Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=67)
-   -   Một trang dành cho Thụy Anh (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=1337)

hungmgmi 07-01-2009 12:16

Một trang dành cho Thụy Anh
 
Hungmgmi đã đọc khá nhiều những bài viết của Thụy Anh trên mạng, trên báo Tiền Phong...Cô từng sống ở Nga, viết truyện ngắn, tản văn, dịch truyện ngắn, dịch thơ.... Tình cờ đọc được truyện ngắn Tuyết ấm của Thụy Anh trên báo Phụ Nữ Thủ Đô số Tết, hỏi qua một nhà thơ thì có được số điện thoại của cô. Gọi điện, và nhờ Thụy Anh gửi bản đánh máy qua mail để giới thiệu với các bạn bè trên NNN. Hungmgmi mở trang này, để thi thoảng giới thiệu các bài viết (nếu như tác giả có gửi cho) của một cây bút trẻ và sung sức có nhiều duyên nợ với nước Nga.

Xin mở đầu bằng truyện ngắn Tuyết ấm

Tuyết ấm

Truyện ngắn của Thụy Anh(từ Liên bang Nga)


Hai tay xách đống quần áo rét và túi thực phẩm, Mai lảo đảo bước ra khỏi taxi. Đi ngang qua một cái cổng vòm, phía dưới có biển đề rất to: “Phòng đăng ký kết hôn”, nơi một đôi cô dâu chú rể đang co ro trong tiết Đông, tay trong tay đợi đến lượt mình, bước thêm vài bước lên một bậc thang cao gập ghềnh dẫn vào một cánh cửa sắt nhỏ sơn xanh đã rỉ, một khung cửa xấu xí và bình thường hơn tất cả các khung cửa bình thường khác trong thành phố này, cô đến được nơi cần đến: Trại tù Butyrka, Sizo* số 2!

Mới có 3 giờ chiều, trời đã tối sầm. Tuyết ướt bám vào giày lạo xạo, hơi ẩm xông lên đến tận đầu. Đầu nhức buốt. Giá mà trời rét đến âm mấy chục độ thì còn dễ chịu. Đằng này, mùa Đông mà nhiệt độ cứ trên số O. Tuyết không rơi nổi, những tảng băng nhuốm màu cũ kỹ, xám bẩn, tan ra, để lại cảm giác lạnh lẽo bao phủ khắp không gian, dường như thế giới đang tan chảy ra không có gì níu giữ lại nổi.

Thế giới của riêng Mai cũng vậy, đã tan ra từ lâu, từ khi Hoàng bị bắt.

Nghĩ đến anh, Mai thấy mắt khô khốc. Giá như cách đây nửa năm thì người ta sẽ thấy cô khóc. Nước mắt làm mắt mờ đi, thậm chí, hai mắt kính của cô cũng có hơi nước. Đợt ấy, cô nghe tin Hoàng bị bắt, không cảm thấy ngạc nhiên, chỉ thấy nỗi sợ hãi xâm chiếm cả người, đến từng tế bào, khiến cố gắng bao nhiêu cũng không giữ nổi cho tay chân đừng run rẩy. Cô cứ ngồi và run như thế cả đêm, cố gắng nghĩ đến các mối quan hệ ít ỏi mà trong những năm tháng du học ở Nga cô đã xây dựng được, xem có ai, có nơi nào giúp được mình không? Cuối cùng thì cô nức lên, gào to thảm thiết: “Mẹ ơi!... Mẹ ơi…!”. Lạ thật, tại sao cô không gọi ai khác, mà lại gọi mẹ, người đã phản đối rất quyết liệt mối tình của cô và Hoàng. Hoàng sang Nga du lịch. Du lịch mà chẳng đi thăm thú đâu cả, thậm chí, Hồng Trường anh cũng chưa từng đặt chân tới. “Du lịch” – thuật ngữ này đối với những người ở Nga có nghĩa là dân làm ăn, buôn bán chứ không phải đi học. Thì sao chứ? Cô yêu anh, vì anh cao lớn, đẹp trai, hiền lành. Anh lại chịu khó nữa. Ngược xuôi làm đủ thứ nghề: buôn mì, giao hàng thuê, chạy taxi cho bà con đi chợ, cuối cùng, anh cũng gây dựng được một “công” bán quần bò ở Salut 3, rồi sau đó, vươn cả ra chợ Vòm.

Tại sao em lại yêu anh nhỉ? Anh cứ hay hỏi, như chẳng bao giờ hết ngạc nhiên, khi cô đến ngồi bên anh, áp má vào vai anh, lúc anh đang…đếm tiền! Nhưng lúc như thế, anh thường vứt toẹt tập tiền xuống thảm, quay lại, vòng tay ôm cô, âu yếm thì thầm vào tai: “Tại sao em lại yêu anh?”

Vì anh nhiều tiền! Cô cười, tay nghịch đống dây chun xanh đỏ anh vẫn dùng để buộc tiền, tung ra cho chúng rối hết cả lên rồi tỉ mẩn ngồi tết thành búi như hồi còn nhỏ thường tết những con rết bằng dây chun chiến lợi phẩm trong trò chơi bắn chun ấy. Cô không biết đếm tiền nên chẳng giúp anh được gì trong việc buôn bán cả. Hồi đầu, khi anh nhờ cô xếp tiền hàng, cô loay hoay đến khốn khổ mà không xếp nổi cho đúng đầu đúng đuôi. Chẳng hiểu sao, cứ động vào đống tiền ấy là cô có cảm giác chóng mặt.
Thế nhưng họ vẫn yêu nhau. Cho dù bạn bè anh không hài lòng về sự vụng về, đoảng vị của cô. Cho dù mẹ cô đã viết rất nhiều thư sang khuyên cô nghĩ lại. Cả mẹ cô, cả bạn bè anh đều nghĩ xa xôi về sự khác biệt giữa hai thế giới của hai người.

Còn hai người thì vẫn cứ yêu nhau. Họ cũng từng nghĩ đến sự khác biệt ấy, và càng nghĩ, càng thấy yêu nhau hơn. Cho đến khi anh bị bắt. Anh dính dáng đến một vụ đòi nợ lớn, một trận ẩu đả và hình như có cả chuyện ngộ sát! Cô biết trước điều đó thể nào cũng xảy ra, vì trên thực tế, anh đã bị người ta lừa. Vốn liếng anh gom định đi Tàu một chuyến đã bị mất sạch. Cô đã khuyên anh chịu đựng như chịu đựng một điều rủi ro trong làm ăn mà chung quanh gần như ai cũng trải qua một đôi lần. Nhưng anh không nghe. Anh không làm gì sai cả, anh chỉ muốn đòi lại những gì thuộc về mình.

Đã chẳng đòi được thì chớ, anh lại còn làm mất tất cả những gì mà cô cho rằng thuộc về cô: đó là anh!

***

Hoàng mân mê chiếc áo khoác cũ, trong lần vải lót có thêu chữ Hoàng màu đỏ. Nét thêu vụng của Mai. Anh mỉm cười, tưởng tượng ra gương mặt chăm chú của cô khi làm việc này. Cô bỏ cả kính ra, mắt dí sát vào tấm áo, chắc hẳn thế. Cô có thói quen kỳ lạ là khi muốn nhìn kỹ một cái gì, cô lại hay tháo kính!!! Cô bảo: “Đeo kính nhìn rõ hơn, nhưng bỏ kính thì tin vào… mắt mình hơn!” Đến buồn cười vì những triết lý ngộ nghĩnh ấy mà cô thường phát biểu với vẻ khoái chí ra mặt! Đôi mắt cận của cô lúc nào cũng như long lanh một thứ ánh sáng ấm áp, cặp kính thường làm ánh sáng ấy rực lên hơn, khiến mỗi lần nhìn cô, anh lại thấy nhẹ nhõm trong lòng. Anh biết ơn cô vì cô chẳng kỳ vọng gì vào anh cả. Cô không nài anh phải cùng đọc sách với cô hay cùng đi xem bảo tàng tranh với hội lớp cô. Không hẳn là anh không thích. Anh chỉ mặc cảm thôi. Anh sợ anh sẽ ngợp trong thế giới của những bức tranh khó hiểu hoặc sẽ im lặng ngớ ngẩn sau khi gấp lại cuốn sách mà cô yêu thích. Anh chỉ có thể nghĩ mà không biết diễn tả suy nghĩ của mình, không biết nói những lời đẹp. Thậm chí, 4 năm làm việc trên đất Nga, anh vẫn không nói được tiếng Nga cho ra hồn ngoài những con số và một vài câu thô tục. Trong sâu thẳm, Hoàng biết, anh không nên yêu Mai. Cô không phải là người anh cần. Anh cần một người đàn bà biết vun vén gia đình, biết chung lưng cùng anh buôn bán, chí ít, thì cũng biết đếm tiền và ghi sổ hàng “xu-khôi”*. Cũng như, cô chẳng nên yêu anh, vì cô cần phải có bên mình một người đàn ông tinh tế, hiểu cô, cùng cô bàn chuyện văn học, cùng phân tích cái đẹp của thơ ca hay những vấn đề lớn lao của lịch sử. (Mai học năm cuối khoa Sử, trường Tổng hợp Lomonosov). Một dạo, từ trong nước có đoàn lưu học sinh sang làm nghiên cứu sinh ở trường cô. Trong đó một anh chàng rất mến Mai. Và cô cũng mến anh này. Cô hay kể về “anh Nam” và cái tần số “anh Nam, anh Nam” bỗng nhiên cứ tăng dần trong các câu chuyện khiến Hoàng nổi cơn ghen. Anh chẳng nói gì, cứ lì lì im lặng. Mai cười, dụi đầu vào ngực anh, nói: “Anh ngốc lắm, em yêu anh vì anh giàu cơ mà! Chẳng ai giàu bằng anh!”

Đó là cái kiểu đùa nghịch của cô, và là cách an ủi của cô đối với anh, với những mặc cảm thường có trong lòng anh. Mọi hôm thì anh cười xòa, giằng cặp kính ra khỏi gương mặt xinh xắn của cô, và gắn môi mình vào môi cô thật lâu, nồng nàn. Nhưng lần đó, anh càng cau có hơn. Chưa bao giờ anh cảm thấy tiền bạc vô nghĩa như lúc ấy!

Bây giờ thì anh ngồi đây, bỏ lại cô với cả cuộc sống đang trôi chảy ngoài kia. Cô sẽ đi đến trường với vẻ ngơ ngác (cái này thì anh hình dung ra rất rõ), mắt sẽ nhìn thẳng mà không thấy ai hết cả. Cô sẽ ngồi ở Thư viện cho đến tối mịt mới về. Rồi vội vã ăn mấy lát bánh mì trứng cá – là món cô ưa thích, uống cốc trà và lên giường thao thức. Anh biết rõ cô thao thức vì đêm nào tim anh cũng nhức nhối, nhao qua nhao lại trong lồng ngực, dù đã 6 tháng trôi qua. Cô hay bảo anh, nếu khi nào anh thấy nôn nao trong người, và tim anh nhao đi một cái, là lúc đó, em đang nhớ đến anh. “Thế nếu khi ấy em đang ngồi cạnh anh thì sao? “Ngồi cạnh thì vẫn nhớ chứ, anh không biết à?”
Anh ân hận vô cùng. Lang bạt xứ người, lại còn rơi vào vòng tù tội. Khổ không chỉ mình mình, làm khổ cả cô gái mến thương của anh!

Căn phòng của anh giờ chỉ có hai người. Hình như, điều này cũng là do cố gắng của Mai ở bên ngoài. Anh lờ mờ cảm thấy thế, vì hồi đầu, anh bị giam chung trong một gian lớn, có tới … 60 tù nhân! Những dãy giường sắt lạnh kê song song. Những bức tường láng bóng sơn màu vàng nhạt chứ không có lớp giấy bồi, buổi tối, hắt bóng của mấy chục người lố nhố khiến người tù tưởng như đang lạc vào cõi âm ty, bóng thì nhiều mà âm thanh thì không có mấy. Những kẻ vào đây trở nên rất ít nói, kể cả những người trên gương mặt có nhiều nét cởi mở, hồn hậu. Bọn trẻ thì không nói, chỉ chửi thề, mở mồm là chửi. Anh nghe mãi rồi cũng thấy quen, thậm chí, còn đôi chút dễ chịu nữa. Thế chẳng hơn là màn im lặng quái dị, chỉ có tiếng thở phì phò, tiếng lê bước nặng nề của những tấm thân rệu rã vì tinh thần chán ngán sao? Cùng bị bắt với anh, người vì thương anh mà trở thành tòng phạm là Bình. Bình bé nhỏ nhưng dai sức và nhanh nhẹn. Trong cuộc ẩu đả, cậu ta chính ra đã giành phần thắng. Hăng quá và tỏ ra dữ tợn quá với con dao bài vớ được trong bếp, Bình đã khiến hai người gây ra vụ ngộ sát: một thằng trong hội đã lừa tiền anh nhảy qua cửa sổ vì bị Bình đuổi sát ván. Và nó chết. Lãng xẹt và vô duyên. Còn anh và Bình thì sẽ nhận án tù. Cũng vô duyên không kém. Cuộc đời phơi phới khép lại chỉ vì một cục tiền quái ác nào đó. Giá như anh nghe lời Mai, tưởng tượng rằng cục tiền ấy đã rơi ra từ túi áo anh ở một đoạn đường vắng, thế rồi có một người nghèo rớt mồng tơi nhặt được, và họ đã được đổi đời… Giá như anh có trí tưởng tượng phong phú được như cô!

hungmgmi 07-01-2009 12:17

Anh và Bình bị tách giam riêng, nhưng thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy nhau khi đi dạo dưới sân. Mỗi khi đi dạo, Hoàng thường ngẩng lên nhìn nền trời xám trên khoảng sân bé mà cười buồn. Đây là trại Butyrka, một trại tù cổ hà khắc của Nga, nằm sâu trong lòng thành phố. Anh không tưởng tượng ra nó ở đâu, nhưng nghe cái tên quen lắm, hình như, anh đã từng đi qua, và hình như phố này nằm cách không xa với Salut 3 là bao. Hỏa Lò ở Hà Nội chắc cũng giống như thế này đây. Anh nghĩ, tự nhiên thấy thích thú một cách trẻ con rằng mình đã được đến một trại tù nổi tiếng trong lòng thủ đô nước Nga. Có thể, đây là thu hoạch đầu tiên của cuộc du lịch thăm đất Nga của anh. Mà cũng có thể, hay chắc chắn, đó là chuyến tham quan duy nhất?
Lần cuối gặp Bình, anh được biết, Bình bị lao. Anh lạnh người vì sợ hãi, lắp bắp:
- Đã xin nó thuốc chưa? Nó có cho chữa bệnh không?
- Rồi, nó có cho em thuốc. Mà chỗ em nhiều đứa bệnh lắm. Em bị lây.
Bấy giờ anh mới thấy gương mặt bủng xanh của Bình và đôi vai đã nhọn lên trong lần áo chần bông xanh xám của trại. Anh nói một câu rất vô nghĩa:
- Trời ơi, lây nhanh vậy sao?
- Nhanh chứ, mẹ kiếp, bệnh nó chừa ai đâu! Anh cũng phải cẩn thận. Thôi đừng nói chuyện với em nữa, kẻo rồi khốn!
Hình ảnh cuối cùng anh nhớ về Bình là cái cười hiền hậu sau một tràng ho khan rất dài. Không biết bây giờ Bình ra sao, có đỡ được chút nào chăng? Anh đã hại cậu ấy! Đối với anh, cục tiền đã mất quan trọng vậy sao? Hơn cả tuổi trẻ của Bình? Hơn cả niềm vui giản dị của Mai là lúc nào cũng muốn có anh bên cạnh? Hơn cả mạng sống của cái thằng cu tham tiền nào đó, đồng phạm với hội trấn tiền anh? Và hơn cả cuộc đời có đôi chút vất vả nhưng tự do và vô tư lự của anh?
Đôi lúc, anh những muốn đập đầu vào bức tường loang loáng hình người này đến chết đi, để tự trừng phạt mình, mặc dù, cái chết có lẽ không phải là sự trừng phạt cao nhất. Hoặc ít ra thì cũng mong được nhìn thấy máu chảy từ chính da thịt mình, da thịt mà cha mẹ đã sinh ra, nâng niu chăm bẵm, che chở cho được lành lặn… anh lại mong nhìn thấy nó bị hủy hoại, bị bầm dập, lấy đó làm sợi chỉ khâu lại lương tâm rách nát và đau đớn.


***

Mai bỏ kính, nhìn chòng chọc vào người đàn ông vừa bước vào nhà. Dáng vẻ cao ráo, đầu hơi hói, quần bò xanh, áo vét kẻ sọc, đeo cà-vạt lòe loẹt, đôi mắt bé nhưng ánh nhìn thì sắc và thông tuệ, trông anh ta vừa sáng sủa, vừa kệch cỡm đến buồn cười. Gương mặt có nụ cười nhã nhặn, dễ mến.
- Chị ạ, tôi cũng có nhã ý giúp chị thôi. Chúng ta là người Việt, ở nơi đất khách quê người, phải giúp nhau lúc khó khăn, đúng không chị?
- Vâng, vâng
Như bừng tỉnh sau giấc mộng dài, Mai nhanh nhẹn hẳn lên. Cô pha trà mời khách, đặt trước mặt anh chàng đủ thứ đĩa. Mứt dâu, mật ong, mấy chiếc bánh quy mặn và một vài cái kẹo cất đã rất lâu trong tủ lạnh. Bày biện lên bàn, cô nói liến thoắng, cố gắng giấu sự hồi hộp, trong khi đó, tay bắt đầu run. Mai cảm giác người khách nhận ra được điều đó. Cặp mắt có cái nhìn sắc như mắt rắn ánh lên một tia cười cợt. Cô vội vàng bám chặt vào mép bàn, thở ra một hơi dài trấn tĩnh. Những ngón tay xanh xao vẫn run bần bật. Chúng không chịu nghe lời cô nữa. Cô thấy nước mắt tuôn ra ào ào…
- Kìa em. Bình tĩnh nào!
Đổi cách xưng hô, người đàn ông cầm lấy tay cô, nói những lời an ủi. Thế là cơn nức nở dâng lên không kìm nổi. Cô khóc có dễ đến gần tiếng đồng hồ. Khóc bên một người đàn ông xa lạ, nhưng đã là người thân tự lúc nào, chỉ vì… họ là đồng hương trên mảnh đất lạnh giá này: họ cùng là người Việt. Và anh ta đang muốn giúp cô cứu Hoàng của cô ra khỏi trại giam.

Anh ta tên là Hải, luật sư, rất giỏi, có lẽ vậy, vì có biết bao quan hệ từ trên Sứ cho đến những mạng lưới luật sư và tòa án. Lục lọi trong tập cac-vidit để lộn xộn trong catap, anh ta lẩy ra một cái tên, hình như là trưởng ban chống Tội phạm có tổ chức của Nga. Mỉm cười:
- Em yên tâm, mình cùng bàn bạc, từng bước một… Vụ này dễ mà, vì thực ra anh Hoàng không giết người. Và anh ấy có lý do chính đáng để đi đòi nợ. Mà theo điều… khoản…của Bộ luật hình sự LB Nga thì…
Anh ta nói nhiều lắm. Mai nghe lung bùng trong tai, thấy cái gì cũng đúng quá. Anh ta nói có lý, lại hiểu rõ hết ngóc ngách của sự việc, chứng tỏ, anh ta nghiên cứu vụ của Hoàng lâu rồi. Một lần nữa giữ bàn tay run rẩy của Mai trong bàn tay mềm mại của mình (lạ thật, đàn ông mà sao tay mềm thế!), anh ta đã làm cô hoàn toàn yên tâm.

Đêm ấy là đêm đầu tiên sau sáu tháng xa Hoàng, cô được ngủ một giấc không mộng mị.

Mai không biết rằng trong khi cô ngủ, tuyết đã rơi. Những bông hoa tuyết bắt đầu nở trên cửa sổ phòng cô, đều tăm tắp sáu cánh trắng xóa và nở bung trên bề mặt mờ hơi nước của tấm kính, biến nó thành một bức bản đồ ma trận chỉ đường tới một sứ xở băng giá, xa xôi và hạnh phúc, nơi ngày bé cô thường mơ đến.

***

Tuyết rơi. Hoàng ngồi trên giường, nhìn ra cửa sổ. Mấy tháng ngồi y nguyên một vị trí, anh đã trở thành một người khắc khổ, nếp nhăn hằn sâu trên má và lưng trĩu nặng xuống từ lúc nào. Tuyết đang rơi ngoài kia, làm đêm như sáng lên. Anh miên man nghĩ về Mai. Cô hay bảo, tuyết rơi, dù nhiệt độ thấp đến mấy thì vẫn ấm. Vì tuyết ấm, thậm chí nóng bỏng nữa, chứ không cóng lạnh vô hồn như băng.
Thương em lắm, em bé bỏng của anh. Chắc đời em mà cứ gắn với anh thì cũng chẳng đi đến đâu! Hoàng bật dậy, ngồi hí hoáy viết một lá thư ngắn ngủi cho cô. Nghĩ thì nhiều, viết ra sao mà khó thế. Cũng như bình thường anh chẳng nói nổi một lời mềm mại với cô. Anh chỉ nghĩ thôi, nghĩ dễ hơn nhiều. Anh nghĩ, anh sẽ đề nghị chia tay, nhân dịp này. Dù sao thì trước mắt, với mấy năm nằm trong tù, hẳn rồi tâm hồn anh cũng chẳng còn lành lặn mà trở về với cô. Rồi còn cha mẹ cô, còn tương lai của cô nữa. Nghĩ vậy, nhưng anh không nhấc nổi tay cầm bút. Anh thấy mình giả dối quá. Giống hệt như những lần anh đọc truyện về một người lính bị thương nặng, đã viết thư khuyên vợ quên mình đi. Lần ấy, anh đã cười khẩy và tự nhủ, ông này hoặc là “sến”, hoặc là giả dối. Người đàn bà, khác đàn ông ở chỗ, luôn tự biết mình phải làm gì. Nếu cô ta muốn bỏ đi thì chẳng có lá thư kia cô ta cũng đi. Mà nếu đã yêu, đã quyết gắn bó cả đời với nhau, thì có hàng trăm lá thư cũng chẳng lay chuyển nổi. Lá thư ấy chỉ khiến cô ta đau lòng nhưng lại quyết tâm hơn mà thôi.
Nhưng bây giờ thì anh đã hiểu lòng người lính ấy, như anh lúc này đây, rối bời!

Người cùng phòng với anh là một ông đã đứng tuổi, có bàn tay to rộng với những ngón tay cong queo kỳ quặc. Ông ta hình như là một nghệ nhân thủ công, anh đoán vậy qua những lời kể ào ào như nước chảy của ông. Anh lấy làm tiếc là đã không nghe lời Mai, không chịu đi học tiếng Nga. Mà anh làm sao ngờ được có ngày anh ngồi đối diện với một người Nga, suốt cả ngày cả đêm… để nghe ông ta trần tình như thế này! Ở Salut 3 hay ở chợ Vòm, người Nga cố gắng hiểu anh, miễn là anh nói các chữ số chính xác là được, chứ thường anh chẳng mấy khi căng tai nghe người ta nói. Mà sao người Nga nào cũng hay chuyện, nói đến nhiều. Anh vốn kiệm lời. Ở cạnh ông tù Tây này, anh càng lặng lẽ hơn. Nhưng trong thâm tâm, anh thầm cảm ơn ông già, ông đã làm không gian tù tội của anh thêm chút sức sống. Và nhất là, ông không nói tục, giọng lại khá êm ái, dễ nghe.

Thấy anh ngồi viết thư, ông cũng dậy châm thuốc hút. Mùi khói thuốc nặng nặng của Nga khiến đầu óc anh tỉnh táo. Và anh viết một mạch những gì đang nghĩ, một bức thư dài nhất từ trước đến nay.
Ngoài cửa sổ, hoa tuyết đã đóng kín khung kính. Trên đó hiện lên những con đường tuyết ngang dọc sáng long lanh.

***
Chuyện chạy án, đúng như Mai nghĩ, cần rất nhiều tiền. Cô gom số tiền Hoàng vẫn đưa cô giữ hàng tháng “để dành cho đám cưới”, gộp với số tiền ít ỏi cô đi dạy kèm và dịch thêm… đưa hết cho Hải, anh chàng luật sư nhanh nhẹn kia. Tất nhiên, mọi thứ cũng rất rành rẽ, cô không sợ bị lừa. Này nhá, 10 tờ - là để Hoàng được giam riêng ra, không xô bồ ở gian sảnh lớn nữa. Gần trăm tờ còn lại, Hải sẽ dùng để lo lót viện kiểm sát, công tố viên… và nhiều nhiều những quan hệ khác, có nói cô cũng không hiểu hết được. Cô có muốn đi thăm Hoàng không? Khi tòa chưa xử, người ta không cho thân nhân gặp mặt. Vậy muốn gặp, phải chi độ mươi tờ nữa. Mai cắn môi từ chối, đau quặn cả ruột gan. Cô mong gặp Hoàng biết bao, mong được nhìn thấy gương mặt hẳn là tiều tụy của anh, có cái cằm bạnh ra cương nghị và bướng bỉnh, mờ mờ vòng xanh rì của bộ râu quai nón. Mong nhìn thấy đôi môi ấm áp vẫn cho cô những ngọt ngào. Mong được soi mắt mình vào đôi mắt biết nói, tràn đầy yêu thương của anh. Tự tay cô bóp nghẹt tim mình đau điếng khi lắc đầu nói “Không cần” với luật sư. Số tiền đó cô sẽ dành để làm việc gì đó hợp lý hơn, để anh chắc chắn được thoát vòng tù tội, trở về với cuộc đời và với cô.

Cô tự cắt các khoản chi tiêu mà trước, cô chưa bao giờ nghĩ lại có thể trở nên xa xỉ đối với cô như lúc này. Không mua sách, mua hoa, không đi xem phim, nhà hát, không bảo tàng, thậm chí, hạn chế cả rau cỏ, hành mùi – là những thứ rất đắt đỏ vào mùa Đông. Ngày 15 các tháng, cô vẫn tiếp tế cho Hoàng. Nhưng không còn mua được đồ hạng Nhất như cô vẫn mua cho anh những tháng trước nữa. Bơ, sữa, bánh... cô chọn loại bình dân, riêng thuốc lá, cô vẫn cố gắng mua loại anh hay hút là Parlament Light. Thương anh nhiều lắm, anh biết không?

Thế rồi cũng sắp đến ngày Hoàng ra tòa. Luật sư Hải hớn hở ngồi vạch đường đi nước bước cho cô. Anh ta đang vui và hình như có làm vài chén ở bữa nhậu nào đó về. Mặt đỏ và mắt vằn sáng. Nhìn vẻ hơn hớn của anh ta, cô tự dưng thấy khó chịu, mặc dù những ngày trước đó, chính vẻ mặt ấy đã làm cô bình tĩnh trở lại sau những hoang mang.
- Liệu có chắc… sẽ như anh nói không ạ?
- Chắc chứ sao không? Em tin anh đi. Những chuyện này anh làm mãi rồi. Ngộ sát, mà cũng có phải anh Hoàng làm đâu, thằng cu Bình đi cùng anh ấy dọa người ta đấy chứ! Tội này, cùng lắm là 3 năm. Giết người còn chỉ có 7 năm thôi mà, em ạ.

