![]() |
Đường đi A-man-tê (Truyện khoa học viễn tưởng)
"Đường đi A-man-tê" là một tập truyện khoa học viễn tưởng của nhiều tác giả Xô-viết nổi tiếng, do Nhà xuất bản Ngoại văn Mát-xcơ-va giới thiệu. Chúng tôi có chọn dịch một số truyện in trong tập này:
"Thung lũng Bốn Cây Thập Ác" nói lên ước mơ của con người muốn có một chiếc máy chiếu thời gian, căn cứ vào một số di vật nhỏ có thể dựng lại các sự kiện có liên quan đến những di vật đó trong quá khứ. Chiếc máy đó hỗ trợ rất đắc lực cho con người trong công tác khảo cổ hoặc tìm hiểu lịch sử của những vấn đề đã qua. "Những cánh hoa bay" giới thiệu khả năng thông tin liên lạc của sinh vật từ xa, qua những sống vô tuyến sinh học. Nhiều nhà bác học cho rằng đây là một trong những thành tựu khoa học vĩ đại của thế ký 21, và con người có thể lợi dụng khả năng đó. Một trong những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại là điều khiển học. Bạn đọc sẽ làm quen với điều khiển học thần kinh quá "Phương trình Mắc-xoen". Truyện giới thiệu những khám phá mới về bộ nào con người, cơ sở hóa điện của cảm giác và tư duy. " Đường đi A-man-tê" và "Nhà du hành vũ trụ" giúp bạn đọc hình dung những khó khăn, nguy hiểm của các nhà du hành vũ trụ trong các chuyến bay xa xôi, dài hạn, hoặc khi phải sinh hoạt làm việc trên những thiên thể xa lạ. Xuyên qua tất cả các chủ đề trên đây là những phẩm chất cần có của những người làm công tác khoa học kỹ thuật. Xin giới thiệu tập truyện với các bạn. NXB Thanh Niên. Gửi lưu chiểu tháng 7 năm 1978 ---------------------------------------------------------------- Có lẽ nhiều bác đã đọc cuốn này. BZ sẽ gõ lại cuốn sách này lên NNN :emoticon-0100-smile. |
I-Go Da-Bê-Lin
Thung lũng bốn cây thập ác Chương một Tất cả đã bắt đầu như thế nào, tại sao chúng tôi đã gỡ mối cho câu chuyện bí mật này, máy chiếu thời gian và phương pháp chiếu thời gian là gì? Như nhiều chuyện khác, câu chuyện tôi sắp kể cho các bạn nghe, đã bắt đầu từ việc khám phá ra các giấc tờ cũ trong kho của một căn nhà cổ. Đúng là để tìm chúng, chúng tôi không cần phải leo lên một thang gác ọp ẹp, tay cầm đèn; rất đơn giản là người ta đã gọi dây nói cho tôi từ khoa địa chất và địa lý thuộc Viện Hàn lâm khoa học, yêu cầu tôi đến cùng với bạn tôi là Bê-rê-xkin. Người tiếp chung tôi là Đa-nhi-lép-xki, công tác viên của khoa, tóc đã hoa râm. Đa-nhi-lép-xki rút trong ngăn kéo bàn ra hai quyển vở mỏng, rất nhàu nát, bìa bị hoen ố, và đặt trước mặt chúng tôi. - Đây, đống chí ấy nói. Chính vì các quyển vở này mà chúng tôi đã mời các đồng chí đến. Cách đây một tháng rưỡi, chúng tôi đã nhận được chúng từ Viện bảo tàng địa phương ở Cơ-ra-xnô-đa. Trong bức thư kèm theo, ông giám đốc của Viện báo cho chúng tôi biết là người ta đã tìm thấy chúng trong kho của một căn nhà gần như đổ nát, ở ngoại ô Cơ-ra-xnô-đa. Rất may là chúng còn lưu lại được qua các cuộc nội chiến và cuộc chiếm đóng phát xít... - Đồng chí cho rằng chúng đã lâu đời đến thế ư? Tôi hỏi. - Chắc chắn như vậy. Bạn bè của chúng tôi ở Cơ-ra-xnô-đa đã xác định được rằng các ghi chép cuối cùng là vào năm 1919. Hiểu được chúng quả là rất khó khăn. Nhưng chính các quyển vở này lại nói về đoàn thám hiểm Bắc cực của An-đrây Jin-xốp... - Jin-xốp? Tôi ngạc nhiên hỏi. Chính cái đoàn đã biến mất không để lại dấu vết? - Đúng vậy. Nhưng tốt hơn hết là hãy đọc bức thư kèm theo... Bức thư này không giúp chúng tôi biết thêm gì mới, ngoài tên người đã ghi chép: các nhân viên của Viện bảo tàng địa phương cho rằng các cuốn vở này là của Dan-xơ-man, một người đã tham gia vào đoàn thám hiểm. Chúng tôi tò mò nhìn các quyển vở, do dự không muốn cầm lấy chúng. - Việc này hình như làm các dồng chí thích thú, Đa-nhi-lép-xki quan sát chúng tôi và nói. Các đồng chí có bằng lòng nhận làm sáng tỏ nó không? - Đồng chí muốn nói là tìm hiểu ghi chép này chăng? - Tôi không rõ. Có lẽ tìm hiểu chúng cũng không đủ… Đoàn chủ tịch của Viện sẵn sàng giúp đỡ các đồng chí. - Những tại sao các đồng chí lại nhờ chúng tôi. - Chúng tôi có thừa lý do, đồng chí Véc-bi-nin ạ. Theo tôi biết, đồng chí đã nhiều năm nghiên cứu lịch sử chinh phục phương Bắc và mới đây, đồng chí lại cho in một cuốn sách về vấn đề ấy… Hơn nữa, đống chí là nhà văn và câu chuyện này lại bí mật như vậy… Cuối cùng, còn có máy chiếu thời gian, phát minh của cả hai đồng chí… Máy chiếu thời gian. “Té ra đó là điều ông ta muốn đi đến, tôi nghĩ. Quả thật là tôi nghiên cứu lịch sử phương Bắc và tôi cũng đã đi nhiều. Quả thật tôi là nhà văn, nhưng nói cho cùng, những người chuyên nghiên cứu lịch sử Bắc cực không phải hiếm, kể cả những nhà văn hiểu biết địa lý. Cái chính, là do máy chiếu thời gian, phát minh của Bê-rê-xkin”! - Cần chính xác, tôi nói với Đa-nhi-lép-xki. Người phát minh ra máy chiếu thời gian là Bê-rê-xkin. Chúng tôi chỉ cùng nảy ra ý nghĩ về chiếc máy ấy thôi. Nghe nói vậy, bạn tôi, từ nãy vẫn im lặng, liền cựa quật trên ghế, nhưng tôi không hề để ý đến – Trong trường hợp này, người phát minh không quan trọng. Điều không may là máy chiếu thời gian chưa được thử thách đẩy đủ. Đến đây, tôi chiếc nhìn Bê-rê-xkin, mong rằng cậu ta ủng hộ tôi. - Chúng tôi không có gì bảo đam là nó sẽ đáp lại đầy đủ hy vọng của chúng tôi…. - Không có gì bảo đảm cả, Bê-rê-xkin nhắc lại sau tôi. Vai rộng, khỏe mạnh, đầu to, đôi lông mày rậm và hàm dưới bạnh ra, cậu ta có vẻ như một người suy nghĩ chậm chạp, không xứng với một lao động trí óc nhanh nhẹn và chính xác; trông cậu ta , không ai có thể nghĩ rằng đó là một nhà toán học và một nhà phát minh đại tài… - Thật ra, Đa-nhi-ép-xki nói, điều làm chúng ta quan tâm hiện nay, không phải là máy chiếu thời gian mà là đoán thám hiểm bị mất tích. Các đồng chí có nhận điều tra việc này hay không là tùy các đồng chí. Tôi trẻ lời là chúng tôi còn phải quy nghĩ xem đã. Đa-nhi-ép-xki đề nghị chúng tôi mang các quyển vở về để tìm hiểu chúng. Chúng tôi trân trọng cầm lấy chúng, xếp cẩn thận vào trong cặp ra về… Đến đây, hiển nhiên là phải dừng lại để giải thích thể nào là máy chiếu thời gian và phương pháp chiếu thời gian. Điều mà người ta vừa đề nghị chúng tôi trùng với phần cuối của công việc sơ bộ mà chúng tôi làm để chế tạo chiếc máy đó. Chúng tôi chuẩn bị thử máy tỉ mỉ hơn, trước khi xin cấp bằng phát minh. Trong đáy lòng, mỗi người chúng tôi đều nghĩ rằng máy chiếu thời gian quả là rất hoàn thiện, nhưng khi Đa-nhi-ép-xki trực tiếp đề nghị chúng tôi dùng nó, chúng tôi lại sợ và đã vội rút lui… Đã từ lâu, người ta bàn tán về máy chiếu thời gian và báo chí cũng đã giới thiệu một vài điều về nó. Hầu hết mọi người đều dè dặt đối với phát minh của chúng tôi. Và điều đó cũng dễ hiểu. Trên toàn thế giới, chỉ có hai chúng tôi nghiên cứu máy chiếu thời gian, Bê-xê-xkin và tôi, và các kết quả của phương pháp này hiện nay hoàn toàn không đáng kể. Để cho rõ hơn, câu chuyện mà tôi kể không phải bắt đầu từ hôm chúng tôi trông thấy lần đầu tiên các quyển vở cũ nát. Cúng không phải từ hôm người ta tìm thấy chúng trong kho của căn nhà đổ nát… Nó đã bắt đầu sớm hơn nhiều, vào một đêm trời đầy sao, trong rừng rậm Tai-ga, lúc nảy sinh ra dự kiến về chiếc máy chiếu thời gian… Đoàn thám hiểm địa lý nhỏ bé của chúng tôi lúc ấy đang làm việc ở miền Đông Xai-an. Suốt ngày, từ sớm đến chiều, chúng tôi đi theo một con đường mòn, vừa đi vừa quan sát: chúng tôi mô tả địa hình, cây cỏ, những biến đổi về tình chất của thung lũng sống Iếc-cút. Ba ngày sau khi khởi hành, chúng tôi đã rời thung lũng sống Iếc-cút để leo lên đèo Nu-khu-đa-ban ( theo tiếng Bu-ri-át có nghĩa là đèo có lỗ). Đã từ lâu, tất cả chúng tôi đều đã được nghe nói về cái đèo ký lạ này hay đã đọc một điều gì đó về nó. Do đó, mỗi chúng tôi đều muốn thấy nó ngay. Leo đèo rất vất vả, lối đi khá dễ dàng nhưng một loại miếu được dựng lên ở cửa đèo cho biết rằng ngay cả những người chăn súc vật và thợ săn, mặc dù đã quen với các điều kiện ở miền nũi, khi lên đây cũng sờ sợ thế nào ấy. Tôi xem xét miếu thờ. Dựng dưới chân một tảng đá dốc cheo leo, nó được phủ lên nhiều băng mày, mắc vào các cành cây, và có cả vài đồng tiền, vài chuỗi cườm và cả vài đồng Rúp cũ…. Những người dâng đồ cúng này có lẽ cũng không tin lắm vào sự linh thiêng của chúng, nhưng đó là tập quán từ xưa đến nay. Chúng tôi cũng không tin vào sức mạnh của thế giới bên kia, nhưng chúng tôi cũng đặt vài đồng tiên lên bàn thờ trước khi tiếp tục leo trèo vất vả… Cuối cùng chúng tôi cũng đến Nu-khu-đa-ban: bên phải lối đi dựng đứng một bức tường đá vôi thủng lỗ chồ; chỉ cò một cây Mê-le-dơ nhỏ bám vào sườn nó. Tôi lại gần và phát hiện ra ở một trong các sườn đá một chiếc mũ kim loại. Tôi không biết ai đã để nó ở đấy và tại sao. Nhưng việc trèo đèo, một cái đèo khó leo và đầy rẫy truyền thuyết, miếu thờ, và cuối cùng việc khám phá ra chiếc mũ cổ, đã gieo vào đầu óc chúng tôi nhiều ý nghĩ lãng mạn; sau đó ngủ đêm tại đấy, câu chuyện vẫn còn tiếp tục mãi về quá khứ của miền này, về lịch sử nói chung… Tôi đã mang theo cái mũ. Dưới ánh lửa, Bê-rê-xkin và tôi chăm chú ngắm nhìn nó. Nó rất rộng so với đầu chúng tôi, hình như của một người khổng lồ. Nó được cấu tạo bằng tám tấm thép, phía dưới nối với nhau do một vòng kim loại, phía trước có một khe nhìn, và trên đỉnh có một vòng thứ hai, với một ống tròn nhỏ ở giữa rõ ràng là để cắm vật trang trí: lông bờm ngựa hay một cái gì đó khác. Đêm khuya tĩnh mịch, nước chảy róc rách trên các hòn đá cuội, gió lạnh thổi từ đèo về, hàng loạt tia lửa lóe ra trong đêm tối và ánh trăng lưỡi liềm chơi vơi trên đỉnh nũi, kích thích trí tưởng tượng của chúng tôi, khiến chúng tôi dễ hình dung ra một dũng sĩ Mông Cổ trang bị đầy đủ, nhiều năm trước đây đã từng qua đèo Nu-khu-đa-ban, ròi trúng tên gục ngã… Ai đó ( về sau chúng tôi cũng không nhớ) nói rằng thật đáng tiếc là người ta không thể lấy lại các sự kiện đã xảy ra hàng chục, hàng trăm năm trước đây. Thật đáng tiếc, người ấy nói tiếp, là không thể xích chúng lại gần chúng ta như thể người ta đã xích gần các vật ở cách xa ta hàng nghìn và đôi khi hàng triệu ki-lô-mét nhờ kính viễn vọng. Chính lúc ấy đã nảy sinh ra từ “máy chiếu thời gian”. Nps được đưa ra để vui đùa, do đồng dạng với từ kĩnh viễn vọng. Kính viễn vọng xích lại gần ta các vật ở xa trong không gian, còn máy chiếu thời gian… nó có thể dịch lại gần ta, các vật lùi xa về dĩ vàng, cho chúng ta thấy được các sự kiện đôi khi chỉ để lại một dẫu vết mờ nhạt. Trí tưởng tượng của tôi đã khiến tôi thấy như thật chủ nhân cũ của chiếc mũ, đến nỗi tôi nói rất nghiêm chỉnh: - Cái máy này đã có từ lâu rồi Tất cả mọi người đều nhìn tôi, rất ngạc nhiên. - Đó là khối óc, tôi giải thích. Óc con người. Chẳng phải nó đã có thể đi sâu vào quá khứ hàng thế kỷ và làm sống lại những sự kiện xa xưa đối với ta hay sao? Phải chăng ta đã chẳng tái tạo theo các vũ phú, những vật dùng hàng ngày, cách sống, cách đánh trận của tổ tiên ta? Chúng ta không tin các tiểu thuyết lịch sử hay các phim truyện kể lại những ngày đã qua lâu rồi sao? - Các cậu lạc đề rồi, một đồng chí trong chúng tôi bắt đầu bẻ. Tất nhiên, mỗi người đều có thể tưởng tượng, chẳng hạn như mình đang ở trên sao Hỏa. Nhưng điều ấy không thay được kính viễn vọng… - Cũng như không một kính viễn vọng nào thay được óc con người, tôi trả lời, không chịu thua. Chỉ cần trang bị cho khối óc một công cụ phụ trợ… - Và không chỉ thế, Bê-rê-xkin chen vào. Từ nãy đến giờ anh vẫn yên lặng. Khi ấy anh còn là sinh viên khoa toán trường Đại học tổng hợp Mát-xcơ-va, vì ham thích du lịch, anh đã xin vào làm thợ trong đoàn chúng tôi – Không chỉ thế, anh nhắc lại. Đúng là không một kính viễn vọng nào hay một máy chiếu thời gian nào hoàn thiện nhất có thể suy nghĩ được, nhưng phải chăng khả năng của con người lại không tăng lên khi ta cung cấp thêm các dữ kiện mới cho nó?... Chỉ có bộ óc mới hiểu được quá khứ, nhưng máy chiếu thời gian có thể giúp nó bằng cách làm tái hiện các sự kiện đã thoát khỏi lý trí và cặp mắt con người… Các bức tranh kỳ lạ nhất diễn qua óc ta, chúng ta có thể cho rằng có người sao Hỏa, tuyên bố rằng các khe nứt của sao Hỏa là một hệ thống kênh đào, nhưng chỉ có ống kính mới cho chúng ta khám phá ra thiên nhiên thật của sao Hỏa. Trong việc tìm hiểu các sự kiện lịch sử, luôn luôn có rất nhiều sự vật lạ, khách quan và nếu máy chiếu thời gian có thể đưa chúng lại gần ta dưới một dạng không bị làm sai lệch đi vì các nhà sử học… - Đó sẽ là một cuộc cách mạng trong sử học và cổ sinh vật học, tôi kêu lên. Con người sẽ có những khả năng vô tận làm tăng thêm hiểu biết của mình! - Máy chiếu thời gian! Máy chiếu thời gian! Một người nào đó sẵng giọng nhận xét. Các cậu tán gẫu chưa đủ sao? Dù sao đi nữa cũng không thể chế tạo một chiếc máy như vậy được. - Có thể được, Bê-rê-xkin nhận xét. Tất nhiên, không phải dưới dạng chiếc ống với các kính phóng đại, nhưng tuy nhiên… - Thế thì nó sẽ như thế nào? Tôi hỏi, cảm thấy rằng Bê-rê-xkin nói rất nghiêm chỉnh, và ý nghĩ về chiếc máy có một cơ sở thực tế, dù rằng tôi không hiểu nó. - Một máy điện tử, Bê-rê-xkin đáp. Một máy điện tử thông thường. Anh suy nghĩ rồi tiếp: - Không hoàn toàn thông thường, chắc chắn thế, nhưng là một máy cùng kiểu với máy tính, máy dịch và các máy khác tương tự. Chúng có thể giải những bài toán phức tạp nhất, dịch các văn bản “nhớ lại” hàng loạt sự vật khác nhau nhất. Những thành tựu của điều khiển học hiện đã lớn đến mức có thể tưởng tượng một máy điện tử mang tên máy chiếu thời gian… Giả sử chiếc mũ này có một lỗ. Chúng ta đặt nó vào trong máy chiếu thời gian và đề ra cho nó nhiệm vụ phải hoàn thành: giải thích nguồn gốc của lỗ ấy. Trong vài giây, với một tốc độ khổng lồ, máy chọn trong hàng trăm nghìn kiểu, một kiểu hợp lý nhất… Nhờ một tế bào quang điện, kiểu này sẽ được quay phim rồi chiếu lên một màn ảnh. Và lúc ấy… - Và lúc ấy quá khứ sống lại trên màn ảnh! Tôi ngắt lời Bê-rê-xkin; anh đang chìm đắm trong mơ màng. Lúc ấy chúng ta sẽ thấy lại người dũng sĩ Mông Cổ đang leo chậm chạp lên đèo Nu-khu-đa-ban, chúng ta sẽ trông thấy kẻ thù nấp sau các tảng đá rình chàng, chúng ta sẽ trông thấy hắn giương cung và kết liễu đời người dũng sĩ bằng một mũi tên chính xác! Tất cả các bạn của chúng tôi, ngồi quanh đống lửa phá lên cười, Bê-rê-xkin và tôi cũng vậy, câu chuyện này đối với chúng tôi quả là kỳ lạ. Nhiều năm đã trôi qua kể từ buổi tối hôm ấy, và hôm nay chiếc máy chiếu thời gian đã sẵn sàng. Tất nhiên bây giờ không cần giải thích tỉ mỉ rằng con đường đi đến phát minh của chúng tôi biết bao lâu dài và khó khăn, rằng chúng tôi đã gặp bao thất bại và chán nản, rằng đã biết bao lần sự nghi ngờ xâm chiếm chúng tôi… Bây giờ tất cả những cái ấy thuộc về quá khứ và, như vẫn xảy ra cho các công trình kéo dài cuối cùng có kết quả tốt, mọi điều đã trải qua chúng tôi thấy một màu hổng cả… Chúng tôi đều bị một ý đồ lớn ám ảnh, ham muốn tạo ra một cái máy có thể mở một cửa sổ hướng về quá khứ xa xôi, có thể tái tạo nhanh và chính xác, từ những chứng cớ xác thực không đáng kể, bức tranh về một chiếc công hay một tội ác, hoàn lại danh dự cho một con người bị vu khống và lột mặt nạ kẻ vu khống; hiện nay chúng tôi còn chưa biết hết mọi khả năng của chiếc máy của chúng tôi, có thể theo thời gian nó sẽ cho phép các nhà cổ sinh vật học thấy tận mắt các sinh vật đã mất tích từ lâu, trước đây đã từ sống trên Trái đất; có thể nhờ nó các nhà khảo cổ nghiên cứu và các nhà sử học có thể dựng lại các diễn biến của trận Bô-rô-đi-nô hay cuộc chiến đấu giữa các nước ở gần Lép-dích… Tóm lại, lúc ấy chúng tôi đã tin, đang tin và sẽ luôn luôn tin ở tương lai của phép chiếu thời gian, nghĩa là vào nghệ thuật nhìn lại quá khứ! Tuy nhiên, lúc ấy các quyển vở cũ của Cơ-ra-xnô-đa xuất hiện trên bàn, chúng tôi vẫn chưa thể công bố những kết quả phát minh của chúng tôi. Mặc dù nó làm chúng tôi rất thích thú. Quả thật, thật là thú vị khi có thể , nhờ chiếc máy chiếu thời gian chúng tôi đã đưa vào một bức thư cũ của vợ tôi, biết được vợ tôi đã viết lá thư ấy như thế nào… Nhưng muốn cho chiếc máy này được mọi người công nhận, trước hết nó phải trải qua những thử thách cẩn thận, tỉ mỉ. Bây giờ, chắc các bạn hiểu rằng các quyển vở của Đan-xơ-man đến đúng lúc như thế nào… Vào lúc tôi viết các dòng này, công việc của chúng tôi đã hoàn thành, các bức tranh của quá khứ đã được dựng lại và khắc vào “trí nhớ” của máy chiếu thời gian. Người ta có thể nhìn lại chúng trên màn ảnh vào bất kỳ lúc nào. Tất nhiên, tôi nhớ rất rõ công việc của chúng tôi đã tiến hành như thế nào, cùng với Bê-rê-xkin; chúng tôi đã giải quyết từng khâu của số phận các con người ấy như thế nào…Và bây giờ khi có thể kể lại về tất cả các việc ấy, tôi lại tự đặt câu hỏi: viết cái gì? Các bạn đừng lấy làm lạ. Có thể kể lại chúng tôi đã thử máy như thế nào, nhưng cũng có thể mô tả các con người mà số phận đã được sống lại trên màn ảnh và cũng không phải chỉ ở trên màn ảnh… Quả là chiếc máy chiếu thời gian đối với chúng tôi rất quý nhưng những con người, những nỗi vui buồn của họ, đối với chúng tôi, lại còn đáng quý hơn… Công việc điều tra của chúng tôi càng tiến triển, chúng tôi càng ít nghĩ đến việc thử máy chiếu thời gian hơn là việc khám phá đến cùng bí mật về đoàn thám hiểm đã mất tích. Nếu các bạn đồng ý, tôi sẽ kể cho các bạn nghe điều ấy, về tất cả những gì mà chúng tôi đã được biết. Còn về chiếc máy chiếu thời gian…Xét cho cùng, đó không phải là điều quan trọng nhất… (Hết chương một) |
Chương hai Tình hình đoán thám hiểm Jin-xốp. Kiểm nghiệm thực tế đầu tiên của máy chiếu thời gian và các kết quả của nó. Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi quyết định cân nhắc kỹ mọi mặt của vấn đề trước khi đi đến dứt khoat: thật vậy, nếu cuộc điều tra không kết quả có thể tổn hại đến ngay ý nghĩ về máy chiếu thời gian. - Cậu hiểu chứ, Véc-bi-nin, Bê-rê-xkin ngồi trong chiếc ghế bành quen thuộc gần bàn giấu nói với tôi, liều lĩnh quả là rất tốt. Những để bắt đầu, hãy kể cho mình nghe những gì cậu biết về đoàn thám hiểm ấy. Lịch sử các phát kiến địa lý và mình, chúng mình xung khắc, và tiến hành một việc nào đó mình không hề nghĩ đến… Cậu ta không nói hết, song tôi đã hiểu rõ ý cậu ta. Chúng tôi chỉ dám dùng đến máy chiếu thời gian, nếu công việc xem ra xứng đáng. Về điểm này, tôi không nghi ngờ gì cả. Nếu quả thật đó là đoàn thám hiểm Jin-xốp, thì chắc chắn tìm hiểu nó sẽ rất thú vị. Chiều đã buông xuống, cả hai chúng tôi đều mỏi mệt sau ngày hôm ấy. Tôi đề nghị vợ tôi pha cho chúng tôi ấm trà. Trong khi vợ tôi đang ở trong bếp, tôi lấy rất nhiều sổ sách trên giá và đặt lên bàn. - Cậu xem, tôi bảo Bê-rê-xkin, về đoàn thám hiểm này chỉ có một điều người ta biết rõ, đó là nó đã được tổ chức, đã đi về phương Bắc và đã mất tích không để lại dấu vết… - Ít quá, Bê-rê-xkin mìm cười nói. Nhưng, liệu có thể biết được, thí dụ, tại sao nó đã được tổ chức và Jin-xốp là ai? - Tất nhiên là biết, tôi trả lời. An-đơ-rây Jin-xốp là một nhà nghiên cứu thủy lộ Bắc cực, một trong những người đã tham gia vào đoàn thám hiểm nổi tiếng Tôn trên chiếc Da-ri-a… - Hãy bắt đầu từ đầu, Bê-rê-xkin ngắt lời tôi. Mình đã được nghe nói về Tôn, biết ông ta đã chết, nhưng chưa bao giờ mình để ý đến các chi tiết… Nhưng chính các chi tiết lại rất cần cho chúng ta. - Đúng, không có các chi tiết, chúng ta không đi đến đâu cả. Song mình vừa chợt nhớ đến một trường hợp lạ lùng. Nhưng hãy nói trước hết về đoàn thám hiểm Da-ra-a. Nó đã được Viện Hàn lâm khoa học tổ chức để nghiên cứu các đảo của miền Tân Xi-bê-ri, và để tìm “Miền đất Xan-ni-cốp”. Bây giờ, cậu sắp hỏi mình “Miền đất Xan-ni-cốp” là gì chứ gì? - Không phải vậy, Bê-rê-xkin nói, hơi giận dỗi. Người ta đã viết hàng trăm lần đó là một mảnh đất mà nhà đi săn Xin-ni-cốp đã trông thấy vào thế kỷ trước, khi ông ta đang ở trên đảo Cô-ten-ny… Người ta đã tìm kiếm nó nhiều lần mà không thấy. - Quả là người ta không tìm thấy nó. Nhưng không phải chỉ một mình Xan-ni-cốp thấy nó. Người Ê-ven là Đơ-giéc-ghe-li và cả Tôn nữa đã nhiều lần thấy nó. Năm 1886, trong khi nghiên cứu các đảo của miền Tân Xi-bê-ri cùng với nhà thám hiểm Bắc cực Bun-giơ, cũng như Xan-ni-cốp, ông đã trông thấy mảnh đất ở phía Bắc đảo Cô-ten-ny… Tôi tin chắc “Miền đất Xan-ni-cốp” có thật đến nỗi ông đã thử tiên đoán cấu trúc địa chất của nó theo hình dạng các trái vúi. Việc khám phá mảnh đất này đã trờ thành mục đích chính của cuộc đời ông. Chính vậy năm 1900 đoàn thám hiểm Da-ri-a đã khởi hành đi về phía các đảo của miền Tân Xi-bê-ri. Hai năm sau, Tôn đã chết cùng với nhà thiên văn học Dê-béc, hai người đi săn, người Ê-ven Đia-cô-nốp và người I-a-cút Gô-rô-khốp, trong khi họ đang làm việc trên đảo Ben-nét thuộc quần đảo Lông. Tàu Da-ri-a phải đến tìm họ ở đấy. Sau hai lần cố vạch một con đường đi đến chỗ họ mà không được, con tài đành phải trở về cửa sông Lê-na. Năm ấy, băng rất xấu. Tuy nhiên người ta biết rằng Jin-xốp đã yêu cầu thử đến đảo Ben-nét lần nữa, nhưng thuyền trưởng tày Da-ri-a là Ma-tit-xen không muốn mạo hiểm thêm. Bây giờ khó có thể xét xem ai đã có lý. Dù sao đi chăng nữa. việc thoát lui của chiếc Da-ri-a đã làm cho Tôn và các đồng chí của ông bị chết… Sau này, Jin-cốp đã viết rằng cái chết của Tôn đã gây cho ông một cảm giác rất nặng nề, và ông đã quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ dang dở do kết thúc thảm thương của nhà thám hiểm… Đó là lý do tổ chức đoàn thám hiểm Jin-xốp. Nó có nhiệm vụ tìm và mô tả “Miền đất Xan-ni-cốp”, và sau đó đến Thái Bình Dương qua eo Bê-rinh… Đoàn thám hiểm đã khởi hành từ Iếc-cút ngay trước khi xảy ra đại chiến thế giới lần thứ nhất… - Và nó đã biến mất không để lại dấu vết nào, Bê-rê-xkin kết thúc. - Không một dấu vét, cho đến nay, giả thuyết cho rằng đoàn thám hiểm đã chết trong băng giá của Bắc Băng Dương hay trên bờ biển hoang vắng được coi là hợp lý nhất. Chẳng hạn đoàn thám hiểm Bơ-rút-xi-lốp đi trên tàu Xanh An-nơ, Bút-xa-nốp trên tàu Héc-quyn, và một nhóm của đoàn thám hiểm Lông sau khi tàu Gian-nét bị đắm. Nhưng nếu Dan-xơ-man đã sống sót và ở Cơ-ra-xnô-đa năm 1919… Ông ta không thể thoát được một mình, trường hợp này hầu như bị loại trừ… Vợ tôi rót cho chúng tôi chè rất đặc, gần như đen, và để khỏi làm vướng chúng tôi, đã ngồi tách xa trên đi-văng. Chúng tôi vào uống chè, vừa tiếp tục nói chuyện: - Tôi không nghĩ rằng – tôi tiếp tục- đoàn thám hiểm này đã có những khám phá lớn. Những có một điều chắc chắn, đó là một hành động dũng cảm. Nếu những con người ấy đã chết trong một cuộc đấu tranh không cân sức với thiên nhiên, và có thể không phải chỉ chống thiên nhiên, thì bổn phận của chúng ta là phải tái diễn lại chiến công của họ và làm cho mọi người biết! - Sao không nghiên cứu các quyển vở có phải đơn giản hơn không? Có lẽ chiếc máy chiếu thời gian sẽ không cần dùng đến, vợ tôi nói, vẻ châm chọc. Từ khi chúng tôi dùng chiếc máy thử bức thư của vợ tôi, cô ấy cảm thấy ngại chiếc máy ấy, nếu không muốn nói là sợ. Dù sao, chúng tôi cũng theo lời khuyên khôn ngoan ấy, và bắt đầu xem 2 quyển vờ từng trang một, hết sức cẩn thận. Quả thật chúng rất nát, có nhẽ cũng chính vì thế các nhân viên Viện bảo tàng địa phương ở Cơ-ra-xnô-đa không khám phá được gì. Có hai giải pháp: nhờ các chuyên gia tìm hiểu cẩn thận tất cả những gì còn có thể hiểu được, hay trông cậy vào máy chiếu thời gian… Tất nhiên, chúng tôi không có ý nghĩ bỏ hẳn giải pháp thứ nhất, nhưng chúng tôi thích cách thứ hai hơn, vì nó vừa có thể giúp chúng tôi tranh thủ thời gian, vừa để chúng tôi thử lại máy. Chúng tôi quyết định dùng trang cuối của cuốn vở thứ hai. Chữ viết rất khó đọc, hình như của một người đã bị yếu sức, có thể đang hấp hối nhưng các trang hầu như không bị tác hại gì. Các dòng chữ thường bị ngắt quãng dường như chứng tỏ rằng Dan-xơ-man đã dừng lại để lấy sức trước khi tiếp tục… Chúng tôi có cảm giác rằng, trong khi viết các trang này Dan-xơ-man với sức khỏe đang kiệt, đã cố gắng ghi lại điều đó rất quan trọng mà ông ta tự cảm thấy không có quyền mang nó sang thế giới bên kia. Chúng tôi tin rằng việc tìm hiểu các trang cuối cùng này sẽ cho chúng tôi biết điều chủ yếu, như là đoàn thám hiểm đã trở nên như thế nào và liệu các kết quả nghiên cứu của nó có còn giữ được hay không… Khi chúng tôi sắp đi đến học việc của Bê-rê-xkin thì tôi chợt nhớ ra rằng trong một cuốn sách của tôi, có danh sách các đoàn viên của đoàn thám hiểm Jin-xốp. Tôi nhanh chóng tìm thấy nó, và đọc thấy: 1. Jin-xốp, trường đoàn, nhà thủy lộ học 2. Chéc-kê-chin, thuyển trưởng, trung úy 3. Ma-du-rin, cộng tác viên khoa học, nhà thiên văn học 4. Kô-nô-plép, cộng tác viên khoa học, nhà dân tộc và động vật học 5. Đe-xni-xki, thầy thuốc 6. Gô-vô-rốp, phụ tá của thuyền trưởng - Thật lạ lùng! Bê-rê-xkin nói, không có Dan-xơ-man. Anh nhìn tôi, chắc nghĩ rằng tôi sắp giải thích tất cả cho anh. Nhưng chính tôi cũng chẳng biết gì cả. - Không cần suy nghĩ nhiều cho mệt, tôi nói: Máy chiếu thời gian sẽ giúp chúng ta. Chúng ta hãy đến học viện. Chiếc máy nằm trong phòng làm việc của Bê-rê-xkin. Điều chỉnh nó chỉ mất vài phút ( bao giờ Bê-rê-xkin cũng làm việc này). Tôi gồi trong một ghế bành trước màn ảnh. Trong giây lát, khoảng thời gian mà chúng tôi cảm thấy dài vô cùng, màn ảnh vẫn tối. Cuối cùng, nó sáng lên và khi hình ảnh xuất hiện, chúng tôi thấy một người năm trên ổ rơm; đắp một chiếc áo khoác kiểu lính màu xam xám, hẳn đang lăn lộn và đôi môi mấp máy, rõ ràng hắn bị sốt cao và trong cơn mê sảng; tay hắn cầm máy chiếu thời gian đã giúp tái tạo lại cảnh này, là cảnh đã xảy ra từ thời nội chiến. “ Bệnh sốt thương hàn”, tôi nghĩ, và tôi đang định nói thì một giọng ốm đang nói, điều ảo tưởng hoàn toàn và bất ngờ, đến nỗi tôi giật mình. Nhưng đó là chiếc máy chiếu thời gian đang đọc các dòng chữ:…” Không nên bỏ qua…Đau khổ…Lương tâm. Mọi người phải biết…chết…cứu tinh…” giọng nói oang oang của chiếc máy cất lên một cách lạnh lùng. Giọng nói tiếp tục:” Lương tâm… lương tâm…Đúng hay sao?... Ai sẽ nói? Không thế tiếp tục sống thế này được… Đũng hay sai? Dù sao hắn đã cứu tất cả chúng ta…” Trong khí máy nói những lời này, trong đó người ta đoán ra một tấn bi kịch, một nỗi đau đớn thầm lặng, một tâm hồn bị dằn vặt, trên màn ảnh, người đó mở vở ra và bằng bàn tay vụng về viết lên đò vài chữ; rồi rất khó nhọc hắn giấu quyển vở vào trong ngực và lại ngã xuống bất động: mọi vấn đề trên thế gian đối với hăn đều đã được giải quyết. Chiếc máy nhắc lại:” Đũng hay sai ?” Bỗng nhiễn, sau một lúc im lặng ngắn ngủi, nó đọc tên “Chéc-kê-chin”. Hình ảnh biến đi và máy phóng thanh tắt ngấm, máu chiếu thời gian không thể nói gì hơn nữa. Bê-rê-xkin và tôi trầm ngâm một lúc, lặng lẽ trong bóng tôi. Mắt tôi còn lưu lại hình ảnh của người đó, với khuôn mặt gầy gầy, mệt mỏi vì bệnh tật, bị nỗi nghi ngờ cấu xé. Tôi vẫn trông thấy chòm râu xám, máu tóc vốn đen bị rối bù… Tôi tin rằng chúng tôi vừa trông thấy Dan-xơ-man. Có lẽ chân dung không hoàn toàn đúng thế chăng? Chúng tôi chỉ có thể cung cấp tên người ấy cho máy chiếu thời gian thôi. Nó cũng có thể “ tự tạo ra một ý niệm” về con người theo chữ viết và văn bản của người ấy. Dù sao chăng nữa thì bức chân dung mà nó cung cấp cho chúng tôi, theo một vài dữ kiện ấy ( và chắc là sau khi đã chọn trong số hàng nghìn kiểu có thế có) đúng như chúng tôi đã “nhận ra” Dan –xơ-man… Lúc ấy, điều làm chúng tôi quan tâm nhất, không phải là thành công đầu tiên của máy chiếu thời gian nữa, cũng không phải bản thân Dan-xơ-man, mà chính là điều bí mật vào lúc hấp hối Dan-xơ-man đã muốn vạch ra cho mọi người; tuy nhiên, mệt nhoài sau lúc thần kinh vừa bị căng thẳn, chúng tôi hiểu rằng bí mật ấy không thể khám phá trong chốc lát như vậy, và câu chuyện của chúng tôi xoay quanh những chi tiieets, không đụng đến những điểm chính… - Năm 1919, Cơ-ra-xnô-đã thuộc về ai nhỉ? Về Đê-ni-kin à?... Lúc ấy Dan-xơ-man làm gì ở đấy? Tôi nhún vai. - Có thể làm gì cũng được. Ông ta có thể sống ở đấy, đánh nhau ở đấy, hay có thể ẩn náu ở đấy nữa… - Chúng tôi không biết tí gì về ông ta… Và nếu như ông ta còn sống? Cũng có thể ông ta đã mất các quyển vở của mình - Dan-xơ-man đã chết. Tiếc thay, điều ấy là dứt khoát. Nếu không, ông ta đã lên tiếng về đoàn thám hiểm Bê-rê-xkin đồng ý như vậy. Chúng tôi rời học viện và ra về theo các phố yên tĩnh. Mát-xcơ-va đang ngủ. - Và chiếc máy chiếu thời gian, nó chạy tốt đấy chứ? Bê-rê-xkin nói vẻ tự hào. - Tốt lắm. Tôi xác nhận. Đúng lúc chúng tôi định chia tay, Bê-rê-xkin hỏi: - Tại soa máy chỉ nói đến Chéc-kê-chin? Có phải chỉ vì ông ta mà đã xảy ra toàn bộ câu chuyện này không? - Chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ điều đó ngày mai, tôi trả lời. Rõ ràng đoàn thám hiểm này bị mất tích là câu chuyện phức tạp hơn mình tưởng lúc ban đầu. Dù sao, những trang cuối của cuốn nhật ký của Dan-xơ-man đã không làm sáng tỏ điều gì… - Trái lại. - Ngày mai, phải tiếp tục tìm hiểu các quyển vở từ đầu. Từ trang đầu tiên. Chúng ta đã hơi vội vàng. Phải theo mỗi sự việc qua từng mắt xích một, không bỏ qua mắt xích nào… (Hết chương hai). ************************************* Đọc xong chương hai của truyện BZ thấy hay quá các bác ạ, trí tò mò bị kích thích :emoticon-0116-evilg. Những truyện liên quan đến khoa học viên tưởng hay những khám phá khoa học thực sự luôn làm cho BZ hứng thú. |
"Thung lũng bốn cây thập ác"...hoang vắng?
