![]() |
Vẻ đẹp của truyện ngắn Tchekhov
Vẻ đẹp của truyện ngắn Tchekhov
Berna Shaw (nhà văn Anh, 1856 - 1950) từng nói: "Trong đội ngũ danh nhân, Tchekhov hiện ra chói lọi như một ngôi sao lớn bậc nhất có thể sánh ngang hàng với L.Tolstoi và Turgenev. Do ảnh hưởng của Tchekhov mà tôi đã viết được vở kịch: Ngôi nhà của những trái tim tan vỡ ". A.P. Tchekhov trưởng thành từ một nền văn học cổ điển Nga đồ sộ với bao tên tuổi lẫy lừng với Puskin, Gogol đến Dostoievsky, L.Tolstoi, nhưng ông vẫn bộc lộ nhiều sáng tạo độc đáo. Các nhà văn lớp trước thường bàn đến bao vấn đề lớn lao với tầm "núi cao biển rộng", còn ngòi bút Tchekhov dường như chỉ chú ý vào những "chuyện đời vặt vãnh" trong cuộc sống hằng ngày, song lại chở nặng ý nghĩa thức tỉnh phẩm giá con người. Đó chính là điểm ngời sáng khác biệt đầu tiên và cơ bản trong thế giới quan cũng như trong thi pháp của Tchekhov. Em bé Valka (trong truyện Valka) mới lên 9 tuổi, mồ côi bố mẹ, ông nội cũng phải đi làm thuê, nên đành gửi cháu tới Moskva học đóng giày, nhưng thực chất là đi ở. Muốn thoát khỏi cảnh khổ, lợi dụng đêm Noel ông bà chủ đi lễ vắng, Valka viết thư van nài ông đón cháu về quê. Không rõ địa chỉ, Valka viết vu vơ: "Gửi ông nội ở nhà quê", rồi nghe theo lời mấy bà hàng thịt đem thư nhét vào khe hộp thư ngoài phố, liền về nhà ngủ thiếp đi "mơ theo những hy vọng ngọt ngào...". Hình ảnh lớp viên chức, thị dân, nông dân, địa chủ... thường ta hay gặp ngoài đường phố, trong các rạp hát, bệnh viện, trường học hoặc trên các trại ấp đều được ngòi bút nhà văn khắc hoạ hết sức đậm nét. Không phải qua các chi tiết bề ngoài, mà đậm nét ở tâm trạng các nhân vật muôn hình nghìn vẻ. Bên cạnh hình ảnh Cái chết của một viên chức thì chuyện Anh béo anh gầy thật gần gũi với bao người, tạo nên tiếng cười hài hước không sao ngăn nổi đối với bạn đọc xuyên suốt hai thế kỷ. Không chỉ nỗ lực "nặn cho hết những giọt nô lệ trong bản thân mình", mà nhà văn mang ước nguyện cháy bỏng là làm sao cho "con người Nga trong tương lai đều phải đẹp, từ diện mạo, áo quần đến tâm hồn, tư tưởng". Không bị ràng buộc vào các giáo điều cũ kỹ, truyện ngắn Tchekhov chứa bao điều lạ lẫm lấy từ sinh hoạt hàng ngày, kể cả "nước mắt mà người đời không thấy", nhằm nhắn nhủ "Hãy nhìn lại mình, hãy nhìn xem chúng ta đang sống tồi, sống tẻ như thế nào?". Tchekhov biết rõ: "Ở đâu không có hiểu biết về tâm hồn con người thì ở đấy không có nghệ thuật". (Sernưsevxky). Ông không sơ lược cũng không lắt léo, trầm bổng theo kiểu bút pháp Tolstoi, Dostoievsky..., mà chú trọng vào hành động của nhân vật qua các chi tiết chính xác. Ông cho rằng "tốt hơn cả là tránh miêu tả tâm trạng các nhân vật mà cố gắng làm cho tâm trạng bộc lộ qua hành động", gắn liền với các "mạch ngầm của tâm trạng". Ngòi bút sắc sảo của tác giả luồn lách khắp mọi nẻo đường đất nước Nga. Người đọc bốn phương đều cảm thấy thú vị ở tầm phong phú đồ sộ của hệ thống nhân vật. Có đến tám nghìn nhân vật thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội xuyên suốt 588 truyện được chọn lọc. Cá tính sáng tạo nổi bật của nhà văn là ở phương thức chọn lựa chất liệu từ sự thật đời thường, gắn liền với nguyên tắc ngẫu nhiên, đã đưa ông đạt tới tầm cỡ bậc thầy của thế giới nghệ thuật. Nhà văn M.Gorky khẳng định: "Trong truyện ngắn Tchekhov, không có gì là không xảy ra trong đời sống. Sức mạnh của tài năng ông, chính là ở chỗ ông không bao giờ bịa đặt ra một điều gì, không mô tả những gì không có trên đời này, những cái gì có thể là tốt đẹp, có thể là đang mong ước. Ông không nói thêm điều gì mới, nhưng điều ông nói được diễn đạt một cách giản dị, thật hùng hồn sáng rõ, giản dị đến mức đáng kinh ngạc chân xác đến không thể nào phủ nhận được... Xét về mặt bút pháp viết văn, Tchekhov là người khó ai vượt qua được...". *** Em rất yêu thích truyện ngắn Tchekhov, dưới đây trong những truyện ngắn ở giai đoạn sáng tác đầu tiên của A. Chekhov, lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt, trân trọng giới thiệu với các bác NNN: Dấu chấm than Yefim Formich Perekladin, một viên chức khả kính đi nằm với một tâm trạng vô cùng bực tức, thậm chí ông như phát khùng lên khi vợ ông hỏi có chuyện gì mà lại khó chịu đến vậy, ông gầm lên, hét thẳng vào mặt vợ: “Giời ạ, đừng có mà ầm lên như thế, đồ quỉ già!”. Sự thể là ông vừa mới trở về từ một buổi tiệc ồn ào mà ở đó, mọi chuyện cứ như chỉ nhằm vào có mỗi một mình ông, làm ông vô cùng ấm ức mà chẳng thể làm gì! Lúc đầu, họ ngồi với nhau trò chuyện chung chung về vấn đề giáo dục. Nhưng dần dần họ chuyển sang bàn tán về chất lượng đào tạo của các viên chức hành chính trong bộ, mà cũng như ông, chẳng được bài bản cho lắm. Từ đó, họ đưa ra những nhận xét châm chọc, mỉa mai, rồi họ cười khẩy đầy vẻ chế nhạo. Thế rồi, vẫn như người Nga thường làm khi nói chuyện về những chủ đề như vậy, họ mào đầu bằng những chuyện vô thưởng vô phạt để rồi ngay sau đó nhằm thẳng ngay vào một cá nhân cụ thể! Một anh trẻ tuổi quay sang Yefim Formich Perekladin nói: “Còn bác thì sao, bác Yefim Formich Perekladin? Bác đúng là một ví dụ đấy, bác cũng giữ một vị trí kha khá đấy chứ, phải không nào? một vị trí cũng khá quan trọng đúng không? nhưng bằng cấp của bác thì sao nhỉ?”. “Ồ, không nhiều!”, ông trả lời cộc lốc. “Nhưng cậu biết đấy, chúng tôi đâu có cần bằng này bằng nọ, công việc của chúng tôi là làm sao viết cho đúng chính tả là được, chỉ cần có thế!” “Nhưng ở đâu dạy cho bác viết đúng chính tả, viết đúng ngữ pháp nào?”, anh trẻ tiếp tục. “Ồ, cậu biết đấy, tôi vẫn học theo cách thông thường ấy mà, sau 40 năm làm một công việc gì đó thì chính cậu cũng sẽ trở thành một chuyên gia ngay thôi mà! Dĩ nhiên, lúc đầu cũng sẽ có khó khăn đấy, tôi cũng vậy, nhưng sau đó thì sẽ tìm ra một bí quyết nào đó, ai chả thế!”, ông đáp. “Thế bác sử dụng dấu chấm câu như thế nào?”, anh trẻ hỏi. “Dấu chấm câu ư? Chẳng có vấn đề gì cả, tôi dùng chúng một cách thuần thục!” “Hừ...”, anh trẻ tuổi im lặng một lát rồi tiếp tục: “Nhưng làm mãi mới tìm ra một cách nào đó thì không phải do bằng cấp đúng không nào! Bác có thể chấm các dấu chấm câu rất đúng chỗ nhưng thế thì chưa đủ, bác phải hiểu tại sao bác lại làm như vậy. Nếu bác muốn đánh một dấu phẩy thì chí ít bác cũng phải biết tại sao lại là dấu phẩy mà không phải một dấu nào khác. Thưa bác, việc đánh dấu với bác chỉ là bản năng, chỉ là thói quen không hơn không kém, còn đâu là nguyên tắc của nó thì... đó chỉ là một hành động máy móc, bản năng!”. Yefim Formich Perekladin chẳng nói được câu nào, cố mở ra một nụ cười gượng gạo (bởi vì anh trẻ lại là con trai một của một vị kha khá trong bộ, và chính anh cũng đang giữ một vị trí chắc chắn trong bộ giáo dục!). Nhưng giờ đây, khi đã về nhà mìmh, càng cố ngủ thì ông lại càng ấm ức, trằn trọc mà không tài nào ngủ được. “Mình đã làm việc được 40 năm - ông nghĩ - cho đến giờ vẫn chưa ai bảo mình là người ngốc ngếch, thế mà cái thằng nhóc này lại dám bảo mình như vậy, mình mà lại chỉ làm theo thói quen ư?, chỉ là “phản ứng có điều kiện” là “ hành động máy móc” thôi ư? Ôi! Quỷ tha ma bắt anh đi! Đồ trứng khôn hơn vịt!.. Tôi biết những điều tôi làm hơn anh chứ, rõ ràng là như vậy mặc dù tôi chưa bao giờ thèm học ở cái trường chính quy của anh cả!” Giờ đây, trong hơi ấm của chăn bông và sau khi đã rủa thầm cái anh chàng trẻ tuổi thích xoi mói bằng những lời lẽ thậm tệ nhất mà ông biết, ông cũng thấy hả giận phần nào và thấy như dễ chịu hơn. Ông vừa nghĩ ngợi vừa lẩm bẩm trong khi đã cảm thấy buồn ngủ: “Tôi biết.... tôi hiểu chứ... tôi không bao giờ đặt một dấu hai chấm ở chỗ của dấu phẩy, đúng không nào... vì thế là tôi biết tôi đang làm gì chứ! Còn anh đấy, anh bạn trẻ, hãy cứ làm đi... hãy cứ sống thêm một ít nữa đi rồi anh sẽ tha hồ mà cạnh khóe lão già này...!” Ông thấy bay ngang qua đôi mắt nhắm nghiền của mình trong bóng tối những cái dấu phẩy và cả những cái cười mỉa mai bay chập chờn trong một đám mây bụi, chúng lóe sáng như những vệt sao băng rồi bốc cháy. Cái thứ nhất... cái thứ hai... cứ thế hiện ra vô số những chiếc dấu phẩy nhấp nháy nhấp nháy, chập chờn bay lượn... “Cút hết đi, đồ chết tiệt”, Yefim Formich Perekladin rủa thầm trong đầu khi ông cảm thấy tay chân trở nên nặng nề, ông sắp chìm vào một giấc ngủ mỏi mệt... “Tôi biết quá đi chứ về những con dấu... tôi biết quá rõ về những con dấu... tôi sẽ nói cho anh rõ các con dấu khác nhau chỗ nào nếu anh muốn, tôi biết mình đang làm gì chứ chẳng phải ngẫu nhiên mà làm đâu! Kiểm tra đi, rồi anh sẽ thấy!.. Này nhé... dấu phẩy được đặt ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi chúng cần thiết, đôi khi không. Một tài liệu mà càng phức tạp thì anh lại phải dùng đến chúng càng nhiều. Chúng luôn đứng trước các đại từ chỉ định những khi ta không muốn nhắc lại trong câu những chữ như: “cái mà” “người mà”, v.v. và nếu anh có một danh sách các quan chức cần phải kể ra thì anh phải phân biệt người này với người kia bằng những dấu phẩy... tôi biết rõ như vậy đấy!” Lại một con dấu phẩy vàng rực, hiện ra lượn lờ xoay tít rồi lại biến mất nhưng ngay lập tức, một con dấu chấm câu sáng lấp lánh hiện ngay ra... “Dấu chấm câu ư... anh phải đặt nó vào khi muốn kết thúc hoặc muốn một khoảng thời gian ngắn để ngừng lại lấy hơi và ngước lên nhìn vào những người đang nghe anh đọc. Sau tất cả các đoạn dài dài một tí, anh cũng phải dùng một dấu chấm, để khi cô thư ký đọc, cô ta sẽ không bị hụt hơi và nói lắp! Đấy, cách dùng dấu chấm câu chỉ đơn giản có thế!” Những dấu phẩy như mạ vàng lại xuất hiện trở lại, chúng nhập vào với những dấu chấm rồi xoay tít mù, chập chờn, chập chờn... rồi sau đó Yefim Formich Perekladin lại nhìn thấy một lũ những dấu chấm phẩy và dấu hai chấm... “Tôi biết rõ những con dấu này”, ông nghĩ, “khi mà dấu phẩy không thể dùng được mà dấu chấm đã quá nhiều thì người ta sẽ dùng đến dấu chấm phẩy, mình luôn đặt dấu chấm phẩy trước “nhưng” và “vì thế”. Còn dấu hai chấm thì sao? Thì chúng luôn được đặt trước những từ đại loại như một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó...” Những dấu chấm phẩy và hai chấm nhạt dần rồi hiện ra một loạt các dấu chấm hỏi. Chúng như thoát ra khỏi bóng tối và cứ như đang nhảy theo điệu cancan của người Pháp. “Nào, bây giờ đến dấu hỏi chấm đây, có hàng nghìn dấu hỏi chấm chứ gì? Được rồi, ta sẽ tìm ra chỗ đứng cho chúng mày. Người ta thường đặt chúng vào cuối những câu hỏi hoặc yêu cầu gì đó ví dụ như: “Trong quỹ của bộ còn bao nhiêu tiền?” hoặc “Bên công an chắc sẽ không tìm ra đâu nhỉ?”, còn khi mà các dấu chấm hỏi đứng thẳng lên trong trường hợp dùng cho các câu có tính chất phê chuẩn hoặc mệnh lệnh thì chúng lại trở thành các dấu chấm than... Hừ... bây giờ đến cái dấu luôn được dùng khi bắt đầu những lá thư, khi “Kính thưa ngài!” hoặc khi “Thưa đức ông cao quý, người đỡ đầu của tôi!”... Nhưng đối với một bản báo cáo thì sao nhỉ? Dấu chấm than thường đứng cao hơn so với các con chữ, chúng có tính chất chờ đợi, mong chờ một điều gì đó xảy ra, v.v trong một báo cáo, chúng được dùng khi... khi mà... khi nào nhỉ???.. Khi... thực ra là... khi nào nhỉ... xem nào, nghĩ một tí xem nào... hừ!..” Yefim Formich Perekladin trở mình, mở mắt ra, nhưng khi vừa mới nhắm mắt lại thì những chiếc dấu chấm than lại hiện ngay ra trong bóng tối rõ mồn một. “Ôi quỷ tha ma bắt chúng đi! Mà khi nào thì dùng dấu chấm than nhỉ?”, ông tự hỏi rồi cố quên đi những vị khách không mời mà đến đang lởn vởn trong đầu. “Có phải mình đã thực sự quên cách dùng dấu chấm than không nhỉ? Hay là mình chưa bao giờ phải dùng đến chúng cả?” Yefim Formich Perekladin cố nhớ lại tất cả các báo cáo mà mình đã viết trong suốt 40 năm qua ở công sở. Nhưng càng suy nghĩ, cân nhắc, ông lại càng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Ông không thể nào tìm ra một lần nào trong suốt thời gian qua đã dùng đến dấu chấm than cả. “Hãy tưởng tượng xem, một nhân viên hành chính sự nghiệp mà trong suốt bốn mươi năm phục vụ chưa một lần dùng đến dấu chấm than! Chúng biến đi đâu hết cả nhỉ, cái con quỷ gầy gò dài ngoằng ấy!” Từ phía sau hàng dấu chấm than nhấp nháy như lửa cháy ấy lấp ló bộ mặt của cái anh trẻ tuổi, khuôn mặt ấy như đang cười cợt một cách đầy ác cảm và đắc thắng, những cái dấu cũng như cười cợt theo rồi chúng họp nhau lại thành một cái dấu chấm than to đùng trong bóng tối. Yefim Formich Perekladin lắc đầu rồi mở mắt ra, “Ôi đồ quỷ sứ”, ông nghĩ, “mình phải dậy thật sớm ngày mai mà những điều đáng nguyền rủa này lại không để mình yên, cứ bám riết lấy mình...