Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Các chủ đề khác (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=22)
-   -   Ngày này 38 năm trước (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=2783)

nqbinhdi 16-04-2010 21:20

Ngày này 38 năm trước
 
Đấy là ngày 16-4 năm 1972, một ngày đau thương của thành phố quê hương.

Chúng tôi vừa thi Toán toàn miền Bắc xong trước đó 10 ngày. Do luyện thi học sinh giỏi miền Bắc nên các môn khác đã xếp lại, thi xong, hai lớp Văn và Toán lao vào học bù cho kịp chương trình để còn chuẩn bị cho thi tốt nghiệp và thi ĐH. Vì vậy phải học cả buổi tối.

Tối thứ Bảy 15-4, chúng tôi học môn Chính trị, bài Hợp tác hóa nông nghiệp do thày Diễm, hiệu phó kiêm bí thư chi bộ trường, vừa là thày dạy Toán kỳ cựu vừa dạy môn Chính trị cho các lớp 10 chuyên Toán và Văn. Chúng tôi học đến hơn 21h thì tan, đạp xe về đến nhà được một lát thì thấy cha tôi đi xe com-măng-ca đảo về qua nhà, chỉ nói rất nhanh: "Đêm nay cẩn thận, máy bay Mỹ nó đánh đấy. Hồi chiều nó đã pháo kích Thái Bình, mấy hôm trước thì Nam Định nên rất có thể đêm nay nó sẽ ném bom đến Hải Phòng", thế rồi cụ lại tất tả đi chỉ huy bộ đội chuẩn bị đánh địch. Sau này tôi biết được (từ Đại tướng Nguyễn Quyết) rằng chiều hôm đó cha tôi (lúc đó đang là Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 350 bảo vệ HP) và cô Võ Thị Hoàng Mai (lúc đó đang là Phó chủ tịch UBHC thành phố HP, là vợ bác Nguyễn Quyết) đã phải cùng nhau ra một quyết định rất khó khăn: Sơ tán các khu tập thể Xi Măng ngay sát gần nhà máy Xi măng, đề phòng địch đánh huỷ diệt. Khó khăn là vì từ sau 1968 địch đã không đánh ra trên vĩ tuyến 20, đã hơn 3 năm không có báo động phòng không. Nếu đêm nay địch không đánh mà cứ sơ tán dân thì sẽ mất tín nhiệm với dân và dân sẽ khổ vì phải lôi thôi lếch lếch chạy ra ngoại thành. Nhưng nếu không sơ tán, địch đánh, chết dân thì thật là có tội. Cuối cùng thì quyết định cứ sơ tán, dẫu không có ném bom thì sẽ cùng chịu trách nhiệm trước Thành ủy về quyết định ấy, chứ để dân thương vong là có tội lớn trước nhân dân. Chuyến xe cuối cùng rời khu tập thể chừng 15 phút thì bom rơi. Đêm hôm đó thành phố đã huy động toàn bộ xe ca của Cty xe khách, đút xe vào từng dãy nhà tập thể đốc dân di tản - cũng chỉ kịp chở bà con sang Rế, cách đó chừng 6-7 km đổ dân xuống khu đồng trống rồi quay lại đón chuyến tiếp theo. Thật là may vì B52 rải một vệt trùm lên khu tập thể, không di tản kịp thì không biết thương vong sẽ còn lớn chừng nào.

Tôi vừa chợp mắt được một lúc thì giật nảy người bởi những tiếng rú như xé vải, tiếng đạn tên lửa nổ như sét đánh cùng tiếng nổ ầm vang của rất nhiều cỡ súng. Địch đánh thật rồi. Cả nhà tôi chạy xuống tầng dưới cùng của ngôi nhà ba tầng, nấp dưới gậm cầu thang - đã 3 năm không có bom đạn, các hầm hố cũng đã san lấp gần hết. Tôi leo lên gác 3 của tòa nhà xem đánh nhau. Tên lửa ta bay ngang bay dọc, rất nhiều, cái bóng tòa nhà chúng tôi ở cứ chạy lui chạy tới trên sân theo các vệt tên lửa bay. Tiếng nổ âm vang, đạn cao xạ lừng lững bay từng vệt. Những dây chớp lửa bom nháng nhàng khắp tứ phía. Mãi đến gần sáng mới ngưng tiếng súng.

Trời đã chạng vạng sáng, nhìn phía Sở Dầu khói bốc lên nghi ngút, đen kịt, che hẳn một khoảng trời rộng. Trên đường phố bắt đầu có những đoàn xe đủ các loại chạy qua, chở đầy người bị thương, cùng nhắm về phía Bệnh viện Việt-Tiệp (nhà tôi ngay trên đường dẫn tới bệnh viện V-T).

8 giờ sáng, chúng tôi được báo rằng không tập trung tại trường để làm lễ tiễn các bạn lên đường nhập ngũ ngày hôm đó mà sẽ tập trung tại ngõ Trí Tri để chia tay các bạn - lớp tôi cũng có một bạn nhập ngũ hôm đó. Chúng tôi tới được ngõ Trí Tri thì lại có báo động. Lại đánh nhau. Chỉ thấy tiếng bom ầm ầm khắp nơi, nhất là phía Cảng, chen lẫn tiếng pháo cao xạ, hầu như không có tên lửa bắn lên mấy nữa. Tan bom được một lúc lâu, chúng tôi nghe dân chúng kháo nhau máy bay ném bom cả vào khu trường Thái Phiên của chúng tôi bèn cùng nhau đạp xe tới đó. Tới nơi thì chỉ thấy khu tập thể công nhân gồm 10 nhà 4 tầng phía bên kia đường đã vừa bị đánh bom sập hoàn toàn, giữa đường trước cổng trường là một hố bom rộng hoác. Gần đó là cả một đống chiếu-màn dùng để bó và khênh người máu bê bết vẫn còn tươi nguyên. Công binh đang chặn không cho vào trường vì trong đó vẫn còn rất nhiều bom xuyên chưa nổ - những quả bom con có cánh, bung ra từ bom mẹ, khi rơi xuống xoay như mũi khoan và có liều nổ lõm ở đầu để có thể khoan xuống qua chừng 10-15 cm bê tông mới nổ (là bề dày của nắp hố cá nhân). Ngày hôm ấy, đứng trước cổng trường còn chưa tan mùi khói súng, uất nghẹn cả họng, mấy đứa lũ chúng tôi nước mắt nước mũi giàn giụa và nghiến răng thề rằng sẽ phải cầm súng, trả cho được mối thù này. Mấy hôm sau quay lại mới được vào trường thì vẫn thấy đống màn chiếu ở đó, máu đã khô đen đi. Cái lớp học của lớp tôi trên đầu hồi tầng 3 đã bị tên lửa Mỹ bắn bay đi đâu mất, sập sàn xuống lớp 8 Toán dưới tầng 2. Trên bảng đen lớp 8T vẫn còn dòng phấn chữ ai đó viết vội: "Thái Phiên ơi, thù này phải trả!".

Hàng mấy trăm người dân HP đã chết trong trận bom khốc liệt ấy, nhiều hơn số dân thường bị chết trong 3 năm chiến tranh phá hoại từ cuối 1965 đến đầu 1968. B52 đã vạch những vệt chết chóc qua các khu tập thể Xi Măng, Cầu Quay, qua thôn Phúc Lộc của huyện Kiến Thụy... Nghĩa trang Thành phố hôm đó đã có hố chôn chung hàng trăm người, mà nhiều người chỉ còn một phần thân thể. Tất cả các khoa của Bệnh viện Việt-Tiệp ngày hôm đó đều biến thành khoa mổ, máu đọng lép nhép trên sân trước các phòng cấp cứu.

Sẽ không bao giờ những hình ảnh của ngày ấy phai mờ trong tâm trí tôi.

Old Tiger 16-04-2010 22:39

Cảm ơn cụ Bình Dị đã kể cho chúng cháu nghe một câu chuyện rất cảm động!

Hôm qua gặp cụ, nhà cháu có hỏi sao từ hồi cụ đi "rắc vừng" bên Hung Gia Lợi về, cụ để cái chuồng "Ngày xưa ơi" của cụ mốc meo thế? Cụ ấy không trả lời và có nói rằng thì là sẽ không bao giờ vào đó nữa. Tại sao ư? Cụ thấy thà chết không nói. Nguyên nhân chỉ có 1/ hàng ngàn mem của 4R NNN biết.

Chúng cháu rất thông cảm cho cụ.

Cụ ơi nói thế thôi. Cụ đừng bỏ chuồng "Ngày xưa ơi" cụ nhé!

nqbinhdi 17-04-2010 08:37

Bạn tôi
 
Bạn tôi hơn tôi một tuổi song học dưới tôi một lớp. Chúng tôi thân nhau vì cùng là thanh niên cờ đỏ của trường tham gia sinh hoạt với lực lượng thanh niên cờ đỏ khu phố Ngô Quyền Hải Phòng trong cả năm 1971, khi đó tôi mới 16, cậu ấy 17.

Những ngày ấy dọc đường Trần Phú và Quang Trung, trên các bãi rộng nằm kẹp giữa hai đường phố đó chỗ gần Cảng là cơ man các thùng hàng chuyển từ Cảng lên, tuyệt đại bộ phận đều có hàng chữ không bao giờ quên Сделано в СССР. Đề phòng có phá hoại, nhiệm vụ tuần tra canh giữ các khu bãi hàng ấy được giao cho Thanh niên cờ đỏ của Khu phố Ngô Quyền (bây giờ gọi là Quận). Mỗi tuần thanh niên cờ đỏ của trường cấp 3 Thái Phiên chúng tôi có nhiệm vụ phối hợp với thanh niên cờ đỏ của Khu phố từ Công ty ăn uống phục vụ đi tuần quanh khu chứa hàng ấy 1 đêm, những ngày khác thì thanh niên cờ đỏ từ các xí nghiệp khác hay của các tiểu khu trong Khu phố đảm nhiệm. Chúng tôi thường mang băng đỏ và trang bị các đoản côn, cả đội từng đôi đạp xe lai nhau đi tuần vòng quanh các bãi ấy suốt đêm. Cũng từ những đêm tuần tra ấy, bạn tôi kể rằng đã yêu một bạn gái đang học lớp chuyên Văn, cùng là thanh niên cờ đỏ. Họ yêu nhau thế nào tôi cũng không rõ bởi có thấy hai đứa đi riêng với nhau bao giờ đâu, vả lại lúc ấy tôi cũng đang yêu nên có vẻ như chỉ còn để tâm tới chuyện của mình.

Tháng 3-1972, khi này tôi đã lên lớp 10 và bạn tôi vẫn còn đang học lớp 9, vừa qua Tết được chừng vài tuần thì bạn tôi lên đường nhập ngũ. Cả trường tổ chức văn nghệ ở Hội trường Lương Khánh Thiện chỗ gần Cảng để tiễn các bạn ấy lên đường đi chiến đấu. Lớp chúng tôi, như mọi lần, bao giờ cũng hát Thời thanh niên sôi nổiBác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân. Phải nói là chia tay bịn rịn lắm với những dòng lưu bút, những khăn tay của các bạn gái... Tranh thủ lúc chưa tới tiết mục của lớp, tôi chạy bổ ra phố mua quà tặng bạn. Chẳng nhiều nhặn gì, chỉ một cuốn sổ tay nhỏ và chừng một chục cái phong bì và tem thư. Mua xong tôi tạt vào nhà một cô bạn trước học cùng một lớp ở trường Phổ thông công nghiệp để xin cơm dán tem và mượn bút ghi địa chỉ cũng như lời đề tặng. Buổi tối hôm ấy đang có mấy bạn nữa đang học nhóm ở đó, trong đó có cả người tôi đang yêu vụng - vợ tôi bây giờ. Trên một số phong bì, tôi ghi địa chỉ người nhận là mình với dòng chữ in đậm Thư ra Bắc ngay phía dưới dòng địa chỉ. Đấy là theo kinh nghiệm của các anh lính trong đơn vị của cha tôi đi B về. Ngày ấy thì chỉ từ Nghi Lộc trở ra mới có Bưu cục hoạt động, mới có thùng thư. Lính ta đi B thường gửi thư về bằng cách viết thư rồi vứt ngay thư trong phong bì có dán tem với hàng chữ Thư ra Bắc ấy xuống đường trên đường hành quân vào phía trong. Những người lính trên đường ra Bắc sẽ nhặt lấy đem ra tới Nghi Lộc thì bỏ thư vào thùng thư của Bưu điện.

Sau ngày 16-4 thì chúng tôi sơ tán xuống Tiên Lãng để học nốt, thi tốt nghiệp rồi thi ĐH. Cuối tháng Bảy thì tôi nhận được giấy báo gọi đi học nước ngoài - đỗ đầu trong số vẻn vẹn có 8 người của thành phố được tập trung đi học thẳng không phải qua dự bị ngoại ngữ ở Thanh Xuân (đấy là năm cuối cùng còn có chế độ đi thẳng, từ năm sau thì tất cả đều phải học dự bị tiếng ở Thanh Xuân trước khi đi). Trở về thành phố làm các thủ tục tôi thấy trong số thư từ của gia đình do bưu tá nhét vào qua khe cửa có một thư từ bạn tôi, phong bì do chính tay mình viết. Phong bì đầy bùn đất nhưng đã vẫn tới đích. Bạn tôi viết bức thư ấy từ Sê-pôn của Lào khi dừng chân trên đường hành quân, sẽ vào Đồng bằng Sông Cửu Long - cậu ấy viết như vậy. Thư viết vội, kín hai mặt giấy pô-luya. Kể về những cuộc hành quân dài đằng đẵng từ đất Nghệ An, cuối thư mới có một dòng ngắn ngủi nhờ tôi để ý giùm cô ấy.

Tôi chỉ nhận được duy nhất lá thư ấy từ bạn tôi, bây giờ bức thư ấy tôi vẫn còn giữ, chỉ có cái phong bì thì đã thất lạc sau bao lần chuyển nhà.