BZơi, sao lại bỏ lửng câu chuyện khi mới bắt đầu thế? Nếu không có hứng thú up tiếp thì cho nhau xin địa chỉ để mua 1 cuốn "Đường đi A-man-tê" có được không? Tôi đọc cuốn này lâu rồi nay muốn tìm lại mà chưa được? Cảm ơn BZ trước nhé!
|
Trích:
http://img413.imageshack.us/img413/2944/img0129al0.jpg |
Chương ba Kể lại những gì các quyển vở của Dan-xơ-man đã cho chúng ta biết, những giác ngộ mới chờ đợi chúng ta và một vài điểm có tính chất lịch sử về việc tham gia của các tù chính trị bị đi đày vào công cuộc thám hiểm miền Xi-bê-ri. Việc tìm hiểu các quyển vở của Dan-xơ-man tiến triển tương đối tốt. Số phiếu chép lại các dòng đã đọc và được sửa lại không ngừng tăng lên. Chúng tôi đã biết Dan-xơ-man tham gia vào đoàn thám hiểm như thế nào, số phận bác sĩ Đe-xni-xki ra sao và đoàn thám hiểm đã làm gì ở I-a-cút. Chẳng bao lâu việc ấy đã xong. Chúng tôi đã đọc tất cả những gì còn có thể đọc được. Thật không may, nhiều trang vở đã bị mất, một số trang nát đến nỗi ngay cả khi nhờ đến các nhà chuyên môn về hình pháp, chúng tôi cũng chỉ có thể đọc được một vài chữ lác đác, và cuối cùng, chúng tôi rất tiếc, nhiều trang khác chỉ chứa đựng những suy nghĩ của Dan-xơ-man, không có liên quan trực tiếp đến đoàn thám hiểm. Chắc chắn bản than những trang này cũng không kém phần thích thú, nhưng chúng không làm cho công việc của chúng tôi dễ dàng them, ngoài việc giúp chúng tôi mường tượng rõ hơn tính cách của tác giả của chúng. Rõ rang Dan-xơ-man là một đại diện điển hình của giới trí thức cũ, tự do, thích tự xét mình, thích suy nghĩ, và đánh giá rất cao các khái niệm về bổn phận, về lương tâm, về Tổ quốc. Từ các ghi chép của mình, ông đưa ra tất cả những vấn đề đạo đức, hơn nữa là mục đích cuối cùng ông tự đặt ra, cũng khuyến khích ông. Ông muốn kể lại cho các bạn đọc tình cờ của ông điều gì đó, mà theo ý ông, rất bí mật, kinh khủng và ông chuẩn bị cho họ điều ấy. Tuy nhiên, ông không kể hết nửa câu chuyện: các ghi chép của ông dừng lại ở đoạn đoàn thám hiểm đến cửa song Lê-na. Một phần khác, phần mà chúng tôi đã tìm hiểu qua máy chiếu thời gian, đã được viết trong khi ông bị ốm, thêm vào đó, còn một tờ giấy rời đã được cặp thêm vào quyển vở thứ nhất, khác hẳn các tớ khác về mẫu giấy cũng như về ý nghĩa và cách hành văn của các điều viết trong đó, chỉ có chữ viết vẫn là chứ của Dan-xơ-man… Chúng tôi cất các quyển vở đi và quyết định sơ kết bước đầu. Từ nay đây là những điều chúng tôi biết. Jin-xốp và các đoàn viên khác của đoàn thám hiểm đã đến I-a-cút vào mùa thu năm 1914. Ở cái xớ heo hút này người ta chỉ nghe nói đến chiến tranh. Tuy nhiên, các nhà cầm quyền địa phương coi đoán thám hiểm của Jin-xốp như đến quấy rầy trong lúc này, họ đã tiếp đoàn một cách lạnh lung, và nếu như họ không gây khó dễ cho đoàn, thì họ cũng không giúp đỡ gì đoàn cả. Đến nối rằng Jin-xốp và Chéc-ke-chin phải cố gắng lắm mới đóng được một thuyền nhỏ hai buồm và có được các trang thiết bị cũng như thức ăn cần thiết. Tuy nhiên họ cũng đạt được, nhất là, nếu như ta tin lời Dan-xơ-man, nhờ ở nghị lực của Chéc-ke-chin. Đối với người thuyền trưởng hình như ông có một mối cảm tình đặc biệt và ông luôn luôn đặt lên hàng đầu. Những người tù đày vì chính trị, hồi ấy rất đông ở I-a-cút, đã giúp đỡ Jin-xốp và Chéc-ke-chin rất nhiều để chuẩn bị cho đoàn thám hiểm. Sauk hi biết mục đích của đoàn, họ tự tìm đến tìm việc ở công trường đóng tàu, và sau này, hai người trong bọn họ, Rô-da-nốp và Dan-xơ-man, đã tham gia đoàn. Jin-xốp cũng biết rõ là các tù nhân chính trị đã từng tham gia đoàn thám hiểm của Tôn. Năm 1902, khi bác sĩ Oan-te chết, ông ta đã được Ka-tin I-a-xép, một người chính trị ở I-a-cút thay thế, và trong đoàn thám hiểm phụ, do Vô-lô-xô-vit chỉ huy, cũng có hau tù nhân chính trị: kỹ sư Bơ-ru-xnép và sinh viên Xi-ôn-ghin-xki. Họ do dự khi chọn các con người thông minh và trung thực ấy để bổ sung cho đoàn thám hiểm của mình. Trong các ghi chép của mình, Dan-xơ-man đã dành rất nhiều chỗ nói về ông và Rô-da-nốp. Do đó chúng tôi đã biết rằng Dan-xơ-man là một sinh viên y khoa, bị đày đến I-a-cút vì đã tham gia vào các cuộc biểu tình của sinh viên, và ông đã sống liên tục nhiều năm ở thành phố này. Đọc tài liệu của ông, chúng tôi đi đến kết luận rằng ông không có lập trường chính trị rõ rang, nhưng là một người trung thực, ông căm ghét chế độ hiện hành lúc ấy ở nước Nga Sa hoàng, mơ tưởng đến tự do, bình đằng và tin ở một tương lai đẹp. Xéc-gây Ro-da-nốp thuộc một loại người khác. Theo Dan-xơ-man, Rô-da-nôp là đảng viên của Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga, do là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, một người Bôn-sê-vich, một người có lập trường rõ rang và xác định. Trong các ghi chép của mình, Dan-xơ-man không hề tranh luận trực tiếp với Rô-da-nốp bao giờ, nhưng ông luôn nhấn mạnh tính kiên định, tính cách cứng rắn của Rô-da-nốp. Lúc đầu, chúng tôi không hiểu được tại sao, nhưng sau đó chúng tôi đi đến kết luận là, trong số tất cả các đoàn viên của đoàn, những người làm Dan-xơ-man chú ý đến nhiều nhất là Chéc-kê-chin và Rô-da-nốp mà ông thường đem ra so sánh. Đúng là chúng tôi có thể lầm, vì các ghi chép của Dan-xơ-man dừng lại quá sớm. Rô-da-nốp bị cảnh sát theo dõi rất nghiêm ngặt, lao động với mọi người trong việc đóng con thuyền mang tên Da-ri-a – 2, để tưởng nhớ đến Tôn. Người ta không rõ tại sao Dan-xơ-man không nói Rô-da-nốp đã được nhận vào đoàn như thế nào, Bản than ông đã được chính Jin-xốp mời tham gia đoàn, thay Đe-xni-xki bị ốm nặng và ông đã vui vẻ nhận lời. Đoàn thám hiểm rời I-a-cút vào mùa xuân năm 1915, ngay sau khi tuyết tan. Ở cửa song Lê-na, đoàn đã đưa lên thuyền nhiều chó để kéo các xe trượt và tiếp nhận những người đi săn I-a-cút là những người đã từng đến đảo của miền Tân Xi-bê-ru. Con tàu Da-ri-a – 2 sau đó đã đi vào biển Láp-tép… Chúng tôi không còn biết gì nữa. … Chúng tôi lại giam mình trong phòng làm việc cảu Bê-rê-xkin, và chiếc máy chiếu thời gian lại phải giải một bài toán mới. Trong khi chờ đợi những cảnh xúc động, chúng tôi chăm chú nhìn màn ảnh, nhưng… máy đã từ chối không làm rõ nhưng ghi chép mà chúng tôi đã đưa vào. Từ chối, không hoàn toàn đúng như vây, “cửa sổ của quá khứ” hé mở đôi chút, nhưng không như chúng tôi nghĩ. Những ghi chép đưa vào máy nói về các sự kiện khác nhau, nhưng trên màn ảnh chỉ xuất hiện một người có xương bả vai nhô ra, đang ngồi viết. Mặc dù Bê-rê-xkin đã đưa nhiều tờ mới vào máy và thay đổi cách điều khiển, kết quả vẫn thế. Buổi chiều, mệt mỏi sau một ngày cố gắng vô ích, chúng tôi đành bỏ. - Chiếc máy cà khổ này chưa có giá trị gì, Bê-rê-xkin nói, giọng mệt mỏi và gieo mình xuống một chiếc ghế bành. Các quyển vưor đúng là của Dan-xơ-man, và chính Dan-xơ-man đã tham gia đoàn thám hiểm. Điều ấy, tôi không nghi ngờ gì. Nhưng các ghi chép này không phải Cơ-ra-xnô-đa, Dan-xơ-man mới viết chúng bằng cách nhờ lại các sự kiện đã xảy ra. (Hết chương ba) |
Chương bốn Người ta thảo luận chương trình hoạt động tương lai, máy chiếu thời gian đã đáp ứng vượt mức niềm hy vọng của chúng tôi và chúng tối được chứng kiến các sự kiện bất ngờ, bắt buộc chúng tôi phải hành động nhanh và kiên quyết. Bạn đọc sẽ được nghe nói đến Thung lũng Bốn cây Thập ác lần đầu tiên ở đây. Liền hai ngày, chúng tôi làm các việc khác không có liên quan gì đến đoàn thám hiểm Jin-xốp. Chúng tôi muốn nghỉ ngơi, và nhất là muốn quên đi một chút về câu chuyện ấy. Về phần tôi, tôi không làm sao thế được. Sáng sớm ngày thứ ba, Bê-rê-xkin đến nhà tôi vẻ mặt ủ dột. Bản than anh, anh cũng không ngừng nghĩ đến đoàn thám hiểm. - Chúng ta làm gì? Anh hỏi ngay. Dù sao chúng ta cũng không thể khoanh tay ngồi yên được. - Tất nhiên là không! Điều ấy tôi cũng hiểu như bạn tôi. – Nhưng làm gì?... Có thể chúng ta nhờ đến phòng lưu trữ? - Mình cũng đã nghĩ đến điều ấy. Có lẽ một tài liệu nào đó được lưu trữ ở đây chăng? Hỡi ôi, chúng tôi biết rõ rằng không hề có một hy vọng gì , rằng. như một người chết đuối, chúng tôi bám lấy một cọng rơm để tìm cách làm yên tâm lẫn nhau. - Dù sao cũng hãy thử xem, tôi nói, gạt bỏ mọi ngh ngờ. Chúng ta cũng chẳng mất gì… Chúng tôi trở lại điểm xuất phát. - Hình như chúng ta có một cái máy chiếu thời gian, tôi nhớ lại một cách mỉa mai. - Và một cái máy như thế nào! Chúng ta có thể nhìn đến lúc nào tùy ý chiếc lưng còm của Dan-xơ-man, Bê-rê-xkin đáp lại cùng một giọng. Với danh nghĩa chủ tịch đoàn của Viện Hàn lâm, chúng tôi gửi một yêu cầu tới mọi phòng lưu trữ, và chúng tôi trở lại với chiếc máy chiếu thời gian. Bê-rê-xkin đề nghị, thật vậy, đi máy bay đến I-a-cút, nhưng tôi gạt đi: tốt nhất là chờ đợi câu trả lời của các phòng lưu trữ. Không chắc có một kết quả mảy may nào, chúng tôi quyết định đưa vào máy tất cả các tờ của các quyển vở, cả những tờ chúng tôi đã đọc được cũng như các tờ khác. Khi chúng tôi đang giở cuốn thứ nhất, chúng tôi chợt chú ý đến tớ giấy cặp thêm vào khác hẳn các tờ khác cả về mẫu giấy cũng như những ghi chép trên đó. Trước đây chúng tôi đã cố đọc nó, nhưng chúng tôi chỉ nhận ra được những chữ số tương tự như các tọa độ: 69°21’03’’ và 177 º13’17’’. Nếu quả thật đấy là các tọa độ, thì vị trí ấy ở xứ Chu-cốt-ca. đâu đó có ở miền thượng lưu sông Bi-ê-lai-a, chỉ lưu sông A-na-đia… Có thể Dan-xơ-man đã ở đấy, nếu chiếc Da-ri-a -2 đã bị đắm ở bờ biển Chu-cốt-ca. Nhưng tại sao ông ta đã ghi các tọa độ của thung lũng ấy? Và dòng chữ ghi sau đây trên trang giấy có thể có ý nghĩa gì:” Th.l. bố.(tiếp theo là các toạn độ), pz slt pssbl.blvrs, Jrnl cch: pvrn, no, 140, rvre, frt, ppl, rnvrs, rcns!!!”. Rõ rang là Dan-xơ-man đã đánh số một điều gì đó rất quan trọng đối với ông, nhưng chúng tôi không sao hiểu được; còn về chiếc máy chiếu thời gian, chúng tôi không quá dựa vào nó: chúng tôi tưởng như thấy lại được cái lưng của Dan-xơ-man khi đang ngồi viết. Chính vì trang ấy ghi khác các trang khác, nên lẽ ra phải đưa nó vào máy để thử trước tiên mới phải. Đó chính là điều Bê-rê-xkin đề nghị. Để bắt đầy chúng tôi yêu cầu máy làm sáng tỏ xem trang giấy đã được xé ra như thế nào. Chân dung của Dan-xơ-man mà máy đã ghi lại trong “trí nhớ” hiện ngay ra trên màn ảnh. Nhưng chúng tôi rất ngạc nhiên là phải chờ đợi câu trả lời. Cuối cùng, những bàn tay gầy guộc với các móng nham nhờ và cáu ghét hiện ra trên màn ảnh; chúng mở vở ra, rồi xé vội một trang đã đầy những ký hiệu khó hiển, gấp nó lại và giấu đi: chúng tôi trông thấy Dan-xơ-man nhét tờ giấy vào túi trong của áo khoác. Màn ảnh tắt. - Có ba chi tiết nhỏ đáng chú ý, tôi nói với Bê-rê-xkin: các móng tay nham nhở, các bàn tay cáu đất, các động tác vội vã. Rõ rang là Dan-xơ-man giấu giếm điều gì, và sợ người khác trông thấy. Các móng tay gắm nham nhở, nếu không phải là một thói quen cũ, chỉ chứng tỏ sự bối rối. - Đấy không phải là một thói quen, Bê-rê-xkin nhận xét. Đây là chứng cớ… Anh lại cắm mạch cho máy, và chúng tôi lại thấy Dan-xơ-man hấp hối trên màn ảnh: Các bàn tay của ông, gầy guộc, nhưng sạch sẽ, móng tay chải chuốt, đang nắm quyển vở… - Hay trao cho máy thời gian một nhiệm vụ mới, Bê-rê-xkin đề nghị, có thể nó đọc được điều đã viết ở trên ấy. Nói là làm: câu trả lời có ngay lập tức. Chúng tôi thấy xuất hiện trên màn ảnh một người vai rộng, khỏe mạnh, dáng dấp nhà binh, hình ảnh thiếu mọi chi tiết vụn vặt cá nhân có thể khắc trong trí nhớ, nhưng ít nhất chúng tôi cũng có cảm giác đấy là một con người. Khó tính, cứng rắn, có thể độc ác nữa; người ấy đang ngồi viết và chúng tôi nhận thấy rằng quyển vở của hắn going hệt cuốn vở của Dan-xơ-man đã giấu đi. Những lời nói lạ lung văng vẳng trong im lặng :” Mục đích xác minh cho phương tiện. Quyết định đã dứt khoát, chỉ còn việc áp dụng nữa thôi. Và nó sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tất cả sẽ không theo tôi…” Bê-rê-xkin giơ tay ngắt mạch máy chiếu thời gian. - Thật khó hiểu, anh nói. Phải bắt đầu lại. Anh lập lại chương trình, và chúng tôi thấy tái hiện trên màn ảnh vẫn con người vai rộng và khỏe mạnh, với khuôn mặc độc ác. Giọng nói sang sảng của máy nhắc lại:” Quyết định đã dứt khoát…” - Cái gì vậy, Bê-rê-xkin ngạc nhiên. Tôi chẳng hiểu gì cả… Giọng nói tiếp tục:”….Tất cả sẽ không theo tôi… không nên xã giao…” Bỗng hình ảnh mờ đi, và giọng nói lắp bắp những tiếng không rõ rang. Bê-rê-xkin tắt máy. - Không ổn rồi, anh nói. Rõ rang có cái gì đó không ổn… Thế nhưng không có ai mó tay vào máy cả! Nó phải chạy bình thường chứ. Bồn chồn, Bê-rê-xkin muốn thử lại chương trình một lần nữa, nhưng tôi bảo anh rứt tờ giấy ra khỏi máy. - Để làm gì? Anh hỏi, không giấu vẻ bực mình. Chúng ta đã nghiên cứu nó đủ mọi kiểu rồi! Tôi cầm lấy tờ giấy và chăm chú xem xét, dưới con mắt tức giận của Bê-rê-xkin. Tôi sắp sửa trả lại anh thì một ý nghĩ bất ngờ đến với tôi. - Này, tôi nói. Máy chiếu thời gian nghiên cứu tờ giấy từ trên xuống dưới, phải không? - Thế thì sao? - Cậu nhìn xem: các dòng chữ do tay Dan-xơ-man viết được bố trí gần như từ giữa trang… - Nhưng ở phía trên không có gì cả sao? - Có chư, chúng mình không trông thấy, nhưng chính chiếc máy nó đã thấy… - Hay là nó được viết bằng mực hóa học? - Mình không biết, nhưng dù sao, cũng có cái gì đấy. Hãy thử lập chương trình cho rõ rang, sao cho bây giờ máy không phân tích những dòng chữ của Dan-xơ-man nữa, mà tập trung vào những dòng không trông thấy. - Có thể làm được, nhưng mình không biết sẽ được cái gì. - Cứ thử xem. - Cậu nói rằng hình ảnh và tiếng nói không rõ là do có sự chồng lên nhau ư? ANh ta loay hoay mãi bên chiếc máy chiều thời gian, trong khi tôi theo dõi các thủ thuật của anh ta một cách sốt ruột: nếu chiếc máy không đánh lừa chúng tôi thì chúng tôi sắp khám phá ra một điều bí mật… Bê-rê-xkin ngồi xuống cạnh tôi, và lần thứ ba người có khuôn mặt độc ác xuất hiện trên màn ảnh và các lời nói cũ vang lên. Khi giọng nói cất lên:” Không nên xã giao…”, tôi vô tình nắm lấy bàn tay Bê-rê-xkin trong lúc giọng nói tiếp tục:” Kẻ nào chống lại sẽ bị chết. Một số đã quên rằng chúng thoát nạn là nhờ ai. Phải nhắc lại cho chúng biết. Gia như tôi có thể kết liễu tên… không bao giờ tôi tha thứ cho Jin-xốp đã tuyển dụng nó…”. Giọng nói im bặt và hình ảnh biến mất. Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi nhìn nhau thỏa mãn: chiếc máy chiều thời gian đã chịu đựng thành công thử thách mới này. - Tất cả những cái này đều rất tốt. Véc-bi-nin ạ, nhưng mình vẫn không hiểu tên này từ đâu ra? Bê-rê-xkin nói. Nhưng chúng ta chớ nên tìm cách đoán mò. Trước tiên nên để cho chiếc máy làm sáng tỏ những dòng chữ của Dan-xơ-man thì hơn. Vài phút sau, những điều mà chúng tôi trông thấy càng làm chúng tôi ngạc nhiên hơn. Giọng nói vang lên sang sảng một cách rõ rang và lãnh đạm:” Thung lũng Bốn cây Thập ác”. Chúng tôi hy vọng trông thấy thung lũng ấy trên màn ảnh, nhưng có lẽ điều ấy vượt quá tầm của máy: một hình ảnh mờ nhạt thoáng qua trên màn ảnh và chúng tôi lại thấy Dan-xơ-man xuất hiện. ANh tag hi trong sổ điều mà chúng tôi nhận biết ngay:” Không có lối thoát nào nữa, tôi choáng váng vì điều đã xảy ra, tôi đã giấu cuốn nhật ký…”. Rồi Dan-xơ-man bắt đầu đi mãi theo một hướng. Duy chỉ có điều chúng tôi không thể hiểu là anh ta từ đâu đến và anh đang đi đâu. Chiếc máy chiếu thời gian vẫn im lặng, trong khi trên màn ảnh những làn song xanh kỳ lạ diễu qua. Chúng tôi có cảm giác là bộ “óc” điện tử của máy đã gặp một bài toán không giải được. Cuối cùng, giọng nói chậm rãi cất lên như luyến tiếc, từ “pô-vác-nhi-a”. - Đó là tiêng chỉ những căn nhà gỗ ở phương Bắc! Tôi reo lên. Nhưng rõ rang là chiếc máy chiếu thời gian không biết từ ấy, vì nó không cho hình ảnh một căn nhà nào cả. Bê-rê-xkin tắt máy và lập chương trình nói rõ từ “pô-vác-nhi-a” nghĩa là gì. Tiếp đó, chung tôi thấy xuất hiện trên màn ảnh một căn nhà nhỏ, mái bằng, và Dan-xơ-man từ đó đi ra. “Tây – Bắc”, máy chiếu thời gian nói.” Một trăm bốn mươi”. Dan-xơ-man tiếp tục đi và chúng tôi hiểu rằng 140 là số bước anh ta phải đi. Rồi giọng nói sang sảng chi ra “ Một con sông, một khu rừng”. Lúc ấy Dan-xơ-man dừng lại, ghi vào quyển vở mở sẵn. Hình ảnh không rõ rang về một con sông, rồi một khu rừng xuất hiện trên màn ảnh. Sau giây lát yên lặng, giọng nói cất lên:” Một cây phong đổ, những rễ cây”, và chúng tôi trông thấy một cây phong khổng lồ bị bão nhổ bật gốc. - Thật vô lý, Bê-rê-xkin nói giọng khẳng định. Sự việc diễn ra ở bên kia vùng cực, ở đài nguyện, và ở đây lại là rừng, là câu phong khổng lồ! Đến phải lập lại chương trình mất. - Không, không, tôi nhận xét. Máy chiếu thời gian đã dựng lại toàn cảnh với một độ chính xác kỳ lạ. Dan-xơ-man đã giấu cuốn nhật ký ngăn cách căn nhà 140 bước về phía Tây Bắc trong rừng, dưới đám rễ một cây bị gió nhổ lên! - Nhưng không hề có rừng, cũng như cây… ở vùng ấy! Dù sao đó chính là miền Chu-cốt-ca! - Chắc là có rừng và cây, các nhà địa lý đều biết cả. Ở thung lũng của sông A-na-đia và vài chi lưu của nó vẫn tồn tại cái mà người ta gọi là “đảo rừng”. Phía Nam và phía Bắc lưu vực sông A-na-đia là đài nguyên, nhưng trong thung lũng thật sự có những rừng phong, rừng liễu, rừng thông phương Bắc và rừng bạch dương. Đó chính là chứng cớ cho thấy máy chiếu thời gian đã hiểu rất kỹ điều được ghi chép và đã minh họa đúng. - Điều đó thật như thần thoại, Bê-rê-xkin nói vẻ suy nghĩ. Cậu biết không, khi mình nhắm mắt lại, đôi khi mình tưởng như không có chiếc máy thời gian, tưởng như tất cả mọi cái đó chúng mình đã đọc hay nghe nói đến ở đâu đó, hay tự chúng mình đã đặt ra… Bây giờ đã đến lúc phải hành động. Đa-ni-lép-xki đã hứa giúp chúng ta. Chúng ta sẽ yêu cầu ông ta cho đi máy bay đến Chu-cốt-ca. Đồng ý chứ? - Tất nhiên. Tuy nhiên, trước khi đi Chu-côt-ca, chúng tôi đưa trang vở cho các nhà chuyên môn xem. Sauk hi phân tích kỹ, họ đều xác nhận là, ngoài các văn bản mà ai nấy đều thấy rõ, còn có các dấu vết rất mờ về một chữ viết khác được in trên giấy: có ai đó đã viết lên trang trước và văn bản đã hằn lại trên trang mà chúng tôi có. Chúng tôi không khám phá ra các dấu vết ấy, nhưng cặp “mắt” điện tử của máy chiếu thời gian đã thấy chúng và đọc được. Các nhà chuyên môn dựng lại từng phần điều ghi chép, và chúng có thể thấy rằng đây là một chữ viết rắn rỏi, hoàn toàn khác với chữ viết của Dan-xơ-man… Ngoài ra, ngoài dấu tay của chúng tôi, trên trang giấy còn có dấu tay của hai người khác nữa. (Hết chương bốn) |
Chương năm Chúng tôi nhận được các chỉ dẫn từ Iếc-cút chuyến thám hiểm đầu tiên của các nhà nghiên cứu máy chiếu thời gian, những điều mà chúng tôi được biết về số phận của Rô-đa-nốp ở Iếc-cút. Chúng tôi báo tin cho Đa-ni-ép-xki biết những kết quả đầu tiên về công việc của chúng tôi, và đồng chí ấy đã báo cáo lại cho Đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học. Những đề nghị của chúng tôi được chấp nhận, về sau đó ít lâu, chúng tôi được cấp một máy bay. Chúng tôi có thể đi ngay đến Chu-cốt-ca, nhưng chiếc máy chiếu thời gian đã giữ chúng tôi lại gần một tháng. Ở đây phải chỉ rõ điều mà chúng tôi vẫn chưa nói, mặc dù nó phức tạp và rất nhạy, máy chiếu thời gian không cồng kềnh lắm... Khi dự kiến thiết kế máy, Bê-rê-xkin đã có dụng ý chế tạo nó sao cho có thể mang vác được. Nói thế không có nghĩa là có thể xách nó như xách cái vali, nhưng lại có thể xếp nó dễ dàng trên ô tô hay máy bay. Tuy nhiên, đặt ngoại các bức tượng của Viện máy tình, máy chiếu thời gian cần có cả một loạt các thiết bị phụ. Chính việc lắp ráp các thiết bị này đã giữ chúng tôi lại Mát-xcơ-va. Chúng tôi không phàn nàn gì về điều này. Thứ nhất, vì mùa hè đã đến. Và thứ hai... thứ hai là chúng tôi nhận được từ Iếc-cút những tin tức hoàn toàn bất ngờ. Một trong những nhân viên của Viện bảo tàng địa phương, rất am hiểu Xi-bê-ri, đã được xem yêu cầu của Viện Hàn lâm gửi Viện Lưu trữ của thành phố, viết thư cho chúng tôi nói rằng ông không biết tí gì về đoàn thám hiểm Jin-xốp, những ngược lại ông biết rất rõ Rô-đa-nốp, một người Bôn-sê-vich và là hồng vệ binh, đã đấu tranh cho chính quyền Xô-viết địa phương chống lại Côn-sắc. Nếu đó cũng là Rô-đa-nốp, người đã tham gia vào đoàn thám hiểu Jin-xốp, thì khi chúng tôi đến Iếc-ctus, ông ta có thể cung cấp những tin tức chính xác - ông ta nói rõ như vậy. Máy bay của đoàn chúng tôi có mang theo máy chiếu thời gian, bay đến Iếc-cút... Người nhân viên của Viện bảo tàng, đã đợi chúng tôi ở sân bay cùng với một chiếc xe tải nhỏ của Xô-viết thành phố dành riêng cho chúng tôi ( chắc các đồng chi ấy tưởng rằng chúng tôi sẽ xếp chiếc máy lên đấy). Chúng tôi vừa mới đến thì ông ta đã đề nghị chúng tôi đến thăm Rô-đa-nốp. Ông ta nói điều này như thể Rô-đa-nốp còn sống. - Rất tiếc là không, ông trả lời khi tôi hỏi ông. Đồng chí ấy chỉ còn sống trong trí nhớ của người dân Xi-bê-ri thôi. Đã 6 giờ sáng, xe ô tô của chúng tôi chạy qua các dãy phố màu xanh và yên tĩnh của Iếc-cút, và khi ra khỏi thành phố, con đường rẽ ngoặt sang một bên bám sát sông Ăng-ga-ra và không bao giờ rời xa nó nữa. Một lớp mây mỏng bao phủ bầu trời, một làn sương mù trắng bay là là trên tháp Ăng-ga-ra và người ta có cảm giác là con sông đang thờ, đưa đến tận chỗ chũng tôi hơi thở lạnh và ẩm của nó. Ngồi trong thùng sau của xe, Bê-rê-xkin, người nhân viên của bảo tàng và tôi, chúng tôi đều giữ yên lặng. Con đường chạy dọc theo các khu rừng bạch dương và thông, những khu người ở bên bờ sông, và tôi ngạc nhiên nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa tất cả sẽ nằm dưới nước. Thật vậy, hồ nhân tạo mới sẽ phải nằm tại đấy. Dần dần sương mù trên mặt sông tan đi và bây giờ chúng tôi trông thấy bóng các thuyền đánh cá trên mặt nước. Chiếc xe chạy qua các luồng không khí, lúc lạnh, lúc ấm, nhưng trời mỗi lúc mỗi nóng và đôi khi mặt trời lại ló ra. Bây giờ chúng tôi phân biệt rõ các đỉnh núi phủ đầy cây ở bở bên trái và dải hẹp của con đường xe lửa ngay bên vệ nước. Bỗng nhiên, con sông và theo nó, cả con đường nữa, rẽ ngoặt đột ngột, và chúng tôi trông thấy giữa hai dải đất một vạt nước rộng trong vắt: hồ Bai-can... Chúng tôi dừng lại ở làng Lit-vê-nit-nôi-ê và người dẫn đường đưa chúng tôi đến một ngọn đồi, sườn đồi mọc đầy thông và bạch dương. Con đường nhỏ đi ngược mãi lên, và trước khi tới nơi, chúng tôi đã trông thấy rõ một tấm bia trắng dựng trên một nấm mồ chung... Giữa những tên được khắc trên tấm đá hoa, chúng tôi tìm thấy cái tên quen thuộc: S. Rô-đa-nốp... - Đồng chí ấy là ủy viên Ban chấp hành đảng bộ Iếc-cút... thuộc Đảng cộng sản ( Bôn-sê-vich) Nga, người nhân viên của bảo tàng nói. Và đồng chí ấy đã là một trong những người lãnh đạo cuộc nổi dậy chống Côn-sắc. Đồng chí ấy đã hy sinh ở gẫn Lit-vê-nit-nôi-ê, bên bờ hồ Bai-can, tháng giêng năm 1920. ... Chúng tôi đứng im lặng trong giây lát, đầu trần và làn gió nhẹ ban mai luồn vào tóc chúng tôi. Nền trời xanh lơ, trong suốt, in trên mặt hồ Bai-can. Mặt hồ hiện ra êm ả, vĩ đại và giản dị. Một tàu kéo nhỏ rời bến hồ có một thị trận lớn với những căn nhà vững chắc làm bằng các thân cây thông, và những bóng dáng em nhỏ đi trên đường phố lớn tới trường. (Hết chương năm) |