Vẻ mặt nôn nao của Mai chắc khiến Hải tội nghiệp lắm. Anh ta cười lớn, người ngả ra thoải mái trên ghế bành, miệng nói rổn rảng:
- Năm xưa, có thằng Cộng đốt cả xe lẫn người của thằng Cộng khác, do cạnh tranh làm ăn ấy mà! Biết rõ mười mươi, mà cuối cùng, anh vẫn giúp nó thoát tội đấy. Giờ giàu nhất cái tỉnh đó. Em bảo có thánh không? Hà hà… Kể cũng tội cô vợ tay kia, khi ấy đang về phép. Khi về thì có chồng đưa, lúc sang không còn gì nữa, kể cả xác… Sau cô ta đội sớ đi khắp nơi muốn đòi công bằng cho chồng. Giá biết đường gặp anh cũng đỡ… Làm gì cũng phải có đường, có cửa, em ạ…

Mai nghe có một luồng điện chạy vụt qua lưng. Cô thấy tóc trên đầu như dựng đứng lên, người ớn lạnh, và tay lại bắt đầu run. Trong khi đó, Hải tiếp:
- Nói cho em hay, ngược lại có trường hợp thế này, ngay tại phiên tòa nhá, buổi sáng Tòa vừa định kết luận một thằng vô tội. Mà thực ra nó vô tội thật, nó đi trồng rau, bị thằng khác cũng trồng rau đổ vấy tội cho để xóa sổ ấy mà, nhưng chứng cớ lỏng lẻo, nên tòa nó bác là đúng rồi. Thằng kia đến cầu cứu anh. Giờ nghỉ, anh vào “làm việc”, có vài ba phút thôi, chẳng cần tranh cãi gì nhiều trước Tòa, buổi chiều, Tòa đã tuyên bố cái thằng vô tội trở thành có tội. Bị giam có một năm thôi, chẳng nhiều nhặn gì. Hết một năm, sống sót được mà ra ngoài còn mở tiệc ăn mừng ấy chứ! Nhưng trong một năm đó, thị phần rau cỏ bị giành hết rồi còn đâu. Hì hì, đời… Thật nhiều khi như trò đùa ấy, em ạ. Thằng này sống thì phải có một thằng chết thay! Anh…

Hải ngừng lại, tự cảm thấy lỡ lời. Lúc ấy, mặt Mai đã tái mét đi. Cô thấy ngực đau nhói, không thở mạnh được.
- Em làm sao vậy? Anh xin lỗi, anh vô ý quá.. Chỉ là để em thêm tin tưởng vào anh thôi mà, Mai à!
- Không sao ạ, không sao đâu… Mai yếu ớt nói. Cô cố tập trung hình dung ra gương mặt thân yêu của Hoàng. Cố lên, Mai ơi, chỉ vài ngày nữa thôi là anh đã trở về. Mọi việc lại như xưa. Cuối năm nay mình cưới, phải không? Mai quay sang Hải, hỏi tiếp:
- Vậy, … anh sẽ làm việc thế nào.. ai sẽ thay anh Hoàng em?
- Việc đó là việc của “giới chuyên môn”, em bận tâm làm gì! Miễn là anh Hoàng của em sẽ trở về, thế là anh xong việc, phải không? Mà thường thì cũng không khó kiếm thằng thay thế đâu. Ở các tỉnh lẻ, thiếu gì những thằng cha căng chú kiết không biết tiếng Nga, giấy tờ không có, người thân cũng không. Công an tôm cổ về, ngơ ngơ ngác ngác… rồi cũng chẳng hiểu vì sao mà mình bị ngồi tù… Cho đến khi ra được, kêu la… thì cũng đã xong rồi. Thế đấy.

Một trận cuồng phong bão tuyết nổi lên từ đâu đó, hình như rất xa, mà cũng hình như rất gần, rơi ngay xuống đầu Mai. Tiếng gió rên rỉ não nề. Cô nghe có tiếng người khóc lóc, than van, có tiếng cười khô lạnh của những ai không rõ nữa. Thấp thoáng cả những bóng cây thân trắng hình thù cổ quái, bủa một cái lưới dài vương trắng tuyết khắp các nẻo đường trước mắt Mai. Cô lại hét lên “Mẹ ơi…” thảng thốt trong tiếng gió hú dài. Trên mái nhà tầng cao, tiếng chân người chạy rầm rập. À, không phải chân người, mà là gió, hoặc là bước chân người Trời đùa giỡn với nhau, như cô vẫn thường tưởng tượng trong những đêm gió bão, cô ngồi ngoan như con mèo con trong vòng tay của Hoàng.

***
Hoàng và một số tù nhân đã được chuyển trại đến một nơi rất xa, xa hẳn Matxcơva. Ở đó, anh ít nhận được tiếp tế của Mai hơn, nhưng lại được lao động và thoải mái hơn trong di chuyển. Nếu những ngày ngồi bất động trong xà lim Sizo 2 suýt nữa làm anh trở thành một dạng … cương thi như trong phim bộ Hong Kong, thì trại tù mới trả lại cho anh vẻ hoạt bát vốn có. Khoảng sân đi dạo rộng ra, tầm mắt có thể nhìn xa được đến cánh rừng bạch dương bàng bạc, xam xám và cả vệt rừng thông đen thẫm kéo dài. Ban ngày, cả hội ngồi đẽo những quân cờ. May mắn là Hoàng vẫn được gần gũi với người tù đứng tuổi cùng phòng xưa. Ông là nghệ nhân thật, đẽo gọt những quân cờ đều, đẹp và sinh động. Lấy giấy ráp đánh bóng những quân cờ ấy, ông lại triết lý điều gì đó với Hoàng. Anh cười cười, hiểu lõm bõm được ít từ, vẫn gật đầu thật mạnh. Đã một tháng nay, sau giờ làm việc, anh đều đặn vào Thư viện của trại, ôm cuốn từ điển … học tiếng Nga. Thật ngạc nhiên là quản giáo kiếm được cho anh hai cuốn từ điển Nga – Việt này, cũ kỹ lắm rồi và chằng chịt nét chữ của những người chủ cũ, nhưng đối với anh, thật là báu vật!

“Anh yêu,
Tuần sau là Tết rồi anh ạ. Em có gửi cho anh cái cuốn lịch tay đấy, anh chịu khó đánh dấu từng ngày, kẻo rồi quên sất cả các lễ tết, anh nhé.
Anh biết không, cái thư của anh gửi em ấy, lão Hải mãi mới đưa cho em. Lão ấy điên về chuyện em rút không chạy cho anh ra hẳn. Án nhẹ đi lão ấy cũng kiếm được khá rồi, vậy mà vẫn hậm hực ghê lắm. Nghe tin Bình mất vì bệnh lao, em càng hiểu, em đã quyết định đúng. Nếu anh được thả lúc này, hẳn anh không sống bình tâm được. Đọc cái thư của anh, em biết rõ điều đó.
Mà em cũng chẳng thèm đọc những loại thư kiểu ấy đâu nhé, khuyên răn người ta gì mà buồn cười, lẩm cẩm, sến, và vớ vẩn! Em nói cho anh biết này, chịu khó giữ gìn sức khỏe, sau rồi còn ra đi cày để nuôi em. Em không tự nuôi nổi em đâu, vì em ăn nhiều này, lại còn tiêu pha hoang phí nữa. Vì thế mà em mới chọn anh. Số anh là số giàu mà, em biết! Hi hi.
Mà anh có biết tại sao em nhìn được anh giàu không? Vì anh làm lụng mà không quên bạn, biết chia mối làm ăn cho bạn bè. Vì anh ham tiền mà không quên tình, tháng nào cũng gửi tiền về cho bố mẹ, năm nào cũng cho tiền các em làm ăn, gửi tiền về xây nhà thờ Tổ, đóng góp cho đủ các thứ quỹ thôi! Mà anh giàu nữa vì anh có em, phải không?...”

Hoàng bật cười thành tiếng, âu yếm áp lá thư của người yêu bé bỏng vào ngực mình. Tim anh đập rộn ràng, thấy rõ là Tết đang đến rất gần. Anh chuẩn bị ăn một cái Tết trong tù, một cái Tết buồn, nhưng không tuyệt vọng.

Bên ngoài, trời lại đổ tuyết khiến cho cửa sổ phòng giam sáng trắng lên. Tuyết bông và rất ấm.

Thụy Anh, từ LB Nga

Chú thích:
Sizo: Nơi tạm giam để điều tra
Xu-khôi: bán hàng trả chậm

hungmgmi 07-01-2009 15:27

Một truyện ngắn tiếp theo của Thụy Anh sáng tác cách đây tròn 1 năm. Câu chuyện phản ánh một góc cuộc sống người Việt xa xứ. Nghề trồng rau bán cho người Việt, hình như có ai đó trên NNN đã từng hỏi về điều này. Một kết thúc hơi hẫng, cho cô bé trong truyện và cho chính người đọc.Cuối truyện, có nhắc đến tên bài hát Lusi của Oleg Gazmanov sáng tác cho cậu con trai Rodion Gazmanov hát vào cuối thập niên 80 cuối thế kỷ trước. Trong Video clip của Rodion có chú chó Lusi lông xồm hiếu động, hệt như chú Lusia trong câu chuyện nhảy nhót trên cánh đồng trồng rau ở ngoại ô thành phố....

Lusia


Lusia là một con chó nòi Kavkaz, hai năm tuổi, toàn thân trắng muốt, to lớn như một con gấu vùng Bắc Cực. Mặt nó hiền và ngây thơ kỳ lạ, chẳng khớp với dáng vóc kỳ vĩ của nó. Tôi nhớ mãi hình dáng đẹp lồng lộng của Lusia khi lao từ xa, trên đồng cỏ vàng xanh điểm đầy hoa cúc kim trắng và oải hương tím xanh, dưới ánh nắng chiều hắt rực ửng hồng một góc trời… chạy đến với tôi. Chân trước chồm lên vai tôi, hất tôi ngã xuống cỏ. Hai chúng tôi đùa giỡn một hồi. Mắt Lusia lấp lánh, hình như vui, hình như hạnh phúc lắm. Nó rít lên [B]nho nhỏ, dúi cái mõm ướt rượt vào mặt tôi. Cô nàng Lusia của tôi. Âu yếm và ấm áp làm sao!

Lusia là món quà cha dượng hờ tặng tôi hồi sinh nhật 15 tuổi. Gọi là cha dượng hờ… vì cha là chồng mới không chính thức của mẹ tôi. Cha đẻ của tôi ở Việt Nam, thấy mẹ bảo rằng cha sa vào nghiện ngập, mẹ gửi đơn ly dị về cho cha ký rồi. Tôi không biết mẹ có nói dối để “hợp thức hóa” việc mẹ ở với cha dượng hờ không. Hồi còn bé, tôi cũng chẳng nghĩ làm gì. Dù cho cha nghiện hay không nghiện thì cũng chưa bao giờ cha quan tâm đến tôi. Khi hai mẹ con rời khỏi Việt Nam sang đây, tôi mới 5 tuổi. Đến giờ, tôi chỉ còn nhớ dáng cha ngồi im lìm bên bàn nước có miếng vải giải bàn bị cháy mép do tàn điếu cày của cha sém vào. Gương mặt thì nhòa đi, tôi không hình dung rõ nổi nữa. Mẹ bảo tôi cứ nhìn gương thì nhận ra cha, vì con gái giống cha như đúc. Mắt xếch, lông mi dày, lông mày rậm, gương mặt vuông vừa tử tế, vừa khắc khổ! “Con gái giống cha giàu ba họ” – mẹ tôi nói xong câu đấy thì mỉa mai cười. Tôi ghét kiểu cười ấy của mẹ, nhưng không dám nói gì. Từ khi tôi tròn 15 tuổi, tôi thấy tim nhói đau mỗi khi mẹ cười như thế.

Tôi học trường Nga. Nói tiếng Nga. Chơi với bọn bạn người Nga. Chúng nó cũng yêu quý tôi, nhưng tôi vẫn thấy lạc lõng vì tôi biết rõ mình là người của thế giới khác. Ở lớp tôi, những đứa lớn lên không có cha thì nhiều lắm, quá nửa lớp. Tôi còn khá hơn chúng nó, vì tôi có cha dượng hờ! Thi thoảng cha cũng thay mẹ đến họp phụ huynh cho tôi. Nhưng cha có hiểu cô giáo nói gì đâu! Tiếng Nga của cha “ngắn” lắm. Tôi luôn có cảm giác đau quặn bụng mỗi khi cha hứng chí tán chuyện với cô bán bánh mỳ đầu phố bằng thứ tiếng Nga có dấu của mình (nghĩa là có huyền, sắc, hỏi y như tiếng Việt ấy!) Có lần tôi phải xin cô giáo: “Có gì cô cứ nói với em. Cả cha và mẹ em đều không hiểu tiếng Nga nhiều đâu”! Cô giáo chủ nhiệm tôi cũng có một đứa con không cha. Hôm đầu tiên tới thăm nom nhà cô, đúng kiểu Việt Nam, mặc kệ cho tôi phản đối, mẹ tôi đã bập bẹ hỏi thăm chồng cô… Từ sau đó, cả mẹ và cả tôi đều rút ra một kinh nghiệm, không bao giờ, không bao giờ hỏi thăm chồng của một người đàn bà Nga. Mà kỳ lạ, tôi để ý thấy, những cô giáo trường tôi nuôi con một mình thường là giáo viên dạy Văn. Có lẽ họ dạy Văn nên họ nhân hậu, cả tin và cũng biết chấp nhận hơn chăng, khi một người đàn ông đến với họ rồi lại ra đi, bước chân nhẹ bỗng không vướng bận gì!

Người Việt nói chung thì tôi không rõ. Nhưng như mẹ tôi này, làm ăn buôn bán ở Nga đã chục năm, mẹ không nghèo, đủ tiền nuôi tôi, mà năm nào cũng viết cái thư dài dằng dặc đòi tiền cha đẻ tôi bên nhà… Đòi cha thực hiện “nghĩa vụ làm cha” đối với tôi. Tôi thì nghĩ, may mà có cha thì mới có tôi. Nói về nghĩa vụ, chắc tôi mới là người nợ cha, cho dù tôi chẳng còn nhớ được nổi một ngày từng sống bên cha! Và tôi thương cha, thế mới kỳ lạ! Nhất là từ hôm phải mượn thư viện cuốn “Chó hoang Đin-gô” của Phraerman để đọc thêm ở nhà. Tôi còn nhớ, ngồi bên cửa sổ, cầm cuốn sách đọc đến đoạn Tania gặp lại cha, người cha mà Tania không còn nhớ mặt vì cha mẹ cô chia tay nhau từ lâu, tôi thấy ngực nghẹn thắt lại và mắt thì mờ đi… Cửa sổ nhà tôi nhìn ra một công viên lớn toàn cây là cây. Hôm ấy, cây đồng loạt ngả vàng. Tôi chỉ muốn khóc nức lên… Nhớ cha, người cha tôi cũng đã quên nét mặt. Thương cha. Vì tôi biết cha mẹ tôi không yêu nhau. Nếu từng yêu thì mẹ tôi đã chẳng sòng phẳng với cha như vậy. Tình yêu… tôi biết chứ. Tôi cũng yêu một lần rồi, cách đây hai năm. Thằng Kolia lớp 8, cao nhất lớp, mắt buồn như mắt mấy con bò ở nông trại mà lớp tôi có lần về thu hoạch khoai tây giúp ấy. Hồi đó tôi thích nó vì mắt nó buồn. Tôi hay nhường hết món kotlet (1) trong khẩu phần bữa trưa cho nó. Tôi nhớ mãi vẻ biết ơn và yêu mến trong ánh mắt thắm biếc lên khi tôi đẩy đĩa kotlet sang phía nó. Mặc kệ xung quanh ồn ào tiếng đĩa bát va lanh canh, tiếng nồi xoong trong bếp vọng ra xủng xoảng, tiếng bọn trẻ con buôn chuyện ầm ầm, tôi thấy lúc ấy thế giới thật yên lặng và trìu mến. Tình yêu – đó là sự yên tĩnh của thế giới giữa muôn vàn âm thanh xô bồ của cuộc sống! Thế nhưng, khi tôi lên lớp trên… mà đôi mắt của Kolia vẫn mãi buồn như thế, thì tôi bắt đầu chán. Thế giới trong tôi trở lại ồn ào: tiếng ném cặp sách bình bịch của bọn lớp bé, tiếng cười the thé của mấy chị lớp lớn kể chuyện yêu đương, thậm chí, cả tiếng chổi rễ cây loẹt quẹt ngoài sân xa tít tôi cũng nghe rõ mồn một. Thế là tôi hiểu, mình đã hết yêu! Mắt Kolia vì thế lại càng buồn hơn. Và tôi nghĩ, cha tôi chắc cũng có đôi mắt buồn như thế vì mẹ không yêu cha!

Cha dương hờ cũng tốt với mẹ con tôi lắm. Nhưng tôi chịu, không biết cha dượng và mẹ tôi có yêu nhau không. Mà tôi cũng chẳng tìm hiểu, vì mẹ tôi không có vẻ gì là thiếu thốn tình cảm cả. Mắt mẹ chỉ thoáng có vẻ thất thần khi... “xanh giật” (3) và lấp lánh vẻ đắc thắc khi ngồi đếm tiền hàng. Còn cha dượng không phải ruột rà máu mủ của tôi. Tôi kính nể ông như nể một người lớn. Còn mắt ông có buồn thì tôi cũng không cảm thấy xót xa chút nào!

*

Ngày tôi tròn 15, cha dượng mang Lusia về nhà. Khỏi phải nói mẹ tôi đã hốt hoảng như thế nào. Căn phòng 12m2, có chiếc ri-đô ngăn đôi, bên trong là giường cha mẹ, bên ngoài là phần tôi. Giờ lại lù lù một con chó rõ to xuất hiện. Gian phòng càng trở nên bé tợn. Ba người chúng tôi đi lại đều khép nép. Cha dượng tặc lưỡi: “Cả ngày ngoài chợ, về nhà mấy đâu!” Mẹ cằn nhằn hết cả một ngày nhưng rồi không hiểu sao cũng đồng ý cho Lusia ở cùng chúng tôi. Tôi thì khoái cô nàng ngay vì nhìn nó ấm áp quá. Bộ lông trắng muốt sau khi tắm, lắc khô nước đi rồi, vẫn ánh lên màu bạc long lanh, nhìn thật thích mắt. Người nó to lắm, nặng có dễ đến bảy chục cân! Cha dương tôi đùa: “Cái Yến có thích thì nhảy lên cưỡi, phi như phi ngựa được đấy!” Mà Lusia phi như ngựa thật nếu thả nó ra một đồng cỏ rộng. Đó là về sau, khi chúng tôi được cha dượng chở xuống trang trại trồng rau của cha. Ở đó có những bãi cỏ mênh mông được viền bằng cánh rừng bạch dương hay một vài cụm nhà gỗ sơn xanh, sơn vàng, trên nóc tỏa khói mờ dìu dịu. Tôi và Lusia tha hồ chạy nhảy, tưởng như không bao giờ phải trở về với căn phòng chật hẹp ở trung tâm Moscow nữa.

Một lần, chúng tôi cùng ngẩn ngơ trước một cánh đồng hoa hướng dương bất ngờ xuất hiện trong tầm mắt. Khi ấy là độ tháng 8. Nắng không còn gay gắt nữa và bắt đầu chớm có gió lạnh làm gai người. Những mặt trời nhỏ rực rỡ bừng lên trên đồng khiến cả hai chúng tôi đều mê đi vì vui sướng. Lusia phi một vòng quanh cánh đồng hoa sủa váng lên. Bọn chim chóc trong bụi hốt hoảng bay vèo ra đằng xa. Những con chim xanh đuôi dài đỏm dáng luôn là “đối tượng” của Lusia. Nó đuổi chim nhưng mặt tươi hơn hớn (hay là do tôi tưởng tượng ra nhỉ?) nên trông nó không giống chó săn, mà giống một con gấu ngờ nghệch đáng yêu như kiểu gấu Pooh ấy. Chỉ khác là “con gấu” này trắng muốt, đẹp lộng lẫy… Thế giới của Lusia phải là những cánh đồng cỏ bạt ngàn hoặc là miền vùng núi Kavkaz chứ không thể là nơi tù túng như nhà tôi được. Mỗi lần trở về nhà, tôi lại thầm thở dài thương nó. Lusia nằm ở cửa, cố thu mình nhỏ lại, đầu dúi dụi xuống sàn, mắt nhìn lơ láo, mông lung.. Dường như nó đang tưởng lại tiếng gió đồng, tiếng chim ríu ran và tiếng cỏ gai xào xạc…

Chẳng bao lâu, cha dượng đã không còn bắt nó ở lại căn phòng chật hẹp này nữa. Thì ra, cha mua Lusia về để luyện cho nó trông bãi rau của cha, chứ đâu phải cho tôi! Nhưng niềm vui thấy Lusia được tung hoành nơi có không gian phóng khoáng đã làm mờ đi nỗi ấm ức vì “bị lừa gạt” của tôi. Tôi bằng lòng để nó đi cùng cha dượng, đôi khi bặt tăm hơi cả tuần mới trở về. Bộ lông ngả màu vì đất cát, nhưng mặt mũi hả hê. Thậm chí, mùi từ người nó tỏa ra cũng không nồng nồng, hôi hôi như trước mà tưởng như có lẫn mùi cỏ mùi bùn, nó dễ chịu hơn thì phải. Tôi hì hụi tắm cho nó trong bồn. Bồn tắm chật quá khiến công việc này rất vất vả. Cuối cùng, sau một hồi kiên nhẫn chịu đựng bọt xà phòng thì nó cũng trở lại một cô chó xinh đẹp to lớn của tôi, con Gấu bông khổng lồ nhất thế giới! Tôi dẫn Lusia đi dạo dưới đường, bọn trẻ bu lại hỏi:

- Gấu à chị?

- Ừ, gấu. Gấu Bắc cực đấy!

Lũ nhóc nửa tin nửa ngờ. Có đứa thấy tôi cho Lusia ăn miếng xúc xích, kêu lên:

- Bọn mày ơi, không phải Gấu đâu. Gấu chỉ mút chân mút tay, không ăn xúc xích!

Chuyện này làm tôi buồn cười, vui suốt cả một buổi chiều.

Cha dượng thì kể, từ khi có Lusia đi cùng, cứ “thằng cha” công an nào tuýt xe cha lại là y như rằng phải vội vã “thả” đi ngay. Lusia ngồi chồm hỗm ở băng ghế sau, mũi khịt khịt, nhổm ngay dậy nôn nóng. Tôi thì tôi biết cô nàng muốn ra, chứ còn gã công an chắc hẳn hãi lắm. Vóc dáng của Lusia khiến nó trở nên dữ tợn trong mắt người lạ. Kỳ thực, nó rất hiền. Nó hiền nhất lúc nằm dưới chân tôi, mắt tròn bé như hạt nhãn ngước lên nhìn hiền lành, thân mến.

*

Năm ấy công việc làm ăn thuận lợi. Mẹ tôi giao hàng ở chợ Vòm, hết “công” này đến “công” khác. Tuy có vất vả đôi chút nhưng vui. Mẹ cũng ít ngồi ngán ngẩm chép miệng, kể lể chuyện cha đẻ tôi như năm ngoái. Tôi chỉ thầm tự hỏi, không hiểu sao đã có tiền rồi mà mẹ không thuê được căn hộ tử tế, ít ra cũng có hai phòng riêng rẽ! Chiếc ri-đô giữa phòng luôn đập ánh màu lòe loẹt của nó vào mắt tôi, rung rinh trêu ngươi tôi, khiến tôi cảm thấy bực bội muốn điên lên được. Nhất là, những khi cha dượng hứng chí bật nhạc vàng, những bài có Ý Lan hát thì tôi chỉ muốn chết đi cho rảnh! Tôi lao ra ngoài trời. Lusia theo sát tôi. Trời mùa Hè ở nước Nga, gần 11 giờ đêm rồi mà vẫn sáng. Nhưng dù gì thì cũng là ban đêm, và không khí thoảng mùi tử đinh hương vẫn vương vất thêm một thứ mùi khác nữa. Đó là mùi của sự bất trắc. Song không ai dám trêu chọc tôi khi Lusia lúc nào cũng trung thành bên cạnh, kể cả mấy thằng Tây đầu trọc hếu gần ốp chúng tôi ở, mặc đồ da, chân đi giày mõm dài có đính đinh sáng loáng. Bọn ấy hay có dây xích sắt thủ trong người, đã từng vào chỗ chúng tôi, đánh chảy máu một vài thanh niên người Việt. Nhưng tôi cóc sợ, vì tôi đã có Lusia. Lusia, cô bạn hiền hậu và dữ tợn của tôi, giúp tôi tránh được bọn xấu, và giúp tôi tách xa cả người thân của mình nữa! Để tôi có được một khoảng trời riêng, khoảng trời không có bất kỳ cái riđô nào cả, mênh mông và thơ thới. Ở đó, chỉ có tôi và Lusia. Có thể có cả Kolia nữa, nếu cậu ấy muốn. Chỉ mong sao cậu ấy thôi cái kiểu nhìn buồn bã ấy đi. À, mà ở đó có cả cha tôi nữa. Nếu cha nghiện, tôi sẽ giúp cha cai nghiện Mặc dù tôi cũng chưa rõ là bằng cách nào, nhưng có tình yêu là làm được tất, tôi tin thế. Chỉ cần cha ngồi cạnh để cho tôi áp đầu vào vai cha một thoáng, giống như Tania trong “Chó hoang Đin-gô” ấy.

Trong mùa Hè, có đợt tôi được cha dượng cho về thăm trại rau. Tôi thích lắm. Những dãy nhà kính, nhà bạt ni-lông trắng nằm song song, tươm tất, ánh lóa lên dưới nắng. Cha dượng chỉ tay, cười ha hả: “Đây, trong này là Việt Nam đấy. Gi gỉ gì gi cái gì cũng có nhé!” Từ 5 tuổi tôi đã ở Nga, nhưng tôi vẫn được nuôi dạy theo kiểu Việt Nam. Tôi vẫn lớn lên bằng rau muống, rau cải… vì thế, những dãy nhà rau xanh này đối với tôi thật là thân thương. Ngoài những gian trồng rau muống, cải cúc, cải xanh, cải ngọt, mồng tơi, còn có giàn mướp đắng lúc lỉu những quả xanh sần sùi, một gian nhỏ trồng rau thơm: mùi tàu, húng chó, tía tô, rau răm… Nhưng chỉ được một tháng là cha dượng cho dỡ hết cả khiến tôi tiếc đứt ruột. Rau lên xanh thì xanh mướt, tím thí tím ngát, bản lá to rộng, nhìn thật thích mắt. Nhưng cha bảo, rau thơm mà lá to mượt là vứt. Phải cằn cằn một tí mới đúng. Cha than rau răm thì cay như ớt mà tía tô thì chẳng có tí mùi vị gì. Thì ra, ở đây cha vẫn không thể có “Việt Nam” một cách hoàn toàn được! Bầu bí thì cha dượng không cho trồng trong nhà ni-lông mà thả cho chúng bò khắp đồng. Tôi và Lusia ra chỗ người ta đang thu hoạch rau bí, nhặt những bông hoa bầu, hoa bí màu vàng ươm mang về cho mẹ. Mẹ tôi thích món hoa bí xào tỏi. Mâm cơm có món này, mẹ có vẻ trầm hẳn, dường như lặng đi trong một hồi tưởng cũ xưa nào đó. Rồi xuýt xoa: “Thơm quá….” Tôi thích mẹ tôi những lúc ấy, như thể mẹ là người khác, không phải người đàn bà đảm đang quán xuyến việc hàng họ ở chợ, nói năng chao chát như suốt chục năm trời mẹ đã từng…

Những người đàn bà nông dân Nga, đầu đội khăn cho đỡ nắng, đang cắm cúi dỡ dây bí, bó vào từng bó. Những gương mặt hồn hậu hồ hởi chào đón tôi. Tôi đã thân với họ từ lâu, thấy gần gũi với những con người ham làm hay nói này thế. Lần nào về, họ cũng dúi cho tôi bó hoa hồng trồng trong nông trang. Hoa hồng chúm chúm tròn xoe, đủ các màu và đặc biệt là rất thơm, có tên là… Mercedes (hừm, tôi chẳng thấy có gì liên quan giữa hoa hồng và ôtô cả!).

