Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Lịch sử nền khoa học công nghệ Tin học Xô Viết (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=274)

nthach 19-12-2007 12:20

Lịch sử nền khoa học công nghệ Tin học Xô Viết
 
Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết


Nhóm dự án


http://i187.photobucket.com/albums/x...Malinovsky.jpg
Boris Nikolaevich Malinovsky

Chủ nhiệm đề tài: Boris Nikolaevich Malinovsky, ông sinh ngày 24 tháng 8 năm 1921 tại Nga. Tháng 8 năm 1939 ông theo học tại trường cao đẳng mỏ Leningrad và sau đó ông được biệt phái vào quân đội Liên Xô, ông phục vụ trong quân đội liên tục cho đến tận năm 1945. Sau đó ông được giải ngũ và đã từng được trao tặng 6 huân chương cho các cống hiến trong cuộc Chiến tranh Ái quốc Vĩ đại (WWII). Ông là người thiết kế chính của hệ thống máy điện toán số hóa vạn năng đầu tiên của Liên Xô, và đã từng cho xuất bản hoặc đồng tác giả của hơn 200 bài báo về đề tài khoa học và 12 công trình nghiên cứu chuyên đề. Ông tững nắm giữ cương vị tiến sĩ khoa học kỹ thuật điện toán và là thành viên của học viện khoa học tự nhiên Ukraina. Ông từng được nhận phần thưởng quốc gia Ukraina và các giải thưởng khoa học V.I. Vernadsky, S.A. Lebedev, V.M. Glushkov. Hiện nay Malinovsky cùng gia đình đang cư trú tại Kiev


http://i187.photobucket.com/albums/x...itzpatrick.jpg
Anne Fitzpatrick

Lập trình soạn thảo: Tiến sĩ. Anne Fitzpatrick hiện là một nhà nghiên cứu khoa học công nghệ trong ban an ninh nguyên tử quốc tế tại Washington, DC. Năm 1998, bà còn giành được Ph.D. trong đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ tại trường đại học quốc gia và học viện bách khoa Virginia. Bà còn là một thành viên kỹ thuật cốt cán tại phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos trong chương trình vũ khí hạt nhân, chủ nhiệm các dự án hợp tác thí nghiệm nguyên tử của nước Nga và một số cơ quan khác trong nước Nga và Ukraina. Bà đã viết một số bài báo cũng như có rất nhiều bài diễn thuyết và chuyên đề nghiên cứu. Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết, là cuốn sách đầu tiên do bà biên tập. Hiện nay bà đang viết một bản thảo về tin học, công nghệ thông tin, và cuộc chạy đua vũ trang.


http://i187.photobucket.com/albums/x.../Maldonado.jpg
Kate Maldonado

Cố vấn biên tập: Kate Maldonado là một cố vấn biên tập của Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết. Hiện bà là kế toán viên tại Hội khoa học liên bang Mỹ tại Washington, DC. Trước đây, bà từng giữ cương vị thư ký nghiên cứu Dự án Chiến lược An ninh, và còn tại FAS. Sinh ra tại Moscow, Kate thông thạo cả hai ngôn ngữ Anh và Nga. Bà từng làm việc tại khối truyền thông Đông Tây. Bà đoạt được bằng cấp BS tài chính tại trường đại học Maryland và cũng đã từng là kế toán viên và nhân viên phân tích tài chính của Host Marriott, Inc.


http://i187.photobucket.com/albums/x...ch1/Aronie.jpg
Emmanuel Aronie

Dịch thuật: Emmanuel Aronie, ông sinh vào tháng 5 năm 1946 và lớn nên trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Ông từng học bốn năm tiếng Nga tại trường trung học ở Concord, Massachusetts. Năm 1992 ông có cơ hội đến Kiev Ukraine, để dạy tiếng Anh và đã quen biết với gia đình Malinovsky



http://sovietcomputing.com

nthach 19-12-2007 16:30

Chương I: Con đường dẫn đến rạng danh



Những người mở đường trong những người tiên phong: Những người sáng lập nền công nghệ điện toán của Xô Viết.

http://i187.photobucket.com/albums/x...dev_sergey.jpg
Sergei Alexeevich Lebedev

Giữa những năm 1940 và 1970, ngành công nghệ điện toán của Xô Viết được phát triển rất nhanh. Trong thời gian này, tất cả các trường khoa học điện toán danh tiếng nhất của Xô Viết được thành lập bởi Sergei Alexeevich Lebedev , Victor Mikhailevich Glushkov, Isador Semenovich Brook và Bashir Iskandarovich Rameev. Nhưng chỉ có Lebedev là người quan trọng nhất
Từ năm 1948–1951, tại học viện khoa học tự nhiên Ukraine (ASU), Lebedev trực tiếp thiết kế và phát triển một chương trình kho dữ liệu máy điện toán đầu tiên trên lục địa châu Âu. Tuy Lebedev đã đặt tên cho chiếc máy là – Máy điện toán điện tử thu nhỏ, nhưng nó được cấu tạo bởi sáu ngàn chiếc bóng đèn điện tử và nó cũng khó có thể đặt vào được phía bên trái một ngôi nhà cũ của tu viện ở gần Kiev nơi mà nó đã được lắp ráp. Đó là vùng Feofania, ngoại ô của Kiev, một trạm của bệnh viện tâm thần Kiev đã sử dụng từ trước thời chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Đến khi bọn quốc xã Đức đến chiếm đóng Feofania vào năm 1941, chúng đã tàn sát hết tất cả bệnh nhân ở đây và dựng lại làm một bệnh viện quân đội. Ngôi nhà đó bị thiệt hại nghiêm trọng trong thời gian giải phóng Kiev. Năm 1948, nó được sử dụng làm phòng thí nghiệm của học viện xây dựng khoa học kỹ thuật điện. Chẳng dễ dàng gì khi đến Feofania bằng xe buýt, bởi vì những con đường trong mùa xuân và mùa thu thực sự không thể vượt qua được. Vào mùa hè, tuy nhiên Feofania lại bị bao bọc bởi một khu rừng gỗ sồi và trở nên một chốn tuyệt đẹp đông đúc với những tiếng chim hót, thỏ con và ngập tràn những nấm cùng quả mọng rừng. Tôi gặp Sergei Alexeevich lần đầu tiên vào mùa thu năm 1950 tại một trong những cuộc hội nghị của hội đồng xây dựng kỹ thuật điện. Khi đó, diện mạo của ông không có gì gây ấn tượng và đặc biệt cả. Ông là một người có dáng thấp, gầy và đeo một cặp kính gọng đen nên nó đã làm cho khuôn mặt của ông trở nên thô ráp hơn so với thực tế. Giọng nói của ông rất lớn hơi khàn nhưng điềm đạm. Ông đã chủ tọa hội nghị một cách êm ả và có tổ chức, ông rất chăm chú lắng nghe diễn thuyết. Ông bình luận một cách gãy gọn và vắn tắt. Nếu như có một ai đó nói một câu đùa vui, ông liền cười vang thiện cảm.
Khi nụ cười trùm lên khuôn mặt nghiêm nghị vốn có của Sergei Alexeevich, nó như bùng lên những tia nắng mặt trời làm lóe lên rực rỡ trong căn phòng u ám. Khuôn mặt ông trở nên ân cần và ngây thơ như trẻ nhỏ…
Sergei Alexeevich Lebedev sinh ngày 2 tháng 11 năm 1902 tại Nizhniy Novgorod - nước Nga, trong một gia giáo. Cha mẹ ông thường khẳng định rằng, một giáo viên nhất định là phải là một khuôn mẫu cho các học sinh giống như con cái trong gia đình của anh ta. Nguyên tắc chính trong sự giáo dục của Sergei Alexeevich là tính lương thiện, chính trực, đạo đức nghề nghiệp không thể phạm sai lầm, không dung thứ cho những nhỏ nhen đê tiện và thái độ khúm núm. Những đức tính đó đã sớm ảnh hưởng tới nhân cách của Sergei Alexeevich và đứa con Lebedev

Năm 1923, Lebedev theo học tại học viện kỹ thuật Baumann ở Moscow. Ở đây, ngay lập tức, ông đã mải mê chăm chú đến môn khoa học tự nhiên. Ông đã vào chuyên ngành trong trường của công nghệ điện áp cao và bảo vệ luận án "Tính ổn định của cách mắc song song trong các trạm phát điện". Đây là một bài luận văn quan trọng rất có tính khoa học và ứng dụng cao.
Nhận bằng tốt nghiệp kỹ thuật điện vào tháng tư năm 1928, Lebedev lập tức giữ lại làm giảng viên của học viện Baumann và là một nhân viên nghiên cứu tại viện kỹ thuật điện quốc gia V. I. Lenin (VEI). Không lâu sau, ông nắm giữ cương vị lãnh đạo nhóm nghiên cứu của (VEI) và sau đó là phòng thí nghiệm hệ thống năng lượng điện. Năm 1933, cùng với A.S. Zhdanov, ông cho công bố một chuyên khảo mang tên – Tính ổn định của cách mắc song song trong hệ thống điện, chuyên khảo này vào năm 1934 được xem lại và tái bản. Một năm sau, ủy ban chứng chỉ cấp cao quốc gia đã công nhận nhà khoa học trẻ là giáo sư đại học. Năm 1939, Lebedev bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.


Sergei Alexeevich công tác tại Moscow hầu như trong 20 năm, trong mười năm cuối ông là giám sát của ban tự động hóa của (VEI). Trước khi xảy ra cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, (VEI) là một trong những viện nghiên nghiên cứu khoa học nổi tiếng nhất và có rất nhiều các nhà khoa học lỗi lạc từng công tác tại đây. Ban tự động hóa chuyên nghiên cứu các hệ thống kiểm soát năng lượng, nguyên lý kiểm soát tự động, biện pháp mới của kỹ thuật tự động và cơ học từ xa. Viện đã kết hợp chặt chẽ các kết quả nghiên cứu để đưa ra ứng dụng trong thực tiễn

http://sovietcomputing.com

nthach 24-12-2007 12:27

http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/MESM.jpg
Đứa con – Trí tuệ đầu tiên của S.A.Lebrdev - MESM,
L.N.Dashevsky(bên phải) và S.B.Pogrebinsky trên bàn điều khiển.

http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM1.jpg
V.V.Krainickyi trên bàn điều khiển.


http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM2.jpg
Shkabara Ekaterina, nhà nghiên cứu của viện kỹ thuật điện, tiến sĩ khoa học kỹ thuật. Bà là người khai triển hệ thống điều khiển tự động và thiết bị tồn trữ từ tính. Bà cũng là đồng tác giả của cuốn " Chiếc máy tính số điện tử loại nhỏ", 1952


Hầu như mỗi dự án trong trường kỹ thuật năng lượng được khai triển bởi các nhà khoa học của viện đều cần đến những điều kiện tin học phức tạp, để tính toán đến các dữ liệu của nó hoặc bao gồm chúng trong lĩnh vực của các thiết bị tin học. Do đó, các sự tính toán trên 9600 Megawatt, tuyến năng lượng điện áp kéo dài một ngàn kilomet– dự án thủy điện Kiubyshev-Moscow – đòi hỏi cần phải có thiết bị phần cảm điện tự động có tính năng cao cùng với những tụ điện để tái tạo chính xác mô hình tuyến. Những mẫu mô phỏng của tuyến được thiết dựng trong một ngôi nhà tại quảng trường Nogin ở Moscow và mẫu tiếp theo của mô hình được dựng tại Sverdlovsk. Một thiết bị chuyên dụng tương tự như thiết bị tin học để sử dụng cho các mô hình đó đã được các nhà khoa học lập đồ án thiết kế để tăng hiệu suất tính toán cho tuyến chuyền tải năng lượng điện này

Trong thời gian nổ ra cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, Lebedev đã phát triển một hệ thống định vị cho pháo tăng để trực tiếp thông qua trên chiến trường. Chưa có ai biết được đã có bao nhiêu biên đội tăng tăng đã được an toàn do hệ thống này bảo vệ, hệ thống ổn định cho phép pháo tăng nhắm bắn vào mục tiêu trong khi xe tăng đang di động. Điểm đặc trưng của hệ thống này đã làm giảm thiểu mức thương vong cho xe tăng của Nga, Lebedev đã được trao tặng huân chương Lao động Đỏ và huy chương "Anh hùng lao động trong thời kỳ Chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, 1941-1945."

Trong chiến tranh rất cần phát triển một thống tương tự các nguyên lý của hệ thống điện toán để thực hiện các phép tính số học cơ bản cũng như phép lấy vi phân và tính toán các phép tích phân cho hệ định vị pháo tăng và hệ thống điều khiển tên lửa tự động. Năm 1945, Lebedev đã phát minh ra một chiếc máy tính tỷ biến đơn giản để tìm đáp án tổng hợp thông thường của các phương trình vi phân trong các bài toán kỹ thuật năng lượng. Vợ của Lebedev, bà Alisa Grigorievna đã nhớ lại những tháng đầu trong cuộc chiến tranh, trong những đêm tối mù mịt của Moscow, chồng bà ngồi trong buồng tắm làm việc dười ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn dầu viết vội vàng những con số 1 và 0 của các bài toán nhị phân.
Bản phác thảo tài liệu liên quan đến MESM vẫn còn được giữ lại tại viện khoa học quốc gia Ukraina ở Kiev. Có rất nhiều tài liệu được chính Lebedev tự thảo ra. Một số người đã viết lên các tài liệu đó với dòng chữ - "Lưu giữ vĩnh viễn" – hơn bốn mươi năm trước. Một số trích dẫn cũng được lưu giữ tại đây. Trong một bức thư ngắn gửi cho hội hợp tác học viện khoa học Liên Xô vào đầu năm 1957, Lebedev đã viết:
- Tôi đã bắt đầu thử nghiệm máy điện toán điện tử tốc độ cao vào cuối năm 1948. Giữa những năm 1948 và 1949, tôi đã cho phát triển những nguyên lý cơ bản của cấu tạo đồng dạng máy điện toán. Xét về đặc tính rất quan trọng của máy điện toán trong sự phát triển nền kinh tế của chúng ta, cùng với cơ hội để xây dựng nền điện toán ở Liên Xô, tôi quyết định cho chế tạo nhanh chóng chiếc máy điện toán điện tử loại nhỏ, nó sẽ trợ giúp cho nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của ngành xây dựng máy tính, khảo sát các chiến lược để giải các bài toán kết hợp và tăng thêm kinh nghiệm trong thao tác máy tính. Chúng tôi đã lập kế hoạch ban đầu để thiết lập một phiên bản què của máy và sau đó phát triển nó vào chiếc máy tính điện tử loại nhỏ. Để ngăn chặn sự tải chậm, nó cần phải được thiết lập một ngân hàng bộ nhớ thông qua khối mạch lật, ngân hàng này sẽ có dung lượng bộ nhớ giới hạn. Sự triển khai các nguyên lý cơ bản đã được hoàn thành vào năm 1948. Các thành phần chủ yếu của máy tính và các biểu đồ mạch chính cho các thiết bị của nó cũng đã được hoàn thành vào cuối năm 1949. Cuối năm 1950, những sự hiệu chỉnh cuối cùng trên phiên bản què đã được hoàn tất và thành công tốt đẹp trước khi đi vào hoạt động.

Còn tiếp

http://sovietcomputing.com

nthach 25-12-2007 12:03

http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM3.jpg
Dashevsky Lev, Nhà nghiên cứu thuộc viện Kỹ thuật Điện, tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật. Ông là người khai triển và thực hiện gỡ rối cuối cùng của MESM . Ông cũng là tác giả của cuốn "Chiếc máy tính điện tử cỡ nhỏ" 1952


http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM4.jpg
Rabinovich Zinoviy – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (các bộ phận bên ngoài)


http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM5.jpg
Pogrebinsky Solomon - – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (Biến thể cơ bản của thuật toán)


Hai tháng sau khi thuyết minh mô hình, Lebedev đã làm một báo cáo tại một phiên họp khép kín của hội đồng khoa học kỹ thuật năng lượng nhiệt và điện. Biên bản của phiên họp được lưu trữ tại học viện khoa học Ukraina. Xét về tầm quan trọng lịch sử của tài liệu này, xin được giới thiệu dưới đây:


Tối mật.
Biên bản phiên họp khép kín số 1 của hội đồng khoa học thuộc Viện ASU Công nghệ Kỹ thuật Năng lượng Nhiệt và Điện ngày 8/1/1951

Thành phần tham dự:
Các thành viên thuộc hội đồng khoa học: Các thành viên chủ động của ASU I.T. Shvetz, S.A. Lebedev, thông tin viên Teitelbaum, các tiến sĩ khoa học kỹ thuật A.D. Nesterenko, V.I. Tolubinsky, các ứng viên khoa học kỹ thuật, E.V. Kruschova, A.N. Miliakh, A.I. Petrov.

Khách mời tham dự
Chủ tịch cục OTN, quyền thành viên ASU, N.N. Dobrokhotov
Viện toán: Giám đốc viện, quyền thành viên ASU, A.U. Ishlinsky, trưởng ban I.B. Pogrebisky, tiến sĩ khoa học kỹ thuật S.G. Krain.
Viện Công nghệ Mạ điện: đổng sự phòng thí nghiệm biến cải và mô phỏng (Trưởng phòng thí nghiệm S.A. Lebedev), các ứng viên khoa học L.N. Dashevsky và E. A. Shkabara, trợ lý khoa học Z. L. Rabinovich, kỹ sư S. B. Pogrebinsky, đồng sự phòng thí nghiệm tự động hóa, ứng viên khoa học G.K. Nechaev.

Chương trình nghị sự:
Giải tính máy điện tử (Báo cáo của giám đốc viện ASU công nghệ điện tử, quyền thành viên ASU S.A. Lebedev)

Chấp thuận:
Báo cáo của quyền thành viên ASU S.A. Lebedev “Giải tính máy điện tử”

Các nguyên lý thao tác của máy hiệu suất cao có các nguyên tắc số học. Mục tiêu căn bản của máy là làm gia tốc và tự động giải các phép tính. Phòng thí nghiệm đã được giao nhiệm vụ tạo dựng một nguyên mẫu hoạt động của một máy điện toán điện tử có hiệu suất cao. Trong sự phát triển nguyên mẫu, chúng ta có thể chấp nhận một vài hạn chế, tốc độ của máy điện toán có khả năng giải 100 phép tính trên giây, máy có giới hạn 5 bit trong hệ thống thập phân (16 bit trong hệ thống nhị phân)

Máy có thể cộng, trừ, nhân, chia và thực hiện các hoạt động khác như, so sánh, dịch chuyển và dừng lại, nó còn cho phép những khả năng cải biến để làm tăng thêm những chức năng khác

Nguyên tố cơ bản của máy là làm các phép tổng kết. Các Rơle điện tử cũng đã được sử dụng (các ngăn trigơ), trong các ngăn đó dòng điện được chuyển mạch từ một bóng đèn điện tử đến một bóng khác bằng đường dẫn xung lượng trên một khung lưới. Máy tính cũng cho các tổng từ các phép tính khác đã được thiết lập. Để thay thế cho hệ thống thập phân, một hệ thống nhị phân được cài đặt, hệ thống này được xác lập bởi các cấu phần của các ngăn trigơ (S.A. Lebedev đã sử dụng một lưu đồ để sàng lọc các hoạt động của máy tính). Để bổ sung thêm cho các nguyên tố cơ bản của tin học, chiếc máy cần phải có các nguyên tố khác chi phối qui trình tính toán như, cho quyền cài đặt thiết bị và các cơ sở dữ liệu của bộ nhớ.

Năm 1951, phòng thí nghiệm được giao nhiệm vụ chuyển nguyên mẫu thành một chiếc máy hoạt động.Cho đến thời điểm này, sự trở ngại lớn nhất là thiếu các thiết bị tự động nạp và xuất dữ liệu của các kết quả nhận được. Sự tự động của các quá trình này được thực hiện bởi sự trợ giúp của băng từ do viện vật lý khai triển (Trong phòng thí nghiệm của ASU thông tin viên A.A. Kharkevich).

Các câu hỏi được đặt ra:

N.N. Dobrokhotov: Các máy tính khác sẽ được phát triển ở Liên Xô như thế nào và nếu như chúng đã được triển khai thì trên nguyên lý gì?

A.I. Petrov: Lĩnh vực ứng dụng của tính như thế nào?

A.U. Ishlinsky: 1) Thời gian hoạt động của các nguyên lý máy tính như thế nào? 2) Độ tin cậy máy tính như thế nào trong trường hợp phân tử gặp sự cố? 3) Các anh sẽ giải quyết ra sao khi sử dụng các tài liệu kỹ thuật nước ngoài? 4) Cần phải có đủ năng lực như thế nào cho những người sử dụng máy tính?

G.K. Nechaev: Sự tương quan gì giữa thời gian tính toán và thao tác xuất (nhập dữ liệu) trong cơ cấu tự động của máy tính?

I.T. Shvetz: 1) Tình trạng phát triển các máy tính điện tử như thế nào ở các viện khác? 2) Tình hình về vấn đề này như thế nào ở các nước khác và các tham số của họ được so sánh với chúng ta như thế nào? 3) Ai là người đã khai triển ra các ngăn Trigơ, đã được bao lâu rồi và hiện nay chúng đang được sử dụng ở đâu? 4) Viện ASU đang áp dụng thuật toán ra sao, Viện ASU vật lý và Học viện Khoa học Liên Xô đã xây dựng các qui tắc cho độ chính xác cơ học và công nghệ thông tin trong thành phần cấu tạo của tổ hợp này?

L.I. Tsukernik: Những giải pháp gốc đã được viện ASU kết hợp chặt chẽ bằng công nghệ mạ điện trong máy tính như thế nào

S.G. Krain: Những nhiệm vụ gì sẽ được tiến hành triển khai và máy tính có thể hoạt động tự động?


S.A. Lebedev: Tôi đang tiến hành thực hiện các công việc tương tự như các câu hỏi trên. Hiện nay, tôi đang có số liệu của 18 chiếc máy tính do Mỹ chế tạo. Những số liệu này, chỉ mang tính chất quảng cáo, chứ nó không có bất kỳ một dữ liệu thông tin để chế tạo chiếc máy tính như thế nào. Về câu hỏi đến sự xây dựng nền tảng máy điện toán, chúng ta cần phải đuổi kịp những sự phát triển của nước ngoài và chúng ta cần phải tiến hành thực hiện một cách thật nhanh chóng.
Như trong tài liệu của nước ngoài đã có, để thiết kế dự án và dựng lên được một chiếc máy tính thì cần phải mất từ 5 đến 10 để hoàn thành. Những tham số của những chiếc máy tính do Mỹ sản xuất là: Thời gian tính nhân trên ENIAC – 5.5 phần nghìn giây, trên EDVAC – 4 phần nghìn giây, còn của chúng ta là 8 – 9 phần nghìn giây
Cùng sát cánh với Học viện Khoa học Kỹ thuật Công nghệ Mạ điện, chúng tôi đang đồng tiến hành để khai triển máy tính này tại: a) Bộ Xây dựng Máy và Công cụ SKB-245 ; ở đây họ bắt đầu đang phát triển một bộ phận sử dụng các Rơle cơ học, nhưng hiện nay họ đã chuyển sang sử dụng hệ thống điện tử; b) Viện năng lượng ASU, ở đây họ đang tiến hành phát triển các ngăn Trigơ; c) Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính AS-USSR, họ cùng hoạt động chung với các công việc của chúng tôi. Chiếc mày này gần giống như chiếc MESM, nhưng trong dự định, nó có hiệu suất cao hơn cả những chiếc máy do Mỹ chế tạo hiện nay. Thời gian giải toán của chiếc máy tính này sẽ có giá trị bằng 0.2 phần nghìn giây
Đó là là các ứng dụng cho chiếc máy tính của chúng ta. Trên lý thuyết, tất cả các luận đề có thể đơn giản hóa vào một định dạng số và có thể giải bằng chiếc máy này. Nó cũng có thể giải được các phương trình vi phân và tự thành lập các bảng tính. Các tiện ích khác của chiếc máy này là nó có khả năng thực hiện tương tự như giải các phép tính với dữ liệu nhập vào biến đổi (Thí dụ như: tính toán đường bắn của tên lửa điều khiển). Máy tính điện tử cũng cho phép áp dụng các phương pháp toán học mới để giải các bài toán vật lý.
Rút ra kinh nghiệm từ những khó khăn ở nước ngoài đã gặp phải, khâu xuất bản tài liệu rất khan hiếm. Chúng ta cần phải chia nhân viên làm ba phân đoạn để tiến hành làm việc trên máy: Các nhà toán học (Lập trình mã hóa): những người thợ máy (để sử lý các sự cố của máy); và những người có thể làm được cả hai công việc trên
Thời hạn nhập dữ liệu và thời gian xuất kết quả dữ liệu của máy tính ngang bằng với thời gian chu kỳ thao tác. Học viện Khoa học Kỹ thật Toán sẽ tham gia triển khai lập trình các thuật toán và viện Vật lý
ASU sẽ tiến hành khai triển băng ghi từ tính
Để tăng thêm độ tin cậy của máy, chúng ta sẽ thực hiện một thử nghiệm sơ bộ bóng đèn điện tử.
Sự hỏng hóc của bất kỳ yếu tố nào trong máy cúng có thể dễ dàng phát hiện ra.

nthach 07-01-2008 15:46

Những phát biểu:

A.U. Ishlinsky: Tạo dựng nguyên mẫu chiếc máy tính, đó cũng là một trong những thành tựu ấn tượng nhất của ban khoa học công nghệ và của S.A. Lebedev. Ở đây không cần phải thảo luận về sự quan trọng của chiếc máy tính. Sự ra đời của chiếc máy điện toán sẽ gỡ bỏ các khó khăn và nó sẽ trợ giúp chúng ta đi bằng một con đường ngắn nhất để đạt kết quả nhanh chóng cho ứng dụng của các phương pháp tính toán hiện nay. Phải khẳng định là, những chiếc máy tính sẽ được sử dụng khắp nơi ở trong các lĩnh vực như công nghiệp quốc phòng cũng như trong lĩnh vực khoa học.
Công trình thiết kế chiếc máy tính là một thành tựu vĩ đại trong khoa học. Trong tương lai, máy tính sẽ không còn là một chiếc máy tính toán thông thường cho các mục đích ứng dụng nữa. Trái lại, những công việc nghiên cứu khoa học sẽ được tiến hành thực hiện nhanh chóng bởi sự trợ giúp của những chiếc máy tính này.

N.N. Dobrokhotov: Tầm quan trọng trong sự chỉ đạo nghiên cứu chiếc máy tính khá là hiển nhiên. Nhiệm vụ của ASU là cần phải thiết kế một chiếc máy tính tốt hơn những chiếc máy tính của nước ngoài hiện nay. để đảm bảo rằng, những điểm thiết yếu của nó sẽ làm thay đổi những dư luận, cũng như những tranh luận về các điểm chủ yếu trong thiết kế máy điện toán. Tình hình cấp bách hiện nay là cần thảo luận công việc này trên lĩnh vực toàn quốc gia.

S.E. Teitelbaum: Cần phải mở rộng và tăng cường thêm nhân viên và nguyên vật liệu để đẩy nhanh tiến độ công trình quan trọng này.

S.G. Krain: Sử dụng một chiếc máy tính sẽ cho phép chúng ta ứng dụng được các phương pháp công nghệ tiên tiến. Để thuận tiện cho vấn đề này, chúng ta cần phải tăng cường và nỗ lực trong nghiên cứu.

I.T. Shvetz: Theo báo cáo của Lebedev đã giới thiệu, nó đã mang đến một cảm giác mãn nguyện và niềm hãnh diện trong Học viện Khoa học của chúng ta, công trính nghiên cứu máy điện toán có liên quan đến một số công trình quan trọng nhất của ASU. Cần phải trợ giúp sự phát triển công trình này và thúc đẩy sự thực thi chiếc máy tính ở mức độ cao nhất. Ở đây có một số thiếu sót như: 1) S.A. Lebedev không có chủ trương làm công trình này cho ASU. 2) Sự tương tác giữa các viện với nhau không được toàn diện và chúng cần bảo đảm rằng, viện ASU và viện Toán Lý cần sự cộng tác thật chặt chẽ. 3) Chúng ta sẽ không sử dụng giới hạn "Toán logic" đối với máy tính, bởi vì máy tính không thể thực hiện được các phép tính logic. Chúng ta sẽ thay thế giới hạn khác để hoàn thiện hơn. Dĩ nhiên tôi tin rằng, phạm vi của công việc sẽ tăng thêm, nhưng đây không phải là công việc quan trọng nhất tại ASU. Một điều nữa cần phải chú tâm là vấn đề tài chính được cấp cho ASU năm 1951 sẽ bị cắt giảm.