Tháng Chín năm ấy, từ nơi tập trung đi nước ngoài trên Đại Từ, 23 đứa chúng tôi đã viết đơn tình nguyện quay trở lại đi bộ đội, 14 người về ĐHKTQS để đào tạo sĩ quan kỹ thuật, 9 người còn lại về ĐHQY để trở thành bác sĩ. Bẵng đi rất lâu không có tin tức gì về bạn tôi. Hè năm 1975 được về nghỉ phép, tôi tìm đến nhà cậu ấy định hỏi gia đình tin tức, nhưng hỡi ôi, tới nơi đã thấy người ta dựng rạp ra vỉa hè và đang làm lễ truy điệu cậu ấy.

Tôi đã ngần ngại rất lâu, cuối cùng không dám vào. Một phần tôi sợ bóng quân phục của mình chỉ làm gia đình thêm đau đớn, nhưng chủ yếu là do tôi có cảm giác rất khó tả, đau đớn và mặc cảm. Có cảm giác có lỗi, cứ y như mình đào ngũ vậy.

Cô bạn gái của cậu ấy - bây giờ hiện đang là phó Tổng giám đốc một công ty lớn trong TP HCM - năm 1974 cũng sang Liên xô học ĐH tại Kiev, sau vợ tôi 1 năm. Sau này nghe vợ tôi kể, suốt những năm ở LX cô ấy không yêu ai cả, một dạo thấy khóc nhiều lắm, lập cả bát hương nữa mà không có ảnh. Họ đã kịp tặng ảnh cho nhau đâu.

Chiến tranh. Miền Bắc đã gửi đến những gã thiếu niên cuối cùng ra trận cho ngày toàn thắng. Bao nhiêu bạn tôi ngày hôm qua còn đánh bi trên hè phố, mấy tuần sau còn đang tập bắn bài 1 đã vượt sông Bến Hải vào chiến trường, môi phụ nữ đắng ngọt thế nào nào ai đã kịp biết. Chúng ta nợ những người lính ấy nhiều lắm.

Sau này tôi cũng không tìm được gia đình bạn tôi nữa, cả nhà đã chuyển đi đâu đó. Di hài bạn đã tìm được chưa tôi cũng không hay. Bạn thân mến của tôi ơi, linh hồn bạn giờ ở nơi nao?

thaond_vmc 17-04-2010 10:12

Hoá ra bác là dân gốc Hoa Phượng Đỏ!

Nhà em hồi những năm chưa tiếp quản nằm trên nền chợ An Dương bây giờ. Sau do bà nội em bị đau mắt, nên lại quay về khu nhà cũ trong Tràng Bạch từ năm 1957 để ở và tìm thuốc chữa mắt cho bà em, và cho đến bây giờ theo gia phả thì em là đời thứ tư ở đất Quảng Ninh. Còn bố em ở lại Hải Phòng, đạp xích lô, rồi vào Xí nghiệp Tàu Cuốc, đến năm 1989 nghỉ hưu mới lại về Quảng Ninh sống.

Đêm 16-4-1972, chúng em nhìn về phía HP, dù khuất núi nhưng vẫn thấy lửa cháy rợp trời, các luồng đạn pháo và tên lửa đan chéo nhau, và tiếng gầm rú của máy bay. Cả nhà đều rất lo cho bố em.

Năm 1972, cơ quan bố em cũng sơ tán đâu đó ở ngoại thành, bên Tiên Lãng. Thường thì bố em đạp xe từ HP về đến nhà vào cuối tuần. Cũng mấy lần chết hụt vì bom. Có lần qua phà Bính bố em đạp xe được vài trăm mét thì phà bị đánh bom, khá nhiều người chết; có lần đến Tiên Lãng, chuẩn bị xuống đò thì bom đánh bên kia sông....

Năm đó, cái thôn nhỏ nhà em bên đường 18A củng chỉ có vài lần dính bom và rốc-két, một vài người chết. Mục tiêu ném bom của Mỹ hồi đó là Nhà máy điện Uông Bí, mỏ than Mạo Khê, và mấy trạm trung chuyển xăng dầu theo đường ống ngầm đi ngang qua khu nhà em. Đường ống do mấy chuyên gia Liên Xô cùng công nhân thi công, rãnh đào bằng máy. Tây ta ở luôn ở bãi đá bóng đầu thôn nhà em.

Vài lần đi vào núi đào than về đun, lúc nghỉ leo lên đỉnh đồi hái sim, em cũng thấy máy bay MỸ cắt bom ngay trên đỉnh đầu - loại bom khoan như bác kể, và bom bi - xuống khu mỏ Mạo Khê. Dù đã được phổ biến là không cần sợ khi máy bay cắt bom trên đỉnh đầu, nhưng em cũng phải tìm chỗ chúi kỹ, nhỡ thằng phi công Mỹ nào nhìn thấy em ngứa tay phụt quả rốc-két vào chỗ em đứng thì toi.

nqbinhdi 25-04-2010 02:14

Có ai biết bài hát này không?
 
Giải phóng miền Nam, khắp nơi hân hoan. Đại đội chúng tôi cũng tham gia văn nghệ quần chúng. Người dạy hát cho chúng tôi là anh Quang, tục gọi là Quang "cháy" bởi lưng anh cháy xém lửa bom na-pan khi lăn vào cứu kho ngoài mặt trận. Anh ấy là sinh viên đi chiến đấu, từ chiến trường Quảng Trị 1972 về học với chúng tôi. Bài hát anh ấy dạy chúng tôi hát ngày ấy có lời như thế này, đã 35 năm mà tôi vẫn nhớ:

Ta đi giữa Đông Hà giải phóng đến Cửa Việt nổi sóng lòng biết bao tự hào
Ta đi giữa con thuyền ngập nắng, bỗng thấy mình vụt lớn cùng núi sông kiên cường
Quê mẹ ngàn thương ơi, Quảng Trị-Thừa thiên bao gian khổ triền miên
Mỗi bước chân đi mỗi hạt cát li ti ghi truyền thống anh hùng
Đồng khởi dâng trào cuồn cuộn trôi xác thù, đẹp cỏ cây quê nhà
Biển trời bát ngát cùng ruộng đồng xanh ngát đã trở về tay ta
Hò ơi, hò ơi hò, hò ơi hò ơi hò
Ơi đàn em thơ tung tăng hát ca
Anh chị lại xây cho em mái trường
Nụ cười hân hoan bầy em xếp hàng
Ánh nắng sớm mai rực rỡ khăn quàng
Hò ơi, hò ơi hò, hò ơi hò ơi hò
Nhà ta lại dựng vượt trên hố bom
Dây bí, dây lang, bao mầm xanh nhú lên
Bao chú chim non về đây véo von
Ơi hát lên chim ơi đón mùa lúa mới
Những cánh buồm phấp phới
Những con thuyền ra khơi
Sóng Cửa Việt reo mừng, cùng vui hát khúc ca tự do.


Đã 35 năm nên tôi không còn nhớ bài này tên là bài gì, ai là tác giả. Mấy năm trước vào Tp HCM, lần đầu gặp lại anh Quang sau gần 30 năm không gặp kể từ ngày ra trường, dẫu đã mang quân hàm đại tá, tóc đã ngả màu muối tiêu, tôi vẫn nhảy lên như chú lính trẻ con ngày trước bá cổ anh mà mừng rơi nước mắt. Cùng nhau hát lại bài hát này mà cả anh cũng chẳng còn nhớ đó là bài gì và của ai nữa. Sau này tìm trên Internet mãi cũng không thấy.

Có ai biết bài hát này là bài gì không và nếu có link, vui lòng cung cấp, xin vô cùng biết ơn!

nqbinhdi 11-06-2010 17:36

Tiếng hát Cửa Việt
 
Tiếng hát Cửa Việt

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=o2u2SGQfKY

Mặc dầu cô học trò cũ của tôi tại Trung tâm âm thanh của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV - Voice Of Vietnam) - nơi có kho băng đồ sộ lưu ghi tất cả các bài hát đã dàn dựng và phát trên sóng phát thanh của VOV - có ghi trong e-mail trả lời yêu cầu tìm kiếm của tôi về bài hát này (kèm theo file mp3) như sau:

Sáng tác: Phong Nhã
Ca sĩ: Tuyết Nhung và dàn nhạc Đài tiếng nói Việt Nam
Thu thanh: 8-1973

song tôi vẫn không tin nó được sáng tác bởi Phong Nhã, một nhạc sĩ chuyên sáng tác các bài hát cho thiếu niên.

Các bài hát ngày xưa sở dĩ đến nay nghe vẫn thấy hay bởi nó gắn với những năm tháng đã qua của mỗi một chúng ta, các ca sĩ hát có hồn hơn và nó gần gũi với những người đã từng nghe (bọn trẻ nhà tôi bây giờ nghe thì chỉ bĩu môi, bảo "Hát như dở hơi").

Tiếng hát Cửa Việt có thể nói là một bài hát hay, gắn liền với một sự kiện lịch sử: Hiệp định Paris về Việt Nam và trận Cửa Việt (27-31/3/1973).

Sau rất nhiều năm vừa đánh vừa đàm với sự hy sinh vô bờ bến nhằm làm cho người Mỹ mệt mỏi mà hiểu rằng họ không thể chiến thắng, hay nếu có thắng thì với giá quá đắt, ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về VN đã được ký kết. Trong cuộc dính líu ở Việt Nam, người Mỹ đã huy động một bộ máy chiến tranh khổng lồ: lính Mỹ trực tiếp tham chiến tại VN có lúc đã lên tới hơn nửa triệu (các sư đoàn lừng danh của Mỹ như sư đoàn Kỵ binh bay số 1 - mà một sư đoàn như thế, sư đoàn 101, đã nổi tiếng trong thế chiến 2 trên chiến trường Châu Âu như có thể thấy ở phim Band of brothers - và sư đoàn Thủy quân lục chiến cực kỳ tinh nhuệ, tiền thân là sư đoàn đã từng tham chiến tại mặt trận Thái Bình Dương mà ta đang được thấy trên các phim The Pacific, The flag of our fathers hay Letter from Iwo Jima... đều đã đến VN và đều bị đánh tơi tả - theo Wikipedia, tổng số thương vong của Thủy quân lục chiến Mỹ tại VN là hơn 64 ngàn trong đó tử trận hơn 13 ngàn người, 2 lính Mỹ tử trận cuối cùng trong chiến tranh VN vào ngày 28/4/1975 trong trận oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất của không quân VN đều là thủy quân lục chiến, sau chiến tranh VN vị thế của thủy quân lục chiến Mỹ trong quân đội Mỹ xuống thấp chưa từng có) cùng với một khối lượng khí tài QS và viện trợ lên tới hơn 300 tỷ USD với giá đô-la Mỹ được quy định tại hiệp định Bretton-Woods năm 1944 là 35 USD/ounce vàng (tính theo giá ngày nay thì số tiền đó lên tới chừng hơn 10 ngàn tỷ, hơn 100 năm GDP của VN năm 2009).

Hiệp định Paris về bản chất là lá bùa để nước Mỹ rút khỏi chiến tranh VN trong danh dự với rất nhiều điều khoản có tính then chốt mà chính phủ VNDCCH đòi hỏi. Các điều khoản khác đều nhanh chóng trở nên vô nghĩa và ngay sau ngày quân Mỹ rút hết khỏi VN (28/3 năm 1973) hiệp định về thực tế trở nên vô giá trị.

Trận Cửa Việt diễn ra trong bối cảnh như vậy.

Sau chiến dịch mùa hè 1972, mặc dù đã tái chiếm được thành cổ Quảng Trị với sự trợ giúp của pháo từ Hạm đội 7 và máy bay ném bom chiến lược B52 song quân đội VNCH đã không còn đủ sức lấy lại rất nhiều vùng đất đã rơi vào tay quân giải phóng. Vì vậy, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, vùng Đông Hà, Quảng Trị đã trở thành vùng đất giải phóng hoàn toàn, nối một dải tới bờ bắc sông Bến Hải. Những câu hát mở đầu bài hát ngợi ca cảnh hòa bình trở lại, khung cảnh hòa bình đã phải đổi bằng máu của hàng chục ngàn chiến sĩ, trong đó có hàng ngàn người là sinh viên học sinh từ các trường ĐH và trung cấp miền Bắc. Huyện đội phó Huyện đội Hải Lăng, nữ anh hùng Trần Thị Tâm cũng đã anh dũng hy sinh trong chiến dịch Quảng Trị.
Ngày hiệp định Paris được ký kết, binh lính cả hai bên ở vùng Quảng Trị đã hòa vào nhau mừng rỡ. Song rất nhanh chóng, sự mừng vui ấy kết thúc. Ngày 27/3, một ngày trước khi hiệp định bắt đầu có hiệu lực về phân vùng kiểm soát, mấy tiểu đoàn thủy quân lục chiến của quân lực VNCH với khoảng 100 chiến xa đã táo tợn bỏ xa đội hình bất ngờ tiến đánh, chiếm căn cứ quân cảng Cửa Việt và cắm cờ VNCH trước lúc hiệp định có hiệu lực có vài phút. Nói táo tợn là vì các tiểu đoàn đó đã triển khai một đội hình dài, hở sườn, hầu như không có yểm trợ của không quân và pháo hạm, dọc theo bờ biển bất thần đánh dữ dội nhằm chiếm quân cảng mà quân lực VNCH do không còn đủ sức đã phải bỏ không thể tái chiếm sau chiến dịch Quảng Trị 1972. Trận đánh chống lấn chiếm xảy ra ngay sau đó với sự tham chiến của các xe tăng T59 và PT76 do TQ và Liên xô chế tạo. Vì bị cô lập, cắt rời xa khỏi chiến tuyến, các tiểu đoàn thủy quân lục chiến VNCH đó đã bị đánh tiêu diệt gần hết, số còn lại buộc phải rút chạy. Cờ MTDTGPMNVN lại được cắm trở lại trên các vọng gác của căn cứ. Cái câu "Lớp lớp con yêu quân giải phóng hiên ngang trên vọng gác vinh quang" trong bài hát là nói về những người lính giải phóng trên các vọng gác căn cứ Cửa Việt sau trận phản công chống lấn chiếm ấy. Mấy câu sau đó cũng nói "Quân thù xâm lăng từ đây chớ hòng lấn chiếm tấc gang Tổ quốc anh hùng" là thế.

