Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Lịch sử nước Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=24)
-   -   Lịch sử nước Nga (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=1026)

nthach 15-09-2008 11:09

Lịch sử nước Nga
 
Nước Nga, một lịch sử tuy không có được bề dày thuộc vào một trong những hàng kinh điển nhất trên thế giới. Nhưng nước Nga cũng đã tự tạo ra cho mình những hình thành, hình ảnh, thăng trầm, biến đổi, phong ba và oai hùng trong suốt quãng đường từ khi lập nước cho đến khi trở thành một trong những cường quốc hùng mạnh nhất trên thế giới.
Qua bài tổng hợp sơ lược này, tôi chỉ muốn có ý định giới thiệu tới mọi người, một nước Nga từ khi được Rurik, một vị được coi là thủ lĩch của các dân tộc nước Nga, ông đã có công tập hợp các bộ lạc trên những vùng Đông Âu lại và lập lên một khởi nguyên của nước Nga ngày nay. Qua nhiều triều đại, nhiều biến cố, nhiều oai hùng để rồi có được một nước Nga ngày nay.
Vâng khi nói đế đến lịch sử, là cần phải đề cập các chi tiết, các giai đoạn, các tình tiết… thật chính xác, nhưng với một bài viết còn ngắn, sự chuyển ngữ và biên soạn còn sơ sài, do vậy rất mong mọi người sẽ có những đóng góp ý kiến và bổ sung thêm cả về nội dung bài viết cho đến phong cách chuyển ngữ, cách đặt câu và chính tả của bài dịch, để về sau chúng ta sẽ có một Topic – LỊCH SỬ NƯỚC NGA thật hoàn chỉnh. Rất mong có được những đóng góp ý kiến, những bàn luận sâu hơn và chân thành của mọi người.

Các bác có thể chép lại các bài viết về lịch sử nước Nga ở các trang khác, hoặc dịch thêm về các triều đại của nước Nga… để làm cho Topic được phong phú thêm. Xin cảm ơn.

nthach 15-09-2008 11:14

Lịch sử nước Nga.


I. Thông tin tổng quát
Biểu tượng quốc gia Nga



Quốc kỳ của nước Nga

nthach 15-09-2008 11:15

I. Thông tin tổng quát

Đối với hầu hết những người nước ngoài, Họ thường liên tưởng đến nước Nga với hai thành phố chính, Moskva và St. Petersburg. Đây là những khu trung tâm của đế quốc Nga thời trước, và cũng là những thành phố cổ kính nhất của nước Nga, các thành phố này thường được các lữ khách dừng lại để tham quan và du lịch. Thành phố Moskva thì có những nhà thờ truyền thống cổ kính và có cung điện Kremlin trang lệ, còn Saint Petersburg, được xem là một thành phố mang đậm nét châu âu nhất trong các thành phố của toàn nước Nga. Tuy nhiên trong bài viết này, chúng ta tập trung đi sâu nhiều hơn về nước Nga, một đất nước được kéo dai đến mười một múi giờ và xuyên suốt hai lục địa, phần cuối của nước Nga chỉ cách Bắc Mỹ với một khoảng cách gần 50 dặm. Diện tích nước Nga bao trùm lên những vùng chính của Đông Âu và Bắc Á, tiếp giáp với biển Bắc cực, nằm giữa châu Âu và bắc Thái Bình Dương. Nằm giữa dải đất rộng lớn này là những vùng thiên nhiên kỳ thú như; một vùng hồ nước ngọt lớn nhất thế giới – Hồ Baikal, những con sông xanh thắm, những khu rừng bát ngát mơn man, nước Nga còn phong phú về những loài cá và những loài động vật hoang dã, ở đất nước này còn có đỉnh núi cao nhất châu Âu – núi Elbrus, những núi lửa kinh hoàng, và nhiều những rặng núi cao chót vót. Nét đặc trưng của địa hình vùng đồng bằng rộng lớn với những ngọn đồi thấp ở phía tây dãy Ural – là những khu rừng tùng bách bao la, và vùng lãnh nguyên Siberia – là những vùng cao và những dãy núi dọc theo các vùng biên giới phía nam. Nước Nga là một đất nước rộng lớn nhất trên thế giới, với những vùng đất rộng mênh mông vừa mới được mở cửa, để đón chào các lữ khách đến du lịch trong vòng vài năm gần đây.
Nước Nga là một chính phủ liên bang, gồm có 49 vùng (oblast), 21 nước cộng hòa, 10 khu tự trị, 6 krai, 2 đô thị liên bang và 1 vùng (oblast) tự trị. Sau khi Liên Xô tan ra vào năm 1991, nước Nga vẫn còn phải chật vật để củng cố nền kinh tế thị trường, hiện đại hóa nền tảng công nghiệp và duy trì sự phát triển kinh tế bền vững. Trong giai đoạn 1992 – 1998, nước Nga được ghi dấu như là một thời kỳ hoàn cảnh kinh tế ngèo nàn, cuộc sống của dân chúng quá tồi tệ và nhiều chính sách của nhà nước ban hành đều bị thất bại. Nhưng các tình trạng xuy thoái đã được cải thiện rõ rệt vào giai đoạn những năm 1999-2002, với sản lượng tăng vọt hàng năm trung bình lên đến 6% và với những tiến triển cải cách được gia tăng mạnh mẽ. Nước Nga có một nền tài nguyên thiên nhiên rộng lớn, bao gồm những trầm tích chủ yếu như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá, nhiều khoáng sản chiến lược và gỗ.
Nước Nga ngày nay trở thành một quốc gia mang tính đa dạng, và có sinh lực dữ dội. Những nét truyền thống văn hóa Nga đã được khơi dậy với sức sống mới đầy mạnh mẽ. Những công trình kiến trúc cổ đại và những Thánh đường hư hỏng trên toàn nước Nga, hiện đang được tu bổ và sửa chữa lại. Những thị trường đa màu sắc lại được hoạt động nhộn nhịp trở lại, văn học và nghệ thuật của nước Nga cũng đã nhanh chóng lấy lại được sức mạnh vốn có của chúng. Một nước Nga mới hiện đang thời kỳ tươi đẹp nhất. Những lữ khách thập phương, ngày càng được thu hút đến với nước Nga nhiều hơn bởi những người Nga đôn hậu và mến khách, bởi nền văn hóa vĩ đại của nước Nga, bởi tính đa dạng của thiên nhiên, những vùng đất trải dài vô tận, những khu rừng xanh thắm ngút ngàn tuyệt đẹp, những dãy núi, những vùng hồ, những nhịp đập rộn ràng của các thành phố sinh động và tươi sáng, những nhịp điệu êm đềm và yên bình của các cuốc sống nơi thị trấn, làng mạc và các vùng hẻo lánh của nước Nga.


Các đặc điểm của nước Nga

Vị trí : Nằm ở các vùng Đông Âu và Bắc Á, tiếp giáp với biển Bắc cực, nằm giữa châu Âu và bắc Thái Bình Dương.

Diện tích:Tổng cộng - 17,075,200km vuông.
Diện tích mặt nước: 79,400 km vuông
Diện tích đất liền: 16,995,800 km vuông.
Chiều dài đường biên giới: 19,990km.
Đường biên giới của nước Nga tiếp giáp với các nước:
Azerbaijan 284 km, Belarus 959 km, đông nam Trung Quốc 3,605 km, phía nam Trung Quốc 40 km, Estonia 294 km, Phần Lan 1,313 km, Georgia 723 km, Kazakhstan 6,846 km, Bắc Triều Tiên 19 km, Latvia 217 km, Lithuania (Kaliningrad Oblast) 227 km, Mông Cổ 3,485 km, Na Uy 196 km, Balan (Kaliningrad Oblast) 206 km, Ukraina 1,576 km.

Bờ biển dài: 37,653 km
Địa hình: Nước Nga có vùng đồng bằng mênh mông với những ngọn đồi thấp ở phía tây dãy Ural: những khu rừng và các vùng lãnh nguyên có loại thực vật tùng bách bao phủ rộng lớn ở Siberia; những vùng cao và các dãy núi dọc theo các vùng biên giới phía nam.
Độ cao: Điểm thấp nhất của nước Nga là vùng biển Caspi – 28m. Điểm cao nhất là đỉnh núi Elbrus – 5.633m.

Tài nguyên thiên nhiên: Nước Nga có những vùng tài nguyên thiên nhiên bao gồm những trầm tích chủ yếu như; dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá và những khoáng sản chiến lược, gỗ rừng.

Dân cư: Dân số nước Nga tính đến tháng 7 năm 2002 là 144,978,573 người.
Dân tộc: Người Nga chiếm 81.5% dân số ở nước Nga, người Tatar 3.8%, Ukrainia 3%, Chuvash 1.2%, Bashkir 0.9%, Belarusia 0.8%, Moldavia 0.7%, các dân tộc khác 8.1%
Tôn giáo: Đạo chính thống Nga, Hồi giáo, và các đạo giáo khác.

Hệ thống chính quyền:

Thủ đô: Moskva.
Các khu vực hành chính: nước Nga gồm có 49 vùng (oblast), 21 nước cộng hòa, 10 khu tự trị, 6 krai, 2 đô thị liên bang và 1 vùng (oblast) tự trị.

Ngày hội dân tộc: Ngày hội Nga – 12 tháng 6 (1990).

Hiến pháp: Được thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1993.

Hệ thống pháp luật: nước Nga dựa theo hệ thống luật dân sự.
Quốc kỳ: Quốc kỳ của nước Nga được thể hiện bởi ba dải màu nằm ngang bằng nhau, màu trắng bên trên, ở giữa là màu xanh và màu đỏ phía dưới.

Biểu tượng: Biểu tượng của nước Nga là hai con chim đại bàng.

Linh vật tượng trưng: một con gấu.

Tổng quan nền kinh tế: Nước Nga đang phấn đấu thành lập nền kinh tế thị trường, hiện đại hóa nền tảng công nghiệp, và duy trì sự phát triển kinh tế bền vững một cách mạnh mẽ.

Các bến tàu và hải cảng: Aleksandrovsk-Sakhalinsky, Arkhangelsk, Astrakhan, De-Kastri, Indigirskiy, Kaliningrad, Kandalaksha, Kazan, Khabarovsk, Kholmsk, Krasnoyarsk, Lazarev, Mago, Mezen', Moscow, Murmansk, Nakhodka, Nevelsk, Novorossiysk, Onega, Petropavlovsk-Kamchatskiy, Rostov, Shakhtersk, Saint Petersburg, Sochi, Taganrog, Tuapse, Uglegorsk, Vanino, Vladivostok, Volgograd, Vostochniy, Vyborg.

Các sân bay: Nước Nga có tổng cộng 2.743 sân bay – tính đến năm 2001.

nthach 15-09-2008 11:17

II. Một số dấu mốc quan trọng trong lịch sử nước Nga.





Trên thực tế, vào thủa ban đầu nước Nga chưa thực sự là một quốc gia, mà mới chỉ là những thành phố Xlavơ ở những vùng phía đông và phía nam châu Âu. Theo truyền thuyết, trong những năm đầu thế kỷ thứ 9, dân tộc Scandinavia được biết đến là những người Varangian vượt biển Baltic và đến cư trú tại Đông Âu. Thủ lĩnh của những người Varangian là một chiến binh tên là Rurik, vào năm 862 ông đã đưa dân tộc của mình đến thành phố Novgorod trên bờ sông Volkhov. Cho dù ông có dùng vũ lực để đánh chiếm thành phố, hay là được người dân tự mguyện phong tước cho ông để cai trị hay không, thì nhất định, ông cũng là một người đã bỏ ra nhiều công sức và nghị lực để cống hiến, và mang lại nhiều lợi ích cho thành phố. Từ thành phố Novgorod, người kế vị của Rurik là Hoàng thân Oleg đã mở rộng thêm quyền lực về phía nam. Vào năm 882, Hoàng thân Oleg tiếp tục giành được quyền kiểm soát Kiev, một thành phố Xlavơ đã xuất hiện dọc theo dòng sông Dnepr vào khoảng thế kỷ thứ 5. Khi Hoàng thân Oleg đạt được quyền thống trị Kiev, thì thời điểm này một quốc gia thống nhất dưới triều đại vua tôi được bắt đầu hình thành lần đầu tiên trong khắp các vùng rộng lớn. Kiev lập tức trở thành một tuyến đường biển trung tâm nằm giữa Scandinavia và Constantinople, và một quốc gia hợp nhất của người Nga Kiev bắt đầu được biết đến.

http://upload.wikimedia.org/wikipedi...d_by_Bruni.jpg
Oleg đang đóng chặt tấm khiên của mình trên tường thành Tsargrad

Oleg vốn là Hoàng thân của Varangian, ông lên nắm quyền cai trị toàn bộ người Nga vào những năm đầu của thế kỷ thứ mười. Ông là người đã chuyển thủ phủ của nước Nga từ Novgorod về thành phố Kiev, và từ đó ông cũng là một vị thủ lĩnh đã có công thành lập nên một quốc gia Rus Kievan hùng cường. Ngoài ra, ông còn cho khởi động ít nhất là một cuộc chiến trên đất Constantinople, thủ phủ của Đế chế La Mã phương đông. Theo biên niên sử ký của Đông Xla-vơ, Oleg là một thủ lĩnh tối cao của toàn bộ người Nga trung cổ từ năm 882 đến năm 912. Nhưng một số nhà sử học thì vẫn còn nghi ngờ về niên đại này, vì nó có mâu thuẫn với một nguồn thông tin khác từ tài liệu Schechter. Theo như tài liệu này đề cập đến, thì các vị thủ lĩnh tối cao của người Nga trung cổ chỉ có thể xảy ra vào cuối những năm 940, vào thời kỳ triều đại Hoàng đế Romanus I trị vì ở La Mã phương Đông. Còn theo như biên niên sử cổ đại của Nga, Oleg vốn là người bà con thân thuộc (giống như anh em vợ) với người thống trị đầu tiên là Rurik, và ông cũng là người được chính Rurik đã giao phó cho trông nom cả vương quốc cùng với cậu con trai bé nhỏ của ông ta là Ingvar, hay còn được gọi là Igor. Dần dần, Oleg nắm được quyền kiền soát tất các thành phố dọc theo dòng sông Dnieper, chiếm giữ Kiev (thành phố này trước đây do các viên tướng của Varangian là Askold and Dir nắm giữ) và cuối cùng, ông di chuyển cả thủ phủ của mình từ Novgorod đến đây. Thủ phủ mới này vốn là một địa điểm rất thuận tiện, để tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ đánh thẳng vào thành phố Tsargrad (Constantinople) vào năm 911. Theo như biên niên sử đã chép lại, đế quốc La Mã phương Đông đã dùng mọi cách để đầu độc chết Oleg. Nhưng vị thủ lĩnh Nga đã biểu hiện những quyền năng đầy uy lực của mình, bằng cách từ chối không ly rượu độc đó. Ông đã treo tấm khiên của mình lên trước cánh cổng của thủ phủ đế quốc để chứng tỏ lòng kiên định của mình, ngoài ra Oleg còn giành được một thỏa thuận thương mại với La Mã, thỏa thuận này rốt cuộc cũng đã đem lại rất nhiều lợi ích cho cả hai quốc gia. Mặc dù các nguồn tài liệu của La Mã không hề ghi chép về các vấn đề này, những nguyên bản của thỏa thuận này vẫn còn được ghi chép trong biên niên sử ký cổ đại.
Theo biên niên sử ký cổ đại, Oleg mất vào năm 913 và người kế vị ông là Igor của Kiev, vị vua mới này lên trị vì trên ngai vàng của nước Nga đến năm 944 thì bị ám sát.
Qua một số triều đại khác, vào năm 989, chắt trai của Oleg là Vladimir I trở thành người thống trị của một vương quốc trải dài tít tắp đến tận phía nam ở biển Đen, dãy núi Capcas, và những vùng thấp của dòng sông Volga. Người kế vị tiếp theo của Vladimir là Yaroslav Anh Minh, triều đại của ông đánh dấu một thời kỳ hưng thịnh nhất của những người Nga Kiev. Yaroslav đã cho soạn thảo và lập ra các điều lệ luật pháp, thông thương liên minh với các quốc gia khác trên thế giới, cổ vũ các nền nghệ thuật…

nthach 15-09-2008 11:21

Triều đại của Yaroslav Anh Minh

http://www.geocities.com/Athens/Forum/4123/yarosl16.gif
Yaroslav Anh Minh

Yaroslav Anh Minh sinh năm 978, băng hà vào ngày 20 tháng 2 năm 1054 tại Kiev. Ông là con trai của Vladimir Đệ nhất và Rohnida công chúa của xứ sở Polatsk. Trong thời gian trị vì của cha ông, Yaroslav đã đến cai trị những vùng đất ở Rostov từ năm 988 và ở Novgorod từ năm 1010. Trong thời gian ông cai trị ở Novgorod, là một giai đoạn quyền lực của ông lớn mạnh nhất, ở đây ông đã nổi dậy chống lại vua cha của mình, hàng năm ông từ chối cống nạp 2.000 đồng Hryvnia bạc về cho Kiev. Vào năm 1015 vua cha của ông băng hà, trong khi chuẩn bị mở một cuộc viễn chinh để chinh phục Novgorod. Sau khi vua cha đã băng hà, Yaroslav tiến hành mở một cuộc tấn công chống lại người anh Sviatopolk I để giành ngôi vị ở Kiev. Ông đã đánh bại được Sviatopolk I, và các nước đồng minh Pecheneg của ông ta tại trận chiến Liubech vào năm 1015 và lấy danh hiệu là Đại vương. Vào năm 1018, Sviatopolk cùng với bố vợ của ông ta là Bolesław I Gan dạ của Balan, mở cuộc tiến công đánh bại quân đội của Yaroslav trên một trận chiến tại sông Buh, và tiến hành tấn công Yaroslav tại Kiev. Vào năm 1019, Yaroslav cùng với quân đội của Novgorod đánh bật quân lính của Sviatopolk tại sông Alta, và một lần nữa giành lại được ngôi báu ở Kiev.

Để mở rộng quyền lực của mình tại phía nam nước Nga, vào năm 1021 Yaroslav đã mở một cuộc chiến và đánh bại được người anh họ của mình tên là Briachyslav Iziaslavych ở Polatsk (một thành phố ở Belarus). Một người anh cùng cha khác mẹ của của Yaroslav là Mstyslav Volodymyrovych đang cai trị tại Tmutorokan và Chernihiv, ông ta hiện lúc này cũng có ý tranh giành quyền lực để kiểm soát phía nam nước Nga, ông ta đang chứng tỏ là một đối thủ rất ương ngạnh đối với vương triều của Yaroslav. Sau khi bị ông này đánh bại tại trận chiến ở Lystven gần Chernihiv vào năm 1024, Yaroslav buộc phải nhượng lại cho Mstyslav toàn bộ khu tả ngạn (phía đông) của dòng sông Dnieper thuộc Ukraina ngoại trừ lãnh địa Pereiaslav. Một hiệp ước hòa bình đã được họ ký kết tại Horodok vào năm 1026, và Yaroslav đã cùng hợp tác với Mstislav trong các chiến dịch quân sự của ông ta vào năm 1029 để chống lại quân đội của Yasians và Kasogians, do đó ông đã mở rộng vương quốc của mình đến tận dãy núi Caucasus. Sau đó Mstislav quay lại trợ giúp cho Yaroslav củng cố quyền lực thốg trị tại bờ tây sông Dnieper. Năm 1030, Yaroslav đem quân chinh phục các vùng đất nằm giữa vùng hồ Peipus và biển Baltic, sau đó ông đã cho thành lập và xây dựng ở đây một thành phố mang tên Yurev (tên thành phố này là được mang theo tên Thánh bảo hộ của Yaroslav – Yurii-Georgii), ngày nay thành phố này là Tartu ở Estonia. Năm 1031, với sự hỗ trợ của Mstyslav, Yaroslav đã giành lại được các thị trấn Cherven từ tay của Bolesław I Gan Dạ và thôn tính các vùng đất do Balan cai trị nằm giữa sông Sian và sông Buh, ở đây ông cho xây dựng một thành phố mang tên Yaroslav (ngày nay là tỉnh Jarosław thuộc Balan)

Sau khi Mstislav Volodimirovich từ trần vào năm 1036, Yaroslav tiến hành thôn tính toàn bộ các vùng đất của ông ta và trở thành người thống trị của những người Nga - Kiev, ngoại trừ lãnh địa Polatsk vẫn còn được cai trị bởi Briachislav. Trong những năm 1038 – 1042, Yaroslav cho tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với Latvi, Mazovia và các vùng đất thuộc Baltic và ông đã dành được thắng lợi hoàn toàn. Tuy nhiên, vào năm 1043 ông mở một cuộc viễn chinh mới để tiến đánh Constantinople, cuộc chiến này do con trai của ông là Volodimir đang cai trị Novgorod và tướng Vishata, nhưng cuối cùng cuộc viễn chinh này bị thất bai thảm khốc.

