![]() |
Ngày 14 tháng Mười 1943
Ngày thứ ba đạn pháo địch rót vào một ngôi nhà của chúng tôi ở đây. Ngôi nhà bên cạnh phòng của Lê-nin (tháng tư năm 1917 Lê-nin đã từng trình bầy " Luận cương tháng tư" ở đây). Học sinh vừa ra khỏi nơi đây được một chút thì đợt pháo kích bắt đầu. Lúc chúng tôi chạy đến đó thì bụi gạch vẫn chưa rơi xuống hết, không khí trong ngôi nhà này trở nên lạ lùng: như thế này chắc là chỉ sau khi núi lửa phun ra. Tường bị vỡ một mảng to tướng. Vật duy nhất còn sót lại không bị sứt mẻ gì, là bức tượng nửa người của Lê-nin trên cái bệ bằng thạch cao. Nó chỉ bị thay đổi màu sắc vì bụi bám vào: Màu trắng đã biến thành màu xám. Gương mặt cũng bị biến đổi đúng như thế. Hôm qua lúc Hội nghị đảng bộ họp cũng ngay ở phòng Lê-nin ấy thì lại bắt đầu mọt đợt pháo kích. Nhà tôi ngừng cuộc họp, chúng tôi tản ra. Chiến sự ngoài mặt trận rất tốt. Hôm nay có thể lại bắn pháo hoa. Có thể là hai lượt. |
Ngày 17 tháng Mười 1943
Hôm qua đang lúc pháo kích dữ dội thì tôi đến phòng cấp cứu, ở đây đang chở những người bị thương đến. Một trong những người đầu tiên đưa đến là một chị cán bộ của học viện nghệ thuật, bị thương ở tay phải và bắp chân phải. Mặt chị tái mét, người run lên cầm cập. Chị ép chặt vào ngực chiếc " giầy mốt" vấy máu tháo ở chân phải ra. Trên mặt chị, cạnh môi có một mảnh đạn. Đúng như bác sĩ trực nhật đã nói, nó " lủng lẳng". Người ta cho chị vào chiếu điện ngay. Sau đó chúng tôi cùng chị Va-xi-li-ép-na lên cài chòi trên mái nhà. Men theo mái nhà nghiêng và dốc, ướt, bò qua những dây thép thật hãi quá đi mất. Phía chân trời mùa thu những tia chớp ảm đạm, nặng nề. Dưới đó là những lô nhà màu thẫm, nóc nhà tròn của nhà thờ I-xa-ki, ngọn thép nhọn At-mia-ran-chi-ép và pháo đài Pê-trô-páp-lốp-xki. Bây giờ tất cả những cái đó đều khoác một cái bọc màu xanh xám để giấu cái ánh vàng của chúng đi. Đồng chí trưởng ban phòng không nói:" Nếu có tiếng đạn réo thì phải nằm ngay xuống" . nhưng điều đó không cần nữa. Nếu không trên cái nóc nhà vừa dốc lại vừa ướt thế này tôi không thể nào đứng vững được. Lúc trở xuống, chúng tôi đi qua một cửa sổ khác gần hơn. Trên cái gác con này, chúng tôi cảm thấy rất dễ chịu. |
Ngày 8 tháng Mười một 1943
Lần này tôi không viết. Mà sự việc thì rất nhiều. Quân ta đã giải phóng Ki-ép. Có lúc sự kết thúc chiến tranh đến gần thấy quá rõ đến làm tim rung lên. Tôi sống ngày lễ tháng Mười như " bão táp" Hôm qua chúng tôi đến eo biển ca-rê-li thăm dồng chí tư lệnh quân đoàn. Ông đã mời tôi từ lâu. Hôm qua lại cho ôtô đến đón chúng tôi. Chúng tôi vượt qua phố Ki-rốp chạy về hướng đảo qua sông đen-nơi Pu-skin đã đấu súng và ở đó là Par-gô-lô-va Tốc-xô-va, rừng thông Ca-rê-li và những đồi nhỏ. Tất cả đều lặng lẽ, cảnh giác, nấp dưới sương mù của trời thu. Quân đoàn không đánh nhau. Họ là tấm lá chắn của mặt trận Phần-lan. Nhưng chính vì không đánh (người ta gọi họ là đội quân không đánh) mà tất cả từ sĩ quan đến binh lính đều khổ tâm như thế nào. Người nào cũng giải thích ngay từ những lời nói đầu tại sao họ lại không đánh. Nhưng phải nghĩ rằng cái lúc mà