Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn học (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=33)
-   -   VĨNH BIỆT GUNXARƯ-Chingiz Aitmatov (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3013)

Siren 13-06-2010 09:45

VĨNH BIỆT GUNXARƯ-Chingiz Aitmatov
 
Vào trung tuần tháng Sáu cách đây hai năm, báo cand.com đã đưa tin Nhà văn Chingiz Aitmatov qua đời, nội dung của bài báo do tác giả Mạnh Hiền viết như sau:

http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=52873

Vĩnh biệt tác giả "Một ngày dài hơn thế kỷ"

Nhà văn Kyrgyzia nổi tiếng Chingiz Aitmatov, tác giả của những tác phẩm làm rung động hàng triệu con tim trên thế giới đã qua đời tại Bệnh viện Nuremberg ở CHLB Đức vào hồi 15 giờ 31 phút ngày 10/6. Hãng DPA của CHLB Đức đưa tin nhà văn Kyrgyzia qua đời vì bệnh phổi.


Chingiz Aitmatov đã lâm bệnh từ mấy tháng trước tại Kazan, nơi ông tham gia quay phim "Một ngày dài hơn thế kỷ". Ông được đưa vào điều trị tại bệnh viện tốt nhất ở Tatarstan (Nga). Ngày 16/5, Aitmatov được đưa sang Đức chữa trị và ông đã vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 80.

Aitmatov sinh năm 1928 tại làng Sheker, vùng Talass của Kyrgyzia. Tuổi thơ ông rong ruổi trên những cánh đồng và thảo nguyên vùng Trung Á thơ mộng. Lớn lên, Aitmatov đến sinh sống cùng gia đình tại Moskva. Nước Nga với những cánh rừng bạch dương hùng vĩ và những con người nhân hậu đã nuôi dưỡng tâm hồn Aitmatov, hun đúc nên những tác phẩm bất hủ của ông. Chính vì thế, những tác phẩm của Aitmatov đều thể hiện bằng hai thứ tiếng Kyrgyzia và Nga. Từ năm 1952, những tác phẩm đầu tiên của Chingiz Aitmatov lần lượt ra đời.

Đến nay, những tác phẩm của nhà văn đã được tái bản tới 650 lần trên thế giới và được dịch sang 170 ngôn ngữ khác nhau với số lượng lên đến 60 triệu bản. Tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn "Khi nào núi đổ (nàng dâu vĩnh viễn)" vừa được xuất bản tại Moskva năm 2006. Năm nay ở Kirgizia là "Năm Chingiz Aitmatov".

Mới đây, tại Thổ Nhĩ Kỳ, một ủy ban vận động đề cử Aitmatov làm ứng cử viên giải thưởng Nobel Văn học được thành lập. Sáng kiến đề cử Aitmatov do Hội nghị Bộ trưởng các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Altai, Tatarstan, Tuva... đưa ra.

Hội nghị khẳng định Aitmatov là nhà hoạt động văn học xuất sắc của cộng đồng Turkic. "Chingiz Aitmatov được coi như biểu tượng tinh thần và nhân phẩm của tất cả nhân dân Turkic trên toàn thế giới, còn toàn bộ cuộc đời nghệ thuật của ông có ý nghĩa quốc tế sâu rộng"- Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Abdull Gul tuyên bố.

Chingiz Aitmatov đã từng giữ các chức vụ như Tổng biên tập tạp chí "Văn học nước ngoài", Thư ký Hội Nhà văn Liên Xô. Ông được phong danh hiệu nhà văn nhân dân của Kyrgystan, Anh hùng Lao động XHCN, được nhận giải thưởng Lênin, 3 lần đoạt giải thưởng Quốc gia Liên Xô, Đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô, Ủy viên BCH T.Ư Đảng Cộng sản Kyrgyzia.

16 năm cuối đời, Aitmatov làm đại sứ của Kyrgyzia ở châu Âu.

Nước Nga đau đớn nhận tin Aitmatov qua đời. Tổng thống D.Medvedev gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến của nhà văn. Chủ tịch Hội các nhà xuất bản Nga Mikhail Seslavinsky nêu rõ: "Trong những ngày cuối đời, Aitmatov luôn trăn trở rằng phải làm tất cả để giữ mối quan hệ nhân văn bền chặt giữa các nước cộng hòa trong không gian hậu Xôviết. Ông tham gia các cuộc hội thảo và luôn là người bạn thân thiết, gần gũi của đất nước chúng ta. Sự nghiệp sáng tác của ông là một phần không thể thiếu trong không gian văn học của đất nước chúng ta".

Ngoại trưởng Pháp Bernar Kushner vô cùng thương tiếc nhà văn Kyrgyzia, ông cho rằng Aitmatov luôn sống mãi trong lòng những người hâm mộ như một nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nhà hoạt động văn hóa xã hội Mikhail Veller khẳng định sự ra đi của Aitmatov đã để lại khoảng trống, mất đi một mắt xích quan trọng trong không gian văn hóa hậu Xôviết.

Bạn đọc Việt Nam mến yêu Chingiz Aitmatov qua những tác phẩm: "Người thầy đầu tiên", "Núi đồi và thảo nguyên", "Giamilia", "Cây phong non trùm khăn đỏ", "Vĩnh biệt Gunxarư", "Một ngày dài hơn thế kỷ", "Đoạn đầu đài"... Đó là những thiên truyện đã thực sự làm ngây ngất những con tim luôn khát khao với cuộc sống mến yêu, với thiên nhiên thấm đẫm tình người.

Chingiz Aitmatov thực sự là cây đại thụ trong nền văn học Xôviết, một nhà văn chói ngời với những tư tưởng nhân văn.

"Vĩnh biệt Gunxarư"! Vĩnh biệt Chingiz Aitmatov!

Nhà văn của nhân dân Chingiz Aitmatov


Để tưởng nhớ nhà văn, tôi xin được chép lại cuốn Vĩnh biệt Gunxarư do dịch giả Phạm Mạnh Hùng dịch, sách do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1986, như một nén nhang gửi tới vong linh nhà văn yêu mến trong ngày giỗ lần thứ hai của ông.

nthach 13-06-2010 11:42

Siren ơi !!!

Chắc rằng mọi người sẽ mong được đọc, và ủng hộ tác phẩm do bạn đăng lên diễn đàn rồi. :emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands

Siren 13-06-2010 12:03

VĨNH BIỆT GUNXARƯ
 
Một người già nua trên chiếc xe ngựa già nua. Con ngựa Gunxarư màu vàng nhạt cũng đã già, già lắm rồi...

Đường ngược lên cao nguyên, leo dốc lên đến phát ớn lên được. Mùa đông gió tuyết luôn luôn quay cuồng giữa những ngọn đồi xám xịt hoang vắng, mùa hè thì nóng như hoả ngục.

Đối với Tanabai, đoạn dốc này bao giờ cũng là một cực hình thực sự. Ông không ưa cho xe đi chậm, đi chậm quả tình là ông không sao chịu đựng nổi. Thời trai trẻ, ông thường có việc lên huyện, trên đường về lần nào ông cũng thúc ngựa phi nước đại lên dốc. Ông quất roi không chút xót thương. Còn nếu đi xe tải hạng cùng với những người khác, nhất lại là xe do bò kéo thì đến chân dốc, xe đang chạy ông cũng nhảy xuống, lẳng lặng vơ lấy áo mũ và cuốc bộ. Ông rảo bước hung hăng như đang xông lên trong mộtt trận tấn công, cứ như thế cho đến khi lên đến cao nguyên ông mới dừng lại. Miệng há ra hớp không khí, ông chờ chiếc xe đang bò lên ở mãi dưới kia. Chạy bộ nhanh, tim ông đập như điên như dại, nhoi nhói trong lồng ngực. Nhưng thà vậy còn hơn ngồi trên chiếc xe bò kéo chậm rề rề.

Tsôrô, nay đã qua đời, thường thích chế nhạo thói kỳ quặc của bạn. Ông nói:

-Tinabai này, anh có biết tại sao anh cứ long đong lận đận mãi không? Là vì anh có tính nôn nóng. Nói tình thực đấy. Bất cứ việc gì anh cũng cứ muốn thật mau lên, thật gấp vào. Cách mạng thế giới ư? Làm ngay đi! Mà nói gì đến cách mạng, ngay một chặng đường bình thường, đoạn lên dốc từ Alexanđrốpka, anh cũng chẳng đủ kiên gan chịu đựng nữa là. Người ta thì điềm nhiên ngồi trên xe, riêng anh lại nhả xuống, hăm hở chạy lên dốc như bị chó sói đuổi sau lưng. Nhưng có lợi gì hơn không nào?Chẳng được cái tích sự gì. Vẫn cứ phải ngồi trên đỉnh dốc chờ người khác đến. Làm cách mạng thế giới cũng thế, không thể một mình nhảy lên vượt lên trước được, hiểu chưa?. Như vậy thì sẽ lại phải chờ cho mọi người lên theo kịp.

Nhưng chuyện ấy đã lâu rồi, lâu lắm rồi.

Lần này Tanabai vượt qua dốc Alexanđrốpka lúc nào không biết. Thì ra về già , ông đã quen đi. Ông cho xe đi không nhanh, không chậm, theo đà bình thường. Bây giờ, bao giờ ông cũng ra đi một mình. Những người trước đây đã cùng ông họp đoàn đông vui đi lại trên con đường ồn ào này, nay không tìm đâu ra nữa. Người thì đã bỏ mình nơi chiến địa, người thì đã qua đời, người thì ngồi nhà sống nốt những ngày cuối cùng. Còn thanh niên bây giờ chúng nó đi xe có động cơ kia chứ. Chẳng ai hơi đâu cùng ông kéo lê trên đường với một con nghẽo thảm hại.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Và nó sẽ còn phải lăn lọc cọc một thời gian lâu nữa. Phía trước là thảo nguyên, rồi tiếp đó, sang bên kia con kênh, còn phải vượt qua một vùng gần núi.

Đã từ lâu, ông nhận thấy con ngựa hình như đang xuống sức, cứ đuối dần. Nhưng bận rộn với những ý nghĩ buồn phiền, ông chẳng lo ngại gì cho lắm. Con ngựa mệt mỏi chút ít ở dọc đường thì có gì ghe gớm kia chứ. Đôi khi còn gặp những rủi ro tai ác hơn nhiều. Nhất định nó sẽ kéo được xe về nhà.

Vả chăng, làm sao ông biết được rằng con ngựa già của ông, tên là Gunxarư ( vì nó có bộ lông màu vàng nhạt- tiếng Kirghizya- Gunxarư nghĩa là bông hoa màu vàng, cái nụ hoa vàng) đang vượt dốc Alexanđrốpka lần cuối cùng trong đời nó và giờ đây đang đưa ông đi những dặm đường cuối cùng của nó. Làm sao ông biết được rằng đầu óc con vật đang choáng váng mê mụ, bà trong con mắt đã mờ đục của nó, mặt đất bồng bềnh hoa lên những vòng tròn nhiều màu sắc, nghiêng ngả chòng chành, quyệt hết rìa bên nọ đến rìa bên kia vào bầu trời, đường cái trước mặt con vật đôi lúc dứt quãng đột ngột, biến thành một khoảng trống đen ngòm và con vật tưởng chừng như ở phía trước, nơi nó đang đi tới, lại bồng bềnh trong đám sương mù hay đám khối màu đỏ nhạt, tuy lẽ ra ở đấy nhất định phỉa có núi. Một cơn đau âm ỉ kéo dài nhói lên trong trái tim đã suy kiệt của nó, nó thở ra mỗi lúc một khó khăn hơn trong vòng cổ. Cái đai mông trẹo sang bên cứa vào da thịt, còn ở mé bên trái, dưới vòng cổ có cái gì nhọn luôn luôn đâm đau nhói. Có lẽ đó là cái gai hay đầu đinh đâm qua lớp dạ lót vòng cổ. Vết thương vừa mới há miệng trên cái u chai cũ ở vai, đau rát và ngứa không chịu nổi. Vó mỗi lúc một nặng chịch, tưởng như bước trên cánh đồng ướt mới cày...

Siren 16-06-2010 23:20

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)
 
Nhưng con ngựa già vẫn gắng gượng tiến bước, còn ông già Tanabai thỉnh thoảng lại giật cương thúc giục và mải miết theo đuổi ý nghĩ của mình. Ông có nhiều điều đáng nghĩ ngợi.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Gunxarư vẫn chạy bằng cái nước đi dị dạng quen thuộc ấy ( một kiểu đi khác thường của ngựa, hai chân một bên cùng cất lên một lần, tạm dịch là dị dạng vì không có từ thích ứng - ND), vẫn cái nhịp nước kiệu đặc biệt ấy mà chưa bao giờ nó đi sai lạc, kể từ ngày đầu tiên trong đời nó đứng lên được và chập chững chạy trên đồng cỏ theo sau mẹ. Mẹ nó là là một con ngựa cái cao lớn, có mái bờm dày rậm.

Gunxarư có nước đi dị dạng từ lúc lọt lòng mẹ. Vì cái nước đi trứ danh ấy, trong đời nó đã có nhiều ngày vui sướng và nhiều ngày đắng cay. Trước đây không ai tính đến chuyện dùng nó kéo xe, đâu có chuyện sỉ nhục như thế. Nhưng như người ta thường nói, khi con ngựa gặp vận khốn, nó sẽ đeo cả cương và hàm thiếc đi uống nước, khi một chàng trai anh tài gặp vận khốn, anh ta sẽ để cả ủng lội qua chỗ sông cạn.
Đấy toàn là chuyện trước kia, nay đã lùi về dĩ vãng xa xôi. Giờ đây con vật dốc hết chút sức tàn đi tới cái vạch chót của mình. Chưa bao giờ nó đi tới cái vạch chót chậm đến thế và chưa bao giờ nó tới gần cái vạch ấy nhanh đến thế. Cái vạch chót vẫn luôn luôn cách nó một bước.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ.

Cảm giác mặt đất bập bềnh dưới chân khơi dậy trong ký ức đã tàn lụi của nó bóng dáng những ngày hè xa xăm ấy, một cánh đồng cỏ ướt đẫm nằm lọt giữa núi đồi và rung rinh tròng trành, cái thế giới kỳ diệu và khó tưởng tượng nổi ấy, ở đó vầng mặt trời hý vang và nhảy nhớt trên những ngọn núi, còn nó, con ngựa non khờ khạo, nó đuổi theo mặt trời, băng qua đồng cỏ, qua con sông nhỏ, qua những bụi cây, cho đến khi con ngựa đực đầu đàn, hai tai áp sát vào đầu đầy vẻ tức giận, đuổi kịp nó và bắt nó quay trở lại.
Vào cái thuở xa xưa ấy, những đang ngựa dường như đi ngược vó lên trời, như hình bóng in dưới đáy hồ, còn mẹ nó, một con ngựa cái cao lớn có mái bờm dày rậm, biến thành đám mây sữa ấm áp. Nó thích những lúc mẹ nó bỗng chốc biến thành đám mây thở phì phì đầy tình thương âu yếm. Vú mẹ trở nên rắn căng và ngọt ngào, sữa sủi bọt trên môi nó và tuôn ra nhiều quá và ngọt quá làm nó sặc sụa. Nó thích đứng như thế, rúc đầu vào bụng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm. Cái thứ sữa mới mê ly, ngây ngất làm sao! Cả thế giới - mặt trời, đất, mẹ - chứa gọn trong một ngụm sữa, rồi một ngụm nữa...

Siren 23-06-2010 22:25

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tiếc thay, hạnh phúc chẳng được bao lâu, ngắn ngủi quá. Chẳng bao lâu tất cả đổi khác. Mặt trời không còn hí vang và nhảy nhót trên núi, mà nghiêm nghị nhô lên ở đằng đông và không ngừng di chuyển về hướng tây, các đàn ngựa không còn đi ngược vó lên trời, đồng cỏ bị vó ngựa giẫm nát lép nhép và sẫm đen lại, đá trên bãi cát bồi lộp độp vỡ vụn ra. Ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm trở thành bà mẹ nghiêm khắc, cắn rất đau vào bắp vai nó khi nó quấy rầy nhiều quá. Sữa không còn đủ bú nữa. Phải ăn cỏ. Từ đó bắt đầu một cuộc sống kéo dài nhiều năm ròng và giờ đây sắp kết liễu.

Suốt cuộc đời dài lâu của mình. Gunxarư chưa bao giờ trở lại mùa hè ấy, cái mùa hè đã qua đi mãi mãi. Nó mang yên cương, sải vó trên các nẻo đường, nhiều người đã từng cưỡi trên lưng nó, vậy mà đường đi vẫn chưa hết. Mãi đến bây giờ, khi mặt trời lại nhảy nhót, còn mặt đất chòng chành dưới chân, mắt hoa lên và mờ đi, nó mới lại mường tượng thấy cái mùa hè đã lâu lắm chưa hề trở lại. Dẫy núi ấy, cánh dồng cỏ ướt sương ấy, những bầy ngựa ấy, ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm dang ở trước mắt nó trong ánh hào quan lung linh kì lạ. Và nó căng hết cơ bắp, vươn dài người, đạp hai chân một cách tuyệt vọng, cố thoát ra khỏi càng xe, vùng ra khỏi cổ và càng xe để đi vào thế giới dĩ vãng ấy, cái thế giới đột nhiên hiện về với nó. Nhưng cái ảo ảnh lừa dối cứ luôn luôn lùi ra xa, thật khổ tâm xiết bao. Ngựa mẹ hí khe khẽ gọi nó, như thuở nó còn thơ dại, những bầy ngựa rầm rập chạy qua, sườn và đuôi quyệt vào nó như hồi nó còn thơ dại, nhưng nó không đủ sức vượt qua làn sương mù lấp lánh của cơn bão tuyết đang nổi lên mỗi lúc một dữ tợn ở xung quanh. Bão quất vào nó những chiếc đuôi cứng, nhồi tuyết vào mắt và mũi nó, toàn thân nó đẫm mồ hôi nóng, nó lạnh run lên, và cái thế giới không thể nào tới được ấy chìm nghỉm êm nhẹ như không, biến mất trong những cơn lốc của trận bão tuyết. Thế rồi núi non, đồng cỏ, con sông cũng biến mất, những bầy ngựa chạy biến đi, và ở phía trước, bóng dáng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm chỉ còn là một vệt mờ. Ngựa mẹ không muốn bỏ rơi nó. Mẹ gọi nó. Nó rán sức hí lên, nức nở, nhưng nó không nghe thấy tiếng mình. Tất cả đã biến mất, kể cả cơn bão tuyết. Bánh xe không còn lọc cọc nữa. Vết thương nhỏ dưới vòng cổ không còn nhức nhối nữa.
Gunxarư dừng lại, lảo đảo. Mắt nhìn buốt nhói. Trong đầu có tiếng u u kì lạ, liên tục bất tận.
Tanabai ném dây cương xuống tấm chắn phía trước xe, lóng ngóng trèo xuống, cử động đôi chân tê dại và cau có đến gần con ngựa.

-Hừ, quỉ tha ma bắt mày đi! – Ông nhìn con ngựa, khẽ mắng.

Con vật vẫn đứng, cái đầu đồ sộ với cái cổ dài gầy ngẵng thõng xuống dưới vòng cổ. Xương sườn con vật giương lên xẹp xuống một cách khó nhọc, và hai bên hông gầy guộc, nhẽo nhợt nhô lên những xương cùng xẩu. Lông nó trước kia vàng tươi, óng ánh sắc vàng mười, bây giờ ngả sang màu nâu xỉn, bết mồ hôi và bùn. Những vệt mồ hôi xanh nhạt, nom như vệt xà phòng, chạy dài từ đầu xương cùng xuống bụng, chân và móng.
- Nào có phải tao thúc ép mày chạy quá sức đâu – Tanabai lẩm bẩm và quính lên, nới lỏng đai bụng hàm thiếc hết nước bọt dính nhớp, nóng hổi. Ông dùng tay áo lau mõm và cổ cho con ngựa. Rồi ông chạy vội về chỗ chiếc xe để vun vét nốt chỗ cỏ khô còn lại, ông vét được nửa ôm cỏ và đem đến vứt dưới chân con vật. Nhưng con ngựa không động đến cái ăn, một cơn run nhè nhẹ lan khắp toàn thân nó.
Tanabai đưa một nắm cỏ khô đến gần mõm ngựa.

- Ngoạm lấy, ăn đi, cái con này lạ thật!

Môi con vật mấp máy, nhưng không thể ngoạm được nắm cỏ. Tanabai nhìn vào mắt con vật và cảm thấy buồn phiền. Ông chẳng nhìn thấy gì hết trong đôi mắt hõm sâu nửa khép nửa mở dưới lớp mi răn reo đã trụi hết lông của nó. Đôi mắt ấy mờ đục và trống rỗng như cửa sổ của ngôi nhà bỏ hoang.
Tanabai bối rối nhìn khắp xung quanh: đằng xa kia là những dãy núi, quanh đây là thảo nguyên trơ trụi, trên đường cái không một bóng người. Vào mùa này rất hiếm người qua lại nơi đây.

Chỉ có một con ngựa già và một ông già trên con đường vắng ngắt.

Siren 23-06-2010 22:26

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Bấy giờ là cuối tháng hai.
Tuyết đã tan trên đồng bằng, chỉ riêng trong các khe và những mương xói mọc đầy cói là vẫn còn những đống tuyết cuối cùng nom giống như những tấm lưng chó sói trong hang ổ kín đáo của mùa đông. Gió thoang thoảng mùi tuyết đọng, đất vẫn còn đóng giá, xám ngắt, chưa hồi sinh. Thảo nguyên lổn ngổn đá vào cuối đông sao mà quạnh hiu và ảm đạm. Chỉ riêng quang cảnh thảo nguyên cũng đủ khiến Tanabai lạnh giá trong lòng.
Hếch cao chòm râu bạc bù xù, che mắt dưới ống tay cứng queo của tấm áo lông, ông nhìn một lúc lâu về phía tây. Mặt trời lư lửng giữa những đám mây ở tận cuối trái đất. Hoàng hôn nhợt nhạt, mờ hơi sương đã loang ra ở chân trời. Không có điều gì báo trước thời tiết xấu, nhưng vẫn lành lạnh và hơi đáng sợ.
“Biết thế này thì chẳng đi là hơn. – Tanabai buồn bực – Bây giờ đi không được, trở lại không xong, đành đứng trơ ra giữa đồng không mông quạnh. Lại làm cho con ngựa chết uổng nữa chứ”.
Phải, có lẽ ông nên để sáng mai hãy ra đi. Ban ngày ban mặt, nếu có xảy ra chuyện gì ở dọc đường thì vẫn có thể gặp một người qua đường. Nhưng lúc ông ra đi thì đã quá trưa. Mùa này ai lại đi như thế kia chứ?
Tanabai lên một gò cao nhìn xem ở đằng xa có chiếc xe nào từ phía sau hay phía trước đi tới không. Nhưng nhìn ngược nhìn xuôi chẳng thấy gì và cũng chẳng nghe thấy tiếng động nào. Ông uể oải trở lại chỗ xe ngựa.
“Ta ra đi thực là dại” – Tanabai lại tự nhủ, lần này không biết là lần thứ bao nhiêu ông trách mình suốt đời hấp tấp. Ông cáu kỉnh, vừa giận mình vừa bực tức về tất cả những gì đã thôi thúc ông vội vã rời khỏi nhà con trai ông. Đúng là nên ở lại đêm nay để cho con ngựa nghỉ ngơi lấy lại sức. Vậy mà ông đã làm gì?
Tanabai phảy tay một cách tức giận. “Không, dù thế nào ta cũng sẽ không ở lại. Dù phải cuốc bộ ta cũng ra về! – Ông tự biện bạch với mình. – Cái thói đâu ăn nói với bố chồng như thế kia chứ? Chẳng gì ta cũng là bố chúng nó kia mà. Nó lại dám mở miệng ra nói ông vào đảng làm gì để mà suốt đời chăn cừu với chăn ngựa, rồi về già lại bị đuổi ra khỏi đảng… Mà thằng con ta cũng chẳng ra gì. Cứ câm như thóc, không dám ngước mắt lên. Con vợ mà xui nó từ bỏ bố thì nó cũng từ phắt cho mà xem. Cái đồ ươn hèn, thế mà cũng tấp tểnh leo lên làm lãnh đạo kia đấy. Hừ, còn phải nói gì nữa! Bọn chúng nó bây giờ có ra cái quái gì đâu, hỏng lắm rồi.
Tanabai cảm thấy bức bối,ông cởi khuy cổ áo sơ mi và thở hổn hển, bắt đầu đi lại xung quanh chiếc xe, quên bẵng cả con ngựa, cả con đường, cả đêm tối đang xuống. Ông vẫn không thể nào bình tâm được. Lúc ở nhà con trai, ông dằn lòng nhẫn nhịn, vì cho rằng cãi cọ với con dâu thật không ra thể thống gì. Nhưng bây giờ ông bỗng giận sôi lên, cứ như lúc này thì ông sẵn sàng nói thẳng vào mặt ả tất cả những ý nghĩ cay đắng ông đã nghiền ngẫm ở dọc đường. “Không phải cái thứ mày kết nạp tao vào đảng, cũng không phải cái thứ mày đã khai trừ tao ra khỏi đảng. Con ạ, làm sao mày biết được những gì đã xảy ra hồi ấy? Bây giờ ngồi phán xét mọi chuyện thì dễ thôi. Bây giờ người nào cũng được học hành, được tôn trọng, kính nể. Nhưng hồi ấy, mọi trách nhiệm đều đổ lên đầu chúng ta, mà trách nhiệm mới khắc nghiệt làm sao! Phải chịu trách nhiệm về bố, về mẹ, về bạn và thù, về bản thân, về con chó hàng xóm, về đủ mọi thứ trên đời ! Còn về việc ta bị khai trừ thì mày chớ có đả động đến! Đấy là nỗi đau buồn của ta, con ạ. Chuyện ấy mày không được động đến!”.
- Chuyện ấy mày không được động đến! – Ông vẫn nói thành tiếng và vẫn quanh quẩn bên chiếc xe ngựa – Chuyện ấy mày không được động đến! – ông nhắc đi nhắc lại vẫn một câu. Và đáng bực nhất, bẽ bàng nhất là ngoài câu “mày không được động đến”, hình như không còn gì để nói nữa.
Ông cứ đi đi lại lại quanh chiếc xe mãi, cho đến khi nhớ ra rằng cần phải làm một việc gì: không thể ở lại đây suốt đêm được.
Gunxarư trong bộ đồ thắng xe vẫn đứng yên không nhúch nhích, dửng dưng với mọi sự đời, lưng gù lên, chân chụm vào nhau, nom như đã hoá đá, như đã chết.
- Mày sao thế? – Tanabai nhảy bổ đến cạnh nó và nghe thấy một tiếng rên khe khẽ, kéo dài của con vật. – Mày ngủ ư? Mày khó ở ư, anh bạn già? Ốm ư? Ông hối hả sờ nắn đôi tai lạnh của con vật, luồn một tay dưới bờm nó. Ở đấy cũng lạnh và ẩm. Nhưng điều làm ông hoảng nhất là ông không cảm thấy sức nặng quen thuộc của cỗ bờm: “Nó già thực sự rồi, bờm đã thưa đi nhiều, nhẹ bổng như lông tơ. Tất cả chúng ta đều già đi, rồi cũng đến ngày tận số”. – Ông nghĩ một cách chua xót. Ông đứng lên, lưỡng lự không biết làm gì. Nếu bỏ mặc con ngựa với chiếc xe ở đây mà đi bộ thì đến nửa đêm có thể về đến nhà, đến cái trạm gác của ông trong hẽm núi. Ông và vợ sống ở trạm, gần chỗ ở của người trông coi công việc thủy lợi, cứ theo con sông nhỏ ngược lên phía trên chừng một kilômét rưỡi là đến. Mùa hè Tanabai trông nom việc cắt cỏ, mùa đông ông trông coi những đống cỏ khô, không để cho những người chăn cừu lấy trộm hoặc dùng hết cỏ quá sớm.
Mùa thu năm ngoái, khi ông đến ban quản trị có việc, anh đội trưởng, một kĩ sư nông nghiệp trẻ tuổi mới đến, nói với ông:
- Acsakan ạ, bác xuống chuồng ngựa mà xem, chúng con đã chọn cho bác con ngựa khác rồi đấy. Của đáng tội nó hơi già, nhưng với công việc của bác thì được thôi.
- Con nào đấy nhỉ? – Tanabai có ý lo ngại – Lại một con nghẽo cà khổ nào phải không?
- Bác cứ đến xem đi rồi sẽ biết. Một con ngựa sắc vàng. Bác hẳn phải biết con ngựa này, nghe nói trước kia bác vẫn cưỡi nó.
Tanabai đến chuồng ngựa, và khi nhìn thấy con ngựa ở sân, lòng ông quặn đau. “Thì ra ta lại gặp nhau”. – ông thầm nói với con ngựa gì rút cuộc cũng đã suy kiệt. Ông không đang tâm khước từ nó. Ông đem con ngựa về.
Về đến nhà, vợ ông phải khó khăn lắm mới nhận ra con ngựa có nước đi dị dạng.
- Tanabai, có phải con Gunxarư đấy không? – Bà ngạc nhiên.
- Phải, chính nó đấy, có gì là lạ kia chứ… - Tanabai lầu bầu, cố không nhìn vào mắt vợ.
Cả hai vợ chồng đều không muốn khơi lại những kỷ niệm gắn bó với con ngựa Gunxarư. Thời trai trẻ, Tanabai đã có phen lầm lỗi, phải, ông đã từng lầm lỗi. Để câu chuyện khỏi xoay sang chiều hướng không hay, ông hơi sẵng giọng bảo vợ:
- Sao lại cứ đứng ngây ra thế, đi hâm lại thức ăn đi. Tôi đói cào cả ruột rồi đây này.
- Nhìn nó tôi nảy ra ý nghĩ: tuổi già là thế đấy – Vợ ông đáp – Nếu ông không bảo tôi đây chính là Gunxarư ấy thì hẳn là tôi không nhận ra.
- Có gì là lạ nhỉ? Bà tưởng tôi với bà nom khá hơn chắc! Cái gì cũng có thời của nó.
- Thì tôi cũng nghĩ vậy chứ sao? – Bà vợ trầm ngâm lắc đầu, rồi cất tiếng cười hiền hậu và nói. – Có lẽ đêm đêm ông sẽ lại nhóng con Gunxarư của ông đi chơi nhởn đấy nhỉ? Tôi cho phép đấy.
- Vớ vẩn! – Ông lúng túng nói lảng và xoay lưng về phía vợ. Vợ nói đùa thì lẽ ra nên đáp lại bằng một câu đùa, nhưng vì bối rối, ông leo lên gần mái nhà kho lấy cỏ khô. Ông loay hoay ở đấy một lúc lâu. Ông tưởng vợ ông đã quên chuyện ấy, vậy mà không.
Khói cuồn cuộn tuôn ra qua ống khói, vợ ông hâm lại bữa ăn trưa đã nguội, vậy mà ông vẫn loay hoay với đám cỏ khô, mãi cho đến lúc vợ ông đứng ở cửa lớn tiếng gọi:
- Xuống đi, kẻo không thức ăn lại nguội mất.
Bà không đả động đến chuyện xưa nữa, khơi lại đống tro tàn làm gì?
Suốt mùa thu và mùa đông, Tanabai chăm vỗ con ngựa, cho ăn cám nóng, củ cải băm nhỏ. Răng Gunxarư đã mòn vẹt cả, chỉ còn trơ lại chân răng. Ông cho rằng ông đã vực lại được con ngựa, đương nhiên là phải như vậy thôi. Bây giờ xử trí với nó thế nào đây?
Không, ông không đang tâm vứt bỏ con vật ở giữa đường.