Chương sáu Đoàn các nhà nghiên cứu máy chiếu thời gian đến Chu-cốt-ca yên ổn, thấy rằng ở phương Bắc có nhiều tên kèm theo từ "Cây thập ác" nhưng không một ai nghe thấy nói đến Thung lũng Bốn cây Thập ác, và dù sao họ cũng tìm thấy cái thung lũng hẻo lãnh đó. Ở Viện Lưu trữ Iếc-cút, người ta cho chúng tôi xem các tài liệu các nhận tất cả những điều mà người nhân viên nhà bảo tàng đã nói với chúng tôi về Rô-đa-nốp. Nhưng những lời chỉ dẫn này chỉ liên quan tới giai đoạn cuối cùng của cuộc đời một trong các anh hùng của nhân dân Xô-viết, giai đoạn mà anh đã chiến đấu cho chính quyền Xô-viết ở miền đông Xi-bê-ri. Các tài liệu cũng xác nhận các ghi chép của Dan-xơ-man là đúng. Rô-đa-nốp tham gia tự nguyện hay không tự nguyện vào đoàn thám hiểm Jin-xốp, quả thật là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, một người cộng sản thực sự, và anh đã trung thành với lý tưởng của mình cho đến phút cuối cùng. Sau khi đã trải qua một cuộc đời khó khăn và anh dũng, anh đã hy sinh oanh liệt trong cuộc chiến đấu chống Côn-sắc... Số phận của anh từ nay đối với chúng tôi là hoàn toàn rõ ràng, anh trở nên gần gũi và thân thiết đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi còn rất lâu mới đạt được mục tiêu cần thiết: làm sáng tỏ số phận của đoán thám hiểm Jin-xốp. Tuy nhiên có một điều rõ ràng. Dan-xơ-man không phải là người duy nhất sống sót, cả Rô-đa-nốp nữa, anh cũng đã tìm đến được một trung tâm lớn. Việc Dan-xơ-man đi được đến tận Cơ-ra-xnô-đa không làm chúng tôi ngạc nhiên nữa. Nhưng những người khác thì sao? Lúc hấp hối Đan-xơ-man muốn kể lại câu chuyện bí mật nào vậy? Có những tư liệu nào đó được giữ lại chăng? Chúng tôi chưa thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào trong số đó... Mọi suy nghĩ của chúng tôi bây giờ đều tập trung vào Thung lũng Bốn cây Thập Ác... Trong ba ngày, theo một đường đi phức tạp, chsung tôi đến Chu-cốt-ca, hạ cánh trên một sân bay ở làng Mác-cô-vô. Tất cả dân cư trong vùng, cũ và mới, đều quan tâm ngay đến đoàn chúng tôi, nhưng cũng chưa ai nghe nói đến Thung lũng Bốn cây Thập ác bao giờ. - Chúng tôi biết Vịnh Cây Thập ác, đồng chí chỉ huy sân bay nói với chúng tôi. Cả Đèo Cây Thập ác nữa, chúng tôi cũng biết. Nhưng về Thung lũng Bốn cây Thập ác thì... không biết tý gì! - Trên sông Kô-li-ma, có đủ mọi loại "thập ác", đồng chí kỹ sư nông nghiệp của Mác-cô-vô nói với chúng tôi, những Cây Thập ác Thấp, những Cây Thập ác của Kô-li-ma... - Không phải vậy, chúng tôi trả lời. Thung lũng của chúng tôi phải nằm ở thượng lưu sông Bi-ê-lai-a. Ở đó, phải có một căn nhà gỗ... - Như vậy chẳng rõ ràng lắm, người ta bảo chúng tôi những căn nhà gỗ ở phương Bắc chẳng thiếu gì. - Đúng là có nhiều thật. Nhưng trên sống Bi-ê-lai-a không thể có hàng trăm được. Vả lại chúng tôi biết tọa độ. Chúng tôi biết phải tìm chỗ nào. Chúng tôi chỉ còn bắt đầu tìm kiếm. Sau hôm đến một ngày, một máy bay của phi đội Bắc cực chở chúng tôi đến miền Bắc ( chúng tôi không thể liều đem theo máy chiếu thời gian, nên máy bay của chúng tôi đậu lại ở sân bay Mác-cô-vô). Ban đầu chúng tôi bay trên vùng trũng lầy lội của sông A-na-đia, tại đó đài nguyên ngang dọc các chuỗi hồ ao ăn thông với nhau, rồi máy bay vượt qua một dãy đồi thấp mà từ trên cao trông chúng toàn một màu xám, chỉ đó đây rải rác những vệt xanh của những cây trăn bò trên mặt đất. Bên ngoài dãy đồi này, phong cảnh đổi khác hẳn. Bây giờ chúng tôi bay trên thung lũng của sông Bi-ê-lai-a. Con sông rất ngoằn ngoèo, trôi êm ả giữa hai bờ thấp phủ đầy cây, ở sát bờ sông rừng cây cao to, càng xa bờ cây càng nhỏ dần, cuối cùng chỉ là những bụi rậm. Phía bên kia là đài nguyên, xám xịt và lầy lội, rải rác một vài vết tuyết trong các hõm sâu được che phủ. Máy bay càng bay lên phía Bắc, thì các dãy đồi ở hai bên bờ sông Bi-ê-lai-a càng cao, thung lũng càng thẳng tắp và hai dải rừng cây hai bên bờ càng hẹp. Bên dưới chúng tôi, bây giờ là những trái núi màu xám, với các vệt xanh của các cây trăn, loại cây ngày càng hiếm và cuối cùng biến mất hẳn. Ngược kahi, các tảng tuyết vĩnh cửu ngày càng nhiều. Nằm trong các khe, chúng tạo thành các dòng suối nhỏ. Cây cối chỉ xuất hiện thành từng nhóm nhỏ mỗi lúc một thưa. Trong suốt thời gian bay, tôi chỉ trông thấy một nơi cắm trại của những người nuôi tuần lộc, với những chiếc "lều" mái nhọn và bãi nhốt tuần lộc ở - hình như thế - vì không một làn khói nào bay ra khỏi ống khói. Đồng chí hoa tiêu báo tin rằng chỉ lát nữa chúng tôi sẽ đến nơi đã định. - Hãy nhìn cho kỹ, đồng chí Véc-bi-nin ạ, đồng chí ấy bảo tôi. Các "cây thập ác" không phải là dễ phân biệt được từ trên cao đâu. Nếu quả như chúng có thật, đồng chí ấy nói thêm sau một lúc suy nghĩ. Thung lũng sông Bi-ê-lai-a ngày càng hẹp. Phía bắc, người ta trông thấy rõ các đỉnh núi của dãy A-na-đi-a chọc thẳng lên trời. Điều làm tôi bận tâm nhất là các khu rừng bị biến mất: trong các ghi chép của Dan-xơ-man quả có nói đến một khu rừng và một cây bạch dương bật gốc và máy chiếu thời gian đã chỉ cho chúng tôi thấy tất cả những cái đó... Tôi cảm thấy Bê-rê-xkin đang chăm chú nhìn tôi, và tôi quay lại: anh nhíu đôi lông mày một cách có ý nghĩa và đưa mắt chỉ ra cửa sổ. Rõ ràng là phong cảnh trước mắt cũng làm anh lo lắng chẳng kém gì tôi. Tôi nhìn xuống dưới một lần nữa và hiểu rằng nếu theo địa điểm do Dan-xơ-man chỉ dẫn, chúng tôi sẽ không tìm thấy Thung lũng Bốn cây Thập ác. Không phải vì bỗng nhiên tôi nghi ngờ là các tọa độ không chính xác ( đã từ lâu chúng tôi cho rằng chúng chỉ gần đúng), mà là vì tôi đã thấy quang cảnh của nơi đó. Các làn gió phương Bắc có thể tự do thổi về thung lũng sống Bi-ê-lai-a; thung lũng này ngày càng cao dần. Rõ ràng là các cây bạch dương không thể mọc ở đây được. Tôi kết luận là đâu đó quanh đây, trên một chi của sống Bi-ê-lai-a, phải có một thung lũng nhỏ gần như kín được núi non che chở tránh các đợt gió Bắc, và ở đó có một rừng cây, có lẽ nằm ở xa nhất về phía Bắc thuộc miền Chu-cốt-ca... Ở phương Bắc, không phải là rét lạnh, cũng không phải sương giá kinh khủng, như người ta vẫn nghĩ, đã làm thực vật chết. Trong miền thuộc Véc-khôi-an-x-cơ và Ôi-mi-a-côn, miền cực lạnh của Bắc bán cầu, nơi nhiệt độ xuống đến âm 70 độ, cây cối vẫn mọc bình thường. Nguyên nhân chính không có rừng ở đài nguyên là nhiệt độ thấp về mùa hè và sự khô héo của thực vật. Phải, thường ở phương Bắc cây cối chết vì khô héo, "chân ngâm nước". Các đợt gió xuân rất nguy hiểm cho cây cối, dưới ảnh hưởng của gió, cây cối tỉnh giấc sau giấc ngủ triền miên mùa đông, nước trong chúng bay hơi và chúng không có nước bù lại, vì đất vẫn còn đóng băng... Và ngay cả khi băng tan, cây cối vẫn có thể chết vì khô héo, vì rễ cây không hút được nước quá lạnh; điều đó gọi là "sự khô héo sinh lý..." - Chúng ta đã đến, đồng chí hoa tiêu nói. Bên dưới là hoang mạc Bắc Cực không một dấu hiệu của sự sống. Tôi trao đổi những suy nghĩ của tôi với đồng chí hoa tiêu và đề nghị anh đổi hướng lệch một chút về Đông: theo như tôi xét đoàn, dãy núi A-na-đia ở phía ấy phải che chở tốt hơn cho các thung lũng ở dưới chân nó. Máy bay đổi hướng và lấy độ cao: dù sao chăng nữa ốc đảo màu xanh của rừng cây không thể thoát khỏi sự chú ý của chúng tôi. Những dự đoán của tôi được xác nhận: khoảng 10 phút sau, từ độ cao ấy, chúng tôi phát hiện ra một ốc đảo rừng tạo thành một vệt sẫm hơn giữa những trái núi màu xám. Máy bay vừa bay về phía ấy, vừa hạ thấp, rồi lượng vòng bên trên. Đó là một thung lũng rất nhỏ nép dưới chân núi, một khu rừng năm trên bờ một con sông nhỏ, có thể thấy một căn nhà gỗ hình chữ nhật ở gần một đám tuyết. Lúc đầu, chúng tôi không trông thấy một cây thập ác nào, rồi ở vòng lượn cuối cùng, Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi phân biệt được một cây, có lẽ là cây cao nhất. Chúng tôi không còn hồ nghi nữa là đã tìm thấy Thung lũng Bốn cây Thập ác. Đồng chú hoa tiêu xác định vị trí của nó, ghi vào bản đồ và chúng tôi lại khởi hành. (Hết chương sáu) |
Chương bảy Đoàn thám hiểm đề nghị và được cấp một máy bay lên thẳng, xếp chiếc máy chiếu thời gian lên đấy và sau một thời gian bị chậm chễ bắt buộc, đã chuyển đến Thung lung Bốn câu Thập ác, tại đó công việc tìm hiểu đầu tiên đã dẫn đến nhiều khám phá thú vị. Trong khi chúng tôi bay trên Thung lũng Bốn cây Thập ác, đồng chí thợ lái và đồng chí hoa tiêu đã nghiên cứu kỹ các địa điểm và đã nhận thấy là gần đó không có một khoảng đất trống nào để cho chiếc máy bay chở máy chiếu thời gian có thể hạ cánh được. Đối với chúng tôi đấy là một sự rắc rối bất ngờ. Ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là nhảy dù xuống. không may theo máy chiếu thời gian, tìm hiểu thung lũng và đi bộ đến khu vực dân cư gần nhất... Nhưng các đồng chí phi công được chúng tôi nói cho biết ý định này, đã kiên quyết chống lại, và đề nghị chúng tôi hãy xin một máy bay lên thẳng. Chẳng hy vọng gì lắm, chúng tôi gửi một bức điện cho A-na-đia. Câu trả lời đến ngay sau đó: chúng tôi được sử dụng máy bay lên thẳng. Việc đưa máy chiếu thời gian và các máy móc phụ lên máy bay lên thẳng mất khá nhiều ngày. Đó không phải là việc dễ dàng. Các máy điện tử đều rất nhạy, và trước khi có nhận xét là việc lắp máy rất hoàn hảo và chiếc máy hoạt động bình thường thì Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi đã lo lắng đến toát mồ hôi. Chúng tôi sắp sửa ra đi thì mưa bắt đầu rơi. Nhiều đám mây lơn xám xịt là sát mặt đất, lấp kín mọi "con đường lên trời" và đồng chí chỉ huy sân bay kiên quyết từ chối không cho phép chúng tôi bay. Thật là một cực hình khi phải ở yên đấy, cách mục tiêu chỉ vài giờ bay, và vừa chờ đợi, vừa nguyền rủa thời tiết xấu, khi phải nhìn mưa rơi không ngừng từ các đám mây, khi nhìn thấy các đầm lầy ở đài nguyên no căng nước và các dòng suối lớn lên... Đó chính là thời kỳ của các đêm trắng và suốt 24 giờ tất cả đều xám xịt và ảm đạm. Cả những con muỗi đầy lông chắc cũng phải chết vì buồn, vì không thấy chúng đâu nữa. Cuối cùng trời sáng ra. Chúng tôi bay từ sáng sớm và vài giờ sau chúng tôi đã thấy ốc đảo sẫm của rừng cây giữa hoang mạc Bắc cực... Máy bay lên tháng hạ cánh cách xa căn nhà gỗ một chút. Khi động cơ đã tắt và các cánh quạt của rô-to ngừng quay, một sự im lặng chết chóc không có gì khuấy động bao trùm lên chúng tôi. Xúc động, chúng tôi từ máy bay bước xuống và đưa mắt nhìn quanh. Đằng sau chúng tôi, dãy núi A-na-đia đừng sừng sững, che chở cho thung lũng khỏi bị các luồng gió lạnh từ Bắc băng dương thổi về. Bầu trời hình như ngự trên những đỉnh núi tròn và lặng lẽ, và như tạo ra một cái mái hiên bên trên chúng tôi, che phủ thung lũng và khu rừng của nó. Nhiều dải đá cuội xám chạy dưới chân chúng tôi như những dòng suối đóng băng và ngay gần đó, những cây liễu lùn, nhỏ đến nỗi người ta có thể lấy hai tay phủ kín chúng, tạo ra những vết sáng bạc trên mặt đất, những cây địa y Bắc cực có hình dáng kỳ lạ của san hô tăng thêm mầu trắng cho phong cảnh ấy, và giữa những tảng đá người ta trông thấy các thân cứng cuốn vào nhau như những bó dây thép... Chúng tôi vượt qua một bãi tuyết khi đi đến căn nhà gỗ. Bãi giống như một cái hồ bất thần bị đóng băng do sương giá: gió thổi, từng đợt sóng chạy trên mặt hồ, rồi bỗng nhiên, chiếc đũa thần gõ xuống, và tất cả dừng lại. Những con gậm nhấm sợ hãi vì chiếc máy bay lên thẳng, ra khỏi hang và vừa nhìn chúng tôi vừa rít lên một cách lo lắng... Nhánh không tên của sông Bi-ê-lai-a bắt nguồn đâu đó trên sườn núi, không sâu song rất rộng. Các tảng đá to tròn và sẫm nổi một phần khỏi mặt nước. Căn nhà gỗ nằm ở bờ bên trái của dòng sông, còn khu rừng bạch dương ở bờ bên phải. Không xa căn nhà chúng tôi trông thấy bốn cây thập ác: ba chiếc lớn và một chiếc nhỏ. Hai chiếc nằm xa nhau và chúng tôi cảm thấy ngay là đã cũ lắm. Từ xa, chúng tôi đã nhận thấy cây gỗ đen - nguyên liệu làm ra chúng - đã bị nứt nẻ nhiều và chân bị mòn đi vì gió. Chỉ mòn thêm chút nữa là chúng sẽ đổ. Chúng tôi không thấy một dòng chữ nào ở đấy cả. Vả chăng có thể là chưa bao giờ có. Chúng đừng sừng sững ở đài nguyên, là đài kỉ niệm cân đối với tất cả những ai đã sống, chiến đấu và chết ở miền Bắc rộng lớn... Có lẽ chúng đã được dựng lên trên nấm mồ của những người đồng chí mạo hiểm vào thời các nhà "khám phá". Về sau hai cây thập ác mới đã được dựng lên. Trên một cây, cây cao nhất, chúng tôi thấy một dòng chữ khắc hãy còn mới: Jin-xốp An-đơ-rây Páp-lô-vích Đoàn thám hiểm Bắc cực Nga 1914 - 1916. Đối tượng các cuộc tìm kiếm của chúng tôi là câu chuyện về một đoàn thám hiểm đã mất tích từ bốn mươi năm về trước và dĩ nhiên, chúng tôi không hề có hy vọng là tìm thấy một người nào còn sống sót. Tuy nhiên, khi trên cây thập ác nhỏ chúng tôi khó khăn lắm mới đọc được tên nhà thiên văn học Ma-đu-rin thì một nỗi buồn sâu sắc kéo đến làm chúng tôi thắt lại và tay chúng tôi tự động đưa lên mũi... Căn nhà gỗ cũ kỹ hình như bị thụt sâu vào đất. Trước khi vào, chúng tôi phải đào đất trước ngưỡng cửa để mở cửa. Rõ ràng là không có ai bước chân vào đó từ lâu lắm... Một quang cảnh lạ lùng bày ra trước mắt khi chúng tôi vào nhà: trên mặt đất la liệt những tờ vở và những tờ ghi nhật ký hành trình rách nát. Một bộ xương người nằm giữa đám hỗn tạp ấy... Chúng tôi thở dài nhẹ nhõm khi bước ra khỏi nhà, cảm thấy làn gió lạnh vuốt trên mặt, nghe thấy tiếng nước chảy và tiếng lá rì rào: đối với chúng tôi thế giới hình như vô cùng thanh thiết, rộng lớn và trong suốt. Bê-rê-xkin từ lâu vẫn im lặng, nói: - Chính từ đây Dan-xơ-man đa bắt đầu đếm các bước chân. Và anh giơ tay chỉ về phía khu rừng. Nhận xét này đưa tất cả chúng tôi trở về thực tế. Chúng tôi lại vào trong nhà, và tránh bộ xương còn sót dấu vết quần áo, chúng tôi thu nhặt cẩn thận mọi giấy tờ. Đồng chí lái máy bay thấy ở chân tường một con dao đi sẵn đã gỉ, anh cũng nhặt lấy. Chúng tôi trở về máy bay mang theo tất cả các thư đó, sắp xếp lại các giầy tờ tìm được và trao đổi cảm tưởng với nhau. (Hết chương bảy) |
Chương tám Ý nghĩ đầu tiên về các giấy tờ tìm thấy, Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi nhượng bộ trước đề nghị của đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu muốn được xem chiếc máy chiếu thời gian hoạt động. Máy này một lẫn nữa lại chứng minh những tính chất đáng chú ý của nó, cho phép chúng tôi tham dự vào một vài sự kiện xảy ra bốn mươi năm về trước. Đồng chí lái máy bay thú nhận rằng sở dĩ anh hạ cánh ở xa căn nhà như thế là vì anh sợ phá hủy mất một "vật chứng" nào đó. Sau lần tìm hiểu đầu tiên, chúng tôi quyết định cắm trại gần hơn nữa, ở ven rừng bạch dương. Sau khi đã cắm lều và ăn sáng, chúng tôi - đồng chí lái máy bay và đồng chi hoa tiêu cũng tham gia tích cực vào công việc này - bắt tay vào nghiên cứu các giấy tờ. Chúng bị xáo trộn cả, nhiều tờ đã bị phai màu và trở nên dễ nát khi mó vào. Tuy nhiên, kết quả công việc của chúng tôi bây giờ phụ thuộc vào các giấy tờ này, viết kín những dòng chữ không quen thuộc, gần như không đọc được. Như tất cả mọi người đương thời với chúng tôi, quen đọc và viết từ thuở nhỏ, chúng tôi rất tin ở các tài liệu viết. Và cả bây giờ, lần đầu tiên trên thế giới có máy chiếu thời gian tức là một máy có khả năng tái tạo lại các sự kiện của quá khứ một cách chính xác và khách quan hơn bất kỳ một bài tường thuật nào, vì tường thuật bao giờ cũng phản ánh không ít thì nhiều những mối thiện cảm và ảo cảm của tác giả, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu các giấy tờ và cũng không nghĩ đến việc sử dụng chiếc máy kỳ diệu của chúng tôi... Việc đánh giá thấp máy chiếu thời gian làm chúng tôi mất nhiều thời giờ quý báu khi xây dựng những giả thuyết vô lý như nhau. Sung sướng vì được tham gia vào việc nghiên cứu các giấy tờ, đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu, tự cảm thấy ít nhất mình cũng là những Sớc-lốc Hâu-mớt, hết lời nguyền rủa tên "phá hoại" ( từ ngữ của đồng chí hoa tiêu) là kẻ trong một cơn giận dữ khó hiểu, đã xé và ném tung tóe khắp nơi trong nhà những nhật ký của đoàn thám hiểm. - Con quỷ nào đã tha nó đến đây! Đồng chí lái máy bay nói. Thử nghĩ xem, ở nơi xó xỉnh hẻo lánh này, đến những con tuần lộc của người Chúc-chơ cũng không thiết đến kiếm ăn nữa. - Chẳng ai theo nó đến cả, Bê-rê-xkin trả lời. Theo ý tôi việc này đã xảy ra từ năm 1916, và đó chính là câu chuyện bi thảm mà Dan-xơ-man rất muốn thuật lại. Có lẽ một thành viên của đoàn thám hiểm đã hóa điên và đã phải... Bê-rê-xkin không nói hết, nhưng tất cả chúng tôi hiểu anh muốn nói gì. Sự lộn xộn trong căn nhà chứng tỏ rõ ràng một người điên đang cơn tức giận đã giẫy giụa ở đây. - Tất nhiên rồi, đồng chí hoa tiêu nói, sau tất cả mọi điều hắn đã phải chịu đựng thì cái gì cũng có thể xảy ra được. Không còn ai nói gì nữa về "tên phá hoại văn hóa". Để sắp xếp lại các tờ giấy cũ đã phai màu và mủn ra giữa các ngón tay, cần phải có một kỹ năng nhất định. Trong lĩnh vực này, chắc chắn là tôi có nhiều kinh nghiệm hơn Bê-rê-xkin và các người giúp việc tự nguyện của chúng tôi. Do vậy ngay sau đố tôi điều khiển công việc, còn họ thường ngồi rỗi. Như mọi người biết, đó là một việc đáng chán, và có lẽ chính đó là lý do làm đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu lại nghĩ đến chiếc máy bay và máy chiếu thời gian đặt ở đó. Và khi đã nghĩ tới chúng, các đồng chí đó bèn lễ phép nhắc chúng tôi rằng chúng tôi đã hứa cho họ xem máy chiếu thời gian hoạt động ngay từ ngày đầu tiên. - Này! Đồng chí hoa tiêu vừa nói vừa nhẹ nhàng cấm lấy con dao gỉ mà đồng chí lái may bay đã lấy trong căn nhà. Đây là một vật cần đưa vào máy của các đồng chí. Mặc dù Bê-rê-xkin rất kính trọng các tư liệu viết, rõ ràng là anh thích máy chiếu thời gian hơn. Vì vậy anh quyết định, có lẽ không phải là không có ẩn ý, làm thỏa mãn đề nghị của đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu. - Cho mình xin một tờ giấy nào đò, anh nói với tôi. Mình sẽ chừng minh cho các cậu ấy thế nào là phép chiếu thời gian... Tôi không thích điều ấy tí nào. Tôi nghĩ rằng không nên mó đến các giấy tờ trước khi sắp xếp xong chúng, biết đâu mẩu giấy này tôi sắp cần đến. Đồng chí hoa tiêu vung con dao lên. - Thế tạo sao không thử của này xem… Đôi mắt Bê-rê-xkin sáng lên. CHo đến lúc đó chúng tôi mới chỉ đưa vào máy các tư liệu viết, và đây là dịp thử máy bằng một vật liệu khác hẳn. - Chúng ta thử xêm, anh bảo đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu. Hãy đến Véc-bi-nin xoay xở một mình ở đây thôi. Với tôi, cái mà tôi quan tâm nhất là cuốn nhật ký của Jin-xốp trưởng đoàn thám hiểm. Sauk hi so sánh các văn bản và chữ viết khác nhau, cuối cùng tôi đã tìm ra nó. Các tờ giấy đều đã bị hư hại nhiều và tự đáy lòng, tôi cũng nguyền rủa tên ngu ngốc đã xé quyển nhật ký. Dù sao, công việc của tôi vẫn tiến triển, và tôi hy vọng chỉ trong hai ngày là đủ để phân loại đợt đầu tiên. Trời đã muộn và vừa làm việc tôi vừa cảm thấy thú vị vì ngày Bắc cực ở Chu-cốt-ca và hoàng hôn ngắn ngủi chỉ đến lúc nửa đêm. Tôi bị thu hút vào công việc đến nỗi khi Bê-rê-xkin gọi, tôi cũng không hề để ý. Bê-rê-xkin và sau anh là đồng chí lái máy bay cùng chạy bổ vào lều. - Kìa, cậu ngủ đấy ư? Bê-rê-xkin sốt ruột hỏi. Bọn mình gọi cậu, bọn mình gọi cậu! Nhanh, nhanh lên đến đây! Một kết quả hoàn toàn bất ngờ! Anh kéo tôi đi nhưng trước đó tôi đã kịp bọc cẩn thận các giấy tờ. - Có gì xảy ra thế? Không trả lời, Bê-rê-xkin và đồng chí lái máy bay đẩy tôi về phía myas bay. Nhưng đồng chí hoa tiêu, ít giữ gìn hơn, ra khỏi máy bay đón chúng tôi, kêu lên: - Chính máu đã làm gỉ con dao! Anh nuốt một hớp không khí và hạ thấp giọng nói thêm: đó là một vụ tự sát. Rồi anh đổi giọng, không giấu nổi vẻ thán phục: - Thế mới là máy chứ! Thật như có phép lạ! - Có thật đúng… là một vụ tự sát không? Tôi đứng lại hỏi. - Đúng. Mình đã thử đi thử lại ba lần, mỗi lần đều đổi chương trình và kết quả vẫn thế… - Còn nhân vật, hắn giống ai? - Tiếc là hình ảnh không được rõ. Nhưng hắn không hề giống Dan-xơ-man hay tên kia, tên có vẻ mặt sắt đá… - Dan-xơ-man à! Ông ta chết ở Cơ-ra-xnô-đa. Bê-rê-xkin nhăn mặt: - Mình biết chứ! Duy có điều là trên màn ảnh chúng mình đã thấy một khuôn mặt người không có nhân cách… - Hình như Dan-xơ-man quả đã không thiếu lý do tự dằn vặt mình và tự đặt câu hỏi “ liệu có đúng hay không?” - Mình không hiểu biết tí gì về điều ấy. Thật là hoàn toàn không thể hiểu được, Bê-rê-xkin thẳng thắn nhận. Và ngày tháng cũng không rõ ràng nữa. Đoạn này máy chiếu thời gian đã ghi lại trong "trí nhớ của nó" và nhắc lại cho tôi nghe, gây cho tôi một ấn tượng rất nặng nề và rất khó chịu, đến mức là tôi không muốn tả lại cảnh đã diễn ra trên màn ảnh. Tôi sẽ chỉ ghi là, nếu tin ở máy chiếu thời gian, thì kẻ đã tự sát ở trong một tình trạng giận dữ điên cuồng. Tất cả chúng tôi đều cho rằng chính hắn đã phá hại các tập nhật ký của đoàn thám hiểm. Lúc ấy tôi bằng lòng đưa vào máy một vài trang bị hư hại đặc biệt. Giả thuyết của chúng tôi hoàn toàn được xác nhận: chúng tôi trong thấy trên màn ảnh một người mất trí đang xét các tập nhật ký rồi ném lung tung ra xung quanh các mảnh giấy. Để làm việc này hắn dùng một con dao săn, cũng chính là con dao hắn dùng để tự sát. Dung có điều chúng tôi không thể hiểu được lý do của cơn giận dữ ấy, thái độ của các thành viên khác trong đoàn thám hiểm đối với tên điên nổi khùng này, và nếu hắn có một mình, thì họ đã ra sao; tóm lại chúng tôi không thể giải thích được tại sao các tài liệu của đoàn thám hiểm lại làm cho hắn chú ý đến. Vừa nhận xét kẻ đang đi lại trên màn ảnh mà hài cốt nằm tại căn nhà gỗ, tôi chợt cho rằng cơn giận dữ này rất lạ lùng. Nó không có vẻ gì giống sự thất vọng trước một tình huống bế tắc... Nhưng, tất cả điều đó có thể chỉ là kết quả của óc tưởng tượng của tôi mà thôi. Theo yêu cầu của hai đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu, chúng tôi soát lại tất cả những gì mà máy chiếu thời gian còn nhớ lại về đoàn thám hiểm. Rồi chúng tôi tiến hành đợt sơ kết đầu tiên, bằng cách sắp xếp lại theo thứ tự thời gian tất cả những sự việc mà chúng tôi đã biết. Sau đây là những điều chúng tôi nắm được: 1 - Ở Iếc-cút, những người tù chính trị là Rô-đa-nốp và Dan-xơ-man đã đi theo đoàn thám hiểm. 2 - Đoàn thám hiểm đã ra khơi và hai năm sau, nhiều thành viên của đoàn đã ở trong căn nhà gỗ của Thung lũng Bốn cây Thập ác, tại đó hai người trong đoàn là Jin-xốp và Ma-du-rin đã chết. 3 - Trong căn nhà ấy, các nhà thám hiểm Bắc cực để lại các tài liệu và ra đi; một người, rất có thể là một thành viên của đoàn, đã phá hủy tài liệu này rồi tự sát. 4 - Dan-xơ-man trở về Cơ-ra-xnô-đa rồi chết vì bệnh đậu lào ở đây. Lúc hấp hối, lương tâm bị giày vò vì hối hận, ông tìm cách tự làm sáng tỏ xem việc họ làm là đúng hay sai. Trong các ghi chép của mình, ông nêu rõ sự tương phản giữa người tù chính trị Rô-đa-nốp và thuyền trưởng Chéc-kê-chin. 5 - Rô-đa-nốp hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Côn-sắc, trong quá trình đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết và thi hài của ông nằm trong nấm mồ chung bên bờ hồ Bai-can... (Hết chương tám) |