họ đi vào chiến đấu sắp bắt đầu. Còn bây giờ thì rất có trật tự. Trọng pháo và súng phóng lựu trông rất oai vệ. Người ta còn làm cho chúng những công sự đặc biệt. Chỉ cần mấy giây đồng hồ là chúng có thể xuất hiện. Các đồng chí rất tự hào giải thích cho chúng tôi " kinh nghiệm sản xuất" của họ ở đây đã được các quân đoàn khác áp dụng. Nghỉ ở quân đoàn bộ một lát, chúng tôi cùng đồng chí tư lệnh đi về phía tuyến đầu của đảo cách Phần-lan chỉ có ba ki-lô-mét, rồi lại từ đó còn đi bộ nữa. Tuy tôi cố bảo rằng mùa đông 1942, khi đến thăm quân đội của tướng Phê-đu-nin-xki, chúng tôi đã đến cách giặc Đức bốn lần gần hơn ở đây, vị tư lệnh vẫn không muốn dẫn chúng tôi tiến lên nữa và giải thích rằng ông ta chịu trách nhiệm về tôi "trước sự nghiệp văn học" . Về khuya, lúc ăn cơm tối, vị quân nhân ấy đã trích những đoạn thơ của các thi sĩ thuộc nhóm Pu-skin mà tôi không biết, làm tôi, một nhà văn chuyên nghiệp phải xấu hổ. Đến một địa điểm, vị tư lệnh chỉ cho chúng tôi những ngọn đồi phủ rừng rậm đang xanh đi trong khói chiều sắp xuống và bảo: -Chỗ kia là quân địch đấy. Chiến tranh xuyên qua phong cảnh của ngày thu yên tĩnh. Một ụ đất bọc rêu xanh, một ngôi nhà gỗ nghiêng ngả, một đống cành cây khô trên miệng hố. Tất cả những cái đó lúc nào cũng có thể nổ súng được. Vắng lặng, im ắng. Hoàn toàn không có người. nhưng ở bên trên, mọi nơi là những hoả điểm lớn nhỏ đều có dây thép gai bọc quanh một cách khéo léo, chỉ mới chạm đến là có tiếng kêu và tiếng chuông réo. Còn hầm hào chống tăng thì kéo dài vô tận. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một hoả điểm; ở đó toàn là thép và bê tông, không có một tí chỗ nào. Đó là cứ điểm hình tròn. Bốn bên đều có lỗ châu mai. Có một số chỗ ngồi cho các pháo thủ, kiểu cách giống như trên máy móc nông nghiệp. Xuống sâu dưới đất là chỗ ở, xuống đó phải dùng thang. Chỉ huy các hoả điểm và khẩu đội báo cáo lên vị tư lệnh công tác sẵn sàng chiến đấu của họ và việc làm của các chiến sĩ lúc ấy. Có một sĩ quan báo cáo rất hay: -Các chiến sĩ đang bận nghỉ ngơi. Có một khẩu đội bắn hai loạt đạn phóng lựu cỡ lớn để chào mừng chúng tôi. Sau có mấy phút thì phía Phần Lan cũng bắn trả. Ở một ngã ba các con đường rừng hoang vắng có một tốp hai chiến sĩ đi ra từ một ngôi nhà nhỏ không ai chú ý đến. Một người là người Bê-lê-rút-xi hay là người U-cơ-ra-in, đứng tuổi, nhiều râu, dáng nghiêm chỉnh. Người kia có cái mũi cong, da nâu, cử chỉ lanh lợi của một người vùng núi. Đồng chí tư lệnh mời họ hút thuốc, thế là họ quay lưng về phía phần Lan, lặng lẽ hút. Đêm khuya, dưới ánh trăng hạ tuần, chúng tôi đáp ôtô trở về Lê-nin-grat. Bây giờ tôi đã hình dung được vòng vây gần hết các phía rồi … |
Ngày 26 tháng Mười một 1943
Chương cuối cùng hầu như tôi phải viết lại toàn bộ. Thế là hôm nay tôi đã viết xong bài thơ này. Về căn bản là xong rồi. Ngày mai tôi phải đến Ô-xtrô-u-mô-vui-a Le-be-de-va để nói chuyện về việc trình bày cuốn sách. Và ở đấy có thể bắt tay vào văn xuôi. Trong văn xuôi, tất nhiên là có cái khó khăn của nó. Nhưng sẽ không có cái xúc động cao như trong sáng tác thơ. Tôi phải cố gắng làm cho năng lượng công tác của tôi trong năm này không bị gián đoạn mà phải chuyển sang năm 1944 để không có cái cảm giác đáng sợ là "bắt đầu trên chỗ trống". |