đồ chết tiệt!” “Nhưng chúng biến đi đâu được nhỉ, suốt bao năm làm việc mới rút ra được kinh nghiệm mà bỗng dưng với cái dấu chấm than này mình lại trở thành người vỡ nợ, một kẻ ngã ngựa giữa đường! Bốn mươi năm mà chưa một lần dùng dấu chấm than, thật kỳ lạ!” Yefim Formich Perekladin làm dấu, nhắm mắt lại rồi lại mở ngay ra nhưng cái dấu chấm than to tướng đó vẫn hiện ra rõ mồn một. “Sao thế, không ngủ được à?”, Mafusa, vợ ông hỏi. “Đúng rồi, thử hỏi bà ấy xem,” ông quay sang phía vợ, “bà ấy vẫn luôn luôn khoe khoang là học sinh của một trường nổi tiếng dành cho nữ sinh cơ mà”. Ông liền hỏi: “Bà nó này, bà có biết là dấu chấm than được dùng như thế nào không?”. “Tất nhiên rồi”, bà trả lời. “Thế ông nghĩ là tôi đã bỏ phí bảy năm để học trong một trường chuyên à! Tôi thuộc lòng cách dùng của tất cả các loại dấu, dấu chấm than thì dùng cho những câu cảm thán, chào hỏi, sự bột phát, bùng nổ, khi vui sương thích thú hoặc tức giận và những cảm giác đại loại như thế.” “Vậy à...” Yefim Formich Perekladin nghĩ ngợi.... “Vui sướng, giận hờn hoặc những cảm giác đại loại như thế...” Yefim Formich Perekladin lại chìm vào suy nghĩ.... “Trong bốn mươi năm qua mình đã từng viết báo cáo, hàng nghìn, hàng chục nghìn cái báo cáo nhưng không thể nhớ lại một dòng nào có cái tâm trạng đại loại như vui sướng, giận dữ hoặc tâm trạng tương tự như vậy trong các báo cáo của mình cả!.. “Và những tâm trạng đại loại như vậy...” Ông phân vân, tự hỏi: “Nhưng có cần tâm trạng, cảm xúc gì không trong công việc của một viên chức thư ký hành chính như mình? Thật ra viết báo cáo thì chẳng cần có cảm xúc gì với chúng đâu!” Khuôn mặt khó chịu của cái anh trẻ lại ló ra, thập thò hé nhìn từ phía sau cái dấu chấm than đỏ rực ấy, cười cười như thương hại...Yefim Formich Perekladin ngồi dậy, cảm thấy đầu đau như búa bổ, mồ hôi rịn ra trên trán... ngọn đèn nhỏ mập mờ, le lói... vẫn những đồ đạc được xếp đặt ngăn nắp, sạch sẽ và luôn bóng bẩy vì luôn được một bàn tay phụ nữ mềm mại dịu dàng chăm sóc. Nhưng Yefim Formich Perekladin, viên chức hành chính sự nghiệp mẫn cán vẫn cảm thấy ảm đạm, lạnh lẽo cứ như là người đang lên cơn sốt phát ban làm ông mệt mỏi, chán chường! Cái dấu chấm than không còn ở trong bóng tối, phía sau mí mắt ông nữa mà như hiện ra hẳn trước mắt ông, gần ngay bàn trang điểm của vợ ông luôn nhấp nháy, nhấp nháy một cách ác độc. “Một cái máy viết”, nó lầm rầm y như một con ma, “một cái máy viết” rồi như thở ra một luồng hơi lạnh lẽo bao trùm lên ông: “Một tên làm khoán cục mịch đần độn”. Ông liền kéo cái chăn trùm kín mít lên đầu nhưng cái con ma chết tiệt ấy vẫn chẳng chịu rời. Ông úp mặt vào vai vợ nhưng cái bóng ma quái ác vẫn không chịu biến mất mà lại hiện ra ngay trước mắt ông phía bên kia vai bà Mafusa. Thế là suốt cả đêm Yefim Formich Perekladin tội nghiệp bị những bóng ma con dấu ám ảnh. Thậm chí cả lúc ban ngày những bóng ma ấy cũng không chịu rời khỏi ông. Ông thấy chúng ở khắp mọi nơi, ở trong giày khi ông xỏ giày, ở trong chén trà khi ông uống nhằm tỉnh táo hơn, thậm chí cả trên chiếc huy chương đeo lủng lẳng trên ngực áo ông. “Những cảm xúc tương tự...”, ông nghĩ, sự thật là như vậy, mình không có cảm xúc, mình sẽ đến để nói với ông giám đốc. Nhưng ông ta biết làm gì đây với những cảm xúc? Không, chẳng để làm gì cả, ông ta cũng chỉ là một cái máy. Một viên chức máy! Khi Yefim Formich Perekladin đi ra đến đường, gọi một anh đánh xe, trông anh ta cũng như một chiếc dấu chấm than đang đánh xe vậy, cả cái anh vẫn đứng gác ở cổng lối ra vào phòng ông giám đốc nữa, cũng giống y một cái dấu chấm than nốt... tất cả như đang thể hiện với ông về niềm vui, tức giận và cả căm hờn... Cả cái cán bút và cái ngòi bút của ông trông cũng y xì như một cái dấu chấm than! Yefim Formich Perekladin cầm nó lên, hờ hững viết ra cái tên và chức danh của mình: “Yefim Formich Perekladin, thư ký bộ giáo dục!!!”. Khi ông đánh ba dấu chấm than ấy, trong ông dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa vui vẻ, vừa tức giận lại như vừa có chút gì như sung sướng trào lên trong lòng. “Đây! hãy giữ lấy, giữ lấy!”, ông lầm bầm, nhấn mạnh vào cây bút trong tay ông. Cái dấu chấm than đỏ rực như đã mãn nguyện vụt biến mất. 1885 Thái Đức Khải dịch từ bản tiếng Anh (Theo Tuổi trẻ) |
Trích:
Không biết bạn có cuốn "Truyện ngắn Chekhov" chưa? Trong cuốn này có 27 truyện ngắn của Chekhov. Có vẻ là cuốn sách có đẩy đủ các tác phẩm của Chekhov nhất trong số rất nhiều các cuốn đã được xuất bản. Tớ cũng nghe nói cuốn "Truyện ngắn Chekhov" này được ở trong danh sách "10 tác phẩm lớn nhất mọi thời đại". |
Tchekhov, với lối viết trào lộng và châm biếm, thiện cảm của ông hoàn toàn dành cho người nghèo. Valka là một truyện cảm động, em đã đọc cách đây tương đối lâu qua tuyển Truyện ngắn gồm 27 truyện của Nhà XB Cầu vồng Moscow 1988.Truyện tuy ngắn, nhưng lòng mình cảm thương sâu sắc với những tâm hồn cùng cực như trải dài trong mùa đông lạnh lẽo Nga…Ngoài ra còn nhiều truyện hay chưa có trong tuyển tập này như: Phòng số 6, Người ăn mày, Gặp gỡ, cây vĩ cầm cho ROTHSCHILD…Đúng là mỗi truyện đều để lại dấu ấn đượm buồn, đôi khi rất bi thương bác nhỉ!
|
phong cách viết truyện ngắn của Chekov có cái gì đó giống với Nam Cao của chúng ta. Mỗi câu từ đọc lên như có hàng ngàn mũi tên đâm vào trái tim ta. Những vét đam ấy cứ hàng ngày rỉ máu vào khó có thể lành hẳn. Mình thích điều đó
Mình đã đọc nhiều truyện của Chekov và đều có chung một cảm giác buồn, cái buồn nhức nhối như khi thấy Chí Phèo tự mình đâm chết bản thân mình vậy. Phải chăng con người tồn tại được cần đến rất nhiều những yếu tố khác của cuộc đời mà khong phải ai cũng dễ dàng thoát ra được. mình đọc được bài viết của một ai đó không nhớ rõ tên cho rằng với Chekov Phòng số 6 là đỉnh cao nhất. Nhưng học sinh mình cho rằng đấy là tác phẩm khó nếu đưa vào chương trình phổ thông vì "Ngươi trong bao" cũng đã làm đau đầu lắm rồi. Các bạn nghĩ sao? |
Ở Nga, bên cạnh Tchekhov, người ta có đưa thêm Maupassant (Pháp) và Vũ Trọng Phụng vào hàng bậc thầy truyện ngắn. Những truyện ảm đạm trào phúng của Tchekhov đúng như bạn nói “là tác phẩm khó”, tuy thường được viết ra dễ dàng: truyện này viết ngoài bãi tắm, truyện kia viết chưa đầy 1 giờ…có kết cấu đơn giản nhưng lại mang nội dung xã hội sâu sắc, trau truốt, ngắn gọn về ngôn ngữ; tính tâm lý, trữ tình, sau hành động là các làn sóng tâm lý đầy kịch tính đan xen: Qua tiếng cười ta vẫn nghe rõ nỗi đau của con người_để lại những thương cảm về số phận ngèo hèn đâu đó trên con đường giá lạnh Nga TK 19…
|
Hình như Tchekhov đâu chỉ viết những truyện ngắn ảm đạm bác tranhientrang ơi? Ví dụ như truyện "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" chẳng hạn - tuy buồn, nhưng không hề ảm đạm. Em thích truyện ngắn ngày - một nỗi đau trong cuộc đời một họa sĩ lớn, nhưng nỗi buồn không làm cho người họa sĩ gục ngã, mà giúp người nghệ sĩ trưởng thành hơn, trải nghiệm hơn. Tất nhiên, có rất nhiều khả năng là Tchekhov đã dùng bạn mình, họa sĩ Isaak Levitan làm nguyên mẫu cho nhân vật họa sĩ trong truyện này.
Người Nga cũng đọc Maupassant khá nhiều, nhưng em hơi nghi ngờ về việc độc giả Nga biết và khâm phục Vũ Trọng Phụng bác ạ. |
Cám ơn bác Nina đã “nhắc nhở”. Đúng là ngoài “đề tài ảm đạm” mà đỉnh cao là Phòng số 6(1892), thì Một bà xốc nổi(1891) thể hiện lý tưởng nhân đạo và xã hội; Đồng cỏ(1888) là những cảm nghĩ của ông về cuộc đời, đất nước và nhân dân...Trong các tác phẩm ông còn có "truyện ngắn vui" là bức thư trong đó thể hiện tình yêu văn chương: Nhà văn viết: "Y học như là người vợ trung thành, còn văn học lại giống một tình nhân nhỏ của tôi. Khi tôi chán "vợ", ban đêm tôi đến với "tình nhân". Mặc dù điều này không xảy ra thường xuyên như một thói quen nhưng nó giúp tôi giũ bỏ sự nhàm chán và "vợ" cũng như "tình nhân", không ai quá sức chịu đựng vì sự bội phản của tôi". Ngôi nhà có căn gác nhỏ (hay Câu chuyện người họa sỹ), Chuyện của phu nhân N.N…là những truyện trữ tình đặc sắc.
Guy de Maupassant (Pháp), O. Henry (Mỹ) và Tchekhov được xem là ba nhà văn viết truyện ngắn hay nhất mọi thời đại. Có một tài liệu nào đó in đã lâu có nói Vũ Trọng Phụng được biết đến nhiều và đánh giá cao ở Nga mà em không nhớ nổi để trích dẫn ra đây, và có lẽ nó chỉ mang tính tham khảo. |
Tchekhov theo hoc y khoa tại Đại học Quốc gia Moskva. Ở đây, ông bắt đầu vẽ biếm họa cho một số tạp chí hài để hỗ trợ gia đình. Sau khi tốt nghiệp năm 1884, Chekhov hành nghề y nhưng vẫn tiếp tục tâm huyết với sáng tác và thành công như các bác NNN đã biết. Ông có những quan điểm về sáng tác truyện ngắn thú vị, em xin trích giới thiệu:
NHẬN XÉT TẢN MẠN Cần phải viết về những gì anh thấy những gì anh cảm thấy, viết một cách chân thực. Người ta hỏi tôi muốn nói gì qua truyện ngắn này hay truyện ngắn khác. Gặp những câu hỏi đó, thường tôi không trả lời. Bởi công việc của tôi là viết. Dường như tôi có thể viết mọi điều anh muốn. Giả sử anh bảo tôi viết về cái chai này. Thế là sẽ có truyện ngắn với nhan đề Cái chai. Hình ảnh sinh động làm nên tư tưởng, chứ không phải tư tưởng tạo ra hình ảnh. Tôi không nhớ có truyện nào tôi phải viết quá một ngày một đêm, và cái truyện ngắn Người xạ thủ mà ông thích đó thì tôi viết ngay trong buồng tắm... Giống y như một phóng viên viết phóng sự về đám cháy, tôi đã phải viết như một cái máy, viết trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, không cần biết độc giả như thế nào. Sao lại nói là không có cốt truyện? Không đúng. Cốt truyện có ở mọi nơi mọi chỗ. Anh hãy nhìn vào bức tường này. Ai cũng biết ở đấy chẳng có gì cả. Nhưng anh hãy nhìn kỹ vào đó, hãy tìm trong đó một cái gì của mình, một cái gì không ai thấy được. Và anh hãy viết ra. Xin cứ tin điều tôi nói, bấy giờ thế nào cũng có một truyện ngắn. Cũng như anh có thể viết rất hay về một chủ đề đã cũ mèm như viết về ánh trăng, miễn là biết nhìn ra trong ánh trăng một cái gì của mình mà không phải một cái gì khác đã quá nhàm. Truyện vừa, cũng như một màn kịch, có những điều kiện của nó. Cảm giác của tôi báo với tôi rằng ở đoạn cuối của thiên truyện, tôi cần phải tìm cách tập trung sao để làm nổi bật trong tâm trí độc giả cái ấn tượng đã thấp thoáng trong toàn truyện. Để làm được việc này, cần phải ít nhiều gợi lại những gì ở các đoạn trên đã nhắc tới. Để viết về bọn ăn cắp ngựa, trong vòng bảy trăm dòng, tôi buộc mình phải luôn luôn nói và nghĩ bằng cái giọng của chúng, cảm thấy mình sống trong không khí của chúng. Nếu làm khác đi, tức thêm vào đấy những yếu tố chủ quan, các hình ảnh sẽ trở nên mơ hồ, và thiên truyện sẽ không thể cô đúc như các truyện ngắn đòi hỏi. Khi viết, tôi luôn tính tới bạn đọc, tôi hiểu những yếu tố chủ quan còn thiếu, trong thiên truyện sẽ được họ bổ sung. Theo ý tôi, những đoạn miêu tả thiên nhiên cần luôn luôn ngắn gọn và phải xuất hiện cho đúng lúc. Những câu đại loại “Vầng mặt trời sắp lặn đùa nghịch mãi trong lớp sóng đang trở nên sẫm lại, trông như một lớp vàng đỏ thắm..." nói chúng nên quăng bớt đi. Trong việc miêu tả thiên nhiên, cần biết chọn lấy những chi tiết có vẻ bé nhỏ, nhưng gộp chúng nó lại sao cho sau khi đọc, có thể hình dung ra cả bức tranh. Cần phải làm việc thật nhiều. Cần phải không ngừng làm việc ngày ngày. Hồi trẻ, tôi viết mỗi ngày một truyện ngắn. Sau đó thành thói quen. Anh hãy quan sát kỹ cuộc sống, quan sát kỹ mọi người. Sau đó, có khi đang đi chơi bên bờ biển Yalta chẳng hạn, bất thình lình cái lò so của truyện chợt bật ra trong đầu óc và thế là một truyện ngắn đã có sẵn. Anh hỏi cần viết thế nào, để có một truyện thật tốt. Trong truyện đó, không có cái gì được thừa cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả phải đâu vào đấy, không cái gì được thừa. Truyện ngắn cũng vậy. Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bớt đi những gì dở, kém như thế nào. Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và kết luận. Với cách viết văn xuôi chúng ta, lôi thôi nhất là vấn đề thời gian. Sau những đỉnh cao mà Maupassant bằng trình độ nghề nghiệp rất cao của ông, đã đạt tới, thì thật là khó làm việc. Nhưng vẫn cần phải làm, nhất là những nhà văn Nga, trong công việc, chúng ta phải dũng cảm. Có những con chó lớn, nhưng lại có những con chó nhỏ, có điều tiếng chó nhỏ đừng có lẫn vào tiếng chó lớn mới được. Mỗi bên phải sủa bằng tiếng của mình, bằng cái giọng trời cho của mình. Một lần nào đó, tôi đã nói với anh cần phải tạo ra thản nhiên, khi viết những truyện thương tâm, và anh đã không hiểu tôi. Nhà văn có thể khóc lóc, rên rỉ, có thể đau khổ với các nhân vật của mình, nhưng theo tôi, cần phải làm sao để độc giả khỏi nhận thấy những cái đó. Càng khách quan càng có thể tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ. Đó, tôi muốn vậy. Không việc gì phải lo tìm bằng được những cất truyện cho thật lắt léo. Trong cuộc sống, tất cả cứ lẫn lộn với nhau, cái sâu sắc với tầm thường, cái vĩ đai với cái bé nhỏ, cái bi thảm với cái hài hước. Những truyện ngắn mà anh gửi cho tôi toát ra một vé giả dối ghê gớm. Cốt truyện không thể có được. Anh hãy tự kính trọng, đừng cố viết khi óc lười nghĩ. Hãy chỉ viết không quá hai truyện ngắn trong một tuần rồi tìm cách thu bớt nó lại, làm lại, cho lao động thực sự là lao động. Đừng viết về những đau khổ mà anh chưa từng trải qua, đừng vẽ nên những khung cảnh mà anh chưa nhìn thấy, vì trong truyện sự giả dối hiện ra còn tẻ nhạt hơn nhiều, so với khi trò chuyện. Truyện ngắn của anh tôi rất thích. Đây là một truyện tốt, thông minh, đáng yêu. Nhưng cũng như mọi khi, anh có phần uể oải trong dắt dẫn, nên chi câu chuyện đâm ra oặt oẹo không vững. Anh hãy tưởng tượng một cái ao lớn, nước chỉ lăn tăn, mắt thường không sao có thể nhìn thấy sóng. Trên mặt ao có đủ những thứ khác nhau: dăm bào, thùng phuy, bảng gỗ. Do nước chỉ lăn tăn, tất cả những thứ đó cùng như đứng nguyên, bất động và lẫn vào nhau. Truyện của anh cũng vậy, quá ít vận động và quá nhiều chi tiết, tới mức cái nọ chồng chất lên cái kia. Truyện ngắn của anh rất tốt, chỉ hiềm nó dài quá, trong đó có quá nhiều chi tiết vô bổ. Cái giọng điệu chung của truyện bị phá vỡ bởi đoạn nhân vật chính cãi nhau với vợ, một cuộc cãi nhau không cần thiết. Tôi hình dung nó giống như giữa bức tranh vẽ cảnh biển cả rất êm đềm bỗng có những ngọn sóng quá cao, nó làm cho kích thước bị xô đẩy, ấn tượng bị vụn ra, mất đi sự nhất quán đáng lẽ phải có. Anh có biết không, muốn đánh giá một nhà văn mới vào nghề, hãy xem ngôn ngữ của anh ta. Nếu văn anh ta không có cái giọng riêng, anh ta khó lòng có thể trở thành một nhà văn thực thụ. Còn khi đã có giọng riêng, có tiếng nói của mình, với tư cách một nhà văn, anh ta đáng để ta hy vọng. Khi ấy ta có thể xem xét các mặt khác trong những gì anh ta đã viết. A.Tchekhov (Theo Tchekov bàn về văn học, M. 1955) *** CÂU CHUYỆN CỦA PHU NHÂN N.N A.Tchekhov Khoảng 9 năm trước, một buổi chiều vào kỳ cắt rạ, tôi và piotr Xecgeits, lúc ấy làm dự thẩm ở một toà án, cùng cưỡi ngựa ra ga lấy thư về. Hôm ấy trời rất đẹp, nhưng trên đuờng về bỗng có tiếng sấm ầm ì, và chúng tôi nhận thấy một đám mây đen hung dữ đang lừ lừ tiên tới gần chúng tôi. Nổi lên trên nền mây đen xám ngắt thấp thoáng màu trăng trắng của ngôi nhà chúng tôi, những cây phong cao óng ánh bạc.Không khí thoang thoảng mùi mưa và mùi rạ mới cắt. Anh bạn của tôi đang cao hưng lắm. Anh ta cười như nắc nẻ và nói đủ chuyện vu vơ. Anh ta bảo là ví thử bây giờ trên đường đi của chúng tôi thoáng hiện lên một toà lâu đài trung cổ với những ngọn tháp răng cưa có rêu phủ, có cú đêm, thì hay quá, chúng tôi sẽ trú mưa và rồi sẽ bị sét đánh chết. Nhưng kìa trên đám lúa mì đen trên cánh đồng đại mạch đã tràn qua đợt sóng đầu tiên của giông tố. Gió đã nổi và cuốn bụi lên thành từng cột xoáy tít. Piotr cười vang và cựa giầy thúc ngựa. - Thích thật - anh reo lên- thích quá ! Tôi cũng vui lây. Và khi nghĩ rằng chỉ lát nữa tôi sẽ bị ướt như chuột lột và rất có thể bị sét đánh chết, tôi cũng cười phá lên. Gió bấc xoáy rất mạnh. Hai con ngựa phi vun vút, khiến cho người ta có cảm giác khó thở, trong lồng ngực chúng tôi thấy hồi hộp, nôn nao. Khi chúng tôi cưỡi ngựa về đén sân nhà, gió đã lặng, những chùm mưa lớn đổ rào rào xuống đám cỏ và mái nhà. Quanh chuồng ngựa không có lấy một bóng người . Piotr tự tay tháo yên cương cho hai con ngựa, dắt chúng vào tàu, trong khi chờ anh xong việc, tôi đứng ở ngưỡng cửa nhìn những làn mưa chênh chếch đổ xuống, cái mùi rạ ngòn ngọt hăng hăng ở đây như thể nồng đượm hơn ở ngoài đồng; mây đen và làn mưa làm cho trời tối mờ đi. - Sét đánh dữ quá ! Piotr vừa nói vừa đến cạnh tôi sau một tiếng sét rất dữ dội, mở đầu cho một đợt sấm đổ hồi. Lúc bấy giờ có thể tưởng tượng như trời đã nứt làm đôi. Anh đứng cạnh tôi trên ngưỡng cửa chuồng ngựa, vẫn còn thở mạnh vì chuyến phi ngựa rất nhanh vừa rồi. Tôi nhận thấy anh đang nhìn tôi mê mải. - Natalya Vladimirovna ạ, - anh nói - tôi sẵn sàng hiến dâng tất cả chỉ để được đứng thế này lâu hơn nữa và nhìn cô. Hôm nay cô đẹp quá. Mắt anh hân hoan và van vỉ, mặt anh tái xanh, trên bộ râu anh có những giọt nước mưa lóng lánh, và hình như mấy giọt mưa ấy cũng âu yếm nhìn tôi.- Tôi yêu cô- anh nói - Tôi yêu cô, và tôi sung sướng được nhìn thấy cô. Tôi biết cô không thể thành vợ tôi đuợc. Nhưng tôi không muốn gì hết, tôi không cần gì hết, chỉ xin cô biết một điều rằng tôi yêu cô. Cô đừng nói, đừng lưu ý làm gì, cô chỉ cần biết là tôi rất quý cô, hãy cho phép tôi, được nhìn cô ! Tâm trạng hân hoan của anh cũng chuyển sang tôi. Tôi nhìn gương mặt phấn khích của anh, lắng nghe giọng nói của anh hoà lẫn với tiếng mưa, mà như bị thôi miên, không sao cử động được. Tôi muốn nhìn mãi đoi mắt sáng long lanh ấy, nghe mãi giọng nói ấy, muốn vô cùng. - Cô im lặng- như thế là rất hay ! - Piotr nói - Cô cứ im lặng như thế đi. Tôi thấy thích quá. Tôi cười to lên vì sung sướng và chạy ra giữa cơn mưa đang đổ xuống như trút để vào nhà; Piotr cũng cười phá lên và nhảy nhót chạy theo tôi. Hai chúng tôi, như hai đứa trẻ, ồn ào, ướt át, thở hổn hển, nện gót ầm ầm trên thang gác và chạy ùa vào trong nhà. Cha tôi, vốn không quen thấy tôi vui cười như thế, kinh ngạc nhìn tôi rồi cũng cười phá lên. Những đám mây giông tố đã kéo đi hết, tiếng sấm đã lặng nhưng trên râu của Piotr vẫn còn long lanh mấy giọt mưa. Suốt buổi chiều hôm ấy, mãi đến bữa ăn tối, anh ca hát, huýt sáo, đùa nghịch ầm ĩ với con chó, đuổi theo nó chạy khắp các phòng, thành thử có lúc suýt xô phải một người nhà đang bưng ấm lò đi ra. Trong bữa tối, anh ăn rất nhiều, nói toàn những chuyên ngớ ngẩn và quả quyết hễ mùa đông mà ăn dưa chuột trươi thì trong miệng sẽ sực nức huơng bị mùa xuân. Khi đi ngủ, tôi thắp đèn nến lên và mở toang cửa sổ, và một cảm giác mơ hồ khó hiểu tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi nhớ ra răng tôi tự do, khoẻ mạnh, quyền quý, giàu sang - quyền quý và giàu sang - trời ơi, thích biết chừng nào ! .. Sau đó, người co ro trong giường vì hơi lạnh thoang thoảng từ vườn đưa vào phòng cùng với sương đêm, tôi cố tìm hiểu xem mình có yêu Piotr Xecgeits không... Rồi không hiểu được chút gì, tôi ngủ thiếp đi. Và sang hôm sau, khi trông thấy những vệt nắng rung rinh và bóng những cành bồ đề chờn vờn trên đệm, trong ký ức tôi sống dậy những cảnh hôm qua. Tôi thấy cuộc sống sao phong phú, muôn màu muôn vẻ, tràn đầy một vẻ đẹp diệu kì. Tôi vừa hát vừa khe khẽ nhanh nhẹn mặc áo quần và chạy ra vườn..... Rồi sau đó chuyện gì đã xảy ra ? Sau đó chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Mùa đông, gia đình tôi ở trong thành phố, Piotr Xecgeits vẫn thỉnh thoảng đến chơi. Những người quen ở nông thôn chỉ thú vị khi mình ở nông thôn, vào mùa hè, nhưng ở thành phố, vào mùa đông thì họ mất hẳn đi một nửa phần thú vị. Ở thành phố, khi dọn trà cho họ uống, người ta cứ có cảm giác như chiếc áo họ đang mặc trên người là áo đi mượn của ai, và họ dùng thìa khuấy trà quá lâu. Dạo ở thành phố đôi khi Piotr cũng có nói chuyện yêu đương, nhưng lời lẽ của anh gây một ấn tượng khác hẳn.hồi ở nông thôn. Ở thành phố chúng tôi cảm thấy rõ rệt hơn bức tường ngăn cách chúng tôi : tôi thì con nhà quyền quý và giàu sang, anh ấy thì nghèo ; anh là con một ông thầy giúp lễ, đảm đương chức vụ dự thảm ở một tòa án, và chỉ có thể thôi. Hai chúng tôi - tôi thì vì tuổi trẻ quá, còn anh ấy chẳng biết tại sao - đều cho rằng bức tường ấy quá cao và dày. Cho nên những khi đến chơi nhà chúng tôi, anh thường mỉm cười gượng gạo, và hay lên tiếng phê phán giới thượng lưu hay quý tộc. Và nếu trong phòng có khách, ngoài anh ra còn có một người nào khác, anh thường im lặng và lầm lì. Không làm gì có được bức tường nào không thể đập thủng được, nhưng các nhân vật trong tiểu thuyết ngày nay, vốn quá rụt rè, nhu nhược, lười biếng và dễ chạnh lòng, họ quá nhanh chóng cam tâm chấp nhận cai ý nghĩ cho mình là kẻ bất đắc chí, mình bị cuộc đời riêng lường gạt; đáng lẽ đứng dậy đấu tranh thì họ chỉ bình phẩm phê phán, gọi xã hội thượng lưu là tầm thường dung tục, và quên mất ràng chính những lời phê phán của họ cũng dần dần chuyển sang tầm thường dung tục. Tôi được yêu, hạnh phúc đến với tôi rất gần gũi, tưởng như đang sống vai kề vai bên tôi; tôi sống trong tiếng hát giọng cười, không cố gắng hiểu mình, không biết mình chờ đợi gì và ước mong gì ở cuộc sống, trong khi đó, thời gian cứ trôi đi, trôi đi.... Đã bao nhiêu người đã qua cuộc đời tôi với mối tình của họ, những ngày quang đãng và những đêm ấm áp tiếp theo nhau lướt nhanh qua trong tiếng hót củ chim họa mi và trong mùi hương của rơm rạ, và tất cả những hình ảnh, những chuỗi ngày đã để lại bao nhiêu kỷ niệm đáng yêu, huyền diệu ấy, ở tôi cũng như ở mọi người khác, đều trôi qua rất nhanh, không để lại dấu tích gì, không được quý trọng và đều tan biến đi trong sương mù. Những chuỗi ngày êm đẹo ấy nay còn đâu....... Cha tôi mất, tôi già đi; tất cả những gì đã làm cho tôi yêu thích, đã mơn trớn tôi, đã cho tôi hi vọng - tiếng mưa rơi, tiếng sấm rền, những ý nghĩ về hạnh phúc, những câu chuyện về tình yêu - tất cả đềi chỉ còn là kỉ niệm. Và trước mắt tôi là một khoảng không gian xa tắp, phẳng lặng, vắng vẻ; trên đồng bằng không có lấy một sinh linh, và ở chân trời sao tối tăm, khủng khiếp quá. Có tiếng chuông reo ngoài cổng ... Ấy là Piotr đến chơi. Mùa đông, cứ mỗi khi tôi nhìn bóng cây và nhớ lại màu xanh rờn của nó dạo hè, tôi lại thì thầm : - Ôi, người bạn yêu dấu của tôi ! Và mỗi khi tôi gặp lại những người đã ở bên tôi, hồi tôi đang sống qua mùa xuân của đời mình, tôi lại thấy buồn buồn và âm ấm trong lòng, và tôi lại thì thầm câu ấy. Từ lâu nhờ sự che chở của cha tôi, anh ấy đã được đổi về thành phố. Anh hơi già đi, dáng người như hơi trĩu xuống.Anh đã từ lâu không bày tỏ tình cảm, không nói chuyện lẩn thẩn nữa, anh không ưa thích gì công việc ở sở, sức khoẻ anh sút giảm vì một chứng bệnh gì đấy, anh thất vọng về một nỗi gì không rõ, anh đã khoát tay phó mặc đời và sống một cách miễn cưỡng. Giờ đây anh ngồi bên lò sưởi, im lặng nhìn ngọn lửa bập bùng. Không biết nói chuyện gì, tôi hỏi anh : - Có chuyện gì không? - Chẳng có gì... Anh đáp. Lại im lặng. Ánh lửa đỏ rực chập chờn trên gương mặt rầu rầu của anh. Tôi nhớ lại dĩ vãng, và vai tôi chợt run lên, đầu tôi cứ gục xuống và tôi khóc òa lên cay đắng. Tôi thấy xót xa không sao chịu nổi, xót cho mình, xót cho người ấy, và tôi thấy thèm khát vô cùng những gì đã qua mà giờ đây cuộc sống đã khước từ không chịu trả cho chúng tôi. Và bây giờ tôi không còn nghĩ đến chuyện mình quyền quý và giàu sang nữa. Tôi khóc nức nở, hai bàn tay ép lên thái dương và lẩm bẩm : - Trời ơi, trời ơi, còn gì là đời nữa... Anh ngồi yên, lặng thinh, không nói vói tôi : " Cô đừng khóc." Anh hiểu rằng tôi cần khóc và bây giờ đã đến lúc phải khóc như vậy. Nhìn mắt anh tôi thấy rõ anh thương tôi; tôi cũng thấy thương anh, và cũng giận con người rụt rè kia, đã không biết cách thu xếp cho đời tôi mà cũng chẳng biết cách thu xếp cho đời mình. Khi tôi tiễn anh về, ra đến phòng ngoài tôi có cảm giác như anh cố ý mặc áo khoác rất lâu. Anh im lặng hôn tay tôi hai ba lần và hồi lâu nhìn đăm đăm vào khuôn mặt ướt đẫm nước mắt của tôi. Tôi chắc lúc ấy anh nhớ lại cơn giông, những làn mưa chênh chếch, tiếng cười của hai đứa chúng tôi, khuôn mặt tôi hồi ấy.Anh muốn nói với tôi một điều gì, mà giá nói được chắc anh sẽ mừng lắm, nhưng rồi anh chẳng nói gì, chỉ lắc đầu và xiết chặt tay tôi. Thôi, cầu Chúa phù hộ cho anh ấy ! Tiễn anh về rồi, tôi trở vào phòng sách và lại ngồi xuống tấm thảm trải trước lò sưởi. Những súc than đỏ đã phủ tro và bắt đàu toàn lụi dần. Băng giá kêu răng rắc trên cửa sổ càng giận dữ hơn, và gió hát một giai điệu mơ hồ trong ống khói lò sưởi. Người hầu gái bước vào, tưởng tôi đã ngủ thiếp đi, liền cất giọng gọi. 1887 ( Cao Xuân Hạo dịch ) |
Xin hỏi bạn Tranhientrang co link truyện ngắn "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" cho mình xin với. Mình chỉ mới tiếp xúc với Chekhov qua những câu chuyện "ảm đạm" thôi, chưa đọc những tác phẩm về đề tài khác.