Siren 23-06-2010 22:31

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
- Thế nào, Gunxarư, ta cứ đứng đây mãi thế này à? – Tanabai dùng một tay đẩy con ngựa, con vật loạng choạng, đổi chân nọ sang chân kia. – Thôi được, cứ đứng đấy, tao trở lại ngay.
Ông dùng cán roi khều ở sàn xe lên cái bao tải không mà ông đã đựng khoai đem đến cho con dâu, lấy trong bao tải ra một bọc nhỏ. Vợ ông đã nướng cho ông một chiếc bánh mì ăn đường, vậy mà ông quên khuấy đi, không còn bụng dạ đâu nghĩ đến chuyện ăn uống. Ông bẻ lấy nửa chiếc bánh mì dẹt, bóp vụn ra trong vạt chiếc áo besmet (Kiểu áo của người Thổ Nhĩ Kì và người Mông Cổ, bó sát ngang thân và dài đến gần đầu gối -N.D) và đem đến cho con ngựa. Gunxarư hít ồn ào, ngửi hơi bánh mì, nhưng không thể ăn được. Thế là Tanabai bón cho nó ăn bằng lòng bàn tay. Ông ấn vào mõm nó mấy mẩu vụn, và con ngựa bắt đầu nhai.
- Ăn đi, ăn đi, rồi ta sẽ về được đến nhà chứ, hả? – Tanabai trở nên vui vẻ - Cứ đi thong thả, từ từ, có lẽ ta sẽ về được đến nhà chứ, hả? Về được đến nhà thì chẳng sợ gì nữa, tao với bà lão sẽ chăm sóc cho mày – ông lẩm bẩm. Nước miếng từ môi ngựa chảy xuống hai bàn tay run run của ông, còn ông vui mừng vì nước bọt của con vật đã ấm hơn.
Rồi ông nắm lấy dây cương.
- Nào, cất bước! Đứng mãi đây làm gì. Đi đi! – ông ra lệnh bằng giọng kiên quyết.
Con ngựa nhích khỏi chỗ, xe cót két, bánh xe lọc cọc trên đường một cách chậm chạp. Người và ngựa tiến lên một cách chậm chạp, một ông già và một con ngựa già.
“Nó yếu lắm rồi.- Tanabai nghĩ về con ngựa, ông bước đi bên lề đường. – Mày bao nhiêu tuổi rồi, Gunxarư? Hai mươi, hay hơn thế nữa. Có lẽ còn nhiều tuổi hơn…”.
2.
Hai bên gặp nhau lần đầu tiên sau chiến tranh. Binh nhì Tanabai Bakaxốp đã từng ở mặt trận phía tây và cả mặt trận phía đông, rồi được phục viên sau khi đạo quân Quan đông đầu hàng. Tổng cộng ngót sáu năm trời ông đã bước đi trên những nẻo đường của người lính. Nhờ trời, ông không hề hấn gì, một lần ông bị chấn thương trong đoàn xe tải, lần khác ông bị một mảnh đạn vào ngực nằm quân y viện hai tháng rồi lại theo kịp đơn vị.
Khi ông trở về nhà, những người đàn bà bán hàng ở ga gọi ông là “bố già”. Nhưng đấy là họ bông đùa thì đúng hơn. Tanabai chẳng bực bội gì lắm về chuyện ấy. Đã đành là ông không còn trẻ trung gì, nhưng cũng chưa già. Nom bề ngoài ông có vẻ già, chiến tranh đã làm nước da ông sạm hẳn đi, ria đã điểm bạc, nhưng thể lực và tinh thần còn tráng kiện lắm. Năm sau, vợ ông sinh con gái, rồi lại sinh một gái nữa. Cả hai con gái ông đã lấy chồng, đã có con. Mùa hè, hai cô vẫn về thăm bố mẹ. Chồng cô cả làm lái xe. Anh đưa cả gia đình lên xe, đánh xe lên vùng núi thăm ông bà già. Không, hai con gái và các chàng rể không có gì đáng trách, nhưng còn thằng con trai thì chẳng ra gì. Nhưng đấy là chuyện khác…

Hồi ấy, trên đường về sau chiến thắng, ông tưởng chừng cuộc sống thực sự chỉ mới bắt đầu. Trong lòng vui vẻ biết bao. Tại các ga lớn, các đội kèn đưa đón đoàn tàu. Vợ ông chờ đợi ông ở nhà, đứa con trai đã hơn bảy tuổi, sắp đến trường. Ngồi trên xe ông có cảm giác như ông ra đời lần thứ hai, dường như tất cả những gì đã có trước đây đều không đáng kể. Ông muốn quên hết, chỉ nghĩ về tương lai. Ông hình dung tương lai sáng sủa và đơn giản; cần phải sống, nuôi dạy con cái, thu xếp việc làm ăn, dựng nhà, tóm lại là phải sống. Và không còn gì ngăn cản người ta sống được nữa, bởi vì toàn bộ quá khứ dường như đã được đem ra làm vật đảm bảo để bây giờ rút cuộc, cuộc sống thực sự sẽ đến với mọi người, cái cuộc sống mà người ta hằng khao khát, vì nó mà người ta đã chiến thắng và đã chết trong chiến tranh.

Có điều, sau này mới vỡ lẽ ra rằng Tanabai hay nóng vội, nóng vội quá: tương lai đòi hỏi phải dành cho nó nhiều năm nữa...

Siren 23-06-2010 22:34

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Thoạt đầu, ông giữ chân quai búa trong xưởng rèn. Trước đây ông rất thạo việc đó, và khi được vào làm việc bên cái đe, ông thẳng tay quai quá tới tấp đến nỗi người thợ rèn phải vất vả lắm mới kịp lật giở thỏi sắt nóng đỏ dưới cái búa. Ngay đến giờ, đôi khi ông vẫn còn nghe thấy tiếng nện chan chát và tiếng vang lanh lảnh trong xưởng rèn, những âm thanh khiến ông quên hết mọi lo âu buồn phiền. Thuở ấy mọi người thiếu ăn, thiếu mặc, phụ nữ đi giầy cao su không bí tất, không có giầy ấm bên trong, trẻ em không biết mùi vị đường, nông trang nợ đìa ra, tài khoản ở ngân hàng bị giữ lại, còn Tanabai quai búa để quên đi tất cả những cái đó. Ông thẳng tay quai búa, cái đe ngân vang, những tia lửa xanh bắn tung toé. “U hù! U hù! – Ông vừa thở vừa vung búa lên, giáng búa xuống và nghĩ: - Mọi việc rồi sẽ ổn, cái chính là ta đã chiến thắng, cái chính là đã chiến thắng!”. Còn chiếc búa phụ hoạ: Đã thắng! Đã thắng, thă-ắng, thă-ắng!” – Không chỉ riêng Tanabai, trong những ngày ấy, mọi người đều sống bằng không khí chiến thắng, như sống bằng bánh mì.
Rồi sau đó, Tanabai đi chăn ngựa đàn, vào ở trong núi. Tsôrô đã thuyết phục được ông. Tsôrô giờ đây không còn nữa, nhưng hồi ấy ông là chủ tịch nông trang, ông giữ chức vụ đó suốt thời kỳ chiến tranh. Ông đau tim nên người ta không lấy vào quân đội. Dường như ở nhà, ông cũng chỉ ngồi một chỗ, vậy mà ông già đi nhiều. Tanabai nhận ra ngay điều đó.
Người khác ắt hẳn không thuyết phục nổi Tanabai đổi xưởng rèn lấy đàn ngựa. Nhưng Tsôrô với ông là bạn lâu năm. Trước đây, còn là đoàn viên Kômxômôn, họ đã cùng tham gia việc vận động thành lập nông trang, cùng đi tước đoạt tài sản của bọn kulắc. Hồi ấy Tanabai đặc biệt hăng hái. Ông không hề thương xót những kẻ có tên trong danh sách kulắc…
Một lần đến xưởng rèn, Tsôrô đã thuyết phục được Tanabai và rất hài lòng về việc đó.
- Thế mà tôi sợ rằng anh đã dính chặt vào chiếc búa, không cách gì dứt ra được. – Ông mìm cười nói.
Tsôrô ốm, gầy nhom, cổ ngẳng, má hõm răn reo. Thời tiết dạo ấy còn ấm, nhưng ngay cả mùa hè Tsôrô vẫn mặc chiếc săng đay tứ thời của mình.
Họ ngồi xổm bên con mương cách xưởng rèn không xa và nói chuyện. Tanabai nhớ tới Tsôrô thời trẻ. Hồi ấy, Tsôrô là một gã có học nhất làng và rất đẹp trai. Dân làng kính trọng anh vì tính anh điềm đạm, nhân hậu. Nhưng Tanabai không ưa cái tính tốt bụng của Tsôrô. Đôi khi trong các cuộc họp, Tanabai đứng lên chỉnh Tsôrô ra trò về thái độ mềm yếu không thể tha thứ được trong cuộc đấu tranh giai cấp với kẻ thù. Tanabai nói ra dáng lắm, cứ hệt như trên báo chí. Anh lặp lại lần đầu tất cả những gì đã nghe được trong những buổi đọc sách báo công cộng. Đôi khi chính anh cũng cảm thấy khiếp sợ về lời lẽ của chính mình. Nhưng nghe thì hùng hồn lắm.
- Anh ạ, đã ba ngày nay tôi ở trong núi. – Tsôrô kể. – Các cụ già hỏi những người đi lính về hết rồi phải không? Tôi đáp: phải, những người nào còn sống đều đã về hết rồi. “Thế bao giờ họ định bắt tay vào việc?” Tôi trả lời: họ làm vịêc rồi đấy chứ, người thì làm lụng trên đồng ruộng, người thì ở công trường, người thì ở nơi khác. “Cái đó chúng tôi biết rồi. Nhưng ai sẽ chăn dắt những đàn ngựa? Chờ đến khi nào chúng tôi chết hết chăng? Chúng tôi cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu”. Tôi cảm thấy xấu hổ. Anh có hiểu các cụ nói như vậy là thế nào không? Trong thời kỳ chiến tranh, chúng ta đã điều các cụ vào núi chăn ngựa. Các cụ vẫn ở đấy từ bấy đến giờ. Chẳng cần giải thích với anh rằng đấy không phải là việc của người già. Luôn luôn ở trên yên ngựa, ngày đêm không lúc nào được yên. Còn những đêm đông mới khủng khiếp chứ! Hẳn anh còn nhớ Đersibai, ông ấy chết cóng trên yên ngựa đấy. Các cụ còn phải tập luyện ngựa nữa chứ, quân đội ta cần ngựa mà. Khi đã ngoài sáu mươi, anh hãy thử cưỡi lên một con ngựa hung dữ như quỉ sa-tăng để nó tha anh đi khắp núi non, thung lũng xem nào. Có mà tan xương. Còn làm cảm ơn các cụ: các cụ đã trụ vững được. Bây giờ những người ra trận đã trở về và lên mặt khinh người, họ đã được thấy nhiều cái hay cái lạ ở nước ngoài và không muốn đi chăn ngựa. Vậy thì tội gì tôi cứ phải lang thang trong núi? Thế đấy. Thành thử, Tanabai ạ, anh hãy giúp tôi: Anh mà chịu đi thì chúng ta sẽ làm cho những người khác cũng phải đi.
- Thôi được, Tsôrô ạ, tôi sẽ thử nói chuyện với vợ tôi xem sao. – Tanabai trả lời, nhưng ông nghĩ bụng: “cuộc sống những năm qua đã gào thét như bão táp trên đầu, vậy mà anh vẫn vậy, Tsôrô ạ. Anh khổ sở vì lòng tốt của anh. Có lẽ như vậy cũng là hay. Trong chiến tranh, chúng ta đã thấy đủ mọi điều, hẳn là tất cả chúng ta đều muốn trở nên tốt bụng hơn. Có lẽ đấy chính là điều đúng đắn nhất trong cuộc sống chăng?”.

Đến đấy họ chia tay nhau...

Siren 24-06-2010 21:46

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tanabai trở lại xưởng rèn của mình, nhưng Tsôrô bỗng gọi ông:
- Khoan đã, Tanabai. – Tsôrô cho ngựa đến gần Tanabai, cúi xuống gần mỏm yên ngựa nhìn vào tận mặt bạn. – Anh không giận tôi chứ, hả? – Ông hỏi khẽ - Anh hiểu cho, tôi không sao dành được thời gian. Tôi vẫn muốn có lúc ngồi nói chuyện tâm tình với anh như ngày trước. Bao nhiêu năm nay chúng ta không gặp nhau. Mình cứ tưởng chiến tranh chấm dứt thì sẽ dễ sống hơn, thế mà những lo âu vẫn không giảm bớt. Đôi khi ban đêm không sao chợp mắt được, trong đầu ngổn ngang trăm ý nghĩ. Làm thế nào phát triển sản xuất, để cho dân được ăn no đủ và thực hiện được mọi kế hoạch. Người ta bây giờ cũng không còn như trước nữa, mọi người muốn sống khá hơn.
Nhưng rút cuộc hai người vẫn không chuyện trò tâm sự được, họ không tìm được dịp nào ngồi chơi hai người với nhau. Thời gian cứ tiếp tục trôi đi, rồi sau thì muộn rồi…
Chính hồi ấy, khi vào núi chăn ngựa đàn, lần đầu tiên Tanabai đã nhìn thấy trong đàn ngựa của ông già Torgôi con ngựa đực màu vàng nhạt khoảng một tuổi rưỡi.
- Cụ để lại cho tôi một gia tài như thế nào đây, thưa ăcsakan? Đàn ngựa không lấy gì làm tuyệt lắm, phải không – Tanabai châm chọc ông già chăn ngựa khi đã đếm đủ số và lùa ngựa ra khỏi bãi chăn rào.
Torgôi là một ông già gầy đét, mặt nhăn nheo, không có lấy một sợi râu, thân hình thấp bé như một chú thiếu niên. Chiếc mũ lông cừu to lớn, bù xù chụp trên đầu ông nom như cây nấm. Những ông già như thế thường lanh lẹn, gai ngạnh và hay to mồm.
Nhưng Torgôi không nổi nóng.
- Nó có thế thôi, như mọi đàn ngựa khác. – Ông trả lời một cách thản nhiên. – Chẳng có gì đáng khoe, cứ chăn dắt đi rồi sẽ thấy.
- Ấy là thuận miệng thì nói vậy thôi, bố ạ - Tanabai nói có ý dàn hoà.
- Có một con đặc sắc! – Torgôi đẩy nhích chiếc mũ đã sụp xuống mắt, nhướn mình trên bàn đạp, giơ cán roi trỏ về phía đàn ngựa. – Con ngựa đực màu vàng nhạt đang ăn ở rìa bên phải ấy. Con này rồi sẽ khá lắm đấy…
- Cái con tròn như quả bóng kia phải không? Nó hơi nhỏ người, eo lưng ngắn ngủn.
- Mẹ nó nhiều tuổi rồi mới đẻ nó. Được rèn cặp tử tế nó sẽ thành con ngựa hay.
- Nó có gì đặc sắc? Có cái gì hay?
- Nó có nước đi dị dạng bẩm sinh.
- Thế thì sao kia chứ?
- Những con như thế hiếm gặp lắm. Thời trước, con ngựa như thế thật là vô giá. Trong những cuộc loạn đả bằng ngựa, người ta không tiếc thân để đạt lấy con ngựa như thế.
- Ta đến xem thử coi! – Tanabai nói.
Hai người thúc ngựa, men theo đàn ngựa, lùa con ngựa màu vàng nhạt tách khỏi đàn và xua nó chạy ở phía trước. Con ngựa non này vốn thích chạy nhảy. Nó vui vẻ lắc túm bờm trước trán, phì một tiếng và cất bước phóng bằng cái nước đi dị dạng mau lẹ, dứt khoát, như thứ đồ chơi vặn dây cót, vạch thành nửa vòng tròn lớn, định trở lại với bầy. Say mê dáng đi của nó, Tanabai la to:
- Ô-ô-ô, xem nó chạy kìa! Xem kìa!
- Thế mà anh cứ hồ nghi. – Ông già chăn ngựa đáp lại bằng giọng hào hứng.
Hai người phi nước kiệu nhanh đuổi theo nó và hò hét như trẻ nhỏ trong ngày hội baiga(1). Tiếng hò của họ dường như thôi thúc con ngựa non, nó chạy mỗi lúc một nhanh, hầu như không phải gắng sức gì hết, không một lần nhảy lạc nhịp, phi nước kiệu nhịp nhàng như bay.
Hai người phải cho ngựa phi nước đại, còn con ngựa non vẫn giữ cái nước đi dị dạng nhịp nhàng ấy.
- Thấy chưa, Tanabai! – Vẫn cho ngựa phi nhanh, Torgôi vung mũ hét vang. – Nó hiểu tiếng người nhạy như con dao trong tay vậy, hãy xem nó đáp lại tiếng hò như thế đấy! Ai-tơ, ai-tơ, ai-tơ-ai!
Cuối cùng, khi con ngựa non màu vàng nhạt đã trở lại bầy, họ để cho nó yên. Họ dong hai con ngựa toàn thân nóng hừng hực, dạo bước thong thả cho chúng hồi tỉnh lại, nhưng bản thân họ còn náo nức mãi chưa thôi.
- Cám ơn Torgôi-akê, cụ đã gây dựng được một con ngựa hay. Tôi cảm thấy trong lòng vui vẻ hơn.
- Con này là ngựa hay đấy. – Ông già đồng ý. – Nhưng anh phải cẩn thận mới được. – Ông già bỗng trở nên nghiêm nghị, vừa gãy gáy vừa nói – Đừng làm hỏng nó. Và đừng có bép xép quá sớm. Con ngựa hay có nước đi dị dạng cũng như một cô gái đẹp, nhiều kẻ thèm muốn. Cái phận con gái là như thế này: lấy được người tử tế thì sẽ xinh tươi như bông hoa, người ngoài nhìn cũng thấy sướng mắt, chẳng may gặp phải kẻ xấu thì nhìn cô ta cũng thấy đau lòng thay. Mà chẳng có cách gì giúp đỡ được. Với con ngựa hay cũng thế. Làm hỏng nó thì dễ lắm. Nó sẽ gục ngã giữa lúc đang phi.
- Đừng lo, ăcxakan ạ, tôi cũng am hiểu việc này, tôi có phải đứa trẻ con đâu.
- Thế thì tốt. Tênnó là Gunxarư. Nhớ lấy.
- Gunxarư à?
- Ừ. Năm ngoái, cháu gái lão đến thăm lão. Nó đặt tên cho con ngựa như thế đấy. Nó thích con này lắm. Lúc ấy con ngựa mới được một tuổi.
Nhớ lấy nhé Gunxarư.

Siren 24-06-2010 21:48

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Hoá ra Torgôi là một ông già lắm lời. Suốt đêm ông dặn dò đủ điều. Tanabai kiên nhẫn lắng nghe.
Tanabai đưa tiễn vợ chồng Torgôi đi khỏi trại tới bảy dặm rồi mới trở lại. Chỉ còn lại túp nhà lều bỏ không mà rồi đây ông sẽ đưa gia đình đến ở. Một nhà lều khác sẽ là lều của người phụ việc cho ông. Nhưng vẫn chưa chọn được ai làm người phụ việc. Tạm thời ông chỉ có một mình.
Lúc chia tay, Torgôi lại nhắc:
- Đừng động gì đến con ngựa màu vàng ấy vội. Chờ giao nó cho ai. Đến mùa xuân, anh hãy tự mình tập luyện nó. Nhưng nhớ nhé, phải cẩn thận một chút. Khi đã đóng yên thì chớ quần nó nhiều quá. Anh mà cứ rẽ cương lung tung thì nó sẽ lạc mất nước đi dị dạng, như vậy anh sẽ làm hỏng con ngựa đấy. Phải chú ý, trong mấy ngày đầu đừng để cho nó uống nhiều nước quá, nó bốc nóng dễ uống nhiều nước lắm. Nước sẽ dồn xuống chân, sẽ sinh bệnh hắc lào. Khi nào đã luyện nó thành thục rồi, nếu tôi còn sống…
Torgôi cùng với bà lão nhà ra đi, mang theo con lạc đà chở hành lí, để lại cho Tanabai đàn ngựa, túp lều, núi non…
Giá như Gunxarư biết người ta đã bàn bạc về nó như thế nào, thiên hạ sẽ còn đồn đại về nó những gì và điều đó sẽ dẫn tới kết quả ra sao!..
Vẫn như trước, nó nhởn nhơ đi lại trong bầy. Xung quanh vẫn như thế, vẫn núi non, cây cỏ, sông suối ấy – Có điều, người lùa đàn ngựa đi bây giờ không phải là ông già mà là ông chủ khác, mặc áo khoác lính màu xám và đội mũ lính có tai che. Tiếng nói của ông chủ mới hơi khàn, nhưng vang vang và oai vệ. Chẳng bao lâu đàn ngựa đã quen với ông. Thôi thì mặc cho ông ấy phóng ngựa chạy xung quanh, nếu ông ấy thích như thế.
Rồi tuyết bắt đầu xuống. Tuyết xuống thường xuyên và đọng lâu. Ngựa dùng móng bới tuyết để gặm cỏ. Ông chủ mặt đen sạm đi, da tay phơi gió nom như màu da thuộc. Bây giờ ông chủ thường đi ủng da, mặc chiếc áo choàng lớn bằng da lông thú. Toàn thân Gunxarư đã mọc một lớ p lông dài, nhưng nó thấy lạnh, nhất là về ban đêm. Những đem giá rét, đàn ngựa đứng dồn sát vào nhau thành một cụm ở chỗ khuất gió, và cứ đứng như thế, toàn thân phủ đầy sương giá, cho đến lúc mặt trời mọc. Ông chủ cũng ở đấy, ngồi trên lưng ngựa, yên vị một chỗ, đập những bao tay vào nhau, xoa mặt. Đôi khi ông biến đi đâu mất, rồi lại xuất hiện. Tốt nhất là ông đừng vắng mặt. Khi ông kêu lên một tiếng hoặc xuýt xoa vì lạnh, đàn ngựa cất đầu lên, dỏng tai nghe, nhưng biết chắc là ông chủ ở bên cạnh, chúng lại thiu thiu ngủ trong tiếng rì rào và tiếng rít của gió đêm. Từ mùa đông ấy, Gunxarư ghi nhớ suốt đời tiếng nói của Tanabai.
Có một đêm, bão tuyết nổi lên trong núi. Tuyết xuống tơi tả, đâm buốt như có gai, chui vào trong bờm, bám nặng chịch ở đuôi, bết vào mắt. Bầy ngựa nhớn nhác. Chúng áp sát vào nhau, run rẩy. Những con ngựa cái già thờ phì phì một cách lo lắng, dồn đám ngựa con vào giữa bầy. Gunxarư bị dồn ra phía ngoài rìa, không sao len vào trong được. Nó bèn đá hậu, chen đẩy những con khác, rút cuộc nó tách hẳng khỏi đàn và bị con ngựa đực đầu đàn trị cho một vố nên thân. Con đầu đàn từ lâu vẫn chạy vòng quanh, cày tuyết lên bằng những cẳng chân rắn chắc, dồn cả bầy cụm vào với nhau. Đôi khi nó lao bổ về một phía, đầu cúi thấp, tai chụm lại đầy vẻ hăm doạ, nó biến mất trong bóng tối, chỉ nghe thấy tiếng nó phì phì, rồi nó lại chạy tới chỗ bầy ngựa, hung hăng dữ tợn. Thấy Gunxarư tách khỏi bầy, nó xông tới và xô ngực vào Gunxarư, rồi xoay mình phóng hai chân sau, đá một cú trời giáng vào sườn chú ngựa non. Cú đá đau đến nỗi Gunxarư gần như tắt thở. Trong nội tạng nó có cái gì ùng ục, nó rít lên, chịu đựng cú đá và phải gắng lắm mới đứng vững được. Nó không dám tuỳ tiện nữa. Nó đứng im thin thít ở rìa đàn ngựa, nép sát vào những con khác, mạng sườn đau ê ẩm và oán giận con ngựa đầu đàn hung dữ. Đàn ngựa đã bớt nhốn nháo, liền đó nó nghe thấy tiếng chó sói rú và cảm thấy mọi bộ phận trong cơ thể nó phút chốc đều ngừng hoạt động và lạnh cứng lại. Đàn ngựa giật mình, chăm chú lắng nghe, tập trung hết sức lực. Tất cả đều im ắng. Nhưng đấy là cái yên lặng ghê rợn. Tuyết vẫn rơi, loạt soạt dính vào cái mõm hếch cao của Gunxarư. Ông chủ đâu? Lúc này rất cần có ông, giá như được nghe tiếng nói của ông, ngửi mùi khói ám vào tấm áo da lông của ông. Vậy mà ông không có đây. Gunxarư liếc mắt nhìn sang phía bên và sợ đến ngây ra. Ở mé bên dường như thấp thoáng một bóng đen bò sát xuống tuyết trong bóng tối. Gunxarư đột ngột lùi lại, cả bầy lập tức xô giạt đi, ào ào bỏ chạy. Bầy ngựa phát điên phát rồ, la hí cuồng dại, xô chạy ào ào trong bóng tối mù mịt như khối tuyết lở. Không sức mạnh nào có thể ngăn được chúng nữa. Cả bầy ra sức lồng về phía trước, lôi cuốn lẫn nhau như đá núi lở từ trên dốc cao đổ xuống. Chẳng hiểu gì, Gunxarư hăm hở phóng như điên như cuồng. Bỗng nhiên một phát súng nổ vang, rồi phát nữa vang ầm. Đàn ngựa đang chạy nghe thấy tiết quát dữ tợn của ông chủ. Tiếng quát đâu như ở một chỗ nào phía bên, và vang lên không ngớt, tiến lên chặn đầu chúng, rồi luôn luôn ở phía trước. Bây giờ đàn ngựa đã gặp tiếngnói không ngừng lặng ấy, nó dẫn dắt chúng. Ông chủ đã ở đây với chúng. Ông phi ngựa ở phía trước, lúc nào cũng có nguy cơ sa xuống một cái khe hay cái vực. Ông gào không còn khoẻ như trước nữa, rồi giọng ông bắt đầu khàn, nhưng ông vẫn lên tiếng: “kai-ơ, kai-ơ, kai-tơ-a-ai-tơ!”. Đàn ngựa chạy theo ông để thoát khỏi sự khủng khiếp đang truy đuổi chúng.