Ngày 12 tháng Mười hai 1943
Gia đình Ô-dê-rét-xki đã từ Cra-xnôi-ar-xcơ trở về một bộ phận học viện y khoa ấy tản cư từ Kit-xi-lô-vốt về đấy từ mùa xuân năm 1942. Khi những khó khăn căn bản của thời kỳ đầu phong toả đã lui về dĩ vắng rồi; nhà tôi thấy có thể xin từ chức Viện trưởng mà đề cử giáo sư Ô-dê-rét-xki vào chức ấy. Việc này cũng phù hợp với ý muốn của Ni-cô-lai I-va-nô-vích. Như vậy mọi việc đều tốt đẹp. Bây giờ nhà tôi có thể trở về với việc nghiên cứu lịch sử y học mà anh hằng yêu thích. Trong nhà chúng tôi lại xuất hiện từng chồng sách to sách nhỏ và từng bộ tạp chí cũ. Con mèo Cu-di-a của chúng tôi đã có thể ngủ trên những hòm đựng sách bằng giấy được rồi. Nhà tôi sung sướng. Tôi cũng vậy. Từ nay trở đi tôi không còn phải nghĩ những chuyện chữa ống khói lò sưởi, sửa ống dẫn nước… Mọi việc ấy đã chấm dứt. |
Ngày 17 tháng Mười hai 1943
Như thường lệ, tối hôm qua chúng tôi đi bách bộ. Đêm ẩm ướt, ấm áp. Trong ngôi nhà Ô-dê-rét-xki bảo là họ nhìn thấy ánh sáng bắc cực. Đến quảng trường Tôn-xtôi, chúng tôi muốn đến xem xét tỉ mỉ hiệu bánh mì bị đạn pháo bắn trúng ban ngày. Song dưới ánh đèn dầu thì chả nhìn thấy gì. Chúng tôi vừa về đến nhà thì ba bốn phát đạn bay liền đến cái quảng trường ấy. Ngày hôm qua ở đấy có một cô sinh viên cũ nay là nghiên cứu sinh của học viện y khoa Or-sen-xcai-a bị thương rất nặng Cô bị đứt một khúc ruột, mạch đập không có, hết hy vọng. Trong lần pháo kích này, một cô sinh viên năm thứ hai rất trẻ, Ve-rô-sca Be-re-dốp-xcai-a bị chết ngay. Trước khi cô chết mười phút nhà tôi còn gặp cô ta. Cô ở giảng đường giải phẫu đi ra. Ở đó đang thi. Nhà tôi hỏi cô: -Thế nào có run không? Cô đáp: -Hôm nay thì người khác run. Còn em đến mai cơ… Một giờ sau cô đã nằm trong nhà xác của chúng tôi rồi. |
Ngày 19 tháng Mười hai 1943
Sáng sớm hôm nay đi đưa ma Ve-rô-xca. Một buổi sáng trong trẻo màu hồng khô ráo. Đến nhà xác thì đúng lúc có một chiếc ôtô chở quan tài một đồng chí thuỷ quân nào đó cũng bị đạn địch bắn chết. Một đại đội thủy quân Ban-tích đi theo xe. Vào được cái phòng nhỏ "vĩnh biệt" thật là vất vả. Trong đó còn có một cái quan tài của một phụ nữ khác phủ một tấm lụa mỏng. Chị này cũng bị chết vì pháo đạn địch. Ngay đấy là chiếc quan tài nhỏ của Ve-rô-sca. Chỉ cái tay xinh xắn, nhỏ nhắn vàng nhe sáp lộ ra dưới đám hoa hu-bia và hoa hồng giả. Vĩnh việt người chết, mọi người đều hôn bàn tay ấy của cô. Gối đầu buộc bằng lụa. Lúc tôi muốn nâng nó lên để nhìn thấy rõ gương mặt của cô, có người nói thầm với tôi là đầu cô bé chỉ còn một mảnh xương sọ. Người mẹ tỏ ra dũng cảm. Nhưng người cha … rõ ràng là đau đớn quá. Nhà tôi và các sinh viên khiêng quan tài lên. Ôtô chạy đến đầu phố Xcơ-rô-khô-đốp thì đỗ lại trước ngôi biệt thự của viện khám bệnh do bố Ve-rô-sca làm Viện trưởng. Và Ve-rô-sca cũng đã từng làm hộ lý thực tập ở đây lúc còn là sinh viên. Người ta đưa lên ôtô