi vào tránh nắng dưới gốc tre. Chừng năm phút sau, chú Biên cũng cuốn câu đi về phía tôi. Chú nhoẻn miệng cười: - Sắp có kết quả rồi cháu ạ! Nghỉ cho đỡ nóng cái đã. Mồ hôi ướt đẫm trên áo chú. Nghỉ khoảng mươi mười lăm phút; chú cầm cần câu đứng lên, tôi cũng ra theo. Sự kiên trì nhấp mồi của chú cuối cùng cũng có kết quả. Cá bố không chịu nổi sự hành hạ những đứa con của nó, đã bắt đầu phản ứng: Lấy mõm đẩy con mồi ra khỏi đàn con. Lần này chú Biên đưa mồi vào giữa tổ, khuấy mồi thật mạnh, làm tan tác cả đàn con. Cá bố tức giận đớp mạnh vào con mồi. Sợi dây câu căng thẳng băng, tiếng quẫy nước ùm ùm. Chỉ đợi có thế. Chú Biên nhấc cần câu lên. Con quả chỉ cắn mớm vào lưỡi câu; vừa lên đến bờ, rơi đánh bịch một cái xuống bãi cỏ. Thì ra nó đã bị sứt mép. Không đợi chú Biên phải nhắc; bằng hai tay, tôi chộp vào gáy con quả, bỏ ngay vào túi vải. - Cũng phải nửa cân! Chú Biên nhận định. Thấy chú Biên cuộn cước, tháo ròng rọc, tôi hỏi: - Thôi không câu nữa à chú? - Câu nữa chứ! Nhưng để cá mẹ kịp hoàn hồn cái đã. Kéo tôi vào quán nước gần đấy. Bà chủ quán rót hai chén nước chè Thái. Thấy tôi có vẻ không hào hứng lắm; chú Biên biết ý, bảo bà rót riêng cho tôi một cốc nước trắng. Cầm chiếc bình thủy tinh đựng bánh rán, chú lấy ra bốn chiếc, loại hai hào. - Ăn đi cháu! Chú mời tôi. Tất nhiên là tôi muốn ăn rồi, nhưng cũng phải giả vờ từ chối cho có phép lịch sự: - Cháu ăn sáng rồi mà! Sáng nào cô Cúc chả mang bánh cho anh em cháu. Chú Biên cũng biết điều ấy, nhưng chú bảo: - Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân. Ăn với chú cho vui! Cầm chiếc bánh rán ăn, tôi nhận ra ngay là bánh rán của lò nhà cô Cúc. Cái thời ấy vất vả: Cô Cúc vợ bác Quản; bác Quản là bạn học với bố tôi từ hồi đi Ba Lan. Quen biết nhau dạng bác cầu như vậy, nhưng hai gia đình thân nhau lắm. Cô là giáo viên dạy ở Trường Thái Thịnh và làm thêm cái nghề làm bánh rán để có đồng ra đồng vào. Thức khuya dậy sớm: ngâm gạo xay bột, rán bánh, đưa bánh. Nghĩa là làm từ A đến Z. Chẳng biết một đêm cô ngủ mấy tiếng, nhưng trước khi đi dạy học, cô đã đưa bánh tới tất cả các quán ở phố Thái Thịnh, khu lăng Hoàng Cao Khải, khu chợ Láng và không quên: giành cho anh em tôi hai ba chiếc; nhưng cũng có hôm đưa không hết bánh, còn lại cả chục cho chúng tôi. Ngồi nghỉ khoảng mười lăm phút; đủ để kịp ăn bánh, uống nước. Chú còn tranh thủ rít một hơi thuốc lào cho đỡ thèm. Trên đường đi về phía tổ cá, chú bảo: - Bắt được con bố rồi, bắt con mẹ nhanh thôi; còn chưa bắt được con bố thì còn lâu mới bắt được con mẹ. Trong trường hợp bắt được con mẹ trước, thì khó có thể bắt được con bố. Giống cá quả là như vậy! Vẫn con mồi cũ, chú sửa lại đôi chút cho gọn. Nhấp nhấp mấy cái vào giữa tổ rồng rồng. Con quả mẹ phản ứng ngay, nhưng nó không đớp; chỉ ngậm con mồi, rồi nhả ra ngay. Phải một lúc sau mới thấy chiếc cần câu trong tay chú Biên uốn cong. Con quả đã đóng câu. Chú nhẹ nhàng nhấc lên bờ. Thật là hoàn hảo. Suốt cả mùa hè năm ấy, nhờ có chú Biên chỉ bảo; tôi đã phát hiện được đến mười chín hai mươi tổ cá ở các ao trong phường Trung Liệt. Ao dài cạnh bể bơi: sáu tổ; ao trước Học viện Thủy lợi: bốn tổ; ao trước Đại học Công đoàn: ba tổ; ao nước chấm Thuận Hưng: năm tổ; ao cạnh cầu sắt, nay là Trạm biến áp Đống Đa: hai tổ. Chú luôn luôn giữ nguyên tắc chia đôi, mỗi người một nửa số cá câu được. Tôi cũng rút ra được kinh nghiệm tìm tổ cá: Cá quả thường làm tổ dưới bụi cây, giữa các bè rau muống, cách bờ khoảng một vài mét; hoặc những nơi kín đáo, có mạch nước chảy ra. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Đất Nam Hà- Nguyến Hữu Hùng
ĐẤT NAM HÀ
Chú Biên chẳng những giỏi câu cá; cái nghề thợ máy, chú cũng rất giỏi. Mới ra công tác được bảy tám năm, nhưng tay nghề của chú được các bác thợ lớn tuổi khen ngợi. Bác Cường Đầu Bạc, một trong số công nhân có tay nghề cao của nhà máy, đã trên hai mươi lăm năm thâm niên công tác. Nói về chú Biên, Bác nhận xét: - Thằng cha này khá thật đấy. Chỉ cần nghe tiếng máy chạy là nó đã có thể đoán được máy trục trặc ở chỗ nào rồi. Kinh nghiệm này chỉ có thể có được ở những người thợ bậc cao. Phải nói chú là người ham đọc sách. Những lúc rỗi rãi, kể cả khi trực ca; chú thường hỏi tôi mượn những sách khoa học thường thức, truyện cổ tích, truyện thiếu nhi mà bố mẹ mua cho chúng tôi. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ chú đọc để giết thời gian; nhưng mỗi khi chuyện trò với chú, tôi mới thấy chú có ý thức trao dồi kiến thức: văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật; nên chuyện gì chú cũng biết. Chả vậy mà bọn trẻ con chúng tôi rất thích nghe chú kể truyện cổ tích, truyện danh nhân văn hóa mà chú đọc từ những cuốn sách: “Những vì sao đất nước”. Những nhân vật nổi tiếng trong các truyện giã sử của Trung Quốc, từ thời Xuân Thu-Chiến Quốc đến thời Mãn Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc; chú đều nhớ và kể vanh vách. Kể cả những truyện cho trẻ em mà chúng tôi đã đọc như: “Đất rừng Phương Nam”. Nhưng khi nghe chú kể lại đoạn đi câu rắn mòng, chúng tôi cứ tưởng chú là nhân vật trong truyện. Chú bảo: - Cái giống rắn mòng rất háu ăn. Cứ nhập nhoạng tối là rời tổ đi lùng sục, chẳng cần biết là mồi thật hay mồi giả. Vật gì có mùi tanh là đớp liền. Hồi ở quê, chú bực nhất là nó hay chui vào những cái đó, cái lờ đơm tôm tép, bắt cá của chú. Chén sạch hết tôm cá, bụng phồng căng như khúc dồi lợn, rồi nằm im, mắt lim dim, không hề dẫy dọn. Nghe nói, dân miền Tây (Tây Nam Bộ) nghiện món rắn mòng, luộc chấm mắm tiêu; nhưng ở quê chú, không ai ăn loại rắn này, nên khi bắt gặp, chú tức lắm, đập dập đầu, quăng đi. Chú đặc biệt tự hào về cái quê hương Bình Lục- Nam Hà của chú. Chú bảo: - Nam Hà là đất của văn vật; đất của thơ ca. Trống đồng được phát hiện ở làng Ngọc Lũ từ nhưng năm đầu thế kỷ 20, có tới hai ngàn năm tuổi. Những hoa văn trên mặt trống đã từng là các đề tài của biết bao các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Mười hai đời vua nhà Trần phát tích từ đất Tức Mặc, ngoại thành Nam Định. Lương Thế Vinh, nhà toán học lỗi lạc đầu tiên của người Việt Nam, sinh ra ở đất Vụ Bản. Lãnh tụ Trường Chinh, người duy nhất hai lần giữ chức Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam sinh ra ở đất Hành Thiện, phủ Xuân Trường. Nhà thơ Tú Xương được coi là “Cột trụ vàng của nền văn học đất Sơn Nam”, sinh ra tại Vị Xuyên TP Nam Định. Thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, ai mà chẳng thuộc. Trống đồng Ngọc Lũ đã được ghi vào trong sách lịch sử, thì tôi cũng biết sơ sơ; thơ của Tú Xương, tôi cũng được đọc qua một số bài như “Đất Vị Hoàng” mà ngày nay, hình ảnh của bài thơ vẫn còn đậm nét ở một số gia đình trong phường Trung Liệt. Bài “Sông lấp” với các câu: - Sông kia rày đã nên đồng, Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai. - Vẳng nghe tiếng ếch bên tai, Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Tôi ngỡ là những câu ca dao. Nhưng thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, nghe cứ lạ hoắc. - Thơ của cụ ấy có hay không chú? Tôi hỏi. - Hay chứ! Cháu có thuộc các bài Thu vịnh, Thu điếu của cụ không? Có trong sách giao khoa đấy! - Cháu thuộc làu làu. Nhưng là của nhà thơ Nguyễn Khuyến chứ, chú! - Đọc cho chú nghe bài “Thu vịnh” xem nào? Tôi tỏ ra tự tin, đọc một mạch, không sai một từ: - Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu, .................................................. ., Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. - Cháu khá lắm. Tên cúng cơm của cụ Nguyễn Khuyến là Thắng. Thời thanh niên, cụ học rất giỏi nhưng một lần đi thi Hội không đỗ. Để thể hiện sự quyết tâm học tập của mình, cụ đổi tên là Khuyến: có nghĩa là cố gắng. Năm 1864, đi thi Hương: cụ đỗ giải Nguyên. Năm 1871, cụ vào kinh đô Huế thi, cụ đậu cả thi Hội, thi Đình. Chính tay vua Tự Đức hồi đó viết tặng cụ hai chữ “Tam Nguyên”. Do đó, người đời thường gọi là cụ “Tam Nguyên Yên Đổ”, nghĩa là cụ Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đổ, đỗ đầu ba giải: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Tôi chẳng hiểu chú moi đâu ra những tư liệu ấy, đành hỏi cho ra nhẽ: - Chú đọc ở sách nào mà chú biết nhiều thế? - Các cháu không biết là phải. Còn chú, chú phải biết. Chú là người làng Yên Đổ mà. - Ra là như thế! Tôi thầm nghĩ. Rồi chú cao hứng: - Đất Nam Hà, cứ ai tên là “Cao” đều tài giỏi cả. Nam Cao viết truyện ngắn khó ai bì kịp. Quốc ca của Văn Cao, sống mãi trong lòng người dân Việt Nam. Bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao thì đám thanh niên, ai cũng thuộc làu làu. Còn cái nhà anh Phan Cao, đá bóng mới tài chứ; suýt nữa đưa đội Brazin đoạt Cúp vàng. Nói đến đây chú cười lên khùng khục. Còn đám bọn trẻ con chúng tôi thì cứ ngớ người ra. Long Búa Liềm, được bọn trẻ con chúng tôi coi là thằng có bản lĩnh và can đảm. Mới học lớp 4, nhưng có lần, tức với ba mẹ (bố nó người miền Nam, nó gọi là ba; mẹ nó người miền Bắc, nó gọi là mẹ -phân biệt rõ ràng như vậy); lẳng lặng nó bỏ nhà đi. Lần ấy, ba mẹ nó lo sốt vó; đạp xe đi tìm ở khắp mọi nơi. Khi tìm về nhà ông bà nội ở bãi Phúc Xá, ngoài bờ sông Hồng, đã thấy nó ở lù lù ở đấy rồi. Mọi người vô cùng ngạc nhiên, hỏi bằng cách nào mà nó mò về được nhà ông bà nội; nó thản nhiên trả lời: - Chẳng phải hỏi ai cả, nếu có hỏi, người ta lại bảo trẻ con trốn nhà đi lang thang, mang vào đồn công an nhốt. Cứ theo đường tàu điện mà đi; từ bến xe điện gò Đống Đa, đi mãi lên phía bờ Hồ; vừa đi vừa ngắm cảnh phố xá; rồi từ ga tàu điện Bờ Hồ, theo đường tàu điện qua phố hàng Đào, hàng Ngang lên chợ Đồng Xuân, là đã về đến bãi Phúc Xá. Lần này nó tỏ ra hiểu biết thực sự, lên tiếng cãi lại ngay: - Chú cứ làm như bọn cháu không biết Phalcao là ai ấy. Phalcao là người Brazin, chứ đâu phải là người Nam Hà mà chú vơ vào. Lúc này chú Biên tỏ ra hơi lúng túng, nhưng chú vẫn nói như có vẻ khẳng định: - Đất Nam Hà nhà chú có truyền thống đá bóng. Chẳng gì, một thành phố có những hai đội bóng A1: Dệt Nam Định, Thanh niên Nam Hà; từng tranh thứ hạng nhất nhì với các đội Thể Công, Công An, Bưu Điện, Đường Sắt, Xi măng Hải Phòng. Chú đã tìm hiểu kỹ lai lịch ba đời của cầu thủ Phan Cao rồi: Ông nội của Phan Cao là người của đất thành Nam, vốn là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, đã từng được gọi vào đội tuyển Quốc gia. Ông ấy bị bắt vào lính lê dương, đi đánh nhau ở Angiêri; rồi sang định cư ở Brazin, lấy vợ người gốc Tây Ban Nha. Phan Cao là đời thứ ba của dòng họ Phan ở Brazin. Chú Bảy Choắt ngồi nghe từ hồi đầu câu chuyện, đến giờ mới lên tiếng: - Thôi đi bố ơi! Con lạy bố. Phalcao mũi lõ chứ đâu mũi tẹt. Mà phải đọc là Phal- lờ cao chứ đâu đọc Pha-nờ thấp như tiếng Nam Hà nhà bố. Bố chỉ được cái giỏi lừa bọn trẻ con thôi! Đến lúc này, chú Biên phải thừa nhận trước mặt bọn trẻ con chúng tôi: chú muốn thử sự hiểu biết của chúng tôi về các cầu thủ bóng đá trong đội tuyển Brazin thôi. Nhưng quả thật, lời nhận xét của chú về cái tên “Cao” cũng rất thú vị. Một số nhân tài của tỉnh Nam Hà đều có tên là “Cao” thật: Nhà văn Nam Cao quê ở làng Đại Hoàng, xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân; nhạc sỹ Văn Cao tuy sinh ở Hải Phòng nhưng gốc gác là người làng An Lễ, cùng xã Liên Minh với nhà thơ Vũ Cao, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng
VÀO NGHỀ
Mùa đông đã đến, cũng là kết thúc một mùa câu. Đi theo chú Biên, tôi võ vẽ biết cầm cần câu, tuy vút chưa được xa, cuộn cước vào bát chưa được gọn; nhưng chú Biên nhận xét: tôi bắt đầu có thể vào nghề câu được. Chú đèo tôi lên chùa Xã Đàn. Trước cổng chùa có một bụi tre hóp, cây nào cũng thon thả, cao đến bốn năm mét. Thoạt trông thì có vẻ chặt bất cứ cây nào cũng có thể dùng làm cần câu được. Tôi đứng ở ngoài trông xe, chú đi thẳng vào trong chùa. Chẳng biết chú có quen ai trong chùa không? nhưng một lúc sau, tôi thấy tay chú cầm một con dao rựa đi ra. Chú đi đi lại lại quanh bụi hóp ngắm nghía một hồi lâu, rồi mới quyết định chọn một cây gần giữa bụi. Chú bảo: - Chặt cây ở giữa bụi tuy có khó khăn, nhưng thường là được những cây thẳng và già. Những cây mọc ở rìa, dễ chặt nhưng thường bị cong. Dưới con mắt của tôi lúc bấy giờ, cây hóp này gốc hơi to, gióng lại ngắn, ngọn hơi nhỏ; trông không được đẹp lắm. Mang dao trả nhà chùa, khi quay trở lại; chú bảo: - Họ không lấy tiền, chú bỏ vào hòm công đức năm nghìn cho có lộc. Cây hóp tuy được lựa chọn kỹ, nhưng cũng có một vài đoạn không được thẳng. Mang ra phía vườn sau nhà máy, chú lấy ba cái cọc tre, đóng xuống đất; gài đoạn cong của cây hóp vào chiếc cọc giữa. Lấy giẻ, tẩm dầu ma-zút, đốt lửa hơ vào chỗ đoạn cong. Chú giải thích: - Hiếm khi tìm được một cần câu hoàn hảo. Cái căn bản nhất là phải tìm được cây hóp già, gốc to, gióng ngắn, ngọn thon vút; còn một vài chỗ khiếm khuyết, cong giữa cần, có thể khắc phục được, bằng cách uốn nó dưói lửa như cách chú đang làm. Ở chợ Hà Đông, chợ Bưởi và trên Hàng Điếu, người ta cũng bán cần câu, nhưng hầu hết là cần câu trúc. Cần câu trúc tuy dẹp, nhưng giòn, dễ bị gẫy. Họ cũng bán một vài cần câu hóp, nhưng đa phần là hóp bánh tẻ. Làm hàng để bán, trông mã thì đẹp, nhưng chỉ năm sau là bị mọt. Tục ngữ có câu “Tre già là bà gỗ lim”. Do đó, cái thứ cần câu này phải chọn được cây hóp già đanh; chặt vào cuối năm, khi nhựa của nó đã rút xuống hết gốc, mới tránh được mối mọt sau này. Cuối cùng, chú cũng làm cho tôi một chiếc cần câu quả mà mãi sau này, tôi mới nhận thức được hết giá trị của nó: Không chỉ có hình dáng đẹp, khỏe; lại không sợ mối mọt. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn giữ, như là vật kỷ niệm. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng
Ăn tết xong, chú vào chợ Hà Đông, mua tặng tôi bảy mươi mét cước số 2; ba chì câu, ba ròng rọc sứ và một chiếc bát câu gỗ mít, tiện rất công phu.