Để bảo vệ quốc gia tránh khỏi các cuộc tận công của những bộ tộc du cư, Yaroslav đã cho củng cố đường biên giới phía nam bằng cách, xây dựng dọc theo dòng các sông Ros, sông Trubizh và sông Sula những thành phố thị trấn Korsun, Kaniv, Pereiaslav, Lubni và Lukoml, cùng nhiều tuyến thành lũy, thành quách và các đơn vị tiền đồn. Vào năm 1037, Yaroslav lệnh cho quân đội của thành phố Pechenegs trước đây đã tấn công vào Kiev, nay tham gia xây dựng một Thánh đường Saint Sophia, để kỷ niệm chiến thắng của ông tại đây. Trong thời gian Yaroslav trị vì các thành phố Kiev, Novgorod, Chernihiv, Pereiaslav, Volodimir-Volinskii và Turiv, thì ở những nơi đây được biến đổi rất lớn lao. Chỉ riêng ở Kiev, đã có hơn 400 nhà thờ được xây dựng, Yaroslav đã cho xây dựng bức tường bao quanh một khu vực trong thành phố Kiev rộng đến 60 héc ta. Bức tường này được chạy suốt qua các cổng Vàng, cổng Balan và cổng Do Thái, ngôi Thánh đường Saint Sophia được nằm giữa trung tâm khu vực này, và bao quanh nó bởi các cung điện rộng lớn.

http://www.worldheritagesite.org/pro...otoos/1747.jpg
Thánh đường Saint Sophia

Để củng cố quyền lực, và ban hành các chiếu chỉ trong xã hội, cũng như các mối liên quan đến pháp luật trong vương quốc của mình, Yaroslav cho biên soạn một cuốn luật mang tựa đề là "Pravda Iaroslava", đây là một cuốn luật pháp cổ nhất của Ruskaia Pravda. Trong thời gian trị vì của Yaroslav, đạo Cơ đốc giáo được phát triển rất mạnh mẽ.
Yaroslav đã củng cố vai trò quốc tế cho thành phố Kiev – Nga thông qua việc thông gia với các vương triều. Ông tổ chức kết hôn với Ingigerd, công chúa của nhà vua Olaf Skötkonung của Thụy Điển, và sửa soạn hôn lễ cho các con gái mình là các công chúa Yelysaveta Yaroslavna, Anna Yaroslavna, và Anastasiia với các vị vua theo thứ tự là; Harald III của Norway, Henry I của Pháp, và Andrew I của Hungary. Con trai của ông, các Thái tử Iziaslav Yaroslavych thì se duyên với con gái nhà vua Mieszko II của Balan là công chúa Gertrude, Thái tử Vsevolod Yaroslavich kết hôn với công chúa Maria của La Mã, Thái tử Sviatoslav II Yaroslavich cùng với cháu gái của Hoàng đế Henry II và Volodimir cùng với Oda, con gái của bá tước Leopold von Stade. Các quốc vương Olaf II Haraldsson và Harald III của Norway và Edmund II Ironsides của Anh quốc cùng tìm đến sự che chở của nhà vua Yaroslav, ngoài ra ông còn ký kết liên minh với các hoàng đế khác như Henry II, Conrad II, và Henry III.

Trong một vài thập kỷ sau khi Yaroslav mất (1054), người Nga Kiev đã giải tán các trung tâm quyền lực địa phương. Những khu vực hành chính nội bộ bị đặt trong tình trạng nguy kịch, bởi những vụ cướp bóc xảy ra liên tục, do những chiến binh của các bộ lạc du cư Cumans (được biết đến là Kipchaks) gây ra. Vào thời gian này, Moskva là một khu định cư nhỏ đã sớm trở thành một thành phố ưu việt nhất ở nước Nga, và nó đã được đề cập đến đầu tiên trong biên niên sử ký của nước Nga.

Người Nga Kiev vẫn tìm cách tồn tại dù gặp nhiều trở ngại trong thế kỷ thứ 13, nhưng họ hoàn toàn bị kiệt quệ bởi một kẻ xâm lược mới , đó là quân Mông cổ. Vào năm 1237, Bạt Đô, cháu trai của Thành Cát Tư Hãn, đã tiến hành một xâm lược vào nước Nga Kiev. Trong ba năm kế tiếp, quân Mông Cổ và quân Tacta hầu như đã phá hủy toàn bộ các thành phố chính của nước Nga, đặc biệt là những thành phố như Novgorod và Pskov. Các Hoàng thân đang cai trị ở các địa phương không bị truất phế, nhưng họ buộc phải cống nạp đều đặn hàng năm cho triều đình Mông – Tacta – triều đình Kim Trướng hãn quốc. Vào thời kỳ này, các cuộc xâm lược khác vào nước Nga từ phía tây cũng đồng thời nổ ra, vào năm 1240 là những cuộc xâm lược của quân Thụy Điển, và sau đó vào năm 1242 là cuộc xâm chiếm của những người Livonia, họ là người ở một vùng của liên bang Giéc – manh. Tuy nhiên, cả hai cuộc xâm lược này đều bị Alexander Nevsky, một chiến binh vĩ đại nhất của nước Nga đánh cho tan tác, ông là một Thái tử của Novgorod và được mang họ theo tên dòng sông Neva nổi tiếng, sau khi chiến thắng quân Thụy Điển rực rỡ trên dòng sông này

nthach 15-09-2008 11:23

Trận chiến trên sông Neva

http://upload.wikimedia.org/wikipedi...r_Nevsky_2.jpg
Tượng đài kỷ niệm của Alexander Nevsky ở thành phố Saint Petersburg

Sau khi các vùng phía đông bắc của nước Nga bị quân Mông Cổ làm cho kiệt quệ, thì các thành phố Novgorod và Pskov là những điểm yếu để cho quân Đức và Thụy Điển đẽ dàng tấn công. Cuộc tấn công xâm lược nước Nga đầu tiên do quân Thụy Điển tiến hành được mở ra trên đất liến. Năm 1238, vua Thụy Điển nhận được sự cho phép của Giáo hoàng ở Rome để tiến hành mở một cuộc thập tự chinh chống lại thành phố Novgorod.
Vào năm 1239, Đức và Thụy Điển bắt đầu đàm phán để cùng lên kế hoạch cho chiến dịch xâm lược. Trong khi này, Thụy Điển đã chiếm đóng được Phần Lan và sẽ chuẩn bị tấn nước Nga từ phía bắc bằng đường thủy trên dòng sông Neva. Quân Đức sẽ ào vào các thành phố Izborsk và Pskov. Quân đội Thụy Điển do hoàng thân Ulf Phasi và con rể của nhà vua là Birger chỉ huy.

Những người dân Novgorod rất biết rằng, Quân Thụy Điển sẽ tiến hành tấn công và buộc họ phải qui thuận theo đạo Thiên Chúa. Do đó, cuộc tấn công này xem ra thật sự là khốc liệt, và dường như nó còn tồi tệ hơn cả cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.
Vào mùa hè năm 1240, đội quân Thụy Điển do Birger chỉ huy đã tràn sang bằng các tàu chiến trên dòng sông Neva, sau đó chúng dừng đội hình lại ở cửa sông Izhora. Đội quân này có kế hoạch chiếm cứ hồ Ladoga và sau đó đánh thẳng vào thành phố Novgorod. Trong đội hình của chúng lúc này, có cả những vị giám mục Thiên chúa một tay cầm cây thánh giá, còn tay kia thì cầm thanh kiếm sáng choang. Doanh trại của quân địch được đóng gần dòng Izhora, nơi nguồn nước chảy vào sông Neva. Trong lúc này Birger đã cảm thấy gần như đã nắm chắc được phần thắng, ông ta gửi cho Thái tử Alexander một thông điệp tuyên bố rằng, đến giờ phút này ông ta đã chinh phục được toàn bộ phần lãnh thổ của nước Nga.
Vào cùng thời điểm đó, tất cả các bộ tộc của địa phương đã liên minh ở cả trên đất liền và và dưới mặt nước, họ đang đứng ra canh giữ cho thành phố Novgorod. Bộ tộc của những người Izhoria, những người đã theo đạo Cơ đốc, họ sát cánh cùng nhau bảo vệ các mảnh đất ở gần dòng sông Neva trên cả ở hai bên bờ vịnh Phần Lan. Vào lúc rạng sáng của một ngày tháng bảy năm 1240, vị trưởng tu viện của giáo xứ Izhoria tên là Pelgusii, ông là người đầu tiên phát hiện thấy các tàu chiến Thụy Điển đã tiếp cận vào lãnh thổ Nga, ông nhanh chóng cử một người đàn ông đến báo tin dữ này cho Thái tử Alexander.

Thái tử Alexander quyết định tấn công quân địch với chiến thuật bất ngờ. Trong lúc này, không còn thời gian để tuyển chọn binh lính, cũng như không kịp để tập hợp một "Veche" (một cuộc họp công khai). Lúc này Alexander cũng không thể chờ đợi phụ Hoàng Yaroslav gửi quân đội hỗ trợ, hoặc tuyển mộ thêm tân binh trên khắp miền Novgorod. Ông quyết định tấn công quân Thụy Điển bằng quân đội riêng của mình cùng với những chiến binh tình nguyện của Novgorod. Theo truyền thống, họ tập hợp lại gần Thánh đường Saint Sophia để cầu nguyện và để đấng tối cao của họ ban phước lành. Hướng hành quân của họ là thẳng tiến đến sông Volhvi, ở đây có một lữ đoàn ladozhan, và các liên đoàn của Velikii Novgorod sẽ gia nhập cùng họ để cùng tiến thẳng đến cửa sông Izhora.

Doanh trại của địch hiện đang đóng tại cửa sông Izhora, chúng không hề có một sự phòng bị nào, cũng như quân Thụy Điện không thể ngờ rằng, chúng có thể sẽ bị tấn công. Toàn bộ tàu chiến của địch trong lúc này vẫn đang thả neo đu đưa trên sóng nước, những chiếc lều bạt màu trắng của binh lính nằm rải rác dọc trên bờ, cùng với chiếc lều chỉ huy màu vàng của Birger được dựng lên ngay phía đầu đạo quân. Vào hồi 11 giờ sáng ngày 15 tháng 7, quân đội Nga bất ngờ tấn công quân xâm lược Thụy Điển. Cuộc tấn công bất ngờ này đã làm cho quan lính Thụy Điển trở tay không kịp.


http://upload.wikimedia.org/wikipedi...1/Chorikov.jpg
Alexander Nevsky chiến đấu với quân Thụy Điển.. Tranh vẽ của Boris Artemievich Tchorikov (1802-66).

Quân lính của Birger đã không được chuẩn bị trước, do đó không thể kháng cự lại được những đợt tấn công như vũ bão của quân đội Nga. Binh lính Nga dũng cảm ào ào xông tới, buộc quân địch phải dồn đến các bờ sông. Với tình thế này, lực lượng của chúng bị chia cắt đội hình tách rời ra giữa các tàu chiến và trên bộ, thậm chí, ba chiếc tàu chiến của chúng còn vừa bị bắt giữ và bị đốt cháy


Các công dân của Novgorod đã chiến đấu với toàn bộ lòng dũng cảm và ý chí quật cường của họ, riêng Alexander cũng một mình chiến đấu tiêu diệt được một số lượng lớn quân Thụy Điển, ông là một dấu ấn quan trọng nhất của toàn quân. Gavrilo Oleksich, một sĩ quan cận thần của Thái tử , ông đã truy sát Birger đến tận tàu chỉ huy, và đánh gục y xuống dòng nước đang chảy siết, sau đó ông lại lao vào trận chiến, và giết chết một tay quí tộc Thụy Điển khác tên là Spiridon ngay tại trận địa. Một công dân của Novgorod đã dũng cảm lao thẳng vào giữa đám quân địch đông như kiến, anh chiến đấu quên mình để giành lại mảnh đất quê hương. Người thợ săn của Thái tử , anh Yakov Polochanin mang theo thanh trường kiếm cùng với đồng đội phóng theo anh, họ quết lập công cho đất mẹ, họ thề quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Những chiến binh tình nguyện của Novgorod, đã đánh chìm thêm ba tàu chiến của Thụy Điển. Cuối cùng, các tàn binh của địch buộc phải tháo chạy trên các chiến thuyền còn lại của chúng. Sự tổn thất của địch không quan trọng, nhưng ngược lại, ba chiếc tàu của Thụy Điển khi tháo chạy chỉ mang đi được những binh sĩ quí tộc, còn phải bỏ toàn bộ ở lại trên đất Nga.



Trong thời kỳ này, khi quân Tacta kiểm soát toàn bộ phía tây nam nước Nga, thì các thành phố phía đông bắc dần chiếm lại được uy thế hơn. Đầu tiên là thành phố Tver, sau đó trong vòng thế kỷ thứ 14 là thành phố Moskva. Như là một dấu hiệu quan trọng của thành phố, khu giáo trưởng của nhà thờ chính thống nước Nga được chuyển về Moskva, hình thành một thủ phủ tôn giáo của nước Nga. Vào cuối thế kỷ, Moskva chính thức tuyên bố thách thức với quân Tacta, và đến năm 1380 hoàng thân người Moskva tên là Dmitri Donskoy mở các cuộc tấn công chúng. Về sau, ông giành được thắng lợi rực rỡ trên chiến trường Kulikovo, ngay lập tức ông trở thành một vị anh hùng dân tộc, tuy nhiên quân Tacta vẫn còn nhiều những hành động trả thù đối với các chiến binh Nga.

nthach 15-09-2008 11:24

Trận đánh lịch sử trên chiến trường Kulikovo

http://i187.photobucket.com/albums/x...Kulikovo03.jpg
Chiến trường Kulikovo ngày nay


Trận đánh Kulikovo vào năm 1380 là một sự kiện quan trọng nhất của lịch sử thời Trung cổ của nước Nga, trận đánh này là một dấu mốc hết sức to lớn để định đoạt cho vận mệnh tương lai của đất nước Nga. Trận đánh trên chiến trường Kulikovo đã khởi đầu cho sự giải phóng miền tây bắc của nước Nga thoát khỏi ách thống trị của Kim Trướng hãn quốc.
Sức mạnh và quyền lực của Lãnh địa Moskva ngày càng tăng giữa các lãnh địa khác ở nước Nga. Cùng với sự từ chối cống nạp của Moskva đã trở thành lý do chủ yếu cho Mamai, một thủ lĩnh của Kim Trướng hãn quốc tổ chức một chiến dịch quân sự hùng hậu tiến đánh nước Nga. Do vậy, để giành được chiến thắng trước Kim Trướng hãn quốc, cần phải có một sự hợp nhất trên toàn nước Nga dưới sự mở rộng thế lực của lãnh địa Moskva.

Cuối năm 1380, tất cả các lực lượng chính của Mamai vượt qua sông Volga và dần dần tiến vào phía bắc để tụ họp với quân đồng minh của họ tại vũng sông Oka. (Thời kỳ đầu trong lịch sử nước Nga của những thế kỷ XII-XIV, một số lượng lớn chiến binh đã di theo ngọn cờ của Thái tử Moskva - Dmitry Ivanovich). Vượt qua sông Oka, các chiến binh của Nga đã nhanh chóng tiến thẳng đến trận địa Kulikovo. Ngày 6 tháng 9, các trung đoàn của quân đội Nga đã tiến sát tới sông Đông trên con đường cổ Dankovskaya. Hội đồng quân sự Nga đã quyết định vượt sông Đông để giáp chiến với quân địch ở phía bên kia bờ. Vào đêm ngày 7 tháng 9, quân lính bắt đầu vượt sông và rạng sáng ngày 8 tháng 9 toàn bộ binh sĩ đã được tập hợp đầy đủ và bắt đầu triển khai thế trận tại lưu vực dòng sông, nơi mà quân đội của Mamai đang chốt giữ.

Quân sĩ của Nga tổ chức đội hình thành ba tuyến. Trung đoàn Tiền đồn năm giữ vị trí tiên phong và trung đoàn Mặt Trận kế tiếp sau đó. Tuyến chính đội hình chiến đấu của quân đội Nga được chia làm ba khu vực, trung đoàn Lớn đóng ở giữa và các cánh đối diện của trung đoàn này được yểm trợ bởi trung đoàn Tay Phải và trung đoàn Tay Trái. Đội quân dự bị được bố trí ngay phía sau trung đoàn Lớn. Các tướng lính của Nga đã dự đoán được diễn biến của trận đánh, họ bố trí một trung đoàn Mai Phục tại khu rừng sồi Xanh ở phía đông của trung đoàn Tay Trái. Các cánh chiến binh Nga đã chốt chặt trên bờ của các dòng sông Nizhni Dubik và Smolka, phía bên ngoài được bao phủ bởi những khu rừng.
Mamai cũng đã bố trí quân đội của ông ta vào trận tuyến. Ở tuyến giữa của họ được bố trí một đội lính bộ binh đánh thuê Genoese. Trên các cánh phía sau đội lính bộ binh đó là kỵ binh của Bộ tộc và các binh lính đánh thuê. Đội quân dự bị của họ cũng được bố trí ngay phía sau.

Cuộc chiến đấu bắt đầu mở màn vào khoảng 11 giờ, bộ binh và kỵ binh của Bộ tộc công kích dữ dội vào trung đoàn Tiền Đồn và trung đoàn Mặt Trận của Nga. Chống lại cuộc tấn công ác liệt đầu tiên của quân địch, với một tổn thất nặng nề, các trung đoàn của Nga buộc phải quay lại với lực lượng chính của mình. Lúc này, kỵ binh của Bộ tộc lại tiến hành các cuộc tấn công vào phía trước mặt trận rất dữ dội dọc theo tất cả các tuyến phòng thủ của quân đội Nga. Cố gắng chiếm ưu thế, Mamai đã huy động lực lượng dự bị tấn công trung đoàn Tay Trái. Bất chấp sự kháng cự rất mãnh liệt của quân đội Nga, binh lính Bộ tộc tổ chức đội hình hòng bẻ gãy toàn bộ các chiến tuyến. Lúc này, trung đoàn Tay Trái đã bắt đầu bị tụt lại đằng sau với một sự thương vong nặng nề. Thậm trí quân dự bị cũng không thể cứu nguy được tình thế. Khoảng 2 giờ, quân Bộ lạc đã tiến sát đến phía sau đội hình của quân đội Nga, tạt đánh trực tiếp vào trung đoàn Lớn. Do đó, một sự đe dọa của cuộc bao vây và sẽ tiêu diệt sinh lực quân đội Nga đã nảy sinh. Tại thời khắc đó, trung đoàn Mai Phục của Nga đã vùng dậy và tấn công thẳng vào phía sau kỵ binh Bộ tộc. Bị bất ngờ với sự tham chiến mới của đội quân Nga và điều này đã làm thay đổi hoàn toàn thế trận. Cuộc tấn công của trung đoàn Mai Phục là một hiệu lệnh cho các chiến binh Nga tổ chức một cuộc tấn công mãnh liệt. Quân đội của Bộ tộc chạy tơi tả. Đến đêm hôm đó các chiến binh Nga vẫn còn huy động lực lượng để truy kích địch và sau đó giành thắng lợi dòn dã. Binh lính Bộ tộc hoàn toàn bị tiêu diệt. Sự đe dọa tàn phá toàn bộ nước Nga, những kết quả khó hình dung của trận chiến đã hoàn toàn bị loại trừ. Trong vòng bảy ngày, các chiến binh tử trận được mang về trên trận địa và được an táng tại một ngôi mộ tập thể.