- Mishka! (3)

Họ gọi Lusia rồi phá lên cười khi thấy Lusia đứng ngẩn ngơ vì bị tia nước từ dãy vòi nước nằm ngang trên xe công nông phun bắn vào mắt. Rồi nó lao theo sau xe, sủa nhắng lên vui vẻ. Đôi lúc, nó chạy dấn lên song song với chiếc xe, khéo léo há miệng đón những tia mát lành. Trên đồng, những chiếc xe như thế đi đi lại lại ngày hai bận. Những người nông dân không phải vất vả tưới tắm cho đồng ruộng như ở Việt Nam. Cha dượng bảo tôi vậy. Cha xuất thân từ nông dân nên thạo việc trồng trọt lắm. Tôi cũng thích nhìn cha chỉ đạo những người đàn bà Nga trồng tỉa. Ngẩng cao mái đầu đã điểm bạc, cha chỉ cho họ giống nào cần gieo dày, giống nào phải trồng thưa, vẻ tự tin, phấn chấn, giọng sang sảng, tiếng Nga dường như mất hẳn dấu huyền, dấu nặng mà cha vẫn hay dùng để tán cô bánh mỳ! Cha mất hẳn cả vẻ lo lắng, khúm núm thường trực khi ở trong thành phố, nhất là những lúc chạm mặt với công an. Không bó mình trong chiếc áo vét nhàu nhĩ như khi đi ra chợ, quần xắn móng lợn thoải mái, lưng áo phông đẫm mồ hôi, ông đi đi lại lại giữa các luống rau, vẻ tươi tỉnh. Không gian phóng khoáng khiến ai cũng đẹp hơn, ít nhất là trong mắt tôi. Một điều buồn cười là tôi cứ hay tẩn mẩn để ý xem trong những người đàn bà ở đây, có ai là không có chồng, là mẹ-cô-đơn như trong thành phố. Thì thật là bất ngờ, cả tổ nông trang trồng rau nhà kính lẫn những bà làm ngoài đồng, ai ai cũng có một ông chồng đợi họ ở nhà. Họ nói đến chồng vừa âu yếm, vừa ra vẻ không hài lòng vì “các lão ấy chậm chạp lắm, kiếm không ra tiền nên vợ mới vất vả”. Có phải ở những nơi này, thiên nhiên phóng khoáng cũng lại dễ giữ chân những người đàn ông hơn không?

Làng quê yên bình, những con người hồn hậu, những cánh đồng khoai tây hoa trắng dịu dàng, những buổi trưa nắng tràn trề khắp nẻo, tiếng người nô đùa trên con sông gần đó vọng về… tất cả chẳng gợi điều gì đáng lo ngại hết. Tôi không hiểu cha cần Lusia để canh giữ cái gì! Rau cỏ của người Việt thì dân Nga không biết ăn. Họ chỉ hay vặt cà chua dưa chuột của nông trang đem về nhà thôi. Mà ê hề ra đó, tôi chẳng thấy ai cấm đoán ai điều gì cả! Khi mọi thứ quá nhiều thì việc lấy của công làm của riêng tự nhiên không còn là ăn cắp nữa!

Thảng hoặc lắm, tôi thấy những người từ Ucraina và Belarus đến đây làm thuê ngồi lơ vơ hóng gió ở ghế đá gần căn nhà gỗ của Trại rau, mỗi người cầm chai bia trên tay, đôi khi có thêm dăm con cá khô vobla (4) mùi tanh nồng lên. Những người này sống trong nhà khách của Nông trường. Trông họ cũng chẳng có gì là đáng để cho cha tôi đề phòng cả. Đàn ông, đàn bà đều ít nói hơn dân địa phương. Dân tha hương mà, ai cũng như ai. Về xứ mình chắc họ lại ăn to nói lớn, lại ồn ào như lễ hội. Và hình như họ chăm làm hơn dân địa phương nữa. Những ngày nghỉ, cha tôi đi thuê thêm người dọn cỏ, đều phải vào Nhà khách mới kiếm được người làm.

*

Cho đến một hôm, trên đường đưa rau về thành phố, tôi mới hiểu vì sao cha cần đến Lusia.

hungmgmi 07-01-2009 15:28

Xe cha con tôi đi đến khúc quanh rẽ vào ốp Togi* (5) thì có một chiếc số 4*(6) đít dài và một chiếc Uaz*(7) xanh lá cây thẫm ép lại. Cha dượng lẩm bẩm: “Bắt đầu rồi đây”. Và dừng xe. Cha vừa mở cửa vừa huýt sáo gọi Lusia. Cô nàng đang lim dim ngủ, nhổm ngay dậy, như đã quen quá với mệnh lệnh có dấu hiệu đặc biệt này của chủ. Mọi khi, tôi không thấy cha huýt sáo bao giờ, cả nhà thường chỉ gọi tên Lusia thôi. Lusia thò đầu ra cửa sổ, sủa liên hồi kỳ trận. Chân dậm dậm nôn nóng, tưởng như lông của nó cũng dựng đứng lên vậy. Người đi đường bắt đầu chú ý đến chúng tôi, ngoái cả lại nhìn. Hai chiếc xe bí ẩn vừa ép chúng tôi vào lề đường vẫn im phắc, chưa có động tĩnh gì. Chừng dăm phút trôi qua trong căng thẳng. Chỉ có hàng rèm nâu chăng chung quanh các ô cửa xe Uaz hình như lay động.

Cửa xe số 4 mở ra. Một thanh niên Việt Nam nhỏ thó, đầu húi cua gần như trọc lốc, bước ra. Anh ta mặc áo da màu đen, giống loại áo mà mẹ tôi hay “đánh” từ Thổ về. Cố tỏ ra khuềnh khoàng, hắn chậm rãi bước đến gần cha tôi, lúc ấy đã xuống xe, cười khẩy: “Lại diễn vở cũ hả ông anh?” “Chú muốn gì?” – cha dượng hỏi, giọng bình tĩnh. Gã thanh niên cũng bình thản kéo dài giọng: “Muốn cái điều mà lần trước em đã nói. Mỗi người một thị trường anh ạ. Nếu anh còn ngoan cố, bọn em không để yên đâu. Em trước là hội nhà Bình thổ đây”.

Người tôi lạnh toát đi. “Nhà Bình thổ” – cái tên này tôi vẫn thường nghe người lớn nhắc đến trong những câu chuyện kể như phim kinh dị về nhóm người Việt Nam chuyên đòi nợ thuê, trấn cướp cộng đồng. Tôi vẫn nghĩ mọi người thêu dệt thêm cho thêm phần huyền hoặc thôi, chứ làm gì đến nỗi thế. Nào cứa cổ, nào là mặt, xẻo tai. Tôi không bao giờ tin vào những tin đồn nhảm ấy. Thế mà không hiểu sao, lúc này, nghe gã nhắc đến cái tên nổi tiếng giang hồ nọ, tôi lại thấy bủn rủn chân tay. Bất giác, tôi ngồi sát vào Lusia hơn, nghe cái nóng ấm sôi nổi từ người con vật đang truyền qua cho mình, thấy yên tâm phần nào. Trong lúc ấy, Lusia vẫn không ngừng sủa. Khác với những lần đuổi chim trên đồng, bấy giờ, Lusia căng thẳng và phẫn nộ, mắt nó như có lửa, đỏ vằn lên. Nó không còn hiền khô như một con gấu bông nữa. Mõm nó dài và nhọn ra, như loài lai-ca. Đôi khi nó ngừng sủa để gầm gừ những tiếng dọa dẫm trong cổ họng.

Không biết cha tôi nói gì với gã thanh niên vì tiếng Lusia đã át cả tiếng người, tôi không nghe rõ. Chỉ thấy vài ba gã thanh niên cao lớn từ chiếc Uaz nhảy ra, đứng quanh cha dượng tôi. Một tên túm vào cổ áo cha, hẩy dúi ông vào góc xe. Tức thì, tôi chưa kịp định thần, đã thấy cái bóng trắng khổng lồ của Lusia lao xuống, không một tiếng động. Nó thôi không sủa nữa, lẳng lặng đớp ngập răng vào khuỷu tay tên ấy. Tiếng gầm gừ của nó khiến tôi hình dung nó đang nghiến hai hàm răng nhọn hoắt vào nhau, và tay gã kia hẳn đã nát nhừ.

Sau đó tôi chẳng còn nhớ gì rõ ràng nữa. Tôi thoáng thấy một tên chạy ra trước mũi xe to, rút chiếc gậy sắt gài ở đầu xe. Tiếng người rú lên, tiếng chó tru ăng ẳng, đau đớn.

*

Nỗi đau đớn này còn theo tôi rất lâu. Mỗi năm nó một dịu đi, nhưng vẫn như cái dằm nằm sâu đâu đó trong tim tôi vậy. Mùa Hè, khi gió nam tràn về trên cỏ, bãi cỏ gần trường Đại học của tôi cũng ngập tràn những bông hoa cúc kim bé bỏng, thì cái dằm ấy lại ngọ ngậy, khiến tôi đi, đứng, ngồi đều thấy đau.

Lusia lần đó không chết. Nó chỉ bị thương nặng. Là con chó trẻ độ tuổi sung sức, nó hồi lại rất nhanh, chỉ bị tật ở chân, đi cà nhắc. Nhưng hình ảnh mớ lông trắng nhuốm đầy máu nằm thượt trên đường ăn sâu vào trí nhớ luôn làm tôi rùng mình. Từ đó, tôi đâm ra thấy yêu mến cái xã hội Nga ở trường học của tôi hơn, cố gắng hòa mình vào đó, như tìm cho mình một góc thân quen ở nhà người lạ! Tôi sợ những người đồng hương của tôi.

Mùa rau năm đó, cha dượng tôi vẫn trúng lớn. Hội “Bình thổ” không dám động đến cha, nhưng chính cha lại quyết định thôi trồng rau. “Mệt người, rầy rà…” – cha bảo vậy. Cha bán nhượng lại hết những bịch hạt giống còn lại và cả cái cơ ngơi hàng chục mái nhà kính cho bọn người ác ấy.
Tôi không hiểu nổi cha. Về đến thành phố, cha lại trở thành con người khúm núm khó hiểu. Điều làm tôi bất ngờ và đau đớn nhất là cha… bán Lusia. Cha làm điều đó khi vắng tôi. Và ông tránh mặt tôi, bỏ đi thành phố xa một tuần. Mẹ cố gắng giảng giải cho tôi hơn thiệt, rằng không trồng rau, không đi đường trường nữa thì không cần chó to. Mà để nó mãi ở căn phòng bé tẹo này, cũng tội cho nó lắm. Hình như cha bán nó cho một chủ trại ở vùng quê nào đó, ở đó, họ thích giống Kavkaz khổng lồ như Lusia. Mẹ bảo cha đợi tôi nguôi ngoai rồi sẽ cho tôi về đó thăm lại nó. Nhà chủ ấy họ yêu Lusia lắm và tôi có thể yên tâm, không phải băn khoăn gì về nó cả.

Nhưng thời gian cứ trôi đi. Những mùa Hè sau đó của tôi không còn bóng dáng của đồng cỏ bạt ngàn và bầu trời phóng khoáng nữa. Tôi bận học. Cha mẹ bận buôn bán. Không một lần nào cha dượng nhắc nhở về Lusia với tôi. Và tôi cũng không hỏi. Tôi không tin câu chuyện về chủ trại kia, nhưng không muốn nghe một câu chuyện khác, thật hơn và buồn hơn.

Năm đó, dưới đường, bên khu nhà đối diện, không hiểu sao lũ thanh niên cứ chập tối lại hay túm tụm xập xình đàn hát… Nếu tôi không nghe thấy bài “Lusi” được đệm tha thiết bằng tiếng ghi-ta gỗ thì chắc hẳn tôi sẽ chìm đắm mãi vào những giấc mơ đau buồn.

“Con chó bị mất rồi
Con chó sống trong sân nhà chúng tôi
Lũ trẻ âu yếm gọi
Lusi o o Lusi…

….
Chúng tôi không bỏ bạn
Chúng tôi cần Lusi
Một tháng qua đi
Trẻ con vẫn tìm Lusi
Bỗng có điều gì
Xôn xao dưới đường
Mọi người nhìn qua cửa sổ
Lusi đang ở đó
Cùng tám chú chó con

Lusi.. Ô ô ô ô Lusi.” (8)
“Lusia, Ô ô ô ô Lusia…”

Tôi lẩm bẩm hát theo, mỉm cười nhìn thấy dáng to lớn lồng lộng của Lusia qua hàng nước mắt.


Chú thích[/B]: (1): Món thịt rán băm viên nhồi bột hoặc khoai tây
(2): Tiếng lóng – bà con người Việt ở Nga dùng để chỉ hiện tượng giá đô-la Mỹ tăng hoặc giảm mạnh đột ngột, ảnh hưởng đến giá hàng hóa
(3): Tiếng Nga, nghĩa là “Gấu con”)
(4): Loại cá nổi tiếng vùng Astrakhan, sấy khô làm mồi nhắm bia)
(5): Một trung tâm thương mại của người Việt, nằm ở phía Nam của Moscow.
(6): Loại xe Zhiguli hay dùng để chở hàng
(7): Loại xe 12 chỗ ngồi, “đi mọi địa hình” của Nga, rất thông dụng trong thời chiến)
(8): Lời bài hát “Lusi” của Gazmanov.

Thụy Anh, từ Liên bang Nga - tháng 1-2008.

Vũ Anh 07-01-2009 21:40

Trích:

Từ đó, tôi đâm ra thấy yêu mến cái xã hội Nga ở trường học của tôi hơn, cố gắng hòa mình vào đó, như tìm cho mình một góc thân quen ở nhà người lạ! Tôi sợ những người đồng hương của tôi.
Đọc truyện Lusia này mà rơi nước mắt. Lusia của Thuỵ Anh viết quá hay đi , cái nhìn của một cô bé trong truyện mới 15 tuổi nhưng nhận xét tâm lý về người lớn, về cuộc sống xung quanh rất đúng, nhiều đoạn tả chân về tâm trạng thật là tuyệt vời.
Phải rồi, những người làm nghề trồng rau để bán cho các Op và bao giờ những người ấy cũng phải có " bảo kê" thì mới tồn tại được không thì phải " ốp nộp" cho "phít" thì mới yên thân. :emoticon-0106-cryin
Cảm ơn Hùng đã đưa loạt truyện của Thuỵ Anh về đây .

hungmgmi 08-01-2009 08:35

Sáng nay Hungmgmi tình cờ vớ được tờ phụ bản báo Văn Nghệ Tết Kỷ Sửu. Tờ phụ bản Truyện ngắn hay 2008 in lại khoảng chục truyện ngắn hay đã từng đăng trên báo Văn Nghệ trong năm. Thật thú vị và bất ngờ khi gặp lại Thụy Anh trên đó với truyện ngắn Lusia (Văn Nghệ in với tựa Vĩnh biệt Lusia), bên cạnh các tên tuổi như Hồ Anh Thái, Quế Hương, Trần Huy Quang....Đọc giới thiệu mới biết tác giả sinh năm 1974, tốt nghiệp và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học sư phạm Lênin (cùng tuổi, cùng trường với bác Hổ nhé:emoticon-0102-bigsm). Cô tâm sự đã sống 16 năm ở Nga nhưng thật lạ "mảnh đất này tôi đã yêu sâu sắc nhưng có cảm giác muôn đời vẫn là người khách nơi đây". Nói về Lusia, Thụy Anh viết:"...Những người đồng hương, đồng bào lại lừa dối nhau, chèn ép nhau, thậm chí đối xử rất dã man với nhau. Có đôi lúc, kỳ lạ thay, một con vật có bộ lông ấm áp, đôi mắt trong veo và trung thành lại là điểm tựa bình an cho một người xa xứ...".

Vũ Anh 08-01-2009 15:50

Trích:

Đọc giới thiệu mới biết tác giả sinh năm 1974, tốt nghiệp và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học sư phạm Lênin (cùng tuổi, cùng trường với bác Hổ nhé).
Spam chút nhá bác Hùng, thì ra cô bé Thuỵ Anh này cùng trường với bác Hổ nhà 3N chúng mình, con gái rượu của V/A cũng tốt nghiệp bằng đỏ khoa tiếng Anh của trường Đại học sư phạm Lê Nin năm 2005 ( cháu nó bây giờ " mất dạy" rồi sau khi sang Anh học thạc sĩ lại càng " mất dạy bạo" ) :emoticon-0127-lipss:emoticon-0102-bigsm

À cho hỏi thăm, cô gái Thuỵ Anh này có phải là cô nhà thơ này nữa không bác Hùng kiểm tra dùm V/A nha :emoticon-0100-smile
Trích:

Tên thật: Nguyễn Thuỵ Anh Sinh ngày: 5-4-1974 tại Hà Nội Quê quán: Hà Tĩnh
Bút danh: Thuỵ Anh, Hữu Phúc, Trung Anh, Mạc Thủy
Tác phẩm: Tử đinh hương ...

rung_bach_duong 08-01-2009 21:41

Xin cho hỏi đây có phải thành viên Hoa xuyên Tuyết không hả Hungmgmi. Mình đã đọc thơ dịch từ tiếng Nga và thơ sáng tác của thành viên này và rất thích. Đặc biệt mình thích bài này Thuỵ Anh dịch từ tiếng Anh. Ít khi có bài thơ nào mình đọc lại lần thứ 2 vậy mà bài thơ này mình đọc đến thuộc lòng, xin cảm ơn dịch giả Thuỵ Anh :emoticon-0155-flowe

- My dear, I am too busy to love you
Meetings today, ceremonies tomorrows
I am gone with endless circle
My dear, I am too busy to love you

Here greeen grass, soft sun i return to you
also passionate kisses we seemed to have
all is a dark cloud floating in a stormy day
Now, peaceful again, I am so busy, you know?

Take your inner desires away, please
your love for me, please stop flaring up
my worried heart - not only to keep your fire going
Like life does not have only love

Don't be sad, don't make me tired my dear!
by endless asking you always do
Yes, I know... you care about me most
But could you please let me concentrate?

- I hurriedly follow this life, you follow me
the gap keeps bigger when you exhausted
the gap you trying to fill
with your waiting, standing and loving

with your wish every early morning
with the all-day miss you don't dare to say
with the song you sing when washing blanket and pillow
with your life , dazed in a stir and jumble

Okay, don't say more,honey, I see !
For all your life too busy to love me!

- Em yêu, anh quá bận để yêu em:
Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết
Đời cuốn anh đi trong vòng quay mải miết
Em yêu, anh quá bận để yêu em!

Anh trả em những cỏ biếc, nắng êm
Trả những nụ hôn nồng nàn hình như từng có
Tất cả như bóng mây râm thoáng qua trời giông gió
Giờ bình yên rồi. Anh bận lắm, em biết không?

Hãy dẹp lại một bên những khao khát trong lòng
Hãy nén lại tình em thôi đừng bừng lên nữa
Tim đầy ắp lo toan, đâu chỉ là nơi giữ lửa
Như cuộc đời đâu chỉ có tình yêu!

Đừng buồn, đừng làm anh mệt mỏi nữa em yêu
Bằng những câu hỏi thăm triền miên em vẫn nhắc
Ừ, anh hiểu… em quan tâm đến anh nhiều nhất
Nhưng xin hãy để anh tập trung suy nghĩ được không em?

- Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh
Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức
Cái khoảng cách mà em gắng lấp
Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương

Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường
Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói
Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối
Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời

Yêu dấu của em ơi, đừng nói nữa, em biết rồi:
Suốt một đời này anh quá bận để yêu em!

hungmgmi 09-01-2009 09:19

Trích:

Vũ Anh viết (Bài viết 23398)
À cho hỏi thăm, cô gái Thuỵ Anh này có phải là cô nhà thơ này nữa không bác Hùng kiểm tra dùm V/A nha :emoticon-0100-smile

Địch thị là một đó bác. Thuỵ Anh hay dịch thơ Nga nữa mà.

Trích:

rung_bach_duong viết (Bài viết 23412)
Xin cho hỏi đây có phải thành viên Hoa xuyên Tuyết không hả Hungmgmi. Mình đã đọc thơ dịch từ tiếng Nga và thơ sáng tác của thành viên này và rất thích. Đặc biệt mình thích bài này Thuỵ Anh dịch từ tiếng Anh. Ít khi có bài thơ nào mình đọc lại lần thứ 2 vậy mà bài thơ này mình đọc đến thuộc lòng, xin cảm ơn dịch giả Thuỵ Anh :emoticon-0155-flowe

- My dear, I am too busy to love you
Meetings today, ceremonies tomorrows
I am gone with endless circle
My dear, I am too busy to love you

Here greeen grass, soft sun i return to you
also passionate kisses we seemed to have
all is a dark cloud floating in a stormy day
Now, peaceful again, I am so busy, you know?

Take your inner desires away, please
your love for me, please stop flaring up
my worried heart - not only to keep your fire going
Like life does not have only love

Don't be sad, don't make me tired my dear!
by endless asking you always do
Yes, I know... you care about me most
But could you please let me concentrate?

- I hurriedly follow this life, you follow me
the gap keeps bigger when you exhausted
the gap you trying to fill
with your waiting, standing and loving

with your wish every early morning
with the all-day miss you don't dare to say
with the song you sing when washing blanket and pillow
with your life , dazed in a stir and jumble

Okay, don't say more,honey, I see !
For all your life too busy to love me!

- Em yêu, anh quá bận để yêu em:
Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết
Đời cuốn anh đi trong vòng quay mải miết
Em yêu, anh quá bận để yêu em!

Anh trả em những cỏ biếc, nắng êm
Trả những nụ hôn nồng nàn hình như từng có
Tất cả như bóng mây râm thoáng qua trời giông gió
Giờ bình yên rồi. Anh bận lắm, em biết không?

Hãy dẹp lại một bên những khao khát trong lòng
Hãy nén lại tình em thôi đừng bừng lên nữa
Tim đầy ắp lo toan, đâu chỉ là nơi giữ lửa
Như cuộc đời đâu chỉ có tình yêu!

Đừng buồn, đừng làm anh mệt mỏi nữa em yêu
Bằng những câu hỏi thăm triền miên em vẫn nhắc
Ừ, anh hiểu… em quan tâm đến anh nhiều nhất
Nhưng xin hãy để anh tập trung suy nghĩ được không em?

- Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh
Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức
Cái khoảng cách mà em gắng lấp
Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương

Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường
Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói
Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối
Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời

Yêu dấu của em ơi, đừng nói nữa, em biết rồi:
Suốt một đời này anh quá bận để yêu em!

He he thật thú vị chị Rừng ạ. Em vừa gọi điện cho bạn Thuỵ Anh và được biết một thông tin bất ngờ: Bài thơ trên do chính Thuỵ Anh (nick Hoa xuyên tuyết trên Thi Viện) viết. Sau đó một thành viên khác thích quá đã dịch nó ra...tiếng Anh.
Có lẽ đây là một trong những trường hợp hy hữu mà chúng ta được biết.

rung_bach_duong 09-01-2009 15:52

Thảo nào mình thấy Hoa Xuyên Tuyết dịch sát thế :) Chỉ hơi băn khoăn là sao bản tiếng Anh không thấy Hoa Xuyên Tuyết ghi tên tác giả thơ người Anh :emoticon-0136-giggl Còn kiểm tra vần điệu của bài thơ tiếng Anh thì mình chịu rồi. Bài thơ của Thuỵ Anh giản dị quá, Thuỵ Anh không cần dùng đến nhiều từ yêu "quằn quoại" mà vẫn toát lên tình cảm chân thành người đàn ông dành cho người phụ nữ và ngược lại.

- Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh
Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức
Cái khoảng cách mà em gắng lấp
Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương

Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường
Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói
Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối
Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời

Hoa May 09-01-2009 23:01

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 23421)
Bài thơ trên do chính Thuỵ Anh (nick Hoa xuyên tuyết trên Thi Viện) viết. Sau đó một thành viên khác thích quá đã dịch nó ra...tiếng Anh.
Có lẽ đây là một trong những trường hợp hy hữu mà chúng ta được biết.

Thong tin cua bac Hunggm that thu vi. HM rat thich bai thoi nay. No gian di nhung rat tinh te va phuc tap trong mieu ta cam xuc: yeu thuong, cam chiu, am uc, cham biem ...

Trích:

Rung BD viết
Thuỵ Anh không cần dùng đến nhiều từ yêu "quằn quoại" mà vẫn toát lên tình cảm chân thành người đàn ông dành cho người phụ nữ và ngược lại.

- Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh
Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức
Cái khoảng cách mà em gắng lấp
Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương

Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường
Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói
Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối
Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời

@ chi Rung: em lai nghi nguoc lai. Ca bai tho, va dac biet khuc tho nay, tac gia ve ra mot nguoi vo cam chiu, met moi ... an chua nhung am uc va ca mot troi trach moc duc ong chong ham me cong viec, tu bo va lam nhat nhoa tinh yeu da va dang co.

Chi ay duoi suc, ngo ngac, roi boi ...

Oi duc ong chong yeu quy oi, lam on nhin lai!

P/s: Mong moi nguoi thong cam, may bi loi, HM khong the viet chu co dau tieng Viet duoc, hic!

rung_bach_duong 10-01-2009 07:35

Bài thơ này của Thuỵ Anh là lời hát đối giữa 2 vợ chồng. Đoạn gạch đầu dòng đầu tiên là lời của người chồng dành cho người vợ và từ gạch đầu dòng thứ hai là của người vợ dành cho người chồng.

Đoạn của người vợ thì rõ ràng rồi, đầy trách móc nhưng theo mình đây là lời trách móc của một người vợ hiền thục, yêu thương chồng một mực. Chị đã nén tất cả để cảm thông cho những công việc bề bộn của chồng. Tuy nhiên CS luôn có giá của nó, nếu đàn ông mải mê quá không biết tự điều chỉnh mình thì sẽ có ngày hạnh phúc cũng tuột khỏi tay, âu đó cũng là mất mát tự nhiên thôi. Đây ta tạm gọi là "rủi ro nghề nghiệp".

Ở đoạn "hát" của người chồng. Theo mình đây là người đàn ông khá tinh tế đấy. Anh ta hiểu hết đấy, biết hết lỗi đấy, thực lòng mà nói anh ta cũng một mực yêu thương vợ con đấy nhưng hình như anh ta cũng đang bất lực với sự cố này, hình như bản thân anh ta đang bị áp lực công việc dồn nén. Có thể anh ta cũng mơ có những giây phút đầm ấm, thư giãn bên vợ con hằng ngày nhưng công việc, công việc nó cuốn anh ta buộc phải theo guồng không dứt được. Có thể anh ta là người chủ gia đình và áp lực kiếm miếng cơm manh áo về cho vợ con trong cơ chế thị trường này không nhỏ chút nào. "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" mà. Nhưng nếu bác chồng của chị phụ nữ trong thơ bận bịu theo kiểu nay bia bọt, mai bù khú với bạn bè không phải vì công việc chính đáng như "Meetings today, ceremonies tomorrows" thì chắc chắn khó có thể chị phụ nữ trong thơ Thuỵ Anh "vừa giặt chăn, là gối vừa ca hát để khoả lấp nỗi nhớ chồng" :emoticon-0115-inlov

rung_bach_duong 10-01-2009 07:51

Một bản dịch hay nữa của Thuỵ Anh:

Наказ дочери
Юлия Владимировна Друнина

Без ошибок не прожить на свете,
Коль весь век не прозябать в тиши.
Только б, дочка, шли ошибки эти
Не от бедности – от щедрости души.

Не беда, что тянешься ко многому:
Плохо, коль не тянет ни к чему.
Не всегда на верную дорогу мы
Сразу пробиваемся сквозь тьму.

Но когда пробьешься – не сворачивай –
И на помощь маму не зови…
Я хочу, чтоб чистой и удачливой
Ты была в работе и в любви.

Если горько вдруг обманет кто-то,
Будет трудно, но переживешь.
Хуже, коль полюбишь по расчету
И на сердце приголубишь ложь.

Ты не будь жестокой с виноватыми,
А сама виновна – повинись.
Все же люди, а не автоматы мы,
Все же непростая штука – жизнь…

Dặn con (Người dịch: Thuỵ Anh)

Sống trêm đời ai chẳng có lỗi lầm
Nếu không cả đời sẽ trôi qua vô vị
Chỉ có điều, con gái ơi, những lỗi lầm vô ý
Hãy xuất phát từ tâm hồn phóng khoáng thảo thơm

Điều gì cũng lôi cuốn con, cũng chẳng sao
Nếu chẳng đam mê thứ gì mới là rất dở
Đâu phải lúc nào giữa bao nẻo đường rộng mở
Ta tìm được lối ngay qua đêm tối mịt mờ

Nhưng nếu đã đến được rồi, chớ quay đầu lại
Cũng đừng gọi mẹ mong chờ trợ giúp nhé con
Mẹ muốn con sẽ là đứa con thành đạt và sạch trong
Cả sự nghiệp lẫn trong tình ái

Nếu có người lừa dối tình con
Con sẽ vượt qua, mặc dù khó nhọc
Sẽ tồi tệ hơn nhiều nếu con ve vuốt những dối lừa cay độc
Yêu một người mà tính toán thiệt hơn

Đừng quá khắt khe với người có lỗi
Nếu con sai lầm cũng hãy tự bỏ qua
Bởi là người, đâu phải máy móc đâu, tất cả chúng ta
Dù sao cuộc đời này cũng không hề đơn giản

hungmgmi 11-01-2009 00:50

“Đi làm khách” nhà người Nga


Đến chơi nhà ai, người Nga thường dùng từ “đi làm khách”. Những tưởng chỉ là một cụm từ quen thuộc có sẵn trong từ điển, nhưng ngẫm lại, nó nói lên nhiều điều lắm. Khách – đối với người Nga, từ ấy vang lên rất trang trọng và quý mến. Người Nga cổ có câu: “Khách đến ngưỡng cửa – hạnh phúc vào nhà”.
Trong đời, tôi có may mắn được “đi làm khách” nhiều lần ở nhà những người bạn Nga, nhưng ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng khó quên nhất. Đó là lần đến thăm bà giáo dạy tiếng Nga của tôi. Một chiều đông tuyết giá, sau giờ học, bà giáo rủ tôi về chỗ bà chơi cho biết nhà. Trong lớp chỉ có mình tôi là sinh viên Việt Nam, lại ở Hà Nội, nơi mà, những năm 1978-1979, bà đã từng đến dạy. Tôi nhớ, bà bảo, lúc hỏi tôi là sinh viên nước nào, bà đã nín thở mong tôi phát âm ra hai tiếng “Việt Nam”. Và sau đó thì rơm rớm nước mắt.