Cám ơn bạn đã cung cấp thông tin |
Mong bạn thông cảm: Mình có link tiếng Anh truyện này (THE HOUSE WITH THE MEZZANINE: http://www.bookrix.com/book.php?book...56801596&zoom=) post trước lên để bạn ngâm cứu. Còn link bản dịch tiếng Việt mình sẽ cố gắng nhớ lại, post lên sau bạn nhé!
|
Tôi vẫn nhớ lần đầu đọc ông là bộ tuyển tập do hai bác Phan Hồng Giang và Cao Xuân Hạo dịch, nhà XB Văn học in bằng giấy đen, chữ nhỏ li ti, cách đây gần ba chục năm. Lưu dấu ấn nhất với tôi có lẽ là những chuyện tuy xảy ra ở Nga từ 2 thế kỷ trước mà nay có thể gặp lại tại xã hội Việt Nam như "Con kỳ nhông", với hình ảnh quan chức 'gió chiều nào xoay chiều ấy', "phòng số 6" với những suy nghĩ dằn vặt của một bác sĩ thần kinh và những mưu mô xảo quyệt của các đồng nghiệp đối với ông. Ngoài ra, "Đêm Noel" với dòng cuối cùng day dứt:"Đêm Noel ấy, nàng đã yêu chồng ...." cũng là một truyện ngắn chứa đựng nhiều điều khiến ta phải suy ngẫm.
|
Чехов, Антон Павлович
Trích:
Phong cách viết truyện ngắn của Chekhov có lẽ gần gũi với Nguyễn Công Hoan . Kịch tính trong mọi truyện dều được đẩy cao, mâu thuẫn gay gắt giống giọng văn nhuần nhuyễn phong cách trào phúng của Nguyễn Công Hoan hơn là Nam Cao. Sao ta không cho tất cả các thể loại tác phẩm của Chekhov vào đây ? Bốn vở kịch của Chekhov đều đặc sắc. Thể loại kịch nhiều người ngại đọc, nhưng các bạn thử đọc xem, chúng sẽ lôi cuốn các bạn từ lúc mở màn đến khi hạ màn. Có lẽ tất cả bốn vở kịch của ông nghiêng về bi kịch. Những tác phẩm của ông phần lớn phủ một màu xám , không hẳn là màu đen, tối. Đọc xong nó để lại trong người đọc nỗi xót xa day dứt... Bốn vở kịch Chim Hải Âu, Cậu Vanhia, Ba chị em, Vườn anh đào đều đáng để đọc... |
nếu bạn đã đọc kĩ truyện của Nam Cao và hiểu sâu sắc về truyện của ông, hẳn bạn sẽ có cái nhìn khác hơn. Tất nhiên, văn học là để cho mỗi người có một cách cảm nhận khác nhau. Vì thế, bạn cho rằng truyện của Chekhov giống với Nguyễn Công Hoan hơn. Mình không phản đối điều này, có điều, với mình, truyện Nguyễn Công Hoan còn nhạt lắm, khó có thể so sánh với "đại lão gia" Chekhov được. Bạn cho rằng văn Chekhov "Kịch tính trong mọi truyện dều được đẩy cao, mâu thuẫn gay gắt' và bạn đã đọc nguyên tác truyện của ông chắc hẳn bạn sẽ hiểu những nhận xét trên chỉ có thể có được từ Nam Cao chứ không phải là của Nguyễn Công Hoan. Với Nguyễn Công Hoan, chất trào phúng, châm biếm sâu cay của ông nổi rõ hơn chất kịch tính. Những mẫu thuẫn chồng chéo, những tâm trạng của con người như hằn trên từng con chữ khiến người đọc không những cảm nhận được đằng sau đó là tiếng khóc nỉ non rỉ ra từ trái tim, tâm hồn nhân vật mà còn xót xa, cay đắng cho chính bản thân mình. Điều này chỉ có thể có được từ Nam Cao và Chekhov mà thôi.
Mình nghĩ vậy, đừng giận nhé! |
Mình thì chẳng am hiểu sâu sắc ai trong số 3 nhà văn được kể ra ở đây. Nhưng mình nghĩ rằng tầm ảnh hưởng đến văn học, văn hóa thế giới của Chekhov với Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hoàn toàn khác nhau (mong những ai hâm mộ Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đừng cho rằng mình vọng ngoại, xúc phạm niềm tin của các bạn, hay gì gì tương tự nhé, hình như mình cũng có thể nói lên ý kiến của mình mà). Do đó có lẽ chúng ta không nên so sánh chăng?
|
Tôi cảm ơn những bạn thảo luận về Anton Paplovik TChekhop để tôi lại có dịp đọc,nghĩ tới Ông.Tôi có dịp được đọc tác phẩm của ông từ 1957do NXB Hội nhà văn hoặc NXB Văn
nghệ,có lời Bạt của Nguyễn Tuân và các bản dịch của nhiều người,Tôi được nghe nhiều buổi chuyên đề về TChekhop,truyên ngắn của TChekhop do GS Hoàng Xuân Nhị trình bày đam mê đọc những vở kịch của Ông như Chim Hải âu;Ba chị em;Cậu Vanhia;Vườn Anh đào;Cầu hôn;Con gấu.đọc mấy tâp chuyên khảo các tác phâm kich của Ông do Ermilop viết.Bản thân tôi đã trực tiếp dàn dựng cho học sinh trung học các tác phẩm Cầu hôn; Con gấu và Cậu Vanhia.Khi có dip làm việc Giao lưu Sân khấu Việt - Mỹ tôi lại thấy Họ thừa nhận và bằng thực tế kịch bản&vở diễn Những con giống bằng thủy tinh-đã viết theo phương pháp của TChekhop. TChekhop;Tchekhop-vĩ đại.Theo tôi,không xêp Ông với ai măc dù ngoài Ông , ta còn Yêu quý Mopaxsang,Dôdde;O.Henry;Gorky;Nguyễn công Hoan hoặc ai,ai nữa.Con người Ông;Phong cách của Ông;Sự nghiệp của Ông.Những con đường từ Yanta-Moscow-Xakhalin để có Phòng số6;từ nguyên mẫu con hải âu đên Hình tượng Nhina-Traica-Hải âu cùng các Hình tượng Nhà văn Trepolep,Tregrin trong vở Chim Hải âu.Cậu Vanhia,Sonhia,Helen,Xerebryacop,Bác sỹ Astrop trong Cậu Vanhia.đến các hình tượng Cái chết của môt viên công chức,Anh chàng làm xiếc đêm tân hôn,Anh chàng đưa vợ tới nhà Bác sỹ tuyết không tan trên mặt người vợ , Một Bà Xốp nổi,Chiêc huân chương Thánh Jook và v.v.. TCHEKHOP của Mỗi người |
Trích:
Đọc kỹ và hiểu sâu sắc??? Do đâu mà vhnga nghĩ là FL đọc không kỹ và hiểu không sâu sắc??? FL không giận gì ở đây vì cảm nhận văn học mỗi người một khác. Thứ nhất khối lượng tác phẩm chủa Nguyễn Công Hoan lớn hơn Nam Cao. Đề cập đến nhiều vấn dề hơn. Viết nhiều có đôi truyện còn sạn. Nhưng chỉ truyện ngắn. Truyện vừa và dài của ông không đặc sắc, rất cà kê. Thứ hai hành văn của NCH gần với Chekhov hơn. Trích:
Văn hóa sống khác nhau thì cách hành văn, phân tích, thể hiện tâm trạng nhân vật khác nhau. Ở đây đơn giản là vhnga muốn giới thiệu nhà văn Việt trong mảng Hiện thực phê phán . Theo FL NCH có vai trò trong thời gian này tại VN gần như Chekhov tại Nga. |
Mới rồi tôi có dịp đến thăm Nhà bảo tàng Chekhov ở Yalta, nguyên là căn nhà của chính nhà văn sống cho đến cuối đời. Hiện Giám đốc bảo tàng là hậu duệ của nhà văn Chekhov.
http://upanh.com/uploads/27-Oct-2009...tn_640x480.jpg Vé tham quan Khi ra về, bà giám đốc bảo tàng có nhờ tôi nhắn tới tất cả các bạn Việt nam yêu nhà văn Chekhov là nếu các bạn có bất cứ tài liệu gì liên quan đến nhà văn ở VN như:Áp phích phim, vé xem nghệ thuật, các truyện của Chekhov dịch sang tiếng Việt (tờ bìa), các bài báo nói về Chekhov... xin làm ơn chuyển cho Nhà bảo tàng theo địa chỉ sau: http://upanh.com/uploads/27-Oct-2009...tn_640x480.jpg Trân trọng cám ơn. TrungDN |
ЗЛОЙ МАЛЬЧИК Слушать здесь Чехов А. П. Иван Иваныч Лапкин, молодой человек приятной наружности, и Анна Семеновна Замблицкая, молодая девушка со вздернутым носиком, спустились вниз по крутому берегу и уселись на скамеечке. Скамеечка стояла у самой воды, между густыми кустами молодого ивняка. Чудное местечко! Сели вы тут, и вы скрыты от мира — видят вас одни только рыбы да пауки-плауны, молнией бегающие по воде. Молодые люди были вооружены удочками, сачками, банками с червями и прочими рыболовными принадлежностями. Усевшись, они тотчас же принялись за рыбную ловлю. — Я рад, что мы наконец одни, — начал Лапкин, оглядываясь. — Я должен сказать вам многое, Анна Семеновна... Очень многое... Когда я увидел вас в первый раз... У вас клюет... Я понял тогда, для чего я живу, понял, где мой кумир, которому я должен посвятить свою честную, трудовую жизнь... Это, должно быть, большая клюет... Увидя вас, я полюбил впервые, полюбил страстно! Подождите дергать... пусть лучше клюнет... Скажите мне, моя дорогая, заклинаю вас, могу ли я рассчитывать — не на взаимность, нет! — этого я не сто́ю, я не смею даже помыслить об этом, — могу ли я рассчитывать на... Тащите! Анна Семеновна подняла вверх руку с удилищем, рванула и вскрикнула. В воздухе блеснула серебристо-зеленая рыбка. — Боже мой, окунь! Ай, ах... Скорей! Сорвался! Окунь сорвался с крючка, запрыгал по травке к родной стихии и... бултых в воду! В погоне за рыбой Лапкин, вместо рыбы, как-то нечаянно схватил руку Анны Семеновны, нечаянно прижал ее к губам... Та отдернула, но уже было поздно: уста нечаянно слились в поцелуй. Это вышло как-то нечаянно. За поцелуем следовал другой поцелуй, затем 180 клятвы, уверения... Счастливые минуты! Впрочем, в этой земной жизни нет ничего абсолютно счастливого. Счастливое обыкновенно носит отраву в себе самом или же отравляется чем-нибудь извне. Так и на этот раз. Когда молодые люди целовались, вдруг послышался смех. Они взглянули на реку и обомлели: в воде по пояс стоял голый мальчик. Это был Коля, гимназист, брат Анны Семеновны. Он стоял в воде, глядел на молодых людей и ехидно улыбался. — А-а-а... вы целуетесь? — сказал он. — Хорошо же! Я скажу мамаше. — Надеюсь, что вы, как честный человек... — забормотал Лапкин, краснея. — Подсматривать подло, а пересказывать низко, гнусно и мерзко... Полагаю, что вы, как честный и благородный человек... — Дайте рубль, тогда не скажу! — сказал благородный человек. — А то скажу. Лапкин вынул из кармана рубль и подал его Коле. Тот сжал рубль в мокром кулаке, свистнул и поплыл. И молодые люди на этот раз уже больше не целовались. На другой день Лапкин привез Коле из города краски и мячик, а сестра подарила ему все свои коробочки из-под пилюль. Потом пришлось подарить и запонки с собачьими мордочками. Злому мальчику, очевидно, всё это очень нравилось, и, чтобы получить еще больше, он стал наблюдать. Куда Лапкин с Анной Семеновной, туда и он. Ни на минуту не оставлял их одних. — Подлец! — скрежетал зубами Лапкин. — Как мал, и какой уже большой подлец! Что же из него дальше будет?! Весь июнь Коля не давал житья бедным влюбленным. Он грозил доносом, наблюдал и требовал подарков; и ему всё было мало, и в конце концов он стал поговаривать о карманных часах. И что же? Пришлось пообещать часы. Как-то раз за обедом, когда подали вафли, он вдруг захохотал, подмигнул одним глазом и спросил у Лапкина: — Сказать? А? Лапкин страшно покраснел и зажевал вместо вафли салфетку. Анна Семеновна вскочила из-за стола и убежала в другую комнату. 181 И в таком положении молодые люди находились до конца августа, до того самого дня, когда, наконец, Лапкин сделал Анне Семеновне предложение. О, какой это был счастливый день! Поговоривши с родителями невесты и получив согласие, Лапкин прежде всего побежал в сад и принялся искать Колю. Найдя его, он чуть не зарыдал от восторга и схватил злого мальчика за ухо. Подбежала Анна Семеновна, тоже искавшая Колю, и схватила за другое ухо. И нужно было видеть, какое наслаждение было написано на лицах у влюбленных, когда Коля плакал и умолял их: — Миленькие, славненькие, голубчики, не буду! Ай, ай, простите! И потом оба они сознавались, что за всё время, пока были влюблены друг в друга, они ни разу не испытывали такого счастья, такого захватывающего блаженства, как в те минуты, когда драли злого мальчика за уши. |
Tiếc là không tham dự các thảo luận của các bác sớm hơn được. Theo cảm nhận của cá nhân, cả Nguyễn Công Hoan lẫn Nam Cao đều thành công ở khía cạnh phản ánh thâm thúy hiện thực xã hội, dưới dạng bi hay bi hài kịch như Chí Phèo, Kép Tư Bền, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó...Nhưng ở khía cạnh nhẹ nhàng, trầm lắng và thâm thúy thì Sêkhốp hơn hẳn (Người trong bao, Anh béo anh gầy, Chuyện trẻ con..). Hơn nữa bi kịch người trí thức của Nam Cao chỉ thường tập trung vào cái vòng luẩn quẩn cơm áo gạo tiền của chính gia đình anh ta, còn người trí thức của Sêkhốp ôm ấp gánh nặng của cả thời đại: họ mong muốn có thể cải tạo xã hội (Ngôi nhà có căn gác nhỏ, Con bệnh) hoặc muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn (Người đàn bà có con chó nhỏ).