S.A. Lebedev: Tôi cần nhấn mạnh tầm quan trọng của công trình thiết kế chiếc máy tính. Mọi người hãy lắng nghe một ví dụ sau đây: Chỉ có một phương pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn tên lửa tầm xa là bắn lên một tên lửa chống – tên lửa. Để làm được vấn đề này, chúng ta phải xác định được điểm có khả năng đánh chặn. Sự ứng dụng máy tính sẽ cho phép chúng ta tính toán được đường bay của tên lửa và bảo đảm đường bắn vào mục tiêu chính xác. Phù hợp với chỉ thị của chính phủ, dự án thiết kế máy tính sẽ được hoàn thành vào quí một năm 1951. Dự án dạng biểu đồ này sẽ được đệ trình lên ban hội thẩm chuyên viên để định giá toàn diện. Tôi đồng ý rằng, sẽ thúc đẩy tính hợp tác chặt chẽ giữa Viện ASU với viện Toán Lý. Chúng ta có những mối liên kết Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính không chỉ ở trong lĩnh vực tài chính (Tuy đây là vấn đề quan trọng bởi nó sẽ cung cấp khả năng để tạo dựng một chiếc máy nguyên mẫu) mà còn trong lĩnh vực khoa học. Nếu ai tôn trọng để sử dụng chiếc máy tính MESM này, thì nó sẽ rất khó từ chối với những ai cần đến nó; chúng ta rất khẩn thiết để phát triển công trình này bởi chiếc MESM là chiếc máy tính duy nhất đang hoạt động ở Liên Xô tại thời điểm này
Giải quyết:
1) Công việc của viện công nghệ ASU – dưới sự giám sát của S.A. Lebedev – chiếc máy điện toán được hoàn thiên khá hiện đại, rất khoa học và đặc biệt thích hợp với nền quốc phòng của Liên Xô cũng như trong rất nhiều môn nghiên cứu khoa học khác.
2) Đề nghị S.A. Lebedev đưa ra yêu cầu chính thức đến đoàn chủ tịch ASU, đề nghị tài trợ để tiếp tục phát triển nền máy tính Xô Viết, để xúc tiến công việc và mở rộng cơ sở thí nghiệm ở Feofania, để chuẩn bị tăng cường nhân viên và để bảo đảm cho sự tham gia thiết yếu của các viện ASU khác trong công trình này.
3) Xét về đặc tính phức tạp trong công việc được thực hiện bởi Viện Công nghệ Mạ ASU cùng với Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính và Viện Toán Lý ASU, cần phải sắp đặt một kế hoạch để cùng cộng tác nghiên cứu có hiệu quả cao nhất và sắp xếp công việc dựa trên sự tham gia của những cơ quan khoa học Ukraina và Xô Viết, cùng với bộ Chế tạo Máy và Công cụ của Liên Xô.

Chủ tịch Hội đồng Khoa học, thành viên ASU - I.T. Shvetz.
Thư ký khoa học — E. V. Krushchova

http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM6.jpg


Zorina-Rapota Zoya - Bộ nhớ trên trống từ
Gladish Anna – Trống từ
Okulova Ivetta – Bộ nhớ trên trống từ
Chernjak Rostislav - Bộ nhớ trên trống từ

nthach 07-01-2008 15:50

http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM7.jpg

Lidiya Abalishnikova – phần Số học
Kondalev Andrei – Bộ nhớ thụ động
Kraynitskiy Vladimir – Bàn điều khiển
Pinevich Mikhail - -Biến thể thứ nhất của phần số học



Dưới đây là một tài liệu rất quan trọng khác, Lebedev đã viết trong ghi chép hàng ngày của ông, tài liệu này có thể cho chúng ta thấy được niên đại những giai đoạn thiết kế của chiếc máy điện toán đầu tiên của Liên Xô – chiếc máy MESM.


Bản nháp mật.
Các giai đoạn phát triển của chiếc máy tính điện tử (cỡ nhỏ) đầu tiên.

1. Tháng 10 – 12 năm 1948: Phát triển các nguyên lý cấu tạo cơ bản cho một chiếc máy tính.
2. Tháng 1 – 3 năm 1949: Các nguyên tắc chung đã được thiết lập để triển khai các yếu tố phân tử tách rời. Hội thảo trên máy tính với các đại diện của viện toán, lý ASU
3. Tháng 3 – 4 năm 1949: Phát triển các Trigơ trên các đèn chân không 6N9M và 6N15
- Phát triển các Logic
- Phát triển các máy phát xung
- Phát triển các máy đếm trên các đèn chân không 6N15
4. Tháng 5 – 6 năm 1949: Phát triển các đơn vị số học trong các đèn chân không 6N15 (phiên bản 1).
- Chuyển giao các vị trí mới và cơ cấu của phòng thí nghiệm

5. Tháng 7 – 9 năm 1949: phát triển các đơn vị số học cho các đèn chân không 6N9 (phiên bản 2)
- Phát triển các nguyên lý bộ nhớ tĩnh.
- Phát triển bảng chuyển mạch điện tử.
6. Tháng 10 – 12 năm 1949: Thiết lập các thiết kế chính cho máy nguyên mẫu
- Phát triển thiết kế tổng thể cho máy tính.
- Chuẩn bị và tạo dựng cấu trúc cho máy tính.
7. Tháng 1 – 3 năm 1950: Phát triển và chuẩn bị các tổ ngăn cách và gỡ rối của chúng
- Phát triển và chuẩn bị bảng điểu khiển máy tính.
8. Tháng 4 – 7 năm 1950: Phát triển các điều kiện kỹ thuật của ổ nhớ từ tính.
- Cài đặt các bộ phận vào khung máy và lẳp ráp các bộ phận kết nối chìm
- Lắp ráp các phần kết nối giữa khung máy và bảng điều khiển.
- Tu sửa giao diện giữa các bộ phận khung máy và các bộ phận nhóm.
- Chế tạo ổ nhớ từ tính tại viện lý ASU.
- Thành lạp chi nhánh của viện Cơ khí chính xác và Công nghệ máy tính tại kiev.
9. Tháng 8 – 11 năm 1950: Gỡ rối các các chương trình máy từ bảng điều khiển.
- Thử nghiệm khởi động lần đầu tiên trên nguyên mẫu máy tính (6/11/1950).
10. Tháng 11 – 12 năm 1950: Tăng thêm các khối nhớ để mở rộng dung lượng bộ nhớ.
- Sàng lọc các phép tính: Cộng, trừ, nhân và so sánh.

11. Tháng 1 – 2 năm 1951: - (4/1/1951) Thuyết minh sự vận hành của máy nguyên mẫu với ủy ban quốc gia.
- Soạn thảo các hoạt động để hoàn thành công việc trên máy nguyên mẫu. Trong khi thuyết trình nguyên mẫu, đã giải quyết một trục trặc trên máy tính do phép toán số học của một chuỗi số lẻ giai thừa đã tăng lên một bậc.
- Bắt đầu tiến hành chuyển máy nguyên mẫu thành một máy tính có thể hoạt động (MESM).

12. Tháng 3 – 5 năm 1951: Phát triển hệ thống lệnh và hằng số.
- Giới thiệu các kết quả bản ghi hình ảnh.
- Phát triển hệ thống kiểm soát bộ nhớ từ tính.
- Khởi động hệ thống lệnh và hằng số
- Trình bày các hoạt động của máy tính với hội đồng chính phủ và ủy ban chuyên môn.

13. Tháng 6 – 8 năm 1951: Lắp các thiết bị cho các thẻ tách rời của nguồn dữ liệu nhập ban đầu.

- Lắp thiết bị cho các thẻ đục lỗ tách rời của dữ liệu đầu vào ban đầu.
- Tích phân các nguyên số mới để thi hành các lệnh của phép tính tổng, nạp dữ liệu cho các chương trình phụ và kết nối với mã hóa của bản ghi tư tính.
- Lắp ráp và gỡ rối các hệ thống kiểm soát ổ ghi từ tính.
- Phát hành nghị quyết chính phủ (Số. 2759–1321 từ ngày 1 tháng bảy năm 1951), đưa chiếc máy tính điện tử (MESM) hòa mạng vào quí tư năm 1951.

14. Tháng 8 – 11 năm 1951: Rà soát và cải tiến phép chia và các phép tính khác.

- Sửa đổi các bộ nhớ để tăng thêm độ tin cậy của chúng.
- Hoàn thành sự biến đổi của chiếc máy tính nguyên mẫu và thử nghiệm tổng quát trước khi đưa vào hoạt động.

15. Khởi động máy MESM – ngày 25/12/1951.
- Giải quyết một vấn đề thực tế trên máy tính: tính toán trên máy tính chức năng phân bố xác suất


16. Tháng 1 năm 1952: S.A. Lebedev - quyền thành viên ASU báo cáo (4/1/1952) tại đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Liên Xô AS - USSR thông qua bản đề nghị đưa chiếc Máy tính Điện tử Cỡ nhỏ đi vào hoạt động.
- S.A. Lebedev - quyền thành viên ASU (Học viện Khoa học Liên Xô) báo cáo (11/1/1952) tại đoàn chủ tịch ASU tiến hành đưa máy tính vào hoạt động.
17. Ngày 12 tháng giêng năm 1952: Hoàn thành các bậc của các phép tính trên MESM. Tính hàm:


2100 giá trị của X được tìm thấy với hơn một triệu phép tính

18. Ngày 25 tháng giêng năm 1952: Tính hàm:

850 giá trị của X đã đựoc tính toán và một triệu phép tính đã được xác lập.
- Gỡ rối và đặt chương trình cho hệ thống nhớ từ tính
- Hoàn thành các tính toán sự ổn định trên Hệ thống Truyền tải Mạ điện Cao thế Kiubyshev-Moscow
19. Ngày 18 tháng chín năm 1952: Tăng thêm các con số của máy tính từ 16 lên 20 để cải thiện độ chính xác của sự tính toán cho 6 vị trí thập phân
20. Ngày 19 tháng 10 năm 1952: Giải quyết vấn đề cân đối các máy phát điện năng lượng đồng bộ tại trạm thủy điện Kuibyshev theo yêu cầu của nàh máy thủy điện trung tâm Volga.
- Lập trình các tính toán đồng dạng theo yêu cầu của các tổ chức quốc gia khác cho các dự án quan trọng của đảng.

Người được ủy quyền xây dựng hệ thống máy tính điện tử
Quyền thành viên ASU – S.A. Lebedev.



http://sovietcomputing.com

nthach 08-01-2008 14:05

Kiev – Quê hương của chiếc máy tính MESM


http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM8.jpg
Semenovsky Anatoliy
Zaika Vladimir
Parkhomenko Ivan
Mozyra Yuriy


Chiếc máy MESM ban đầu được Lebedev lập kế hoạch hợp với mẫu cho BESM. Thoạt đầu, chiếc MESM được tính toán thiết kế cho một Mẫu máy tính điện tử. Nhưng trong quá trình sáng tạo, nó dần trở thành một chiếc Máy tính Cỡ nhỏ. Bởi vì trong qúa trình phát triển, người ta đã thiết kế thêm đầu vào và đầu ra cho máy tính, cùng với sự gia tăng thêm dung lượng bộ nhớ trên một trống từ tính, do đó từ “Mẫu” đã được đổi thành từ “Cỡ nhỏ”.
Trong thời gian Kiev lâm vào tình trạng chiến tranh, Học viện Khoa học của Ukraina đã phải đương đầu với một khó khăn mới, do họ sẽ cần phải tạo dựng chiếc máy tính này ở một địa điểm nào. Nhưng phần việc khó khăn nhất của dự án đã được thiết lập thực tại trên chiếc MESM. Tôi tin rằng nó sẽ dễ dàng hơn bởi kinh nghiệm từng trải của Sergei Alexeevich từ cuộc nghiên cứu trước, nó sẽ đem lại cho ông những thành công rực rỡ với những khía cạnh kỹ thuật của các yếu tố xây dựng máy điện toán. Tuy nhiên, sự tính toán của tôi đã sai lầm, chiếc MESM đã được đặt tại tầng trệt của một ngôi nhà hai tầng nơi mà Học viện Khoa học đã cho phép Lebedev đặt làm phòng thí nghiệm. Khi đó chiếc máy đã được lắp ráp và đã được đóng điện, sáu ngàn chiếc đèn chân không của nó đã được chuyển vào nhà tắm.
Dưới sự chỉ đạo của Lebedev và các phụ tá của ông, những ứng viên khoa học; Lev Naumovich Dashevsky và Ekaterina Alexeevna Shkabara, cùng với một đội gồm hai mươi năm kỹ sư, kỹ thuật viên và các nhân viên lắp ráp, tất cả cùng tham gia tích cực trong thiết kế, lắp ráp, hiệu chỉnh và vận hành chiếc MESM.
Vào cuối năm 1951, một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Học viện khoa học Liên Xô từ Moscow đã đến Feofania để đưa chiếc MESM vào hoạt động. Trưởng nhóm nghiên cứu là viện sĩ hàn lâm hoa học Mstislav V. Keldysh, các thành viên trong nhóm gồm có các viện sĩ hàn lâm khác là Sergei L. Sobolev, Mikhail A. Lavrentiev, and Professors K.A. Semendayev và A.G. Kurosh.
Ngày 4/1/1952, Lebedev đã trình bày một bản báo cáo về chiếc máy tính MESM với đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Liên Xô. Sau đó một năm, sau khi Lebedev đã chuyển đến Moscow, viện Kỹ thuật Điện thuộc Học viện Khoa học Ukraina đã đề cử trao giải thưởng quốc gia của Liên Xô cho dự án MESM. Lebedev, Dashevsky và Shkabara là những người trong danh sách lãnh đạo của nhóm MESM và họ rất xứng đáng được đánh giá cao trong dự án này: Phần lớn các nguyên lý cấu tạo của máy tính do Lebedev khai triển đến nay vẫn còn được ứng dụng trong nền công nghệ vi tính hiện đại. Năm 1950, khi mẫu máy MESM đã được thử nghiệm thành công, thì những chiếc máy tương tự mới được Frederick Williams, Tom Kilburn Con và Maurice Wilkes' EDSAC cho khai triển tại Anh.
Tuy nhiên, các máy tính của Anh mới chỉ hoạt động trên một phần số học toán tử tuần tự, trong khi đó chiếc MESM đã được chạy trên nhiều đơn vị thuật toán song song.
Vào năm 1952, ủy ban giải thưởng quốc gia đã công nhận; chiếc MESM thực tế là một máy điện toán duy nhất trong nước đã giải quyết được vấn đề quan trọng nhất về khoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực;
Qui trình vũ khí nhiệt hạch (phản ứng tổng hợp hạt nhân ở nhiệt độ cao), ví dụ như công trình của Yakov B. Zeldovich,
Các chuyến bay vào vũ trụ.
Công nghệ kỹ thuật tên lửa.
Các tuyến chuyển tải điện đường dài.
Kiểm soát chất lượng thống kê và nhiều lĩnh vực khác.
http://sovietcomputing.com

nthach 08-01-2008 14:58

http://i187.photobucket.com/albums/x...ach1/MESM9.jpg

Dedeshko Evgeniy - Nguồn cấp điện
Ofengenden Rafail - Trống từ
Pokhilo Nikolai - Kỹ thuật vi mạch



Tài liệu sau đây là một trong rất nhiều bằng chứng cho sự quan trọng và độc đáo của chiếc máy tính MESM:
Tối mật
Học viện Khoa học thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội Xô Viết
Ban ứng dụng Toán học
Viện toán V.A. Steklov
Ngày 26 tháng mười một, năm 1953, N438.


Kính gửi: Giám đốc Học viện Khoa học Liên Xô, viện Kỹ thuật Năng lượng Điện, thành viên thông tấn Học viện Khoa học nước cộng hòa Ukraina – A.D. Nesterenko
Ban giám đốc ban ứng dụng toán học thuộc Học viện Khoa học Liên Xô, viện toán V.A. Steklov muốn bày tỏ sự cảm ơn nồng nhiệt nhất đến Học viện Khoa học nước cộng hòa Ukraina, viện Kỹ thuật Năng lượng Điện đã tham gia vào xây dựng công trình máy điện toán cực kỳ quan trọng đã được tiến hành từ tháng 11 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953 trên chiếc máy điện toán cỡ nhỏ MESM do viện sĩ hàn lâm khoa học S.A. Lebedev thiết kế. Trong thời kỳ này, nhóm khoa học thuộc Học viện Khoa học Kỹ thuật Toán Liên Xô dưới sự chỉ đạo của viện sĩ hàn lâm A.A. Dorodnitsyn và tiến sĩ toán – lý A.A. Lyapunov đã cùng cộng tác với nhóm khoa học của phòng thí nghiệm số 1 thuộc Học viện Khoa học Liên Xô, viện kỹ thuật năng lượng điện (do viện sĩ hàn lâm S.A. Lebedev giám sát) đã bỏ rất nhiều công sức để tính toán cho ba chương trình phức hợp, thực hiện gần 50 triệu phép tính cho máy tính. Chúng tôi cũng mong muốn nêu ra đây một cách tỉ mỉ và những công việc rất tận tâm của các nhà khoa học: Phó phòng thí nghiệm – L.N. Dashevsky; Kỹ sư trưởng – R.Y. Cherniak; các kỹ sư A.L. Gladish, E.E. Dedeshko, I.P. Okulova, T.I. Petsukh và S.B. Pogrebinsky cùng các kỹ thuật viên U.S. Mozipa, S.B. Rosenzweig và A.G. Semenovsky. Những người đồng sự này cùng nhau phối hợp tận tụy với nhau hàng ngàn giờ trong công việc và đã cố gắng nỗ lực hét sữ mình để bảo đảm chất lượng cao nhất cho chiếc máy tính hoạt động không xảy ra sự cố.
Giám đốc Ban ứng dụng Toán học thuộc Học viện Khoa học Liên Xô.
Viện Toán, Viện sĩ hàn lâm M.V. Keldysh.


Nhưng Lebedev và các động nghiệp của ông đã không nhận được phần thưởng Quốc gia như đã định. Đây là lần đầu tiên, nhưng cũng phải là lần cuối cùng khi sự đóng góp quan trọng của ông trong công cuộc hình thành và phát triển nền công nghệ máy điện toán đã không được đánh giá một cách đúng đắn.
Thật đáng tiếc, ban giám đốc học viện khoa học Ukraina lúc bấy giờ được lãnh đạo bởi một nhà nghiên cứu sinh vật học, ông ta đã không hiểu hoặc cố tình không chịu hiểu tầm quan trọng của công trình do Lebedev khai triển. Bí thư ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Ukraina, ông Ivan Dmitrievich Nazarenko, người đã đến thăm phòng thí nghiệm của Lebedev vào cuối năm 1950. Sau khi đã hiểu được khả năng của chiếc MESM và toàn cảnh cho sự tiến bộ cùng với sự ứng dụng của công nghệ tin học, ông ta rất sửng sốt và thích thú thốt lên: “ Thật là ma thuật!” Rời khỏi phòng thí nghiệm, Nazarenko nói với Lebedev rằng, ông ta sẽ đợi các đề xuất cho sự phát triển tiếp theo của dự án.
Sau khi đã nghe ngóng các diễn biến về dự án của Lebedev trong một tuần lễ, đoàn chủ tịch của Học viện Khoa học Ukraina đã gửi một bức thư cho Đảng Cộng sản Ukraina yêu cầu trợ giúp để tiếp tục đề tài nghiên cứu máy điện toán. Điều này không có tác dụng, với sự thiếu khả năng nhận thức thấu đáo và không đánh giá đúng đắn được ý nghĩa quan trọng trong nền công nghệ máy điện toán của Học viện Khoa học Ukraina và của chính quyền Ukraina và liên tục mười năm tiếp theo, cho đến khi Victor Glushkov xuất hiện. Một trích dẫn đã được lấy ra từ một lá thư do Lebedev đã gửi đến Ủy ban Trung ương đảng Cộng sản Ukraina vào năm 1956 ông đã nói lên tình trạng của sự việc này: “Nước cộng hòa của chúng ta đã giữ quan điểm có liên quan đến nến công nghệ tin học như vậy chẳng khác gì một tội ác chống lại Quốc gia”. Tác giả của cuốn sách này cũng là một trong số những người đã ký vào lá thư đó. Một cơ hội cho Ukraina để gánh vác vai trò chủ đạo trong lĩnh vực quan trọng nhất của nền Khoa học và Công nghệ ở thể kỷ Hai mươi đã bị rơi khỏi tầm tay.
Phó chủ tịch Học viện Khoa họcUkraina đồng giám đốc viện toán, ông Mikhail Alexeevich Lavrentiev rất hiểu về tầm quan trọng của dự án do Lebedev khai triển và những phức tạp của nó, ông đã viết thư cho Stalin nói về sự cần thiết để mau chóng tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ điện toán và hết sức có triển vọng để sử dụng máy điện toán, kể cả trong các mục đích an ninh Quốc gia. Một kết quả khá bất ngờ cho nhà toán học Lavrentiev: Năm 1951, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính ở Moscow, cương vị này cũng đã được chính phủ tuyển chọn vào mùa hè năm 1948 để phát triển nền công nghệ tin học hiện đại.
Lavrentiev quyết định tận dụng những kinh nghiệm đã từng trải của Lebedev. Lebedev cũng đã chứng tỏ được khả năng sáng tạo của mình, ông đã tiến hành hình thành và biên soạn giản đồ tạm thời và các biểu đồ cho chiếc BESM. Tháng ba năm 1951, Lavrentiev cho thành lập phòng thí nghiệm số 1 tại Viện Cơ khí Chính xác và đề nghị Lebedev làm trưởng phòng. Do đó chiếc BESM, tuy đã có kế hoạch làm nguyên mẫu ở Kiev, đã được tiến hành xây dựng tại Moscow.

nthach 08-01-2008 16:12

http://i187.photobucket.com/albums/x...ch1/MESM10.jpg
Chiếc máy tính SESM. ( Học viện Khoa học Liên Xô, 1950-1951).


Lebedev đã viết một bài bài báo ngắn có tựa đề “ Cái nôi của chiếc máy tính đầu tiên” tặng Lavrentiev trong lần sinh nhật thứ 70 để ca ngợi vai trò tạo dựng trong cả hai chiếc MESM và BESM của Lavrentiev.
Lebedev viết:
Ngay từ năm đầu thời hậu chiến, tôi làm việc ở Kiev. Khong lâu sau, tôi được phong tặng là một viện sĩ hàn lâm của Hoch viện Khoa học Ukraina, khi đó phồng thí nghiệm được thành lập ở Feofania ngoại ô Kiev, ở đây chiếc máy tính đầu tiên của Xô Viết đã được sinh ra. Khi đó là một thời kỳ thật khó khăn. Đất nước đang trong công cuộc xây dựng lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá. Mỗi một vấn đề bé nhỏ nó cũng trở thành thật to tát. Chiếc máy đầu tiên của Xô Viết sẽ có thể không được ra mắt tại Feofania nếu như không có được sự bảo trợ của M.A. Lavrentiev, khi đó ông là phó chủ tịch của Học viện Khoa học Ukraina. Còn bây giờ, tôi không hết kinh ngạc và vui mừng với những nghị lực vô biên của Lavrentiev đã bảo vệ và xúc tiến các ý tưởng của ông. Theo quan điểm của tôi, rất khó có thể thấy được ai sau khi đã gặp gỡ Lavrentiev mà không bị lây nhiễm lòng nhiệt tình của ông. Mikhail Alexeevich. Dã được bổ nhiệm là giám đốc Viện Cơ khí Chính xác và công nghệ tin học AS – USSR. Khi chiếc máy tính – BESM – đã sẵn sàng, nó sẽ không hề thua kém với bất kỳ kiểu máy mới nhất nào của Mỹ và nó sẽ trở thành một thành tựu đích thực của những ý tưởng những người tạo dựng ra nó.
Sau khi chiếc MESM đã được hoàn thành, Zinovy Lvovich Rabinovich bắt đầu chỉ đạo các công việc thiết kế cho một chiếc máy tính chuyên dụng, Chiếc máy Tính Điện tử Chuyên dụng – tiếng Nga Spetsialnaya Elektronnaya Shetnaya Mashina, hoặc còn gọi là SESM, để giải các tập hợp của các phương trình đại số. Chiếc SESM là dự án cuối cùng của Lebedev ở Ukraine, nhưng nó và chiếc MESM đã mở đường cho rất nhiều các thao tác đặc trưng riêng biệt của các máy tính chuyên dụng sau này. Sau khi Lebedev chuyển lên Moscow, các sinh viên của ông như; Dashevsky, Shkabara, Pogrebinsky và nhiều người khác đã ở lại Ukraina, họ bắt đầu triển khai một chiếc máy điện toán mới, chiếc Kiev. Dù rằng tính năng hoạt động của chiếc Kiev còn thua xa chiếc máy tính M – 20 đời mới của Lebedev, nhưng nó vẫn là một công trình công nghệ tại thời điểm đó.
Năm 1958, Viktor Glushkov là lãnh đạo phòng thí nghiệm trước đây của Lebedev và chiếc Kiev dã được hoàn dưới sự chỉ đạo của ông. Sau này, chiếc máy đó được sử dụng một thời gian khá lâu tại Trung tâm Tin học thuộc Học viện Khoa học, nơi mà một phòng thí nghiệm máy điện toán được thành lập tại đây. Trung tâm Tin học này cuối cùng được tổ chức lại thành Viện Điều khiển học; Ngày nay nó được mang tên Glushkov, người đã sáng lập ra nó.
Glushkov đã phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập chiếc máy MESM tại Học viện thuộc Hội đồng Khoa học Kỹ thuật, Viện Điều khiển học, ông đã bày tỏ lòng biết ơn đến tầm quan trọng của chiếc máy tính MESM trong công cuộc phát triển nền công nghệ máy điện toán ở Ukraina và ở khắp Liên Xô:

Không hề phụ thuộc vào các nhà khoa học của nước ngoài, S.A. Lebedev đã phát triển các yếu tố cơ bản để xây dựng một chương trình máy tính bộ nhớ lưu trữ. Dưới sự chỉ đạo của ông, chiếc máy điện toán đầu tiên ở châu Âu đã được ra đời. Nó có khả năng giải quyết các vấn đề có tính khoa học và kỹ thuật rất quan trọng, nó cũng là một vai trò chủ chốt để thành lập trường lập trình tin học Xô Viết.
Sự cống hiến của Lebedev cho nền khoa học Ukraina đã được thừa nhận. Một đường phố ở Kiev đã mang tên ông, Học viện Khoa học cũng đã tổ chức một cuộc thi trong danh nghĩa của ông. Những người đầu tiên đã được giành giải thưởng Lebedev trong cuộc thi Khoa học Điện toán gồm có: Mikhail A. Lavrentiev, Vladimir Andreevich Melnikov, Zinovy Rabinovich và tác giả của cuốn sách này. Tại Kiev, lối vào của tòa nhà thuộc Viện Kỹ thuật Năng lượng Điện nơi mà Lebedev đã từng làm giám đốc, có một tấm biển kỷ niệm đã được đặt ở đây để ghi nhớ thanh danh ông. Phát biểu tại lễ kỷ niệm, giám đốc Học viện Khoa học Ukraina – viện sĩ hàn lâm Boris E. Paton đã nhận xét:
Chúng ta luôn kiêu hãnh trước một sự thật rằng, tại Học viện Khoa học Ukraina ở Kiev thân yêu của chúng ta, nơi mà Lebedev — một nhà khoa học ưu tú đầu tiên đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghệ tin học, toán học và những hệ thống tự động hóa rộng lớn. Ông đã mở đường cho sự thành lập trường Khoa học Công nghệ Vi tính nổi tiếng ở Kiev, ngọn đuốc của ông sau này đã được tiếp tục thắp sáng bởi V.M. Glushkov. Hôm nay, chúng ta có Viện điều khiển học Glushkov, một trong những viện máy điện toán đầu tiên và rộng lớn nhất trên toàn thế giới
Lebedev sống và làm việc trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của những nền Khoa học điện tử, công nghệ điện toán, tên lửa cũng như trong lĩnh vực làm chủ ngoài không gian và năng lực nguyên tử. Nhà ái quốc Sergei Alexeevich đã đóng góp một phần công sức cùng với I.V. Kurchatov, S.P. Korolev và nhà toán học M.V. Keldysh vào những dự án vĩ đại nhất để tạo dựng lên một tấm lá chắn kiên cố cho tổ quốc. Vai trò quan trọng to lớn của máy điện toán do Sergei Alexeevich tạo dựng được thực hiện trong các dự án đó là không hề phóng đại. Tên ông đang đứng ở hàng cao nhất của những nhà khoa học vĩ đại trên thế giới.
http://sovietcomputing.com

nthach 15-01-2008 12:25

Đua tài sáng tạo



http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-54.jpg
Chiếc máy tính BESM


Những khối đầu tiên để thành lập cơ sở nghiên cứu khoa học của nền công nghệ điện tử số đã được bố trí ở Moscow, nhưng tất cả đã được thay đổi vào cuối những năm 1940. Bởi do Lebedev, đã rời trung tâm nghiên cứu khoa học đến Kiev. Khi đó viện sĩ hàn lâm Nikolai G. Bruevich đã được bổ nhiệm làm giám đốc Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính ở Moscow vào ngày 16/7/1948, ông không hề biết rằng những công việc bí mật trên chiếc MESM đang được tiến hành với một tốc độ cao nhất tại Kiev. Năm 1949, tin tức đầu tiên từ nước ngoài về chiếc máy tính hiện đại đã được truyền đến Viện Cơ khí Chính xác. Báo chí nước ngoài đã đưa tin, năm 1946 chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới, chiếc ENIAC [the Electronic Numeric Integrator and Calculator] – (Máy tính và tích phân số điện tử ) đã được chế tạo tại Mỹ. Chiếc máy này được lắp 18.000 chiếc bóng đèn chân không và thực hiện được khoảng một ngàn phép tính trên giây. Sau đó, tin tức về chiếc máy tính có tốc độ nhanh hơn và được lắp với số lượng không nhiều đèn chân không đã xuất hiện tại Liên Xô. Do những thông tin còn rất sơ sài, nên nguồn gốc về sự xây dựng một chiếc máy tính còn chưa rõ ràng.
Một năm sau khi Viện Cơ khí Chính xác được thành lập, một ủy ban thuộc Đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Keldysh đến để ước định công việc của viện. Khá hợp lý, lá thư của Lavrentiev gửi cho Stalin đã thúc đẩy công trình nghiên cứu này. Ủy ban của Keldysh đã đi đến một kết luận làm mọi người bối rối: Công nghệ máy tính điện tử số đã nhanh chóng phát triển ở phương Tây, nhưng ngược lại ở Liên Xô nó lại nhận được sự quan tâm quá ít. Được sự khích lệ trong kết luận đó của ủy ban, Bruevich đã phê chuẩn một quyết định để tổ chức thành lập một Ban Máy điện toán tốc độ cao thuộc Ban Khoa học của Học viện Khoa học Kỹ thuật Xô Viết. Tháng chín năm 1949, ông giao cho một nhóm sáu nhà khoa học từ ban của ông tiến hành phát triển những thành phần thiết yếu để tạo dựng ra một chiếc máy điện toán.