Tôi đã tìm kiếm bài hát này rất lâu trên Internet mà không thấy. Cuối cùng đã phải gọi điện thoại nhờ học trò cũ tại Trung tâm âm thanh VOV. Mặc dầu trong e-mail gửi họ tôi đã ghi sai cả tên bài hát, tên tác giả lẫn ca sĩ thể hiện (các thông tin có được nhờ trao đổi trên các 4R, từ vài người đã từng biết bài hát này). Thế mà rất nhanh chóng họ đã tìm ra, có lẽ cũng nhờ mấy câu hát đầu mà tôi đã chép ra gửi họ. Xin rất cám ơn sự giúp đỡ nhanh chóng và hiệu quả của những người làm việc trong Trung tâm âm thanh VOV.

TLV 11-06-2010 19:31

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 59678)
Tiếng hát Cửa Việt

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=o2u2SGQfKY

Mặc dầu cô học trò cũ của tôi tại Trung tâm âm thanh của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV - Voice Of Vietnam) - nơi có kho băng đồ sộ lưu ghi tất cả các bài hát đã dàn dựng và phát trên sóng phát thanh của VOV - có ghi trong e-mail trả lời yêu cầu tìm kiếm của tôi về bài hát này (kèm theo file mp3) như sau:

Sáng tác: Phong Nhã
Ca sĩ: Tuyết Nhung và dàn nhạc Đài tiếng nói Việt Nam
Thu thanh: 8-1973

song tôi vẫn không tin nó được sáng tác bởi Phong Nhã, một nhạc sĩ chuyên sáng tác các bài hát cho thiếu niên...

Chính là bài hát của nhạc sĩ Phong Nhã đấy bác ạ. Tôi nghe bài hát ngay từ khi được phát lần đầu tiên trên đài, và xin xác nhận những thông tin của "cô học trò cũ" là hoàn toàn chính xác.

nqbinhdi 31-01-2011 14:52

Có ai biết tên, tác giả và có link download bài hát này không, cho tôi xin với. Bài hát về thành phố Hải Phòng đau thương mà anh dũng của tôi. Bài hát có lời như sau:

Anh có nghe chăng?
Lời gió ngân xa
Cất tiếng hát về thành phố chúng ta
Những nụ cười duyên đang dộn dịp vào ca
Những mái tóc mềm chưa phai mùi khói súng
Những chuyến tàu bè bạn băng lưới vây
Vượt sóng, đậm đà tình đồng chí, vẫn ghé bến thân quen.
Rạo rực hoàng hôn, hải cảng lên đèn
Xôn xao cả bình minh, tiếng con chim hót
Dòng sông rì rầm đưa sóng xô dào dạt
Giọng hát trẻ thơ gọi mạch đất thay da
Thành phố chúng ta
Thành phố chúng tôi
Ấm áp trong tim lời dạy của Người
Là lời sông núi âu yếm bên vành nôi
Ngọt bùi cay đắng, ngân tiếng ru à ơi.

nqbinhdi 17-02-2011 12:12

Ngày này 32 năm trước TQ nổ súng tiến công trên toàn tuyến biên giới, mở đầu chiến tranh biên giới hơn 10 năm.

Không thấy một dòng tin nào hôm nay về chuyện ấy.

Chiều 16-2-1979, tôi và anh Báu - thượng úy, PTS mới từ Nga về lên tới quân khu bộ QK2 tại Thậm Thình. Ăn tối ở nhà ăn xong thì chúng tôi đi ngủ sớm vì đã đi cả ngày - bằng xe lửa lẫn đi bộ - từ Hải Phòng lên. Do mới tới nên anh em xếp cho chúng tôi ngủ tạm tại một gian nhà lá bên cạnh Phòng Thông tin QK.

Nửa đêm cho tới gần sáng, chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại réo không dứt ở phòng trực bên cạnh. Thấy đèn đuốc sáng tất ở các phòng và người chạy qua chạy lại rất nhiều. Không ngủ lại nổi, tôi mò dậy đi xuống giếng nhà ăn để đánh răng rửa mặt. Hôm qua từ nhà ăn về, đường thì quang quẻ mà sáng nay xuống giếng, mấy lần tôi vấp ngã dúi dụi. Định thần nhìn và sờ soạng kỹ mới thấy là mình vấp phải dây điện thoại dã chiến lính ta mới rải đầy trên mặt đất. Trở về phòng thông tin thì nghe tin tức đầu tiên từ sĩ quan trực, báo rằng đêm hôm qua, địch đã tiến công chiếm đồn biên phòng Na Rì. Địch đã đánh vào quân khu, các bộ phận chỉ huy sở chính của quân khu đang ráo riết hoạt động, thông tin thì nắm tình hình địch, cố gắng bắt liên lạc với các toán trinh sát đã được tung vào đất TQ từ trước để nắm động tĩnh/tình hình điều động binh lực địch (liên lạc về bằng máy vô tuyến 15W). Đến bản tin 6 giờ sáng thì chúng tôi được biết qua đài phát thanh rằng địch không chỉ đánh lẻ ở QK2 mà trên cả toàn tuyến biên giới phía Bắc. Chiến tranh!

Cái cảm giác khi nghe bản tin thông báo chiến tranh lúc ấy của tôi rất lạ, vừa xao xuyến tiếc nuối khi hiểu giai đoạn hòa bình ngắn ngủi chưa đầy 4 năm sau chiến tranh chống Mỹ đã kết thúc, lại sẽ đến những hy sinh, gian khó, vừa căm giận khôn cùng. Những người bạn vừa mới ngày nào còn đổ ra ngập các con đường của thủ đô Bắc Kinh hò reo vui mừng với chiến thắng ngày 30-4, nay đã quay ngoắt lại thành những tên kẻ cướp. Tự nhiên, rất nhanh, tôi thầm hỏi không biết những người dân xô viết, những người lính hồng quân Liên xô năm nào có cảm giác như tôi không khi nghe Levitan đọc thông cáo nhà nước về chiến tranh xâm lược của nước Đức quốc xã. Dẫu không bất ngờ, bởi cuộc tấn công kẻ cướp này đã được dự liệu (Tết năm đó chúng tôi ở tình trạng báo động, chỉ chúng tôi - những người sắp đi Biên giới tăng cường cho các đơn vị trên đó - mới được đảo vài ngày về qua nhà), vẫn có cảm giác hụt hẫng thế nào ấy.

Sau vài ngày huấn luyện cấp tốc sử dụng thiết bị trạm tải ba cho lính đại đội 2 thông tin trực thuộc phòng thông tin QK và lắp đặt trạm tải ba 3 đường từ Quân khu bộ lên Yên Bái - từ đó sẽ lắp đặt tiếp tuyến tải ba 3 đường mới lên chỉ huy sở tiền phương quân khu đóng gần Phố Ràng (vài ngày sau đó tôi cũng tham gia lắp đặt trạm phía Phố Ràng, đặt cạnh đội điều trị 90 tiền phương quân khu), tôi lên tiền phương, tham gia bảo đảm thông tin chiến đấu tại trung đoàn thông tin 604 của QK2.

Mấy chục năm sau nhớ lại mới thấy, có lẽ mấy tuần ở mặt trận ấy tôi đã học được rất nhiều điều, có lẽ hơn tất cả mọi điều đã học được suốt hơn 6 năm đời lính trước đó. Nhiều điều có lẽ sẽ không bao giờ có thể quên.

htienkenzo 17-02-2011 14:45

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 79187)
Ngày này 32 năm trước TQ nổ súng tiến công trên toàn tuyến biên giới, mở đầu chiến tranh biên giới hơn 10 năm.

Không thấy một dòng tin nào hôm nay về chuyện ấy.
...
... Nhiều điều có lẽ sẽ không bao giờ có thể quên.

Tôi là kẻ hậu sinh, nhưng tôi đã được sống trong không khí những ngày sôi sục đó. Tôi vẫn biết có đợt tổng động viên đi chiến trường K mà các anh gần chỗ tôi ở phải lên đường, kể cả ở trường cấp 3. Chỉ một thời gian ngắn thôi, lại xảy ra chiến tranh ở biên giới phía Bắc. Thông tin khi ấy chỉ có trên Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân.
Ba tôi kể cho tôi nghe rất nhiều về sự kiện này. Kể cả các sự kiện trước nữa, bởi anh trai tôi trước đây đã từng học ở Trung Quốc, sau đó bị lùa về nước trước khi anh ấy đi học ở Đông Âu.
Tôi thường truyền đạt lại cho thế hệ sau tôi về ngày 17 tháng 2 năm 1979. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in ca khúc "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới", phim "Đất Mẹ"...

"Không thấy một dòng tin nào hôm nay về chuyện ấy", nhưng đây là điều không được phép lãng quên với bất cứ lý do gì!

nqbinhdi 17-02-2011 16:54

Trích:

htienkenzo viết (Bài viết 79193)
Tôi là kẻ hậu sinh, nhưng tôi đã được sống trong không khí những ngày sôi sục đó. Tôi vẫn biết có đợt tổng động viên đi chiến trường K mà các anh gần chỗ tôi ở phải lên đường, kể cả ở trường cấp 3. Chỉ một thời gian ngắn thôi, lại xảy ra chiến tranh ở biên giới phía Bắc. Thông tin khi ấy chỉ có trên Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân.
Ba tôi kể cho tôi nghe rất nhiều về sự kiện này. Kể cả các sự kiện trước nữa, bởi anh trai tôi trước đây đã từng học ở Trung Quốc, sau đó bị lùa về nước trước khi anh ấy đi học ở Đông Âu.
Tôi thường truyền đạt lại cho thế hệ sau tôi về ngày 17 tháng 2 năm 1979. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in ca khúc "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới", phim "Đất Mẹ"...

"Không thấy một dòng tin nào hôm nay về chuyện ấy", nhưng đây là điều không được phép lãng quên với bất cứ lý do gì!

Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới!

Lần đầu tiên tôi nghe ca khúc này là trên mặt trận, hôm đang lội bộ xuống trạm tải ba của trung đoàn nằm cách trung đoàn bộ hơn 10 km để sửa máy TCT (máy tải ba 1-2 đường do Hungary sản xuất). Dạo ấy vừa mới đánh nhau được chừng mươi hôm, đi xuôi xuống thì đừng hòng vẫy nổi xe nào cho đi nhờ, chỉ đi lên thì mới lại dễ bám nhờ theo xe lên tuyến trước được (cánh lái xe, cả quân sự lẫn dân sự chạy xuôi chỉ chở dân chạy giặc là cùng chứ lính thì đừng hòng, có lẽ họ sợ nhỡ cho nhầm anh lính đào ngũ nào đi nhờ chăng). Đang cuốc bộ đi xuống theo đường Hữu Nghị 7*, bất chợt nghe vọng ra từ ca-bin một xe vận tải đang đi ngược lên cái câu hát ấy, chắc từ máy thu thanh của anh lính lái xe. Chỉ được có mỗi câu ấy, các câu sau quá nhỏ, nghe không rõ nữa do xe đã chạy qua.

Dẫu không nghe hết được bài hát nhưng cái câu ấy vọng ra, nghe như tiếng kêu giận dữ. Cảm xúc rất khó tả.

Lúc ấy địch đang rất mạnh, trên hướng Hoàng Liên Sơn, địch đã vào khá sâu, tràn qua thị xã Lào Cai, tiến xuống ngã ba bản Phiệt, một mặt đánh thúc xuống theo đường Hữu nghị 7 tới tận ngã ba Cốc Sam đường đi sang ga Phố Lu, một mặt vòng ngược lên đánh tập hậu thị trấn Mường Khương. Lực lượng ta phía này rất mỏng, chỉ vẻn vẹn có 2 trung đoàn bộ binh bộ đội địa phương là e196 (ngay trong đêm đầu tiên 16-2 đã bị địch bí mật tập kích vào chỉ huy sở gây thương vong nặng ban chỉ huy), e254 và trung đoàn pháo binh 168 của quân khu, chống lại mấy sư đoàn địch. Bên kia sông Hồng thì có sư đoàn 345 của ta đang cố sức chống đỡ, bảo vệ mỏ Cam Đường (mỏ a-pa-tít Lao Cai), xa hơn, sư 316 (thiếu) đang quần nhau với địch, cố giữ Sa Pa. Cả thảy địch huy động gần 10 sư đoàn tiến công rất ác liệt. Đạn đã bắt đầu rất thiếu, sau mấy hôm đánh nhau thì lính thông tin chúng tôi đi nối dây trong rừng 2 người chỉ có 1 AK và được phát chỉ vẻn vẹn 3 viên đạn, tất cả dành để đưa ra các chốt. Đã đến lúc bộ đội truyền nhau câu: "Không thể lùi nữa, phía sau chúng ta là thủ đô Hà Nội!". Trên đường quốc lộ đã thấy ngày đêm các đoàn xe kéo pháo và chở đạn ngược dốc leo lên.

Cái câu hát ấy lúc ấy với tôi nghe như tiếng kêu báo tin dữ, thảng thốt báo tin giặc cướp đã tới, gọi mọi người cùng xông ra cứu nước nhà, gọi hậu phương chi viện cho tiền tuyến. Xúc động lắm, cũng mừng lắm bởi chi viện của hậu phương đã và đang tới.

*) Đường Hữu Nghị 7: Là đường quốc lộ từ Lào Cai xuống Yên Bái nối vào đường QL số 2. Do Trung Quốc giúp làm nâng cấp trong thời gian chiến tranh chống Mỹ nên hồi đó được đặt tên là đường Hữu Nghị. Dân người Mán bên đường gọi là châu lồ (có lẽ nghĩa là châu lộ - đường liên châu ngày trước).

nqbinhdi 03-06-2011 11:27

Kỷ niệm chiến trường

Cuối tháng hai 1979, chúng tôi - tôi và thượng úy PTS Trần Bá Báu - đang công tác trong đội hình Trung đoàn thông tin 604, QK2. Chúng tôi được phân về trung đoàn bộ ngay từ hôm đầu tiên lên tới mặt trận tiền phương (21-2).