Chú Biên gọi là bát câu, chứ thực ra nó chẳng có lấy được một đặc điểm nào của cái bát. Đúng ra là một cái vòng gỗ tròn, đường kính tới hai nhăm hai sáu centimet; dày ba bốn centimet, tựa dáng vành xe đạp. Mặt cắt ngang của vành có dạng hình chữ V. Mặt ngoài vành có một rãnh sâu cũng tiện hình chữ V; sâu từ 1-1,5 centimet. Lưỡi câu, chú tự làm lấy. Chú bảo: - Cước số 1 thì chắc đấy, nhưng to quá, cá dễ nhận ra dây câu; cước số 3 thì hơi nhỏ, dễ bị đứt; cước số 2 là vừa phải. Chú lựa chọn con số bẩy mươi, vì chú cho rằng: 70 là con số đẹp, tuy hơi dài, nhưng sẽ thoải mái cắt đi mỗi lần phải buộc lại lưỡi câu. Lưỡi câu ở chợ họ uốn cũng đẹp và khéo, nhưng do làm hàng, thép không được tốt: dễ bị oãi, nhanh rỉ, mau cùn. Chú thửa cho tôi một bộ câu quả, gồm ba lưỡi, làm bằng nan hoa xe đạp của loại thép không rỉ. Tranh thủ lúc nghỉ trưa, chú lấy kìm, dũa, cắt ngạnh, uốn trên một cái giá gỗ, có hai đinh đóng so le. - Chú sáng tạo ra hay chú đã bắt chiếc người ta làm? Tôi hỏi chú: Không hề tự ái, chú thành thật: - Lưỡi câu rô, câu trê, đa phần sản xuất hàng loạt, bằng máy; bán đầy ở các quầy hàng xén ở chợ; còn lưỡi câu cá quả, thường sản xuất đơn chiếc. Chất liệu để làm lưỡi câu rất quan trọng, phải chọn được loại thép nhỏ, nhưng cứng và dẻo. Khẩu độ cong ở lưỡi câu cho từng loại cá cũng khác nhau. Người chế tạo ra nó phải có kiến thức về cấu tạo mồm cá. Do đó, khẩu độ cong thế nào là vừa; cong thoải hay cong tròn. Loại lưỡi câu nào thích hợp cho mồm của cả cá bé lẫn cá lớn. Tất cả phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng thợ câu. Ở quê chú, những thợ câu cá quả đều tự tay chế tạo lấy lưỡi câu. Họ cũng bí mật về hình dạng lưỡi câu; kể cả cách mắc mồi câu. Về cách thức làm lưỡi câu, có lẽ là giống nhau; nhưng về hình dạng lưỡi câu, là khác nhau đấy. Chắc chắn lưỡi câu cá quả ở Hà Nội khác với lưỡi câu cá quả ở Nam Hà. Lưỡi câu và cách mắc mồi câu cá quả ở miền Bắc, chắc khác với miền Trung và miền Nam. Nửa đùa nửa thật, chú bảo: - Đây là lưỡi câu quả mác “made in Namha”; giật cá quả ba bốn kilô cũng không oãi được đâu cháu nhá. Chú còn mua cho tôi một chiếc dũa con ba cạnh, giống như dũa móng tay của chị em phụ nữ. Chú dặn: - Phải thường xuyên kiểm tra mối buộc cước vào lưỡi câu. Nếu đã bị cắn xơ, phải cắt bỏ đi, buộc nút mới. Lưỡi câu lúc nào cũng phải dũa sắc. Sau tết ta khoảng một tháng, thời tiết đã trở nên ấm áp. Mưa xuân nhè nhẹ mang sức sống lại cho muôn loài. Cỏ cây trút dần những tấm áo vàng úa. Thay vào đó là những mầm xanh mơn mởn. Từ các bụi cỏ, cúc tần, các vạt rau muống quanh hồ gần nhà tôi; tiếng kêu ro ro của dế; tiếng chuộc chuộc, chạc chạc của loài chẫu chuộc; tiếng cóc, nhái kèng kẹc; tiếng ếch ồm ộp. Tất cả hòa thành một dàn đồng ca, râm ran từ tối cho đến mờ sáng ngày hôm sau. Chú Biên bảo tôi: - Mùa câu đã đến rồi cháu ạ. Ngày mai chủ nhật, chú cháu ta đi khai trương cần câu mới. Sau giờ trực ca thứ bẩy, chú rủ tôi đi cùng ra ruộng rau muống cạn, trước cổng Trường đại học Công đoàn bắt mồi. Chú giải thích: - Mùa đông, ếch nhái gần như nhịn ăn. Chúng ngủ kỹ trong hang hốc rất khó phát hiện. Mùa xuân, bắt đầu mùa sinh sản. Rời hang, chúng tìm đến nơi có nước như hồ ao, hố nước. Đấy cũng là địa điểm lý tưởng để chúng tận hưởng thú vui ngày xuân và cũng là để duy trì nòi giống. Chúng làm tình với nhau suốt đêm, tìm đến những chỗ có nước đẻ trứng; gần sáng mò lên ruộng rau, tìm bắt những con sâu, con bọ ra ăn lá non. Đánh chén no say sau một đêm vui vẻ; lũ nhái đất tìm vào những chỗ kín đáo ẩn náu: như bụi cây, bụi cỏ, làn rau muống; chờ màn đêm buông xuống, chúng lại đi vui vẻ tiếp. Chú vạch các bụi cỏ quanh bờ ao, ruộng rau muống. Chỉ một loáng, chú đã tóm được hai ba con nhái đất. Tôi cũng bắt chước chú, một tay vạch bụi cỏ, tay kia lăm lăm, sẵn sàng; nhưng không phát hiện được con nào cả. Chú giảng giải cho tôi một lần nữa: - Tìm vào những bụi cỏ có hốc kín, có những cái hang nông. Nhưng phải cảnh giác. Trong hang, đôi khi cũng bắt gặp rắn hổ mang, rất nguy hiểm. Quả nhiên, chú ý quan sát; tôi cũng phát hiện và tóm được một con nhái đất, nhưng to quá cỡ. Chú bảo: - Thôi cũng được! Mùa này không cho phép kén chọn con mồi vừa ý. Sẽ có cách khắc phục khi mắc mồi. Trên đường về nhà, chú dặn tôi, sáng mai phải dậy sớm, ăn cơm cho no cái bụng mới đủ sức đứng câu. Học bài xong, tôi tắt đèn đi ngủ; nhưng chẳng hiểu sao, nằm mãi, mắt cứ mở trừng trừng. Tôi nghĩ đến buổi câu ngày mai mà lòng rạo rực, mong trời chóng sáng. Rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi nghe tiếng mẹ tôi gọi: - Minh! Dậy đi con. Chú Biên sang rủ con đi câu đấy! Tôi bật dậy như chiếc lò xo, nhảy vội xuống đất. Cũng chẳng kịp đi dép, tôi ngó đầu ra cửa. Trời đã sáng bạch. Chú Biên đang đứng đợi trước cửa, phì phèo hút thuốc. Chú nhoẻn miệng cười và như hiểu được tâm trạng của tôi lúc này: - Còn sớm cháu ạ. Ăn sáng cho no, rồi sang chú nhá. Tôi cảm thấy có lỗi, vì đã để chú phải đợi. Vội vã đi đánh răng, rửa mặt. Mẹ đốt bếp dầu, rang cho tôi một bát cơm, đập thêm quả trứng gà của nhà nuôi được. Tôi là đứa rất thích ăn cơm rang, trộn nước mắm; nhưng hôm nay không còn có thời gian để vừa ăn, vừa nhâm nhi, thưởng thức cái hương vị đó nữa. Và ào ào, cố để nhét thật đầy những hạt cơm vào miệng; nuốt vội, nuốt vàng, chẳng kịp nhai. Bữa sáng kết thúc chóng vánh. Quên cả uống nước, đội mũ. Tôi rút vội cần câu và túi đựng bát câu, lao ra cổng. Mẹ phải chạy theo, chụp cái mũ giang rộng vành lên đầu tôi. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng
Chú Biên đang ngồi uống nước chè cùng chú Bẩy Choắt. Vừa trông thấy tôi, Chú Bẩy Choắt kêu lên ngay:
- Ô! Trông giống thợ câu chính hiệu ra phết. Ngồi xuống đây uống nước cái đã! - Cám ơn chú, cháu uống nước đầy đủ cả rồi. Tôi lấp liếm trả lời. Chú Biên vẫn chậm rãi uống nước, cặn kẽ hỏi tôi: - Sao cháu ăn nhanh thế? Đã no chưa? - Cháu ăn no rồi chú ạ. Thực tình lúc đó, tôi chẳng biết no hay đói nũa. Tôi chỉ thấy cái bụng lưng lửng, như đã ăn cái gì quá chán! Rít xong điếu thuốc lào, nhấm chén chè đặc cuối ấm, chú mới từ từ đứng dậy đi chuẩn bị đồ câu. Vừa chuẩn bị chú vừa dặn lại chú Bẩy Choắt: - Ông đừng đợi cơm tôi nhá. Chẳng biết lúc nào về đâu? Chú Bẩy Choắt hỏi lại: - Hôm nay có chắc ăn không? Tôi đi chợ mua mấy thứ về nấu canh chua nhá. - Không cần thiết đâu! Nếu kiếm được, về qua chợ Láng, tiện thể tôi mua luôn cũng được. Chú Biên đáp lại. Chúng tôi đi tắt qua xóm ra phía đường Láng. Tiết trời mùa xuân thật dễ chịu: Nắng xuân dịu dịu, gió nồm nam thổi nhè nhẹ. Bầu trời như có vẻ cao hơn, xanh hơn. Lác đác có một vài đám mây trắng trôi từ từ về phía tây bắc. Cây cối bắt đầu đâm chồi, màu xanh của cỏ cây dần dần trở lại. Chẳng để ý gì đến mọi vật xung quanh, tôi muốn đi thật nhanh đến chỗ câu. Ngược lại với tâm trạng của tôi, chú Biên vẫn nhởn nhơ con cá vàng, như để thưởng thức cho thỏa thích cái không khí mát lành của đầu mùa xuân. Giọng rè rè như tiếng ống bơ rỉ; vừa đi, chú vừa ngâm nga khe khẽ điệp khúc: “Em ơi mùa xuân đến rồi đó! Em ơi mùa xuân đến rồi đó...” Chúng tôi dừng lại ở Cống Mọc. Khi đó, ở Cống Mọc chưa có cái chợ cóc lộn xộn như bây giờ. Chỉ có cây cối um tùm mọc kín bờ phía đường Láng. Dưới sông, các bè rau muống đã bắt đầu hồi sinh trở lại sau những ngày đông giá, nhú ra những mầm non mơn mởn, tranh nhau chiếm lĩnh các khoảng nước trống và vươn lên không trung. Giữa những bè rau muống, là những khe nước trống, thẳng tắp, từ bờ sông bên này sang bờ bên kia; lất phất những mảng bèo tấm màu xanh lá mạ loang lổ trên mặt nước. Chú đang ngó nghiêng tìm chỗ đứng câu, thì có hai người đạp xe đến. Một trạc tuổi chú, một trông có vẻ già hơn. Mỗi người vác trên vai một chiếc cần câu như của chúng tôi; nhưng có vẻ cũ kỹ, đã ngả màu vàng xỉn. Họ chào chú Biên trước: - Chào anh Biên. Gớm! Lâu lắm rồi mới gặp. Có khỏe không? Hôm nay cũng đi câu khai xuân à? - Vâng! Chào hai bác. Cám ơn, tôi vẫn bình bình. Ngày hai bữa cơm no, nhưng thiếu cái chất tanh tanh. Hôm nay có cháu ở quê lên chơi. Tiết trời lại đẹp, chú cháu tôi đi kiếm chút về cải thiện. Chỉ vào tôi, chú trịnh trọng giới thiệu: - Đây là cháu tôi, mới ở quê lên. Thợ câu chuyên nghiệp của Nam Hà đấy! Tôi cảm thấy hơi ngượng vì lời giới thiệu quá đáng của chú. Miệng lí nhí: - Cháu chào hai chú! Nhìn hình dáng bề ngoài và cách ăn mặc; hơn nữa, nếu là dân thợ câu ở vùng quê, suốt ngày phơi nắng ngoài đồng thì lấy đâu ra nước da trắng trẻo như trẻ con thành phố. Chú thợ câu già tỏ vẻ nghi ngờ: - Cháu lên Hà Nội chơi với chú Biên hay làm ăn? Tôi chưa biết trả lời ra sao? Chú Biên đỡ lời ngay: - Cả hai: Vừa là để thăm tôi, vừa là để xem đất Hà Thành, có làm ăn được không? Rồi chú tảng lờ sang chuyện khác: - Hôm nay thời tiết đẹp thế này, chắc ăn đây. Hai bác ở lại câu với chú cháu tôi chứ! - Đâu dám làm phiền đến chú cháu anh. Chúng tôi lại đằng kia. Nói xong, hai người thợ câu vội vàng đạp xe về phía Ngã Tư Sở. Chú Biên nói với tôi như thể thanh minh về những lời quảng cáo có phần hơi quá: - Dân thợ câu Hào Nam đấy. Tuy là dân Hà Nội chính gốc, nhưng họ giỏi nghề kiếm cá lắm. Đánh ba tiêu, đánh lục; câu cá diếc, cá quả; món nào họ cũng thạo. Họ đi khắp các hồ trong thành phố Hà Nội; lên cả hồ Tây đánh ba tiêu, đánh lục; ra ngoại thành sang phía Gia Lâm, Đông Anh; đi về phía nam, xuống tận Văn Điển, Phú Xuyên, Thường Tín. Nhưng cái món câu cá quả thì họ phải nể chú. Biết chú là thợ câu Nam Hà, nên gặp chú đứng câu ở đâu là họ chuồn đi chỗ khác ngay. Vì vậy, chú phải nói đại lên như thế để họ nể. Cánh thợ câu là như vậy. Thấy thợ câu nào giỏi hơn mình là lảng xa, tìm chỗ khác đứng câu; may còn kiếm được một con. Tôi ngờ nghệch hỏi: - Tại sao vậy? Chú cười và bảo: - Tại sao ấy à! Đứng cạnh thợ câu giỏi chỉ có ăn cám! Cá ăn mồi của người ta chứ đâu ăn mồi của mình. Trừ những con quả nào chưa tiếp cận với mồi câu bao giờ, nó mới cắn câu. Chú chọn cho tôi một chỗ, mà theo nhận định của chú, có nhiều cá: Bè rau muống to, nước sâu; có những rạch giữa bè rau loáng thoáng những đám bèo tấm. Chú mắc mồi mẫu cho tôi, dặn đi dặn lại: phải làm thế này..., thế này nhá. Chú đi tìm chỗ khác, cách chỗ tôi đứng khoảng hai ba trăm mét. Trước khi đi, chú còn dặn: - Phải kiên trì cháu nhá. “Vạn sự khởi đầu nan”. Hôm nay mà thành công thì cả năm trúng quả đấy cháu ạ! Tôi háo hức cầm cần câu lên. Bắt chiếc chú Biên, tựa đốc câu vào bụng, tung con mồi theo rạch giữa bè rau muống. Nhưng chẳng hiểu sao, con mồi cứ rơi đánh tõm một cái, chỉ cách bờ bảy tám mét là cùng. Làm đi làm lại đến nửa tiếng sau, chiếc cần câu mới chịu tuân theo cánh tay điều khiển của tôi. Con mồi đã tung được xa hơn, cước ở bát câu xả đều: rèn rẹt, rèn rẹt. Nhưng cái đoạn điều khiển con mồi sao cho giống con nhái bơi thì quả là chẳng dễ chút nào. Lúc thì con mồi chìm xuống sâu, lúc thì con mồi nổi cao; lúc thì con mồi lướt quá nhanh, rồi đột ngột chìm sâu dưới nước. Cái động tác tay trái cuốn cước, tay phải rung cần, kết hợp cùng lúc sao mà khó thế. Chính vì những động tác kết hợp không chuẩn xác, không nhịp nhàng giữa hai tay, cơ bụng của tôi, khiến con mồi bơi không giống con nhái thật. Nó đúng là con mồi giả, bất cứ động vật nào ở dưới nước cũng nhận ra, chứ nói gì đến giống cá quả khôn ngoan kia. Thỉnh thoảng, tôi lại tung con mồi đánh tũm một cái, làm tung tóe cả nước; bằng đánh động cho cá chạy, chứ đâu phải nhử cá! Đứng câu như vậy được chừng gần hai giờ đồng hồ. Không thấy một con cá nào ra đuổi hoặc đớp mồi, tôi bắt đầu thấy chán. Cuộn cước vào bát câu, tôi ngồi phịch xuống bờ cỏ, ngán ngẩm đưa mắt nhìn về phía chú Biên. Chú Biên vẫn cần mẫn. Chú không tỳ cần câu vào bụng như mấy lần câu cá tổ. Dùng hai tay nắm đốc câu, giơ cao qua dầu, vút mạnh về phía trước. Động tác này còn khó hơn động tác tỳ đốc câu vào bụng nhiều. Vì khi vút đi, tay cầm bát câu phải thật nhanh, xả cước ra. Bằng cách vút này, mồi câu văng xa tới hai nhăm ba mươi mét; chứ không phải mươi mười lăm mét, như động tác tỳ đốc câu vào bụng. Tôi vác cần câu đi về phía chú Biên. Như hiểu tâm trạng của tôi vào lúc này, chú hỏi ngay: - Chán rồi phải không? - Dạ! Chán lắm rồi chú ạ. Chẳng có con nào ăn cả, đuổi mồi cũng không. Tôi ngao ngán trả lời. Chú Biên vẫn không ngừng tay vút cần. Vừa câu, chú vừa chuyện trò với tôi. Chú bảo, chắc chắn ở chỗ ấy có cá, nhiều nữa đằng khác. Nhìn váng nước chú biết mà. Chú buông cần, ngồi xuống vệ cỏ. Rút điếu thuốc lá cuộn trên túi áo ngực, châm lửa hút. Chú thì thào nói với tôi như sợ có người khác nghe được: - Hôm nay cá phàm ăn lắm, kiên trì cháu ạ. Rồi chú chỉ vào cái túi vải buộc vào cụm cỏ, để dưới bờ sông: Hai chú quả rồi đấy, toàn là khá cả. Tôi men xuống bờ sông, nhấc thử lên xem. Hai con quả hoa tươi nguyên; mỗi con phải đến bốn năm lạng. Đợi chú Biên hút thuốc xong, tôi mạnh dạn đề nghị chú đổi chỗ. Có lẽ lời đề nghị của tôi cũng trúng ý chú. Chú bảo tôi đưa bộ cần câu và cái túi để đựng cá còn trống rỗng của tôi cho chú. Chú dặn tôi phải kiên trì, đừng chán nản, rồi vác cần câu đi về chỗ tôi đứng câu lúc trước. Tôi mắc lại mồi cẩn thận, tự nhủ mình phải cố gắng. Ngay đường câu đầu tiên, rõ ràng một con quả đuổi theo mồi; rồi chẳng hiểu sao, lại hụp mất tăm. Tôi kiên trì đứng câu, nhưng cũng chỉ được khoảng hơn một giờ đồng hồ nữa, chân tay rã rời. Tôi thấy đói, đói thực sự. Lúc này tôi mới thấm thía lời dặn của chú Biên chiều qua. Tôi nghĩ đến bát cơm rang buổi sáng còn thừa, nghĩ đến những chiếc bánh rán vàng ngậy của cô Cúc, nước miếng cứ ứa ra. |
TRUYỆN CÁ QUẢ -Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng
Ngồi xuống bờ cỏ một lúc cho qua cơn đói. Tôi quyết định bỏ về. Cuộn cước vào bát, rút ròng rọc ra khỏi cần câu. Xách túi cá, tôi đi lại chỗ chú Biên.