Giá ai có hỏi, tôi thích nhất gian phòng nào trong nhà một người Nga, thì tôi sẽ chọn ngay… gian bếp của gia chủ. Nếu người Việt coi bếp là “hậu phương”, nơi đàn bà con gái túm tụm nấu nướng, và, thời phong kiến thì họ ăn uống ngay ở đó, chỉ đàn ông mới được ngồi nhà trên…, thì theo phong tục của Nga, bếp là cái thần, cái hồn của cả ngôi nhà. Gian bếp có cửa sổ nhìn ra sân trắng tuyết, có rèm đăng ten rủ xuống chung quanh điệu đà, ấm cúng, có một bộ bàn ghế đẹp đẽ bày ở góc phòng, bàn phủ khăn thêu, đôi khi có lọ hoa nho nhỏ dịu dàng tỏa hương bên dưới một bức tranh tĩnh vật. Trên bếp gần đó, ấm nước đang sôi, bốc mùi nồng nồng của nước nóng mùa Đông, cái mùi rất dễ chịu, khiến bàn tay của người vừa đi băng qua sân gió buốt đang đỏ ửng lên tự dưng cũng mềm ấm trở lại. Bánh mì vàng rộm cắt từng lát xếp quanh, bánh mì đen tỏa mùi chua dịu để trên một tấm khăn trắng nhỏ. Bơ vàng bắt đầu hơi chảy. Một đĩa dưa chuột muối xanh xám, vương những sợi thìa là mảnh dẻ, nhìn đã muốn ứa nước miếng. Một tảng thịt mỡ nhỏ, bì có rắc lớp bột gì đó đen đen được cắt ra từng lát mỏng dính như tờ. Bà giáo tôi giới thiệu đó là món “xa-lơ” (mỡ muối). Nhìn cả tảng mỡ thì ngấy, tưởng không ăn được, nhưng miếng mỡ muối đã được thái ra mong mỏng đặt lên bánh mì thì ngon không thể tưởng được. Ăn một lại muốn ăn hai. Dễ hiểu vì sao những người Nga lại có thiên hướng… to béo đến vậy. Mùa Đông trời lạnh, càng có nhu cầu ăn và … uống. Ông chủ, chồng bà giáo, rót rượu trắng vodka ra chiếc cốc 25 xu, và rót cho tôi với bà giáo một chút rượu vang vào loại cốc riêng dành cho rượu khai vị. Người Nga coi trọng nghi thức ăn uống khi đón khách. Đôi lúc chẳng có món gì đặc biệt, nhưng trên bàn nhất thiết phải đủ loại cốc, cốc dài cốc ngắn, cốc to, cốc nhỏ - mỗi loại có nhiệm vụ riêng của mình. Những chiếc cốc pha lê trong vắt, không hiểu sao, tôi có cảm giác chúng sắp đồng thanh ngân lên một bản nhạc nào đó. Lần đầu “nhìn” thấy “bản hòa tấu” của bộ cốc, tôi cảm thấy hơi ngợp đi một chút, và hơi ngượng nghịu, không biết chạm tay vào chiếc cốc nào mới đúng.

Bà giáo lấy chiếc âu luộc khoai tây trịnh trọng đặt lên bàn, múc cho mỗi người một vài củ khoai luộc đã bở, hơi bốc nghi ngút, bỏng cả mắt nhìn. Chảo rán món thịt băm viên – gọi là “cắt-lét” - đang xèo xèo nốt những tiếng cuối cùng, để rồi bà chủ tiếp cho mỗi người một miếng. Ít nước sốt nâu nâu, thơm phức rưới lên, xa-lát dưa chuột, cà chua, tưới dầu ô-liu được ém vào một góc đĩa. Và thế là chủ và khách nâng cốc mừng ngày gặp mặt. Bữa ăn nhẹ nhàng, giản dị mà ngon lành. Đó là bữa ăn nhẹ vì bà giáo mời tôi đến chơi là đột xuất chứ không phải có kế hoạch sẵn. Thường, nếu người Nga đã có ý định mời khách thì họ chuẩn bị nhiều thứ lắm, ê hề các món trên bàn mà món “thứ nhất” bao giờ cũng là một món xúp nào đó. Món xúp nước sẽ khiến thần sắc mọi người được bình tâm trở lại sau những giờ phút gió tuyết bạt hồn. Ăn là phải ăn to, uống là phải uống lớn. Tục của người Nga là vậy. Người ta sẽ không cho khách đứng dậy nếu trên bàn thức ăn chưa vơi đến tận đáy đĩa. Còn một điều nữa mà bà giáo kể cho tôi về nghi thức trong gian bếp của người Nga, là không bao giờ được lau tay vào khăn giải bàn, không lấy giấy ăn lau mặt bàn – điều đó sẽ mang đến bất hạnh và hiềm khích trong nhà. Những điều này đối với tôi thật là thú vị và có ích.

Sau bữa ăn là bữa trà. Bát đĩa cứ xếp đó đã, chưa ai màng tới việc đi rửa. Bà giáo xếp những chiếc tách trà to đùng, màu sắc sặc sỡ lên đĩa con, trên đó đặt vài miếng đường trắng vuông, nhìn thanh khiết kỳ lạ. Rót trà vào từng tách, trà đặc, rồi chế thêm nước sôi đang lục bục trên bếp. Hương trà thơm có vương mùi bạc hà bay khắp gian bếp, khiến bếp nhà chủ đã ấm càng thêm ấm, lòng khách đã mềm càng thêm mềm. Những lần sau tôi đến chơi, lần nào bà cũng dọn thêm món bánh táo lấy từ bếp lò ra, mặt bánh vàng rộm và nhân bánh là những miếng táo mềm chua chua ngòn ngọt, uống với trà đen thì không còn gì thú bằng.

Mặt trời đã xuống rồi. Trời mùa đông mà, nắng tắt sớm lắm. Trong nhà đèn điện bật sáng. Chủ và khách nhấm nháp từng miếng đường nhỏ, chiêu một ngụm chè, kể cho nhau nghe biết bao chuyện cũ. Lần ấy, bà giáo cho tôi xem cuốn album ảnh đã ngả vàng với những tấm ảnh cũ kỹ. Nhìn lại hình ảnh Hà Nội thời ấy, học sinh áo trắng, quần đen chụp cùng các cô giáo Liên Xô bên cạnh khách sạn Kim Liên (nơi ở của chuyên gia Nga), thấy cay cay sống mũi, cho dù mình chẳng phải là sinh viên trong ảnh. Một thời lam lũ mà thân thương! Bà giáo bảo tôi rằng sinh viên Việt Nam học chăm chỉ lắm. Và tôi biết rằng tôi cũng phải chăm chỉ như thế, để bà không thất vọng với những gì bà nghĩ về người Việt Nam. Năm đó tôi 18 tuổi, học năm thứ Nhất trường Đại học Sư phạm Lenin.

Hôm nay viết những dòng này, nhớ lại gian bếp ấm bừng tình nghĩa của người Nga, trong tôi chợt vang lên câu thơ của nữ sĩ Olga Berggoltz, những câu thơ gọi mời một người lạ qua đường, bước vào nhà “làm khách”:
“Hỡi người xa lạ kia ơi, khách qua đường chiều muộn
Có muốn ghé chân chăng xin hớp rượu vang nồng
Buổi chiều hôm nay như trái táo đỏ hồng
Lớp bụi ấm chừng như đã nguội

Viền đăng-ten chiếc rèm buông khi tối
Rủ bóng hoa văn xuống bậu cửa rất buồn cười
Nhòm qua đó tôi hướng về rặng núi
Nơi tắt sáng dần mặt trời hiền dịu của tôi

Hỡi người lạ, hãy vào đi, cùng trò chuyện
Miếng bánh mì vàng sậm đợi tay người
Còn tôi thời đã bao ngày buồn tủi
Tuổi trẻ co mình vào khép lại những khát khao

<…>.
Xin hãy ghé vào, ngồi xuống đây kể câu chuyện tôi mong đợi
Đặt khuỷu tay lên chiếc bàn sạch sẽ thơm tho
Tôi sẽ cắt bánh mì thành những khoanh to
Và buông rèm trên khung cửa sổ… “

(trích Hỡi người xa lạ kia ơi, thơ Olga Berggoltz, Thụy Anh dịch)
Thụy Anh, 11/2007
.

Old Tiger 11-01-2009 08:29

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 23379)
Đọc giới thiệu mới biết tác giả sinh năm 1974, tốt nghiệp và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học sư phạm Lênin (cùng tuổi, cùng trường với bác Hổ nhé:emoticon-0102-bigsm).



Trích:

Vũ Anh viết (Bài viết 23398)
Spam chút nhá bác Hùng, thì ra cô bé Thuỵ Anh này cùng trường với bác Hổ nhà 3N chúng mình, con gái rượu của V/A cũng tốt nghiệp bằng đỏ khoa tiếng Anh của trường Đại học sư phạm Lê Nin năm 2005 ( cháu nó bây giờ " mất dạy" rồi sau khi sang Anh học thạc sĩ lại càng " mất dạy bạo" ) :emoticon-0127-lipss:emoticon-0102-bigsm

Không biết bác Hổ mọi người nhắc ở đây có phải mình không ta? :emoticon-0102-bigsm Nếu đúng thì ha ha, Hổ tôi được trẻ ra đến 1 con Giáp. Hí hí hí!

Thực ra Hổ già vẫn âm thầm theo dõi những tác phẩm của Thụy Anh, cũng như những gì bác Gà Mờ và mọi người post lên 4R.

Về Thụy Anh Hổ già rất vinh dự được biết nhà thơ, nhà văn và nhà dịch giả trẻ này. Khi Hổ già sang Nga học lại, cô bé đang học năm cuối của Trường SP Lê-nin. Đặc biệt hơn, cô bé còn ở đúng cái phòng mà thời sinh viên Hổ già đã ở. Trong phòng còn nhiều dấu tích của Hổ già để lại.:emoticon-0116-evilg

hungmgmi 11-01-2009 09:16

Trích:

Old Tiger viết (Bài viết 23489)
Không biết bác Hổ mọi người nhắc ở đây có phải mình không ta? :emoticon-0102-bigsm Nếu đúng thì ha ha, Hổ tôi được trẻ ra đến 1 con Giáp. Hí hí hí!

Bố cháu đọc không kỹ gì cả, cùng tuổi khác bằng tuổi nhé:emoticon-0136-giggl
Nếu đúng là Thuỵ Anh đã từng ở phòng bác thì đúng là Trái đất quá tròn rồi.

Old Tiger 11-01-2009 09:46

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 23490)
Bố cháu đọc không kỹ gì cả, cùng tuổi khác bằng tuổi nhé:emoticon-0136-giggl
Nếu đúng là Thuỵ Anh đã từng ở phòng bác thì đúng là Trái đất quá tròn rồi.

Bác Gà mờ ạ. Nhiều lúc đầu óc nó cũng u u, mê mê thế đấy :emoticon-0107-sweat. Già rồi! :emoticon-0106-cryin. Viết, post lên rồi mới nghĩ ra là cùng tuổi khác bằng tuổi. Hi hi :emoticon-0102-bigsm.

Chúng ta cùng chúc cho Thụy Anh - nhà văn, nhà thơ, nhà dịch giả trẻ này mạnh khỏe và cống hiến nhiều hơn nữa cho văn thơ, viết nhiều hơn nữa về nước Nga để chúng ta cùng thưởng thức và nhớ lại những ngày tháng không thể nào quên :emoticon-0155-flowe :emoticon-0150-hands

weekdaysman 11-01-2009 14:33

Trích:

Old Tiger viết (Bài viết 23489)
Trong phòng còn nhiều dấu tích của Hổ già để lại.:emoticon-0116-evilg

Bác làm em nhớ chuyện Thánh Gióng quá, hi hi. Có bác nào biết Thuỵ Anh thì nhắc Thuỵ Anh đừng ướm chân vào nhé, không thì nguy to đấy! :emoticon-0136-giggl

micha53 11-01-2009 15:46

Trích:

Old Tiger viết (Bài viết 23489)
cô bé còn ở đúng cái phòng mà thời sinh viên Hổ già đã ở. Trong phòng còn nhiều dấu tích của Hổ già để lại.:emoticon-0116-evilg

Thua nhau 1 giáp mà vẫn còn giấu ấn? Lạ nhỉ?
Hay là KTX chẳng cần phải sửa?
KTX trường tớ thì cứ 2 năm lại bắt SV - stroi otriat sửa lại.
Nhưng thực tình thì không biết dấu ấn của Hổ như thế nào nhỉ?
Mùi? Màu? Hay cái gì?

hungmgmi 13-01-2009 00:18

Thêm một tản văn, tạm gọi là vậy, của Thuỵ Anh viết về bạch dương-loài cây đặc trưng cho nước Nga. Bài đã đăng trên tạp chí Bạch Dương của Hội hữu nghị Việt-Nga:

Vì cớ gì ở nước Nga bạch dương xào xạc?

http://www.a-jewels.com/images/bereza.jpg

Chiều đã buông, cánh rừng đã lặng
Những thân cây dáng đứng thẳng vẫn buồn
Giá vùi mặt xuống đất kia như cỏ
Thì nỗi niềm có dễ chịu hơn không?

(Đom đóm rừng dương – Thụy Anh)

Ai từng ở Nga chẳng thấy thấp thoáng trong ký ức sâu xa của mình những thân cây đứng san sát, thẳng tắp và vút cao, trắng sáng lên trong buổi chiều tà. Đó là cây bạch dương - loài cây thân trắng, vỏ dễ bong. Lá nhỏ đều và tròn trịa, người lãng mạn sẽ ví chúng như những trái tim xinh, còn người thực tế hơn thì lại liên tưởng đến những đồng tiền xu bé xíu. Hoa của bạch dương nở vào dịp tháng Năm, thành chùm hoa phấn bám quanh một cái đài hoa dài vài đốt ngón tay, rủ xuống, trông giống như những chiếc hoa tai toòng teng của các cô gái mới lớn.

Hình ảnh cây bạch dương dịu dàng nghiêng bóng xuống dòng sông luôn đặc trưng cho nông thôn Nga trong trí nhớ của nhiều người Việt từng sống và học tập nơi này:

Lối mòn gợi nhớ làng quê
Bạch dương buông mái tóc thề đợi ai
Nghĩ người xưa đến tựa vai
Chiều đi thương bóng cây dài lặng yên

(“Hoàng hôn nhớ” - Nguyễn Đình Chiến)

Chiều nay, một buổi chiều thu muộn, chớm đông, tôi có dịp đi ra ngoại ô Matxcơva. Mùa thu vàng rực đã qua từ lâu. Bầu trời đã xám. Những rừng cây xa đã chớm lên màu đen sậm, mặc dù thảng hoặc vẫn thấy những mảng lá xanh thiểu não cuối mùa… Xe đưa chúng tôi đi về hướng Tula, cách Matxcơva độ 50 cây, thì trước mắt tôi hiện ra một cánh rừng bạch dương - hoàn toàn chỉ có bạch dương, không lẫn một loài cây nào khác. Trời không một chút nắng. Ánh sáng mờ nhạt từ đâu đó trên cao hắt xuống cánh rừng và con đường dài tít tắp. Cánh rừng bạch dương làm sáng lên thứ ánh sáng mờ ảo như không có thực ấy bằng những tán lá vàng muộn màng của mình, nhưng là một thứ màu vàng kỳ lạ lắm: chẳng rực rỡ bừng bừng như lá phong, cũng không ấm áp như màu nắng. Màu vàng ấy hình như chưa có trong từ điển để ta có thể dùng lời mà tả nó. Chỉ cảm được. Rằng nó đẹp một cách buồn rầu. Rằng nó sáng lên rụt rè, như là e ngại không dám cháy hết mình. Màu vàng đều và dịu, có phần cũ kỹ nữa. Nó lại cũng không tĩnh lặng. Những chiếc lá của rặng dương non thì có vẻ to bản hơn, trùm kín những thân cây khẳng khiu chưa lên hết màu trắng của vỏ cây, run rẩy theo gió, nghiêng bên này, ngả bên kia, trông rất tội nghiệp. Phía trên cao là những ngọn bạch dương già, lá tập trung chủ yếu ở phần trên. Có thể vì ở trên cao, ở xa, nên nhìn những chiếc tay lá ấy mới bé nhỏ làm sao! Qua cửa kính xe, tôi thấy chúng nhòa đi, thành những chấm vàng đang rung rinh, lay động rất vội vàng. Dù đang ngồi trong ấm áp, ta cũng không khỏi không cảm thấy gió lạnh đang về, len lỏi giữa các ngọn cây.

Lá bạch dương bao giờ cũng chín muộn hơn cả, vì thế mà hơn chục năm ở Nga, chưa bao giờ tôi được chứng kiến cảnh một rừng bạch dương đồng loạt ngả vàng như hôm nay. Cảnh tượng khiến tôi ngợp đi trong một thứ tình cảm lạ lùng, thấy cổ mình nghẹn lại. Những thân cây bạch dương cách nhau một khoảng đều đặn, cùng nhất nhất đứng thẳng mình. Cái gắng gỏi ấy sao lại gợi buồn đến thế: dường như chúng đang mang những tâm sự chất chồng mà chẳng muốn kể lể, phiền lụy ai, kiêu hãnh vươn người lên bầu trời chớm Đông nặng trĩu.

Ngắm nhìn kỹ một cây bạch dương, bạn sẽ thấy lòng dâng lên những cảm giác thương mến khó tả. Thân cây mảnh dẻ như một thanh nữ, lá cành thanh thoát mong manh, có vẻ rất non tơ. Thế nhưng, cái màu trắng chen lẫn đốt đen xạm của thân cây lại khiến ta tưởng đến những dạn dày sương gió. Mỗi cơn lốc tuyết, mỗi trận mưa rào, mỗi ngày oi nóng… tất cả theo tháng ngày khắc dấu lên thân cây. Cây càng cao, đốt trắng đen càng nhiều… Những cây bạch dương đứng tuổi có thể cao đến 30 mét, cành tỏa từ trên ngọn xuống đen xám, mảnh dài và rối lên vì gió, trông từa tựa cành liễu rủ khiến dáng cây không gợi vẻ cứng nhắc, mà ngược lại, mềm mại vô cùng.

Rễ bạch dương bám đất rất nông, vì thế, cây càng cao, càng yếu. Năm nay, có tin ở một vùng nào đó của Nga, tuyết đột ngột rơi dày, trong khi bạch dương chưa kịp trút lá, khiến tuyết qua một đêm đọng lại nặng trĩu cành, và cả cánh rừng ngổn ngang cây đổ.

Cánh rừng bạch dương không như những cánh rừng tạp khác, nó cho người ta nhìn thấu vào lòng. Chỉ ngồi trên ôtô mà ngoái lại tôi vẫn có thể nhìn xuyên qua những thân cao, trắng ấy, chạm mắt đến một lối mòn mờ nhạt phía xa, hay là khoảng rừng trống nằm sâu hơn trong đó. Thậm chí, tôi còn tưởng như nhìn được một vài con sóc nhỏ đang vui vẻ chuyền cành.

Xe lướt qua, những thân cây không chạy về phía sau vùn vụt như hàng cây đơn điệu bên đường cao tốc ở những nơi khác mà chậm rãi quay tròn trong một vũ điệu riêng, với tiếng nhạc lòng riêng của mình. Có thể giải thích cái tiết tấu chậm rãi ấy bằng một thực tế, rằng cánh rừng trải dài và sâu khiến ôtô dù có phóng nhanh mấy cũng không làm điệu vũ quay cuồng hơn. Và cũng có thể giải thích bằng một cách khác: đó là một bản van-xơ xoay buồn, trong tiết trời se sắt và màu trời xám lạnh của mùa Đông đang tới - không điều gì lúc này khiến điệu nhảy vui lên được!

Chỉ sang đầu tháng sau thôi, bạch dương sẽ hoàn toàn trơ trụi với những cành xám mảnh, giăng nối vào nhau thành một tấm lưới thanh thanh. Tấm lưới ấy sẽ đón giữ bông tuyết đầu mùa, vẽ nên vẻ đẹp bất tử của thiên nhiên Nga kỳ vĩ và khắc nghiệt - hình ảnh bạch dương thân bạc lấp lánh tuyết chắc chắn không bao giờ mờ nhạt đi trong văn chương và trong lòng những người từng sống trên mảnh đất này.
Người Nga cổ yêu cây bạch dương vì nó là một loài cây tượng trưng cho sự may mắn, hồn cây đuổi hết tà ma. Cành bạch dương được treo ở đâu, ở đó có sự yên ổn trong tâm linh con người. Và, trong các sự kiện trọng đại của cuộc đời, người Nga không bao giờ quên túm cành lá mảnh mai tỏa mùi thơm dịu nhẹ này: ngày sinh con, ngày khởi công xây nhà, ngày bắt đầu một vụ cấy trồng mới trên đồng, ngày dựng chuồng ngựa, và, thậm chí cả khi nướng xong một mẻ bánh mì mới vàng sậm trong lò, họ cũng bỏ thêm vào lò những thanh củi bạch dương cùng những lời nguyện cầu về một cuộc sống no ấm. Mùa hè, các cô gái quê thường lén vào rừng, hái một cành bạch dương xanh, ném xuống sông. Các cô muốn bói chuyện tình duyên: nếu cành ấy chìm hoặc trôi vào bờ, nghĩa là chuyện chồng con sẽ chưa đứng số; còn nếu cành cây trôi nổi trên dòng nước, đem theo những lời mong mỏi thẹn thùng của cô nàng, có nghĩa, cô sắp được nên duyên với người mình mơ ước.
Vỏ cây bạch dương có chất kháng khuẩn rất lớn, bởi vậy không khí trong rừng bạch dương luôn trong veo. Có người bạn Nga kể cho tôi rằng, người Nga cổ có câu: “Vào rừng bạch dương để mà hít thở khí trời, để mà sướng vui, còn vào rừng thông để mà tìm u sầu và cái chết…” Người nông dân Nga thích dùng đồ gia đình làm bằng vỏ bạch dương: bánh mì để trong hộp gỗ bạch dương sẽ lâu thâm hơn, mật ong, sữa, bơ... đựng trong âu gỗ bạch dương cũng giữ được rất lâu, lâu hơn cả cách bảo quản của con người hiện đại bây giờ là mọi thứ tống hết vào tủ lạnh. Lá bạch dương sấy khô làm thuốc; mật bạch dương giúp tăng sức đề kháng của con người; gỗ bạch dương làm nhà, làm bàn ghế, vỏ bạch dương làm gầu múc nước, làm biết bao đồ vật khác nữa.
Và, mỗi buổi chiều Đông, bước ra từ phòng tắm ghép bằng gỗ bạch dương đang bốc hơi nghi ngút, người ta cầm túm cành lá bạch dương quất lên người nhau khiến máu huyết lưu thông, tinh thần sảng khoái, người nhẹ bỗng đi không còn mảy may lo nghĩ điều gì.
Bạch dương… Chẳng có loài cây nào gắn bó với hồn Nga đến thế - tưởng như giản dị, mộc mạc, mà con đường đi đến với tận cùng thấu hiểu tâm hồn ấy vẫn chất chứa đầy những câu hỏi chẳng biết bao giờ được giải đáp:
Cớ gì ở nước Nga bạch dương xào xạc?
Cớ gì những thân trắng kia thấu hiểu lòng người?
Đứng bên đường tựa vào gió lả lơi
Và trút lá xuống sao mà buồn bã?

(Bài hát nổi tiếng của nhóm Liube)
Thụy Anh, 10-2007

hungmgmi 13-01-2009 00:23

Có thể xem video clip Берёзы"Cớ gì ở nước Nga bạch dương xào xạc" của nhóm Любэ-Liube đã được nhắc đến cuối bài trên:


hungmgmi 21-01-2009 16:08

Những mẩu chuyện xe buýt


Một tình huống của cuộc sống
Ôtôbuyt đi từ trung tâm Serpukhov ra vùng ngoại ô. Thành phố tỉnh lẻ, đường phố hẹp và không có quá đông người đợi xe. Có những đoạn hẻo lánh, những bến xe gần như hoang phế, thường lác đác có người xuống mà không thấy người lên.
Hôm nay đi đến một trong những đoạn đường như thế, bà soát vé quát to với cả xe: "Có ai xuống ở bến A. không?" Im lặng.
Xe yên tâm phóng ầm ầm trên đoạn đường vắng, bỏ qua bến xe cần đỗ. Khi xe đã băng qua bến một quãng thì chợt thấy một hành khách - một thiếu phụ - đứng lên hốt hoảng, ú ớ, tay khua mạnh, vẻ bực bội. Người đàn ông đứng bên quát to với tài xế, nhưng xe phải một lúc sau mới dừng lại được. Bà soát vé kêu ca, mặt khó chịu: "Lúc nãy hỏi thì không nói!".
Đến khi hiểu ra người phụ nữ này bị câm và điếc thì bà soát vé bần thần im lặng.
Cả xe đều im lặng, khi người khách lỡ bến xuống xe và cuốc bộ về phía sau.
Trong cuộc sống đôi khi có những tình huống như thế đấy. Mà không, cuộc sống đầy ắp các tình huống, từ hạnh phúc, đau khổ, bất ngờ, kỳ lạ... cho đến những tình huống chỉ đơn giản khiến ta thấy thoáng qua một chút ái ngại, nghẹn ngào thế này thôi.



“Con cũng thấy không tiện!”

Một lần tôi đi xe buýt ở Matxcơva. Xe đông, càng đến các bến sau, càng nhiều người lên, lại thêm người phải đứng. Tôi thấy hai mẹ con nhà nọ, người phụ nữ trạc gần 40 với đứa bé gái quãng độ 5 tuổi ngồi trên đùi mẹ. Người mẹ thì thào bảo con: “Con cứ ngồi đi nhé, mẹ đứng đây!”. Cô bé ngạc nhiên tròn mắt nhìn mẹ, thì chị giải thích: “Con ngồi thì không sao, con còn bé. Mẹ ngồi mà mấy bà già kia đứng, mẹ thấy không tiện!”. Tôi nghĩ thầm: Đúng là vẽ chuyện. Người già và người có trẻ em đi cùng nghiễm nhiên là những đối tượng ưu tiên. Chị ta có ngồi là ngồi cùng bé, có gì mà không tiện!
Xe đi thêm đoạn ngắn nữa thì đến bến mới. Cô bé con đứng dậy, cất giọng lảnh lót mời một bà già mới lên ngồi vào chỗ mình, rồi giật giật gấu áo mẹ, cũng hạ giọng thì thầm: “Mẹ ơi, con cũng thấy không tiện!”.

Mặc cho cụ già phản đối, cô bé vẫn kiên cường chống chọi với mấy cú xóc xe để giữ thăng bằng khi đứng, đôi tay bé nhỏ bám chặt lấy tay mẹ, đôi chân non nớt dạng ra gắng gỏi.

Cuối cùng, bà cụ âu yếm kéo cô bé lại gần, bế cô lên đùi mình. Hai người thoắt cái đã thành thân, như hai bà cháu.