Sau ngày 24/2, trung đoàn đã cùng chỉ huy sở tiền phương quân khu rời khỏi khu vực cũ thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Hoàng Liên Sơn (bây giờ thuộc tỉnh Lào Cai) trên đường từ ngã ba Cốc Sam trên đường Hữu nghị 7 (nay là đường 70) đi sang ga Phố Lu (ven sông Hồng), rút xuống phía dưới chừng 10 km, đóng tạm ở nhà người dân tộc Dao (Mán) ven đường HN7. Chúng tôi rút lúc 9h tối hôm trước thì 4h sáng hôm sau pháo địch đã bắn trùm vào khu vực đóng quân cũ (vẫn còn lại một bộ phận nhỏ do một thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy giải quyết nốt một số khâu cuối cùng) và đến 10h sáng thì bộ binh địch đã tràn vào nơi đóng quân cũ của trung đoàn bộ. Cái xe com-măng-ca Rumani cũ của trung đoàn chở anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó và nhóm lính cuối cùng của trung đoàn chạy về đến trung đoàn bộ thì đã thấy trên thành xe chi chít vết đạn AK do lính TQ bắn đuổi theo, may mà cả toán không ai bị sao cả. Cơ mà các anh vẫn còn kịp chở theo rất nhiều mía, chặt ở ruộng nhà dân (lúc gặp nhau, chặt một thanh mía đưa cho tôi, anh Hộ hềnh hệch cười bảo "Chặt mang đi hết, không cho bọn Tàu ăn chứ"). Dân và lính ta lúc đó rút đến đâu đều được lệnh không để lương thực thực phẩm lọt vào tay địch - cái mạnh song cũng chính là điểm yếu chết người của bọn Khựa là quân đông (và ô hợp), thiếu lương ăn là chắc do địa hình hiểm trở, đường giao thông thì rút đến đâu công binh ta phá đến đó, không thể tiếp tế kịp.

Được độ một hôm, sau bữa tối Trung đoàn trưởng (anh Quắc) gọi chúng tôi đến bảo rằng hiện giờ từ cánh trái (tả ngạn) sông Hồng chỗ sở chỉ huy tiền phương quân khu bộ sang cánh phải sông Hồng bên mỏ Cam Đường đang mất liên lạc, đã gần 2 hôm rồi. Lính đang cố gắng khắc phục mà chưa được. Trên phòng thông tin quân khu chợt nhớ ra có 2 anh "lính Bộ" là chúng tôi - một kỹ sư và một PTS - nên yêu cầu chúng tôi lên chóp tiếp sức để khắc phục.

Từ cánh trái sông Hồng (chỉ huy sở tiền phương QK) sang cánh phải sông Hồng (nối tới sư đoàn 345 của Đại tá Mai Lan đang quần nhau khốc liệt với cả mấy sư đoàn TQ để giữ mỏ a-pa-tít Cam Đường, nối tiếp sang Sa-pa do sư đoàn 316 anh hùng (thiếu một trung đoàn) đang quần nhau với địch đông gấp 5-6 lần để giữ thị trấn Sa-pa, lúc đó có mấy cách liên lạc: a) Đài vô tuyến tiếp sức (vô tuyến chuyển tiếp, bây giờ hay gọi là máy vi ba) sử dụng máy tiếp sức 2 kênh cao tần P401 của Liên xô; b) Hệ thống chóp vô tuyến 2W sử dụng máy P105Д của Liên xô, gồm các chóp núi nằm thành dãy, chuyển tin điện báo qua từng chóp - rất chậm; c) Liên lạc chạy bộ do quân bưu đảm nhiệm và d) Chuyển tin vòng về bộ Tổng qua hệ thống vô tuyến tiếp sức hoặc tải ba về Hà Nội rồi chuyển bằng đường thông tin từ Hà Nội lên cánh phải sông Hồng - hết sức nhiêu khê và chậm chạp. Đứt đường liên lạc tiếp sức từ cánh trái sang cánh phải do vậy hết sức nghiêm trọng, tướng Vũ Lập, tư lệnh trưởng QK2 hầu như không thể liên lạc để chỉ huy và chi viện cho các sư 345 và 316 được.

Vốn sư 345 khi đó không có trang bị máy tiếp sức, có chiến sự nên BTL Thông tin tăng cường cho sư đoàn một xe P401. Các anh đưa xe lên đi đêm lớ ngớ thế nào lại lọt vào khu vực địch vừa mới chiếm (làm sao mà biết được vì trận tuyến thay đổi từng giờ), bị địch bắn rất rát, may sao chạy được (ban đêm lính Khựa cũng nhát, không dám đuổi theo). Thế nhưng một xe có 2 máy P401 thì sau đó phải chôn một máy xuống, hủy xe vì đã bị pháo địch bắn hỏng, chỉ mang vác một máy di chuyển theo đội hình sư đoàn được (lúc đứt liên lạc, sợ rằng máy mang theo bị hỏng, các anh ấy mò lại tìm cái máy đã chôn xuống thì ôi thôi, pháo TQ đã bắn lật cả lên rồi, nát hỏng không còn dùng được nữa). Bấy giờ, chỉ còn hy vọng đầu bên chúng tôi máy hỏng và chữa được thì sẽ nối thông lại liên lạc được.

Đặc điểm của máy vô tuyến tiếp sức là làm việc trong tầm nhìn thẳng LOS (Line-Of-Sight). Không liên lạc được, lại sợ rằng do bị che chắn bởi rừng núi Tây Bắc điệp trùng, anh em lính ta đã vác bộ máy leo lên một đỉnh núi mà theo bản đồ thì sẽ không còn bị che chắn sang phía bên Cam Đường. Mỗi khối máy (vài khối máy như thế) vài chục cân, riêng máy nổ gần 70 kg, đều là sức người tải lên trong đêm cả (ban ngày thì phải triển khai máy dò sóng bắt liên lạc nên không di chuyển được). Có cậu lính trẻ măng được giao mang ăng-ten, nửa đêm mang cái ăng-ten chữ thập dài kềnh cành leo dốc - mưa, dốc núi trơn nhẫy, lại còn vướng víu vì không nhìn thấy gì trong đêm mưa - nên đành cắm ăng-ten tạm xuống, che ni-lông lính lên ngồi thu lu chờ sáng nhọ mặt người mới rõ đường mà leo tiếp lên được.

Nhận lênh lên chóp chữa máy, sáng sớm hôm sau, mỗi người được phát 1 bánh mì không nhân và một đoạn mía dài chừng hơn 1 mét làm lương ăn. Nhét cái bánh mì vào xắc-cốt đựng cái đồng hồ vạn năng, dùng cây mía làm gậy chống, tôi và anh Báu cuốc bộ vào chỉ huy sở tiền phương Quân khu, 2 anh em mới có một khẩu K54 của tôi làm vũ khí hộ thân - dạo ấy thám báo địch hay luồn sâu vào để bắt "lưỡi" nên cũng phải rất cẩn thận, đường rừng vắng vẻ chứ có phải như dưới xuôi đâu mà nhởn nhơ được. Gần 10h sáng mới vào tới nơi, sâu trong rừng 4-5 km. Tổng đài QK là một cái lều bạt dựng ven suối vắng hoe, có mỗi một cô lính thông tin trẻ măng đang luôn tay rút và cắm phích nối liên lạc, anh em đang đi rải hay nối dây cả, chỉ có 1-2 người đang sốt nằm bẹp trên những tấm ván gác trên đầu các cọc vầu cắm vội xuống nền đất ướt nhoẹt vì mưa vào cả đến chỗ nằm, mặt mũi đỏ dừ, mệt mỏi vì thiếu thuốc men và cả lương thực, thực phẩm nữa. Có bao nhiêu thuốc mang đi từ dưới xuôi chưa dùng, tôi dốc cả ra cho anh em. Ác nhất là không có người dẫn đường lên chóp, núi thì cao và rừng thì rậm rì, song chả lẽ lại chịu bó tay. Anh Báu thì bảo cứ chờ người dẫn thôi, biết đường nào mà lần lên chứ. Tôi thì nghĩ khác, 1 phút mất liên lạc có khi phải đổi bằng bao nhiêu mạng chiến sĩ. Vì vậy tôi bảo cô trực tổng đài chỉ cho tôi đôi dây điện thoại nối từ tổng đài lên chóp. Cứ lần theo đó mà lên.

Một mình tôi chống cây mía, lần theo đôi dây bắt đầu leo lên. Trời mưa nên đường rất trơn, dây kéo theo đường thẳng nên không có lối mòn gì hết. Tôi cứ bám sát đôi dây, gặp bụi rậm lắm mới đi vòng, mắt không dám rời đôi dây sợ lạc. Khẩu K54 phải giắt trong bụng, lúc này mới thấy cái lưỡi lê AK tôi mang theo thật hữu dụng: phát cành, phạt cây băng băng. Gặp những thành dốc đứng, tôi cắm lê vào thành dốc, bậy ra một lỗ đủ để đặt mũi giày, bám cỏ/cành cây phía trên mà cứ thế từng bước leo ngược mãi lên. Có đoạn đang leo lên một cái dốc, được chừng 3m rồi thì búi cỏ tôi bám vào đu người leo lên bung ra, thế là lộn nhào xuống. Lại cũng cứ là cái lưỡi lê AK cứu tôi - đang lộn nhào xuống, rất nhanh, tôi huơ lưỡi lê cắm xuống đất ghì lại, nhờ thế mà cản được đà rơi, khỏi gãy cả cổ. Cứ thế, gần 1h chiều mới lên tới đỉnh núi. Gần 1 tiếng sau thì anh Báu có người dẫn đường cũng lên tới nơi. Giở bánh mì ra để ăn thì hỡi ôi, bánh mì ngấm nước mưa đã nát ra thành một món cháo loãng trong túi ni-lông, cây mía đã cụt ngủn do bị dùng làm gậy chống, chỉ còn một đoạn chừng 40cm, đành dóc ra gặm tạm. Vẫn còn hơn anh em lính chóp, đã gần 2 ngày chưa có gì vào bụng, anh nào anh nấy ướt sũng bởi mái bạt dựng vội chỉ đủ che cái P401, mọi việc đang rối bời bởi cứ một chốc lại có điện thoại từ phòng TT gọi lên giục giã xem đã nối thông được liên lạc chưa.

Chóp tiếp sức là một cái đỉnh núi bằng phẳng, rộng chừng 3 gian nhà, nhô lên vài cụm đá, trong đó có 1 cái hang nhỏ đủ chỗ để đài tiếp sức P401 đang liên lạc về Bộ Tổng tư lệnh hoạt động và một tổ máy P105Д đang nheo nhéo chuyển tin sang bên kia sông Hồng (vòng vèo qua chừng 5-7 đài như thế rải rác trên các mỏm núi khác - gọi là các chóp P105Д). Trạm máy hỏng được đặt dưới một mái bạt toen hoẻn, ngồi đo là giơ lưng hứng nước mưa. Chúng tôi hì hục đo các thông số máy, phán đoán, lại đo, lại phán đoán và kiểm tra. Mãi tới gần 4h chiều mới phát hiện ra dây nuôi ăng-ten bị đứt ngậm ngay đầu nối vào chữ thập ăng-ten. Cái ăng-ten kềnh càng trước đó được gá trên một cành cây xoan mọc chìa từ đỉnh núi ra. Anh em lính trạm thì ngại trèo lên dỡ xuống vì rất ít khi ăng-ten lại hỏng, chỉ nhất loạt tin rằng máy phía đầu bên Cam Đường hỏng, nói sao cũng không chịu trèo lên gỡ xuống để kiểm tra. Tôi đành trèo lên gỡ xuống, vắt vẻo trên cành cây chìa ra nhìn xuống vực sâu hun hút cả 60-70m mới rợn hết cả xương sống. Không có cái gì để hàn nối (mỏ hàn mang theo sài điện 220V mà máy nổ thì lại là điện 110V!) nên đành cử một cậu chạy bộ xuống lấy ăng-ten dự phòng lên. Mãi đến 18h, đã nhập nhoạng sương núi đang xuống trắng đục cả buổi chiều muộn cậu lính mới quay trở lên, vác theo một cái xà ăng-ten xương cá chữ thập dài ngoằng ngoẵng, hai đầu treo toòng teng hai cái chậu nhôm quân dụng: một đầy cơm, một đầy thịt - bảo là lúc rút từ trên Xuân Quang về, đại đội bắn được một con lợn của dân ta thả rông, không kịp mang chạy giặc, bây giờ dành ưu tiên cho anh em trên chóp đã hai ngày nhịn đói.

Treo ăng-ten lên, buộc một đoạn dây thừng vào đầu để kéo quay ăng-ten chỉnh hướng, mãi 18h25, trong ống nghe tổ hợp đeo tai mới vọng lên từ rất xa xăm hiệu gọi của đài bạn "Sông Hồng gọi Sông Lô, nghe rõ trả lời!", dù rất xa xôi song cũng đủ nhận thấy tiếng gọi đã khàn đặc, có lẽ họ đã gọi như thế suốt cả 2 ngày nay rồi. Thật là mừng rơi nước mắt. Chỉnh hướng ăng-ten cho tín hiệu mạnh nhất xong, gọi điện báo về phòng Thông tin rồi anh em mới xoay ra chăng lại bạt, phát cành, đốt lửa chuẩn bị ăn tối. Đèn báo kênh làm việc sáng suốt trên mặt máy, anh em lính cười bảo: "Kệ các bố ấy nói thôi, bí đái cả 2 ngày nay rồi bây giờ cho các cụ ấy nói thỏa sức!" - là nói tư lệnh quân khu với các cấp chỉ huy chiến đấu đã vô cùng sốt ruột suốt 2 ngày qua. Cậu Kỳ, 23 tuổi, thượng sĩ trạm trưởng người Kỳ Anh ôm lấy tôi và bảo "May quá có các anh lên giúp sửa chứ không mất liên lạc hẳn thì chúng em chỉ có nước ăn kỷ luật cả loạt". Y bảo tôi thế này: "Anh ơi, giữa chiến trường chẳng có gì làm kỷ niệm cả, anh cho em bóp dái anh một cái để nhớ nhau cái ngày hôm nay anh nhé!". Nói rồi là làm liền, không để cho tôi phản ứng gì, chỉ thấy đau điếng, nổ cả đom đóm mắt. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái giây phút ấy. Nghĩ mà thương anh em lính lắm, và cảm phục nữa, có lẽ không có lính ở đâu trên thế giới này lại ngoan cường như lính ta cả đâu - sau này một lần nữa tôi lại được chứng kiến anh em ta đói khát, ghẻ lở, thiếu thốn đủ đường (cơm nấu chín xúc ra rá, còn một ít cháy để lại đun thành than rắc ăn thay muối, chỉ có vậy thôi) mà vẫn kiên cường bám chốt giữ đường biên trên Thất Khê năm 1984, một tấc không chịu lùi.