Chú Biên vẫn miệt mài với những đường câu của mình, chẳng để ý đến mọi việc xung quanh; tôi đến lúc nào, chú cũng không hay. Ngồi xuống vệ cỏ, ngắm những đường câu vút dài gần tới bên kia bờ sông của chú Biên; tay trái cuốn cước thoăn thoắt, tay phải rung cần, sao mà nhịp nhàng, sao mà khéo thế. Đang cuốn cước vào bát câu, bỗng thấy chú dừng tay như để nghe ngóng điều gì. Sợi dây câu có vẻ hơi chùng xuống một chút, rồi lại căng thẳng băng. Tôi hiểu là cá đã cắn câu, nhưng ở quá xa nên không nghe thấy tiếng đớp mồi. Bằng một động tác dứt khoát, nhưng không quá mạnh; giật cần câu về phía sau. Ngọn cần câu bắt đầu cong vút. Con quả mắc câu ra sức kéo dây câu vào sâu trong bè muống. Chú Biên, một tay vẫn cuốn cước từ từ vào bát, tay kia điều khiển cần câu để tìm cách lôi con quả ra khỏi bè rau. Cuộc giằng co giữa con quả và chú Biên kéo dài đến hai ba phút. Cuối cùng, con quả bị lôi ra khỏi bè rau, phơi cái bụng trắng phếc trên mặt nước. Nhắc con quả hoa đen chũi, đến bốn năm lạng lên khỏi mặt nước, quay mặt về phía đường; lúc đó, chú mới nhận ra tôi đang ngồi ngay sau lưng chú. Chú nhoẻn miệng cười khì khì. Bỏ cần câu xuống bờ cỏ, đi lại chỗ con quả đang cố nhoài ra phía sông. Cầm sợi dây câu, nhắc con quả lên. Chú chỉ cho tôi xem cũng là để giảng giải: - Phải nhận biết được con quả ăn mồi như thế nào trước khi giật. Thông thường, cá quả gắng hết sức đuổi con mồi, đớp mạnh rồi quay ngoắt lại. Trong trường hợp này, giật theo hướng ngược lại, lưỡi câu sẽ đóng sâu vào phần má có thịt như con cá này. Đóng câu như vậy thì rất chắc, không bị tuột, hoặc bị sứt môi. Nhưng cũng có một số con không háu ăn lắm, hoặc đã no mồi. Với bản tính tự nhiên của loài cá săn mồi, khi thấy một con cá nhỏ nào bơi qua; nó miễn cưỡng đớp một nhát. Ngậm con mồi nghe ngóng. Nếu mồi thật, nó không ngần ngại, xốc thêm một nhát nữa vào sâu trong họng. Còn phát hiện ra mồi giả, nó nhả ra ngay. Mặc dù không còn háo hức như lúc buổi sáng nữa, nhưng nghe chú giảng giải, tôi lại thấy mê. Tôi chưa thực sự hiểu lắm, nên hỏi lại chú: - Biết thế nào là cá nuốt ngay, còn khi nào thì biết nó chưa nuốt? - Biết chứ! Mọi hành động của con cá cắn câu đều được phản ảnh qua dây câu, truyền vào cần câu, đến tay người cầm cần. Nhưng chỉ có những người đã câu nhiều, giật cá nhiều mới có được khả năng nhận biết được. Vừa trả lời, chú vừa nắm gáy con quả để tháo lưỡi câu. Tôi đưa cái túi đựng cá quả cho chú. Nhưng không, chú bảo tôi xuống lấy cái túi của tôi để ở dưới bờ sông. Thì ra chú đã tóm được một con, cỡ bốn lạng. Bỏ con quả mới câu được, cỡ trên bốn lạng vào túi của tôi. Vẫn một động tác rất quen thuộc, chú chùi tay vào đám cỏ cho sạch nhớt cá; sau đó, chùi tiếp vào cái vạt áo bảo hộ lao động đang mặc trên người chú không còn được sạch sẽ cho lắm. Ngồi xuống vạt cỏ, móc điếu thuốc lá cuộn để trên túi áo ngực, châm lửa hút. Chú tiếp tục giảng giải: - Con quả nào đớp mồi, lôi mạnh làm díu cần, là con quả ăn mồi ngay. Trường hợp này thường xảy ra đối với những con quả bé, mới đến tuổi trưởng thành; chỉ khoảng một lạng rưỡi đến hai lạng. Con quả nào đớp mồi không nuốt ngay, tức là nó còn đứng tại chỗ để nhằn mồi. Người thợ câu lúc này phải tỉnh táo, không được chùng dây câu, mà phải kéo căng dây câu, làm động tác như con mồi dãy dụa, muốn thoát ra khỏi miệng cá. Lúc này, lập tức con quả xốc thêm một nhát nữa để nuốt sâu con mồi. Trong trường hợp này, phải giật câu theo hướng gần vuông góc với hướng đứng câu về bên phải hay bên trái. Những con quả to thường ăn mồi rất từ tốn. Ngậm chặt con mồi nghe ngóng, bước tiếp theo mới nuốt sâu vào họng. Hút xong điếu thuốc, chú mới hỏi tôi xem có câu được con nào không. Tôi ngượng ngùng kể lại, chỉ có một con đuổi mồi, rồi bỏ. Có lẽ chú hiểu hết sự tình, nên động viên tôi: - Thế là tốt rồi! Cháu cố gắng nhử mồi khéo tý nữa là nó ăn đấy. Con quả ấy quen mồi câu rồi, khi đuổi đến nơi, phát hiện ra mồi giả, nên nó bỏ. Biết tôi đã đói, không thích câu nữa. Tháo ròng rọc, cuộn cước vào bát, gài lưỡi câu lại cẩn thận. Chú bảo: - Ta về thôi! Hôm nay như thế là đủ rồi. Chú để tay lên vai tôi, hỏi tôi một cách chân tình: - Cháu có biết luật đi săn của người dân tộc không? Tất nhiên là tôi không biết. Nhưng cũng không hiểu ý tứ, chú hỏi để làm gì? - Dạ! Cháu không biết ạ. Tôi thành thật trả lời. - Ở các vùng miền núi nước ta, người dân tộc thường tổ chức ra các phường săn thú rừng. Khi săn được con thú, bất kỳ to hay nhỏ; họ chia đều cho các thành viên đi săn ngày hôm đó, kể cả lũ chó săn cũng có phần. Vì vậy, hôm nay; tuy cháu không câu được con nào, nhưng theo truyền thống của những người thợ săn, chú chia cho cháu một nửa số cá: chú hai, cháu hai. Không phải bỏ đi, bỏ lại nữa. Thế có được không? Tôi chẳng biết nói gì hơn, chỉ biết thầm cảm ơn tấm lòng hào hiệp của chú. Tuy vui vẻ nhận phần cá chú chia cho, nhưng trong lòng tôi thực sự áy náy. Trên đường trở về nhà, chú Biên vẫn còn say sưa bình luận về ngày câu cá hôm ấy. Chú bảo: - Hôm nay chú cháu mình gặp may, chọn đúng ngày, đúng giờ khai trương cần câu. Thời tiết lại đẹp, chiếm được chỗ có nhiều cá. Đúng là “Thiên thời, địa lợi”. Nếu chú cháu mình chậm chân một chút nữa, là hỏng việc; cánh thợ câu Hào Nam chiếm mất chỗ. Chiếc cần câu này sát cá ra phết, sẽ câu được nhiều cá đây. Ngày đầu năm đi câu, như thế này là may mắn lắm rồi cháu ạ. Năm nay, chắc chắn chú cháu mình sẽ kiếm được nhiều cá đấy! Bây giờ tôi mới hiểu ý nghĩa: Chú chọn con số 70 để mua cước; cần câu mới khai trương mà về không, không chỉ rủi cả năm, rủi cả đời của chiếc cần câu. Một lần nữa, tôi thầm cảm ơn chú về sự cẩn thận và chu đáo của chú. Tôi hỏi lại chú: - Sao cả con sông Tô Lịch dài như thế mà chỉ có đoạn này có cá? - Không chỉ đoạn này nhiều cá đâu cháu ạ. Đoạn từ Kim Giang đến Lủ cũng nhiều cá. Chú đoán cánh thợ câu Hào Nam giờ còn đang đứng câu ở đấy. Hôm nay trời đẹp, họ phải câu đến lúc hết ánh Mặt Trời. Từ Cầu Mới đến Bưởi, chỉ có đoạn Cống Mọc-Cầu Giấy, có nhiều cá; vì nó vừa sâu vừa rộng; lại có nhiều bè rau muống làm nơi ẩn náu, rình mồi cho lũ cá quả. Đây là đầu mùa câu, cá còn sẵn, nên tất cả các điểm câu, cánh thợ câu Hào Nam đều mò đến. - Cháu tưởng, làng Hào Nam chỉ có hai chú thợ câu mà chú cháu ta đã gặp lúc sáng? - Không đâu cháu ạ! Cũng như quê mình; trừ phụ nữ, trẻ em; đàn ông làng Hào Nam ai cũng biết nghề kiếm cá, nhất là các bậc cao niên. Chú rẽ vào chợ Láng, mua hai quả khế chua, hai quả cà chua, hai cây rau xà lách, mớ rau mùi, vài nhánh hành hoa. Thấy chú mua cái gì cũng hai, tôi hỏi chú: - Chú thích con số hai à? Sao chú mua cái gì cũng hai. Còn cháu, cháu chúa ghét con số 2. Chú cười trông thật thoải mái: - Lính tráng có xuất. Chú và chú Bẩy Choắt cộng lại luôn luôn là con số hai. Không thích con số hai cũng phải thích! Vì hai luôn luôn chia hết cho hai, rất là công bằng. Vừa đi, vừa kể chuyện, tôi quên cả đói; chẳng mấy chốc đã về đến nhà. Chú hẹn tôi, chủ nhật tuần sau lại đi câu tiếp. Chia tay chú, cầm túi cá nặng, trong lòng đầy những suy tư: Cảm phục và biết ơn tấm lòng hào hiệp của chú. Nhưng một câu hỏi cứ vương vấn trong đầu tôi: - Chú Biên làm thế có phải bố thí cho mình không nhỉ ? Mang cá về nói thế nào với bố mẹ và em Quang nhỉ ? Mải suy nghĩ, về đến nhà lúc nào không biết. Xách túi đựng hai con quả to vật; em Quang, mẹ và cả bố tôi nữa đều mừng rỡ ra mặt. Em Quang khen tôi rối rít: - Sao anh tài thế! Lần sau cho em đi với nhá. Bố tôi, không chỉ nghiêm khắc với anh em tôi, mà với cả chính mình, thường tiết kiệm những lời khen. Nhưng hôm ấy cũng có lời động viên: - Cũng được đấy chứ! Mới tập câu như thế là quá giỏi rồi. Tôi không thể tự dối lòng mình, cũng không thể nói dối mọi người, nhất là những người thân trong gia đình. Tôi đành thú nhận: - Hai con quả là của chú Biên câu được chia phần cho. Em Quang ngẩn tò te, chẳng nói, chẳng rằng. Mẹ tôi thì tỏ thái độ không bằng lòng ra mặt. Tôi thanh minh với mẹ: - Từ lâu nay, chú Biên vẫn chia phần cá câu được cho con như vậy. Chú bảo, đấy là nguyên tắc của phường thợ săn! Là người từng trải, tiếp xúc và cùng chung sống với nhiều dân tộc từ Bắc vào Nam; từ những vùng núi cao tít tắp: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng ...; đến các vùng hải đảo xa xôi: Cô Tô, Bạch Long Vĩ ở vịnh Bắc Bộ; Hòn Buông, Hòn Chuối ở vùng biển Cà Mâu; đảo Phú Quốc, đảo Hòn Nghệ, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du, quần đảo Bà Lụa, quần đảo Hải Tặc trên vịnh Thái Lan của tỉnh Kiên Giang. Các phong tục, tập quán, cách sống của mỗi dân tộc, của dân địa phương của từng vùng miền; bố tôi đều thấu hiểu, nên bố tỏ thái độ đồng tình với cách sử sự của chú Biên. Bố nói nhẹ nhàng với mẹ: - Chú ấy sử sự như thế là đúng đấy. Sự hào hiệp của chú ấy sẽ là tấm gương cho thằng Minh nhà mình noi theo. Câu cá là trò giải trí, chứ lợi lộc gì mà em phải lăn tăn. Mẹ tôi hết cãi và vui vẻ đi làm cá. Tôi cũng trút được những băn khoăn trong lòng. Cất cần câu cẩn thận trên hiên nhà, lấy quần áo đi tắm rửa. Vừa lúc đó tiếng tít tít, báo hiệu 12 giờ trưa của Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên từ chiếc đài điện, nhãn hiệu Phillip của nhà tôi đặt trên bàn. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Nguyên tắc phường săn - Nguyến Hữu Hùng
NGUYÊN TẮC PHƯỜNG SĂN
Bữa cơm trưa ngày hôm ấy, mẹ tôi vẫn nấu món canh cá quả mà cả nhà lâu nay đã “nghiện”: cá nấu với khế chua; lườn cá rim với nước mắm để ăn cơm. Trong bữa cơm, bố tôi kể về những phong tục, tập quán của các dân tộc; bố đã từng chứng kiến qua nhiều năm công tác ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có những phong tục na ná như “Nguyên tắc phường săn”, mà chú Biên đã áp dụng cho tôi: - Một lần bố đi công tác ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang. Đang cùng chú Hân và chú Khang khảo sát mặt cắt địa chất dọc theo bờ sông Gâm. Một con hoãng, cỡ con bê; từ vách núi bên kia, lao xuống sông, bơi thẳng sang chỗ bố. Bố và cả chú Hân, chú Khang còn đang ngơ ngác, chưa kịp hiểu có chuyện gì đã xảy ra. Từ bên kia sông, xuất hiện lố nhố một tốp thợ săn; chừng bốn năm người; súng kíp lăm lăm trong tay và gần chục con chó săn, sủa inh ỏi. Trời mùa đông ở miền núi rét như cắt da cắt thịt; con sông Gâm rộng, nước chảy xiết tràn qua các gềnh đá réo ầm ầm; hơi nước bốc lên nghi ngút. Đuổi đến đây, tốp thợ săn và đàn chó không dám liều mạng bơi qua sông đuổi tiếp. Họ ra hiệu cho bố và chú Hân, chú Khang vây bắt con hoãng đang bơi đến gần bờ. Chẳng kể gì rét mướt; chú Hân, chú Khang; cởi phăng quần áo dài, lao xuống sông. Con hoãng thấy có người bơi chặn trước mặt, nó ngoắt trở ra, rồi bơi theo dòng nước. Được cái chú Hân ở tuổi thanh niên, đang còn trai tráng, dân miền biển Hậu Lộc, Thanh Hóa; thạo nghề sông nước, nên chỉ mấy sải tay, chú đã tóm được cổ con hoẵng. Vừa lúc đó, chú Khang cũng kịp bơi đến, tiếp sức cho chú Hân. Con hoãng bị tốp thợ săn và đàn chó xua đuổi cả đêm, chạy hết rừng này sang rừng khác. Lại phải bơi qua con sông rộng hai ba trăm mét: Nó đã kiết sức. Vả lại một mình, làm sao chống cự lại được với hai thanh niên; đang sức ăn, sức ngủ. Không còn sức chống cự, cuối cùng, nó chịu để cho chú Hân và chú Khang lôi vào bờ. Với sự trợ giúp của bố, có sẵn đây rừng; con hoãng nặng gần một tạ đã bị trói gò bốn chân lại và đưa lên bờ. Khoảng hai mươi phút sau, tốp thợ săn cùng gần chục con chó, tìm được mảng bơi qua sông, sang bờ bên này. Họ là phường thợ săn của dân tộc Cao Lan. Một người già nhất trong tốp thợ săn nói với bố: - Cán bộ bắt được con thú của tao thì phải trả tao chứ! Chú Hân và chú Khang lộ vẻ bất bình ra mặt. Chú Hân văng tục: - Trả cái con củ c... Không có tao thì con hoãng đã thoát vào rừng rồi! Thấy thái độ bất bình của hai chú, hơn nữa gặp cán cán bộ Nhà nước, nên tốp thợ săn có vẻ nhượng bộ: - Chúng tao sẽ chia phần cho cán bộ! Bố tính cũng phải. Nếu không có họ săn đuổi từ đêm đến giờ thì chú Hân và chú Khang bắt thế nào được con hoãng. Tính ra họ có năm người, với mình ba là tám. Con hoãng mổ ra, không kể xương, mỗi người cũng phải được hai đến ba kilô thịt. Như vậy, ít ra mình cũng được một phần ba con hoãng. Ăn thoải mái! Bố đồng ý và bảo hai chú giao con hoãng cho họ. Họ mời bố, chú Hân và chú Khang về bản. Bố hỏi có xa không. Họ chỉ tay lên phía đỉnh núi cao và bảo: - Không xa đâu vớ! Chỉ một con dao quăng thôi mà! Kinh nghiệm làm địa chất đã dạy cho bố: Người dân tộc sống ở vùng cao, đi đường rừng quen; cho nên khái niệm xa gần của họ rất tương đối. Đường xa họ tính bằng ngày đường. Một con dao quăng của họ có khi đến cả chục cây số. Chắc ăn, bố giở bản đồ ra xem và hỏi họ ở đâu? Họ bảo ở Pác Ta. Nhìn trên bản đồ địa hình 1:100.000; từ bờ sông Gâm, chỗ bố và họ đứng đến đỉnh núi Pác Ta cũng đến gần mười centimet. Tính đường chim bay khoảng chín mười cây số; huống hồ còn đi vòng vèo nữa. - Xa lắm! Cái chân cán bộ không đi đến bản được đâu. Cán bộ còn phải đi khảo sát nữa. Giết hoẵng ở đây thôi! Bố bảo người thợ săn già. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Nguyên tắc phường săn - Nguyến Hữu Hùng
Tốp thợ săn túm tụm nhau lại. Họ tranh cãi nhau bằng tiếng dân tộc. Bố không biết lấy một từ. Nhưng nhìn qua nét mặt của từng người, bố nhận biết được: Có người đồng ý, có người phản đối. Cuối cùng, cuộc tranh cãi nào cũng phải đến hồi kết thúc. Người đứng đầu tốp thợ săn lệnh cho họ thịt con hoãng tại chỗ.
Sẵn dao trong tay, tốp thợ săn vật con hoẵng ra, làm thịt ngay trên bờ sông. Họ vào rừng, lấy mười bảy tàu lá chuối, mười bảy ống bương. Con hoẵng thịt ra được chia thành mười bảy xuất, kể cả tiết, lòng, dạ dày, gan, xương. Tất tần tật, chia đều. Bố hỏi người thợ săn già: - Tại sao chia thành mười bảy phần? Người thợ săn già giải thích: - Con chó săn của chúng tao nó cũng phải có phần chứ! Không có nó đuổi, không có hoẵng đâu vớ. Chín con chó và năm người của chúng tao, cộng với ba cán bộ. Xòe mười ngón tay, giơ ra quặp vào, người thợ săn tính ra mười bẩy phần. Đúng là “cái lý ông Mèo”. Chú Hân tức sùi bọt mép, nhưng chẳng biết cãi thế nào. Bố đành thương lượng: - Cán bộ chỉ nhận ba xuất thịt thôi. Phần xương và bộ lòng cán bộ nhượng lại; nhưng thêm cho một kilô thịt nữa! Cái gì chứ nhường họ bộ lòng, lại thêm cả xương nữa, nên họ đồng ý ngay. Cuộc chia tay giữa hai bên diễn ra vui vẻ. Người thợ săn già bắt tay bố và chú Hân, chú Khang tỏ vẻ tiếc nuối, vì không mời được cán bộ về bản uống rượu. Có thịt hoẵng, cả bản sẽ uống rượu vui vẻ thâu đêm, suốt sáng. Không cùng họ về bản cũng là điều may; chứ ngồi uống rượu với họ cũng phải hết đêm, cứ tuần tự: Uống với trưởng bản, uống với già bản, uống với những người đồng niên. Rồi đến đám nam thanh, nữ tú nữa chứ. Họ có trăm ngàn lý do để mời khách uống rượu. Uống rượu cũng không phải là nét văn hóa riêng của người Cao Lan, mà là của hầu hết các dân tộc miền núi nước ta: Hết hũ rượu này, có hũ rượu khác; hết bát này, có bát khác; hết người này, sang người khác. Phải uống nhiệt tình, phải say mới hết lòng. Đó cũng là một sự chân tình. Theo cách suy nghĩ và cách nói của người dân tộc! Được chia bẩy kilô thịt hoẵng, đúng vào thời điểm chưa mua được thức ăn, thật là quý. Chọn những miếng thịt ngon, thái mỏng; ướp gừng, tỏi, nước mắm; còn lại kho, giành ăn dần cho các ngày tiếp theo. Buổi chiều hôm ấy, cả nhóm công tác gồm năm người được một bữa liên hoan ra trò: Thịt thú rừng nướng, uống với rượu ngô. Thịt thú rừng tươi, nóng sốt, quả là rất ngon. Đấy là chuyện ăn chia của người dân tộc. Nghe ra thì có vẻ vô lý. Nhưng trong cái vô lý ấy lại chứa đầy tính nhân văn, sự bình đẳng trong ăn chia: Không có sự phân biệt giữa con người và loài vật. Người H’Mông ở Hà Giang, Lào Cai; người Thái, người Mường ở Tây Bắc, người Vân Kiều ở dọc dải Trường Sơn; người Ba Na, Ê Đê ở Tây Nguyên cũng có tập tục tương tự như vậy. Săn được con thú rừng nào, dù to hay nhỏ, cả buôn làng tụ tập nhau lại, cùng nhau thưởng thức những hương vị của núi rừng. Đây cũng là bài học cho các con biết cách cư sử ở đời đấy. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Con quả đầu tiên - Nguyến Hữu Hùng
CON QUẢ ĐẦU TIÊN
Tôi mong ngóng đến ngày chủ nhật, nhưng đến chiều thứ bẩy, chú Biên thông báo lại: Phải trực ca, chú không đi được. Chủ nhật tôi vẫn dậy sớm như mọi buổi sáng. Tiết trời mát mẻ, ấm áp thúc dục tôi có ý định đi câu cá một mình. Chẳng mấy khó khăn, ra bờ ao sau nhà máy, tôi tóm được hai con nhái xanh vừa mồi câu. Tôi vác cần câu ra Hồ Ba Sáu. Cái tên “Hồ Ba Sáu”, những người ở xa, đương nhiên là không biết rồi; còn ở phường Trung Liệt, cũng rất ít người biết. Nhưng đến giờ, tôi vẫn chưa rõ ý nghĩa của cụm từ “Hồ Ba Sáu” này lắm. Có thể là ba sáu hecta, có thể là ba sáu mẫu Bắc Bộ, hoặc ba sáu cái gì đó? Chỉ biết nó khá rộng: Từ phía đường Thái Thịnh, thông sang đến tận cầu sắt, nay là trạm biến áp Đống Đa. Nó cũng thông với cái hồ dài sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất, nay là phố Thái Hà. Cái hồ này chưa bao giờ tát cạn vì nó quá rộng và quá sâu, lưu cữu từ năm này sang năm khác, nên có nhiều cá quả to. Hai anh em tôi và bọn trẻ con trong tập thể nhà máy điện biết bơi chính từ cái hồ này. Khi mới năm sáu tuổi; bố đưa tôi, em Quang và bọn trẻ con cùng lứa trong khu tập thể ra tập bơi ở hồ. Chỉ sau một mùa hè, chúng tôi đã tự bơi được. Vì vậy, cứ hè đến; bọn trẻ con chúng tôi ra bơi, lặn hụp, mò trai quanh hồ. Thỉnh thoảng cũng có đám trẻ con trên phố, rủ nhau xuống bơi, chơi đùa, câu tôm, câu cá săn sắt. Cũng có đứa suýt bỏ mạng vì chưa bơi thạo, nếu không có người lớn cứu kịp thời. Cư dân sống quanh hồ thuộc đủ mọi tầng lớp: nông dân, công nhân, thợ thủ công, bộ đội, trí thức và những người buôn bán nhỏ. Họ chuyển về đây từ sau năm 1954. Nghe nói trước đây, cái hồ này và khu đất quanh hồ là của một nhà tư sản trên phố, tên là Thái Hà, nên có tên là Thái Hà ấp. Còn chỗ Nhà máy xe đạp Thống Nhất là khu lăng mộ và nơi thờ tự của của gia đình Khâm sai đại thần Hoàng Cao Khải. Xung quanh hồ, người ta thả bạt ngàn những bè rau muống. Trong màn sương đêm nhìn chưa rõ mặt người của mỗi buổi sáng sớm; bì bõm tiếng khua mái chèo của những chiếc thuyền mủng đánh cá, hái rau muống. Trên bờ, lố nhố: kẻ quang gánh, người đi xe đạp. Họ là những người buôn cá, buôn rau từ các chợ tụ tập về đây. Người bán kẻ mua, ồn ào cả một góc hồ. Tôi ra phía sau xưởng chế biến Nước chấm Thuận Hưng. Nơi ấy yên tĩnh, không sợ ai đứng nhìn kẻ mới tập câu. Chọn một chỗ đứng, thẳng ra rạch trống giữa các bè rau muống. Chỉ mới một đường câu, cách bờ chừng mười mét; tôi nghe tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe. Cái cảm giác đầu tiên của người mới đi câu cá thật khó quên: Mặt nóng bừng bừng như uống rượu, tim đập thình thịch, tay chân luống cuống. Tôi cố trấn tĩnh, tự nhủ: - Phải giữ cho dây câu căng vừa phải. Cá day mồi truyền qua dây câu, cần câu, đến đôi tay rõ mồn một. Đột nhiên dây câu thít mạnh. Như một phản xạ tự nhiên: Tôi vung cần, giật mạnh về phía sau. Mạnh đến mức, con quả tung lên trời, rơi đánh “tùm” một cái xuống nước, cách bờ khoảng bốn năm mét. Bối rối và luống cuống, tôi để cước trong bát câu xổ tung ra. Không còn cách nào khác, đành vất cần câu xuống đất; vội cầm đoạn cước kéo lấy kéo để. Mà cũng lạ, tôi đinh ninh là con cá đã xổng; nhưng khi cầm dây câu kéo, vẫn thấy nặng chịch. Nó đóng câu và mắc vào bè rau muống. Định thần lại, tôi kéo căng dây câu, rồi buộc chặt vào gốc cây cúc tần. Cởi quần áo, bơi ra, gỡ con quả mang vào bờ. Con quả khá to, đến hơn sáu lạng, vẫy vùng như muốn thoát khỏi tay tôi. Một dòng máu đỏ tuôn trào từ phía mang. Mừng và sung sướng tột bậc với chiến công đầu tiên. Một tay ôm quần áo, một tay xách cần câu và cá, tôi chạy một mạch về nhà. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Con quả đầu tiên - Nguyến Hữu Hùng
Tận mắt trông thấy tôi mang cá về, lần này em Quang phục lắm. Nó cầm cần câu, giả vờ như đang làm động tác giật cá mà đôi lần nó đã trông thấy chú Biên câu. Con quả dẫy lên đành đạch, máu trong mang nó tiếp tục chảy .