Chương chín Các nhật ký của Jin-xốp được sắp xếp lại cho thấy: giai đoạn đầu của các công việc của đoàn thám hiểm, một đặc điểm chính xác và tỉ mì của các thành viên và chứa đựng một vài suy nghĩ về sự việc mà câu chuyện nhắc lại. Chúng tôi đọc khá dễ dàng tất cả các trang nhậy ký của Jin-xốp còn lại, chỉ thỉnh thoảng mới phải dùng đến máy chiều thời gian. Tác giả nói tỉ mì và rộng lượng về tất cả các thành viên của đoàn thám hiểm, nhưng hầu như không nói gì về bản thân mình. Điều này làm chúng tôi rất có cảm tình với ông trong khi đọc; chúng tôi không hề nghi ngờ một lời nào của ông... Các ghi chép của các thành viên khác của đoàn mà chúng tôi đọc sau này cho phép chúng tôi có một nhận định khá rõ ràng về Jin-xốp. Ông thuộc về trường phái tuyệt vời của các thủy binh Nga rất có học thức, nhân đạo và tận tụy vì khoa học, thuộc về loài người có tư tưởng phóng khoáng, có trí thông minh sáng suốt và có ý chí sắt đá, cũng như Cơ-ru-đen-téc và Lit-xi-an-ki, La-da-rép và Ben-lin-gô-den, Cốt-diw-buy và Na-khi-mốp, Ma-ca-rốp và Xê-đốp. Nhật ký của Jin-xốp với toàn bộ cách suy nghĩ của ông, các mối thiện cảm và ác cảm toát ra qua các dòng chữ, cho phép chúng tôi kết luận rằng, mặc dù không có những quan điểm cách mạng, đó vẫn là một nhà khoa học có tư tưởng tiến bộ. Các việc làm, và nhất là thái độ của ông đối với Rô-đa-nốp và Chekeee-chin cũng xác nhận ý kiến đó. Các số phận của ba người này, với lòng tin và tính cách thật khác nhau, gắn bó với nhau một cách rất phức tạp ngay khi đoàn thám hiểm rời Iếc-cút... Nhật ký của Jin-xốp có một đoạn ghi chép tỉ mỉ rất khác phần còn lại về bút pháp, mà chúng tôi cho là đoạn thanh minh, mặc dù theo đúng nghĩa của từ đó, Jin-xốp không hề tìm cách tự thanh minh. Duy chỉ ít lâu sau khi khời hành từ Iếc-cút, trong khi con tàu Daria 2 đã đang xuôi dòng sông Lêna, Jin-xốp ghi trong nhật ký của mình là đoàn thủy thủ của tàu không đầy đủ và phải tuyển thêm một thủy thủ trên đường đi. Jin-xốp đưa ra nhiều lý do bảo vệ lý luận ấy và sau đó ở một trang dưới nữa chúng tôi phát hiện hai dòng ghi rằng S.Rô-da-nốp đã được tuyển lên tàu làm thủy thủ. Chúng tôi lấy làm lạ rằng chính Jin-xốp đã tự tuyển thủy thủ này: thông thường chính người thuyền trưởng chịu trách nhiệm tuyển đủ số thủy thủ của mình. Phía dưới ít nữa, Jin-xốp ghi chép rất cẩn thận là trung úy Chéc-kê-chin đã phản đối kịch liệt việc tuyển thêm lên tàu một tù chính trị nữa. Dù sao Jin-xốp cũng đã làm cho quan điểm của mình được chấp nhận. Đoạn này lập tức soi sáng cho nhiều vấn đề. Thứ nhất, chúng tôi nhớ là Rô-đa-nốp đã làm việc với Dan-xơ-man ở công trường đóng tàu Iếc-cút, do đó lẽ ra ông có thể gia nhập vào đoàn thám hiểm ở đấy. Rõ rang là có điều gì đó đã ngăn cản ông. Tất cả chúng tôi đều nghĩ là, khác với Dan-xơ-man, Rô-đa-nốp bị theo dõi chặt chẽ, và chính quyền địa phương đã cấm ông cùng đi với đoàn thám hiểm; quả thật đoàn này có ý định đến gần bờ biển châu Mỹ… Tuy nhiên, Rô-đa-nốp muốn đi với đoàn thám hiểm, và Jin-xốp không thể nào lại không biết ý kiến của chính quyền, vẫn có cảm tình với Rô-đa-nốp và đã giúp đỡ ông: dọc đường Rô-đa-nốp đuổi kịp đoàn thám hiểm và được tuyển mặc dù Chéc-kê-chin phải đối… Khi rời cửa sông Lêna, con tàu Daria 2 tiến vào Láp-tép và hướng về phía quần đảo Tân Xi-bê-ri. Mặt biển đã hết băng và con tàu chỉ còn gặp dọc đường những tảng băng đã bị nước bào mòn, không còn gây nguy hiểm cho tàu nữa. Một vài ngày sau, con tàu đã trông thấy đảo Vat-xi-li-ép-xki, do Mác-xim Li-a-khốp người Ia-cút khám phá ra năm 1815 trong khi ông đi bộ từ cửa sông Lêna đến đảo Cô-ten-ni và bị lạc đường. Jin-xốp có lẽ không biết chi tiết này nhưng ông biết rằng năm 1912, hai con tầu Tai-mia và Vai-gát thuộc đoàn thám hiểm thủy đạo Nga đã đến thăm đảo Vat-xi-li-ép-xki và đã mô tả rất tỉ mỉ. Trong nhật ký của mình, Jin-xốp cũng tả lại đảo này. Ông chỉ ra rằng đảo có kích thước nhỏ thấp, do cát, đất sét và băng tạo nên và bờ biển bị sóng bào mòn mạnh… Con tài Daria 2 tiếp tục đi không nghỉ đến đảo Cô-ten-ni, và lợi dụng tình trạng thuận lợi của băng, cố vòng qua quần đảo Tân Xi-bê-ri theo hướng Bắc. Nó đã tiến về phái Bắc xa hơn bất kỳ con tàu nào trước đó. Nhưng một hôm, Jin-xốp nhận thấy trên các đám mây ánh phản chiếu đặc trưng của băng và ngày hôm sau một khoảng băng rộng mênh mông chắm đường con tàu… Daria 2 quanh co mất một thời gian bên bờ cánh đồng băng ấy, với hy vọng có thể vượt qua được nó rồi bắt buộc phải quay trở lại, đi về phái đảo Ben-nét là đảo do Lông khám phá ra vào thế kỷ trước và sau đó đã là nơi ẩn náu cuối cùng của Tôn và các bạn ông… Con tàu đến địa điểm đáng lẽ là “Miền đất Xan-ni-cốp” nhưng… không tìm thấy nó. Jin-xốp đã giành mấy trang rất lạ lung trong cuốn nhật ký của ông cho vấn đề này. Ông nêu trong đó những sự việc chứng minh rằng “Miền đất Xan-ni-cốp” là không có, nhưng… tin tưởng ở những người đã trông thấy nó, ông cho rằng vấn đề còn phải xem xét. Chúng tôi rất thoải mái khi đọc các trang trong đó ông khẳng định rằng không thể có lý do nghi ngờ sự trung thực của Xan-ni-cốp, vật chất của cuộc khám phá này, cũng như không thể có lý do nghi ngờ tính thẳng thắn khoa học của Tôn. Cũng như nhiều nhà thám hiểm Bắc cực khác, họ chỉ viết những điều mà họ đã quan sát được, và không hề viết điều gì mà họ chưa quan sát, Jin-xốp nói gần như nguyên văn như vật trong nhật ký của ông. Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi rất quan tâm đến các ghi chú của Jin-xốp về các thành viên của đoàn thám hiểm. Rộng lượng và do đó chắc chắn là đúng đắn, các ghi chú này giúp chúng tôi rất nhiều để hiểu được mối quan hệ giữa các thành viên đó, và sau đó làm sáng tỏ lý do của các sự kiện bi thảm ở Thung lũng Bốn cây Thập ác… Đây là những điều chúng tôi biết được. Chéc-kê-chin, trung úy, thuyền trưởng… Một thủy thủ có kinh nghiệm, một hoa tiêu xuất sắc, đã tham gia vào chuyến đi Bắc cực. Jin-xốp đặc biệt nhấn mạnh với một nỗi lo âu nhất định những nét sau đây trong tính cách của ông ta: thông minh, táo bạo, gan dạ nhưng ngạo mạn, đòi hỏi đến mức tàn ác, ưa dùng những biện pháp cứng rắn, khinh nhờn những người dưới quyền và những người Ia-cút…. Ma-du-rin, nhà khoa học, nhà thiên văn học… Một con người hiền lành, dể chịu ảnh hướng, rất thông thạo chuyên môn của mình, lần đầu tiên tham gia vào một đoàn thám hiểm Bắc cực. Cô-nô-plép, nhà khoa học, nhà nhân chủng học, nhà động vật học… Rất ham mê công việc của mình, rất thông minh, đại lượng, có xu hướng coi mọi người như an hem. Jin-xốp đã thêm một ghi chú phụ, nhỏ nhặt: thường nói năng cộc lốc với thuyền trưởng. Việc đánh giá Dan-xơ-man của Jin-xốp hoàn toàn phù hợp với ý kiến của chúng tôi về ông ta, khi đọc nhật ký của ông: Jin-xốp coi ông ta là “lương tâm” của đoàn thám hiểm. Gô-vô-rốp, thuyền phó… trẻ tuổi, nhiệt tình, trung thực, chính xác trong khi thực hành nhiệm vụ, nhưng thiếu kinh nghiệm. Đáng tiếc là Jin-xốp không nói gì về người thủy thủ trường cũng như về các thủy thủ và cả Rô-đa-nốp; tên Rô-đa-nốp xuất hiện hoàn toàn đột ngột trong các trang của nhật ký. Sau khi ra khơi ít lâu, trung úy Chéc-kê-chin, thuyền trưởng thi hành một chương trình dài hạn… Lúc đầu, tất cả có vẻ bình thường: thuyền trưởng đòi hỏi một kỷ luật chặt chẽ, trừng phạt nghiêm khắc từng thiếu sót nhỏ, rõ rang cũng như chưa rõ ràng. Các thủy thủ cũng như những thành viên khác của đoàn làm việc rất có ý thức. Nhưng Chéc-kê-chin áp dụng một chế độ quân sự ở trên tàu, tìm cách bắt mọi người làm việc như máy và thi hành một cách mù quáng các mệnh lệnh của ông ta. Lòng khinh bỉ đối với kẻ dưới quyền, tạo ra trên tàu một không khí nặng nề khó thở… Không rõ việc sẽ đi đến đâu nếu không có Rô-da-nốp. Ông đã nhanh chóng biết cách tập hợp thủy thủ quanh mình, và khi Chéc-kê-chin thử áp dụng các hình phạt thể xác trên tàu thì các thủy thủ với Rô-da-nốp đứng đầu, vùng dậy chống lại hắn. Lúc đầu, Rô-đa-nốp một mình tìm đến Jin-xốp và thay mặt đoàn tàu đưa ra các yêu sách. Có điều là Jin-xốp lại không hề ngạc nhiên và bực tức, sẵn sang khuyến khích cho mối bất hòa thêm trầm trọng, để làm thất bại các kế hoạch của Chéc-kê-chin mà ông đã khám phá ra. Chính Jin-xốp đã trình bày rõ các lý do của mối bất hòa: trên mặt biển, chính thuyền trưởng là người chủ duy nhất. Biết rất rõ quy định đó, Chéc-kê-chin hiểu rằng kế hoạch này chỉ có thể trôi chảy nếu các thủy thủ phục tùng hắn, và đó chính là lý do khiến hắn tìm cách khắp phục mọi người bằng sợ hãi… Nhưng ý định đảo chỉnh đó không làm cho Jin-xốp bị bất ngờ hay làm ông mất tinh thần vì đã có lần những sự kiện tương tự đã diễn ra trước mắt ông… Trong cuộc thám hiểm của Tôn năm 1902, trung úy Cô-lô-mê-ít-xép, chỉ huy tàu Daria đã định làm như Chéc-kê-chin. Lúc ấy tàu Daria đậu gần bờ biển Tai-mia. Tôn đã khá kiên định, thải hồi viên thuyền trưởng, và sau khi đã gửi hắn về vịnh I-ê-nit-xê-I bằng ngựa trạm, đã cử Ma-tit-xen thay thế… Do vậy, Rô-da-nốp và Jin-xốp trở thành đồng minh trong cuộc đấu tranh chống Chéc-kê-chin. Họ không phải chờ đợi lâu. Như mọi tên liều lĩnh khác, Chéc-kê-chin tự lột mặt nạn nhanh chóng, và lúc ấy tất cả mọi người đều nhất tề chống lại hắn: ông trưởng đoàn thám hiểm, các thủy thủ và các nhà khoa học. Cuộc đảo chính thất bại. Điều không may là Jin-xốp không thể loại bỏ Chéc-kê-chin vì con tàu đang ở giữa biển. Tuy nhiên, Chéc-kê-chin hiểu là hắn đã lầm, vì vậy hắn không có ý định mới chiếm lĩnh quyền hành hay đưa vào chế độ roi vọt. Jin-xốp sung sướng ghi vào nhật ký là Chéc-kê-chin đã thấm thía sâu sắc khuyết điểm của mình và chắc chắn rằng hắn sẽ không lặp lại nữa… Đoạn này giúp chúng tôi hiểu lý do bất đồng giữa Jin-xốp và Chéc-kê-chin về Rô-da-nốp. Jin-xốp đã tiên đoán được những chuyện rắc rối với Chéc-kê-chin nên ông thấy cần có Rô-da-nốp mà ông cho là một người có đủ khả năng chống lại viên thuyền trưởng. về phía mình, Chéc-kê-chin đang nghiền ngẫm ý đồ làm đảo chính, hiểu rằng Rô-da-nốp có thể sẽ cản trở mình… Cả Jin-xốp và Chéc-kê-chin đều đã không lầm trong các dự đoán của mình… Sau các sự kiện này ít lâu, đoàn người trên tàu Daria 2 trông thấy ở phía Bắc một “bầu trời nước”. Nghĩa là ánh xám xịt của một lớp nước trên các đám mây. Chéc-kê-chin đề nghị đi về phía vùng nước ấy. Jin-xốp đồng ý và con tàu bắt đầu mở đường một cách khó khăn giữa các lớp băng. Đột nhiên, gió thay đổi đã mở rộng diện nước không có băng. Con tàu Daria 2 vẫn đi vào sâu mãi về phương Bắc, trong lúc gió lại đổi hướng một lần nữa, bắt đầu làm các tảng băng xích lại gần nhau… Jin-xốp ghi ngắn gọn trong nhật ký:” Chéc-kê-chin quả là anh hung, chỉ nghệ thuật lái tàu của ông ta đã tránh cho chúng tôi những điều phiền toái lớn”. Vào khoảng cuối mùa hè ở Bắc cực, con tàu đã trông thấy đảo Ben-nét, hòn đảo lớn nhất của quần đảo Lông, có nhiều núi và hoang vu. Chính ở đây, mười ba năm về trước, nhà thám hiểm Bắc cực Tôn đã từ chối không lên tàu Daria mà khởi hành đi trên lớp băng còn mỏng của tháng 11 trong cuộc thám hiểm cuối cùng của ông. Hiện nay, con tàu Daria đã tàn lụi ở vịnh Tiki, con tàu Daria 2 trong đó có đoàn người tiếp tục làm công việc như Tôn mở đầu, đang thả neo ở gần đảo Ben-nét. Vài thành viên của đoàn thám hiểm cặp bến bằng xuồng và chia làm hai nhóm, bắt đầu khảo sát hòn đảo. Cô-nô-plép, Dan-xơ-man và Ma-du-rin đi về một phía, còn Jin-xốp cùng với hai người I-a-cút là Li-a-pu-nốp và Mi-khai-lốp cùng thủy thủ Rô-da-nốp đi tìm túp lều do Tôn dựng lên. Bầu trời u ám mà không ai biết. Chỉ khi một cơn gió mạnh bất thần nổi lên quất vào mặt Jin-xốp mới làm cho ông thấy rằng một cơn bão sắp đến và phải nhanh chóng trở về tàu. Cả nhóm vội vã quay trở lại nơi xuất phát, Jin-xốp đi đầu. Ông đang vượt qua bãi băng nhỏ thành dốc đứng về phía biển thì một cơn gió mạnh quật ông ngã xuống. Ông lăn về phía vực thẳm và chỉ một chỗ nứt trên bãi băng giữ được ông lại, cứu ông thoát chết. Từ trên cao, Rô-da-nốp và hai người I-a-cút gọi ông nhưng vô ích, vị trưởng đoàn thám hiểm vẫn nằm bất động và không trả lời… Trong lúc đó, bão đã mạnh lên đe dọa hất mọi người xuống biển. Nhưng không một ai có ý định bỏ Jin-xốp ở vị trí nguy hiểm ấy. Rô-da-nốp và Li-a-pu-nốp ở lại trên cao, còn Mi-khai-lốp nhỏ người và nhanh nhẹn, buộc dây tụt xuống gần người trưởng đoàn, Jin-xốp còn sống song không thể đi được. Hai người I-a-cút và Rô-da-nốp liều mạng đến kiệt sức, kéo ông lên và mang ông về nơi mà họ hy vọng tìm thấy xuồng… Quả thật xuống còn đấy, và các thành viên của nhóm kia cũng ở đấy nốt, nhưng con tàu đã biến mất: do thời tiết xấu, nó không đậu gần các bờ đá của đảo… Vài giờ sau, băng xuất hiện trên mặt biển. Gió tiếp tục thổi như bão, nhưng sóng đã lặng. Điều này không làm ai thích thú cả. Các tảng băng trôi từ phương Bắc xuống, mon men lại gần đảo và đe doạn tạo thành một bức thành không sao vượt qua được giữa đảo và con tàu Daria 2 lúc đó đang loanh quanh giữa biển chờ cho bão dịu… Jin-xốp bị thương nặng. và các đồng chí của ông hiểu rõ rằng chắc chắn họ sẽ chết nếu con tàu không vạch được một con đường qua các tảng băng để đến với họ. Khi Tôn ở trong hoàn cảnh tương tự, thì ông còn có quần áo ấm, có lương thực và các đồng chí của ông đều khỏe mạnh… Ấy thế họ cũng đã mấy tích trong băng tuyết… Vậy mà những người ngồi quanh Jin-xốp trong túp lều nhỏ lại không có thức ăn dự trữ cũng như quần áo ấm… Tất nhiên, họ đều băn khoăn một điều: liệu Chéc-kê-chin có vạch được lối đi không, hay ông ta sẽ lùi bước trước khó khăn như Ma-tit-xen trước đây? Ba ngày trôi qua, đảo bị băng giá bao bọc và ngay ở chân trời cũng không thấy “bầu trời nước”… Tình trạng sức khỏe của Jin-xốp không khá hơn. Mặc dù Dan-xơ-man đã động viên ông là các chỗ bị giập của ông không trầm trọng, ông vẫn chuẩn bị đón cái chết, nếu như nó không đến, ông cũng quyết định sẽ tự tử để không làm các đồng chí của mình mất hy vọng được cứu sống cuối cùng… Người ta không hiểu được là hai tuần lễ lưu lại ấy sẽ ra sao nếu những người I-a-cút không săn bắn được nhiều tuần lộc… Cuối cùng một làn khói trắng xuất hiên ở chân trời: đó là con tàu Daria 2 đang vạch một lối đi tới đảo. Chéc-kê-chin không phụ lòng hy vọng của mọi người ở ông ta… Con tàu không thể đến sát đảo và những người gặp nạn phải ra chỗ nó. Các đồng chí trên tàu đến với họ và họ gặp nhau giữa đường. Chẳng bao lâu, cả đoán thám hiểm đã ở trên tàu… Không muốn nghe các lởi cảm ơn, Chéc-kê-chin kiệt sức vì bao đêm mất ngủ, trao quyền chỉ huy cho viên thuyền phó và đi ngủ. Con tàu Daria 2 tiếp tục đi… “Tất cả chúng tôi, và đặc biệt là tôi, chúng tôi đều chịu ơn cứu sống của Chéc-kê-chin”, Jin-xốp ghi trong nhật ký của mình sau khi đã lại sức. (Hết chương chín) |
Chương Mười Một vài suy nghĩ về “Miền đất Xan-ni-cốp”; người ta đào quyển vở cắt giấu của Dan-xơ-man và tiếp tục theo dõi câu chuyện về số phận sau này của đoàn thám hiểm Jin-xốp. … Thời tiết trở nên xấu. Tuyết khô vón thành cục đập lên lều bằng vải rất căng của chúng tôi. Người ta không còn nghe thấy tiếng các con gặm nhấm nữa, tất cả bọn chúng đã lại chui vào hang. Nhiều đám mây thấp trôi về phương Nam. Một con hải âu Bắc cực lớn, từ đâu đến không ai biết, lượn bên trên Thung lũng Bốn cây Thập ác và cất những tiếng kêu não nùng như thể tiếc rẻ rằng đã không thấy biển cả hay ao hồ ở bên cạnh; chẳng bao lâu nó đột nhiên cất lên cao và bay về phía Đông nam. Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi cũng có thể bay theo cùng hướng ấy về phía Mác-cô-vô. Nhưng hình như đối với Bê-rê-xkin và tôi, máy chiếu thời gian còn có thể dùng được ở đây, tại thung lũng và nói chung chúng tôi còn ít dùng nó và dùng rất vụng về. Đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu không đồng ý với chúng tôi, kết quả việc đưa con dao gỉ vào máy đã hoàn toàn chiếm được lòng tin của các đồng chí ấy. Bê-rê-xkin và tôi, chúng tôi vẫn có nhiều nghi ngờ hơn vẫn chưa thật hoàn toàn tin vào máy và chúng tôi tìm cách kiểm tra lại những chỉ dẫn của máy. - Chưa có gì chứng thực rằng máy chiếu thời gian thuật lại đúng đắn cây chuyện về con người ấy. Bê-rê-xkin nói, ý anh muốn nêu cái người chết tìm thấy trong căn nhà gỗ, và anh lần lượt hết nhìn đồng chí hoa tiêu lại nhìn đồng chí lái máy bay. Cả hai đều phản đối, nhưng Bê-rê-xkin hình như đang muốn tự kiểm điểm; đầu cúi xuống, anh buồn bã nhẩm tĩnh những thiếu sót có thật và được bịa ra của máy chiếu thời gian. Tất cả những điều ấy làm tôi khó chịu, nhưng chẳng bao lâu chúng tôi theo dõi các dấu vết của đoàn thám hiểm, chúng tôi tìm kiếm, so sánh và suy nghĩ. Ý nghĩ về đoàn thám hiểm ngày đêm không rời chúng tôi. Giờ đây khi chúng tôi gần tới đích, thì phản ứng do sự mệt nhọc gấy ra mới bộc lộ. Cần phải giải trí, nói về vấn đề khác hay đi dạo một vòng, súng trong tay, vào trong núi nhưng chúng tôi không muốn nói gì về chuyện khác trong khi lang thang trong núi, tức là ở nơi mà cách đây 40 năm các thành viên của đoàn thám hiểm Bắc cực Jin-xốp đã đi qua… Tôi ra khỏi lều. Gió thổi càng mạnh hơn và tuyết như cắt vào mặt. Các cây bạch dương cong xuống dưới bão tố gầm rít, ngọn cây ngả về phía mặt đất và từng chiếc lá tìm cách bay lên, nhưng những lá bay được lại rơi xuống rất gần đó, hoặc xuống sông hoặc trên các hòn đá cuội đọng bụi tuyết trắng xóa từ trước… … Một con chồn bị lạc đường, nâu tuyền và rất nhỏ bé phát ra một tiếng kêu the thé ngay dưới chân tôi và chui vào hang. Đột nhiên tôi them muốn tìm thấy nơi Dan-xơ-man đã giấu quyển vở của ông. Những vật tìm thấy trong căn nhà đã làm chúng tôi ít chú ý đến Dan-xơ-man, những giờ đây tôi lại nghĩ tới ông ta. Tại sao ông ta lại có thái độ lạ lung như vậy? Một phần các tài liệu của đoàn thám hiểm đã được để lại trong nhà gỗ một cách có ý thức. Vậy tại sao ông ta đã giấu quyển vở của mình đi? Tôi lội qua sông để đến căn nha, rồi đứng quay mặt về phía Tây Bắc và đếm các bước đi, tôi tiến ngược chiều gió. Khi đã qua sông. Tôi đi sâu vào trong rừng và lúc sắp được 140 bước, tôi trông thấy một cái cây già bị bật gốc. Đó là một cây bạch dương lớn gỗ còn tốt (ở phương Bắc cây cối mục chậm), và tôi dừng lại ở chỗ mà chắc là Dan-xơ-man đã giấu quyển vở của mình... Ngay sau đó tôi đi tìm một cái xẻng. Dưới mái lều câu chuyện xoay quanh “ Miền đất Xan-ni-cốp”. Trong lúc tôi vắng mặt, đồng chí hoa tiêu, một người còn trẻ mới công tác ở miền Bắc không lâu, đã nêu giả thuyết là đoàn thám hiểm Jin-xốp dù sao cũng đã khám phá được “Miền đất Xan-ni-cốp”. Đồng chí hoa tiêu rất muốn sự việc xảy ra như vậy và chính vì thế anh tưởng điều ấy có thể có. Bê-rê-xkin và đồng chí lái máy bay chế giễu anh ta, nhưng anh không chịu thua. - Các anh thật đáng thương! Anh nói giọng đượm chút khinh mạn khi tôi bước vào nhà. Jin-xốp sống cách đây đã gần nửa thế kỷ, thế mà ông ta tin ở mọi người, tin vào lòng trung thực của họ, còn các anh… Đồng chí hoa tiêu khoát tay và quay đi. - Hãy hỏi Véc-bi-nin nếu cậu không tin bọn mình, Bê-rê-xkin nói, hơi bực mình. Nếu “Miền đất Xan-ni-cốp” có thật, người ta đã thấy nó từ lâu. Các tàu phá băng và các máy bay đã qua miền này theo mọi hướng. Người ta còn đặc biệt đi tìm nó nữa. - Nói cách khác, Xan-ni-cốp và mọi người khác đều nói dối? - Họ đã lầm lẫn, đồng chí lái máy bay nói. Điều này xảy ra với tất cả mọi người nhất là ở Bắc cực. Đồng chí hoa tiêu nhìn tôi, mắt ánh lên một tia hy vọng. - Tôi cũng vậy, tôi tin ở tất ả những người đã trông thấy “Miền đất Xan-ni-cốp”, tôi nói, tôi tin rằng bản thân Xan-ni-cốp, Giéc-ghê-li người Ê-ven và Tôn đều nói đúng cả. Các cậu thử nghĩ một chút xem. Xan-ni-cốp nói dối nhằm mục đích gì? Hy vọng được Sa Hoàng ban thưởng chăng?... Không, ông ta không trông mong gì phần thưởng thậm chí ông cũng không nghĩ đến việc công bố khám phá của mình ở Pê-téc-bua, như lái buôn Ivan, Li-a-khốp đã làm; chính Ca-tơ-rin II đã thưởng cho ông này hai hòn đảo Li-a-khốp, hòn lớn và hòn nhỏ, và bà ta đã cho ông ta được độc quyền khai thác các ngà voi ma mút!... Hay là hãy xét Giéc-ghê-li người Ê-ven. Ham muốn được đặt chân lên “Miền đất Xan-ni-cốp” mạnh đến nỗi một hôm ông ta đã nói với Tôn rằng ông ta sẵn lòng hy sinh vì nó!... Không, những con người loại ấy không nói dối đâu! - Thật là cảm động, nhưng không thuyết phục lắm, Bê-rê-xkin giễu cợt. Người ta không thể trông thấy một vật không có… - Có lẽ đây là một ảo ảnh, đồng chí lái máy bay nói. - Không, không phải là ảo ảnh, tôi trả lời. “Miền đất Xan-ni-cốp” đã tồn tại và ngay cả nếu nó không tồn tại… Người ta vẫn có thể trông thấy nó… Đồng chí lái máy bay cố nén cười và đồng chí hoa tiêu bạn đồng minh của tôi cũng mỉm cười. - Có hai giả thuyết giải thích câu chuyện bí mật về “Miền đất Xan-ni-cốp”, tôi tiếp tục. Các cậu còn nhớ không, trong nhật ký của Jin-xốp có vấn đề đảo Vát-xi-ép-xki. - Đúng vậy, đồng chí lái máy bay nói. - Các cậu có tin rằng Jin-xốp đã trông thấy đảo ấy không? - Tin chứ! - Ấy thế mà, đảo Vát-xi-ép-xki lại không có thật đâu… - Sao kia, nó không có thật ư? - Rất đơn giản, nó không có thật. Hãy nhìn lên bản đồ, nếu các cậu muốn. - Tuy nhiên, Jin-xốp không thể nói dối được! - Thế còn Xan-ni-cốp, ông ta không thể nói dối ư? Đồng chí hoa tiêu chen vào vẻ đắc thắng. - Đảo Vát-xi-ép-xki đã được Mi-kha-in Li-a-khốp người I-a-cút, các thành viên của đoàn thám hiểm thủy đạo Nga trên hai con tàu Tai-mia và Vai-gát, cũng như Jin-xốp và các bạn đường của ông chứng kiến… Tuy nhiên năm 1936, con tàu Xô-viết “Thời kế” nhận nhiệm vụ nghiên cứu đảo này đã không tìm thấy nó… Nó đã tan ra. Tại chỗ cũ của nó, đáy biển chỉ sâu gần 2 mét rưỡi. Rất gần đây thôi, trong những năm 40, đảo Xê-mi-ô-nốp-xki cũng biến mất giống như thế… - Nó đã tan ra à? Đồng chí lái máy bay hỏi, chưa chịu hẳn. - Cậu đã quên rằng nó được băng giá vĩnh cửu cũng như cát và đất sét lắng đọng tạo thành à?... Bắc cực hiện nay đang được sưởi ấm, các tảng băng vĩnh cửu tan ra và các hòn đảo biến mất. Vậy giả thuyết đầu tiên khẳng định rằng “Miền đất Xan-ni-cốp” đã tồn tại và đã bị tan ra. Việc phân tích các đáy biển ở phía Bắc quần đảo Tân Xi-bê-ri hình như cũng xác minh điều ấy. - Còn giả thuyết thứ hai? Đồng chí hoa tiêu hỏi. - Giả thuyết thư hai giải thích một cách khác. Cách đây trên mười năm, người ta đã khám phá ra ở Bắc Băng Dương có những băng đảo khổng lồ trôi giạt những trái núi thực sự. Chúng trôi theo một đường elip và thỉnh thoảng người ta trông thấy chúng ở vùng quần đảo Tân Xi-bê-ri. - Vậy giả thuyết nào đúng? - Điều hợp lý nhất là cả hai đều đúng. Có thể là ở phía Bắc quần đảo Tân Xi-bê-ri có các đảo nhỏ về sau đã bị tan ra. Nhưng tất cả những người đã trông thấy “Miền đất Xan-ni-cốp” đều khẳng định rằng nó là núi. Chính vì lý do này mà tôi nghĩ rằng người ta có thể trông thấy các băng đảo và cho là miền đất ấy… Người ta đã trông thấy chúng, và khi đi tìm chúng thì chúng đã trôi đi xa hơn. - Như vậy Jin-xốp đã không khám phá ra “Miền đất Xan-ni-cốp”, đồng chí hoa tiêu thở dài nói; câu chuyện của tôi làm anh thất vọng. - Chao ôi… Tôi cầm lấy một cái xẻng và đi ra cửa. - Cậu đi đâu đấy? Bê-rê-xkin hỏi tôi. - Đi tìm quyển vở của Dan-xơ-man. Cần phải đào nó lên. Tất cả đi theo tôi. Khi chúng tôi đã đến gần cây bạch dương đã ruỗng một nửa, đồng chí lái máy bay và đồng chí hoa tiêu gạt chúng tôi ra và chúng tôi đành phải bằng lòng đừng hướng dẫn công việc. Trong khi đồng chí lái máy bay bới cẩn thận các lớp đất và đồng chí hoa tiêu vội đưa cho anh cái xẻng, tôi cố đoán xem quyển vở liệu còn giữ được không và nếu còn, thì ở trong tình trạng nào. Tôi có sơ sở để lo lắng. Người ta đều biết toàn bộ miền Bắc Xi-rê-ri bị đóng băng vĩnh cửu, nhiều chỗ đất bị đông lại cho tới độ sâu hàng vài trăm mét và không bao giờ tan cả, vào mùa hè Bắc cực ngắn ngủi, chỉ các lớp bên trên, những lớp này thường không quá nửa mét và chỉ được 2 mét ở các thung lũng của các con sông lớn. Các lớp này quả thực “ rất hoạt động”: về mùa hè chúng tan ra, ứ nước và sang mùa thu, chúng lại bắt đầu đông lại từ trên. Lớp băng bên trên đè nặng lên lớp đất mềm và lớp này phồng lên làm vỡ băng… Hầu như chắc chắn là Dan-xơ-man đã giấu quyển vở của mình đúng trong các lớp hoạt động, và ngày nếu như ông ta có bọc kỹ nó, chúng tôi vẫn có rất ít hy vọng tìm thấy nó nguyên vẹn. Tiếc thay tôi đã không lầm. Chúng tôi tìm thấy cái gói, nhưng ở trong tình trạng thật đáng buồn. Chúng tôi mang nó về lều và quyết định hơ nó cho khô. Ngay hôm sau tôi lại nghiên cứu nhật ký của Jin-xốp. Đoàn thám hiểm của ông chịu số phận như nhiều đoàn khác. Ở biển Đông Xi-bê-ri con tàu Daria 2 đã đi vào một vùng băng, những khối nặng chợt gắn chặt với nhau… Con tàu bị giam giữ không sao thoát được. Nó bắt đầu trôi chầm chậm về phía Đông… Chẳng bao lâu, đêm Bắc Cực bắt đầu… Theo nhật ký của Jin-xốp, đoàn thám hiểm không thiếu lương thực. Tuy nhiên, vào khoảng giữa mùa đông, nhiều thành viên của đoàn bắt đầu có biểu hiện những triệu chứng của bệnh hoại huyết… Vào thời ấy người ta hầu như không biết gì về các sinh tố. Jin-xôp chưa đủ thời gian để bình phục hẳn những chỗ đau, khó chịu hơn tất cả mọi người. Ông tìm cách tận dụng ở chỗ không khí thoáng đãng , không ngồi yên và tham gia vào một cuộc săn chó biển ít kết quả. Một thứ bệnh khác chưa ai biết đến lại cộng thêm vào bệnh hoại huyết… Ghi chép cuối cùng do Jin-xốp đọc cho người khác viết, gồm một bản tin cho Viện Hàn Lâm khoa học và một vài lời âu yếm gửi người thân, những người không bao giờ nhận được chúng… Jin-xốp biết rằng mình sắp chết, nhưng cho đến phút cuối cùng ông vẫn cố giữ tinh thần sáng suốt và ý chí kiên cường… Các nhật ký của các thành viên khác của đoàn thám hiểm mà chúng tôi đọc sau này cũng xác nhận điều ấy. Tất cả đều tỏ lòng kính trọng người trưởng đoàn hấp hối và bộc lộ những lo lắng tương lai; không còn Jin-xốp, người đã biết tập hợp mọi người quanh mình, tương lai đó đối với họ, tỏ ra rất đen tối… Trước hôm chết, Jin-xốp đã cho gọi tất cả các thành viên của đoàn thám hiểm và người thuyền trưởng vào trong buồng mình. Ông vĩnh biệt họ và nói với họ rằng ông trao lại quyền cho trung úy Chéc-kê-chin. - Ông ta là người có kinh nghiệm nhất so với các ông. Jin-xốp giải thích. Và ông ta sẽ dẫn đoàn đi đến nơi. Jin-xốp yếu đuối ra hiệu, và Chéc-kê-chin hiểu được ông, liều cầm lấy tay người hấp hối xiết nhẹ. - Đoàn thám hiểm sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình, Chéc-kê-chin nói, tôi xin hứa với ông như vậy… Jin-xốp được chôn cất trong đám băng tuyết không xa con tàu mấy. Nấm mộ của ông không nằm trong Thung lũng Bốn cây Thập ác như lúc đầu chúng tôi tưởng. Một tháng sau người thủy thủ trưởng chết. Tất cả các nhật ký mà chúng tôi tìm được đều dừng ở sự kiện đáng buồn này. Chúng chỉ tiếp tục được ghi một tuần rưỡi sau, tả lại con tàu bị phá hủy: các tảng băng đã đè bẹp nó ở gần bờ biển Chu-cốt-ca. (Hết chương mười). |