Chỉ buồn cười là gần đó có đến vài ba anh thanh niên đang gà gật. Họ đâu có buồn ngủ, chỉ nhắm mắt để khỏi phải chạm mắt vào những cảnh khiến họ chắc hẳn cũng sẽ thấy “không tiện” một tí nào!

Người thân

Mấy tuần trước, tôi có việc phải đi xe buýt trên một tuyến đường lạ. Tuyến đường ấy chạy qua trường đại học Giao thông Matxcơva. Lúc đó độ 3 giờ chiều. Hành khách chủ yếu là những sinh viên vừa tan học, đang sôi nổi bàn tán điều gì đó. Bỗng, tôi giật bắn mình vì tiếng oang oang nói vọng vào micro của người tài xế. Mà lạ, người ấy lại là phụ nữ!
- Egor, Roma, thi lại chưa? Qua chưa, hay “lại điểm hai” ?
- “Giáo sư đã hài lòng” ! – Mấy chú sinh viên trong xe đồng thanh, rồi cười ầm cả lên.
- Năm sau nên để họ hài lòng ngay từ lượt thi đầu, rõ chửa?
Không khí trong xe có vẻ nhẹ nhõm hẳn. Những gương mặt người giãn ra, mặc cho ngoài trời mưa đầu hè kéo dài lê thê, rả rích và bầu trời không được mấy nắng.
Lát sau:
- Tamara Vladimirovna, bà đừng ngủ gật chứ! Kẻo lại quá bến đấy.
Một bà cụ như bừng tỉnh sau một ít phút chợp mắt trên xe, đứng lên, ngơ ngác ngó ra cửa sổ.
- Bến của bà đây rồi. Bà cứ xuống bình tĩnh, tôi không vội đóng cửa đâu. Chân bà đỡ đau rồi chứ?
- Cảm ơn, cũng đỡ nhiều lắm rồi…

Cứ thế cho đến tận bến cuối, người nữ tài xế vui vẻ trò chuyện với khách, liếc nhìn họ qua gương, hay nhìn thấy họ bằng cách nào đó, có thể là bằng trực giác. Những người khách quen. Một tuyến đường quen. Một người tài xế quen. Nhưng không phải ai cũng làm được điều này: biến người quen thành người thân, biến những phút giây, những ngày, những tháng, những năm dài lê thê đi mãi mòn mỏi trên một trục đường thành những khoảnh khắc ấm áp rất tình người như vậy.
Tôi chợt nhớ đến bộ phim thời Xô-Viết mà tôi đã quên tên. Chỉ còn nhớ có nhân vật là một cô gái lái xe buýt ở tỉnh lẻ. Cũng như người nữ tài xế này, cô chia sẻ với những hành khách quen của mình mọi vui buồn trong cuộc sống, hoặc chỉ đơn giản là một câu chào mở đầu một ngày mới: “Chào buổi sáng, các đồng chí!”.



Chia sẻ một bờ vai



Chiều thứ Sáu, mùa hè, đã muộn rồi mà trời vẫn sáng. Đoàn người xếp hàng đợi lên ôtôbuyt để ra ngoại ô Matxcơva kéo dài dằng dặc. Những gương mặt mệt mỏi đăm chiêu kiên nhẫn đợi đến lượt mình, mặc cho xung quanh các tay taxi rao ra rả: “Ai đi xe nào, còn một chỗ, giá rẻ bất ngờ!”. Vé đi xe buyt mất 140 Rúp, một chỗ taxi mất 600 Rup (đấy là đã rẻ bất ngờ rồi đấy!), ai dại gì mà đi! Vẫn biết nhanh hơn một chút, nhưng nếu kiên nhẫn mà tiết kiệm được hơn 400 Rup thì cũng đáng kiên nhẫn lắm! Tính toán thế khiến cái sự xếp hàng trở nên thú vị hơn hẳn, chả gì cũng có lãi!

Chỉ khổ cái là mỏi chân quá! Đứng, nhích dần theo hàng người…đôi chân đã đứng suốt trong metro từ sáng mấy lượt đi về, lại đi bộ qua dăm bảy phố, giờ rã ra, đau nhức.
Đến hơn một tiếng đồng hồ tôi mới lên được xe. Người đau nhừ. Yên vị trên ghế sát cửa sổ, tôi bắt đầu chìm vào giấc ngủ, mặc cho ánh nắng cuối ngày vẫn rực rỡ bên ngoài.
Và tôi mơ. Tôi thấy người tôi yêu ngồi cạnh tôi. Anh cũng mệt và cũng thiếp đi, đầu ngả vào vai tôi, tin cậy. Tôi hơi ngạc nhiên vì chưa bao giờ anh thích như thế. Như thế là ngược đời! Bởi anh là người đàn ông mạnh mẽ, là người để tôi dựa chứ không phải là người có thể dựa vào tôi, dù chỉ trong một thoáng ngắn ngủi của một giấc ngủ mệt. Nhưng tôi thấy lòng trào lên niềm vui nhỏ bé, cố gắng giữ yên để không đánh thức anh. Sẽ là một bờ vai êm ái, anh yêu!

Xe lắc mạnh. Tôi bừng tỉnh dậy, thấy chúng tôi đang đi ngang đoạn đường ray. Gần đó là cánh đồng cỏ khô đang cháy từng đám. Tháng này người ta đốt cỏ để chuẩn bị một vụ gieo trồng mới.
Vai trái tôi nặng trĩu. Dịu dàng quay sang với anh, tôi choáng người! Giờ mới thật tỉnh giấc! Một mái đầu người đàn ông xa lạ, đã có tuổi, tóc bạc gần hết, mệt mỏi ngả trên vai tôi. Mắt đeo kính. Tay ông ta vẫn khư khư giữ cái ca-táp đen nhưng giấc ngủ say đã khiến những ngón tay bắt đầu lỏng ra, nếu xe xóc thêm vài cú nữa hẳn cái ca-táp sẽ rơi xuống đất.

Khó chịu quá, tôi thử cựa quậy nhẹ. Ông ta chẳng động tĩnh gì. Trời ơi, làm sao bây giờ! Đoạn đường còn những hơn một tiếng nữa. Nếu ông ta cứ ngủ mãi thì tôi cứ ngồi mãi vậy sao? Với một mái đầu xa lạ trên vai?

Căng thẳng và bực bội, lại vẫn cơn thèm ngủ chưa hết, tôi áp đầu vào cửa kính xe, chạm phải vách nhôm lạnh toát. Không ngủ được nữa, tôi suy nghĩ miên man… Tự nhiên tôi nghĩ, người đàn ông bên cạnh tôi đang có một chỗ dựa êm ấm, chắc là giấc ngủ rất sâu. Có thể ông ta là một giáo sư đại học, giống như ông thày dạy của tôi năm xưa, có gia đình ở ngoại ô, sống trong ký túc xá của trường, cứ chiều thứ Sáu lại bắt xe về với vợ con.

Bất giác, tôi cảm thấy mình đỡ căng thẳng hơn đôi chút và suốt cả quãng đường còn lại, tôi đã chia sẻ bờ vai của mình cho giấc ngủ mệt nhọc của một người xa lạ.

Gần đến thành phố tỉnh lẻ, người lái xe thông báo tên bến, người hàng xóm của tôi tỉnh giấc. Tôi cảm thấy sự thảng thốt của ông vì vai tôi đột ngột nhẹ bỗng. Tôi vội nhắm nghiền mắt lại, vờ như cũng đang ngủ rất say. Tôi sợ ông xấu hổ, và cũng sợ mình bối rối. Tốt nhất là coi như không biết gì. Tôi cảm thấy ông loay hoay một lúc bên cạnh, rồi xe dừng, và ông đứng dậy. Chắc là ông xuống bến này. Hé mắt nhìn. Đúng vậy, ông đã đứng ở cửa xe, đợi đến lượt xuống. Tôi thở phào mở mắt, ngồi thẳng dậy. Khi xe đóng cửa, đi tiếp, tôi tình cờ ngó ra cửa sổ. Người đàn ông tóc bạc, đeo kính, xách chiếc ca-tap đen đang đứng bên vệ đường, nhìn về phía tôi. Tôi kịp thấy ông ta chắp tay cúi chào. Ở đây, nhiều người vẫn nghĩ đó là truyền thống chung của người châu Á.

Chắc ông ấy không biết là tôi mỉm cười.

Thụy Anh, từ LB Nga.
4-2008.

hungmgmi 21-01-2009 16:10

Tạm biệt nước Nga

Tạm biệt Người, mảnh đất xa xôi
Khi tôi ở đâu chỉ là đất ở*
Trong im lặng tôi lắng nghe hơi thở
Của rừng thông, bãi cát, đất bồi
Của đất đen trải thắm dưới chân đồi
Của sự sống đang trào dâng kỳ lạ
Mỗi mùa xuân bừng lên sắc lá
Sắc nắng, sắc trời, sắc nhớ, sắc mơ

Mảnh đất đã gọi tôi làm thơ
Đã cho tôi những đêm dài không ngủ
Thao thức nghe tử đinh hương khẽ nở
Phía trời xa mây tím cuộn trào
Trăm ngàn lần mà chưa hết nôn nao
Bao rung động vẫn vẹn nguyên tươi mới
Tình yêu này muốn mà không thể nói
Chỉ trái tim trong giấc ngủ vẫn rộn ràng
Chỉ sớm ra muốn cất tiếng ca vang
Cùng chú chim có bộ lông xanh biếc
Chỉ bước chân càng xa càng nuối tiếc
Tôi yêu Người, dù Người chẳng của tôi

Tạm biệt Người, mảnh đất xa xôi
Mà gần gũi với tôi từ thơ bé
Tôi đã nghĩ ngàn lần, tôi sẽ
Nói một câu gì trong phút rời xa?
Nói rằng tôi nhớ cỏ nhớ hoa
Nhớ thân trắng lá xanh cây hiền dịu
Nhớ hơi giá mùa Đông khó hiểu
Trinh trắng như tình yêu, khắc nghiệt như tình yêu
Nhớ những cơn giông vội vã buổi chiều
Như hờn giận lại dịu đi nhanh chóng
Muốn ngồi lặng bên mặt hồ gợn sóng
Để thời gian dừng mãi mãi một lần


Tạm biệt người yêu, về với người thân
Nơi máu thịt đang gọi tôi trở lại
Ở nơi nào cũng không nguôi trống trải
Giọt lệ này có được chẳng giản đơn!
Thêm tuổi đời tôi càng hiểu Người hơn
Những thất vọng chẳng còn cay đắng nữa
Bao chuyện thế thời không làm tôi bỡ ngỡ
Chỉ tình yêu vẫn thế, vẫn nguyên sơ
Giữa những dòng viết cũ, những câu thơ
Chẳng câu nào cho một lời lý giải
Vì đâu tôi đến đây, vì đâu từ nay xa mãi?
Tạm biệt Người, miền kỳ diệu xa xôi…



6-8-2008

Thụy Anh

hungmgmi 06-02-2009 11:29

Đoạn kết một câu chuyện lãng mạn

Đoàn tàu đang đi vào ga xép. Khựng lại đột ngột và tiếng phanh rít kéo dài. Có ai đó đứng ở hành lang cẩu thả kéo rèm ra nhòm trời. Trời đêm sáng nhờ nhờ. Hình như ở Nga, chưa bao giờ có đêm nào thật sự là đêm. Đêm mùa Đông sáng vì tuyết. Đêm mùa hè sáng vì ánh sao xa xăm, , vì những thân bạch dương lấp lóa trên đường, vì những cánh đồng hoa trắng... Và còn vì những thứ ánh sáng chẳng hiểu ở đâu hắt ra, cứ mơ hồ hiu hắt sáng lên trong thế giới này.

Một số hành khách lục tục xuống ga. Đám khác lên thay thế. Họ cố gắng nói khẽ, đi nhẹ, nhưng những bước chân vẫn cứ nặng nề, khiến hầu hết những người đang ngủ đều trở mình. Đôi tiếng thở nặng nhọc vang lên lẫn tiếng nói mớ, và cả tiếng chửi tục rời rạc!

Đây là toa tàu chợ. Những dãy giường song song dài khắp lượt toa tàu. Bên hành lang còn một dãy giường nữa. Mùi mồ hôi nồng nồng, mùi hơi men thoảng ra từ đâu đó, mùi âm ẩm của đêm và của chăn đệm giặt là vội vã, mùi thức ăn người ta mang theo đi đường. Mùi của đường xa.

Đã chục lần đi trên tuyến đường này mà tôi vẫn không cưỡng lại được ý muốn đứng ngoài hành lang, nhìn về phía trước, nơi bóng đêm và ánh sáng chốc chốc lại luân chuyển vị trí cho nhau. Nhưng tôi không cho phép mình làm điều xa xỉ ấy vì từ lâu, tôi đã không còn là đứa trẻ háo hức trong chuyến đi dài. Những chuyến đi của tôi đều mang tính chất … công vụ. Dưới lần áo khoác, tôi bận một chiếc áo có thật nhiều túi ở lưng và trước ngực mà chú tôi may cho. Cô tôi gọi đùa đó là chiếc áo “băng đạn”. Chú tôi khéo tay lắm. Chiếc áo vải thô màu xanh hoa trắng, sáu túi phía sau, bốn túi phía trước, mỗi túi có kích cỡ bằng một tập tiền… nhìn không hề xấu chút nào. Trông “mô-đen” nữa là khác!

Tôi đang thực hiện công việc của mình để đỡ đần cô chú, nhưng đúng hơn là để kiếm tiền nuôi thân. Tháng hai lần, tôi từ Len1 lên Mat2, gom tiền hàng của bà con đi chợ mang lên đưa cho chủ hàng. Hai mươi hai tuổi, học năm thứ 4 trường Sư Phạm, nhưng so với “Tây”, vóc dáng tôi vẫn non nớt như đứa trẻ học phổ thông. Tóc để ngang vai, đeo bờm cũng màu xanh điểm hoa trắng, quần bò bó ống – thứ đồ jean cô tôi vẫn buôn ở chợ - mỗi lần giặt là phôi đầy một chậu nước màu xanh đen, chân đi giày thể thao rởm của Tàu. Chẳng mấy ai ngờ tôi lại “đi chơi Thủ Đô” với chiếc áo đầy tiền như vậy.

Cho đến bây giờ, khi mọi điều đã là quá khứ, khi tôi chỉ còn việc ngồi hồi tưởng lại thời thiếu nữ lam lũ xứ người ấy của mình, tôi vẫn không thể hiểu nổi, vì sao tôi nhận công việc này không một chút sợ hãi. Thậm chí, chưa từng giữ trong người một vật gì để phòng thân. Không, thực ra là có một vật, một vật kỳ quặc để có thể coi là vũ khí. Tôi chẳng kể cho ai vì sợ mọi người cười. Đó là cái bút chì. Cái bút chì ngăn ngắn tôi vẫn dùng để đánh dấu sách hoặc ngoáy vài chữ bên cạnh những đoạn văn mà tôi tâm đắc. Mỗi lần lên đường, tôi lại hì hụi gọt cho nó thật sắc. Tôi kỳ vọng điều gì ở chiếc bút chì nhọn hoắt ấy nhỉ? Rằng có thể dùng nó đâm một kẻ xấu nếu hắn tấn công tôi? Không rõ. Chỉ biết là tôi cảm thấy gần như yên tâm mỗi khi thò tay vào túi áo khoác và chạm vào mũi nhòn nhọt của cây bút. Khi đọc sách trên tàu, tôi bỏ thói quen dùng bút gạch vào sách vì sợ nó cùn đi.

Bên cạnh tôi, một cô gái người di-gan đang ngáy khò khè trên chiếc giường nhỏ hơn so với thân người. Người di-gan dễ nhận ra lắm, họ luôn muốn tỏ ra cho cả thế giới biết chất du mục của mình thì phải. Chiếc khăn đội đầu sặc sỡ, cái váy xòe rộng bản, chưa cần nói chuyện, gần như tôi chắc chắn ai trong số họ cũng có một vài chiếc răng bịt vàng một góc, đôi mắt khi thức thì đen nhánh còn khi ngủ thì lông mi rợp xuống má. Tôi vốn chẳng ưa gì họ, những người ồn ào và hôi hám. Trẻ con thì bẩn thỉu và ranh mãnh. Chúng biết cách kiếm cơm rất khéo và trơ tráo. Đôi lần, ngay trong metro lúc đông người, tôi bị chúng giằng áo, túm tóc bằng những bàn tay lem luốc, khiến cho không chịu nổi phải “xì” ra ít tiền.

Vì có người xóm giềng đặc biệt như thế, chuyến đi lần này khiến tôi căng thẳng nhiều hơn. Mà thực ra hiếm có lần nào tôi ngủ được quá hai tiếng. Chiếc áo “băng đạn” cộm lên trong người. Áo khoác không dám cởi, lại trùm một lần chăn chiên. Lưng tôi lúc nóng bừng, lúc ngứa ran… Nhưng cứ nghĩ đến số tiền được nhận sau chuyến đi, tôi lại thấy… dễ chịu. Số tiền học bổng còm không đủ cho tôi chi tiêu sinh hoạt, nói gì đến chuyện mua sách vở hay hứng chí đi lang bang khám phá thành Len vào những buổi chiều nắng không chịu tắt! Vì thế, kiếm được việc này, tôi mừng húm. Cô chú kiếm việc cho tôi là cô chú họ thôi. Họ hàng thế nào tôi cũng chẳng biết, nhưng có họ - ở nơi xa này, thế đã là người rất thân rồi. Cô chú bán hàng ở chợ, hàng nhận qua xe từ Mat. về, trả tiền “xu-khôi”3. Lẽ ra có thể gửi tiền lên theo xe. Nhưng có lần xe bị cướp giữa đường, mất hết tiền của cả mấy chục người ở chợ. Người ta bảo có kẻ “phím” cho bọn cướp, tôi chẳng hiểu thực hư ra sao. Sau đợt đó, người đi chợ Trung Tâm, những người bán hàng “ốp-tầm”4, ai cũng lo lắng… Thế rồi tự nhiên nảy ra một đứa tôi – không quá tham tiền để có thể “bốc hơi” cùng đống của mồ hôi nước mắt này, mà cũng không quá thờ ơ với tiền nên liều nhận việc liên lạc mạo hiểm mà ai nấy đều ngại… - mọi người mừng lắm. Nhưng cô chú tôi cẩn thận, chỉ rỉ tai với dăm người cùng hội mà thôi.

Được trả công cũng khá, tôi đã bắt đầu sống cuộc sống dễ chịu hơn. Tôi góp tiền ăn nhiều hơn đôi chút với bọn cái Hòa, cái Hương, bảo bọn nó đi chợ thì mua hành mùi, những thứ mà trước đó, chúng tôi không dám ngó tới. Túm hành hoa đắt ngang cái bắp cải, cho dù là cái bắp cải trắng phớ không có chút màu xanh. Tôi thường thái mỏng xào trứng, chứ luộc thì cứng và không mấy ngọt. Còn thịt nữa. Tôi đã dám mua thịt tươi về đãi cả block5. Những tảng thịt đo đỏ, hồng hồng, nhìn đã thấy vui mắt. Bây giờ có kể lại, bọn sinh viên trẻ mới sang chắc chẳng đứa nào tin. Nhưng hồi ấy ở Nga là thế đấy, những năm 90. Bọn tôi thường kiên trì xếp hàng để mua thứ thịt xén thành khuông như khuông gỗ, cứng như đá, nổi vân như đá, màu hồng đã ngả nhiều sang trắng, vương hơi tuyết trong kho chứa có dễ đã mấy tháng trời. Nhìn cái Hòa hì hục … gọt thịt mà thấy thương. Dùng dao nhỏ gọt như gọt bút chì. Từng miếng thịt mỏng được bong ra, như những phoi bào. Bằng không thì phải nhờ anh Vinh nghiên cứu sinh, sống ở tầng dưới. Anh có cái rìu bé chuyên bổ thịt. Anh bổ cho thành hai ba tảng nhỏ. Rồi lấy một tảng cho vào nilông, ngâm trong nước nóng. Độ vài tiếng cũng được một miếng thịt mềm ngoài, bên trong vẫn còn rắn.

Nghĩ lan man, tôi thấy mình đã ngồi dậy tự lúc nào. Ngoài trời hình như có một cơn giông vừa ngang qua. Hơi mát từ cửa sổ ùa vào. Có mùi cỏ rất ngát. Tôi yêu mùi hương nước Nga sau cơn giông. Có thể gọi là ngọt ngào, tươi mới. Cũng có thể gọi là nồng nồng, ngai ngái. Có cả mùi phân bò đang hoai dậy lên nữa cơ. Hoặc đôi khi tôi nghe được cả mùi tanh, dường như là mùi cá đớp nước ở các đầm cỏ lác, hay từ các xô cá của người đi câu buổi sớm, với làn gió vô hình thoảng qua.

- Cô bé không ngủ được à? Nhập bọn với chúng anh đi!

Một hội đàn ông, già có, trẻ có, bỗng xuất hiện, tụ tập cả dưới chân giường tôi. Ở đó có hai cái ghế mềm. Đám đàn ông Nga kéo từ toa ăn về, chắc đã uống khá, ngật ngưỡng đùa cợt với nhau. Những con người to lớn, những đôi tay như bị phù, mắt đỏ, tai đỏ, những đám râu không cạo quanh cằm dường như cũng ánh màu. Họ không dữ dằn. Tôi chẳng sợ họ, nhưng cũng chẳng ưa họ. Họ ồn ào và hôi hám. Giống như người di-gan.

Một gã ngồi phịch xuống giường tôi, kéo chăn, dí cho tôi nửa chai bia uống dở.

Giờ thì tôi bắt đầu run. Tôi chỉ sợ bọn họ phát hiện ra vẻ kỳ quặc của tôi: đi nằm mà mặc cả áo khoác! Mà bấy giờ là mùa Hè, cho dù là một mùa hè mưa bão và rét mướt thì không khí trong một toa tàu chợ vẫn rất ngột ngạt.

Tôi chống đỡ yếu ớt:

- Tôi bị mệt…

- Mệt à? Uống ngụm bia khắc khỏi.

Gã lè nhè nói, rồi kể lể một tràng những chuyện gì đó. Tôi chẳng nghe được vì tai đã ù lên. Thêm một gã nữa ngồi lên giường tôi. Gã này còn trẻ và chưa say, giương mắt nhìn tôi chòng chọc. Tôi túm chặt tay vào cọc giường, không muốn mà tay đã run bần bật, quên bẵng cả chiếc bút chì nhọn hoắt trong túi áo.

- Để cô ấy yên!

Một tiếng quát, không to, nhưng vừa đủ đanh. Một ánh đèn pin chói gắt lia qua những gương mặt đỏ bủng beo.

- Các anh đứng dậy khỏi giường. Tôi gọi phụ trách tàu ngay bây giờ đấy!

Người vừa quát hạ giọng nói nhỏ, nhưng dứt khoát. Một người châu Á! Đúng hơn là một thanh niên Việt Nam!

Có lẽ trong 22 năm sống trên đời, chưa một giây phút nào tôi cảm thấy vui sướng như vậy. Cổ nghẹn lại với cái cảm giác của một người đang bơi thì bị chuột rút, vớ được chiếc phao trên bờ quăng xuống. Đồng thời, một nỗi mệt mỏi bỗng dưng xâm chiếm toàn bộ con người, cứ như thể nãy giờ tôi vừa đánh nhau với cả một đội quân!

Khi đám đàn ông vừa lèm bèm vừa bỏ đi, tôi không còn đủ sức đứng dậy. Tay vẫn bám chặt cọc giường, tôi nhìn người thanh niên trân trân. Một người con trai dong dỏng cao, bận chiếc áo gió mỏng, tay cầm chiếc balô nhỏ. Anh ghé xuống phía tôi, nói khẽ: “Em đừng sợ, họ cũng không định làm hại em đâu. Họ say, quậy chút thôi. Ngủ đi nhé, mai gặp lại. Anh nằm cách đây năm giường.”

Tàu lắc một cái thật mạnh. Gan ruột tôi nhao đi. Ánh sáng lại loang loáng luân chuyển trên các khoang cửa sổ tàu. Tôi thấy bóng dáng người con trai trong một tích tắc ngời lên. Rồi gần như ngay lập tức, tôi chìm vào giấc ngủ, không còn kịp nghĩ ngợi về chàng trai vừa hiện ra trong đời tôi, trong vầng hào quang y như cổ tích ấy nữa. Tôi mơ thấy những hàng cột mốc lao nhanh vun vút về sau, giống như tôi đang đi xe khách trên con đường nắng gắt ở Việt Nam thời nhỏ.

***

Về đến Matxcơva, biết tôi định đến Đôm 5 mới, Thắng, “người hùng” vừa cứu tôi ban đêm, vẫy một chiếc taxi. Anh nói giản dị: “Đi với anh” mà không hỏi han gì thêm. Anh cũng không mất công mời mọc hay thuyết phục. Chẳng hiểu sao tôi ngoan ngoãn đi theo anh, leo lên xe mà chẳng thấy chút phân vân, cho dù thời ấy, tôi nghe biết bao nhiêu chuyện lên taxi là bị đưa vào rừng, trấn cướp… Khi ấy tôi gần như quên cái áo băng đạn của mình, chỉ còn một cảm giác mơ mơ hồ hồ là tôi đang ngồi bên cạnh một người con trai đĩnh đạc và quyết đoán. Tôi chỉ hơi co người khi anh vô tình chạm vào lưng tôi. Lưng lại nóng bừng bừng. Và hình như cả má và tai nữa. Tôi nghĩ bụng, anh sẽ nói gì nếu biết mục đích lên Mat của tôi? Một con bé sinh viên thoạt nhìn có vẻ ngây thơ, mà lại đi chuyển tiền, đâu phải một lần, đã rất nhiều lần, đã lọc lõi! Tôi len lén thở dài.

Matxcơva dạo ấy chưa nhiều xe cộ như bây giờ. Đường vắng người. Nắng mới rải dọc những con đường nhựa bóng. Mat ấm hơn thành Len của tôi rất nhiều. Và tôi cảm nhận được cả hơi ấm từ người con trai mới quen khiến bàn tay tôi đang lạnh buốt vì hơi giá buổi sớm bỗng ấm lại. Điều này khiến tôi hơi xấu hổ.

- Tạt qua nhà anh chút đã nhé. Rồi mình cùng sang Đôm 5. Anh cũng có việc qua đó. – Thắng đột nhiên đề nghị.

- Nhà anh? Ở đâu ạ? – tôi hỏi ngớ ngẩn. Vì anh có nói thì tôi cũng làm sao biết được. Đường ở Mat, tôi chỉ rành mỗi con đường Aminhev, nơi có Đôm 5 mới và Đôm 11, là hai cái “ốp” lớn của người Việt mở ra làm chợ.

- Ngay cạnh Đôm 5. Anh về cất đồ rồi đưa em sang luôn, nhé?

Tôi máy móc gật đầu.

Suốt dọc đường, tôi liếc nhìn anh mấy lần. Lần nào cũng bị anh cảm thấy, và anh quay lại cười, nụ cười rất dễ mến. Gương mặt vuông vuông, có vết xanh xanh mờ mờ của một hàm râu quai nón.

Năm cái ống khói to cồ cộ quen thuộc của khu vực Đôm 5 mới hiện ra. Xe ngoặt vào khu nhà đối diện. Thì ra, nhà anh thuê ở ngay bên kia đường. Một dãy nhà dài dằng dặc, có đến chục cái cầu thang. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy ngôi nhà nào dài như thế. Người ở cầu thang đầu chắc không thể biết người sống ở cầu thang cuối.

- Bọn anh ở đây có 4 người. Thuê nhà cho tiện sang Đôm 5 làm ăn. Còn thì vẫn có phòng ở ký túc xá, trên đồi Lenin ấy mà, em có biết không?

Tôi làm sao biết được! Sau này tôi có được đến đó dăm lần, những khi anh đi học. Anh là nghiên cứu sinh khoa Vật Lý trường Tổng hợp Lomonosov. Tôi yêu căn phòng bé tí tẹo của anh trên đồi Lenin ấy lắm. Phòng chật chội, nhưng cửa sổ lại nhìn ra một khoảng trời xanh ngắt. Giống như hiện thực và ước mơ. Hiện thực nhỏ hẹp, ước mơ lại vô cùng.