mấy chiếc ghế dài để xem ra nghĩa địa. Lễ truy điệu được tổ chức ngay trên đường phố ấy. Nhà tôi phát biểu trước rồi đến nhân viên của bệnh viện và sau cùng là một đại biểu nữ sinh. Ngay lúc đó tiếng pháo vẫn nổ rền. Ở một khu phố nào gần đó vang lên điệu hành khúc đưa ma quân nhân. Bầu trời trong sáng và hấp dẫn: một mùa đông êm dịu đang bắt đầu. Cái giá lạnh chờ mong bao lâu nay đã đến, rất cần để quân ta khởi đầu cuộc tấn công. Khi nghe tiếng pháo nổ bà mẹ Ve-rô-sca nói: "Mong sao đến được nghĩa địa". Câu nói đó không rõ bà ta sợ hay bà ta muốn được yên để chôn cất con gái. Tối Đài truyền đi một tin quan trọng: Phòng tuyến quân Đức bị chọc thủng một mảng rất lớn ở khu Nê-ven. Bây giờ thì rõ ràng là tại sao mấy ngày nay giặc Đức lại nổi khùng lên như thế. |
Ngày 25 tháng Mười hai 1943
Chúng tôi họp chi bộ Đảng. Hội nghị này cũng kết nạp tôi vào Đảng. Ngày thứ hai lên đảng uỷ khu phố. Tờ mờ sáng hôm nay tôi và Ma-ri-ét-ta lên đảng uỷ khu phố về việc đơn xin gia nhập Đảng của chúng tôi. Năm nay đã kết thúc một cách tốt đẹp. |
Ngày 28 tháng Mười hai 1943
Một ngày báo động… Vừa định lên đảng uỷ khu phố để làm lý lịch thì bắt đầu đợt pháo kích điên cuồng vào khu phố chúng tôi. Nhà tôi có việc phải vào thành cả ngày làm cho tôi rất lo lắng. Trước khi anh đi, chúng tôi đã cãi nhau. Thế là chưa kịp chào nhau. Mà ở Lê-nin-grát không thể ra đi mà không chào nhau. Chờ ngớt đợt pháo kích chúng tôi sẽ lên đảng uỷ khu phố. |
Ngày 29 tháng Mười hai 1943
Một đêm gian khổ, nguy hiểm. Pháo hạng nặng bắn liền ba lần. Đạn nổ rất gần ngay bên cạnh Hợp tác xã công nghiệp. Nhà chúng tôi bị rung lên cứ như nhà làm bằng giấy. Nhưng chúng tôi không đi đâu mà cũng không mặc áo. Tôi chỉ ôm mấy cái gối sang chiếc ghế trường kỷ tránh xa cửa sổ. Buổi tối Ban chấp hành đảng bộ họp hội nghị chung quanh chiếc bàn hình bầu dục trong một gian phòng đẹp đẽ. Dưới sàn trải thảm. Trên bàn có khăn dạ xanh. Các đồng chí nêu rất nhiều câu hỏi và tôi đứng lại để trả lời. Hỏi: Tại sao chị không xin gia nhập Đảng ở đảng bộ Hội nhà văn? Trả lời: Chi hội nhà văn ở Lê-nin-grát hiện nay không có tổ chức đảng của mình. Những nhà văn công tác ngoài tiền tuyến đều chuyển đến sinh hoạt trong tổ chức đảng của các đơn vị quân đội. Những người còn lại công tác ở nhà máy nào thì thuộc về đảng bộ của nhà máy ấy. Hỏi: Trong giai đoạn này chị làm công tác xã hội gì? Trả lời: Cũng như trước kia, tôi sẽ viết văn và đi nói chuyện nhưng tôi sẽ cố gắng làm cho tốt hơn nhiều lên, trên quan điểm nghệ thuật của nghề văn. Ngoài ra tôi sẽ làm tất cả những gì mà đảng đòi hỏi. Hỏi: Chị không sợ kỷ luật nghiêm khắc của Đảng? Trả lời: Tôi không sợ. Bản chất của tôi là người có tổ chức. Trên đường từ đảng uỷ khu phố về nhà, tôi tự hỏi mình: Thời gian một năm dự bị của tôi đã thực sự trôi qua như thế nào? Trong khoảng thời gian đó, những thay đổi gì đã đến với tôi? Tôi đã đến những nhà máy, công trường, đơn vị quân đội để nói chuyện. Tôi đã sáng tác. Đúng như thế. Nhưng những việc đó trước kia tôi cũng đã làm. Vậy có gì khác trước? Điều này thực không thể