Chương mười một Bộ óc của con người hoàn thành một công việc mà không một máy điện tử nào có thể làm được, máy chiếu thời gian phục vụ chúng tôi một lần cuối cùng và chúng tôi sơ kết bước đầu rồi trở về Mác-cô-vô. Tất nhiên, chúng tôi biết trước là con tàu đã bị đắm, nếu không đoàn người trên tàu chắc không bao giờ bỏ nó. Chúng tôi cũng biết rằng tất cả những người sống sót của đoàn thám hiểm đã đi về phương Nam, họ đã tới lục địa, họ đã vượt qua dãy A-na-đia và đã đến Thung lũng Bốn cây Thập ác… Nhưng tất cả điều đó chỉ là bề ngoài của các sự kiện, và nó không giải thích được cho chúng tôi là tại sao một bi kịch đã xảy ra ở Thung lũng Bốn cây Thập Ác, tại sao trong suốt đời mình, Dan-xơ-man vẫn tự đặt ra một câu hỏi để tìm hiểu xem họ đã xử sự đúng hay sai… Máy chiếu thời gian không thể giúp được gì cho chúng tôi cả và các nhật ký đều câm lặng: những con người kiệt sức ít quan tâm phân tích mối quan hệ giữa họ với nhau, họ tự bằng lòng với việc đấu tranh để cứu mình… - Bọn mình đặt mọi hy vọng vào cậu đấy, Véc-bi-nin ạ, Bê-rê-xkin bảo tôi. - Vào mình ấy à? - Phải, vào cậu đấy. Một hôm cậu đã giải thích cho mình sự khác nhau giữa công việc của nhà văn và công việc của người điều tra. Thậm chí, mình còn nhớ câu nói của cậu:” Người làm công tác điều tra đi từ sự kiện đến tính cách, còn nhà văn đi từ tính cách đến sự kiện”. Thật vậy, chúng tôi đã có hôm thảo luận với Bê-rê-xkin về đề tài này. Tôi không nhớ là nhân dịp nào, nhưng tôi đã nói với anh là quá trình sáng tác văn học chia ra làm hai giai đoạn. Nhà văn làm chủ được tình thế chừng nào mà ông ta chọn lọc được tính cách của các nhân vật và đề ra cho chúng những tình huống xác định. Nhưng khi các tình cách này đã hình thành và tác giả đã dắt chúng vào trong một tình huống cụ thể, thì nhà văn trở thành người quan sát: các nhân vật của ông ta bắt đầu hoạt động một cách độc lập, phù hợp với các phẩm chất bên trong của họ và trong ý nghĩ của nhà văn, đó là những nhân vật sống mà không ai có thể khuất phục được. Đã từ lâu tôi đã đi đến kết luận là các nhân vật sáng tác hành động theo óc tưởng tượng của nhà văn, giống hệt như những người đang sống có cùng những tính cách ấy và ở trong cùng những tính cách ấy. Quả vậy, điều ấy chỉ có liên quan đến cách cư xử logic của chúng, nhưng có đúng là điều chủ yếu hay không? - Cậu muốn nói gì vậy? Tôi hỏi Bê-rê-xkin, khi đã đoán ra dụng ý của anh… - Mình muốn là cậu bắt tay vào việc, anh trả lời. Bọn ta đều biết tính cách của các nhân vật của chúng ta và hoàn cảnh của họ. Cậu thử đoán xem phản ứng của họ ra sao? Đây chính là trường hợp không một máy tính điện tử nào có thể thay thế được bộ óc con người… Cậu hãy nhớ lại, ở Xai-an, cậu đã tuyên bố với bọn mình là bộ óc mới thật là chiếc máy chiếu thời gian. Tôi nhớ lại tất cả những điều ấy, tất nhiên, nhưng để sáng tác cần phải có một sự chuẩn bị bên trong đặc biệt, một trạng thái tinh thần đặc biệt. - Vậy thì hãy tìm chúng đi, Bê-rê-xkin mỉm cười nói, nhưng phải khá cương quyết. Sauk hi phân tích tất cả mọi điều chúng tôi đã biết, tôi hiểu rằng nhiệm vụ không đến nỗi khó khăn như lúc đầu tôi đã tưởng. Những ghi chép do Jin-xốp để lại nói về các bạn đồng hành của ông, việc ông mô tả lần va chạm đầu tiên và những ghi chép cuối cùng mà Dan-xơ-man lúc hấp hối, người đã đọc những từ “kẻ cứu mạng” và “Chéc-kê-chin” hầu như sát cạnh nhau, cho phép hình dung những sự kiện đã xảy ra sau khi con tàu bị phá hủy và đã dấn đến việc trục xuất trung úy Chéc-kê-chin ra khỏi đoàn thám hiểm… Quả thật, người ta đã đuổi hắn. Việc này được nói đến rất ngắn gọn, nhưng có kèm theo các lý do trong một tờ ghi nhỏ tìm thấy lẫn trong các giấy tờ khác ở căn nhà gỗ… Sau đây là những sự kiện của những tháng cuối cùng mà tôi mường tượng. … Bị các tảng băng đè bẹp, con tàu của đoàn thám hiểm Bắc cực của Jin-xốp đã chìm xuống đáy biển. Hoảng hốt vì sự kiện mới xảy ra, mất phương hướng, đoàn người đã chứng kiện những đợt sóng đen ngòm khép lại trên con tàu. Mỗi người đều hiểu rằng điều vừa xảy ra là không thể vãn hồi được và không còn trông chờ được ai giúp đỡ nữa. Tôi dùng từ mất phương hướng là có dụng ý. Cả nhà thiên văn học Ma-du-rin, nhà nhân chủng học Cô-nê-plep, bác sĩ Dan-xơ-man lẫn thủy thủy Rô-đa-nốp, chưa có ai từng tham gia vào một đoàn thám hiểm Bắc cực nào, và không có chút kinh nghiệm nào đi qua vùng băng giá, chỉ riêng có một người có kinh nghiệm nhất trong số đó, trung úy Chéc-kê-chin, là giữ được bình tĩnh. Hắn cảm thấy mình là nhân vật chính, người quyết định số phận của mọi người khác và với tình cách kiêu hãnh, ưa áp chế mà người ta đã biết, chỉ có thể khuyến khích thêm lòng dũng cảm tự nhiên của hắn. Tôi không hề nghi ngờ gì là chính Chéc-kê-chin đã lấy lại tinh thần cho đồng đội, đem lại niềm hy vọng thoát nạn cho họ và khả năng chiến đấu… Chính hắn đã dẫn những người bị đắm tàu đến bờ biển hoang vắng ở Chu-cốt-ca… Mọi người theo hắn, và Chéc-kê-chin ngày càng thấy được quyền hành và tầm quan trọng của mình. Dần dần, hắn không hiểu được nữa là kỷ luật tự giác và sự khuất phục là hai điều khác nhau; hắn quên rằng chỉ có đấu tranh chung mới có thể bảo đảm cứu cả đoàn. Hắn tự cho mình có công lao về tất cả mọi việc mà các bạn đồng hành bất hạnh của hắn đã làm, và hắn bắt đầu ngày càng khinh bỉ họ… Tuy nhiên, thái độ hắn có những biểu hiện mới: hắn trở nên từ tốn hơn đối với các công tác việc khác học của đoàn thám hiểm, đối với thuyền phó Gô-vô-rốp và đồng thời, cục cằn và phũ phàng hơn đối với các thủy thủ và những người I-a-cút, đến mức đánh đập họ. Và dĩ nhiên Rô-đa-nốp phải chống lại thái độ ấy. Nhưng lần này anh không được sự ủng hộ chung. Một vài người được Chéc-kê-chin phỉnh nịnh như nhà thiên văn học Ma-du-rin và bác sĩ Dan-xơ-man thì giữ im lặng, còn những người khác, thủy thù và các người Ia-cút lại bàng hoàng vì hoàn cảnh bất thường, đã không dám chống đối. Một lần nữa nguyên tắc “chia để trị” được ứng nghiệm… Chéc-kê-chin lợi dụng ngay điều đó, và trong suốt đoạn đường tiếp theo, hắn bắt những người Ia-cút và các thủy thủ làm mọi công việc nặng nhọc nhất… Rô-đa-nốp hiểu ý định của Chéc-kê-chin: hắn định cuuws những người này bằng cách hy sinh những người khác; hay nói đúng hơn là để tự cứu bản thân hắn. Nhưng hắn biết rằng hắn không thể làm được điều ấy một mình, chính vì vậy, hắn muốn đưa thủy thủ và những người Ia-cút đến chỗ chết để những người khác có thể giữ được sức lực… Hắn đặc biệt cứng rắn đối với những người Ia-cút, và chính điều này đã giúp Rô-đa-nốp có được một bạn đồng minh đầu tiên, nhà nhân chủng học Cô-nô-plép. Một hôm, trong khi Chéc-kê-chin đánh đập, bắt những người Ia-cút kiệt sức phải cất bước, thì Rô-đa-nốp và Cô-nô-plép liền bảo vệ họ… Dan-xơ-man và Ma-du-rin trong thâm tâm đứng về phía họ, nhưng ý chí lại bị tê liệt và không có đủ can đảm để cùng với họ chống lại Chéc-kê-chin, người đã cứu sống họ một lần; còn Gô-vô-rốp, thuyền phó thì cố sức hòa giải mọi bất đồng. Nhưng đó là điều không thể làm được. Đoàn người nhỏ bé ấy, bị lạc giữa băng tuyết, cũng bị chia rẽ bởi cùng những mâu thuẫn như cả đất nước trong đó cuộc cách mạng đang chín muồi. Trong bọn họ cũng có một số người toan áp bức những người khác vì các thành kiến giai cấp và thành kiến dân tộc. Và ở đây sự chống đối cũng lớn lên. Sự bất bình đẳng do Chéc-kê-chin gây ra trở nên quá lộ liễu. Nó đặc biệt không thể chịu nổi khi mọi người đã đến đất liền… Kiệt sức và đói khát, trong những điều kiện khắc nghiệt của mùa đông, họ vượt qua dãy núi A-na-dia và đến một thung lũng nhỏ. Tại đó họ khám phá ra một căn nhà gỗ bỏ hoang và hay cây thập ác lớn được cắm từ lâu năm… Có thể là các cây thập ác đã gây ra cho nhiều người trong bọn họ những ý nghĩ bi quan. Những sức lực cuối cùng biết mất, dự trữ lương thực sắp hết, hầu như không còn hy vọng được cứu thoát và những người cảm xúc nhất đã tưởng như mình đang hấp hối giữa băng tuyết. Chéc-kê-chin quyết định nghỉ lại vài ngày trong căn nhà mà ngay từ đầu đã có vẻ ảm đạm vì cái chết của Ma-du-rin. Ma-du-rin không tỏ ra yếu hơn các người khác, nhưng mới buổi tối đi ngủ, hôm sau ông đã không dậy nữa… Huyệt của ông được đào ngay bên cạnh hai cây thập ác cũ, và Rô-đa-nốp cắm thêm một cây thập ác mới để kỷ niệm đoàn thám hiểm Bắc cực An-đơ-rây Jin-xốp đã kết thúc bi thảm như vậy. Cái chết của Ma-du-rin tác động đến Chéc-kê-chin như một nhát roi. Hai ngày sau có những sự kiện dẫn đến hậu quả thê thảm: Chéc-kê-chin buộc tội những người Ia-cút là Lia-pu-nốp và Mi-khai-ốp cùng thủy thủ Rô-đa-nốp đã ăn cắp lương thực, và hắn đòi mọi người phải đuổi họ ra khỏi đoàn, không cấp lương thực cho họ. Đó là bắt họ phải chết. Chéc-kê-chin hy vọng rằng bằng cách ấy hắn sẽ tự cứu được mình… Nhưng Chéc-kê-chin không thể lường được hậu quả sự thù hằn và khinh bạc của hắn đối với mọi người: tất cả lại nhất tề chống lại hắn. Người ta phát hiện được ngay chính hắn đã giấu lương thực. Viên cựu thuyền trưởng vồ lấy súng, nhưng bị tước ngay khí giới trước khi hắn kịp sử dụng… Cùng ngày hôm ấy, những người sống sót xử tội Chéc-kê-chin. Rô-đa-nốp đề nghị trả hắn phần lương thực quy định như mọi người khác và đuổi hắn đi. Chỉ một mình Dan-xơ-man chống lại ý kiến ấy. Ông nêu các công lao của Chéc-kê-chin, nhắc lại rằng hắn đã đưa con tàu gần đến đảo Ben-nét như thế nào, hắn đã dẫn cả đoàn tới đất liền ra sao, nhưng vô ích. Rô-đa-nốp, Cô-nô-plép và những người khác vẫn kiên quyết. Trước mắt Chéc-kê-chin, người ta chia lương thực ra thành những phần bằng nhau, và một phần dưa cho hắn… Dan-xơ-man lại lên tiếng bênh vực và khi ấy Rô-đa-nốp đề nghị ông cùng đi với Chéc-kê-chin. Dan-xơ-man sợ hãi im bặt. Ngày hôm sau, Chéc-kê-chin rời Thung lũng Bốn Câp Thập ác. Đối với hắn cũng như đối với mọi người khác, cơ hội thoát chết rất hiếm. Vì vậy Rô-da-nốp đề nghị để lại một phần các nhật ký hành trình trong căn nhà, hy vọng rằng có thể sau này một ai đố sẽ tìm thấy chúng và gửi về Pê-téc-xbua. Xong xuôi đâu đấy mọi người lại lên đường. Số phận họ ra sao, chúng tôi không biết được, trừ Rô-da-nốp và Dan-xơ-man có thể hiểu đến cùng. Còn Chéc-kê-chin?... Hắn trở lại căn nhà. Điều khó khăn nhất là giữ được can đảm khi người ta chỉ có một mình. Chéc-kê-chin đã không vượt qua được thử thách này. Rất có thể là hắn quay lại, rã rời, không có khả năng đấu tranh một mình để tồn tại với ý định ăn năn hối lối, nhưng không còn thấy ai nữa. Trong một cơn tức giận bất lực, hắn đã xé nát các nhật ký của đoàn thám hiểm và rồi… Phần tiếp theo chúng tôi đã mục kích trên màn ảnh của máy chiếu thời gian. Tôi hình dung các sự kiện đã xảy ra sau khi con tàu bị đắm là như vậy. Trong khi sửa soạn trở lại Mác-cô-vô, dù không hy vọng lắm vào kết quả, chúng tôi vẫn quyết định đưa vào máy chiếu thời gian cái gói mà Dan-xơ-man giấu đi, bây giờ đã khô. Mãi máy vẫn từ chối không thực hiện chương trình, và Bê-rê-xkin phải lặp lại nhiều lần bằng cách thay đổi chương trình. Cuối cùng, một bóng người mờ mờ hiện ra trên màn ảnh. Nó lập tức gợi cho chúng tôi nhớ đến hình ảnh người có khuôn mặt sắt đá mà chúng tôi đã thấy một lần. - Có phải hắn không? Bê-rê-xkin hỏi. - Mình tin là đúng hắn, tôi trả lời. Bê-rê-xkin lại điều chỉnh chương trình một lần nữa và hình ảnh trỏ nên rõ hơn một chút. - Chéc-kê-chin, Bê-rê-xkin nói. Mìn tin chắc là hắn. Quyển vở là của hắn chứ không phải của Dan-xơ-man. Cậu hãy nhớ lại lời hắn:” không nên nương nhẹ” và “ mục đích biên hộ cho phương tiện” v.v… Đó là những lời hắn viết khi chuẩn bị cho cuộc phiêu lưu của hắn. Lúc thất bại, mình không rõ vì sao, hắn đã để lại quyển vở cho Dan-xơ-man, thành viên duy nhất của đoàn thám hiểm tỏ ra hơi có thiện cảm với hắn. Có lẽ hắn cho rằng Dan-xơ-man có nhiều cơ hội thoát chết hơn. Giả thuyết này đối với tôi có vẻ đúng, và tôi nói điều rấy với Bê-rê-xkin đồng thời nói thêm rằng, sau đó vì không bao giờ biết số phận của Chéc-kê-chin kết thúc ra sao, Dan-xơ-man bị giày vò cho đến khi chết, do nghi ngờ và lương tâm bị cắn rứt. Ông ta cũng không bao giờ có thể khẳng định được là đoàn thám hiểm đã xử sự đúng hay sai đối với Chéc-kê-chin. Ông ta đánh mất quyển nhật ký khi về đến Cơ-ra-xnô-đa sau cách mạng, nhưng ông quyết tâm sắp xếp lại tất cả các sự kiện nhớ được để cho biết điều gì đã xảy ra. … Ngay chiều hôm ấy, máy bay lên thẳng của chúng tôi cất cánh. Chúng tôi trông thấy Thung lũng Bốn cây Thập ác lần cuối cùng, ốc đảo rừng nhỏ xíu mất tăm đó ở hoang mạc Bắc cực, và chúng tôi hướng về Mác-cô-vô. Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được, số phận đoàn thám hiểm Bắc cực mất tích đã được soi sáng. Còn máy chiếu thời gian?... Nó đã trải qua các thử thách có kết quả. Nó đã giúp chúng tôi rất nhiều, Bê-rê-xkin và tôi,cchúng tôi rất hy vọng rằng nó còn phục vụ chung tôi tốt hơn nữa trong tương lai. -------------------------- HẾT -------------------------- P/s: Xin mời đón đọc tiếp theo truyện ngắn PHƯƠNG TRÌNH MÁC-XOEN của tác giả A-na-to-li Đơ-nê-pơ-rốp. |
A-na-tô-li Đơ-nê-pơ-rốp
Phương trình Mác-xoen Chương 1 Đó là một buổi chiều thứ bảy, mệt mỏi vì làm toán mãi, tôi giở một tờ báo địa phương ra xem. Bỗng tôi chợt thấy ở trang cuối một bảng quảng cáo: "Công ty Cơ-ráp-stút nhận các công việc về tính toán và giải tích toán học cho mọi tổ chức và tư nhân. Bảo đảm chất lượng cao. Hỏi số nhà 12 phố Oen-xtơ-rát". Đó chính là điều tôi đang cần. Từ mấy tuần lễ nay, tôi miệt mài giải các phương trình Mác-xoen, mô tả diễn biến của các sóng điện từ trong trường hợp đặc biệt ở một môi trường dị thể theo một cấu trúc nào đó. Cuối cùng, bằng cách dùng các phép tính gần đúng và đơn giản hóa, tôi đã đưa được chúng về dạng cỏ thể giải được nhờ một máy tính điện tử. Tôi đã tưởng mình phải đi đến thủ đô, yêu cầu ban lãnh đạo trung tâm tính toán vui lòng làm giúp hộ tôi các phép tính cần thiết. Chả là hiện nay trung tâm này đang bị tràn ngập bởi các hợp đồng quân sự, và họ rất ít quan tâm đến các nghiên cứu lý thuyết của một nhà vật lý ở tỉnh lẽ đang chú ý đến các qui luật chi phối sự lan truyền các sóng vô tuyến điện. Và đây một trung tâm tính toán được thành lập trong thành phố nhỏ bé của chúng tôi, đang quảng cáo trên báo chí để tìm kiếm khách hàng. Tôi cầm lấy máy điện thoại định gọi ngay cho công ty Cơ-ráp-slút. Nhưng đến lúc này tôi mới nhận thấy rằng, ngoài địa chỉ, tớ báo không cho biết thêm một chỉ dẫn nào khác. Một trung tâm tính toán không có đến cả máy điện thoại. Không có lẽ, tôi gọi dây nói cho ban biên tập tờ báo. - Tôi rất tiếc, người thư ký trả lời tôi, nhưng đó chính là tất cả những gì mà chúng tôi nhận được của Cơ-ráp-slút. Không một số máy điện thoại nào được ghi chí trên lời rao vặt của ông ta. Số máy điện thoại của công tư Cơ-ráp-slút cũng không có cả trong số danh bạ nữa. Tôi đành đợi đến thứ hai, ruột nóng như lửa đốt. Một lần nữa, tôi cố bứt mình ra khỏi các phương trình được ghi cẩn thận trên giấy, mà đằng sau chúng, tôi dự đoán có những quá trình vật lí phức tạp, để suy nghĩ về công ty Cơ-ráp-slút. "Đó mới thực là những kẻ thính mũi, tôi nghĩ. Ở thời đại chúng ta, khi người ta đang tìm cách phiên dịch mọi tư tưởng của con người thành các công thức toán học, thật khó mà tìm ra được một hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận hơn". À, mà Cơ-ráp-slút là ai nhỉ? Tôi ở thành phố này đã lâu nhưng cái tên này hầu như không gợi cho tôi điều gì cả. Tôi nhớ rằng đã gặp cái tên này ở đâu đó. Nhưng gặp ở đâu, khi nào, trong các trường hợp nào thì tôi không thể nhớ lại được. Cuối cùng, cái ngày thứ hai xiết bao chờ đợi đã đến. Sau khi đã xếp cẩn thận các tờ giấy viết đầy phương trình vào túi, tôi đi tìm phố Oen-xtơ-rát, số 12. Mưa rơi lâm râm khiến tôi đành phải gọi taxi. - Khá xa đấy, người lái xe bảo tôi, ở bên kia sông, ngay bên cạnh bệnh viện. Tôi gật đầu và chúng tôi khởi hành. Cuộc hành trình kéo dài khoảng bốn mươi phút. Chúng tôi vượt qua cổng thành phố, qua cầu, vòng quanh hồ nước, rồi đến đồng ruộng. Cỏ sớm mọc lác đác đây đó. Đường không được rải đá nên xe thỉnh thoảng lại phải dừng lại, các bánh sau trượt trong đất sét lầy quanh. Cuối cùng, chúng tôi thấy các mái nhà, rồi các bức tường gạch đỏ của bệnh viện nằm trong một chỗ đất trũng mà trong thành phố người ta gọi đùa là "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". Con đường bò dọc theo một bức tường gạch, bên trên có cắm rải rác các mảnh thủy tinh vỡ. Sau một vài lần rẽ, người lái xe dừng lại trước một chiếc cổng nhỏ. - Số nhà 12 đây. Tôi ngạc nhiên một cách khó chịu khi nhận thấy rằng cổng ra vào căn nhà của công ty Cơ-ráp-slút cũng thuộc vào dãy "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". "Có lẽ nào Cơ-ráp-slút lại sử dụng những người mắc bệnh thần kinh để thực hiện các công trình toán học đủ loại?" tôi tự hỏi vậy, và ý nghĩ này làm tôi mỉm cười. Tôi bấm chuông và phải đợi khá lâu, ít nhất là năm phút. Cuối cùng, cửa mở và một người đàn ông xanh xao, tóc rậm, rối bù hiện ra, mắt hấp háy trước ánh sáng ban ngày. - Thưa ông...hắn ta nói với tôi. - Có phải công ty Cơ-ráp-slút ở đây không?... tôi hỏi. - Vâng. - Các ông đã quảng cáo trên báo... - Vâng. - Tôi đến đặt hàng cho ông. - Xin mời ông vào. Tôi đề nghị anh lái xe đợi tôi và cúi mình bước qua cửa. Cửa đóng lại, và tôi thấy mình đứng trong bóng tối dày đặc. - Mời ông theo tôi. Chú ý, đây có các bậc lên xuống. Bây giờ rẽ trái. Lại các bậc, chúng ta hãy lên gác. Vừa nói, người dẫn đường vừa nắm tay tôi kéo tôi đi theo các hành lang ngoằn ngoèo, lúc lên lúc xuống. Cuối cùng, một làn ánh sàng vàng vàng, yếu ớt len lỏi trên đầu chúng tôi. Sau khi đã leo một cầu thang bằng đá dựng đứng, chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ. Người trẻ tuổi bước nhanh lại đằng sau một bức vách, mở cửa ghi-sê và nói: - Tôi xin nghe ông. Tôi có cảm giác mình không đến đúng nơi muốn đến. Chỗ tranh tối tranh sáng này, con đường ngoằn ngoèo dưới đất này, và cuối cùng, căn buồng không cửa sổ, được một boíng điện duy nhất treo trên trần chiếu sáng gây cho người ta một cảm giác kỳ lạ. Tôi đứng đấy, đưa mắt nhìn quanh không hiểu gì cả. - Tôi xin nghe ông, người trẻ tuổi thò đầu ra khỏi cửa ghi-sê nhắc lại. - À vâng! Có phải là trung tâm tính toán của công ty Cơ-ráp-slút ở đây không? - Vâng, vâng, ,anh ta ngắt lời tôi, không khỏi có ý hơi sốt ruột. Tôi đã nói với ông rằng nó ở đây. Đơn đặt hàng của ông gồm những gì? Tôi rút trong túi ra các tờ giấy có các phương trình và đưa cho anh ta ghi ghi-sê. - Đây là phép tính gần đúng bậc nhất của phương trình với đạo hàm từng phần, tôi bắt đầu giải thích, không tin tưởng lắm. Tôi mong muốn các ông giải chúng, ngay cả nếu các ông chỉ thu được một lời giải bằng số, chẳng hjan, ở ngay gần sát mặt phẳng phân cách hai môi trường... Ông hiểu chứ, đây là một phương trình tán sắc, và trong trường hợp này, tốc độ truyền sóng vô tuyến điện thay đổi ở từng điểm. Gấp tờ giấy của tôi lại, người trẻ tuổi nói ngay: - Tất cả đều đã rõ. Bao giờ ông cần bài giải? - Thế nào, bao giờ à? Tôi ngạc nhiên. Chính là ông cần nói cho tôi biết khi nào ông có thể đưa nó cho tôi được. - Liệu ngày mai có được không? Anh ta liếc nhìn tôi bằng cặp mắt đen sâu thẳm và hỏi. - Ngày mai à? - Vâng, ngày mai vào khoảng trưa... - Trời, ông có máy tính gì vậy? Nó giải nhanh thế kia ư? - Vậy thì trưa mai ông sẽ nhận được lời giải bài toán của ông. Bốn trăm mác. Phải trả ngay bằng tiền mặt. Không nói thêm một lời, tôi đưa tiền cho anh ta cùng với một tấm danh thiếp mang tên và địa chỉ của tôi. Khi tiễn tôi, người trẻ tuổi hỏi: - Chính ông là giáo sư Rốt đấy ư? - Vâng. Tại sao ông lại hỏi thế? - Ồ, thế thôi. Chúng tôi nghĩ rằng không sớm thì muộn thế nào ông cũng sẽ đến thăm chúng tôi. - Tại sao vậy? Tôi hỏi. Ở cái xó này liệu chúng tôi còn có thể đợi đơn đặt hàng của ai nữa? Câu trả lời đối với tôi có vẻ khá hợp lý. Tôi vừa cất lời tạm biệt người trẻ tuổi xong thì cánh cửa đã đóng sập lại sau tôi. Trên đường về, tôi cứ suy nghĩ mãi về cái trung tâm tính toán kỳ lạ ấy ở bên cạnh "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". Ở đâu và khi nào tôi đã gặp cái tên Cơ-ráp-slút này nhỉ? (Còn tiếp) |
Chương 2 Ngày hôm sau tôi nóng lòng đợi chuyến thư buổi trưa. Vào hồi 11 giờ rưỡi, có tiếng chuông reo ở cửa, tôi nhảy vội ra mở cửa cho người đưa thư. Tôi vô cùng ngạc nhiên trước một thiếu nữ mảnh dẻ và xanh xao. Cô mang một gói giấy xanh to. - Ông là giáp sư Rốt? cô hỏi. - Vâng. - Đây là gói hàng của Cơ-ráp-stút gửi cho ông. Xin ông ký nhận cho. Một tên độc nhất, tên tôi, được ghi trên trang đầu của cuốn sách cô đưa cho tôi. Tôi ký vào đó và đưa một đồng tiền cho cô gái. - Không, không, cảm ơn! Cô kêu lên và sau khi lí nhí nói câu "tạm biệt" khó nghe thấy, cô bỏ đi. Gói hàng đựng các bức ảnh chụp lại các trang giấy kín đặc một loại chữ viết rất nhỏ. Lúc đầu tôi nhìn chúng mà không hiểu gì cả. Tôi đã chờ đợi một cái gì hoàn toác khác với một máy tính điện tử: những cột dài chữ số biểu thị, một bên là các dữ kiện của bài toán và bên kia là lời giải. Không có điểm nào giống với cái tôi đang có trong tay; nó là cách giải vô cùng chính xác các phương trình của tôi. Tôi đọc lướt trang này đến trang khác, càng ngày càng bị lôi cuốn vào việc đọc các phép tính đó mà sự tài giỏi làm tôi kinh ngạc. Người nào đó đã giải các phương trình của tôi, nắm vững trong lĩnh vực này những kiến thức mà ngay các nhà toán học cỡ lớn cũng phải ao ước. Để đi đến cách giải, ông ta sử dụng một công cụ toán học đáng kể: lý thuyết phương trình vi phân và tích phân, tuyến tính và phi tuyến tính, lý thuyết các hàm biến phức, lý thuyết nhóm, lý thuyết tập hợp, và cả một vài ngành toán khác như Tô-pô, lý thuyết số và ngay lô-gích toán, tưởng như không có chút liên quan nào đến bài toán đã ra. Tiếp theo cách tổng hợp một số lớn các định lý, các phép tính trung gian, các công thức và phương trình, tôi không giữ nổi một tiếng kêu thán phục, khi cuối cùng xuất hiện chính lời giải: một công thức toán học chiếm trọn ba dòng liền. Nhưng điều đáng kinh ngạc nhất là nhà toán học vô danh kia đã quan tâm đến việc viết công thức dài dòng trên dưới dạng mà trong khoa học của chúng tôi người ta gọi là " dạng thấy được". Ông ta đã tìm thấy một công thức gần đúng rất hợp lý, ngắn gọi và rõ ràng, chỉ bao gồm các biểu thức đại số và lượng giác sơ cấp. Cuối tác phẩm kèm theo một mảnh giấy biểu diễn đồ thị lời giải các phương trình. Không còn mong muốn gì hơn nữa. Phương trình mà tôi cho rằng không giải được thành các số hạng hữu hạn, đã được giải một cách vô cùng tuyệt diệu. Khi đã bình tĩnh lại, sau cơn ngạc nhiên và thán phục ban đầu, tôi bắt đầu đọc lại các trang giấy dày đặc công thức. Lần này tôi có nhận xét là người đã giải bài toán của tôi viết rất nhanh, chữ viết rất nhỏ, hình như ông ra muốn tiết kiệm từng milimet giấy và từng giây đồng hồ. Ông ta đã viết kín tất cả hai mươi tám trang và tôi thầm tính công việc mà ông ta đã làm mới nhiều làm sao! Hãy thử viết tay hai mươi tám trang trong hai mươi bốn giờ. Hãy thử chỉ chép lại hai mươi tám trang của một cuốn sách, không suy nghĩ, không tìm hiểu lấy một chữ, và bạn sẽ thấy điều đó biểu hiện một việc làm như thế nào. Thế mà, trong trường hợp này, không phải là một bức thư gửi cho bạn bè, cũng không phải việc chép lại một cuốn tiểu thuyết cũ, nhưng lại là lời giải của bài toán rất phức tạp. Và bài toán đã được giải trong hai mươi bốn giờ! Tôi đã để nhiều thời gian đọc các trang viết này, càng ngày càng kinh ngạc. Không biết Cơ-ráp-Stút đã kiếm đâu ra được nhà toán học này? Trong căn nhà ấy ông ta đã sống trong các điều kiện như thế nào? Ông ta là ai? Một thiên tài vô danh? Hay một trong các bậc kỳ tài nào đó của nhân loại mà đôi khi ta gặp ở ranh giới của những con người bình thường và bất bình thường? Có lẽ Cơ-ráp-Stút đã tìm thấy mẫu duy nhất đó trong "nơi ẩn dật" của các bậc hiền triết chăng? Cũng có khi các nhà toán học có tài kết thúc đời mình trong Viện điều dưỡng. Có lẽ ông này cũng thuộc loại này chăng? Suốt ngày hôm ấy, các ý nghĩ trên không ngừng dằn vặt tôi. Tuy nhiên, sự việc là đây. Bài toán của tôi không phải được giải qua một máy tính, mà do một con người, một nhà toán học thiên tài mà thế giới chưa biết đến. Ngày hôm sau, bình tĩnh hơn một chút, tôi đọc lại lần nữa lời giải của bài toán. Lần này vừa đọc vừa thưởng thức, như thể người ta thưởng thức một bản nhạc hay. Lời giải này vừa hay vừa rõ ràng đến mức tôi quyết định... làm lại thí nghiệm và đặt cho Công ty Cơ-ráp-Stút một bài toán khác. Thật vô cùng may mắn, đó là cái tôi không thiếu. Tôi chọn một phương trình mà cách giải không thể diễn đạt bằng các số hạng hữu hạn và cũng không thể đặt dưới dạng thuận tiện cho việc giải bằng máy tính. Phương trình này cũng đề cập đến vấn đề truyền sóng vô tuyến, nhưng trong một trường hợp rất đặc biệt và vô cùng phức tạp. Thông thường, các nhà vật lý lý thuyết chỉ đặt các phương trình loại này trên giấy để ngắm nghĩa và rồi quên đi, do chúng quá phức tạp nên chẳng ai cần đến chúng. Vẫn người trẻ tuổi mắt lim dim ngoài ánh sáng tiếp đón tôi. Anh ta nở một nụ cưới châm biếm. - Tôi lại có một bài toán... tôi bắt đầu nói. Anh ta gật đầu, và cũng như lần trước, dẫn tôi đi qua các hành lang tối tăm đến căn buồng tiếp khách âm u. Bây giờ tôi đã biết thủ tục, do đó, tôi lại gần cửa kính ghi-sê, đưa cho anh ta phương trình của tôi. - Như vậy là, tôi nói, không phải các máy tính giải các bài toán này à? - Như ông thấy đấy, anh ta trả lời, mắt không rời tờ giấy. - Người nào đã giải bài toán đầu tiên của tôi quả là một nhà toán học có tài, tôi nói. Người trẻ tuổi bận đọc tờ giấy ghi của tôi nên không trả lời. - Chỉ có một mình ông ta, hay các ông có nhiều người như vậy làm việc cho các ông? tôi hỏi. - Điều ấy không có gì là quan trọng đối với công việc mà ông cần đến. Chúng tôi bảo đảm... Anh ta không kịp nói hết câu. Một tiếng thét khủng khiếp phá tan sự im lặng. Tôi giật nảy người và lắng tai nghe. Tiếng kêu phát ra từ sau bức tường bên trong. Ai đó thét lên, hay nói đúng hơn là gào lên, như thể người ta đang tra tấn hắn, người trẻ tuổi liếc nhìn sang bên và nắm tay tôi, kéo tôi đi ra cửa. - Cái gì xảy ra thế? tôi vừa thở vừa hỏi anh ta. Thay cho câu trả lời, anh ta nói vội: - Ngày kia ông sẽ nhận được lời giải, vào buổi trưa. Hãy trả tiền cho người mang đến. Và ngay sau đó, anh ta để lại một mình tôi bên chiếc xe taxi. (Còn tiếp) |