Một khía cạnh nữa trong truyện nhắn của Sêkhốp là sự tinh tế trong trẻo đầy chất thơ trong những chuyện ngắn lãng mạn - điều hoàn toàn thiếu vắng trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan (tất nhiên đây là do nguyên nhân khách quan như hoàn cảnh sống...). Đó là những truyện không có cốt chuyện nhưng nhờ vào tài năng ngôn ngữ bậc thầy của Sêkhốp mà chúng sống mãi tới bây giờ như Thảo nguyên, Một chuyện đùa nho nhỏ, Vera... |
Gửi tới các bác truyện ngắn Một chuyện đùa nho nhỏ
Một buổi trưa mùa đông trong sáng… Trời giá lạnh, rét cóng. Nadia khoác tay tôi. Những hạt bụi tuyết nhỏ trắng xoá bám lên mấy món tóc xoắn vòng rủ hai bên thái dương nàng, lên hàng lông tơ mịn phía bên trên môi. Nàng và tôi đứng trên một ngọn đồi cao. Từ chỗ chúng tôi đứng, sườn đổ dài thoai thoải xuống lấp loáng dưới ánh nắng, như một tấm gương. Bên cạnh chúng tôi là một chiếc xe trượt tuyết nhỏ bọc một lớp dạ màu đỏ tươi. -Chúng ta cùng trượt tuyết xuống dưới đi, Nadia. – Tôi van nài nàng - Một lần thôi! Tôi cam đoan với em là chúng ta sẽ chẳng hề gì đâu. Nhưng Nadia sợ. Cả cái khoảng không gian từ đôi giày cao su nhỏ nhắn của nàng đến chân quả đồi phủ đầy băng này đối với nàng thật là ghê sợ. Tưởng như một vực sâu vô tận. Đứng đây, nàng chỉ mới đưa mắt nhìn xuống dưới, hay tôi chỉ mới gợi ý bào nàng ngồi vào xe trượt tuyết là nàng đã sợ hết hồn, không thở được nữa, huống hồ nều nàng liều mạng loa xuống cái vực sâu kia thì không biết rồi ra sao! Nàng sẽ chết mất, nàng sẽ đến phát điên mất. -Ta trượt đi em. – Tôi cố nài - Việc gì mà sợ! Em phải biết sợ thế là nhát gan, là xoàng lắm em ạ! Cuối cùng Nadia cũng ưng thuận, nhưng qua nét mặt nàng, tôi biết rằng tuy vậy nàng vẫn còn sợ chết. Tôi đỡ nàng ngồi vào xe trượt: nàng run rẩy, gương mặt nàng tái nhợt. Tôi vòng tay qua giữ lấy Nadia và cùng nhau lao xuống thung lũng sâu thẳm. Chiếc xe lao đi vun vút như một viên đạn. Làn không khí bị xé ra như quật vào mặt, gào rít bên tai, đâm vào da buốt nhói, gió như muốn giật phăng đầu ra khỏi vai. Gió ép quá mạnh, đến nỗi không thở được. Tưởng chừng như có một con quỷ nào đang giơ tay nắm lấy chúng tôi vừa rú lên vừa kéo chúng tôi xuống địa ngục. Mọi vật xung quanh nhập lại thành một vệt dài lao vun vút về phía sau… Chỉ một giây lát nữa thôi có lẽ chúng tôi sẽ chết! -Nadia, anh yêu em! – Tôi thì thào nói. Chiếc xe trượt dần dần chạy chậm lại, tiếng gió gào và tiếng đế xe rít lúc này không còn đáng ghê sợ như lúc nãy nữa, ngực đã thấy dễ thở, và thế là chúng tôi đã xuống đến thung lũng. Nadia sợ tưởng chết đi được, gương mặt nàng tái hẳn đi; nàng thở không ra hơi. Tôi đỡ nàng đứng dậy. -Có vàng tôi cũng không trượt lần nữa! – Nàng nói và đưa cặp mắt mở to đầy sợ hãi, nhìn tôi - … Có vàng tôi cũng chịu! Chỉ thiếu chút nữa là tôi chết! Một chốc sau, nàng dần dần hết sợ và đã bắt đầu nhìn vào mắt tôi với vẻ dò xét: có phải tôi đã nói bốn tiếng ấy, hay chỉ là trong tiếng gió gào rít nàng nghe thấy như vậy? Còn tôi, tôi đứng bên cạnh, nàng, lấy thuốc lá ra hút và chăm chú nhìn chiếc găng tay của mình. Nàng khoác tay tôi và chúng tôi cùng nhau dạo chơi một lúc lâu bên đồi tuyết. hình như điều bí ẩn làm nàng thấy trong lòng băn khoăn. Có ai nói ra những lời đó không? Có những lời đó hay không? Có hay không? Đó là một câu hỏi của lòng tự trọng, của danh dự, của cuộc đời và niềm hạnh phúc - một câu nói hệ trọng, hệ trọng nhất trên đời này. Nadia đăm đăm nhìn tôi bằng một cặp mắt buồn rầu nôn nóng bồn chồn. Nàng chậm rãi do dự trả lời những câu hỏi của tôi như chờ mong tôi sẽ tự nói ra cái điều bí ẩn ấy. Ôi, khuôn mặt nàng lúc ấy đáng yêu biết bao, ý nhị biết bao! Tôi thấy rõ ràng nàng đang tự day dứt với mình, nàng cần nói một điều gì, cần hỏi một điều gì, nhưng nàng không tìm được lời, nàng cảm thấy rụt rè kinh sợ, một niềm vui nào đang ngăn trở nàng nói… -Này anh…- Nàng nói, mắt không nhìn tôi. -Cái gì vậy? – Tôi hỏi. -Chúng ta cùng nhau… lao dốc lần nữa đi. Chúng tôi lần theo những bậc thang trèo lên đồi. Tôi lại đỡ Nadia lên xe, mặt nàng tái nhợt, và toàn thân run run. Chúng tôi lại lao xe về phía vực thẳm khủng khiếp và, gió lại gào, tiếng đế xe trượt lại rít lên. Và cũng đúng vào lúc chiếc xe lao nhanh nhất, tiếng gió gào rít ghê gớm nhất, tôi lại nói thì thào: -Nadia, anh yêu em! Khi chiếc xe dừng lại, Nadia vội đưa mắt nhìn quanh quả đồi mà chúng tôi vừa trượt xuống, rồi nhìn đăm đăm vào mặt tôi, lắng nghe giọng nói thờ ơ lãnh đạm của tôi và toàn thân nàng, cả từ cái mũ, cái ống lao xỏ tay cho ấm và dáng người nàng nữa, đều toát lên một cái gì đầy hồ nghi khó hiểu. Trên gương mặt nàng như hiện lên các câu hỏi : “Điều gì đã xảy ra? Ai nói nhưng lời ấy? Anh ấy hay là chỉ do ta tưởng tượng?” Điều bí ẩn ấy làm nàng không yên lòng chút nào, nàng không chịu được nữa. Cô bé đáng thương ấy không trả lời nổi những câu hỏi, nét mặt nàng rầu rĩ như muốn khóc. -Chúng ta về nhà thôi nhé? – Tôi hỏi. -Không, không… tôi thích… trượt xe thế này. – Nàng nói, mặt ửng đỏ lên – Hay là chúng ta cùng nhau trượt lần nữa đi? Nadia nói rằng nàng “thích” cái trò trượt này, thế mà khi ngồi lên xe, nàng vẫn run, gương mặt nàng vẫn tái nhợt, hơi thở vẫn ngắt quãng vì sợ hãi như những lần trước. Lần thứ ba chúng tôi trượt xuống. Tôi thấy nàng đăm đăm nhìn lên mặt tôi, theo dõi đôi mối tôi. Nhưng tôi lấy chiếc khăn tay che miệng đi rồi khẽ đằng hắng lên mấy tiếng, và khi chiếc xe đang lao xuống khoảng lưng chừng đồi, tôi còn kịp nói: -Nadia, anh yêu em! Điều bí ẩn vẫn là điều bí ẩn! Nadia im lặng, nàng đang nghĩ ngợi điều gì… Tôi tiễn nàng từ sân trượt về nhà. Nàng cố đi chậm lại, chờ xem tôi có nói với nàng những lời ấy không. Tôi cảm thấy tâm hồn nàng đang đau khổ, nàng đang cố dằn lòng để khỏi phải thốt lên: “Không, gió không thể nói được những lời ấy! Mà tôi cũng không muốn tin rằng gió đã nói những lời ấy!” Ngày hôm sau, tôi nhận được một mảnh giấy của nàng: “Nếu hôm nay anh có đi trượt tuyết, anh đến rủ tôi cùng đi nhé!” Từ hôm đó, ngay nào tôi và Nadia cũng lên đồi và mỗi lần lao xuống thung lũng, tôi lại thì thào nhắc lại những lời đó: -Nadia, anh yêu em! Chẳng bao lâu sau, Nadia quen nghe những lời ấy như quen uống rượu, hay dùng moocfin. Nàng không thể sống thi61u những lời đó nữa. Thực ra, lao xe từ trên đồi xuống vẫn đáng sợ như xưa, nhưng giờ đây chính cái nguy hiểm, cái kinh sợ đó lại đem đến một cái gì đặc biệt đắm say cho những lời yêu đương ấy, những lời vẫn còn là một điều bí ẩn và dằn vặt lòng người như trước… Kẻ bị nghi ngờ vẫn là gió và tôi… Ai, gió hay là tôi, đã thổ lộ với nàng những lời nói yêu đương ấy, nàng không biết được, nhưng hình như nàng không để ý đến điều đó nữa bởi vì, uống rựou từ bình nào, có gì đang bận tâm đâu, cốt sao say được thôi… |
Tiếp
Có lần vào một buổi trưa, đến sân trượt một mình, tôi đi lẫn trong đám đông và bỗng nhìn thấy Nadia đang đi về phía đồi và đưa mắt nhìn tôi… Rồi nàng chậm chạp bước theo bậc thang trèo lên đỉnh đồi… Trượt xe một mình thật đáng ghê sợ biết bao, ôi, thật đáng ghê sợ! Mặt nàng tái nhợt, trắng như tuyết, toàn thân nàng run rẩy, nàng bước đi như đến nơi chiu án tử hình, nhưng nàng vẫn xăm xăm đi, đầu không ngoái lại. Chắc là cuối cùng nàng quyết định thử xem nàng còn nghe thấy những lời ngọt ngào say đắm ấy nữa không, khi không có tôi bên cạnh? Tôi nhìn thấy nàng tái nhợt, miệng há ra vì sợ hãi; ngồi lên xe, nhắm mắt lại và, sau khi vĩnh biệt trái đất, bắt đầu lao xuống chân đồi … Bên tai nàng tiếng gió gào, tiếng đế xe rít… Nadia có nghe thấy những lời đó nữa không, tôi không biết…Tôi chỉ thấy nàng bước ra khỏi xe một cách mệt nhọc, gần như kiệt sức. Qua nét mặt nàng có thể thấy rằng chính nàng cũng không biết nàng có nghe được những lời đó hay không. Nỗi sợ hãi khi xe lao xuống đồi đã làm nàng không còn khả năng nghe được, phân biệt được các âm thanh, không còn khả năng hiểu nữa… Thế rồi những ngày xuân tháng ba đã tới … Mặt trời như trở nên dịu dàng hơn. Quả đồi tuyết của chúng tôi bắt đầu sẫm lại, dần dần mất cái vẻ óng ánh của nó, và cuối cùng thì tan đi. Chúng tôi thôi không trượt xe băng nữa. Cô bé Nadia đáng thương cũng không còn nơi nào để nghe những lời đó nữa, và cũng không có ai nói những lời ấy nữa, bởi vì gió thì không cần thổi nữa, mà tôi thì sửa soạn đi Petecbua – đi rất lâu, có lẽ là suốt đời. Có lần khoảng hai ngày trước khi đi Petecbua, vào một buổi chiều tà, tôi ngồi trong khu vườn nhỏ. Một hàng rào cao có đinh nhọn ngăn cách khu vườn ấy với sân nhà Nadia… Trời hãy còn lạnh, tuyết hãy còn đọng lại dưới những đám phân trộn lẫn rơm rạ, những cây cối trơ trụi như đã chết… nhưng hương vị mùa xuân đã đến, từng đàn quạ bay về tổ, trú đem kêu lên quàng quạc. Tôi đến bên hàng rào và ghé nhìn qua khe hở. Tôi thấy Nadia bước ra thềm và đưa mắt nhìn lên trời buồn bã… Làn gió xuân nhẹ thổi qua khuôn mặt nhợt nhạt rầu rĩ của nàng… Làn gió xuân gợi lại cho nàng cái tiếng gió rít trên đồi tuyết, khi nàng nghe thấy bốn tiếng ấy; và gương mặt nàng trở nên buồn bã lạ thường, nước mắt lặng lẽ chảy trên má… Cô bé đáng thương đưa hai tay mình về phía trước như muốn cầu xin làn gió đem đến cho nàng những lời yêu đương đó một lần nữa… Và tôi, chờ khi có làn gió đến, thì thào nói: -Nadia, anh yêu em! Trời, điều gì đã xảy ra với nàng lúc ấy? Nadia khẽ kêu lên và khuôn mặt nàng bỗng chan hoà một nụ cười rạng rỡ. Nadia đưa hai tay lên đón lấy gió, trông nàng lúc ấy thật là đẹp xinh và hạnh phúc. Còn tôi, tôi trở vào nhà và đi thu xếp đồ đạc. Chuyện ấy đã qua lâu rồi. Bây giờ Nadia đã có chồng - gia đình gả chồng cho nàng hay nàng tự nguyện lấy? - điều ấy cũng chẳng có gì đáng bận tâm. Chồng nàng là thư ký hội đồng giám hộ quý tộc. Nadia đã có ba con. Nhưng chút kỉ niệm cùng nhau trượt băng và gió lúc ấy đem đến cho nàng bốn tiếng : "Nadia, anh yêu em!" thì không quên được. Đối với nàng, giờ đây, điều ấy đã trở thành kỷ niệm hạnh phúc nhất, xúc động nhất, đẹp đẽ nhất trong đời nàng… Còn tôi, bây giờ tôi đã đứng tuổi, tôi không hiểu nổi vì lẽ gì tôi đã nói những lời đó, làm sao lúc ấy tôi đã đùa với nàng như thế… 1886 |
Trích:
Đọc xong truyện ngắn này, đầu tiên là cảm giác rất khôi hài, nhưng dần có chút gì đó đắng đắng. Tại sao cô gái không hỏi thẳng chàng trai, và chàng trai có thật là chỉ "đùa" thôi không nhỉ? À mình xin trích lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Tuân: Trích:
|
Trích:
Trong trường hợp là có liên quan, thì hoàn toàn kết luận được, quan điểm (chưa phải là luận điểm) của bác về cả ba nhà văn này cùng nghệ thuật truyện ngắn của họ là rất phiến diện, thậm chí có phần nghiêng lệch quá đáng. Có vẻ như - theo cảm nhận của riêng em - bác quá tôn sùng văn học Nga thế kỷ XIX, và không biết nhiều lắm (chưa nói là hiểu) về tiến trình cũng như hệ thống các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại (lấy dấu mốc là 1925 khi tiểu thuyết “Tố Tâm” của Song An Hoàng Ngọc Phách ra đời). Mà có lẽ, bác cũng không hiểu lắm, “lãng mạn” là gì. Thực tế, ba nhà văn này đều có điểm chung : Viết văn để kiếm tiền - cũng như nhiều tác gia khác. Nhưng có điều, đó là công việc gần như duy nhất để tồn tại của họ. Tuy rằng, trong số đó chỉ Nam Cao là mang gánh nặng gia đình quá lớn, nên đôi khi có người tưởng chất văn của ông… chẳng biết thế nào là lãng mạn. Nhưng hãy đọc “Một đám cưới”, “Giăng sáng”, “Đời thừa”, và nhất là “Chí Phèo” – những tác phẩm dễ tìm thấy nhất. Tạm gọi đó là bút pháp lãng mạn, nhưng được ẩn giấu dưới vỏ bọc hiện thực. Cái lãng mạn, cái bay bổng chịu sự chi phối của hiện thực cuộc sống, nhưng nó vẫn phát lộ qua cách nghĩ và hành động của nhân vật. Tuy rằng không chấp nhận hiện thực, nhưng cái lãng mạn có thể xem là chất xúc tác để xoa dịu hiện thực quá tàn nhẫn. Có thể nhắc đến những tâm niệm của Điền về nghệ thuật, hay là mối tình của Chí Phèo - Thị Nở. Cái mối tình vừa bi vừa hài đó có thể gây liên tưởng tới Quasimodo và Esmeranda, hay Carmen và Don José… Trước khi bước vào nghề văn, Nam Cao đã từng lang bạt khắp đất nước, nếm trải đủ mọi khổ nhục của thân phận trí thức trong một xã hội kim tiền (tài cao phận thấp chí khí uất), điểm đặc biệt là Nam Cao rất đam mê sách, có lẽ ông đến với văn chương nhiều phần cũng vì quá mê sách. Tác phẩm của Nam Cao có thể thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của văn học lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, và một chút văn học cổ điển Trung Hoa - rõ nhất là “Tam quốc diễn nghĩa”, một tác phẩm đậm chất anh hùng ca. Nó thể hiện qua cách Nam Cao mô tả cử chỉ, hành