Lưỡi câu đã đóng quá sâu, tận trong phía họng, nên tôi không tài nào gỡ ra được. Tuy bố tôi không phải là người sành câu, nhưng hồi bé ở nhà quê, đã đôi lần bố đi câu cá quả. Cầm dây câu, nhấc con quả lên, bố tôi bảo: - Lưỡi câu đã đóng vào tận dạ dày nó rồi con ạ. Tôi kể lại cho bố nghe con quả ăn mồi và tôi giật nó như thế nào? Bố cười và bảo: - Cũng may! Con quả nuốt mồi vào tận dạ dày, con mới giật. Nếu giật sớm tý nữa, lưỡi câu chỉ đóng vào má hoặc vào mép, chắc nó đã gỡ ra được rồi. Miệng con quả đầy răng sắc, nên bố phải lấy cục gỗ nhỏ chèn vào miệng, sau đó lấy lưỡi câu ra từ phía mang. Máu trong mang con quả tiếp tục chảy lênh láng. Một lúc sau, không thấy con quả dẫy dọn gì nữa. Nó đã chết! Giục mẹ tôi làm thịt ngay con quả, bố giải thích: - Thịt cá quả giàu chất đạm, nên khi cá quả chết, không làm thịt ngay, chất đạm trong thịt sẽ bị phân hủy, không còn ngọt, thơm và ngon nữa. Các cụ có câu dậy: “Cơm muối còn hơn chuối chết” là như vậy. Bố cũng không quên dặn tôi phải nhờ chú Biên buộc lại lưỡi câu; vì bố đã thấy đoạn cước sát với lưỡi câu, đã bị hàm răng sắc nhọn của cá cắn nham nhở. Chủ nhật tiếp theo, chú Biên hẹn tôi đi câu xa hơn. Chú dặn phải dậy đúng giờ, ăn cơm thật no. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này tôi dặn mẹ gọi dậy sớm và chuẩn bị cơm sáng cho tôi. Buổi tối, trước khi đi ngủ; tôi chuẩn bị sẵn bát câu, mồi câu, túi đựng, bỏ trên giỏ xe đạp. Sáng dậy cơm nước xong, đúng hẹn, một tay vác cần câu, một tay dắt xe đạp; tôi sang nhà chú Biên. Chú Bẩy đã về quê từ hôm qua, còn lại mình chú, ngồi uống nước chè ở ngoài hè. Có lẽ hôm nay đi xa nên thấy tôi đến, chú đứng dậy ngay. Dọn dẹp các thứ vào nhà, dắt xe đạp ra ngoài sân, khóa trái cửa. Một tay cầm cần câu, một tay dắt xe đạp, chú bảo: - Ta đi thôi! Bám theo chú nhá! Chú đạp xe đi trước, tôi bám sát sau. Đến Ngã Tư Sở, rẽ trái đi về đường Tàu Bay (nay là đường Trường Chinh). Rồi rẽ phải đi về phía Trường Quân Nhạc. Theo một con đường lớn, gạch đá lởm chởm, ổ gà ổ voi; đến một cái hồ rộng mênh mông, nhìn xa tít tắp mới thấy bờ bên kia. Tôi không biết tên là hồ gì, nhưng theo trí tưởng tượng, nó ở về phía đông nam Ngã Tư Sở. Xung quanh hồ, lác đác có mấy người đứng câu. Người câu cá diếc, người đánh lục. Có lẽ hồ không sâu lắm nên chỗ nào cũng thấy cọng lá sen lô nhô lên khỏi mặt nước. Dừng xe ở đoạn vắng người, chúng tôi dựa hai xe vào nhau, khóa lại. Trước khi mỗi người ra đứng riêng một chỗ câu, chú bảo: - Thực ra đây là vùng ruộng trũng, cấy lúa không được nên người ta chuyển sang trồng sen. Mùa hè, sen phủ kín mặt hồ, tỏa thơm ngát tới tận đường Tàu Bay. Cá quả, cá rô, cá diếc, cá chép, loại nào cũng nhiều, nhưng không to. Cá quả chỉ một vài lạng; con to cũng chỉ ba bốn lạng là cùng. Nhưng dễ câu, vì còn lạ mồi. Chú chỉ tay vào phía bờ cỏ rồi bảo tôi: - Cháu cứ theo dọc cái bờ này mà câu. Cái giống cá quả ở vùng hồ rộng thường dạt vào ven bờ cỏ để náu mình, rình mồi. Chú cũng tìm một bờ cỏ cách chỗ tôi khoảng vài trăm mét đứng câu. Tôi cẩn thận mắc mồi theo đúng cách thức chú Biên đã bày. Không có cọng rau muống, lấy cọng cỏ còn bánh tẻ bịt đầu lưỡi câu. Chỉ vài đường câu, một con quả núp dưới bụi cỏ, quạt mạnh đuôi rẽ nước, lao về phía con mồi, làm mặt nước gợn sóng. Tôi vẫn nhanh tay cuộn cước, rung cần đều đều, con mồi bơi lướt nhẹ trên mặt nước. Một tiếng “bóp” nho nhỏ. Con quả hụp sâu, lôi mồi đi vùn vụt. Giật nhẹ cần về phía sau, thấy nặng tay. Con quả đã đóng câu. Tay trái từ từ cuốn cước vào bát, tay phải giữ chặt cần. Con quả vùng vẫy tháo chạy làm díu cả cần câu. Dây câu lúc này căng thẳng băng, ngọn cần câu hơi uốn cong, mặt nước hồ gợn sóng. Sức kéo, quậy phá của con quả truyền vào cần câu, cho tôi cảm giác: con quả này thuộc cỡ nhỏ. Từ từ cuộn cước vào bát, lôi con quả lên bờ. Con quả chỉ khoảng ba lạng, giẫy đành đạch. Đây là chiến công lần thứ hai. So với lần giật con quả đầu tiên, lần này tôi bình tĩnh và thực hiện động tác chuẩn xác hơn; lưỡi câu đóng vào phần má, đúng như lý thuyết mà chú Biên đã giảng giải cho tôi. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Con quả đầu tiên - Nguyến Hữu Hùng
Mắc mồi câu tiếp. Mồi lần này là con nhái xanh, hơi to và cẳng cũng dài. Tôi nghĩ:
- Để cẳng dài, chân bơi càng dẻo, càng giống nhái bơi chứ sao? Chỉ khoảng mười lăm phút sau, một con quả khác ra đuổi, đớp mồi, kéo díu cần ngay. Giật cần về phía sau, tôi thấy nhẹ bẫng. Chỉ có con mồi tung lên không trung. Hạ cần câu xuống, xem lại con mồi. Thì ra đã mất hai cẳng chân. Để nguyên con mồi bị cá cắn mất hai cẳng chân; tôi cầm cần câu lại hỏi chú Biên. Nhìn con mồi tôi mắc, chú Biên nói ngay: - Cháu mắc mồi chưa gọn, để cẳng thò ra ngoài quá dài. Con quả mới đớp vào vào hai chân nhái, cháu đã giật, nên mới bị sểnh. Với cái giọng pha chút khôi hài, chú trêu tôi: - Con cá sểnh mới là con cá to, phải không cháu? Đáng lẽ cháu phải để cá nuốt sâu chút nữa, giật mới chắc ăn. Tôi phân bua: - Nhưng nó đã kéo díu cần rồi, chú! - Tùy từng trường hợp chứ! Mắc mồi như cháu mắc lúc nãy thì cứ để nó lôi đi. Vừa nới dây câu, cho căng vừa phải, vừa phải làm động tác rung cần, giống như con mồi đang giẫy giụa. Con cá nào ham ăn mồi, thì nó tợp thêm một nhát nữa; lúc đó giật mới chắc ăn. Còn con cá nào khôn ngoan, nó sẽ bỏ mồi, hoặc ngậm hờ hờ để nghe ngóng. Chú thay cho tôi một con mồi khác bằng con nhái đất. Mắc gọn lên phía thân lưỡi câu và giảng giải: - Mồi mắc như thế này là để câu những con cá háu ăn. Chỉ cần kéo díu cần là giật ngay. Tôi trở lại chỗ câu cũ. Giữa vùng hồ rộng mênh mông, không có cây cối, có thể tập vút cần qua đầu thoải mái. Tay khỏe, nên tôi cũng vút được khá xa, tới gần ba mươi mét. Các động tác tay trái cuốn cước, tay phải rung cần, dần dần đã kết hợp với nhau một cách nhịp nhàng. Sự thoải mái đã giúp tôi thực hiện những động tác rung cần, bắt chiếc nhái bơi tiến bộ trông thấy. Tôi giật thêm được một con quả cỡ ba lạng nữa, nên càng mải miết câu hơn, quên cả thời gian. Đến khi nghe tiếng chú Biên khen: - Khá lắm! Hôm nay tiến bộ rồi đấy. Tôi giật mình quay lại. Chú Biên vác cần câu và túi cá đứng ngay sau lưng lúc nào không hay. Không cần đợi chú hỏi, tôi khoe ngay: - Cháu được hai con rồi chú ạ! Nhưng không to lắm, chỉ khoảng ba lạng thôi! - Chú được bốn con, toàn zin zin cả. Bây giờ nghỉ ăn trưa cái đã. Chiều ra câu tiếp cháu ạ! Nhìn quanh, thấy không còn một bóng người, chú đưa túi cá cho tôi: - Cháu buộc vào cùng chỗ túi cá của cháu đi! Xách đi theo, không có nước, trời nắng thế này cá chết mất. Đi đến đám cỏ nước um tùm mọc ven bờ, chú vơ lấy một túm, rồi trùm lên trên hai túi đựng cá. Chú giải thích: - Làm thế này để che mát cho cá cũng để đánh dấu, khi quay trở lại dễ nhận ra. Đạp xe đi một quãng năm sáu trăm mét; chúng tôi tạt vào một quán nước ven đường. - Bà chủ ơi! Có chè Thái ngon không đấy? Cho một ấm đi! Đấy là thứ mà chú Biên thích nhất mỗi khi vào quán. Thứ là thuốc lào, chú gọi tiếp: - Một gói thuốc lào Tiên Lãng! Tiện thể cầm cho tôi mượn cái điếu cày. Chủ quán là một phụ nữ tuổi trung niên, nhỏ nhắn. Nhanh nhẹn pha nước và lấy điếu cày cho chú. Thấy chủ quán còn trẻ nên chú đổi cách xưng hô ngay: - Chị cho cháu tôi một cốc nước trắng đi. Cháu tôi chỉ nghiện thứ đó thôi! Không có nước sôi để nguội, chủ quán đành phải lấy phíc nước, đổ ra cốc thủy tinh, đưa cho tôi. Rít xong điếu thuốc lào, nhấp chén chè Thái đặc; chú lân la hỏi chuyện: - Quán của chị có đông khách không? - Ít lắm chú ạ! Tôi mới về mất sức được một năm. Ở nhà chẳng có việc gì làm nên bày quán bán nước kiếm đồng ra đồng vào cho đỡ tiền rau cỏ. - Chị làm ở cơ quan nào mà về nghỉ sớm thế? - Tôi làm ở Nhà máy cơ khí Giải Phóng, dưới tận Văn Điển chú ạ. Đi làm xa, công việc ít, không đủ lương, nhà máy giải quyết cho tôi về nghỉ chế độ. - Anh chị được mấy cháu? - Cám ơn chú hỏi thăm. Tôi được hai cháu: một trai, một gái. Nhà tôi bên quân đội, đi vắng suốt. Như để an ủi người chủ quán, chú bảo: - Như thế cũng được chị ạ! Có người trông nhà cửa, quản các cháu, để anh ấy yên tâm đi làm. - Quán chị có gì ăn trưa không? - Có bánh chưng đấy chú ạ! - Chị cho hai chiếc năm hào! Loáng một cái, tôi đã ăn hết cái bánh chưng to hơn nắm đấm mà vẫn thấy thòm thèm. Thấy tôi ăn ngon miệng, chú lấy thêm một chiếc nữa đưa cho tôi: - Ăn nữa đi cháu! “Có thực thì mới vực được đạo”. Ăn xong, chú cháu mình ra câu tiếp! Tôi thấy ngượng. Ở nhà, bố mẹ thường nhắc nhở: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”; ăn phải từ tốn, nhai ngậm miệng; không được ngồi xổm trên ghế, hoặc vừa ăn, vừa nói chuyện nhồm nhoằm... Lẽ ra, tôi phải ăn một cách từ tốn, cho dù trong bụng rất đói. Đằng này, đánh nhoàng một cái, đã hết bay tấm bánh. Tôi gượng gạo: - Dạ ! Cháu đủ rồi chú ạ! Chú Biên quả là rất tâm lý. Thừa biết tôi còn đang muốn ăn nữa, nhưng để tôi bớt ngượng; chú xẻ đôi chiếc bánh: - Ăn giúp chú một nửa vậy! Chúng tôi kề cà ăn uống, hơn một giờ sau mới đứng lên. Chú Biên thanh toán tiền, chào tạm biệt chủ quán rồi trở lại chỗ câu. Một điều bất ngờ đã xảy ra: Hai túi cá để cùng một chỗ, không cánh mà bay. Thế rồi tôi phát hiện ra cái túi vải màu xanh. Đấy là túi đựng mẫu đá địa chất của bố tôi, may bằng chất liệu vải thô. Cái túi trống rỗng, nổi lập lờ cách bờ vài mét. Giống như một thám tử, chú Biên xem xét kỹ hiện trường xung quanh. Thấy những vết chân trẻ con dính bùn, còn tươi nguyên để lại trên bờ cỏ; chú thốt lên: - Chú cháu mình mất cảnh giác quá! Lỗi là ở chú. Bọn trẻ con đi câu lươn lấy hết cá của chú cháu mình rồi! Nhưng chúng vẫn còn nhân đạo, quẳng lại cho chú cháu mình cái túi để đựng. Thôi! Phải làm lại từ đầu, cố gắng lên cháu nhá! Thái độ của chú có vẻ không lấy gì tức tối lắm. Ngược lại với thái độ của chú Biên; tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ, trong lòng hậm hực: Sáu con quả chứ đâu có ít! Mà công sức của hai chú cháu lao động cả buổi sáng. Tôi mà tóm được, phải cho mỗi đứa một quả đấm vào mặt! Biết tôi còn đang ấm ức, chú giảng giải, động viên mà mãi sau này, càng nghĩ, tôi càng thấy chú nói rất có lý: - Lỗi là do tại mình, chứ đâu có phải chỉ riêng bọn trẻ. Sự mất cảnh giác của chú đã đưa bọn trẻ con đến hành vi xấu. Chưa chắc chúng đã có ý thức đánh cắp đâu cháu ạ! Nếu người lớn thấy chú cháu mình để hớ hênh như vậy, họ cũng lấy. Huống chi đám trẻ con, đang tuổi tò mò hiếu kỳ. Đáng lẽ phải hóa trang đi. Đằng này, chú còn ngốc đến lỗi, lấy cỏ phủ lên để người khác nhìn cho rõ. Đây là một bài học cảnh giác cho chú cháu mình đấy. Các cụ bảo “Vật bất ly thân”, đố có sai bao giờ. Nói xong, chú cười hềnh hệch một cách thoải mái, làm tôi quên hết mọi ám ảnh xấu về đám trẻ con câu lươn. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Con quả đầu tiên - Nguyến Hữu Hùng
Tôi hăm hở bước vào câu ngay. Sự hăng hái của tôi đã được đền bù một cách xứng đáng. Câu đến nhá nhem tối, tôi được ba con; chú Biên được năm con. Dĩ nhiên là không có cá to; chỉ hai ba lạng. Về đến cổng nhà máy, chú Biên đổ túi cá ra, chia đều: Tôi bốn con, chú bốn con. Nhưng tính trọng lượng ra, cũng chỉ nhỉnh hơn hai con câu ở sông Tô Lịch vào mấy tuần trước.