Chương 3 Có cần phải nói rằng sau câu chuyện này tôi đã mất hết bình tĩnh hay không? Không giây phút nào tôi quên được cái tiếng kêu khủng khiếp đã vang lên dưới các vòm đá ở trung tâm tính toán của công ty Cơ-ráp-Stút. Hơn nữa, tôi vẫn còn bị day dứt bởi sự việc là chỉ một người, trong hai mươi bốn giờ, đã giải được xong xuôi bài toán của tôi. Tôi cũng vô cùng nóng ruột chờ đợi lời giải của bài toán thứ hai. Nếu nó cũng được giải, thì... Hai hôm sau, tôi đã cầm trong đôi bàn tay run rẩy của mình cái gói do người đưa thư của công ty Cơ-ráp-Stút mang đến. Nhìn qua thể tích của nó, tôi cảm thấy nó có cách giải bài toán thứ hai, mặc dù bài toán này vô cùng phức tạp. Sợ hãi, tôi đưa mắt nhìn cô thiếu nữ gầy gò đang đứng trước mặt tôi. Bỗng một ý nghĩ thoáng qua óc tôi. - Mời cô vào chơi trong nhà, tôi đi lấy tiền. - Không, không, không cần thiết, cô ta vội trả lời, hình như cô sợ hãi thì phải. Tôi sẽ đứng đợi ở đây... - Nhưng mời cô hãy vào trong nhà, hơn là bị lạnh cóng ở cửa, tôi nói, và hầu như tôi phải dùng sức kéo cô vào trong nhà. Tôi cần phải xem xét bài giải xem nó có đang được trả công không. Cô gái đứng tựa lưng vào cửa và ngước cặp mắt to nhìn mọi cử chỉ của tôi, khẽ nói: - Điều đó bị cấm... - Cô bảo cấm cái gì? - Cấm vào nhà khách hàng... Thưa ông, đấy là những lời dặn dò... - Cô đừng băn khoăn gì về các lời dặn. Ở đây, tôi là chủ và không một ai biết được là cô đã vào nhà tôi. - Ồ, thưa ông... Họ sẽ biết hết, và khi ấy... - Khi ấy làm sao? tôi vừa hỏi vừa bước lại gần cô. - Ồ, thật khủng khiếp... Đột nhiên, cô cúi xuống và bắt đầu khóc. Tôi đặt tay lên vai cô, nhưng bỗng cô rùng mình và đứng xa ra. - Hãy đưa cho tôi ngay bảy trăm mác để tôi đi. Tôi đưa cho cô tập giấy bạc. Cô hầu như giật vội tiền khỏi tay tôi. Tôi không kìm được một tiếng kêu kinh ngạc khi mở gói hàng. Tôi trân trân nhìn các bức ảnh chụp lại rất lâu, hầu như không tin ở mắt mình nữa. Đây là một chữ viết mới. Một nhà toán học thiên tài thứ hai! Còn thiên tài hơn cả người thứ nhất. Liền trong năm mươi ba trang, ông ta đã giải các phương trình khó hơn các phương trình thứ nhất một cách không so sánh được, dưới dạng giải tích. Khi xem xét các tích phân, các tổng, các biến thiên và các ký hiệu khác của các môn toán học cao cấp nhất, tôi bỗng có cảm giác thấy mình ở trong một thế giới xa lạ, một thế giới toán học kỳ lạ, nơi mà các khó khăn chẳng có chút ý nghĩa nào cả. Chúng không tồn tại nữa, thế thôi. Nhà toán học hình như đã giải bài toán cũng dễ dàng như chúng ta cộng hay chia các con số có hai chữ số. Rất nhiều lúc, tôi ngừng đọc bài giải viết tay để tra cứu sách và các giáo trình về toán học. Tôi sững sờ về sự tài tình củ tác giả bài giải trong việc vận dụng các định lý và các chứng minh toán học khó khăn nhất. Tính logic toán học và phương pháp của ông ta thật không chê vào đâu được. Không còn nghi ngờ gì là nếu các nhà toán học của mọi thời đại và mọi quốc gia, các Nui-tơn, Lai-nit, Gao-xơ, Ơ-le, Lô-ba-xép-xki, Vây-éc-xtrat, Hin-be và các vị khác được đọc xem bài toán đã được giải như thế nào, thì thế nào các vị ấy cũng phải ngạc nhiên như tôi. "Không biết Cơ-ráp-Stút đã có thể chiêu mộ các nhà toán học này ở đâu?" Bây giờ thì tôi tin chắc rằng không phải chỉ ông ta sử dụng một hoặc hai, mà có lẽ là cả một nhóm. Ông ta làm thế nào để có thể xây dựng cả một công ty trên sự khai thác chỉ một hai hai người thôi. Thế thì không đáng tin. Bằng những cách nào mà ông ra đã đạt được điều ấy? Tại sao công ty của ông ta lại đặt trụ sở gần nơi an dưỡng của các người mắc bệnh thần kinh? Vậy thì sai đã thốt ra các tiếng kêu khủng khiếp đằng sau bức tường? Và tại sao kia? " Cơ-ráp-Stút, Cơ-ráp-Stút..." cái tên này cứ quay cuồng trong đầu tôi. Ở đây và khi nào tôi đã gặp hắn? Hắn che giấu cái gì? Tôi đi đi lại lại trong phòng làm việc, hai tay ôm lấy đầu, tìm cách nhớ lại xem tôi đã có thể biết rõ những gì về Cơ-ráp-Stút. Rồi tôi xem lại bản viết tay, thưởng thức nội dung của nó, đọc lại nó từng phần, đắm mình trong việc nghiên cứu các định lý trung gian và các công thức. Bỗng tôi giật mình. Tiếng kêu khủng khiếp đột nhiên trở lại trong trí nhớ của tôi, đồng thời với cái tên Cơ-ráp-Stút. Sự kết hợp này không phải là ngẫu nhiên. Sớm hay muộn tiếng thét của người bị tra tấn và cái tên Cơ-ráp-Stút cũng phải xích lại gần nhau. Đó là hai sự vật không tách rời nhau. Trong đại chiến thế giới thứ hai, một tên Cơ-ráp-Stút nào đó đã làm quan tòa trong trại tập trung của Hitle ở Gơ-ra-dơ. Những tội ác đã phạm và các đòn tra tấn mà hắn đã bắt những người bị giam phải chịu, khiến hắn đang bị két án tù chung thân ở toàn ám Nu-rem-be. Từ đây không còn nghe thấy nói về hắn. Tôi nhớ lại chân dung của hắn đăng trên các báo chí. Hắn mặc đồng phục sĩ quan SS, với đôi mắt to mở rộng như ngạc nhiên đằng sau chiếc kính kẹp mũi, trên một khuôn mặt nhu nhược, hơi béo phị. Không ai muốn tin rằng một người với khuôn mặt như vậy lại có thể là một tên đao phủ. Tuy nhiên các chứng cớ chi tiết và các kết luận của cuộc điều tra không còn gì đáng ngờ nữa. Hắn đã ra sao sau phiên tòa? Có phải người ta đã thả hắn, như biết bao tên đao phủ khác không? Nhưng toán học tham gia vào đây làm gì nhỉ? Giữa tên quan tòa - đao phủ và các bài giải thiên tài của các phương trình vi phân và tích phân có mối quan hệ gì? Đến chỗ này chuỗi mắt xích trong các suy tưởng của tôi bị đứt đoạn, và tôi cả thấy mình không sao nối chúng lại được. Thiếu một cái gì đấy, có một điều bí mật đâu đây. Tôi đã vắt óc mà không nghĩ ra được điều gì cả. Lại còn cô thiếu nữ sợ hãi và dút dắt, người đã nói với tôi: "Họ sẽ biết hết..." Sau mấy ngày suy nghĩ mệt mỏi, cuối cùng tôi hiểu rằng nếu tôi không khám phá ra bí mật này, tôi sẽ hóa điên mất. Tôi quyết định trước hết phải xác định xem Cơ-ráp-Stút này cí phải đúng là tên tội pham chiến tranh mà tôi biết hay không? (Còn tiếp) ******************* Đọc đến đây BZ thấy hồi hộp quá các bác ạ. |
Chương 4 Lần thứ ba, khi đứng trứoc chiếc cổng thấp của công ty Cơ-ráp-stút, tôi có cảm giác là sắp xảy ra một điều gì đó sẽ in dấu ấn trong cả đời tôi. Không hiểu tại sao, tôi cho xe taxi quay trở về và đợi cho đến khi nó khuất sau chỗ rẽ rồi mới bấm chuông. Hình như người trẻ tuổi có khuôn mặt già nua đã đợi sẵn. Lập tức hắn cầm lấy tay tồi và, không hỏi câu nào cả, dẫn tôi qua các đường hầm tăm tối đến căn buồng tiếp khách mà tôi đã đến đây hai lần. - Hôm nay ông đem đến cho chúng tôi cái gì? Anh ta hỏi tôi có pha chút mỉa mai. - Tôi muốn gặp chính ông Cơ-ráp-stút, tôi khẽ nói. - Ông có yêu sách điều gì chăng, thưa giáo sư? anh ta hỏi. - Tôi muốn gặp ông Cơ-ráp-stút, tôi nhắc lại, tránh nhìn đôi mắt to đen của anh ta, trong đó lóe lên một ánh xấu xa và mỉa mai. - Tùy ông. Đối với tôi, điều ấy không quan hệ gì, anh ta nói. Ông hãy đợi ở đây. Anh ta biến mất qua một trong các cánh của ở đằng sau bức vách có lắp kính và mãi nửa giờ sau vẫn không trở lại. Tôi hầu như đã thiu thiu ngủ. Bỗng, một tiếng cọ sát trên sàn nhà phá tan sự im lặng và một người mặc áo bờ-lu trắng, tay cầm ống nghe, từ chỗ tranh tối tranh sáng bước ra. "Một bác sĩ", tôi nghĩ. Ông ra sắp bắt mạch cho ta. Liệu điều đó có cần thiết để gặp Cơ-ráp-stút không? - Lại đây, viên bác sĩ nói, vẻ ra lệnh. Và tôi đi theo ông ta, không hiểu điều gì sắp xảy ra cho mình và tại sao tôi lại lao vào cuộc mạo hiểm này. Chúng tôi đi theo một hành lang dài có ánh sàng ban ngày từ trên chiếu xuống. Cuối hành lang là một cánh cửa đồ sộ. Viên bác sĩ dừng lại trước cửa. - Hãy đợi đây. Cơ-ráp-stút sắp tiếp ông đấy. Năm phút trôi qua, rồi viên bác sĩ mở rộng cánh cửa. - Nào, ông ta nói, bằng một giọng của kẻ hối tiếc một điều gì đó sắp xảy ra. Tôi ngoan ngoan theo ông ta. Chúng tôi bước vào trong một căn phòng được chiếu sáng qua các cửa tò vò rộng. Tôi vô hình nhắm mắt lại. Một giọng nói tàn nhẫn kéo tôi ra khỏi tình trạng đê mê. - Mời ông lại gần đâu, giáo sư Rốt. Tôi quay đầu về bên phải và trông thấy Cơ-ráp-stút ngồi trong một chiếc ghế bành bằng mây, đúng là tên mà tôi biết rất rõ qua vô số ảnh in trên báo chí. - Ông muốn gặp tôi? hắn hỏi, chẳng chào mà cũng chẳng đứng dậy. Tôi có thể giúp ông điều gì? Tôi nhanh chóng định thần lại và vừa nuốt nước bọt, tôi vừa tiến lại gần bàn hắn ngồi. - Thế ra ông đã đổi nghề rồi ư? tôi nhìn thẳng vào hắn hỏi. Mười năm qua, hắn đã già đi nhiều, da mặt có những nếp nhăn lớn. - Ông muốn nói gì vậy, thưa giáo sư? hắn ta vừa nói vừa quan sát tôi rất chăm chú. - Tôi nghĩ rằng, ông Cơ-ráp-stút ạ, hay tôi hy vọng rằng ông vẫn còn... - À, ra thế... Và Cơ-ráp-stút phá lên cười. - Thời thế đã thay đổi, ông Rốt ạ. Thay đổi nhiều. Nhưng điều mà tôi quan tâm không phải là các hy vọng của ông, mà là các lý do đã khiến ông có mặt ở đây. - Ông Cơ-ráp-stút, chắc ông đã đoán được rằng tôi hiểu đôi điều về toán học, tôi muốn nói về toán hiện đại. Lúc đầu, tôi tưởng rằng ông đã tổ chức một trung tâm tinh toán thông thường được trang bị bằng các máy tính điện tử. Hai thí nghiệm cho phép tôi nhận định rằng hoàn toàn không phải như vậy. Ở chỗ ông, chính các nhà toán học đã giải các bài toán được đặt ra, mà giải một cách thiên tài nữa kia. Nhưng điều kỳ lạ nhất là họ giải toán một cách nhanh chóng phi thường. Thế là tôi đến đây, nếu ông muốn để làm quen với các nhà toán học của ông, những người mà tôi tin chắc đều là những con người kỳ lạ. Cơ-ráp-stút mỉm cười, rồi hắn bắt đầu cười, lúc đầy khe khẽ rồi sau đó ngày càng to hơn. - Ông cười cái gì vậy, ông Cơ-ráp-stút? tôi bực mình hỏi. Điều mong muốn của tôi nực cười hay ngớ ngẩn đến thế kia ư? các bài do công ty của ông giài, tôi tin chắc vậy, làm ngạc nhiên bất cứ ai có hiểu biết đôi chút về toán học. - Tôi cười về điều khác kia ông Rốt ạ. Tôi cười vì thấy ông cũng thiển cận như mọi người dân tỉnh lẻ khác. Tôi vười vì thấy ông, một người được kính trọng như thế ở phố này, một người mà sự hiểu biết bao giờ cũng gây ấn tượng cho mọi người, ông lại chậm trễ đến như vậy trước sự tiến bộ mạnh mẽ của khoa học! Tính ngạo mạn của tên quan cũ của Hít-le làm tôi bàng hoàng. - Im đi! tôi kêu lên. Gần mười lăm năm trước đây ông là một kẻ chuyên tra tấn những người vô tội bằng sắt nung đỏ. Ông có quyền gì mà nói về khoa học hiên đại? Tôi đến đây, vì ông muốn biết điều này, để tìm hiểu xem ông đã dùng biện pháp nào để cưỡng bức những người có tài đang nằm trong tay ong phải thực hiện một công việc trong hai mươi bốn giờ mà thông thường đòi hỏi nhiều năm, nếu không phải cả cuộc đời của bất kỳ một thiên tài nào của nhân loại. Tôi rất sung sướng tìm thấy ông ở đây. Và tôi cho rằng đối với tôi, đó là nhiệm vụ công dân, nhiệm vụ của con người và của nhà khoa học, là phải làm cho tất cả mọi người dân của thành phố này biết rằng một tên đao phủ cũ của Hít-le đang hành hạ những người làm công tác khoa học, mà mục tiêu phấn đấu bao giờ cũng là hạnh phúc của con người. Cơ-ráp-stút rời khỏi chiếc ghế bành và tiến lại phía tôi, cau mày lại. - Hãy nghe đây, Rốt. Một lời khuyên anh: chớ làm ta tức giận. Ta biết rằng sớm hoặc muộn anh cũng sẽ đến ta. Nhưng ta không nghĩ rằng mình sẽ tiếp một tên ngu ngốc. Ta phải nhận rằng, ta chờ đợi ở anh, nếu anh muốn, một người cộng tác và một người giúp việc. - Sa... ao kia? tôi thét lên. Trước hết anh hãy giải thích cho ta biết anh đã dùng những biệp pháp lương thiện hay bất lương nào để bóc lột những người làm giàu cho anh. Khuôn mặt Cơ-ráp-stút dăn dúm lại, và nhuốm một màu vàng bẩn. Sau cặp kính mũi, đôi mắt xanh nhạt của hắn chỉ còn là hai khe hẹp tỏa ra một ánh lửa xanh căm hờn. Nhanh như chớp, tôi có cảm giác hắn đang xem xét tôi như một đồ vật mà hắn có ý định chiếm lấy. - Như vậy, anh muốn ta phải giải thích cho anh biết là công ty của ta hoạt động lương thiện đến mức độ nào phải không? Thế là hai bài toán ngốc nghếch của anh đã được giải đúng như ở thế kỷ 20 còn chưa đủ phải không? Có lẽ anh muốn tự mình thử thách xem giải những bài toán như vậy là như thế nào chăng? hắn rít lên. Bộ mặt gớm ghiếc của hắn giống như một chiếc mặt nạn sôi sục giận dữ và căm hờn. - Ta không tin rằng các biện pháp của anh là lương thiện. Tiếng tăm của anh đã đủ nghi ngờ điều ấy. Hơn nữa, ta đã không may phải nghe những tiếng rú của một trong những cộng sự của anh... - Đủ rồi! Cơ-ráp-stút thét lên. Cuối cùng, không phải ta đã yêu cầu anh đến. Nhưng vì anh đã đến trong một trạng thái tâm lý như vậy, anh sẽ phải phục vụ chúng ta, dù anh muốn hay không. Tôi đã không để ý tên bác sĩ dẫn tôi vào phòng của Cơ-ráp-stút, hắn luôn đúng đằng sau tôi trong suốt cuộc nói chuyện đó. Tên trùm công ty ra hiệu cho hắn và sau đó một bàn tay khỏe mạnh bịt mồm tôi, còn tay kia áp vào dưới mũi tôi một miếng bông tẩm một chất có mũi mạnh. Tôi ngất đi. (Còn tiếp) |
Chương 5 Tôi tỉnh dậy trên một chiếc giường, và tôi nắm rất lâu không dám mở mắt. Tôi nghe thấy tiếng người nói từ đủ mọi phía quanh tôi. Một cuộc tranh luận sôi nổi đang diễn ra. Một cuộc tranh luận khoa học, nhất định thế, nhưng trong một thời gian, tôi không hiểu gì cả. Cuối cùng, dần dần đầu óc tôi tỉnh táo ra và tôi đã hiểu được ý nghĩa của những điều người ta nói quanh tôi. - Ờ, cậu biết đấy, tên Ni-cô-la của cậu không phải là một bằng chứng có sức thuyết phục. Quy luật mã hóa các kích thích cá biệt quá. Cái mà ở người này kích thích các trung khu ý chí rất có thể lại kích thích cái khác ở người khác. Như vậy, kích thích điện đối với Ni-cô-la là niềm thích thú, thì với mình, lại làm mình bị điếc. Khi ấy, mình có cảm giác ở trong tai có hai cái ống, qua đó người ta rót vào tai mình tiếng gầm rú của động cơ máy bay. - Phải, song điều ấy không có nghĩa là các nhịp hoạt động của nhóm nơtron (tế bào thần kinh) ở não hoàn toàn không có những điểm chung đối với nhiều người. Vả lại, chính ông chủ của chúng ta đã dựa vào điều ấy. Ông chủ đánh bạc, đúng vậy, nhưng không hay lắm, một người nào đó nói, giọng mệt mỏi. Trong lúc này, điều ấy không tiến xa gì hơn môn giải tích toán học. - Vấn đề thời gian thôi. Trong trường hợp hiện nay, các thí nghiệm gián tiếp lại quan trọng hơn là trực tiếp. Không ai dám đưa một điện cực vào trong óc để xem các xung nào truyền đi ở đấy. Điều ấy có hại cho não, và do đó, có hại cho cả bản thân các xung nữa. Với máy phát điện, cho phép thay đổi sự biến điệu tần số của các xung trên một thang rộng, lại khác. Người ta có thể tiến hành tất cả các thí nghiệm mong muốn mà không làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của bộ não. - Đấy là một cách nói thôi, cũng vẫn giọng nói mệt nhọc ban nãy nhắc lại. Điều đã xảy ra đối với Gô-rin và Vô-ít bác bỏ các khẳng định của cậu. Gô-rin đã chết sau mười giây khi bị đặt vào trong trường biến điệu tần số, ở đó mười xung điện thế nối tiếp nhau ở tần số 700 héc cách nhau năm phần giây. Vô-ít thốt ra những tiếng kêu đau đớn đến mức phải ngắt mạch điện ngay lập tức. Các bạn ạ, các bạn quên mất nguyên lý cơ bản của điều khiển học thần kinh: các mạng nơ-ron trong cơ thể con người tạo nên một số lớn các mạch điện. Các xung chạy qua chúng có một tần số và một mã đặc biệt đặc trưng. Chỉ cần cộng hưởng với tần số của các vận chuyển này để đưa mạch điện đã cho đến một trạng thái kích thích không tưởng tượng được. Viên bác sĩ chỉ mò mẫm, nếu ta có thể nói như vậy. Và nếu như chúng ta còn sống sót, thì chỉ hoàn toàn do ngẫu nhiên thôi. Vào đúng lúc ấy, tôi mở mắt ra. Tôi thấy mình đang nằm trên giường một căn phòng lớn giống như phòng của bệnh viện, với những giường xếp thành hàng, dọc theo các bức tường. Ở giữa phòng có đặt một chiếc bàn gỗ, còn bừa bộn các đồ thừa sau bữa ăn, các hộp đồ hộp rỗng, các mẩu thuốc lá thừa, các mảnh giấy vụn. Tất cả được một vài bóng đèn điện chiếu sáng yếu ớt. Tôi tì khuỷu tay nhỏm dậy, và đưa mắt nhìn chung quanh. Lập tức cuộc tranh luận ngừng lại. - Tôi đang ở đâu đây? tôi đưa mắt nhìn quanh các bộ mặt đang chăm chú nhìn tôi, khẽ hỏi. Tôi nghe thấy ai đó nói ở đằng sau tôi: "Anh bạn mới đã tỉnh rồi". - Tôi đang ở đâu đây? tôi nhắc lại, hướng về tất cả mọi người cùng một lúc. - Thế nào, anh không biết ư? một người trẻ tuổi mặc quần áo lót ngồi ở giường bên phải hỏi lại tôi. Đây là nhà ông Cơ-ráp-stút, đấng sáng tạo và người thầy của chúng ta. - Đấng sáng tạo và người thầy? tôi lầu bầu và đưa tay lên sờ đầu nặng như chì. Một tên tội phạm chiến tranh, đúng vậy, chứ không phải một người thầy! - Tội ác là một khái niệm tương đối. Tất cả phụ thuộc vào mục đích đang theo đuổi. Nếu mục đích là cao thượng, nó biện hộ được tất, anh hàng xóm bên phải tôi thốt lên. Sửng sốt trước sự xảo trá dung tục này, tôi tò mò nhìn kĩ anh ta. - Ai đã dạy anh các nguyên tắc tốt đẹp ấy thế, anh bạn trẻ? tôi ngồi dậy trước mặt anh ta, hỏi. - Ông Cơ-ráp-stút là người sáng tạo và là người thầy của chúng ta, bỗng nhiên tất cả mọi người đang có mặt trong phòng đồng thanh nhắc lại. " Quả thật, mình đúng là đang ở nơi ẩn dật cảu các bận hiền triết", tôi lo lắng nghĩ. - Này, các bạn. thật là không hay, nếu các bạn nói như vậy, tôi vừa nói vừa lần lượt nhìn họ. - Tôi xin đánh cuộc là, đối với anh bạn mới đến, toán học nằm ở dài tần số giữa chín mươi và chín mươi lăm héc! một người to béo nhỏm dậy thốt lên. - Và để làm cho hắn ta đau đớn, không nên vượt quá một trăm bốn mươi héc của mã với xung nhanh dần đều, một người khác kêu lên. - Tám xung được mã hóa trong một giây với các khoảng nghỉ hai giây cho giấc ngủ! - Tôi chắc rằng hắn ra sẽ đói, nếu hắn ta bị các xung có tần số một trăm linh ba héc kích thích, với cường độ tăng dần theo lôgarit! (Còn tiếp) |
Điều tệ hại nhất mà tôi có thể tưởng tượng được đã xảy ra: tôi đang ở giữa những người điên. Nhưng kỳ lạ nhất là họ điều nói về cùng một vấn đề. Về những mã và những xung nào đó tôi không biết, mà họ cho là các cảm giác của tôi phụ thuộc vào. Họ đã bao quanh tôi, nhìn vào tận mắt tôi, thốt lên các con số, nói về các biến điệu và các cường độ, tung ra các dự đoán về thái độ của tôi "dưới máy phát" và "giữa các bức tường", nhẩm tình mức năng lượng mà tôi sẽ tiêu thụ.
Qua sách vở được biết rằng với các người điên thì phải dàn hòa, tôi quyết định là không tham gia tranh cãi với họ và cư xử như mình cũng giống họ. Vì vậy, với một giọng thân thiện nhất, tôi nói với anh hàng xóm bên phải, người mà tôi thấy có vẻ bình thường hơn người khác. - Anh hãy làm ơn nói cho tôi biết, các anh đang tranh luận về vấn đề gì vậy? Tôi hoàn toàn không biết gì về vấn đề ấy, và không hiểu tí gì về tất cả các mã, các xung, các nơ-ron, các kích thích ấy... Cả buồng phá lên cười. Người gập làm đôi, hai tay ôm lấy bụng, các anh bạn ở quanh tôi đi đi lại lại, cười rung cả người. Họ vẫn tiếp tục cười, ngay cả khi tôi giận quá đứng hẳn dậy, kêu họ chấm dứt. - Mạch điện mười bốn. Tần số tám mươi lăm héc! Kích thích sự tức giận! một người nào đó thốt lên, và tiếng cười trở nên rộn rã. Thấy vậy tôi ngồi xuống và chờ họ dịu đi. Anh hàng xóm bên phải tôi trấn tĩnh lại trước tiên. Anh ngồi xuống cạnh tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. - Thế, quả thật là anh không biết gì ư? - Không biết gì cả, xin cam đoan với anh. Và tôi không hề hiểu một lời nào cả về những điều mà các anh nói. - Thật chứ? - Thật! - Thôi được. Chúng tôi tin anh, mặc dù đây là một trường hợp rất hiếm. Đơ-ni, đứng dậy và giải thích cho anh bạn mới hiểu tại sao chúng ta lại ở đây. - Phải đấy, Đơ-ni, hãy đứng dậy và giải thích cho anh ta. Cầu cho anh ta cũng được sung sướng như chúng ta. - Sung sướng ư? tôi lạ lùng hỏi. Có thật là các anh sung sướng không? - Có chứ, có chứ! tất cả thốt lên. Chúng mình đã phát hiện ra chính mình. Có phải điều sung sướng nhất của con người là tự hiểu biết được mình hay không? - Vậy là trước đây các anh không tự hiểu biết mình hay sao? tôi ngạc nhiên hỏi. - Không, đúng vậy. Mọi người đều không tự biết mình. Đó chỉ là đặc quyền của những người đã nắm vững điều khiển học thần kinh. - Vinh quang thuộc về thầy chúng ta! một người nào đó hô to. - Vinh quang thuộc về thấy chúng ta! tất cả đều tự động nhắc lại. Người có tên là Đơ-ni tiến gần lại, ngồi lên giường trước mặt tôi và hỏi tôi, giọng khàn khàn mệt mỏi: - Anh học về ngành gì? - Tôi là giáo sư vật lý. - Anh có biết tâm lý học thần kinh không? - Không hề. - Điều khiển học? - Khá kém. - Điều khiển học thần kinh và lý thuyết đại cương về điều hòa sinh học? - Không có khái niệm gì. Một tiếng xì xào ngạc nhiên lan ra trong phòng. - Khó đây, Đơ-ni nói, giọng khàn khàn. Anh ra sẽ không hiểu đâu. - Thì anh hãy giải thích xem! Tôi sẽ cố gắng hiểu. - Anh ra sẽ hiểu sau đợt thứ hai mươi đứng dưới máy phát? một người nào đó thốt lên. - Còn tôi, tôi đã hiểu chỉ sau năm đợt! một người khác kêu. - Sự thể sẽ tốt hơn nếu anh ta đi qua hai lần giữa các bức tường. - Hãy kể đi, Đơ-ni, kể xem, tôi năn nỉ. Tôi bắt đầu hoảng sợ. - Trước hết anh hãy nói cho tôi biết anh có hiểu sự sống là gì không? Tôi im lặng hồi lâu, chăm chú nhìn Đơ-ni. Cuối cùng tôi nói: - Sự sống, đó là một hiện tượng tự nhiên rất phức tạp. Một người phá lên cười, rồi một người khác, rồi những người khác nữa. Cả phòng nhìn tôi, như thể tôi đã nói điều gì khiếm nhã. Chỉ riêng Đơ-ni lắc đầu vẻ trách móc: - Gay đấy. Cậu còn phải học nhiều, anh ta nói. - Nếu tôi lầm, thì cậu giải thích xem! - Giải thích cho cậu ta đi, Đơ-ni, giải thích đi! Mọi người thốt lên đồng thời từ bốn phía. - Được. Cậu nghe đây. Sự sống, đó là sự tuần toàn liên tục của các kích thích điện hóa được mã hóa trong các nơ-ron của cở thể cậu. Tôi ngồi trầm ngâm. Sự tuần hoàn các kích thích trong các nơ-ron. Ở đâu và khi nào tôi đã nghe thấy một điều gì đó tương tự nhỉ? - Tiếp tục đi, Đơ-ni, tiếp tục đi. - Tất cả các cảm giác tạo thành bản chất của nhân cách trí tuệt của cậu, đó là các xung điện hóa đi từ các cơ quan thụ cảm đến các cơ quan điều hòa cao cấp ở não, rồi, sau khi đã chịu các biển đổi cần thiết, lại trở về các "cơ quan thực hiện". - Cứ cho là thế đi. Tiếp tục! - Tất cả các cảm giác từ thế giới bên ngoài đến đều được truyền về não qua các sợi thần kinh. Chúng khác nhau về dạng mã và tần số, cũng như về tốc độ lan truyền. Chính ba loại đại lượng này xác định chất lượng, cường độ và đọ bền của cảm giác. Cậu hiểu chưa? - Cứ cho là hiểu đi. - Do vậy, sự sống, đó là sự vận động của các thông tin được mã hóa, truyền đi theo các đường dây thần kinh của cậu. Không hơn không kém. Tư tưởng, không phải gì khác, là sự tuần hoàn của các thông tin đã được biến điệu theo một vài tần số trong các mạng nơ-ron thuộc những trung khu của hệ thần kinh, của não. - Mình không hiểu, tôi thú thật. - Bộ não gồm hàng chục tỉ nơ-ron, tương tự như các rơ-le điện tử. Các nơ-ron này tập hợp thành nhóm và thành vòng nhờ các sợi gọi là axon. Chính nhờ các axon mà các kích thích được truyền từ nơ-ron này đến nơ-ron khác, từ nhóm nơ-ron này đến nhóm nơ-ron khác. Tư tưởng, chính là sự tuần hoàn này của các kích thích trong các nơ-ron. Niềm kinh hãi của tôi càng tăng. - Anh ta sẽ không hiểu gì đâu trừ khi được đứng dưới máy phát hay giữa các bức tường! người ta kêu lên quanh tôi. - Được, cứ cho là cậu có lý. Từ đó suy ra cái gì? Tôi hỏi Đơ-ni. - Từ đó suy ra rằng người ta có thể điều khiển sự sống theo ý muốn, nhờ các máy phát xung kích thích các mã mong muống trong các mạng nơ-ron. Tầm ứng dụng thực tiễn của phát minh này rất lớn. - Tầm ứng dụng thực tiễn nào? tôi lẩm bẩm, cảm thấy mình sắp biết được đôi điều về ý nghĩa hoạt động của công ty Cơ-ráp-stút. - Để giải thích, tốt hơn cả là lấy thí dụ về sự kích thích năng lực toán học. Hiện nay, trong các nước chậm tiến, người ta chế tạo cái gọi là các máy tính điện tử. Số lượng các rơ-le của máy không quá năm đến mười nghìn, trong khi trong khu toán học của não người, có vào khoảng một tỉ. Không bao giờ con người có thể chế tạo được một chiếc máy với chừng ấy rơ-le. - Và sao nữa? - Sao à? Như vậy, để giải các bài toán, dùng chiếc máy do thiên nhiên chế tạo, nằm ở đây - Đơni đưa tay lên trán, phía trên lông mày - có lợu hơn nhiều so với việc chế tạo các máy móc tồi tệ, giá thành quá đắt. - Nhưng các máy móc hoạt động nhanh hơn nhiều! tôi thốt lên. Ai cũng biết rằng không thể kích thích một nơ-ron quá hai trăm lần mỗi giây, trong khi các rơ-le điện tử có thể nhận hàng triệu kích thích mỗi giây. Chính đấy là lý do nói lên rằng các máy tính nhanh có lợi hơn nhiều! Cả phòng lại phá lên cười. Chỉ một mình Đơ-ni vẫn giữ vẻ nghiêm trọng. - Điều ấy không đúng. Người ta có thể buộc các nơ-ron tự kích thích, với bất kỳ tốc độ nào, với điệu kiện là nối chúng với một máy kích thích có một tần số đủ lớn. Người ta đã làm được điều này bằng cách dùng một máy phát tĩnh điện hoạt động theo từng xung. Nếu đặt một bộ não trong trường bức xạ của máy phát này, người ta có thể buộc nó phải làm việc với bất kỳ tốc độ nào. - À, ra nhà Cơ-ráp-stút làm giàu như thế đấy! tôi kêu lên và bật dậy. - Cơ-ráp-stút là thầy chúng ta! tất cả bắt đầu hô. Hãy nhắc lại, anh bạn mới! Người là thầy chúng ta đi! - Đừng ngăn cản cậu ta hiểu! Đơ-ni đột nhiên can thiệp. Sẽ đến lúc cậu ta hiểu rằng ông Cơ-ráp-stút là thầy chúng ta. Hiện cậu ta còn chưa biết gì. Này, cậu mới đến, hãy nghe đây. Chúng ta hãy tiếp tục. Mỗi cảm giác đều có một mã, một cường độ và một độ bền đặc trưng cho nó. Đối với cảm giác hạnh phúc, đó là tấn số năm mươi lăm héc một giây, với các nhóm được mã hóa một trăm xung. Cảm giác khổ sở bắt nguồn từ tần số sau mươi hai héc, các xung cách nhau khoảng một phần mười giây. Sự vui vẻ, tần số của các xung, mà cường độ phải tăng dần, là bốn mươi bảy héc; sự buồn rầu, hai trăm linh ba héc; sự đau đớn, một trăm hai mươi ba; tình yêu, mười bốn; cảm hứng thơ ca, ba mươi mốt; sự tức giận, tam mươi lăm; sự mệt nhọc, mười bảy; sự mơ màng nửa thức nữa ngủ, tám, vân vân... Các xung được mã hóa của các tần sô này đi theo các mạch đặc biệt của các nơ-ron và gây nên những cảm giác mà mình vừa liệt kê đấy. Tất cả các cảm giác đó có thể gây ra được nhờ chiếc máy phát sung mà người thầy của chúng ta đã sáng chế ra. Ngừoi đã làm cho chúng mình hiểu sự sống là gì. Đầu tôi nặng trĩu vì những lời giải thích ấy. Chỉ có một trong hai khả năng: hoặc đây là cơn mê sảng của một người điêu, hoặc là một điều gì đó chắc chắn mở ra một trang mới trong đời sống của nhân loại. Tôi chưa có cơ sở đểu quyết định vấn đề này. Tôi bị nhức đầu vì hít phải thuốc mê trong phòng làm việc của Cơ-ráp-stút. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rất mệt nhọc. Tôi nằm dài trên giường và nhắm mắt lại. - Anh ta bị tần số từ bảy đến tám héc chế ngự. Anh ra muốn ngủ; một người nào đó thốt lên. - Để anh ta ngủ! Ngày mai, anh ta sẽ bắt đầu hiểu sự sống. Ngày mai, người ta sẽ đặt anh ta dưới máy phát. - Không, ngày mai người ta sẽ lấy phổ và lập phiếu về anh ta. Có thể anh ta có những sai lệch so với bình thường. Đấy là lời nói cuối cùng mà tôi nghe được. Mà tôi đắm mình trong lãng quên. (Còn tiếp) |