vi nhân vật, đó là cái cười của Bá Kiến, hay thú chơi sách cổ điển, thích bình phẩm thiên hạ của nhà văn Hoàng… Còn Nguyễn Công Hoan có biết thế nào là lãng mạn không ư ? “Kiếp hồng nhan”, “Tắt lửa lòng”, “Lá ngọc cành vàng”… liệu còn thiếu ? Nếu như nói “Một khía cạnh nữa trong truyện ngắn của Sêkhốp là sự tinh tế trong trẻo đầy chất thơ trong những chuyện ngắn lãng mạn - điều hoàn toàn thiếu vắng trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan (tất nhiên đây là do nguyên nhân khách quan như hoàn cảnh sống...)”, điều này thật quá bất công với những nhà văn luôn trăn trở với hiện thực đời sống. Bởi vì chất lãng mạn trong văn chương Nam Cao, Nguyễn Công Hoan hoàn toàn là cái lãng mạn ẩn giấu, không lộ liễu, cũng không phô trương - đây có thể xem là sự ảnh hưởng rõ ràng nhất của phong cách Tự lực văn đoàn, nhóm bút đã phủ bóng cả một thời đại văn học đỉnh cao. Chất lãng mạn của các nhà văn Việt Nam trước 1945 là sự tiếp nhận có độ dày văn học lãng mạn Pháp cổ điển, trong khi đó, chất lãng mạn trong tác phẩm của A.Chekhov, có vẻ như gần gũi với Charles Dicken hơn, cái bi ở đằng sau cái hài, cái kệch cỡm, nhưng cái lãng mạn thì phát lộ ở cường độ mạnh, gần như không có sự ẩn sâu. Trong khi với Nam Cao và Nguyễn Công Hoan, cái hài và cái bi lại đan xen nhau, tương hỗ nhau. Điểm cuối, càng không thể nói rằng, “bi kịch người trí thức của Nam Cao chỉ thường tập trung vào cái vòng luẩn quẩn cơm áo gạo tiền của chính gia đình anh ta, còn người trí thức của Sêkhốp ôm ấp gánh nặng của cả thời đại: họ mong muốn có thể cải tạo xã hội (Ngôi nhà có căn gác nhỏ, Con bệnh) hoặc muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn (Người đàn bà có con chó nhỏ)”, đó lại càng phiến diện hơn. Bởi về căn bản, xã hội Nga thế kỷ XIX và xã hội Việt Nam trước 1945 không có sự khác nhau bao nhiêu, ngoại trừ Việt Nam là một nước nửa thuộc địa, còn đế quốc Nga là một nước độc lập. Xã hội đế quốc Nga và Việt Nam đều là kiểu xã hội phong kiến đang chuyển mình trên con đường tư bản hóa, sự chênh lệch địa vị, vật chất giữa các tầng lớp, giữa thành thị với nông thôn đều rõ rệt. Tác phẩm của cả ba nhà văn này đều không tập trung vào một hình tượng đơn nhất, mà mở rộng ra với toàn xã hội - thượng vàng hạ cám – có ông quan chức, mụ nông dân, thằng phu xe, thậm chí là những cô gái làng chơi… Tác phẩm của Chekhov đa phần là nhân vật có nguồn gốc thành thị, sống ở nơi thành thị, còn Nam Cao thì các nhân vật đa phần ở nông thôn, riêng Nguyễn Công Hoan thì đồng đều hơn cả. Đó có thể xem là do hoàn cảnh sống chi phối sáng tác. Nói riêng về hình tượng người trí thức, thì Nguyễn Công Hoan không chủ trương viết về loại nhân vật này, nhưng Chekhov và Nam Cao thì có, có nhiều. Nhưng : \\\ họ mong muốn có thể cải tạo xã hội - Nếu Chekhov có “Ngôi nhà có căn gác nhỏ”, “Con bệnh”, thì Nam Cao cũng có “Đời thừa”, “Giăng sáng”, “Đôi mắt”, “Truyện biên giới”… \\\ muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn – Luận điểm này thực sự không rõ ràng, bởi luận điểm trên đã hàm chứa mất rồi. Những phát ngôn có vẻ như bốc đồng của Hộ (Đời thừa) về công việc sáng tác của mình, tuyên ngôn nghệ thuật của Điền (Giăng sáng), hay quan điểm trái ngược nhau của Hoàng và Độ (Đôi mắt), đó có phải là tiếng nói của người tri thức đứng giữa thời đại không ? |
Trích:
Tôi hỏi bác bói khắp các tác phẩm của NC và NCH cũng không thể" có những chuyện như "Chuyện đùa nho nhỏ" , Thảo nguyên hay Vera được. Tất nhiên điều đó là do hoàn cảnh sống khác nhau nhưng chính ở sức bao quát nhiều mặt như vậy mà mà Sêkhop mới trở thành một tượng đài của văn học thế giới .... Sozi là tôi quên chưa nói chỉ liệt kê những tác phẩm của NC trước CM thôi. |
Trích:
Không hiểu sao mỗi khi đọc lại chuyện này mình lại vang lên bên tai bài hát Em đia qua tôi, qua tôi tóc xanh 18 hồn nhiên giữa đời....Ôi bao giờ trở lại ngày xưa???i Về câu hỏi của bạn, tôi không phải là một chuyên gia văn học nên không dám gọi là đưa ra câu trả lời. Chắc là Vania sẽ có câu trả lời chuẩn xác. Nhưng theo suy đoán của tôi thì buổi chiều tịch dương ám chỉ đến chế độ Nga Hoàng đang suy tàn ... |
Trích:
|
Trích:
À xin bác cũng đừng so sánh mối tình của Chí PHèo - Thị Nở với Quasimodo và nàng Esmeralda hay Carmen với tên cướp Jose nữa nhé, mà bác có lẽ nói đúng chúng ta không cùng quan điểm nên đành làm hai đường thẳng song song vậy :emoticon-0116-evilg |
Trích:
Như mình đã nói ở trên, mối quan hệ này rất trong sáng và lãng mạn. Nó như giọt sương ban mai long lanh trên ngọn cỏ, như vầng trăng 13 chuẩn bị sáng tròn. Vì không có sự thề bồi hay sâu nặng gì nên nếu không thành thì cũng không ai phải đau khổ hay giận hờn gì cả nhưng cũng vì thế mà nó trở thành một kỷ niệm ngọt ngào mà chúng ta - nhất là những kẻ lãng mạn- sẽ ôm ấp và mang theo đi suốt cuộc đời... Hay nếu Rowens đã đọc "Đôi bạn" thì chắc bạn cũng sẽ đồng ý với mình là có phảng phất hình bóng của Nadia và Tôi trong đó... Mượn lời Thế Lữ để kết thúc bài này Ôi cái thủa ban đầu lưu luyến ấy Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên |
Những câu chuyện tình buồn
Nếu như "Một chuyện đùa" là một kỷ niệm trong trẻo và lãng mạn của tuổi thanh niên mới lớn thì "Verơska" và "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" lại để lại trong lòng người đọc nỗi buồn man mác về chuyện tình yêu không thành. Bối cảnh của cả hai câu chuyện đều ở nông thôn. Tôi - chàng họa sỹ trong "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" khi đến ở nhà bạn - đã lần tình cờ đã gặp và quen với hai chị em Liza và Mi-xuyt. Vẻ ngây thơ, trẻ trung của Mi-xuyt đã làm trái tim chàng họa sỹ thổn thức nhưng tiếc thay cô chị Liza - một người có vai trò trụ cột trong gia đình lại không tán thành mối quan hệ này bởi dưới mắt nàng "họa sĩ chỉ là môt kẻ lông bông không đáng tin cậy". Liza tìm cách chia cắt hai người và Mi-xuyt đã đi nước ngoài mà không được gặp mặt người yêu để từ giã. Tuy chuyện tình của Mi-xuyt và họa sĩ chỉ là nét điểm xuyết trong chuyện nhưng với tài năng của Sê khốp đôi uyên ương bị chia rẽ giữa chừng đã lay động bao thế hệ người đọc. Và cho đến ngày nay, câu hỏi kết của chuyện "Mi-xuyt, giờ này em ở đâu?" vang lên trong tâm trí không chỉ riêng chàng họa sỹ mà tất cả tất cả những người đã, đang và sẽ đọc Sêkhốp. Với Verơska, người đọc được làm quen với một cô gái bình dị ở nông thôn. Theo quan sát của nhân vật nam chính từ thủ đô xuống, đó là một cô gái có duyên, ưa nhìn và hấp dẫn. Mọi chuyện không có gì đặc biệt vì anh yêu quý tất cả các thành viên trong gia đình Verơska. Gia đình cô đã đón tiếp anh nồng nhiệt và giúp anh hoàn tất được công việc thống kê tẻ nhạt trong mấy tháng trời. Vì vậy cô đã gây bất ngờ cho anh khi đề nghị được tiễn chân anh trong buổi tối anh từ biệt gia đình để quay trở lại thủ đô. Và còn bất ngờ hơn nữa, ....khi ngồi nghỉ chân tại cây cầu trước lúc tiễn biệt, cô đã tỏ tình với anh. Đây có thể nói là một ....cuộc cách mạng khi nhân vật nữ giành nói lời yêu trước. Tôi thật sự xúc động về sự giản dị của Verơska, cô nói lời yêu một cách mộc mạc, không chút màu mè hoa lá. Và đến lúc này độc giả mới biết đến con người thực sự của Vêrơska. Dưới bề ngoài "ít nói, xuyềnh xoàng.." là một sức sống tràn trề và mạnh mẽ. Cô không là một cô gái "thuần dịu" như anh đã tưởng, cô có khát vọng được sống một cuộc sống khó khăn để khẳng định bản thân mình. Cô chán ghét cuộc sống tại nơi cô ở, nơi mọi người đều no đủ, tẻ nhạt và tốt bụng giống nhau. Và nam nhân vật chính chính là người đàn ông lý tưởng mà cô tìm thấy được, ở anh có sự lịch thiệp của học vấn, có sự từng trải về tuổi đời cũng như kinh nghiệm sống...Cô tôn thờ anh và muốn được đi cùng anh.... Nhưng, vâng lại một chữ nhưng nữa, nhiệt huyết và trái tim nồng cháy của cô đã gặp phải sự thờ ơ hay chính xác hơn là vô cảm của nhân vật chính. Anh chỉ thấy ước mơ của cô thật trẻ con và tệ hơn nữa là ...lãng xẹt. Anh không yêu cô, chính xác hơn là không có cảm xúc để dành cho yêu đương - một thứ xa xỉ đối với nam nhân vật chính. Hai trái tim không cùng nhịp đập, Verơska buồn bã và hổ thẹn bỏ về....để lại nam nhân vật chính cũng bối rối và khổ sở không kém. Anh hiểu rằng không đáp lại được tình cảm của Verơska, anh đã đánh mất một thứ quý giá ma có lẽ trong suốt cuộc đời còn lại anh không thể gặp được lần thứ hai...Và cùng với cô, tuổi trẻ của anh đã ra đi mãi mãi.... Một chuyện tình dang dở và một tình yêu đơn phương. Cả hai đều buồn nhưng không bi lụy khiến ta phải rơi nước mắt cũng không mãnh liệt để ta phải quên ngủ quên ăn. Nó bâng khuâng man mác như làn gió cuối thu làm chiếc lá vàng khẽ rơi trên mặt nước, như cơn mưa tí tách nhỏ hạt một đêm khuya thanh vắng. Nó gợi lại trong ta những điều tốt đẹp mà ta vô tình hay cố ý đã để mất trong khi con tàu thời gian không ngừng lăn bánh đưa ta đến những điều có thể tốt hơn có thể xấu hơn nhưng không bao giờ giống được như thế... Toi, tu te souviens de moi? |
Trích:
|
Từ nguồn tư liệu sưu tầm được, xin gửi đến các bác một số truyện ngắn của Tchekhov. Nếu như trùng lặp đâu đó, xin lượng thứ. Còn bình luận thì là việc của các bác:emoticon-0155-flowe
(Những chuyện này do ĐTA dịch) A. Tchekhov Agaphia Hồi còn ở huyện C-M tôi thường hay tới khu vườn Dubovski chỗ người coi vườn tên là Savưm Stukacha, thường gọi là Savka. Tôi rất mê khu vườn đó. Đây là chỗ lý tưởng cho cái gọi là thú câu cá toàn diện, khi mà đã rời khỏi nhà rồi là không còn biết tới ngày giờ, lỉnh kỉnh xách theo đủ mọi thứ đồ câu và thực phẩm dự trữ. Thực ra câu cá không hấp dẫn tôi bằng những buổi lang thang vô tư lự, ăn uống không giờ giấc, truyện trò với Savka và những cuộc đối mặt kéo dài với những đêm hè tĩnh lặng. Savka là một chàng trai hai mươi lăm tuổi, người cân đối, đẹp trai và rắn khoẻ như đá lửa. Xem ra hắn là người khôn ngoan, hiểu biết, ít uống rượu, nhưng với tư cách người lao động thì con người trẻ khoẻ ấy chẳng đáng giá một đồng xu. Bên cạnh sức lực trong những bắp thịt săn chắc cuồn cuộn như dây chão của hắn là tính lười biếng ghê gớm, một thứ lười biếng bất khả chiến thắng. Như mọi người trong thôn, hắn có nhà của mình, có ruộng đất, nhưng hắn không cày xới, không gieo hạt và không làm bất cứ công việc nhà nông nào. Mẹ hắn phải đi ăn mày ăn xin các nhà, còn hắn thì sống tự do như chim trời: buổi sáng không biết buổi trưa ăn gì. Cũng không phải hắn không đủ nghị lực, quyết tâm hay tình thương đối với mẹ già, mà đơn giản là hắn không cảm thấy hứng thú đối với công việc và không thừa nhận lợi ích của lao động... Toàn bộ con người hắn toát lên sự bình thản, sự đắm say bẩm sinh, gần như nghệ sỹ, đối với cuộc sống vô tư lự và buông thả. Mỗi khi, theo bản năng, cái cơ thể trẻ trung, khoẻ mạnh ấy có nhu cầu phải làm một việc chân tay nào đó, thì chàng trai này dốc toàn tâm toàn ý không được lâu cho một công việc tự do, song rất vớ vẩn, đại loại như đẽo những chiếc cọc chẳng cần cho ai, hay chơi trò đuổi bắt với đám đàn bà con gái. Trạng thái yêu thích nhất của hắn là ngồi tập trung bất động. Hắn có thể ngồi yên lặng hàng giờ liền một chỗ, không động đậy và nhìn vào một điểm. Hắn chỉ vận động theo hứng, và cũng chỉ khi nào có dịp phải làm một động tác nhanh và bất ngờ, như tóm đuôi con chó, kéo khăn của một mụ nào đấy hay phải nhảy qua hố. Tất nhiên vì lười chuyển động như thế nên hắn nghèo kiết xác, tứ cố vô thân như chim đại bàng và sống khổ sở hơn bất cứ kẻ độc thân nào. Thời gian trôi qua, thuế má ngày mỗi tích lại, và người ta đã chọn cho hắn một công việc của người già: làm người canh gác và con bù nhìn ở khu vườn rau công cộng. Mọi người cười giễu hắn vì cái công việc già trước tuổi đó, song hắn cũng chả để ý, chẳng lấy làm phiền. Cái chỗ yên tĩnh đó thật tiện cho việc ngồi bất động mà chiêm nghiệm, thật phù hợp với bản tính hắn. Có lần tôi ở cạnh hắn vào một trong những buổi tối tháng năm đẹp trời. Còn nhớ tôi nằm trên đống cỏ mới cắt ngay cạnh túp lều sực nức mùi cỏ khô. Gối hai tay sau gáy, tôi nhìn về phía trước. Dưới chân tôi lăn lóc mấy chiếc cào gỗ. Sau đống cào là chú chó nhỏ của Savka, con Kutka, như một đốm đen đập ngay vào mắt, và cách con Kutka không xa mấy, ước chừng hai sazen, mặt đất bị cắt đứt đột ngột bởi bờ sông dốc đứng. Vì đang nằm nên tôi không thấy được dòng sông. Tôi chỉ nhìn thấy những ngọn cây miên liễu chen nhau, tạo thành khúc cong ăn lẹm vùng bờ đối diện. Phía xa sau bờ sông, trên một quả đồi sẫm màu, những ngôi nhà gỗ của thôn Savka chen chúc, nép vào nhau như những chú gà lôi đang hoảng sợ. Đằng sau quả