Một người tham gia trong dự án, ông Petr Petrovich Golovistikov đã nhớ lại:
Có rất nhiều khách thăm quan đến để xem khi chúng tôi bắt đầu lắp ráp những phần cơ bản của chiếc máy tính,ví dụ như những Triger mạch lật…Tại thời điểm đó, tôi không hiểu tại sao Bruevich lại mời họ tới. Nó làm cho tôi cảm thấy rằng chúng tôi đã cho họ được vè công việc biết qúa ít. Trong những người tham quan đó có, bộ trưởng bộ chế tạo Máy và Công cụ kỹ thuật Liên Xô – Parshin, ủy viên Loskutov và viện sĩ hàn lâm Blagonravov. Việc này đã thúc đẩy tôi làm việc mỗi ngày từ mờ sáng cho đến tận khuy. Sau đó, tôi đã nhận thấy được ý nghĩa của cuộc viếng thăm này. Tôi đặc biệt nhớ đến một cuộc viếng thăm xảy ra trong tháng giêng năm 1950. Bruevich đã mời đến đây hai người, một người cao lớn, oai vệ và lịch sự; ông ta rất chăm chú lắng nghe những lừoi giải thích. Người còn lại, hơi thấp, đeo một cặp kính và ông đã làm tôi có ấn tượng rất mạnh. Ông trực tiếp nói chuyện và đưa rất nhiều câu hỏi với tôi. Ông muốn tôi cho ông ta xem các tín hiệu trong các điểm riêng biệt của máy tính và giải thích về tín hiệu thời gian trì hoãn trong các mạch tách rời. Ông yêu cầu thay đổi tần số máy phát điện để xác định rõ lĩnh vực quá trình hoạt đông của lược đồ. Sau khi làm xong, ông yêu cầu tôi chế tạo một nguyên mẫu trường mạch để kiểm soát máy chỉnh lưu. Ông ấy muốn rằng, trên mỗi một chiếc đèn điện tử sẽ mang một nguồn tải tăng thêm tương đương với các đèn khác, do đó tín hiệu trong mạch sẽ không bị ẩm và sự trì hoãn trong mạch sẽ ở mức tối thiểu. Qua đó, tôi đã được làm quen với Lavrentiev và Lebedev. Thời gian này, tôi biết rằng trong lĩnh vực máy tính đã được bắt đầu tiến hành thử nghiệm tại Viện năng lượng AS USSR dưới sự giám sát của I.S. Brook và ở Bộ chế tạo Máy và Kỹ thuật Công cụ, chiếc SKB-245 cũng đã được tạo dựng. Nhưng tôi hoàn toàn ngờ với thực tế là, chiếc máy tính đầu tiên của Liên Xô đã nhanh chóng được phát triển dưới sự chỉ đạo của Sergei Alexeevich ở Kiev.

Bruevich đã làm việc với Bộ chế tạo máy Xô Viết để thành lập ra ba tổ chức vào năm 1949 để tập hợp những sản phẩm khoa học: Viện Nghiên cứu Khoa học chuyên chế tạo máy tính [Phiên âm tiếng Nga, Nauchno-Issledovat'elskii Institut Schetnovo Mashinostroyeniya – NII Shetomash], SKB-245 và Xí nghiệp Máy tính [Phiên âm tiếng Nga, in Russian, Zavod Schetno-Analiticheskhik Mashin, hoặc SAM]. Quản lý cả hai bộ phận Schetomash và SKB-245 là Mikhail Avksentievich Lesechko.

Mặc dù trên thực tế cả ba tổ chức đó đã được chính phủ ra chỉ thị để xây dựng những phân tích vi phân giống như ở Mỹ đã xây dựng vào những năm 1930 và những năm 1940, nhưng Lesechko vẫn tin tưởng vào khả năng kỹ thuật của mình, ông đã đồng ý với đề xuất của Bruevich là thiết kế và chế tạo đèn chân không căn cứ vào máy điện toán. Song, sau một cuộc đến thăm Viện Cơ khí Chính xác đã làm thay đổi ý định của ông. Lev Israelevich Gutenmakher là giám đốc của một trong những phòng thí nghiệm của viện, đã thử chế tạo một chiếc máy tính không dựa vào đèn chân không, mà trên các rơle điện tử không tiếp xúc ( khuếch đại từ). Thí nghiệm này đã làm cho Petr Ivanovich Parshin, bộ trưởng bộ Chế tạo Máy và Công cụ Kỹ thuật chú ý và quan tâm.

nthach 15-01-2008 12:28

http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/2-46.jpg
Chiếc máy tính BESM – 6


Khi đó, có một sự thay đổi trong ban lãnh đạo tại viện Cơ khi Chính xác vào giữa tháng ba năm 1950, một giám đốc mới được bổ nhiệm, Mikhail A. Lavrentiev, ông đã nhận thấy sự cấp bách của rất nhiều vấn đề phía trước. Đầu tiên là, ở trong viện hiện có rất ít các chuyên viên trong lĩnh vực công nghệ điện toán. Thứ hai là, một số ít các ban khoa học có liên quan còn tồn tại thì nằm rải rác khắp Moscow. Thứ ba là, chính phủ đã thông qua một nghị quyết ủy thác cho viện phát triển một chiếc máy điện toán mới – một dự án khổng lồ gồm có hàng ngàn chiếc đèn chân không và đặc biệt phức tạp hơn so với những gì Lavrentiev đã được nhìn thấy tại phòng thí nghiệm của Lebedev ở Kiev. Do đó, trong một chỉ thị ra ngày 20/3/1950, Lavrentiev đã bổ nhiệm Lebedev làm giám đốc phòng thí nghiệm số 1 của viện; Lebedev trong khi đó làm việc ở cả hai thành phố Kiev và Moscow. Cũng vào thời gian này, bộ chế tạo Máy và Công cụ Kỹ thuật được ủy quyền thiết kế và phát triển một chiếc máy tính khác dựa theo những ý tưởng của Gutenmakher.
Trước khi sắc lệnh của chính phủ được chấp thuận cho phát triển và chế tạo hai chiếc máy điện toán, Stalin đã yêu cầu, cần chỉ định một vài người đứng ra giám sát trên từng chiếc máy tính. Do đó, Lavrentiev và Lebedev thiết kế trưởng của chiếc BESM đã được Học viện Khoa hoạc Xô Viết đề cử và bộ chế tạo Máy và Công cụ Kỹ thuật cũng đã đề cử Lesechko và Yuri Yakovlevich Bazilevsky thiết kế trưởng của chiếc Strela (Mũi tên). Vì vậy, sự đua tài sáng tạo giữa hai chiếc máy tính SKB-245 – SAM và SRI – Schetmash đã ra đời. Rõ ràng , trung tâm hoạt động của nền công nghệ điện toán Liên Xô đã được rời từ Kiev về Moscow. Đối Lebedev, thì tình hình này xem ra phức tạp, nên ông đã mang tất cả các phác họa của máy tình tính từ Kiev về đề lên kế hoạch cho chiếc BESM
Theo ông Golovistikov:


Có nguồn tin nói rằng, toàn bộ giản đồ của chiếc BESM đã được phác họa trên các trang giấy và được Lebedev cất giữ trong các bao thuốc lá Kazbek. Vấn đề này hoàn toàn không đúng sự thật. Lebedev có rất nhiều sổ nghi chép dày trang, những cuốn sổ này được ghi chép cẩn thận những biểu đồ và những thiết kế, với tất cả các cấu trúc giản đồ của máy tính, các biểu đồ tạm tính của các phép toán và những mô tả chi tiết của tất cả các phương pháp hoạt động đơn lẻ. Ngay sau khi từ Kiev về, ông đã chuyển những khối lượng thông tin khổng lồ này ngay lập tức cho chúng tôi…
Lúc đầu, tôi không chắc chắn lắm về công trình mà tôi đang thực hiện. Lebedev đã phân công tôi thiết kế phần số học, nhưng ông cũng muốn tôi phải nắm rõ được các yếu tố cơ bản của những phần toán học khác. Kiril S. Neslukhovsky được ủy quyền phát triển phần điều khiển và cũng cần phải biết về toàn bộ sự hoạt động của chiếc máy tính. Neslukhovsky được phân công làm quản lý các hoạt động kỹ thuật của Sergei Alexeevich. Sau này vị trí này do Bardizh đảm nhiệm.

Để tìm những người thích hợp cho viện, Lavrentiev và Lebedev đã đến các trường cao đẳng tự tay lựa chọn những sinh viên có kinh nghiệm thực tế. Nhưng sinh viên này được tuyển làm nhân viên và ngay sau đó được phân công nhiệm vụ thiết kế cụ thể, những chuyên gia đã giám sát chặt chẽ trong thời gian phát triển những phần chính của máy tính cho chiếc nguyên mầu. Các sinh viên cũng tham gia vào chuẩn bị dự án khác có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của họ. Chỉ có một sự sửa đổi nhỏ, theo yêu cầu của các trường cao đẳng, ở đây cần có đủ các tài liệu để đáp ứng nhu cầu tốt nghiệp của các sinh viên.
Vào cuối năm 1950, công việc chuẩn bị trên những nguyên mẫu của chiếc BESM đã tiến hành nhịp nhàng. Mùa xuân năm 1951, nhân viên phòng thí nghiệm số 1 đã lên đến 15 người – nhiều chuyên gia có kỹ năng cao đã được tuyển dụng từ Viện Năng lượng Moscow. Ứng cử viên Khoa học kỹ thuật O.K. Guschin ( Khi đó là một công nhân lắp ráp) đã nhớ lại sự hình thành của đội ngũ trẻ tại viện do Lebedev giám sát:



Nó làm cho tôi cảm thấy là mọi người rất tự hào về sự tham gia của họ vào công việc quan trọng và vĩ đại này – Một tác phẩm của nền công nghệ máy điện toán Xô Viết, một sự khai sinh của một thiết bị khổng lồ, cái được gọi là "Phép màu điện tử" với hàng trăm ngàn thành phần.
Công việc của chúng tôi chạy suốt ngày đêm, không một ai đòi hỏi có thời gian rảnh rỗi. Chúng tôi xây dựng các nguyên lý cơ bản nguyên mẫu và các thành phần của chiếc BESM. Chúng tôi làm khung gầm và bệ đứng; chúng tôi khoan, tán đing rivê, lắp ráp và hiệu chỉnh những phiên bản khác nhau của các Triger mạch lật… Tại mỗi giai đoạn của công việc, Sergei Alexeevich luôn chứng tỏ là một người mẫu mực. Sau một ngày làm việc, ông thường ngồi đến twn 3 – 4 giời sáng trên bần điều khiển hoặc máy ghi dao động, tích cức tham gia vào công việc hiệu chỉnh máy tính

nthach 22-01-2008 15:04

http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/3-42.jpg
Trang bìa cuốn sách về S.A. Lebedev có dòng chữ viết tay của ông


Đối thủ của Lebedev, ông Gutenmakhe được động viên bởi sự trợ giúp của Bộ Chế tạo Máy, đã làm việc rất cật lực. Năm 1950, ông đã đặt thêm một biểu đồ cho một thiết bị máy tính của chiếc SKB-245 dựa trên nguyên lý ferrite-diode. Thời gian này, tình hình của bộ có sự thay đổi mạnh mẽ; Bashir Rameev đã xuất hiện tại dự án SKB-245, ông đã từng cộng tác với Isaak Brook đế mãi năm 1948 để lập trình điều khiển cho máy tính.
Rameev ngay lập tức bắt tay vào công việc và chuẩn bị một dự án náy tính cao cấp dựa trên các đèn hình chân không. Những sự kiện tiếp theo xảy ra rất lạ lùng. Trong khi Rameev vắng mặt, thì hội đồng kỹ thuật của SKB-245 rất lưu ý đến dự án của Gutenmakher. Khi Gutenmakher vắng mặt thì họ lại lắng nghe Rameev. Rốt cuộc là, chiếc máy tính được chế tạo dựa trên các đèn chân không đã được quyết định thay vì dựa theo thiết kế của Gutenmakher. Do vậy, chiếc BESM là một đối thủ đáng gờm của chiếc Strela. Những người quản lý của chiếc SKB-245 đã đề cử Rameev làm phó giám giám đốc cho Yuli Bazilevsky – thiết kể trưởng của dự án. Rameev khi đó mới chỉ 32 tuổi, nhưng ông đã phải gánh một trọng trách khá lớn. Là con trai của một "kẻ thù của dân tộc", ông đã bị đuổi khỏi học viện khi mới năm thứ hai sau đó ông đã thực hiện hết nghĩa vụ trong quân đội, ông cũng là một người có nghị lực cao và không bao giờ thỏa mãn trong công việc.
Do đó, Lebedev hiện phải đương đầu đua tranh với – tam hùng: Lesechko, Bazilevsky và Rameev; Trong khi đó Viện Cơ khí Chính xác cũng phải đối phó với một đối thủ hùng mạnh – SKB-245 cùng với SAM và Schetmash. Trung tâm công nghệ tin học số được di chuyển từ Kiev tới Moscow.
Mất sự trợ giúp của SKB-245, Gutenmakher tiếp tục tự làm việc trên dự án của mình. Trong phòng thí nghiệm của ông ở tại Viện Cơ khí Chính xác, một chiếc máy tính dựa theo các nguyên lý ferrite-diode đã được thiết kế và bắt đầu tạo dựng cùng thời gian với chiếc BESM. Tôi đã được gặp nó một vài lần vào năm 1954, khi đó nó đã được đưa vào hoạt động. Hiệu quả của chiếc máy này rất tồi. Do đặc tính của các nguyên lý cơ bản và độ tin cậy rất thấp; nguồn cấp năng lượng xung lực rất cồng kềnh và không kinh tế. Dưới lý do bảo mật, lối vào phòng thí nghiệm bị ngăn chặn, vào đầu những năm 1960, lối vào này hoàn toàn bị đóng cửa. Với sự bí mật chặt chẽ để bảo đảm cho nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của Gutenmakher nên có rất ít thông tin về chiếc máy tính của ông. Tuy nhiên nó rất hạn chế về giai đoạn quan trọng trong mốc lịch sử của nền công nghệ máy tính

Ngày 21/4/1951, một Ủy ban quốc gia được thành lập để duyệt lại hai dự án BESM và Strela. Ủy ban gồm có, chủ tịch ủy ban – Keldysh, Bộ trưởng bộ chế tạo máy và công cụ kỹ thuật Parshin, viện sĩ hàn lâm Anatoly Arkadyevich Blagonravov cùng nhiều người khác. Ngay từ đầu, các ủy viên của Ủy ban đến thăm Kiev nơi Lebedev đã phát triển chiếc MESM. Những phân tích chi tiết của hai dự án BESM và Strela được tiến hành ở Moscow cùng với thời gian các ủy viên bắt đầu đánh giá dự án. Ủy viên Anatoly Alexeevich Dorodnitsyn nhớ lại một tranh luận lạ lùng đã xảy ra tại một trong những phiên họp:

Kỹ sư thiết kế chủ đạo của chiếc Strela – Bazilevsky đã công bố về chiếc máy tính của ông: nó thực hiện được 2,000 trên giây và có thể giải được tất cả các vấn đề về toán học ở Liên Xô trong vòng bốn tháng. Do đó, chiếc BESM với hiệu xuất cao hơn, nó giải được 8,000 -10,000 phép tính trên giây như vậy là không cần thiết! Sergei Alexeevich đã gạt bỏ tranh luận cho rằng do công xuất của chiếc máy tính thấp, chiếc Strela không có khả năng thực hiện được một phép tính trong thời gian giữa hai sai số và nó sẽ hiển thị những kết quả sai, trong khi đó thì chiếc BESM lại thực hiện thành công.

Cả hai ông, Bazilevsky và Lebedev đã bảo vệ thành công đề xuất của mình. Ban quản lý Viện Cơ khí Chính xác đã quyết định trợ giúp để tạo dựng một mẫu máy tính BESM thí nghiệm. Lebedev và nhóm của ông tiến hành nghiên cứu và chế tạo giá đỡ, bo mạch và các bộ phận trong máy, nhưng vẫn không thể hoàn thành dự án theo đúng kế hoạch. Nếu dự án này thành công trọn vẹn – nó sẽ phải cần đến sự trợ giúp của công nghệ đèn điện tử tia cực âm cho bộ nhớ - khi đó chiếc BESM sẽ bỏ xa các đối thủ cạnh tranh của nó không những chỉ ở Liên Xô mà còn trên toàn thế giới. Những dự kiến của nó sẽ có thể thực hiện được 10.000 phép tính trên giây và tốc độ của nó sẽ nhanh gấp năm lần chiếc Strela. Ở thời điểm này, không có một chiếc máy tính nào có thể đạt được tốc độ tương tư như vậy.




http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/4-38.jpg
S.A.Lebedev, V.M.Glushkov, Yu.Ya.Bazilevskiy (phó bộ trưởng bộ chế tạo công cụ Liên Xô) và V.S.Petrov Trong thời gian đi thăm hãng IBM theo lời của William Mayer – phó chủ tịch hãng. Tháng tư năm 1959


Bộ Chế tạo Máy và Công cụ Kỹ thuật Xô Viết đã giữ độc quyền về đèn lưu trữ điện tử và họ đã phớt lờ những sự quan tâm về nó không chỉ độc của viện của Lebedev mà còn của toàn bộ ngành khoa học Liên Xô: Bộ này chỉ cung cấp đèn lưu trữ điện tử cho những nhân viên của dự án máy tính Strela. Thậm chí, ngay cả Lavrentiev cũng không thể giúp gì được cho Lebedev và do vậy đội ngũ của dự án BESM đã tự mình đặt vào hoàn cảnh khó khăn và gian nan. Ai cũng có thể nhận thấy rằng trong lúc này Lebedev rất choáng váng với sự kiện đã xảy ra. Ông luôn cộng tác và giúp đỡ mọi người thậm trí cả với SKB-245. Vài năm trước, khi Lebedev và Bazilevsky đến thăm Kiev, Sergei Alexeevich đã giải thích rất chi tiết về sự hoạt động của chiếc MESM trong dự án với các nhà khoa học và còn giúp họ nghiên cứu một hợp đồng với Viện Vật lý để phát triển một hệ thống băng từ lưu trữ. Hơn nữa chiếc BESM cũng đã không còn là một dự án bí mật đối với đối thủ cạnh tranh của nó nữa. Nhưng thật đáng tiếc, các đối thủ cạnh tranh đã không đáp lại mối thịnh tình của ông. Đồng nghiệp của dự án cũ SKB-245, ông , F.N. Zikov đã nhớ lại khi Lebedev đến tham quan dự án SKB-245 để nghiên cứu về chiếc Strela, một nhân viên đã chỉ cho ông xem chiếc máy tính "…đã được đóng gói kín trong thùng và chuẩn bị được vận chuyển đi."
Không có quyền sử dụng đèn điện tử tia cực âm cho bộ nhớ của chiếc BESM, Lebedev buộc phải sử dụng đèn lưu trữ điện tử thủy ngân dòng âm lượng, giảm bớt hiệu suất của chiếc BESM đến mức của chiếc Strela. Lượng thủy ngân cần được sử dụng để nhanh chóng truy cập lưu trữ ở mức độ cao phải đến vài trăm kilôgam. Bộ nhớ bao gồm 70 đèn thủy ngân, mỗi chiếc có chiều dài gần một mét: 64 chiếc đèn cho bộ lưu trữ, một chiếc dành cho đồng hồ và 5 chiếc cho dự phòng. Những chiếc đèn thủy ngân đã được phát triển và chế tạo vào năm 1949 tại Viện Tự động hóa theo yêu cầu của Lebedev. Tất cả những chiếc đèn này đã được đặt trong một bộ điều nhiệt khổng lồ, chúng được lần lượt lắp ráp vào một phòng đặc biệt có trang bị nắp đậy khí thải thủy ngân.
Những phần điện tử của mỗi kênh được lắp ráp trong một bộ phận chuẩn. Các bảng điều khiển và các bộ cấp năng lượng số lượng rất đáng kể, trong khi đó kích cỡ của những bảng nhớ đã chiếm dụng nguyên cả một căn phòng. Nó được đặt ở cuối hành lang của tầng một, ở khoảng cách khá xa với phần số học, và nó được kết nối với nhau bằng những sợi dây cáp đã hàn định vị cẩn thận bên trên những lá kim loại. Một bảng điều khiển lớn cho từng bộ nhớ thủy ngân bao gồm cho cả phần chỉ báo ma trận điểm…

Mùa hè năm 1952, chiếc máy tính đã cơ bản hoàn thành và giai đoạn hiệu chỉnh đã được bắt đầu. Tất cả các nhà thiết kế của chiếc máy tính đều thâm gia vào công việc. Những nhược điểm chủ yếu ở trong những đèn điện tử thủy ngân âm lượng. Rất nhiều chiếc đã bị cháy trong giờ đầu tiên hoạt động. Tháng tư năm 1953, chiếc BESM được Ủy ban Quốc gia ủy quyền đưa vào hoạt động và những kỹ sư thiết kế của nó được công nhận là những nhà toán học. Mặc dù trong lúc đầu, chiếc máy tính hoạt động ở mức độ công suất thấp, nhưng nó cũng có thể giải quyết được một số vấn đề về kinh tế quốc gia. Chiếc Strela cũng được hoàn thành trong cùng thời gian và nó đã được phê chuẩn cho sản xuất một loạt, những người đã tạo dựng ra chiếc Strela được trao tặng hạng I, II và III giải thưởng quốc gia. Thiết kế trưởng , ông Bazilevsky được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Xã hội Chủ nghĩa.
Với sự tiến cử của Lavrentiev – viện sĩ hàn lâm – phó chủ tịch Học viện Khoa học Xô Viết, Sergei Alexeevich được bổ nhiệm làm giám đốc Viện Cơ khí Chính xác và ông cũng đắc cử vào chức vụ ủy viên Học viện. Tại bữa tiệc bầu cử, con trai của Otto Yulievich Schmidt, ông Sigurd Ottovich đã đề nghị nâng cốc chúc mừng: "Hôm nay chúng ta có những viện sĩ hàn lâm đắc cử là hai nhà khoa học nổi bật nhất — ông S.A. Lebedev và A.D. Sakharov!" Năm 1956, khi chiếc BESM được Ủy ban Quốc gia ủy quyền hoạt động một lần nữa (thời gian này chiếc máy tính đã được lắp ráp bằng đèn điện tử lưu trữ chân không) S.A. Lebedev đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Xã hội Chủ nghĩa. Các kỹ sư thiết kế khác cũng được trao tặng phần thưởng quốc gia

nthach 22-01-2008 15:11

Trung tâm điện toán đầu tiên


http://i187.photobucket.com/albums/x79/nthach1/1-58.jpg
Những người đã sáng tạo chiếc BESM-6 (từ trái sang phải) Valentina Lauth, Aleksandr tomilin, Lev Korolev, Vladimir Smirnov, Andrey Sokolov, Valentina Ivanov, Leonid Zak, Vladimir Melnikov, Sergey Lebedev, Vladimir Semeshkin.


Tháng hai năm 1955, Hội đồng bộ trưởng Liên Xô đã ra một nghị quyết thành lập một trung tâm điện điện toán đầu tiên thuộc Học viện Khoa học; viện sĩ hàn lâm Dorodnitsyn được bổ nhiệm làm giấm đóc trung tâm. Đặt tại Viện toán V.A. Steklov, trung tâm chịu trách nhiệm chi phối hai chiếc máy điện toán: BESM và Strela. Mặc dù cả hai chiếc BESM và Strela đã hoạt động đồng bộ, như chúng vẫn chưa giữ vững mức độ liên tục như thiết kế. Do mức độ cấp bách của yêu cầu tính toán, chủ tịch hội đồng bộ trưởng Liên Xô N.A. Bulganin, đã tự chuẩn bị lịch trình hàng tuần cho các máy tính. Theo Dorodnitsyn, số lượng nhân viên trong đội ngũ tính toán thường xuyên vượt hơn 69 người thường trực ở tại trung tâm điện toán. Nhưng số người ở trong trung tâm không chỉ để giải quyết các vấn đề mà còn phải nghiên cứu lập trình. Bởi ở đây, hai chiếc máy tính Ural-1 và Ural-2 từ dòng máy tính khác đã được lắp ráp tại trung tâm chủ yếu sử dụng cho đào tạo và làm tài liệu hướng dẫn

Đoàn chủ tịch học viện đã thành lập một ủy ban để đứng ra so sánh hiệu suất hoạt động của hai chiếc máy tính BESM và Strela. Sau khi đã xem sét, Ủy ban đã cùng nhất trí đưa ra kết luận; chiếc BESM có triển vọng hơn để tiếp tục phát triển. Sau khi nghị quyết đã thống nhất, Viện Cơ khí Chính xác công nhận rằng đèn hình chân không sẽ làm tăng công suất của máy tính. Thời gian này đã là cuối năm 1954 đầu năm 1955. Ngay khi bộ nhớ đã nạp đầy vào các đèn chân không, chiếc BESM bắt đầu hoạt động hết công suất. Thậm chí sau đó hai năm, Chất lượng của chiếc BESM vẫn còn ngang tầm với những chiếc máy tính tốt nhất của Mỹ và là một chiếc máy tính đạt tốc độ cao nhất châu Âu. Trung bình, chiếc BESM thực hiện được ba – địa chỉ 8000 phép tính trên giây, tốc độ tối đã của máy là 10.000 phép tính trên giây.
Những phiên bản sau của BESM được sản xuất ra, chúng vẫn là những chiếc máy tính tốt nhất châu Âu. Năm 1958, BESM được đưa vào sản xuất hàng loạt. Ngược lại mẫu máy tính Strela chỉ dừng lại ở số lượng bảy chiếc nguyên bản và không được sản xuất thêm một chiếc nào nữa. Chiếc máy tính Strela đã được trung tâm điện toán gửi sang cho hãng Mosfilm để sử dụng làm thiết bị dựng phim.

http://sovietcomputing.com

nthach 14-02-2008 09:23

” Nó sẽ trở thành một chiếc máy tính cỡ nhỏ tốt nhất!”


Sự quản lý rất cứng rắn của chính phủ Xô Viết không chỉ là nguyên nhân kéo dài sự trì hoãn sản xuất hàng loạt loại máy tính BESM. Chiếc máy M – 20 thế hệ mới - đã sớm hình thành do Lebedev phác thảo sau thất bại đầu tiên trong cuộc cạnh tranh. Hiệu suất của chiếc “20” đã được tham khảo có thể đạt 20.000 phép tính trên giây. Lebedev đã trực tiếp đề nghị cho sản xuất hàng loạt loại máy tính M – 20 chứ không phải là loại BESM. Những điều đầu tiên trong sự thành công của chiếc M – 20 là ở các khâu: Tất cả các nhân viên đã hoàn thành sự phát triển của các nguyên lý mới có hiệu suất cao, hầu hết bộ nhớ ferit mới nhất đã được lắp đặt và những thành viên của đội ngũ khoa học đã được tăng thêm về số lượng, cũng qua đây họ đã có thêm rất nhiều kinh nghiệm. Thêm nữa và có lẽ là điều quan trọng nhất, Sergei Alexeevich cũng đã đạt được nghị quyết của chính phủ đã ra chỉ thị là điều động dự án SKB-245 của Bazilevsky cùng hợp tác với Lebedev và Viện Cơ khí Chính xác. Viện cũng đã chỉ thị tiếp tục phát triển cấu trúc, thiết kế và các nguyên lý cơ bản chủ yếu của máy tính. Những tài liệu kỹ thuật và mô hình thí nghiệm sẽ do SKB-245 xây dựng. Lebedev được bổ nhiệm làm tổng công trình sư của dự án và Mikhail Kirillovich Sulim (của dự án SKB-245) làm phó.

Có ba người nhận trách nhiệm chỉ đạo dự án M – 20: Lebedev, Mikhail Romanovich Shura-Bura, và Golovistikov. Lebedev là người phát triển phần triết lý và cấu trúc của máy, Shura-Bura lập công thức cho một hệ thống lệnh và nghiên cứu phần các vấn đề về toán học và Golovistikov sẽ tự mình sắp xếp những kết quả của họ vào các đồ họa chi tiết dựa trên các yếu tố động lực (các đèn điện tử chân không thu nhỏ), ngoài ra ông còn đảm nhiệm thiết kế các hệ thống phần số học và các đơn vị điều khiển. Cấu trúc của máy, hệ thống lệnh và đồ họa của những phần chính trong máy tính đã nhanh chóng được hoàn thành. Rất nhiều các phép tính Lôgic đã được áp dụng và các địa chỉ biến cải cũng đã được giới thiệu, chúng được lập trình một cách đơn giản hóa.

Để tăng tốc độ và hiệu suất của phần số học, họ đã phát triển một hệ thống lệnh cứng để khuếch đại tín hiệu tốc độ. Kết quả, thời gian thực hiện cho các phép tính cộng đơn giản được giảm bớt một cách đáng kể, nó cho phép tăng thêm tốc độ và hiệu suất của máy tính. Hơn nữa, nó có thể thay đổi tức thì trên 1, 2 và 4 bit, do đó nó đã tăng tốc lệnh căn chỉnh và tiêu chuẩn hóa các kết quả từ những phép tính cộng và trừ. Vấn đề này và nhiều sự cải tiến khác nữa đã có hiệu ứng nhỏ lên những đèn điện tử chân không đang được sử dụng.

Cùng thời gian này, nhóm thiết kế đã tiến hành tạo lập bộ nhớ pherit, ổ nhớ tệp tin và thiết bị ngoại vi. Gần cuối năm 1955, họ khởi đầu xây dựng một nguyên mẫu tại viện. Năm 1956, không chỉ các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm số 1 mà còn cùng với các nhà khoa học từ các tổ chức khác, họ cùng tiến hành công việc hiệu chỉnh trên chiếc máy tính đang hoạt động. Có rất nhiều tổ chức rất quan tâm đến sự hoàn thành nhanh chóng dự án, bởi vì trong lúc đó Liên Xô đã rất cần đến loại máy tính này.