Trận đánh tại Kulikovo trở thành một trận chiến lớn nhất trong thời kỳ Trung cổ. Hơn một trăm nghìn chiến binh đã tham gia vào cuộc chiến này. Kim Trướng hãn quốc hoàn toàn bị đánh bại. Cuộc chiến Kulikovo là một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh của nước Nga chống lại ách áp bức của người Tatar - Mông Cổ và đã tác động mạnh mẽ đến sự thành lập một liên bang Nga và tạo nên những ý thức dân tộc của nước Nga. Chiến thắng tại trận địa Kulikovo đã thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước Nga và nó đã xâu chuỗi toàn bộ lịch sử nước Nga như một sợi chỉ kết nối. Trong thời kỳ của Ivan III, nước Nga thống nhất đã đạp đổ hoàn toàn ách thống trị của Kim Trướng hãn quốc tại sông Ugra vào năm 1480.

Năm 1480, sau một thế kỷ đã qua đi, thành phố Moskva đã đủ sức mạnh để lật đổ chế độ cai trị của Tacta. Thời kỳ này là do đại công tước Ivan III, mọi người thường biết đến ông với danh hiệu là Ivan Vĩ Đại, người mà đã cai trị thành phố Moskva vào thời bấy giờ. Ivan đã xé bỏ toàn bộ các thể lệ ràng buộc phải cống nạp cho Tacta. Sau khi thực hiện quyết định này, ông thực sự đã cai quản được toàn bộ nước Nga. Tuy nhiên, tình trạng này không còn được duy trì, khi cháu trai của ông Ivan IV hay còn gọi là Ivan Bạo Chúa lên nối ngôi, trong thời kỳ này, nước Nga lại một lần nữa trở thành một quốc gia liên minh.

nthach 15-09-2008 11:25

Triều đại của Ivan Bạo Chúa

http://xenohistorian.faithweb.com/russia/Ivan4.jpg
Ivan Bạo Chúa

Ivan IV là người đầu tiên của vương triều Nga chính thức xưng tước hiệu Sa Hoàng vào năm 1547. Trong thời gian dài cai trị của mình, ông đã chinh phục các nước Tacta và Siberi, ông đưa nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo
Ivan là con trai của Vasily III. Khi Ivan mới lên ba thì vua cha băng hà. Ivan được tuyên bố trở thành Đại Công tước Moskva theo khẩu dụ của vau cha. Khi cha ông băng hà, ban đầu mẹ ông là Elena Glinskaya giữ vai trò nhiếp chính, nhưng bà cũng qua đời khi Ivan mới lên tám. Sau đó, chức vụ nhiếp chính được các boyar thuộc gia đình Shuisky nắm giữ, cho tới năm 1544 khi Ivan nắm quyền cai trị đất nước. Theo như những bức thư của chính ông viết, Ivan thường cảm thấy bị cô độc và bị các boyar của các dòng họ Shuisky và Belsky xúc phạm. Có thể những tổn thương về tâm lý này đã khiến ông căm ghét các boyar và khiến ông bất an về tâm lý.
Vào năm 1547, Ivan lên cai trị đất nước khi mới 16 tuổi. Ông đã xem xét lại các điều luật, thành lập một quân đội thường trực, thành lập nghị viện Nga đầu tiên cho các tiểu quốc phong kiến, hội đồng quý tộc, và xác lập vị trí của Nhà thờ với Hội đồng Trăm Tăng hội, thống nhất các lễ nghi và các quy định giáo hội trong toàn bộ nước Nga. Ông ban hành tự quản tại các vùng nông thôn, chủ yếu ở các vùng Đông bắc Nga, nơi sinh sống của đa phần nông dân. Trong thời kỳ Ivan cai trị đất nước, lần đầu tiên báo chí được in ở Nga.
Ivan cho thành lập các thông thương mới. Vào năm 1552, ông mở các cuộc chiến tấn công và đánh bại Hãn quốc Kazan, và sáp nhập lãnh thổ nước này vào nước Nga. Năm 1556, ông thôn tính Astrakhan và triệt tiêu chợ nô lệ lớn nhất trên sông Volga. Những cuộc chinh phục này đã làm cho các sự di cư của những bộ tộc du cư từ châu Á tới châu Âu qua sông Volga có nhiều biến động và biến nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Ông cho cho xây dựng đại giáo đường Thánh Basil tại Moskva để kỷ niệm chiến thắng đã chinh phục được Kazan.

Giai doạn cuối trị vì của Ivan không thành công nhiều như trước. Trong 24 năm cuộc chiến tranh Livonia kéo dài, nước Nga bị thiệt hại cả về kinh tế và quân sự và không giành được thêm một lãnh thổ nào về cho nước Nga. Trong thập niên 1560, hạn hán và nạn đói, cũng như các cuộc tấn công của Ba Lan-Litva, những cuộc xâm lược của người Tatar, và sự phong toả đường thương mại trên biển do người Thuỵ Điển, Ba Lan và Liên minh Hanseatic tiến hành đã tàn phá nước Nga. Giá lương thực tăng gấp mười lần. Bệnh dịch giết hại 10,000 người ở Novgorod. Năm 1570 bệnh dịch làm 600-1000 người chết hàng ngày tại Moskva. Vị cố vấn cận thần nhất của Ivan, công tước Andrei Kurbsky, đã bỏ trốn sang Litva, sau đó Y dẫn đầu quân đội Litva tàn phá vùng Velikiye Luki của nước Nga. Sự phản bội này đã làm Ivan rất đau đớn. Khi chính sách Oprichnina tiếp diễn, Ivan dần trở nên bất ổn định về tinh thần và ốm yếu về thể chất. Trong một tuần, ông chuyển từ trạng thái ăn chơi sa đoạ nhất sang việc đi cầu nguyện và ăn chay tại một tu viện phía bắc.
Vì ông dần mất ổn định và trở nên bạo lực, những Oprichnik (thành viên của một tổ chức do chính Ivan thành lập) tại Malyuta Skuratov nhanh chóng vượt ra ngoài vòng kiểm soát và trở thành những kẻ sát nhân. Họ tàn sát các quý tộc và nông dân, bắt mọi người đi lính chiến đấu với Livonia. Dân số sụt giảm và nạn đói bùng phát. Những vùng giàu có nhất nước Nga đã trở thành những vùng nghèo khổ nhất. Trong một cuộc tranh cãi với thành phố Novgorod giàu mạnh, Ivan đã ra lệnh cho những Oprichnik giết hại những người dân thành phố này, từ đó thành phố không bao giờ còn quay trở lại được thời kỳ thịnh vượng đó nữa. Những kẻ trung thành với ông đã đốt phá và cướp bóc thành phố cùng các làng mạc. Vào năm 1570, có khoảng 60.000 người đã bị giết hại trong vụ thảm sát Novgorod nổi tiếng
Vào năm 1581, Ivan đã đánh cô con dâu đang mang thai của mình vì tội mặc quần áo khiếm nhã, có thể đây là nguyên nhân khiến cô bị sảy thai. Con trai ông, cũng tên là Ivan, khi biết tin này đã lao vào một cuộc tranh cãi nảy lửa với cha, cuộc tranh cãi kết thúc khi Ivan dùng cây gậy nhọn đánh vào đầu con mình, gây ra cái chết của người con trai (tai nạn). Sự kiện này đã được thể hiện trong bức tranh nổi tiếng của Ilya Repin, Ivan Bạo chúa và con trai Ivan vào thứ Sáu, 16 tháng 11 năm 1581 nổi tiếng hơn với tên gọi Ivan Bạo chúa giết con trai.


Khi Ivan Bạo Chúa băng hà vào năm 1584, người kế vị của ông là Thái tử Fyodor, nhưng vị Sa hoàng này đã trao hầu hết các công việc trông nom vương quốc cho người anh vợ là Boris Godunov. Và chẳng bao lâu sau, Godunov đã có ý định đoạt toàn bộ ngai vàng nước Nga. Vào năm 1591, Godunov đã giết chết người em út của Fyodor là Thái tử Dmitri ở thị trấn cổ Uglich, một địa điểm mà ngày nay được xây dựng để ghi dấu bởi một nhà thờ tráng lệ mang tên St. Demetrius trên Vũng Máu. Khi Fyodor chết vào năm 1598, Godunov liền lên cai trị nước Nga và lấy tước hiệu Sa Hoàng, nhưng sự cai trị của ông không bao giờ được công nhận là hoàn toàn hợp pháp. Trong vài năm liền, có một người mạo danh xuất hiện ở Balan, người này tự xưng là Thái tử Dmitri, và đến năm 1604 ông ta tiến hành xâm chiếm nước Nga. Một năm sau, Godunov đột nhiên từ trần và "Thời kỳ rối loạn" của nước Nga bắt đầu. Sau tám năm kế tiếp đó, có cả hai vị Thái tử Dmitri giả danh thứ nhất và thứ hai đều đòi quyền giành ngai vàng nước Nga, cả hai vị này cũng đều được sự hỗ trợ hậu thuẫn của quân đội xâm lược Balan. Cuối cùng, vào năm 1613, người Balan bị trục xuất khỏi Moskva, và các boyar đã tôn Mikhail Romanov lên trở thành Sa Hoàng của nước Nga. Từ đó, triều đại Romanov đã trị vị nước Nga liên tục trong vòng 304 năm tiếp sau đó.

Trong vài thế hệ đầu tiên, dòng họ Romanov rất may mắn đã được duy trì nguyên trạng trong nước Nga. Họ liên tục tập trung quyền lực của mình, nhưng họ cũng đã có công rất to lớn để đưa nước Nga thịnh vượng với sự thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế và sinh mệnh chính trị, lập nên một đế quốc Nga hùng mạnh trên trường châu Âu. Giai đoạn này, Peter Đại Đế được cho rằng, là một vị Sa Hoàng có công thay đổi toàn bộ những vấn đề này.

nthach 15-09-2008 11:26

Triều đại của Peter Đại đế

http://www.visitrussia.com/photos/hist-petri.jpg
Peter Đại Đế

Là con trai của người vợ thứ của Sa hoàng Aleksei. Người kế vị vua của Aleksei là thái tử Fedor III, do ông bị khuyết tật và là con trai trưởng của Hoàng hậu quá cố Maria Ilyinichna Miloslavskaya, ông bị chết vào năm 1682. Sau đó Peter cùng với người anh họ của mình là Ivan V cùng được tôn làm Đồng – Sa Hoàng, nhưng quyền lực để chi phối triều đình lại chính thức do người chị họ là Sofia nắm giữ,
Trong thời gian Sofia điều hành nước Nga , Peter rời khỏi Moskva, và lớn lên tại miền thôn dã. Khi Peter 14 tuổi, ông cùng phụ mẫu đến sống trong Cung điện Preobrazhenskoe, ở ngôi làng cùng tên dọc bờ sông Yauza, cách Moskva khoảng 5 km. Ở đây Peter thường chơi đùa với đám bạn bè cùng trang lứa, ở đây ông đã thành lập một đội quân tí hon, và cũng chính đội quân này trẻ thơ này là tiền thân của Lữ đoàn Preobrazhenskoe. Đây cũng là lữ đoàn đầu tiên của lực lượng Cảnh vệ Hoàng gia mà lữ đoàn trưởng luôn là Sa hoàng của nước Nga, cho đến khi chế độ quân chủ Nga kết thúc vào năm 1917.
Vào năm 1689, Peter lên 17 tuổi, nghe lời phụ mẫu, ông kết hôn với Evdokiya Fyodorovna Lopukhina khi đó bà tròn 20 tuổi . Họ có hai người con trai: Aleksei – sống đến tuổi trưởng thành, và Aleksandr – chết khi vừa chỉ mới 7 tháng tuổi.
Vào tháng 8 năm 1689 giữa Sofia và Peter bùng nổ một cuộc khủng hoảng. Cuối cùng Sofia buộc phải thoái trào, còn Ivan và Peter vẫn cùng nhau tiếp tục trị vì . Sau 5 năm kế tiếp, Peter trở về Preobrazhenskoe và hồ Pleschev, ông vẫn sống bình thường như bao thiếu niên khác chúng trang lứa, và hoàn toàn không ngó ngàng đến triều chính.
Trong hai năm 1693 và 1694, Peter đến Arkhangelsk để theo dõi các hoạt động của bến cảng, tập lái tàu biển, ông đặt mua chiếc tàu chiến đầu tiên và đóng thêm tàu mới cho Hải quân Nga. Xét thấy hàng hải là một ngành có tầm quan trọng, nên Peter quyết tâm học hỏi những điều mới lạ từ Tây Âu và luôn chú trọng vào xây dựng các cảng biển.
Ngày 8 tháng 3 năm 1696, Sa hoàng Ivan đột ngột băng hà khi mới 29 tuổi. Từ đó, Peter là Sa hoàng, và là người trị vì duy nhất của nước Nga.
Peter phát động hai chiến dịch quân sự đánh chiếm thị trấn và pháo đài Azov của Crưm, do sắc tộc Tatar cai trị dưới sự bao bọc của Đế quốc Ottoman. Chiến dịch quân sự của ông vào năm 1695 bị thất bại, nhưng khi ông huy động một chiến dịch quân sự khác vào năm 1696, thì quân đội Nga chiếm được Azov.
Năm 1696, Peter gửi một đoàn sứ thần hơn 250 người đến một số nước Tây Âu. Với mục đích của chuyến đi này là thành lập một liên minh chống đế quốc Ottoman, tìm thêm lực lượng, mua vũ khí và trang thiết bị cho Hải quân Nga. Trong chuyến đi này, Peter đã giả dạng là một nhân viên của các sứ thần.
Sau chuyến đi này, trở về Peter quyết tâm cải tổ nước Nga theo phương hướng của Tây Âu.
Ngày 9 tháng 8 năm 1700, Peter tuyên bố chiến tranh với Thụy Điển, để chiếm lại hai tỉnh Ingria và Karelia. Hai tỉnh này, ở phía bắc và nam của sông Neva, cùng với hồ Ladoga và các pháo đài Noteborg, Narva và Riga, các miền đất này trước đây thuộc về lãnh thổ của Nga. Ông mở cuộc chiến này nằm mục đích mở các đường thông thương ra biển. Cuộc chiến tranh này kéo dài tới hơn 20 năm, cùng với nhiều nước Bắc Âu cùng can thiệp, nên các sử gia thường gọi cuộc chiến này là Đại chiến Bắc Âu.
Cuộc chiến này là sự đối đầu của hai vị vua trẻ, Peter Đai Đế và vua Karl XII của Thụy Điển. Trong những năm đầu, 1700 đến 1709, Peter thường ở trong thế phòng thủ, trong giai đoạn này, giữa bão táp chiến tranh, nước Nga vẫn liên tiếp có những biến đổi không ngừng. Công cuộc xây dựng càng ngày càng rầm rộ, những thành phố mới được mọc thêm như – Saint petersburg, do chính Peter là người khai lập vào năm 1703…
Sau Trận chiến Poltava, Nga đảo ngược được tình thế, nhưng hai nước vẫn tiếp tục đối đầu với nhau.
Sau khi vua Karl XII qua đời, vua Peter chỉ huy binh lính tiến đánh Thụy Điển liên tục trong hai năm, cuối cùng Hòa ước Nystad giữa Nga và Thụy Điển được chính thức ký kết ngày 14 thánh 9 năm 1721. Theo Hòa ước Thụy Điển buộc phải nhường lại cho nước Nga vĩnh viễn các vùng Livonia, Ingria, Estonia và Karelia
Peter Đại Đế băng hà và hồi 6 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1725, khi ông mới tròn 53 tuổi và trị vị nước Nga được 43 năm. Tuy thân xác ông không còn nữa, nhưng ông vẫn còn là một nhân vật được đề cập đến nhiều nhất trong lịch sử nước Nga. Ông đã tận tâm đưa nước Nga trở thành một cường quốc hùng mạnh mới của châu Âu đương đại. Không thể nghi ngờ rằng, chính ông ra người đầu tiên, hiện đại hóa và đã đổi mới các cơ cấu tổ chức hành chính cho quân đội Nga. Sau khi Peter Đại Đế mất, nước Nga phải trải qua rất nhiều các triều đại chỉ tồn tại trong một thời kỳ đau khổ ngắn ngủi, không một triều đại nào có thế làm rạng danh cho nước Nga. Rất nhiều những cải cách của Peter đã dày công vun đắp bị tan vỡ, và ngay sau khi ông mất Catherine Đệ nhất lên cai trị nước Nga nhưng cũng chỉ được trong một thời gian ngắn ngủi.
Catherine tên thật là Marta Skavronskaya, bà lên nắm quyền Nữ Hoàng Nga (1725-1727). Bà thuộc nguồn gốc nông dân, và sinh tại Jakobstadt (ngày nay là Jekabpils, Latvia) nhưng bị mồ côi từ khi còn nhỏ và được một mục sư nuôi nấng tại Marienburg (bây giờ là Malbork, Balan).
Khi người Nga chiếm được Marienburg năm 1702, bà bị một người chỉ huy quân đội Nga bắt làm tù binh, sau đó ông này bán bà lại cho nhà quí tộc Aleksandr Menshikov, một viên quan cận thần của Peter I Đại Đế. Chẳng bao lâu sau bà đã trở thành tình nhân của Peter I Đại Đế và là một người có thế lực rất lớn bên cạnh Hoàng Đế.
Peter I Đại Đế đã ly dị người vợ đầu của mình vào năm 1699, sau đó Ông tổ chức thành hôn với Catherine vào năm 1712. Sau khi con trai của ông là Alexis chết, Peter đã ra một chiếu chỉ "ukaz" tuyên bố chọn người kế vị. Nhưng đến khi ông băng hà vào năm 1725, chiếu chỉ này vẫn chưa thực hiện được. Catherine tuy nhiên đã là Vương phi từ năm 1724, sau khi Peter Đại Đế qua đời, bà đã không cho công bố người kế vị, quyền kế vị này lẽ ra là dành cho con trai của Alexis (sau này là Peter III) đã bị phớt lờ đi. Đanh đá và can đảm, Catherine đã ủng hộ các quan cận thần của Peter chống lại cơn thịnh nộ của ông ta, dưới sự trị vì, bà đã thiết lập và tập trung toàn bộ quyền lực vào hội đồng cơ mật tối cao. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên lên nắm quyền Hoàng đế của nước Nga. Đến năm 1727 bà mất và hưởng thọ 43 tuổi. Không lâu sau khi Catherine qua đời, vào năm 1730 Anna Ioannovna là cháu gái của Peter Đại Đế lên nắm quyền cai trị nước Nga