đồi hoàng hôn đang cháy nốt. Chỉ còn một dải đỏ rực, và dải sáng này cũng đang tản ra thành những đám mây vụn, trông như tàn than. Bên trái khu vườn, rừng trăn đang tối dần, khẽ thì thầm và thỉnh thoảng lại giật mình bởi những cơn gió thổi tới bất ngờ, bên trái là cánh đồng trải rộng đã không còn trông rõ hình thù. Phía xa, nơi trong ráng chiều chập choạng mắt người không phân biệt được đâu là ranh giới giữa cánh đồng và bầu trời, một đốm lửa nhấp nháy sáng rực. Savka ngồi cách xa tôi một chút, chân xếp bằng tròn theo kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, đầu cúi xuống đăm chiêu nhìn con Kutka. Đám bạn câu của chúng tôi từ lâu đã ở dưới mép sông, bởi vậy chẳng còn việc gì để làm ngoài ngồi chơi, điều mà Savka, một người nghỉ ngơi không biết mệt, rất thích. Hoàng hôn còn chưa tắt hẳn, đêm hè đã dịu dàng ôm lấy cảnh vật. Tất cả chìm vào giấc ngủ say đầu tiên, chỉ có con chim nào đó mà tôi không biết tên đang cất tiếng kéo dài và lười biếng trong rừng, nó ngắt câu ra từng từ rời rạc, giống như: “Có thấy Ni-ki-ta không?” và lập tức tự trả lời: “Có thấy! Có thấy! Có thấy!” - Giờ này mà chưa thấy hoạ mi hót nhỉ? - Tôi hỏi Savka. Chàng trai chậm rãi quay đầu lại phía tôi. Đường nét trên khuôn mặt anh ta thô, song rõ ràng, gợi cảm và mềm mại, giống như mặt phụ nữ. Sau đó hắn nhìn khu rừng, rặng liễu bằng đôi mắt dịu dàng, suy tư, rồi chậm rãi lấy từ trong túi áo một cây sáo nhỏ, đưa lên miệng thổi những tiếng giống như tiếng hót hoạ mi. Ngay lập tức, đáp lại tiếng sáo của hắn, phía bên kia sông chim kec cất tiếng kêu. - Hoạ mi của ngài đấy... - Savka cười mỉa. - Gíec - giécg! giéc - giecg! giec-giecg! cứ như thể nuốt phải móc câu ấy, thế mà cũng đòi hót. - Tớ lại thích loại chim này... - tôi nói. - Cậu có biết không, vào mùa thiên di chim kec không bay mà chạy trên mặt đất. Nó chỉ bay qua sông và qua biển, còn lại là chạy bộ hết. - Rõ đồ chó con... Savka lẩm bẩm và nhìn một cách kính nể về phía con chim đang kêu. Biết Savka là người thích chuyện, tôi kể cho hắn nghe tất cả những điều đọc được về chim kec trong cuốn sách đi săn. Từ chim kec tôi chuyển sang kể về mùa di cư của loài chim lúc nào không hay. Savka chăm chú nghe tôi, không chớp mắt, và luôn nở một nụ cười thoả mãn. - Thế vùng nào là quê hương chính của lũ chim - hắn hỏi. - chỗ chúng ta hay chỗ đó? - Tất nhiên là chỗ chúng ta. Ở đây chim sinh ra, rồi chúng lại sinh con đẻ cái, đây là quê hương của chúng, còn chỗ đó chỉ là nơi chúng trú tạm để tránh rét. - Lạ thật đấy! - Savka vươn vai. - Ông chủ nói điều gì cũng lạ cả. Chim ư, người ư, kể cả hòn đá kia nữa, mỗi thứ đều có trí tuệ của mình! Gía biết ông chủ ở đây thì tôi đã chẳng cho nó đến... nó tới ngay bây giờ đấy... - Không sao, cứ việc tự nhiên, tôi không làm phiền mọi người đâu! - tôi nói. - Tôi có thể nằm ngủ trong rừng... Lại còn thế nữa! Có chết ngay đâu mà ngày mai chẳng tới được... giá mà nó chịu khó ở đây ngồi nghe những câu chuyện như thế này, chỉ được cái lúc nào cũng nhổ nước bọt. Có nó đố nói được chuyện gì cho ra hồn. - Cậu chờ Daria à? - Tôi hỏi Savka, sau một lúc yên lặng. - Không, hiện giờ là cô khác... Agaphia Strenchikha... Savka nói những từ này một cách tự nhiên, hờ hững, bằng một giọng khàn khàn, như thể nói về điếu thuốc lá hay đĩa cháo, tôi ngạc nhiên tới mức bật nhổm dậy. Tôi biết Agaphia Strenchikha... đó là một cô gái còn trẻ măng, khoảng 19-20 tuổi gì đó, và mới lấy chồng năm ngoái. Chồng cô ta là người kiểm tra đường tàu, một chàng trai trẻ, tốt tính. Cô ta sống trong thôn và anh chồng về với vợ mỗi đêm sau khi tuần tra xong tuyến đường. - Người anh em ạ, những cuộc vụng trộm như thế này rồi sẽ kết thúc chẳng ra sao đâu! Tôi thở dài. - Ôi dào, mặc kệ... Nghĩ một lúc, Savka nói thêm: - Thì tôi cũng đã nói rồi đấy chứ, mà bọn họ có chịu nghe đâu... lũ ngốc ấy chết cũng đáng! Im lặng một lúc... bóng tối càng lúc thêm dầy đặc, mọi vật nhạt nhoà, mất đi đường nét của mình. Dải sáng đằng sau quả đồi tắt hẳn, còn những ngôi sao mỗi lúc một thêm trong trẻo, sáng rỡ... Tiếng dế mèn đơn điệu, rầu rĩ, tiếng kêu giật giọng của chim kec, tiếng con cun cút không phá vỡ cảnh tĩnh mịch ban đêm, mà ngược lại, làm cho nó thêm phần đơn điệu. Dường như không phải những con chim, hay loài sâu bọ, mà là những ngôi sao đang nhìn chúng tôi từ trên trời cao, khẽ cất tiếng kêu làm mê hoặc thính giác... Savka là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng. Hắn chậm chạp đưa mắt từ con Kutka sang tôi và nói: - Ông chủ, tôi thấy ông có vẻ buồn chán rồi. Hay chúng mình ăn tối đi. Và không đợi tôi có đồng ý hay không hắn bò toài vào trong lều, lục lọi gì trong đó làm cả túp lều rung lên như một chiếc lá; sau đó bò toài trở ra và đặt trước mặt tôi chai vốt-ka và một chiếc bát sành. Trong bát là những quả trứng luộc, những chiếc bánh làm từ bột tiểu mạch kẹp mỡ muối, mấy miếng bánh mì đen và vài thứ gì đó nữa... Chúng tôi uống vốt-ka từ chiếc cốc méo mó không dựng đứng được và bắt đầu ăn... Những hạt muối to màu xám, những miếng bánh kẹp mỡ muối không mấy sạch sẽ, những quả trứng luộc chưa kĩ nhũn nhẽo, đàn hồi như cao su, nhưng bù lại tất cả mọi thứ đều rất ngon! - Cậu sống độc thân, vậy mà hưởng đủ mọi thứ, - tôi nói, chỉ vào chiếc bát đựng thức ăn. - Cậu lấy đâu ra những thứ này vậy? - Mấy mụ đem tới... - Savka lúng búng. - Vì sao mà họ lại mang tới cho cậu? - Thế đấy... chắc là thương hại... (còn tiếp) |
Agaphia (tiếp)
Và không chỉ có cái ăn, các thứ mà Savka mặc trên người cũng mang dấu vết “thương hại” của đàn bà. Thì cũng tối hôm đó tôi để ý thấy hắn thắt một chiếc thắt lưng mới dệt từ những sợi len nhỏ, trên cái cổ cáu bẩn của hắn đeo một sợi giây đỏ chót treo một chiếc thập ác nhỏ bằng đồng. Tôi đã hiểu sự yếu đuối của phái đẹp đối với Savka, và cũng hiểu rằng hắn không thích nói về điều đó, nên không tiếp tục hỏi nữa. Nhưng mà cũng chẳng còn thời gian để mà hỏi... con Kutka vẫn quanh quẩn cạnh chúng tôi nhẫn nại đợi được vất cho thức ăn, bỗng nhiên vểnh hai tai nghe ngóng. Từ xa vọng lại tiếng khoả nước rời rạc. - Có ai đấy đang lần theo chỗ nước nông... - Savka nói. Khoảng ba phút sau Kutka lại gầm gừ và sổ ra những tiếng giống như tiếng ho. - Sứch! - Ông chủ suỵt nó. Trong bóng đêm nghe rõ tiếng những bước chân dè dặt, và từ trong khoảng rừng thưa xuất hiện một bóng đàn bà. Tôi nhận ra cô ta, cho dù trời rất tối, - đó là Agaphia Strenchikha. Cô bước không mấy quả quyết tới chỗ chúng tôi, dừng lại, thở gấp. Cô thở gấp không hẳn vì đi bộ, mà chắc là vì sợ hãi và cảm giác khó chịu khi ban đêm phải lội nước. Nhìn thấy cạnh túp lều đáng lẽ chỉ một người, lại là hai, cô khẽ kêu và bước lùi lại một bước. - A... cô đấy à! - Savka lên tiếng, miệng đang còn nhai miếng bánh. - Vâng, là tôi, - cô gái lúng túng nói, đánh rơi bọc khăn đựng gì đó xuống đất và đưa mắt nhìn tôi. - Chào anh, Iakov nhà tôi bảo chuyển cho anh... mấy thứ gì đó. - Thôi, bịa chuyện làm quái gì: Iakov! - Savka cười mỉa. - Chả việc gì phải nói dối, ngài đây biết cô tới vì việc gì rồi! Ngồi xuống, cô là khách của chúng tôi. Agaphia liếc nhìn tôi rồi ngập ngừng ngồi xuống. - Vậy mà tôi lại nghĩ hôm nay cô không tới...- Savka nói sau hồi lâu im lặng. - Sao lại ngồi thừ ra thế? Ăn đi chứ! Hay rót cho cô ít vôt-ka? - Chỉ vẽ chuyện! Agaphia lẩm bẩm. - Cứ làm như tìm được một con mụ nát rượu không bằng... - Cô cứ uống đi... Trong lòng sẽ thấy ấm hơn đấy... Nào! Savka đưa cho Agaphia cái cốc nhỏ méo mó. Cô chậm chạp uống hết chỗ vôt-ka, không dùng đồ nhắm, chỉ khà một tiếng rất to. - Xem cô nàng mang gì đến nào... - Savka vừa nói, vừa cởi nút khăn và tiếp tục với giọng, bỡn cợt, coi thường. - Đàn bà không thể nào đến mà lại không mang theo một thứ gì đó. A, bánh ngọt, lại cả khoai tây nữa kìa... Họ sống sướng thật đấy! Hắn thở dài, ngoảnh lại phía tôi. - Toàn thôn chỉ có vợ chồng nhà họ là còn có khoai tây để từ mùa đông thôi! Trong bóng tối tôi không nhìn rõ mặt Agaphia, nhưng căn cứ theo chuyển động đôi vai và cái đầu, tôi biết rằng cô ta không rời mắt khỏi khuôn mặt Savka. Để khỏi trở thành người thứ ba thừa trong cuộc hẹn hò, tôi quyết định đi dạo và nhổm dậy. Nhưng đúng lúc đó trong rừng hoạ mi cất lên giọng contranto, gần một phút sau là một tràng những âm thanh lảnh lót cao vút. Sau khi thử giọng của mình theo kiểu như thế, hoạ mi bắt đầu hót. Savka nhỏm dậy, lắng nghe. - Con hôm qua đấy! - hắn nói. - Hượm đã!... Và hắn rời khỏi chỗ ngồi, không một tiếng động chạy vào trong rừng. - Thôi đi, làm sao cậu bắt được nó nào? - Tôi gọi với theo hắn. - Dừng lại! Savka khoát tay - đừng có kêu lên thế - và biến vào bóng đêm. Khi nào muốn, Savka là một tay săn thú hay bắt cá thiện nghệ, song ở đây tài năng của hắn cũng bị tiêu phí chẳng khác gì sức lực của hắn. Hắn thuộc loại lười biếng điển hình, và toàn bộ thú đam mê săn bắt đối với hắn xem ra cũng chỉ là trò ảo thuật, tiện gì làm nấy. Đấy, ngay lập tức hắn chạy đi bắt chim hoạ mi bằng tay không, hay bắt cá măng bằng lao, có lần hắn đứng hàng giờ đồng hồ dưới sông cố sức câu con cá nhỏ bằng cái lưỡi câu to tướng. Còn lại một mình với tôi Agaphia khẽ ho và mấy lần đưa tay lên xoa trán... Cốc vôt-ka làm cho cô bắt đầu say. - Cô sống ra sao, Agaphia? - tôi bắt chuyện sau hồi lâu im lặng, khi thấy im lặng lâu như thế quả là bất tiện. - Nhờ trời... Xin ông chủ đừng kể lại với ai... - cô nói thêm, giọng thầm thì. - Thôi đi nào, - tôi trấn an cô, - Cô quả là táo bạo quá đấy, Agaphia ạ... Nếu Iakov biết thì làm thế nào? - Không biết được đâu... - Nhưng ngộ nhỡ bất thình lình! - Không, hôm nào cháu cũng về trước anh ấy. Hiện anh ấy đang ở trên tuyến và chỉ trở về khi chuyến tàu bưu điện chạy qua, mà ở đây nghe rõ khi nào tàu đến... Agaphia lại lấy tay lau trán và nhìn về phía Savka vừa đi khỏi. Hoạ mi vẫn hót. Có con chim đêm nào đó bay sát mặt đất và nhận thấy chúng tôi bỗng giật mình, quạt mạnh cánh và bay về phía bờ sông bên kia. Chẳng bao lâu hoạ mi ngừng hót, song vẫn không thấy Savka quay lại. Agaphia đứng lên, lo lắng bước vài bước, rồi lại ngồi xuống. - Anh ấy làm sao thế nhỉ? - không nhịn được cô bật nói. - Tàu hoả có phải mai mới tới đâu! Cháu phải đi ngay bây giờ rồi! - Savka! - tôi gọi , - Savka!. Không ai đáp lại tôi, kể cả tiếng vọng. Agaphia cử động bồn chồn rồi lại bật dậy. - Cháu phải đi đây! Cô nói nhanh bằng một giọng lo lắng - Tàu tới bây giờ! Cháu biết lúc nào thì các chuyến tàu chạy mà! Người đàn bà bất hạnh đã không nhầm. Không quá mười lăm phút sau từ xa vọng lại tiếng ầm ầm của đoàn tàu. Agaphia nhìn chằm chằm thật lâu về phía khu rừng và sốt ruột động đậy hai tay. - Anh ấy ở đâu mới được chứ? Cô vừa nói vừa cười một cách kích động - Có con ma nào bắt mất anh ấy vậy? Cháu đi đây! Ông chủ ơi, cháu đi đây! Trong khi đó tiếng ầm ầm nghe rõ hơn. Có thể phân biệt được cả tiếng bánh sắt nghiến đường ray, tiếng thở hồng hộc của ống khói. Sau đó tiếng còi tàu rúc lên, đoàn tàu ầm ầm lao qua cầu... một phút nữa - tất cả lại trở nên tĩnh lặng... - Cháu đợi thêm một phút nữa... - Agaphia thở dài, ngồi xuống một cách dứt khoát. - Muốn ra sao thì ra, cháu cứ đợi! Cuối cùng thì Savka cũng xuất hiện từ trong bóng tối. Hắn đi chân không nhẹ nhàng giẫm trên mặt đất vườn tơi sốp, khẽ ư ử hát những câu gì đó. - Thế mới là sướng chứ, - hắn cười vui vẻ. - Chỉ vừa mới chạm tới bụi cây, chỉ vừa mới đưa tay ra định vồ, thế mà nó im ngay được! Ax, đồ chó ghẻ! Mình đợi mãi, đợi mãi, chờ cho nó hót lại, ấy thế mà nó chẳng thèm hót cho... Savka vụng về nằm vật xuống cạnh Agaphia và, để giữ thăng bằng, hắn túm cả hai tay ngang eo cô. (còn tiếp) |
Agaphia (tiếp)