Vania 24-06-2010 23:19

gửi cô Сирена ! {" _ " }
 







Vania 24-06-2010 23:21

gửi cô Сирена ! {" _ " }
 







Siren 25-06-2010 21:50

Cảm ơn Vania nhé, lâu không gặp cháu, hôm nào sinh nhật 3N lại ngồi cạnh cô Siren nhé, cô sẽ cuốn cái nem thật xinh cho cháu ăn cho dễ nhé? Dạo này cuốn nem có lên tay không hay vẫn như "cái chăn bông"?:emoticon-0136-giggl

Siren 25-06-2010 21:55

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tảng sáng, Tanabai đã đưa được đàn ngựa về chỗ cũ. Mãi đến lúc ấy chúng mới dừng lại. Hơn ẩm bốc lên như sương mù dầy đặc phía trên đàn ngựa, chúng thở một cách khó nhọc, mạng sườn phập phồng, và vẫn còn run vì cơn sở vừa qua. Chúng hớp tuyết bằng những cặp môi nóng hổi. Tanabai cũng ăn tuyết. Ông ngồi xổm, tọng từng vốc tuyết trắng lạnh buốt vào miệng. Rồi đột nhiên, dường như ông lặng người đi, úp mặt vào hai bàn tay. Tuyết vẫn rơi như trút, tan ra trên những tấm lưng ngựa nóng hổi và chảy uống thành giọt màu vàng đục lờ…
Tuyết dày đã tan hết, đất lộ trần ra, bắt đầu xanh cỏ, Gunxarư nhanh chóng béo tốt trở lại. Đàn ngựa thay lớp lông mới mượt mà bóng nhẫy. Tưởng chừng như chưa từng có mùa đông và những ngày đói ăn. Ngựa không nhớ chuyện ấy, nhưng con người thì vẫn nhớ. Con người vẫn nhớ cái giá buốt, nhớ những đêm có chó sói, nhớ những lúc mình cóng đờ ra trên yên ngựa, lúc cắn chặt môi để khỏi bật khóc ngay khi sưởi đôi tay và đôi chân tê cứng bên đống lửa, nhớ lớp băng mỏng đầu mùa xuân đóng cứng trên mặt đất như một lớp chì, nhớ những con ngựa yếu trong bầy đã chết hồi ấy, nhớ lần mình xuống núi và đến văn phòng, mắt không ngước nhìn lên, ký biên bản về việc một số ngựa đã chết, rồi bỗng nổi nóng, gào lên và đấm tay xuống bàn ông chủ tịch:
- Anh đừng nhìn tôi như thế! Tôi không phải là tên phát xít! Làm gì có chuồng trại cho ngựa, lấy đâu ra thức ăn chăn nuôi, lấy đâu ra kiều mạch, lấy đâu ra muối? Chỉ có gió, sống bằng gió! Đời thuở đâu có cái lối làm ăn như thế kia chứ? Hãy xem chúng tôi mặc rách rưởi như thế nào? Hãy đến xem những nhà lều của chúng tôi, hãy xem chúng tôi sống như thế nào! Bánh mì ăn cũng không đủ no! Ngay ở mặt trận cũng còn hơn gấp trăm lần. Vậy mà anh còn nhìn tôi như thể tôi đã tự tay bóp chết những con ngựa đó!
Tanabai vẫn nhớ sự yên lặng đáng sợ của ông chủ tịch, gương mặt trở nên xám ngắt của ông ấy. Ông nhớ ông đã xấu hổ về lời lẽ của mình và liền xin lỗi.
- Thôi anh ạ, anh thứ lỗi cho tôi, tôi quá nóng nảy. – Tanabai ấp úng cố thốt lên.
- Chính anh phải tha thứ cho tôi thì có. – Tsôrô nói.
Tanabai càng hổ thẹn hơn khi ông chủ tịch gọi chị giữ kho hỏi và ra lệnh:
- Cấp cho ông ấy năm kilô bột.
- Thế còn các nhà trẻ thì sao?
- Nhà trẻ nào? Chị thì lúc nào cũng lầm lẫn lung tung cả lên! Cấp phát đi! – Tsôrô ra lệnh một cách gay gắt.
Tanabai toan từ chối phắt, bảo rằng sắp có sữa ngựa rồi, như vậy là sẽ có kumưx(1), nhưng nhìn ông chủ tịch và đoán ra sự nói dối chua xót của ông, Tanabai gén lòng lặng thinh. Sau đó, mỗi lần bị bỏng vì ăn mì làm bằng thứ bột đó, Tanabai quẳng thìa xuống.
- Thế là thế nào, bà định nấu chín tôi chắc?
- Thì để nguội bớt đi rồi hãy ăn, ông có phải là con nít đâu. – Bà vợ điềm nhiên trả lời.
Ông nhớ hết, nhớ hết…
Nhưng bấy giờ đã là tháng năm. Những con ngựa đực la hí inh ỏi, đánh nhau một cọi một để tranh cướp những con ngựa cái trẻ của các bầy khác. Những người căn ngựa chạy long tóc gáy, xua đuổi những con đang đánh nhau, quát mắng lẫn nhau, đôi khi còn choảng nhau, vung roi vụt bừa. Gunxarư không bận tâm gì đến tất cả những chuyện ấy. Mặt trời chiếu sáng giữa hai cơn mưa, cỏ đâm lên dưới móng. Những đồng cỏ xanh rờn, tuyết trắng ngời long lanh trên những đỉnh núi. Mùa xuân năm ấy, con ngựa sắc vàng có nước đi dị dạng bước vào thời thanh xuân tuyệt vời của mình. Nó không còn là chú ngựa con cộc đuôi, lông xù nữa, mà đã thành một chàng ngựa đực lực lưỡng, vóc dáng cân đối. Nó dài người ra, thân hình nó mất những đường nét mềm mại, và đã có dạng tam giác: ngực rộng, mông hẹp. Đầu nó bây giờ cũng là đầu của con ngựa có nước đi dị dạng thực sự: khô đét, sống mũi gồ, hai mắt cách xa nhau, môi chúm lại và mềm mại. Nhưng Gunxarư cũng chẳng bận tâm gì đến những cái đó. Hiện thời nó chỉ có một niềm ham mê duy nhất – ham chạy – điều này đem lại cho ông chủ khá nhiều chuyện rầy rà. Nó lôi cuốn các bạn cùng tuổi chạy theo, lao vút đi như một ngôi sao chổi màu vàng. Một sức mạnh nào không rõ, không bao giờ cạn, không hề biết mệt mỏi thôi thúc nó chạy lên núi, xuống núi, chạy dọc bờ sông lởm chởm đá, chạy trên các đường mòn dốc đứng, qua các cánh rừng và các lũng sâu. Ngay cả đêm khuya, khi đã thiếp ngủ dưới bầu trời sao, nó vẫn mơ thấy đất trược đi dưới chân, gió rít trong bờm và trong tai, nó vẫn tưởng như nghe thấy tiếng vó nện lộp cộp, vang dội.
Đối với ông chủ, nó cũng chỉ coi ông như tất cả những gì không liên can đến nó. Không thể nói là nó yêu ông chủ, nhưng nó cũng không thù ghét gì ông, bởi vì ông không hề o ép nó, vẫn để nó sống thoải mái. Chỉ trừ những lần mấy chú ngựa chạy đi quá xa ông đuổi theo và quát mắng. Đôi khi ông chủ dùng ukruc(Cây gậy dài ở đầu có thòng lọng dùng để bắt ngựa) quật được vào mông chú ngựa vàng một cái. Khi ấy toàn thân Gunxarư run lên, nhưng ấy là vì bất ngờ nhiều hơn là vị đánh, và nó càng phóng nhanh hơn. Nó càng chạy khoẻ trở lại với bầy thì ông chủ càng thích thú, ông vẫn phi ngựa theo sau nó, cây ukruc chĩa về phía trước. Gunxarư nghe thấy tiếng reo hò khích lệ của ông chủ ở phía sau, nghe thấy ông cất tiếng hát trên yên ngựa, những lúc ấy nó yêu mến ông chủ, nó thích chạy theo tiếng hát của ông. Rồi sau này nói hiểu rõ tiếng hát ấy có lúc vui, lúc buồn, lúc dài lúc ngắn khác nhau, có lời hoặc không lời. Nó còn thích những lúc chủ cho cả bầy ăn muối. Ông chủ đặt những cục muối cho ngựa liếm vào những máng gỗ dài kê trên các hàng cọc. Cả bầy đổ xô tới, quả là một lạc thú. Gunxarư bị tóm cổ chính trong một lần ăn muối.

Siren 25-06-2010 22:15

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Lần ấy, ông chủ gõ cái thùng rỗng, gọi đàn ngựa: “Pô, pô, pô!”. Đàn ngựa chạy tới, chúi vào những máng ăn. Gunxarư đứng giữa những con khác, liếm muối, không hề lo ngại gì khi ông chủ cùng với người phụ việc cầm những cây ukruc đi xung quanh đàn ngựa. Chuyện ấy không can gì đến nó. Người ta dùng ukruc bắt ngựa cưỡi, ngựa cái vắt sữa chứ không bắt nó. Nó được tự do. Bỗng nhiên cái thòng lọng bằng lông trượt trên đầu nó và tròng vào cổ. Gunxarư không hiểu có chuyện gì, cho đến giờ nó chưa hề sợ cái thòng lọng, nó vẫn tiếp tục liếm muối. Những con ngựa khác thường lồng chạy, chồm ngược lên khi người ta tròng ukruc vào chúng, nhưng Gunxarư vẫn không nhúc nhích. Thế rồi nó bỗng muốn chạy ra sông uống nước. Nó rời khỏi đàn. Cái thòng lọng trên cổ thít vào và giữ nó lại. Đấy là điều xưa nay chưa từng có. Gunxarư lùi lại, thở khò khè, trợn trừng hai mắt, chồm ngược lên. Trong nháy mắt đàn ngựa chạy tản đi hết, nó còn trơ lại một mình với những người giữ nó bằng dây thòng lọng. Ông chủ đứng ở phía trước, sau lưng ông là người chăn ngựa thứ hai, ngoài ra còn một lũ trẻ con trai cũng đứng ở đấy. Bọn trẻ này đến đây trước đó một lúc và đã làm Gunxarư chán ngấy vì chúng cứ chạy nhảy hoài xung quanh đàn ngựa.

Gunxarư khiếp sợ. Nó chồm ngược lên lần nữa, rồi lần nữa, lần nữa, mặt trời nhảy nhót trong mắt, lan ra thành những vòng tròn nóng rực; núi non, đất, người ngã lật ngửa ra; một khoảng trống rỗng đen ngòm đáng kinh hoàng che mờ mắt nó trong khoảnh khắc, nó dùng hai chân trước đạp liên hồi vào khoảng trống đó.

Nhưng nó càng lồng lộn, cái thòng lọng thít càng chặt hơn, và nghẹt thở. Gunxarư không chạy trốn người nữa, mà chồm về phía người. Người chạy dạt về một phía, cái thòng lọng lỏng ra một lát, và thuận đà nó lôi cả mấy người lê lết trên mặt đất. Đàn bà la hét, xua bọn trẻ về lều. Nhưng hai người chăn ngựa đã đứng được lên, cái thòng lọng lại thắt lấy cổ Gunxarư. Lần này thít chặt đến không thở được nữa. Gunxarư dừng lại, kiệt lực vì choáng váng và ngạt thở.

Hay tay thu cuốn dần sợi dây, ông chủ tiến lại gần nó từ phía bên. Gunxarư nhìn thấy ông bằng một mắt. Ông chủ quần áo rách bươm, mặt đầy vết xây sát. Nhưng mắt ông nhìn nó không có gì là dữ tợn. Ông thở hồng hộc, hập bập cặp môi dập, nói khẽ, gần như thì thầm:

- Bập, bập, đừng sợ, Gunxarư, dừng lại, dừng lại!

Người giúp việc theo sau ông, thận trọng đến gần, vẫn không nới bớt sợi thòng lọng. Cuối cùng ông chủ với tay chạm vào Gunxarư xoa đầu nó và nói gọn lỏn với người giúp việc, không quay lại:

- Dây cương.

Người kia đưa dây cương.

- Đứng yên, Gunxarư, đứng yên, ngoan nào – Ông chủ nói. Ông dùng bàn tay che kín hai mắt con vật, quàng dây cương vào đầu nó.

Bây giờ phải đóng hàm thiếc và thắng yên. Khi dây cương đã choàng lên đầu, Gunxarư bắt đầu thở khò khè, toan lồng lên chạy trốn. Nhưng ông chủ đã kịp thời ôm lấy môi trên của nó.

- Dây xoắn! – Ông lớn tiếng bảo người giúp việc, và người này chạy tới, nhanh chóng lồng vào môi con ngửa vòng dây da có xỏ cái que và quay cái que xoắn sợi dây thít chặt lấy môi nó.

Đau quá, Gunxarư khuỵu hai chân sau xuống và không cưỡng lại nữa. Cái hàm thiếc lạnh lẽo va vào răng lanh canh và tụt vào tận mép. Người ta quẳng cái gì lên lưng nó, xiết chặt lại, giằng mạnh mấy cái kéo những sợi dây da thít lấy ngực nó đến nỗi nó loạng choạng từ phía này sang phía kia. Nhưng điều đó chẳng đáng kể gì nữa. Chỉ còn cảm giác đau không thể tưởng tượng nổi ở môi, lấn át hết mọi cảm giác khác. Mắt trồi lên trán. Không động đậy được, cũng không thở được. Thậm chí nó không biết ông chủ đã ngồi lên lưng nó lúc nào, nó chỉ hoàn hồn khi người ta đã tháo sợ dây xoắn khỏi môi nó.
Nó đứng một vài phút, không hiểu gì, toàn thân co rúm lại và trở nên nặng chịch, rồi nó ghé mắt nhìn qua vai và bỗng thấy một người ngồi trên lưng nó. Sợ quá,nó lồng lên chạy trốn, nhưng cái hàm thiếc gò mồm nó đau như xé, hai chân người cưỡi kẹp chặt lấy sườn nó. Nó chồm ngược lên, cất tiếng hí điên cuồng phẫn uất, lồng lộn, đá hậu, ráng hết sức hất khỏi mình tất cả những gì đè ép nó, nhảy đại về một phía, nhưng vòng thòng lọng không buông tha nó; một người nữa, cũng cưỡi ngựa, giữ đầu kia của sợi dây luồn qua dưới chân bàn đạp. Thế là nó chạy vòng tròn, chạy để chờ cái vòng tròn vỡ tung ra, khi ấy nó sẽ cắm đầu chạy thục mạng, miễn là thoát khỏi nơi này. Nhưng cái vòng tròn không vỡ ra, và nó vẫn cứ chạy vòng quanh, chạy miết. Chính đó là điều người ta cần. Ông chủ dùng roi quất nó và thúc bằng gót ủng. Tuy thế, con ngựa cũng đã hai lần hất được ông ra khỏi mình. Nhưng ông ta lại đứng dậy và nhảy lên yên.

Cứ như thế hồi lâu, rất lâu. Đầu óc nó choáng váng, mặt đất quay cuồng xung quanh nó, những nhà lều quay cuồng, những con ngựa tản mát ở đằng xa cũng quay tít, núi non quay cuồng, mây trên trời quay cuồng. Rồi nó mệt và bắt đầu đi bước một. Nó khát quá.

Nhưng người ta không cho nó uống nước. Buổi tối, người ta để nó đứng ở chỗ cọc buộc ngựa, vẫn không tháo yên, chỉ nới lỏng đai bụng. Dây cương được quấn chặt vào mỏm yên, thành thử đầu lúc nào cũng cất thẳng và như vậy thì không thể nằm xuống đất được. Bàn đạp được vắt lên và cũng mắc vào mỏm yên. Nó đứng như thế suốt đêm. Nó đứng im thít, thất đảm vì tất cả những gì không thể tưởng tượng nổi mà nó đã trải qua. Cái hàm thiếc trong mịêng vẫn làm nó khổ sở, chỉ hơi động một chút cũng đau chết điếng đi được, vị sắt tanh tanh đến là khó chịu. Hai mép sưng phồng, đứt kẽ. Những chỗ bị dây da cọ xước dưới sườn đau rát lên. Lưng cồm cộm, đau nhừ dưới tấm dạ lót yên. Khát ghê gớm. Nó nghe thấy tiếng nước sông ồn ào, và cơn khát càng dày vò hơn. Ở bên kia sông, những đàn ngựa vẫn được chăn thả như thường lệ. Có tiếng lộp cộp của vô số móng ngựa, tiếng ngựa hí và tiếng hò hét của những người chăn ngựa ban đêm. Người ta ngồi bên những đống lửa gần lều, nghỉ ngơi. Bọn trẻ con trai sủa lên gâu gâu, chòng ghẹo chó. Còn Gunxarư vẫn đứng một chỗ, chẳng ai buồn để ý đến nó.

Siren 25-06-2010 22:16

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Rồi trăng lên. Núi nhẹ nhàng nhô ra từ trong bóng tối và nghiêng ngả nhịp nhàng dưới ánh trăng vàng rượi. Sao trời mỗi lúc một rực sáng hơn, mỗi lúc một xuống gần mặt đất hơn. Gunxarư vẫn đứng yên, bị cột chặt vào một chỗ. Có ai đang tìm nó. Nó nghe thấy tiếng hí của con ngựa cái nhỏ nhắn màu hồng. Nó với con ngựa cái này đã cùng nhau lớn lên và là đôi bạn không lúc nào rời nhau. Con ngựa cái có một đốm sao trắng trên trán. Nó thích chạy chơi cùng với Gunxarư. Những con ngựa đực đã bắt đầu săn đuổi nó, nhưng nó không chịu, cùng với Gunxarư chạy xa lũ ngựa kia. Nó còn non dại quá, và Gunxarư cũng chưa đến cái tuổi để làm cái việc mà những con ngựa đực khác toan làm với con ngựa cái non.

Đấy, con ngựa cái đã cất tiếng hú quanh quất đâu đây, gần lắm. Đúng, chính là con ngựa ấy, Gunxarư nhận ra đích là tiếng nó. Gunxarư muốn đáp lại, nhưng không dám há cái mõm đầy thương tích, sưng phồng. Há mõm ra đau kinh khủng. Cuối cùng con ngựa cái đã tìm ra Gunxarư. Nó nhẹ nhàng đi bước một lại gần, đốm sao trắng trên trán lấp lánh dưới ánh trăng. Đuôi và chân nó ướt đẫm. Nó đã vượt qua sông, đem theo mùi nước sông lành lạnh. Nó thúc mõm vào Gunxarư, bắt đầu ngửi hít, ve vuốt bạn bằng cặp môi ấm áp mềm mại. Nó phì phì mấy tiếng âu yếm, gọi bạn đi với mình. Nhưng Gunxarư không thể nhích khỏi chỗ. Rồi con ngựa cái đặt đầu lên cổ Gunxarư và dùng răng chải bờm cho bạn. Kể ra Gunxarư cũng phải đặt đầu lên cổ cô bạn gái và chải bờm cho bạn. Nhưng nó không thể đáp lại sự âu yếm của bạn. Nó không sao nhúc nhích được. Nó khát. Ước gì bạn có thể cho nó uống nước! Khi con ngựa cái chạy đi, Gunxarư nhìn theo cho đến lúc bóng bạn tan biến trong bóng tối chạng vạng ở bờ bên kia. Con ngựa cái ấy đã đến và đi rồi. Gunxarư ứa nước mắt. Nước mắt chảy từng giọt lớn trên mặt nó và rơi xuống cạnh chân, không một tiếng động. Lần đầu tiên trong đời, Gunxarư khóc.

Sáng tinh mơ, ông chủ tới. Ông đưa mắt nhìn những dẫy núi mà xuân xung quanh, rồi vươn vai, vừa mỉm cười rên lên vì ê ẩm trong xương.

- Ôi, Gunxarư, hôm qua mày quần tao mệt lử. Sao thế? Cóng rét à? Gớm, nom mày tọp hẳn đi.
Ông vỗ nhẹ vào cổ ngựa và nói với nó cầu gì hiền hậu, giễu cợt. Làm sao Gunxarư biết được con người nói gì? Tanabai nói thế này:

- Này, đừng giận, bạn nhé. Mày không thể cứ chơi nhông mãi. Rồi sẽ quen thôi, sẽ vào nền nếp cả thôi. Mày vừa bị một phen khổ sở, nhưng không thế không được. Chú em ạ, cuộc sống là thế, nó sẽ đóng móng cả bốn chân mày. Nhưng sau đó mày sẽ không phải van nài mỗi hòn đá gặp trên đường. Mày đói, hả? Khát nữa phải không? Tao biết…

Ông dắt con ngựa ra sông, tháo cương cho nó, thận trọng lấy hàm thiếc ra khỏi cái mõm bị thương. Gunxarư run rẩy vục đầu xuống nước, mắt nhức buốt vì nước lạnh. Chao ôi, nước ngon quá chừng và nó vô cùng hàm ơn con người đã cho nó uống nước!

Thế rồi chẳng bao lâu sau, nó đã quen với yên cương đến mức hầu như không cảm thấy vướng víu gì hết. Người cưỡi trên lưng nó vẫn thấy thoải mái, và còn cảm thấy vui sướng là khác. Người cưỡi bao giờ cũng ghìm nó lại, còn nó cứ băng về phía trước, dọi vó rành rọt trên các nẻo đường, làm nổi lên tiếng lộp cộp vang giòn của nước đi dị dạng. Nó đã học được cách mang yên trên mình mà phi vừa nhanh vừa đều đễn nỗi người ta phải kêu lên ngạc nhiên.

- Đặt lên lưng nó một thùng đầy nước cũng không sóng ra ngoài lấy một giọt!

Còn Torgôi, ông lão chăn ngựa trước kia, nói với Tanabai:

- Cảm ơn, anh luyện nó thành công lắm. Bây giờ anh sẽ thấy ngôi sao bản mệnh của con ngựa này mọc lên rực rỡ như thế nào!

Vania 26-06-2010 00:02

Trích:

Siren viết (Bài viết 60803)
Cảm ơn Vania nhé, lâu không gặp cháu, hôm nào sinh nhật 3N lại ngồi cạnh cô Siren nhé, cô sẽ cuốn cái nem thật xinh cho cháu ăn cho dễ nhé? Dạo này cuốn nem có lên tay không hay vẫn như "cái chăn bông"?:emoticon-0136-giggl

:emoticon-0102-bigsm Dạ, hồi í thì là "cái chăn bông", còn bi giờ cháu hem pít còn có thể cuốn được nem không nữa, các ngón tay của cháu chai mất rồi cô ạ !! Các tác phẩm của Aitmatov tuy lúc nào cũng phảng phất những nỗi buồn, theo cảm nhận của riêng cháu, đó là cái buồn vô hạn trong tâm hồn những con người sống giữa thảo nguyên rộng lớn, heo hút. Từ nỗi buồn đó đã sản sinh ra một cộng đồng văn hóa rất khác biệt :emoticon-0136-giggl...