Golovistikov nhớ lại, có một lần Sergei Alexeevich đã phải kêu lên; “Nó sẽ trở thành một chiếc máy tính cỡ nhỏ tốt nhất!”. Vào đầu năm 1957, một mô hình máy tính thí nghiệm M – 20 tại SKB-245 đã được hoàn thành. Mọi người đã nhanh chóng tập hợp lại để tinh chỉnh nó. Lebedev được thừa nhận là một vai trò tích cực nhất, cũng như ông đã từng tham gia vào hiệu chỉnh chiếc BESM. Nhưng tình hình ban đầu không được như mong muốn. Mặc dù tất cả các yếu tố động đã kiểm soát lặp lại nhiều lần trên các mẫu nhỏ, nhưng độ tin cậy của chúng cũng đã có lần chưa được chính xác. Các nhân viên đã lưu ý đến vấn đề này trong giai đoạn hiểu chỉnh trong khi chiếc máy tính vẫn còn đang nằm tại Viện, nhưng họ không chẩn đoán được, do nhịp độ tiến triển nhanh chóng của lịch trình phát triển mẫu máy thí nghiệm rất quyết liệt.Tại SKB-245, một số nhân viên kỹ thuật đã truyền đi những tin đồn về sự không tương xứng của các yếu tố động và các sai sót trong căn bản. Họ đề xuất, làm lại tất cả theo hướng cũ bằng cách lắp một số lượng lớn đèn điện tử. Sergei Alexeevich và nhóm của ông đã cảm thấy rất thất vọng, bởi mọi việc đang tiến triển rất trôi chảy cho đến lúc này, nhưng bỗng nhiên lại xuất hiện một sự trở ngại. Do đó, Sulim cảm thấy rất lo lắng với những người quản lý của SKB-245, vì họ đã yêu cầu rằng dự án cần phải hoàn thành trong một thời gian rất ngắn.

Xét về tình hình của M-20, Sergei Alexeevich đã rất quyết tâm để sản xuất hàng loạt chiếc BESM. Khi đó có một vài điều kiện thuận lợi về cơ bản là khối lượng công việc đã được giảm bớt nên đã tạo điều kiện cho ông ra quyết định đó. Thứ nhất, nhóm ngiên cứu đã chuẩn bị sẵn cầu thành của M-20, vấn đề này đã tạo điều kiện thích hợp để sử dụng trong chiếc BESM. Thứ hai, họ cũng đã chế tạo thành công những chiếc đèn hình loại nhỏ rất đáng tin cậy, chúng có một số đặc trưng giống như loại đèn hình cỡ lớn mà trước đây đã sử dụng cho chiếc BESM, và những chiếc điot cao áp mang nguyên tố germani được thay thế cho những chiếc đèn điot đã sử dụng trước đây trong chiếc BESM mà không có bất kỳ sự thay đổi trong kế hoạch nào. Thứ ba, bộ nhớ ferit của M – 20 đã được sẵn sàng và có thể lắp ráp vào chiếc BESM thay cho những chiếc đèn hình lưu trữ.

Các kỹ sư hàng đầu như: Neslukhovsky, A.N. Zimariov, Vladimir Andreevich Melnikov, A.V. Avaev và những người khác, đã dẫn đầu trong sự chuẩn bị cho công cuộc sản xuất hàng loạt chiếc máy điện toán BESM. Từ đó họ không tham gia vào dự án M – 20 hoặc bất kỳ một dự án mày tính chuyên dụng nào khác, họ chỉ dùng những tài liệu kỹ thuật đã có sẵn và đã hoàn thành tất cả các công việc chuẩn bị cho tiến trình sản xuất hàng loạt chiếc BESM trong thời gian không đến chín tháng. Chiếc BESM-2 bề ngoài tương tự như như chiếc M – 20 đã được sản xuất vào đầu năm 1958. Trong khi đó, Golovistikov, Valery Nasarovich Lout và Andrei Andreevich Sokolov cũng đồng tiến hành thực hiện công việc trau chuốt lại cho chiếc M – 20 và cải thiện thêm độ tin cậy của nó.

Một năm sau đó, Ủy ban quốc gia đã xem xét lai chiếc M – 20 và gọi nó là " chiếc máy tính có tốc độ nhanh nhất thế giới" Sau đó, cả hai chiếc M-20 và BESM-2 được đưa vào sản cuất hàng loạt. Nhu cầu để sử dụng những chiếc máy tính tốc độ cao là rất cần thiết, lúc đầu chiếc M – 20 chỉ được sử dụng cho công việc trong các cơ quan vào những dự án then chốt nhất của Liên Xô. Sự tiếp tục sản xuất chiếc BESM-2 dần giảm bớt do Liên Xô có nhu cầu cao để thiết kế nó trở thành những chiếc máy cho tính toán trong khoa học.
Những đội ngũ khoa học ở cả hai Viện Cơ khí Chính xác và SKB-245 đã chính thức được để nghị tặng thưởng phần thưởng Lê Nin cho công trình máy tính M – 20, nhưng Lebedev trong thời gian vẫn còn phải trải qua một vài số mệnh như ông đã từng gặp ở dự án MESM: Sự bổ nhiệm bị bãi bỏ, điều này cho đến giờ vẫn chưa rõ nguyên nhân. Tôi chỉ biết rằng, một ủy viên của Ủy ban phần thưởng quốc gia, nguyên là giám đốc Viện Cơ khí Chính xác – Bruevich, đã đưa ra quan điểm cá nhân của ông ta về mức độ kỹ thuật của chiếc M – 20, tuyên bố rằng vào thời điểm đó chiếc máy tính nghiên cứu quân nhu thuộc hải quân của Mỹ (NORC) cũng đã thực hiện được 20.000 phép tính/giây. Điều này là không đúng sự thật. Bruevich đã quên không đề cập rằng chiếc NORC được sử dụng hơn 8000 chiếc đèn hình chân không, ngược lại chiếc M – 20 chỉ cần đến có 1600 chiếc. Mặc dù ông ta đã phê chuẩn cho sản xuất hàng loạt chiếc M – 20, nhưng những bình luận của ông ta cũng đã tác động đến quyết định của Ủy ban để không trao phần thưởng Lênin cho nhóm của Lebedev.

Bất chấp những kình địch của ông ta, Lebedev vẫn đạt được những may mắn bởi vì ông thực sự yêu mên công việc của mình. Trong thời gian tôi chuẩn bị bản thảo này, tôi có đến thăm một trong số những người thiết kế M – 20 hiện vẫn còn sống, Golovistikov – người đã nói một cách rất ấm áp về Lebedev, về những khả năng của ông cho đến sự truyền cảm hứng của ông đến các đồng nghiệp cho sáng tạo và về sự rất quyến rũ riêng của ông. Golovistikov đã nhớ lại, trong thời kỳ những chiếc BESM và M-20 được phát triển, đặc biệt về cuộc sống của Sergei Alexeevich trong thời gian đó, trong một căn phòng tù túng dưới nền nhà, nhưng ông vẫn vui vẻ và lấy công việc để quên đi tất cả những điều thiếu tiện nghi sinh hoạt…

http://sovietcomputing.com

nthach 14-02-2008 09:25

Không có người đề xướng ở đất nước tôi



Vào những năm 1960, các nhà khoa học Xô Viết đã đề xuất tiến hành xây dựng loại máy tính vi mạch thế hệ thứ ba. Đa số đã tin tưởng rằng rất cần thiết để phát triển một dòng máy tính tương thích phần mềm và phần cứng. Nhưng đây mới chỉ là một điểm thỏa thuận. Lebedev, đã chứng minh được đầy đủ những ý tưởng và khả năng của ông để dự đoán triển vọng trong tương lai của sự phát triển nền công nghệ máy tính, ông đưa ra đề xuất để tiếp tục tạo dựng một dòng máy tính sử dụng phổ biến có kích thức nhỏ và trung bình. Thêm nữa, ông còn đề nghị cho phát triển tiếp một siêu máy tính riêng biệt, bởi do công nghệ của nó hết sức khác biệt so với loại máy tính cỡ nhỏ được sử dụng phổ biến khác.
Vào cuối những năm 1960, Lebedev, Glushkov và các đồng sự của họ tin rằng, các nhà khoa học Xô Viết đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong nền công nghệ máy điện toán và cũng đã có một tiềm năng to lớn để tiến hành chế tạo. Họ yêu cầu được cộng tác với các hãng sản xuất máy tính lớn của Tây Âu để phát triển dòng máy tính thế hệ thứ tư trước khi nước Mỹ chế tạo ra nó. Nhưng đối thủ của Lebedev lại đưa ra một đề xuất cho lựa chọn khác – sao chép lại hệ thống máy tính IBM-360 thế hệ thứ ba của Mỹ đã chế tạo cách đó vài năm trước. Chính quyền Xô Viết đã thông qua nghị quyết cho phát triển dòng máy tính điện tử hệ thống đồng nhất [Phiên âm tiếng Nga là: Yedinaya Systema Elektronnoi Vuichislit'elnoi Mashini, hoặc ES EVM], nó được thiết kế đảo ngược lại từ cấu hình của loại IBM-360. Viện Cơ khí Chính xác không được đề cập đến trọng nghị quyết này. Khi thảo nghị quyết, tác giả đã cố gắng thuyết phục Sergei Alexeevich tham gia khai triển dự án IBM-360. Sau khi tham khảo ý kiến với những chuyên gia hàng đầu, Lebedev đã từ chối và nói: " Nhưng chúng tôi đã làm một việc gì đó rất phi thường!" Ý nghĩa của câu nói này là bất kể như thế nào thì ông cũng vẫn sẽ tiếp tục thực hiện công trình của mình trên dự án siêu máy tính.
Quyết định sao chép lại nguyên mẫu máy tính IBM-360 không thể có bất kỳ kết quả thực tế nào cho Viện Cơ khí Chính xác hoặc bất kỳ hãng công nghệ máy tính nào khác bằng không thì cho một tổ chức cạnh tranh. Viện Nghiên cứu Khoa học Công nghệ Máy tính Điện tử thuộc Bộ Công nghệ Radio – hoặc NISEVT, đã có tham vọng trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực này. Sulim, khi đó mới 40 tuổi được bổ nhiệm làm phó bộ trưởng Bộ Công nghệ Radio. Ông đã quá hiểu về tầm quan trọng của công nghệ máy tính cho nền kinh tế quốc gia và vào năm 1967, ông đã đề xướng một nghị quyết của chính phủ để xây dựng các xí nghiệp chế tạo máy tính trên khắp đất nước Liên Xô.

Theo như kế hoạch của Sulim, nòng cốt của các tổ chức phát triển nền công nghệ máy tính, ví dụ như SKB-245, Schetmash và Viện Cơ khí Chính xác tất cả các tổ chức này nằm trong sự kiểm soát của NISEVT. Nhưng phần đề xuất này không được chấp nhận. Tổ chức NISEVT được cơ cấu tại SKB-245 – một đối thủ cũ của Viện Cơ khí Chính xác. Vào lúc này, sau khi được thành lập một công việc chính là hoạt động văn hóa. Các nhân viên có khả năng cao của tổ chức đã có thể đánh giá được những lợi thế và những bất lợi của sự phát triển công nghệ máy tính nước ngoài để tự cải tiến cho những chiếc máy tính của họ. Trái lại, những đội ngũ khoa học của NISEVT được thành lập rất vội vàng và thiếu sự gắn kết. Thậm trí những chuyên gia hàng đầu được NISEVT tuyển mộ (chỉ một số ít người, bao gồm cả Rameev và Vladimir Konstantinovich Levin), cũng không thể ăn khớp được với nhau hoặc đã tạo ra những sự thay đổi trong tổ chức. NISEVT lại vẫn tiếp tục nhái lại những mẫu máy tính đã lỗi thời của nước ngoài, mặc dù chính quyền Xô Viết đã giao cho nó một trọng trách là nhóm dẫn đầu trong công cuộc phát triển công nghệ ES EVM.

Cuối cùng, chính phủ cũng quyết định cho sao chép lại hệ thống IBM-360, Sergei Alexeevich – một người đốt thuốc liến tục, đã không thèm để ý đến mối hiểm nguy của căn bệnh phổi, ông đến tìm gặp bộ trưởng Alexei Nikolayevich Kosygin để cảnh báo với ông ta rằng, nếu cứ đi nhái lại hệ thống IBM-360 thì sẽ dẫn đến sự diệt vong cho nền công nghệ máy tính Xô Viết. Nhưng ông ta nhất định từ chối và đẩy sự việc sang cho vị phó bộ trưởng, nhưng cuộc gặp gỡ giữa Sergei Alexeevich với vị này cũng chằng hề mang lại một kết quả gì. Sau đó, bệnh của Lebedev bị trầm trọng hơn. Đôi khi, cũng hy vọng ông sẽ bình phục, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Sức khỏe của Lebedev dần bị suy yếu bởi những năm tháng căng thẳng và công việc không ngừng của ông. Ông được trao tặng huân chương Lênin vào lần sinh nhật thứ 70 ở ngay trong ngôi nhà ông. Khi đó, Lebedev đã rất yếu và cũng rất hiếm khi rời khỏi chiếc giường của mình. Phần thưởng đã mang lại cho ông một niềm vui bé nhỏ, bởi vì ông đã tận tụy với công việc và những cống hiến của đời ông cho khoa học.

Ngày 3/7/1974, Golovistikov từ Kiev trở về Moscow và đến thăm Sergei Alexeevich tại bệnh viện. Golovistikov đã nói với Sergei Alexeevich rằng ông ta mới đến thăm Feofania, nơi mà chiếc MESM được tạo nên. Lebedev rất chăm chú lắng nghe nhưng không nhìn vào ông ta, mà chằm chằm hướng mắt về một khoảng xa. Petr Petrovich nhớ lại rằng, cái nhìn đó như là hướng đến sự yên nghỉ cuối cùng của đời ông. Khi đó cũng rất bất ngờ, với bệnh tình trầm trọng Lebedev trở nên bị kích động, có lẽ ông đã hồi tưởng những năm tháng ở Kiev tuy cực khổ nhưng vui vẻ mà ông đã từng trải qua, nơi mà ông đã có thể thực hiện được những ý tưởng của mình. Đó cũng là ngày cuối cùng của một người lao động vĩ đại, một thiên tài khoa học và là một người đàn ông tuyệt vời – Sergei Alexeevich Lebedev.

Một người như Lebedev đã phải hứng chịu nạn quan liêu rộng khắp trong chính quyền Xô Viết và những quyết định không thận trọng của nó. Thật đáng tiếc cho Liên Xô, những lời tiên đoán của Lebedev đã trở thành sự thực. Ở Mỹ và các quốc gia khác, sự tiến triển trong nền công nghệ máy tính của họ ngày càng lớn mạnh trên phương diện Lebedev đã kiến nghị. Khi đó, các nước khác trên thế giới đang trên đà phát triển những chiếc siêu vi tính có hiệu suất cao và những chiếc máy tính cá nhân cỡ nhỏ. Chính quyền Xô Viết thì sử dụng một khối lượng tiền khổng lồ cho dự án máy tính gia đình ES EVM. Sao chép lại hệ thống IBM-360 đã xảy ra nhiều vấn đề, mở rộng thời hạn của dự án và thúc ép sự nỗ lực của đội ngũ thiết kế. Tất nhiên, một vài trị số được sao chép trong hệ thống đã lỗi thời dưới dạng điều khiển là những công nghệ mới, họ cũng đang trên đà phát triển một phạm vi rất lớn về các thiết bị ngoại vi và cũng đã đạt được những kỹ năng mới trong hệ thống máy tính "Xô Viết hóa" từ nước ngoài. Nói chung, các tiến triển mà nền công nghệ điện toán lúc đó đạt được là rất ít, đặc biệt là do các tài liệu của IBM-360 là rất khó kiếm…

http://sovietcomputing.com

nthach 21-02-2008 13:27

Chương II
Di sản của nhà khoa học – một thành tựu mới



http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image83.jpg
Viktor Mikhailovich Glushkov



Viện sĩ hàn lâm Viktor Mikhailovich Glushkov được biết đến bởi những thành tựu to lớn của ông trong ngành điều khiển và toán tin học. Mặc dù sự đa dạng của những vấn đề thuộc khoa học nhưng vẫn làm cho Glushkov rất quan tâm đến chúng, tất cả đối với ông chỉ rút lại là một – vấn đề chung của thông tin và vi tính hóa. Tất cả các đồng nghiệp của ông cũng đòng ý rằng; ông lài một người có tài phi thường và là một trong những nhà khoa học lỗi lạc nhất trong thời kỳ hiện đại này. Bất cứ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra điều đó ngay khi họ đọc được một trong những bản báo cáo hoặc được lắng nghe chỉ một bài phát biểu ông, cũng như chỉ đơn giản là nói chuyện với ông.

Glushkov đã đưa ra công bố bản lý thuyết thứ nhất thuộc lĩnh vực đại số khi tuổi đời mới hai mươi bảy. Ông đã xuất bản hơn tám trăm cuốn sách và bài báo nói về lĩnh vực điều khiển học, trong số đó có hơn năm trăm đầu là do chính ông viết, số còn lại là ông cùng cộng tác với các đồng nghiệp viết. Đa số những bài diễn văn của ông nói về điều khiển học và gần một trăm bài trong số đó có liên quan đến đề án máy vi tính và lý thuyết kỹ thuật. Glushkov sinh ngày 23/8/1923 trong một gia đình kỹ sư mỏ. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông đã nổi bật về các môn toán học và cơ lượng tử. Ông từng ước mơ trở thành một nhà vật lý, nhưng cuối cùng ông cũng không theo đuổi được nguyện vọng. Sau khi kết thúc năm đầu khoa toán ở trường đại học Novocherkassk, ông đã có cảm hứng hầu hết với các lĩnh vực hóc búa của toán học – đại số hình học tôpô. Sau ba năm làm việc trên giải pháp bài toán tổng quát thứ năm của Hilbert, ông đã trở thành nhà toán học đầu tiên trên thế giới giải được bài toán đó và cũng do đó ngay lập tức ông cũng trở thành một trong những nhà toán học hàng đầu của Liên Xô. Sau thành công nhanh chóng đó, ông đột ngột chuyển từ lĩnh vực lý thuyết sang lĩnh vực thực hành – điều khiển học, một lĩnh vực mà đã theo ông suốt đến cuối đời.

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image87.jpg
Vera Ioxifovna Gluskova

Một điều không thể tin nổi là chỉ trong vòng có 5 năm, ông đã thành lập được Viện Điều khiển học Ukraina thuộc Học viện Khoa học và đã thu hút được một đội ngũ gồm có các nhà khoa học và các kỹ sư trẻ tuổi đầy nhiệt huyết. Trong những năm 1960 và những năm 1970, Viện này đã trở thành một viện nổi tiếng trên toàn Liên Xô cũng như trên thế giới. Glushkov đã xác định, điều khiển học là một môn khoa học của cả một hệ thống kiểm soát phức hợp liên quan đến qui luật, nguyên tắc và phương pháp cơ bản của qui trình thông tin, khi những chiếc máy tính được coi là phương tiện kỹ thuật cho thực hiện công việc khoa học đó. Định nghĩa này đã được trình bày trong bộ sách Bách khoa Điều khiển học và được xuất bản lần đầu tiên trên thế giới do Glushkov chủ động biên soạn, được ấn hành tại Nga và Ukraina. Lần xuất bản của cuốn sách vào năm 1974 cũng trùng hợp với sự phát triển phổ biến của nền điều khiển học trê toàn thế giới. Giữa những người đứng đầu trong số một trăm nhà khoa học Xô Viết tham gia vào chuẩn bị bộ sách Bách khoa (Glushkov là tổng biên tập), có đến hơn năm mươi người thuộc Viện Điều khiển học. Vào năm 1978, những người biên tập và các tác giả của các chương trong bộ sách bách khoa đã được tặng thưởng Phần thưởng Quốc gia Ukraina.

Cũng như nhà khoa học của Mỹ tên là Norbert Weiner, đã từng là một chuyên gia hàng đầu trong những năm đầu của sự phát triển nền điều khiển học. Glushkov cũng là một vai trò chủ đạo trong lĩnh vực này trong suốt những năm 1960 và những năm 1970. Những bản thảo của ông, Nguyên lý của máy tính số (Kiev: Naukova Dumka, 1967), Nguyên lý của Hệ thống Tự Chuyển động (Kiev: KVIRTU, 1962), Tiêu chuẩn Thiết lập của Điều khiển học (Kiev: AN-USSR, 1964), và những bản khác đã là những mục then chốt cho sự thúc đẩy nền khoa học mới trong những năm đầu. Những hoạt động của Glushkov không chỉ ở trong Ukraina: Ông đã có những bài thuyết trình về điều khiển học và các vấn đề thiết bị máy tính ở đa số các thành phố công nghiệp lớn của Liên Xô. Với kỹ năng diễn thuyết tài tình, nó đã trợ giúp ông trong các cuộc tích cực vận động cho ngành điều khiển học. Tập san chuyên ngành, Điều khiển học và Hệ thống Kiểm soát và Máy móc, nơi ông là chủ biên tập, nó cũng là một tờ chủ đạo để tạo dựng, phát triển và là phương tiện truyền thông luôn duy trì để đưa tin về điều khiển học

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image88.jpg
Victor và Valentina cuối những năm 40

Thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Đức, những ngoại ngữ này cũng đã trợ giúp đắc lực cho ông để làm những bản trình bày ở tại các diễn đàn khoa học thế giới và xuất bản ở hải ngoại, với những vấn đề này đã mang lại cho ông những công nhận của thế giới. Với danh tiếng trên thế giới của mình đã đưa ông trở thành chủ tịch và là ủy viên của nhiều chương trình ủy ban đại hội thế giới và đại hội qui trình thông tin. Ông đã có những bài diễn thuyết trong hầu hết các quốc gia chính trên thế giới. Ngoài ra, Glushkov còn là một cố vấn máy tính cho chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức và Bulgaria. Ông cũng là thành viên danh dự của Học viện Khoa học Balan, Học viện Khoa học Bulgaria, Học viện Khoa học Cộng hòa Dân chủ Đức và Học viện tự nhiên Leopoldina Đức. Các nhà xuất bản những tái bản của các Bộ sách Bách khoa Anh quốc, Bộ sách Bách khoa Mỹ và Bộ sách Đại Bách khoa Xô Viết đã mời Glushkov đến để giúp chuẩn bị cho các chương về "Điều hiển học". Glushkov đã thấy trước được phạm vi rộng lớn của nền thông tin trong xã hội của chúng ta ngay từ đầu những năm 1960, khi mà nền công nghệ máy tính ở Liên Xô và các nước khác trên thế giới vẫn còn ở thủa sơ khai và một số người còn đang mơ hồ về vai trò tương lai của nó trong nền kinh tế. Nhưng Glushkov đã có thể nhìn thấy toàn cảnh của sự phát triển, ứng dụng công nghệ máy tính cùng với điều khiển học và những lợi ích thiết thực của chúng cho nhân loại.
Glushkov đã để nghị chính phủ Xô Viết thực hiện bước đầu tiên một đề án phức tạp có phạm vi rộng lớn này: Thành lập một Hệ thống Toàn diện Máy tính trợ giúp Quản lý nền Kinh tế (OGAS).

nthach 29-02-2008 09:20

Ông hy vọng chính phủ Xô Viết sẽ ủng hộ sáng kiến này, bởi vì cách thức giấy tờ hiện tại và phương pháp quản lý kinh tế của Liên Xô từ những năm 1940 đã quá lỗi thời và không thể còn có hiệu quả để trợ giúp sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia, những cách thức quản lý đó rất phức tạp và quá cộng kềnh. Glushkov đã nhận thấy rằng sự phát triển hệ thống OGAS thì sẽ cần phải có sự đồng phát triển nhanh chóng của nền công nghệ máy tính và các phương pháp mang tính khoa học của sự quản lý kinh tế, và tạo dựng lên một mạng lưới thật mạnh cho khoảng hai trăm vùng và mười ngàn trung tâm máy tính địa phương trên khắp liên bang. Nó cũng đòi hỏi cần phải hoàn thành hệ thống vi tính hóa của các vị trí làm việc cho các chuyên gia khoa học, công nghệ học và quản lý tại công nghiệp kinh doanh, các ban ngành của chính phủ và các trụ sở cơ quan khác – đây là mục tiêu cơ bản của Glushkov

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image911.jpg
Управляющая машина широкого назначения "Днепр" (УМШН)

Thủ tướng Xô Viết Alexei Nikolaevich Kosygin đã phê chuẩn ý tưởng này của Glushkov, với sự hăng hái, ông bắt đầu tiến hành triển khai dự án OGAS. Ngày nay, có người có thể nói rằng kế hoạch của ông đã hơi vội vàng bởi vì nền công nghệ vi tính khi đó vẫn chưa được tinh xảo và xã hội vẫn chưa được quan tâm đến nó. Theo tính toán của ông, để thực hiện dự án OGAS sẽ cần phải có thời gian từ 15 đến 20 năm và cần có khoảng 20 tỉ rúp, số tiền này thật là một lượng tiền khổng lồ vào thời kỳ đó. Ông cũng đã nói trước với Kosygin – Thực hiện dự án OGAS sẽ phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với các chương trình vũ khí hạt nhân và chương trình vũ trụ gộp lại. Bên cạnh đó, nó sẽ làm biến đổi sâu rộng đến chính phủ và diện mạo xã hội của đời sống Xô Viết. Glushkov đã tính toán rằng, nếu như được tổ chức một cách đúng đắn, dự án OGAS lúc ban đầu sẽ phải tự chi trả trong vòng năm năm, sau kh thực nó, nền kinh tê quốc gia và tiề lực của dân chúng sẽ tăng trưởng ít nhất cũng phải gấp đôi. Glushkov cũng yêu cầu trong tổ chức cần có một bộ giám sát có thẩm quyền của quốc gia đứng ra quản lý chương trình OGAS – giống như ủy ban đang giám sát các chương trình vũ trụ và chương trình vũ khí hạt nhân. Với dự kiến của ông, thời gian hoàn thành dự án OGAS sẽ vào những năm 1990.

Nếu như dự án OGAS được nhận sự trợ giúp đầy đủ và được hoàn thành, nó sẽ đặc biệt hữu ích sau khi Liên Xô tan rã. Dự án OGAS có thể làm giảm bơt vô số những vấn đề trong thời kỳ quá độ hiện tại từ kế hoạch trung ương tập trung sang kinh tế thị trường. Cơ sở phần cứng vững chắc, chương trình phầm mềm, ngân hàng dữ liệu và những công chức dày dạn kinh nghiệm rất có giá trị cho nền kinh tế quốc gia của các quốc gia độc lập trong khối thinh vượng chung châu Âu như họ đã vượt qua sự khủng hoảng tài chính thảm khốc ở những năm 1990.


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image891.jpgВ.М.Глушков за пультом ЭВМ "Днепр" (1960 г.). Стоят: В.И.Скурихин, Л.А.Корытная, Л.А.Жук, В.С.Каленчук, Б.Н.Малиновский.


Chắc chắn Glushkov đã nhận thấy rằng, dự án OGAS có thể không nhận được sự trợ giúp của đảng Cộng sản và các cấp lãnh đạo , bởi vì nếu thực sự kiểm soát nền kinh tế có tính khoa học thì nó sẽ tước bỏ mất quyền lực của họ và làm thay đổi vận mệnh của quốc gia. Hơn nữa, dự án OGAS cũng không nhận được sự trợ giúp của hệ thống quan liêu mà đã từ lâu dựa theo một nền hành chính chuyên chế, nhất là khi nó trở nên là những quyết định hệ trọng nhất của quốc gia. Dự án này còn là một sự thách thức đối với phương Tây – họ cho rằng OGAS sẽ che đậy Liên Xô từ nền kinh tế suy xụp hoặc tồi tệ, Liên Xô đã có thể thành lập được một hệ thống quản lý kinh tế theo kế hoạch rất hiệu quả và hiện đại. Với quan niệm này, các báo chí và phương tiện truyền thông đại chúng của Xô Viết và phương Tây đã lên tiếng công kích Glushkov trong suốt những năm 1970, họ cố gắng làm mất uy tín của ông trong con mắt của chính phủ Xô Viết và ngăn cản kế hoạch của ông được thực hiện, kế hoạch mà nó nhằm mang lại sự thay đổi toàn diện cho xã hội của chúng ta.
Nhưng Glushkov đã kiên quyết thực hiện bằng bất kỳ mọi giá. Từ những năm học đầu, ông đã luôn xoay xở để đạt bằng được những mục tiêu mà dường như không thể với tới được của mình, lần này cũng không ngoại lệ. Ông đã thực hiện được những ước mơ của mình, từ những cống hiến vô cùng to lớn cho đến công việc và những gì có ý nghĩa quan trọng chính yếu của ông, nó cũng làm kinh ngạc các đồng nghiệp và đối thủ của ông.