Những chủ nhật tiếp theo, chú Biên dẫn tôi đi câu xa hơn: Hôm thì ra khu hồ dưới chân cầu Long Biên ở bãi Phúc Xá; hôm thì sang Gia Lâm, Đông Anh. Đầu mùa câu, nên chỗ nào cũng sẵn cá. Hôm nhiều: năm sáu con; hôm ít: hai ba con. Nhờ sự chỉ bảo tận tình của chú Biên. Và có thể, tôi cũng có “năng khiếu” câu cá quả chăng? Dần dần, tôi đã tiếp thu được những kiến thức cũng như rút ra được những kinh nghiệm: từ mắc mồi, nhử mồi đến động tác giật cá. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp xảy ra rồi mới nhận thức được. Giật sểnh cũng nhiều. Cá quả giả vờ ăn mồi, tôi cũng gặp tới năm sáu lần. Tổng kết mùa câu năm đầu tiên bước vào nghề; tính sơ sơ, tôi cũng được gần ba mươi con. Cá to từ năm đến sáu lạng, cá bé từ hai đến ba lạng; con nhỏ nhất chỉ trên một lạng. Từ khi bước vào nghề câu, tôi sắm một quyển sổ; ghi lại tất tần tật các hiện tượng tự nhiên của thời điểm đi câu cá; như một cuốn “nhật ký” về câu cá. Tôi ghi lại chi tiết từng trường hợp cá cắn câu, từng tổ cá từ lúc bắt đầu dọn tổ cho đến khi bắt được cá bố mẹ; ghi lại những nhận xét cách ăn mồi của từng loại cá quả, thậm chí cả cách ăn mồi của từng con. Do đúc rút được nhiều kinh nghiệm từ năm trước, năm thứ hai bước vào nghề câu đã khá hơn nhiều, số cá câu trượt cũng ít đi. Số cá do bản thân câu được cũng tăng lên rõ rệt. Đến năm thứ ba, thực sự tôi đã có đủ kiến thức cũng như kinh nghiệm; kết quả câu được cũng không còn kém chú Biên nhiều nữa. Từng ngõ ngách, hồ ao nào có cá quả, tôi thuộc như lòng bàn tay. Chỗ nào cánh thợ câu Hào Nam hay “trấn giữ”, chúng tôi thường ít lui tới. Và nếu có tới, thấy thợ câu Hào Nam đã đứng câu rồi, thì chúng tôi chuồn ngay. Chúng tôi thường “trấn giữ” các hồ ao ở quanh phường Trung Liệt. Tương tự như chúng tôi, cánh thợ câu Hào Nam thấy chú Biên và tôi đứng câu rồi, họ chỉ đến hỏi han một vài câu xã giao, rồi đạp xe đi chỗ khác, chứ không bao giờ đứng tranh câu. Nói thế, không có nghĩa là cánh thợ câu chúng tôi không được xâm phạm “lãnh địa” của nhau. Hoàn toàn vô tư và còn vui vẻ nữa đằng khác. Mỗi khi cánh thợ câu chúng tôi gặp nhau, cũng tay bắt, mặt mừng. Chú Biên thường mời họ vào quán nước, cùng nhau uống chén nước chè, hút điếu thuốc lào và tán gẫu; hồi lâu sau mới đường ai, người ấy đi. Cũng đôi lần, chúng tôi cùng cánh thợ câu Hào Nam xuống tận Phú Xuyên, nơi có con sông chảy qua cầu Giẽ. Con sông dài thả bạt ngàn bè rau muống, đủ chỗ và đủ cá cho cả hàng chục người câu. Nhưng nó quá xa Hà Nội, nên trong một mùa câu, chúng tôi chỉ rủ nhau đến câu ở đấy một hoặc hai lần vào dịp đầu năm. Những dịp đi câu xa như thế, chủ yếu là để giao lưu, kể cho nhau nghe những trường hợp câu lý thú, những trường hợp gặp phải những con quả khôn ngoan, hoặc thông báo cho nhau những địa điểm câu mới được phát hiện. Một điều tôi muốn nói ở đây: Những nơi nào, chưa có ai câu bao giờ, cá dễ ăn mồi. Chỉ cần một vài đường câu, cá quả ra đuổi mồi, ăn liền. Những nơi nào, thợ câu đến nhiều; ở đó, cá quả trở nên khôn ngoan, rất khó câu. Chỉ có thợ câu cao thủ, mới có thể lừa được chúng ăn mồi. Ở địa bàn nào, người thợ câu nắm được địa hình, nơi trú ngụ và tập tính ăn mồi của cá, câu mới đạt hiệu quả cao hơn. Như chú Biên và tôi, thường xuyên câu ở phường Trung Liệt; biết từng góc ao, từng bè rau muống quanh hồ; chỗ nào cá quả hay làm tổ, thói quen ăn mồi của từng loài cá quả, câu hiệu quả hơn cánh thợ câu Hào Nam. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Đôi cá kỳ lạ - Nguyến Hữu Hùng
ĐÔI CÁ KỲ LẠ
Hồi ấy, phố Thái Thịnh mới mở đến đầu Trường phổ thông cơ sở Thái Thịnh. Phía đông bắc của trường là ba cái hồ nhỏ, bãi cỏ, thùng đấu và những chiếc lò gạch bỏ hoang đổ nát. Xa hơn nữa là con mương, ngăn cách giữa những hồ nhỏ với một hồ sen lớn. Ngày nay, tất cả đã bị lấp. Thay thế vào đó là các khu nhà cao bốn, năm tầng; rạp Chiếu bóng Quốc gia; phố Thái Hà và xóm liều bãi rác Đống Đa. Khu hồ ấy vắng vẻ. Có thể đám thợ câu Hào Nam không biết nên chỉ có tôi và chú Biên, thỉnh thoảng mới ra câu. Lần này, chú Biên nghỉ tranh thủ về quê; nên chỉ có mình tôi đứng câu. Có hai đứa trẻ: trạc chín mười tuổi; chúng men theo tường rào, ngăn cách giữa hồ với Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội; lội sang bãi cỏ để bắt cào cào, châu chấu. Sau khi chúng lội qua; tôi thấy đám bèo tổ ong sát chân tường, cách chỗ tôi đứng câu khoảng mười lăm mười sáu mét; như có con vật rất to, bơi lồng lộn ở dưới, đội đám bèo lên. Rồi liên tiếp hai ba con săn sắt nhảy vọt lên mặt bèo. Có lẽ là tổ cá quả! Tôi đoán như vậy và cho rằng: khi bọn trẻ lội qua, cá bố mẹ phải rời tổ. Nhân cơ hội đó, bọn cá săn sắt xông vào ăn cá con. Cá bố mẹ quay trở lại bảo vệ đàn con, cắn đuổi bọn cá săn sắt! Tôi tung mồi câu về phía đám bèo tổ ong, kéo con mồi lấp lửng trên mặt bèo. Không nghe thấy tiếng đớp mồi của cá, nhưng cần câu trong tay nặng chình chịch. Cá cắn mồi rồi chăng? Giữ căng dây câu, làm động tác giả như con mồi giẫy dụa tìm cách thoát thoát thân; nhưng tuyệt nhiên, không có hiện tượng day hoặc xốc mồi như tôi thường gặp. Thử giật nhẹ. Điều bất ngờ xảy ra: Cả một vùng bèo tổ ong, đường kính ba bốn mét cuộn sóng. Cước câu căng thẳng băng. Từ từ cuộn cước lôi con quả vào bờ. Tôi đoán, con quả này cũng phải đến bảy tám lạng; nên nó mới ghì khỏe như vậy. Khoảng hai ba phút sau, kéo con quả vào sát bờ và nhấc lên khỏi mặt nước. Con quả to hơn nhiều so với dự đoán, như cái bắp chân người lớn. Nhấc lên khỏi mặt nước chừng nửa mét, con quả giẫy mạnh. Chiếc cần câu trong tay nhẹ bỗng và tiếng rơi “tùm”, nước bắn tung tóe lên tận bờ. Con quả đã thoát! Tôi bàng hoàng cả người; tiếc ngẩn tiếc ngơ, nhìn con quả lù lù rẽ đám bèo lao ra giữa ao. Tôi đoán là con quả bố đã cắn câu, nên tiếp tục câu nữa, hy vọng sẽ tóm được con quả mẹ. Cũng có trường hợp, cá bố mẹ bị bắt sểnh hai ba lần. Nhưng để bảo vệ đàn con, chúng vẫn tiếp tục cắn câu. Vì vậy, tôi kiên trì rở mọi “ngón nghề” mà chú Biên đã truyền cho. Hết trò câu bóng, rồi chuyển sang câu chọc tức, câu phá tổ cho đến khi Mặt Trời sắp lặn. Bỗng nhiên, tôi thấy dưới đám bèo tổ ong, nhoi lên một con rắn mòng, to bằng ngón chân cái. Nó vươn cao cái cổ ngó nghiêng, trườn đến định đớp mồi câu. Một tiếng “bụp” rất to. Cái thân uốn éo, dài ngoẵng tung lên khỏi mặt bèo. Con rắn mòng biến mất trong làn nước nhuộm màu đen của màn đêm. Đến lúc này, tôi nhận ra rằng: có câu tiếp cũng vô ích. Cá quả bố mẹ đã phân biệt được đâu là kẻ thù, đâu là mồi giả. Trời đã tối hẳn, đành phải cuốn câu, ngày mai nhất định phải câu tiếp. Tôi tự hứa với mình như vậy. Hôm sau là ngày chủ nhật, tôi ra câu rất sớm. Nhưng bặt vô âm tín, không có bất cứ một tín hiệu nào chứng tỏ tổ cá vẫn còn ở chỗ hôm qua. Xắn quần, tôi lội ra tận nơi để kiểm tra lại một cách cẩn thận. Thật là ngạc nhiên, tổ cá vẫn còn nguyên vẹn, không lớn lắm, to bằng miệng bát ăn cơm. Đám rồng rồng con mới chập chững biết bơi. Tôi quyết định dùng thủ thuật câu chọc tức, mắc mồi gọn, chỉ cần cá bố mẹ đớp nhẹ là dính câu ngay. Đứng câu chỉ cách tổ cá không quá bốn mét, từ thủ đoạn nhấp mồi xa tổ, đến gần tổ; rồi đưa con mồi vào giữa tổ quấy phá làm tan tác đàn con. Bọn cá săn sắt bắt đầu xuất hiện. Chúng lao vào tấn công đàn cá con. Lập tức cá bố mẹ xuất hiện đánh đuổi bọn cá săn sắt. Trong nhiều trường hợp như vậy, cá bố mẹ đễ cắn nhầm phải mồi câu. Nhưng đôi quả này rất tinh khôn, chúng phân biệt được mồi câu và cá săn sắt. Chỉ một lúc sau, bọn cá săn sắt: con thì bị sầy vẩy, con thì bị đớp đứt vây đuôi, nhảy tán loạn trên mặt bèo; cuối cùng đàn cá săn sắt buộc phải rút lui, chỉ còn lại cái mồi câu vô duyên của tôi quấy phá. Dừng câu một lúc, lấy tay che ánh sáng Mặt Trời, nhìn qua khe trống giữa những đám bèo. Dưới làn nước trong xanh, tôi trông rõ mồn một đôi vợ chồng cá quả: Chúng làm thành một vòng tròn, đầu con nọ tiếp giáp với đuôi con kia, quây đàn con vào giữa. Nhìn hai con quả cỡ bắp chân người lớn, dài tới nửa mét; cái đầu mốc thếch với những hoa văn đen, trắng, vàng nhạt trên mình cá; bị khúc xạ bởi ánh sáng Mặt Trời qua làn nước trong xanh, càng làm tăng vẻ hấp dẫn, kích thích sự kiên trì và quyết tâm của tôi. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Đôi cá kỳ lạ - Nguyến Hữu Hùng
Tôi tự nhủ: phải bắt bằng được đôi cá này. Nhưng thật đáng tiếc: sự kiên trì và quyết tâm của con người đôi khi cũng phải thất bại trước sự khôn ngoan, sự hết lòng bảo vệ con của chúng. Mặc cho tôi chọc tức, quấy phá đàn con; cá bố mẹ chỉ dùng cái mõm đây mồi, dẫn đàn con bơi dần ra phía giữa ao, rồi biến mất trong làn nước trong xanh.
Bám đuổi theo đôi cá quả từ lúc trời vừa sáng tỏ đến lúc Mặt Trời đứng bóng, tôi không thu được bất cứ một kết quả nào, ngoài sự tiếc nuối. Tôi ngán ngẩm, cuốn cần câu ra về, trong đầu ngổn ngang những tính toán. Chiều tối, chú Biên về quê đã lên. Tôi tìm gặp chú và kể lại trường hợp tổ cá tôi câu hai ngày vừa rồi. Chú bảo: - Khó đấy! Cái giống cá quả biết cõng con đi trốn là không dễ bắt đâu! Chiều hôm sau, tôi dẫn chú Biên ra hồ tìm lại tổ cá mà tôi câu không thành. Cả hai chú cháu đi đi lại lại quanh hồ; căng mắt ra quan sát, nhưng không tài nào phát hiện ra nơi chúng cất giấu đàn con đâu nữa. Với kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều năm câu cá tổ, chú bảo: - Về thôi cháu! Hai tuần nữa, khi con của chúng bằng hạt chanh; có tài thánh, cũng không giấu nổi đàn con đông đúc của chúng. Hai tuần sau, chúng tôi trở lại hồ. Quả như lời phán của chú Biên: Vợ chồng cá quả đã dẫn đàn con trở về nơi tổ cũ. Cá con có lưng, đuôi màu đen; thân màu vàng sẫm, bụng màu trắng; chen nhau nhô đầu lên mặt nước để thở; để lại những bọt không khí li ti trên khắp mặt nước của hồ. Chú Biên bảo: - Cái giống cá quả cũng có nhà, có tổ. Trong suốt thời gian chăn dắt đàn con, dù có dẫn đàn con đi ăn xa đến đâu đi chăng nữa; tối, chúng lại dẫn đàn con quay về tổ. Nếu chỗ làm tổ sạch sẽ; không bị con người quấy phá, rình rập thì những kỳ đẻ tiếp theo, thậm chí cả những năm sau nữa; chúng đều nhớ quay về địa điểm cũ, nơi chúng đã làm tổ. Tổ rồng rồng vẫn còn đông đúc, có tới hàng ngàn con; chứng tỏ cá bố mẹ bảo vệ đàn con rất chu đáo. Chiêu đầu tiên, chú Biên dùng sách câu bóng để lừa cho cá bố mẹ đớp nhầm mồi. Trổ hết tài nhử mồi câu, giống như con nhái bơi thật; nhưng cá bố mẹ không có bất cứ một phản ứng nào. Chiêu tiếp theo, chú câu nhấp; giả làm con gián nước cũng không kết quả. Chiêu cuối cùng, chú Biên bảo tôi cùng câu chọc tức và câu phá đàn. Hai chiếc cần câu vây lấy đàn cá con. Bị hai con mồi quây lại, quấy phá; chúng nháo nhác tìm đường chay trốn. Đột nhiên, tôi thấy đàn rồng rồng tụ tập lại, bơi trật tự theo hình mũi tên, hướng ra phía giữa hồ. Cá bố bơi trước, cá mẹ bơi chặn hậu. Đàn con bám sát trên lưng. Bất chấp sự cản phá của hai con mồi giả là tôi và chú Biên; chúng lặn xuống sâu, rồi biến mất trong làn nước trong xanh. Chú Biên thốt lên: - Cá bố mẹ cõng con chạy mất rồi! Một lúc sau, thấy đàn rồng rồng nổi lên giữa hồ. Chú Biên và tôi cố sức vút cần câu, nhưng cũng không tới. Chú bàn với tôi: chú ở lại theo dõi và dồn đàn cá vào gần bờ; tôi về nhà, bắt lấy vài con cá săn sắt. Làm cái gì chứ bắt săn sắt là món nghề của tôi. Trở về nhà, chỉ một loáng, tôi đã làm xong cần câu cá săn sắt. Vác dao ra vườn rau sau nhà máy đào giun đất. Khoảng mười lăm phút sau, tôi dã tóm được hai con săn sắt đực to: vây, mình trạm trổ đầy hoa văn màu xanh cánh trả và màu tím than, màu đỏ sặc sỡ. Tôi nhốt chúng vào túi nylon đổ đầy nước, rồi mang ra hồ. Chú Biên đã khôn khéo dồn tổ rồng rồng vào góc hồ, nơi có bè rau muống rậm rạp. Núp dưới làn rau muống; cá bố mẹ luôn luôn phải bận rộn với việc canh chừng bọn cá săn sắt. Từ mọi phía, bọn cá săn sắt nhâu nhâu, tìm cơ hội tấn công vào đàn cá con. Đây là dịp tốt để chú Biên thực hiện chiêu cuối cùng của mình. Chú mắc lưỡi câu vào lưng cá săn sắt, khẽ thả xuống giữa tổ rồng rồng. Bị che phủ những cánh lá của bè rau muống; cá mẹ không phân biệt được thật giả, lao vào tấn công ngay con săn sắt mồi. Một tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe vào tận bờ. Ngọn cần câu cong vút. Tiếng quật đuôi của con quả bị mắc câu vào nước ùm ùm, làm chao đảo cả bè rau muống. Con quả mẹ bị tóm nặng tới gần hai cân. Đàn rồng rồng tản ra mọi phía, tách ra rồi nhập lại; nhập lại rồi tách ra. Chú Biên bảo, con bố còn đứng ở xa nên đàn con mới nháo nhác lên như vậy. Nghĩ cũng thương thật! Nếu bắt nốt con bố, chắc chắn đàn rồng rồng sẽ bị bọn cá săn sắt tiêu diệt hoàn toàn trong năm mười phút. Tôi bàn với chú Biên: tha cho con bố để nó nuôi đàn con khôn lớn; sang năm hãy bắt. Chú Biên đồng ý ngay. Hai chú cháu sang hồ bên câu cá ăn bóng để đủ phần chia đôi. |
TỔ QUẢ GIỮA BÃI CỎ
Mấy năm sau, gia đình bên cạnh chuyển sang căn hộ khác; nhà tôi được giãn ra ở cả gian, rộng tới gần hai mươi mét vuông. Ở giữa sân của khu tập thể, có một bể, sức chứa cả chục mét khối nước, được xây từ những năm 70 của thế kỷ trước, bỗng chốc trở nên khô cạn. Người thì bảo: đường ống dẫn nước lâu ngày bị bùn, cát lấp đầy; người thì cho rằng: lâu ngày nó đã bị thủng. Tựu chung lại, cả chục hộ gia đình trong khu tập thể phải ra tận vòi nước ngoài Trại Trắng, cách khu tập thể tới ba bốn trăm mét để xếp hàng lấy nước. Nhà tôi cũng trong cảnh ngộ ấy, nên đêm nào, bố mẹ cũng phải cùng nhau đi lấy nước. Cái cảnh đêm đêm xếp hàng lấy nước, bốn năm giờ sáng xếp hàng đong gạo, mua thực phẩm trở thành nếp sống hàng ngày. Không kể người lớn hay trẻ con; hòn gạch, mẩu gỗ, cục đá gói trong mảnh giấy báo cũng tham gia vào việc xếp hàng giữ chỗ. Không ít chuyện cãi vã xảy ra: khi hòn gạch, mẩu gỗ xếp hàng bị người khác quẳng đi. Thẻ thương binh, sổ gia đình liệt sỹ là những “tấm bùa” quý giá, giúp cho chủ nhân của nó nhanh chóng đong được gạo, mua được dầu hỏa và các loại thực phẩm khác như thịt, cá, đường. Cũng có một số người, cầm trong tay một miếng bìa màu đỏ, nửa kín nửa hở, giả làm thẻ thương binh để chen hàng; nên đã xảy ra chuyện: những người xếp hàng đòi kiểm tra lẫn nhau thẻ thương binh, sổ chứng nhận gia đình liệt sỹ. Nếu ai không có đủ độ kiên trì xếp hàng, bán lại ô tem phiếu cho “đám con phe”*(*Người làm nghề buôn bán tem phiếu, thường là phụ nữ) là có thịt, có cá liền. Tất nhiên là phải bán giá rẻ và mua lại với giá cắt cổ. Sắp đến giờ mở cửa hàng, cảnh tượng chen chúc càng trở nên huyên náo. Ai đó được cô cửa hàng gạo của Nhà nước cho một ân huệ, gọi vào làm phu bốc vác những bao gạo từ ôtô, chuyển vào kho là một diễm phúc; vì ngay sau đó, họ sẽ được ưu tiên mua trước. Đó là chuyện thường tình ở thành phố Hà Nội ngày ấy. Nhờ có người bác họ làm trên Bộ nội thương, bố mẹ tôi mới mua được đôi thùng gánh nước bằng tôn hoa tại Bách hóa Cửa Nam. Sau mỗi lần đựng nước, nó được mẹ tối úp xuống cho khô. Giữ gìn cẩn thận như vậy nên lúc nào trông cũng y như mới. Mẹ tôi xếp hàng hứng nước, tranh thủ giặt thêm quần áo; bố tôi gánh; phải đủ hai gánh nước, nghĩa là bốn thùng nước 20 lít, mới đủ nước uống, nấu ăn và tắm rửa cho cả nhà trong một ngày đêm. Nước cũng được sử dụng hết sức tiết kiệm. Mẹ tôi thường lấy nước vo gạo để rửa rau, sau đó đổ vào nồi nấu cám cho lợn. Mùa đông còn đỡ, chứ mùa hè phải tới nửa đêm mới hứng đủ bốn thùng nước. Có được khoảng trống bảy tám mét vuông phía sau nhà; bố tôi xây một chiếc bể hơn một mét khối, chuyên để đựng nước mưa. Từ khi có cái bể đựng nước mưa, bố mẹ tôi đỡ vất vả hơn vào việc xếp hàng lấy nước. Mùa hè không chỉ đủ nước ăn uống, mà có khi còn dùng để tắm giặt. Không những thế, còn có chỗ để chúng tôi nuôi mấy con cá bảy màu, vài đôi cá kiếm và hai ba con cá vàng để ngắm chơi. Phía trước nhà, bố tôi cải tạo lại cái bếp, rộng đến hai mươi mét vuông. Mua gạch xây hàng rào bao quanh thành một cái vườn và cái sân rộng hai lăm mét vuông, có cổng, cửa sắt đàng hoàng. Tất cả đều do bàn tay của bố mẹ và có sự giúp sức của hai anh em tôi xây lên. Cái thời, cả khu dân cư: cụm 5, cụm 6 phường Trung Liệt cùng chung một dãy nhà vệ sinh công cộng. Sáng sáng, người ta phải xếp hàng để đi vệ sinh. Phụ nữ còn mang theo cái nón để che chắn. Chẳng có trò gì nghịch nữa, bọn trẻ con chúng tôi, đôi khi còn rủ nhau cùng đi vệ sinh; ngồi trong nhà vệ sinh, trêu chọc nhau. Thật là kỳ quặc! |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ quả giữa bãi cỏ - Nguyến Hữu Hùng