Siren 27-06-2010 08:26

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
3.
CHIẾC XE NGỰA CŨ KỸ CHẬM CHẠP LĂN BÁNH cọt kẹt trên đường cái hoang vắng. Chốc chốc tiếng cọt kẹt ngừng bặt. Con ngựa kiệt sức dừng lại. Khi đó, trong bầu không khí trở nên im lìm, nó nghe thấy tiếng tim đập âm vang trong tai: thình-thịch, thình-thịch, thình-thịch…
Ông già Tanabai chờ cho con ngựa lấy lại hơi, rồi lại nắm lấy dây cương:
- Tiến lên, Gunxarư, tiến lên, tới rồi đấy.
Người và ngựa cứ lê đi như thế khoảng một tiếng rưỡi, cho đến khi con ngựa dừng hẳn lại. Nó không thể kéo xe đi tiếp được nữa. Tanabai lại quính lên, chạy xung quanh con ngựa:
- Ơ kìa, Gunxarư, sao thế hả? Chết nỗi, tối đêm đến nơi rồi đây này!
Nhưng con ngựa không hiểu ông. Nó đứng đấy trong bộ đồ thắng xe, lắc lư cái đầu đã trở nên quá nặng đối với nó và loạng choạng từ phía này sang phía kia. Trong tai vẫn vang lên tiếng tim đập chát chúa: thùm-thụp, thùm-thụp, thùm-thụp.
- Thôi, mày thứ lỗi cho tao nhé – Tanabai thốt lên – Đáng lẽ tao phải đoán ra ngay mới đúng. Quẳng mẹ nó cái xe này đi, vứt quách bộ đồ ngựa này đi, chỉ cốt sao đưa được mày về đến nhà là quí rồi.
Ông quẳng chiếc áo da lông xuống đất và hối hả tháo ngựa ra khỏi xe. Ông đưa con ngựa ra khỏi càng xe, tháo vòng cổ qua đầu nó và quẳng tất cả bộ đồ ngựa lên xe.
- Thế là xong. – Ông nói, mặc áo choàng và nhìn con ngựa đã được tháo ra khỏi xe. Không có vòng cổ, dây thắng, đầu to quá khổ, lúc này con ngựa đứng giữa thảo nguyên chiều hôm lạnh lẽo, nom như một bóng ma. – Trời ơi, mày biến thành cái gì thế này, Gunxarư – Tanabai thì thầm – Giá như Torgôi trông thấy mày vào lúc này, ông già ở trong mồ hẳn sẽ trở mình quay mặt đi…
Ông cầm dây cương dắt con ngựa đi, người và ngựa lại chậm chạp lê bước trên đường. Con ngựa già và một ông già. Đằng sau là chiếc xe ngựa bị bỏ lại, còn ở đàng trước, phía tây, bóng tối màu tím thẫm đã bao phủ mặt đường. Đêm tràn lan trên thảo nguyên không một tiếng động, chùm lấp núi non, xoá nhoà chân trời.
Tanabai vừa đi vừa nhớ lại tất cả những gì gắn liền với Gunxarư trong nhiều năm dài và mỉm cười chua xót nghĩ về con người “Tất cả chúng ta đều thế cả. Lúc gần chót đời, khi ốm nặng hay sắp chết, ta mới nhớ đến nhau. Lúc ấy đột nhiên ta mới hiểu rõ ý nghĩa của sự mất mát: con người ấy trước đây là người thế nào, có gì nổi tiếng, người ấy đã làm được những việc gì. Vậy thì còn nói gì đến con vật không biết nói? Gunxarư đã mang trên lưng nó bao nhiêu người! Còn ai chưa từng cưỡi nó! Vậy mà khi nó già, mọi người đều quên nó. Giờ đây nó chày chật mới lê đi được một bước. Vậy mà trước kia nó là một con ngựa lừng tiếng!...”.
Ông lại nhớ đến những kỷ niệm xưa và ngạc nhiên về việc đã lâu mình không hồi tưởng lại dĩ vãng. Mọi chuyện xưa sống lại trong trí ông. Thì ra chẳng có cái gì không để lại dấu vết. Trước kia, chẳng qua là ông ít nghĩ đến dĩ vãng, hay nói cho đúng hơn, ông không cho phép mình nghĩ đến, nhưng bây giờ, sau cuộc nói chuyện với con trai và con dâu, trong lúc lê bước trên đường cái giữa đêm hôm, cầm cương dắt con ngựa sắp thở hơi cuối cùng, ông đau đớn buồn rầu nhìn lại những năm đã sống, và tất cả những năm ấy hiện lên sống động trước mắt ông.
Ông cứ đi như thế, chìm đắm trong những ý nghĩ của mình, còn con ngựa vẫn lê bước theo sau, mỗi lúc một kéo căng sợi dây cương. Khi tay ông già đã tê dại, ông chuyển dây cương sang vai kia và lại kéo con ngựa đi theo. Rồi ông bắt đầu nhọc và ông để cho ngựa nghỉ. Ông nghĩ ngợi một lát và tháo cương khỏi đầu ngựa. Ông nói:
- Mày đi trước đi, tuỳ theo sức mày, tao sẽ đi theo sau, tao không bỏ rơi mày đâu. Nào, đi đi, đi thong thả thôi.
Bây giờ con ngựa đi trước, còn Tanabai đi sau, bộ dây cương vắt trên vai. Không bao giờ ông vứt bỏ bộ dây cương. Mỗi khi Gunxarư dừng lại, Tanabai chờ cho nó lấy lại sức, rồi người và ngựa lại lê bước trên đường. Con ngựa già và một ông già.
Tanabai mỉm cười buồn rầu, nhớ lại hồi xưa Gunxarư đã từng tung vó chính trên con đường này và bụi cuốn bốc theo nó như một cái đuôi. Những người chăn cừu nói rằng nhìn đám bụi ấy, cách xa nhiều dặm đường họ đã nhận ra nước phi của con ngựa. Bụi bốc lên dưới vó nó một vệt trắng di động trên thảo nguyên và lúc lặng gió, bụi lơ lửng trên đường như vệt khói của máy bay phản lực. Lúc đó, người chăn cừu đưa tay lên che mắt để nhìn cho rõ và tự nhủ: “Chính là nó rồi, đích là Gunxarư!”, và ghen tị nghĩ tới con người hạnh phúc đang cưỡi con ngựa đó phóng như bay, mặt rát lên trong gió nóng. Thật là vinh dự lớn lao cho người Kirghizơ nào được cưỡi con ngựa có nước đi dị dạng trứ danh ấy.
Gunxarư đã qua tay bao nhiêu ông chủ tịch nông trang. Trong số đó có cả những người thông minh và những kẻ độc đoán, những người lương thiện và những kẻ bất lương, nhưng tất cả bọn họ, không trừ một ai, đều dùng Gunxarư làm ngựa cưỡi từ ngày đầu cho đến ngày cuối cùng còn giữ quyền chủ tịch. “Bây giờ họ ở đâu? Có lúc nào họ nghĩ đến Gunxarư, con ngựa đã mang họ trên lưng từ sáng đến tối không?” – Tanabai nghĩ.

Siren 27-06-2010 08:27

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Cuối cùng, ông già và con ngựa đến được cái cầu qua khe và dừng lại ở đây.
Con ngựa khuỵu chân toan nằm xuống đất, nhưng Tanabai không thể để như thế được: rồi sau không sức mạnh nào lôi nó đứng lên được nữa.
- Đứng lên! Đứng lên! – Ông quát và dùng dây cương quất vào đầu con ngựa. Rồi tự giận mình đã đánh nó, ông tiếp tục quát tháo – Thế nào, mày không hiểu à? Mày định trút hơi thở cuối cùng chăng? Tao không để mày làm như vậy đâu! Tao không cho phép. Đứng lên, đứng lên, đứng lên! – Ông túm bờm nó kéo lên.
Gunxarư đứng thẳng chân lên một cách khó nhọc, rên lên một cách khổ sở. Mặc dù trời tối, Tanabai không dám nhìn vào mắt con ngựa. Ông vuốt ve, sờ nắn con vật, áp tai vào sườn trái nó. Trong lồng ngực con ngựa, tim đập lục cục, tắc nghẹn như cái bánh xe cối xay nước trong đám rong rêu. Ông cứ cúi gập mình đứng cạnh con ngựa như thế hồi lâu, cho đến khi vùng thắt lưng đau mỏi nhừ. Rồi ông duỗi thẳng người, lắc đầu, thở dài và quyết định có lẽ đành liều một phen: đến bên kia cầu thì rời khỏi đường cái, rẽ vào con đường mòn chạy dọc theo khe. Con đường mòn ấy chạy vào núi, đi đường này có thể về nhà nhanh hơn. Kể ra ban đêm cũng dễ lạc đường lắm, nhưng Tanabai tin ở mình, ông biết rõ vùng này, miễn là con ngựa chịu đựng được.
Trong lúc ông già suy nghĩ về việc đó, ở đằng xa rực lên ánh đèn pha của chiếc ô tô đi chùng chiều. Ánh đèn đột ngột nhô ra từ trong bóng tối như hai quả cầu sáng chói và nhanh chóng lại gàn, thăm dò con đường phía trước bằng hai tia dài đưa đi đưa lại. Tanabai cùng với con ngựa đứng cạnh cầu. Chiếc ôtô không thể giúp được gì cho ông cùng con vật, nhưng ông vẫn chờ đợi nó. Ông chờ đợi thế thôi, không có chủ định gì cả. “Rút cuộc cũng gặp được một chiếc xe”. – ông nghĩ, hài lòng vì có người xuất hiện trên đường. Đèn pha của chiếc cam nhông phóng vào mắt ông một bó ánh sáng cực mạnh, khiến ông phải đưa tay lên che mắt.
Hai người ngồi trong buồng lái ngạc nhiên nhìn ông già đứng gần cầu và bên cạnh ông già là con ngựa gầy nhom không yên cương, như thể đấy không phải là con ngựa, mà là một con chó bám theo người. Luồng ánh sáng dọi thẳng vào ông già và con ngựa, chói rực đến nỗi người và ngựa phút chốc bỗng biến thành hai cái bóng trắng không có hình thù rõ rệt.
- Lạ thật, đêm hôm khuya khoắt ông ta đứng đây làm gì nhỉ? – Gã trai cao kều đội mũ có dải che tai, ngồi cạnh lái xe, hỏi.
- Đấy là người có chiếc xe ngựa bỏ lại ở đằng kia đấy mà. – Người lái xe giải thích và cho xe dừng lại. – Cụ ơi, cụ làm sao thế? Người lái xe thò đầu ra khỏi buồng lái, lớn tiếng hỏi. – Có phải cụ bỏ lại chiếc xe trên đường đấy không?
- Phải, chính tôi. – Tanabai đáp.
- Tôi nói không sai. Chúng tôi thấy chiếc briska vứt chỏng chơ trên đường. Xung quanh chẳng có ai. Chúng tôi toan lượm bộ đồ thắng ngựa, nhưng nó nát quá rồi.
Tanabai im lặng.
Người lái xe ra khỏi xe, đi mấy bước, phả lên người ông già mùi vốtka nồng nặc, rồi đi tiểu xuống đường.
- Có chuyện gì xảy ra thế? – Anh ta quay lại, hỏi.
- Con ngựa không kéo nổi xe nữa, nó ốm, vả lại nó cũng già rồi.
- Hừm. Nhưng cụ về đâu bây giờ?
- Về nhà. Ở khe Xarưgôuxk.
- Chi-ú – Người lái xe huýt lên một tiếng – Vào núi à? Tôi không đi đường ấy. Nhưng thôi được, cụ cứ leo lên thùng xe đi, tôi sẽ đưa cụ đến nông trường quốc doanh, rồi sáng mai cụ sẽ đi bộ về nhà.
- Cám ơn. Tôi ở đây với con ngựa.
- Cái con ngựa thổ tả này ấy à? Vứt quách nó đi cho chó ăn, đẩy nó xuống khe kia là xong, quạ sẽ rỉa xác nó. Nếu cụ muốn, chúng tôi sẽ giúp một tay.
- Anh cứ đi đi.- Tanabai nói khẽ, giọng ảo não.
- Thôi tuỳ cụ. – Gã lái xe cười khẩy, đóng sập cửa xe lại và nói với người ngồi trong buồng lái. – Lão già đâm ra lẩn thẩn rồi!
Chiếc xe chuyển bánh, đem theo luồng ánh sáng đùng đục. Cây cầu rít lên một cách nặng nhọc trên cái khe nhuốm thứ ánh sáng đỏ đậm của những cây đèn báo hiệu.
- Sao lại chế nhạo người ta, nếu cậu lâm vào cảnh ngộ như vậy thì sao? – Gã trai đội mũ có dải che tai, ngồi cạnh người lái đáp lại khi xe đã sang qua cầu.
- Vớ vẩn… - Gã lái xe vừa ngáp vừa xoay tay lái – Tớ đã qua chán vạn cầu rồi. Tớ nói thế là đúng quá đi chứ. Gớm, làm quái gì con nghẽo thổ tả ấy! Tàn dư của quá khứ. Bây giờ kỹ thuật làm chủ, anh bạn ạ. Ở đâu cũng cần đến kỹ thuật. Cả trong chiến tranh. Những ông già và những con ngựa như thế đã hết thời rồi.
- Cậu thật là tàn bạo! – Gã trai nói.
- Tớ cóc cần gì hết. – Gã lái xe đáp.
Khi chiếc ô tô đã khuất hẳn, bóng đêm lại vây kín xung quanh, Tanabai giục con ngựa:
- Nào, đi đi, hùy…huỳ! Đi đi nào!
Sang qua cầu, ông lùa con ngựa rời khỏi đường cái, đi vào con đường mòn. Bây giờ ông già và con ngựa tiến bước chậm chạp trên con đường mòn rất khó nhận rõ trong bóng tối bên bờ khe. Trăng mới nhú lên sau núi. Ngàn sao đợi trăng lên, nhấp nháy ánh sáng lạnh lẽo trên bầu trời lạnh lẽo.

Siren 27-06-2010 21:59

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
4.
VÀO CÁI NĂM GUNXARƯ ĐÃ ĐƯỢC TẬP LUYỆN MỘT CÁCH THUẦN THỤC,
các bầy ngựa rời khỏi bãi chăn thả mùa thu muộn hơn thường lệ. Mùa thu năm ấy dài khác thường, còn mùa đông lại dễ chịu, tuyết xuống thường xuyên, nhưng không đọng lâu, có đủ thức ăn chăn nuôi. Mùa xuân, các đàn ngựa lại xuống vùng giáp chân núi rồi khi thảo nguyên bắt đầu nở hoa thì xuống đồng bằng.
Sau chiến tranh, có lẽ đấy là quãng đời tốt đẹp nhất của Tanabai. Con ngựa xám của tuổi già đã chờ đợi ông, tuy vẫn còn ở bên kia đèo, nhưng cũng không xa lắm, còn hiện thời Tanabai vẫn cưỡi con ngựa sắc vàng nhạt có nước đi dị dạng. Nếu như mấy năm sau, con ngựa này mới vào tay ông thì chưa chắc ông đã cảm thấy phấn chấn hùng dũng như thế khi cưỡi trên lưng Gunxarư! Đúng thế, đôi khi Tanabai cũng thích vây vo trước mọi người. Có thể nào lại không vênh vang hãnh diện khi ngồi trên lưng con ngựa có nước đi dị dạng đang tung vó! Gunxarư biết rõ điều đó. Đặc biệt khi Tanabai cưỡi ngựa về bản, đi qua các cánh đồng, và trên đường ông gặp cánh chị em kéo nhau đi làm. Còn cách họ một quãng xa, ông đã dướn thẳng trên yên, toàn thân nhún nhẩy như cái lò xo, và sự kích động của ông truyền sang con ngựa. Gunxarư cất đuôi lên gần ngang lưng, bờm vi rút lớp lớp tung bay trước gió. Chốc chốc nó lại thở phì phí, chạy vòng vèo, mang ông chủ trên lưng một cách thoải mái. Chị em choàng khăn trắng và khăn đỏ giạt sang hai bên, đứng trong lúa xanh tươi ngập đến đầu gối. Đấy kìa, họ dừng cả lại như bị phù chú, nhất loạt quay lại, thấp thoáng những khuôn mặt, những cặp mắt ngời sáng, những nụ cười, những hàng răng trắng bóng.
- Ơ này, anh chăn ngựa! Dừng lạ-ại!
Tiếng cười và những lời cuối cùng bay đuổi theo:
- Coi chừng, sa vào tay chúng tôi thì biết đời, chúng tôi sẽ tóm được cho mà xem!
Đôi khi họ tóm được thật, họ chắn ngang đường, túm lấy tay. Lúc ấy thật là nhộn! Phụ nữ vốn thích đú đởn. Họ lôi Tanabai từ trên yên xuống, họ cười rộ, la ré, giằng lấy cây roi khỏi tay:
- Thú thật đi, bao giờ anh mang kumưx đến cho chúng tôi?
- Chúng tôi làm lụng trên đồng ruộng từ sáng đến tối, còn anh cưỡi ngựa rong chơi!
- Ai cầm giữ các chị nào? Hãy đi chăn ngựa đi. Nhưng nhớ bào chồng tìm lấy vợ khác. Các chị sẽ chết cóng trong núi như cột băng.
- A, ra thế kia đấy! – Và họ lại bắt đầu trêu chòng ông.
Chưa bao giờ Tanabai cho một người nào cưỡi lên lưng Gunxarư. Ngay cả người đàn bà mà khi gặp nàng tâm trạng ông lập tức thay đổi hẳn và ông bắt Gunxarư đi bước một, ngay cả người đó cũng chưa được cưỡi lên con ngựa của ông lần nào. Nhưng cũng có thể là người ấy không muốn điều đó.
Năm ấy, Tanabai được bầu vào ban kiểm tra. Ông thường cưỡi ngựa về bản và hầu như lần nào cũng gặp người đàn bà ấy. Rời khỏi ban quản trị, ông thường tức giận. Nhìn mắt ông, nghe giọng nói, cử động tay của ông, Gunxarư cảm thấy điều đó. Nhưng khi gặp người đàn bà ấy, Tanabai bao giờ cũng trở nên hiền hậu.
- Này, này, chầm chậm chứ, đi đâu mà vội thế! Ông thì thầm, như bảo con ngựa lúc nào cũng hăm hở và đi ngang qua chỗ người đàn bà, ông cho ngựa đi bước một.
Hai người khe khẽ nói chuyện gì với nhau, có khi chỉ im lặng. Gunxarư cảm thấy ông chủ trút bỏ được tất cả những gì đè nặng trong lòng ông, giọng nói của ông trở nên đầm ấm, tay ông trở nên dịu dàng hơn. Vì thế, nó thích ông chủ gặp người đàn bà đó trên đường.
Con ngựa làm sao biết được rằng đời sống trong nông trang rất gay go, ngày công hầu như chẳng có gì và uỷ viên ban kiểm tra Tanabai Bakaxốp đang tìm hiểu tỉ mỉ ở ban quản trị để giải đáp những câu hỏi: vì đâu nên nông nỗi này và đến bao giờ rút cuộc mới gây dựng được một cuộc sống mà nông trang vừa có cái đóng góp cho nhà nước, vừa không để mọi người phải làm lụng không công?
Năm ngoái thì mất mùa, không có thức ăn gia súc, năm nay thì giao nộp thóc và gia súc vượt kế hoạch bù đắp cho các nông trang khác, để huyện khỏi mất mặt, nhưng rồi đây sẽ ra sao, nông trang viên có thể trông cậy vào cái gì thì chưa biết. Thời gian qua đi, người ta đã bắt đầu quên chiến tranh, nhưng đời sống vẫn như trước, người ta vẫn sống bằng những gì bòn được ở vườn rau và thủ được ở đồng ruộng. Nông trang cũng không có tiền: tất cả đều giao nộp hết – thóc lúa, sữa, thịt; nông trang đàn chịu thiệt thòi. Mùa hè, chăn nuôi phát triển, rồi đến mùa đông thì tiêu tan hết, gia súc chết đói và chết rét. Cần khẩn cấp làm chuồng cừu, chuồng bò, kho chứa thức ăn gia súc, nhưng không đào đâu ra vật liệu xây dựng và chẳng ai hứa cung cấp cho. Còn nhà ở đã biến thành cái gì qua thời chiến tranh? Những người dựng nhà dựng cửa toàn là những người chạy chợ buôn gia súc và khoai tây. Những kẻ như thế lại có thế lực, họ xoay được vật liệu xây dựng ở ngoài.
- Không, không thể như thế được, các đồng chí ạ, có cái gì lệch lạc, có cái gì vướng mắc lớn trong đời sống của chúng ta. – Tanabai nói. – Tôi không tin rằng tình thế phải như vậy. Hoặc là chúng ta đã mất thói quen làm việc, hoặc các đồng chí lãnh đạo chúng tôi không đúng đắn.
- Lệch lạc cái gì nào? Cái gì là cái không đúng? – Nhân viên kế toán gí giấy tờ vào mũi ông – Anh xem các kế hoạch đây này… Đây là những gì chúng ta thu được, đây là những gì đã giao nộp, đây là sổ thu chi, đây là kinh phí, đây là số dư. Không có thu nhập, toàn thiếu hụt. Anh còn muốn gì nữa? Phải tìm hiểu cho kĩ đi đã rồi hãy nói. Chỉ mình anh là người cộng sản, còn chúng tôi là kẻ thù của nhân dân cả phải không?

Những người khác xen vào câu chuyện, thế là bắt đầu tranh cãi om sòm. Tanabai ngồi, hay tay ôm đầu, thất vọng nghĩ về tình hình đang diễn ra, không hiểu sao. Ông đau lòng về nông trang không phải chỉ vì ông làm việc trong nông trang, mà còn có những lí do đặc biệt khác. Có những kẻ từ lâu vẫn thù Tanabai. Ông biết; bây giờ họ thầm chế nhạo ông, và, khi gặp ông, họ nhìn vào mặt ông, tỏ thái độ khiêu khích: thế nào, tình hình ra sao? Hay lại bắt đầu đi tước đoạt tài sản lần nữa? Có điều, bây giờ chúng tớ chẳng còn gì cho mà lấy. Lên xe chỗ nào, xuống ngay chỗ ấy. Chao ôi, chỉ tiếc sao nhà ngươi không bỏ xác luôn ở mặt trận có phải rảnh nợ cho thiên hạ không!...

Siren 27-06-2010 22:01

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Ông trả lời bọn ấy bằng cái nhìn: cứ chờ đấy mà xem, bọn khốn kiếp, rồi thế nào mọi việc cũng sẽ như chúng tao dự tính! Thế nhưng, những kẻ đó đâu phải người dưng, chỗ bà con cả thôi. Kulubai là anh cùng bố khác mẹ với ông, giờ đây đã già rồi, trước chiến tranh đã bị đưa đi Xibia bảy năm. Các con trai Kulubai cũng về hùa với bố, căm thù Tanabai ghê gớm.Vả chăng, vì lẽ gì họ phải yêu mến Tanabai kia chứ? Có lẽ cả con cái họ cũng căm thù giòng giống Tanabai. Mà họ căm thù ông cũng có duyên cớ. Việc xảy ra đã lâu rồi, nhưng niềm oán hận vẫn nung nấu trong lòng họ. Có nên đối xử với Kulubai như thế không chứ? Chẳng phải Kulubai chỉ là một ông chủ phong lưu, một trung nông thôi sao? Còn tình máu mủ vứt đi đâu? Kulubai là con bà cả, Tanabai là con bà hai, nhưng đối với người Kirghizơ thì hai anh em như thế được coi như ruột thịt. Như vậy là Tanabai đã không đếm xỉa gì đến tình máu mủ, hồi ấy thiên hạ nói ra nói vào biết bao nhiêu! Bây giờ tất nhiên có thể nhận định khác. Nhưng còn hồi ấy? Ông làm như thế chẳng phải vì nông trang sao? Tuy nhiên, có nên xử sự như thế không? Trước đây, ông không hồ nghi gì hết, nhưng sau chiến tranh, đôi khi ông nghĩ khác. Phải chăng ông đã tạo thêm những kẻ thù không cần thiết cho bản thân mình và cho nông trang?

- Này, sao lại ngồi gây ra như thế, Tanabai, tĩnh trí lại đi. – Người ta đưa ông trở lại cuộc bàn bạc. Rồi lại vẫn những chuyện ấy: trong mùa đông, cần đưa hết phân bón ra đồng, phải đến từng nhà để thu nhặt. Không có bánh xe, vậy thì cần mua gỗ du, mua sắt làm vành bánh, nhưng tiền đâu, liệu người ta có cho vay không và lấy gì đầm đợ để vay? Ngân hàng không tin lời nói xuông. Những con mương cũ cần được khơi lại, phải đào thêm mương mới, đấy là việc lớn lao nặng nhọc. Mùa đông nông dân không chịu đi làm mương, đất lạnh cứng, đào không được. Đến mùa xuân thì không kịp nữa rồi: nào là gieo hạt, chăm cừu đẻ, nào là làm cỏ, cắt cỏ gia súc… Còn việc nuôi cừu? Lấy đâu ra nhà cho cừu đẻ? Tình hình ở trại sữa cũng không khá hơn. Mái nhà dột nát, không đủ thức ăn chăn nuôi, chị em vắt sữa không muốn làm việc. Họ túi bụi từ sáng đến tối, nhưng thu nhập được gì? Còn biết bao nhiêu lo âu và thiếu thốn khác nữa? Đôi khi cảm thấy ghê sợ.

Nhưng dẫu sao họ vẫn giữ vững tinh thần, lại thảo luận những vấn đề ấy tại cuộc họp đảng, tại ban quản trị nông trang? Chủ tịch nông trang là Tsôrô. Mãi sau này Tanabai mới biết quí trọng Tsôrô. Thì ra phê phán bao giờ cũng dễ hơn. Tanabai chịu trách nhiệm về một đàn ngựa. Tsôrô chịu trách nhiệm về mọi người và mọi việc trong nông trang. Đúng, Tsôrô là con người vững vàng. Khi mọi việc xem chừng có cơ sụp đổ cả. Khi ở huyện người ta đấm bàn quát tháo, và ở nông trang người ta túm lấy ngực ông. Tsôrô vẫn không mất tinh thần. Ở địa vị Tsôrô, Tanabai hẳn sẽ phát điên hay tự sát. Thế mà Tsôrô vẫn duy trì được nông trang, đứng vững đến cùng, cho đến khi tim ông suy kiệt hẳn, ấy thế mà sau đó ông còn làm bí thư chi bộ hai năm nữa. Tsôrô biết thuyết phục và nói chuyện với mọi người. Chính vì thế, mỗi lần nghe Tsôrô nói, Tanabai lại tìn rằng mọi việc sẽ ổn thoả cả, rằng cuối cùng sự thể sẽ đúng như họ mơ ước lúc ban đầu. Chỉ có một lần, lòng tin của ôg vào Tsôrô lung lay, nhưng lần ấy chính ông có lỗi nhiều hơn…

Con ngựa không biết những gì diễn ra trong tâm hồn Tanabai khi ông rời khỏi văn phòng ban quản trị với cặp mắt long lên dữ tợn, lông mày cau lại, khi ông gieo mình xuống yên một cách thô bạo và thẳng tay giật cương. Nhưng nó linh cảm thấy chủ nó hết sức bực bội. Mặc dù Tanabai chưa bao giờ đánh Gunxarư, những lúc ấy con ngựa sợ ông chủ. Nhưng khi gặp người đàn bà ấy trên đường, con ngựa đã biết rằng bây giờ ông chủ sẽ thanh thản hơn, trở nên hiền hậu, sẽ kìm nó lại và chuyện trò khe khẽ với người đàn bà ấy, hai bàn tay người đàn bà sẽ vọc vào bờm nó, vuốt ve cổ nó. Không một người nào có bàn tay âu yếm như thế. Đấy là đôi bàn tay tuyệt diệu, mềm mại và nhạy cảm như cặp môi con ngựa cái hồng nhỏ nhắn có đốm sao trên trán. Cũng không người nào trên đời có cặp mắt như mắt người đàn bà ấy. Ngồi trên yên, Tanabai cúi xuống nói chuyện với thiếu phụ, còn chị khi thì mỉm cười, khi thì chau mày lắc đầu, không đồng ý với ông điều gì, mắt chị lấp loáng ánh sáng và bóng tối, như những hòn đá dưới đáy con suối chảy xiết trong đêm trăng. Lúc ra về, chị ngoái nhìn lại và lắc đầu.

Sau đó, Tanabai trở nên đăm chiêu. Ông buông lỏng dây cương mặc cho con ngựa muốn đi đâu thì đi. Được tự do, nó phi nước kiệu đường trường. Tưởng chừng như không có ông chủ trên yên. Như thể cả người và ngựa đều không lệ thuộc gì vào nhau. Khi ấy, tiếng ca tự dưng xuất hiện. Tanabai hát khe khẽ, lời ca không rõ, theo nhịp vó ngựa đều đều, hát về nỗi đau khổ của những người đã khuất từ lâu. Còn con ngựa chọn nẻo đường mòn quen thuộc, đưa ông vào thảo nguyên; qua sông, đến với các bầy ngựa…

Siren 27-06-2010 22:20

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Gunxarư thích những lúc ông chủ có tâm trạng như vậy, nó cũng yêu người đàn bà ấy theo cách riêng của nó. Nó quen thuộc hình dáng, dáng đi của chị, thậm chí bằng tài đánh hơi nhạy bén của nó, nó cảm nhận thấy ở chị toát ra cái mùi kỳ dị của một thứ cỏ lạ. Đấy là mùi đinh hương. Chị đeo chuỗi hạt bằng nụ đinh hương.
- Em hãy để ý xem, nó yêu em lắm đấy, Biubingian ạ. – Tanabai nói với thiếu phụ - Em vuốt ve nó đi, vuốt ve nữa đi. Đấy kìa, nó dỏng tai nghe nom đã ngộ chưa. Cứ như chú bê non ấy. Vậy mà hiện nay các bầy ngựa sống không yên với nó đấy. Cứ để mặc nó là nó cắn những con ngựa đực khác như chó vậy. Vì thế lúc nào anh cũng đóng yên cho nó, anh sợ những con khác làm nó tàn tật. Nó còn non quá.
- Nó thì nó yêu em. – Mải nghĩ điều gì, thiếu phụ trả lời.
- Em muốn nói rằng những con khác không yêu em ư?
- Không phải thế. Thời yêu đương của chúng ta đã qua rồi. Em lo rằng sau này em sẽ phải ái ngại cho anh.
- Tại sao lại thế kia chứ?
- Anh không phải như người khác, rồi sau này anh sẽ khổ tâm.
- Thế còn em…
- Em cần quái gì? Em là vợ lính goá chồng. Còn anh…
- Anh là uỷ viên ban kiểm tra. Anh gặp em trên đường và tìm hiểu một số sự việc. – Tanabai tìm cách bông đùa.
- Anh năng tìm hiểu sự việc nhiều quá đấy. Hãy coi chừng.
- Thì anh có lỗi gì nào? Anh đang đi trên đường, em cũng thế.
- Em đi đường em. Chúng ta không cùng đường. Thôi, từ biệt. Em không có thời giờ.
- Này, Biubiugian!
- Sao kia? Không nên, Tanabai ạ. Để làm gì? Anh là một người thông minh kia mà. Cứ như thế này em cũng đủ khổ lắm rồi, chẳng cần anh làm em khổ thêm nữa đâu.
- Sao, anh là kẻ thù của em chắc?
- Anh là kẻ thù của chính anh.
- Nên hiểu câu đó như thế nào?
- Tuỳ anh.
Chị bỏ đi, còn Tanabai dong ngựa qua các ngõ đường làng, như thể có công việc gì, rẽ vào chỗ nhà xay hay về phía trường học, rồi sau khi quanh đủ một vòng, lại quay trở lại để nhìn thấy, dù chỉ là từ xa bóng dáng người đàn bà ấy rời khỏi nhà mẹ chồng (chị gửi con ở đấy khi đi làm), và tay dứt đứa con gái nhỏ đi về nhà mình ở ven làng. Ở chị, tất cả đều thân thiết vô hạn đối với Tanabai. Cả việc chị cứ đi miết, cố không nhìn về phía Tanabai, cả khuôn mặt chị trăng trắng sau tấm khăn san thẫm màu, cả đứa con gái nhỏ của chị, cả con chó con chạy bên cạnh.