Một nghiên cứu tại Viện Điều khiển học do Glushkov chỉ đạo, nó bao gồm cả khoa học vi tính và phát triển trang bị, lý thuyết và các biện pháp kỹ thuật để thiết kế trợ giúp máy tính, các hệ thống tự động hóa, bộ óc nhân tạo và các phương pháp tối ưu. Những sản phẩm đáng kể đầu tiên của Viện Điều khiển học là những phần cứng kiểu mới. Được giám sát bởi Glushkov, ban khoa học tin học số Ukraina là nơi đã cung cấp đa số những ý tưởng và nguyên lý nguyên bản và chúng trở thành những nền tảng để thiết máy tính vào những năm 1960 và những năm 1970. Trong những năm đó, số lượng máy tính của Liên Xô sản xuất ngang với số lượng máy tính trên thế giới.
Trong lịch sử nền khoa học máy tính, tên tuổi của Glushkov là người đầu tiên tiếp nối đến thuyết thiết kế máy tính. Vào cuối những năm 1950 và những năm 1960, đích thân Glushkov giám sát một phần rất quan trọng trong công đoạn lý thuyết của hệ thống kiểm soát máy tính có độ thông minh cao. Những chiếc máy tính này cần cho hai lý do; thứ nhất, cho hệ thống tự động công nghệ, thứ hai, là cho hệ thống tự động tính toán kỹ thuật. Những chiếc máy nguyên mẫu của loại máy tính cá nhân ngày nay (PC), được sử dụng bởi các chuyên viên sử lý thông tin ngay tại màn hình nền của chúng.
Sau này, Viện Điều khiển học quay sang thiết kế các Môdun và cấu trúc cho các loại máy tính đa năng có độ thông minh cao. Ở phạm vị này, Viện Điều khiển học là tổ chức dẫn đầu ở Liên Xô trong suốt những năm 1950 đến những năm 1970, đóng vai trò nghiên cứu ở tiêu chuẩn tầm cỡ thế giới. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, giai đoạn cuối của cuộc nghiên cứu này đã tham gia vào phác thảo những nguyên lý của những chiếc máy tính ống dẫn macrô đa sử lý tốc độ cao với cấu trúc non-von Neumann. Cùng với vấn đề này, các nhân viên của Viện còn phát triển cả phần mềm cho các hệ thống đa sử lý. Chỉ mười năm sau, những hệ thống đó đã đứng hàng đầu trong ngành thiết kế máy tính trên thế giới. Ý tưởng của Glushkov về ống dẫn Macrô vào cuối những năm 1970 đã xuyên suốt đến nền công nghệ máy tính của tương lai. Như đã ghi ở trên, đa số các công trình lý thuyết được tiến hành tại Viện Điều khiển học, chúng đều đã được thực hiện như phần cứng. Vào những năm 1960 và những năm 1970, nền công nghiệp Xô Viết đã sản xuất hàng loạt hơn mười năm loại máy tính được thiết kế tại Viện. Kết hợp chặt chẽ lý thuyết để ứng dụng vào phần cứng là một trong những nguyên lý chính của Glushkov – ông đã học theo phong cách truyền thống của Lebedev. Nhiều năm sau, nhà khoa học người Áo tên là Heinz Zemanek, đã ca ngợi về sự đóng góp của Glushkov trong lĩnh vực thiết kế máy tính, ông ta viết: "công trình khoa học của Glushkov cùng với các kết quả nghiên cứu khoa học và thực hành của ông sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nghành khoa học máy tính trên toàn thế giới trong nhiều năm tới."

nthach 29-02-2008 09:26

Glushkov còn nổi tiếng trong lĩnh vực làm tăng thêm khả năng trí tuệ của robot và quan niệm nhận biết lý thuyết; ông quan tâm đến khả năng nhân tạo như là một phương hướng đầy triển vọng nhất trong ngành điều khiển học.
Viktor Mikhailovich đã đóng một vai trò to lớn để trong sự tạo dựng nên hệ thống Thiết kế Bằng máy Điện toán (CAD) và Chế tạo Bằng máy Điện toán (CAM), được ứng dụng rộng rãi. Trong phạm vi này, cũng như trong lĩnh vực công nghệ máy tính, các nhà khoa học của Viện đã đảm đương với nhiệm vụ giành được không chỉ trên nguyên tắc cơ bản mà còn cả những kết quả thực tiễn. Họ cần phải thiết kế những hệ thống kiểm soát thực sự cho các qui trình công nghệ hóa hệ thống kiểm soát khu liên hiệp kỹ thuật và những cuộc thí nghiệm công nghiệp, những hệ thống quản lý xí nghiệp, những hệ thống công nghiệp. Qua những nỗ lực này, Glushkov đã hoàn thành những công trình ngiên cứu trên nguyên lý của CAD và OGAS, ví dụ như; Giới thiệu CAD (1972), các Qui tắc Cơ bản của Công nghệ Không tin không Giấy (1982), Mô hình Kinh tế Vĩ mô và các Nguyên lý Cơ bản của Đồ án OGAS (1975) và một số bài báo khoa học khác được xuất bản địng kỳ khác nhau.

Glushkov đã tham gia vào rất nhiều hoạt động trên các phạm vi của giới học viện. Ông từng làm cố vấn khoa học cho một số tổ chức của nhiều bộ ngành ở Liên Xô và còn là một chủ nhiệm của một số ủy ban khác và dĩ nhiên, ông thường xuyên được quan tâm như là một "người quấy nhiễu" trong bộ máy chính quyền bao cấp của Xô Viết.
Những nỗ lực to lớn của Glushkov luôn va vào các bức tường của sự thờ ơ, sự hiểu lầm… Vợ của ông – Valentina Mikhailovna đã nhận xét về sự thất vọng của chồng mình sau những chuyến công du của ông đến Moscow. Ở Liên Xô, điều khiển học đã vấp phải sự bực bội ngay từ đầu, thậm trí ngay cả đối với những người ở trong hội khoa học. Nó được nhiều người biết đến rằng, điều khiển học cũng như lý thuyết của những hệ thống phức tạp, nó đòi hỏi cần phải có một sự phê chuẩn có tính chất khoa học của các quy trình kiểm soát không chỉ trong các bộ máy và thủ tục của cuộc sống mà còn ở cả trong xã hội. Thật đáng tiếc, nó không phải trên nền tảng của chủ nghĩa Marxism-Leninism mà trên nền tảng của ngành khoa học chính xác như; toán học, kiểm soát tự động và khoa học thống kê. Do đó, nó đã mâu thuẫn với "những phương pháp" quản lý của Liên Xô mà đã hằng khao khát từ bây lâu


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image90.jpg
Людмила Александровна Корытная

Bí thư ủy ban trung ương đảng, Andrei Kirilenko đã công khai chế nhạo dự án OGAS trước mặt Glushkov: "Tại sao chúng ta lại phải cần nó? Tôi đến một nhà máy làm một bài diễn thuyết trước mặt công nhân vậy là năng xuất của nhà máy tăng thêm năm phần trăm! Nó còn tốt hơn nhiều so với hai phần trăm của anh!" Đồng nghiệp cũ của Glushkov là ông Anatoly Ivanovich Kitov đã nhớ lại về một vị công chức chính quyền khác đã bàn cãi về sự ứng dụng của nền công nghệ máy tính với những biện hộ: "Những phương pháp tối ưu và những hệ thống kiểm bằng máy tính là không cần thiết bời vì Đảng đã có những phương pháp kiểm soát của riêng mình. Với mục đích này, nó đòi hỏi cần có lời chỉ bảo của người dân Xô Viết" Những nhà lãnh đạo Xô Viết đã ủng hộ Glushkov gồm có: Kosygin và bộ trưởng quốc phòng Dmitrii Fyodorevich Ustinov, là những người không hề lên tiếng chỉ trích ông.

Glushkov không hề từ bỏ ý định. Bắt đầu vào năm 1962 và hai mươi năm kế tiếp, ông bền bỉ thúc đẩy ý tưởng vi tính hóa quốc gia và thúc giục hội đồng bộ trưởng Xô Viết ở Moscow phê chuẩn cơ sở dự án OGAS. Chỉ còn lại một rào cản, đó là Bộ chính trị, họ cần ban ra một quyết định cuối cùng để đồng ý cho tổ chức một ủy ban quốc gia để đứng ra giám sát dự án OGAS. Nhưng họ đã từ chối ý tưởng của Glushkov.
Khi vấn đề được đưa ra thỏa luận tại phiên họp của Bộ chính trị, Glushkov đã dự báo: "Những vấn đề trong nền kinh tế của chúng như đã nói rõ, vào cuối những năm 1970 chúng ta sẽ xem sét lại dự án OGAS. Nếu không thì, nền kinh tế của chúng ta sẽ suy sụp!" Khi ông quay trở lại Kiev, ông được Petr Efimovich Shelest, bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Ukraina triệu tập, ông này đã cảnh báo với Glushkov là hãy dừng xúc tiến dự án OGAS trong các cơ quan chính phủ và hạ mức "tiêu chuẩn" xuống mang ý nghĩa là thành lập những hệ thống máy tính trợ giúp cho các xí nghiệp. Nhưng trước khi có chỉ thị này, Glushkov cũng đã tập hợp các nhân viên của ông ở Viện Điều khiển học để thiết kế hai hệ thống. Thứ nhất là hệ thống Lvov, nó là một hệ thống CAD/CAM, đã được thiết và lắp đặt tại Xí nghiệp Vô tuyến Lvov. Thứ hai là hệ thống Kuntsev, đã được lắp ráp tại nhà máy Radio ở Kuntsev gần Moscow. Theo như Glushkov, hai hệ thống này được đặt ở mức tiêu chuẩn quốc gia.
Vào thời gian đó Ustinov là người ủng hộ Glushkov và ông đã đề nghị cho mở đầu dự án OGAS, ít nhất là để bảo vệ nền công nghiệp. Bộ phận bảo vệ đã tổ chức hỗ trợ để nhanh chóng thiết lập hàng loạt các hệ thống trợ giúp bằng máy tính có hiệu quả để quản lý xí nghiệp, nhưng những người phản đối Glushkov vẫn khăng khăng rằng các hệ thống kiểm soát bằng máy tính là không đáng tin cậy và không mang lại lợi ích. Tiếp theo đó, đã nảy ra vấn đề ngăn chặn sự nhanh chóng vi tính hóa trong xã hội Xô Viết. Như trong trường hợp đã xảy ra với điều khiển học, những người phản đối các chương trình CAD/CAM có phần chiếm ưu thế hơn.
Vào đầu những năm 1980, tình hình càng trở nên tồi tệ hơn… Tuy nhiên, những sự kiện của Glushkov vẫn còn mãi khắc ghi trong trái tim của những người đã từng làm việc cùng với ông, và tôi hy vọng, các độc giả của cuốn sách này sẽ thấu hiểu hơn. Nếu như ai đã biết đến công trình của Viktor Mikhailovich, thì sẽ phải công nhận rằng, những mạng lưới thông tin hiện đại là một di sản sáng tạo của ông. Những hệ thống đó đã được tạo dựng mà không cần có bất kỳ sự chỉ đạo của " người chỉ huy cấp cao" nào, và hầu hết đều vì những lý do có lợi cho nền kinh tế. Sự xuất hiện của máy tính cá nhân trong văn phòng của các kỹ sư, thiết kế viên và các nhà điều hành, đó là tấm giấy chứng nhận cho ý tưởng của Glushkov. Và ngày nay, một mạng lưới thông tin khổng lồ đó là Internet – nó trải rộng khắp Khối thịnh vượng chung của các quốc gia mới độc lập và trên toàn thế giới, nó đang thực hành những ước mơ và những lời tiên đoán vào bốn mươi năm về trước của Viktor Mikhailovich.
Trong một sự tình cờ được gặp Vladimir Petrovich Krasnikov, một nhà báo nổi tiếng của Kiev, tôi đã nói với ông mục đích viết một hồi ký về phát minh và sự phát triển nền công nghệ máy tính ở Liên Xô. Ông cho tôi biết rằng, ông đang có những cuốn băng cassette những bài tường thuật trực tiếp về thời thơ ấu, thời trai trẻ và những năm đầu làm khoa học của Glushkov. Hóa ra rằng Krasnikov đã rất nhiều lần gặp gỡ với Glushkov vào đầu những năm 1970 và ông cũng đã có ý định viết tiểu sử về Glushkov, nhưng ông lại đột ngột bị ngã bệnh. Ông ghi chú vào những tài liệu này là chưa sử dụng đến, sau đó ông giao tất cả lại cho tôi.
Vợ của Viktor Mikhailovich, bà Valentina, đã giới thiệu với tôi về các di vật của gia đình và những tập hồi ký của chồng mình, ông đã đọc cho cô con gái Olga viết vào chín ngày cuối cùng của cuộc đời, những tập hồi ký này hiện vẫn còn được lưu giữ tại phòng lưu trữ cá nhân của tôi ở Kiev. Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng ông là một thiên tài sáng tạo. Tôi muốn giới thiệu sau đây một số tình tiết ấn tượng nhất, vài tường thuật và ký ức đặc sắc nhất. Chúng sẽ bổ xung thêm hồi ký từ những sinh viên thân cận và các đồng nghiệp của ông tại Viện Điều khiển học, từ những đoạn thư của bạn bè, từ những hồi ức của vợ ông và từ những bình luận của cá nhân tôi.

nthach 04-03-2008 13:50

Chín ngày trong năm 1982


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image91.jpg
В.М. Глушков и разработчики ЭВМ "Промiнь". Слева направо: Н.А. Король, С.Б. Погребинский, Л.Н. Рогач, В.Д. Лосев, A.M. Дородницына, В.И. Журибеда, И.И. Попов, А.А. Стогний, А.И. Толстун

Trong khi tôi chuẩn bị và bảo vệ luận văn tiến sĩ tại trường đại học tổng hợp Moscow, tôi sống cùng với một vài nghiên cứu sinh Ukraina, họ đã giới thiệu tôi với viện sĩ hàn lâm Boris Vladimirovich Gnedenko từ học viện Khoa học Ukraina. Vào thời gian đó, Gnedenko là giám đốc Viện Toán và là bí thư viện sĩ ban Toán Cơ. Vào tháng ba năm 1956, ông mời tôi đến Kiev; đây là chuyến chuyến đi đầu tiên của tôi đến đó. Sau khi đi dạo một đoạn trong trường đại học Kiev, Gnedenko đã cho tôi xem hồ sơ cá nhân của những chuyên gia trẻ, họ đã tốt nghiệp và được tuyển chọn vào làm việc tại Viện Toán trong phòng thí nghiệm Lebedev cũ. Phòng thí nghiệm này được tách khỏi Viện Kỹ thuật Điện. Mùa thu năm 1956, trong chuyến đi tiếp theo, tôi đã chuyển hẳn về Kiev. Tôi trở thành trưởng phòng thí nghiệm thiết bị máy tính tại Viện Toán. Phòng thí nghiệm này có nhiệm vụ cải tổ lại thành một trung tâm điện toán của Học viện Khoa học Ukraina, theo một nghị định 1955 để thành lập những trung tâm điện toán trong những học viện trên toàn Liên Xô

Rabinovich nhớ lại:

Vấn đề này đã làm cho Glushkov rất khó khăn để giải quyết trong vòng nửa năm — thay vì lĩnh vực đại số hình Tôpô mà ông đã giành được những thành quả rực rỡ, nay ông phải chuyển sang điều khiển học, lĩnh vực mà hiện nay đằng sau nó thường có những người có thẩm quyền lên tiêng chỉ trích. Những nhân viên cũ của phòng thí nghiệm do Lebedev đích thân tuyển chọn, nay họ là những người có bề dày kinh nghiệm và là một nhóm các nhà khoa học kết dính. Đó cũng có thể là một lý chính để trả lời vì sao họ lại chưa được hoan hỉ khi chào đón một nhà lý thuyết toán học Glushkov, tuy nhiên với tư cách cá nhân, ông cũng giống như bao người khác từ lúc ban đầu. Tài năng của Glushkov là không thể bác bỏ, sự hiểu biết khác thường, sức hấp dẫn, sự nhiệt tình của ông đã tác động đến người khác về các môn khoa học mới và sự cần mẫn riêng đã đem lại lợi ích để hỗ trợ cho các nhân viên phòng thí nghiệm và sự phát triển của ông trong ngành điều khiển học. Giá trị của nó đã được đề cập trong một vài nghiên cứu chuyên đề được tiến hành thực hiện trong phòng thí nghiệm đã được ứng dụng cho MESM. Cụ thể là, tiến hành nghiên cứu nguyên lý lập trình – do Vladimir Korolyuk Ekaterina Yushenko tạo lập địa chỉ chế độ ngôn ngữ, tiếp theo là chương trình các phương pháp giải quyết tối ưu các vấn đề được Gnedenko, Vladimir Semyenovich Mikhalevich và những người khác tạo lập, Dashevsky là người chỉ đạo của nhóm này và được sự giúp đỡ của Solomon B. Pogrebinsky, Alla Leonidovna Gladish cùng một số người khác. Những nhân viên này cũng tham gia vào các công trình thiết kế khác và cùng tiến hành nghiên cứu, thẻ nghiệm các nguyên lý thiết kế máy tính mới, cụ thể là các Diôt ferit và các dụng cụ bán dẫn.
Trong thời gian này, chiếc máy tính SESM đã được thử nghiệm và đang hoạt động tại phòng thí nghiệm. Đây là chiếc máy tính đầu tiên của Liên Xô được hoạt động trên cơ sở bộ sử lý Vectơ Ma trận với cấu tạo đường ống dẫn của các phép tính và phối hợp với nhập và xuất dữ liệu các kết quả tính toán. Cấu trúc của chiếc SESM tương ứng với những ý tưởng của Lebedev, nhưng Glushkov không bác bỏ nó. Trái lại, ông còn rất quan tâm vào dự án này. Khắc phục sự thiếu thiện ý của những nhà thiết kế để làm một bản tổng kết về triết lý thiết kế máy tính SESM (chiếc máy tính đã được hoàn thành) Glushkov đã quyết định viết một cuốn sách về nó. Cuốn sách này được xuất bản tại Mỹ và hình như no là một trong những cuốn sách của Liên Xô được xuất bản tại nước ngoài.

Có một dự án đặc biệt tại phòng thí nghiệm là chiếc máy tính Kiev. Dự án này do Gnedenko thành lập và trực tiếp giám sát, phần thiết kế do Dashevsky chịu trách nhiệm. Chiếc máy tính được dự định đem sử dụng tại trung tâm máy tính mới được thành lập ở phòng thí nghiệm trước đây của Lebedev và được cho là một biểu tượng của một dòng máy tính mới trong công nghệ. Nó còn được cho là chiếc máy tính có thêm nhiều thành phần: hệ thống điều chỉnh không đồng bộ (hệ thống đầu tiên của Liên Xô), bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên Ferit (RAM), bộ nhớ bên ngoài trên các trống từ trường, một hệ thống nhập/xuất thập phân (giống như đã được lắp trên chiếc SESM), bộ nhớ thụ động với một tập hợp hằng số và các chương trình con của các hàm sơ đẳng và một hệ thống toán tử nâng cao, bao gồm cả một nhóm các phép tính với các địa chỉ được sửa đổi, cho phép các phép tính được hoàn thành trên các cấu trúc dữ liệu phức tạp. Nhóm các nhà khoa học đã tạo dựng chiếc MESM cũng được kết nạp vào để thiết kế chiếc Kiev. Các nhà khoa học thuộc Viện Toán – Korolyuk, Pogrebinsky, và Yushenko họ thiết kế các phép tính chọn lọc. Glushkov cũng đã tham gia nỗ nực vào giai đoạn cuối về thiết kế kỹ thuật, hiệu chỉnh máy tính, và cùng đóng góp chỉ đạo dự án với Dashevsky và Yushenko.

nthach 06-03-2008 13:38


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image92.jpg
ЭВМ МИР-1

Một dự án chuyên đề khác được bắt đầu tiến hành trước khi Glushkov chuyển đến phòng thí nghiệm, nó đã được thiết kế là một hệ thống máy tính gấp đôi để theo dõi mục tiêu sóng rada trên không và các máy bay chiến đấu phản lực để ngăn chặn chúng. Malinovsky và Rabinovich đã lãnh đạo hai nhóm nhỏ để thực hiện dự án này. Malinovsky phụ trách mảng sử lý thông tin rada, còn Rabinovich chịu trách nhiệm thiết kế phần mục tiêu. Khi Glushkov đến, dự án được xắp đặt lại. Ông đặt tất cả mọi thứ vòa một cơ sở khoa học chặt chẽ và đưa vào thành một công thức lý thuyết toán học cho qui trình mục tiêu. Các kết quả công việc của ông được phê chuẩn và được sử dụng để sáng chế một hệ thống phòng thủ chống máy bay theo tiêu chuẩn của Liên Xô.

Làm thế nào Glushkov đã khuất phục và thúc đẩy được các nhân viên phòng thí nghiệm một cách nhanh chóng? Điểm thứ nhất là, trí thông minh bẩm sinh của ông đã bao quát được những sự việc to lớn. Nó như là ông có thể bao quát được toàn thế giới trong mọi phương diện ở cùng một thời điểm. Ông có thể ấn định được toàn bộ những sự phức tạp trong sự phát triển nền công nghệ máy tính, để làm sáng tỏ công thức những ý tưởng cơ bản để thiết kế nó, phác thảo những mục đích của hiện tại và tương lai trong lĩnh vực. Cá nhân ông, không thể làm lung lay được sức thuyết phục trong các nhà khoa học của chúng ta.

Hồi ký của Viktor Glushkov, ngày 3/1/1982

Những thiết kế máy tính vào thời gian đó được dữa trên trực giác kỹ thuật, xong tôi đã tự mình nghiên cứu các nguyên lý thiết kế máy tính. Với kết quả đó, tôi đã biết tận tường các hoạt động bên trong của một chiếc máy tính. Từ đó, lý thuyết của máy tính đã trở thành một trong những chuyên ngành của tôi, nó đã dẫn dắt tôi chuyển từ nghệ thuật thiết kế máy tính vào một môn khoa học. Đương nhiên, người Mỹ cũng đã làm một số vấn đề tương tự, nhưng sau đó họ cũng chỉ đạt được kết quả tương tự như chúng ta. Lý thuyết của máy tự động làm cơ sở cho sự thiết kế máy tính đã không đủ để phát triển trở lại vào khi đó. Hình như, người đầu tiên đưa ra ý tưởng áp dụng toán học lôgic vào thiết kế các thiết bị kỹ thuật là một người Mỹ tên là Claude Shannon và V.I. Shestakov và Mikhail Alexandrovich Gavrilov của Liên Xô. Họ ứng dụng hình thức đơn giản của toán học lôgic để thiết kế mạch chuyển trong điện thoại. Nó còn được áp dụng cho các mạch điện đơn giản. Do đó, trong những năm sau chiến tranh, nền công nghệ máy tính số bắt đầu phát triển, họ đã cố gắng đem ứng dụng toán lôgic vào giải quyết cho các thao tác trong mạch điện máy tính. Tôi cũng bắt đầu tiến hành làm việc trên vấn đề này và tổ chức một hội nghị chuyên đề về lý thuyết của máy tự động. Tính chất của dự án đầu tiên của tôi là khám phá ra nhiều hơn những phương diện đại số đơn giản và khái niệm hợp lý trên máy tự động của Kleene, và tôi đã thu được toàn bộ kết quả của Kleene. Nhưng điều quan trọng hơn, thậm trí ngoài các kết quả của Kleene, tôi đã phát triển ra những lý thuyết nhằm vào các tao tác thực tế của thiết kế máy móc. Tại hội nghị chuyên đề, chúng tôi cùng thảo luận về thiết kế chiếc Kiev và đã nhận ra những phần lý thuyết của tôi sẽ có khả thi hay không
Alexander A. Letichevsky, một người đồng nghiệp của Glushkov nhớ lại:

Julia Kapitonova trở thành "linh hồn của hội thảo chuyên đề" chị nguyên là sinh viên ruột của Glushkov. Còn Viktor Bondarchuk và tôi cũng là những người tham dự trung thành của hội thảo. Tôi từng có một thời kỳ lãng mạn: một môn khoa học mới được ra đời ngay trước mắt chúng ta và chúng tôi đã mở mang và phát triển lĩnh vực của nó bằng chính những đôi tay mình. Chúng tôi rất tự hào và hãnh diện khi chúng tôi đã giải được những bài tập mà giáo viên đã giao cho chúng tôi. Lý thuyết của máy tự động không phải ngẫu nhiên mà Glushkov đã chọn lựa. Nó là một kế hoạch tuyệt vời trong biện pháp kỹ thuật. Như một nhà đại số, Glushkov đã nhận ra rằng khái niệm của máy tự động, có từ Stephen Kleene và các tác giả khác trong cuốn Nghiên cứu Thiết bị Tự động (được xuất bản năm 1956, Princeton, N.J. dưới sự chủ bút của Shannon và McCarty; được dịch sang tiếng Nga vào cùng năm đó dưới sự chủ bút của Alexei A. Lyapunov) đã giới thiệu một mẫu toán học cho bộ sử lý thông tin riêng. Mẫu này có thể nghiên cứu bởi sự áp dụng của một ma trận toán học hiện đại. Khi đó, phần mở rộng của ứng dụng lý thuyết trên nền tảng của toán học hữu tỉ có thể thu hút sự chú ý của các kỹ sư, những người chưa am hiểu về lý thuyết toán học để thiết kế những thiết bị bao hàm các yếu tố bộ nhớ. Thêm nữa, lý thuyết của máy tự động có thể trở thành cơ sở cho thiết kế các mẫu hệ thống điều khiển học với những ứng dụng khác nhau.

nthach 13-03-2008 15:29

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image93.jpg
ЭВМ МИР-2

Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 3 tháng giêng năm 1982

... Trong ban năm, tôi đã vắt óc thử giải một định lý cơ bản trong bài toán suy thứ tư của Hilbert. Tiềm thức tôi luôn làm việc kể cả trong khi ngủ. Một vài lần trong đêm, tôi dường như đã giải được nó, nhưng khi tỉnh giấc vào sáng hôm sau, ra ngồi vào chiếc ghế thì than ôi; chẳng biết lý do gì, những điều đó trở thành một Lôgic sai lầm. Liên tục trong ba năm vắt óc, rồi cũng kết thúc vào năm 1955. Tôi và vợ cùng đi du lịch bộ hành ở Capcas. Khi đang leo trên một đồng băng ở Mt. Kazbek, tôi liền bật ra một ý tưởng có thể giải được bài toán của Hilbert.Tuy nhiên, tôi đã dùng phương pháp này rồi, nhưng trên thực tế tôi luôn sai lầm trong lập luận là bởi ban đầu tôi không tin rằng tôi đã giải được bài toán. Tôi tìm lại sai sót trong đáp án, nhưng không hề có. Trên đường trở về trên xe lửa, tôi nhanh chóng viết đáp án của bài toán và dùng thời gian trong sáu tháng tiếp theo để sửa lại cho hoàn chỉnh. Toàn bộ đáp án này dày 60 trang và được chứng minh chỉ bằng một định lý. Cho đến thời điểm đó, chưa có một ai trên thế giới nêu ra được một chứng minh ngắn gọn hơn cho bài toán. Công trình này đã mang lại cho tôi một danh dự là nhà toán học và một sự toại nguyện trong sáng tạo thật bao la không nói hết bằng lời…

Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 4 tháng giêng năm 1982.

Tháng 12 năm 1957, chính phủ và đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Ukraine đã ra một chỉ thị thành lập một Trung tâm Máy tính của Học viện. Vào thời gian đó, các nhân viên của chúng tôi gồm có hơn 100 người. Học viện Khoa học Ukraine đã bổ trợ tài chính để xây dựng trung tâm trên đường Lysogorskaya và một ngôi nhà căn hộ lớn cho nhân viên. Ngay từ khi mới bắt đầu, Trung tâm Máy tính được cung cấp ba chiếc máy tính; Kiev, MESM và một chiếc Ural-1. Trung tâm được thiết kế 400 khu vực làm việc và ba đại sảnh lớn để lắp đặt máy tính. Năm 1959, các nhân viên của chúng tôi được rời từ Feofania về Kiev, nhưng trung tâm vẫn chưa được xây dựng xong. Đây là một giai đoạn đáng lưu tâm trong lịch sử Trung tâm Máy tính. Theo yêu cầu kỹ thuật, nơi mà thiết bị máy tính được lắp đặt cần phải sạch sẽ và không khí phải được điều hòa. Vậy mà cho đến giờ này, chúng tôi đã kiểm tra khâu cuối cùng và bắt đầu khai trương lắp đặt chiếc Kiev thì tòa nhà chưa được đổ mái…

Chiếc máy tính Kiev đã đóng một vai trò quan trọng trong công việc của chúng tôi, tuy thế nó vẫn chưa được sản xuất hàng loạt. Chiếc Kiev tiếp theo được bán cho viện nghiên cứu nguyên tử quốc tế ở Dubna gần Moscow. Trong những năm 1956 – 1957, nền nghiên cứu hạt nhân bùng nổ. Do đó, sự công tác với học viện đã mang lại những trợ giúp và sự truyền đạt kiến thức cho chúng tôi rất nhiều. Một mặt, chúng tôi đang mang một trọng trách làm đầu tàu trong khoa học; mặt khác chúng tôi cũng phải trau dồi để cùng hợp tác với các tổ chức công nghiệp. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của tôi là thiết lập những qui tắc cơ bản của lý thuyết máy điện toán, phần lý thuyết mà tôi đã thực hiện xong vào năm 1961. Công trình ngiên cứu quả là vô cùng nghiệt ngã và tốn khá nhiều thời gian. Cả ngày tôi lăn lộn với công việc trong viện, tối đến tôi lại vùi đầu vào viết sách và báo chí, tôi thường viết bài đến tận năm giờ sáng. Công việc thật căng thẳng và liên miên mà chẳng có thời gian nghỉ ngơi, nó đã làm tôi giảm sút sức khỏe quá nhiều. Vào đầu năm 1963, tôi bị tai biến mạch máu não và phải nhập viện một thời gian ngắn. Sau đó, tôi buộc phải thay đổi thói quen làm việc và phải giữ gìn sức khỏe.