nói một cách đơn giản như thế, nhưng có chỗ khác nhau. Trước kia tôi viết một tác phẩm nào đó thành công thì tôi vui thích. Nếu thất bại thì tôi đau xót. Đó chỉ là những điều vui mừng và bất hạnh của cá nhân tôi mà thôi. Còn bây giờ thì tôi nghĩ: trong mức độ nào đó cái mà tôi viết có lợi cho sự nghiệp văn học Xô-viết chỉ là một phần của sự nghiệp vĩ đại, sự phồn vinh của Tổ quốc chúng ta là đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Mỗi một tác phẩm văn học phải biến thành hành động. Dù sao đi nữa thì cũng phải thành hành động. Tôi cố gắng trong ý nghĩa của mình theo đường lối này; đoán định những gì đang xảy ra sau cái việc ở cuối trang, mà sau đó cuộc sống lại bắt đầu. Hiện nay thơ của tôi tác động như thế nào? Ngòi bút của tôi, vũ khí của tôi, trong thành phố Lê-nin-grát bị bao vây này làm việc như thế nào? Trong một mức độ nào đó tôi có thể cần thiết cho thành phố không? Tôi chịu trách nhiệm về điều đó. Đảng giao công tác này cho tôi, đó chính là công tác đảng của tôi. |
Ngày 30 tháng Mười hai 1943
Đêm yên tĩnh. Mãi quá nửa đêm mới nghe thấy tiếng súng nổ liên hồi ở phía xa xa. Có thể đó là pháo "Ca-chiu-sa" của chúng tôi đang lên tiếng. Tin tức trên đài rất tốt. Hôm nay có bão tuyết lần đầu tiên trong năm. |
Ngày 31 tháng Mười hai 1943
Thế là một năm đã qua. Năm mới đang đến sẽ mang thắng lợi đến với chúng ta. Bản tin hôm qua thật tuyệt. Chúng tôi thích thú nghe tin máy bay ta đánh phá Béc-lanh "vô cùng ác liệt". Không có cái địa ngục nào mà không nên đổ lên đầu Hít-le. |
Ngày 1 tháng Giêng 1944
Chúng tôi đón năm mới ở nhà Két-lin-xcai-a. Rất vui là trở về đi qua cả thành phố im vắng, phủ một lớp tuyết mỏng với những điệu van-xơ trên đài. Nhân dân được phép đi dạo chơi trên đường phố đến hai giờ sáng. Và chúng tôi về nhà vào giờ ấy. Tôi chúc mình mạnh khoẻ. Có sức khoẻ thì sẽ có tác phẩm. |
Ngày 2 tháng Giêng 1944
Câu chuyện xảy ra với người cảnh sát (chị I-va-nốp-na kể) Có một người đàn bà đang xếp hàng vặn tay đứa con của mình, vừa chửi nó một cách thô tục làm mọi người phẫn uất và họ tìm một bác cảnh sát đến. Người cảnh sát đến tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện, nắm tay thằng bé dẫn đi. Người đàn bà hoảng hốt: -Ông dẫn nó đi đâu? -Mang về cho vợ tôi. Nhà tôi biết đối xử với trẻ con. -Chẳng lẽ việc trông trẻ con là việc của ông sao? -Tất nhiên là việc của tôi. Nhà nước đặt tôi theo dõi trật tự. Tôi phải có trách nhiệm chứ. Hôm qua cây thông ngày tết của sinh viên được dựng ở gian phòng Lê-nin. Gian phòng trật ních nam nữ sinh viên và anh em lính thuỷ của học viện "kết nghĩa" ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ. Rõ ràng là họ sẵn sàng nhảy cho đến khi nào trên tàu còi báo động nổi lên, tận dụng hết cả thời gian hoà bình ngắn ngủi này. Trên cái nền những chiếc áo thuỷ quân dày cứng, những chiếc áo dài con gái càng dịu dàng và nổi bật hơn. Chúng lấy đâu ra những bộ quần áo ấy? Với phép kỳ diệu nào mà chúng đã tránh được bom đạn? cuộn túi cất đi hai năm dòng để đến nay trong cái đêm đón mừng năm mới này phô bày ra ánh sáng của đèn