Cuối cùng, chị khuất hẳn trong sân nhà, và Tanabai tiếp tục đi, tưởng tượng thấy chị mở cửa căn nhà trống rỗng, cởi chiếc áo bông cũ sờn, chỉ mặc tấm áo dài chạy đi lấy nước, nhóm bếp lò, tắm rửa cho con bé và cho con ăn, rồi đi đón con bò cái trở về cùng đàn bò, bà ban đêm, chị sẽ nằm một mình trong căn nhà tối om, vắng lặng và sẽ thuyết phục bản thân và thuyết phục Tanabai rằng hai người không có quyền yêu nhau. Tanabai là người có gia đình, ở tuổi ông mà còn say đắm chuyện tình ái thì kì cục lắm, cái gì cũng có thời của nó, vợ ông là người đàn bà tốt, không đáng phải chịu nỗi đau lòng vì chồng thương yêu người đàn bà khác.

Siren 29-06-2010 21:21

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Những ý nghĩ như vậy khiến Tanabai khắc khoải bồn chồn. “Như vậy là số trời không thuận” – Ông vừa nghĩ vừa nhìn khoảng xa mờ hơi sương bên kia sông, lẩm nhẩm hát những bài ca cổ, quên hết mọi thứ trên đời: cả công việc, cả nông trang, cả giày dép và quần áo cho trẻ em, cả bạn và thù, cả Kulubai người anh cùng bố khác mẹ mà nhiều năm nay hai bên không hề trò chuyện với nhau, cả cuộc chiến tranh đôi khi ông vẫn còn gặp lại trong chiêm bao và khiến ông toát mồ hôi lạnh. Ông quên hết những gì trước đây đã từng là nội dung cuộc sống của ông. Ông không để ý rằng con ngựa đã lội qua sông, và sang đến bờ bên kia, nó lại tiếp tục đi nữa. Mãi đến khi con vật cảm thấy bầy của nó đã ở gần đây và bắt đầu rảo bước, Tanabai mới sực tỉnh.

- Hừ, Gunxarư, mày đưa tao đi đâu thế này?! – Tanabai sực tỉnh, kéo căng dây cương.

5. NHƯNG DÙ SAO ĐI NỮA, THỜI ẤY VẪN LÀ THỜI huy hoàng đối với Tanabai cũng như đối với Gunxarư. Danh tiếng con ngựa đua cũng giống như danh tiếng một cầu thủ bóng đá. Hôm qua còn là thằng bé chạy theo quả bóng ở các sân sau, hôm nay bỗng trở thành nhân vật được mọi người yêu mến, là đối tượng bàn luận của những người am hiểu và được quần chúng thán phục. Tiếng tăm của người cầu thủ bóng đá ngày càng lớn lên, chừng nào người đó còn ghi được bàn thắng. Rồi dần dà, người đó rời khỏi sân cỏ và bị bỏ quên hẳn. Những người quên cầu thủ đó trước tiên lại là những người đã từng lớn tiếng ca ngợi anh ta hơn ai hết. Một cầu thủ khác xuất hiện thay thế cho người cầu thủ vĩ đại. Con đường vinh quan của con ngựa đua cũng thế. Chừng nào nó còn vô địch trong các cuộc đua thì nó còn nổi tiếng. Có lẽ chỉ có một điều khác nhau duy nhất là chẳng ai ghen với con ngựa. Ngựa không biết ghen tị, còn con người thì ơn nhờ Thượng đế, vẫn chưa học được thói ghen tị với ngựa. Kể ra nói như vậy cũng chưa đúng hẳn, thói ghen tị thực không sao hiểu nổi, ta vẫn biết có trường hợp để làm hại một người, những kẻ ghen tức đã đóng đinh vào móng ngựa. Chao ôi, cái thói ghen tị hèn mạt ấy!... Nhưng thôi, mặc nó…

Siren 29-06-2010 21:23

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Lời tiên đoán của ông già Torgôi đã thành sự thực. Mùa xuân ấy, ngôi phúc tinh của con ngựa có nước đi dị dạng đã lên đến đỉnh cao. Già trẻ lớn bé, không ai là không biết đến nó: “Gunxarư!” “Con ngựa có nước đi dị dạng của Tanabai!”, “Niềm kiêu hãnh của bản làng”..
Những thằng bé lem luốc, còn chưa nói được âm “r”, chạy trên ngõ xóm bụi bậm, bắt chước kiểu phi của Gunxarư, thi nhau gào to: “Ta là Gunxalư… Không, tao mới là Gunxalư… Mẹ ơi, mẹ bảo nó đi, con là Gunxalư cơ… Nào, phóng đi, a-i-i-i, tao là Gunxalư…”

Con ngựa được biết thế nào là vinh quang, được biết vinh quan có sức mạnh lớn lao như thế nào ngay từ cuộc đua lớn đầu tiên mà nó tham dự. Đấy là vào ngày mồng một tháng năm.

Sau cuộc mít tinh, cuộc đua khai diễn trên cánh đồng cỏ lớn bên sông. Người từ khắp nơi đổ đến đông nghịt: họ từ nông trường quốc doanh gần đây, từ trên núi, thậm chí từ Kazăcxtan kéo đến. Những người kazăc phô trương ngựa của mình.

Người ta bảo rằng sau chiến tranh chưa có ngày hội nào lớn như thế.
Ngay từ sáng, khi Tanabai đóng yên, kiểm tra dây đai bụng và dây chằng bàn đạp đặc biệt cẩn thận, nhìn ánh mắt long lanh và hai tay run run của chủ, con ngựa cảm thấy có một cái gì đó phi thường đang đến gần. Ông chủ hết sức xúc động.

- Này, cẩn thận đấy nhé, Gunxarư, đừng làm tao thất vọng nhé! – Ông chủ thì thầm, chải bờm và túm bờm trước trán cho con vật. – Mày không được bôi nho danh tiếng của mày, nghe chưa! Cả tao lẫn mày đều không có quyền thua cuộc, nghe chưa!
Ngay cái không khí rộn ràng tiếng người nói và tiếng chân chạy rầm rập cũng tạo nên cảm giác chờ đợi một cái gì phi thường. Ở các trại du mục lân cận, những người chăn ngựa đóng yên cương ngựa của họ. Những thằng bé đã cưỡi trên lưng ngựa, reo hò phi xung quanh. Rồi những người chăn ngựa tập hợp lại và cũng cho ngựa đi về phía sông.

Gunxarư sửng sốt trước cảnh người ngựa tụ tập đông như thế trên đồng cỏ. Tiếng ồn ào huyên náo lan rộng trên sông, trên đồng cỏ, trên các gò đống dọc bãi bồi. Mắt hoa lên vì những tấm khăn choàng và áo váy rực rỡ, vì những lá cờ đỏ và khăn vấn đầu màu trắng của phụ nữ. Ngựa thắng những bộ đồ tốt nhất. Bàn đạp khua loảng xoảng, hàm thiếc và những vật trang sức bằng bạc đeo ở yên ngựa phát ra tiếng lanh canh.

Ngựa có người cưỡi chen chúc từng hàng, nong nẩy dậm chân đòi thả dây cương và dùng móng bới đất – Các cụ già cầm chịch cuộc chơi dong ngựa vờn múa trong bãi giữa vòng đua.
Gunxarư cảm thấy tinh thần mỗi lúc một căng thẳng, toàn thân tràn trể sức lực. Nó có cảm giác như một vị thần lửa đã nhập vào nó và để thoát khỏi sức nóng nung đốt ấy, phải mau mau nhảy xổ vào vòng đua và băng mình chạy.
Khi những người cầm chịch ra hiệu cho vào vòng đua và Tanabai nới lỏng tay cương một chút, con ngựa đưa ông vào giữa bãi, rồi cứ xoay quanh, không biết chạy về hướng nào.
Tiếng trầm trồ lan ra trong các hàng người: “Gunxarư! Gunxarư!”.

Siren 29-06-2010 21:24

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tất cả những người muốn tham gia cuộc baiga lớn đã cho ngựa vào vòng đua. Có chừng năm chục tay đua.
- Hãy xin bà con cầu phúc cho các bạn! – Người chủ trì cuộc chơi trịnh trọng tuyên bố!
Các kỵ sĩ đầu cạo trọc, trán bịt vành khăn thít chặt, cho ngựa đi dọc theo các hàng người, giơ hai tay lên, bàn tay xoè ra, và từ đầu này đến đầu kia bãi đua rộn lên một hơi thở duy nhất: “Ôômiin!”(Tiếng cầu nguyện của tín đồ Hồi giáo: “Xin được như nguyện”.), và hàng trăm bàn tay đặt lên trán, rồi những bàn tay vuốt mặt từ trên xuống như những dòng nước chảy.
Sau đó, các kỵ sĩ cho ngựa đi nước kiệu đến vạch xuất phát ở giữa đồng, cách đây chín kilômét.

Trong lúc đó, các trò chơi bắt đầu trên cái bãi tròn: cuộc vật lộn của những người đi bộ và người cưỡi ngựa, tìm cách làm cho đối thủ té nhào trên yên xuống, phi ngựa nhặt đồng tiền và các trò đua khác. Tất cả những cái đó chỉ là phần mào đầu, cuộc đua chính sẽ bắt đầu ở chỗ các kỵ sĩ đã phi ngựa tới.
Dọc đường Gunxarư tỏ ra nóng nảy. Nó không hiểu tại sao ông chủ cứ ghìm nó. Xung quanh, những con ngựa khác vờn múa và coi bộ rất hung hăng. Ở giữa nhiều con ngựa như thế và con nào cũng đòi phi thả sức, Gunxarư nổi cáu và run lên vì nôn nóng.

Cuối cùng, tất cả đã dàn hàng một ở vạch xuất phát, đầu sát bên đầu. Người phát hiệu lệnh phi ngựa qua trước hàng đấu thủ, từ đầu này đến đầu kia, giơ cao chiếc khăn trắng. Tất cả lặng đi, rạo rực và chăm chú. Cánh tay vung chiếc khăn. Những con ngựa lao vọt đi, và bị cuốn theo khí thế chung, Gunxarư cũng băng về phía trước cùng với tất cả những con khác. Đất gầm vang như mặt trống dưới dòng thác lũ vó ngựa, bụi cuốn lên mù mịt. Trong tiếng hò reo của các kỵ mã, ngựa phi nước đại như điên như cuồng, xoài mình sát đất. Riêng Gunxarư không biết phi nước đại, nó phi bằng cái nước đi dị dạng của mình. Đấy vừa là chỗ yếu vừa là chỗ mạnh của nó.

Thoạt đầu, tất cả cụm lại cùng phóng đi, nhưng mấy phút sau đam ngựa đã kéo thành hàng dài. Gunxarư không thấy điều đó. Nó chỉ thấy những con ngựa đua hăm hở đã vượt nó và chạy trước nó trên đường. Đá sỏi nóng hổi và những cục đất sét khô vọt lên dưới vó, đập vào mặt, còn xung quanh ngựa phi nước đại, những tay đua ngựa reo hò, tiếng roi quất vun vút và bụi bốc lên cuồn cuộn. Bụi mù mịt như máy bay trên mặt đất. Không khí nồng nặc mùi mồ hôi, mùi đá và mùi ngải non bị giẫm nát.

Cứ như thế non nửa chặng đường. Chừng một chục con ngựa vượt lên đầu, phi nhanh đến mức Gunxarư không sao theo kịp. Hai bên bắt đầu ắng lặng, tiếng ồn ào của những con ngựa chạy phía sau lùi xa dần nhưng thấy những con khác vượt lên trước, còn nó bị ghìm cương, không được hoàn toàn tự do, Gunxarư tức điên lên. Sự tức giận và gió làm mắt nó tối lại, đường vùn vụt trôi dưới chân, mặt trời từ trên cao rớt xuống như trái cầu lửa, lăn về phía nó. Mồ hôi nóng hừng hực toát ra khắp toàn thân, và mồ hôi toát ra càng nhiều nó càng cảm thấy nhẹ nhõm hơn.

Rồi đến một lúc, những con ngựa đua bắt đầu thấm mệt và dần dần chạy kém đi, còn Gunxarư mới bắt đầu bước vào giai đoạn sung sức nhất. “Tsu, Gunxarư, tsu” – nó nghe thấy tiếng ông chủ, và mặt trời càng lăn nhanh hơn về phía nó. Thấp thoáng những khuôn mặt méo xệch đi vì cuồng nộ của các tay đua lần lượt bị đuổi kịp và bị bỏ lại phía sau, thấp thoáng nhữgn chiếc roi vung lên, những mõm ngựa răng nhe ra, thở phì phò. Uy quyền của hàm thiếc và dây cương bỗng biến mất, đối với Gunxarư không còn yên, cũng không còn người cưỡi: ngọn lửa chạy đua hừng hực trong người nó.

Siren 29-06-2010 21:25

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tuy thế, ở phía trước vẫn còn hai con ngựa chạy áp sát vào nhau: một con màu xám sẫm và một con sắc hung. Cả hai cùng ra sức phi, không chịu thua kém nhau, bị thôi thúc bởi tiếng hò hét và làn roi của người cưỡi. Đấy là hai con ngựa đua cường tráng. Gunxarư phải mất một thời gian lâu mới đuổi kịp hai con ngựa và rút cuộc, đến đoạn đường dốc thì nó vượt lên trước. Nó nhảy lên một cái gò, như nhảy lên ngọn một con sóng lớn, và có một lúc, dường như nó bay lơ lửng trong không trung, không có trọng lượng. Hơi thở nghẽn lại trong lồng ngực, mặt trời loé ra những tia sáng càng chói rực hơn bắn vào mắt nó, nó lao như bay xuống dốc, nhưng chẳng bao lâu nó nghe thấy tiếng vó ngựa lộp cộp đuổi kịp nó ở phía sau. Con xám sẫm và con sắc hung cố phục thù. Chúng từ hai phía tiến đến, gần như áp sát vào Gunxarư và không chịu thua kém một bước.

Cả ba con ngựa cứ thế phóng như bay, đầu áp đầu, hoà vào nhau trong một chuyển động duy nhất. Gunxarư có cảm giác như bây giờ cả ba đều hoàn toàn không chạy, đều đờ ra trong một trạng thái sững sờ và câm lặng kì lạ. Thậm chí có thể thấy rõ thần sắc biểu lộ trong mắt những con bên cạnh, những cái đầu nhoai về phía trước đầy vẻ căng thẳng, những hàm thiếc bị cắn chặt, cương hàm và dây cương. Con xám sẫm coi bộ dữ tợn và bướng bỉnh, con sắc hung thì lo lắng, luồng mắt thiếu tự tin của nó lướt nhìn hết phía này sang phía khác. Chính nó tụt lại trước tiên. Thoạt tiên cái nhìn nhớn nhác như biết lỗi của nó biến mất, rồi cái đầu với hai lỗ mũi phồng lên lùi về phía sau, rồi không thấy nó đâu nữa. Còn con xám sẫm cầm cự hồi lâu một cách khổ sở rồi mới chịu thua. Nó chết dần một cách chậm chạp trong cuộc đua, nỗi uất hận làm cho ánh mắt nó mỗi lúc một đờ đẫn. Nó cứ thế biến mất, vẫn không muốn thừa nhận thất bại của mình.

Khi các địch thủ đã bị bỏ rơi, Gunxarư cảm thấy dường như dễ thở hơn. Phía trước đã hiện ra khúc sông uốn cong óng ánh bạc, cánh đồng cỏ xanh tươi và đã nghe thấy tiếng người reo hò từ đằng xa dội đến. Thì ra những người cổ vũ hăng say nhất đã chờ sẵn ở dọc đường. Họ phi ngựa ở hai bên đường, reo hò. Đúng lúc đó, đột nhiên Gunxarư cảm thấy yếu hẳn đi. Quãng đường dài vừa vượt qua đã làm nó xuống sức. Sự thể ở phía sau ra sao, những con khác có đuổi kịp nó không Gunxarư không biết. Nó không sao chạy được nữa, kiệt sức rồi.

Nhưng ở phía trước, đám người đông nghịt đang gào thét và nhốn nháo, những người cưỡi ngựa và đi bộ đã ùa tới thành hai nhánh, tiếng reo hò mỗi lúc một to hơn, mạnh hơn. Đột nhiên nó nghe thấy rõ mồn một: “Gunxarư! Gunxarư! Gunxarư!” Và thu hút vào mình những tiếng reo hò và gào thét ấy, như hít không khí vào đầy lồng ngực, Gunxarư lại lao vút lên với sức mạnh mới. Chao ôi, con người, con người! Có cái gì mà họ không làm được!...
Giữa tiếng ầm ĩ và tiếng reo hò hân hoan vang lên không ngớt, Gunxarư vượt qua cái hành lang ồn ào của những người chào đón, và nó chạy chậm lại, lượn thành một vòng tròn trên đồng cỏ.
Nhưng vẫn chưa phải là hết. Bây giờ, cả nó lẫn chủ nó đều không thuộc về mình nữa. Khi con ngựa đã lấy lại được hơi chút ít và bình tĩnh lại, đám người giãn ra quây thành một vòng tròn nghênh đón người chiến thắng. Tiếng hoan hô lại nổi lên: “Gunxarư! Gunxarư! Gunxarư!”. Đồng thời, tên chủ nó cũng vang dậy: “Tanabai! Tanabai! Tanabai!”.
Và đến đây, nhờ sự hứng khởi của mọi người, một phép lạ lại diễn ra với Gunxarư. Kiêu hãnh và dũng mãnh, nó bước vào bãi cát giữa trường đua, đầu cất cao, mắt cháy rực. Say sưa vì không khí vinh quan, Gunxarư vờn múa mấy bước, nghiêng người dạo vó đều đều hăm hở chực chạy nữa. Nó biết nó đẹp, hùng dũng và nổi tiếng.

Tanabai cho ngựa giễu qua trước mặt mọi người, hai tay dang rộng biểu hiện tư thế của người chiến thắng, và từ đầu này đến đầu kia lại rộn lên tiếng cầu nguyện như một hơi thở duy nhất: “Ôômiin!”, và hàng trăm cánh tay lại đưa lên trán và những bàn tay vuốt xuôi xuống mặt như những dòng nước chảy.
Liền đó, giữa vô vàn khuôn mặt, Gunxarư bỗng nhìn thấy người đàn bà quen biết. Nó nhận ra chị ngay, khi chị đưa hai tay vuốt xuôi trên mặt, tuy lần này chị không choàng tấm khăn san thẫm màu, mà choàng khăn trắng. Chị đứng ở hàng đầu đám đông, hạnh phục và vui sướng, nhìn Tanabai và Gunxarư không dứt bằng đôi mắt lấp lánh như những hòn đá ở quãng nước chảy xiết chan hoà ánh mặt trời. Theo thói quen, Gunxarư đi về phía ấy để đứng cạnh chị, để ông chủ nói chuyện với chị và chị vọc tay vào bờm nó, vuốt ve cổ nó bằng đôi tay tuyệt diệu, mềm mại và nhạy cảm như cặp môi con ngựa cái hồng có đốm sao trên trán. Nhưng không rõ vì sao, Tanabai rẽ cương sang hướng khác, còn con ngựa không hiểu chủ, cứ xoay quanh, hăm hở muốn đến gần người đàn bà ấy. Chẳng lẽ ông chủ không nhìn thấy người đàn bà ấy ở đây sao? Hễ có dịp là bao giờ ông chủ cũng nói chuyện với người đàn bà ấy một lát kia mà?

Siren 30-06-2010 22:30

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
*

Cả ngày thứ hai, ngày mùng hai tháng năm, cũng là một ngày lớn lao đối với Gunxarư. Lần này, khoảng quá trưa, trên thảo nguyên diễn ra một cuộc chơi hăng say: trò cướp dê, một kiểu cưỡi ngựa chơi bóng đặc sắc, ở đây thay cho trái ban là một thân dê không đầu. Con dê có cái tiện lợi là lông nó dài, chắc có thể từ trên mình ngựa túm lấy chân hoặc lông nó mà lôi

Thảo nguyên lại dậy lên tiếng reo hò cổ xưa, mặt đất lại vang động ầm ầm như tiếng trống. Dòng thác lũ những người cưỡi ngựa cổ vũ cuộc chơi lại lồng lộn xung quan các đấu thủ, la gọi và gào thét. Đương kim anh hùng vẫn là Gunxarư. Lần này, đã chói ngời ánh vinh quan, nó lập thức chiếm giữ vai trò kẻ mạnh nhất trong cuộc chơi. Nhưng Tanabai giữ sức cho nó để thi thố vào giai đoạn chót, cuộc alaman-baiga, khi ấy sẽ diễn ra cuộc giành giật tự do: kẻ nào khéo léo và nhanh nhẹn sẽ cướp được con dê đem về bản mình. Mọi người đến chờ đợi alaman-baiga, bởi vì đó là màn chót trọng đại nhất của cuộc thi tài. Thêm nữa, bất cứ kỵ sĩ nào cũng có quyền tham gia cuộc đua tranh này. Người nào cũng muốn thử hạnh vận của mình.

Trong lúc đó, vầng mặt trời tháng năm ì ạch xuống thấp dần ở phía xa, trên xứ Kazăc. Nó như cái lòng đỏ trứng gà, lồi và dầy cộm. Có thể nhìn thẳng vào nó không phải nheo mắt.
Những người Kirghiya và Kazăc phi ngựa cho đến chiều tối, treo mình trên yên, sà xuống chộp lấy thân con dê ngay trong lúc ngựa đang phi, giằng giật nhau, quấn vào nhau thành một đám huyên náo, rồi lại hò hét tản ra trên cánh đồng.
Mãi đến khi có những bóng đen dài loang lổ chạy trên thảo nguyên, các cụ mới cho phép bắt đầu alaman-baiga. Con dê bị ném vào giữa cái vòng tròn. “Alaman!”.
Các kỵ sĩ từ bốn phía đổ xô đến, túm tụm lại, cố chộp lấy cái xác con dê trên mặt đất. Nhưng chen lấn xô đẩy nhau mà tranh cướp cho được quả không phải là chuyện dễ. Những con ngựa ngơ ngác xoay quanh, nhe răng cắn nhau. Gunxarư thấy rất khó chịu trong cái đám hỗn độn này, nó muốn ra chỗ rộng rãi, nhưng Tanabai vẫn không làm sao chiếm được con dê. Đột nhiên, một giọng nói chói tai vang lên: “Chặn lại, người Kazăc lấy được rồi!”. Một người Kazăc trẻ tuổi, mặc chiếc va rơi rách bươm, cưỡi con ngựa đực nâu sẫm dáng bộ hung hăng vượt ra khỏi đám người ngựa đang xoay tròn. Anh ta vừa phóng chạy vừa kéo cái xác dê lên, kẹp chặt dưới chân bên bàn đạp.
- Bắt lấy! Con màu nâu ấy! – Tất cả cùng la hét và băng mình đuổi theo- Nhanh lên, Tanabai. Chỉ có anh mới có thể đuổi kịp.

Người Kazăc cưỡi con ngựa nâu sẫm phi thẳng về phía vừng mặt trời hoàng hôn đỏ thắm, con dê lủng lẳng dưới chân bàn đạp. Dường như chỉ chút xíu nữa thôi là anh tay bay thẳng vào vừng mặt trời rực lửa và tan ra thành đám khói đỏ.

Siren 30-06-2010 22:32

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Gunxarư không hiểu tại sao Tanabai lại ghìm nó. Nhưng Tanabai hiểu rằng cần phải để cho chàng jighit Kazăc tách khỏi đám người cưỡi ngựa ào ạt đuổi theo, vượt ra xa những người cùng làng đang vội vã đến tiếp cứu cho anh ta. Nếu những người này vây bọc quanh con ngựa nâu làm thành vòng chắn thì không sức mạnh nào có thể đoạt lại nổi cái vật mà gã Kazắc đã chiếm được. Chỉ có chiến đấu tay đôi mới có cơi hội thành công.

Chờ đúng dịp, Tanabai cho Gunxarư phóng thả sức. Gunxarư phóng thẳng về phía mặt trời, nhoài mình sát đất, tiếng người nói và tiếng vó ngựa lập tức bị bỏ lại phía sau, lùi xa dần, khoảng cách giữa nó và con ngựa màu nâu rút ngắn dần. Con ngựa nâu phải mang một vật nặng, đuổi kịp nó không lấy gì làm khó. Tanabai cho Gunxarư chạy ở phía bên phải con ngựa nâu. Cái thân con dê bị kẹp dưới chân người kỵ mã, ở sườn bên phải con ngựa. Bây giờ hai bên đã lên ngang bằng nhau. Tanabai ngồi trên yên cúi xuống để túm lấy chân con dê và giằng về phía mình. Nhưng gã Kazăc khéo léo chuyển nó từ bên phải sang phía bên trái.Hai con ngựa cứ thế phi thẳng về phía mặt trời. Bây giờ Tanabai cần tụt lại sau một chút để lại đuổi kịp đối thủ từ phía bên trái. Khó mà làm cho Gunxarư rời khỏi con ngựa nâu, nhưng Tanabai đã thực hiện được cả thủ đoạn ấy. Song gã Kazăc mặc chiếc va rơi rách lại đã kịp thời chuyển con dê sang phía bên kia.

- Cừ lắm! – Tanabai say sưa reo lên.

Hai con ngựa vẫn cứ phóng thẳng về phía mặt trời.
Không thể tiếp tục đánh bài liều được nữa. Tanabai cho ngựa chạy gần như áp sát vào con ngựa nâu và nhoài mình nằm áp ngực lên mỏm yên của gã Kazăc. Gã kia toan cho ngựa tách ra, nhưng Tanabai không để cho gã làm như vậy. Sự nhanh nhẹn và uyển chuyển của Gunxarư khiến ông có thể gần như nằm trên cổ con ngựa nâu. Nhờ vậy ông đã với tay được tới thân con dê và bắt đầu giằng nó về phía mình. Hành động ở phía bên phải có điều thuận lợi cho Tanabai, thêm nữa hai tay ông không vướng víu gì. Ông đã kéo được non nửa thân con dê.

- Giữ cho vững nhé, anh bạn Kazăc! – Tanabai gào lên.

- Nói nhảm, anh bạn ơi, đừng hòng lấy được của tôi. – gã kia đáp.

Bắt đầu cuộc giằng co trong lúc ngựa vẫn phi như điên. Như hai con đại bàng cùng bám chặt lấy một con mồi, họ gào thét vang trời, thở khò khè và gầm gừ như con thú, doạ nạt nhau, tay họ đan chéo vào nhau, móng tay rỉ máu. Hai con ngựa gắn chặt với nhau trong cuộc đấu tay đôi của hai người cưỡi, hung hăng phóng như bay, hối hả đuổi cho kịp vầng mặt trời đỏ thắm.

Siren 02-07-2010 00:41

http://i793.photobucket.com/albums/y...I_ngua012a.jpg

Cầu trời ban phước cho tổ tiên ta, các vị đã để lại cho chúng ta những trò chơi đàn ông dũng mãnh này!
Tấm thân dê bây giờ ở giữa hai người, bị giăng lơ lửng giữa hai con ngựa đang phi. Sắp đến lúc kết thúc. Chẳng nói chẳng rằng, răng nghiến chặt, vận dụng hết sức lực lối kéo tấm thân dê, mỗi người đều cố kẹp chặt nó dưới chân để rồi bứt ra khỏi đối thủ và phới cho mau. Gã Kazăc khoẻ lắm. Hai tay gã rất đô, gân guốc, thêm nữa gã trẻ hơn Tanabai nhiều. Nhưng kinh nghiệm là điều rất lợi hại. Tanabai bất ngờ rút chân phải ra khỏi bàn đạp và đạp chân vào sườn con ngựa nâu. Ông vừa đạp chân vào ngựa của đối phương vừa kéo con dê về phía mình, những ngón tay của gã Kazăc tê ra một cách chậm chạp.