nthach 15-09-2008 11:28

Triều đại của Nữ Hoàng Anna Ioannovna


http://www.varvar.ru/arhiv/slovo/ima...ioannovna3.jpg
Anna Ioannovna



Anna Ioannovna sinh ngày 7/2/1693 tại Moskva, Tạ thế ngày 28/10/1740 tại Cung điện Mùa Đông, Sankt-Peterburg, bà là con gái của Nga Hoàng Ivan V Alexeevich, và hoàng hậu Praskovia Fedorovna Saltykova, chồng bà là Friedrich Wilhelm Công tước xứ Kurland
Anna Ioannovna (Anna I), là con gái của Nga Hoàng Ivan V và là cháu gái của Peter Đại Đế, cai trị nước Nga từ năm 1730 đến năm 1740. Bà là một người độc đoán nhất trong số các người kế vị của Peter Đại đế. Uy thế trên ngai vàng của bà được sự ủng hộ mạnh mẽ của tầng lớp quí tộc Nga. Khi bà vừa mới 37 tuổi, đã là một góa phụ của một công tước người Đức và không có con cái. Các thành viên của Hội đồng Cơ mật đã lựa chọn Anna lên làm Nữ Hoàng vượt qua cả Elizabeth, một công chúa trẻ tuổi của Peter Đại Đế, người mà cũng là một đối thủ để thừa kế ngai vàng. Bà chấp nhận không kết hôn thêm một lần nữa. Sau khi lên trị vì, Anna đã giành được sự trợ giúp quần thần tầng lớp quí tộc những người mà trước đây luôn chống đối lại triều đình.
Theo chiếu chỉ của Nữ Hoàng Anna, quyền lực của chính quyền từ Hội đồng Cơ mật chuyển hết sang cho các bộ trưởng mà bà đã mang về từ Kurland, cái tổ chức mà được gọi là " Phe đảng Đức" này được thống trị bởi Baron Ostermann - một nhà quản lý, Munnich một chủ thầu của kênh đào Ladoga và Ernst Johann Biron một người được Anna sủng ái nhất. "Phe đảng Đức" này bị người Nga cực kỳ căm gét, nhất là Biron, người mà đã dùng địa vị của mình để tăng cường thêm vị thế cá nhân. Họ đứng lên chống lại sự thống trị của nội các chính phủ, nhưng kết cục họ cũng bị trừng phạt bằng tra tấn, giết chết và bị lưu đày
Nữ hoàng Anna thời kỳ này đã thúc đẩy quân đội Nga hùng mạnh hơn và thành lập thêm nhiều lớp huấn luyện quân sự. Bà đã can thiệp vào cuộc chiến của Balan và liên kết với Áo để chống lại quân Thổ (1736-39). Bà cũng quan tâm mạnh mẽ đến nền nghệ thuật Balê mới trỗi dậy của người Nga. Cuộc biểu diễn Balê trước công chúng đầu tiên của nước Nga được tổ chức vào năm 1735 và được trình diễn cho Nữ Hoàng Anna xem bởi Jean-Baptiste Lande, một nghệ sĩ khiêu vũ của học viện quân đội. Nhận thấy người Nga rất yêu thích và có năng lực về khiêu vũ, 3 năm sau Jean-Baptiste Lande đã sáng lập " Trường đào tạo khiêu vũ Hoàng đế" với 12 học viên nhỏ tuổi. Không lâu sau, Balê trở thành một môn nghệ thuật sang trọng. Opera cũng được đưa vào nước Nga trong thời gian Nữ Hoàng Anna trị vì, khi đó một người soạn nhạc Ý tên là Francesco Araja đã được mời đến St. Petersburg để chỉ huy một đoàn opera mới. Ngày 28/10/1740, Nữ hoàng Anna Ioannovna băng hà khi bà 47 tuổi do bệnh nặng. Sau khi bà mất, Ivan VI mới một tuổi lên ngôi Hoàng đế của nước Nga và mẹ của ông là Anna Leopoldovna lên nắm quyền nhiếp chính.

http://famous.russian-women.net/imag...eopoldovna.jpg
Anna Leopoldovna

Anna Leopoldovna sinh ngày: 7/12 (18/7 theo lịch mới) năm 1718 tại Rostock, Mecklenburg (Đức)
Mất ngày: 7/3 (18/3) năm 1746 tại Kholmogory, Nga
Anna Leopoldovna làm nhiếp chính của nước Nga (11/1740 đến 11/1741) cho con trai là Hoàng đế Ivan VI.
Là cháu gái của Nữ hoàng Anna (trị vì 1730-40), Anna Leopoldovna kết hôn với cháu trai của Hoàng đế Charles VI năm 1739 và sinh ra một người con trai là Ivan (2/8 [13/8], 1740), người đã được chỉ định kế vị ngai vàng của nước Nga năm 1740, không lâu sau khi Nữ hoàng Anna băng hà. Một vài tuần sau, Ernst Johann Biron bị bắt giữ bởi sự điều khiển của một số thành viên trong bè lũ người Đức ở Nga do Burkhard Munnich và Andrey Osterman cầm đầu. Munnich và Osterman đưa Anna Leopoldovna lên làm nhiếp chính và họ nắm quyền chi phối các chức sắc trong nội các của bà. Nhưng họ bị những người Nga rất căm gét, khi đó họ đã làm cho nội các ngày càng suy yếu đi do thường gây bất hòa lẫn nhau. Sau khi không thể chịu nổi với triệu đại của Anna, một cuộc lật đổ triều chính do Elizabeth, con gái của Peter Đại Đế tiến hành vào ngày 25/11 (6/12) năm 1741.
Elizabeth tống giam Anna và cả gia đình bà vào ngục năm 1742 và vào năm 1744 họ bị lưu đày đến Kholmogory, Anna đã mất tại đây

nthach 15-09-2008 11:29

Triều đại của Nữ Hoàng Elizabeth Petrovna


http://upload.wikimedia.org/wikipedi...th_empress.jpg
Elizabeth Petrovna (1709-62)

Yelizaveta Petrovna hay còn được gọi là Elizabeth (29/12/1709 – 5/1/1762 theo lịch mới: 18/12/1709 – 25/12/1761 theo lịch cũ), là Nữ hoàng của nước Nga từ năm 1741 đến năm 1762. Người đã đưa nước Nga tham gia vào cuộc chiến với Áo (1740 – 1748) và 7 năm chinh chiến (1756 – 1763). Các chính sách của bà đã cho phép các nhà quí tộc tăng thêm địa vị tại các chính quyền địa phương, trong khi đó rút ngắn các nhiệm kỳ phục vụ cho quốc gia. Bà đã yêu cầu Lomonosov thành lập trường đại học tổng hợp Moskva và chỉ thỉ cho Shuvalov thành lập học viện Mỹ thuật tại St. Petersburg. Bà đã bỏ ra rất nhiều tiềm lực vào các dự án có xu hướng nghệ thuật Barôc hùng vĩ của kiến trúc sư rất được sủng ái của bà là Bartolomeo Rastrelli, đặc biệt nhất là các kiến trúc Peterhof Tsarskoye Selo. Cung điện Mùa Đông và Thánh đường Smolny là những công trình chính yếu trong thời gian bà trị vì tại St Petersburg. Nói chung, bà là một vị Quốc Vương được yêu quí ở nước Nga trong thời kỳ này, bởi do Bà đã không cho bất kỳ một người Đức nào được phép nắm giữ bất kỳ một quyền hành gì trong Vương triều của Bà, thêm nữa không có một người nào bị sử hành quyết trong thời gian Bà trị vì.
Cuộc sống của Elizabeth Petrovna trước trở thành Nữ Hoàng.
Elizabeth là con gái thứ hai của Peter Đại Đế và Martha Skavronskaya, bà sinh ngày 18/12/1709 tại Kolomenskoye, gần thành phố Moskva. Khi đó Peter Đại Đế và Martha Skavronskaya chưa tổ chức hôn lễ. Khi còn bé, Bà tỏ ra là một đứa trẻ rất thông minh lanh lợi và có tài, nhưng thật đáng tiếc cho đường học vấn của bà lại bị dở dang và rời rạc. Phụ Vương của bà thì không có nhiều thời gian rảnh rỗi để quan tâm chăm sóc tới học hành của con cái, còn phụ mẫu lại hoàn toàn không biết gì để quản lý đến sự học tập của bà. Bà có một nữ gia sư người Pháp, tuy nhiên sau đó còn được tuyển lựa thêm một số gia sư người Ý, Đức và Thụy Điển, do vậy bà có thể thông thạo các ngôn ngữ này. Bà được mọi người rất mến chuộng về tính hoạt bát và vẻ đẹp kiêu hãnh từ khi còn rất trẻ.
Peter Đại Đế có ý định đính ước Elizabeth cho Hoàng đế Pháp trẻ tuổi Louis XV, nhưng dòng họ Bourbons đã nổi loạn để chống lại cuộc thông gia này. Một cuộc hôn nhân khác cũng bị đổ vỡ do cái chết bất ngờ của phụ mẫu của bà (5/1727)
Đến khi đã đến tuổi cập kê, bà trở thành người tình của Alexis Shubin, một trung sĩ trong trung đoàn cận vệ Semyonovsky và sau khi Alexis Shubin bị trục xuất đến Siberia theo chiếu chỉ của Nữ Hoàng Anne, một chàng trai trẻ người Cô Dắc tên là Alexis Razumovski là người tình kế tiếp của bà, người này là một chàng trai đáng tin cậy và trung thành, sau đó cũng chính ông trở thành vị hôn phu của bà

Cuộc lật đổ cung đình năm 1741.
Giữa đêm ngày 25/11/1741 (theo lịch cũ), 6/12/1741 (theo lịch mới), bà cùng với một vài người bạn thân, vị bác sĩ riêng của bà là Armand Lestocq, viên thị thần Mikhail Illarionovich Vorontsov, người chồng tương lai Aleksey Razumovsky và hai vị quí tộc cùng dòng họ là Alexander và Peter Shuvalov tiến thẳng vào doanh trại của trung đoàn cận vệ Preobrazhensky, với một diễn thuyết gây xúc động bà đã thuyết phục được sự ủng hộ của họ và yêu cầu cùng cộng tác. Sau đó bà đã dẫn mọi người tiến vào cung điện Mùa Đông, nơi mà vị nữ nhiếp chính Anna Leopoldovna đang yên giấc ngủ trong sự canh gác rất cẩn mật. Trên đường tiến vào trong cung điện bà đã ra lệnh cho bắt giữ toàn bộ các vị quan cận thần đầu triều, tiếp theo Elizabeth bắt giữ nữ nhiếp chính Anna và con của bà ta ngay trên giường ngủ và cho triệu tập các nhân sĩ, thường dân và giáo sĩ đến thiết triều. Cuộc lật đổ được tổ chức rất nhanh chóng và yên lặng.
Ở tuổi 33, cái tuổi vốn không còn năng động và là một người đàn bà còn nhiều đam mê cùng với sự hiểu biết còn nông cạn và không có nhiều kinh nghiệm trong sự vụ, bà bỗng nhiên trở thành người đứng đầu của một đế chế hùng mạnh nhưng đang trong một giai đoạn khủng hoảng. Nhưng thật may thay cho bản thân bà và cho cả nước Nga, Elizabeth Petrovna tuy còn nhiều điều còn kiếm khuyết nhưng bà còn được thừa hưởng lại một số các bậc anh tài từ thời cha trị vì để lại, họ đã trợ giúp bà rất đắc lực trong thời gian bà trị vì. Cùng với cách nhìn nhận luôn sắc sảo và tài xử trí rất khôn khéo của bà một lần nữa bà đã làm sống lại thời kỳ trị vì của Peter Đại Đế.

Sau khi bãi bỏ hệ thống nội các đặc ân trong chính phủ trong thời gian trị vì của hai vị nữ Hoàng Anna, bà đã cho thành lập lại một hội đồng chính phủ như dưới thời trị vì của Peter Đại Đế, với các vị lãnh đạo cao nhất của các bộ trong quốc gia, không sử dụng người Đức ở các thành phần trong chính phủ. Mối quan tâm đầu tiên của vị nữ Hoàng là dàn xếp sự tranh chấp với Thụy Điển. Ngày 23/1/1743, bà trực tiếp thương lượng giữa hai bên tại Åbo (Turku), ngày 7/81743 tại Treaty thuộc Åbo), sau đó Thụy Điển đã phải nhượng lại cho nước Nga tất cả phần lãnh thổ phía nam Phần Lan và phía đông của dòng sông Kymmene, do đó đã xác định rõ đường biên giới giữa hai quốc gia. Bao gồm cả các pháo đài Villmanstrand và Fredricshamn.
Kết quả thắng lợi này chủ yếu là do sự tài tình và khôn khéo trong ngoại giao của vị phó quan chưởng ấn mới nhậm chức là Aleksey Petrovich Bestuzhev-Ryumin, ông này tuy không được chính bản thân Elizabeth sủng ái, nhưng với sự suy xét khôn ngoan cho nên ngay sau khi lên ngôi bà đã bổ nhiệm ông ta nhận cương vị lãnh đạo bộ ngoại giao.
Một sự kiện vĩ đại nhất trong những năm cuối cùng của nữ Hoàng Elizabeth là "Cuộc chiến tranh 7 năm". Elizabeth rất quan tâm đến hiệp ước Westminster (16/7/1756, Anh quốc và Phổ đã phê chuẩn một hiệp ước Westminster để liên kết các lực lượng quân đội của họ để chống lại với các lực lượng nước ngoài) hoàn toàn có tính chất phá vỡ hiệp định giữa Anh và Nga trước đây. Cùng với nhiều mối lo ngại có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của nước Nga, do vậy ngày 17/5/1757 quân đội Nga với 85.000 binh lính hùng mạnh nhất tiến đánh thành phố Königsberg (Kaliningrad – tiếng Nga Калининград – tiếng Đức Königsberg địa danh này trước đây thuộc nước Phổ ).
Thời kỳ lâm trọng bệnh nặng nề nhất của nữ Hoàng bắt đầu là cơn ngất lặng tại Tsarskoe Selo vào ngày 19/9/1757 cùng với sự gục ngã của Bestuzhev, những âm mưu bè phái của những thế lực nước ngoài tại St. Petersburg, đã cản trở tiến triển của cuộc chiến và sự thua trận liểng xiểng tại mặt trận Kunersdorf. Vào ngày 5/1/1762, nữ Hoàng Elizabeth băng hà. Sau khi bà mất, Catherine đệ nhị lên nắm quyền trị vị nước Nga.
Chỉ trong một thời kỳ ngắn, mà nước Nga đã phải trải qua rất nhiều triều đại, và nhiều thăng trầm tịnh biến. Nhưng cũng có biết bao cải cách của Peter Đại Đế đã dày công vun đắp bị tan vỡ, chỉ đến khi Nữ hoàng Catherine Đệ nhị (Catherine Vĩ Đại) lên trị vì nước Nga, thì những khát khao của ông đưa nước Nga trở thành một cường quốc hùng mạnh nhất châu Âu mới thành hiện thực

nthach 15-09-2008 11:30

Triều đại của Catherine Vĩ Đại

http://famous.russian-women.net/imag..._the_Great.jpg
Nữ Hoàng Catherine Vĩ Đại


Bà là nữ Hoàng trị vì nước Nga (1762-96), người mà đã tiếp tục tiến trình Âu hóa nước Nga được khởi nguồn bởi Peter Đại Đế và bà đã có công đưa nước Nga trở thành một cường quốc tại Âu châu. Tên thật của bà là Sophie Fredericke Auguste von Anhalt-Zerbst, bà sinh ngày 2/5/1729 tại Stettin (nay là Szczecin thuộc Balan) là con gái thứ của Hoàng tử Đức. Năm 1745, bà thành hôn với đại công tước Peter của xứ Holstein, người được thừa kế ngai vàng nước Nga. Cuộc hôn nhân có vẻ như không được vui vẻ, nhưng có tham vọng và thông minh, Catherine đã sớm xoay xở để xây dựng lên một giới ủng hộ mình tại Saint Petersburg. Năm 1754 bà sinh hạ được một người con trai, sau này là Hoàng đế Paul. Khi chồng của bà kế vị ngai vàng và lấy danh hiệu là Peter III vào năm 1762. Ông bị dân chúng không tin cậy, dao động và khinh miệt, chẳng bao lâu ông ta trở nên xa lánh với một vài nhóm có thế lực trong giới thượng lưu Nga. Ngày 9/7/1762, do có sự xắp đặt, đội ngự vệ quân đã tổ chức lật đổ ông ta và đưa Catherine lên thay thế ngai vàng.

Catherine và Thời đại khai sáng Catherine rất quan thuộc với Thời đại Khai sáng của Pháp, đó là một thời đại có ảnh hưởng trọng đại tới tư tưởng của triều nội nước Nga thời bấy giờ. Bà đã giao thiệp rộng rãi với các nhà văn Pháp như Voltaire và Denis Diderot, trợ cấp tài chính cho họ cũng như cho một số nhà văn Pháp khác, bà cũng đã đón tiếp nhà văn Denis Diderot tại buổi chầu của mình vào năm 1773. Nhưng những hoạt động này nhằm mục đích tạo dựng nên một ý tưởng đổi mới có triển vọng tại Đông Âu, do đó bà rất quan tâm và hy vọng ứng dụng các tư tưởng của thời đại khai sáng để cải cách và sửa đổi triều chính của Đế chế Nga. Mặc dù sự chú tâm của bà để cải tổ các tính hợp pháp thời đó rất mãnh liệt, nhưng cho đến năm 1767 các ý định đó cũng không thành công. Trong các thành tựu to lớn mà bà đã đạt được bao gồm cả sự thành lập các trường nữ sinh đầu tiên của nước Nga và một trường cao đẳng y khoa để cung cấp các nguồn chăm sức sức khỏe cho dân chúng. Trong những năm đầu trị vì của bà, Catherine đã thu nhận được sự trợ giúp rất đắc lực của tầng lớp những người có địa vị xã hội cao ở nước Nga và còn có thêm một nhóm những nhà quí tộc cũng đứng ra ủnh hộ bà mạnh mẽ. Bà phê chuẩn cho những người có địa vị cao trong xã hội được giải phóng khỏi sự bắt buộc phải phục vụ trong quân đội, theo như chiếu chỉ đã ban hành của hoàng đế Peter III trước đây. Ngoài ra bà cũng đã ban cho họ nhiều đặc ân khác nữa, bà ban thưởng cho những người ủng hộ bà những tước vị, chức vụ, điển sản và những nông nô để làm việc trên các vùng đất đai của họ. Do đó, tuy có nhiều chống đối của giai cấp nông nô, bà vẫn cho triển khai sự thay đổi rộng lớn từ gia cấp nông dân của quốc gia, sang giai cấp nông nô của các địa chủ, để sử dụng sức lao động triệt để của giai cấp nông nô, và tăng tối đa mức quyền lực cho những người có địa vị cao trong xã hội để họ tự kiểm soát đối với các nông nô của mình
Về sau, chủ nghĩa nông dân bảo thủ đã náo động lên đến cực điểm trong một cuộc nổi dậy rầm rộ (1773-75), được lãnh đạo bởi một người Côdắc tên là Yemelyan Pugachov, sự sôi sục đó đã vượt qua cả lưu vực sông Volga và vùng Ural trước khi bị đè bẹp bởi lực lượng quân đội. Cuộc nổi dậy đó đã làm cho chính phủ phải tăng cường thêm chính sách đối nội. Quân đội Côdắc bị giải tán, những người Côdắc khác được ban cho những đặc ân để cố gắng biến họ thành những người trợ giúp trung thành cho triều đình.
Năm 1775, một cuộc cải cách trọng đại của các chính quyền cấp tỉnh đã được thực hiện trong một sự cố gắng kiểm soát tốt nhất của chính phủ. Cuộc cải cách thuộc các chính quyền thành phố cũng được ban hành. Cuộc cách mạng Pháp đã làm cho Catherine tăng thêm sự phản đối về những ý tưởng theo chủ nghĩa tự do. Một vài người của giai cấp nông nô đã lên tiếng chỉ trích bà như: Nikolay I. Novikov và Aleksandr N. Radishchev, nhưng sau đó họ đã bị tống giam, Catherine dường như đã có kế hoạch gia nhập vào liên minh Âu châu để chống lại nước Pháp khi bà băng hà ngày 17/11/1796 tại St. Petersburg. Dưới thời trị vì của nữ Hoàng Catherine, lãnh thổ của nước Nga đã được mở rộng thêm bờ cõi, đó là thành quả của hai cuộc chiến chống lại đế quốc Ottoman (1768-74 và 1787-91) và sự thôn tính Crưm (1783), nước Nga cũng đã giành được kiểm soát bờ bắc Biển Đen, người Nga cũng kiểm soát được nhiều vùng rộng lớn của Balan và Latvi, ba lần thôn tính tột đỉnh và rầm rộ nhất vào ba vùng đất rộng lớn trên lãnh thổ Balan là vào những năm 1772, 1793, 1795.