Gặp những người xe thồ đi lấy phân ở nhà vệ sinh công cộng, thằng Long Búa Liềm đứng ra cầm chịch, chúng tôi cùng nhau hè to:
- “Thanh niên Cổ Nhuế xin thề, Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương”. Nhưng chẳng ai thừa hơi mà đi đôi co với bọn trẻ con, nên cái trò trêu chọc những người đi lấy phân làng Cổ Nhuế của đám trẻ con chúng tôi rồi cũng nhàm. Chẳng hiểu đọc ở sách nào, hay hỏi ai; bố tôi tự xây lấy nhà vệ sinh tự hoại, sát cạnh với gian bếp làm thêm. Một “sáng kiến” mà sau này, nhiều gia đình trong khu tập thể cũng bắt chiếc làm theo, được coi như “một cuộc cách mạng” xây nhà vệ sinh trong khu dân cư toàn nhà cấp bốn. Một lần, em Quang cùng với thằng Long Búa Liềm đi lang thang ra khu quảng trường ngoài gò Đống Đa; nơi xây dựng tượng đài Quang Trung, đúng vào ngày các cụ ông về hưu, các vị chức sắc mang cây đến trồng ở vườn hoa làm kỷ niệm; thấy còn thừa một cành hồng xiêm triết vất cạnh bờ tường, em nhặt mang về cho bố tôi trồng ở trước cửa nhà. Chỉ hai năm sau, cây hồng xiêm côi cút đã cho rất nhiều quả ngọt. Trong cái vườn nhỏ bé ấy, bố mẹ tôi còn trồng một cụm sắn đây. Có cụm sắn dây cũng tiện, rau cỏ bỏ đi và rác rưởi vùi vào gốc cây; cuối năm thu hoạch, cũng được gần chục kilô củ; một hàng rau ngót; mấy cây rau dền đỏ, trông thật vui mắt. Khu vườn sau nhà máy, bố mẹ tôi thả sức tăng gia; trồng mấy vạt rau muống cạn. Về mùa hè, không chỉ đủ rau ăn, còn đủ rau cho lợn và gà. Cái thời cả Hà Nội có phong trào: nhà nhà nuôi lợn, người người nuôi lợn; nuôi lợn cả trên nhà tầng. Trong khu tập thể, dù chật chội thế nào, nhưng nhà nào cũng ngăn ra một hai mét vuông ở góc bếp hoặc ở một chỗ nào đó quanh nhà để nuôi một vài con lợn. Chẳng phân biệt là giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư, công nhân; nhà nuôi ít: một con; nhà nuôi nhiều: hai ba con. Nhà tôi ở phía cổng nhà máy, có khoảng không rất rộng; bố mẹ tôi cũng nuôi một con lợn; năm sáu con gà thịt và gà đẻ, một ổ gà con; một con chó, một con mèo; chẳng khác nào sống giữa vùng quê. Nhà cô Xiêm, ở cuối dãy của khu tập thể, nổi tiếng “mát tay” nuội lợn. Cứ sau mỗi lứa lợn xuất chuồng, cô lại mua chè, kẹo lạc mời các gia đình hàng xóm; vừa có ý như “chiêu đãi”, vừa có ý như “cầu may” cho lứa lợn tiếp theo được suôn sẽ. Gia đình nào không may, lợn bị ốm, cũng lo sốt vó, chẳng khác nào lo cho người ốm; phải đi tìm bác sỹ thú y về tận nhà chăm sóc. Một chuyện hy hữu đã xảy ra: Cô Thắm, nhà có những ba cô con gái. Chồng cô, bác Ngoãn, phó tiến sỹ ở Nga về. Nhặt nhạnh những viên gạch vỡ và mua thêm một ít gạch đặc, nung bằng lò thủ công; bác tự xây một căn bếp nhỏ chừng bốn mét vuông trước cửa nhà của khu tập thể, mái lợp giấy dầu; trong đó giành chưa đến một mét vuông làm chuồng lợn. Tay nghề thợ xây chưa cao nên bức tường bếp chỗ lồi ra chỗ lõm vào, trông rất nhem nhuốc. Cô về quê mẹ ở Thanh Hóa, ôm ra con lợn hơn chục kilô. Mấy ngày đầu, con lợn ngoan ngoãn chịu nằm trong cái chuồng chật hẹp. Rồi cái tính tự do phóng khoáng của tập tính vùng thôn quê, nó nhảy ra khỏi chuồng lúc nào không hay. Cô Thắm xắn quần móng lợn, cầm cái que lùng sục khắp mọi nơi trong sân, vào cả trong xóm hỏi thăm, cũng không thấy. Bác Thân, một thầy hàng đầu xem tướng số của khu tập thể. Bác bảo, bác có khả năng đọc được ý nghĩ của người khác. Nhìn cái đầu hói của bác khi “phát sóng”, mồ hôi toát ra, bốc hơi nghi ngút; tôi tin là bác có khả năng ấy thật. Chủ nhật nào, nhà bác cũng đông khách: khách từ các tỉnh lận cận, có cả những người từ Sài Gòn, còn đa phần, khách ở Hà Nội. Họ đến nhờ bác xem: tiền vận, hậu vận, chuyện làm ăn, chuyện gia đình, chuyện mồ mả v.v.. Bấm độn, bác Thân phán rằng: - Con lợn nhà cô Thắm chưa đi đâu xa, nó đi ra cổng phía bắc, rồi ngoặt về phía đông. Cứ hướng đông mà tìm, thế nào cũng thấy! Thực ra cả khu tập thể, chỉ có một cổng duy nhất thông ra đường. Phía đông khu tập thể là khu nhà máy, rộng bốn năm nghìn mét vuông; cỏ mọc um tùm, có cả vườn rau muống của bố mẹ tôi và của bố mẹ thằng Long Búa Liềm trồng; nên con lợn ra phía nhà máy là có cơ sở. Cô Thắm huy động bọn trẻ con chúng tôi đi lùng sục, nhưng cũng không thấy; những vạt rau muống còn y nguyên. Hỏi cô Tý Ngủ, cô Canh Rỗ, chú Bẩy Choắt; ba người trực ca hôm ấy cũng không nhìn thấy. Mọi người cho rằng, sau khi sổng chuồng, con lợn chạy ra cổng phía bắc, rồi rẽ trái về phía tây, vào trong xóm. Cái xóm tuy nhỏ nhưng có tới bốn năm chục gia đình; đường đi lối lại nhằng nhịt, vào đấy mà tìm chẳng khác nào như lọt vào trận đồ bát quái, biết nó rúc vào nhà ai. Có khi đã bị người ta bắt đi rồi cũng nên? Đinh ninh là con lợn đã mất, cô Thắm tiếc ngẩn ngơ. Cô tiếc là ở cái công mang từ Thanh Hóa ra. Cô tiếc là ở chỗ, cái món quà của bố mẹ cô cho không giữ được. Thế rồi đến chiều tối; bỗng nhiên, con lợn từ cổng phía tây nam vào nhà ông Dự lững thững đi ra. Thì ra, vượt ra khỏi cái chuồng vừa nóng, vừa chật chội, con lợn chui qua cái cổng để hở, vào gầm giường nhà ông Dự, đánh một giấc ngủ no say, chiều tối đói bụng mới mò ra sân. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ quả giữa bãi cỏ - Nguyến Hữu Hùng
Các cụ bảo: “Tháng bảy nước chảy qua bờ”, đố có sai tý nào. Lúc đầu, trời mưa rả rích, đúng là mưa ngâu. Rồi những trận mưa xối xả như trút nước. Mưa cả đêm, đến gần sáng thì thấy mẹ tôi kêu:
- Anh ơi! Nước tràn vào nhà rồi. Bố tôi bật dậy. Động tác đầu tiên, bố tôi bật công tắc điện, không thấy đèn sáng; bố lẩm bẩm: - Mất điện lưới rồi! Mò bao diêm, bố bật lửa châm đèn. Hai anh em tôi cũng vừa tỉnh ngủ. Nhìn xuống nền nhà, nước đã tràn vào lêng láng. Cầm đèn pin, mò sang vườn phía nhà máy, bố tôi bê về một chậu đất sét. Lấy tấm ván, ngăn cửa chính; chèn đất sét kín phía ngoài. Cả nhà hì hục tát nước. Mẹ tôi còn cẩn thận bảo: - Nhân tiện, lau nhà luôn cho sạch! Trời vẫn tiếp tục mưa. Nước thấm qua mái ngói nhỏ xuống tong tong, ướt cả màn, giường chiếu. Mẹ tôi phải tháo màn, gấp chiếu, xếp gọn lại một chỗ, rồi lấy áo mưa phủ lên. Đến khi trời sáng hẳn, mực nước bên ngoài đã mấp mé, ngang với tấm chắn cao trên ba mươi centimet. Rồi ục một cái, tấm ván chắn nước vỡ toang. Nước mưa lẫn nước cống rãnh, cả phân lợn nữa; ào ào tràn vào nhà như vỡ đê, ngập tới nửa chân giường. Xoong, chậu, guốc, dép nổi lềnh bềnh. Bố tôi chạy vội sang nhà máy, mượn chú Biên một tấm sắt dày ba ly; nhờ chú ấy cùng khiêng, chắn vào phía cửa. Chú Biên bảo với bố mẹ tôi: - Nước tràn vào đến bệ máy, không tài nào giữ được. Nhà em ở trong sân thấp hơn, nên nước tràn vào nhà từ lúc nửa đêm, bây giờ đã mấp mé thang giường. Cả nhà tập trung tát nước: ì uồn, bì bõm. Gần tiếng sau mới tát cạn nước từ trong nhà ra ngoài sân. Được cái đồ đạc trong nhà, bố mẹ tôi đều để trên gác xép. Tính mẹ tôi cẩn thận, phòng xa: gạo đựng trong cái thùng tôn to, do một chú công nhân trong nhà máy gò giúp; có khả năng chứa tới 50 kg gạo. Mì sợi đựng trong thùng kẽm đựng cát tút đại bác của Mỹ; bố tôi kiếm được trong một chuyến đi công tác năm 1976 ở Quảng Trị, nên không sợ bị ướt. Phóng tầm mắt nhìn ra khu hồ sau phường Trung Liệt, một biển nước mênh mông. Chỉ thấy xa xa, nhấp nhô mấy cây dừa trồng bao quanh trường Nguyễn Ái Quốc. Cá ở các hồ ao thoát ra; đâu đâu cũng thấy tiếng cá quẫy. Người ta bơi thuyền, thả lưới, cất vó trên đường phố. Một cảnh tượng hiếm thấy trong chừng ấy năm tôi sống ở Hà Nội. Ba bốn ngày sau, nước mới rút xuống mức bình thường. Khoảng nửa tháng sau, tôi vác cần câu quay trở lại khu bãi đất hoang sau Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội, tìm bắt những con nhái đất trong bãi cỏ um tùm. Một con nhái đất vừa mồi câu, đang bị tôi truy đuổi nhảy tõm xuống một cái hố nước nông giữa bãi cỏ. Một tiếng “bụp” rất to vang lên từ phía hố nước nông choèn. Rõ ràng là tiếng đớp mồi của cá quả. Tôi nhận định như vậy. Rón rén đi đến gần hố nước. Chỉ là một cái hố: rộng khoảng nửa mét; dài khoảng một mét rưỡi; sâu chừng nửa mét. Có lẽ do người ta đào lấy đất làm gạch, đã bỏ hoang từ lâu, xung quanh cỏ mọc um tùm. Tôi thật sự ngạc nhiên: nước trong hố chỉ sâu khoảng ba mươi phân. Một tổ quả xộp, đàn con khá đông đúc; cá con to bằng đầu tăm, màu vàng đỏ, nhung nhúc như tổ kiến lửa; có lẽ được chín mười ngày tuổi. Tôi lùi ra xa, tìm bắt mồi. Khoảng mười lăm phút sau, bắt được hai con nhái xanh vừa mồi câu. Đứng cách xa hố khoảng năm sáu mét; tôi mắc mồi, thử buông câu. Khẽ nhử: tóp tóp. Con quả đớp mồi đánh “bụp” nghe chắc nịch. Tôi căng cước, nhưng không thấy kéo díu cần như những con quả ăn mồi ở những ao và hồ lớn. Đằng này, con quả ghì chặt mồi tại chỗ. Giật nhẹ cần, thấy nặng trĩu. Con quả đã đóng câu. Con quả bố dài đến hơn bốn mươi centimet; da lưng màu xám nhạt, da bụng màu trắng; vân đen phủ toàn thân. Cái đầu của loài cá quả xộp vốn to hơn thân, nay bị mắc cạn trong cái hố chật hẹp, không kiếm được mồi, cái bụng nó lép kẹp, gầy tong teo, chỉ có đầu là đầu. Nghĩ mà thương! Cũng chẳng phải nhân đạo gì, nhưng con quả quá gầy nên tôi nảy ra ý: Tha cho nó và phải cứu đàn con ra khỏi cái hố sắp cạn hết nước này. Vụm tay làm bát để múc đàn con cho vào túi nylon, mang ra bờ hồ thả xuống cùng với con cá bố mới câu được. Đoán trong hố còn con cá mẹ, tôi cởi quần dài, xắn tay áo, lội xuống mò. Chỉ vài cái khua tay, tôi đã chạm vào cái thân trơn nhẫy của con quả. Chưa đi mò cua, bắt cá bao giờ; nên cái tay cứ lóng ngóng. Quả là bắt cá dưới nước khó hơn bắt cá trên cạn nhiều. Nhưng trong cái hố chật hẹp như vậy, con quả chạy đâu cho thoát. Chơi trò: “mèo vờn chuột”, quần nhau với con cá gần mười phút. Cuối cùng, con quả phát nhược, rúc đầu lên một bụi cỏ, để mặc tôi muốn làm gì thì làm. Con quả mẹ cũng gầy xác xơ như con quả bố. Tôi mang thả ra hồ cho nó về với đàn con. Tôi mang chuyện gặp tổ cá xộp giữa bãi cỏ kể cho chú Biên nghe. Chú bảo: - Cái giống cá là như vậy! Nước nổi đến đâu là theo nước vào đến đấy. Trận lụt vừa rồi, cả thành phố Hà Nội chìm trong biển nước. Cá từ các ao, hồ tràn ra. Đôi cá theo nước vào làm tổ trong hố nước kín đáo này. Nước rút đi, nhưng vướng đàn con thơ dại; nên bị mắc cạn trong bãi cỏ. Nó cũng có thể vượt cạn nhoai ra hồ; nhưng vì đàn con, nó đành liều chết ở lại đây. Đấy cũng là một hình thức đấu tranh sinh tồn của loài cá này. Chú tiếp tục giảng giải: - Cái giống quả xộp khôn ngoan và dữ tợn hơn loài quả hoa. Nó có thể vượt cạn bằng cách, nhảy lên bờ; trườn rất nhanh, chuyển từ ao này sang ao khác; hồ này sang hồ khác khi cần thiết. Những ao nuôi cá giống, người ta phải tát cạn, rắc vôi bột, để khô vài ba hôm; giết sạch cá quả và ếch nhái trước khi ươm cá giống. Nhưng rồi vẫn không thể diệt hết được. Loài cá xộp có khả năng nhịn đói, chịu hạn rất cao, rúc sâu dưới lớp bùn nhão, nên vẫn còn sót lại một vài con. Vì vậy, các hồ ao nuôi cá, người ta thường mời thợ câu cá quả đến bắt cho bằng hết. Để sót một con, là ao cá giống trở thành con số không. Cá xộp nuôi con và bảo vệ con cũng rất chu đáo. Đẻ trứng tuy có ít, nhưng số lượng con sống sót từ khi mới nở cho đến lúc trưởng thành đạt trên một nửa. Chứng minh cho điều này, chú kể tiếp: - Một lần đi câu trong Ninh Bình, giữa đồng không mông quạnh. Từ xa, chú trông thấy một con quả xộp, bằng cổ tay người lớn, nằm phơi mình trên bờ cỏ, mặc cho lũ kiến lửa bâu quanh mình. Chú mừng thầm: - Chẳng mất công câu cũng có cá. Có lẽ con quả nhảy qua bờ bị mắc cạn! Chú vừa hạ cái thúng sơn xuống đất, định chạy lại tóm lấy con quả. Thấy có người, nhanh như loài rắn ráo trườn trên cạn, con xộp lao tõm xuống sông. Dưới sông, đàn rồng rồng nhâu nhâu, đớp những con kiến do cá bố mang xuống. Do đó, không lấy gì ngạc nhiên, khi gặp cá quả làm tổ ở giữa bãi cỏ. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Câu quả giữa mùa đông - Nguyến Hữu Hùng
CÂU QUẢ GIỮA MÙA ĐÔNG