- Bám cho vững nhé! – Kẻ bị thua còn kịp báo trước cho Tanabai.

Cái giúi đột ngột làm Tanabai suýt văng khỏi yên. Nhưng ông vẫn trụ vững được. Một tiếng reo hân hoan buột ra từ lồng ngực ông. Ông cho ngựa quay ngặt hẳn lại, rồi thúc ngựa chạy, kẹp chặt dưới bàn đạp cái vật đã đoạt được trong cuộc đấu tay đôi quyết liệt và ngay thẳng. Một đám người cưỡi ngựa reo hò ầm ĩ phóng như bay tới đón ông.

- Gunxarư! Gunxarư lấy được rồi!

Một toán Kazăc đông đảo xông tới chặn đường.

- Ôi bai, bắt lấy, chặn lấy Tanabai!

Bây giờ cần nhất là lẩn tránh cuộc chặn bắt, để cho người làng mau chóng đến vây quanh mình làm thành một hàng rào che chắn.
Tanabai lại cho ngựa rẽ quặt một cách đột ngột, lần tránh những kẻ chặn bắt. “Cảm ơn Gunxarư, cảm ơn con yêu qúi, mày khôn lắm!” – ông thầm cám ơn con ngựa: nó hiểu được từng cái nghiêng người nhỏ nhẹ nhất của ông, khi thì quặt về phía này, khi thì quặt sang phía khác, lẩn tránh cuộc truy đuổi.
Rạp bụng sát đất, con ngựa ra khỏi khúc quanh khó khăn và phóng thẳng đường. Lúc này người làng Tanabai đã phi ngựa đến, dàn thành hàng, che chắn cả hai bên và phía sau, rồi cả cụm người ngựa dầy đặc ấy cùng nhau phóng chạy. Nhưng, những người đuổi theo lại xông tới chặn đầu. Lại phải đổi hướng và chạy trốn. Như những đàn chim bay nhanh, khi thì nghiên cánh bên này, khi thì chao cánh bên kia, đám người chạy trốn và tuy đuổi lao vùn vụt trên thảo nguyên bao la. Bụi cuồn cuộn bốc lên trong không trung, tiếng nói âm vang, có người ngã cùng với ngựa, có người lộn nhào qua đầu ngựa, có người khập khiễng đuổi theo ngựa của mình, nhưng tất cả, không trừ một ai, đều bị lôi cuốn vào cái hăng say của cuộc đua. Trong trò chơi, không ai có trách nhiệm gì cả. Sự liều lĩnh và gan dạ là con người cùng một mẹ…
Mặt trời chỉ còn lấp ló chút đường rìa, hoàng hôn đã xuống, alaman-baiga vẫn tiếp diễn trong cái mát mẻ xanh lam của buổi chiều tà, đất rung chuyển dưới vó ngựa. Không còn ai la hét nữa, không còn ai đuổi ai nữa, nhưng mọi người vẫn phi ngựa, say sưa trong đà chuyển động. Dàn thành tuyến ngang, đám ngựa ào ào như làn sóng tối thẫm tràn từ vùng chân núi này đến vùng chân núi khác theo nhịp điệu và nhạc điệu chạy đua. Hẳn là vì vậy những người cưỡi ngựa mới đăm chiêu và trầm lặng như thế, có lẽ đấy chính là nguồn gốc phát sinh ra những âm thanh vang động của đômbra(1) và kômuzơ(2) Kirghizya…
.............................
(1) Nhạc cụ dân gian Kazăc, hình tam giác hoặc nửa bầu dục, hai dây.
(2) Nhạc cụ dân gian Kirghizya, cần dài, ba dây.

Siren 02-07-2010 00:44

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
http://i793.photobucket.com/albums/y...anang/ngua.jpg

Đã gần đến sông. Sông lấp lánh mờ mờ ở phía trước, sau những bụi cây tối thẫm. Chỉ còn một quãng ngắn nữa thôi. Sang bên kia sông là trò chơi chấm dứt, đấy là bản. Tanabai và những người hộ vệ ông vẫn họp thành một cụm dày đặc. Gunxarư chạy ở giữa như con tàu chính xung quanh có tàu hộ tống.
Nhưng nó đã mệt, mệt lắm rồi: hôm nay là một ngày quá vất vả. Con ngựa đã kiệt sức. Hai chàng Jighit phi ngựa hai bên nắm cương nó mà kéo, không cho nó ngã xuống. Những người khác che chắn cho Tanabai ở phía sau và hai bên. Còn ông nằm đè ngực lên tấm thân dê vắt ngang trước yên. Đầu Tanabai lắc lư, ông phải khó khăn lắm mới ngồi vững trên yên. Nếu lúc này không có những người cưỡi ngựa đi kèm bên cạnh, cả ông lẫn con ngựa của ông đều không còn sức di chuyển nữa. Chắc hẳn trước kia người ta cũng mang chiến lợi phẩm chạy trốn như thế, chắc hẳn người ta đánh tháo cho một batưr bị thương sa vào tay địch cũng bằng cách như thế…
Kia là con sông, kia là đồng cỏ, lúc này vẫn còn nhìn thấy được quãng sông cạn rộng lớn toàn đá sỏi trong bóng tối.
Những người cưỡi ngựa xông ào xuống nước. Sông sôi sục, sủi réo lên. Các tay Jighit kéo Gunxarư sang bờ bên kia, xuyên qua những đám mây bụi nước, trong tiếng móng ngựa nện chát chúa. Thế là xong! Thắng lợi!
Một người nhấc thân con dê khỏi yên ngựa của Tanabai và phi về bản.
Những người Kazăc dừng lại bên kia sông.
- Cảm ơn các bạn đã tham dự cuộc vui! – Người Kirghizya lớn tiếng nói với họ.
- Chúc các bạn mạnh khoẻ! Mùa thu ta sẽ lại gặp nhau! – Người Kazăc đáp lại và quay ngựa trở về.
Trời đã tối hẳn. Tanabai ngồi chơi ở nhà một người làng, còn Gunxarư cùng với những con ngựa khác bị cột ngoài sân. Chưa bao giờ Gunxarư mệt đến thế, nếu không kể ngày tập luyện đầu tiên. Nhưng hồi ấy nó chỉ là cành liễu nhỏ bé so với nó bây giờ. Trong nhà người ta đang nói về nó.
- Uống đi, Tanabai, uống mừng Gunxarư: không có nó thì hôm nay ta không giành được thắng lợi.
- Đáng, con ngựa nâu dũng mãnh như sư tử. Gã Kazăc ấy cũng khoẻ lắm. Gã sẽ tiến xa đấy.
- Đúng thế. Ngay bây giờ tôi vẫn còn như thấy trước mắt cái lúc Gunxarư tránh né cuộc chặn bắt, đúng là nó rạp mình sát đất như ngọn cỏ. Nhìn mà nghẽn thở.
- Còn phải nói. Thời xưa, các batưr mà có được con ngựa như thế để đi tập kích thì tuyệt. Không phải là ngựa nữa, mà là một đandun(1) mới đúng!
- Tanabai, bao giờ anh định cho nó gần ngựa cái?
- Kể thì bây giờ nó cũng đã theo đuổi ngựa cái rồi đấy, nhưng còn hơi sớm. Mùa xuân sắp tới là vừa đúng lúc. Từ mùa thu tôi sẽ thả cho nó ăn cỏ tươi để nó béo tốt lên…
Ngà ngà say, họ còn ngồi chơi hồi lâu, ôn lại từng chi tiết của alaman-baiga và những ưu điểm của Gunxarư, còn nó vẫn đứng ngoài sân hong mình cho ráo mồ hôi và gặm hàm thiếc. Nó sẽ phải nhịn đói đứng nghỉ cho đến rạng sáng. Nhưng không phải cái đói dày vò nó. Hai vai ê ẩm, chân dường như không phải là chân của nó nữa, móng nóng nực, trong đầu vẫn âm vang tiếng ầm ầm của alaman-baiga. Nó vẫn tưởng tượng thấy tiếng hò hét và cuộc truy đổi. Chốc chốc nó lại rùng mình, và thở phì phì, giỏng tai nghe. Nó rất muốn nằm lăn ra trên cỏ, vùng vẫy một lúc cho nhẹ mình và đi rong chơi cùng với những con ngựa khác trên bãi chăn thả. Nhưng ông chủ mãi không ra.

................
(1) Ngựa thần trong huyền thoại.

Siren 02-07-2010 23:14

Tuy vậy, lát sau ông cũng xuất hiện, hơi chuệch choạng trong bóng tối. Ở ông toát ra một mùi gì nồng nặc, gay gắt. Điều này hiếm khi xảy ra với ông. Một năm nữa, Gunxarư sẽ phải tiếp xúc với một người thường xuyên toả ra cái mùi khó chịu ấy. Nó căm ghét con người ấy và cái mùi ghê tởm ấy.
Tanabai đến gần con ngựa, vỗ nhẹ vào vai nó, thọc tay xuống dưới tấm dạ lót yên.
- Đã bớt hừng hực rồi phải không? Mệt chứ? Tao cũng mệt kinh người. Mày đừng nhìn tao gườm gườm như thế, đúng là tao đã nhậu nhẹt, chính là để mừng mày đấy. Ngày hội mà. Với lại tao uống cũng vừa phải thôi. Tao biết việc tao làm, mày nên nhớ như vậy. Ngay ở mặt trận tao cũng không đi quá đà. Thôi đi, đừng gườm gườm như thế, Gunxarư. Bây giờ ta sẽ về với đàn, ta sẽ nghỉ ngơi…
Ông chủ xiết đai bụng ngựa, nói chuyện một lát với những người khác đã ra khỏi nhà. Rồi mọi người lên ngựa tản ra về.
Tanabai cho ngựa đi trên những ngõ xóm đã ngủ yên. Bốn bề vắng lặng. Các cửa sổ tối om. Văng vẳng tiếng ì ì của chiếc máy kéo làm việc trên cánh đồng. Trăng đã lơ lửng trên các dẫy núi, những cây táo nở hoa trăng trắng trong các khu vườn, một con hoạ mi cất tiếng hót đâu đó. Không rõ vì sao, cả bản chỉ có một mình nó. Nó hót, lắng nghe tiếng hót của mình, ngừng một lát rồi lại cất lên những tiếng ríu rít và tiếng huýt du dương.
Tanabai ghìm ngựa.
- Đẹp quá – Ông nói thành tiếng. – Mà yên tĩnh làm sao! Chỉ có một con hoạ mi cất tiếng hót. Mày hiểu không, Gunxarư? Mày hiểu sao được… Mày muốn về với bầy, còn tao…
Hai thày tớ đi qua xưởng rèn, rồi từ đây lẽ ra phải đi theo lối xóm ngoài cùng, ra sông và về chỗ những đàn ngựa. Nhưng không rõ vì sao ông chủ rẽ cương sang hướng khác. Ông cho ngựa đi ở ngõ giữa bản, đến cuối ngõ ông dừng lại cạnh sân nhà người đàn bà ấy. Một con chó con chạy ra, con chó thường chạy theo đứa bé gái con chị, nó cất tiếng sủa rồi im bặt, vẫy đuôi. Ông chủ ngồi trên yên, im lặng, nghĩ ngợi điều gì, rồi thở dài và lưỡng lự kéo cương.
Con ngựa lại đi tiếp. Tanabai rẽ xuống phía sông, và ra đến đường cái, ông giục ngựa đi nhanh. Chính Gunxarư cũng muốn mau mau về khu trại du mục. Nó đi qua đồng cỏ. Sông kia rồi, móng nó gõ lộp cộp trên bờ sông. Nước lạnh, réo ầm ầm. Bỗng nhiên, đến giữa quãng lội, ông chủ ghì cương đột ngột, bắt nó quay ngược hẳn lại. Gunxarư nguẩy đầu một cái, tưởng ông chủ lầm. Chẳng có việc gì phải quay ngược trở lại. Có thể đi loanh quanh như thế bao lâu nữa? Nhưng để trả lời nó, ông chủ quất nó một roi. Gunxarư không ưa người ta đánh nó. Nó gặm hàm thiếc một cách cáu kỉnh, miễn cưỡng vâng lệnh và đi ngược trở lại. Lại qua đồng cỏ, lại đi trên đường cái, lại đến cái sân ấy.
Đến nơi, ông chủ lại nhấp nhổm ngồi trên yên, kéo cương lúc thì sang phía này, lúc thì sang phía khác. Không thể hiểu nổi ông chủ muốn gì. Hai thày tớ dừng lại bên cổng. Thực ra chẳng có cổng giả gì cả. Chỉ còn lại hai cái cột xiêu vẹo mà thôi. Con chó con lại chạy ra, cất tiếng sủa rồi im bặt, vẫy đuôi. Trong nhà im ắng và tối om.
Tanabai xuống ngựa, đi vào sân, dắt ngựa theo, và đến gần cửa sổ, ông gõ một ngón tay vào kính.
- Ai đấy? – Trong nhà có tiếng hỏi.
- Anh đây, Buiubiugian, mở cửa cho anh. Nghe thấy chứ, anh đây mà!
Trong nhà loé lên một ánh lửa, cửa sổ sáng mờ mờ.
- Có chuyện gì vậy? Đi đâu mà đến muộn thế? – Biubiugian xuất hiện ở cửa. Chị mặc chiếc áo dài trắng, cổ không cài khuy, mái tóc đen nhánh xoã trên vai. Ở chị toả ra mùi hơi ấm của cơ thể và cái mùi kì dị của một thứ cỏ lạ.
- Thứ lỗi cho anh. – Tanabai nói khẽ - Cuộc diễu hành alaman tan muộn. Anh mệt. Con ngựa hoàn toàn kiệt sức rồi. Nó cần được nghỉ, mà về đến chỗ đàn ngựa thì khá xa, em biết đấy.
Biubiugian im lặng một lát.
Mắt chị bừng sáng rồi lại tối sầm đi như hòn đá dưới đáy nươc chan hoà ánh trăng. Con ngựa chờ chị đến gần và vuốt ve cổ nó, nhưng chị không đến.
- Lạnh đấy – Biubiugian so vai – Này, đứng đấy làm gì? Nếu vậy thì vào đi. Anh thật rõ khéo kiếm cớ - Chị bật cười. – Chính em cũng khổ tâm không chịu nổi khi thấy anh cứ cưỡi ngựa đứng quanh quẩn ở đây, cứ như đứa trẻ con ấy.
- Anh vào ngay đây. Để anh buộc ngựa đã.
- Để nó ở góc sân, cạnh bức tường kia kìa.
Chưa bao giờ hai tay ông chủ run đến thế. Ông hấp tấp tháo hàm thiếc và loay hoay mãi với mấy cái đai bụng: ông nới lỏng cái này, còn cái kia lại bỏ quên.
Ông vào nhà cùng với Biubiugian, và lát sau đèn tắt.
Con ngựa cảm thấy bỡ ngỡ vì phải đứng trong sân nhà lạ.
Trăng sáng ngời ngợi. Nghếch mắt qua bờ tường, Gunxarư nhìn thấy những ngọn núi ban đêm vươn lên cao vút, ngập trong ánh hào quang màu sữa trắng xanh. Nó nghiêng ngóng đôi tai thính nhạy, lắng nghe. Nước róc rách trong mương. Xa xa, vẫn chiếc máy kéo ấy ì ì trên cánh đồng, và vẫn con chim hoạ mi ấy một mình hót trong các khu vườn.
Từ trên cây táo gần đấy, những cánh hoa trắng rụng xuống, nhẹ nhàng đậu lên đầu và bờm con ngựa.
Đêm sáng dần. Con ngựa đứng đổi chân tại chỗ, dồn sức nặng cơ thể từ chân này sang chân kia, kiên nhẫn chờ đợi chủ. Nó không biết nó sẽ còn phải đứng ở đây nhiều lần nữa cho qua đêm đến sáng.
Rạng sáng Tanabai mới ra, đóng hàm thiếc cho ngựa bằng đôi tay ấm áp. Bây giờ cả tay ông cũng thoang thoảng cái mùi kỳ dị của thứ cỏ lạ.
Biubiugian ra tiễn Tanabai. Chị nép mình vào Tanabai, còn Tanabai hôn chị một lúc lâu.
- Ria của anh đâm vào má em – Chị thì thầm – Mau lên kẻo sáng mất rồi. – Chị toan quay trở vào.
- Biubiu, lại đây. – Tanabai gọi. – Này, em vuốt ve vỗ về nó đi. – Ông nghiêng đầu về phía Gunxarư. – Em đừng làm chúng tôi phiền lòng!
- Chết nỗi, em quên mất. – Chị bật cười. – Anh xem, người nó đầy hoa táo. – Và chị vừa nói những lời âu yếm vừa vuốt ve con ngựa bằng đôi tay kỳ diệu, mềm mại và nhạy cảm như cặp môi con ngựa cái nhỏ nhắn có đốm sao trên trán.
Sang qua sông, ông chủ cất tiếng hát. Vừa đi vừa nghe chủ hát thật thú vị, và Gunxarư rất muốn mau mau về với các bầy ngựa ở bãi chăn.

Siren 03-07-2010 20:50

http://i793.photobucket.com/albums/y...E_31643173.jpg

Những đêm tháng năm ấy thật là may mắn cho Tanabai. Vừa đúng phiên ông coi ngựa ban đêm. Và Gunxarư bắt đầu một lối sống ban đêm kỳ lạ. Ban ngày Tanabai chăn ngựa, nghỉ ngơi, ban đêm ông lùa đàn ngựa vào lũng, rồi lại cưỡi Gunxarư phóng đến sân nhà ấy. Sớm tinh mơ, còn mờ đất, như những kẻ ăn cắp ngựa, ông lại hộc tốc thúc Gunxarư băng theo những con đường mòn khó nhận thấy trên thảo nguyên, về với đàn bị bỏ lại trong thung lũng. Ở đây, ông chủ lùa đàn ngựa tập trung lại, kiểm đếm và cuối cùng ông yên tâm. Gunxarư thật là vất vả. Ở đằng này cũng như ở đằng ấy, ông chủ đều vội vã, cả lượt đi lẫn lượt về, mà ban đêm chạy qua những chỗ không có đường sá chẳng phải là chuyện dễ dàng gì cho cam. Nhưng ông chủ muốn như thế.
Gunxarư lại muốn điều khác kia. Nếu được tùy ý, nó sẽ không vắng mặt trong đàn. Con đực ở đó đã trưởng thành. Hiện giờ nó vẫn còn sống hoà thuận với con đực đầu đàn, nhưng nó và con đầu đàn ngày càng va chạm thường xuyên hơn khi cùng theo đuổi một con cái.

Ngày càng thường xuyên hơn, Gunxarư vươn cao cổ và cất đuôi lên như cái kèn, phô trương vẻ đẹp của mình trước đàn ngựa. Nó hí vang lừng, nổi nóng, cắn vào đùi những con cái. Rõ ràng là lũ ngựa cái lấy thế làm thích, chúng say mê Gunxarư khiến con đực đầu đàn phát ghen. Gunxarư nhiều phen khốn khổ với nó: đây là một con ngựa già hung dữ, hay sinh sự. Nhưng thà rằng lo sợ và chạy trốn con ngựa đầu đàn cũng còn hơn là đứng suốt đêm ở sân. Đứng ở đay nó nhớ những con ngựa cái. Nó dậm chân hồi lâu, nện móng xuống đất và mãi sau mới chịu yên phận. Ai biết những chuyến đi đêm như vậy còn kéo dài bao lâu nữa, nếu như không có một việc tình cờ xảy ra…
Đêm ấy, như thường lệ, Gunxarư đứng ở sân, buồn nhớ bầy trong lúc chờ đợi ông chủ, và nó đã bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Dây cương buộc treo cao vào cái xà dưới rìa mái nhà khiến nó không nằm xuống được: mỗi lần cúi đầu xuống, hàm thiếc lại nghiến vào phần thịt mềm của mõm. Nhưng nó buồn ngủ quá. Không khí có bề nằng nặng, mây đen bao phủ bầu trời.

Đang chập chờn nửa thức nửa ngủ, Gunxarư bỗng nghe thấy cây cối nghiêng ngả, rào rào, dường như có kẻ nào ập tới, xô chuyển và quật đổ cây. Gió ào ào tràn qua sân, làm cho cái thùng vắt sữa rỗng không lăn ầm ầm, giật phăng những quần áo lót phơi trên giây và phăm phăm cuốn đi. Con chó kêu ăng ẳng, cuống quít không biết rúc vào đâu. Gunxarư phì một tiếng giận dữ, đứng lặng đi, dỏng tai nghe ngóng. Nghển đầu cao hơn bờ tường, nó chăm chú nhìn bóng tối sậm đặc lại một cách đáng ngờ: nó nhìn ra thảo nguyên, từ phía ấy một cái gì ghê gớm đang ầm ầm kéo đến. Lát sau, đêm tràn đầy tiếng răng rắc như rừng cây bị quật đổ, sấm ầm ầm, ánh chớp lằng nhằng trong các đám mây. Mưa trút xuống xối xả. Gunxarư lồng lên như bị roi quất, cố dứt dây trồng, hí ầm ĩ một cách tuyệt vọng vì lo sợ cho bầy của mình. Bản năng ngàn đời lo bảo vệ cho nòi giống mình khỏi bị nguy hiểm thức tỉnh trong nó. Bản năng gọi nó về cứu các con khác. Phát khùng lên, nó nổi loạn chống lại dây cương, hàm thiếc, chống lại cái dây tròng bằng sợi lông, chống lại tất cả những gì giữ chặt nó ở đây. Nó bắt đầu lồng lộn, dùng móng cào đất và không ngừng hí vang, hi vọng nghe thấy tiếng đáp lại của bầy. Nhưng chỉ có tiếng bão gào rít. Chao ôi, nếu lúc đó nó dứt được dây buộc!..

Ông chủ từ trong nhà nhảy bổ ra, mặc chiếc áo lót màu trắng, người đàn bà chạy theo ông, cũng bận đồ trắng. Thoáng chốc quần áo họ đã thẫm đen lại dưới trời mưa. Ánh chớp xanh loé sáng trên khuôn mặt ướt của họ, làm lộ ra trong bóng tối một phần ngôi nhà với cánh cửa đập ra đập vào trước gió.
- Đứng yên! Đứng yên! – Tanabai quát con ngựa, định tháo dây tròng cho nó. Nhưng nó không còn nhận ra ông nữa. Con ngựa chồm vào chủ như một con thú, dùng móng làm sập đổ bức tường và vẫn lồng lộn hòng đứt dây. Tanabai nép sát vào tường, lén đến gần nó, rồi hai tay ôm đầu nhảy bổ tới, nắm lấy dây cương đu người lên.
- Tháo dây ra mau! – Ông gào lên bảo người đàn bà.
Chị vừa kịp cởi sợi dây tròng thì con ngựa chồm ngược lên, kéo lê Tanabai trong sân.
- Đưa roi đây, mau lên!
Biubiugian chạy bổ đi lấy chiếc roi.
- Đừng lại! Dừng lại, không tao giết. – Tanabai vừa quát vừa điên tiết quất roi túi bụi vào mõm ngựa. Ông cần nhày lên yên, ông cần có mặt ngay lúc này giữa bầy ngựa. Ở đấy bây giờ ra sao? Trận cuồng phong đã xua đàn ngựa tản tác đi đâu rồi?
Nhưng Gunxarư cũng cần về với bầy. Về tức khắc ngay lúc này về đấy, nói mà uy lực mãnh liệt của bản năng kêu gọi nó về trong lúc ghê gớm này. Bởi thế nó mới hí ầm ĩ và chồm ngược lên, bởi thế nó mới hăm hở cố thoát khỏi nơi đây. Mưa vẫn trút xuống dày đặc như bức tường, cơn giông hoành hành dữ dội, tiếng ầm ầm làm rung chuyển cảnh vật tơi bời trong ánh chớp ban đêm.
- Giữ lấy nó! – Tanabai ra lệnh cho Biubiugian và khi chị chộp lấy dây cương, ông nhảy lên yên. Ông chưa kịp ngồi xuống, mới chỉ bám lấy bờm ngựa thì Gunxarư đã lao ra khỏi sân, làm người đàn bà ngã nhào và bị kéo lê trong vũng nước.
Không còn chịu phục tùng hàm thiếc, roi hay tiếng nói nữa, Gunxarư lao vun vút qua đêm bão táp, qua cơn mưa rào quất vào người, đoán ra đường đi chỉ nhờ linh tính. Nó đưa ông chủ bây giờ đã mất hết quyền lực vượt qua con sông réo ầm ầm, qua tiếng nước xối ào ào và tiếng sấm rền vang, qua các bụi cây, qua các hố và các mương xối, nó cũng phóng miết về phía trước, không gì kìm lại được. Trước đây, cả trong cuộc đua lớn cũng như trong alaman-baiga, chưa bao giờ Gunxarư phóng thục mạng như trong cái đêm giông bão ấy.

Tanabai không nhớ con ngựa vụt trở nên hung dữ như quỉ sứ đã đưa ông đi như thế nào và đưa đi đâu. Ông cảm thấy mưa như ngọn lửa rát bỏng táp vào mặt và người ông. Chỉ một ý nghĩ duy nhất quay cuồng trong óc: “Đàn ngựa làm sao rồi? Bây giờ đàn ngựa ở đâu? Lạy trời, cầu mong chúng đừng đâm đầu xuống miền hạ lưu, phía đường sắt. Thật là tai vạ! Lạy thánh Anla, xin cứu giúp con, cứu giúp con! Xin cứu giúp con, hỡi các arbaki (anh linh tổ tiên-ND), giờ đây các Người ở đâu? Đừng ngã nhé, Gunxarư, đừng ngã. Đưa tao vào thảo nguyên, về đấy, về với bầy!”. Chớp trắng lằng nhằng trong thảo nguyên, ánh lửa trắng loá mắt trong đêm tối. Rồi bóng tối lại vây kín xung quanh, giông tố nổi cơn cuồng nộ, mưa quất ào ào trong gió…

Lúc sáng, lúc tối, lúc sáng lúc tối.