Vợ của Glushkov cũng đã cố can ngăn ông nên giảm mức độ công việc và khuyên chồng nên chú ý hơn đến sức khỏe của mình. Nhưng bà vẫn không thuyết phục được ông:
Anh ấy làm việc mười tám đến hai mười giờ mỗi ngày. Suốt ngày chỉ vùi vào công việc mà quyên cả ăn uống. Khi vừa về đến nhà lại vội vàng ngồi vào bàn và làm việc cho đến tận sáng, đôi khi đến tận lúc mặt trời lên. Viktor chắng bao giờ nghe lời khuyên về sự nguy hiểm nếu làm việc quá sức, nhưng lý do của anh đưa ra thì có thể thông cảm được. Trong một thời gian ngắn, anh ấy đã phải nghiên cứu mọi xu hướng mới nhất trong lĩnh vực khoa học của mình. Hơn nữa, anh ấy còn phải có trách nhiệm với một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học trong thời này, chứ không phải là riêng mình anh nữa. Rất nhiều khó khăn trong tổ chức lại đến và những vấn đề mới đòi hỏi phải nỗ lực giải quyết. Sau khi anh ấy đã được điều trị, ngay lập tức lại trở về làm việc và có thay đổi một chút về lịch làm việc, nhưng thời gian nghỉ ngơi vẫn còn ít. Anh ấy ghi lại một mảnh giấy, nó thường được nằm dưới một tấm kính trên bàn làm việc ở nhà: "Hôm nay là ngày nghỉ đầu tiên trong của đời của bạn. Đừng nên lãng phí nó"


Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 4/1/1982

Cuốn sách của tôi – Thiết Kế Máy Tự Động Số, được xuất bản vào năm 1961 nó đã trở thành nền tảng của xu hướng khoa học hiện đại trong Viện của chúng tôi và hầu như đóng một vai trò tuyệt đối trong quốc gia. Vào năm 1964, cuốn sách này đã danh dự được nhận phần thưởng Lenin. Tôi cũng còn viết một vài cuốn khác trong cùng thời gian này. Một cuốn giới thiệu về chuyên đề Điều khiển học cũng đã được tôi hoàn thành trong thời gian còn đang trong bệnh viện; cuốn sách này được xuất bản vào năm 1964. Cả hai cuốn sách này còn được xuất bản tại Mỹ và rất trên nhiều các quốc gia khác. Thời gian này, tôi còn viết các bài báo nói về cơ sở học thuyết, những bài báo này đã được đặt làm nền tảng cho rất nhiều công trình cùng thời điểm đó. Bài báo " Thuyết Trìu Tượng trong Máy Tự Động" được in trên tạp chí Thành Công của Toán Khoa Học, nó được coi là rất có giá trị trong khắp giới toán học. Bài báo này được Cộng hòa Dân chủ Đức và các nước khác in lại thành một cuốn sổ tay. Với sự ảnh hưởng của bài báo này, nhiều nhà đại số học của chúng ta đã trở nên bị thu hút vào học thuyết tự động. Tôi cũng lưu ý đến tương lai các trường học: Chúng ta nên cố gắng chú tâm đến thực tiến nhiều hơn là lý thuyết.

Cùng với nghiên cứu lý thuyết, chúng tôi vẫn tiếp tục theo đuổi công việc sáng tạo và ứng dụng nền công nghệ máy tính ở Ukraine. Khi đó, các xí nghiệp sử dụng thiết bị tin học tương tự đơn giản để điều hành sản xuất bằng máy tính. Trên mỗi qui trình công nghệ, họ tạo ra một thiết bị riêng biệt, nhất là mỗi thiết bị đó có thể được mô tả bởi phương trình vi phân đơn giản. Vào năm 1958, tại hội thảo tin học ở Kiev, tôi đã đề xuất chế tạo một chiếc máy tính đa năng được lắp một bóng bán dẫn, nhưng đề xuất này bi phản đối. Các nhà khoa học Moscow, do viện sĩ Vadim Alexendrovich Trapeznikov lãnh đạo và rất nhiều chuyên gia kỹ thuật máy tính Xô Viết cùng đưa ra phủ quyết vấn đề này, họ vẫn còn cho rằng, các loại máy tính phải phụ thuộc vào đèn điện tử chân không. Những thiết bị này thì đòi hỏi phải có một khoảng không gian rộng lớn và điều kiện khí hậu thích hợp, chúng trái ngược với thực tế sản xuất và về mặt kiểm soát qui trình công nghệ.
Khi này, Boris Malinovsky là một người đầu tiên tiến hành nghiên cứu chất bán dẫn, nó rất có ích cho chúng tôi trong đà phát triển chiếc máy tính điều khiển chung. Chúng tôi đã phác thảo ra những ý tưởng cơ bản, những ý tưởng mà rất có ảnh hưởng đến triết lý sống sau này: chiếc máy tính được lắp ráp bằng các dụng cụ bán dẫn, cần được sách tay, có độ bảo vệ đáng tin cậy, và một từ có độ dài 26 bits – đủ để kiểm soát đa số các qui trình công nghệ. Nhưng ý tưởng chính của chúng tôi là một giao diện đặc biệt có thể kết nối máy tính với các qui trình công nghệ.

nthach 19-03-2008 11:54

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image96.jpg
В.М. Глушков и С.Б. Погребинский
Malinovsky đã từng là kỹ sư trưởng của chiếc máy tính này và tôi khi đó là cố vấn kỹ thuật. Từ khi ý tưởng này được công bố tại hội nghị vào tháng sáu năm 1958, nó chỉ mất có ba năm để được đưa vào sản xuất một loạt (tháng bảy năm 1961), Và sau đó một năm chúng được lắp đặt ở một số nhà máy.

Chiếc máy tính Kiểm soát chung, sau này được mang tên Dnepr, đó là một sự nỗ lực cộng tác với một số xí nghiệp Ukraina để cùng kết hợp kiểm soát các qui trình công nghệ phức tạp. Cùng với nhà máy luyện kim Dzerzhinsky – thành phố Dneprodzerzhinsk – chúng tôi đã phân tích các vấn đề trong hệ thống kiểm soát qui trình vật đúc trong các lò chuyển Bessemer…Ngoài ra, tôi còn đề xướng một cuộc thử nghiệm – Cuộc thử nghiệm đầu tiên ở châu Âu – để kiểm soát một số qui trình đó trong vài ngày liên tục, chúng tôi đã chỉ đạo nghiên cứu các ứng dụng của chiếc Dnepr trên các qui trình hàn tự động được trợ giúp bởi máy tính trong nhà máy ở thành phố Nikolayev. Tận tình tham gia vào các dự án này có Malinovsky, Vladimir Illich Skurikhin, Gleb Alexandrovich Spinu và những người khác.

Chúng tôi nghiên cứu dự án này sau khi các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành phát triển chiếc máy tính điều khiển bán dẫn – cấu trúc tương tự như chiếc Dnepr, tuy họ triển khai sớm hơn, nhưng khi đưa ra sản xuất thì cùng một thời điểm với chúng tôi vào tháng 6 năm 1961. Đây là một dấu mốc quan trọng, vì chúng tôi đã bắt kịp người Mỹ trong lĩnh vực khoa học rất trọng yếu này. Nó cũng là chiếc máy tính lắp thiết bị bán dẫn đầu tiên của Xô Viết. Chiếc Dnepr trở nên là một chiếc máy tính rất mạnh mẽ, nó có thể chống lại với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, những thử thách chấn động… Chiếc Dnepr được sản xuất liên tục trong vòng mười năm, từ năm 1961 đến năm 1971, trong khi đó, đặc thù thiết bị máy tính cần phải đổi mới theo chu kỳ chế tạo từ năm đến sáu năm một lần. Sau nhiều cuộc thảo luận trong một chương trình bay liên kết của Soyuz-Apollo vào vũ trụ giữa Xô Viết – Mỹ, loại máy tính Dnepr được chọn làm màn hình hiển thị tại trung tâm kiểm soát bay của chương trình. Dòng máy tính Dnepr còn được xuất khẩu sang nhiều quốc gia Xã hội Chủ nghĩa khác.

Dòng máy tính này cũng được chính quyền chấp nhận, bởi kế hoạch - bảy năm phát triển nền công nghiệp Xô Viết – của Ukraina đã không cần đề cập đến việc phải phát triển thêm những dòng máy tính khác. Những chiếc Dnepr đầu tiên được chế tạo, chúng đã được lắp đặt cho nhà máy Radiopribor ở Kiev. Trong thời gian chiếc Dnepr còn đang được thiết kế, chúng tôi đã đề xướng ý tưởng cho xây dựng một nhà máy sản xuất máy tính (tiếng Nga: Zavod Vuichislitel'nikh i Upravlaushikh Mashin, hoặc VUM, ngày nay được mang tên là Electronmash) yêu cầu này đã được chính phủ tán thành. Do đó, gian đoạn oai hùng trong thời kỳ phát triển của chúng tôi đã đi đến hồi kết. Tôi gọi thời gian này là oai hùng bởi vì, chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện cực kỳ khó khăn và chúng tôi thường mong đợi công trình của chúng tôi được phát huy hết khả năng vốn có nó.

Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 5/1/1982

Vào năm 1962, trung tâm máy tính của chúng tôi được tổ chức lại và đổi tên là Viện điều khiển Học viện Ukraina. Viện nhanh chóng phát triển và chúng tôi cũng đã tham gia vào nhiều lĩnh vực: xác suất tự động, độ tin cậy chức năng của các thiết bị tự động, tiết kiệm kinh tê và năng lượng… Nghiên cứu được tiến hành chuyển đổi từ các thiết bi tự động trong trạng thái hạn chế sang trạng thái vô hạn. Chúng tôi đã khám phá ra một mối liên quan giữa lý thuyết tự động hóa với lý thuyết ngữ pháp hình thức. Chúng tôi đã bổ xung thêm những phương pháp mới của các phân tích và thiết kế tự động; bên cạnh tôi còn có Letichevsky và Kapitonova cũng rất tích cực tham gia vào nghiên cứu này. Công trình của họ cũng đã được công nhận rộng rãi
Năm 1959, tôi đã tiến hành thiết kế một chiếc máy tính có thể thực hiện được các phép tính kỹ thuật. Dự án này được khởi động bằng một phác thảo của thiết bị tính số tự động. Đến năm 1963, chúng tôi tiến hành sản xuất một loạt máy tính Promin. Vào thời gian đó, chúng tôi nhận ra là cần phải có một cục chuyên thiết kế, cục này được thành lập vào năm 1963, nhưng nguyên bản của nó đã được hình thành từ rất sớm tại Viện Điều khiển. Các nhân viên đã từng xây dựng chiếc máy tính Promin sau này được nhập vào cục thiết kế này.
Dòng máy tính Promin được bắt đầu sản xuất tại xưởng chế tạo máy tính Severodonetsk, do nhà máy Kiev vẫn còn đang được xây dựng. Chính xác là dòng Promin đã được đổi mới, cụ thể là các thẻ nhớ được thêm môt lớp tráng kim loại. Nhưng quan trọng nhất, nó là một chiếc máy tính được lắp đặt một bộ vi điều khiển chương trình từng bước. Thật đáng tiếc, chúng tôi đã không giành được bằng sáng chế quốc tế về cấu hình điều khiển mới này. Hồi đó, Liên Xô không phải là thành viên Hiệp hội Bằng Sáng chế Quốc tế, do vậy chúng tôi không nhận được bản quyền tác giả. Sau này, bộ điều khiển chương trình từng bước được lắp trên chiếc máy tính Mir-1 để tính toán kỹ thuật. Năm 1967, tại một cuộc triển lãm máy tính quốc tế ở London, chiếc máy Mir-1 đã được bán cho IBM – một công ty máy tính lớn nhất tại Mỹ và là một nhà xuất khẩu đến 80 phần trăm thiết bị máy tính cho các nước phương Tây. Đây là công ty đầu tiên – thật đáng tiếc cũng là một công ty Mỹ cuối cùng – đã đặt mua máy tính Liên Xô. Loại máy tính mới và được nâng cấp toàn diện, chiếc Mir-2, được đưa vào sản xuất năm 1969, tiếp theo là loại Mir-3. Những chiếc máy tính này là loại siêu việt với tốc độ chuyển đổi phép phân tích của chúng khá cao. Ví dụ, loại Mir-2 đã thành công trong cuộc cạnh tranh, chúng là những chiếc máy tính đa năng có kết cấu đạt tiêu chuẩn cao.
Có những khác biệt gì giữa dòng máy tính Mir và các loại máy tính khác? - Chúng tôi đã nâng cấp toàn bộ ngôn ngữ lập trình máy tính.Trong thiết kế của chiếc Mir, chúng tôi đã xử lý một vấn đề táo bạo – khớp ngôn ngữ lập trình của máy tính sát với ngôn ngữ con người.

nthach 24-03-2008 14:23

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image97.jpg
В.М. Глушков и М.А. Лаврентьев


Năm 1966, Glushkov và Rabinovich cho đăng một bài báo trên thế giới viết về cải tiến hiệu suất máy tính tương tác giữa con người và máy tính: " Một vài luận đề về kết cấu thuật toán trong hệ thống máy tính" . Vào thời điểm đó, đây là " cuộc cách mạng những quan niệm" được thừa nhận rằng, phương diện phát triển nền công nghệ máy tính đã được thay đổi. Cuộc tranh luận đầu tiên trong tư tưởng mới này đã nổ ra (năm 1962) tại một hội nghị quốc tế về phát triển máy tính được tổ chức tại Kiev. Những thành phần tham dự đến từ các nước như; Bulgaria, Hungary, Balan và Tiệp Khắc. Glushkov được bố trí phát biểu, nhưng đột nhiên ông lại bị ốm. Bất chấp cơn sốt vẫn còn cao, ông vẫn quyết định làm bản tóm tắt của mình, bởi ông biết rằng hội nghị này rất quan trọng. Đáng tiếc, cơn sốt đã gây khó khăn cho bài phát biểu của ông, trong những trường hợp khác, nó rất dễ gây phấn trấn cử tọa bằng giọng phát biểu đầy nhiệt huyết rất đặc trưng của mình. Sau lời giới thiệu, ông đã dồn dập đưa ra hàng trăm câu hỏi đầy thử thách.
Tầm quan trọng của hệ thông minh nhân tạo cùng kết hợp trong máy tính đã được công nhận vào năm 1963, tại một hội thảo chuyên đề do Viện Điều khiển và trường đại học Uzhgorod tổ chức. Trong cuộc hội thảo, Lebedev, Glushkov, Mikhail Sulim – tổng quản trị ngành công nghệ máy tính thuộc bộ chế tạo truyền thông, cùng một số người khác tham dự. Nói chung, trong hội thảo chúng tôi đã thảo luận về những đề xuất cho các cấu trúc máy tính với một bầu không khí rất thân thiện, và những người thường chỉ trích chúng tôi thì nay cũng tỏ ra rất rộng lượng.

Quay trở lại Kiev, Glushkov bắt đầu tiến hành thiết kế chiếc Mir-1 với một sinh lực mới. Trong vòng hai tuần, ông đã phác thảo ra những kế hoạch sơ bộ. Một mối quan hệ công tác thật gần gũi giữa các đồng nghiệp khoa học với nhau tại Viện Điều khiển với các nhà khoa học và kỹ sư của SKB-245 đã dẫn đến những kết quả rực rỡ - chiếc máy tính dòng Mir đã nhanh chóng được phát triển và đưa vào sản xuất một loạt và được người sử dụng đánh giá rất cao. Sự sáng tạo trong chiếc máy tính này là một bước nhảy vọt phi thường trong nền phát triển hệ thông minh nhân tạo cho dòng máy tính cỡ nhỏ.
Vào cuối những năm 1960, Glushkov đã đứng ra giám sát một dự án phát triển chiếc máy tính Ukraina và ông bổ nhiệm Rabinovich làm trưởng thiết kế trong dự án này. Những trợ lý chính của Rabinovich gồm có Alexander Stogny và Ivan N. Molchanov. Dự án này là bước khởi động kế tiếp trong những nguyên lý của von Neumann theo tiêu chí kết hợp bộ thông minh nhân tạo vào máy tính.

Dự án phát triển chiếc máy tính Ukraina là một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực khoa học của Glushkov. Những ý tưởng tiêu biểu để sáng tạo nên chiếc máy tính Ukraina đã vượt trội hơn rất nhiều so với những chiếc máy tính cùng loại của Mỹ trong thập niên 70.


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image98.jpg
"Рука" робота, управляемая ЭВМ - "Cánh tay" máy, do EVM điều khiển


Glushkov đã nêu ra nguyên lý macro-conveyer dựa trên ý tưởng, mỗi bộ sử lý sẽ nhận một nhiệm vụ riêng trong mỗi bước của qui trình tính toán, nhiệm vụ này cho phép nó được làm việc độc lập trong một thời gian dài mà không cần sự giao thoa từ các bộ sử lý khác.

Năm 1959, Tại hội nghị toàn liên bang Xô Viết bàn về vấn đề công nghệ máy tính, được tổ chức ở Kiev, Glushkov đã phát biểu về ý tưởng cho bộ não thông minh của máy tính có thể nhận thức được khi những người thiết kế đã có đủ năng lực để tích hợp không chỉ hàng ngàn, mà hàng tỉ nguyên tố bằng cách kết nối tất cả chúng vào trong một hệ thống.
Tại đại hội liên đoàn quốc tế về sử lý thông tin vào năm 1974, Glushkov đã giới thiệu một bài thuyết trình về loại máy tính đệ qui, dựa trên những nguyên lý mới của hệ thống cấu tạo máy tính. Ông biện luận rằng, chỉ có triển khai giải pháp non -Von Neumann kiểu mới trên cấu trúc máy tính, dựa theo cấp độ hiện tại của công nghệ máy tính, thì sẽ giải quyết được vấn đề chế tạo ra một siêu máy tính với sự phát triển cho sản xuất là vô hạn và mức độ tinh xảo hơn của phần cứng sẽ ngày một tăng. Tiếc rằng, cuộc nghiên cứu tiếp tục về sau đã chỉ ra rằng, sự thực hiện toàn diện của các nguyên lý dựng hình trong máy tính đệ qui và các cấu trúc thông minh đã vượt khỏi giới hạn của nền công nghệ điện tử ở thời điểm đó.

Vào năm 1979, Glushkov đã phát biểu tại hội nghị Novosibirsk: "Đó là một luận đề rất cấp bách nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý để chuyển đổi từ thiết kế máy tính mang các nguyên lý Von Newman sang cấu trúc máy tính thông minh trong tương lai". Glushkov đã xúc tiến ý tưởng này như là một nền tảng của cấu trúc nguyên bản cho loại máy tính macro-conveyer có tính thực thi cao, ông vẫn tục theo đuổi ý tưởng này ngay cả khi ông đã lên nắm chức vụ phó chủ tịch đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Ukraina.
Năm 1981, một nhà thiết kế vũ khí hạt nhân nổi tiếng, viện sĩ hàn lâm Yuli Borisevich Khariton, đã đến thăm Viện Điều khiển tại Học viện Khoa học Ukraina, ông ta rất quan tâm đến loại máy tính có đường dẫn macro đặc biệt này, cũng bởi do tốc độ của nó nhanh hơn bất kỳ một loại máy tính nào khác và nó giảm tối thiểu thời gian sử lý cho nhiều dự án quan trọng.
Glushkov cũng hiểu được tầm quan trọng trong cuộc viếng thăm của Khariton cho tương lai của dòng máy tính có đường dẫn macro và tương lai cho viện của ông. Vào thời gian này, Glushkov đã ở vào giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư não, nó đã làm cho ông trở nên khó khăn hơn trong giao tiếp. Tuy nhiên, ông vẫn tự đứng ra tiếp đón Khariton. Glushkov vẫn tràn đầy sự hăng hái cho ý tưởng siêu máy tính Xô Viết. Ông rất tin tưởng rằng khi hoàn thành dự án này, nó sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho các nhà vật lý của chúng ta. Tiếc rằng, Glushkov đã không còn được sống để nhìn thấy ý tưởng của ông được thực hiện trong các loại máy tính khoa học có dòng dẫn macro ES-2701 và ES-1766.
Theo như hội đồng chính phủ Xô Viết đã đánh giá về dự án thì, các dòng máy tính này là loại hàng đầu trên thế giới. Với một tổ hợp gồm 256 bộ xử lý, chiếc ES-1766 có thể thực hiện được nửa tỉ phép tính trong 1 giây. Đồ án thiết kế của ES-2701 và ES-1766 ngay lập tức được chuyển giao cho xí nghiệp máy tính điện tử ở Penza, nước Nga, để sản xuất hàng loạt vào những năm 1984 và 1987. Những chiếc máy tính này còn là đối thủ đáng gờm nhất của nền công nghiệp máy tính Mỹ.
Đến thời điểm đó, Liên Xô đã đưa rất nhiều loại máy tính vào sản xuất thông qua Viện Điều khiển tại Học viện Khoa học Ukraina và SKB. Trong đó gồm có cả hàng loạt máy tính Mini, máy tính chuyên dụng và các dòng máy tính chương trình mã khóa: SOU-1, Neva, Iskra-125, Mria, Chaika, Moscow, Scorpion, Romb, Orion, Express, Pirs, và nhiều dòng khác. Viện Điều khiển cùng với công ty sản phẩm khoa học S. P. Korolev, đã tạo dựng ra các loại máy tính vi sử lý: Các hệ thống Neuron cùng với hệ thống gỡ rối mang tên SO-01 và SO-04 do Malinovsky, Palagin, và Valery Iosifovich Sigalov phát triển. Họ còn tham gia vào thiết kế chiếc máy vi tính đầu tiên mang tên Elektronika-S5 của Liên Xô, loại này được sản xuất tại nhà máy Điện tử Svetlana ở Leningrad.
Khó có thể xây dựng được những dòng máy tính hiện đại mà không có một hệ thống thiết kế được trợ giúp bằng máy tính. Viện đã tiến hành một cuộc nghiên cứu rất qui mô để cho phép nó tạo dựng lên hàng loạt các hệ thống: dòng Proekt - 1, Proekt-ES, Proekt-MIM, và Proekt-MVK - cho phép thiết kế bằng máy tính các phần cứng và phần mềm. Chiếc máy tính Kiev ngay từ đầu đã được thiết kế bằng qui trình này và sau đó, là những chiếc M-20, M-220, BESM-6. Proekt-1 là một hệ thống chuyên về thiết bị chương trình với hệ điều hành, Glushkov, Letichevsky cùng với Kapitonova là những người khai phá ra trình tự động thiết kế thuật toán cho nó. Hệ thống Proekt-1 được dùng trong tự động thiết kế dự án BIS (Tiếng Nga là: Bolshiye Integralniye Skhemii), với sự trợ giúp của công nghệ mạ ion đặc biệt. Ở bộ phận của Vitaly Pavlovich Derkatch tại Viện Điều khiển, những chiếc máy tính Kiev-67 và Kiev-70 cũng được ứng dụng các công nghệ này. Hệ thống thiết kế được trợ giúp bằng máy tính của Proekt có một giao diện truyền thông trong những chiếc Kiev-67 và Kiev-70, nó đã kiểm soát được chùm electron trong khi con chip đang sử lý trong thời gian thực. Năm 1977, Glushkov, Derkatch và Kapitonova đã được nhận phần thưởng Quốc gia của Liên Xô về công trìng này của họ
Lập trình bằng máy tính là một trong những sự quan tâm nhất của Glushkov, ông đã quan niệm sự phát triển đại số cho ngôn ngữ thuật toán là một hướng đi lý tưởng cho nền công nghệ này. Trong nghiên cứu vấn đề này, ông đã tính đến không chỉ các yếu tố toán học tổng quát mà còn về cả các khái niệm triết học.

nthach 26-03-2008 13:01

Tương lai dựa trên thí nghiệm khoa học




Hồi ký của Viktor Glushkov 7/1/1982
Cuộc nghiên cứu về tự động hóa được bắt đầu với đề tài vi tính hóa hệ thống xử lý các số đo và dữ liệu. Vào đầu những năm 1960, chúng tôi thường xử lý các dữ liệu từ Đại tây dương bằng thiết bị điều khiển từ xa từ tàu nghiên cứu của trường đại học Vernadsky. Chiếc máy tính Dnepr có chức năng kiểm soát được ra đời với mục đích truyền thông tin, nó đã cho phép chúng tôi làm thí nghiệm tự động ngay tại Học viện Khoa học Ukraina, trước cả thời gian người Mỹ làm được vấn đề này. Người Mỹ họ sử dụng hệ thống CAMAC, nó được sản xuất vào năm 1967 và được cải tiến nhiều về mặt kỹ thuật, trong khi đó, chiếc Dnepr đã được thiết kế trước vào năm 1961. Năm 1972, một hội đồng chuyên nghiên cứu tự động hóa được thành lập tại Đoàn chủ tịch của học viện do Malinovsky làm chủ tịch. Khi đó tôi là phó chủ tịch Học viện kiêm giám sát hội đồng này, cùng với hai hội đồng khác là: hội đồng công nghệ máy tính do Stogny chủ trì và hội đồng chế tạo bằng máy tính do Vladimir Sergeevich Mikhailevich dẫn dắt.
Sự vi tính hóa nghiên cứu khoa học vật lý có kết nối chặt chẽ với sự thử nghiệm kỹ thuật tự động tổ hợp máy công nghiệp, công trình này đã được hoàn thành cho lực lượng hải quân và bên nghiên cứu hàng không. Khi chủ tịch học viện khoa học Liên Xô, ông Anatoly Petrovich Alexandrov nhìn thấy kết quả của chúng tôi, ông ta còn không thể tin nổi vào mắt mình nữa, và chúng tôi đã cho ông ta xem lại một hệ thống được lắp đặt trên một trong những chiếc tàu thủy của chúng ta, hệ thống này bao gồm 1200 kênh đưa dữ liệu thông tin đầu vào.

Bước tiếp theo, tôi đã hình dung để xây dựng thiết kế thuật toán, khi một chiếc máy tính không chỉ có thể xử lý các kết quả, mà nó còn phải kiểm tra được các giả thuyết và xây dựng thành lý thuyết dựa trên các cơ sở dữ liệu đã có sẵn. Đây là một công trình tương lai cho nghiên cứu khoa học bằng máy điện toán.
Các nghiên cứu của chúng tôi thường nhằm thúc đẩy những xu hướng mới trong các mạng lưới máy tính và các cơ sở dữ liệu. Chúng tôi tin chắc rằng, chúng tôi là những người đầu tiên trên thế giới đưa ra ý tưởng hòa mạng máy tính, cũng như truyền dẫn thông tin cho máy tính xử lý vượt đường dài. Bất kể rằng, nếu chúng tôi không phải là những người đầu tiên trên thế giới khám phá ra mạng máy tính, thì chúng tôi cũng là người đầu tiên thiết lập nên các thiết bị đầu cuối ở vị trí xa, khi mà chiếc Kiev đã có thể xử lý thông tin nhận được từ tàu nghiên cứu khoa học ở Đại Tây Dương.
Chúng tôi là người đầu tiên hoàn thành phác thảo dự án của một mạng lưới máy tính - Mạng Trung tâm Máy tính Liên Chính phủ. N. Fedorenko và tôi đã hoàn thành phác thảo này vào giữa những năm 1962 và 1964, dự án này do đích thân Kosygin – thủ tướng chính phủ Xô Viết ra chỉ thị. Khi mạng máy tính này được hoàn thành, nó sẽ cho phép chúng ta điều hành có hiệu quả các nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và bất kỳ một thông tin nào khác

Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982

Tiến triển của bước nghiên cứu kế tiếp diễn ra có phần chậm chạp, mặc dù nó được thai nghén đã từ lâu: đây là bước lý thuyết của hệ thống kiểm soát kinh tế cho các ngành công nghiệp và hệ thống kiểm soát tự động các phương tiện kỹ thuật. Công trình nghiên cứu được tiến hành từ năm 1962, với việc tạo kế hoạch dự án cho các trung tâm máy tính toàn chính phủ, cho hệ thống trợ giúp bằng máy điện toán và cho các hệ thống kiểm soát công nghiệp, các dự án này được khởi đầu vào những năm 1963-1964. Sau đó, vào năm 1965, chúng tôi bắt đầu lập công thức cho hệ thống Lvov, một hệ thống có qui mô sản xuất vô tuyến rất lớn tại nhà máy TV Lvov. Skurikhin và Morozov chịu trách nhiệm về dự án này. Vào năm 1970, sau khi hệ thống được đưa vào hoạt động thành công, những người tạo lập ra nó được nhận Phần thưởng của Chính phủ Ukraina

Mùa hè năm 1965, Glushkov đến Lvov phát biểu tại một hội nghị được đỡ đầu bởi Lvov Sovnarkhoz (nhóm điều hành của chính quyền địa phương). Trong bài thuyết trình của mình, ông đã nhấn mạnh sự cần thiết đưa vào sử dụng các hệ thống kiểm soát xí nghiệp bằng máy tính. Giám đốc nhà máy vô tuyến Lvov, ông Stephan Ostapovich Petrovsky, trình bày trong bài diễn văn của mình đã đề xuất Glushkov cần xây dựng một hệ thống kiểm soát công nghệ tại nhà máy của mình và hứa sẽ trợ giúp đề này án ở mức tối đa. Glushkov rất rạng rỡ sau khi nắm được cơ hội này - ở thời gian đó, chưa có một hệ thống nào như vậy được xây dựng. Sau đó, Glushkov đã cử Skurikhin đến Lvov cùng với một đội ngũ gồm 15 người. Sau hai năm, hệ thống được hoàn thành. Skurikhin cùng với người phụ tá thân cận của mình đã sống tại Lvov hầu như toàn bộ thời gian đó, đôi khi còn làm việc hơn 12 giờ một ngày và híem khi được nghỉ ngơi. Nhớ về những ngày không thể quên đó, Skurikhin đã hồi tưởng lại buổi đón năm mới 1965: "Sau một ngày rất căng thẳng, tôi không quay trở về khách sạn, mà ngủ quên đi ngay trên bàn làm việc của mình. Vâng, tôi đã ngủ suốt đêm giao thừa sang đến buổi bình minh năm 1966."

nthach 27-03-2008 16:21

Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982

Vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, chúng tôi đã hoàn thành hệ thống Kuntzev, hệ thống này đã giúp chúng tôi đạt được hầu hết những nhiệm vụ trong trong ngành công nghiệp máy và công cụ xây dựng. Lúc này chúng tôi có thể đã có thể tiếp tục ký ủy thác với chín bộ ngành để tiếp tục phát triển 600 hệ thống dựa theo qui chuẩn của hệ thống Kuntzev. Tuy vậy, những chính sách tiêu chuẩn hóa được thực hiện chủ yếu tại Bộ chế tạo máy và một cấp độ nhỏ tại Bộ công nghiệp truyền thông. Còn các bộ ngành khác, đều có hệ thống riêng nên họ không muốn ép vào tiêu chuẩn. Song, Bộ chế tạo máy còn yêu cầu lắp đặt thêm hơn 50 hệ thống CAD/CAM tại các xí nghiệp quan trọng khác của họ nữa.