Chú Biên thường lấy các hiện tượng thiên nhiên quan sát được để giảng giải cho tôi về thời tiết. Một lần đi câu vào ngày cuối thu. Cả hai chú cháu đều về tay không. Trên đường về, chú ngâm nga: - Khi nào nghe tiếng sếu kêu, Heo may thổi mạnh, quả không ăn mồi. Tôi hoàn toàn không hiểu, bởi một lẽ: con sếu như thế nào? đâu tôi có biết; nói chi đến tiếng sếu kêu; và có mối liên hệ gì giữa hai con vật này? Tôi thật thà hỏi chú: - Con sếu là con gì và nó kêu thế nào hở chú? Chú Biên lúc đó mới sực nghĩ ra. Ở đất Hà Thành này, làm gì có sếu bay qua mà có tiếng kêu. Có chăng thì chỉ có trong công viên Thủ Lệ. Ngẫm nghĩ một lúc chú bảo: - Cháu không biết con sếu là phải. Người dân ở quê chú, ai cũng thuộc câu tục ngữ: “Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét”. Nghĩa là khi trên trời xuất hiện những đàn ngỗng trời, chim mồng két và sếu từ phương Bắc bay về; tiếng kêu của chúng vang động cả một vùng trời, báo hiệu mùa đông đã đến. Khi ấy, nước lạnh, cá quả không ăn mồi nữa. Mùa câu cá quả thường kết thúc vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 hàng năm. Rồi chú ngâm nga bài thơ “Thu điếu” của cụ Nguyễn Khuyến: - Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. .................................................. . Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Đấy, cảnh câu cá mùa thu là như vậy; có chán không cháu! Nhưng rồi vào một ngày chủ nhật, giữa tháng 12; trời đang rét căm căm, bỗng trở nên ấm áp khác thường. Sáng sớm, sương mù dày đặc, phủ trắng mặt Hồ Ba Sáu. Tôi chưa có kế hoạch làm gì trong cái ngày chủ nhật buồn tẻ này, thì chú Biên sang rủ tôi đi câu cá quả. Tôi thấy hơi lạ nên hỏi lại chú Biên: - Chú bảo kết thúc mùa câu rồi cơ mà? - Quy luật chung là như vậy. Những tháng rét này, cá quả, cá rô tìm những chỗ kín đáo để tránh gió mùa đông bắc từ Xibêri thổi về; chúng ẩn dưới rễ bèo Nhật Bản, trong các bè rau muống, hoặc trong lùm cỏ nước. Nhưng xen giữa những đợt gió lạnh, thường có một vài ngày thời tiết đột ngột trở lại ấm áp lạ thường. Đó là do có gió đông nam, mang hơi nước ấm áp từ xích đạo thổi lên. Tính toán được ngày này, đi câu sẽ thắng to. Từ thời Tam Quốc: Khổng Minh, mưu sỹ tài ba của Lưu Bị, sau này trở thành thừa tướng của nước Thục; đã tính toán được ngày gió đông nam nổi lên giữa mùa đông, giúp Chu Du, đại đô đốc bên Đông Ngô; dùng kế hỏa công trong trận đại chiến Xích Bích, phá tan ba mươi vạn tinh binh, đốt cháy hàng ngàn chiến thuyền của nước Ngụy trên sông Trường Giang. Trong trận này, đại thừa tướng nước Ngụy là Tào Tháo, may nhờ tấm lòng nhân nghĩa, khảng khái của Quan Vân Trường mà thoát chết ở đường Hoa Dung. Chú không tính toán được như Khổng Minh, nhưng hôm nay có gió đông nam, trời ấm áp. Mặt hồ nhiều sương, đến trưa, trời sẽ nắng ấm, chiều tối hoặc đêm nay mới có gió mùa đông bắc bổ sung. Cái giống cá quả ẩn mình lâu ngày trong các bụi cỏ, bè rau muống, đói bụng; và cũng để hít thở không khí ấm áp hiếm có giữa mùa đông, nên thường ra những chỗ nước trống để sưởi nắng và kiếm mồi. Chú giải thích nghe ra rất chí lý. Chú quả là người “Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”. Tôi hỏi chú: - Giữa mùa đông, tìm đâu ra mồi hở chú? - Đã có cách. Nói rồi chú bảo tôi đi cùng ra phía gò Đống Đa. Hồi đó, sau gò Đống Đa là một vùng hồ lớn, đầy bèo Nhật Bản và bè rau muống; chỗ bãi thải của nhà máy hóa chất Thái Hà. Sau này người ta mang rác, lấp đi làm công viên, dựng tượng đài; xây trường học; xây nhà, làm chợ. Vừa đi, chú vừa chuyện trò với tôi: - Chú đã để ý: Ở cái bãi rác sau gò, hè vừa rồi chú thấy có nhiều nhái đất lắm. Buổi tối, lũ nhái đất mò ra nhặt nhạnh thức ăn rơi vãi, bắt sâu bọ, ruồi nhặng. Bây giờ rét rồi, chúng chỉ chui rúc vào những cái hang ở quanh đâu đó thôi. Quả như dự đoán của chú: lùng sục một lúc, vạch những đám cỏ mọc sát chân gò, trong các hốc ở bờ ngăn giữa ruộng rau muống. Tôi và chú Biên đã tóm được trên chục con nhái đất vừa mồi câu. Ngày hôm ấy, tôi và chú Biên câu được mười một con quả ở hồ dài sau Nhà máy xe đạp Thống nhất và ở Hồ Ba Sáu; toàn quả to cả, từ bốn đến năm lạng. Cá ham ăn hơn cả trong mùa hè. Chúng tôi cứ nhằm vào các lỗ trống, giữa các bè rau muống; kéo con mồi, bắt chiếc như con nhái nhảy từ bè rau muống xuống nước. Những con quả nằm đợi sẵn ở dưới, gặp mồi là đớp liền. Câu cá giữa mùa đông dễ câu hơn nhiều so với câu cá giữa mùa hè, chỗ nào có ô trống giữa bè rau muống, y như rằng có quả phục sẵn ở đó. Từ kinh nghiệm này, bây giờ tôi cũng đã có được một chút kiến thức về dự báo thời tiết trong mùa đông. Đôi khi còn chính xác hơn cả tin dự báo thời tiết của đài truyền hình. Tôi nghiệm thấy: giữa những ngày đông giá lạnh; nếu sáng sớm có sương mù dày đặc, thì đến gần trưa, trời sẽ nắng ấm. Có thể để áo khoác ở nhà, hoặc đã mặc vào người rồi, thì phải cởi ra, cất vào trong túi. Ngược lại, thời tiết đang lạnh giá, bỗng trở nên ấm áp khác thường thì cần phải cảnh giác. Nếu có đi đâu xa, cần phải mang theo áo ấm và áo mưa. Năm sáu giờ sau đó, sẽ có gió mùa đông bắc lạnh thấu xương tràn về; đôi khi còn gây ra những trận cuồng phong và mưa lớn. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Câu đêm - Nguyến Hữu Hùng
CÂU ĐÊM
Cá quả không ăn đêm như cá trê, chú Biên giải thích: - Khi trời về chiều, lúc gà nháo nhác lên chuồng, thì cũng là lúc cá quả dẫn đàn con tìm đường về tổ để ngủ. Sáng sớm hôm sau, khi đã nhìn rõ mặt người, cá bố mẹ mới dẫn đàn con đi kiếm ăn. Ngược lại, lũ cá trê thường đi kiếm ăn vào lúc chạng vạng tối. Hồi ở quê, chú thỉnh thoảng cũng đi câu đêm. Mùi tanh của giun đất là thứ khoái khẩu nhất đối với cá trê. - Cá trê thường đục hang, làm tổ dưới gốc sung, bờ tre mọc ven những hồ ao lưu cữu. Một hang cá trê có từ năm đến sáu con, có khi đến cả chục con. Cá trê còn đục vào trong gò mả ở cánh đồng lúa nước. Đã có trường hợp, người ta bắt được cả ổ cá trê trong quan tài, con nào cũng vàng ươm; và cho rằng, cá trê ăn thịt người mới béo như vậy. Nhưng chú không tin. Có thể có trường hợp nào đó, ván quan tài bị mục, cá trê mới chui vào làm tổ được, khi đó làm gì còn thịt người nữa? Câu cá trê vào buổi tối phải đính thêm một hòn chì ở phía chuôi lưỡi câu. Nhấp mồi, gây tiếng kêu tóp tóp, sát trên mặt nước. Loài cá trê rất háu ăn, nhao lên mặt nước tranh nhau đớp mồi. Cái miệng rộng nên chẳng có cú đớp nào trệch. Khi cá cắn câu, kéo díu cần, không cần giật mạnh, chỉ nhấc cần lên là được. Một buổi tối đi câu như vậy, có thể kiếm được năm sáu con là chuyện thường. Đấy là chuyện cá trê ăn đêm, còn câu cá quả vào ban đêm, chưa thấy chú Biên nói đến. Một lần, tôi phát hiện ra tổ cá quả từ khi cá bố mẹ mới dọn tổ, dưới bụi khoai nước ở hồ dài, gần cống thoát nước của bể bơi Đống Đa. Vợ chồng cá quả cắn nát cả đám rau muống, đường kính tới một mét rưỡi. Chính cái hành động này đã khiến tôi phát hiện ra tổ của chúng rất sớm, từ khi chưa đẻ trứng. Có lẽ đôi cá đã dạn dày với người qua lại, nên nó mới tìm đến chỗ này để làm tổ. Khi ổ trứng mới bắt đầu nở được già nửa, nghĩa là có một số trứng đã nở thành ấu trùng, chập chững biết bơi; một số trứng chuyển từ màu vàng sang màu đen, cũng là lúc trứng sắp nở. Tôi bắt đầu đến câu. Ngày đầu câu bóng, cá không ăn, cũng không đuổi mồi. Chuyển sang câu chọc tức, cá bố mẹ vẫn không có phản ứng. Im hơi lặng tiếng đến mức, tôi lầm tưởng chúng đã bỏ tổ. Ngày thứ hai, tôi dùng cá săn sắt để nhử. Cũng không có kết quả. Thấy tổ cá còn nguyên vẹn, trứng đã nở hết thành ấu trùng; chứng tỏ, cá bố mẹ canh giữ tổ rất cẩn thận. Sang ngày thứ ba, tổ rồng rồng bắt đầu bơi theo cá bố mẹ ven bờ khoai nước, đen kín cả mặt nước, rồi bơi ra giữa hồ. Câu mãi không được, tôi nhờ cậy đến chú Biên. Hai buổi chiều liền, chú Biên rong ruổi theo đàn rồng rồng, hết từ bờ hồ bên này sang bờ hồ bên kia, rở hết mọi ngón nghề: câu bóng chán chú chuyển sang sang câu chọc tức; rồi dùng cá săn sắt để nhử, nhưng cũng chẳng có kết quả gì. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Câu đêm - Nguyến Hữu Hùng
Mấy hôm sau, chú mang về một bộ câu lục gồm sáu lưỡi tết lại thành một hình vòng tròn. Sáu lưỡi câu sắc nhọn tết ngửa lên phía trên trông giống như con nhện độc của vùng rừng rậm nhiệt đới Amzôn ở Nam Mỹ. Chú bảo, chiêu này mà không thành nữa là hết cách. Chú thả chùm câu lục vào giữa đàn con, chỉ cần cá bố mẹ lảng vảng bơi đến trợ giúp cho đàn con là dính câu liền. Kết cục vẫn chỉ là con số không: không một lần phản ứng, không một lần cắn dọa và cũng không một lần mắc câu để tôi và chú Biên có chút hy vọng.
Hai tuần trôi qua. Đàn rồng rồng cứ lớn dần, gần bằng hạt chanh, vẫn đông đúc, ăn theo đàn rất tập trung, đi xa đến nửa vòng hồ. Một điều khá lạ, chưa lúc nào, tôi hoặc chú Biên nhìn thấy hình hài của cá bố mẹ, dù từ rất xa. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn thấy cá săn sắt bị cá bố mẹ đánh đuổi, nhảy lên mặt bè rau muống. Nhìn vào số lượng đàn rồng rồng, chú Biên dự đoán: hoặc cá bố mẹ chỉ khoảng ba lạng, hoặc rất to, phải hai cân trở lên. Xem ra cái giả thiết hai cân là có cơ sở hơn. Bởi một lẽ, đôi cá bố mẹ này làm cái tổ khá to, giấu mình rất kỹ và khôn ngoan, tránh được tất cả các cạm bẫy; không chỉ của tôi, chú Biên mà của nhiều thợ câu khác giăng ra ở vùng hồ này. Chán nản, cuối cùng chú Biên phán một câu, có vẻ rất nhân đạo: - Thôi, tha cho nó! Thực ra là chú đã hết cách. Trong thâm tâm, tôi chưa từ bỏ ý định bắt bằng được tổ cá này. Vì vậy, hàng ngày, tôi vẫn để mắt đến đàn con của chúng. Theo dõi, tôi thấy cá bố mẹ ngày càng dẫn đàn con đi ăn xa hơn; nhưng chiều tối, chúng lại dẫn đàn con về nơi làm tổ ban đầu. Tôi quyết định thử ý đồ của mình mà không cần tham khảo ý kiến của chú Biên. Ốc nhồi ở Hồ Ba Sáu cũng dễ kiếm. Tôi bắt một con ốc nhồi, đập vỏ, lấy phần thịt làm mồi nhử. Thịt ốc nhồi nhiều nhớt và tanh dễ đánh lừa được cá quả. Học bài xong, khoảng chín giờ tối, tôi vác cần đi câu. Nhấp mồi kêu tõm tõm ở vị trí gần tổ cá. Lập tức có phản ứng ngay. Cá bố mẹ lồng lộn đớp dọa, kêu bùm bụp, bùm bụp; to hơn bất cứ tiếng đớp mồi nào của các con quả mà tôi đã câu được từ trước đến giờ. Kinh nghiệm cho thấy: một khi cá quả bố mẹ có phản ứng dọa dẫm kẻ thù, trước sau cá cũng cắn câu. Tôi thả mồi vào giữa tổ. Một tiếng “bụp” nghe gọn, chắc như đinh đóng cột. Sức căng của dây câu truyền vào cần, nặng đến mức, tôi có cảm tưởng như dây câu vướng vào cả một bè rau. Con quả này quá to, không chừng bị đứt cước cũng nên! Tôi thoáng nghĩ như vậy. Vừa cuốn cước, vừa tính toán: không được quá mạnh tay, rồi từ từ nhấc cần lên. Giữa đêm tối, tiếng cá quẫy ùm ùm, làm kinh động đến cả lũ chó của mấy gia đình gần đó, chúng sủa lên ông ổng. Đưa con quả lên được bờ, tôi ngỡ ngàng về kích thước: quá to, quá lớn của nó. Trong đêm tối, không ước lượng được chính xác chiều dài; nhưng cũng phải đến nửa mét, xách nặng tay. Tháo ròng rọc ra khỏi cần, xách cá đi về nhà. Vừa đi được vài bước, con quả giẫy mạnh, dây câu đứt phựt. Con quả rơi đánh bịch một cái xuống đường. Hai tay chẹt cổ con cá không xuể, tôi cởi luôn chiếc áo sơ mi đang mặc trên người, cuốn lên con cá. Một tay ôm cá vào bụng, một tay cầm cần câu và bát câu, khệ nệ đi về nhà. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Câu đêm - Nguyến Hữu Hùng
Thoạt trông thấy tôi cởi trần, tay ôm vật gì chưa rõ; ngạc nhiên và hốt hoảng, mẹ tôi kêu lên khe khẽ:
- Này, con bê cái gì thế? - Con quả to lắm mẹ ạ! Thấy hai mẹ con rầm rì ngoài sân, bố và em Quang cũng chạy ra. Cả nhà đều sửng sốt về chiến công chưa từng có của tôi, từ khi bắt đầu vào nghề câu quả đến bây giờ. Con quả hoa đen chũi, to như bắp đùi; nhoài đi, nhoài lại trên sân. Cái miệng to, đầy răng nhọn, sắc như lưỡi dao cạo vẫn còn dính lưỡi câu. Bố tôi loay hoay mãi mới tháo được lưỡi câu ra khỏi miệng của nó. Mẹ tôi cân: nặng tới gần ba kilô (chính xác là 2,95 kilô). Thả nó vào cái chậu giặt quần áo gò bằng tôn hoa, đường kính miệng đến 75 phân. Con quả nằm khoanh tròn trong chiếc chậu có vẻ như quá chật đối với nó, thỉnh thoảng lại ngáp ngáp cái miệng. Mẹ tôi đã có kinh nghiệm giữ cá quả sống lâu, nên chỉ đổ nước xâm xấp đến ngang lưng; lấy chiếc mâm đồng to, úp lên mặt chậu và chồng thêm hai hòn gạch nữa, phòng khi cá giẫy quá mạnh, làm tung mâm đậy. Dục tôi đi tắm, mẹ mang chiếc áo sặc mùi tanh và nhớt cá quả vò qua rồi ngâm vào chậu xà phòng. Tắm rửa và đánh răng xong đã hơn mười giờ đêm, thế mà em Quang vẫn nằm đợi tôi. Nó thì thào, giọng đầy vẻ thán phục: - Sao anh tài thế! Làm thế nào mà anh bắt được nó vào ban đêm? Chẳng gì em Quang. Có lẽ cả bố mẹ tôi cũng có thể đặt ra những câu hỏi tương tự như vậy. Thật khó giải thích cho em Quang. Nếu nói đây là sáng kiến của tôi, chưa chắc em đã tin; vì vậy tôi ậm ừ cho qua chuyện, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sáng sớm hôm sau, đánh răng rửa mặt xong, tôi chạy lên nhà máy khoe với chú Biên, chú Bẩy: - Cháu tóm được con quả ấy rồi, những gần ba cân, chú ạ! Chú Biên thực sự ngạc nhiên, hỏi tôi cặn kẽ việc câu nó thế nào. Kể lại cho chú nghe từ đầu câu chuyện. Chú gật gù: - Cháu khá thật đấy! Quả là chú chưa nghĩ ra cái chiêu lừa bắt cá quả vào ban đêm. Còn chú Bẩy thì nói: - Ông thấy chưa! Bọn trẻ bây giờ sáng tạo lắm. Trò hơn thầy rồi nhá! - Ông Bẩy, ta sang xem cái đã! Cả hai chú cùng tôi sang nhà để “mục sở thị” con quả to có một không hai ở vùng hồ này. Bố mẹ tôi mừng ra mặt, mời hai chú vào xem cá, uống nước. Chú Biên chậm rãi nói với bố mẹ tôi: - Trong đời đi câu của em, trừ con xộp 5 kilô bắt được hồi đi bộ đội ở rừng Trường Sơn; những con có kích thước tương tự như con quả này cũng rất hiếm. Nếu không nhầm, em mới bắt được năm sáu con có trọng lượng tương tự như thế, nhưng từ khi còn làm nghề đi câu kiếm sống cơ. Chú Bảy thực sự kinh ngạc, trầm trồ: - Tôi chưa từng thấy con quả nào to như vậy! Và vẫn cái giọng có vẻ châm chọc: - Ông nói thì tôi biết thế! Chứ cháu tôi, giờ đây hơn ông là cái chắc. Mấy tuần ông không bắt được, nay cháu tôi bắt được, ông phải gọi cháu bằng thầy đi! Không một chút tự ái, chú cười và bảo: - Ông vừa nói với tôi “trò hơn thầy rồi”, tôi có cãi đâu. Nhưng công bằng mà nói, cháu là người đầu tiên sáng tạo ra chiêu câu cá quả đêm đấy! Chuyện trò, uống nước vui vẻ; bàn nấu món gì? Chú Biên bảo: - Cá quả xào rau cần cũng ngon, làm chả nướng càng ngon hơn. Nhưng mùa này chưa có rau cần, chị nấu cháo đi! Ý chú đúng ý tôi. Tối nay, mời hai chú sang ăn cháo nhá! Các chú không được từ chối đâu đấy. Hai chú nhận lời, chào bố mẹ và chúng tôi, rồi quay trở lại nhà máy. Buổi tối hôm đó, mẹ tôi nấu một nồi cháo to: hai phần ba gạo tẻ, một phần ba gạo nếp, một ít đậu xanh xay để cả vỏ, nấu nhừ. Con quả được đánh vẩy, cắt bỏ vây; mổ bụng, bỏ mật. Ruột và dạ dày cũng được làm sạch. Mẹ lạng hai cái lườn để riêng, thái mỏng ngang thớ, ướp nước mắm, hạt tiêu với hành khô thái nhỏ. Con quả to nên riêng hai cái lườn của nó đã đầy một bát tô. Đầu và phần xương còn lại luộc chín, gỡ hết thịt, sau đó mới cho vào cối giã nhỏ, lọc lấy nước. Gia vị có rau dăm, một bát nước mắm ớt tươi... Chuẩn bị xong bằng ấy thứ, mẹ bảo tôi đi mời chú Biên và chú Bẩy. Biết hai chú thích uống rượu, mẹ sai em Minh mua một xị rượu đế làng Vân. Khi mọi người đã đông đủ, mẹ tôi mới đổ nồi nước luộc xương vào nồi cháo, đun sôi lên lần nữa. Thịt cá xào to lửa, dậy mùi thơm phức, cho vào lẫn cùng với cháo. Mẹ múc ra sáu chiếc bát tô to, rắc rau dăm lên trên. Rót ra ba chén rượu: một dành cho chú Biên, một dành cho chú Bẩy. Bố tôi cầm một chén, trịnh trọng tuyên bố: - Hôm nay mời hai chú đến để chứng kiến sự thành công của cháu Minh sau nhiều năm “vác cần câu theo thầy Biên học nghề”. Xin mời hai chú nâng cốc! Đáp lại lời của bố tôi, chú Biên khiêm tốn: - Em cũng chỉ bảo cháu lúc ban đầu. Được cái cháu nhanh trí, nhận thức nhanh và sáng tạo. Cái trò câu đêm này là lần đầu tiên cháu nó nghĩ ra đấy anh chị ạ, chứ có phải em dậy cháu đâu! - Mời hai chú ăn cho nóng. Món cháo cá này phải ăn nóng, để nguội sẽ bị tanh. Mẹ tôi đon đả. Buổi liên hoan cháo cá quả thật đầm ấm, vui vẻ. Ăn xong nồi cháo cá, hai chú còn ngồi lại uống nước chè, chuyện trò hồi lâu mới ra về. Sau lần câu đêm thành công, những tổ cá nào không bắt được vào ban ngày; tôi và chú Biên đều câu vào ban đêm. |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Đoạn kết - Nguyến Hữu Hùng
ĐOẠN KẾT