Siren 03-07-2010 21:05

Gunxarư cứ luôn luôn chồm ngược lên và hí đến rách mép. Nó gọi, nó kêu cầu, nó tìm kiếm, nó chờ đợi. “Các bạn ở đâu? Các bạn ở đâu? Lên tiếng đi?” Bầu trời gầm thét trả lời, và lại chạy, lại tìm kiếm, xông vào bão táp…
Lúc sáng, lúc tối, lúc sáng, lúc tối.
Mãi đến gần sáng bão mới lặng. Mây đen tản mác dần, nhưng ở phía đông sấm vẫn chưa ngớt: sấm vận chuyển rầm rầm, gầm gừ, vươn dài ra. Mặt đất bị hành hạ bốc khói.
Mấy người chăn ngựa phi ngựa khắp các vùng xung quanh, dồn những con chạy lạc trở về.
Còn vợ Tanabai tìm kiếm chồng. Nói cho đúng không phải bà tìm kiếm, mà chờ đợi. Ngay từ đêm, cùng với mấy người hàng xóm, bà cưỡi ngựa đến giúp chồng. Họ đã tìm thấy đàn ngựa và giữ được chúng ở chỗ bờ dốc đứng. Còn Tanabai thì chẳng thấy đâu. Họ tưởng ông bị lạc. Nhưng bà biết ông không lạc. Khi gã trai hàng xóm mừng rỡ reo lên: “Kia rồi, Jaiđar-apa, bác trai về kia rồi!” và gã phi ngựa đến đón ông thì Jaiđar không nhúc nhích. Ngồi trên ngựa bà lẳng lặng nhìn người chồng đi hoang trở về.
Tanabai lầm lì và nom dễ sợ, mặc chiếc áo lót ướt đẫm, đầu không mũ, ngồi trên con ngựa đã gầy rộc hẳn đi qua một đêm. Gunxarư khập khiễng một chân bên phải.
- Thế mà chúng cháu vẫn tìm bác đấy! Gã trai chạy tới, vui mừng nói với ông. – Jaiđar-apa đã đâm lo.
Hỡi ôi, thằng bé, thằng bé chất phác…
- Ta bị lạc, - Tanabai nói lí nhí.
Hai vợ chồng gặp nhau như thế đấy, không nói với nhau một lời.
Khi gã trai đi lùa ngựa ra khỏi khe, bà vợ nói khẽ:
- Quái thật, lại đến nỗi không còn kịp mặc quần áo cho tử tế nữa kia. May mà còn được cái quần và đôi ủng. Thế mà không xấu hổ ư? Còn trẻ trung gì cho cam. Con cái sắp đến tuổi trưởng thành cả rồi, vậy mà ông…
Tanabai lặng thinh. Ông biết nói gì được?
Trong lúc đó, gã trai đã lùa bầy ngựa đến. Ngựa lớn ngựa con còn nguyên vẹn cả.
- Ta về nhà đi, Antưkê.- Jaiđar gọi gã trai. – Hôm nay bác cháu ta có vôi khối việc phải làm. Lều trại bị gió bốc tung hết rồi. Ta về thu dọn đi thôi.
Và bà khẽ nói với Tanabai:
- Cứ ở đây nhé. Tôi sẽ đem cái ăn đến cho, và sẽ kiếm cái gì cho ông mặc. Ăn mặc thế này mà ra trước mắt thiên hạ coi sao tiện?
- Tôi sẽ ở dưới kia. – Tanabai gật đầu.
Hai người ra về, Tanabai lùa bầy ngựa ra bai chăn. Ông lùa đi rất lâu. Mặt trời đã chiếu sáng, đã cảm thấy ấm áp. Thảo nguyên bắt đầu bốc hơi, tươi tỉnh hẳn lên. Không khí thoang thoảng mùi mưa và mùi cỏ non.
Đàn ngựa thong thả đi nước kiệu nhỏ qua những đoạn dốc, qua các mương xói, lên các gò cao. Dường như một thế giới khác hiện ra trước mắt Tanabai. Chân trời ngồn ngộn mây trắng lùi mãi ra xa. Bầu trời rộng lớn, cao vút, trong trẻo. Và cách đây rất xa, đoàn tàu nhả khói trong thảo nguyên.
Tanabai xuống ngựa, đi bộ trên cỏ. Một con sơn ca cất cánh bay vụt lên ở bên cạnh, vút lên cao và cất tiếng hát líu lo. Tanabai cúi đầu bước đi và bỗng đổ vật xuống đất.
Chưa bao giờ Gunxarư thấy chủ mình như vậy. Ông nằm úp xấp mặt xuống đất, hai vai run lên trong tiếng nức nở. Ông khóc vì xấu hổ và đau xót, ông biết ông vừa để mất cái hạnh phúc đã đến với ông lần cuối cùng trong đời. Con sơn ca vẫn hót líu lo..
Một ngày sau, các đàn ngựa lên núi. Bây giờ phải đến đầu mùa xuân năm sau chúng mới trở lại đây. Đoàn du mục đi dọc bờ sông, qua bãi bồi, gần làng. Những đàn cừu, đàn bò, đàn ngựa kéo đi. Lạc đà và ngựa thồ hành lí, đàn bà trẻ em ngồi trên yên ngựa. Những con chó xồm chạy bên cạnh. Thật là ồn ào huyên náo: tiếng quát tháo, tiếng ngựa hí, tiếng be be…
Tanabai lùa đàn của mình qua cánh đồng cỏ lớn, rồi qua quả đồi mà mới đây đã ầm ầm tiếng người tụ tập, đông đào trong ngày hội, và ông cố khong nhìn về phía bản. Khi Gunxarư bỗng định đi về cái sân nhà ở rìa bản, nó liền bị quất một roi. Thế là chủ và ngựa không ghé thăm người đàn bà có đôi tay tuyệt diệu mềm mại và nhạy cảm như cặp môi con ngựa cái mầu hồng nhỏ nhắn có đốm sao trên trán.
Đàn ngựa cùng chạy cả loạt.
Gunxarư muốn ông chủ hát, nhưng ông không hát. Bản đã lùi xa về phía sau. Vĩnh biệt bản làng. Núi non đang chờ ở phía trước.
Tạm biệt, thảo nguyên, hẹn đến mùa xuân năm sau.
Núi non đang chờ.

Siren 04-07-2010 21:11

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
6.

ĐÃ GẦN NỬA ĐÊM, GUNXARƯ KHÔNG THỂ ĐI tiếp được nữa. Nó chày chật lắp mới tập tễnh lê được đến cái khe này, vừa đi vừa dừng nghỉ đến hàng chục lần, nhưng nó không còn đủ sức vượt qua khe. Ông già Tanabai hiểu rằng ông không có quyền đòi hỏi gì hơn nữa ở con ngựa. Gunxarư rên một cách khổ sở, rên như người. Khi nó bắt đầu nằm xuống, Tanabai không cản nó.
Nằm trên mặt đất lạnh, con ngựa tiếp tục rên, đầu ngật từ phía này sang phía kia. Nó lạnh, nó run toàn thân. Tanabai cởi chiếc áo da lông đắp lên lưng con ngựa.
- Sao, mày khó ở phải không? Ốm mệt lắm phải không? Mày cóng rét đấy, Gunxarư ạ. Vậy mà trước đây có bao giờ mày cóng rét đâu.
Tanabai còn lí nhí nói gì không rõ, nhưng con ngựa không còn nghe thấy gì nữa. Bây giờ tim nó đập ngay trong đầu, tiếng đập chát chúa, đôi khi mất nhịp, tắc nghẹn: thùm – thụp, thụp, thùm-thụp, thụp… - dường như đàn ngựa kinh hoàng chạy trốn những kẻ lùng bắt đã đuổi kịp đến nơi.
Trăng từ sau núi nhô lên, lơ lửng trong sương mù, nhìn xuốn trần. Một ngôi sao lặng lẽ rớt xuống và tắt ngấm…
- Mày nằm đây nhé, tao đi nhổ ít cỏ lông lợn. – Ông già nói.
Ông đi thơ thẩn xung quanh một lúc lâu, nhặt nhạnh cỏ dại khô năm ngoái. Ông nhặt được một ôm cỏ thì hai tay bị gai đâm khắp cả. Ông tiếp tục đi nữa, xuống khe, tay cầm con dào phòng chuyện bất trắc, và ở đây ông gặp những bụi thánh liễu. Ông mừng rỡ, sẽ có một đống lửa ra trò.
Gunxarư bao giờ cũng sợ lửa cháy gần nó. Bây giờ nó không sợ, hơi ấm và khói chùm lên nó. Tanabai ngồi trên cái bao tải, chẳng nói chẳng rằng, ném cây thánh liễu xen lẫn với cỏ dại vào đống lửa, và vừa nhìn ngọn lửa vừa hơ tay. Đôi khi ông đứng lên, đắp lại tấm áo da lông phủ trên mình ngựa cho ngay ngắn, rồi lại đến ngồi gần đống lửa.
Gunxarư được sưởi ấm đã bớt run, nhưng một cái màng màu vàng đục che mờ mắt nó, ngực như bị đè ép và thít chặt, không thể thở được. Ngọn lửa khi thì lui xuống, khi thì bốc cao trước gió. Ông già ngồi trước mặt nó, ông chủ thời xưa của nó, lúc thì biến mất, lúc lại xuất hiện. Trong cơn mê sảng, Gunxarư tưởng tượng thấy nó mang chủ trên lưng phi qua thảo nguyên trong đêm giông bão, nó hí, chồm ngược lên, đi tìm đàn, nhưng không thấy đâu cả. Những tia chớp trắng loé lên rồi tắt ngấm.

Siren 04-07-2010 21:12

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
7

MÙA ĐÔNG ĐÃ THÁO LUI, TẠM LUI MỘT thời gian để chứng tỏ với những người chăn gia súc rằng sống ở đời này cũng không đến nỗi cực khổ lắm đâu. Sẽ có những ngày ấm áp, gia súc sẽ béo tốt lên, sẽ có thịt sữa dồi dào, sẽ có đua ngựa vào những ngày hội, sẽ có những ngày thường: lo cho cừu dê, cắt lông, chăm sóc cừu non, cuộc sống du mục, và giữa tất cả những cái đó, mỗi người có cuộc sống riêng của mình: tình yêu và chia ly, sinh đẻ và lìa đời, tự hào về thành công của con cái và buồn phiền khi nhận được tin không vui về con mình ở trường nội trú (nếu được ở với gia đình có lẽ nó học tốt hơn…). Thôi thì vô khối chuyện, bao giờ cũng có chán vạn cái phải lo, người ta sẽ tạm thời quên đi những nỗi vất vả trong mùa đông. Gia súc chết vì thiếu ăn hay vì bệnh dịch, những đợt rét đóng băng trên mặt đất, những nhà lều thủ lỗ, những chuồng cừu lạnh lẽo, tất cả những cái đó sẽ luôn luôn được ghi trong sổ sách và trong các báo cáo cho đến năm sau. Rồi mùa đông lại ập đến, nó cưỡi con lạc đà trắng phóng đến, lùng tìm bằng được những người chăn gia súc, bất kể họ ở đâu, trong núi hay trên thảo nguyên, cho họ biết cái tính khí khó thương của nó. Người chăn gia súc sẽ phải nhớ lại tất cả những gì mình đã tạm thời quên đi. Trong thế kỷ hai mươi, mùa đông vẫn giữ thói quen như bao giờ…
Lần ấy cũng vẫn thế. Những đàn cừu và đàn ngựa gầy nhom xuống núi và tản ra trong thảo nguyên. Mùa xuân. Họ đã qua được mùa đông.
Mùa xuân năm ấy, Gunxarư được tự do, nó đã thành ngựa đực giống của đàn. Bây giờ ít khi Tanabai bắt nó thắng yên cương, ông thương nó, vả chăng cũng không thể làm thế được, mùa giao phối sắp đến rồi.
Gunxarư có triển vọng trở thành con ngựa đực tốt. Nó trông nom những con ngựa non bé bỏng hệt như một ông bố. Hễ mẹ hơi lơ đãng một chút là nó đã có mặt, không để cho ngựa con ngã xuống bất cứ chỗ nào hay lạc đàn. Gunxarư còn có một ưu điểm nữa: nó không muốn đàn ngựa bị quấy rầy, nếu có chuyện gì đáng lo ngại, nó lập tức kéo cả đàn lánh ra xa.
Mùa đông năm ấy, ở nông trang có những thay đổi. Một ông chủ tịch mới được cử đến, Tsôrô bàn giao công việc và đi nằm bệnh viện huyện. Tim ông đau nặng. Tanabai cứ định đến thăm bạn, nhưng có lúc nào dứt ra mà đi được đâu! Người chăn gia súc như bà mẹ đông con, lúc nào cũng bận bịu, đặc biệt về mùa đông và mùa xuân. Gia súc không phải là cỗ máy, không thể ngắt cầu dao rồi bỏ đi. Chính bởi thế, hồi ấy Tanabai không thể đến bệnh viện huyện thăm bạn được. Bây giờ ông không có người đổi phiên. Vợ ông được coi là người chăn ngựa giúp việc cho ông. Cũng cần phải kiếm sống chứ: tuy ngày công chẳng được bao nhiêu, nhưng hai ngày công thì thu nhập vẫn hơn một ngày công.
Nhưng Jaiđar lại có con nhỏ. Thế thì còn chăn ngựa thay ông sao được? Ngày đêm phải tự mình xoay xở lấy. Trong lúc Tanabai còn đang dàn xếp với các bạn hàng xóm nhờ họ thay ông một thời gian thì có tin Tsôrô đã ra viện về bản. Thế là ông và vợ định khi nào xuống núi thì đến thăm bạn.
Nhưng họ vừa rời xuống thung lũng, vừa quen với chỗ ở mới thì đã xảy ra một việc mà cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại Tanabai vẫn không sao bình tâm được…
Danh tiếng của con ngựa có nước đi dị dạng là con dao hai lưỡi. Nó càng nổi tiếng trong vùng thì những kẻ có chức quyền càng dòm ngó nó nhiều hơn.
Hôm ấy, từ sáng Tanabai đã lùa ngựa ra bãi chăn rồi ông về nhà ăn sáng. Bế đứa con gái bé trên đùi, ông ngồi uống trà, nói chuyện với vợ về những việc gia đình.
Cần đến trường nội trú thăm con trai, nhân tiện ra chợ ở gần ga, mua mấy thứ quần áo cũ cho vợ con.
- Jaiđar ạ, nếu vậy tôi sẽ dùng Gunxarư – Tanabai vừa nói vừa hớp từng ngụm trà trong cái đĩa sâu. – Không thì không kịp trở về. Tôi cưỡi nó lần này là lần cuối cùng, rồi sẽ không động đến nó nữa.
- Tuỳ mình, mình biết rõ hơn tôi chứ. – Jaiđar đồng ý.
Bên ngoài có tiếng vó ngựa lộp độp, có người cưỡi ngựa đến gần nhà.
- Mình ra xem xem – ông bảo vợ - Ai đấy nhỉ?
Bà vợ ra xem – rồi trở vào, cho bết đấy là “chủ nhiệm trại chăn nuôi Ibraim” cùng đến với một người nào không rõ.

Siren 04-07-2010 21:14

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tanabai miễn cưỡng đứng lên, ra khỏi lều, bế theo đứa con gái nhỏ. Tuy ông không ưa chủ nhiệm trại nuôi ngựa Ibraim, nhưng phải đón khách. Còn tại sao ông không ửa Ibraim thì chính ông cũng không biết. Ibraim dường như là một người hồ hởi, không như một số kẻ khác, nhưng y vẫn có phần giảo hoạt thế nào ấy. Cái chính là y chẳng làm gì cả, chỉ vớ vẩn thế thôi: hết kiểm kê đi lại kiểm kê lại. Ở trại, việc nuôi ngựa hoàn toàn không được quan tâm đến, mỗi người chăn nuôi ngựa muốn làm thế nào thì làm. Tanabai đã nhiều lần nói đến tình trạng đó tại các cuộc họp đảng, mọi người đều đồng ý, cả Ibraim cũng đồng ý, cảm ơn ông đã góp ý phê bình, nhưng rồi mọi việc vẫn y nguyên như trước. Cũng còn may là những người được giao việc chăn ngựa đàn đều là những người tận tâm, do chính Tsôrô lựa chọn.
Ibraim xuống ngựa, niềm nở giang hai tay ra.
- Axxalom Alâykum, ba-ai! – Bất cứ người chăn ngựa nào cũng được y gọi là “bai”.
- Alâykum axxalom! Tanabai đáp một cách dè dặt, xiết chặt tay những người mới tới.
- Bác khoẻ chứ! Ngựa thế nào, Tanakê (1), bản thân bác sống ra sao? – Ibraim tới tấp hỏi những câu quen thuộc, hai má nung nút thịt của y chảy nhẽo xuống tạo thành nụ cười cũng rất quen thuộc.
- Ổn cả.
- Ơn nhờ thượng đế. Về bác thì tôi chẳng có gì lo ngại cả.
- Xin mời vào lều.
Jaiđar trải một tấm da mới, và trên tấm da đặt một tấm bôxket bằng da dê – thứ đệm đặc biệt để khách ngồi trên sàn.
Ibraim cũng quan tâm cả đến bà.
- Chào Jaiđar-baibitxê. Sức khoẻ của bác thế nào? Bác vẫn chăm sóc bai của bác chu đáo đấy chứ?
- Chào các ông, mời các ông vào, xin ngồi chỗ này!
Mọi người cùng ngồi xuống.
- Rót kumưx cho chúng tôi – Tanabai bảo vợ.
Họ uống kumưx, nói chuyện linh tinh.
- Bây giờ chăn nuôi là chắc ăn nhất. Ở đây mùa hè cũng vẫn có sữa, thịt. – Ibraim nói – Còn làm đồng hay các việc khác thì chẳng nước non gì. Thành thử bây giờ tốt nhất là cứ bám lấy các đàn ngựa và đàn cừu. Đúng không nào, Jaiđar-baibitsê?
Jaiđar gật đầu, còn Tanabai lặng thinh. Ông biết điều đó và lần này không phải là lần đầu tiên ông nghe Ibraim nói như thế: y không bao giờ bỏ lỡ dịp nói bóng gió rằng cần quí trọng địa vị người chăn ngựa. Tanabai toan nói rằng chẳng hay hớm gì nếu người ta cứ bám lấy những công việc béo bở, kiếm được thịt và sữa. Thế còn những người khác thì sao? Người ta cứ phải làm lụng mà không có ăn đến tận bao giờ nữa? Trước chiến tranh có thế đâu? Mùa thu, mỗi hộ chở về nhà hai ba xe lúa mì. Còn bây giờ thì thế nào? Thiên hạ mang những bao tải rỗng chạy khắp nơi, hòng bòn mót được chút gì. Chính mình trồng lúa mà khong có bánh mì ăn. Làm ăn gì như thế? Chỉ hội họp và răn dạy thì không làm nên trò trống gì đâu. Tsôrô sở dĩ đau tim là vì ngoài những lời tốt đẹp, ông không có gì trả cho bà con để bù đắp lại công sức họ bỏ ra. Nhưng tất cả những điều đó, những điều làm Tanabai đau lòng, có nói với Ibraim cũng hoài công. Vả chăng, lúc này Tanabai không muốn kéo dài câu chuyện. Cần làm sao mau mau tống tiễn mấy ông khách này về, thắng yên cương cho Gunxarư, đi lo liệu công việc của mình, rồi về cho sớm. Họ đến đây có chuyện gì? Nhưng hỏi không tiện.
- Thế mà ta không nhận ra chú, chú em ạ - Tanabai nói với người cùng đi với Ibraim, một chàng Jighit trẻ tuổi trầm lặng. – Chú là con trai bác Abalắc đã quá cố phải không?
- Vâng, thưa Tanakê, đúng đấy ạ.
- Ôi, bao lâu nay rồi! Cháu đến xem đàn ngựa chứ gì? Cho thoả tính tò mò phải không?
- Dạ không, bác Jbraim và cháu…
- Cậu ấy đi cùng với tôi. – Ibraim ngắt lời anh ta. – Chúng tôi đến đây có công việc, nhưng để lát nữa đã. Jaiđar-baibitsê ạ, kumưx của bác ngon tuyệt. Thơm phức. Cho chúng tôi xin bát nữa nào.
Họ lại nói chuyện linh tinh. Tanabai cảm thấy có điều chẳng lành, nhưng ông không sao đoán ra được chuyện gì đã đưa Ibraim đến nhà ông. Cuối cùng Ibraim lấy trong túi ra một tờ giấy.
- Tanakê, chúng tôi đến bác có một việc, chuyên cho bác tờ giấy này, bác đọc đi.
Tanabai lẩm nhẩm đọc, đánh vần từng chữ, ông đọc và không tin ở mắt mình nữa. Tờ giấy viết chữ to và thưa.
“Mệnh lệnh.
Gửi ông chăn ngựa Bakaxốp.
Trao con ngựa Gunxarư đưa về chuồng làm ngựa cưỡi.
Chủ tịch nông trang (chữ ký không đọc được). 5 tháng ba 1950”.
Bàng hoàng vì sự thể xoay chuyển quá bất ngờ, Tanabai lẳng lặng gấp tờ giấy làm tư, cất vào túi ngực áo cổ đứng và ngồi một lúc lâu không ngước mắt lên. Lòng lạnh giá, chết điếng. Thực ra chuyện này chẳng có gì bất ngờ. Thì ông chăn nuôi ngựa cũng chỉ để sau này trao lại cho người ta dùng làm ngựa kéo hay ngựa cưỡi. Trong mấy năm qua, ông đã trao cho các đội sản xuất bao nhiêu là ngựa! Nhưng giao Gunxarư cho người khác! Thật quá sức chịu đựng của ông! Ông bắt đầu suy nghĩ ráo riết xem nên làm cách nào giữ được con ngựa. Cần cân nhắc kỹ mọi mặt. Phải bình tĩnh. Ibraim đã bắt đầu lo ngại.
- Chúng tôi đến bác cũng chỉ vì cái việc nhỏ nhặt ấy thôi. – Y giãi bày một cách thận trọng.
- Được, ông Ibraim ạ. – Tanabai điềm tĩnh nhìn y. – Việc này không chuội đi đâu được. Tay hãy uống thêm ít kumưx rồi sẽ nói chuyện với nhau.
- Có thế chứ, bác là người biết lẽ phải mà, Tanakê ạ.
“Biết lẽ phải! Đừng hòng tao bị lung lạc vì những lời quỷ quyệt của mày!” – Tanabai tức tối trong bụng.
Họ lại nói chuyện tào lao. Bây giờ chẳng có việc gì phải vội vã.

Siren 04-07-2010 21:15

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Lần đầu tiên Tanabai va chạm với ông chủ tịch mới của nông trang như thế đấy. Đúng hơn, không phải là với chính ông chủ tịch, mà với chữ ký không đọc rõ được của ông ta. Tanabai chưa hề nhìn thấy chính ông ta. Khi ông ta đến thay Tsôrô, Tanabai chăn ngựa mùa đông trong núi. Nghe nói ông ta rất nghiệt ngã, trước đây đã từng giữ những chức vụ cao. Ngay trong cuộc họp đầu tiên, ông ta đã báo trước là ông ta sẽ nghiêm trị những kẻ lười nhác, còn nếu không làm đủ số ngày công tối thiểu thì ông ta dọa sẽ đưa ra toà, ông ta nói rằng mọi chuyện không hay trong các nông trang đều là vì nông trang có qui mô nhỏ, bây giờ sẽ thành lập những nông trang lớn, tình hình phải được uốn nắn trong thời gian gần đây, ông ta được cử đến đây chính để làm việc ấy, ông ta coi nhiệm vụ chính của ông ta là tổ chức việc sản xuất ở nông trang theo đúng mọi qui tắc của kỹ thuật nông nghiệp và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến. Muốn vậy, tất cả mọi người phải theo học tại các nhóm kỹ thuật nông nghiệp và kỹ thuật chăn nuôi.

Thực vậy, người ta đã tổ chức việc học tập: treo biểu ngữ, tiến hành những buổi lên lớp. Còn nếu người chăn cừu ngủ gật trong buổi giảng bài thì đấy là việc của họ…
- Tanakê, chúng tôi phải ra về đây, - Ibraim nhìn Tanabai với vẻ dò xét và bắt đầu kéo lại hai ống ủng đã tụt xuống, rũ chiếc mũ lông cáo và vuốt lại cho mượt.
- Thế này này, ông chủ nhiệm chăn nuôi ạ, nhờ ông nói lại với ông chủ tich: tôi không trao Gunxarư đâu. Nó là ngựa đực lấy giống cho cả đàn của tôi. Nó đang làm nhiệm vụ phủ cái.
- Ôi chao, Tanakê, chúng tôi sẽ bù lại cho bác năm con ngựa đực, sẽ không một con cái nào không được lấy đực. Mắc mớ gì chuyện đó? – Ibraim ngạc nhiên. Y đã hài lòng vì mọi việc đều xuôi chiều thế mà bỗng nhiên… Hừ, nếu không phải là Tanabai thì chẳng hơi đâu mà dài dòng. Nhưng Tanabai là Tanabai, ngay đến anh ruột lão mà lão cũng chẳng thương nữa là, chớ nên quên điều đó. Với lão thì phải khéo léo mềm mỏng hơn.
- Tôi chẳng cần năm con ngựa đực của các ông!... Tanabai lau vừng trán ướt mồ hôi, im lặng một lát, rồi quyết định nói toạc móng heo ra. – Chẳng lẽ ông chủ tịch của ông không có gì để cưỡi ư? Ngựa trong chuồng chết tiệt rồi sao? Tại sao phải đòi chính Gunxarư kia chứ?
- Sao bác lại nói thế, Tanakê? Ông chủ tịch là người lãnh đạo của chúng ta, vậy thì phải kính trọng ông ấy. Ông chủ tịch thường lên huyện, lại còn khách khứa các nơi đến nữa chứ. Ông chủ tịch là người tai mắt, thiên hạ trông vào, có thể nói như vậy…
- Như vậy nghĩa là thế nào? Ông ấy cưỡi con ngựa khác thì sẽ không ai thừa nhận ông ấy nữa ư? Hay đã là nhân vật tai mắt thì nhất thiết phải cưỡi Gunxarư?
- Nhất thiết thì không hẳn là nhất thiết. Nhưng như vậy xem ra phải lẽ hơn. Tanakê ạ, trong chiến tranh bác đã từng là người lính. Chẳng lẽ bác lại đi xe con, còn vị tướng của bác thì đi xe cam nhông ư? Tất nhiên là không. Vị tướng dùng cái gì xứng đáng với cấp tướng, còn người lính dùng cái gì của người lính. Đúng không nào?
- Đấy là chuyện khác. – Tanabai bác lại, không lấy gì làm cả quyết lám. Khác là khác thế nào, ông không nói rõ và khong thể nói rõ được. Cảm thấy cái vòng khít lại xung quanh Gunxarư, ông nói bằng giọng căm tức: - Tôi không trao nó đâu. Nếu các ông thấy tôi không được việc thì đừng cho tôi chăn ngựa nữa. Tôi sẽ về xưởng rèn. Ở đấy các ông sẽ không thể tước đoạt chiếc búa của tôi được.
- Sao lại thế, bác Tanakê? Chúng tôi quý trọng bác. Vậy mà bác cứ như trẻ con ấy. Như vậy có xứng với địa vị của bác không? – Ibraim ngọ nguậy tại chỗ. Như thể y bị dính nhựa. Chính y đã hứa với ông chủ tịch, chính y đã xúi ông ta, tự y lại hứng lấy việc, thế mà thằng cha ương bướng này làm hỏng hết cả.
Ibraim thở dài nặng nề và nói với Jaiđar:
- Bác xem, Jaiđar-baibiktsê, có đáng gì một con ngựa, dù là con ngựa có nước đi dị dạng chăng nữa? Trong đàn thiếu gì ngựa hay, tha hồ chọn. Người ta từ nơi khác đến, cấp trên cử người ta về đây…
- Nhưng tại sao ông cứ cố kết thế? – Jaiđar hỏi.
Ibraim tắc họng, giang hai tay ra:
- Biết làm sao được? Kỷ luật mà. Cấp trên giao nhiệm vụ cho tôi, tôi chỉ là thứ tép riu. Tôi không lấy cho tôi. Tôi thì cưỡi lừa thôi cũng được. Đây, cứ hỏi mà xem, con trai Abalăc được sai đến là để đưa Gunxarư về đấy chứ.
Gã trai lẳng lặng gật đầu.
- Làm như vậy còn ra thể thống gì nữa – Ibraim nói tiếp. – Trên cử về cho chúng ta một ông chủ tịch, ông ấy là khách của chúng ta, vậy mà cả bản ta lại không biếu được ông ấy một con ngựa cho ra hồn. Người ngoài biết chuyện thì người ta sẽ nói ra sao? Có đời thuở nào người Kỉghiđi lại ăn ở như thế không?
- Thế mới hay kia đấy. – Tanabai đáp. – Cứ để cho dân bản biết chuyện ấy. Tôi sẽ đến gặp Tsôrô. Để xem ông ấy định đoạt thế nào.
- Bác tưởng Tsôrô sẽ bảo là không giao con ngựa ư? Chúng tôi đã nhất trí với ông ấy rồi. Bác sẽ chỉ làm cho ông ấy khó xử thôi. Chẳng khác nào phá hoại ngầm. Chúng tôi không công nhận ông chủ tịch mới, chúng tôi đến kêu với ông chủ tịch cũ. Mà Tsôrô lại ốm yếu. Sao lại làm hỏng quan hệ của ông ấy với ông chủ tịch mới? Tsôrô sẽ là bí thư chi bộ, sẽ phải làm việc với ông chủ tịch mới. Gây chuyện phiền phức làm gì…
Đến đây, nghe nói về Tsôrô, Tanabai im lặng. Mọi người đều im lặng.
Jaiđar thở dài nặng nề.
- Giao ngựa đi, mình ạ. – Bà nói với chồng. – Đừng cầm chân khách ở đây.
- Thế là phải, đáng lý nên làm như vậy từ lâu rồi kia, cảm ơn bác, Jaiđar-baihitsê ạ.
Chẳng phải vô cớ mà Ibraim không tiếc lời cảm ơn. Sau đó ít lâu, từ chức vụ trưởng trại chăn nuôi y được cất nhắc lên làm phó chủ tịch nông trang phụ trách chăn nuôi…