Nét tiêu biểu đã sắm vai quan trọng trong thời trị vì của Catherine là những người tình hoặc sủng thần của bà. Mười người đàn ông đã liên quan đến cuộc đời bà nửa chính thức, nửa không chính thức. Ít nhất cũng là hai người Grigory Orlov và Grigory Potemkin, họ đã có công đóng góp rất quan trọng trong các chính sách đối nội và đối ngoại của Nga hoàng. Tuy nhiên Catherine vẫn là một người đóng vai trò quan trọng không thể hoài nghi cho công cuộc phát triển nước Nga trở thành một quốc gia hiện đại.

Khi Nữ Hoàng Vĩ Đại băng hà vào năm 1796, người kế vị tiếp theo là con trai bà, thái tử Paul I. Triều đại của nhà vua Paul I chỉ tồn tại được trong có 5 năm, và cũng là một triều đại hoàn toàn thảm họa. Không những không làm gì được thêm để phát triển đất nước, ông còn hủy hoại đi rất nhiều những gì mà mẹ ông đã gây dựng được. Năm 1801, sau khi ông mất, người kế vị ông là thái tử Alexander I, trong giai đoạn này, nước Nga luôn ghi nhớ đến vai trò lãnh đạo của ông, với chiến thắng oanh liệt của quân đội Nga trước quân xâm lược của Napoleon Bonaparte.

nthach 15-09-2008 11:32

Cuộc chiến với quân đội của Napoleon

http://web2.airmail.net/napoleon/ret...rom_Russia.jpg
Napoleon trong khi đang rút chạy khỏi nước Nga năm 1812, Tranh của: Kossak.
Từ trái sang phải: Người đánh trống, những binh lính ném lựu đạn, người cầm cờ, Napoleon, Murat, và các sĩ quan.


Vào tháng 6 năm 1812, Napoleon bắt đầu mở một chiến dịch quân sự định mệnh nhằm chống lại nước Nga, một mốc giới trong lịch sử của sự hủy diệt trong chiến tranh. Hầu như tất cả các lục địa của châu Âu thời bấy giờ, đều nằm dưới sự kiểm soát của ông ta. Và cuộc xâm lược của ông ta vào nước Nga nhằm buộc Sa hoàng Alexander I, một lần nữa phải qui phục các điều khoản của hiệp ước mà Napoleon đã áp đặt cho nước Nga vào bốn năm trước. Chiến dịch này của Napoleon được tập hợp khoảng nửa triệu binh lính từ Pháp, cũng như từ các quốc gia chư hầu ở châu Âu. Trong chiến dịch quân sự này, Napoleon đã dẫn theo một đạo quân đông chưa từng thấy. Bên phía quân đội Nga, dưới sự chỉ huy của thống chế Kutuzov, thực sự là không thể hy vọng đương đầu trực tiếp với quân địch trong lúc này được. Do đó, quân đội Nga phải có sự thay đổi tình thế, bằng cách rút quân chiến lược để tạo thế phòng thủ. Quân đội Nga đã dùng kế sách tiêu thổ , với ý định không cho quân địch chiếm dụng được các phương tiện, lương thực… và họ luôn tổ chức các trận đột kích nhằm quẫy nhiễu vào các cánh của quân Pháp. Do bị tiêu hao và tổn thất nhiều lương thực và quân yếu trong mùa hè, nên các nguồn dự trữ đồ sộ của Napoleon cũng dần cạn kiệt, quân đội Pháp lúc này bị giảm đi mất hơn hai phần ba do kiệt sức, đói, đào ngũ, và các cuộc đột kích của quân đội Nga. Đúng thời điểm này, Sa hoàng Nga quyết định giao chiến với địch, vào ngày 7 tháng 9, với một mùa đông đang đến gần và quân Pháp chỉ còn cách Moskva có 110 Km, cả hai bên cùng đối mặt trên chiến trường Borodino. Cuối cùng, vào cuối ngày hôm đó, có đến 108.000 người bị thiệt mạng, nhưng cả hai phía chưa có bên nào giành được thắng lợi. Sau đó Kutuzov nhận thấy rằng, nếu còn giữ thêm bất kỳ một sự phòng thủ nào cho thành phố cũng trở nên vô nghĩa, do đó ông quyết định lui binh, và huy động toàn bộ dân chúng tản cư ra khỏi thành phố Moskva. Ngày 14 tháng 9, khi quân đội của Napoleon tiến vào, thì Moskva hầu như không còn một bóng người dân nào, và ở đây cũng không còn bất kỳ một nguồn cung cấp lương thực, không có bất một tiện nghi sơ sài nào dành lại cho quân Pháp, để chống lại một mùa đông khắc nghiệt của nước Nga đang đến gần. Tình thế làm cho quân Pháp lại càng trở nên tồi tệ hơn, vì vào đúng đêm hôm đó cả thành phố Moskva dường như bốc cháy dữ dội, và đến ngày hôm sau thì quan quân của Pháp hầu như không còn một nơi ẩn náu nào.

Sau khi chờ đợi để Alexander thương lượng đàm phán nhưng hoàn toàn vô ích, Napoleon buộc phải quyết định bắt đầu rút quân về nước. Do đường đi về phía nam đã bị quân đội của Kutuzov chặn đứng, nên quân Pháp buộc phải chọn cách rút quân trở về theo con đường cũ, con đường mà trước đây chính chúng đã tàn phá khi tiến hành xâm lược qua những nơi đây. Chờ đợi đến giữa tháng mười để tiến hành rút quân, quân đội Pháp đã hầu như đã kiệt sức cũng sớm tự nhận ra một mùa đông chết chóc, trên thực tế, vào thời kỳ này mùa đông đến với nước Nga sớm hơn thường lệ và cực kỳ khắc ngiệt với những giá lạnh tàn khốc. Nhiệt độ ngoài trời nhanh chóng hạ xuống kinh khủng, làm cho vạn vật trở thành băng giá, những người Cô Dắc thì liên tục tấn công những tên địch tách khỏi đội hình, và họ cũng không ngừng đột kích vào những đơn vị riêng lẻ của quân Pháp, lương thực dành cho binh sĩ của chúng thì hầu như đã cạn kiệt hết, trong khi đó thì cuộc rút lui đã đi được 5 trăm dặm. Chỉ có khoảng 10 ngàn binh sĩ của Pháp còn sống sót trong cuộc xâm lược này. Chiến dịch quân sự của Napoleon nhằm vào nước Nga hoàn toàn thất bại.

nthach 15-09-2008 11:33

Trong thế kỷ 19, nước Nga mở rộng thêm lãnh thổ và quyền lực. Biên giới nước Nga được mở rộng đến tận Afghanistan và Trung Quốc, và lãnh thổ kéo dài thêm đến tận bờ biển Thái Bình Dương. Nhiều các thành phố cảng được thành lập thêm để mở rộng thông thương. Và công trình xây dựng tuyến đướng sắt xuyên suốt Siberia được tiến hành (1891-1905), tuyến đường này lên kết nước Nga từ phía châu Âu sang các miền lãnh thổ mới ở phía đông.

Năm 1894, Nicholas II lên nối ngôi. Ông là một Sa Hoàng cai trị triều chính tỏ ra kém cỏi nhất trong các lãnh tụ của các vương triều Nga, không những thế, các vị bộ trưởng dưới quyền của ông toàn là những kẻ phản động. Điều tệ hại hơn, trong thời kỳ này sự hiện diện của những người Nga ngày càng tăng lên ở các vùng đất Viễn Đông, điều này lại càng làm trọc tức sự thù địch của người Nhật. Vào tháng giêng năm 1905, quân Nhật tấn công nước Nga, làm cho quân đội Nga bị tổn thất nặng nề và bị thất bại liên tiếp. Nicholas buộc phải nhượng bộ với những người theo xu hướng cải cách. Đặc biệt nhất là, triều đình buộc phải cải tổ hiến pháp và quốc hội, quyền lực phải được phân hóa đều trong xã hội. Nền công nghiệp hóa ở các thành phố lớn phía tây, cùng với các mỏ dầu ở Batu được phát triển manh mẽ, ở những nơi đây tập trung rất đông công nhân đến làm việc, chẳng bao lâu sau những người công nhân này đã trở thành tổ chức nòng cốt của các hội đồng chính quyền địa phương hoặc các Xô Viết. Trong thời kỳ này, đa số quyền lực đều rơi vào các Xô Viết, dưới sự thống nhất của đảng Dân chủ Xã hội, đảng mà đã ép buộc Sa Hoàng Nicholas phải chấp nhận cải cách vào năm 1905.

Sau khi cuộc chiến với Nhật được khép lại, Sa Hoàng Nicholas đã cố lật ngược tình thế, để nhằm thay đổi nền tự do mới được thành lập, và chính quyền của ông ta lại càng trở nên phản động điên cuồng hơn bao giờ hết. Dân chúng tỏ ra bất bình và phẫn nộ tột đỉnh, trong lúc này thì Nicholas chống lại với tính thế bằng cách liên tục tăng thêm các cuộc đàn áp đẫm máu hơn, triều đình vẫn duy trì kiểm soát quyền lực, nhưng uy tín với dân chúng thì lại càng trở nên tồi tệ hơn. Năm 1912, những người Dân chủ Xã hội được chia làm phe phái. Phái chiếm đa số là đảng của những người Bolshevik, và còn một số ít trở thành phe Menshevik. Vào năm 1914, một cuộc chiến thảm khốc khác lại lần nữa được bùng lên trong cơn khủng hoảng. Cuộc Thế chiến Thứ nhất, tuy nhiên nó mới nổ ra ngay bên ngưỡng cửa phía tây của nước Nga. Quân đội và các phương diện kỹ thuật, công ngiệp… hoàn toàn chưa chuẩn bị được từ trước, cho nên nước Nga bị bại trận liên tiếp, lương thực thiếu trầm trọng, và nền kinh tế thì đang trong một giai đoạn cuối của sự sụp đổ. Tháng hai năm 1917, những người lính và công nhân đã hoàn toàn chán ngấy cái xã hội thối rữa này. Các cuộc náo loạn được khởi phát triển miên ở St. Petersburg, thành phố mà khi đó còn được gọi là Petrograd. Những người công nhân Xô Viết được thành lập, và Duma đã chấp nhận chính phủ lâm thời mới được thành lập, để cố gắng khôi phục lại trật tự ở thủ phủ của nước Nga. Tất nhiên, với tình thế quyền lực này, thì Sa Hoàng Nicholas rõ ràng là hoàn toàn không ủng hộ. Và vào ngày 2 tháng 3, Sa Hoàng Nicholas II buộc phải thoái vị
http://www.visitrussia.com/photos/hist-zimny.jpg

Lúc này, chính phủ lâm thời của nước Nga do Duma đứng ra tổ chức, họ cố gắng theo đuổi các chính sách ôn hòa, theo xu hướng lập lại trật tự và hứa sẽ sửa đổi quyền lợi cho những công nhân. Tuy nhiên, những điều hứa hẹn này chỉ là miễn cưỡng, để nhằm tán thành hầu hết mọi đòi hỏi của những người Xô Viết – một tán thành để nhắm kết thúc những xung đột. Trong 9 tháng kế tiếp, Chính phủ Lâm thời dưới quyền chỉ đạo đứng đầu là Hoàng thân Lvov và kế tiếp sau là Alexandr Kerensky, không thể thành lập được ra được một chính quyền ổn định. Trong lúc này, những người Bolshevik lại được sự ủng hộ mạnh mẽ của các Xô Viết. Ngày 25 tháng 10, Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Ilyich Lenin, những người Bolshevik đã ồ ạt tấn công vào Cung điện Mùa Đông và truất phế chính phủ của Kerensky.
Mặc dù những người Bolshevik có được sự ủng hộ mạnh mẽ ở St. Petersburg và ở Moskva, nhưng họ vẫn chưa thể kiểm soát được toàn bộ nước Nga. Thời kỳ này, những người Bolshevik, đã đưa nước Nga thoát khỏi chiến tranh (mặc dù phải chấp nhận các điều khoản không thuân lợi), nhưng cũng vào thời gian này, nước Nga lại bùng pbát lên một cuộc nội chiến. Để rồi trong suốt ba năm kế tiếp theo, nước Nga lại bị tàn phá bởi cuộc nội chiến mãnh liệt này. Cuối cùng, năm 1920
những người Bolshevik đã giành được thắng lợi hoàn toàn và lên nắm quyền kiểm soát đất nước.

Trong những năm đầu của chính quyền Xô Viết, thời kỳ này đã làm bùng nổ những thay đổi đến phi thường về văn hóa và xã hội trên toàn đất nước Nga.
Sau khi Lênin qua đời vào năm 1924, Joseph Stalin lên nắm quyền lãnh đạo Liên Xô, ông liền lái con thuyền đất nước của mình theo một hướng khác. Các vùng đất nông nghiệp được tập thể hóa, nền công nghiệp được phát triển nhanh chóng…

http://www.visitrussia.com/photos/hist-reyhstag.jpg

Với sự bùng nổ của cuộc thế chiến thứ hai. Mặc dù đã ký kết với Đức một hiệp ước không gây hấn lẫn nhau (1939), nhưng Hitler vẫn bội ước và dẫn quân xâm lược Liên Xô vào tháng 6 năm 1941. Vào cuối năm đó, quân Đức đã chiếm đóng hầu như toàn bộ lãnh thổ của Liên Xô ở phía tây, bao vây Leningrad - St. Petersburg, và chúng tiến đến chỉ cách Moskva có vài trăm kilômet. Với những nỗ lực dữ dội, người Nga đã tổ chức một cuộc phản công mãnh liệt, đẩy lui quân địch bật ra khỏi thủ đô của nước Nga. Nhưng đến mùa hè năm 1942, quân Đức lại tiến hành một cuộc xâm chiếm mới, chúng tiến đánh vào mặt trận phía nam, hòng giành kiểm soát tuyến đường sắt trung tâm ở Stalingrad bên dòng sông Volga, và các mỏ dầu Capcas. Mặc dù hoàn toàn thua kém với quân địch về quân số và các loại vũ khí hiện đại, nhưng quân đội Nga vẫn đững vững trước mặt một đội quân Đức khổng lồ. Vào tháng 11, một lực lượng cứu viện của Hồng quân đã đến và lật ngược thế trận, họ bao vây những kẻ tấn công và buộc chúng phải đầu hàng toàn bộ, làm nên một bước ngoạt lịch sử trong cuộc đại chiến này. Và sau trận chiến Stalingrad huyền thoại, quân đội Nga đã giữ vững và phát triển thế trận này vào các cuộc tấn công kế tiếp. Đến năm 1944, họ đã buộc quân Đức phải lui quân về Balan, và vào ngày 2 tháng 5 năm 1945, quân đội Liên Xô đã kéo cờ chiến thắng trên thành phố Berlin.
Liên Xô nổi lên như một cường quốc từ sau thế chiến thứ hai, họ còn hùng mạnh hơn cả trước khi xảy ra cuộc chiến. Mặc dù toàn bộ đất nước bị tàn phá nặng nề, và tổn thất mất hơn hai mươi triệu đồng bào, nhưng Liên Xô vẫn đứng lên và mở rộng thêm nhiều lãnh thổ, và đến lúc này, cùng với Mỹ, Liên Xô được coi là một trong hai cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. Sản lượng công nghiệp, một lần nữa lại tập trung dể tăng cường bền vững nền công nghiệp nặng…
Vào năm 1953 Stalin từ trần, hầu như ngay lập tức sau khi ông mất, rất nhiều các chính sách dưới thời ông lãnh đạo đã bị bãi bỏ. Dưới thời lãnh đạo của Nikita Khrushchev, các sự kiểm soát của chính phủ có phần thoải mái hơn, và đời sống văn hóa được phục hưng trong một giai đoạn ngắn. Tuy nhiên, trong nội bộ đảng cũng có những sự phản đối Khrushchev, và đến năm 1964, ông thôi giữ chức vụ lãnh đạo. Trong những năm 1970, Leonid Brezhnev nguyên là tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU). Trong giai đaọn này Liên Xô cũng chỉ phát triển một cách bình thường. Sau khi Brezhnev mất vào năm 1982, người kế nhiệm ông là tổng bí thư thứ nhất Yuri Andropov, người đứng đầu cơ quan KGB, và sau đó là Konstantin Chernenk. Vào tháng 3 năm 1985, khi Mikhail Gorbachev trở thành tổng bí thư của Liên Xô, ông đã đưa ra hàng loạt cải tổ đất nước.
Nền tảng của Gorbachev để cải tổ cho một nhà nước Liên Xô mới dựa theo hai yếu tố cơ bản – glasnost (tính công khai) và perestroika (cơ cấu lại tổ chức). cũng giống như Khrushchev, tổng bí thư Gorbachev dự định khôi phục lại hệ thống kinh tế Xô Viết, bằng việc nới lỏng bớt sự kiểm soát trong xã hội, mở thêm một số phạm vi để tiếp nhận các ý tưởng mới, nới lỏng kiểm soát nền kinh tế…
Trong thời gian đầu của một thập kỷ cải tổ, các vấn đề chung của nhà nước Liên Xô trở thành chủ đề tranh luận rộng rãi. Cảnh nghèo nàn, tệ tham nhũng, sự quản lý tồi tệ về tài nguyên của đất nước diễn ra phổ biến, cùng với sự chán nản của dân chúng về cuộc chiến tranh Afghan… Trong lúc này có một số lãnh đạo có quan điểm cự đoan với cải cách nổi lên, trong đó bao gồm cả bí thư thành ủy Moskva, ông Boris Yeltsin. Ông này tỏ ra bất đồng gay gắt giống như Andrei Sakharov, họ là những người đầu tiên lên tiếng chỉ trích chính phủ đương thời.
Vào năm 1990 Liên Xô bắt đầu tan rã. Các nước cộng hòa trong liên bang cũng bắt đầu đưa ra các tuyên bố độc lập. Ở nước Cộng hòa Nga, Yeltsin lên làm tổng thống và vào đêm ngày 31 tháng 12 lá cờ Xô Viết trên đỉnh Kremlin được thay thế bằng lá cờ ba màu của nước Nga.
Tổng hợp tin và ảnh từ:
http://www.visitrussia.com
http://russia.rin.ru
http://www.russiansabroad.com
http://famous.russian-women.net
http://www.varvar.ru

nthach 15-09-2008 11:34

Xóa bài này vì trùng với bài trên

USY 15-09-2008 15:39

Thật ngưỡng mộ và cảm ơn bác nthach đã tập hợp đựoc cả một công trình có ý nghĩa ngang sách giáo khoa lịch sử này!:emoticon-0150-hands :emoticon-0171-star::emoticon-0171-star::emoticon-0171-star::emoticon-0171-star::emoticon-0171-star:

hungmgmi 15-09-2008 21:31

Chào bác nthach, rất thán phục bác với topic này. Nhưng xem qua thì tôi thấy thời kỳ 24-39 của TK 20 khá quan trọng hầu như không có bác ạ, bác xem có bổ sung được không?

TLV 15-09-2008 22:30

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 17469)
..Nhưng xem qua thì tôi thấy thời kỳ 24-39 của TK 20 khá quan trọng hầu như không có bác ạ, bác xem có bổ sung được không?