- Sao em lại cau có thế, như thể bà bô đang rặn ra em vậy. - Hắn cợt nhả. Savka coi thường phụ nữ bằng tất cả sự vô tâm hồn hậu của mình. Hắn đối xử với họ một cách khinh thị, bề trên và thậm chí cười nhạo cả tình cảm của họ đối với chính bản thân hắn. Trời biết được, có thể cách đối xử khinh thị, xem thường đó lại là một trong những nguyên nhân của sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt, không thể cưỡng lại được của hắn đối với đám Đusina nhà quê này. Hắn đẹp trai, cân đối, trong đôi mắt hắn bao giờ cũng ánh lên sự dịu dàng kín đáo, thậm chí cả khi hắn nhìn những người đàn bà mà hắn khinh rẻ. Nhưng chỉ bằng những phẩm chất bên ngoài thì cũng không thể giải thích hết được sự hấp dẫn đó. Ngoài cái ngoại hình trời cho ấy cùng với kiểu cách đối xử độc đáo, cần phải hiểu rằng, sức lôi cuốn phụ nữ còn ở cái vai cảm động mà hắn đang đóng, vai một kẻ không gặp may và bị xua đuổi khỏi nhà của mình đến sống ở vườn rau. - Hãy kể cho ông chủ biết cô tới đây làm gì! - Savka tiếp tục, vẫn ôm ngang eo Agaphia - Nào, kể đi chứ, người đàn bà có chồng! Hố-hố ... Chúng mình chẳng có gì để mà mất, người anh em Agasa, thế nào, làm một chút vôt-ka nữa chứ? Tôi đứng dậy, đi giữa những luống rau dọc theo khu vườn. Những luống rau đen sẫm trông tựa những ngôi mộ lớn, bèn bẹt. Từ đó thoảng mùi đất mới xới và mùi ẩm nhẹ của những cây rau mà sương đêm bắt đầu phủ... Phía bên phải đốm lửa đỏ vẫn lập loè cháy. Nó vui vẻ nháy mắt và dường như đang mỉm cười. Tôi nghe thấy tiếng cười hạnh phúc. Đó là tiếng cười của Agaphia. “Thế còn tàu hoả? - Tôi chợt nhớ ra. - Đoàn tàu đã đi qua từ lâu”. Chờ một lúc tôi quay trở lại túp lều. Savka ngồi xếp chân bằng tròn theo kiểu Thổ Nhĩ Kỳ và khẽ ư ử hát một bài hát nào đó gồm toàn những từ đơn âm, đại loại: “Phù, em, nào em... anh và em...”. Agaphia say vì rượu, vì sự âu yếm khinh thị của Savka, vì không khí oi ả ban đêm, đang nằm cạnh hắn, mặt rụi vào đầu gối hắn. Cô chìm đắm sâu vào tình cảm của mình, đến nỗi không nhận thấy sự có mặt của tôi. - Agasa, tàu đã chạy qua lâu rồi đấy! Tôi nói. - Đến lúc rồi, đến lúc rồi, - Savka hưởng ứng, lắc lắc đầu. - Sao lại nằm ườn ra thế hở đồ vô sỉ! Agaphia cựa mình, nhấc đầu khỏi đầu gối hắn, nhìn tôi và lại đổ xuống cạnh hắn. - Đáng ra phải về từ lâu rồi đấy! - Tôi nói. Agaphia xoay người rồi nhổm dậy, quỳ xuống một bên đâu gối... Cô đau khổ. Trong một phút toàn bộ thân hình của cô mà tôi có thể nhìn thấy được qua màn đêm, biểu lộ sự giằng co, lưỡng lự. Một thoáng nào đó dường như cô chợt tỉnh, vươn toàn thân toan đứng dậy, nhưng ngay lập tức một sức mạnh nào đó không sao cưỡng lại được lại đẩy cô ngã vật xuống cạnh Savka. - Thây kệ! - cô nói cùng với tiếng cười man rợ phát ra từ lồng ngực, và trong tiếng cười đó thấy rõ sự cả cương quyết mất hết lí trí, sự bất lực và nỗi đau. Tôi im lặng lần vào rừng, rồi từ đó đi xuống sông, nơi thả những chiếc cần câu đêm của chúng tôi. Con sông đang ngủ. Một bông hoa nhỏ nào đó mềm mại, nhiều cánh trên một chiếc cọng dài khẽ chạm vào má tôi. Không có việc gì làm, tôi sờ một cần câu và kéo lên. Sợi dây câu hơi bị căng rồi treo lên lơ lửng - chẳng có con cá nào... bờ bên kia và thôn xóm đã không còn thấy rõ. Trong một ngôi nhà gỗ nhấp nháy ánh đèn, nhưng chẳng bao lâu vụt tắt. Tôi tìm kiếm một hồi trên bờ sông, cuối cùng tìm thấy cái hõm nhỏ mà ban ngày tôi đã để ý, rồi ngồi ngả người vào đó như ngồi trên ghế bành. Tôi ngồi rất lâu... Tôi nhận thấy những ngôi sao mờ dần, đánh mất sự trong trẻo, lung linh của mình, cái lạnh đang hà hơi thở nhẹ xuống mặt đất và khẽ làm lay động đám lá của những cây liễu đang chìm trong cơn mơ... - A-ga-phia!... - từ trong thôn vọng tới tiếng gọi . - Agaphia! Đó là tiếng gọi của người chồng trở về đang lo lắng đi tìm vợ mình trong thôn. Cùng lúc đó trong vườn rau vọng lại tiếng cười không nén được: người vợ đã quên lãng, đang say sưa và cố tận hưởng hạnh phúc trong mấy giờ để bù lại sự trừng phạt của người chồng phải chờ cô vào ngày hôm sau. Tôi thiếp đi. Khi tôi tỉnh giấc nhìn thấy Savka đang ngồi bên cạnh đang khẽ lay vai tôi. Dòng sông, khu rừng, hai con bờ, cây cối đã tắm rửa sạch sẽ, thôn xóm và cánh đồng - tất cả chìm trong ánh sáng ban mai rực rỡ. Qua những thân cây thanh mảnh đập vào lưng tôi những tia nắng mặt trời vừa mới nhô lên. - Ông chủ câu cá như thế này đấy à? - Savka khẽ cười mỉa. - Nào, xin ngài dậy cho! Tôi đứng dậy, vươn vai khoan khoái và lồng ngực vừa mới tỉnh ngủ của tôi thèm thuồng uống lấy làn không khí ẩm ướt, ngát hương. - Agasa về rồi à? - Tôi hỏi. - Cô ấy kia kìa, - Savka chỉ về phía quãng sông cạn. Tôi nhìn theo và thấy Agaphia, tay vén váy, trông lôi thôi, nhàu nhĩ với chiếc khăn tuột khỏi đầu, đang lội qua sông. Hai chân cô chậm chạp lần từng bước... - Con mèo đã biết ăn vụng phải miếng thịt của ai rồi! - Savka lẩm bẩm, nheo mắt nhìn cô. - đi mà cái đuôi cứ quặp vào... lũ đàn bà này liều mạng như như mèo, lại nhát gan như thỏ... Tối qua nói mãi thì không chịu về, đồ ngu! Bây giờ thì lãnh đủ, lại còn lôi tôi vào cuộc nữa chứ... lại vì mấy mụ đàn bà mà phải choảng nhau nữa đây... Agaphia đã lên tới bờ và đang đi trên cánh đồng về thôn. Lúc đầu cô ta bước có vẻ mạnh mẽ lắm, nhưng lúc sau nỗi sợ hãi, hồi hộp choán lấy cô: cô sợ sệt ngoái đầu, đứng lại để lấy sức. - Xem kìa, sợ rồi! Savka khẽ cười buồn, nhìn theo vệt màu xanh sáng trên đám cỏ sương mà những bước chân Agaphia để lại. - Không dám bước tiếp nữa! Thằng chồng đã đứng đó chờ cả tiếng rồi, ông chủ có nhìn thấy không? Savka mỉm cười lúc nói những từ cuối, còn tôi thì thấy ớn lạnh dưới tim. Trong thôn, bên cạnh ngôi nhà cuối cùng, Iakop đang đứng trên đường nhìn chằm chằm vào cô vợ đang quay trở về. Anh ta không động đậy, im lìm như một cái cột. Anh ta nghĩ gì khi nhìn thấy vợ? Những từ ngữ nào anh ta đã chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này? Agaphia dừng lại một chút, lại ngoái lại như cầu cứu chúng tôi, rồi lại bước tiếp. Chưa khi nào tôi nhìn thấy một dáng đi như vậy, không ra say, không ra tỉnh. Agaphia như rúm ró lại trước cái nhìn của chồng. Cô đi lúc thì theo kiểu dích dắc, lúc cứ như dậm chân tại chỗ, đầu gối khuỵu xuống, hai tay buông thõng, lúc thì đi giật lùi về phía sau. Đi thêm ước chừng trăm bước nữa, cô quay lại phía sau một lần nữa, rồi ngồi thụp xuống. - Giá cậu nấp vào bụi thì có phải anh chồng không nhìn thấy không... - Tôi nói với Savka. - Chẳng cần phải thế hắn cũng biết Agaphia từ chỗ nào đi ra. Chẳng ai chăm bắp cải trong vườn vào ban đêm cả - mọi người đều biết. Tôi nhìn lên mặt Savka. Một khuôn mặt nhợt nhạt, rúm ró lại bởi một sự thương hại kinh tởm, thường vẫn thấy khi con người chứng kiến cảnh súc vật bị hành hạ. - Thật là một cảnh mèo vờn chuột, mèo thì cười, chuột thì khóc... Hắn thở dài. Bỗng nhiên Agaphia vụt đứng dậy, lắc đầu và mạnh bạo tiến thẳng về phía người chồng. Chắc cô đã lấy lại được sức lực và sự cả quyết. (End) |
Đợi mãi không thấy các bác nhắc đến một truyện mà em đã đọc bản dịch tiếng Việt.
Đọc từ ngày còn trẻ con nên cố nhớ mãi mà không nhớ được tên. Bác nào nhớ ra tên tiếng Việt, hoặc tiếng Anh, hoặc tiếng Nga, làm ơn nhắc em nhớ với. Kính các bác. Nội dung chuyện kể về một chàng bất hạnh. Ngày ngày nhìn sang nhà hàng xóm để thấy người yêu cũ nay đã thành vợ người ta. Nhìn nàng bị gã chồng vũ phu và say rượu đối xử tàn tệ mà chàng bất hạnh không biết làm sao. Kết của câu chuyện, chàng bất hạnh vội bỏ đi lấy củi về cho người yêu, kẻo lò sưởi nhà nàng tắt thì nàng sẽ bị gã chồng đánh nữa :( |
Mình rất thích truyện ngắn của Antôn Sê khốp, trước đây đọc qua bản dịh của Phan Hồng Giang được một số truyện, rất may là vào đây lại được đọc thêm mấy bài hay.
Cảm ơn các bạn đã dịch những truyện này |
CÁI CHẾT CỦA MỘT VIÊN CHỨC Смерть чиновника Vào một buổi tối thú vị, Ivan Dmitryevich Chervyakov, một viên chức quản trị hành chính không kém phần thú vị hơn, đã ngồi ở hàng ghế bành thứ hai, giương ống nhòm lên sân khấu mà xem vở "Chuông Kornevin". Y vừa xem vừa cảm thấy trong lòng khoan khoái vô cùng. Bỗng dưng...Trong các truyện thường gặp chữ “bỗng dưng” này. Các tác giả đã có lý : cuộc đời quả là đầy rẫy những chuyện bất ngờ. Bỗng dưng mặt y nhăn nhó, mắt hoa lên, hơi thở nghẹn lại... y rời mắt khỏi chiếc ống nhòm, hơi cúi xuống và... hắt xì !!! Các bạn thấy đấy, y đã hắt hơi. Không ở đâu lại có lệ cấm người này người nọ hắt hơi cả. Người nhà quê hắt hơi, cảnh sát trưởng hắt hơi, và đôi khi cả các viên chức bậc ba cũng hắt hơi. Ai mà chẳng hắt hơi. Chervyakov không hề cảm thấy ngượng ngùng chút nào, y lấy khăn mùi soa ra lau, và như một người lịch sự, y nhìn quanh xem thử cái hắt hơi của mình có trót làm phiền ai không ? Liền đấy y cảm thấy bối rối. Y nhìn thấy một người đã có tuổi ngồi trên hàng ghế đầu ngay phía trước y đang lấy găng tay cẩn thận lau cổ và cái đầu hói của mình, mồm càu nhàu câu gì không rõ. Chervyakov nhận ra vị có tuổi là tướng Brizzhalov đương nhiệm tại tổng cục đường sắt. “Mình làm bắn nước bọt vào ngài rồi! – Chervyakov nghĩ – Không phải thượng cấp của mình, ở nơi khác, nhưng dù sao thì vẫn không hay ho gì. Phải tạ lỗi mới được”. Chervyakov dặng hắng, nghển cổ ra trước, thì thào vào tai vị tướng : - Thưa ngài, ngài thứ lỗi cho, tôi trót hắt hơi... tôi vô ý... - Không hề gì, không hề gì... - Ngài làm ơn làm phúc tha lỗi cho. Tôi... tôi... không muốn thế đâu ạ! - Thôi! Anh làm ơn ngồi yên cho! Để tôi xem nốt! Chervyakov ngượng ngùng, bối rối cười ngây ngô và lại nhìn tiếp lên sân khấu. Xem thì vẫn xem nhưng không còn cảm thấy khoan khoái nữa, trong lòng đầy thắc thỏm lo âu. Đến giờ giải lao, y mon men đến chỗ Brizzhalov, loanh quanh một lúc rồi đánh bạo lắp bắp nói: - Tôi... tôi trót hắt hơi vào ngài... Xin ngài... thứ lỗi cho...Tôi không... không cố ý... thế. - Ôi dào, đủ rồi... Tôi đã quên rồi mà anh còn cứ nói mãi! – viên trưởng nói, môi dưới dề ra, tỏ vẻ sốt ruột khó chịu. “Ngài nói ngài quên mà mắt ngài trông giận dữ thế, - Chervyakov nghĩ, hồ nghi liếc nhìn viên tướng – Ngài cũng không muốn nói nữa. Cần phải thanh minh với ngài rằng quả thật là mình không hề cố ý... rằng đó là quy luật của tự nhiên, không thì ngài lại nghĩ rằng mình muốn làm bắn nước bọt vào ngài. Bây giờ chưa nghĩ thế nhưng sau này có thể nghĩ...” Khi về nhà, Chervyakov kể lại chuyện xảy ra cho vợ nghe. Nhưng y cảm thấy vợ mình quá xem thường chuyện đó, bà ta chỉ hoảng sợ một chút thôi nhưng sau khi biết ngài là thủ trưởng ở nơi khác thì yên tâm trở lại. - Nhưng mà thôi, ông cứ đến gặp ngài mà xin lỗi đi, - bà ta nói – Không thì ngài có thể nghĩ rằng ông không biết xử sự cho phải nhẽ ở nơi công cộng! - Đúng là phải thế! Tôi đã xin lỗi rồi nhưng thái độ của ngài có vẻ khác thường làm sao ấy... Ngài không nói một lời nào đứng đắn cả. Ừ mà cũng chẳng có lúc nào để nói cho ra đầu ra đũa... Ngày hôm sau, Chervyakov mặc bộ lễ phục mới, húi đầu tử tế rồi đi đến chỗ Brizzhalov để thanh minh. Bước vào phòng khách của tướng Brizzhalov, y trông thấy nhiều người đang đợi xin gặp và cạnh họ là chính ngài Brizzhalov lúc này đã bắt đầu nghe các lời thỉnh cầu. Hỏi một vài người xong, vị tướng đưa mắt nhìn Chervyakov. - Dạ thưa ngài... hôm qua ở rạp Arkady ngài còn nhớ không ạ, - viên quản trị bắt đầu bẩm báo, - tôi... tôi hắt hơi... trót bắn dãi rớt vào... Xin... xin ngài... - Rõ thật vớ vẩn... Có trời biết là thế nào nữa! Anh muốn gì nào? - vị tướng quay sang hỏi người tiếp theo. “Ngài không muốn nói chuyện với mình! – Chervyakov tái mặt nghĩ - Thế là ngài giận đấy... Không, không thể để thế được. Mình phải thanh minh với ngài....” Khi viên tướng đã nói chuyện xong với người thỉnh cầu cuối cùng và đi vào làm việc ở nhà trong, Chervyakov bèn bước theo và lắp bắp nói: - Thưa ngài, nếu tôi có cả gan dám làm phiền ngài thì cũng chỉ vì, thưa ngài, tôi hối hận lắm ạ!... Tôi không cố ý đâu ạ, chắc ngài đã rõ! Viên tướng cau mặt khoát tay: - Này anh kia, có phải anh định giễu tôi không thì bảo! – viên tướng nói và đi vào trong phòng, đóng cửa lại. “Mình giễu cợt gì mới được chứ? – Chervyakov nghĩ - Ở đây hoàn toàn không có chuyện gì đáng cười cợt cả! Ngài làm tướng mà ngài không hiểu. Nếu vậy thì mình sẽ không đến gặp ngài để xin lỗi nữa. Thôi mặc ngài! Mình sẽ viết cho ngài một bức thư, còn đến đây gặp thì thôi! Ôi dào, thôi không đến nữa!” Chervyakov đã nghĩ ra thế khi trở về nhà. Thư gửi cho viên tướng y không viết. Y nghĩ hoài, nghĩ mãi cũng không biết phải viết như thế nào. Hôm sau, y lại đến đấy thanh minh lần nữa. - Hôm qua tôi có đến làm phiền ngài. - Y lắp bắp nói, khi viên tướng đưa mắt về y với ý hỏi - Dạ, không phải là để cười cợt như ngài đã có lời phán đâu ạ. Xin ngài thứ lỗi vì khi hắt hơi đã làm bắn nước bọt ạ... chứ tôi không có ý giễu cợt gì đâu ạ. Tôi đâu dám cười cợt ạ ? Nếu như tôi mà giễu cợt thì còn đâu là sự kính trọng... các bậc bề trên nữa ạ... - Cút ngay !! Viên tướng quát to, người run lên, mặt tái xanh vì giận dữ. - Sao... kia ạ ? - Chervyakov khẽ hỏi lại, lặng người đi vì sợ hãi. - Xéo ngay !! - Viên tướng giậm chân quát. Trong bụng Chervyakov như có cái gì vừa bị dứt ra. Không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì, y đi giật lùi ra cửa, bước ra ngoài phố và lê bước quay về. Đi về nhà như cái xác không hồn, y mặc nguyên bộ lễ phục, nằm xuống đi văng và tắt thở... |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 08:32. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.