Siren 04-07-2010 21:18

Tanabai ngồi trên yên ngựa, gằm mặt xuống không nhìn mà thấy hết. Ông thấy Gunxarư bị băt, bị quàng vào cổ sợi dây tròng mới. Nếu là ngựa của ông thì không bao giờ ông chịu nhường, dù với bất cứ giá nào. Ông thấy Gunxarư không muốn xa rời đàn, nó lồng lên, giằng giật dây cương trong tay con trai Abalăc, còn Ibraim vung roi thẳng cánh quất nó, cưỡi ngựa đến gần Gunxarư từ phía bên này, rồi lại từ phía bên kia. Ông thấy hai con mắt Gunxarư, cái nhìn hoang mang của nó không hiểu những người lạ mặt đem nó đi đâu, và tại sao lại bắt nó phải xa lìa lũ ngựa cái ngựa con và xa lìa chủ nó; ông thấy hơi tuôn ra từ cái mõm há hoác của nó khi nó hí, ông thấy bờm, lưng, mông nó, những lằn roi trên mông và sườn nó, ông thấy tất cả hình dáng nó,thậm chí cả cái u nhỏ to bằng quả hạt dẻ ở chân bên phải phía trước, phía trên khôe một chút, ông thấy dáng đi của nó, vệt móng của nó, ông thấy hết, cho đến cả từng sợi của bộ lông màu vàng nhạt của nó. Ông thấy hết và ông bậm môi, ngấm ngầm đau khổ. Khi ông ngẩng đầu lên, những kẻ đem Gunxarư đi đã khuất sau cái gò. Tanabai kêu lên một tiếng và thúc ngựa đuổi theo.
- Dừng lại, chớ làm thế! – Jaiđar từ trong lều chạy ra.
Giữa lúc ngựa đang phi, một điều phỏng đoán ghê rợn thoáng hiện trong óc ông: vợ ông trả thù Gunxarư về những đêm nào. Ông kéo cương đột ngột, quất roi giục ngựa quay trở lại. Ông ghìm ngựa cạnh lều, nhảy xuống, và dáng bộ dữ tợn, mặt trắng bệch, méo xệch đi, ông chạy tới trước mặt vợ.
- Tại sao lại thế? Tại sao bà lại bảo tôi phải giao Gunxarư cho chúng nó? – Ông thì thầm, nhìn thẳng vào mặt vợ.
- Này thôi đi. Bỏ tay xuống. – Vẫn bình tĩnh như bao giờ. Jaiđar buộc chồng phải dừng lại. – Hãy nghe tôi nói đây. Gunxarư có phải là ngựa của ông không? Nó là của riêng của ông chăng. Ông có cái gì là của riêng? Tất cả đều là của nông trang. Chúng ta sống trong nông trang. Gunxarư cũng là của nông trang. Còn ông chủ tịch là chủ nông trang: ông ấy bảo sao nên vậy. Còn về chuyện kia thì ông nghĩ nhầm rồi. Ông muốn bỏ đi ngay lúc này cũng được. Cứ đi đi. Chị ấy hơn hẳn tôi, xinh hơn, trẻ hơn. Chị ấy là người tốt. Hồi ấy tôi cũng có thể thành bà goá lắm chứ, nhưng may sao mình trở về. Tôi mong ông hết nước hết cái! Nhưng thôi, cái đó chẳng kể làm gì. Bây giờ ông có ba con. Vứt chúng đi đâu được? Sau này ông sẽ nói thế nào với chúng nó? Sau này chúng nó sẽ nói gì? Tôi sẽ nói gì với các con? Ông tự quyết định lấy…

Tanabai cưỡi ngựa vào thảo nguyên, biệt tăm cùng với đàn ngựa cho đến chiều tối. Ông vẫn chưa thể nào bình tâm lại được. Đàn ngựa trở nên côi cút. Tâm hồn cũng trở nên đơn côi. Gunxarư đã đem theo cả hồn ông. Nó đã đem theo hết. Tất cả đều khác trước. Mặt trời không còn là vầng mặt trời ấy, bầu trời cũng khác, chính bản thân ông dường như cũng không còn là ông trước kia.
Ông trở về lúc trời đã tối hẳn. Chẳng nói chẳng rằng, mặt mày sa sầm, ông vào lều. Hai con gái đã ngủ. Lửa cháy sáng trong bếp. Vợ đổ nước cho ông rửa tay và dọn cho ông ăn.
- Tôi không muốn ăn. – Tanabai nói, rồi bảo: - Mình lấy têmir-kômuzơ(loại đàn dầy, hình cái móc sắt, có lưỡi thép ở giữa-ND), chơi bài: “Lạc đà mẹ khóc con” đi.
Jaiđar đưa têmir-kômuzơ lên môi, khẽ chạm một ngón tay vào sợi dây mỏng manh bằng thép, thổi vào sợi dây, rồi hít một hơi dài và điệu nhạc cổ xưa của dân du mục dì dặt nổi lên. Bài ca về lạc đà mẹ mất lạc đà con lông trắng. Bao nhiêu ngày lạc đà mẹ chạy trên hoang mạc. Nó tìm kiếm, gọi con. Nó đau khổ vì chiều chiều không còn được dẫn con đi trên bờ vực, buổi sáng không còn được dẫn con đi trên bình nguyên để hai mẹ con cùng bứt lá trên cành cây, không còn được cùng con đi trên cát lún, cùng con tha thẩn trên cánh đồng mùa xuân, không còn được cho con bú dòng sữa trắng.

Con ở đâu, chú lạc đà bé bỏng mắt đen của mẹ? Hãy lên tiếng đi! Sữa chảy ra từ đầu vú, bầu vú quá căng mọng. Sữa trắng muốt…

Siren 05-07-2010 23:35

Jaiđar chơi termir-kômuzơ hay thật. Hồi xưa chính vì thế Tanabai yêu Jaiđar, lúc ấy nàng còn là một cô bé.
Tanabai nghe đàn, đầu cúi thấp và lần này nữa, ông không nhìn mà thấy hết. Ông thấy đôi tay của vợ, đôi tay thô nhóm vì bao năm ròng làm lụng trong nóng nực và gió rét. Mái tóc đã điểm bạc và những nếp nhăn trên cổ, bên miệng và bên khoé mắt. Đằng sau những nếp nhăn ấy lờ mờ hiện ra tuổi trẻ đã qua: một cô bé nước da bánh mật với đôi bím tóc xinh xinh buông thõng trên vai, và chính bản thân ông hồi ấy còn trai trẻ, sự quấn quít giữa hai người hồi ấy. Ông biết lúc này vợ ông không để ý đến ông. Vợ ông đang chìm đắm trong điệu nhạc, trong những ý nghĩ của mình. Ông còn thấy vào lúc này, vợ ông mang trong tâm tư một nửa số tai hoạ và đau khổ của ông. Bà luôn luôn mang nó trong lòng.

… Bao nhiêu ngày lạc đà mẹ chạy lang thang, tìm kiếm và gọi con. Con ở đâu, chú lạc đà bé bỏng mắt thẫm màu của mẹ? Sữa chảy ra từ bầu vú, bầu vú quá căng mọng, sửa chảy ròng ròng xuống chân. Con ở đâu? Lên tiếng đi! Sữa chảy ra từ bầu vú, bầu vú căng mọng. Sữa trắng muốt…
Hai con bé ôm nhau ngủ. Bên ngoài là thảo nguyên bao la, tối như bưng trong bóng đêm mù mịt.
Giờ này Gunxarư đang làm loạn trong chuồng ngựa, không để cho những người chăn ngựa được ngủ yên. Lần đầu tiên nó bị nhốt trong chuồng, cái nhà tù giam ngựa.

8

MỘT BUỔI SÁNG KIA, TANABAI VUI SƯỚNG không để đâu cho hết khi ông thấy Gunxarư của mình ở trong đàn. Cổ nó lủng lẳng đoạn dây tròng bằng thừng, lưng đóng yên.
- Gunxarư! Gunxarư! Chào mày! Tanabai nhảy bổ tới và nhìn tận nơi con ngựa của ông mang chiếc yên của người khác, chiếc yên cồng kềnh của người khác, với đôi bàn đạp nặng nề. Ông đặc biệt phẫn nộ khi thấy trên yên đặt tấm đệm nhung mềm xốp, như thể người cưỡi ngựa không phải là đàn ông, mà là một người đàn bà mông rất mập.
- T- fu! – Tanabai tức tối nhổ bọt. Ông toan bắt con ngựa, vứt bỏ tất cả những thứ lố lăng ấy trên mình nó, nhưng Gunxarư lẩn tránh. Lúc này nó chẳng thiết gì đến ông. Nó mải theo đuổi lũ ngựa cái. Nó nhớ lũ ngựa cái quá đến nỗi chẳng để ý gì đến chủ cũ của mình.
“Thế là nó vẫn cứ trốn được, nó đã đứt đứt dây cương. Cừ lắm! Cứ việc dong chơi đi, dong chơi cho thoả thích, không sao, tao sẽ im hơi lặng tiếng”. – Tanabai nghĩ bụng, và định cho đàn ngựa chạy một chập. Hãy để cho Gunxarư cảm thấy thoải mái như vẫn sống trong đàn, cho đến khi nào người ta đến tìm bắt nó về.
- Kaitơ, kaitơ – kaitơ! – Tanabai nhướn mình trên yên, quát to và vung uknuc xua đàn ngựa chạy đi.
Những con ngựa mẹ cất bước, gọi con theo, những con ngựa cái tơ vừa chạy vừa nhảy nhót. Gió thổi tung bờm. Đất xanh rờn tươi cười dứoi ánh mặt trời. Gunxarư rùng mình, rướn thẳng lên, bắt đầu bước đi một cách đỏm dáng. Nó dẫn đầu đàn ngựa, đánh đuổi con ngựa đực mới, xua về cuối đàn, còn nó phô trương vẻ đẹp của mình ở trước đàn, thở phì phì, bắt đầu vờn múa và chạy tới gần đàn khi thì từ phía bên này, khi thì từ phía bên kia. Mùi hơi của đàn ngựa làm nó choáng váng đầu óc: mùi sữa ngựa cái, mùi ngựa con, hơi gió thoang thoảng mùi ngải cứu. Nó chẳng bận tâm gì đến cái yên lố lăng với tấm đệm nhung lố lăng vướng víu trên lưng và đôi bàn đạp nặng nề đập vào hai bên sườn. Nó quên hẳn chuyện hôm qua nó còn đứng bên cái cọc buộc ngựa lớn ở huyện, gặm hàm thiếc và nhảy chồm lên mỗi khi một chiếc cam nhông ầm ầm chạy qua. Nó quên rằng sau đó nó phải đứng trong vũng nước cạnh cái quán rượu hôi hám, và ông chủ mới từ quán rượu đi ra cùng với tất cả đám bạn nhậu nhẹt của ông ta và người nào cũng toả ra mùi hôi hám. Ông chủ mới vừa ợ vừa khịt mũi và nhảy lên lưng nó. Nó quên rằng dọc đường, bọn họ đã làm một việc ngu xuẩn: bắt ngựa phi trong bùn. Nó mang ông chủ mới trên lưng, phóng như bay, còn ông ta ngất ngư trên yên như cái bao tải, rồi ông ta giật cương như muốn xé rách mõm nó và quất roi và đầu nó.
Gunxarư quên hết, quên ráo cả. Mùi hơi của đàn làm nó ngây ngất: mùi sữa ngựa cái, mùi ngựa con, hơi gió thoang thoảng mùi ngải cứu… Gunxarư chạy miết, không hề ngờ rằng người ta đã phóng ngựa đi lùng bắt nó.
Tanabai đưa đàn ngựa trở về chỗ cũ, liền đó hai người chăn ngựa cũng từ bản tìm đến. Họ lại lừa bắt Gunxarư ra khỏi đàn, đưa về chuồng.
Nhưng ít lâu sau, nó lại trở về với đàn. Lần này, thì chẳng có yên cương gì hết. Không biết bằng cách nào, nó đã trút bỏ được bộ cương khỏi đầu và ban đêm trốn khỏi chuồng. Thoạt đầu Tanabai cười, rồi ông im bặt, nghĩ ngợi một lúc, đoạn tròng uknuc vào cổ Gunxarư. Chính ông bắt nó, tròng nó và thân hành dẫn nó về bản, nhờ một người chăn ngựa trẻ tuổi ở khu trại bên đi sau thúc nó. Dọc đường họ gặp mấy gã chăn ngựa đi lùng bắt con vật chạy trốn. Khi trao Gunxarư, Tanabai còn cằn nhằn với họ:
- Các người không có tay hay sao mà không coi giữ nổi con ngựa của ông chủ tịch. Buộc nó cho chắc vào.
Khi Gunxarư chạy về lần thứ ba, Tanabai nổi giận thực sự:
- Mày làm trò gì thế, con vật ngu đần! Ma quỉ nào xui khiến mày về đây? Mày trước sau vẫn là con vật đần độn! – ông vừa mắng vừa cầm ukruc đuổi bắt nó. Rồi ông lôi nó về bản lần nữa và lại mắng mấy người coi ngựa.
Nhưng Gunxarư không có ý định tỏ ra biết điều hơn, hễ có dịp thuận tiện là nó lại chạy về với đàn. Nó làm những người coi ngựa ớn đến tận cổ, cả Tanabai cũng phát ớn.

… Hôm ấy Tanabai ngủ dậy muộn, mãi khuya ông mới từ bãi chăn về. Ông lùa đàn ngựa đến gần lều cho yên trí, rồi ngủ thiếp đi, giấc ngủ không yên và nặng nề. Ông quá mệt sau một ngày vất vả. Ông mơ thấy một điều kì lạ: không rõ là ông lại tham gia chiến tranh hay có mặt tại một lò sát sinh nào đó. Xung quanh toàn máu là máu, hai tay cũng nhớp nháp đầy máu. Ngay trong lúc chiêm bao, ông vẫn nghĩ: mơ thấy máu là điềm chẳng lành. Ông muốn tìm chỗ nào rửa tay cho sạch. Nhưng người ta xô đẩy, chế nhạo ông, cười hô hố, la ré, và có người nào không rõ nói: “Tanabai, rửa tay trong máu, trong máu. Ở đây không có nước. Tanabai, ở đây bốn bề toàn máu! Ha-ha, hô-hô, hi-hi!...”
-Tanabai, Tanabai! – Vợ lay vai ông. – Tỉnh dậy đi!
-Cái gì thế?
- Ông nghe xem, trong đàn ngựa có chuyện gì ấy. Mấy con ngựa đực đánh nhau. Chắc là Gunxarư lại chạy về rồi.
- Cái con trời đánh thánh vật ấy! Không làm sao yên thân được với nó! – Tanabai nhanh chóng mặc quần áo, vơ lấy ukruc và chạy đến lũng, ở đó đang vang lên tiếng ầm ĩ của một cuộc ẩu đả. Trời đã sáng.
Chạy đến nơi, ông thấy Gunxarư. Nhưng sao thế kia? Con ngựa nhảy chồm chồm, chân bị xiềng bằng kisen – một loại xích sắt. Xiềng loảng xoảng ở chân, nó xoay quanh, chồm ngược lên, rên rỉ, gào hí. Thế mà con ngựa đực kia còn cứ cắn đá nó hoài, độc ác quá.
- Hừ, mày là thứ quái vật! – Tanabai ập đến như cơn lốc, quật con ngựa kia một cái trời giáng đến gãy cả ukruc. Ông đuổi được nó đi nơi khác. Nhưng mắt ông ứa lệ. – Chúng nó làm gì mày thế này, hả? Kẻ nào nghĩ ra cái trò xích mày thế này? Mà mày lần mò về đây làm chi, con vật ngu ngốc khốn khổ kia?
Thật khó tưởng tượng nổi, xa xôi như thế, chân bị xiềng mà nhảy từng bước một, vượt qua sông, qua các hố rãnh mô gò, lần về bằng được với đàn! Chắc là nó nhảy như thế suốt đêm, mất cả một đêm. Một mình, trong tiếng xích loảng xoảng, như người tù khổ sai chạy trốn.
“Khổ chưa!” – Tanabai lắc đầu. Ông vuốt ve con vật, áp mặt vào dứoi môi nó. Nó mấy máy môi, nheo nheo mắt.
- Chúng ta phải làm thế nào hả? Mày phải thôi cái trò ấy đi, Gunxarư ạ. Mày sẽ chuốc hoạ vào thân đấy. Mày ngốc lắm, ngốc nghếch lắm. Mày chẳng biết gì cả.
Tanabai xem xét kĩ con vật. Những vết sây sát lúc đánh nhau đang lành. Nhưng chân bị trật da rất nặng vì xiềng xích. Các vành móng đều chảy máu. Lớp phớt bọc kisen đã mục, nhậy ăn nát cả. Khi con ngựa nhảy đi dưới nước, lớp bọc tuột hết, còn trơ lại sắt. Chính vì thế chân con ngựa loã máu. “Đích là Ibraim đã moi được kisen của các ông già. Việc này chính hắn bầy ra! – Tanabai tức đầy ruột. Còn ai vao đấy nữa? Kisen là loại xiềng cổ xưa, rất chắc. Mỗi dây xiềng có một ổ khoá riêng, không có chìa thì không thể nào mở được. Trước kia người ta dùng kisen tròng chân những con ngựa hay nhất, để bọn ăn cắp không thể đưa ngựa khỏi bãi chăn. Dây tròng bình thường, bằng thừng thì không thể dắt ngựa đi được. Nhưng đấy là thời xưa, chứ bây giờ kisen đã thành của hiếm. May lắm thì có một ông già nào còn giữ được làm kỉ niệm về dĩ vãng. Vậy mà lai dùng kisen để xiềng chính Gunxarư, hẳn là có kẻ nào bày mưu. Chúng xiềng Gunxarư để nó không thể chạy xa khỏi bãi chăn của bản. Thế mà nó vẫn cứ trốn đi được.
Cả nhà xúm vào tháo kisen ở chân Gunxarư. Jaiđar nắm dây cương, che hai mắt con ngựa, hai đứa con gái chơi ở gần đấy, Tanabai lôi cả hộp dụng cụ ra, thử tất cả các loại chìa, mồ hôi toát ra như tắm. Tài khéo léo của người thợ rèn có ích cho ông, ông loay hoay xoay xở mãi, rã rời cả hai tay, nhưng rồi ông đã tìm được cách mở khoá.
Ông quẳng kisen ra xa cho khuất mắt. Ông thoa thuốc mỡ vào những chỗ chảy máu ở chân ngựa, và Jaiđar dắt Gunxarư đi đến chỗ buộc ngựa. Đứa con gái lớn bế em lên lưng ngựa, và cùng đi về phía nhà.
Còn Tanabai vẫn ngồi thở, mệt lử. Rồi ông thu nhặt dụng cụ, đến nhặt chiếc kisen lên. Phải trả lại cho người ta, không thì sẽ phải chịu trách nhiệm. Ngắm kĩ chuỗi kisen, ông ngạc nhiên về tác phẩm của người thầy thợ. Mọi cái đều hoàn hảo, tài trí tuyệt vời. Đây là công trình của những người thợ rèn kirghizya thuở xưa. Đúng, bây giờ nghề ấy đã thất truyền, đã mai một hẳn. Bây giờ không cần đến kisen nữa. Nhưng còn những vật khác cũng đã mất dạng, thật đáng tiếc. Ngày trước người ta biết làm những đồ trang sức tuyệt vời, những vật dụng bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ, bằng da khéo biết bao! Những thứ đó không lấy gì làm đắt, nhưng thật là đẹp. Mỗi vật một vẻ riêng, có một không hai. Bây giờ không còn những cái như thế. Bây giờ mọi thứ đều làm hàng loạt bằng nhôm: ca, chén, thì, khuyên đeo tai và chậu. Đến đâu cũng thấy những vật hệt như nhau. Tẻ nhạt. Cả thợ làm yên cũng chri còn được mấy người. Ngày trước người ta biết làm những bộ yên kì diệu. Mỗi bộ yên có lai lịch riêng: ai làm, làm khi nào, làm cho ai và được thưởng công như thế nào. Hẳng là chẳng bao lâu nữa mọi người đều sẽ đi ô tô như ở Châu Âu. Ai nấy đều đi những chiếc xe giống nhau, chỉ phân biệt được bằng biển số. Chúng ta đang dần dần quên đi tài nghệ của cha ông. Chúng ta đã chôn vùi hẳn nghề thủ công khéo léo thuở xưa, mà hai bàn tay chứa đựng cả tâm hồn và cặp mắt của con người…

Siren 05-07-2010 23:38

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Đôi khi, Tanabai bỗng đi đến những phát hiện bất ngờ. Khi nghiền ngẫm về nghề thủ công dân gian, ông phẫn nộ và không biết qui lỗi cho ai đã làm cho nó mai một dần. Vậy mà thời thanh niên, chính ông là một trong những kẻ đào mồ chôn vùi những gì cổ xưa. Có lần thậm chí ông đã phát biểu tại cuộc học Kômxômôn, đề nghị huỷ bỏ các lều du mục. Ông đã nghe người ta nói ở đâu đó rằng các lều du mục phải bị loại bỏ, đó là loại nhà ở trước cách mạng. “Đả đảo lều du mục! Không nên sống theo lối cũ nữa!”.
Họ đã “tịch thu” các lều du mục. Họ bắt đầu dựng nhà, còn lều du mục bị phá bỏ. Những tấm da bị cắt ra dùng vào đủ thứ việc, gỗ đem ra rào vườn hay rào bãi chăn gia súc, hay thậm chí làm củi đun…
Rồi sau mới vỡ lẽ ra rằng nghề chăn gia súc theo mùa không thể không cần đến lều du mục. Bây giờ mỗi lần nghĩ lại, Tanabai ngạc nhiên không hiểu sao hồi ấy mình có thể nói như vậy, có thể sỉ vả lều du mục: cho đến giờ, chưa ai nghĩ ra được cái gì tốt hơn cho đời sống du cư. Làm sao ông có thể không thấy rằng lều du mục là một phát minh kì diệu của dân tộc mình, ở đây mỗi chi tiết nhỏ nhặt nhất đều được kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm ngàn đời của các thế hệ?
Bấy giờ, ông sống trong cái nhà lều thủng lỗ chỗ, ám khói, thừa hưởng của ông già Torgôi. Cái lều đã lâu năm lắm rồi, nếu bây giờ nó vẫn còn tạm dùng được thì chỉ là nhờ sự nhẫn nại vô cùng của Jaiđar. Nhiều ngày ròng, bà sửa chữa, vá víu, làm cho nó vẫn còn ra một chỗ ở. Ngưng một hai tuần sau, dạ bục lại rách toác, phơi ra những lỗ hổng toang hoác, gió lùa hun hút, tuyết mưa đều lọt vào. Bà vợ lại sửa chữa, cứ thế không biết đến bao giờ mới hết cái nạn này.
- Chúng ta còn phải chịu sự đầy đoạ này đến bao giờ nữa? – Jaiđar than phiền – Mình xem đấy, đâu phải là dạ, mà là cái của khỉ gì ấy chứ, bở tơi như cát. Còn kênêghê-uruc(1) biến thành cái gì rồi? Nói ra thật xấu hổ. Ít ra mình cũng đòi người ta cấp cho chúng ta dạ mới để làm lều chứ! Mình có phải là chủ nhà không? Rút cuộc rồi ta cũng phải sống cho ra người chứ…
Thoạt đầu, Tanabai còn nói cho vợ yên tâm, hứa hẹn. Nhưng ở bản, khi ông nói ướm rằng ông cần làm một cái lều du mục mới thì mới té ra rằng những bác thợ già đã qua đời cả rồi, còn thanh niên không hề hay biết tí gì về cách làm loại nhà lều đó như thế nào. Nông trang cũng không có dạ cho ông làm nhà lều.
- Thôi được, thế thì cho chúng ta len, chúng tôi ép dạ lấy vậy. – Tanabai nài.
- Làm gì ra len! – Người ta bảo ông. – Ông mới ở cung trăng rơi xuống chắc? Thu được bao nhiêu len đều bán theo kế hoạch tất, nông trang không đợc giữ lại một gam nào cả…
Người ta đề nghị thay bằng lều vải bạt.
Jaiđar dứt khoát không chịu:
- Thà ở nhà lều thủng còn hơn ở lều vải bạt.
Hồi ấy, nhiều người chăn nuôi gia súc đã phải chuyển sang ở lều vải bạt. Nhưng đấy gọi là chỗ ở được ư? Đứng không được, ngồi không được, nhóm lửa không được. Mùa hè thì nóng như thiêu như đốt, mùa đông thì lạnh đến nỗi nuôi con chó nó cũng không chịu ở. Không có chỗ mà xếp đặt đồ dùng, không đặt bếp được, không thể bày biện bên trong cho đẹp hơn. Khách đến khong biết mời ngồi đâu.
- Nhất định khong. – Jaiđar không nghe – Muốn gì thì gì, tôi không ở lều vải bạt đâu. Lều vải bạt cho người không có gia đình thì còn được, mà cũng chỉ là tạm thời thôi, còn chúng tôi có gia đình, có con cái. Phải tắm rửa cho con, giáo dục chúng, không, tôi không chịu đâu.
Trong những ngày ấy, có lần Tanabai gặp Tsôrô và đã nói hết với Tsôrô:
- Sao lại đến nông nỗi ấy, hả ông chủ tịch?
Tsôrô buồn rầu lắc đầu:
- Chuyện ấy thì lẽ ra trước đây tôi với anh phải nghĩ đến rồi. Cả những người lãnh đạo của chúng ta ở trên cũng thế. Còn bây giờ thì làm gì được: ta có viết thư lên cũng không biết người ta sẽ trả lời thế nào. Người ta bảo lên là nguyên liệu quý. Loại hàng khan hiếm. Dành cho xuất khẩu. Đem dùng cho nhu cầu nội bộ nông trang thì không hợp lý.
Nghe Tsôrô nói vậy, Tanabai lạnh ngắt. Thì ra chính ông có lỗi một phần. Và ông thầm chế nhạo sự ngu xuẩn của mình: “Không hợp lý! Ha-ha-ha! Không hợp lý”.
Cái tiếng “Không hợp lý” ấy nó lởn vởn trong đầu ông mãi.
Thế là gia đình ông vẫn phải ở trong cái nhà lều cũ kỹ đã vá đi vá lại không biết bao nhiêu lần, vậy mà để sửa chữa cái lều ấy chỉ cần một ít len thường. Thứ len ấy người ta vẫn cắt được hàng tấn ở các bầy cừu của nông trang.
Tanabai đi về lều của mình, hai tay cầm sợi kisen. Ông thấy nhà lều của ông thảm hại quá, đột nhiên ông tức giận mọi thứ trên đời – giận cả bản thân mình, giận cả chiếc kisen đã làm bật máu chân Gunxarư, và ông nghiến răng ken két. Giữa lúc ông đang nóng giận như vậy thì lại gặp luôn mấy người coi ngựa đến tìm Gunxarư.
- Đem nó về! – Tanabai quát lên với họ, môi ông run lên vì giận dữ - còn chiếc kisen này thì giao cho ông chủ tịch và bảo với ông ta rằng: nếu ông ta còn dám xiềng chân Gunxarư một lần nữa thì tôi sẽ giáng chiếc kisen này vào đầu ông ta cho phọt óc ra. Hãy bảo với ông ta như thế!...
Tanabai nói năng như vậy thật là dại dột. Ôi, dại dột vô cùng! Suốt đời ông sẽ khốn đốn vì sự nóng nảy và trực tính ấy.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 10:04.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.