Về thời kỳ này có thể đọc:

- Các Chủ tịch KGB - Những hồ sơ lộ sáng / Leonid Mlechin
Download ebook: Chu tịch KGB

- Hồ sơ mật Liên Xô / Trọng Phụng và Văn Toàn biên soạn
Đọc Chủ đề của Tieuboingoan

- Báo cáo mật / Khrushov
...

nthach 23-09-2008 11:04

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 17469)
Chào bác nthach, rất thán phục bác với topic này. Nhưng xem qua thì tôi thấy thời kỳ 24-39 của TK 20 khá quan trọng hầu như không có bác ạ, bác xem có bổ sung được không?

Vâng, tôi có dự định thành lập topic này như một niên giám lịch sử của nước Nga, kế tiếp sau đây là những bài của tất cả các thành viên trong diễn đàn viết về lịch sử của nước Nga, hoặc chép lại ở các trang khác – bằng tiếng Việt về, sẽ được đưa vào links ở bài Index đầu topic ví dụ tôi coppy được một bài nói về Lênin dưới đây thì bài Index sẽ được đưa đường link vào:
Lênin từ trần
như bài số 24 tôi đã sửa (nhưng chưa biết cách chỉ đưa mỗi bài Lênin từ trần vào thôi chứ đưa cả đường Link của cả trang vào như vậy e bất tiện). Việc này cần phải nhờ đến các Supmod. cứ có một bài nào có liên quan đến lịch sử nước Nga ở bất kỳ topic nào trong diễn đàn, thì các bác cũng đưa vào Link như vậy. Nhờ Virus gài cả Topic này lên đâu Box nhé, để mọi người dễ dàng tra cứu khi cần tìm một bài có liên quan đến sự chú tâm nào của mình.
Rất mong tất cả các bác cùng tham gia đóng góp để chúng ta có một Topic LỊCH SỬ NƯỚC NGA hoàn chỉnh, cho dù topic này có thể phải làm đến nhiều năm nữa. Xin chân thành cảm ơn

nthach 23-09-2008 11:07

Lênin từ trần


http://www.aha.ru/~mausoleu/lenin_ma...ith_stalin.jpg

Sức khỏe Lenin đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau những căng thẳng trong cuộc cách mạng và nội chiến. Vụ ám sát ông càng làm tình trạng thêm tồi tệ. Viên đạn vẫn nằm trong cổ ông, quá gần xương sống để có thể lấy ra trong tình trạng kỹ thuật y tế thời ấy. Tháng 5 năm 1922, Lenin bị đột quỵ lần đầu tiên. Ông bị tê liệt nửa người bên phải và dần giảm bớt ảnh hưởng trong chính phủ. Sau vụ đột quỵ thứ hai vào tháng 12 năm ấy, ông hầu như từ bỏ các hoạt động chính trị. Tháng 3 năm 1923, ông bị đột quỵ lần thứ ba và phải nằm liệt giường trong cả phần đời còn lại, thậm chí không thể nói được.

Sau lần đột quỵ đầu tiên, Lenin đã đọc cho thư ký ghi lại một số tài liệu về chính phủ và vợ ông. Nổi tiếng nhất trong số đó là bản Di chúc của Lenin, trong đó cùng với nhiều sự kiện khác ông đã chỉ trích những nhà lãnh đạo cộng sản hàng đầu, đặc biệt là Joseph Stalin. Về Stalin, người từng là tổng thư ký Đảng cộng sản từ tháng 4 năm 1922, Lenin nói rằng ông ta có "quyền lực vô hạn tập trung trong tay" và đề xuất rằng "các đồng chí nghĩ cách lật đổ Stalin ra khỏi vị trí ấy." Ngay khi Lenin qua đời, vợ ông đã gửi bản Di chúc tới ủy ban trung ương, nó được đọc trước Đại hội lần thứ 13 của Đảng cộng sản vào tháng 5 năm 1924. Tuy nhiên, vì di chúc chỉ trích tất cả những nhân vật có ảnh hưởng nhiều nhất trong ủy bản trung ương: Zinoviev, Kamenev, Bukharin và Stalin, ủy ban đã quyết định không công bố nó ra đại chúng. Ủy ban trung ương cho rằng di chúc là hậu quả của tình trạng tâm thần bất ổn của Lenin trong những năm cuối đời, và vì thế, những lời phán xét cuối cùng của ông không đáng tin cậy. Việc không đếm xỉa tới những ý kiến của Lenin sau này thường được cho là một sai lầm nghiêm trọng.

Di chúc của Lenin được Max Eastman xuất bản chính thức lần đầu tiên năm 1926 tại Hoa Kỳ.

Lenin mất ngày 21 tháng 1, 1924 ở tuổi 53. Những lời đồn thổi về việc Lenin đã bị bệnh giang mai đã dậy lên ngay sau khi ông mất. Lý do chính thức dẫn tới cái chết của Lenin là xơ cứng động mạch não, hay cơn đột quỵ lần thứ tư. Nhưng trong số 27 bác sĩ đã từng điều trị cho ông, chỉ có tám người ký ào bản kết luận khám nghiệm tử thi. Vì thế nhiều giả thuyết khác về cái chết của ông đã được đặt ra. Ví dụ, một bản chẩn đoán sau khi chết do hai chuyên gia tâm thần học và một nhà thần kinh học xuất bản gần đây tại trên Tạp chí Thần kinh Châu Âu cho rằng Lenin chết vì bệnh giang mai.

Những tài liệu được công bố sau khi Liên xô tan rã, cùng với những hồi ký của các bác sĩ từng điều trị cho Lenin cho thấy rằng Lenin đã được điều trị bệnh giang mai ngay từ năm 1895. Các tài liệu cũng cho rằng Alexei Abrikosov, nhà nghiên cứu bệnh học chịu trách nhiệm mổ xác, đã được ra lệnh chứng minh Lenin không phải chết vì bệnh giang mai. Abrikosov đã không đề cập tới trong văn bản kết luận sau mổ; tuy nhiên, tổn thương mạch máu, tình trạng tê liệt và những chứng bất lực khác mà ông chỉ ra là đặc trưng của bệnh giang mai. Khi bản báo cáo mổ xác được công bố lần thứ hai, không một cơ quan, động mạch chính, hay những vùng não thường bị ảnh hưởng bởi giang mai nào được đề cập tới.

Năm 1923, các bác sĩ của Lenin đã dùng Salvarsan, đây là thứ thuốc duy nhất thời ấy đặc biệt dùng điều trị giang mai, và kali iođua (potassium iodide), cũng là thứ thuốc thường được dùng trị bệnh đó, để điều trị cho ông.

Dù có thể ông bị nhiễm giang mai, thì đa phần dân Nga thời ấy cũng mắc căn bệnh này. Tương tự, ông không hề có thương tổn quan sát thấy ở bất cứ đâu trên thân thể tương ứng với những giai đoạn phát triển cuối của căn bệnh. Đa số các nhà sử học vẫn đồng ý rằng có lẽ nguyên nhân thích hợp nhất dẫn tới cái chết của ông là một cơn đột quỵ do viên đạn vẫn còn năm trong cổ ông sau vụ ám sát gây ra.

Thành phố Petrograd đã được đổi tên thành Leningrad ba ngày sau khi Lenin qua đời để vinh danh ông; cái tên này giữ nguyên cho tới khi Liên bang xô viết sụp đổ năm 1991, khi nó lấy lại tên cũ là Sankt-Peterburg.

Thời gian đầu thập kỷ 1920 phong trào vũ trụ luận ở Nga khá sôi động và đã có ý tưởng bảo quản lạnh xác Lenin nhằm tái sinh trong tương lai. Những phương tiện cần thiết đã được mua về từ nước ngoài, nhưng vì một số lý do kế hoạch này không được thực hiện. Thay vào đó xác ông được ướp và đặt trong Lăng Lenin tại Mátxcơvangày 27 tháng 1, 1924.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Ilyich_Lenin

sasha88 09-03-2009 14:49

topic này quả thật rất có ích.e đang phải học môn lịch sử nước nga. đây là 1 tài liệu khá đầy đủ. cám ơn bác nthach

huyphuc1981_nb 01-07-2009 20:14

Xin đủ cái wiki đi, đấy là cái công cụ làm liệt não.
Lê Nin chết vì bệnh giang mai ?? Lênin chỉ trích Stalin ?? và các thứ đó căn cứ vào tài liệu ở Mỹ xuất bản cùng thời. Vậy các hồi ký của những người xung quanh Lenin có sâu hơn không, những ấn bản xuất bản chính thức của nhà nước có đáng tin hơn không ?? Những văn bản bí mật của lãnh đạo mà nhà nước Nga không có, lại được xuất bản ở nước thù địch năm 1926 ?? Penicillin để chữa giang mai thì viêm họng dùng Penicillin cũng là do giang mai ??
Còn gì nữa, Stalin giết 30 triệu người à, dân số Nga lúc đó có đủ gấp đôi cái 30 triệu người đó không ?? Những lý sự như thế chỉ liệt não đến mức nào mới tin được ??

Mình nghĩ rằng, những điều đó đặt ở cái công cụ làm thối não wiki thì tốt hơn là ở đây.

Lênin chết đương nhiên do vết thương phát triển, vết thương rất nặng và nhiễm trùng nhiều lần, tái phát nhiều lần. Lênin có tham gia điều hành nhà nước đến lúc chết không ?? đương nhiên là có, ông suy kiệt về thể lực nhưng lại minh mẫn về trí óc.
Tài liệu chính thức đúng đắn thì đầy, nhưng một số người bệnh hoạn luôn thích tìm các gia vị thời trang.


Thời kỳ 1922-1939 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Nga. Sau một thời gian dài các mũi nhọn phát triển bị đè nén. Ở Nga, Lenin đã sáng suốt định nghĩa chính xác thực chất cửa sự thay đổi xã hội: "học, học, học". Trong khi đó, khi ĐCS Tầu lên, Mao thanh trừng trí thức. Còn một số nước hiện nay thì duy trì chính sách ngu dân bằng những công cụ như wiki.

Lenin chọn Stalin vào vị trí thay thế vì Stalin là người tỏ ra có đầu óc quản lý tốt, điều rất hiếm trong các thủ lĩnh Hồng Quân lúc đó. Stalin nổi lên mặt này khi tổ chức bố phòng thành phố sau này là Stalingrad (nay là Volgagrad), một trong những tiền tuyến hiếm hoi thành công trong phòng ngự trước cuộc nổi loạn. Tính chất quản lý là yêu cầu đặc biệt, cần thiết cho một kiểu nhà nước chưa bao giờ có. Chúng ta biết rằng, "tay chân" của Stalin đều là những thiên tài về quản lý trên mọi mặt, ví dụ Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Alexey Kosygin sau này, ngừoi đã sơ tán các nhà máy trong một kế hoạch siêu chính xác, sao cho các đoàn tầu cuối cùng rút đi thì đạn pháo quân Đức cũng vừa đến, và xưởng mới sản xuất trong khi nóc chưa hoàn thành. Chính nhờ sự quản lý chính xác đó mà chỉ trong chưa đến 20 năm, Liên Xô đã là một cường quốc, mạnh hơn Anh, Pháp cả về khoa học kỹ thuật và kinh tế. Chúng ta cần biết là năm 1922, Liên Xô gần như chết đói.





Trước thời cách mạng, chính quyền Nga Hoàng đã đè nén nhiều áp lực thúc đẩy phát triển. Đáng lý, các áp lực đó phì ra nước ngoài như đa số các nước châu Âu sau này, nhưng ở Nga, nhờ truyền thống tin thần, nhờ chính phủ mới mà các nhà phát triển đã không làm như vậy.

Mình ví dụ. Trước 1917, ở Nga có rất nhiều chương trình phát triển vũ khí tiên tiến, tập trung vào các loại vũ khí chủ lực như súng trường, súng máy, pháo và xe việt dã. Về súng trường, sau năm 1890, nước Nga trở thành nước có súng trường tiên tiến nhất mạnh mẽ thế giới Mosin, nhưng ngay từ những lô đầu tiên, Mosin đã bị bán hợp đồng sản xuất ra nước ngoài, ở Pháp và Mỹ. Các xe việt dã không được phát triển. Lúc đó, nước có kxyt huật vú khí tiên tiến nhất là Đức, lại có tình anh em lâu đời với Nga. Nhưng ngay cả các khẩu pháo đang được đặt làm ở Đức sau 1905 cũng dần bị chuyển sang các hợp đồng bòn rút ngân sách ở Pháp. Quan hệ mang tính dối trá biển thủ này đã dẫn đến việc Nga ủng hộ Pháp-Anh, tấn công Đức, bỏ đi tình anh em lâu đời. (Nước Phổ là một sản phẩm của Ba Lan-Lithonia tan rã, sự tan rã của nước này là kết quả Đại Chiến Bắc Âu của Piotr).

Nikolai Filatov là một trong những người đi đầu trong việc phát triển thế hệ vũ khí cầm tay mới. Ông đã đào tạo nhiều học trò như Vladimir Fedorov, Fedor Tokarev, Georgi Shpagin, Yakov Roshchepey, Vasily Degtriarev. Nikolai Filatov không được đầu tư cho một khẩu súng nào, nhưng ông đã đưa ra những lý thuyết cả về kỹ thuật và chiến thuật quân sự cho súng tự động.

Về lý thuyết. Người Pháp từ 1886 đã đưa ra súng trường Lebel với các đặc điểm của súng trường hiện đai: vỏ đạn và đầu đạn bọc kim loại mềm, vỏ đạn côn thay cho hình trụ, đầu đạn chóp nhọn có trọng tâm nằm sau tâm khí động thay cho đạn hình trụ, đầu đạn thép bọc kim loại mềm thay cho chì, thuốc đạn là chất cháy chậm tạo hình dẹt. Các kỹ thuật đầu đạn này do Phổ đề xuất (đạn spitzgeschoss), nhưng Pháp ứng dụng đầu tiên. Tuy nhiên, người Pháp đã không đủ cơ sở toán học và đầu tư kỹ thuật để phát triển đạn đến đầu đến đũa, hình dáng đầu đạn không đúng lắm, nên không tỏ rõ ưu việt và do đó, đạn cũ vẫn được dùng với tỷ lệ chủ yếu với súng có độ xoắn nòng cao. Thuốc đạn Pháp chế tạo đơn giản, không đủ độ bền. Người Đức áp dụng một số tiến bộ trên G98. Nhưng đến năm 1908, Nga mới là nước đầu tiên áp dụng phổ thông loại thuốc nổ viên bền chắc và đầu đạn được tính toán đúng, với độ oắn nòng đúng. Từ đây, Mosin là loại súng trường mạnh nhất, máy móc nó không tinh vi được như Mauser Đức, do ưu tiên khả năng sản xuất, nhưng đầu đạn Nga rất mạnh và đạn nhỏ gọn.

Cái lớn nhất mà nhóm Nikolai Filatov đưa ra là các chiến thuật sử dụng súng tự động, từ đó, định hình các loại súng tự động nên làm, trong đó có "súng trường xung phong", đi trước thời đại. Ngày nay vẫn là thời đị của súng trường xung phong.

Đây là thời kỳ được các nhà kỹ thuật vũ khí Nga gọi là "thời hy sinh toàn diện". Họ tập hợp với nhau, chia sẻ công việc và cuộc sống, phát triển vũ khí mà không nhận được bất kỳ sự giúp đỡ nào của chính quyền, quân đội và các nhà công nghiệp. Nước Nga có các thiết kế súng tự động, nhưng một số lượng ít ỏi súng quân đội được dùng chỉ do nhập khẩu. Nhóm các nhà khoa học thiết kế súng tự động đã tập hợp với nhau như vậy, cũng như các nhóm khoa học khác, về sau này trở thành nòng cốt kỹ thuật Liên Xô. Như vậy, cuộc cách mạng 1917 diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Đảng Bolsevic chỉ phụ trách quân đội-chính trị, còn nhóm các nhà khoa học này phụ trách súng tự động, cũng như các nhà khoa học khác về máy bay, tên lửa, pháo binh, xe tăng, tầu thủy, cho đến nông nghiệp y tế...

Nikolai Filatov (1862-1935) là người đi đầu, ông đào tạo và cùng tham gia thiết kế súng với các học trò của mình. Đến lượt các hoạt trò của ông trở thành những nhà phát triển kỹ thuật và lãnh đạo công nghiệp súng chủ chốt Liên Xô. Tiếp theo, họ lại đào tạo ra lớp học trò mới vẫn giữ những vị trí như vậy cho đến sau WW2, và nối tiếp bằng AK-47. Nikolai Filatov tốt nghiệp học viện kỹ thuật pháo binh Mikhailovskaia. Vladimir Grigoriêvich Fêdorov (1874-1966) cũng tốt nghiệp ở đây sau đó, cả hai ông đều là những sỹ quan kỹ thuật trong quân đội. Vasily Degtriarev (1880-1949) lại xuất thân từ thợ thuyền, Năm 11 tuổi, đúng năm Mosin được sản xuất, ông đã làm việc trong quân xưởng Tula, nơi Mosin được sản xuất từ giai đoạn mẫu thử nghiệm. Sang tk 20, Degtriarev đi lính, Fêdorov nhận ngay ra tài hoa trong con người này và lo lót chuyển ông về làm giúp việc. Ba ông đã cùng nhau phát triển mấu súng trường Fêdorov Avtomat, Filatov tính toán, Fêdorov phác thảo thiết kế và Degtriarev thực hiện bản vẽ. Cùng trong giai đoạn 1900-1910, Tokarev, Simonov và một vài nhà thiết kế Nga nữa cũng đưa ra những mẫu súng tự động, nhưng đều xếp xó.

Đến năm 1909, Fêdorov may mắn nhận được chương trình thử nghiệp từ Hôi Đồng Súng Trường. Từ năm 1909-1911 ông thực hiện thử nghiệm đợt đầu, nhưng súng không được đưa vào sản xuất, trang bị. Lúc đó, quân Nga dùng hai loại trung liên là Madsen (Đan Mạch) và Mondragon (súng do Mexico thiết kế nhưng sản xuất ở châu Âu, Nga nhập phiên bản trung liên Đức). Nhóm thiết kế đã sớm nhìn thấy hiệu quả của súng trường tự động, họ thấy sớm hơn trước thời đại các biến thể của nó, là súng trường tự động hạng nặng, súng trường xung phong và trung liên. Đây là những nghiên cứu chiến thuật-kỹ thuật đầy đủ, tiên tiến và thực tế nhất trên Thế giới lúc đó. Tokarev phát triển súng trường tự động hạng nặng, vẫn dùng đạn Mosin nhưng lên đạn tự động. Tokarev và Fêdorov, Degtriarev đề xuất và phát triển những phiên bản trung liên, đại liên và súng hạng nặng 12,7mm-14,3mm.

Đến năm 1913, Fêdorov đã định hình phát triển súng trường tự động thành súng trường xung phong. Súng cải tiến mới được thử nghiệm năm 1913 nhưng vẫn xếp xó, mặc dù cả hai lần thử nghiệm đều được đánh giá thành công. Đến năm 1915, do cả Madsen Đan Mạch và Mondragon Đức đều không mua được nên Fêdorov Avtomat được duyệt đưa vào sản xuất, trang bị. SÚng được dùng trong các trận đánh với Rumania. Tuy nhiên, chính quyền dốt nát và dối trá bẩn thỉu không dùng đạn Fêdorov, mà bắt Fêdorov Avtomat cải tiến dùng đạn Nhật 6,5mm hiện Anh đang gi công cho Nhật. Chính vì vậy, khi Cách mạng nổ ra, Anh cấm vận, súng không có đạn và ít được dùng. Lần cuối cùng súng được sử dụng là Chiến tranh Phần Lan, súng cũng được trang bị trên các xe bọc thép dã chiến vũ trang Liên Xô sản xuất thập niên 192x-193x.