Chương 6 Ngày hôm sau, người mà tôi tiếp xúc lần đầu tỏ ra thân ái và thông minh. Khi người ta đưa tôi vào phòng ông ta, ông đi đến gặp tôi, giơ tay ra cùng với một nụ cười nở rộng trên môi. - A, giáo sư Rốt, rất hân hạnh được gặp ông. - Chào ông, tôi giữ ý trả lời. Tôi được hân hạnh nói chuyện với ai đây? - Ông cứ gọi tôi một cách đơn giản là Bôn-xơ, Han-xơ Bôn-xơ. Ngài giám đốc của chúng tôi đã giao cho tôi một nhiệm vụ khá khó khăn là gửi lời xin lỗi ông. - Xin lỗi ư? Thế ra ông ta còn biết hối hận sao? - Tôi không biết gì về điều ấy. Thật ra, tôi không biết gì cả, ông Rốt ạ. Dù sao chăng nữa, ngài thành thật mong ông tha lỗi cho về tất cả những gì đã xảy ra! Ngài đã tức giận. Ngài không thích ai nhắc lại quá khứ của ngài. Tôi nở một nụ cười mỉa mai. - Nếu tôi đã đến, thì không phải là để nhắc lại quá khứ của ông ta. Điều mà tôi quan tâm là điều khác kia. Tôi muốn làm quen với những người đã giải một cách xuất sắc đến thế... - Mời giáo sư ngồi. Đó chính là điều mà tôi muốn nói chuyện với ông. Tôi ngồi xuống chiếc ghế dành cho tôi và quan sát ông Bôn-xơ đang ngồi ở bản giấy trước mặt tôi. Đó là một người Đức miền Bắc điển hình, mặt dài, tóc sáng, mắt to xanh. Tay ông ta xoay đi xoay lại chiếc hộp đựng thuốc lá. - Ở đây, bên cạnh ngài giám đốc, tôi là người phụ trách bộ môn toán học, ông ta nói. - Ông? Ông là nhà toán học? - Vâng, đôi chút. Dù sao, tôi cũng hiểu biết đôi điều về mặt này. - Qua ông làm trung gian, tôi có thể làm quen với những người... - Ông đã biết họ rồi đấy ông Rốt ạ! Bôn-xơ nói. Tôi chăm chú nhìn ông ra, không hiểu gì cả. - Ông đã ở bên họ suốt ngày hôm qua và cả đêm rồi còn gì nữa. Tôi nhó lại căn buồng và những người ở đấy, nhớ lại những lời giải thích mê sảng của họ về các mã và các xung. - Và ông muốn làm cho tôi tin rằng những kẻ điên rồ ấy là những nhà toán học thiên tài đã giải được các phương trình của tôi ư? Không đợi trả lời, tôi phá lên cười. - Thế mà lại là chính họ đấy. Bài toán cuối cùng của ông đã được anh chàng Đơ-ni nào đó giải. Chính anh ta, hình như thế, đã lên lớp cho ông một bài học về điều khiển học thần kinh chiều qua thì phải. Sau một lúc suy nghĩ, tôi trả lời: - Trong trường hợp ấy, tôi không cố tìm hiểu nữa. Ông có thể giải thích cho tôi được không? - Sẵn lòng ông Rốt ạ. Nhưng trước hết ông hãy đọc cái này đi đã. Và Bôn-xơ đưa cho tôi một tờ báo buổi sáng. Tôi chậm chạp giở tờ báo ra và bỗng nhiên tôi bật dậy khỏi ghế. Ngay trang đầu, chân dung của tôi được đóng khung đen đang nhìn tôi. Dưới bức ảnh, một dòng chữ lớn báo tin: "Cái chết bi thảm của tiến sĩ Rốt, giáo sư vật lý". - Thế này nghĩa là thế nào, ông Bôn-xơ? Tấn kịch này nghĩa là gì? - Xin ông hãy bình tĩnh. Rất đơn giản. Chiều hôm qua, khi ông đi dạo quanh hồ trở về, qua cầu, thì bị hai người điên trốn khỏi "nơi ẩn dật của các bận hiền triết" (*) tấn công. Họ đã giết ông, và sau khi vằm nát mặt ông ra, đã vứt xác ông xuống sông. Sáng nay, người ta đã tìm thấy xác ông ở gần đập nước. Các đồ vật và giấy tờ tìm thấy trong người ông đã giúp người ta xác định được căn cước của ông. Hôm nay, cảnh sát đã lập biên bản ở nhà thương và tất cả mọi tình huống về cái chết bi thảm của ông đã rõ ràng. Tôi liếc nhìn bộ quần áo đang mặc, nắn túi, và nhận ra rằng bộ quần áo này không phải của tôi và các vật dụng, giấy tờ mang theo đã biến mất. - Nhưng đây là một lời nói dối vô liêm sỉ, một trò lừa bịp, một sự hèn nhát và... - Đúng, đúng, đúng. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nhưng đành chịu, ông Rốt ạ! Không có ông, công ty Cơ-ráp-stút có thể bị thất bại nghiêm trọng; nói một cách khác, nó sẽ bị phá sản. Chúng tôi đã nhận được một loạt đơn đặt hàng, tất cả đều thuộc loại quân sự và trả rất hậu. Cần phải tính toán không ngừng. Sau khi giải các bài toán đầu tiên của Bộ Chiến Tranh chuyển đến, người ta đã làm cho chúng tôi thật sự bị ngập vì các bài toán. - Và ông muốn rằng tôi sẽ trở thành như tên Đơ-ni và các người khác ư? - Không. Chắc chắn là không, ông Rốt ạ. - Thế tại sao các ông lại bịa ra toàn bộ câu chuyện về tôi bị mất tích? - Chúng tôi cần ông làm giáo sư toán học. - Làm giáo sư à? Tôi lại đứng bật dậy, mở to mắt nhìn chằm chằm vào Bôn-xơ. Hắn châm một điếu thuốc lá và hất hàm chỉ ghế cho tôi. Tôi ngồi xuống, không còn hiểu tí gì cả. - Chúng tôi cần các nhà toán học, giáo sư Rốt ạ. Không có họ, chúng tôi sẽ thất bại. Tôi nhìn Bôn-xơ, không nói gì cả. Bây giờ hắn không còn có vẻ dễ thương như thế nữa. Tôi bắt đầu khám phá ra trên mặt hắn các dấu hiệu tàn ác khó thấy, càng ngày càng rõ hơn so với các nét khiến hắn có vẻ dễ thương. - Và nếu tôi từ chối? tôi hòi. - Điều ấy sẽ rất không hay cho ông. Khi ấy tôi e rằng ông sẽ chỉ trở thành một trong số các..."máy tính" của chúng tôi. - Điều ấy không hay đến thế ư? - Phải, Bôn-xơ trả lời một cách quả quyết và đứng dậy. Điều ấy có nghĩa là ông sẽ kết thúc cuộc đời ở "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". Sau khi đi lại vài bước trong phòng, Bôn-xơ bắt đầu nói, với giọng của một báo cáo viên: - Do các khả năng tính toán của mình, bộ óc người hơn hẳn bất kỳ một máy tính điện từ nào hàng trăm nghìn lần. Hàng tỷ tế bào toán học ở võ nào, cộng vào mọi phụ tùng: trí nhớ, đường ghi nhớ, logic, trực giác v.v... khiến cho đầu óc con người hơn hẳn bất kỳ một máy "suy nghĩ" nào khác. Tuy nhiên, các máy móc có một ưu điểm rõ rệt so với óc người. - Ưu điểm gì? tôi hỏi, không hiểu hắn muốn đi đến đâu. - Trong một máy điện tử, khi một tế bào hay cả một nhóm tế bào bị hỏng, người ta thay thế bằng một bóng đèn, một điện trở hay một tụ điện, và nó lại hoạt động tiếp tục. Ngược lại, nếu trong não người xảy ra một điều tương tự, thì than ôi, không sao làm gì được. Vậy mà, chúng ta buộc phải để các tế bào não làm việc căng thẳng. Vì thế, nếu có thể nói như vậy, chúng sẽ bị hỏng, nhanh hơn rất nhiều. Máy tính sống bị hao mòn rất nhanh và... - Và khi ấy? - Khi ấy, nó đã đến lúc vào "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". - Nhưng thế là vô nhân đaọ, thế là giết người! tôi thét lên. Bôn-xơ dừng lại trước mặt tôi, đặt tay lên vai tôi và nhếch rộng mép cười, nói. - Ở đây, ông Rốt ạ, ông phải quên đi tất cả các từ ngữ và khái niệm ấy. Nếu không, chsung tôi sẽ xóa chúng đi bằng bạo lực khỏi trí nhớ của ông. - Không bao giờ các ông thành công đâu! Tôi hất mạnh tay hắn ra và thét lên. - Ông chưa hiểu kỹ bài lên lớp của Đơ-ni. Thật đáng tiếc. Hắn ta nói nghiêm chỉnh đấy. À này, ông có hiểu thế nào là trí nhớ không? - Liệu có quan hệ gì với cuộc nói chuyện của chúng ta? Ở đây, tại sao cái gì ông cũng bình luận cả thế? Tại sao... - Trí nhớ, thưa giáo sư Rốt, chính là tồn tại kéo dài của một kích thíhc trong một nhóm nơ-ron, nhờ một mối liên hệ ngược dương tính. Kích thích điện hóa tuần hoàn trong một nhóm tế bào nào đó ở đầu ông trong một thời gian kéo dài, đó chính là trí nhờ. Ông là nhà vật lý, ông quan tâm đến các quá trình điện tử trong các môi trường phức tạp, và ông sẽ hiểu rằng khi áp vào đầu ông một trường điện tử thích hợp, chúng tôi có thể làm ngừng sự tuần hoàn của các kích thích trong bất kỳ một nhóm tế nào nào. Không có gì dễ hơn! Chúng tôi có thể buộc ông không những phải quên tất cả những gì mà ông đã biết, mà còn phải nhớ những cái mà ông chưa hề biết bao giờ. Dù sao thì đối với chúng tôi, sử dụng các biện pháp... nói thế nào nhỉ... nhân tạo ấy, là không có lợi. Chúng tôi mong ông biết điều. Công ty sẽ chia cho ông một phần lợi tức đáng kể. - Thế tôi sẽ phải làm gì? - Tôi đã nói với ông rồi: dạy toán. Trong số những người thất nghiệp, may mắn là người ta không bao giờ thiếu, chúng ta sẽ tuyển những nhóm từ hai mươi đến ba mươi người, chọn trong số những người khá toán nhất. Trong vòng hai hay ba tháng, chúng ta sẽ dạy cho họ toán cao cấp và... - Không thể được... tôi nói, hoàn toàn không thể được. Thời gian ngắn như vậy... - Làm được, ông Rốt ạ. Chớ quên rằng trước mặt ông là một đám thính giả dễ tiếp nhận kiến thức, hiểu nhanh và có một trí nhớ kỳ lạ đối với toán học. Chúng tôi chịu trách nhiệm về việc này. Điều đó nằm trong khả năng của chúng tôi... - Thế nào? Nhân tạo à? Với chiếc máy phát xung à? tôi hỏi. Bôn-xơ gật đầu. - Vậy, ông đồng ý chứ? Tôi nhắm mắt lại để suy nghĩ được kỹ hơn. Thế là, Đơ-ni và tất cả các bạn anh ở trong phòng đều là những con người bình thường, và tất cả mọi điều họ nói với tôi hôm qua đều đúng cả. Bọn này quả thật đã biết cách điều khiển tư tưởng, ý chí và tình cảm của con người nhờ các trường điện tử phát xung để thu lợi nhuận. Tôi cảm thấy Bôn-xơ đang chăm chú nhìn tôi. Cần có ngay một quyết định. Và thật là khó vô cùng. Nếu tôi nhận lời, tôi phải dạy toán cho những người mà sau đó chắc chắn họ sẽ phải vào "nơi ẩn dật của các bậc hiền triết". Nếu tôi từ chối, thì chính cái số phận đáng buồn đó cũng đang chờ tôi. - Thế nào, ông đồng ý chứ? Bôn-xơ chạm vào vai tôi nhắc lại. - Không, tôi kiên quyết trả lời. Tôi không thể a dua với hoạt động đáng phỉ nhổ của các ông. - Tùy ông thôi, hắn thở dài nói. Tôi rất lấy làm tiếc. Một phút sau, hắn đứng dậy vẻ quả quyết, bước ra mở cửa và gọi: - Ai-de, Sơ-ran-cơ, lại đây! - Các anh sắp làm gì tôi? tôi hỏi và đứng dậy. - Để bắt đầu, chúng tôi sắp ghi lại phổ các xung được mã hóa ở hệ thần kinh của anh. - Nghĩa là? - Nghĩa là chúng tôi sắp lập một phiếu về hình dạng, cường độ và tấn số các xung ứng với từng trạng thái tâm hồn anh. - Nhưng tôi sẽ không cho phép. Tôi sẽ phản đối, tôi... - Hãy dẫn giáo sư đến phòng thí nghiệm, Bôn-xơ nói, giọng thản nhiên và hắn quay đầu ra cửa sổ. (Còn tiếp) |
Chương 7 Khi vào phòng thí nghiệm, tôi đã có một quyết định, sau này sẽ đóng một vai trò quyết định trong toàn bộ câu chuyện sau này. Lập luận của tôi như sau: chúng sắp bắt tôi chịu đựng một cái gì đó, rồi báo cho Cơ-ráp-stút và đồng bọn biết thế giới nội tâm của tôi. Chúng sẽ cố xác lập các dạng ảnh hưởng điện từ lên hệ thần kinh của tôi, có thể gây nên trong tôi tình cảm này hay tình cảm kia, phản ứng hay cảm giác. Nếu chúng thành công hoàn toàn, tôi sẽ mãi mãi nằm trong tay chúng. Nếu không, đối với chúng, tôi sẽ giữ được một sự độc lập nào đó, có thể sau này rất có lợi cho tôi. Vậy thì tôi phải làm tất cả để phá vỡ mọi kế hoạch của bọn cướp này. Trong một chừng mực nào đó, điều này có thể làm được. Chẳng phải tôi đã nghe thấy một trong các nô lệ của Cơ-ráp-stút công bố chiều hôm qua ở trong phòng rằng đặc điểm của các xung được mã hóa ở mỗi người hoàn toàn có tính chất cá biệt, trừ đối với tư duy toán học hay sao. Chúng đưa tôi vào một căn phòng lớn, nhưng lại có vẻ chật hẹp vì xếp đầy các dụng cụ đồ sộ ở chung quanh. Người ta tưởng đây là phòng điều khiển của một trung tâm điện lực. Một bảng điều khiển mang các dụng cụ đo và các máy chỉ thị nằm ở giữa phòng. Bên trái, đằng sau một tấm lưới ngăn bằng kim loại, có một chiếc biến thế lớn và các bảng bằng sứ trên đó lấp lánh các sợi tóc nung đỏ của vài chiếc đèn chiếu. Một vôn kế và một ampe kế được gắn trên tấm lưới tạo thành một lớp ngăn chung quanh chiếc máy phát. Có lẽ chỉ số của chúng cho phép xác định công suất của mày. Chính giữa phòng có một căn buồng nhỏ hình trụ, gồm hai phần bằng kim loại: phần trên và phần dưới. Trong khi tôi được dẫn đến đây, hai người đang ngồi đằng sau bảng điều khiển đứng dậy. Một trong hai người là viên bác sĩ đã đưa tôi đến phòng Cơ-ráp-stút và đã đánh thuốc mê tôi, còn người kia là một ông già lưng còng, mái tóc lưa thưa dán chặt vào chiếc sọ trắng ngà, mà tôi chưa hề gặp mặt bao giờ. - Họ đã không thuyết phục được anh ta, viên bác sĩ nói. Tôi đã biết chắc thế. Tôi đã hiểu ngay lập tức rằng Rốt thuộc loại người có bản chất mạnh mẽ. Ông sẽ kết thúc không hay gì, ông Rốt ạ, hắn nói tiếp với tôi. - Ông cũng vậy, tôi trả lời. - Về điều ấy ông không biết gì đâu; nhưng còn về phần ông thì đã chắc chắn. Tôi nhún vai. - Liệu ông sẽ chịu xét nghiệm một cách tự nguyện, hay cần phải bắt buộc ông? Hắn tiếp tục cặp mặt láo xược nhìn tôi, hỏi. - Tự nguyện thôi. Với tư cách là nhà vật lý, điều đó đối với tôi cũng có một lợi ích nào đó. - Tốt lắm. Nếu vậy, hãy cởi giày và cởi hết áo ra cho đến thắt lưng. Trước hết, tôi phải khám bệnh và đo huyết áp của ông. Tôi cởi ái. Phần đầu tiên của các xét nghiệm chỉ là khám sức khỏe thông thường. Thở, ngừng thở, v.v... Sau khi đã nghe bệnh cho tôi xong, viên bác sĩ nói: - Hãy đứng vào trong căn buồng. Trước mặt ông là một mi-cro. Hãy trả lời mọi câu hỏi của tôi. Tôi báo trước cho ông biết là một trong các tần số sẽ gây cho ông một cảm giác đau đớn không thể chịu được, nhưng nó sẽ dừng ngay khi ông kêu lên. Tôi đứng thẳng, đi chân đất trên sàn nhà bằng sành của căn buồng nhỏ. Một bóng điện chiếu sáng ngay trên đầu tôi. Chiếc máy phát bắt đầu rì rầm. Nó hoạt động theo một chế độ phát tần số các xung rất thấp. Điện thế của trường hình như rất cao, xét theo các đợt tăng và giảm nhiệt truyền qua khắp người tôi. Sau mỗi xung điện từ, tôi cảm thấy các khớp xương khục khặc một cách kỳ lạ, trong khi các bắp thịt của tôi lúc căng, lúc giãn một cách nhịp nhàng. Chiếc máy phát bắt đầu hoạt động mạnh hơn và tấn số các sóng nhiệt cũng tăng. "Bắt đầu đây, tôi nghĩ. Miễn là mình giữ vừng được". Khi tần số tăng đến tám héc, tôi thèm ngủ quá. Có lẽ nào tôi không cưỡng lại được? Có lẽ nào tôi không thể trả miếng chúng? Tần số cứ tăng dần. Không biết từ lúc nào, tôi bắt đầu đếm số các sóng nhiệt trong từng giây đồng hồ một. Một, hai, ba, bốn... Lại tiếp tục tăng. Tôi buồn ngủ rũ người, song tôi nghiến răng, tìm cách cưỡng lại. Giấc ngủ xâm chiếm lấy tôi như một khối nặng mềm và tối. Tôi cảm thấy toàn thân nặng nề, mi mắt tự nó cứ cụp xuống. Tôi có cảm giác là mình sắp ngã xuống bất kỳ lúc nào. Tôi cắn lưỡi, cố hết sức mình, hy vọng rằng sự đau đớnex làm mất cơn buồn ngủ. Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy một tiếng xa xôi hỏi: - Rốt, anh cảm thấy thế nào? - Tốt lắm, cảm ơn. Chỉ hơi lạnh một chút, tôi nói dối bằng một giọng có vẻ xa lạ ngay cả đối với tôi. Và tôi lại tiếp tục cắn lưỡi và cắn môi. - Anh không buồn ngủ ư? - Không, tôi trả lời, trong khi tôi lại nghĩ: "Chỉ một phút nữa thôi là ta ngủ". Bỗng dưng, cơn thèm ngủ biến đi như có phép lạ. Hình như tần số của máy phát lại tăng. Mức giới hạn đã vượt qua. Tôi cảm thấy tươi tỉnh, thoải mái, như sau một đêm ngủ ngon. "Bây giờ thì cần phải ngủ", tôi quyết định thế, và vừa nhắm mắt lại, tôi vừa bắt đầu ngáy. Tôi nghe thấy viên bác sĩ nói. Pơ-pláp, tăng tần số lên! Một giây sau, tôi "tỉnh giấc". Dải tần số mà tôi sắp gánh chịu, phải gây ra cho tôi các cảm giác và các trạng thái tâm hồn khác nhau, lúc thì buồn, lúc thì vui, lúc sung sướng, lúc phiền muộn. "Đã đến lúc phải kêu to lên đây", tôi quyết định thế, không hiểu tại sao. Và đúng lúc máy phát rú to hơn, tôi gào lên. Tôi không còn nhớ tần số là bao nhiêu, nhưng vừa nghe thấy tiếng tôi kêu, viên bác sĩ liền lớn tiếng ra lệnh: - Ngắt mạnh! Quả là lần đầu tiên tôi thấy một tên điên cỡ này. Ghi đi. Đau đớn ở bảy mươi lăm héc, trong khi đối với người bình thường là một trăm ba mươi. Tiếp tục! (Còn tiếp) |
Bác BelayaZima ơi, em xin phép được gõ tiếp giúp bác có được không?
|
Trích:
|
"Tần số một trăm ba mươi còn chưa đến... Miễn là tôi có thể chịu đựng được..."
- Pơ-pláp, bây giờ chúng ta hãy thử tần số 93. Khi xuất hiện tần số này, một điều bất ngờ đã xảy ra. Bỗng nhiên tôi nhớ lại các phương trình của tôi đã đưa cho Cơ-ráp-stút và tôi hình dung thấy rất rõ tất cả các bước phải theo để giải chúng. "Đó là tần số kích thích các khả năng toán học"; tôi nghĩ ngay. - Rốt, hãy nói năm số hạng đầu của hàm số Bét-xen, loại hai, viên bác sĩ ra lệnh. Tôi trả lời nhanh như tiếng súng máy. Mọi ý nghĩ của tôi đều trong suốt như pha lê. Tôi cảm thấy biết hết, nhớ hết, một cảm giác hạnh phúc lạ kỳ. - Hãy nói mười số lẻ đầu tiên của số "π" Tôi cũng trả lời ngay câu hỏi này. - Hãy giải phương trình bậc ba này. Và viên bác sĩ đọc cho tôi các dữ kiện của một phương trình có các hệ số phân kỳ lạ. Tôi tìm ra đáp số sau hai hay ba giây, và chỉ rõ cả ba căn số. - Tiếp tục. Về mặt này, hắn cũng như mọi kẻ bình thường khác. Tần số tăng chậm chạp. Vào một lúc nào đó, tôi rất muốn khóc. Cổ tôi tắc lại, nước mắt chảy ra. Khi ấy tôi phá ra cười. Tôi cười khanh khách như bị cù, trong khi nước mắt cứ chảy ròng ròng. - Lại một trường hợp khỉ gió. Hắn không giống những người khác chút nào hết. Tôi đã hiểu ngay rằng đây là một kiểu thần kinh có cá tính mạnh, gần như bị bệnh tâm thần. Bao giờ tì hắn sẽ khóc đây? Tôi bắt đầu “khóc” vào lúc tôi ít muốn nhất. Đứng lúc tôi cảm thấy vô cùng vui vẻ và phấn khởi, muốn cười và muốn hát, nhơ người hơi say rượu. Cơ-ráp-stút, Bôn-xơ, Đơ-ni, viên bác sĩ đối với tôi đều là những người đầy lòng tốt. Nhờ một cố gắng về ý chí, tôi tự buộc mình phải khóc to, khóc thút thít. Vai trò này tôi đóng rất dở, nhưng các cố gắng của tôi cũng đủ sức thuyết phục, khiến cho viên bác sĩ lại tiếp tục bình luận. - Nháo nhào hết. Chẳng có gì giống với một phổ bình thường. Tên này còn chưa bộc lộ hết với chúng ta đâu. “Bao giờ mới đến tần số một trăm ba mươi?”, tôi thầm nghĩ một cách sợ hãi, khi tiếp sau lúc vui tính là một nỗi lo lắng vẩn vơ, cái cảm giác sắp xảy ra một điều gì đó khủng khiếp, không tránh được… và tôi bắt đầu khẽ hát, trong khi tim tôi đập ngày càng mạnh, cảm thấy trước một thử thách đáng sợ chắc chắn là sắp đến. Tôi cảm thấy ngay là tần số của máy phát đến gần trị số sẽ gây ra cảm giác đau đớn. Bắt đầu là các khớp xương của ngón tay cái ở bàn tay phải nhức nhối ghê gớm, rồi vết thương từ mặt trận để lại đau nhói lên, rồi đến đau răng. Không phải chỉ một cái răng, mà là cả hàm răng. Cuối cùng, tôi nhức đầu kinh khủng. Tai tôi ù lên, thái dương đập thình thịch. Liệu tôi có giữ được không? Liệu tôi có đủ ý chí để thắng các nỗi đau đớn khủng khiếp, không để lộ ra ngoài là mình đau không? Đã có nhiều người bị chết vì tra tấn mà không hề thốt một lời than van. Lịch sử đã từng biết có những người bị thiêu chết trên giàn lửa không một tiếng kêu… Tuy nhiên, nỗi đau đớn vẫn tiếp tục tăng và chẳng bao lâu đã đạt đến cực độ. Tôi đau khắp mọi chỗ. Toàn thân tôi chỉ còn một nút những cơn đau thần kinh, gay gắt, vò xé. Những vòng tròn tim tím bay lượn trước mắt tôi, tôi hầu như ngất đi, nhưng vẫn giữ được yên lặng. - Ông cảm thấy gì, ông Rốt? Tiếng nói của viên bác sĩ, một lần nữa, lại như từ thế giới bên kia vọng lại. - Một cơn tức giận không tả được, tôi nghiến răng trả lời. Nếu tôi tóm được anh… - Tiếp tục. Hắn hoàn toàn không bình thường. Ở hắn tất cả đều đảo lộn. Bỗng, ngay lúc tôi sắp ngất đi, lúc tôi sắp sửa kêu lên, than vãn thì cơn đau biến mất. Toàn thân tôi đầm đìa mồ hôi lạnh, các bắp thịt run lên. Tần số liên tục thay đổi. Tôi lần lượt trông thấy một luồng ánh sáng trắng chói lòa, ngay cả khi tôi nhắm mắt nó vẫn không biến mất. Tôi thấy đói ghê gớm; tôi nghe thấy cả một loạt các tiếng động điếc tai, và cuối cùng, tôi cảm thấy lạnh như thể bị lột trần truồng đặt ra ngoài băng giá. Và lẽ tất nhiên, tôi tiếp tục trả lời lung tung cho những câu hỏi của viên bác sĩ; hắn không hề “tiết kiệm” những lời bình luận. Tôi biết rằng tôi còn phải chịu đựng một thử thách khó khăn mà hôm qua họ đã nói đến ở trong phòng: sự mất ý chí. Thế mà chính ý chí cho đến lúc này đã cứu giúp tôi. Chính sức mạnh tâm hồn vô hình này đã giúp tôi vượt qua mọi cảm giác mà những tên đao phủ đã gây ra một cách nhân tạo trong con người tôi. Bây giờ, bọn chúng sắp tác động đến chính ý chí của tôi bằng chiếc máy tàn khốc của chúng. Làm thế nào mà chúng sẽ biết được là tôi sẽ mất ý chí? Thời điểm mà tôi lo lắng, chờ đợi đã đến. Đột nhiên tôi thấy thờ ơ với tất cả. Nằm trong tay bè lũ Cơ-ráp-stút, trông thấy mọi người xung quanh, tôi cũng thấy dửng dưng; tôi thờ ơ với ngay cả số phận của mình. Đầu óc tôi hoàn toàn rỗng tuếch, các bắp thịt mềm như bún, và tôi không hề thấy có cảm giác gì cả. Một sự trống rỗng về tinh thần và vật chất tuyệt đối. Không có gì làm tôi vui thích, hoặc làm tôi xao xuyến. Tôi không muốn nghĩ gì cả; đối vói tôi giơ tay, động chân, quay đầu là cả một công việc. Thật là đáng sợ, trong tình trạng của tôi lúc này chúng có thể muốn làm gì tôi cũng được. Tuy nhiên, ở đáy sâu tiềm thức của tôi, một đốm nhỏ tư tưởng vẫn nói với tôi: “Cần phải… cần phải… cần phải…” Cần phải cái gì? Tại sao? “Cần phải… cần phải… cần phải…” hình như còn một tế bào duy nhất của óc tôi chưa bị tác động của các xung điện từ mạnh mẽ, vẫn nhắc đi nhắc lại không mệt mỏi như vậy, các xung điện từ mà qua đó bọn đao phủ của công ty Cơ-ráp-stút muốn điều khiển các dây thần kinh của tôi theo ý chúng. Về sau này, tôi biết rằng có một lý thuyết về hệ thống tư tưởng, theo đó tất cả các tế bào vỏ não đều được tập trung và hoạt động của chúng đều chịu sự chỉ đạo của một nhóm tế bào gọi là nhóm điều khiển. Lúc ấy tôi mới hiểu rằng cái uy quyền tinh thần tối cao này không hề chịu tác động của các yếu tố vật lý hay hóa học bên ngoài, ngay cả các yếu tố mạnh nhất. Chính nó đã cứu tôi. Bỗng, viên bác sĩ ra lệnh cho tôi: - Ông sẽ cộng tác với Cơ-ráp-stút! Tôi trả lời: - Không. - Ông sẽ làm tất cả những gì người ta yêu cầu ông. - Không. - Hãy đập đầu vào tường! - Không. - Tiếp tục. Anh thấy đấy, Pơ-pláp, đúng là một tên bất bình thường. Không sao, chúng ta cũng sẽ tóm được hắn. Tôi giả vờ bị mất ý chí vào lúc mà, trong thực tế, tôi tự cảm thấy có thể hoàn thành bất cứ kỳ công nào. Kiểm tra lại các chênh lệch của tôi so với phổ “bình thường”, viên bác sĩ dừng lại ở tần số này. - Ông có sẵn sàng hy sinh cuộc đời của ông vì hạnh phúc kẻ khác hay không? - Để làm gì? Tôi hỏi, giọng mệt mỏi. - Ông có thể tự sát không? - Có. - Ông có muốn giết viên sĩ quan Cơ-ráp-stút, tội phạm chiến tranh, không? - Để làm gì? - Ông có sẵn sàng cộng tác với ông ta không? - Có. - Quỉ tha ma bắt tôi, nếu như tôi hiểu được tí gì ở đây ! Đây là trường hợp đầu tiên và chắc cũng là cuối cùng thuộc loại này mà tôi gặp. Ghi đi: mất ý chí ở tần số 175. Tiếp tục ! Chúng tôi còn « tiếp tục » khoảng nửa giờ nữa. Cuối cùng, phổ các tần số của hệ thần kinh của tôi đã được xác lập. Từ nay, viên bác sĩ biết tất cả các tần số tương ứng của từng cảm giác của tôi. Ít ra là hắn nghĩ rằng hắn biết. Thực tế hắn chỉ biết có một, đó là tần số kích thích các khả năng toán học của tôi. Vả lại, đối với tôi, điều này hoàn toàn cần thiết. Thật vậy. Toán học phải đóng một vai trò quạn trọng trong kế hoạch mà tôi đã nghĩ ra, để làm nổ tung cái công ty Cơ-ráp-stút giết người này. |
Cảm ơn bác huong duong đã gõ tiếp phần còn dang dở. Chắc bác cũng đọc hết truyện này rồi. Em đọc xong thì cứ thấy nó kết thúc đơn giản quá bác ạ. Giá như phần kết phức tạp hơn thì sẽ hay hơn nhiều. Một công ty như Cơ-ráp-stút không thể tổ chức lỏng lẻo tới mức để bị phá vỡ dễ dàng như vậy được. Hơn nữa vai trò của cô gái cũng hơi nhạt và vô lý.
|
Có, bác BelayaZima à. Vừa gõ em cũng vừa nghĩ như vậy, và cũng hơi ngần ngại khi để mọi người đọc câu truyện chưa thật hay.