Hai cái chậu nhôm ấy nhẵn thín ngay, 7 anh em đánh một loáng là sạch bay cả cơm lẫn thịt, nhưng mà vui lắm. Trời đã tối đến mức không thể lần xuống núi nên bọn tôi đành ngủ lại với trạm. Thấy cả bọn hốc hác, mắt thâm quầng vì đã mấy đêm thức, tôi bảo cho tôi trực máy cùng, cắt cho tôi phiên giữa đêm để anh em được ngủ. Trừ một chú lính giữ máy nổ trong cái hang phía dưới, 4 lính trạm và tôi chia nhau một cái chiếu con rải sát máy, một người ngồi trực, 3 người nằm ôm nhau co quắp ngủ trên chiếu, chăn bông không vỏ sũng nước như vừa giặt xong, giữ ấm nhờ một đống lửa đốt cả gỗ nguyên cây. Tôi bảo anh em: "Tớ là sĩ quan, phải làm gương, nên nhường cho các bạn nằm trong chiếu, tớ nằm ngoài đất". Căng cái áo mưa sĩ quan bằng vải bạt do Liên xô viện trợ lên (buộc túm tó ống tay với các vạt áo ra các cành cây), chỉ đủ che mặt, tôi gối đầu trên xắc-cốt ngủ, trên trời mưa xuống mà dưới lưng thì lõng bõng bùn. Thế mà cũng ngủ được mới lạ, chỉ thức 2 tiếng giữa đêm thay ca trực máy. Sáng hôm sau mới lần xuống núi về Trung đoàn.


PS: Mấy ngày hôm nay, cư dân mạng xôn xao chuyện tàu TQ phá đám. Bên trang của các cựu LHS quân sự Hung chúng tôi, có người còn nhắn tin bằng điện thoại cho nhiều members trách "sao không thấy bàn bạc gì trên forum, hay đã nguội lạnh lòng yêu nước?". Mới lẩn thẩn ngồi nhớ lại chuyện năm nào kể hầu các bác. Vẫn nhớ câu thơ xưa "Bạch đầu quân sĩ tại/Vãng vãng thuyết Nguyên Phong" (Người lính già đầu bạc/Kể mãi chuyện Nguyên Phong".

htienkenzo 03-06-2011 14:19

Không nhắc đến, nhưng không có nghĩa lãng quên!
 
Tội ác của quân xâm lược:

http://i964.photobucket.com/albums/a...kenzo/3016.jpg

http://i964.photobucket.com/albums/a...nzo/LngSn2.jpg

http://i964.photobucket.com/albums/a...enzo/LngSn.jpg


Quân xâm lược phải nhớ đến những bài học Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa:

http://i964.photobucket.com/albums/a...1062590580.jpg

http://i964.photobucket.com/albums/a.../tu_20binh.jpg


Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên:

http://i964.photobucket.com/albums/a...o/untitled.jpg
:die_die:

Saomai 03-06-2011 15:04

"Ngày xửa ngày xưa", chưa lâu lắm, có một cây gạo (mộc miên) được trồng ở khu Cửa khẩu Thanh Thuỷ, Hà Giang. Năm 1979, nó còn nhỏ lắm, nhưng đã trải qua cuộc chiến tranh với chiến thuật "biển người" thảm khốc. Trên thân cành nó còn ghi lại dấu tích đạn quân thù...

32 năm sau, cây gạo ấy đã gắng gỏi lớn lên, như sức sống bất diệt VN. Những vết đạn năm nào trên thân cây cũng lớn lên, và còn lớn nữa...

Đi qua cửa khẩu này, nhìn cây gạo "lạ", nếu không biết đến những gì nó đã trải qua, thật khó biết vì sao nó lại ra như thế.

http://i917.photobucket.com/albums/a...mai09/gao2.jpg

Kóc Khơ Me 10-10-2011 20:26

Ngày 27.01.1973 Hiệp định Paris được các bên đặt bút ký kết. Tháng 03 năm ấy Nhà nhiếp ảnh Werner Schulze đã ghi lại một số hình ảnh Miền Bắc VN lúc ấy. Nhân việc đọc thấy các báo VN đăng tin này nên lò dò trên mạng internet, tìm thêm một số ảnh sau của ông:

Vietnamese farmers plough the rice fields with water buffalos next to Street Number 1 in North Vietnam, photographed in March 1973 near Dong Hoi at the 17th degree of latitude. (Cấy lúa ở Đồng Hới cạnh QL 1A)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932291.jpg

A Vietnamese woman with straw hat waters a rice field with an ordinary device in the province Nam Ha in North Vietnam, photographed in March 1973. (Tát nước ở Nam Hà)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932349.jpg

Thiếu niên với khăn quàng đỏ
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932282.jpg

Thiếu niên với áo tơi
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932281.jpg

"Cà grem"
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932743.jpg

Vietnamese girls in a back yard, photographed in March 1973 in North Vietnam (Trong sân nhà)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932740.jpg

Kóc Khơ Me 10-10-2011 20:37

Nụ cười Việt Nam
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932738.jpg

Clothes hang on wooden bars to dry at a small street in a village in the province Nam Ha in North Vietnam (Làng nghề dệt ở Nam Hà)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932734.jpg

A Vietnamese soldier on a ferry near Hue (Anh bộ đội trên chuyến phà gần Huế)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932732.jpg

Vietnamese people transport big bags, many of them filled with rice, on Street Number 1 in direction of Hanoi (Thồ lương thực về Hà Nội)
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932730.jpg

Xe đạp bên cạnh xe chở tên lửa
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932725.jpg

Cầu Hàm Rồng sau khi ngừng bắn
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932693.jpg

Kóc Khơ Me 11-10-2011 07:16

Dựng lại nhà ở thành phố Cảng Hải Phòng. Chúng ta nhìn thấy gạch được nhặt và xếp lại chứ không xây bằng vữa!
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932316.jpg

Hủy diệt ở Khâm Thiên
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932473.jpg

http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932310.jpg

http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932313.jpg

Nữ thanh niên xung phong bên hố bom
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932304.jpg

micha53 20-10-2011 05:05

Trích:

Kóc Khơ Me viết (Bài viết 96195)
Ngày 27.01.1973 Hiệp định Paris được các bên đặt bút ký kết. Tháng 03 năm ấy Nhà nhiếp ảnh Werner Schulze đã ghi lại một số hình ảnh Miền Bắc VN lúc ấy.

NHÂN NGÀY 20/10, NHỚ VÀ BIẾT ƠN.

http://i212.photobucket.com/albums/c...53/Phunu_1.jpg

http://i212.photobucket.com/albums/c...53/Phunu_2.jpg

http://i212.photobucket.com/albums/c...53/Phunu_3.jpg

http://i212.photobucket.com/albums/c...53/Phunu_4.jpg

Kóc Khơ Me 20-10-2011 19:25

The United States of America flew about 2,000 air attacks on cities and targets in North Vietnam during the "Christmas bombings" in 1972. Cảnh tát nước bằng "gầu sòng" tại Nam Hà 03.1973
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932289.jpg

Vietnamese women clean bricks for the reconstruction in a field of debris between war-destroyed houses in Kham Thien, a part of Hanoi in North Vietnam in March 1973. Các Mẹ đang nhặt nhanh lại những gì còn dùng được trên đống hoang tàn vì tội ác của ngoại xâm.
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932474.jpg

Xe đạp, xe đạp và xe đạp có "biển số". Khá nhiều xe Phượng Hoàng!
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932587.jpg

Kóc Khơ Me 20-10-2011 19:37

Giây phút "Hòa Bình" trong Chiến tranh!
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932309.jpg

Còn lại là "Bà với Cháu"!
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932298.jpg

Và có lẽ cả với "con" của những linh hồn! (A young woman with a baby in her arms is surrounded by other children in a house in Kham Thien).
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932296.jpg

Kóc Khơ Me 20-10-2011 19:48

Chiến dịch "Hồi Hương"
http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932689.jpg

http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932686.jpg

http://www.profimedia.si/photo/histo...0098932677.jpg

Nhật Minh 20-10-2011 23:08

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 55375)
Đấy là ngày 16-4 năm 1972, một ngày đau thương của thành phố quê hương.

Hàng mấy trăm người dân HP đã chết trong trận bom khốc liệt ấy, nhiều hơn số dân thường bị chết trong 3 năm chiến tranh phá hoại từ cuối 1965 đến đầu 1968. B52 đã vạch những vệt chết chóc qua các khu tập thể Xi Măng, Cầu Quay, qua thôn Phúc Lộc của huyện Kiến Thụy... Nghĩa trang Thành phố hôm đó đã có hố chôn chung hàng trăm người, mà nhiều người chỉ còn một phần thân thể. Tất cả các khoa của Bệnh viện Việt-Tiệp ngày hôm đó đều biến thành khoa mổ, máu đọng lép nhép trên sân trước các phòng cấp cứu.

Sẽ không bao giờ những hình ảnh của ngày ấy phai mờ trong tâm trí tôi.

em xin phụ họa cùng bác ngbinhdi ạ. Bọn trẻ con chúng em, ở khu nhà tập thể 149 Cát Dài, bên cạnh bệnh viện Lê Chân, chiều hôm đó 16/4 được nghe người lớn rỉ tai nhau "đêm nay B52 sẽ đánh vào thành phố". Chúng em vừa sợ (theo lo âu của người lớn) vừa hồi hộp (theo suy nghĩ trẻ con) vì chưa được mục kính bom B52 thế nào? Đêm đó còi báo động nhiều lần suốt cả đêm, cả nhà em và các nhà khác trong khu tập thể ngồi thu lu trong những góc tối nhất ở trong nhà vì biết trốn đi đâu (?). Chỉ nghe tiếng bom rền lúc gần lúc xa, nhà, cửa, tủ chạn, bàn rung lên bần bật. Ba em nói "nó ném bom Sở Dầu rồi", lúc lại nói "nó đánh Tiên Lãng, Kiến An...".
Sáng mai bọn chúng em vẫn chạy ra đường chơi, bất giác thấy hai, ba chiếc ô tô tải đậy bạt phía sau, chạy về phía bệnh viện Việt Tiệp, trên thành xe thò ra lủng lẳng những cánh tay, cẳng chân máu me bê bết và có vẻ như chúng... rời nhau chứ không phải của một thân thể nhất định nào cả. Em rùng mình. Tiếc rằng hồi đó không có máy ảnh hay điện thoại di động như bây giờ để chụp lại những hình ảnh hãi hùng đó.
Buổi chiều, xe cứu thương của bệnh viện Vệt Tiệp đỗ xịch trước cổng khu tập thể, lùa tất cả trẻ con từ 15 tuổi trở xuống, con CBCNV bệnh viện lên xe, chở ra ngoại thành, em chỉ nhở hình như đó là làng Cẩm Văn, còn xã gì thì chịu, huyện Tiên lãng thì phải. Các cô chia bọn em ra hai, ba nhóm gì đó từ 15 đến 20 đứa ở một nhà nông thôn, ăn tập thể, sinh hoạt tập thể, ngủ tập thể, thế mà vui. Hình như đến khi ký tắt hiệp định Pari thì bọn em được trả về với bố mẹ ở thành phố.
Đầu năm 1975, ra tết, em bị gọi đi khám nghĩa vụ QS. Tuổi đã qua 15 nhưng chưa tới 16. Mắt em bị kém, thị lực thật chỉ 6/10, dưng mà thấy anh bác sỹ quân y nghiêm khắc hay quát chúng em quá nên em sợ, cố chen vào chỗ khám mắt học thuộc mấy dòng ký tự nhỏ. Đến khi được gọi vào đo mắt vẫn chỉ nói đúng (nhớ) được đến 8/10. Kết luận: sức khỏe loại B (hay B1 gì đó), đủ sức khỏe làm nghĩa vụ QS (!). May thay đến 30/4 thì giải phóng miền Nam, từ đó trở đi em không phải đi khám NVQS nữa.
Sau này nghĩ lại thì chắc rằng mình đã được gọi đi khám nghĩa vụ để chuẩn bị tổng động viên cho chiến dịch giải phóng miền Nam. Sau giải phóng về quê, nghe các mệ, các o kể lại rằng có nhiều lắm, các chú bộ đội trẻ như con, "vâng ạ" dễ thương như con, về đóng quân ở làng mình (làng cát bãi ngang ven biển) bị pháo ngoài biển dập vào, lính "Quốc gia" và Mỹ đánh từ trên lộ 1 xuống, chết cả trăm người.
Vậy là em rất may mắn không phải trải qua lửa đạn chiến trường, bình yên ở thành phố mà thưởng thức, ngợi ca văn học, nghệ thuật, phim ảnh Liên Xô, ước ao được sống, ăn bánh mỳ, học hành ở Liên Xô như nhiều bác trong 4rum này.
Dù sao cũng không bao giờ quên những năm tháng khó khăn, chiến tranh khốc liệt đã qua, những con người đã hy sinh cho ta sống đến ngày hôm nay.

nqbinhdi 30-03-2012 21:01

Ngày này 40 năm trước, lúc 11:30, 4 trung đoàn pháo binh của ta đã đồng loạt nổ súng mở màn chiến dịch Trị Thiên - xuân-hè 1972 mà đỉnh điểm là trận đánh 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Nhân ngày này, tôi muốn kể lại về một người lính bình thường của chiến dịch năm ấy.