Fêdorov Avtomat được thiết kế trên những yêu cầu đặt ra cho súng trường trong chiến tranh Nha Nhật 1905-1906. Lúc đó, súng trường như Mosin bắn quá chậm, dài khó di chuyển trong công sự, nên khi giáp lá cà chỉ dùng lê. Ông đã thỏa mãn các động tác chiến đấu bằng các khả năng bắn được khi đang chạy, băng đạn rời thay nhanh, súng ngắn gọn hơn. Súng cũng thỏa mãn tầm bắn xa của súng trường truyền thống bằng đạn nhỏ hơn thông qua khái niệm cơ sở sau này : "tầm bắn hiệu quả". Đây là các đặc tính cơ sở và đầy đủ của "súng trường xung phong" hiện nay. Fêdorov Avtomat ra đời trước AK gần nửa Thế kỷ và hai cuộc đại chiến Thế giới.

Lúc đó, Fêdorov Avtomat không phải là súng trường xung phong duy nhất trên Thế giới. Mondragon cũng có phiên bản xung phong, nhưng Mexico không đủ điều kiện kỹ thuật để theo đuổi. Trong khi đó, Pháp và Mỹ sai hoàn toàn khi đưa ra Chauchat và Browning M1918 BAR , họ đặt yêu cầu chiến đấu sai và cấu tạo súng ngược hoàn toàn so với yêu cầu nhỏ gọn của súng trường xung phong, thêm nữa, các súng này không đủ điều kiện để được gọi là súng trường vì bắn khi khóa nòng mở, chúng chỉ là các trung liên tồi. Trước đó, Pháp cũng dùng Madsen và phiên bản bắn phát một tự động của trung liên này, nhưng do chiến tranh, cả hai nguồn trung liên đều ở bên Đức, Pháp mới đắp điếm bằng Chauchat. Thay cho đặc tiwnhs ưu việt, Chauchat được quảng cáo ầm ỹ, và Browning M1918 BAR ăn phải bả, thiết kế theo concept này.

Đặc biệt, Degtriarev đã được học hành rất nhiều khi làm việc cùng các nhà tổ sư súng tự động Nga. Sau này, ông trở thành Tiến Sỹ Khoa Học, Viện Sỹ. Thành tích của ông là truyền súng tự động Nga từ Filatov đên lớp người AK. Cùng phiên bản Fêdorov Avtomat năm 1915, Degtriarev đề xuát một phiên bản có máy súng của ông. Đây là kiểu máy súng đặc trưng vẫn sản xuất ở một số nước, cực kỳ ưu việt lúc đó và lâu dài sau này. Nhưng Tokarev còn bật nữa là tên lính cần vụ quèn. Tuy nhiên, người thợ đi làm từ năm 11 tuổi này vẫn được các người thầy dậy dỗ, cung cấp cả lương ăn cho đến các vấn đề sống còn khác, vẫn ngày đêm phát triển súng và sau này sẽ là Viện Sỹ Hàn Lâm.

Ngay sau khi Cách mạng tháng 10 nổ ra, cuối năm 1917, Fêdorov và Degtriarev mang một vài máy móc nghèo nàn đến Kovrov, một địa điểm cách Maxcơva 250km, xây dựng lên nhà máy nay là nhà máy vũ khí cầm tay lớn nhất Nga, một trong những hãng cơ khí lớn nhất Thế giới. Xí nghiệp này vẫn mang tên "Завод им. В. А. Дегтярёва" ( ЗиД ) cho đến nay. Thật ra, đến một cuộc bầu cử năm 1918 hai ông mới giữ chính thức các chức vụ trưởng ban phát triển và lãnh đạo nhà máy, còn ban đầu, chắc nhiệm vụ lớn nhất của họ là sống còn trong loạn chiến.

Từ năm 1917-1922, hai ông thiết kế và sản xuất các phiên bản từ Fêdorov Avtomat. Từ các trung liên, súng trường đến súng máy cho máy bay. Dần dần, kiểu máy Degtriarev chứng minh tính ưu việt và trung liên DP ra đời khoảng năm 1922-1924. Năm 1927, súng được chấp nhận làm vũ khí chủ lực. Kiểu máy này có bản vẽ sơ khai từ Thụy Điển cuối tk19, sau này, G43 (súng trường 1943) dùng kiểu khóa giống Thụy ĐIển hơn DP, nhưng trích khí của SVT Tokarev, được chấp nhận muộn màng ở Đức. Lúc đó, trên Thế giới phổ biến dùng loại máy súng chèn nghiêng như ZB26 Tiệp Khắc, sau này súng này được dùng ở Đức với tên MG 26(t), Anh mua bản quyền chế tạo với tên Trung liên Bren. BAR Mỹ cũng là máy chèn nghiêng. Lúc đó, thế giới chỉ có một vài phiên bản trung liên ít ỏi đó thôi, kiểu máy Madsen đã lạc hậu và sau WW2, những năm 1950, Madsen chuyển sang dùng máy DP. Máy chèn nghiêng làm rung súng khi băn loạt liên thanh. Máy DP có độ bền, độ tin cậy siêu việt được chứng minh cho đến nay và rung đều không lệch. Một nhược điểm của DP gây ra bởi đạn Mosin có gờ móc, làm băng đạn không tin cậy, nhưng không ngăn cản đó là trung liên hàng đầu Thế giới. ZB26 có nòng làm băng thep đặc biệt, bí truyền của nhà máy Zbrojovka Brno, nòng nóng đỏ đổ nước vào không nứt, bắn ngay được, nhưng các đặc tính trích khí, đẩy về không tin cậy và nhìn chung, tổng thể không bằng DP. Đặc biệt, DP rất dễ chế tạo, nên Hồng Quân nhanh chóng có một lượng lớn súng máy và là một trong những lực đẩy quan trọng nhất để Nga thành cường quốc sau thời gian ngắn. DP về sau có phiên bản dùng băng dây, là súng máy đa năng kiêm trung-đại liên DPM, trung liên RPD dùng đạn AK nhưng cấu tạo giống hệt DPM vẫn được nhiều nước sản xuất đến ngày nay.
Chauchat và BAR thiết kế sai, ZB26 vật liệu tốt nhưng thiết kế chưa hoàn thiện, đương nhiên, DP là trung liên đứng đầu Thế giới lúc đó nếu xét tổng thể, đó là lý do nó vẫn sống đến ngày nay. Mở ngoặc thêm, kiểu trích khí ZB26 không hoàn thiện được, yếu mà nặng, hay hóc, nhưng sau này được áp dụng hết sức ưu việt trên AK.

Tokarev phát triển kiểu trích khí DP áp dụng vào súng trường tự động. SVT trở thành mẫu mực về loại súng này, trở thành vũ khí chủ lực của Hồng Quân trong WW2. Có nhiều chuyện vui quanh SVT. Đức không thể hoàn thiện súng trường tự động, cuối cùng chìa khóa của kỹ thuật là trích khí của địch SVT, được áp dụng muộn màng 1943 (G43). Thụy Điển chẳng cần nghĩ nhiều, lấy máy SVT nhưng dùng trích khí hơi giống MAS Pháp làm AG42 (1942). Thụy Điển tự làm súng không phải để đánh nhau, chỉ để khỏi phải mua của bên nào đang đánh nhau lộn tùng phèo, nên ngay sau đó họ phát hiện ra ưu việt của trích khí SVT, nhưng thay vì sửa, họ quảng cáo cho át đi. AG42 có máy giống hệt SVT nhưng nhìn vỏ máy hơi khác vì dùng công nghệ đúc chứ không dập phay như Liên Xô, sản xuất được nhanh hơn. AR-15 (M15) khi cóp nhặt các giải pháp khắp thế giới đã chọn trích khí AG42 vì trông có vẻ gọn nhẹ. Thế nhưng sau đó Armalite thay mặt AG42 bê trích khí SVT, giống ý như đúc, thành AR-18. Lúc đó, AR-15 đã được Colt mua lại và đặt lên ngai vàng M16. Sau 40 năm đánh nhau trong trạng thái đẻ non què quặt, nay LWRC lại đưa trích khí AR-18 vào M16.
Sau khi AK ra đời, khẩu súng bán rộng nhất ngoài thế giới AK cho đến năm 1980 là FN FAL. Nó cũng như AG42, dập khuôn máy SVT cho công nghệ đúc. Trích khí nó hơi khác, nhưng dễ dàng thấy đó là SVT liên thanh hóa. Châu Âu và các nước không phải dùng súng viện trợ khác dùng FN FAL cho đến khi M16 chuyển sang nòng-đạn châu Âu SS193 (NATO 5,56x45). Từ đó, châu Âu dùng nòng đạn này trên các súng họ sản xuất và sử dụng.
Trong thập niên 193x, đạn Nga lại hoàn thiện một bước nữa, trở thành loại đạn tốt nhất cho súng trường đến nay, nếu trừ cái gờ móc thừa kế từ Mosin. SVT và em kế nghiệp SVD vẫn là các mẫu mực của súng bắn tỉa cho đến nay.

Georgi Sêmionovich Shpagin (1897-1952) đi sau, nhưng cũng cùng nhóm. Ông là người phát triển PPSh-41 lừng danh. Cả SVT và PPSh-41 đều được Đức sử dụng và làm nhái rất nhiều, bất chấp lòng căm thù với quân địch đang sục sôi, vì súng quá tốt. PP tiếng Ng là súng ngắn bắn nhanh, được người Đức phát triển từ cuối WW1, tên Đức là MaschinenPistole, MP như MP-18. Sau 1917, Shpagin đề xuất và được chấp nhận sản xuất số lượng nhỏ (cả Fêdorov Avtomat cũng chỉ được sản xuất nhỏ) PP. PP là loại súng máy, bắn liên thanh, nhưng bắn đạn súng ngắn. Nó có tầm rất ngắn, nhưng các khả năng xung phong, chiến đấu tầm gần, chiến đáu trong công sự, giáp lá cà... tốt hơn súng trường. Lúc đó, Hồng Quân rất nghèo, việc tổ chức sản xuất một loại đạn mới cho Fêdorov Avtomat là điều khó chấp nhận, nên các phiên bản Fêdorov Avtomat dùng đạn Mosin được sản xuất, là trung liên. Thay thế tính năng xung phong là PP.
PP Nga ban đầu là các bản copy MP Đức, được chấp nhận sử dụng rộng trong 193x dứoi tên Degtriarev. Tuy nhiên, đến PPSh-41 thì súng mới hoàn thiện và được sản xuất lớn. SVT và PPSh-41 là hai loại súng được Liên Xô sản xuất nhiều nhất trong thời kỳ chiến tranh.

Từ năm 1943, nhóm phát triển súng tự động đã đề xuất sản xuất lại một súng có tính năng chiến đấu như Fêdorov Avtomat. Bên Đức cũng có một chương trình tương tự là MKb35 (cạc bin liên thanh kiểu 1935), nhưng phe phái Hitler đã không nhìn thấy ưu việt của súng này, thay chương trình bằng MP. Trong WW2, khả năng xung phong đã yêu cầu cao vọt, nhưng không thể bỏ khả năng súng trường. Vậy nên xuất hiện nhu cầu lính phải mang hai súng, hoặc mất một phần khả năng chiến đấu. Chương trình được duyệt với bước đầu tiên là đạn M43, ngày nay, tuy cấu tạo khác nhưng đạn AK vẫn ký hiệu là M43.

Những nhà thiết kế súng nòng cốt của Liên Xô, những người đã đi qua "thời kỳ hy sinh toàn diện", lúc này đã đứng ở những vị trí lãnh đạo công nghiệp và kỹ thuật súng ống của một siêu cường. Nikolai Filatov không còn sống đến ngày này. Các học trò của ông đặt ra những yêu cầu cho một Fêdorov Avtomat hiện đại. Nó phải gọn nhẹ như PP, MP, nhưng lại tầm xa như súng trường, máy móc tin cậy như khóa nòng DP, trích khí ưu việt như SVT. Họ không còn phải chia cho nhau từng đồng lương để cùng vẽ và rèn súng nữa, nhưng lại phải tích lũy kinh nghiệm chiến đấu và chế súng bao nhiêu năm đó để đứng trên cương vị Hội Đồng. Trước đây, họ bị Hội Đồng Súng Trường hành lên hành xuống, còn ngày nay, họ tổ chức cuộc thiết kế súng lớn nhất trong lịch sử kỹ thuật.
Phiên bản đầu tiên được đưa ra chiến đấu để đánh giá là Sudaev AS-44. Súng chế thành 3 bản, trung liên, súng trường và cạc bin liên thanh. Súng còn nhiều nược điểm, qua chiến đấu, nó cung cấp dữ liệu cho các nhà thiết kế sau hoàn thiện. Cải tiến lớn đầu tiên là đạn thu nhỏ bớt lại, từ 7,62x41 xuống 7,62x39.
Sang năm 1948, còn có các phiên bản của Tokarev , Bulkin và đặc biệt là của Kalashnikov . Đến năm 1949 thì Liên Xô có AK, quen gọi hơi sai là AK-47. Đạn súng còn hoàn thiện nhiều nữa. Đạn AK-47 có sức sát thương cao hơn NATO 7,62x51 (đạn súng trường nặng NATO), gấp đôi NATO 5,56x45 (đạn M16A2, hay FN SS193), độ chính xác, độ tin cậy thì suốt 60 năm qua, càng ngày càng được đánh giá trên cả tuyệt vời. Trong khi đó, châu Âu chấp nhận đến năm 1980 mới có súng trường xung phong đúng nghĩa (họ không dùng cả súng lẫn đạn M16 Mỹ). Còn Mỹ thì có AR-15, phiên bản đẻ non của AR-18.


Trên đây mình trình bày một nhánh phát triển nhỏ, rất nhỏ, trong toàn bộ các phát triển của thời 1922 đến WW2. Người Nga có thừa truyền thống giáo dục, ý chí để phát triển, nhưng bị chính quyền biển lận dối trá kìm hãm. Đến sau 1922, các áp lực phát triển dồn nén lâu ngày này được bung ra. Đây mới chỉ là một nhánh rất nhỏ, mà đã phát triển vượt bậc như vậy. Từ một nước lệ thuốc nước ngoài về súng đạn (trong khi Mosin là thiết kế Nga), súng cầm tay Nga đã xứng đáng là một bộ phận của siêu cường.
Để quản lý các áp lực phát triển phi thường đó bung ra, không thể là một nhà lãnh đạo đơn giản.

Siren 01-07-2009 22:12

Huyphuc1981_nb viết:Lenin chọn Stalin vào vị trí thay thế vì Stalin là người tỏ ra có đầu óc quản lý tốt, điều rất hiếm trong các thủ lĩnh Hồng Quân lúc đó. Stalin nổi lên mặt này khi tổ chức bố phòng thành phố sau này là Stalingrad (nay là Volgagrad), một trong những tiền tuyến hiếm hoi thành công trong phòng ngự trước cuộc nổi loạn. Tính chất quản lý là yêu cầu đặc biệt, cần thiết cho một kiểu nhà nước chưa bao giờ có. Chúng ta biết rằng, "tay chân" của Stalin đều là những thiên tài về quản lý trên mọi mặt,

Đố mọi người biết Xtalin tiếng Hán là gì ?

Thao vietnam 01-07-2009 22:16

Trích:

Siren viết (Bài viết 33126)

Đố mọi người biết Xtalin tiếng Hán là gì ?

Stalin = Si Da Lin (âm Bắc Kinh đọc là Sư Ta Lin) = Tư Đại Lâm (Hán Việt).

Siren 01-07-2009 22:24

Cảm ơn bác Thao_ vietnam, hôm nay nhà cháu mới được nghe nói đến từ này, từ chính 1 người đồng hương của bác ạ. Nhưng nhà cháu lại nghe là Sư Đại Lâm bác ạ. Ai đúng đây bác? nhà cháu tin ai bây giờ ạ?8-}

TLV 01-07-2009 22:45

Trích:

Siren viết (Bài viết 33128)
...Nhưng nhà cháu lại nghe là Sư Đại Lâm bác ạ. Ai đúng đây bác? nhà cháu tin ai bây giờ ạ?8-}

Tư Đại Lâm là đúng đấy.

Còn đối thủ Hitler thì phiên âm là Hít Đặc Lặc

Jan 01-07-2009 22:49

Đúng hơn phải là Hách Đa Lạc/Hách Đô Lạc ợ !

Thao vietnam 01-07-2009 23:01

Trích:

Siren viết (Bài viết 33128)
Cảm ơn bác Thao_ vietnam, hôm nay nhà cháu mới được nghe nói đến từ này, từ chính 1 người đồng hương của bác ạ. Nhưng nhà cháu lại nghe là Sư Đại Lâm bác ạ. Ai đúng đây bác? nhà cháu tin ai bây giờ ạ?8-}

Đây là chữ Hán: 私大林 tuy nhiên tôi không chắc lắm về chữ thứ nhất vì nhiều chữ đồng âm khác nghĩa.
Tỷ lệ 50:50 thật khó cho bác Siren.
Nếu không có ý kiến thứ 3 thì bác nên hỏi cụ Gúc xem.
Loay hoay mãi mới gửi được bài, đã thấy ý kiến của các bác trên kia, không nhẽ lại xóa đi.

huyphuc1981_nb 02-07-2009 00:22

Sao lại lỗi nhỉ, mình copy đoạn viết thêm vào đây.

Mặt khác, ví như so với Ba Lan. Cùng "cánh mạng" sau WW1, nhưng những tinh hoa quý nhất của Ba Lan, đã rất hiếm, mà lại chạy khắp Âu, Mỹ, đất nước nhược tiểu vẫn hoàn nhược tiểu, mặc dù không chịu những tổn thất lớn như Nga 1922. WW2 Ba Làn tự hào những gì ?? tỷ lệ người bị giết cao nhất WW2 ư, tỷ lệ bị tàn phá khiếp nhất ư, bị đánh thua nhanh nhất ư !!!

Về chính trị, đặc điểm lớn của thời 1922-WW2 là gì ?? là cuộc đấu tranh ngôn từ giữa hai phái Stalin và Leon Trotsky, để ngày nay các hậu duệ của Leon Trotsky vẫn "Stalin tiếm quyền, Lênin nhường ngôi cho Leon Trotsky" ??. Lênin đặc trưng bởi gì: "học, học, học", điều này khác biệt với CS Mao: diệt trí thức. Leon Trotsky giống CS Mao cái gì: gây chiến toàn cầu. Chỉ qu điều này đã thấy, Lenin và Stalin cùng quan điểm, Lenin và Trotsky đối địch nhau.

Đây cũng là điểm khác nhau giữa thời kỳ 1922-WW2 bên Nga và sau 1949 bên Tầu. Nga bùng phát trí thức, Tầu giết trí thức. Nga thành siêu cường, Tầu chết đói.

Bản chất của quân hệ Xô Đức như thế nào trong thời kỳ này. Về lâu dài, nước Phổ là anh em với Nga. Phổ là nước sinh ra do chiến tranh Đại Chiến Bắc Âu của Piotr Đại Đế. Vương Quốc Ba Lan-Lithuania tan rã do Thụy Điển đánh tơi bời và chính quyền suy đồi. Phổ (Prusia ) mọc ra từ đống tan vỡ đó và thống nhất các miền đất khác lại thành Đức. Như vậy, Nga-Đức là anh em truyền thống. Cho đến 187x, hai nước vẫn cùng chiến tuyến. Anh-Pháp-Otoman đánh Nga, Phổ đứng bên Nga và sau đó gục Pháp, từ đó Phổ mới có chân trong nhóm siêu cường. Nga-Phổ đánh nhau WW1 chỉ do chính quyền dối trá biển lận Nga phát triển các quan hệ đen với Pháp.
Thời Stalin 1922-WW2, Nga Đức trao đổi kỹ thuật thương mại thân mật. Nhiều thành tựu Nga như các máy bay, động cơ (cả động cơ cho T-34), lò đúc (cả cho nhà máy máy kéo Stalingrad, sau phát triển và sản xuất T-34 theo công nghệ đúc, khác với T-34 hàn)... là nguồn gốc Đức. Ngay cả tên ban đầu của AK là cạc bin liên thanh, cũng được Đức dùng thời 193x (maschinen karabinen, MKb35). Tuy nhiên, sau đấy, Hitler rồ đã làm hỏng hết quan hệ này và hai nước điêu tàn, cả hai đều thua trận, Mỹ cười hô hố, Pháp Anh thoát chết. Stalin đã cố gắng hết sức để giữ hòa bình, nhưng Hitler rồ vì những nguyên nhân bí ẩn vẫn gây chiến.