Tôi và chú Biên ngày càng gắn bó với nhau như hình với bóng qua cái nghề câu cá quả. Nhiều khi thấy tôi quá đam mê, sao nhãng việc học hành; chú tâm tình với tôi một cách hết sức nghiêm túc. Chú bảo: - Do hoàn cảnh gia đình, chú phải bỏ học sớm, đi kiếm sống bằng cái nghề câu cá quả. Chứ thực ra, chú cũng rất muốn học cho bằng anh, bằng em. Cháu bây giờ có điều kiện hơn chú hồi đó rất nhiều. Chỉ còn một năm nữa, cháu thi đại học; do đó, cần tập trung học cho giỏi, phải thi đỗ; sau này ra làm việc, có bằng cấp vẫn hơn. Câu cá chỉ là trò giải trí thôi cháu ạ! Tôi chưa thấu hết được những lời khuyên của chú và cũng chưa nhận thức được cuộc sống tương lai sau này. Thì một hôm, vừa đi học về; tôi thấy cả khu tập thể xôn xao một tin đồn: Nhà máy điện giải thể, các tổ máy sẽ chuyển vào cho các tỉnh phía nam! Bố mẹ tôi và các gia đình trong khu tập thể mừng ra mặt. Bởi một lẽ, ai ai cũng khó chịu với tiếng máy ầm ầm tra tấn suốt ngày đêm. Nhiều lần họp tổ dân phố, bà con trong khu tập thể kiến nghị làm đơn gửi lên Bộ lao động, phản ánh về tiếng ồn và làm ô nhiễm môi trường xung quanh của nhà máy. Nay bỗng nhiên, chẳng phải đơn từ gì; nhà máy tự chuyển đi, tiếng ồn không còn nữa; thoát được cảnh hàng ngày hít phải những làn khí carbonic độc hại của bốn tổ máy thải vào bầu khí quyển, ai mà không mừng! Riêng tôi, tôi lại cảm thấy buồn hơn là vui. Nhà máy chuyển đi, ở đây sẽ buồn lắm. Nhưng điều làm tôi buồn hơn cả: đó là phải xa chú Biên. Buổi tối, tôi lên nhà chú Biên, hy vọng cái tin ấy chỉ là tin đồn. Vừa nhìn thấy tôi, chú Bẩy Choắt đã oang oang cái mồm như người rao báo những tin sốt dẻo nhất trong ngày: - Nhà máy giải thể rồi nhá. Mời hai chú cháu về Nam Hà mà câu cá với nhau! Chú Biên nằm trên giường như đang suy tính một điều gì. Thấy tôi sang, chú ngồi dậy, bảo tôi ngồi xuống cạnh giường. Không để tôi hỏi, chú bảo: - Chú Bẩy nói đúng đấy cháu ạ. Nhà máy phải dời đi, chuyển vào cho các tỉnh phía nam. Các chú cũng phải chuyển đi làm việc ở nơi khác. Như để thông cảm, tôi hỏi chú: - Các chú vẫn làm ở Hà Nội chứ! - Chưa biết được! Còn phải đợi cấp trên phân công công tác, có phải không ông Biên? Chú Bẩy nhanh nhẩu nói chen vào. Buổi tối hôm ấy thật là ảm đạm. Chú Bẩy cũng không còn hào hứng kể chuyện tiếu lâm như mọi khi. Còn chú Biên, chốc chốc lại hút một điếu thuốc lào như để xua tan những toan tính cho những ngày sắp tới. Tôi ngồi chơi với hai chú cũng chỉ được một lúc, rồi cáo từ ra về. Trưa hôm sau, đi học về, tôi thấy có hai chiếc xe con: một chiếc mang biển số 29 là của Hà Nội; một chiếc mang biển số 43 của một tỉnh phía trong. Có bốn năm người lạ hoắc, mặc com lê; có vẻ họ là những người lãnh đạo, đứng chuyện trò với nhau trước sân nhà máy. Mở cửa vào nhà, thấy em Quang đang dán mắt qua cửa sổ nhìn sang phía nhà máy. Thấy tôi về, nó reo lên như để báo một tin vui: - Mai dỡ máy rồi anh Minh ạ! Xe con trong Nam ra đấy! Nhanh thật. Cái tin ấy chẳng làm cho tôi vui chút nào. Tôi lặng lẽ treo cặp sách lên tường, rồi đi ra phía cửa sổ nhìn sang nhà máy. Một cảm giác buồn khó tả, với bao kỷ niệm đã gắn bó với tôi trong suốt thời niên thiếu: Từ tiếng máy bơm dầu, bơm nước; tiếng máy chạy khởi động xình xịch, xình xịch; tiếng đùa trêu nhau của các chú, các cô công nhân trong nhà máy... Và cũng có lúc, tôi trở thành “công nhân” bất đắc dĩ trong ca trực, giúp chú Biên bơm dầu. Ngày hôm sau nữa, năm chiếc xe tải và một chiếc xe cần cẩu cỡ lớn; ầm ầm chạy vào sân nhà máy. Trên xe chở vài chục công nhân cùng với những khúc gỗ to và dụng cụ tháo dỡ máy. Họ đến khá sớm, nói tiếng miền trong rất khó nghe. Nhìn biển đang ký xe, bố tôi bảo: - Đấy là xe của tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Những công nhân kia, chắc cũng là người Quảng Nam-Đà Nẵng? Một tuần, cả ngày lẫn đêm, ồn ào tiếng người hò reo; tiếng quai búa chát chúa, tiếng cờ lê, mỏ lết mở ốc cành cạch, cành cạch; tiếng gầm rú của chiếc xe cẩu mỗi khi phải nâng những cỗ máy nặng hàng chục tấn lên xe tải. Rồi đoàn xe nối đuôi nhau, chở máy ra đi; để lại ba căn nhà mái tôn rỗng tuếch, rộng như những cái hội trường lớn. Trong suốt thời gian dỡ máy, tôi không thấy một bóng dáng công nhân nào của nhà máy; kể cả chú Biên, chú Bảy. Tôi tự hỏi: không có lẽ các cô, các chú ấy đã chuyển đi ngay hoặc về quê rồi? Xe chở máy đi được bốn năm hôm; chú Biên xuất hiện trở lại. Gặp tôi ở đầu cổng nhà máy, chú bảo: - Tối chú sẽ sang chơi. Rồi chú đạp xe đi ra phố. Nhà tôi vừa ăn cơm tối xong thì chú Biên đến. Không để cho bố mẹ tôi hỏi chuyện, chú Biên vào đề ngay: - Em đến chào anh chị và các cháu đây. Mai em về quê rồi! Cái tin đó không chỉ bất ngờ đối với tôi, mà cả bố mẹ tôi nữa. Bố tôi không giữ được bình tĩnh, hỏi lại chú Biên: - Chú về quê là thế nào? Việc gì phải về quê! Chả nhẽ người ta không bố trí được việc cho chú hay sao? Thiếu gì chỗ làm ở Sở điện lực Hà Nội này! Biết bố tôi hiểu lầm, chú Biên phân bua: - Không phải thế đâu anh chị ạ. Sở điện Hà Nội bố trí đủ việc làm cho tất cả công nhân trong nhà máy. Riêng trường hợp của em và chú Bẩy, do hoàn cảnh gia đình ở xa, chúng em có nguyện vọng về quê cho gần nhà; nên giám đốc nhà máy đã tạo điều kiện để chúng em về sở điện lực của các tỉnh xin việc. Em xin về Sở điện lực Nam Hà. Từ thành phố Nam Định về nhà em cũng gần, khoảng 15 km, nên cũng tiện. Chú Bẩy về Hải Hưng, nhưng chưa thấy lên. Không biết có xin được việc không? Bố mẹ tôi tỏ ra mừng rỡ. Rõ ràng việc chú Biên chuyển về Nam Định cho gần gia đình là một giải pháp hợp lý. Mẹ tôi bảo: - Mừng cho chú đấy! Rõ không may mà lại may. Nhân có dịp giải thể nhà máy, các chú mới có cơ hội chuyển về quê. Chắc các cụ, cô nhà chú và các cháu ở quê mừng lắm nhỉ? - Chẳng giấu gì anh chị, các cụ thì quá mừng rồi. Còn nhà em, khỏi phải nói; thậm chí còn bảo, nếu xin việc ở thành phố Nam Định, có tốn kém, thì cô ấy sẽ cố chạy! - Nhưng cũng rất may anh chị ạ. Giám đốc Sở điện lực Nam Hà là chỗ quen thân của giám đốc Khâm. Khi em cầm lá thư giới thiệu của anh Khâm về, giám đốc chưa vội đọc. Nghe em nói là lính của anh Khâm về đây xin việc, giám đốc hỏi em vài ba câu về tình hình gia đình anh Khâm, về hoàn cảnh gia đình, quá trình công tác của em. Biết em đã từng là lính thông tin Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ, giám đốc có cảm tình ngay. Xé mảnh giấy nhỏ, viết mấy chữ, bảo em mang đến phòng tổ chức của Sở làm thủ tục tiếp nhận. Chỉ trong vòng buổi sáng, là xong mọi thủ tục giấy tờ. Hôm qua em đi cắt hộ khẩu rồi. Mai em ra ô tô sớm. Bây giờ anh chị cho cháu Minh lên chơi với em một lúc. Tiễn chú Biên ra cửa, bố tôi nắm chặt tay chú Biên, xúc động: - Chú được về gần nhà là chúng tôi mừng. Nhưng phải xa một người bạn như chú, cũng đáng tiếc lắm. Khi nào có dịp lên Hà Nội công tác, nhất định chú phải vào chơi với chúng tôi và các cháu đấy nhá! Chú cho chúng tôi gửi lời thăm sức khỏe hai cụ, cô ấy và các cháu ở quê. Chú Biên đã chuẩn bị sẵn một vài thứ cho cuộc liên hoan chia tay. Chú bày bánh kẹo, hai chai nước ngọt lên trên cái bàn uống nước cũ kỹ. - Ngồi xuống đây cháu! Ăn kẹo, uống nước nói chuyện cho vui. Chẳng biết còn có dịp nào để chú cháu ta cùng đi câu cá, ngồi uống nước với nhau như thế này nữa không? |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Đoạn kết - Nguyến Hữu Hùng
Tôi thực sự xúc động. Lời nói của chú tuy mộc mạc nhưng chứa đựng biết bao tình cảm gắn bó giữa tôi và chú. Cố kìm nước mắt, cầm cái kẹo trên tay mà quên cả bóc vỏ, lơ đãng nhìn quanh căn phòng tập thể tềnh toàng. Đến khi chú Biên nhắc tôi ăn kẹo lần thứ hai, tôi mới sực tỉnh là mình đang còn cầm cái kẹo trên tay. Tôi vẫn im lặng chưa nói được gì với chú Biên ở cái giờ phút chia tay đầy ý nghĩa này. Còn chú Biên! Có lẽ chú đã trải qua nhiều cuộc chia ly, hoặc chú có thể biết nén những tình cảm xúc động, để cuộc liên hoan vui vẻ; nên hôm nay, chú nói nhiều hơn mọi khi. Chú chỉ tay vào chiếc ba lô để ở đầu giường:
- Quần áo, màn, vỏ chăn chú đã đút gọn vào chiếc ba lô kia rồi. Mấy thứ lặt vặt và bát câu chú bỏ vào túi xách tay. Lềnh kềnh nhất là cái ruột chăn bông. Chưa biết đút vào đâu đây? Mãi bây giờ tôi mới có lý do để thêm thắt vào câu chuyện: - Thế còn bếp dầu, xoong, bát. Chú đựng vào cái gì? Giường chú không chở về à? - Chú Bẩy còn ở đây, để lại cho chú ấy dùng. Còn cái giường; nó cũ quá rồi, chỉ có thể làm củi thôi cháu ạ. - Thế cần câu chú có mang về không? - Có chứ! Của gia truyền nhà chú đấy cháu ạ! Chú kể về nguồn gốc cái cần câu mà nó đã gắn bó với chú trong nhiều năm: - Cần câu này là của ông nội chú, để lại cho bố chú. Đến chú là đời thứ ba đấy! - Cần câu của cháu cũng có thể thành thứ gia truyền, nếu cháu giữ gìn cẩn thận và phải câu được nhiều cá; sau này truyền lại cho con, cho cháu... Rồi chú kể chuyện ông nội chú công phu đi chọn cần câu như thế nào? Câu được những con quả to như thế nào? Truyền lại cho bố chú như thế nào? v.v. và v.v.. Thế rồi giờ phút chia tay cũng đã đến. Chú với tay về phía đầu giường, lấy từ trong túi xách ra một chiếc bút máy Trung Quốc, nhãn hiệu Kim Tinh còn mới nguyên: - Chú kỷ niệm cháu chiếc bút máy này. Điều mong mỏi duy nhất của chú là cháu phải vào được đại học; bất kể là đại học gì. Sang năm cháu vào lớp 12 rồi phải không? Bớt câu cá đi, dồn sức vào mà học cháu ạ. Hy vọng ngày nào đó, chú cháu mình gặp nhau; lúc đó cháu đã thành kỹ sư rồi. Tôi đón nhận quà tặng của chú, nước mắt cứ trào ra: - Vâng! Cháu ghi nhận lời chú dặn. Chú tiễn tôi ra cửa, ghì tôi vào lòng mà không nói gì thêm. Bây giờ nghĩ lại, có thể lúc đó, chú cũng khóc; nhưng do trời tối mà tôi không nhìn thấy! |
TRUYỆN CÁ QUẢ - Đoạn kết - Nguyến Hữu Hùng
Từ ngày những chiếc máy phát điện chuyển đi, khu nhà để máy được giao lại cho một cơ quan khác của Ngành điện. Họ đập đi, xây lên bốn dãy nhà cấp bốn, chia cho cán bộ công nhân viên. Người thì đến ở, người thì bán; nhưng phần lớn bán trao tay cho người ngoài. Dân tứ xứ đến mua: Cán bộ có, người buôn bán có. Họ đập đi xây lại thành nhà hai ba tầng. Không chỉ xây trên đất cũ mà họ xây lấn cả ra đường đi.
Đường vào khu nhà tôi trước đây: Xe tải cỡ lớn, mười lăm hai mươi tấn ra vào thoải mái. Nay: hai chiếc xe đạp tránh nhau cũng chật. Chẳng ai bảo được ai, chính quyền tỏ ra bất lực. Mạnh ai người ấy xây. Thanh tra xây dựng trên quận có đến, chủ nhà dúi cho cái phong bì là xong; mọi việc đâu vào đấy. Lấn hết diện tích dưới đất, rồi lấn không trung; hai nhà giáp mặt nhau, chỉ còn một kẽ hở. Cãi nhau, đánh nhau cũng chỉ vì tranh nhau cái cửa sổ. Họ chẳng thèm nhìn mặt nhau. Nhà nào biết nhà ấy. Có nhà mua đi, bán lại qua tay hai ba chủ. Cũng từ ngày ấy, các hồ ao xung quanh nhà tôi và một số hồ trong thành phố Hà Nội bị lấp đi nhanh chóng để làm đường, xây nhà chung cư. Sông Tô Lịch cũng tràn đầy rác rưởi, nước đen ngòm, không một loại cá nào có thể sống sót. Tôi cũng bỏ nghề câu cá quả, chuyên tâm vào việc học hành; thi đỗ hai trường đại học: Xây dựng và Kiến trúc. Tôi học Trường đại học kiến trúc Hà Nội, đang bước vào năm cuối. Hè năm ngoái, tôi thi xong môn cuối cùng; đã nghỉ hè được mươi hôm. Sau bữa cơm tối, cả nhà đang ngồi xem ti vi, thì có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa, tôi nhận ngay ra chú Biên. Tuy chú có béo ra đôi chút, đầu lất phất mấy sợi tóc bạc; nhưng vẫn như xưa. Chú ngỡ ngàng nhìn tôi: - Cháu Minh phải không? - Vâng! Cháu là cháu Minh của chú đây, chú vào nhà đi. Tôi mừng quá, gần sáu năm kể từ hôm chia tay với chú, nay mới gặp lại. Tôi kêu lên rõ to, như đứa trẻ con hồi nào: - Bố ơi, chú Biên! Bố mẹ tôi và cả em Quang nữa, đứng cả dậy ra đón chú Biên. Một cuộc hội ngộ quá bất ngờ. Tôi lăng xăng đi pha nước. Bố mẹ tôi ngồi nói chuyện với chú Biên; em Quang ngồi chầu rìa hóng chuyện. Lâu ngày không gặp nhau, nên ai cũng có nhiều chuyện muốn hỏi, muốn nói. Đầu tiên, chú Biên thổ lộ: - Suốt từ ngày chuyển về Sở điện lực Nam Hà, hôm nay em mới có dịp quay trở lại Hà Nội đấy anh chị ạ. Bố tôi nói chen vào: - Hà Nội thay đổi nhiều quá phải không chú! - Thay đổi quá nhiều anh chị ạ. Người ở đâu về mà đông đến thế? Chật kín cả đường. Chỉ có nhà anh chị là không chịu thay đổi thôi. Cháu Minh, cháu Quang lớn nhanh quá. Nếu gặp ở ngoài đường chưa chắc đã nhận ra các cháu đâu! Đến lượt mẹ tôi chen vào: - Hai cụ, cô và các cháu ở quê có khỏe không? Chú làm ăn có khá không? - Cám ơn anh chị hỏi thăm, các cụ đều khỏe. Nhà em và các cháu cũng thế. Em đưa cháu đầu lên đây thi; cháu thi vào Đại học sư phạm I, ở hội đồng thi trường Thịnh Quang, trên đường Láng ấy. Chiều hôm kia, hai bố con ra đi ô tô, xuống bến xe Giáp Bát, bắt xích lô đến thẳng trường Thịnh Quang. Định đến để xem tình hình đăng ký thủ tục thi cử thế nào, rồi vào đây nhờ anh chị. Nhưng thấy ở trường có chỗ ăn, chỗ nghỉ; nên hai bố con thuê hai cái giường, tuy không đàng hoàng lắm nhưng cũng được. Có năm nghìn đồng một người một tối, có quán ăn phục vụ tại cổng. Học sinh từ các tỉnh về thi nên cũng đông vui. Sáng nay, cháu làm thủ tục nhập thi đến trưa mới xong. Em định đưa cháu vào đây thăm hai bác và các anh; nhưng mới gặp bạn bè, các cháu tranh thủ trao đổi bài vở để ngày mai vào thi cho yên tâm. Cơm tối xong, em rông bộ vào đây đấy. Từng ấy năm ở đây rồi, thế mà đến đầu nhà E3, em phải dừng lại để hỏi thăm; rồi đến trước cửa hàng karaokê Thái Bình Dương, em lại phải hỏi thăm một lần nữa. Mẹ tôi trách chú: - Lên đây rồi mà chú không đưa cháu vào đây nghỉ. Chỗ chúng tôi với chú chứ đâu xa lạ. Chú Biên chống chế: - Thực tình ở nhà, em dự định lên đây nhờ anh chị thật. Nhưng khi đến trường, em thấy ở đấy cũng tiện; nhất là cháu nhà em, nó cũng muốn ở lại trường cho có bạn. Những ông bố, bà mẹ; các anh, các chị đưa con em mình đi thi, hầu hết từ các vùng nông thôn của các tỉnh phía Bắc; có nhiều chuyện để nói, cứ vui như hội. Thôi thì thế này: - Ngày mai cháu nó thi xong hai môn đầu, tối mai em đưa cháu đến thăm hai bác và anh Minh, anh Quang. Thế có được không chị? - Tất nhiên là được rồi. Nhưng tôi phải giao hẹn với chú là đến đây ăn cơm tối cùng với gia đình đấy! Chú đừng có ngại, giờ không “hoàn cảnh” như trước nữa đâu! Chú cứ bảo nhà tôi không có gì thay đổi. Nhưng chú xem: nhà cửa rộng gấp ba, gấp bốn so với hồi chú còn ở đây; đồ đạc trong nhà, có khối thứ mới đấy chứ: ti vi, tủ lạnh, xe máy...Mẹ tôi khoe với chú. Ngồi chơi uống nước, hỏi thăm việc học hành của tôi và em Quang; hỏi thăm chú Bẩy và bạn bè trong nhà máy cũ của chú. Chuyện trò với bố mẹ tôi gần một tiếng đồng hồ, rồi chú xin phép ra về. Bố mẹ tôi muốn giữ chú ở lại nghỉ; nhưng chú bảo, phải về để con gái chú yên tâm. Tôi lấy xe máy đưa chú về. Lúc đầu chú cứ gạt đi, chú bảo: - Đường gần ấy mà, đi bộ khoảng mười lăm phút thôi! Tôi đề xuất đưa chú đi thăm thú một vài chỗ mà trước đây hai chú cháu đứng câu cá hàng giờ; đến những chỗ mà mùa câu nào cũng kiếm được cả chục con quả trở lên. Chú đồng ý ngay. Tôi đèo chú đi một vòng: ra phố Thái Thịnh, qua Học viện thủy lợi, Trường đại học Công đoàn, rẽ về phố Đặng Tiến Đông, quành sang phố Thái Hà, Láng Hạ, Láng Trung, khách sạn Daewoo, vòng lên Cầu Giấy, về đường Láng. Chỗ nào chú cũng bảo, không còn nhận ra nữa, thành công viên, nhà ở cả rồi. Chúng tôi dừng lại chỗ Cống Mọc, nơi lần đầu tiên chú dẫn tôi ra đây tập câu. Mùi hôi thối từ nước sông Tô Lịch bốc lên. Chú ngán ngẩm, lắc đầu: - Ô nhiễm quá chừng cháu ạ; ngoài bọ gậy ra thì khó có loài cá nào sống được ở đây! |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:23. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.