Thật lạ. Đi bên anh, tôi thấy như đi bên một người thân. Anh đã kịp kể cho tôi nghe, nhà anh đón biết bao người Việt từ quen thân đến quen sơ về tá túc khi mới chân ướt chân ráo sang Nga. Có lần, một bác đã có tuổi từ Việt Nam sang tìm đường làm ăn, ngại phiền chủ nhà nên “tự thân vận động” - ra đường vẫy taxi, chìa mẩu giấy ghi địa chỉ Đôm 5 mới. Gã taxi chả nói chả rằng, đòi một khoản tiền khá lớn, rồi đưa bác ta vòng vèo qua mấy con phố để rồi đến cái đích là… dãy nhà bên kia đường! Tôi phì cười, thấy câu chuyện gặp anh giữa đường càng lúc càng lãng mạn.

Khi lên đến nhà mới là lúc kết thúc câu chuyện lãng mạn của tôi. Anh giục tôi bỏ áo khoác vào nghỉ đôi chút. Tôi túm chặt lấy vạt áo khoác, đứng như một con ngố ở giữa hành lang tối om của căn nhà.

- Em sao vậy? – Anh hỏi, và bật công tắc đèn. Bỏ chiếc áo gió xoàng xĩnh ra khỏi người, anh thận trọng gỡ chiếc áo bên trong. Một thứ thật quen thuộc đối với tôi: đó là …chiếc áo băng đạn! Chỉ khác là màu xám và không quá căng như chiếc áo tôi đang mặc đây. Tôi tròn mắt thấy anh rút từng tập tiền đô (à, tiền của tôi là rúp, túi căng hơn của anh là phải rồi!), gói vào một mảnh giấy báo, nén xuống dưới một chiếc túi nilông sẫm màu.

- Bọn anh buôn xanh6. – Không chút ngại ngần với người lạ, anh nói. Rồi thêm: - Lát em cầm cái “paket”7 này cho anh nhé. “Trẻ em” cầm tiền không ngại – Anh nheo mắt cười. - . Từ đây sang bên đó, có một đoạn đường bộ thôi mà đôi khi công an cũng chặn ở chỗ lối mòn đấy.

Bấy giờ, tôi cũng chẳng ngại gì nữa mà không bỏ áo khoác, để anh nhìn thấy chiếc áo xanh hoa trắng của mình. Anh ớ ra một giây rồi cười ha hả. Tôi cũng chưa từng nghe giọng cười nào vang và lôi cuốn đến thế! Cười chảy cả nước mắt. Rồi bảo:

- Khổ thế đấy. Cái thân kẻ sĩ thời buổi này… Nhưng em cũng liều thật, cô bé ạ!

***

Thế là những ngày còn lại của mùa hè rét mướt năm ấy đã bừng sáng trong tôi. Tôi đã yêu.. Hôm đầu xuống Len tìm tôi, anh đã tặng tôi … cái đèn pin. Đúng cái đèn pin anh dùng để bảo vệ tôi trên chuyến tàu đêm nọ. Anh bảo: “Đôi khi chỉ cần ánh sáng lóe lên là đã có thể ngăn chặn được tội ác. Chứ những thứ sắc nhọn như của em, chỉ để gãi lưng người ta thôi!”. Anh giễu cái bút chì của tôi như vậy. Tôi cãi:

- Em có thể đâm, nó nhọn lắm!

- Xin em! Em chẳng cần đến nó cũng có thể làm một người bị trọng thương rồi. Đúng vào tim ấy chứ!

Tôi sẽ không kể lại những ngày yêu đương ấy làm gì. Vì tình yêu nào mà chả giống nhau. Những góc đường chân vừa bước qua đã thành kỷ niệm. Nụ hôn đầu tiên, trên một chiếc cầu bé vắt qua một con kênh. Những ngọn đèn cổ màu đen, hoa văn kỳ dị, chỉ làm cảnh chứ chẳng được thắp sáng. Trời màu tím. Nhưng ánh sáng vẫn từ đâu đó hắt ra. Như thể hắt ra từ trong mỗi người chúng tôi vậy.

Đến giờ tôi vẫn tự hỏi, những đôi tình nhân sau khi trao nhau nụ hôn đầu, ngây ngất trong vị ngọt ngào của nó, tại sao lại không thể tìm được vị ngọt ngào ấy nữa, sau vài tháng, vài năm, hoặc rất nhiều năm sau, cho dù họ vẫn bên nhau, thành vợ thành chồng, vẫn nói lời yêu thương?

Thắng, chồng tôi bây giờ, không còn hôn tôi như Thắng ngày ấy. Mà dường như, những nụ hôn thưa đi ngay sau một tháng đầu tiên quen nhau. Tôi chẳng còn nhớ, người ta có thể hôn nhau vì một cảm xúc bất chợt đến trên đường. Vì một trận mưa lá vàng. Vì một buổi chiều quá tĩnh lặng.

Một lần, tôi rủ anh đi dạo và chủ động ôm lấy anh. Khi cảm thấy những nồng nàn xưa cũ bắt đầu dâng lên trong lòng, tôi hôn anh. Anh giữ nụ hôn ấy trong một giây, rồi thì thầm: “Để tối…”

Để làm gì? Tại sao?

Bây giờ thì tôi không còn mơ như đêm nào nữa, mà thấy rõ cuộc đời mình đang trôi như những hàng cột mốc, trên con đường nắng gắt.

Khi bắt đầu viết những dòng này, tôi cứ ngỡ sẽ có được một câu chuyện lãng mạn. Nhưng không hiểu sao đã không thành. Mọi câu chuyện bắt đầu có lãng mạn đến đâu cũng đều kết thúc nhàn nhạt như vậy, hay vì cuộc sống vốn rất đỗi bình thường, chỉ thấy được những nét lấp lánh khi ánh sáng và bóng tối luân chuyển nhau chiếu qua những cửa sổ toa tàu?


Thụy Anh, LB Nga - 2008

Cá Măng 09-02-2009 16:26

Hôm nay nhằm ngày nguyên tiêu, trong nắng xuân rực rỡ, tại (hình như) số 1 Quốc Tử Giám xuất hiện một thích khách:
Trầm ngâm trong bóng râm
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image014.jpg
Tặng thơ dịch Onga Becgon cho..bóng râm
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image016.jpg
Một số người nhận ra cô
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image011.jpg
Trình diễn thơ:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image020.jpg
Làm ngưòi mẫu ảnh:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image023.jpg
Không quên báo chí:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image013.jpg
Chụp ảnh với phóng viên NNN:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image015.jpg


Và cuối cùng, Thụy Anh, chị cười với Nuocnga.net nào:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/Image010.jpg

hungmgmi 10-02-2009 11:28

Đồng chí Thụy Anh bận áo nâu sồng trông "chân quê" đáo để nhỉ? Mình mới nhìn thấy Thụy Anh đúng một lần vào dịp 7/11 năm ngoái, nhưng hôm đó say quá nên...quên mất dung nhan như thế nào rồi:emoticon-0127-lipss, chỉ nhớ là đồng chí này hát romans quá hay. Cảm ơn cô Măng nhé, cô xứng danh là paparazzi của NNN đấy:emoticon-0150-hands
Nhân dịp này, xin post truỵên ngắn tác giả mới gửi cho:

Cái bóng

Tặng Đêm mùa đông…


Tôi là một cô gái trẻ, trong quá khứ từng yêu mãnh liệt một người. Nhưng giờ, đôi khi tôi lại là một cái bóng.

Một chàng trai đang rảo bước trên đường. Anh ấy cao dong dỏng, có đôi bàn tay mềm mát rượi với những ngón tay mảnh và dài. Anh ấy là bác sĩ mà. Bác sĩ thường có đôi bàn tay như thế. Đôi bàn tay ấy hẳn là dịu dàng lắm, không làm ai đau bao giờ đâu.

Và tôi biến thành cái bóng của anh. Anh ấy không ngờ đến điều đó, vô tư rảo bước trên con đường từ cổng dẫn vào khu viện, nơi anh làm việc. Nắng sớm chiếu chếch đi một tí, nên tôi hiện ra rất rõ dưới chân anh, ngả đen dưới đường. Nếu ai để ý thì sẽ thấy cái bóng này kỳ lạ lắm. Nó không dài như cái bóng thường, mà nó tròn trịa. Nó lại có vẻ như nhòe nhòe ra, khiến nhìn như là có mái tóc dài đen đang bay dưới đất ấy, mà anh thì có mái tóc cắt ngắn gọn gàng.

Anh bước vào khu hành lang bệnh viện, khuất trong bóng râm… Và tôi biến mất. Chỉ khi có nắng tôi mới được ở bên anh thôi. Còn thì, tôi lại trở lại là tôi, một cô gái trẻ, tròn trịa, có mái tóc chấm lưng, rất đáng yêu và.... làm việc cùng bệnh viện với anh.

- Cô Lan!

Tiếng gọi giật giọng làm tôi hoảng cả hồn. Độ này tôi hay bị giật mình lắm, có lẽ thiếu chất gì chăng?

- Lúc nãy cần có người vào sổ số liệu đo huyết áp của bệnh nhân mà cô biến đi đâu hả? Dạo này cô làm sao ấy, chốc lại chuồn đi chơi vào giờ làm việc. Không được đâu đấy…

Lúng búng xin lỗi, mặt đỏ bừng, tôi cúi gằm xuống trang sổ trực. Tim đập rộn lên đau đớn, tôi mong sao không ai biết rằng những giây phút tôi vắng mặt ấy... chính là những khi trời nắng và anh chạy ra đường có việc. Cứ thế này thì rồi sẽ đến lúc tôi bị đuổi việc mất thôi.

***

Tất cả bắt đầu bằng một giấc mơ. Tôi mơ về anh, mơ nhiều lắm. Mơ anh biết đến tôi, rồi hai chúng tôi đi dạo trên con đường đầy hoa trắng. Chẳng hiểu sao lại là hoa trắng, như là hoa mận, hay hoa táo gì đó… Và nắng, nắng nhiều như thể chưa bao giờ có ấy. Tôi nhớ, tôi nói đùa với anh, tất nhiên vẫn là trong mơ: “Em muốn là cái bóng của anh… Em chẳng muốn là em nữa…” Anh cười: “Nếu em muốn, thì điều đó sẽ là sự thật mà em!”

Và khi tỉnh giấc, tôi thấy tim dâng lên một cảm giác ngọt lịm, như là có ai vừa nói lời yêu tôi. Bên tai như có ai đọc thơ, một bài thơ của Lưu Quang Vũ mà tôi vẫn yêu:

“…Anh vọng về em một sắc trời xanh
Ở nơi xa em có nhớ gió ân tình
Có phải mơ không mà anh thấy em trong tà áo
Một hương môi mận chín một lời thanh
Ru giấc mơ buồn khoé biếc long lanh

Tự nơi xa hương quen ấm ngày lòng anh nhạt
Em như gần như xa lẩn khuất
Anh bỗng thành chim nhạn vọng trời xanh
Anh nhớ em trong nỗi lá nhớ cành …”…

Chết! Mình có bị làm sao không?

May quá, chẳng làm sao cả. Tôi vẫn làm các công việc bình thường. Lên xe đi đến bệnh viện, tôi phóng vẫn nhanh như từng phóng, tóc vẫn bay rối ra đằng sau và vẫn thấy thích thú khi cho một vài anh chàng… “ngửi khói”! Nhưng, than ôi, đến khi ngồi yên vị trong phòng trực y tá, ngóng thấy anh đi qua khoảng sân rộng có những bụi hoa vàng nho nhỏ, tôi mới thấy người là lạ, như là cảm nắng vậy. Rồi bỗng nhiên, tôi thấy mình hẫng đi, và rơi xuống dưới chân anh… Giấc mơ đã thành hiện thực! Lúc ấy tôi chẳng hoảng sợ chút nào, chỉ buồn cười ghê lắm. Làm sao lại có thể xảy ra chuyện kỳ quặc thế cơ chứ! Sau đó thì tôi thấy trào lên một niềm vui sướng không thể tả. Tôi đã được là cái bóng của anh! Tôi có cần gì hơn đâu! Anh là người thành đạt, là một bác sĩ giỏi… Và đã có gia đình. Gia đình anh – một gia đình hạnh phúc. Tôi chẳng ghen tị gì với vợ anh, chỉ thấy ngưỡng mộ chị ấy, thấy yêu hai đứa nhỏ của anh… Chẳng ai, chẳng một ai đoán ra là tôi đã yêu anh từ lâu, từ hơn một năm nay rồi ấy! Vâng, tình yêu này không ai biết, kể cả anh.

Ồ mà tôi không chắc anh có biết không, vì rõ ràng đêm ấy, trong mơ, tôi đã thổ lộ với anh rồi cơ mà! Nếu anh không biết, nếu Trời Đất không biết, hẳn tôi không thể biến thành cái bóng của anh như tôi ao ước được!

Tôi không nghĩ nữa. Cái bóng, dù là bóng của ai đi chăng nữa, cũng không biết nghĩ. Nó chỉ biết đi theo người chủ của mình thôi… Và thế là tôi đi theo anh, chẳng nghĩ gì cả… Cho đến khi tắt nắng hoặc đến khi anh vào bóng râm….

***

Mấy hôm nay trời mưa suốt. Gần như không lúc nào có nắng. Bầu trời như sập xuống khiến đầu tôi lúc nào cũng nặng như đeo đá. Đêm trực, tôi ngồi ngóng anh đi ngang qua. Đêm nay anh cũng phải trực cấp cứu… Kia rồi, anh đang đến, dáng vẻ bận rộn… Tôi mỉm cười chào anh, chờ anh gật đầu lãnh đạm và bước ngang qua như mọi hôm... thì, lạ thay, anh dừng lại:

- Chào em!

- Dạ?

Tôi luống cuống. Lần đầu tiên anh chào tôi như thế. Tim tôi nhói lên một cái, không rõ ra vui hay là lo sợ nữa.

- Anh hỏi này, em làm đây lâu chưa?

- Dạ, lâu rồi ạ. Đã 3 năm…

- Ồ, sao anh không nhớ em nhỉ? Chỉ thấy quen quen…

Anh làm sao nhớ được tôi! Tôi, một cô y tá bình thường, luôn chỉ xuất hiện bên bệnh nhân, thậm chí còn ít khi cùng đi với bác sĩ thăm khám bệnh thường ngày nữa cơ. Công việc của tôi không cho phép tôi ở bên cạnh anh, chỉ dõi theo anh từ xa mà thôi.

- Thật đấy, anh thấy em quen lắm. Như là đã nói chuyện mấy lần rồi ấy. Lạ nhỉ!

Anh nói vậy rồi lắc đầu quay đi… để lại tôi bâng khuâng, ngơ ngác, hồi hộp... và cảm thấy đôi chút hy vọng mong manh nhen lên trong lòng.

***
Đợt ấy ngày mưa kéo dài… Tôi đã quên mất mình từng là bóng của anh thì… một ngày thứ Bảy bừng nắng! Tôi tỉnh dậy, thấy mình đang ở một nơi đẹp lắm. Có tiếng sóng biển từ xa vọng vào. Gió mặn. Cát trắng… Và tôi… ngả dài trên cát, dưới chân người đàn ông yêu dấu của lòng tôi. Có tiếng trẻ con ríu rít, tiếng cười của anh rất vang, tiếng cười của một người phụ nữ trong trẻo chứng tỏ một tâm hồn sáng đẹp… Tôi bỗng thấy buồn. Buồn lắm. Đến nỗi cái bóng cũng trĩu nặng... và tôi… đã dừng lại trên cát lúc nào không biết, không chạy kịp theo người chủ của mình nữa.

Có tiếng kêu thất thanh từ phía xa, nơi anh đang cùng mọi người chơi bóng chuyền trên cát, bên bờ biển. Một đám đông xúm đến, những tiếng xôn xao:

- Không sao, cảm nắng thôi mà… Đưa cậu ấy vào bóng râm… Nhúng ướt cái áo này… dấp vào mặt, nhanh!

- Lạ nhỉ, khỏe như vâm, đi nắng có bao giờ đội mũ... Thế mà bỗng nhiên lại cảm nắng…

- Có tuổi rồi, 36 rồi, chứ có còn trai trẻ như mười tám đôi mươi đâu, không kiếm cái mũ đội vào! Chú này ẩu quá!

- Năm nay năm tuổi đấy, chẳng khéo…

Trời ơi… Tôi đã làm gì thế này? Tôi đã hại anh! Tôi nhớ câu chuyện đọc được hồi bé, rằng người mà tự nhiên mất bóng là có thể ốm, có thể chết nữa…. Tôi ào vào anh, nhưng không được, anh đang ở trong bóng râm. Mơ màng, tôi nghe như anh hỏi tôi:

- Sao em lại làm thế? Sao lại bỏ anh?

Tôi, một cái bóng nằm trên cát, ở ngoài nắng… không nằm dưới chân một ai cả…., dịu dàng hướng về phía bóng râm ấy, nói:

- Vì em yêu anh…

Tức thì, tôi lại hẫng đi... Trời nắng rực lên một lần nữa rồi mây đen vần vũ kéo đến. Mọi người hấp tấp chạy vào những quán lá bên cạnh bờ biển để trú mưa. Mà sao mưa không rơi, chỉ có gió và mây đen, chớp nữa... rạch giữa trời và rơi xuống biển… Biển động ì ầm, nhưng không có sóng mạnh, chỉ tối sầm lại thành một khối xanh nâu… Có gì thế, như ấm ức, như nghẹn ngào…

Tôi đã lại là tôi, lại thấy mình đang đứng lẫn trong đám đông những người đi nghỉ mát cùng cơ quan do Công đoàn tổ chức. Thấy anh đang ngồi bên bàn nước cùng vợ và hai đứa con. Nhưng một thoáng, hình như anh nhìn tôi, ánh mắt là lạ, như hỏi:

- Anh thấy em quen quen… Anh có quen em à?

Tôi mỉm cười gật đầu với anh, trong lòng thầm nói:

- Không, anh ạ, em không quen anh. Em chỉ yêu anh mà thôi…

Từ buổi đó, tôi đã trở lại là tôi, một cô gái trẻ, tròn trịa, có mái tóc chấm lưng và rất đáng yêu. Chỉ là tôi thôi, chẳng là cái bóng của ai cả!

15/7/07
Thụy Anh.

Cá Măng 10-02-2009 12:15

Chị Thụy Anh vẫn vào Nuocnga.net đấy ạ và chị thấy mọi người ở đây rất vui:emoticon-0100-smile. Được gặp chị Thụy Anh em thích cực vì chị ấy hiền và dễ thương lắm, chị đã là sao rồi mà đọc thơ xong xuống còn toát mồ hôi hỏi em có được không, hu hu em cảm động quá đi mất. Anh Mờ bảo chị ấy gửi mấy bài thơ đọc ở Văn Miếu lên đây đi, thơ chị ấy em thấy còn hay hơn cả văn. Mà anh Mờ post hộ cho 3 tháng tập sự; 3 tháng sau thì Thụy Anh đăng ký nick tự post đi, nhỉ? Em chẳng duyên nợ gì với nước Nga mà còn xì pam ầm ầm nữa là Thụy Anh.:emoticon-0102-bigsm. Việc này triển khai ra sao em giao cho anh Mờ.
Mà em cũng có ảnh áo nâu, hồi bọn em đi diễn thuê cho mấy anh bên công an á, cho em nhờ đất em khoe tý:
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/DSC00660.jpg

micha53 10-02-2009 13:41

Trích:

Cá Măng viết (Bài viết 24893)

Có phải em....

phe tem phiếu bị vô đồn CA không?

Cũng cho tớ nhờ đất 1 tí.

hungmgmi 16-02-2009 14:12

Trích:

Cá Măng viết (Bài viết 24893)
Anh Mờ bảo chị ấy gửi mấy bài thơ đọc ở Văn Miếu lên đây đi, thơ chị ấy em thấy còn hay hơn cả văn. Mà anh Mờ post hộ cho 3 tháng tập sự; 3 tháng sau thì Thụy Anh đăng ký nick tự post đi, nhỉ? Em chẳng duyên nợ gì với nước Nga mà còn xì pam ầm ầm nữa là Thụy Anh.:emoticon-0102-bigsm. Việc này triển khai ra sao em giao cho anh Mờ.

Trước đây Gà Mờ đã alô bẩu cô này tham gia NNN cho vui, nhưng Thụy Anh nói là ngại đi chơi ở chỗ đông người nên vẫn ngại. Thôi chờ bao giờ bạo dạn hơn cái đã.
Thụy Anh đã gửi mấy bài thơ đọc hôm Nguyên Tiêu và cho biết thêm: " Nhưng bài chính của em chỉ là Trên con đường mùa thu của cuộc đời. Còn lại là những trích đoạn lẩy ra để làm nền cho câu chuyện thơ chạy xuyên suốt chương trình. Riêng bài "Cảm ơn người" như một lời tri ân đối với độc giả, được dùng làm câu kết cho chương trình hôm qua".
Xin post các bài thơ đó:


TRÊN CON ĐƯỜNG MÙA THU CỦA CUỘC ĐỜI

Anh đi trên con đường mùa thu
Qua nghĩa trang, hàng mộ dài im lặng
Nghe tiếng nước rơi trên lá mục
Anh thèm một tiếng khóc
Thấy ngực nghẹn ngào như tiếng khóc của em

Mình chưa từng xa nhau, phải không em?
Nên anh không biết mùa thu có thể buồn đến thế
Anh từng mong một ngày lặng lẽ
Đọc một cuốn sách, ngắm khoảng trời chiều không có bóng em

Lúc anh bận, em làm anh bối rối thêm
Dù không nói, nhưng mắt em nhìn, tay em chạm vào anh
Như những giọt mưa vô duyên lọt vào cổ anh buổi sáng
Đôi lúc em còn hát vang khi anh lo lắng
Anh sợ cộng trừ sai, sợ con số không tròn

Bây giờ mùa thu, con đường anh đi như tối hơn
Hàng bạch dương phát sáng trong đêm cũng làm anh sợ hãi
Nhỡ con đường này cứ dài ra mãi
Nhỡ cánh rừng cứ vàng đi mà không xanh trở lại?
Nhỡ mai anh về không nghe thấy giọng em?

Giọng em,
Anh vẫn nghe để đoán xem cuộc đời đang bình an hay giông gió
Khi em ngừng hát giữa chừng, anh chuẩn bị tinh thần cho những buồn phiền nho nhỏ
Nhưng chỉ một lát thôi, chưa bao giờ em ngừng hát thật lâu!

Anh có biết đâu
Rằng anh cần nghe giọng em, dù anh vẫn thường giễu em quên lời lạc giọng
Chỉ khi đi trên con đường nước đọng
Giữa một nghĩa trang có làn sương trắng
Khi mặt đất mịt mù, anh mới kiếm tìm những âm thanh quen thuộc của em
Không cần hát, không cần cười
Em hãy kêu lên
Có thể cao giọng cãi lại anh cũng được
Hay là em khóc?
Ừ, khóc đi em, cho anh có được một người
Trên con đường mùa thu của cuộc đời


PHÍA TRÊN ĐÁM MÂY VẪN LÀ CẢ BẦU TRỜI

Phía trên đám mây vẫn là cả bầu trời
Xanh nhức nhối một màu không có thật
Bao năm rồi em ngỡ mình vẽ được màu trái đất
Hóa ra màu Trời Đất vẫn mông lung

Nào ai đã đi được đến tận cùng
Đường chân trời giao hòa cùng góc bể
Mà dám bảo rằng Bầu trời xanh như thế
Khiến Biển lớn trở thành một giọt nước mong manh!


Em đã từng tan biến cả vào anh
Như Biển lẫn vào màu Trời xanh ngắt
Ngốc nghếch làm sao, cố quên đi những mảng màu của riêng mình đã mất:
Đỏ như máu san hô và đen thẳm mũi đá ngầm

Chỉ đến khi những đám mây xuất hiện tối rầm
Biển mới nổi trận cuồng phong cay đắng
Sóng giận dữ một đêm đầu bạc trắng
Tự đập tan cánh buồm mới đó vẫn yêu đương

Suy cho cùng biển thật đáng thương!
Đau đớn hành hạ mình trong bão giông khổ sở
Sáng tỉnh lại rã rời hơi thở
Mặn đắng trong lòng lặng ngắt buông xuôi...

Phía trên đám mây vẫn là cả bầu trời
Như em ước những điều không có thật
Bảng màu em pha rồi đây, chỉ thiếu một màu duy nhất
Em không vẽ nổi bầu trời dù biết rõ nó màu xanh...



ĐÁNH CẮP NHỮNG BUỒN THƯƠNG


Tôi thường gom những cay đắng của người
Đánh cắp những buồn thương mang vào thơ. Và khóc
Cứ ngỡ vì tôi mà lòng ai đỡ buốt
Lệ muốn rơi cho bạn nở nụ cười

Đôi khi tôi cũng muốn say đời
Cũng từng muốn yêu đương quay cuồng ..."đến chết"
Chẳng nghĩ nhiều về một điều gì hết
Sống vì mình, vì mộng ước riêng tôi

Tim cũng từng ôm một hình bóng trong đời
Người khiến tôi đau lòng, khiến tôi hạnh phúc
Năm tháng đi qua bao đêm tôi thức
Thương trên đầu sợi tóc trắng biết đau

Tôi ngỡ hiểu người, mà chẳng hiểu mình đâu
Những vần thơ toàn nỗi lòng người lạ
Không có gì cho riêng tôi cả
Tôi chỉ là người đánh cắp những buồn thương…




LỚN LÊN CÙNG TUỔI THƠ

Tôi lớn lên cùng tuổi thơ của tôi
Cùng những con đường đạp xe không mệt mỏi
Những buổi chiều “dịu dàng không chịu nổi”
Những cái tên như khắc chạm trong đầu

Cứ ngỡ rằng mình đã lớn từ lâu
Sao càng lớn càng mơ về thơ ấu?
Lấy ngây thơ trèo me, nhặt sấu
Làm thước đo cho những quãng đời

Tôi như người của năm tháng xa vời
Nhặt nhạnh những cũ xưa gom góp về thực tại
Tập làm người với những điều khôn dại
Tập nhìn đời nhân hậu như trẻ thơ

Cô bé con hai bím tóc ngày xưa
Luôn nhìn tôi (thật buồn cười!) nghiêm nghị
Tôi có quên, có quên gì không nhỉ:
Ngôi nhà thân yêu nuôi lớn những ước mơ
Câu chuyện kể đêm mưa với kết thúc bất ngờ
Những trò chơi triền miên bên đống cát
Đêm lửa trại người đàn, người hát
Ngày ra trường nước mắt đẫm vai nhau...

Tôi bước đi về nơi đâu, nơi đâu
Cũng thấy mình bé hơn cô bé có hai bím tóc
Nhớ về tuổi thơ mình và khóc
Và lớn lên...



CẢM ƠN NGƯỜI

Cảm ơn người đã muốn hiểu tôi
Đã đón nhận những gì tôi viết
Như tay ấm chạm vào tay tha thiết
Câu thơ này không còn của riêng tôi!

Cảm ơn người đã vui sướng cùng tôi
Ngày hạnh phúc người chép thơ vào sổ
Tôi sẽ viết, thôi không còn lo sợ
Những yêu đương hay tan vỡ trong đời

Người đọc âm thầm thương mến đáng yêu ơi
Vần thơ vụng vì người mà sống
Trái tim trống nhờ người đã nóng
Lại mở ra ôm lấy cuộc đời


hungmgmi 13-04-2009 10:15

Một bài viết mới của Thuỵ Anh về Shashlyk, đọc đã thấy...thơm lừng:emoticon-0136-giggl
Bài này được đăng trên tạp chí Thế giới ẩm thực, số tháng 4.

Thịt nướng Shashlyk – món ăn giữa trời mây sông nước…


http://moikompas.ru/img/compas/2008-...k/26563719_ori

Món thịt nướng than… dân tộc nào trên thế giới chẳng có! Nhưng đối với những người Nga và những người Việt từng ở Nga, thì shashlyk, món thịt nướng ấy không chỉ là món ăn, mà là một phần không thể thiếu của những lần bạn bè tụ họp, cùng nhau đi một nơi xa, vào rừng, ra sông, lên núi… Nó như thể sâm-panh ngày Tết, hoa ngày sinh nhật. Nó không còn là một thức quà vật chất, nó thành “biểu tượng tinh thần” của những niềm vui phóng khoáng cùng thiên nhiên. Vì thế, người Nga thường nói “đi shashlyk” chứ không phải là “đi picnick”!