điện mắc hoa trên cây thông này? (cơ quan phòng hoả của thành phố tuyệt dối cấm không được dùng nến thật). Chung quanh cây thông có một số người mang mặt nạ đển nhảy. Có một cô gái còn cầm cả quạt. Tuy nhiệt độ trong phòng này không ai phải dùng quạt cả. Cậu bé Du-ra mặc chiếc áo hoá trang Pi-e-rô do bà mẹ chiều con đã khâu lên chiêc áo bông của cậu ta. Hồi mùa đông đầu tiên của thời kỳ bị bao vây, người Du-ra bị sưng phù lên, không thể bước ra khỏi cửa được. Đến mùa đông thứ hai thì đã trông thấy cậu ta đi giầy trượt tuyết ở ngoài sân của nhà tôi. Và bây giờ thì cậu ta chạy giữa những người đang nhảy như là hiện thân của một con ma nhỏ vui vẻ và ranh mãnh. Dua-ra nói với chúng tôi là ngoài âm nhạc của máy quay đĩa còn có nhạc "gia" thật sự nữa. Và thật thế, các vĩ cầm, sắc sô phôn, kèn đồng đã đến. Đèn điện trên trần không bật, chỉ có ánh sáng toả ra từ cây thông. Cây thông to lắm. Sinh viên tự vào rừng chặt chở trên ô-tô vận tải về, rất đẹp với ngôi sao trên ngọn bọc trong vàng và bạc. Nhạc nổi lên. Những nắm hoa giấy tung ra, từng cặp, từng cặp quay cuồng. Không có pháo kích. |
Ngày 4 tháng Giêng 1944
Tin pháo kích cắt ngang bào nói chuyện về bệnh cúm trên đài phát thành. Sáng sớm hôm nay có mấy loạt đạn dữ dội nhưng tôi chỉ nghe mơ màng qua giấc ngủ. Tất cả những chuyện đó làm cho mọi người mệt nhoài. Thật là căng thẳng quá mức! Nỗi khổ của Lê-nin-grat bao giờ mới hết! |
Ngày 6 tháng Giêng 1944
Hội đồng phát thanh đang tuyển những người biết thổi sáo và thổi kèn số 1 và số 2. Buổi sáng buổi tối lúc nào cũng truyền đi thông báo này… Nhưng không còn ai. Trong thời kỳ bị đói họ đã chết cả rồi. T.G. nói: -Đi về học viện Ghéc-xen như đi trên chiến hào ấy bởi vì đường phố bị pháo kích. Một giáo sư nói về sinh viên: -Họ phải đi khiêng củi nhưng họ lại làm phân tích chất lượng. |
Ngày 9 tháng Giêng 1944
Hôm qua quân ta đã thu hồi được thành phố Ki-rô-vô-grát, (nguyên là thành phố Ê-li-da-vet-grát). Cái thành phóo mà ngày nào tôi và mẹ tôi dắt con gai Gian-na bé bỏng, theo lời dặn của cha, chạy chốn khỏi bọn Đức, khỏi những chiến hạm (Gô-ben) và Bre-slau" bắn pháo vào Ô-dét-xa. Ở Lê-nin-grát vẫn là những ngày chiến tranh đẫm máu. Pháo kích chúng bắn thẳng vào tàu điện. Như hôm thứ tư vừa rồi, trên chuyến xe điện số 10 riêng số người bị bắn chết đã có tới bảy mươi. Mặt trận chúng ta im ắng. Song bất cứ lúc nào cũng có thể nổ súng được… Tuy giặc Đức cố chết giữ Pô-lô-xcơ và Vi-tép, những cái chốt của vận mệnh Lê-nin-grat. Ngồi viết cho tiền tuyến một tờ truyền đơn kỷ niệm một năm phá vỡ vòng vây. |
Ngày 14 tháng Giêng 1944
Dù cuộc sống trong lửa đạn đơn điệu của Lê-nin-grat gian khổ đến đâu đi nữa thì vẫn phải ở đây cho đến mùa xuân. Trong thời gian này số phận Lê-nin-grát phải sang một bước ngoặt. Băng đá đã đến rồi. Trên không trung lại vang lên những sự kiẹn. Chỗ chúng tôi lại thấy những người bị thương mới. Một dấu hiệu quan trọng. |
Ngày 15 tháng Giêng 1944