Sau chiến dịch Quảng Trị năm ấy, rất nhiều SV cũ của các ĐH miền Bắc là lính sống sót sau chiến dịch xuân-hè ấy quay về trường tôi học. Họ về rải rác, đông nhất là đầu năm 1973, lập nên hẳn một đại đội C174 bên cạnh C173 của chúng tôi, sau thì chia ra, nhập lại trộn lẫn trong 2 đại đội vẫn giữ phiên hiệu C173 và C174 cho tới tận lúc lên năm thứ 3 mới tỏa về các đại đội C20, C30 và C40 theo các chuyên ngành khác nhau. Sau đó, tận đến khóa 10 và khóa 11 vẫn còn các anh từ mặt trận trở về (về muộn học muộn xuống các năm dưới do nhiều nguyên nhân: dự khóa, học ôn lại kiến thức, chuẩn bị đi học nước ngoài song lại không đi được vì lý do này hay lý do khác...).

Một trong những người lính năm xưa ấy mà tôi rất quý là anh Đào Chí Thành, bây giờ đang công tác tại Viện KHVN. Anh là SV đi chiến đấu trong Quảng Trị, được tặng huân chương chiến công ngoài mặt trận vì lòng dũng cảm, sau về học Khóa 10 của ĐHKTQS (sau tôi 3 khóa vì tôi tốt nghiệp PT là vào học ngay). Anh học giỏi và được giữ lại khoa tôi làm GV. Năm 1989 anh ấy cũng sang Hung làm NCS (chính anh mang cho tôi quyết định thăng quân hàm lên thiếu tá - tôi được thăng quân hàm sau khi đã lên đường sang Hung nên đoàn 871 BQP gửi anh Thành cầm quyết định đề bạt sang giao cho tôi), song theo đường quân đội. Chính vì vậy mà hè năm 1990, sau khi Hung đổi chế độ và cắt quan hệ giữa QĐ Hung và QĐNDVN, các anh phải về nước. Anh Thành trước khi về có nói với tôi rằng anh nhất quyết sẽ tìm cách quay lại vì anh ấy khao khát được học tập và muốn giữ trọn lời hứa trong rừng năm nào với chính ủy trung đoàn cũ. Ngày ấy, anh Thành kể lại, sau chiến dịch Trị Thiên anh cùng gần 2 chục anh em - rách rưới và kiệt sức - từ khắp các tiểu đoàn được gọi lên gặp chính ủy trung đoàn để nghe phổ biến lệnh gọi các anh ra Bắc tiếp tục học ĐH (hàng chục ngàn SV, HS ưu tú của miền Bắc đã xung trận năm ấy - trong đó có cả anh trai tôi, lên đường đi bộ đội tháng 8-1971 và vượt sông Bến Hải ngày 7-5-1972, đúng ngày giải phóng Điện biên năm xưa, vào thôn Nhan Biều bên bến sông Thạch Hãn giữ đầu cầu tiếp viện cho thành cổ Quảng Trị, một ngày hứng chịu hàng chục đợt bom B52 - khi học chiến thuật thông tin trong chiến dịch phòng ngự Tích Tường-Như Lệ, chúng tôi sử dụng bản đồ Mỹ để lại thì thấy các thôn ấy đều vẽ bằng các đa giác đứt nét, chú giải lạnh lùng ở góc bản đồ: Destroyed). Khi thấy họ tới, chính ủy trung đoàn òa lên khóc và bảo "Cả ngàn SV của trung đoàn ngày mới vào chiến dịch, giờ chỉ còn lại chừng này thôi sao?". Anh Thành kể rằng lúc đó tất cả anh em đều khóc rất đau đớn, chính anh đã thay mặt anh em hứa với chính ủy trung đoàn ra Bắc sẽ kiên quyết học tập thật tốt, học tới cùng, để giữ vững và phát huy truyền thống anh hùng của Trung đoàn.

Sau đó mấy tháng anh quay sang thật sau khi đã xin ra quân. Không học bổng, phải tự tìm thày, anh thật đã rất khó khăn khi vừa kiếm sống, vừa học tập - trong khi chúng tôi có học bổng, có chỗ ở trong ký túc xá của Viện HLKH Hung mà còn học mửa mật ra nữa là (từ 1988 đến 1996, VN gửi sang Hung 9 người làm NCS về ngành điện tử song chỉ có 1 lấy được bằng PhD thôi, sau khi đổi chế độ thì thư ký Viện Hàn lâm KH phụ trách NCS nước ngoài - bà Szokira Jozsefné - gọi chúng tôi lên và bảo rằng "Vége van a barátságnak" - hết hữu nghị -, rằng "Chúng mày làm được như người Hung thì làm, không thì về nước!"). Cuối cùng anh đã chuyển sang Balan học tiếp (ở đó anh có nhiều người giúp đỡ nên đỡ lo về tài chính hơn). Sau khi lấy bằng PhD, anh lại sang Nga, vừa làm ăn, vừa lấy nốt bằng DrSc - học đến kỳ cùng, kịch đường tàu mới thôi. Chỉ có những người lính chân chính mới có đủ nghị lực và tinh thần kiên quyết tiến công đến thế.

nqbinhdi 16-04-2012 21:48

Thế là đã 40 năm tròn từ cái đêm đau thương 16-4-1972 ấy.

Những ngày sau đó, bom đánh loạn xạ khắp thành phố. Bọn Mỹ năm ấy lần đầu thử nghiệm bom xuyên để đánh vào chính dân thường. Các đơn vị quân đội đánh trả máy bay thì lấy đâu ra nóc bê tông, chỉ có dân thường mới nấp dưới các hỗ cá nhân - là các hố hình tròn như những lon sữa bò mất nắp bằng bê tông chôn xuống, trên che bằng 2 nửa bán nguyệt cũng bằng bê tông dày chừng 8-10 cm.

Trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất 1965-1968 thì không quân Mỹ ném bom bi chỉ là các quả bom con bung ra trên không từ quả bom mẹ, các trái bom con ấy vỏ bằng gang bên trong nhiều lỗ rỗng chứa các viên bi xe đạp (bọn làm bom cũng chẳng mất công đi sản xuất những viên bi ấy mà chỉ đơn giản đi mua bi xe đạp về nhồi vào thôi - thế nên sau này người ta vẫn đập những vỏ quả bom xịt ấy ra lấy bi thay vào xe đạp trong cái thời bao cấp khốn khó những năm đầu 1980s, tốt tuyệt). Những quả bom bi ấy không sát thương được những người nấp dưới các hố cá nhân kiểu kia bởi bom rơi xuống lăn trên bề mặt đất và do lượng nổ nhỏ nên không phá được lớp nắp bê tông, chỉ hàng trăm viên bi phóng ra mới sát thương những người trên mặt đất thôi (một quả bom bi mẹ chứa cả mấy trăm quả bom con, cầm bằng ném một lần mấy trăm quả lựu đạn xuống mặt đất). Ở ngoài mặt trận thì địch dùng pháo chụp từ lâu, pháo bắn từ hạm đội vào nổ ngay trên không, chụp hàng ngàn mảnh xuống phía dưới. Đạn pháo sát thương thì chứa đầy các mũi tên như những cái đinh dài ~1 cm mà các bà các chị ngày xưa vẫn dùng đóng quai guốc, chỉ có điều là mũ đinh không có mà thay vào đó là dập dạng cánh mũi tên để bay xuyên xa hơn. Mỗi một quả đạn 105 mm của Mỹ chứa khoảng 10 ngàn mũi tên như thế.

Bom xuyên năm 1972 là những quả bom con, cũng bung ra trên không từ bom mẹ, hàng trăm quả một lần. Nhưng bây giờ thì tinh ma và độc ác hơn, quyết giết cho được những phụ nữ, trẻ em nấp dưới các hố cá nhân xi măng. Chúng quyết làm nhụt ý chí của những người lính nơi tuyến đầu đánh Mỹ bằng cách giết cho kỳ được cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ của họ tận hậu phương. Những quả bom xuyên ấy dài như trái lựu đạn chống tấn công của LX, đầu nhọn có lắp liều nổ lõm, đuôi có cánh để khi rơi xuống sẽ vừa rơi vừa xoay xoáy xuống như chong chóng, khoan thủng qua được 10-15 cm nắp bê tông của các hố cá nhân mới nổ. Nhiều gia đình đã chết rất thương tâm như thế ở HP. Ngay phố Cát Dài của tôi, trong ngõ Hàng gà, bom xuyên qua nắp bê tông nổ bên trong hố cá nhân có người mẹ mang thai bế cả đứa con lớn trú dưới đó, mấy mẹ con chết hết.

Mùa hè 1972, không một nơi nào trong nội đô HP lại còn tương đối an toàn nữa. Bom đánh bừa bãi vào khắp thành phố, không một mục tiêu nào lại được coi là mục tiêu dân sự nữa khi mà chính các tàu vận tải của LX, Cu-ba và cả tàu các nước tư bản đỗ trong Cảng cũng bị ném bom. Trong chiến tranh phá hoại lần trước, hải đội trên Sông Cấm vẫn cứ chạy sát vào các tàu nước ngoài mà bắn trả máy bay địch để tránh địch bắn trả do chúng vẫn ngại bắn nhầm vào tàu nước ngoài. Bây giờ thì không, dưới lòng sông là thủy lôi, phía trên thì máy bay Mỹ ném bừa bom lên cầu tàu, ném cả vào các tàu đỗ dọc bến Cảng, đạn rocket dựng những cột nước trắng cao trên mặt sông, khoan thủng cả vỏ tàu đang neo đậu trong Cảng. Ngay sau ngày 16-4 mấy ngày, trên nóc cửa hàng ăn Ngã Năm, nơi mỗi tháng sau khi lĩnh phụ cấp học sinh chuyên toán chúng tôi vẫn tụ tập nhau ăn kem, người ta đưa xuống được mấy xác người đã bắt đầu bị bốc mùi. Họ bị bom hất lên tận nóc nhà, chết mấy ngày rồi mới phát hiện ra khi đã bắt đầu thối rữa.

Hôm đi tới sở Thương nghiệp TP để cắt tem-phiếu chuẩn bị lên Đại Từ tập trung đi nước ngoài, vừa mới tới sở được mươi phút thì máy bay vào ném bom. Một lúc thì có còi báo yên. Tôi mới từ dưới hố cá nhân chui lên còn chưa kịp phủi các vết bẩn bám trên quần áo thì thấy một cái xe tải nhỏ xịch về cửa Sở TN, từ trên đó người ta - và cả tôi nữa - xúm lại đưa xuống 4 cái băng-ca phủ chăn, máu thấm loang trên một cái chăn chiên rách phủ trên một cái cáng. Họ là các cán bộ của Sở TN, đi cơ sở bị bom, đưa về đó để gia đình còn đến nhận. Chết cả rồi, những cái ngón chân thò ra cuối cáng đã xám ngắt. Tôi cũng chẳng hiểu sao lúc đó lòng mình lạnh băng, còn tiến lại gần cố cầm mấy cái ngón chân thò ra ấy mà lay một cách tuyệt vọng, như thể nhỡ người ta mới chỉ choáng mà ngất đi thôi vậy, biết đâu còn có người tỉnh dậy.

Nhưng thế nên, đầu tháng 9 năm ấy, khi được tập trung lại trên Đại Từ nơi tập trung đi nước ngoài và được hỏi rằng "em nào muốn ở lại đi bộ đội thì viết đơn tình nguyện, không muốn thì thôi, BQP sẽ trả lại hồ sơ để các em đi nước ngoài trong chuyến cuối cùng đầu tháng 9", tất cả bọn chúng tôi, không ai bảo ai, đều viết ngay đơn tình nguyện nhập ngũ. Chỉ là tự nhiên mất toi 1 tháng ở Đại Từ, chả làm được cái chuyện gì ra hồn cả mà về đến đơn vị mới đổ ra ngã nước, lở loét khắp thân vì ăn phải nước suối đầy lá mục trên Đại Từ (lạ cái là dân ở đó cả đời lại chẳng sao hết, mà cũng chỉ mình tôi trong số anh em từ Đại Từ về bị vậy - thân mình lúc nào cũng xanh tím, toàn vết bôi thuốc xanh-mê-ty-len, cả 1 năm trời bị anh em trong đại đội gọi là B. ghẻ, mãi năm sau mới được đổi tên thành nqbinhdi, thật là phúc tổ chứ đến lúc đi cưa mà vẫn còn mang cái danh ghẻ ấy thì có phải là quá quê không).

Ngoảnh lại giật mình, mới đó mà đã gần 40 năm. Số mét đường đã lội bộ qua trên khắp các nẻo đường trong đó có cả ngoài mặt trận, số cây số ta đã miệt mài gõ giày trên bục giảng, thấm thoắt có nhẽ đã đủ để trên vĩ độ này của Thủ Đô mà khép tròn một vòng quanh quả đất. Nhiều lần cũng tự hỏi ta có tiếc không, rằng nếu năm đó không quay về đi bộ đội mà cứ đi LX học thì cuộc đời mình có lẽ đã có thể khác lắm, không chắc đã hơn, song nhất định sẽ rất khác. Hỏi và rồi lần nào lòng ta cũng tự bảo: Không có gì phải hối tiếc. So với những người đã nằm xuống, năm ấy, trước đó và nhiều năm sau đó, ta đã may mắn biết chừng nào, và ta còn cần và đòi gì hơn thế?

htienkenzo 17-04-2012 05:27

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 108024)

... Nhiều lần cũng tự hỏi ta có tiếc không, rằng nếu năm đó không quay về đi bộ đội mà cứ đi LX học thì cuộc đời mình có lẽ đã có thể khác lắm, không chắc đã hơn, song nhất định sẽ rất khác. Hỏi và rồi lần nào lòng ta cũng tự bảo: Không có gì phải hối tiếc. So với những người đã nằm xuống, năm ấy, trước đó và nhiều năm sau đó, ta đã may mắn biết chừng nào, và ta còn cần và đòi gì hơn thế?