Nhưng với riêng em, đọc câu truyện, ngoài sự cảm nhận của mình ngày hôm nay, em còn cảm nhận bằng cảm xúc của thời thơ bé. Hồi ấy, được đọc một cuốn sách tốt đâu có dễ, cộng thêm cái nhìn của trẻ con, nên cuốn truyện này trở nên khá ấn tượng. Ấy là chưa kể em rất coi trọng và yêu thích văn học Liên Xô. Thôi, em cứ gõ tiếp đoạn nữa nhé! |
CHƯƠNG 8
Người ta biết rằng những kẻ yếu đuối dễ để mình bị tác động và bị thôi miên. Ở nhà Cơ-ráp-stút, tất cả hệ thống “giáo dục” các người làm tính theo một tinh thần dễ bảo và sợ hãi trước ông chủ đều được xây dựng trên cơ sở ấy Cả tôi nữa, tôi cũng phải chịu một “chế độ giáo dục”, nhưng cái phổ tần số “bất bình thường” của tôi không cho phép tiến hành chế độ này ngay lập tức. trước hết cần phải có một phương pháp cá biệt. Họ chuẩn bị cho tôi môt phòng làm việc được trang bị đặc biệt ở chỗ nào đó. Trong khi chờ đợi, tôi tương đối tự do. Tôi có thể ra khỏi phòng, ra ngoài hành lang và quan sát tất cả những gì xảy ra trong các lớp học, mà các ạn tôi đang học và làm việc ở đó. Tôi vẫn chưa thể tham dự vào các buổi cầu nguyện tập thể. Sáng sáng, lúc ấy tất cả các nạn nhân của Cơ-ráp-stút chúc tụng hắn hàng nửa giờ. Nhưng tôi được chứng kiến cảnh đó qua tấm cửa kính của lớp học. Những kẻ đáng thương này, bị tập hợp giữa các tấm nhôm của một tụ điện khổng lồ và bị mất hết ý chí, nhắc đi nhắc lại một cách bình thản những lời do một giọng nói đọc cho họ qua máy thu thanh. - Niềm sung sướng và hạnh phúc được sống, chính là tự biết mình, tiếng nói vang lên trong loa phóng thanh. - Niềm sung sướng và hạnh phúc được sống, chính là tự biết mình, cả mười hai người đang quì đồng thanh nhắc lại, một điện trường xoay chiều, tạo ra giữa các tấm nhôm, đã tước hết ý chí của họ. - Bằng cách đi sâu vào bí mật của sự tuần hoàn các xung trong các mạch thần kinh, chúng ta khám phá ra niềm hạnh phúc và niềm sung sướng. - … hạnh phúc và niềm sung sướng, tất cả đồng thanh nhắc lại. - Kì diệu biết bao là tất cả đều đơn giản như vậy! Vui mừng bao nhiêu khi biết rằng tình yêu, sự sợ hãi, nỗi đau đớn, lòng ghen ghét, sự đói khát, sự chán nản, niềm vui sướng không phải gì khác là sự chuyển động của các xung điện từ trong thân thể chúng ta! - … trong thân thể chúng ta… - Thật đáng thương, kẻ nào không biết chân lý lớn lao ấy! - … chân lý lớn lao ấy, những người nô lệ tội nghiệp nhắc lại, giọng mệt mỏi. - Ông Cơ-ráp-stút, người đã ban cho ta niềm hạnh phúc ấy, là đấng cứu tinh và là người thầy của chúng ta. - … niềm hạnh phúc ấy… - Người đã ban cho ta cuộc sống. - Người đã ban cho ta cuộc sống. Mắt nửa nhắm nửa mở, vẻ đần độn, mệt nhọc, mọi người cùng nhắc lại các câu nói mê sảng ấy. Chiếc máy phát điện, nằm cách đó mười bước, sau khi đã tước của họ mọi khả năng chống cự lại, đã buộc họ dễ bảo và sợ hãi. Đó là một cảnh tượng vừa vô nhân đạo, vừa đau lòng, vừa thú vật và tàn ác đến tinh vi. Nhìn những con người đã bị tước hết ý chí này, tôi có cảm giác là mình đang quan sát một bầy người đang say rượu hay bị đánh thuốc mê. Buổi cầu nguyện kết thúc, mười hai nạn nhân đi sang một phòng rộng, trong đó có các bàn làm việc kê dọc theo các bức tường, phía trên mỗi bàn có một tấm nhôm tròn, là thành phần của một tụ điện khổng lồ lủng lẳng trên trần nhà. Chắc là bộ phận kia nằm dưới sàn. Mới thoạt nhìn, những chiếc bàn nhỏ, có dù che bên trên, làm cho ta tưởng đó là một tiệm cà phê ngoài trời. Nhưng cảm tưởng ngây thơ này biến mất ngay, khi người ta nhìn những con người ngồi dưới chiếc dù ấy. Trên bàn, trước mặt mỗi người, có một tờ giấy ghi các dữ kiện của bài toán phải giải. Lúc đầu, còn chịu tác dụng của tần số đã tước mất ý chí, họ nhìn các công thức và các phương trình một cách thờ ơ. Sau đó, người ta cho máy phát tần số 93, và tiếng nói trong loa phóng thanh ra lệnh: - Làm việc đi! Lập tức, tay cầm bút chì và sổ ghi, cả mười hai người bắt đầu viết một cách cuồng nhiệt. Không thể nói là họ làm việc, nói đúng hơn là hình như họ đang ở trong một cơn điên loạn thực sự về toán học. Họ vặn mình trên các cuốn sổ ghi. Các ngón tay của họ lướt trên trang giấy nhanh đến mức không thể theo dõi những gì họ đang viết. Do cố gắng, mặt họ méo mó đi và mắt họ như lồi ra ngoài. Buổi làm việc này kéo dài chừng một giờ. Khi các cử động của tay họ đã giật từng cơn, khi đầu họ đã cúi xuống thấp đến mức chạm vào bàn, và các mạch máu ở cổ họ đã chuyển sang màu tim tím, thì người ta chuyển máy phát sang tần số tám héc, và tất cả bọn “người làm tính” ngủ ngay lập tức. Cơ-ráp-stút rất quan tâm chăm sóc đến sự nghỉ ngơi về tinh thần của các nô lệ của hắn! Rồi tất cả lại bắt đầu. Quan sát cái quang cảnh đáng sợ ấy, một hôm tôi đã có dịp chứng kiến cái chết của một người trong bọn họ. Đột nhiên, anh ta ngừng viết. Với một dáng điệu lạ lùng anh ta quay đầu nhìn người ngồi cạnh đang tiếp tục làm việc một cách cuồng nhiệt trong vài giây đồng hồ, vẻ xa lạ, như đang muốn nhớ lại một điều gì đó. Rồi, anh ta thốt lên một tiếng kêu khủng khiếp và bắt đầu xé quần xé áo. Anh ta cắn các ngón tay mình, cào ngức, đập đầu vào góc bàn. Cuối cùng, anh ta ngất đi và ngã lăn xuống đất. Những người khác không hề liếc nhìn anh ta lấy một cái, bút chì của họ vẫn tiếp tục lướt trên giấy. Nhìn thấy cảnh ấy, tôi nổi giận bừng bừng và nắm tay đấm mạnh vào cánh cửa đóng kín. Tôi muốn kêu gọi những con người khốn khổ ấy rời bỏ công việc đang làm, thoát ra khỏi căn phòng đáng nguyền rủa ấy, nổi dậy và tiêu diệt hết bọn đao phủ… - Nóng nảy làm gì vô ích, ông Rốt, một giọng nói thản nhiên bên tai tôi. Đó là Bôn-xơ. - Các ông là lũ cướp! Các ông làm gì những người này? Ai đã cho các ông quyền làm họ đau khổ đến như vậy? Hắn mỉm cười, cái cười nhã nhặn của con người có học thức và nói: - Hãy nhớ lại truyền thuyết về Uy-lít-xơ. Các thần linh đã cho ông ta chọn giữa một cuộc sống trường thọ, bình thản và một cuộc sống ngắn ngủi, nhưng đầy bất ngờ. Ông ta đã chọn cuộc sống thứ hai. Những người này cũng vậy. - Họ không hề chọn gì hết. Chính các ông, với cái máy phát của các ông, đã buộc họ cúi đầu đi đến tự sát để đảm bảo lợi nhuận cho các ông! Bôn-xơ phá ra cười. - Thế không phải tự họ đã nói với ông là họ sung sướng ư? Và họ sung sướng thật. Hãy nhìn xem họ làm việc hăng hái biết bao! Hạnh phúc là làm việc và sáng tạo, có phải không? - Lập luận của ông làm tôi ghê tởm. Đời sống con người có một nhịp điệu tự nhiên, và mọi cố gắng đẩy nhanh nhịp điệu ấy đều là tội ác. Bôn-xơ lại cười. - Ông không lô-gích, giáo sư ạ. Ngày xưa, con người đi bằng chân và cưỡi ngựa. Hiện nay, họ đi máy bay phản lực. trước đây, các tin tức được truyền miệng, từ người này sang người khác, và phải hàng năm mới truyền được quanh Trái đất. Ngày nay, con người biết ngay các tin tức qua vô tuyến điện và điện thoại. Nền văn minh hiện đại thúc đẩy nhịp điệu sống và tuy thế, ông vẫn không coi như vậy là một tội ác. Và hàng trăm thú vui và trò giải trí nhân tạo, chúng có thúc đẩy nhịp điệu sống không? Thế thì tại sao ông lại cho rằng việc thúc đẩy các chức năng của một cơ thể sống là một tội ác? Tôi tin chắc rằng nếu cuộc sống của những con người này vẫn xuôi dòng một cách bình thường, thì họ không làm được nổi một phần triệu những gì mà hiện họ đang làm. Thế mà sáng tạo, chính là ý nghĩa của cuộc sống, phải không? Vả lại, tự ông sẽ biết rõ khi ông cũng làm như họ. Chẳng bao lâu nữa, ông sẽ hiểu cả ông nữa, hạnh phúc và niềm vui sướng là thế nào! Hai hôm nữa. Người ta đang chuẩn bị cho ông một căn phòng đặc biệt. Ông sẽ làm việc một mình ở đấy, vì, hãy bỏ quá cho lời nói của tôi, ông có phần nào khác những người bình thường. Bô-xơ thân mật vỗ vai tôi, và mặc tôi suy nghĩ về cái triết lý vô nhân đạo của hắn. |
CHƯƠNG 9
Chúng bắt đầu “giáo dục” tôi theo tần số kích thích ý chí của tôi, đến mức tôi có thể buộc mình thực hiện bất kỳ một kỳ công ngu xuẩn nào, phù hợp với các số liệu của phổ đã lập được. Vì thế việc giả vờ mất ý chí đối với tôi là một trò chơi. Tôi quì gối, và vẻ mặt ngớ ngẩn nhắc lại theo loa phóng thanh lời cầu nguyện ngốc nghếch cho vinh quang của Cơ-ráp-stút. Vì tôi là “lính mới’, nên ngoài buổi cầu nguyện, chúng còn giảng cho tôi những điều sơ đẳng về điều khiển học thần kinh. Tôi phải nhớ các tình cảm nào của con người tương ứng với tần số xung nào. Trong các kế hoạch sau này của tôi, một vị trí quyết định dành cho tần số kích thích các khả năng toán học và cho một tần số khác, mà may mắn thay, lại nằm gần chín mươi ba héc. Việc “giáo dục” tôi kéo dài một tuần lễ, sau đó, vì tôi có vẻ khá dễ bảo, chúng bắt đầu cho tôi làm việc. Công việcđầu tiên chúng giao cho tôi là phân tích các khả năng hạ các tên lửa vượt đại châu đang bay. Tôi thực hiện các phép tính trong hai giờ. Các kết quả không lấy gì đáng khuyến khích đối với những kẻ muốn cứu mình bằng cách thiết kế một đội cao xạ chống tên lửa. Theo kết quả này, thì không thể cản các tên lửa. Bài toán thứ hai đưa cho tôi cũng mang tính chất quân sự. Đó là việc tính toán công suất mà các chùm nơtrôn phải có để có thể làm nổ từ xa những quả bom của đối phương. Ở đây câu trả lời cũng đáng chán. Khẩu pháo bắn nơtrôn phải nặng hàng nghìn tấn. Thật vậy, tôi làm các bài toán này một cách thích thú vô cùng. Đối với một quan sát viên, tôi chắc phải có vẻ cũng say mê như những người tính toán khác. Điều khác duy nhất là chiếc máy phát, lẽ ra phải biến tôi thành một cái giẻ rách không chút ý chí, thì lại làm cho tôi đầy hăng hái và nhiệt tình. Ngay trong lúc nghỉ, tôi cũng tự cảm thấy đầy tin tưởng ở mình và khi giả vờ ngủ, tôi suy đi nghĩ lại kỹ càng các kế hoạch trả thù của tôi. Sau khi đã làm xong các bài toán của Bộ chiến tranh, tôi bắt đầu giải trong óc (mà không ai biết) bài toán quan trong bậc nhất đối với tôi: làm thế nào để phá được trung tâm tính toán của Cơ-ráp-stút từ bên trong? Khi tôi nói “phá”, tất nhiên chỉ là một cách nói. Trong tay, tôi không có lấy một chất nổ nào. Và tôi tuyệt đối không thể kiếm được chất nổ nếu không ra khỏi cái nhà tù bằng đá là “nơi ẩn dật của các bậc hiền triết” này. Vì vậy tôi nghĩ đến cách khác. Lập luận của tôi như sau: nếu chiếc máy phát xung của lão Pơ-pláp có thể gợi lên bất kỳ tình cảm nào, thì tại sao lại không lợi dụng nó để gây cho các nạn nhân một tình cảm đúng đắn là nỗi tức giận và sự vùng dậy? Những con người này lúc bấy giờ có thể tự bảo vệ mình và chấm dứt hoạt động của những tên ăn cướp siêu hiện đại này? Nhưng làm thế nào để đạt được điều ấy? Làm thế nào thay thế được tần số kích thích các khả năng toán học bằng một tần số kích thích lòng căm ghét, sự giận dữ và cơn thịnh nộ? Chính lão tiến sĩ già Pơ-pláp, kẻ phát minh ra chiếc máy, điều khiển nó. Rõ ràng đây là một tên cuồng bạo, tiêu khiển bằng cách nhìn hiệu quả công trình trí tuệ biến chất của hắn. Hắn đem hết tài năng của một kỹ sư để phục vụ một mục đích duy nhất: hạ thấp phẩm giá con người.Vì vậy tôi không trông mong gì được sự giúp đỡ của hắn.Chiếc máy phát phải phát ra tần số tôi cần đến mà hắn không đóng góp gì vào đấy và thậm chí cũng không biết được. Nếu một máy phát xung chạy quá tải, nghĩa là nếu công suất tiêu thụ vượt quá công suất thiết kế, thì tần số của nó bắt đầu giảm, ban đầu từ từ, rồi giảm đột ngột. Do đó, nếu mắc thêm vào máy một phụ tải dưới dạng một điện trở thuần, thì có thể làm nó hoạt động không phải ở tần số do các dụng cụ kiểm tra định ra, mà ở một tần số thấp hơn. Tất cả hoạt động của công ty Cơ-ráp-stút đều được xây dựng trên cơ sở tần số chín mươi ba, là tần số kích thích các khả năng toán học. Để gây ra tức giận và cơn thịnh nộ, cần tạo ra tần số 85 héc. Nói cách khác, cần phải rút đi tám héc tần số của máy phát. Và muốn vậy, phải tính phụ tải cần thiết. Khi tôi đi qua phòng thí nghiệm, tôi đã chú ý đến các chỉ số của vôn kế và ampe kế gắn trên bảng máy phát. Tích của hai số này cho tôi biết công suất của máy. Tôi chỉ còn phải tìm điện trở cần thiết… Tôi hình dung trong óc sơ đồ mắc các tụ điện khổng lồ nơi các nhà toán học ngồi làm việc. trong bốn mươi phút, tôi thầm giải trong óc các phương trình Mac-xoen và làm mọi phép tính cần thiết. Tôi khám phá ra một điều quan trọng: lão Pơ-pláp chỉ còn một oát rưỡi công suất dự trữ ở cái máy phát của hắn ta! Tất cả điều ấy thừa đủ để cho tôi giaỉ bài toán: làm thế nào để cho máy phát hoạt động ở tần số tám mươi lăm héc, chứ không phải ở tần số chín mươi ba héc. Để làm điều này chỉ cần nối với đất một trong các tấm của tụ điện qua một điện trở bằng 1350 ôm. Tôi muốn kêu lên vì sung sướng. Nhưng tìm đâu ra một đoạn dây có điện trở như vậy? Cần phải tính toán một cách chính xác, nếu không tần số sẽ khác đi và tôi sẽ không thu được hiệu quả mong muốn. Tôi xem xét lại mọi khả năng hiện có, song không tìm thấy gì cả. Cảm thấy mình bất lực, thất vọng, tôi đưa hai tay ôm lấy đầu, muốn gào lên. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một bình bằng ê-bô-nít đen vừa được một đôi bàn tay nhỏ nhắn run rẩy đặt lên bàn. Tôi ngước mắt lên nhìn và suýt nữa kêu lên vì ngạc nhiên: một thiếu nữ mảnh dẻ, đôi mắt sợ hãi đang đứng trước mặt tôi. Chính cô đã mang bài giải của các phương trình đến nhà tôi. - Cô làm gì ở đây? Tôi khẽ hỏi. - Tôi làm việc, cô nói, môi chỉ hơi mấp máy – Thế ra ông còn sống ư? - Vâng. Tôi đang cần đến cô. Cô nhìn quanh, sợ hãi. - Trong thành phố, ai cũng tưởng là ông đã bị ám sát. Tôi cũng tưởng vậy. - Cô đi ra phố à? Vâng. Hầu như ngày nào cũng thế, nhưng… Tôi nắm lấy bàn tay nhỏ bé của cô, siết chặt. Ngay ngày hôm nay, hãy làm cho tất cả mọi người biết, nhất là ở trường đại học, là tôi còn sống và đang bị bắt buộc phải làm việc ở đây. Chúng tôi – tôi và các bạn tôi – đang cần được giúp đỡ giải thoát. Đôi mắt cô gái đầy sợ hãi. - Ông nói gì vậy? cô lẩm bẩm. Nếu ông Cơ-ráp-stút biết, và ông ấy có thể biết tất cả… - Chúng thường tra hỏi cô ư? - Ngày kia tôi sẽ bị tra hỏi. - Cô còn có cả một ngày. Hãy can đảm lên. Đừng sợ gì cả. Cô hãy làm ơn thực hiện điều mà tôi yêu cầu. Cô gái rút vội tay ra khỏi tay tôi và bước nhanh ra khỏi phòng. Chiếc bình ê-bô-nít đựng khoảng một cục chiếc bút chì màu khác nhau và nhằm vào những việc khác nhau. Không nghĩ ngợi gì cả, tôi cầm lấy một chiếc và xem xét. Đó là một chiếc “2B”, nghĩa là một bút chì có lõi rất mềm. Lõi nó chủ yếu bằng gra-phít, một chiếc dẫn điện tốt. Tiếp theo tôi tìm thấy các bút chì “3B”, “5B”, rồi các bút chì để viết thuộc loại “N”, có lõi cứng. Trong khi mân mê các bút chì, óc tôi làm việc rất căng. Đột nhiên, tôi nhớ lại điện trở của các lõi chì: lõi của chiếc “5N” có điện trở 2000 ôm. Một giây sau, tay tôi đã cầm chiếc bút chì 5N. Vậy là các phương trình Mác-xoen đã được giải về mặt lý thuyết và cả về mặt thực hành. Lõi chiếc bút chì này có gỗ bao quanh, sắp giúp tôi chấm dứt các hoạt động của bè lũ phát xít này. Tôi cất chiếc bút chì vào túi một cách cẩn thận, gần như nâng niu nữa, như thể đó là một viên ngọc. Bây giờ tôi cần có hai đoạn dây điện. Lúc ấy tôi sẽ có thể buộc chặt một đoạn vào một tấm của tụ điện, đoạn kia vào bộ lò sưởi trung tâm, và nối hai đầu còn lại bằng lõi bút chì. Lúc này tôi nhớ ra rằng trong phòng chúng tôi có một chiếc đèn ngủ. Dây nối của nó mềm và do đó nó phải gồm nhiều sợi. Tôi sẽ có thể cắt ra và rút lấy các sợi. Dây khoảng một mét rưỡi và, nếu nối các sợi với nhau, có lẽ chúng sẽ dài hàng chục mét. Thế là thừa đủ. Tôi làm xong các phép tính vào lúc loa phóng thanh báo tin đã đến giờ ăn trưa. Tôi rời khỏi nơi được bố trí làm việc một mình và ung dung đi đến phòng ăn. Khi đi qua hành lang, tôi trông thấy viên bác sỹ đang xem xét các kết quả tính toán của tôi, vẻ không bằng lòng. Chắc hẳn hắn không vui vì không thể hạ các tên lửa vượt đại châu và chế tạo một cỗ pháo nơtrôn để làm nổ tung các quả bom nguyên tử của đối phương. Chắc chắn rằng hắn không ngờ tới điều người ta có thể làm được với một cái lõi bút chì đơn giản! |
CHƯƠNG 10
Trong phòng chúng tôi, không ai dùng đến đèn ngủ. Phủ đầy bụi và xác ruồi bẩn, nó được đặt trên một cái bàn ngủ ở một góc phòng, sợi dây dẫn mà tôi cần quấn quanh chân nó. Từ sáng sớm, khi mọi người đi đánh răng rửa mặt, tôi giật vội sợi dây, giấu nó vào trong túi. Lúc ăn sáng, tôi lấy một con dao ăn, rồi trong khi những người khác đang cầu nguyện, tôi vào nhà xí. Chỉ vài giây, tôi bóc được lớp vỏ bọc dây và như vậy tôi đã thu được khoảng một chục sợi dây, mỗi sợi dài một mét rưỡi. Sau đó, tôi cẩn thận mở cái lõi bút chì ra và tôi bẻ bới một đoạn bằng ba phần mười độ dài của nó. Bảy phần mười độ dài còn lại có điện trở mà tôi cần. Ở mỗi đầu của phần lõi chì còn lại, tôi tiện quanh một đường rãnh nhỏ, để sợi dây bám chắc hơn, rồi tôi cuộn dây vào đó. Tất cả đã sẵn sàng. Bây giờ chỉ còn việc mắc nó vào giữa một tấm của tụ điện với phần nối đất, trước mắt là bộ lò sưởi trung tâm. Tôi phải làm việc này trong khi làm việc. Những “người làm tính” làm việc tám giờ một ngày, mỗi giờ nghỉ mười phút. Thông thường, sau bữa ăn trưa, vào lúc một giờ chiều, tất cả bọn chủ công ty đến xem xét một lượt trong phòng tính toán. Cơ-ráp-stút nhìn với một vẻ thích thú không giấu giếm các nạn nhân của hắn đang cắm cúi trên bàn và đang cuồng nhiệt vặn mình làm tính. Tôi quyết định phải mắc thêm điện trở đúng vào lúc ấy để thay đổi tần số các xung. Nghĩ vậy, nên lúc đến phòng làm việc với chiếc điện trở trong túi, tôi rất vui vẻ. Tôi gặp viên bác sĩ ở cửa, hắn mang đến cho tôi một tờ giấy với một bài toán mới để giải. Tôi gọi hắn: - Này, bác sĩ, đợi một phút! Hắn dừng lại, ngạc nhiên nhìn tôi. - Tôi muốn nói với ông đôi điều. - Hơ, hắn nói, không hiểu gì cả. - Ông thấy đấy, tôi tiếp tục, trong khi làm việc, tôi nghĩ lại buổi nói chuyện với ông Bôn-xơ. Lúc ấy lòng hăng hái đã chơi cho tôi một vố. Tôi xin ông nói hộ với ông Bôn-xơ là tôi bằng lòng dạy toán cho những người mới tuyển của công ty Cơ-ráp-stút. Viên bác sĩ trả lời một cách thẳng thắn không vờ vĩnh: - Nói thật, tôi lấy làm sung sướng cho ông. Tôi đã nói với họ, với bọn ngu ngốc ấy, rằng với một phổ như của ông, tốt hơn cả là để ông làm giám hệ thốngị hay dạy toán cho lũ… Chúng tôi rất cần có một giám thị tốt. Ông sẽ là một giám thị lý tưởng. Cả cơ thể ông hoạt động với tần số khác. Ông có thể đứng giữa bọn chúng và thúc giục bọn lười chảy thây ấy một chút, hay bọn mà tần số làm việc không phù hợp tần số kích thích các khả năng toán học. - Chắc chắn vậy, bác sĩ ạ. Nhưng dù sao tôi cũng nghĩ rằng tốt hơn cả là tôi nên dạy toán cho bọn người mới được tuyển. Quỉ tha ma bắt tôi đi, nếu tôi lại muốn đập vỡ đầu mình vào góc bàn, như tên khốn khổ nào đó mà tôi đã trông thấy hôm nọ. - Ông nghĩ không đến nỗi ngốc, hắn nói. Cần phải nói điều này với Cơ-ráp-stút. Tôi nghĩ rằng ông ta sẽ đồng ý. - Khi nào ông sẽ biết kết quả? - Ngay ngày hôm nay, tôi nghĩ vậy, lúc mười ba giờ, khi chúng tôi đến đây thăm. - Tốt quá. Xin phép ông, lúc ấy tôi sẽ ra để hỏi ông kết quả. Viên bác sĩ gật đầu và bỏ đi. Trên bàn, tôi thấy có một tờ giấy có các dữ kiện của bài toán phải giải để chế tạo một máy phát mới mạnh hơn bốn lần. Tôi kết luận là Cơ-ráp-stút đã quyết định tăng gấp bốn số người làm việc ở trung tâm tính toán của hắn. Mười ba nhà toán học không còn đủ nữa, hắn muốn có năm mươi hai kia. Tôi âu yếm nắn lại chiếc lõi bút chì và các sợi dây ở trong túi. Tôi rất sợ làm gẫy nó. Các dữ kiện của bài toán về chiếc máy phát mới cho phép tôi nhận ra rằng tôi đã không nhầm khi tính toán về chiếc máy đang làm việc. Lòng tin ở kết quả việc làm của tôi vì vậy tăng lên và tôi sốt ruột đợi tới mười ba giờ. Khi đồng hồ điểm kém mười lăm phút, tôi rút chiếc điện trở trong túi ra, xoắn một đầu dây vào cái đinh giữ cái dù bằng nhôm ở phía trên bàn tôi, rồi tôinối nhiều sợi dây với nhau đến tận bộ lò sưởi trung tâm ở góc phòng. Những phút chờ đợi cuối cùng đối với tôi thật dài vô cùng. Cuối cùng, một giờ đã điểm, tôi nối vội đầu dây còn lại với lò sưởi và ra ngoài hành lang. Cơ-ráp-stút, kỹ sư Pơ-pláp, Bôn-xơ và viên bác sĩ đi lại gặp tôi. Trông thấy tôi, chúng mỉm cười. Bôn-xơ ra hiệu cho tôi lại gần. Chúng tôi dừng lại trước chiếc cửa kính của căn phòng mà những người làm tính đang làm việc. Pơ-pláp va Cơ-ráp-stút đứng đúng trước cửa, khiến cho tôi không thể trông thấy điều gì đã xảy ra trong phòng. - Ông suy nghĩ lại như thế là rất phải. Bôn-xơ nói nhỏ với tôi. Ông Cơ-ráp-stút chấp nhận lời đề nghị của ông. Ông sẽ không phải hối tiếc đâu… - Này, cái gì đã xảy ra đấy? Bỗng nhiên Cơ-ráp-stút quay lại chỗ chúng tôi hỏi. Kỹ sư Pơ-pláp co rúm người lại, nhìn qua cửa kính một cách lạ lùng. Tim tôi đập thình thịch. - Chúng không làm việc nữa! Chúng đang nhìn quanh! Pơ-pláp rít lên. Tôi lại gần và điều tôi được chứng kiến đã vượt mọi hy vọng của tôi. Những con người, chỉ giây lát trước đây, còn đang ngoan ngoãn cúi mình trên bàn, nay đã đứng thẳng dậy, dũng cảm nhìn quanh mình, và cất cao giọng gọi nhau: - Thế nào, các bạn, các bạn không nghĩ rằng đã đến lúc kết thúc rồi ư? Đơ-ni nói. Các bạn có hiểu chúng làm gì chúng ta không? - Hiểu quá đi chứ! Chúng muốn làm chúng ta tin rằng chúng ta đã tìm thấy hạnh phúc bằng cách giao mình cho chiếc máy phát của chúng. Và nếu như đến lượt chúng được đặt dưới máy thì sao nhỉ? - Nhưng điều gì đã xảy ra vậy. Cơ-ráp-stút kêu lên. - Tôi không hiểu tí gì cả, Pơ-pláp làu bàu, đôi mắt không màu dán chặt vào những con người đang xôn xao ở trong phòng. Chúng có vẻ hoàn toàn bình thường. Tại sao chúng không làm tính nữa? Cơ-ráp-stút đỏ tím mặt. - Nếu chúng còn tiếp tục, tức là năm hợp đồng quân sự không được hoàn thành đúng kỳ hạn. Hãy buộc chúng phải làm việc trở lại ngay lập tức! Bôn-xơ xoay chìa trong ổ khóa và tất cả vào trong phòng. - Đứng cả dậy! Người thầy và đấng cứu tinh của các anh đã đến, Bôn-xơ thốt lên. Một không khí im lặng chết chóc đáp lại hắn. Mười hai cặp mắt đầy tức giận và căm hờn nhìn vào nhóm chúng tôi. Chỉ cần thêm một tia lửa là tất cả nổ tung. Tôi như được mở cờ trong bụng. Công ty Cơ-ráp-stút sắp phải đền tội! Tôi tiến lên trước và nói to: - Các bạn còn đợi gì nữa? Giờ giải phóng đã điểm. Số phận các bạn nằm trong tay các bạn. Hãy làm cho bọn này không làm hại ai được nữa – bọn đã định dành “nơi ẩn dật của các hiền triết” cuối cùng cho các bạn! Tôi không nói hết. Những người làm tính nhảy ra khỏi ghế, lao vào Cơ-ráp-stút và bọn tay sai của hắn đang đứng ngây ra đó. Chỉ trong nháy mắt Bôn-xơ và viên bác sĩ đã bị quật ngã và gần như bị ngạt thở. Cơ-ráp-stút, náu mình trong một xó, bị đấm, bị đã tới tấp. Đơ-ni đã vật ngã nhào kỹ sư Pơ-pláp, và cưỡi lên mình hắn, tay nắm lấy tai hắn, anh đập đầu hắn xuống sàn. Một người nào đó phá hủy những chiếc dù bằng nhôm, một người khác đập vỡ cửa kính. Chiếc loa phóng thanh bị giật xuống, bàn bị lật đổ, sàn nhà rải rác những mảnh giấy dày đặc các công thức toán học. Đứng giữa đám lộn xộn ấy, tôi ra lệnh: - Chớ buông Cơ-ráp-stút ra! Đó là một tên tội phạm chiến tranh! Chính hắn đã tổ chức cái trung tâm nguy hiểm này, ở đây các anh sẽ chết hết vì trí óc bị kiệt quệ. Hãy giữ chặt tên Pơ-pláp khốn kiếp! Chính hắn là người phát sinh ra chiếc máy phát xung. Chớ nương nhẹ Bôn-xơ! Chính hắn đã tuyển lựa các nạn nhân mới, thay thế cho những người đã hóa điên… Lộng lẫy hẳn lên trong cơn tức giận, những con người đó đã đánh đập, phá vỡ, tiêu hủy, bóp cổ. Họ không còn chịu tác dụng của máy phát nữa, nhưng một nỗi căm hờn ghê gớm vẫn đang xâm chiếm họ. Được thoát khỏi ách nô lệ, con người trong họ đã được thức tỉnh. Người vấy máu, Cơ-ráp-stút, Bôn-xơ, Pơ-pláp và viên bác sĩ ra đến hành lang. Bọn chúng bị kéo ra cửa trong tiếng kêu la và gào thét. Tôi đi trước, những con người đang hưng phấn theo sau, kéo lê đằng sau họ bọn sát nhân. Vừa thốt ra những tiếng kêu căm hờn chống lại bọn đã nô lệ hóa họ, những “siêu máy tính” đi qua căn phòng không cửa sổ, nơi tôi đã đến để đưa các bài toán, rồi ầm ĩ đi theo các hành lang hẹp của con đường hầm ngoằn ngoèo, cuối cùng ra đến bên ngoài. Ra đến cổng, ánh nắng mùa xuân làm chúng tôi lóa mắt. Chúng tôi kinh ngạc dừng lại. Một đám rất đông, xôn xao, đã tập hợp trước cửa dần vào nhà Cơ-ráp-stút. Khi chúng tôi xuất hiện, đám đông im lặng trong một phút. Rồi ai đó kêu: - Nhưng kìa chính là giáo sư Rốt! Thế ra đúng là ông ấy còn sống thật! Đơ-ni và các bạn anh đẩy bọn chủ của trung tâm tính toán ra phía trước.Đứa nọ sau đứa kia, Cơ-ráp-stút, Bôn-xơ, Pơ-pláp và viên bác sĩ đứng đó, sợ hãi nhìn chúng tôi và đám đông đang hăm dọa xung quanh. En-xa Bơ-rin-te, cô thiếu nữ mảnh dẻ mà tôi đã gặp nhiều lần, tách ra khỏi đám đông và tiến về phía chúng tôi. Cô đã có đủ can đảm thực hiện điều mà tôi yêu cầu cô! - Nó đây, cô nói, ngón tay chỉ vào Cơ-ráp-stút. Và nó nữa, cô nó thêm, hất đầu chỉ vào Pơ-pláp. Chính chúng đã gây ra tất cả… Đám đông ầm ầm giận dữ. Những lời đe dọa vang lên.Mọi người tiến lên sau cô gái. Chỉ một giây nữa thôi là bọn kẻ cướp sẽ bị xé ra từng mảnh. Nhưng Đơ-ni tiến lên một bước, tay giơ cao và nói: - Đồng bào thân mến! Chúng tôi là những con người văn minh, chứ không phải bọn giết người. Kể lại việc làm sai trái của chúng sẽ có ích hơn. Cần phải xét xử chúng. Chúng tôi sẽ làm nhân chứng. Đằng sau các bức tường này, chúng đã phạm cái tội ác kinh khủng. Chúng đã lợi dụng nhữn tiến bộ của khoa học để biến con người trở thành nô lệ và, nhờ các máy móc, chúng bóc lột họ cho đến khi chết. - Đến tòa án! Mọi người chung quanh hét lên. Phải xét xử chúng! Đám đông lại theo con đường vào thành phố, vây kín bọn tội phạm mà họ sắp giao lại cho công lý, En-xa Bơ-rin-te đi bên cạnh tôi. Cô nắm chặt tay tôi và nói: - Sau cuộc nói chuyện cuối cùng của chúng ta, tôi đã suy nghĩ lung lắm. Rồi tôi cảm thấy được tăng thêm sức mạnh. Khi nghĩ đến ông, đến các bạn ông, đến bản thân tôi, cơn giận dữ bắt đầu sôi sục trong tôi. Và, kông hiểu tại sao, tôi trở nên mạnh dạn hơn… - Đó chính là điều luôn xảy ra khi ta căm ghét kẻ thù và yêu mến bạn bè. Cơ-ráp-stút và đồng bọn được giao lại cho chính quyền. Viên thị trưởng thành phố đọc một bài diễn văn cảm động, đầy rẫy các câu trích dẫn mượn ở Kinh thánh và sách Phúc âm. Ông ta kết luận rằng “các tội ác tinh vi của ông Cơ-ráp-stút và các đồng bọn của ông đáng được đưa ra trước tòa án tối cao liên bang” Tên đứng đầu trung tâm tính toán và đồng bọn của hắn được đưa lên xe hơi đóng kín cửa. Từ đấy, người ta không biết gì về chúng. Các báo chí không đăng tin tức nào cả. Hơn thế nữa, có tin đồn trong thành phố chúng tôi là Cơ-ráp stút và các bạn hắn sẽ làm việc cho chính phủ và sẽ được giao tổ chức một trung tâm tính toán lớn cho Bộ chiến tranh. Còn về phần tôi, mỗi lần tôi giở tờ báo và trông thấy ở trang cuối lời rao vặt sau đây, bao giờ cũng như vậy, là cơn tức giận của tôi lại trào lên: “Cần người từ 25 đến 40 tuổi, biết toán cao cấp để làm việc ở trung tâm tính toán lớn”. HẾT |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:37. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.