Giữa trưa Từ sáng sớm đã nghe trên không có tiếng nổ liên hồi, dữ dội xưa nay chưa từng thấy. Đó là pháo của hải quân ta bắn. Người ta bảo là ở khu Ô-re-ni-en-ba-um. Tiếng nổ vang không dứt. Có người bảo tôi: "chúng ta đang điều chỉnh tiền tiêu của chúng nó". Cái gì rồi sẽ xảy ra? chẳng lẽ đến nay vẫn cha thành công sao. Nhưng mọi người vẫn tin là sẽ tốt đẹp. Mọi người đều có những gương mặt thật đặc biệt. Sáng sớm, như thường lệ vào những phút nguy kịch, giáo sư G. xuất hiện "đến thế thôi" vì cảm xủctàn đầy … phải ngồi viết! Ái dà, lại bắn! Lại đang bắn! Nhà tôi bao là tôi cần đến thành phố Pu-skin ngay sau khi nó được giải phóng (Ái dà, lại bắn nữa!) |
Ngày 19 tháng Giêng 1944
Đã có thông báo chính thức rằng "trên mặt trận Lê-nin-grat quana ta đã phản công về phía Nam Ô-re-ni-en-ba-um. Cuộc tiến công đang tiếp diễn". Ở mặt trận Vôn-khốp cũng thế. Nghĩa là đã thật sự "bắt đầu". Nhưng ở tất cả các bệnh viện Lê-nin-grat bao nhieê là thương binh! Những chiếc ô-tô buýt của chữ thập đỏ xếp hàng dài dằng dặc, nối đuôi nhau chạy ra ga đón thương binh. Làm sao máu đó không khải chảy một cách vô bổ… |
Ngày 20 tháng Giêng 1944
Hôm qua quaâ ta chiếm lại được làng Đỏ. Rốp-su, Pê-téc-gốp và Đu-đéc-gốp. Thành phố Rốp-su nhỏ, im vắng trước chiến tranh, nổi tiếng với nhà máy giấy và những hồ nuôi cá chép là một điểm phòng ngự quan trọng nhất của bọn Đức. từ đây à toả ra nhưữn con đường chiến lược của chúng. Bộ đội ta đaán vào Rốp-su còn thấy trong căn phòng một đia xmì nóng. Và cuối cùng từ Mát-xcơ-va truyền đi tiếng "pháo chào mừng Lê-nin-grát". |
Ngày 21 tháng Giêng 1944
Quân ta giải phóng U-rĩ-ki, Li-gô-vô, Xtrê-na và Nô-vơ-gô-rớt. Ở những nơi khác "các đơn vị quaâ Đức bị bao vây và bị tiêu diệt". Hiện nay đến lượt thành phố Pu-skin. Trong thành phố vắng lặng. Và đây là điều kỳ lạ. Thì ra người ta chữa quen ngay với cảm giác an toàn. Cứ nghĩ mãi: "Là nếu còn sót lại một khẩu đội nào thì sao?". |
Ngày 22 tháng Giêng 1944
Hôm qua sáng chủ nhật, Hội nhà văn rồi đến cục chính trị mặt trận Lê-nin-grat gọi dây nói cho tôi, bảo tôi pảhi chuẩn bị sẵn sàng: một giờ nữa là chúng tôi sẽ đến những vùng giải phóng. Trước hết họ đến ngay nhà máy Ki-rốp. Ở đó tất cả đều bị chiến tranh phá hoại. Chỗ nào cũng có dây thép gai, ống dẫn nước, ván gỗ, hào rãnh, gạch ngói vụn của những nhà cửa bị tàn phá. Trong những hố bom, trên mặt tuyến bốc lên những cái lưỡi khói dài, qua đấy có thể thấy sức mạnh của ngọn lửa. Đó chínhlà phi công của chuún ta "điều chỉnh tiền tiêu của bọn chúng". Bệnh viện Pho-rên chỉ còn trơ lại mấy bức tường. Trên cái nền trời mùa đông là tàn tích bi thảm của nhà máy sản xuất máy chữ "Pi-sơ-ma-sơ". Giặc Đức đã biến nó thành một pháo đài mạnh và từ đó chúng bắn vào thành phố. Trên các ngã tư đâu đâu cũng thấy những bảng có ghi chú bằng chữ Đức với những mũi tên hình con voi; biểu tượng của hạnh phúc hay sao? Những chiếc cầu, ngay cả những chiếc rất không quan trọng cũng bị phá hết. Ô-tô của chúng tôi phải rất thanạ trọng mới đi qua được những chiếc cầu vừa mới bắc tạm. Trên những tấm ván ở mỗi đầu cầu bày la liệt những quả mìn tròn đã trở thành vô dụng. Những quả khác dài ngoẵng, nhỏ có lông đuôi xếp từng đống như cá chết. Hai