Chi tiết này làm cho em nhớ đến câu chuyện thật của Cụ cố T.Tg. PVĐ. Năm 1993, ba mẹ em ra Hà Nội và đến thăm Cụ PVĐ. Cụ kể rằng, thời chống Mỹ, việc tuyển và đưa quân đội vào miền Nam - chiến trường B thực sự cấp thiết. Có một vị nữ cán bộ cao cấp đã tìm cách luồn lách để con trai của bà ấy không phải đi Bê. Cụ PVĐ. khi ấy đã lập tức đánh điện cho con trai đang học ở Liên Xô phải trở về đất nước và tham gia quân đội ở chiến trường miền Nam. Nghe ba mẹ kể lại, em càng khâm phục và kính trọng nhân cách của Cụ nhiều hơn! Và khi nằm xuống, Cụ trở về cát bụi với 2 bàn tay trắng.

nqbinhdi 17-04-2012 07:45

Trích:

htienkenzo viết (Bài viết 108039)
Chi tiết này làm cho em nhớ đến câu chuyện thật của Cụ cố T.Tg. PVĐ. Năm 1993, ba mẹ em ra Hà Nội và đến thăm Cụ PVĐ. Cụ kể rằng, thời chống Mỹ, việc tuyển và đưa quân đội vào miền Nam - chiến trường B thực sự cấp thiết. Có một vị nữ cán bộ cao cấp đã tìm cách luồn lách để con trai của bà ấy không phải đi Bê. Cụ PVĐ. khi ấy đã lập tức đánh điện cho con trai đang học ở Liên Xô phải trở về đất nước và tham gia quân đội ở chiến trường miền Nam. Nghe ba mẹ kể lại, em càng khâm phục và kính trọng nhân cách của Cụ nhiều hơn! Và khi nằm xuống, Cụ trở về cát bụi với 2 bàn tay trắng.

@ Ken-zồ,

Có lẽ bạn nhớ nhầm các chi tiết chuyện các cụ thân sinh kể lại.

Con trai cụ PVĐ (cụ chỉ có duy nhất một người con thôi vì cụ bà bị tâm thần từ 1951) là anh Phạm Sơn Dương, sinh năm 1950, học trên mình 4 khóa tại ĐHKTQS. Hiện nay anh ấy là thiếu tướng, phó Viện trưởng Viện KH&CN QS. Anh Dương chỉ học tại trường Nguyễn Văn Trỗi (ngày ấy khi thì ở Thái Nguyên, khi ở Quế Lâm, TQ. - anh Dương học khóa 3 trường Trỗi), trước khi nhập ngũ vào học tại trường mình vào năm 18 tuổi thôi.

Bạn có thể thấy một vài thông tin về anh Dương bằng cách tìm kiếm theo từ khóa sau:

Bạn Trỗi khóa 3 + Phạm Sơn Dương

PS: Ai chết đi mà chẳng với hai bàn tay trắng?

htienkenzo 17-04-2012 08:24

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 108040)
@ Ken-zồ,

Có lẽ bạn nhớ nhầm các chi tiết chuyện các cụ thân sinh kể lại.

...
PS: Ai chết đi mà chẳng với hai bàn tay trắng?

- Em không rõ thực là như thế nào, nhưng em nghe câu chuyện kể từ ba, sau đó từ mẹ kể lại cho em. Đợt mùa Xuân 1993 năm ấy, em còn viết thư thăm sức khỏe Cụ và ba em chuyển tận tay. Hình như lúc ấy Cụ đã trở nên khiếm thị và chú Nguyễn Tiến Năng - thư ký của cụ nhận và đọc thì phải? Em cũng nghe kể cụ bà - bà C. bị tâm thần...
- Em không biết, nhưng sau này, ngôi nhà của Cụ ở Mộ Đức, Quảng Ngãi mới được sửa sang tươm tất và ba em cùng các vị lão thành cách mạng tỉnh Bình Thuận cũng đã ghé thăm sau này (đâu vào năm 1998?), khi ấy Cụ vẫn còn sống và đeo kính đen.

Kóc Khơ Me 17-04-2012 08:47

Năm Kóc còn ở Z.7x Cục Kỹ thuật QK7 thì Đại úy Dương có đem chiếc xe Uoat (zeep) vào sửa chữa bảo trì trước và sau chuyến công tác K.

hungmgmi 17-04-2012 09:04

Cụ Dị nhớ đúng rồi, anh PSD là con trai duy nhất của cụ PVD. Anh lấy vợ muộn, và vợ anh chính là ca sĩ Minh Châu xinh đẹp duyên dáng một thời cùng lứa với Quỳnh Hoa, Tuyết Tuyết.. Sao ngày trước em nghe nói anh PSD làm gì bên phân bón Thiên Nông, sao giờ lại làm tướng nhỉ?
À, em có vào trang của họ Phạm:
http://hophamvietnam.org/1/index.php...sid=318&type=5
thì đọc được dòng này:
Trích:

Đoàn Chủ tịch cuộc họp đã đọc bức thư của con trai Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Đại tá CCB Phạm Sơn Dương – Phó Giám đốc Công ty Thiên Nông vừa gửi tới
Thế thì em nhớ đúng rồi, bác D làm phân bón Thiên Nông, năm 2005 là cựu chiến binh đại tá rồi, sao giờ lại lên tướng, PGD Học viện nhỉ, cụ Dị có nhớ nhầm không đới?
Trích:

Cụ Dị bẩu:
Hiện nay anh ấy là thiếu tướng, phó Viện trưởng Viện KH&CN QS

baodung 17-04-2012 09:31

2 bà mẹ của tôi đã mất vào những ngày này 40 năm trước

Sau khi Mỹ ném bom Hải Phòng. Ở Hà Nội có lệnh giải tán các trường học và sơ tán gấp. Trước đó vài tháng, trong 1 dịp tụ tập bạn bè, nói chuyện phiếm, chúng tôi đã vô ý nói ra một ước mơ đầy ngớ ngẩn: "giá như lại có chiến tranh để được đi sơn tán về vùng thôn quê xưa!". Một buổi sáng cuối tháng Tư năm 1972, mẹ tôi chạy ào vào nhà kéo tất cả mấy anh em tôi cùng con bác hàng xóm ra xe com-măng-ca chờ sẵn ngoài cổng. "Đi! Đi sơ tán ngay!" - mẹ bảo. Chả kịp mang theo bất cứ thứ gì cả. Xe chạy khoảng hơn 2 giờ (ngày đó đường xấu lắm, tốc độ không quả 20 km/giờ) theo hướng Vân Đình thì dừng lại, rẽ vào 1 ngôi làng. Mẹ tôi tìm vào căn nhà đầu tiên ở đầu làng, gặp bác chủ nhà rưng rưng hỏi " Lại chiến tranh bác ạ! Cho em gửi mấy cháu tạm vài tuần được không ?". Bác ấy đon đả đồng ý ngay và nhường anh em tôi căn buồng trong, còn đãi rổ khoai luộc vừa chín tới. Mẹ tôi về ngay theo xe, sớm hôm sau đi xe đạp lên, thồ gạo, cá khô và thùng lương khô quân dụng B70, rồi lại tất tả đạp xe về cho kịp buổi làm. Tới ngày thứ 3 mẹ đèo quần áo và đồ dùng thiết yếu cho mấy anh em. Sáng ngày thứ 4 thì thấy cái xe com-măng-ca hôm nọ lại thình lình xuất hiện, chú lái xe chạy ào vào kéo 3 anh em tôi ra xe nói về gấp có việc. Mấy anh em đang còn ngơ ngác không hiểu đầu đuôi ra sao, nhưng cũng không dám hỏi, thì xe đã quay về lại nhà tôi! Chú lái xe khi đó mới nói:"Mẹ các cháu mất rồi, vào nhà nhìn mặt lần cuối đi!!". Thì ra sau 3 ngày căng thẳng vất vả quá sức, đêm trước mẹ tôi đã bị xuất huyết não, ra đi đột ngột! Sau khi mẹ tôi mất, gia đình tôi rời nhà, người đi làm rồi làm tự vệ trực chiến luôn ở cơ quan, trẻ con đi sơ tán theo trường. Nhờ vậy mà tới tháng 12/1972 khi quả bom tấn Mỹ thả để phá nhà máy điện Yên Phụ rơi chệch vào khu nhà tôi làm gần 30 người chết và bị thương, gia đình tôi đã thoát nạn! Cho đến giờ anh em tôi vẫn bảo nhau: "Mẹ đã hy sinh cho các con mình được sống!".
Sau này khi lấy vợ thì tôi "được" thêm một thiệt thòi thứ 2 nữa là mẹ vợ tôi cũng đã hy sinh vào đêm 22/12/1972 khi máy bay B52 Mỹ ném bom bệnh viện Bạch Mai!

nqbinhdi 17-04-2012 11:56

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 108048)
Cụ Dị nhớ đúng rồi, anh PSD là con trai duy nhất của cụ PVD. Anh lấy vợ muộn, và vợ anh chính là ca sĩ Minh Châu xinh đẹp duyên dáng một thời cùng lứa với Quỳnh Hoa, Tuyết Tuyết.. Sao ngày trước em nghe nói anh PSD làm gì bên phân bón Thiên Nông, sao giờ lại làm tướng nhỉ?
À, em có vào trang của họ Phạm:
http://hophamvietnam.org/1/index.php...sid=318&type=5
thì đọc được dòng này:

Thế thì em nhớ đúng rồi, bác D làm phân bón Thiên Nông, năm 2005 là cựu chiến binh đại tá rồi, sao giờ lại lên tướng, PGD Học viện nhỉ, cụ Dị có nhớ nhầm không đới?

Mấy cái thông tin về Cty Thiên Nông thì tôi không rõ, bởi rất có thể có sự trùng tên và trang về họ Phạm ghi nhầm, hoặc giả anh Dương còn kiêm cả làm bên ngoài nữa (hoặc chỉ đứng tên thôi), chuyện ấy cũng chẳng lạ lẫm gì.

Duy chuyện anh ấy là thiếu tướng phó Viện trưởng Viện KH&CNQS thì là chắc chắn đấy, bởi năm ngoái nhân dịp 20-11 viện KH&CNQS tổ chức tổ chức trao bằng TS, tôi có dự. Trong buổi đó, anh PSD là người lên thay mặt lãnh đạo Viện phát biểu và trao bằng cho các tân TS.

nqbinhdi 17-04-2012 20:02

@ Hùng mì gà,

Trên mạng thấy có cái ảnh này của anh Phạm Sơn Dương:

http://image.tin247.com/vietnamnet/1...257-431-81.jpg

Lưu ý là quân phục kiểu này mới chỉ có từ cuối 2009.

Nhật Minh 18-04-2012 11:32

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 108024)
Thế là đã 40 năm tròn từ cái đêm đau thương 16-4-1972 ấy.

Mùa hè 1972, không một nơi nào trong nội đô HP lại còn tương đối an toàn nữa. Bom đánh bừa bãi vào khắp thành phố, không một mục tiêu nào lại được coi là mục tiêu dân sự nữa khi mà chính các tàu vận tải của LX, Cu-ba và cả tàu các nước tư bản đỗ trong Cảng cũng bị ném bom. Trong chiến tranh phá hoại lần trước, hải đội trên Sông Cấm vẫn cứ chạy sát vào các tàu nước ngoài mà bắn trả máy bay địch để tránh địch bắn trả do chúng vẫn ngại bắn nhầm vào tàu nước ngoài. Bây giờ thì không, dưới lòng sông là thủy lôi, phía trên thì máy bay Mỹ ném bừa bom lên cầu tàu, ném cả vào các tàu đỗ dọc bến Cảng, đạn rocket dựng những cột nước trắng cao trên mặt sông, khoan thủng cả vỏ tàu đang neo đậu trong Cảng. Ngay sau ngày 16-4 mấy ngày, trên nóc cửa hàng ăn Ngã Năm, nơi mỗi tháng sau khi lĩnh phụ cấp học sinh chuyên toán chúng tôi vẫn tụ tập nhau ăn kem, người ta đưa xuống được mấy xác người đã bắt đầu bị bốc mùi. Họ bị bom hất lên tận nóc nhà, chết mấy ngày rồi mới phát hiện ra khi đã bắt đầu thối rữa.

Ngoảnh lại giật mình, mới đó mà đã gần 40 năm. Số mét đường đã lội bộ qua trên khắp các nẻo đường trong đó có cả ngoài mặt trận, số cây số ta đã miệt mài gõ giày trên bục giảng, thấm thoắt có nhẽ đã đủ để trên vĩ độ này của Thủ Đô mà khép tròn một vòng quanh quả đất. Nhiều lần cũng tự hỏi ta có tiếc không, rằng nếu năm đó không quay về đi bộ đội mà cứ đi LX học thì cuộc đời mình có lẽ đã có thể khác lắm, không chắc đã hơn, song nhất định sẽ rất khác. Hỏi và rồi lần nào lòng ta cũng tự bảo: Không có gì phải hối tiếc. So với những người đã nằm xuống, năm ấy, trước đó và nhiều năm sau đó, ta đã may mắn biết chừng nào, và ta còn cần và đòi gì hơn thế?