Hẹn hò nhau từ giữa tuần, thứ bảy lên lịch đi chơi thì thứ sáu phải ướp thịt rồi. Thịt để qua một đêm trong tủ lạnh, có ướp đường, vừa đủ lên men chua thì khi nướng mới đủ vị. Thường người ta dùng thịt lợn hoặc thịt cừu. Thịt cừu khi nướng, mỡ chảy nhiều, gặp than cháy bùng lên rất thơm, không hề hôi như ta vẫn tưởng. Mỗi lần đi, phải mua cả chục cân vẫn ít vì “đi shashlyk” không mấy khi vài mống lèo tèo, mà thường cả “tiểu đội”! Những tảng thịt được xắt vuông, to bằng nửa nắm tay người lớn, thịt ba chỉ dắt mỡ hay thịt mông, thịt thăn đều được vì bao giờ thịt cũng được ướp ngập trong dầu ăn – miếng thịt nạc “cứng đầu” đến mấy cũng mềm đến những thớ cuối cùng! Nhất thiết dùng nồi men mà đựng thịt, chớ cho vào nồi hoặc chậu nhôm mà mất vị đặc trưng của thịt ướp chua. Bây giờ người ta có nhiều công thức chế biến món này. Người ưa hương vị Trung Á thì tìm đến hàng của những người Gruzia ở chợ, nơi chất ngồn ngộn những chậu đựng gia vị đầy tới ngọn, đủ các màu sắc và mùi hương hăng hắc, cay cay. Một anh chàng “đầu đen”* răng bịt vàng sẽ thoăn thoắt xúc cho bạn một gói giấy đủ các vị, về nhà chỉ việc cho vào chậu thịt, trộn đều lên là xong. Nhưng nếu thích vị thanh thoát hơn, bạn dùng muối ăn, dầu, một chút đường, hành tây thái khoanh và ít dấm, hoặc chanh vàng xắt lát. Những người Việt sáng tạo thường vẩy thêm ít nước mắm và nước hàng cho gần với ẩm thực Việt Nam, “Đông Tây kết hợp”!

Sớm thứ bảy, chuẩn bị cái bếp nướng có chân bằng sắt hoặc nhôm có khía rãnh đều hai bên để đặt xiên. Một cái xô sạch để treo lên nấu cháo. (Cuối buổi, sau bữa thịt nướng thường rất háo, món cháo gà lúc ấy thật đắc dụng!). Một âu to đựng xa-lát trộn đủ những thức rau để ăn kèm với thịt. Vài ba lọ dưa chuột muối to, một bịch maione, một lọ tương cà chua, tương ớt, gần chục cái bánh mỳ mới ra lò, tay cầm vào còn bỏng rãy, một túm cọng tỏi, ớt xanh muối, tỏa mùi hương chua chua dễ chịu. Rồi chuẩn bị than. Than có thể mua sẵn ở chợ, nhưng nhớ là chọn than bạch dương hoặc than của những cây ăn quả. Than cây táo có mùi hương dịu dàng, quấn quýt lấy miếng thịt khiến thịt nướng có mùi vị đặc trưng nước Nga, rất khó quên.

Chọn một địa điểm bằng phẳng nơi phong cảnh hữu tình, có cánh rừng phả hơi mát trong lành, có dòng sông đầy ắp nắng và bãi cỏ đang trổ hoa. Đó là vào mùa Hè. Mùa Đông, khi đất trời trắng tuyết, “đi shashlyk” còn bội phần thú vị. Vị thanh sạch của hơi tuyết bị mùi thịt nướng làm “vẩn đục”, nhưng là sự vẩn đục hứa hẹn đầy kỳ thú!

Lắp bếp, nhóm lò cũng là việc không đơn giản, cần bàn tay đàn ông vững vàng mà khéo léo. Một ít cành khô và dăm tờ báo lót dưới than, ngọn lửa bùng lên giữa gió. Khi lửa đượm, rồi dịu dần, chỉ còn những mắt than đỏ quạch nóng bỏng là lúc thịt được xâu vào xiên. Bôi lớp dầu ăn lên xiên nhôm một đầu nhọn hoắt, hơ nóng qua trên lửa rồi xiên miếng thịt theo thớ ngang, giữa các miếng thịt vuông vắn gài hành tây trắng xanh hoặc ớt ngọt đỏ, vàng, thái con chì, vừa để chặt khít xâu thịt, vừa thêm vui mắt. Những xâu thịt lần lượt được gác lên giá nướng, đều đặn, sát nhau, sao cho khói mờ hun lên mà không có chỗ cho gió thổi lửa, miếng thịt sẽ hút đẫm mùi khói, thơm và sém nhẹ chứ không cháy. Người trông shashlyk, một tay cầm quạt, thi thoảng khẽ quạt cho khói thịt thơm bay về phía những người đang quan sát, làm họ không thể không kêu lên phấn khích! Tay kia người cầm chai bia hoặc lọ nước lọc pha dấm, chốc chốc lại tưới đều lên những xiên thịt đang bắt đầu chảy mỡ, những tiếng “xèo” phát ra vui vẻ. Những xiên thịt được đảo mặt độ vài ba lần. Khi mùi thơm đã tràn ngập trong gian, lấy dao khứa nhẹ vào miếng thịt, thấy nước mỡ trăng trắng trong trong chảy ra, là thịt đã vừa ăn. Nếu nước đỏ, là phải đợi thêm chút nữa. Nếu không có nước, nghĩa là đã quá tay, thịt đã thành khô xác!

Một chiếc bàn gỗ dài được bày ra dưới rặng cây, hoặc có thể giải tấm ga trên cỏ cũng được. Bánh mì trắng cắt khoanh to, bánh mì đen từng miếng vuông đều đặn. Mùi chua dịu của bánh mì đen, mùi chua thanh lẫn với mùi lá thìa là của dưa chuột muối, tỏi muối, mùi cay nồng của hành tây bắt đầu kích thích vị giác của những người bạn. Họ hào hứng xắn thịt ra đĩa, rưới nước sốt cà chua bên cạnh. Những miếng thịt ngả màu vàng nâu dày đều, sém cạnh, nhóng nhánh mỡ và lấp lánh ánh lên trong nắng, gọi mời. Miếng thịt vừa đủ độ béo, ngọt, chua, lại mềm, cứ nhẩn nha mà có thể ăn hết vài xâu, chỉ no bụng mà không bao giờ ngán. Nếu là một ngày mùa Hạ thì sẽ có làn gió hớn hở lùa qua, đem mùi hương no đủ đi xa đến cả dặm. Nếu là một ngày Đông buốt giá thì miếng thịt nướng vừa đưa lên miệng đã cho cảm giác ấm sực, và lúc ấy có chiêu một ngụm bia lạnh cũng không hề hấn gì. Chỉ còn cảm giác hưng phấn, muốn hát lên bên ngọn lửa được khêu to, cùng tiếng đàn ghi ta gần xa thủ thỉ của người bạn thời trai trẻ.

Trời mây sông nước và hội bạn “hợp cạ” … là “điều kiện cần” cho một bữa “shashlyk”, cũng như những xâu thịt nướng mềm là “điều kiện đủ” cho một ngày nghỉ giữa thiên nhiên trọn vẹn.

Shashlyk mà ăn ở bàn ăn trong bếp, thì không còn là món thịt nướng của nước Nga!

Thụy Anh


Chú thích: *: “đầu đen” là cách người Việt Nam ở Nga gọi những người dân tộc vùng Trung Á.
http://s40.radikal.ru/i087/0810/4a/eb61834c0cd3.jpg

Geobic 14-04-2009 23:50

Trích:

Cá Măng viết (Bài viết 24893)
Mà anh Mờ post hộ cho 3 tháng tập sự; 3 tháng sau thì Thụy Anh đăng ký nick tự post đi, nhỉ? Em chẳng duyên nợ gì với nước Nga mà còn xì pam ầm ầm nữa là Thụy Anh.:emoticon-0102-bigsm. Việc này triển khai ra sao em giao cho anh Mờ.
http://i471.photobucket.com/albums/r...g/DSC00660.jpg

Thực ra, Thụy Anh (HXT - Hoa Xuyên Tuyết) đã từng ghé trang NNN, nhưng Geo biết nhiều khi một người không thể phân thân tham gia nhiều thứ một lúc được. Hiện HXT hầu như cố thủ trong "lâu đài thi ca" thivien.net, và là một mod chủ chốt của lâu đài tráng lệ ấy. Ai quan tâm, ghé sang bên đó, có một kho thơ khá đồ sộ của TG Thụy Anh. Còn phần thơ dịch, HXT quan tâm và có nhiều thành công trong dịch O. Bergolz (cũng có đến trên 100 bài, bên thivien.net).

http://i220.photobucket.com/albums/d...ng1007/HXT.jpg

http://i220.photobucket.com/albums/d...07/benquay.jpg

hungmgmi 01-03-2010 10:33

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 23379)
Sáng nay Hungmgmi tình cờ vớ được tờ phụ bản báo Văn Nghệ Tết Kỷ Sửu. Tờ phụ bản Truyện ngắn hay 2008 in lại khoảng chục truyện ngắn hay đã từng đăng trên báo Văn Nghệ trong năm. Thật thú vị và bất ngờ khi gặp lại Thụy Anh trên đó với truyện ngắn Lusia (Văn Nghệ in với tựa Vĩnh biệt Lusia), bên cạnh các tên tuổi như Hồ Anh Thái, Quế Hương, Trần Huy Quang....Đọc giới thiệu mới biết tác giả sinh năm 1974, tốt nghiệp và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học sư phạm Lênin (cùng tuổi, cùng trường với bác Hổ nhé:emoticon-0102-bigsm). Cô tâm sự đã sống 16 năm ở Nga nhưng thật lạ "mảnh đất này tôi đã yêu sâu sắc nhưng có cảm giác muôn đời vẫn là người khách nơi đây". .

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 51558)
Báo Văn Nghệ Tết nào cũng in thêm một phụ bản 10 truyện ngắn hay nhất trong năm từng in trên Văn Nghệ trong năm cũ. Tiêu chí bình chọn như thế nào không rõ, nhưng đây là những truyện ngắn khá hay, của những tên tuổi khá mới mẻ. Bạn Thuỵ Anh mà hungmgmi đã mở một topic riêng trên NNN có mặt trong danh sách 10 tác giả này với truyện ngắn Cây cải Tashkent, xin phép được post sau vào topic đó.

Thụy Anh 2 năm liền có truyện được chọn vào top truyện ngắn hay của báo Văn Nghệ, một đáng nể.
Xin post truyện Cây cải Tashkent do tác giả gửi cho NNN:

Cây cải Tashkent


Trong cả một nghìn mét đất trồng cải thì cây cải này lớn nhất. Không, nói lớn cũng không phải, mà là khổng lồ. To cao gần bằng đứa trẻ lên bảy lên tám, tay lá xòe như lá chuối, màu xanh đậm. Bẹ thì chắc lẳn, rắn đanh, két đầy đất… Những ngồng cải vươn cao kiêu hãnh, đã ra hoa vàng.

- Chà, giống cải Tashkent! – Tôi thốt lên.

- Có sự lạ, chứ cải Tashkent có to cũng chẳng to được đến thế. – Galia vừa thoăn thoắt nhổ cỏ, vừa thủng thẳng nói. Cô là người làm công cho tôi (còn tôi lại làm công cho ông chủ của tôi, ở trên Mat.). Galia khá chăm chỉ, có điều hay vòi thêm tiền lương mỗi tháng. Đôi mắt xanh biếc có cái nhìn của người Tiểu Nga, nhẫn nại và chân thật, nhưng suy nghĩ thì đã không còn hồn nhiên như những ngày đầu mới gặp tôi. Bây giờ, cô biết khi nào nên đòi tăng lương mà tôi không thể từ chối được, khi nào im lặng chấp nhận mức lương cố định không thêm không bớt mà tôi đã đặt ra cho cô, có tính thêm phụ cấp sắc đẹp. Nói thực ra thì, hồi mới sang, tôi thấy gái Tây cô nào cũng xinh. Đến hơn một năm thì tôi đã phân biệt được thế nào là “Tây xinh”, thế nào là bình thường. Galia thuộc vào loại bình thường. Mũi cao như… Tây. Mắt sâu, mặt trắng, răng đều, lông mi rợp. Nhưng chỉ thế thôi, chứ không phải đẹp. Cười không rạng rỡ. Nói không dịu dàng. Dáng đi tất ba tất bật. Hông to và xệ… Nhưng cũng không vì thế mà tôi nỡ cắt đi khoản phụ cấp đã trót đặt ra với cô ngay từ đầu. Tôi thầm đổi tên khoản ấy, gọi là phụ cấp nghề nghiệp, đền bù cho đôi tay xước xác vì hàng ngày phải tước lá nhổ cỏ, chăm bẵm cho những thứ rau kỳ lạ của đất nước tôi đang gắng sức vươn lên, sống được ở nơi này. Đất tốt, cây dại mọc nhanh và khỏe, lúc nào cũng chực nhấn chìm rau Việt trong thứ cỏ hoa nồng nàn mạnh mẽ của mình.

Năm nay, tôi thử nghiệm một giống cải mới, có vẻ gần gũi hơn với đất Nga mà bà con ta vẫn chấp nhận. Cải Tashkent. Tashkent vẫn là vùng nóng ẩm, nhưng dù sao cũng vẫn là “Tây”, thuộc nước cộng hòa cũ của Liên Xô, ắt hẳn khỏe hơn nhiều cái anh cải xanh cải ngọt của ta. Lý luận của tôi là thế! Hạt giống cải đánh từ Việt Nam sang, cây mọc lên còi cọc, chưa lớn đã trổ hoa vội vàng.

Giờ, mới trồng thử một nhà kính, mà đã được cây cải khổng lồ. Những cây khác cũng to mập, nếu để muối dưa thì tuyệt. Hay quá, vụ này, tôi sẽ xui chủ rau không bán cải mà bán dưa, đảm bảo đẩy bật khỏi thị trường hàng dưa Thái đóng túi bóng, vàng một màu vàng đáng ngờ, chua loét lại lờ lợ mùi đường hóa học.

- Cô không tưới nó bằng cái quái quỷ gì đấy chứ, Galia?

- Cái gì là quái qủy? – Galia cười, chắc cô ta cười cách dùng từ vụng về của tôi. Con gái con đứa gì mà cười cứ há hoác cả miệng ra, thoải mái, vô tư! Tôi hơi khó chịu, nghĩ bụng, phải cho cô này về Việt Nam học cách ăn trông nồi nói cười trông mặt người đối diện.

Hết cơn cười, Galia nghĩ ngợi một lúc rồi bảo:

- Anh hỏi hai thằng bom-zhờ của anh ấy, biết đâu chúng nó tưới cái gì buổi đêm thật, tôi biết sao được!

Bom-zhờ, tiếng Nga là viết tắt của từ “không nơi thường trú”, chỉ mấy người lang thang vô gia cư, vô nghề ngỗng. Ở trại rau này, tôi nuôi hai “đồng chí” bom-zhờ, còn khá trẻ, mặt non nớt, đầu trọc lốc, một cao nhẳng, vai trái xăm hình con công đang xòe cánh, một tầm thước, mắt lúc nào cũng lơ mơ như đang sắp chìm vào cơn ngủ, người vạm vỡ, gân cơ nổi cuồn cuộn, Lý Đức nhà mình còn phải gọi bằng anh! Tôi tình cờ thửa được hai chú này ở phòng của chủ tịch nông trang, khi các chú đến xin việc, vò đầu bứt tai nói không nổi một câu xin xỏ cho ra hồn. Đến khi hiểu ý định của hai chú thì chủ tịch nông trang xua tay lắc đầu. Nông trang đang thu hẹp diện tích trồng trọt, đàn gia súc cũng giảm đi gần một nửa, lấy đâu ra việc cho mấy chú! Thế là tôi được thể ra tay cứu vớt, cho các chú miếng bánh mì ăn hàng ngày bằng việc trông coi trại rau của tôi gồm 8 nhà kính thuê được của nông trang với giá rẻ mạt và một cánh đồng trồng trăm thứ bà rằn. Tôi cũng chẳng buồn hỏi hộ chiếu hay xuất xứ của họ. Hai gương mặt còn rất non nhưng mang vẻ thờ ơ bình thản đến lạnh lùng. Hơi lạnh của bộ mặt làm tôi rợn, không hiểu sao dám chắc hai bom-zhờ hôi hám này sẽ dọa được bọn “phia nhí” địa phương, thế là đủ. Trộm thì tôi không sợ, có lấy rau về cũng chẳng xài được rau muống rau bí nhà mình. Chỉ sợ bọn phia thôn phia xóm mà tôi không chịu “nuôi”, nhỡ chúng nó ngứa mắt lại phá rau của mình thì gay. Mà xì tiền ra trước thì thể nào chúng cũng được thể lấn lướt, đòi hỏi. Vì thế nên tôi quyết định chơi rắn. Tôi bảo các chú cứ ngủ ngày canh đêm. Đốt một đống lửa đuổi muỗi, pha trà trong mấy chiếc ca nhôm nhỏ, thay nhau ngủ ở chòi gỗ…, hai anh chàng đã khiến lũ vòi tiền giạt ra xa. Được một tháng, tôi phấn khởi biếu các chú một thùng mì ăn liền, loại rẻ tiền thôi, chỉ có gia vị không có thịt thà rau cỏ gì kèm thêm. Thế mà hai đứa có vẻ vui lắm, cảm ơn rối rít. Bình thường cấm có hé răng câu nào. Tối đó tôi ở lại uống rượu đêm với hai chú lính gác. Chòi gỗ. Vách gỗ thưa. Sàn gỗ cũ kỹ, kêu rọt rẹt. Một cái bàn, hai ghế dài, một chiếc giường nhỏ xíu. Bình nước nhôm có vòi, nước chảy nhỏ giọt vào chiếc chậu nhỏ để trên bệ gỗ. Một chút rượu Ggelka, vài miếng bánh mì đen cũ đã bở, một ít củ cải vừa hái dưới ruộng, rửa qua thái miếng, vị hăng hăng ngòn ngọt quện với vị cay của vodka… thế là gan ruột tự dưng cứ trút ra với nhau, cho dù tiếng Nga của tôi chưa phải là “dài”.

- Anh sang đây chỉ để trồng rau à? – Vlad, anh chàng xăm hình con công múa bắt chuyện với tôi. Tôi chả gật cũng không lắc. Tự dưng lại buột miệng:

- Tao là bộ đội.

- Bộ đội? Chúng tôi cũng thế! – Lần này đến lượt Vlad buột miệng. Cậu ta chợt nhớn nhác nhìn quanh, rồi thở dài, cầm ca rượu lên dốc cạn. Khà một tiếng, thả miếng củ cải vào miệng, nhai rau ráu…

Tôi cũng vớ một củ, vừa nhai vừa nghẹn. Vị cải hăng buốt lên tận óc, khiến tôi hơi choáng váng. Chiêu một ngụm vodka, tôi gắng nuốt cục ứ ở cổ, không rõ là miếng củ cải mắc lại hay là cái gì. Đôi khi tôi ăn cơm cũng hay nghẹn, nhất là những buổi ăn tối một mình.

Sương mù giăng thành một dải lụa trắng trên cánh đồng. Tôi nhớ cánh đồng làng tôi buổi sớm mờ đất, cũng một lớp sương giăng. Hơi rượu làm tôi dễ thở hơn, bắt đầu nói, tiếng Việt, tiếng Nga lẫn lộn:

- Tao là bộ đội. Trước chỉ có chiến tranh, vào lính thì đi bộ đội. Nay cứ lang thang bất hợp pháp xứ người, không đoàn không hội, thì gọi là bộ đội. Như lính ấy mà, đi làm “nhiệm vụ” cao cả là cứu mình cứu nhà…

Hai cậu thanh niên chắc không hiểu gì, mặt ngơ ngơ ngác ngác, nhưng vẫn gật gật với tôi, ra chiều thông cảm. Cậu chàng người vạm vỡ, tên là Andrei, mỉm cười:

- Chắc anh nhớ nhà?

- Nhớ. Nhớ chung chung thôi. Bố mẹ tao mất cả rồi. Chỉ còn ông anh cả. Thế bọn mày, bố mẹ ở đâu, quê đâu mà lại phiêu bạt đến đây, chẳng có nghề có ngỗng gì cả thế này?

- Chúng tôi mồ côi.

- Từ trại trẻ ra à?

- Vâng, gần như thế.

- Sao lại gần như? Thế nào là thế, chứ gần như là thế quái nào?

Một thoáng ngần ngại, rồi gần như cùng lúc, Vlad và Andrei đồng thanh nói, cùng nói rất nhỏ, nhưng cộng hưởng của hai tiếng nói trẻ trung khiến thông tin mang lại vang lên rất to, như một tiếng chuông gõ trên đỉnh đầu:

- Mồ côi, đi lính, đào ngũ!

Hả? Chết cha! Quân cảnh ở Nga làm việc nghiêm lắm. Họ mà phát hiện ra, kỷ luật nặng, có khi người tòng phạm cũng liên lụy chứ chả chơi. Tôi bối rối hỏi:

- Sao lại đào ngũ? Khổ quá à?

- Không, sợ phải đánh nhau. Mấy năm trước trung đoàn chúng tôi đã đi Chechnya một đợt rồi. Lần này đi Tskhinvali, lành ít dữ nhiều.

Andrei đế thêm:

- Đi Chechnya về, chết đến cả một phần ba trung đoàn.

- Sao lại để chết? Không được huấn luyện tập tành gì sao?

- Có, nhưng ít. Lính lấy từ trại trẻ nhiều lắm, họ tiếc gì chúng tôi, có ai chờ đợi ở nhà đâu!

- Sao không ai chờ? – Tôi ra một câu hỏi ngu. Mà thực ra cũng chẳng ngu. Chỉ là một câu hỏi, có thể đặt ra cho bất cứ ai trên đời, kể cả tôi. Tôi cũng vậy, có ai chờ tôi không, ở quê nhà? Tôi chợt thấy bóng Thoa, cô bạn gái từ hồi phổ thông, đang đứng hoang mang nhìn tôi, từ phía bên kia dải lụa sương trắng đục. Cô lắc đầu. Phải rồi, tôi đi xa thế, và chẳng hẹn rõ được ngày về. Làm sao người ta đợi được tôi! Giá thời chiến thì chắc cô đã một lòng hẹn ước, đợi tôi cho đến cả khi tôi đã chết đi rồi. Cô sẽ đi tìm hài cốt của tôi. Thậm chí, kể cả lúc cô đã lấy chồng, sinh con, rồi già đi, cô vẫn tìm và vẫn đợi tôi.

Nhưng đây là thời bình. Những sự đợi chờ, hò hẹn của người đời đã trút đến kiệt cùng vào những cuộc chiến.

hungmgmi 01-03-2010 10:34

(Tiếp theo)
Sau cái đêm sương ấy, tôi chăm sóc hai anh lính của tôi hơn. Và cũng nhắc nhở hai cậu kín đáo hơn, cố gắng chỉ loanh quanh ở trại rau, tránh ra mặt. Tôi nhắn lên Mat nhờ người khuân về cho họ gần chục thùng mì. Rẻ bèo ấy mà, so với những thức tôi vẫn ăn hàng ngày. Làm công ăn lương, quanh năm ở lì dưới vùng ngoại ô này, chỉ việc trông coi rau cỏ, chỉ đạo thu hoạch thôi nhưng cuộc sống của tôi cũng đã đầy đủ lắm. Sáng có bánh mì bơ mua ở cửa hàng thực phẩm đầu thôn, sữa dê mua của bà lão Nata chăn dê, chẳng qua xử lý nhào nặn gì, cứ thế là uống, nghe bảo bổ lắm. Trưa chiều ăn tối trong căng-tin của nông trang. Hứng chí lên, vẫn có thể cho phép mình mua chục cân thịt cừu tươi, ướp hạt mùi thơm nức rồi rủ rê cánh đàn ông đàn bà khu nhà khách cùng đi nướng shashlyk. Chỉ có điều, niềm vui thú hứng khởi sao mà nhanh hết! Nuốt miếng thịt béo thơm lừng qua cổ, là đã thấy lại ngay cái buồn thắt ruột thắt gan mà chỉ có vodka mới đẩy nó xuống tận đáy cùng của con người mình được.

Vlad và Andrei thì trường kỳ mì tôm.

Còn Galia, người cô thường thơm phức mùi bột mì rán. Món tủ của cô là món bánh nhân hành tây. Ngon, phải nói là rất ngon. Nhưng mãi cho đến sau này tôi vẫn còn ngửi thấy cái mùi thơm ngậy ấy mỗi buổi tối đi xuống bếp, đậm và rõ nét đến nỗi tôi phải rùng mình buồn nôn. “Cô không có món gì hơn à? Thịt đâu?” “Có chứ! Nhưng lần nào anh xuống cũng đúng lúc tôi rán bánh hành. Món này là món gia truyền của nhà tôi, ngày nào không ăn tôi không chịu được!” – Galia nói, mắt ánh nét xanh lóa lên, như mắt một con mèo trong đêm. Tôi thấy hơi sợ cô. Có lẽ một phần vì cách sống khắc khổ của một cô gái mới hơn hai mươi tuổi, có hơi thở thơm mùi bánh nhân hành và bộ ngực mềm mại đầy sức sống. Nhưng đôi bàn tay thì chai sạn gân guốc. Chân cũng thế, gân xanh nổi chằng chịt. Cô làm việc rất hăng. Nhận làm cho nông trang, nhận làm cho tôi. Việc ngoài giờ ai nhờ lau dọn toa-let hay đan len đan áo (có thù lao) là cô nhận tuốt. “Kiếm tiền lấy chồng à?” – Tôi chọc. Galia lại cười to, ha hả, cái kiểu cười thật không nữ tính chút nào!

Một đêm, trăng sáng quá, tôi không ngủ được. Thường không mấy khi tôi để ý tìm trăng ở bầu trời này. Tôi nhìn xuống, nhìn ngang nhiều hơn là ngửa cổ lên trời. Thế nhưng đêm ấy thì tôi thấy được trăng, vì qua cửa sổ tôi quên kéo rèm, ánh trăng chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi cảm thấy mặt mình nằng nặng, ươn ướt. Thứ ánh sáng kỳ diệu mà tôi đã quên từ lâu đang tràn trề trên mặt, chảy vào miệng tôi những dòng ngọt ngào. Tôi bật dậy, mặc quần áo ra đường. Từ hồi nhận “cắm rễ” ở vùng này một mình, tôi ít ra đường ban đêm. Hoặc là ngủ lại ở nhà kính, hoặc là về phòng ở nhà khách nông trang, đóng chặt cửa ngủ hoặc không ngủ, cho đến sáng. Dăm ba bận có mấy lão say về muộn, đi ngang phòng tôi đập cửa rầm rầm. Mặc kệ, tôi cứ trùm chăn kín đầu. Giữ mình sống an toàn qua một ngày nữa, để mà kiếm tiền. Mục đích của tôi khi đến xứ này chỉ có thế! Mà kiếm tiền để làm gì, thì khi nào có tiền rồi tôi mới nghĩ đến sau!

Đang thẫn thờ ngồi ở chiếc ghế gỗ đầu thôn đặt dưới tán cây sồi cổ thụ, ngắm ánh trăng chảy qua kẽ lá sồi, tôi bỗng nhận ra một dáng dấp tất bật quen thuộc, cái hông to và xệ, đang thoăt thoắt đi về phía nhà kính trồng cải. Nhà ấy xập xệ nhất trong số các nhà kính của tôi. Nhiều nơi kính nứt vỡ toang hoác. Nhưng cải chịu được lạnh, kể cả sương muối đêm lạnh buốt của mùa Hè ẩm ướt nước Nga, nên tôi không gia cố lại làm gì.

Tôi thấy Galia tay cầm túi paket màu đen, lách vào đám cải, đến nơi cây cải Tashkent vươn ngồng cao nghểu. Cô hì hụi bới đất thành hố nhỏ sâu, rồi trút mớ bùng nhùng trong túi vào đó.

- Ngồi yên! – Tôi quát khẽ. Galia giật thót, đứng phắt dậy, tay buông túi ôm lấy ngực, mặt nhăn nhó đau đớn.

- Cô làm cái quỷ quái gì ở đây thế này?

Im lặng.