Vào đầu những năm 1960, Anatoly Kitov được cử làm đại diện cho Glushkov để điều hành công việc của Viện với các khu vực quốc phòng Xô Viết ở Moscova. Ông chịu trách nhiệm xây dựng các hệ thống kiểm soát bằng máy tính cho các kho quân sự quốc phòng. Ngoài ra vào thời gian này, Kitov còn cho xuất bản một cuốn sách giáo khoa đầu tiên viết về kỹ thuật máy tính ở Liên Xô, cuốn - Máy tính Số (Moscova: Soviet Radio, 1956). Kitov là cựu chiến binh của Cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, và cũng là một trong số ít những chàng lính trẻ còn sống sót trong cuộc chiến đầy gian khổ này. Năm 1950, Kitov tốt nghiệp cùng với chiếc huy chương vàng tại Học viện Pháo binh Dzerzhinsky ở Moscova. Sau đó, ông được cử đến công tác tại Học viện Kỹ thuật Pháo binh, ở đây ông được phân công xây dựng chiếc SKB-245 để nghiên cứu công nghệ máy tính điện tử và các ứng dụng của nó trong Bộ Quốc phòng. Năm 1952, Kitov có được một bản sao chép về điều khiển học: cuốn Sự Điều khiển và Thông tin trong Động vật và Máy (1948) của Norbert Weiner. Ông liền chuẩn bị một bài báo phác thảo ra lý thuyết nghiên cứu kỹ thuật mới. Trong vòng ba năm, bài báo này đã được đem ra thảo luận tại các hội nghị và hội thảo chuyên đề. Cuối cùng, sau khi Lyapunov và Sobolev chỉnh sửa nhiều lần bài báo được đem in vào tháng 8/1955 với tựa đề "Những khái niêm cơ bản của Điều khiển học", cùng với bài "Điều khiển học là gì?" trong cuốn Các vấn đề Triết học của E. Coleman. Những bài giới thiệu này đã dẫn đường cho nền phát triển ngành điều khiển học trong tương lai của Liên Xô.
Năm 1954, Kitov được bổ nhiệm làm giám đốc trung tâm máy tính thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong lúc còn đang làm việc trên hệ thống điều khiển bằng máy tính trong khu quân sự, ông đã cân nhắc đến khả năng có thể vi tính hóa và tổ chức hợp lý hóa cho nền kinh tế Xô Viết. Tháng 1/1959, ông gửi một bức thư trực tiếp đến Nikita Khrushchev, trong thư ông đã nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển nền công nghệ máy tính. Sau khi lá thư được chuyển tiếp đến Brezhnev, nó đã làm xôn xao dư luận. Một ủy ban liên bộ do Axel I. Berg làm chủ tọa, đã nhanh chóng soạn thảo một nghị quyết gửi đến Ủy ban Trung ương, yêu cầu tán thành đẩy nhanh tiến độ thiết kế máy tính để đưa vào sản xuất hàng loạt và đem ứng dụng chúng vào nền kinh tế quốc gia. Bản đề xuất đã được chấp thuận.

Cuối năm 1959, Kitov đưa ra ý tưởng hợp nhất hệ thống kiểm soát bằng máy tính cho quân sự và cho nền kinh tế quốc gia. Hệ thống này được nối với mạng lưới của các trung tâm máy tính, nó sẽ được Bộ Quốc phòng xây dựng và quản lý. Trong vài tháng, ông tiến hành triển khai nghiên cứu để chứng minh ý tưởng của mình, sau đó ông đã trình một bản báo cáo dày lên Ủy ban Trung ương. Một hội đồng của Bộ Quốc phòng, do Konstantin K. Rokosovsky làm chủ tịch đã được thành lập để xem xét lại tài liệu này. Bản báo cáo đã nêu nên những phê phán rất sắc bén về sự thiếu quan tâm của Bộ Quốc phòng trong việc trợ giúp cho nền phát triển máy tính, những lời phê phán này đã làm cho các viên chức chính phủ không hài lòng. Các quan chức trong Ủy ban Trung ương và trong ủy ban hành chính cấp cao, đặc biệt là ở Bộ Quốc phòng cảm thấy rằng, nếu cơ cấu lại tổ chức bằng vi tính hóa thì họ sẽ phần nào bị mất đi quyền lực. Do vậy họ không đồng ý. Những gì đã viết trong báo cáo là kết quả làm cho ông bị khai trừ khỏi đảng và mất vị trí công tác
Glushkov biết được hoàn cảnh của Kitov và rất hiểu số phận sẽ xảy ra trên con đường mà ông đã tự chọn. Nhưng bản chất của Glushkov là luôn nhìn lên phía trước, ông vẫn hăng hái phát triển và ủng hộ đề án hệ thống kiểm soát phức hợp bằng máy tính

Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982 (tiếp theo)

Một giai đoạn mới trong sự phát triển hệ thống kiểm soát xí nghiệp bằng máy tính (CACS) được bắt đầu vào nửa cuối những năm 1970. Tổ hợp này nhằm kết hợp các mục đích của các thiết kế dự án hỗ trợ bằng máy tính , kiểm soát công nghệ máy tính, thử nghiệm tự động các thành phẩm và điều khiển quản lý. Một tổ hợp CACS được xây dựng tại xí nghiệp Hàng không Ulyanovsk do Skurikhin làm chủ dự án.



Skurikhin là một cộng sự rất th của Glushkov và sự đóng góp của ông là rất then chốt cho công cuộc tạo dựng nên hệ thống kiểm soát được hỗ trợ bằng máy tính, hệ thống thiết kế và tự động thử nghiệm sản phẩm. Từ năm 1959 đến năm 1963, Skurikhin rất tích cực tham gia vào việc xây dựng hệ thống Avangard tại nhà máy đóng tàu Chiến Sĩ Công Xã Sáu Mốt ở Nikolaev. Đây là một hệ thống đóng tàu được trợ giúp bằng máy tính đầu tiên được xây dựng ở Ukraina và trên toàn Liên Xô. Hệ thống này được gọi là Công việc plazovy (boong tàu) – để điều khiển các robot cắt thân tàu từ các tấm thép.
Ý tưởng cho hệ thống Avangard được tiếp tục bổ sung trong hệ thống thiết kế bằng máy tính cho tàu ngầm từ năm 1968 đến năm 1978: hệ thống Chertezh – một hệ thống sản xuất có qui mô đã rút ngắn thời gian thiết kế dự án với hệ số 20 đến 25. Một phiên bản sử lý kỹ thuật có qui mô lớn hơn của hệ thống này được thiết lập tại một viện thiết kế mật về hàng hải ở Leningrad cũng đã phát huy tác dụng mạnh mẽ

nthach 31-03-2008 14:06


Hồi ký của Viktor Glushkov 9/1/1982

Tôi yêu cầu tất cả các đồng nghiệp, những người đã đến công tác tại Ukraine nên đến các trường cao đẳng nói chuyện và tham khảo để họ được gần gũi hơn với các sinh viên và thu hút những người có khả năng đến làm việc tại Viện của chúng tôi.
Các nhà khoa học ở Viện – Vào lúc ban ban đầu thì chỉ có mình tôi, sau đó thì có nhiều người khác đến giúp đỡ - đến diễn thuyết tại các trụ sở tuyên truyền khoa học kỹ thuật với các kỹ sư và các kỹ thuật viên ở Kiev. Chúng tôi soạn chương trình giảng dạy cho các trường cao đẳng. Chúng tôi còn đào tạo cho những người điều hành máy tính kỹ thuật và nhiều các vị trí khác hiện còn thiếu.

Trong nền giáo dục đại học – Các tiến sĩ và các ứng viên khoa học – đây là tầm quan trọng trong nền giáo dục và họ là động lực thúc đẩy đào tạo thêm các tiến sĩ khoa học, do hiện viện đang rất cần các nhân viên được đào tạo toàn diện để điều khiển và cố vấn cho các sinh viên sau đại học. Sau mười năm viện được thành lập, nhân viên ở viện đã có 60 tiến sĩ khoa học và gần 100 ứng viên khoa học. Những đội ngũ chuyên viên có khả năng cao về tin học, công nghệ máy tính và điều khiển học, được tiếp tục được đào tạo tại các trường cao hơn và tại các học viện chuyên ngành, họ được làm việc trong rất nhiều các tổ chức nghiên cứu khoa học và các xí nghiệp trên toàn Ukraina. Đây vốn là một phần di sản của Glushkov – các công việc của ông là để cống hiến cho tương lai của Ukraina.
Glushkov rất gần gũi với các sinh viên và đồng nghiệp của mình, ông đối xử với họ như những người bạn chân tình. "Bất cứ lúc nào chúng tôi cũng đến với nhau như những người bạn hoặc các đồng nghiệp, ông ấy như là linh hồn của cả đội" bà Valentina vợ của Glushkov nhớ lại:

Tính cách hóm hỉnh nổi bật đã tạo ra cho anh có một sức hấp dẫn đặc biệt. Anh ấy thích ca hát, đặc biệt là các bài dân ca Ukraina " Tôi là người kỳ diệu trên bầu trời", "Hai sắc màu"…Anh ấy có thể đọc các bài thơ làu làu hàng giờ liền. Chỉ có điều, anh không bao giờ chịu học khiêu vũ, vì anh ấy rất nhát về khoản này.
Anh rất thích đi câu bên dòng sông Dnepr. Khi đến khu nghỉ mát, chỉ ngày hôm sau là anh đi tìm giấy bút và lại làm việc. Cán bộ, sinh viên và các nhà khoa học trẻ - những người đã cùng anh đến với lĩnh vực mới trong nền công nghệ máy tính, nay lại thường cùng anh đi câu trên sông Dnepr. Các bà vợ hiếm khi đến thăm, vậy nên họ thường trao đổi với nhau những câu chuyện bông đùa, về chuyện câu cá, về những giai thoại…Những bài hát của họ vang lên dọc theo suốt dòng sông.
Anh chẳng bao giờ cảm thấy vui khi chỉ có một mình. Nếu anh đọc được hoặc tìm ra điều gì lý thú, anh lập tức chia sẻ cùng mọi người. Anh thường xuyên đọc các tác phẩm văn học kinh điển, cho dù có bận rộn đến đâu đi nữa. Anh cho rằng nếu thiếu nó, anh sẽ chẳng bao giờ giành được gì từ nó như anh từng giành được trong khoa học, đặc biệt là trong toán học. Anh cảm thấy, đọc được những gì trong các tác phẩm văn học kinh điển, là những điều dạy cho người ta luôn vươn tới những tương lai, luôn phát triển khả năng sáng tạo, những điều đọc được trong đó là rất cần thiết để trở thành một nhà toán học giỏi. Anh đã nhiều lần cố dành thời gian với hai đứa con gái Olga và Vera của chúng tôi, nhất là khi chúng bắt đầu lớn và đang thời kỳ phát triển nhân cách. Những khoảng thời gian đó thật vất vả, vì anh khó có thể thực hành những điều con nít cùng với chúng, nhưng anh thường cho chúng những lời khuyên rất bổ ích…

Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982
Tháng 11 năm 1962, phó thứ trưởng Kosygin đã chỉ thị cho tôi bắt đầu triển khai công việc trên một hệ thống kiểm soát nền kinh tế bằng máy tính, do tôi đã trình ý tưởng của tôi lên giám đốc Học viện khoa học Xô Viết, Mstislav Keldysh, người mà đã tiến cử tôi với ông ta. Tôi tóm tắt bản phác thảo cho Kosygin nghe những điều cần phải làm trong thời gian tới; ông ấy chấp nhận; hội đồng bộ trưởng Liên Xô sau đó đã ban hành chỉ thị thành lập ra một ủy ban đặc biệt (tôi là chủ nhiệm) để chuẩn bị tài liệu làm nghị quyết cho chính phủ. Trong Ủy ban này gồm có các nhà kinh tế học, đặc biệt có cả viện sĩ hàn lâm N.N. Federenko, chủ nhiệm ban thống kê trung ương Vadim Nikitovich Starovsky, phó bộ trưởng thông tin A.I. Sergeichuk và một số người thuộc các ban hành chính khác.
Ủy ban này được ban rất nhiều đặc quyền. Điều này đã cho phép tôi tiếp xúc được với tất cả các thành phần nội các, bộ trưởng hoặc kể cả chủ tịch ủy ban kế hoạch nhà nước và có thể yêu cầu thông tin hoặc ngồi ở trong một góc phòng để theo dõi ông ta làm quyết định và thủ tục…

Vào thời gian đó, chúng tôi đã có khái niệm cho hệ thống hợp nhất các trung tâm máy tính để xử lý thông tin kinh tế trên toàn liên bang. Kinh tế gia nổi tiếng Vasily Sergeevich Nemchinov và các sinh viên của ông cũng đề xuất cho sử dụng máy tính đang hoạt động tại các trung tâm máy tính, nhưng không phải trong cách thức truy cập từ xa. Cả các nhà kinh tế lẫn các chuyên viên công nghệ máy tính rất quan tâm đến dự án này vào thời gian đó. Dự án cơ bản là được sao chép lại bản đề xuất năm 1955 của Học viện Khoa học Liên Xô đề nghị tạo dựng nên một hệ thống cho các trung tâm máy tính trong học viện để tính toán các ngiên cứu khao học, đề xuất này đã mở đường cho sự thành lập trung tâm máy tính tại Học viện Khoa học Ukraina. Họ còn đề nghị nên thành lập một hệ thống như vậy cho nền kinh tế: thành lập các trung tâm máy tính quốc gia có qui mô ở Moscova, , Kiev, Novosibirsk, Riga, Kharkov và các thành phố khác. Các nhân viên từ các tổ chức kinh tế khác, sẽ mang những vấn đề của họ đến các trung tâm này để tiến hành tính toán và nhận kết quả rồi trở về. Tất nhiên, vấn đề này tôi không tán thành, do vào thời gian đó chúng tôi đã vận dụng các dữ liệu từ xa và có thể gửi, nhận cùng với xử lý các dữ liệu từ Đại Tây Dương ngay tại trung tâm máy tính ở Kiev
.

nthach 02-04-2008 15:23

Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)
Năm 1965, người Mỹ đã triển khai làm việc trên hai tuyến : máy tính (scientific high-capacity binary floating-point) và các thiết bị (business-oriented sequential binary-decimal) được trang bị các bộ nhớ cao cấp. Tập đoàn IBM là công ty đầu tiên sản xuất ra những thiết bị máy tính này. Vào thời điểm đó, chúng tôi mới chỉ có những chiếc máy dành cho tính khoa học và chưa có những chiếc được sản xuất để dùng vào mục đích kinh tế. Bởi vậy, điều đầu tiên là tôi cố gắng khuyến khích mọi người tập chung để phát triển dòng máy tính ứng dụng cho nền kinh tế, vấn đề này hiện rất cấp bách. Tôi quay lại với các nhà thiết kế máy tính, chủ yếu là Bashir I. Rameev, một thiết kế gia của những chiếc Ural-1 và Ural-2 cùng với Victor V. Przhyakovsky, kỹ sư thiết kế dòng máy Minsk, tôi thuyết phục họ tham gia làm việc cho dự án này.

Tôi thành lập một đội làm việc tại Viện và mình tôi gánh vác nhiệm vụ phác thảo chương trình như Kosygin đã chỉ định. Tôi dành trọn một tuần túc trực tại Ban Thống kê Trung ương để nghiên cứu chi tiết từng công việc của họ; tôi khảo sát mọi đường liên kết giữa họ với các trạm địa phương. Tôi còn dành thêm một khoảng thời gian khá lớn tại bộ Kế hoạch Nhà nước, các nhân viên ở đây giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, nhất là Vasily Mikhailovich Ryabikov phó bộ trưởng thứ nhất bộ Kế hoạch Nhà nước. Ở cả hai nơi này, họ có rất nhiều kinh nghiệm trong ngành kinh tế quân sự và tất nhiên, họ hiểu rất rõ về kế hoạch của nhà nước. Với những sự giúp đỡ của họ, tôi có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình cùng với các bước của dự án và qua đây tôi cũng đã thấy trước được mọi khó khăn có thể xảy ra.

Năm 1963, tôi đi kiểm tra ít nhất là 100 địa điểm khác nhau, từ các xí nghiệp đến các nông trường tập thể quốc doanh. Hơn mười năm tiếp sau đó, các điểm tôi đến kiểm tra này đã tăng lên đến hàng ngàn. Do đó, tôi biết rất chi tiết hơn bất kỳ ai về nền kinh tế quốc gia và lại càng hiểu rõ những nét riêng biệt trong hệ thống quản lý hiện hành. Những điều này đã cho tôi dự đoán được những trắc trở có thể xảy ra và phải làm thế nào để đưa được lên bàn tính.

Tôi nhận ra ngay là phải cần đến công nghệ. Đã từ lâu, tôi nhận thấy được phạm vi rộng lớn của dự án, tôi cân nhắc không chỉ riêng dự án các trung tâm chính phủ, mà là toàn bộ mạng lưới các trung tâm máy tính có khả năng truy cập từ xa. Phác thảo đầu tiên của dự án cho hợp nhất mạng lưới quốc gia của các trung tâm máy tính, gồm gần một trăm trung tâm trong các thành phố công nghiệp lớn, được kết nối thông qua các kênh thông tin băng rộng. Các trung tâm này, được trải rộng khắp các quốc gia sẽ liên kết với các trung tâm khu vực nhỏ để xử lý thông tin kinh tế. Chúng tôi ước lượng sẽ có khoảng hai mươi ngàn trung tâm như vậy, gồm có các xí nghiệp lớn, các bộ ngành, và các trung tâm chủ chốt sẽ kiểm soát các doanh nghiệp nhỏ. Một đặc điểm quan trọng của hệ thống là về ngân hàng dữ liệu của nó, và khả năng truy cập vào hệ thống từ bất kỳ nơi đâu trên mạng sau khi được kiểm tra nhận dạng tự động. Chúng tôi đã phát triển được một số phần mềm bảo mật thông tin. Thêm nữa, trong hệ thống hai bậc, các trung tâm chính được phép trao đổi thông tin với nhau không chỉ thông qua dòng kênh, mà còn qua thư điện tín, vấn đề này cho đến ngày nay vẫn còn đang sử dụng rộng rãi.
Trong kết cấu của mạng lưới, tôi phát triển một hệ thống thuật toán để quản lý kinh tế, và để nhận được đầy đủ các nguồn thông tin. Do đó, tôi trình bày kế hoạch này của chúng tôi lên Keldysh, ông ta đã phê chuẩn ngoại trừ hệ thống tiền tệ điện tử. Mô hình sẽ vẫn hoạt động mà không cần hệ thống này. Theo Keldysh, hệ thống này sẽ không chỉ làm quấy lên tranh luận mà còn được xem như là một vấn đề riêng biệt của kế hoạch kinh tế. Tôi đồng ý với ông ta và không đưa hệ số này vào dự án. Tôi viết một lá thư riêng về vấn đề này gửi lên Ủy ban Trung ương; nó được đem ra thảo luận vài lần nhưng cuối cùng đi vào yên lặng và họ không giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng một hệ thống tiền tệ điện tử nữa. Khi chúng tôi hoàn thành phác thảo của toàn dự án, chúng tôi đã đệ trình lên ủy ban xem xét lại một lần nữa.

Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)

Thật đáng tiếc, sau khi ủy ban xem xét lại bản đề xuất dự án, họ đã bỏ qua gần như hầu hết dự án. Toàn bộ phần dự án kinh tế bị cắt bỏ và chỉ còn lại các kế hoạch xây dựng mạng lưới là được tồn tại. Phần đề xuất dự án kinh tế bị cắt bỏ bởi đó là những vấn đề tối mật của chính phủ. Chúng tôi thậm trí không được phép giữ lại các bản sao của nó trong Viện, tiếc rằng chúng tôi không thể tái tạo lại dự án này. Trưởng ban thống kê trung ương, ông Starovsky là người kịch liệt phản đối dự án này. Những chỉ trích của ông ta hoàn toàn mang tính mị dân. Chúng tôi lại đề xuất xây dựng một hệ thống thanh toán mới, hệ thống này cho phép truy cập đến bất kỳ thông tin nào ở ở mọi địa điểm. Starovsky lại biện luận rằng, ban thống kê trung ương đã được tổ chức do sáng kiến của Lenin và hiện đang được quản lý rất tốt. Ông ta đã thuyết phục Kosygin rằng các thông tin của ban thống kê trung ương có đủ khả năng để kiểm soát quốc gia và không cần thêm một hệ thống mới nào nữa.

nthach 07-04-2008 12:07

Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)
Tháng 6 năm 1964, chúng tôi trình dự án lên chính phủ phê duyệt, và trong tháng 11, tôi trình bày một bài giới thiệu về dự án này tại một kỳ họp của Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tất nhiên là tôi có đề cập đến sự phản đối của Ban thống kê Trung ương. Sau đó liền có một quyết định được ban hành, trao dự án cho Ban thống kê Trung ương để thực hiện lại, và được Bộ Công nghệ Truyền thông trợ giúp. Trong hai năm, chúng tôi đã làm xong: không chỉ từ những tư tưởng là phải xây dựng dự án thật tốt cho mai sau, mà còn từ những vấn đề hiện đang tồn tại. Các nhân viên địa phương trực thuộc Ban thống kê Trung ương ở vùng Archangelsk và thành phố Nukus thuộc nước cộng hòa tự trị Karakalpaksky (hai trong số các địa điểm cách xa thành phố Moscova nhất) được chỉ định làm nghiên cứu luồng thông tin. Họ được cho là các địa điểm để xác định có bao nhiêu tài liệu, báo cáo thống kê và thư tín nhận được từ các văn phòng địa phương của họ từ các tổ chức, xí nghiệp…


Một ủy ban mới được thành lập để phê duyệt dự án. Họ yêu cầu tôi làm chủ nhiệm cho nó, nhưng tôi đã từ chối. Sau khi các ủy viên của ủy ban xem sét lại dư án, họ tuyên bố rằng, mặc dù họ không đồng ý với tất cả các ý tưởng của tôi, ít ra đề xuất của tôi cũng đã có một phương diện lập kế hoạch, trong khi đó thì Ban thống kê Trung ương chỉ có số liệu thống kê. Ngoại trừ tôi, toàn bộ ủy ban đồng lòng cho hủy bỏ dự án. Xét về tầm quan trọng của dự án cho quốc gia chúng ta, tôi đề xuất nên đánh dấu dự án là chưa thỏa đáng, nhưng chuyển sang hướng phát triển dự án kỹ thuật do bộ Công nghệ Truyền thông, Học viện Khoa học Liên Xô và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đảm nhận thực hiện dự án. Đề nghị của tôi một lần nữa bị bác bỏ, nhưng kế hoạch đó được ghi lại thành quan điểm quan trọng và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã có chỉ thị cho tiến hành dự án.


Ủy ban Kế hoạch Nhà nước yêu cầu làm dự án trong hai năm, và đến năm 1966 dự án đã được hoàn thành. Họ còn kéo dài thêm đến tận năm 1968, mà cuối cùng cũng chẳng làm được gì. Hơn nữa, thay vì chuẩn bị vạch ra dự án, họ lại thảo ra một nghị định trình lên hội đồng bộ trưởng Liên Xô đề nghị khôi phục lại nhánh hệ thống kiểm soát cũ. Do đó, họ sẽ không còn có trách nhiệm gì đối với dự án nữa.

Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)
Đầu năm 1964, khi dự án của tôi được lần đầu công bố, đã có rất nhiều người bắt đầu công khai phản đối, trong số đó có các nhà kinh tế Lieberman, Belkin, Birman cùng nhiều người khác; nhiều người trong số họ sau này chuần sang địng cư ở Mỹ và Israel. Kosygin, ông luôn là một người rất thực tế và ông đã bắt đầu quan tâm đến dự toán trong dự án của chúng tôi. Theo ngân sách sơ bộ, được dự trù khoảng 20 tỉ rúp. Phần chính của dự án có thể hoàn thành trong ba giai đoạn kế hoạch 5 năm, nhưng chỉ nếu như dự án được thiết lập và tài trợ giống như các chương trình vũ trụ và hạt nhân. Tôi nói thẳng với Kosygin rằng dự án của chúng tôi sẽ vô cùng phức tạp hơn cả các chương trình trụ và hạt nhân cùng gộp lại. Thêm nữa, dự án cũng sẽ rất khó khăn trong sự phối hợp, bởi nó sẽ liên quan đến công nghiệp, thương nghiệp, các cơ quan qui hoạch, chính quyền và quyền lực. Mô hình công việc được trù liệu rằng, sau khi đầu tư 5 tỉ rúp lần thứ nhất trong giai đoạn 5 năm đầu tiên, đến lần đầu tư kế tiếp sẽ vượt hơn con số 5 tỉ rúp, bởi chúng tôi đã dự kiến cho chương trình tự thanh toán. Và sau ba giai đoạn kế hoạch 5 năm, toàn bộ chương chình sẽ mang lại không dưới 100 tỉ lợi nhuận
Nhưng "tòa tháp ngà" các nhà kinh tế đã thuyết phục Kosygin rằng sự cải cách lại nền kinh tế sẽ chẳng có một giá trị nào, ngoại trừ chi phí mua giấy để in các nghị định cho Hội đồng Bộ trưởng, do đó để mang lại mức thu nhập cao hơn là không thể. Các ý tưởng của chúng tôi lại bị đẩy sang một bên thêm một lần nữa, vả lại chúng tôi cũng ngờ rằng; Kosygin không được vui lòng.

Trong rất nhiều chuyên khảo và các bài báo khoa học của mình, Glushkov đã đề xuất và đưa ra nhiều ý tưởng để nhằm nâng cao hệ thống hành chính của chính phủ.Trong đó bao gồm những vấn đề về; chỉnh đốn sản xuất và những tiến triển của xã hội, công nghệ thiết lập các tiêu chuẩn, một nền tảng kỹ thuật để phối hợp các chương trình sản phẩm trên qui mô toàn quốc, thi hành một hệ thống phân phối công bằng hơn, xây dựng một hệ thống ngăn chặn hối lộ và quĩ đen, và trình làng một hệ tiền tệ điện tử. Rất nhiều những ý tưởng đó trong thời đại của Glushkov được xem như những cuộc cách mạng, nhưng đến ngày nay vẫn còn đang áp dụng

nthach 07-04-2008 12:09

giữ chỗ
Cuối những năm 1960, Cả Ủy ban Trung ưong và Hội đồng bộ trương Liên Xô

nthach 07-04-2008 12:11

Giữ chỗ
nhận được tin người Mỹ đã hoàn thành kế hoạch xây dựng một số mạng lưới thông tin

nthach 07-04-2008 12:12

Giữ chỗ
chậm hơn chúng tôi đến hai năm. Ở đây có sự khác biệt là Chính phủ Mỹ tuyệt nhiên không phản

Thao vietnam 07-04-2008 23:35

Chương ba: Bộ ba vinh quang
"Không ai đặt sẵn cọc tiêu cho những người mở đường, trong sử sách cũng không có tấm gương nào cho họ" E.Asadov
I.S Bruk người đội viên tiên phong của kỹ thuật máy tính.
Năm 1939, trong một cuộc họp của Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô người ta được nghe báo cáo của tiến sỹ khoa học kỹ thuật 37 tuổi Ysak Semenovich Bruk về bộ tích phân cơ khí cho phép giải phương trình vi phân đến bậc 6. Bộ tích phân này đựợc tạo ra trong phòng thí nghiệm hệ thống điện của Viện năng lượng thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô dưới sự hướng dẫn của vị tiến sỹ này. Báo cáo thu hút sự quan tâm đặc biệt bởi vì cái máy như vậy chưa hề có ở Liên Xô mà chỉ có ở Mỹ và Anh theo cùng một khuôn mẫu.
Nhà bác học đã giải quyết được một vấn đề kỹ thuật phức tạp - độc số bánh răng trong bộ tích phân này cũng đến nhiều nghìn chiếc. Khung máy với vô số thanh ngang và lỗ trục bánh răng chiếm trọn căn phòng diện tích 60 mét vuông. Việc lắp ráp bánh răng vào đúng chỗ mất từ vài ngày đến vài tuần. Theo cách phân loại hiện nay thì Máy tích phân của Y.S Bruk thuộc loại máy tính analog (tương tự).
Cũngtrong năm đó Bruk được bầu làm Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Có lẽ là bản báo cáo đã góp một phần quan trọng vào sự kiện này. Tuy nhiên những công trình chính của ông ta lúc đó là những nghiên cứu suất sắc trong lĩnh vực điện năng.
Không phải ngẫu nhiên mà Y.S.Bruk quan tâm tới việc tự động hóa công việc tính toán. Khi nghiên cứu vấn đề điện năng ông và S.A. Lebedev cảm nhận sâu sắc sự cần thiết của một chiếc máy tính dùng cho những nghiên cứu vốn đòi hỏi những phép tính phức tạp của họ.
Tiểu sử của hai nhà bác học này cũng giống nhau đến kỳ lạ. Cả hai cùng năm sinh, cùng học trong một trường đại học, "đi trên đôi chân của mình" trong cùng một cơ quan khoa học, cả hai cùng nghiên cứu vấn đề năng lượng để rồi dẫn đến kỹ thuật tính toán, cả hai đều trở thành lãnh đạo của những trường hàng đầu trong lĩnh vực máy tính.
Tính tiên phong là nét đặc trung nhất trong các công trình của Y.S. Bruk trong lĩnh vực kỹ thuật tính toán. Ông là người đầu tiên ở Liên Xô (cùng với B.I. Ramev) triển khai dự án máy tính điện tử kỹ thuật số điều khiển lập trình cứng (tháng 8 - 1948). Thời gian này máy tính như vậy chỉ có ở Mỹ ("Eniac" - 1946). Chính họ đã được cấp bằng sáng chế máy tính kỹ thuật số vào năm 1948, thật tiếc là sáng chế không được áp dụng trong thực tế đúng lúc.
Y.S Bruk là người đầu tiên đề xuất và thực hiện ý tưởng tạo ra máy tính nhỏ dùng trong phòng thí nghiệm.
Dưới sự hướng dẫn của ông, trong những năm 1950- 1951 đã chế tạo được máy tính điện tử kỹ thuật số đầu tiên của Liên bang Nga M-I lưu được chương trình. Máy tính M-I có 730 bóng điện tử, trong khi máy MESM có 6000 bóng điện tử. Sau khi được khai thác thử nghiêm vào đầu năm 1952, nó dường như là chiếc máy tính điện tử duy nhất của LB Nga được vận hành.
Trong máy M-1V M-I người ta thay bóng điện tử (diode) bằng chỉnh lưu bán dẫn, máy điện báo kiểu cuộn (teletype) để in những dòng dài và lần đầu tiên áp dụng hệ thống lệnh hai địa chỉ.
Chính những khát khao đi trước thời đại, luôn đạt được những kết quả nghiên cứu mới và mới hơn đã cản trở nhà bác học đưa công trình đến đích. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ có một phần ba máy tính của ông được sản xuất theo lối công nghiệp. Ông nghiên cứu máy tính điện tử cũng xuất phát từ nguyện vọng được thể hiện năng lực sáng tạo vượt trội của mình trong một lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới và cấp thiết. "Việc nghiên cứu máy tính M - I trong phòng thí nghiệm hệ thống điện Viện hàn lâm khoa học được tiến hành "nửa hợp pháp", ngày nay người ta gọi đó là thú vui của các nhà lãnh đạo." (Trích hồi ký của cựu cộng tác viên khoa học A.B. Zankind).
Cũng trong những năm đó Bruk vẫn tích cực tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng, ông đề xuất vấn đề máy điều khiển và làm rất nhiều để ứng dụng trong các trạm điện, ông cũng quan tâm cả vấn đề quản lý kinh tế và các lĩnh vực khác. Ông giao cho các học trò xuất sắc của mình là Nikolai Yakovlevits Matiukhin và Mikhain Aleksandrovits Kasev tiếp tục phát triển kỹ thuật máy tính. Tuy nhiên nhìn tổng thể thì sự đóng góp của cả thầy và trò đều rất đáng kể, thực tế sau này đã chứng tỏ điều đó. Sự ganh đua âm thầm của hai trường phái khoa học của S.A. Lebedev và Y.S. Bruk đã khuyến khích các tập thể khoa học, thật khó yên lòng trước thành tích của "đối phương", cũng thật khó so sánh kết quả và xác định người "chiến thắng". Chỉ có một điều rõ ràng: khoa học đã thắng, đó chính là tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Thao vietnam 07-04-2008 23:42