Nhà bác ngbinhdi lại ôn nghèo kể khổ rồi. Năm ngoái bác đã khởi xướng đề tài này. Năm nay em đoán trúng bóc là sẽ gặp lại bác ở chỗ ni. Và em rất cảm ơn bác vì có những chuyện cũ nên ghi nhớ nhưng không nhắc lại sẽ quên, vì HP cũng là một phần của nhà em, rồi thì An Hải, Kiến Thụy, Tiên Lãng (ôi Tiên Lãng) là những nơi đã che chở em khỏi mảnh bom Mỹ và đạn súng phòng không của bộ đội để hôm nay được thưởng thức anh-tẹc-nẹt cùng các bác.
À thế có phải bác học chuyên toán trường Thái Phiên không ạ? Em ngưỡng mộ lắm vì có mấy thằng bạn đang học ở trường Ngô Quyền nhà em bỗng chuyển qua Thái Phiên để học chuyên, rồi sau đó đi Tây cả.

nqbinhdi 06-09-2012 13:58

Ngày này 40 năm trước, bọn chúng tôi 14 tên tuổi đều mới chỉ 16-17, đã rời Đại Từ nơi tập trung chuẩn bị đi nước ngoài quay về đi bộ đội.

Mới đó mà đã 40 năm rồi ư? Đã 40 năm khoác trên mình bộ quần áo màu xanh lá. Đã trải nhiều vui sướng và cả gian khổ, đắng cay nữa.

Cũng sắp được nghỉ hưu, thế là đã làm trọn nghĩa vụ của một thanh niên khi nước nhà có biến, đã ra trận, đã xong nghĩa vụ công dân, hoàn thành nhiệm vụ lâu dài và gian khó của đời quân ngũ. Và cởi áo, tháo sao về làm dân, hòa vào với nước (không sôi đâu nhỉ).

Rồi hẳn sẽ nhớ đơn vị, quân ngũ, học trò lắm. Cái nghề bảo vệ Tổ quốc ấy gắn với ta đã cả 40 năm, đã gần cả đời chỉ có mỗi một nghiệp: cầm phấn.

Ta có gì hối tiếc không, chắc là không và giá có cho làm lại, chắc ta vẫn cứ làm như thế mà thôi.

aloha 15-09-2012 22:25

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 115188)
Ngày này 40 năm trước, bọn chúng tôi 14 tên tuổi đều mới chỉ 16-17, đã rời Đại Từ nơi tập trung chuẩn bị đi nước ngoài quay về đi bộ đội.

Mới đó mà đã 40 năm rồi ư? Đã 40 năm khoác trên mình bộ quần áo màu xanh lá. Đã trải nhiều vui sướng và cả gian khổ, đắng cay nữa.

Cũng sắp được nghỉ hưu, thế là đã làm trọn nghĩa vụ của một thanh niên khi nước nhà có biến, đã ra trận, đã xong nghĩa vụ công dân, hoàn thành nhiệm vụ lâu dài và gian khó của đời quân ngũ. Và cởi áo, tháo sao về làm dân, hòa vào với nước (không sôi đâu nhỉ).

Rồi hẳn sẽ nhớ đơn vị, quân ngũ, học trò lắm. Cái nghề bảo vệ Tổ quốc ấy gắn với ta đã cả 40 năm, đã gần cả đời chỉ có mỗi một nghiệp: cầm phấn.

Ta có gì hối tiếc không, chắc là không và giá có cho làm lại, chắc ta vẫn cứ làm như thế mà thôi.

Chào chuẩn tướng. Chuẩn tướng đi bộ đội mà toàn "cầm phấn" với uống "rượu mừng" thì làm sao mà phải "hối tiếc" được cơ chứ...:emoticon-0136-giggl

nqbinhdi 15-09-2012 22:39

Trích:

aloha viết (Bài viết 115536)
Chào chuẩn tướng. Chuẩn tướng đi bộ đội mà toàn "cầm phấn" với uống "rượu mừng" thì làm sao mà phải "hối tiếc" được cơ chứ...:emoticon-0136-giggl

Ô hô,

Lại thêm một kẻ vô gia cư dạt vòm sang đây. Từ ngày Lý Quách rào làng, dán băng Ơ-gâu vào miệng cả lũ cả lĩ giáo Thứ làng Vũ Đại, đám dân gian làng ấy đều chạy tứ tán cả. Vỡ mất một hội to còi.

Làm gì còn chuẩn tướng nữa.

Chả tướng lĩnh thì cũng lĩnh lương tướng chứ bộ.

Nạc hậu thời cuộc quá roài.

Kóc Khơ Me 18-09-2012 20:05



http://i1178.photobucket.com/albums/..._niem/1006.jpg

aloha 20-09-2012 22:52

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 115539)
Ô hô,

Lại thêm một kẻ vô gia cư dạt vòm sang đây. Từ ngày Lý Quách rào làng, dán băng Ơ-gâu vào miệng cả lũ cả lĩ giáo Thứ làng Vũ Đại, đám dân gian làng ấy đều chạy tứ tán cả. Vỡ mất một hội to còi.

Làm gì còn chuẩn tướng nữa.

Chả tướng lĩnh thì cũng lĩnh lương tướng chứ bộ.

Nạc hậu thời cuộc quá roài.

Ơ lạ nhờ.
Nhà bác CT viết chẳng "tôn trọng tiếng Việt" gì cả mà lại không bị dọa "xẻo". Thế là thế nào hả CT??? Lý Quách là ai đó hả CT? :emoticon-0116-evilg

sonkinh 21-09-2012 14:11

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 115188)
Ngày này 40 năm trước, bọn chúng tôi 14 tên tuổi đều mới chỉ 16-17, đã rời Đại Từ nơi tập trung chuẩn bị đi nước ngoài quay về đi bộ đội.

Mới đó mà đã 40 năm rồi ư? Đã 40 năm khoác trên mình bộ quần áo màu xanh lá. Đã trải nhiều vui sướng và cả gian khổ, đắng cay nữa.

Cũng sắp được nghỉ hưu, thế là đã làm trọn nghĩa vụ của một thanh niên khi nước nhà có biến, đã ra trận, đã xong nghĩa vụ công dân, hoàn thành nhiệm vụ lâu dài và gian khó của đời quân ngũ. Và cởi áo, tháo sao về làm dân, hòa vào với nước (không sôi đâu nhỉ).

Rồi hẳn sẽ nhớ đơn vị, quân ngũ, học trò lắm. Cái nghề bảo vệ Tổ quốc ấy gắn với ta đã cả 40 năm, đã gần cả đời chỉ có mỗi một nghiệp: cầm phấn.

Ta có gì hối tiếc không, chắc là không và giá có cho làm lại, chắc ta vẫn cứ làm như thế mà thôi.

Cảm ơn ngbinhdi về những ký ức của bác, ký ức của cả một thế hệ đã hiến dâng đời mình cho Tổ Quốc, cho dân tộc. Ước gì ai cũng có được thời như các bác, gian khổ nhưng oai hùng, để khi đi đến cuối cuộc đời vẫn ngẩng cao đầu không hối tiếc về sự lựa chọn của mình. Cảm ơn bác.

hongducanh 12-10-2012 12:22

Chúng tôi được trở lại bản Mường nơi mà chúng tôi, cả một thế hệ học sinh, sinh viên của các trường đại học Hà Nội lần đầu tiên xa nhà, đóng quân tại đó để thực thi một nhiệm vụ huấn luyện bộ đội nhằm tăng cường cho các đơn vị chủ lực thuộc miền Nam.
Xóm Cáo - xã Thượng Cốc - huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình là nơi chúng tôi đã sống - học tập - và rèn luyện kỹ năng chiến đấu. Chúng tôi được biên chế vào đơn vị C70 - D 68 - E 59 Bộ tư lệnh Thủ đô.
Lần đầu tiên xa mẹ, xa nhà làm bạn với chiếc ba lô và cây súng AK47 của Liên xô. Mấy ngày đầu, tiểu đội chúng tôi(có 5 anh em) được nghỉ tại nhà mế của Luyến. Tôi nhỏ nhất và luôn nhớ nhà và hầu như đêm nào tôi cũng khóc vì nhớ mẹ...Có lẽ vì lẽ đó mà anh Khánh cùng tiểu đội đã đặt tên cho tôi là "thít". Anh Khánh ở 75 Trần Xuân Soạn người dong dỏng cao, anh sinh 1953 tại Hà Nội. Anh Bình sinh 1952 là nhiều tuổi nhất - anh ở Phú Thượng. Có 2 anh nữa đồng niên với tôi là anh Chính, được anh Khánh đặt cho cái tên Chính "tai xanh", vì anh này bị bệnh ngoài da nên bôi xanh quanh tai...Anh Thành có cái tên khác lạ: Thành "phồng", nhà anh ở giữa phố Đội Cấn, anh hay phụng phịu khi có điều gì đó chưa hài lòng... Năm anh em chúng tôi ở trọ nhà mế của Luyến đúng 90 ngày tính từ ngày 21-9-1972, sau đó chúng tôi hành quân vào dịp Tết năm đó để bổ sung cho chiến trường miền Nam. Anh Chính "tai xanh" và anh Thành "phồng" bổ sung vào đơn vị pháo phòng không, anh Binh, anh Khánh và tôi được bổ sung vào đơn vị pháo mặt đất của sư đoàn 304 khi đó đóng quân tại Cam Lộ - Quảng Trị.
Sau 40 năm trở lại bản Mường Cáo, năm anh em chúng tôi không trọn vẹn đủ 5 khuôn mặt để trở lại thăm cái nơi mà thuở ban đầu xa nhà ấy...
Trên xe, có nhiều khuôn mặt đã già vì tuổi tác, có những khuôn mặt hốc hác vì bị những vết thương thi thi thoảng trái gió trở trời lại sinh đau, nhiều những khuôn mặt nhăn nheo với mái tóc bạc phơ tưởng chừng các cụ ngoài 70 tuổi...Ấy thế mà vẫn mày mày tao tao như ngày đầu nhập ngũ. Cuộc tái ngộ đầy ý nghĩa đã đưa chúng tôi trở lại bản Mường Cáo với một tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Chiếc xe lao nhanh trên quốc lộ 6, Qua Lương Sơn rồi qua thị xã Hòa Bình, chúng tôi đang ngôi trên chiếc xe rất lớn, nó không còn đủ sức hăng hái lao vun vút như trước nữa, bởi nó đang leo lên dốc Cun. Qua dốc Cun, chúng tôi không đi theo quốc lộ 6 để đi Sơn La mà chúng tôi rẽ phải đi theo QL 12B, đường này có điểm đến Nho Quan - Ninh Bình. Qua Mạn Đức là chúng tôi có mặt tại thị trấn Tân Lạc, chỉ còn hơn chục km nữa là chúng tôi đến đúng nơi mà 40 năm trước chúng tôi đã ở đó. Xe dừng ở Xóm Cáo xã Thượng Cốc huyện Lạc Sơn. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy phụ nữ trong bản mặc đồng phục không giống cái ngày xưa mà chúng tôi ở đó mà thay vì bấy giờ là bộ đồng phục áo trắng, yếm đỏ, váy lĩnh đen dài chấm gót, đầu quấn khăn trắng có thêu những hoa văn đỏ... Thật cảm động khi dân làng tề tựu đông đủ xếp thành hàng dài để đón đoàn chúng tôi.




Ngôi nhà sàn mà chúng tôi đã ngủ 90 đêm của năm 1972 không còn nữa, thay vì những nếp nhà sàn truyền thống là những căn nhà mái bằng miền xuôi. Ngày xưa, chúng tôi thường nói với mấy ủn (em) tiếng Mường là: Quê em có" trâu đeo mõ, chó leo thang, áo một gang, quần một ống". 40 năm quay lại, tôi chẳng nhận ra ai là chủ nhà nữa, bởi thực tế lúc bấy giờ với chúng tôi không có thời gian để"dân vận" mà công việc "dân vận" cũng không thuộc chúng tôi. Sáng dạy từ 5 g30' tập thể dục và chạy quanh mấy quả đồi, đến 6g00', từ 6g00' đến 7g00' là vệ sinh cá nhân và ăn sáng (ở bếp ăn đơn vị). Nghỉ trưa 1 giờ sua đó lại học tập chính trị hoặc ra tập ngoài thao trường...tối đến thì sinh hoạt văn nghẹ hoặc học tập chính trị...Tóm lại không có thời gian để tiếp xúc với dân bản.
Mế già chủ nhà của chúng tôi năm nay vừa tròn 80 tuổi, khi chúng tôi đóng quân, lúc đó Mế 40 tuổi. Chúng tôi chạc bằng tuổi con gái lớn của Mế là chị Luyến, bản Mường thường gọi tên cha mẹ theo tên con lớn (không phân biệt nam hay nữ). Tôi thấy chị Luyến nói tiếng Mường với Mế rằng: "anh tẹp tlai nhất tại tội Mế ừ"- đương nhiên là tôi hiểu câu nói của chị luyến mà chỉ biết cười vì rằng bây giờ sau 40 năm tôi đang đẹp lão rồi chị Luyến ơi...Khi Mế hỏi từng người, tôi thấy cay mũi thực sự khi phải nói với Mế rằng trong số 5 anh bộ đội ở nhà Mế đã hy sinh 2 còn lại ba người đều là thương binh, trong đó có anh Chính "tai xanh" bị thương ở não giờ chỉ biết ngưỡng Thiên mà thôi!. Ai đã nghỉ ở nhà nào thì đến nhà đó tâm sự ...


Mộ của anh Đặng Quốc Khánh đã được quy tập về nghĩa trang thành phố HN ở Ngọc Hồi. Anh hy sinh ngày 29/8/1974 tại điểm cao 1062 - Thượng Đức - Quảng Nam.



Dân bản đón tiếp chúng tôi bằng cờ xí rợp bản, chương trình tặng quà lưu niệm, tặng thưởng cho các cháu có thành tích học cao, kính tặng các vặt phẩm cho các cụ già bản, giao lưu ca hát...chúng tôi thực sự ấn tượng với cuộc trò chuyện thân mật với mọi người trong bữa ăn trưa với những món ăn đặc sản của núi rừng...Rượu cần thực sự tri ân, chúng tôi không ít người đã bị say bởi rượu cần!

Trong giao lưu giữa đoàn CCB thủ đô với bản Mường Cáo đã kết thúc trong chia tay bịn rịn. Chúng tôi cố gắng tổ chức thường niên đó cũng là nguyện vọng của dân bản cũng như toàn bộ những CCB có mặt.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 15:37.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.