Stalin là con người như vậy. Ông là người phát triển bùng phát các trí thức, một nhà kế hoạch siêu chính xác cho sản xuất, tất cả những đặc trưng của hòa bình. Ông đã cố hòa bình, nhưng người ta vẫn ấn chiến tranh vào tay ông, họ tưởng ông hiền quá chăng ? chiến tranh ông vẫn thắng.

Leon Trotsky cũng như Lâm Bưu, đều là chỉ quy quân đội, đều hô hào Cách mạng cả thế giới, đều không thích hợp với hòa bình, đều muốn chiến tranh liên miên để có việc mà làm.... Tuy nhiên, điểm khác là Mao diệt trí thức và Lâm Bưu, còn Leon Trotsky thì khác. Giả thiết Stalin giết Leon Trotsky cũng khó tin. Leon Trotsky bị Stalin dùng như cái máy đối trọng, làm những người trí thức bị Leon Trotsky dọa tập hợp quanh Stalin, không dưng Stalin làm hỏng cái công cụ của mình.


To bạn bên trêni. Tên Tầu của Stalin là Tư Đại Lâm. Ước Sắt Phu Tư Đại Lâm.
Ước là ước lượng. Sắt là cái đàn sắt (cầm sắt). Phu là đàn ông. Tư là tách (tư nhân). Đai là to. Lâm là rừng.

Viet Nga 12-08-2009 15:53

Cảm ơn bác nthach. Đúng như bác USY nói bài của bác ngang với cuốn SGK lịch sử. Cháu chưa xem kĩ hết từng bài. Nhưng cháu rất thích bài về trận đánh Kulikovo (1380). Bác có thêm tư liệu về trận đánh ấy không ạ?

nthach 14-08-2009 16:12

Trích:

Viet Nga viết (Bài viết 35771)
Cảm ơn bác nthach. Đúng như bác USY nói bài của bác ngang với cuốn SGK lịch sử. Cháu chưa xem kĩ hết từng bài. Nhưng cháu rất thích bài về trận đánh Kulikovo (1380). Bác có thêm tư liệu về trận đánh ấy không ạ?

Bài viết chi tiết cho trận đánh này thì khá dài, nhưng tôi sẽ cố gắng làm trong thời gian sớm nhất.

jryeti 14-08-2009 22:59

Cuốn sách "Các Chủ tịch KGB - Những hồ sơ lộ sáng" / Leonid Mlechin có xu hướng có thể gọi là ko ưa Xô Viết cho lắm. Đại khái là tình hình nước Nga phức tạp, rồi trong các chủ tịch KGB thì ít người mất do bệnh tật hay tuổi già mà phần lớn là bị quy vào một tội nào đó, rồi rất nhiều người Nga bị bắt giam, cho đi cải tạo, bị giết, v.v.
Nói chung là một số (bản thân em ko dám chắc vì mới thấy 3 cuốn lướt qua 1 cuốn đọc 2 cuốn) sách bây giờ người Nga viết hay có tính bài xích Liên xô.

nthach 17-08-2009 07:31

Trích:

jryeti viết (Bài viết 35928)
Cuốn sách "Các Chủ tịch KGB - Những hồ sơ lộ sáng" / Leonid Mlechin có xu hướng có thể gọi là ko ưa Xô Viết cho lắm. Đại khái là tình hình nước Nga phức tạp, rồi trong các chủ tịch KGB thì ít người mất do bệnh tật hay tuổi già mà phần lớn là bị quy vào một tội nào đó, rồi rất nhiều người Nga bị bắt giam, cho đi cải tạo, bị giết, v.v.
Nói chung là một số (bản thân em ko dám chắc vì mới thấy 3 cuốn lướt qua 1 cuốn đọc 2 cuốn) sách bây giờ người Nga viết hay có tính bài xích Liên xô.

Bác viết có phần đúng, một số người Nga họ viết sách bây giờ thường theo xu hướng kinh tế chứ chưa hẳn là thực sự đi sâu vào lĩnh vực lịch sử và sự thật, một số người viết theo dạng tin giật gân, càng rùng mình càng tốt, họ bất biết là những gì họ viết đúng hay sai miễn là bán được tiền là quan trọng nhất. Do vậy chúng ta cũng chẳng cần để ý đến một vài con sâu, mà nồi canh của chúng ta trở nên rầu rĩ có phải không bác. Còn những tin tức mà trước đây chúng ta chưa biết, đến nay họ mới đưa ra, thì đó cũng là điều tất yếu của cuộc sống, vì xã hội nào mà chẳng có mặt trái của nó. Nói về con người, thì cho dù ông có là một nhà lãnh đạo cao cấp, hoặc là một ai đi nữa, thì nhất định ông cũng phải có một yếu điểm nào đó, chứ ông không là một Tiên Ông để rồi cả cuộc đời không hề có vết sạn nào.

Như các cụ nhà mình đã có câu "Yêu thì lên bạn, gét lên thù". Do vậy, hiện nay có nhiều người, họ không thích vị này, vị nọ, thì họ cứ những cái xấu của những vị đó mà đưa ra, còn lờ tịt những mặt mạnh của người ta đi, để rồi hình ảnh của các vị đó bị bóp méo đi... Nhiều khi, vào những thời điểm lịch sử nào đó mà chúng ta không hành động như vậy, thì rất có thể lý tưởng của một dân tộc sẽ không được trở thành hiện thực... Do vậy chúng ta cẳng cần dao động trước những tin tức, mà chúng ta cho là chúng không đáng quan tâm có phải không bác.

jryeti 17-08-2009 23:51

Trích:

Thao vietnam viết (Bài viết 33132)
Đây là chữ Hán: 私大林 tuy nhiên tôi không chắc lắm về chữ thứ nhất vì nhiều chữ đồng âm khác nghĩa.
Tỷ lệ 50:50 thật khó cho bác Siren.
Nếu không có ý kiến thứ 3 thì bác nên hỏi cụ Gúc xem.
Loay hoay mãi mới gửi được bài, đã thấy ý kiến của các bác trên kia, không nhẽ lại xóa đi.

3 chữ trên đúng là chữ Tư Đại Lâm
Tư đối với chữ Công,là chữ Tư trong chữ Vô Tư
chữ Tư này tiếng Nhật là để chỉ ngôi thứ nhất (watakushi):emoticon-0102-bigsm

nthach 18-08-2009 09:10

Trích:

jryeti viết (Bài viết 36064)
3 chữ trên đúng là chữ Tư Đại Lâm
Tư đối với chữ Công,là chữ Tư trong chữ Vô Tư
chữ Tư này tiếng Nhật là để chỉ ngôi thứ nhất (watakushi):emoticon-0102-bigsm

Thực ra tiếng Tàu họ dùng chữ tượng hình, nên không phiên âm được tiếng Latin. Do đó họ phiên âm thế nào thì viết theo chữ tượng hình của như thế. Theo tôi, về tên của Stalin thì dịch phiên âm sang tiếng Tàu là: Tư Đại Lâm cũng đúng và là Sư Ta Lin cũng chẳng sai, nhưng không thể cứ phiên âm sang chữ tượng hình rồi dịch theo nghĩa ví dụ như: Tư là vô tư... như vậy là chưa đúng.

Tôi xin lấy một ví dụ: tiếng Tàu dịch địa danh của thành phố Moskva là: Mạc Tư Khoa, đó là họ phiên theo âm ngữ của tiếng Nga, chứ nếu lại dịch nghĩa của Mạc Tư Khoa ra thì nó lại là: Không Phải Vô Tư Môn, như vậy thì địa danh này hỏng bét.

Không biết tôi phân tích như vậy có đúng không, nhờ các bác bổ xung giùm!

nthach 18-08-2009 09:45

Những Trang Sử nước Nga từ ngày lập nước đến nay.


Tôi xin phép được tiếp tục Topic này với toàn bộ các bài viết về nước Nga từ ngày lập nước đến nay. Trong những bài viết tiếp theo, tôi sẽ đi sâu vào các chi tiết về tất cả những dữ kiện, cũng như những sự kiện lớn đã xảy ra trong toàn bộ quá trình từ buổi sơ khai, cho đến khi hình thành lên một Liên bang Nga ngày nay. Trong những bài viết dưới đây, có thể là có những bài do chính tôi chuyển ngữ từ các nguồn tìn tổng hợp, hoặc cũng có thể tôi sao chép lại từ các bản dịch khác - tất cả những bài viết này tôi sẽ ghi rõ tác giả cũng như người dịch ở phía dưới, cốt để tổng hợp được toàn bộ dữ liệu lịch sử của nước Nga. Trong những bài do tôi dịch cũng như sao chép được từ các nguồn tin khác, nếu có gì chưa phù hợp, rất mong mọi người đóng góp thêm ý kiến để chủ để này được hoàn thiện hơn. Xin cảm ơn mọi người.

Nthach

nthach 18-08-2009 09:55

Hình thành liên kết các bộ lạc Đông Xla-vơ

Chúng ta biết tương đối ít về Đông Xlavơ vào thời kỳ trước cho đến khoảng năm 859 sau công nguyên, thời kỳ này được cho là thời kỳ đầu nguyên thủy. Lý do là ở đây thực sự không có một ngôn ngữ viết nào (Hệ thống chữ viết bằng theo hệ chữ cái Kirin được tạo ra vào khoảng năm 863, đây là hệ chữ riêng biệt của dân tộc Xlavơ) và những miền đất Đông Xlavơ hẻo lánh. Chúng ta cũng biết rất ít thông qua các cuộc khảo cổ, những bản miêu tả lữ hành hải ngoại của vùng đất Nga cổ, và những phân tích so sánh ngôn ngữ của các hệ ngôn ngữ Xlavơ.

Không có nhiều những tài liệu về thổ dân Nga được ghi chép lại vào trước thế kỷ 11 được phát thấy. Bản viết tay chính thức vào thời gian sớm nhất, nói về lịch sử dân tộc Nga cổ là cuốn Biên niên sử Cổ Đại, tài liệu này được viết vào cuối thế kỷ 11 và đầu thế thế kỷ 12. Cuốn Biên niên sử Cổ Đại này đã thống kê , là có mười hai cộng đồng bộ lạc Xlavơ, vào thế kỷ thứ 9, họ đã đến định cư ở những vùng đất nằm giữa Biển Baltic và Biển Đen. Các cộng đồng bộ lạc vào thời kỳ này gồm có: Polan –Роль, Drevlyan – Древляне, Dregovich –Дреговичи, Radimich – Радимичи, Vyatich – Bятичи, Krivich – Кривичи, Sloven – Ильменские славяне, Dulebe – Дулебы (về sau được gọi là Volinhiani – Волиняни và Buzhane - Бужане), Croatia Trắng – Белые хорваты , Severia - Северяне, Ulich – Угличи, và Tivertsi – Тиверцы.


Sự di trú

http://i187.photobucket.com/albums/x...ok_pchelko.jpg
"Khu định cư của người Xlavơ", tranh vẽ của I. Pchelko

Ở đây vẫn chưa có sự thống nhất giữa các học giả về quê hương xứ sở của người Xlavơ. Trong thiên niên kỷ đầu tiên sau công nguyên, những người Xlavơ khai hoang có khả năng đã giao tiếp với những nhóm tộc người khác, những nhóm tộc người này đã di chuyển xuyên qua vùng đồng bằng Đông Âu trong thời kỳ đại di cư. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất và thế kỷ thứ 9, những tộc người như Sarmatian (một tộc người Iran cổ), Gôtích, Hun , Alan, Avar, Bulgar, và Magyar (Hungari) đã vượt qua vùng thảo nguyên thuộc Hắc Hải trong các cuộc di cư về hướng tây của họ. Mặc dù, một số trong số họ có thể đã bị những người Xlavơ chinh phục, nhưng các bộ tộc nước ngoài này còn lại rất ít dấu vết trên các vùng đất Xlavơ. Vào đầu thời kỳ trung cổ, người ta còn được nhận thấy rằng, người Xlavơ đã phát triển rộng rãi nghề nông, nghề nuôi ong, sănbắn, đánh bắt hải sản, nuôi gia súc, và đánh bẫy thú rừng. Đến thế kỷ thư 8, người Xlavơ đã trở thành một dân tộc rộng lớn khắp cả vùng đồng bằng Đông Âu.

Năm 600 sau công nguyên, người Xlavơ đã chia làm ba nhánh ngôn ngữ chính, là Tây, Nam và Đông. Những người Đông Xalavơ tràn vào Đông Âu bằng hai hướng. Một nhóm các bộ tộc định cư dọc theo dòng sông Dniep, nhóm này hiện nay là người Ukraina: sau đó, họ trải dài về hướng bắc đến tận lưu vực phía bắc sông Volga, đến phía đông thành phố Moskva ngày nay, và về hướng tây đến tến lưu vực phía bắc sông Dniester và Nam sông Bug, ngày nay những vùng này thuộc Moldova và nam Ukraina. Còn nhóm các bộ tộc Đông Xlavơ khác, họ đến định cư từ vùng Pomerania và dọc theo hướng đông bắc, trên những vùng đất này, họ đã trạm chán với những người Varangia – Варяги của Rus Khaganat – Русский каганат, và thành lập lên một vùng đất trọng yếu có trung tâm là Novgorod. Nhiều người Xlavơ trong hóm thứ hai này, còn di cư đến vùng Tver Oblast ngày nay và vùng Beloozero – Белоозеро. Họ đoạt được các vùng đất của người Merya – Меря gần thành phố Rostov, những người này có mối liên hệ với nhóm dân Xlavơ di cư ở vùng Dnieper.

Nthach dịch

nthach 25-08-2009 12:51

Thế kỷ IX . Tạo dựng quốc gia liên kết sơ khai của dân tộc Đông Xla-vơ ở các vùng Dnepr và hồ Ilmen.

http://i187.photobucket.com/albums/x...ory/800px-.jpg

Trong thế kỷ thứ 8 và thứ chín, các nhánh phía nam của các bộ tộc Đông Xlavơ đx phải dâng cống nạp cho những người nói tiếng Thổ và Khazar, họ là một tộc dân theo đao Do Thái vào thế kỷ thứ 8 khoặc thế kỷ thứ 9, những người này thường sinh sống ở phía nam các vùng Volga và Cápcazơ
Thời kỳ này cũng rất hỗn độn, những người Varangian của Khan người Nga đã đứng lên thống trị các bộ tộc Ilmen Slavơ – Ильменские славяне và Krivich – Кривичи, họ kiểm soát tuyến thương mại nằm giữa biến Baltic và Đế chế La Mã.

Những trung tâm của bộ lạc Đông Xlavơ được thành lập sớm nhất bao gồm, Novgorod, Izborsk, Polotsk, Gnezdovo, Sarskoe Gorodishche, và Kiev. Khảo cổ học đã phát hiện ra rằng, họ đã xuất hiện vào thời kỳ chuyển sang thế kỷ thứ 10. Không bao lâu sau, dân tộc Xlavơ và Phần Lan ở Novgorod đã nổi loạn chống lại người Na Uy và buộc họ phải chạy về Scandinavia. Triều đại trị vì của Oleg ở Novgorod vào đầu thế kỷ thứ 10, đã chứng kiến những người Varangian quay trở về Novgorod và họ đã xây dựng lại thủ đô của mình ở Kiev bên dòng sông Dnieper. Từ cơ sở này, sự hòa trộn giữa những người Varangian và Xlavơ đã xảy ra (được biết đến hiện nay là người Nga), họ đã tiến hành một số cuộc viễn chinh chống lại Constantinople.
Đầu tiên, chữ viết căn bản chiếm ưu thế nhất là của người Na Uy, nhưng nó đã nhanh chóng bị Xlavơ hóa vào khoảng giữa thế kỷ. Sviatoslav I của Kiev (ông trị vì vào những năm 960) là một người thống lĩnh đầu tiên của tộc người Nga, mang danh tính theo ngôn ngữ Xlavơ

Thao vietnam 30-08-2009 23:33

Nhân dịp 70 năm Hiệp ước Molotov - Ribbentrop và bắt đầu chiến tranh thế giới thứ II, bác nào quan tâm chủ đề lịch sử mời xem ý kiến của các chính khách, các nhà lịch sử, ... ở đây:
http://rian.ru/trend/Molotov_Ribbentrop_pact_19082009/

nthach 11-09-2009 15:16

Chiến tranh Nga - Byzantine (860)

http://i187.photobucket.com/albums/x...y/711f2762.jpg
Quân đội Nga dưới bức tường của Tsargrad. Cảnh từ một biểu tượng thời trung cổ của Nga

Cuộc chiến giữa Nga và Byzantine vào năm 860, là một cuộc viễn chinh trọng đại của Khan người Nga, và chỉ được ghi chép lại trong các nguồn sử sách của Byzantine và Tây Âu. Những thông tin khác nhau thu thập được, về các sự kiện đã xảy ra, rất trái ngược nhau giữa những tài liệu, và về hậu quả chính xác của nó thì đến nay vẫn chưa biết rõ. Theo được biết qua các tài liệu của Byzantine, thì người Nga đã chớp thời cơ khi Constantinople không hề có sự chuẩn bị, khi đó đế chế Byzantine đang tiến hành các cuộc chinh chiến giữa Byzantine – Arập, và họ không hề quan tâm đến mối de dọa từ phía quân đội Nga. Sau khi đánh phá các vùng ngoại ô của thủ phủ Byzantine, quân đội Nga liền tự động lui binh sau khi đã giành được nhiều thắng lợi.

Bối cảnh của cuộc chiến.

Đầu tiên Byzantine đã chủ động tiến đánh Nga vào năm 839. Và làm ngắt quãng mọi tuyến thương mại và liên lạc của Nga. Thậm trí trong những năm 840 và những năm 850 cũng vẫn không được khai thông. Tuy nhiên, mối đe dọa từ phía Nga xảy ra vào năm 860 quả là một điều bất ngờ, trận đánh của quân dân Nga xảy ra rất đột ngột và gây ra nhiều sự ngạc nhiên. Trong thời gian này, vị hoàng đế La Mã đang xua quân đi đánh Ả Rập và tiến đánh quốc gia Tiểu Á.
Cuộc tấn công.
Vào xế chiều ngày 18 tháng 6 năm 860, một hạm đội gồm khoảng 200 chiến thuyền của Nga đã tiến vào Bosporus, và bắt đầu đánh phá các vùng ngoại ô ở Constantinople. Họ bắn phá dữ dội vào đất liền. Không thể đẩy lui được các đợt tấn công của quân đội Nga, giáo trưởng Photius đã phải thúc giục binh lính cầu xin đức mẹ Theotokos đứng ra bảo vệ thành phố. Sau khi đã đánh phá toàn bộ các vùng ngoại ô, quân đội Nga đã tiến vào biển Marmora và đổ bộ lên đảo Princes, nơi có cựu giáo trưởng Ignatius của Constantinople đang bị lưu đày tại đây. Cuộc tấn công đã làm Hy Lạp phải sửng sốt, "giống như một tiếng sét từ trên trời rơi xuống", và sự kiện này cũng đã làm cho giáo trưởng Photius phải viết ra một bản nghi lễ nổi tiếng của mình khi sự kiện xảy ra.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:10.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.