(tiếp theo)
Y.S Bruk sinh ngày 8 tháng Mười một năm 1902 trong một gia đình Do thái nghèo là công nhân nhà máy thuốc lá ở Minsk. Năm 1920 ông tốt nghiệp trường kỹ nghệ thực hành, năm 1925 - khoa Kỹ thuật điện trường МВТУ mang tên Bauman ở Matscova. Ông tham gia các hoạt động khoa học ngay từ khi còn là sinh viên, luận án tốt nghiệp của ông làm nghiên cứu phương pháp mới điều khiển động cơ không đồng bộ. Sau khi tốt nghiệp đại học ông được cử đến công tác tại Viện kỹ thuật điện Liên bang mang tên Lê nin, ở đay ông tiếp thu được nhiều kinh nghiệm thực tế, tham gia xử lý hàng loạt động cơ dị bộ mới, chuyển đến vùng Đôn bát để điều chủnh hoạt động của các trạm điện.
Anh ấy thừa hưởng từ bố năng lực và lòng say mê khoa học kỹ thuật - bà Mira Semenovits (phó tiến sỹ nghệ thuật, sống ở Matxcova), chị gái ông nhớ lại. Khi còn học ở trường kỹ nghệ thực hành ông đặc biệt bị cuốn hút bởi các môn khoa học chính xác - toán, vật lý và kỹ thuật. Trong phòng thí nghiệm nhà trường đôi khi người ta cho ông những dụng cụ cũ kỹ không còn dùng đến nữa. Ở nhà máy "Energya" nơi ông bắt đầu đến làm việc, những người thợ cả nhân thấy lòng say mê đặc biệt của cậu bé đã tận tình chỉ dẫn cho ông về cấu trúc máy, cho ông một số chi tiết cũ.
Anh tôi đọc rất nhiều, anh ấy thích các tác phẩm của Jule Verner, Jake London, Fenimor Kuper. Bị lôi cuốn bởi thiên văn học, anh ấy đưa cho tôi đọc cuốn ".." của Flamarion. Anh ấy vẽ rất đẹp và đã có rất nhiều tranh chép được nhiều bức tranh. Trong các buổi diễn thử của tôi (tôi học trương nhạc) anh ấy thích nghe các tác phẩm của Bethoven, Traikovsky và Grig
Năm 1930 Bruk chuyển đến Kharkov tại đây ông lãnh đạo nghiên cứu chế tạo một số máy điện cấu trúc kiểu mới trong số đó có động cơ dị bộ an toàn cháy nổ..Năm 1935 ông quay trở lại Matxcova làm việc ở Viện năng lượng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (từ nay được gọi là viện Krgyzanovsky). Trong hồ sơ của ông vẫn còn lưu đựoc thư giới thiệu ông với giám đốc Viên là viện sỹ G.M Krgyzanovsky do viện sỹ K.Y.Shenfer , chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực máy điện. Khi biết bruk đến làm việc ở Viện năng lượng, Shenfer đã giới thiệu ông ta như " một nhà thực nghiêm xuất sắc, một kỹ sư và nhà khoa học tài năng". Trong đơn xin việc, Bruk viết ông muốn được nghiên cứu vấn đề cân bằng công suất trong truyền tải điện. Trong phòng thí nghiệm ông triển khai nghiên cứu tính toán các chế độ của các hệ thống năng lượng lớn. Họ đã tạo ra bàn tính dòng xoay chiều - một thiết bị tính toán chuyên dụng của mình để mô phỏng các mạng điện phức tạp. Nhờ những công trình này, tháng 5 năm 1936 ông được phong hàm phó tiến sỹkhoa học kỹ thuật mà không cần bảo vệ luận án, tháng 10 năm đó ông bảo vệ luận án tiến sỹ đề tài "Sự cân bằng dọc của đường dây tải điện".
Trong những năm trước chiến tranh ông chú tâm vào chế tạo bộ tích phân cơ khí. Nhờ những kết quả của việc này mà ông được bầu làm viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô như chúng ta đã nhắc đến trên đây. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại trong khi vẫn tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng ông nghiên cứu thành công vấn đề điều khiển hệ thống phòng không, đặc biệt là đòng bộ được hỏa lực máy bay, cho phép bắn qua cánh quạt máy bay. Năm 1947 ông được bầu làm viện sỹ học viện pháo binh.Trong những năm đầu sau chiến tranh ông chỉ đạo nghiên cứu vấn đề ổn định tĩnh của hệ thống năng lương. Thiết bị điều khiển tần số và công suất phản kháng dùng cho các trạm điện lớn nhất của đất nước đã được hoàn thiện. Việc nghiên cứu thiết bị tính toán theo công nghệ analog vẫn được tiếp tục. Ông đã chế tạo bộ phân tích vi phân điện tử EDA (thiết kế chính N.N. Lenov) dùng để tích phân những phương trình đến bậc 20.

Thao vietnam 07-04-2008 23:44

(tiếp theo)
Vào cuối những năm 40, bị hấp dẫn bởi những tài liệu công bố ở nước ngoài về máy tính điện tử kỹ thuật số, Bruk tích cực tham gia hội thảo khoa học về tự động hoá quá trình tính toán (được tổ chức bên cạnh Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô theo sáng kiến của viện sỹ N.G Brukevits). Năm 1947 trong hội thảo người ta đặt ra vấn đề thành lập Viện kỹ thuật tính toán. Được sự ủng hộ tích cực của chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô viện sỹ S.Y. Vavilov, tháng 7 năm 1948 Viện kỹ thuật tính toán và cơ khí chính xác đã được thành lập. Bruevits được bổ nhiệm làm giám đốc. Dường như Bruk và phòng thí nghiệm của mìnhgiống như đội viên tiên phong của kỹ thuật máy tính sẽ nằm trong thành phần của Viện mới thành lập này. Thời gian này ông và Rumev đang thực hiện dự án Máy tính điện tử kỹ thuật số, cũng chính họ triển khai "Dự án tổ chức các phòng thí nghiệm trực thuộc Viện kỹ thuật tính toán và cơ khí chính xác để nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử kỹ thuật số". Nhưng ngày nay không thể xác định được tại sao chuyện đó đã không đựơc thực hiện. Có thể có vài lý do; thứ nhất là lúc đầu ngoài tên gọi thì Viện đó chẳng có gì - không nhà, không trang thiết bị. Thứ hai, người lãnh đạo Viện mới là viện sỹ N.G Bruevits không ủng hộ phát triển máy tính điện tử kỹ thuật số vì chính ông ta là nhà cơ khí và đặt nhiều hy vọng vào phát triển máy tính cơ học. Không loại trừ lý do thứ ba là Bruk đã không đánh giá đầy đủ tính chất phức tạp của việc chế tạo máy tính điện tử, Ông cho rằng thiết kế của mình và Ramev rất xuất sắc và thậm chí là bước quan trọng để chế tạo máy tính điện tử, và có lẽ ông tin phòng thí nghiệm của mình đủ sức chế tạo ra máy tính điện tử. Và ông đã nhầm to.
Năm 1949 Ramev được gọi vào quân đội, Bruk còn lại đơn độc. Dự án máy tính đện tử kỹ thuật số không còn đủ tầm đã bị xếp xó. Tuy nhiên Bruk đã không cho tính hiếu thắng của mình ngủ yên. Bản tính dễ xúc động của ông đã bị khuấy động bởi nhưng thông tin Viện cơ khí chính xác đã bắt đầu chế tạo máy tính điện tử có sự tham gia của M.A Lavrechev và S.A. Lebedev.
Tháng Giêng năm 1950 Bruk đề nghị phòng Tổ chức Viện năng lượng Matxcova tuyển cho ông những kỹ sư trẻ có năng lực mới tốt nghiệp khoa Vô tuyến điện. Thời đó những kỹ sư như vậy rất "đắt khách", chủ yếu được đưa vào làm việc trong các cơ quan bí mật thực hiện các nhiệm vụ quan trọng cho chính phủ. Vì vậy Bruk chỉ có thể tuyển được những người bị các cơ quan đó từ chối do có "tì vết" trong lý lịch (nhưng tuyệt nhiên không phải do không đủ tài).
Và ông đã có được một người như vậy, tháng 3 năm 1950 phòng cán bộ Viện năng lượng Matxcova phái đến phòng thí nghiệm của ông một “đứa con của kẻ thù”, đó là kỹ sư Nicolai Yakoleevits Matiukhin vừa tốt nghiệp bằng đỏ vì thành tích học tập và tham gia nghiên cứu khoa học trong sinh viên nhưng không qua được hội đông xét duyệt để làm nghiên cứu sinh. Cũng có thể nói việc bổ sungmột người duy nhất như vậy là may mắn bởi chỉ 2 tháng sau Bruk đã trình lên Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô việc chế tạo máy tính điện tử kỹ thuật số, sau này được đặt tên là M-1
Ban đầu chàng chuyên gia trẻ trong lĩnh vực kỹ thuật vô tuyến điện không thể hình dung được máy tính điện tử là thế nào. Anh ta không thể hiểu ngay nhiệm vụ đầu tiên của người phụ trách là thiết kế bộ giải mã, một bộ phận quan trọng của máy tính mà lại không dùng đèn điện tử. Bruk thu thập những tài liệu cần thiết, trao đổi bàn bạc nhiều lần với người học trò mà ông yêu mến, giải thích cặn kẽ về nguyên lý hoạt động của máy tính điện tử, về hệ đếm nhị phân và các phương pháp tính toán. Ông đã gợi lên cho anh ta một ý tưởng rất quan trọng để chế tạo các thành phần lôgic sử dụng bộ chỉnh lưu ôxit đồng của Đức thay cho bóng điện tử. Bây giờ, ngoài Bruk và người học trò yêu của ôg thì liệu ai có thể kể lại là bằng cách nào họ đã xây dựng cấu trúc của máy tính điện tử M-1. Chỉ có thể khẳng định theo lời những người trong cuộc rằng N.Y Matiukhin thực tế là kiến trúc sư chính của máy M-1 còn Bruk giữ vai trò của người hướng dẫn.

Thao vietnam 07-04-2008 23:50

(tiếp theo)
Vào cuối những năm 40, bị hấp dẫn bởi những tài liệu công bố ở nước ngoài về máy tính điện tử kỹ thuật số, Bruk tích cực tham gia hội thảo khoa học về tự động hoá quá trình tính toán (được tổ chức bên cạnh Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô theo sáng kiến của viện sỹ N.G Brukevits). Năm 1947 trong hội thảo người ta đặt ra vấn đề thành lập Viện kỹ thuật tính toán. Được sự ủng hộ tích cực của chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô viện sỹ S.Y. Vavilov, tháng 7 năm 1948 Viện kỹ thuật tính toán và cơ khí chính xác đã được thành lập. Bruevits được bổ nhiệm làm giám đốc. Dường như Bruk và phòng thí nghiệm của mìnhgiống như đội viên tiên phong của kỹ thuật máy tính sẽ nằm trong thành phần của Viện mới thành lập này. Thời gian này ông và Rumev đang thực hiện dự án Máy tính điện tử kỹ thuật số, cũng chính họ triển khai "Dự án tổ chức các phòng thí nghiệm trực thuộc Viện kỹ thuật tính toán và cơ khí chính xác để nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử kỹ thuật số". Nhưng ngày nay không thể xác định được tại sao chuyện đó đã không đựơc thực hiện. Có thể có vài lý do; thứ nhất là lúc đầu ngoài tên gọi thì Viện đó chẳng có gì - không nhà, không trang thiết bị. Thứ hai, người lãnh đạo Viện mới là viện sỹ N.G Bruevits không ủng hộ phát triển máy tính điện tử kỹ thuật số vì chính ông ta là nhà cơ khí và đặt nhiều hy vọng vào phát triển máy tính cơ học. Không loại trừ lý do thứ ba là Bruk đã không đánh giá đầy đủ tính chất phức tạp của việc chế tạo máy tính điện tử, Ông cho rằng thiết kế của mình và Ramev rất xuất sắc và thậm chí là bước quan trọng để chế tạo máy tính điện tử, và có lẽ ông tin phòng thí nghiệm của mình đủ sức chế tạo ra máy tính điện tử. Và ông đã nhầm to.
Năm 1949 Ramev được gọi vào quân đội, Bruk còn lại đơn độc. Dự án máy tính đện tử kỹ thuật số không còn đủ tầm đã bị xếp xó. Tuy nhiên Bruk đã không cho tính hiếu thắng của mình ngủ yên. Bản tính dễ xúc động của ông đã bị khuấy động bởi nhưng thông tin Viện cơ khí chính xác đã bắt đầu chế tạo máy tính điện tử có sự tham gia của M.A Lavrechev và S.A. Lebedev.
Tháng Giêng năm 1950 Bruk đề nghị phòng Tổ chức Viện năng lượng Matxcova tuyển cho ông những kỹ sư trẻ có năng lực mới tốt nghiệp khoa Vô tuyến điện. Thời đó những kỹ sư như vậy rất "đắt khách", chủ yếu được đưa vào làm việc trong các cơ quan bí mật thực hiện các nhiệm vụ quan trọng cho chính phủ. Vì vậy Bruk chỉ có thể tuyển được những người bị các cơ quan đó từ chối do có "tì vết" trong lý lịch (nhưng tuyệt nhiên không phải do không đủ tài).
Và ông đã có được một người như vậy, tháng 3 năm 1950 phòng cán bộ Viện năng lượng Matxcova phái đến phòng thí nghiệm của ông một “đứa con của kẻ thù”, đó là kỹ sư Nicolai Yakoleevits Matiukhin vừa tốt nghiệp bằng đỏ vì thành tích học tập và tham gia nghiên cứu khoa học trong sinh viên nhưng không qua được hội đông xét duyệt để làm nghiên cứu sinh. Cũng có thể nói việc bổ sungmột người duy nhất như vậy là may mắn bởi chỉ 2 tháng sau Bruk đã trình lên Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô việc chế tạo máy tính điện tử kỹ thuật số, sau này được đặt tên là M-1
Ban đầu chàng chuyên gia trẻ trong lĩnh vực kỹ thuật vô tuyến điện không thể hình dung được máy tính điện tử là thế nào. Anh ta không thể hiểu ngay nhiệm vụ đầu tiên của người phụ trách là thiết kế bộ giải mã, một bộ phận quan trọng của máy tính mà lại không dùng đèn điện tử. Bruk thu thập những tài liệu cần thiết, trao đổi bàn bạc nhiều lần với người học trò mà ông yêu mến, giải thích cặn kẽ về nguyên lý hoạt động của máy tính điện tử, về hệ đếm nhị phân và các phương pháp tính toán. Ông đã gợi lên cho anh ta một ý tưởng rất quan trọng để chế tạo các thành phần lôgic sử dụng bộ chỉnh lưu ôxit đồng của Đức thay cho bóng điện tử. Bây giờ, ngoài Bruk và người học trò yêu của ôg thì liệu ai có thể kể lại là bằng cách nào họ đã xây dựng cấu trúc của máy tính điện tử M-1. Chỉ có thể khẳng định theo lời những người trong cuộc rằng N.Y Matiukhin thực tế là kiến trúc sư chính của máy M-1 còn Bruk giữ vai trò của người hướng dẫn.

Thao vietnam 08-04-2008 12:35

(tiếp theo)
Cha đẻ của MTĐT M-1, M-2, M-3
Sau khi nhanh chóng nghiên cứu cấu trúc MTĐT, Matukhin bắt tay nghiên cứu chi tiết các bộ phận logic-số học và các cum điều khiển bộ nhớ trên trống từ. Ít lâu sau ông có những người giúp việc đầu tiên. Tháng 9 năm 1950 người ta cử cô Tamara Minovna Aleksandridi đến phòng thí nghiệm để làm đồ án tốt nghiệp. Phòng tổ chức của Viện Năng lượng Matxcova "quẳng" cô đến đây khi biết rằng Bruk tiếp nhận các chuyên gia trẻ không theo lý lịch mà dựa trên năng lực của họ. Tuy người ta không chê gì lý lịch của Aleksandridi mà ngược lại. Nhưng họ của cô thì ... người ta đề phòng và các quan chức quyết định không mạo hiểm. Mặc dù có người trong số họ đã biết rất rõ là cô gái đã trải qua chặng đường chiến tranh vất vả . Nhưng về chuỵện này chúng ta sẽ nói đến sau. Nhưng Bruk không cho cô tham gia chế tạo máy tính điện tử mà giao nghiên cứu bộ nhớ - điện tử hoặc từ tính. Tamara chọn bộ nhớ điện tử. Khi đó Bruk giao cho cô nghiên cứu khả năng chế tạo bộ nhớ dùng ống tia điện tử trong máy dao động ký (Osilograph). Lúc đầu cộng tác viên phòng thí nghiệm V.V Karipsky hướng dẫn cô như một người làm tốt nghiệp, chẳng lẽ Bruk lại mong đồ án tốt nghiệp của một cô sinh viên lại trở thành một phần trong báo cáo về MTĐT M-1 (ông không tin tưởng phụ nữ).
Vào cuối mùa thu năm 1950 người ta nhận vào làm việc trong phòng thí nghiêm chàng sinh viên năm cuối khoa Vô tuyến điện Viện năng lượng Matxcova tên là Mikhin Aleksadrovich Karsev. Bruk kéo anh ta vào việc chế tạo thiết bị điều khiển MTĐT M-1 (biến tử lập trình chính) - đó là những phần phức tạp nhất của chiếc máy tính. Đồng thời Karsev cũng là đồ án tốt nghiệp về vấn đề ứng dụng bộ mã Hemming. Bộ mã này có độ tin cậy cao khi truyền thông tin đã được sử dụng khi nghiên cứu thiết bị điều khiển M-1. Giúp đỡ cho các chuyên gia trẻ là các ông Lev mikhailovich Jurkin ( nghiên cứu XU trên trống từ), Yuri Vasilievich Rogachev (thợ điện), Rene Pavlovich Shidlovsky (thợ điện). Năm 1951 được tăng cường thêm mấy người: Aleksandr Borisovich Zalkind, tốt nghiệp trường MEI tháng Hai năm 1950 (tham gia hiệu chỉnh cấu trúc số học nghiên cứu cấu trúc nhập và xuất dữ liệu) và Ygor Aleksandrovich Kokolevsky (kỹ sư thiết kế thiết kế khung máy MTĐT M-1)

Thao vietnam 08-04-2008 15:03

(Tiếp theo)
Đối với một nhóm nhỏ các chuyên gia trẻ “chưa đủ lông đủ cánh” thì việc chế tạo MTĐT rõ ràng là một nhiệm vụ quá khó khăn, dù họ không nhận thức được điều đó. Có thể đó cũng là điều may mắn chăng? Những công việc tương tụ chỉ đựơc triển khai trên phạm vi cả nước và trên thế giới. Nhưng do tính cách của người hướng dẫn mà họ phải làm việc đó biệt lập với các cơ quan khác.
Căn phòng chật chội dùng làm phòng thí nghiệm không thích hợp với một công việc quy mô là chế tạo MTĐT sủ dụng hàng nghìn bóng đèn điện tử. Một khó khăn nữa là thường xuyên thiếu linh kiện đồng bộ. Nhưng nghị lực và sự tháo vát của Bruk đã giúp họ vượt qua. Ông đề nghị dùng linh kiện điện tử của Đức cho máy tính (do nước Đức bồi thường chiến tranh), đó là bộ chỉnh lưu ôxit đồng và đèn pentode (đèn năm cực giống như đèn 6Ж4 của Liên Xô); để làm bộ nhớ thì dùng ống tia điện tử của máy dao động ký - dễ kiếm và rẻ; còn thiết bị vào ra dữ liệu thì dùng máy teletype của quân đội Đức. Có thể nói không ngoa rằng trong cái rủi cũng có cái may. Và thế là MTĐT M-1 trở thành máy tính điện tử cỡ nhỏ đầu tiên sản xuất trong nước có sử dụng linh kiện bán dẫn và bộ nhớ dùng ống tia điện tử thông thường.
Tập thể thanh niên của phòng thí nghiệm rất phấn khởi. Họ làm việc từ sáng đến tối bởi rất phấn khích với ý nghĩ rằng họ là những người đầu tiên làm được máy tính điện tử kỹ thuật số, mở ra kỷ nguyên mới của tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Thao vietnam 14-04-2008 16:08

(tiếp theo)
N.Ya. Matukhin sống ở ngoại vi Matxcova cùng với mẹ trong một căn phòng nhỏ diện tích 5 mét vuông vừa đủ để kê chiếc bàn và hai cái giường. Bị cuốn hút bởi công việc ông chỉ nghỉ ngơi khi đã nửa đêm, không còn đủ sức và muốn về nhà nữa, ông đành ngủ lại trong phòng thí nghiệm. Cứ như vậy có khi hàng tháng. M.A. Karsev cũng không khá hơn. Khi mới đến Viện làm việc ông đã mắc bệnh lao.Có lẽ công việc được tiến hành trôi chảy cũng vì mọi người đều mê thể thao. Họ dành cả ngày chủ nhật cho thể thao - tổ chức những chuyến dã ngoại đến đập nước Istrin và say mê chơi bóng chuyền trong những giờ nghỉ ngơi hiếm hoi.
Sau gần một năm rưỡi thì máy tính M-1 được làm xong. Chính chín cộng tác viên không có học vị khoa học (trừ Bruk) đã nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử. Nếu nhớ lại điều kiện làm việc lúc đó thì có thể đánh giá cao sức sáng tạo tuyệt vời của tập thể trẻ đó. Họ vẫn giữ được báo cáo về “Máy tính điện tử M-1” do giám đốc Viện năng lượng Matxcova, viện sỹ G.M Krgịanovsky phê chuẩn ngày 15-12-1951. Tài liệu này đã đi vào lịch sử kỹ thuật máy tính, ghi nhận lãnh đạo phòng thí nghiệm hệ thống điện, viện sỹ thông tấn Bruk và các cộng sự trẻ Aleksandridi, Zankind,Karsev, Matiukhin, các kỹ thuật vên Jurkin, Rogachev, Shidlovsky (xem phụ lục 4).

Thao vietnam 15-04-2008 23:05

(tiếp theo)
Karshep nhớ lại thời chế tạo máy tính M-1:
Năm 1950 người ta bắt đầu tập hợp những người trẻ tuổi vào Viện Năng lượng mang tên Krjịjanovsky thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đẻ phát triển kỹ thuật máy tính Xô viết. Trong số chúng tôi có Nikolai Yakovlevevich Matukhin là chuyên gia đầu tiên đã tốt nghiệp, sau này là viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, khi đó mới tốt nghiệp Viện năng lượng Matxcova mùa xuân năm 1950. Một vài người đã tốt nghiệp Viện năng lượng Matxcova giúp việc cho anh ta. Còn tôi là kỹ sư nửa mùa – sinh viên năm thứ năm Học viện vào làm thêm . Sau khi huy động lực lượng có thêm thợ lắp ráp Yuri Vasilievich Rogachev, người sau này được nhận giải thưởng nhà nước Liên Xô, phó tiến sỹ khoa học kỹ thuật, kỹ sư trưởng của Học viện. Người ta cũng cử đến làm việc cùng chúng tôi một chuyên gia trẻ mới tốt nghiệp học viên kỹ thuật là anh Pavlovich Shidlovsky, sau này là phó Tổng công trình sư, thủ trưởng một trong những bộ phận quan trọng của học viện, giải thưởng nhà nước Liên Xô. Chúng tôi có tất cả mười người. Trước khi đến đây làm việc không một ai trong số chúng tôi là chuyên gia trong về kỹ thuật tính toán, thậm chí còn không biết máy tính là có thật. Chúng tôi bắt tay vào chế tạo một trong những máy tính đầu tiên của Liên Xô, máy tính M-1 với lực lượng như vậy đó. Có thể chúng tôi đã kiêu ngạo nhưng tuyệt đối không làm ẩu.
Phòng thí nghiệm hệ thống điện nằm ở hai khu vực : một phần các căn phòng nằm ở tòa nhà chính của Viện ЭНИН (nhà 19 đại lộ Lênin), một phần ở tầng một và tầng hầm phần bên phải tòa nhà số 18. Các nhà năng lượng học chủ yếu làm việc ở tòa nhà chính của Viện, ở đó có máy tích phân cơ học để giải các bài toán. Nhà số 18 có bàn tính dòng xoay chiều dùng để mô phỏng các mạch điện phức tạp, cũng ở đây người ta bố trí các các khu vực sản xuất chủ yếu của phòng thí nghiệm: khu vực gia công cơ khí, khu vực gia công nguội và một xưởng lắp ráp được trang bị tốt. Có một kho nhỏ chứa linh kiện , dụng cụ đo lường vô tuyến điện và một số máy móc khác.

Thao vietnam 18-04-2008 22:26

(tiếp theo)
Tôi đã học ở Matukhin những khái niệm đầu tiên về máy tính kỹ thuật số, chẳng hạn như có thể thực hiện các phép tính số học nhờ các mạch điện, và rằng hệ đếm nhị phân gồm số 0 và số 1 là tiện lợi nhất để tính toán và các con số này có thể thể hiện trong mạch điện tri-gơ có hai trạng thái bền vứng. Ông đã giảng tỷ mỷ các cụm số học làm việc ra sao, cách trình bày thật rõ ràng và dễ hiểu. Có cảm giác như là ông đã nghiên cứu chi tiết tất cả mạch điện của cụm số học.Tôi chỉnh sửa lại mạch điên triger trên bản vẽ của Matiukhin. Thực tế từ lúc đó bắt đầu nghiên cứu thực nghiệm các bộ phận cơ bản của máy M-1. Đến tháng Chín năm 1950 đã làm xong sơ đồ hoàn chỉnh củamột loại cụm số học có mạch cộng và mạch logic bảo đảm thực hiện tất cả các phép tính số học và logic. Mô hình chỉ ra rằng mạch điện làm việc tin cậy và rằng bộ chỉnh lưu ôxit đồng trong thiết bị thực hiện tốt chức năng của đèn điện tử hai cực.
Mặc dù Nikolai Yakovlevich chỉ vừa mới tốt nghiệp đại học nhưng ông hoàn toàn xứng đáng với vai trò tổng công trình sư của máy tính điện tử. Hơn nữa người ta coi ông và Bruk là đông tác giả của khái niệm máy tính điện tử “nhỏ”. Khái niệm này phần lớn xuất phát từ tình trạng vật chất nghèo nàn của phòng thí nghiệm, ban đầu không được thừa nhận. Chính vì chỉ có VHLKH LX cung cấp tài chính cho công việc này.
Mùa thu (tháng Mười) năm 1950 bắt đầu lắp ráp máy. Để lắp ráp người ta đã sử dụng hai loại panel: loại 10 đèn điện tử lắp thành 1 hàng và loại 22 đèn điện tử lắp thành hai hàng. Trước tiên người ta chế tạo panel một hàng với mạch số chứa tất cả triger, bộ giải mã, bộ cộng và van (điện) Sau đó một chút người ta lắp mạch biến tử lập trình tại chỗ và mạch biến tử lập trình chính do Karsev nghiên cứu chế tạo. Việc lắp ráp được làm trực tiếp ngay trong phòng thí nghiệm hệ thống điện do các công nhân hợp đồng thực hiện (Bruk đã xin chủ tịch VHLKH LX viện sỹ Vavilov cấp tiền). Cùng lúc đó cũng đã chuẩn bị chỗ để dựng và lắp ráp máy tính. Trong căn phòng diện tích 15 mét vuông người ta dựng một cái bệ kích thước 1,5 x1,5 m. Chính giữa bệ đặt một cột thông gió vuông góc có nhiều lỗ để gắn các khối. Bên sườn cái cột có lắp những thanh giằng để lắp các panel mạch điện.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:42.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.