Tôi cũng chẳng hỏi thêm, tiến đến soi đèn pin vào hố đất mới đào. Một túm lông xám nâu rũ rợi lọt trong đó. Thoáng chút máu tươi. Bồ câu? Galia gật đầu, òa khóc. Lần đầu tiên tôi thấy Galia khóc, bình thường chỉ thấy cô cười, cười rất vô duyên. Galia khóc cũng chẳng có duyên hơn, nhưng vì thế mà tôi thấy cô trở nên nhỏ bé đáng thương hơn bất kỳ một người đàn bà nào đang khóc mà tôi từng chứng kiến. Cô nức nức nở nở, liên tục đưa tay vò mớ tóc hung hung xoăn tít của mình.

- Thôi đừng giật tóc nữa, - tôi lên tiếng an ủi. – Tôi cũng từng ăn bồ câu. Người Việt vẫn ăn bồ câu.

- Tôi biết, - Galia hức lên. – Nhưng đấy là tập quán của các anh. Chúng tôi thì không… không có… Nhưng tôi…

- Cô đói, phải không?

Im lặng gật đầu. Tôi không hiểu:

- Thế tiền công làm việc cô để đâu? Cô có khi còn giàu hơn tôi ấy chứ!

Trên gương mặt Galia thoáng một nét tươi:

- Gửi về U hết rồi. Tôi còn mẹ già và một con bé con 4 tuổi.

- Trời, cô trẻ thế mà đã có con 4 tuổi?

- Chứ sao! Tôi đã 23 rồi.

- Tự hào gớm nhỉ! Kém tôi gần chục tuổi. Mà tôi thì vợ chưa, con chưa…

- Con gái Nga gái U thường lấy chồng sớm lắm, rồi cũng sớm một mình nuôi con…

Chúng tôi không biết nói gì tiếp, im lặng. Ánh trăng dừng trên nóc nhà kính, chỉ có bóng loang loáng trên ấy, như cuống quýt đang tìm đường vào. Vẩn vơ nhìn cây cải Tashkent, rồi cái hố, tôi chợt hiểu ra:

- Hiểu rồi. Đây chính là cái quái quỷ cô bón cho cây, làm nó đột biến dị thường thế này đây!

- Chưa chắc. Trước tôi vẫn chôn lông cánh dưới giàn mướp, mà có thấy gì đâu!

Tôi cười to. Galia cúi mặt, lấy bay lấp hố chôn lông và xương chim, lầm bầm nói:

- Anh cười gì? Từ hôm thấy cái cây nó mọc to, tôi cũng thích nó mọc to nữa to nữa xem thế nào. Anh có nghĩ nó sẽ vượt cả cái trần nhà kính, vươn lên trời kia không?

- Có thể lắm! Tại sao lại không nhỉ? Tôi chợt nhớ câu chuyện về cây đậu, mọc xuyên lên trời, thành những bậc thang để người con gái trèo lên mà tìm gặp người yêu đi lạc. Tôi bảo Galia:

- Nếu cây cải Tashkent này mọc chọc trời, cô có dám trèo lên đến cùng không?

Galia trầm ngâm, hơi mơ màng, đáp:

- Dám…

- Nếu nó mọc lên đến thế thật, chắc nhiều người phải cảm ơn cô đấy. Mấy hôm nữa, cô nhớ lấy hạt của cây này làm giống nhé. Biết đâu cứ kiên trì, sẽ có lúc trồng được cả một nhà cải chọc trời thì sao!

- Thế thì anh lỗ vốn. Vì có ai mua cải này mà ăn đâu! Anh cứ ước vớ ước vẩn thế, có ngày bị đuổi việc!

- Tôi sợ chắc! Nói cho cô hay, tôi sống không chỉ để kiếm tiền…

Nói xong, tôi quả cũng có đôi chút ngượng ngùng. Nhưng rồi, cái câu ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi, ong ong vang lên suốt cả khúc đêm còn lại. Hình như cũng chính nó đã khiến tôi thiếp được đi trong một giấc ngủ không mộng mị vào cuối đêm gần sáng, không thấy cảnh nhốn nháo chia tay ở sân bay Nội Bài hay cảnh những cánh đồng làng tôi phủ đầy khói của các lò gạch mà tôi vẫn thường mơ thấy. Bữa ấy, tôi có giấc ngủ yên lành nhất kể từ khi sang Nga.

**

Nhưng cây cải Tashkent to đột biến như thế không chỉ nhờ đám lông xương bồ câu của Galia. Còn một nguyên nhân khác nữa mà mãi sau này tôi mới biết.

Cuối vụ rau mùa Hè, các nhà rau thu hoạch gần xong rồi, tôi đã cho dỡ đi để chuẩn bị ủ phân bò cho đất. Việc trông coi rau cỏ không còn là bức thiết nữa. Vlad và Andrei bắt đầu đi lại vật vờ trong làng, hỏi xin thêm việc làm. Người thì gọi họ cào cỏ chất thành đống rồi đốt. Những đụn khói đầu Thu bắt đầu bốc lên ở khắp nơi, làm thành lớp sương mù quấn quện với mặt đất vào ban ngày chứ không cần đợi đến đêm. Người thì nhờ họ bổ củi. Những đống củi chất đầy góc vườn nằm đợi mùa Đông. Có những ngày không ai kêu làm gì. Hai người ngồi đọc sách trong chòi gỗ. Sách cũ xin được của người trong làng. Bạ cái gì cũng đọc, cả sách nuôi dạy trẻ “Con của bạn từ 0 tháng đến 3 tuổi”! Thấy họ thiếu việc, tôi gạ hai anh chàng dạy cho tôi ít võ. Nghe bảo lính Nga học võ kinh lắm. Vlad cười cười không nói gì. Andrei cởi phăng áo, khoe cơ bắp vạm vỡ rắn đanh, tay này đấm thùm thụp vào bắp tay kia, bảo: “Võ gì? Có mà võ thịt! Cứ vào lính, bị ma cũ tẩn cho vài trận là có võ ngay ý mà!” “Thật à? Sao nghe bảo người ta phải thuê thày thợ dạy cho bọn mày kỹ lắm? Có ông thày võ người Việt bọn tao cao cường lắm nhé, cũng từng dạy lính Nga!” – Tôi huênh hoang. “Tôi không biết. Lính đặc nhiệm thì học hành kỹ lưỡng là đúng rồi. Bọn tôi là lính mồ côi ấy mà, nhiều lắm, thời bình thì hiến sức cho người ta, chỉ huy bảo làm gì cũng phải làm…” “Hiểu rồi, nước sông công lính” – Cái câu này tôi không nói được tiếng Nga, chơi luôn tiếng Việt. Bọn Vlad, Andrei cũng chẳng hỏi lại nghĩa là gì. Nhưng hình như họ hiểu. “Có chiến sự thì bắn súng, đạn còn bay quanh bia cũng phải đi, ra trận luyện bia người” – Vlad tiếp, vừa nói vừa lấy cái lò xo tàu ngầm thả vào ca nhôm đun nước. Tôi khịt khịt mũi nhìn quanh. Quái, cái chòi này lúc nào cũng có mùi… Mùi gì quen thế! “Mùi mì ăn liền của các anh chứ mùi gì”. Ừ nhỉ, thế mà không nghĩ ra. Có những mùi hương quen thuộc đến ăn vào máu thịt rồi, mà đôi khi mình cũng lãng quên, không gọi được tên. Tôi ái ngại nhìn hai thanh niên đang tuổi lớn. Họ thận trọng lấy nĩa vớt những sợi mì dài mỏng manh, bớt lại nước, chăm chú ăn, dường như đây là việc họ quan tâm nhất lúc này. “Sao thế? Nước không ngon à?” “Ngon, nhưng cay quá!”… Gói gia vị chỉ có chút tiêu, rất ít ớt mà họ cũng không chịu được. Người Nga vốn ưa ngọt ghét chua cay! Nhưng bảo bỏ gia vị đi thì cũng không muốn, vì “như thế mất hết mùi thơm”!

Một chiều chớm Thu, mưa xậm xị, tôi lại đang ngồi với Vlad và Andrei bên mấy ca mì tôm thì có tiếng gõ cửa, và ba người đàn ông mặc quân phục xộc vào. Họ đưa hai anh chàng bom-zhờ của tôi đi. Từ nay họ lại là lính, hết là bom-zhờ, có doanh trại, có giường, có nhà để ở, đến giờ được ăn, không còn phải ăn mì gói nữa. Tôi hốt hoảng nhìn mấy cái ca còn õng nước mì váng mỡ, cuống cuồng lấy những gói mì còn lại trong ngăn kéo cho vào paket, dúi vào tay họ. Hai người ngoan ngoãn cầm túi mì, rồi đi theo mấy sĩ quan kia. Ra đến ngoài cửa rồi, Vlad chợt quay lại, nói với tôi:

- Cảm ơn anh, anh Tân ạ. Anh có biết cái cây cải Tashkent to như thế là được tưới bằng cái gì không? Bằng nước mì tôm đấy. Thật mà. Có một lần bọn tôi ngồi đó ăn mì, rồi chẳng biết đổ nước vào đâu, mới đổ trộm vào gốc mì. Sau thấy nó mọc to quá, tôi chắc chắn là do nước mì tôm… Tôi và thằng Andrei ngày nào cũng làm thế. Chỉ với cây cải ấy thôi. Anh cứ thử xem, vụ sau… Nhé?

Không hề có sự đùa cợt ở đây. Mắt Vlad nhìn tôi, trong veo. Thật không tin được con người có vẻ bề ngoài khô khẳng khắc nghiệt ấy lại có cái nhìn trong veo đến thế.

***

Câu chuyện cây cải Tashkent của tôi chỉ dừng ở đó. Tôi không bao giờ có được cây cải khổng lồ thứ hai. Sau khi Vlad và Andrei bị bắt, Galia cũng giả phòng ở nhà khách để trở về Ukraine chăm mẹ ốm nặng thì tôi không còn tâm trạng nào ở lại vùng đất này nữa. Khi đến đây tôi chỉ có một mục đích: làm việc làm việc và làm việc, để kiếm tiền rồi nhanh chóng trở về nước. Xin việc, rồi lấy vợ. Lấy Thoa, nếu cô còn đợi tôi… Nhưng mấy ngày sau khi những người bạn tình cờ thân thiết kia rời xa tôi, tôi bỗng cảm thấy một nỗi cô đơn rã rời xâm chiếm toàn thân. Tôi xin thôi việc, lên Mat. Chẳng biết điều gì đang đợi tôi ở đó, nhưng tôi thấy mình kiên quyết phải đi. Trước khi đi, tôi ngồi tần ngần bên cây cải Tashkent, cây cải duy nhất còn lại trong nhà kính. Tôi không lấy hạt của nó làm giống, vì tôi gần như chắc chắn rằng, ở nơi khác, với sự chăm bẵm bình thường, tôi sẽ không có được cây cải khổng lồ như thế này. Nó sẽ ở lại đây, to lớn, cô độc, kiêu hãnh mang trong mình bí mật của những con người. Cho đến lúc bị dế ăn và vàng lụi.

Ở Matxcơva, tôi may mắn xin được chân lái xe thuê cho một bà giao hàng khô ở chợ Vòm. Tôi được làm giấy tờ tử tế để đi lại hợp pháp. Hiếm hoi có những chiều rảnh rỗi, tôi lang bang dọc con đường gần nhà, mặc dù đã bị cảnh báo là không được đi lại nhiều một mình, nguy hiểm. Không hiểu sao, nghe nhiều chuyện trấn cướp ghê gớm rồi, nhưng tôi không hề thấy sợ. Có vẻ như cái cây cải Tashkent dạo nào đã tặng tôi hình ảnh vững chãi của nó, để tôi có được một sự bình tâm kỳ lạ trong những ngày tiếp theo sống ở nước người.

Chiều mùa Đông có nắng. Tuyết rơi lấp lánh khắp nơi. Tôi đánh xe về sau buổi giao hàng, đi chậm chậm dọc con đường quen thuộc, thì thốt thấy một cánh tay lính mặc áo rằn ri thò ra từ fortochka bé xíu ngay tầng 1 của dãy nhà xam xám với những ô cửa sổ đầy song sắt thô rỉ. Trại lính! Thế mà mọi ngày tôi không để ý. “Ây, này…” Chủ nhân của cánh tay lính gọi tôi. Tôi ra khỏi xe, đến gần ô cửa. Cậu lính còn rất trẻ, gần như còn là một chú bé, đầu húi cua ngắn, mặt non choẹt, gầy guộc, dí mũi vào cửa sổ, đang mỉm cười với tôi qua tấm kính mờ hơi nước. Cậu ta nháy mắt ranh mãnh:

- Cho xin mấy đồng đi!

Không đợi tôi phản ứng, cu cậu ròng xuống một ống bơ sữa bò được khoét hai lỗ cân đối, nối dây gai nâu. Tôi máy móc lục túi lấy tiền lẻ đặt vào. “Cảm ơn” – cậu bé reo lên. Khi cậu kéo chiếc ống bơ vào rồi, tôi mới sực tỉnh:

- Gượm, đợi đã! Thả tiếp xuống đi!

Tôi chạy vào xe lấy ra một chục gói mì ăn liền, hì hục buộc từng gói vào chiếc ống bơ. Ở phía trong, cậu lính cũng khéo léo lấy lên được bằng hết.

Tôi lên xe phóng đi, không kịp nghe cậu bé cảm ơn lần nữa. Mũi cay xè như vừa ăn mù tạc. À mà người ta bảo, cải Tashkent làm mù tạc là xịn nhất đấy!

Thụy Anh

hungmgmi 02-03-2010 11:52

Thêm một truyện ngắn nữa củaThụy Anh, xin giới thiệu với bạn đọc NNN:


Sợi tóc


Tâm nhăn mặt. Cảm giác lợm giọng dậy lên, mặc dù trước đó mấy phút, anh còn đang thấy hoàn toàn hài lòng với món súp củ cải đỏ chua dịu, ngầy ngậy váng sữa đang tan mà Hương đặt ngay trước mặt anh khi anh vừa ngồi xuống bàn. Súp nóng đến nỗi sờ vào mặt bàn cũng thấy ấm. Mấy miếng bánh mì đen, đĩa dưa chuột, cà chua tươi trộn dầu ăn điểm loáng thoáng một vài quả ôliu đen thẫm, bên cạnh là cốc vodka, loại cốc thủy tinh nhiều khía mà anh ưa thích. Vodka cứ phải rót vào cốc ấy mới được, vừa đầy đặn, vừa trong vắt khiến anh có cảm giác uống thứ rượu đó vào, đầu óc sẽ sáng suốt quang quẻ ra. Khăn ăn, khăn giải bàn vải thô, cùng một màu be dịu mắt. Trên bếp, ấm nước sôi đang phì hơi trắng, tỏa mùi nồng nồng của nước nóng, khiến má và tai đỏ ửng vì tuyết lạnh của anh như đang nguội dần. Căn bếp của hai vợ chồng anh ở xứ sở này, tuy bé nhỏ nhưng thật ấm, thật gọn. Và anh rất tự hào về vợ mình. Cứ dăm bữa nửa tháng lại rủ bạn bè về nhậu. Đôi khi không báo trước, cứ đột ngột đưa về cả một tiểu đội. Vậy mà Hương chẳng kêu ca nửa lời. Lúc nào cô cũng dự trữ sẵn trong ngăn đá rất nhiều đồ ăn, từ tôm “con hổ” xanh xanh vằn vện đắt tiền đến cá scumbria thịt vừa ngậy vừa chắc, và thịt lợn hoặc thịt bò xay sẵn để thành từng gói… Rồi lại hì hụi nấu nấu nướng nướng, bày biện xanh đỏ tím vàng, chỉ một loáng là thành mâm cỗ cho đám đàn ông khề khà cả tối.

Chỉ có điều, những tháng gần đây Tâm rất hay mất hứng khi ăn cơm ở nhà. Anh nhăn mặt nhặt ra từ trong miệng một sợi tóc mảnh. Tóc của Hương. Ẩu quá! Tâm bực bội. Dọn cơm cho chồng ăn thế đã là không ổn, những lúc có bạn có bè mà tóc của Hương vẫn cứ vài sợi quấn quýt trong đĩa nộm, hoặc lơ phơ trong bát canh măng là anh nhìn cô, mắt tóe lửa. Lạ nữa là, góp ý nhiều lần mà cô… vẫn tái phạm. Giờ, mỗi lần phát hiện ra một sợi tóc, anh lại cười khẩy đưa nó lên cao, nói: “Mì chính cho canh thêm ngọt!”. Anh thấy đắc thắng khi Hương cuống quýt đem sợi tóc vứt đi, mắt long lanh chực khóc. “Còn trẻ con lắm ấy! Quá ẩu! – anh nghĩ thầm. – Dạy vợ là cứ phải nghiêm, chẳng rồi sau này có tuổi, dám cho chồng đau bụng lắm!”.

Một tối, sinh nhật Tâm. Thường thì anh đã đặt nhà hàng. Nhưng năm nay rét đậm, tuyết rơi dày, mọi người ngại đến nhà hàng. Ngồi trong nhà Tâm vẫn ấm cúng hơn. Nhà lại gọn gàng vì không có trẻ con. Tâm và Hương cưới nhau đã mười năm, con trai 7 tuổi hai vợ chồng gửi về cho ông bà hai năm nay để đi học vì Tâm cũng không định ở đây lâu nữa. Căn hộ lớn ở phía Nam Matxcơva anh vẫn sửa lại rất đẹp. Sàn gỗ, thảm len Thổ nhĩ kỳ, góc nhà lại có một cái lò sưởi gạch đỏ, chỉ được nhóm lửa lên mỗi khi hai vợ chồng có những buổi tối lãng mạn hiếm hoi bên nhau, thường là vào mùa Thu, khi mưa giá tỏa làn khí mù ẩm ướt bên ngoài. Hương lấy nhúm lá bạc hà cô hái được trong rừng rồi sấy khô từ hồi Hè ra, thả vào chiếc ấm gốm to, hãm nước. Nước trà bạc hà thơm đến nỗi không thể gọi là thơm nữa. Ngồi cạnh bếp lò có những ngọn lửa nhỏ quấn riết lấy khúc củi bạch dương, mùi thơm của tách trà bạc hà có thể gọi là mùi hương bình an, khiến lòng chẳng còn muốn bon chen, làm nguội hoàn toàn tham vọng kiếm tiền vẫn bừng bừng hàng ngày trong Tâm, trong những người bạn của Tâm. Tâm vẫn thường đùa vợ: “Em làm nhụt chí trai!”…

Lần này, sau khi ăn nhậu xong, đã ngà ngà say, mọi người được thưởng thức tách trà “làm nhụt chí trai” của Hương bên bếp lửa. Ai nấy đều như thở ra một hơi thật dài, trút bỏ hết những suy nghĩ vương vấn về những hợp đồng chưa ký được, những dự án chưa hoàn thành, những công hàng vẫn đang lênh đênh ngoài biển… Vợ một anh bạn tò mò hỏi Hương cách sấy lá bạc hà. Hương sôi nổi kể: “Lá bạc hà ở ngoài rừng nhiều lắm, em hái cả mấy cái lá có hoa trắng, chẳng biết tên là gì, nhưng người Nga nói là uống mát gan, rồi đem về rửa sạch, đợi thật ráo nước, cho cả vào lò sấy. Thế mới sạch, chứ phơi ngoài không khí để không được lâu, lá trà lại vẫn ngậm nước… Hãm thì cũng cứ hãm như trà thường thôi. Đun nước thật sôi đổ vào là xong!”

Tâm tiếp lời: “Thiếu!” Hương ngạc nhiên nhìn anh, Tâm cười cười, nói: “Còn một thành phần quan trọng. Là tóc!”. Mọi người cười xòa, nhưng ngơ ngác. Rõ ràng không ai hiểu ẩn ý của Tâm. Chỉ có Hương là tái mặt. Mắt cô đỏ lên. Cô quay vào buồng ngủ. Lát sau, cô ra hành lang khoác áo, đi ủng… và nói với mọi người: “Các anh chị ngồi chơi, em chạy xuống đường mua thêm thuốc lá”.

Không ai để ý là Hương đi rất lâu. Mọi người đã về hết rồi, bát đĩa rếch vẫn đầy trên bàn, những tách trà đã uống hết vẫn vương vãi đây đó quanh phòng khách. Tâm lả giả bảo mọi người, cứ để đấy Hương về Hương lo, một loáng là xong mà, cô ấy quen rồi. Nhưng hút đến điếu thuốc thứ ba ngoài bếp mà Hương vẫn chưa về, Tâm bắt đầu nóng ruột. Anh mặc ấm, lao xuống đường. Ngoài trời, tuyết đang rơi đợt cuối của một ngày. Tuyết mảnh như những giọt mưa trắng, bay lấp lánh dưới ánh đèn cao áp. Trong gió, không rõ tuyết đang từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất túa lên nữa. Anh nhìn thấy Hương đang ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ trong sân, ngay dưới cột đèn. Cô để đầu trần, tóc xõa ra. Tuyết bay quanh làm mái tóc như được bao phủ một quầng sáng nhỏ. Trước đây tóc Hương rất dài và mượt. Không hiểu sao dạo này cô để tóc ngắn, những lọn tóc nhỏ bám vào má, trông ngắn ngủn khó chịu. Anh vốn thích vợ để tóc dài. Hương biết vậy mà vẫn cắt tóc, hình như nghe lời khuyên của cô bạn gái nào đó, cô muốn đổi mới mình. Hừm. Có lẽ cũng vì chuyện này mà gần đây anh thấy hậm hực trong lòng, hai vợ chồng chẳng mấy khi nói được với nhau câu chuyện tử tế.

Tâm gạt tuyết trên ghế, ngồi xuống cạnh vợ. Anh chưa biết nói gì vào lúc này. Cũng không xác định được mình đang bực bội hay cảm thấy nhẹ cả người vì tìm ra Hương. Anh im lặng. Mùi tuyết dậy lên, phải rồi, như trong một truyện ngắn của Nga anh từng đọc, người ta ví mùi tuyết với mùi dưa hấu. Mọi cáu giận trong anh đã biến mất. Bỗng, Hương ngả đầu vào vai anh. Mái tóc cô đã ướt đầm, cọ vào má anh lành lạnh, khiến anh rùng mình. Cô nói khe khẽ: “Anh xem này, lâu rồi anh không chạm vào tóc em. Anh có nhớ, ngày xưa nó dày thế nào không?” “Anh nhớ”. Hồi mới yêu nhau, cô hay tết tóc hai bên. Mỗi bím tóc chật cả lòng bàn tay anh. Tâm bất giác đưa tay vuốt tóc Hương. Bàn tay anh ẩm ướt. Mái tóc ngắn cũn tội nghiệp nằm gọn trong lòng tay, chỉ còn một dúm. Anh hoảng hốt: “Sao vậy em?” “Không sao, anh ạ. Chỉ là tóc rụng quá nhiều. Ai rồi cũng đến lúc thế.” Rồi đột nhiên, cô giật một sợi, kêu lên một tiếng nhỏ như thể chính bản thân cô cũng bất ngờ về hành động của mình. “Anh cầm đi. Anh vẫn bảo, tóc em là tóc tơ, nghĩa là em sướng. Tóc ai cứng như chổi rễ tre là khổ.”, - Hương cười khẽ. – “ Anh có còn nhớ, hồi chưa sang đây với anh, em đã từng gửi cho anh một sợi tóc trong bức thư không? Anh bảo rằng, anh để sợi tóc lên ngực, và như thấy em đang áp mặt vào ngực anh, ở chỗ tim”. “Anh nhớ”.

“Dạo này tóc em rụng nhiều quá, mắt em thì cận, em…” “Thôi, em đừng nói nữa” – Tâm thấy nghẹn cổ, đưa tay giằng cái khăn quàng. Hương sang Nga đoàn tụ với anh rồi mới bị cận. Mắt Hương cận 1,5 đi-ôp, nhưng anh không thích cô đeo kính. Anh muốn thấy cô như cô gái hồi nào anh yêu, như người vợ anh cưới về, xinh xắn, tóc dài, mắt tròn sáng. Chiều anh, cô chỉ dùng kính mỗi khi đọc sách hoặc xem phim, vả lại cô cận cũng không nặng lắm, không đeo có vẻ cũng chẳng sao…

Bây giờ, trong đêm tuyết rơi, mắt cô như tối thẫm đi, tương phản với màu trắng sữa đang rực sáng lên ở xung quanh.

Tâm quàng tay ôm Hương vào ngực, anh vẫn nắm chặt sợi tóc nhỏ của cô trong lòng bàn tay to lớn của mình. Tóc tơ, mảnh như không hề có…

Thụy Anh

Trăng Quê 03-03-2010 09:23

http://a367.yahoofs.com/lifestory/MC..._____DVXZSK2ls
Thụy Anh - HV Hội VHNT Việt nam tại liên bang Nga ( ảnh chụp trong Ngày thơ Việt nam lần thứ 8)

Thien Nga 14-03-2010 20:29

TẾT KHÔNG VỀ

Cứ hẹn lần năm này sang năm khác
Hai chục năm... Tết cũ đã phai
Hoa tím ta yêu góc đường xơ xác
Có còn ai thương rét lộc, rét đài?

Rong ruổi làm chi bước đường mê mải
Để mùa Xuân cũng không kịp trở về
Mùi hương cũ nhớ mòn trong ký ức
Nhắm mắt vào cố tưởng lại niềm quê

Còn lại gì? Sao ta không thể
Giữ cho mình những say đắm xa xưa
Tay trống quá! Tìm tay người yêu mến
Nhận ấm êm, lòng thương nhớ gió mùa...

Thuỵ Anh


Gởi các bạn một bài thơ nữa của Thụy Anh

Милая_утка 14-03-2010 21:06

Oh! Cô Thụy Anh! Cô có thể post những truyện ngắn cô viết về tuổi thơ của mình hồi còn ở Mos được không cô? Utka rất muốn đọc ;)

Thien Nga 14-03-2010 23:37

@Vit con :Cô không phải là Thụy Anh nhưng cô sẽ nhắn cô ấy vào đây vời cháu và mọi người.

Милая_утка 14-03-2010 23:58

Cô sớm nhắn với cô Thụy Anh cô nhé! Cô nhắn với cô Thụy Anh là Utka đã được nghe những câu truyện rất cảm động về cô, và bé Utka rất ngưỡng mộ nghị lực sống vượt qua mọi khó khăn của cô Thụy Anh.:emoticon-0115-inlov

Hoa Pion 05-04-2010 02:16

Xin chào các anh chị, các bạn trên mạng nuocnga.net!

Em là Thụy Anh, hôm nay được người bạn nhắn vào đây đọc, vì có "ai đó nhắn nhủ gì". Thực ra, em không dám tham gia Diễn đàn, mặc dù vẫn có lúc vào nuocnga.net đọc những chia sẻ của các anh chị và các bạn, cả những thông tin rất bổ ích nữa. Nhưng ngày ở Nga, không hiểu sao chỗ em vào nuocnga.net rất khó, lâu ơi là lâu, đôi khi mở không ra nên em cũng hơi nản. Rồi từ năm ngoái, em cũng bận bịu cuộc sống mới ở VN, cũng không dám tham gia diễn đàn ở đâu cả, ngay cả ở Thi Viện, chỗ em thường vào, em cũng bê trễ, hic.
Khi anh Hùng lập cho em topic này, em vào đọc và rất cảm động vì những tình cảm của các anh chị, các bạn dành cho em. Bây giờ đọc những dòng nhắn của "bé Utka", em thấy không thể không đăng ký vào Diễn đàn, để nói một lời cảm ơn với mọi người.

Xin cảm ơn anh Hùng đã cho em cơ hội được vào NNN :). Cảm ơn chị Rừng bạch dương - em đọc đoạn chị viết về bài thơ của em, thấy giật mình, hì, như là chị đi guốc vào bụng em vậy :). Cảm ơn bạn phóng viên cá măng (sau này nhìn ảnh ngày thơ năm ngoái, thấy thấp thoáng bóng dáng của bạn hihi, một phóng viên rất chuyên nghiệp), chú Geo, anh Hổ (cảm ơn anh còn nhớ em), Milaia Utka và tất cả các anh chị, các bạn đã đọc những bài viết của em, và đồng cảm cùng em.
:emoticon-0115-inlov
(Em kể lể phân bua dài dòng ở trên thế kia là muốn mọi người thể tất cho, lẽ ra em phải vào đây nói những lời này sớm hơn kia. :( )

Chúc các thành viên NNN một tuần mới tốt lành!


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:57.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.