bên ven đường cái lớn công binh đang đi trên tuyết, dắt theo những cpn chó có xích. Có người bảo là một con chó ấy chỉ ngày hôm qua đã phát hiện được bốn mươi nhăm quả mìn. Nhưng lòng đường vẫn còn nguy hiểm. Chiếc xe "Pi-cáp" chạy trước chúng tôi đè phải một quả mìn, may mắn là chỉ cạnh bánh xe chạm vào thôi. Nhưng rồi người lái xe bị thương nhẹ, mặt anh chảy máu. Anh quay lại gọi chúng tôi: "Các đồng chí đi đâu? Đã thấy chưa?" Nhưng rồi chúng tôi cũng đi tiếp được an toàn. Ở Xtrê-na, dưới mái cổng một ngôi nhà lớn, bếp dã chiến đã bốc khói. Các chiến sĩ của chúng ta đã xách nước trong những cái thùng chiến lợi phẩm, dùng búa để bổ củi. Tiếng dội rất vang hình như vui sướng là dội lại những âm thanh hoà bình. Cả công viên Xtrê-na bị bom đạn nham nhở. Hầu như không có cây nào lành lặn. Trong đó có một cây rách mướp, trông dễ sợ, giương những cái cành trơ trụi như một người ôm lấy đầu mình. Đi lại phải rất cẩn thận, không được đi xa khoi đường mòn đã có vết chaâ người đi. Chỗ nào cũng có mìn. Tôi mang từ Xtrê-na về một đống giấy phòng độc màu xanh của Đức. Cung Pê-ter-gốp bị tàn phá đến nỗi không có sức mạnh nào của con người có thể khôi phục được. Trèo lên những đống đổ nát, chúng tôi đi ra một mảng còn lại của sân thượng lớn và đứng nhìn mãi về phía con đường có giếng nước phun đi về phía biển. Ở phần dưới của công viên, trên mỏm đồi bán nguyệt bên cạnh bức tường trong không khí mùa đông có thể nhìn tháy rõ raàn khẩu pháo ấy: ở đấy toàn là mìn. Tôi nhớ lại lúc chúng tôi đứng trên bến Cơ-rôn-sơ-tát nhiì về phía Pê-ter-gốp xa xa, đồng chí chỉ huy nói: "Sẽ đến lúc…" Chúng tôi đến làng Đỏ thì trời đã gần tối. Ở ngoại ô, nơi có treo tấm biển của giặc Đức, dưới ánh lửa của một ngôi nhà đang cháy, chúng tôi nhìn thấy bọn tù binh Đức mặc quần áo nguỵ trang, bẩn thỉu, lông lá. Người ta dẫn bọn chúng đi về phía có mũi tên chỉ đề " Lê-nin-grát". Đây là những tên Đức đầu tiên tôi trông thấy trong cả thời gian chiến tranh. |
Ngày 24 tháng Giêng 1944
12 giờ đêm. Quân ta đã giải phóng thành phố Pu-skin và Páp-lốp-xcơ. Ngày 27 tháng Giêng 1944 Sự kiện vĩ đại nhất trong cuộc sống của Lê-nin-grát: Toàn bột rong vòng vây thành phố đã được phá tan. Và tôi, một nhà văn chuyên nghiệp không nói được lên lời. Tôi chỉ nói " Lê-nin-grát tự do rồi". Và trong đó là tất cả. |
Ngày 28 tháng Giêng 1944
8 giờ tối hôm qua, theo lệnh của tướng Ga-va-rốp đã có bắn pháo hoa để chào mừng và cuộc bắn lễ như vậy chỉ có vào những ngày đại thắng lợi. Ba trăm hai mươi bốn cỗ pháo cùng bắn hai mươi bốn loạt. Thành phố của Lê-nin chào mừng quân đội mặt trận Lê-nin-grát. Mà hoa pháo của chúng tôi bắn lên còn đẹp hơn của Mát-xcơ-va nữa kia. Ở Mát-xcơ-va các màu hoa cùng bắn lên một lúc. Còn ở đây khi thì bắn hết loạy hoa lửa màu xanh, lúc đó cả bầu trời sáng rực cái ánh sáng Phốt-pho như có một vì sao băng, khi thì một loạt hoa lửa màu hồng, khi thì có ngôi sao vàng toả xuống như những cành hoa từ một lẵng hoa vô hình. Tất cả rơi xuống và tắt dần trên băng của sông Nê-va. Thật ra đấy là những pháo sáng dùng trong chiến đấu. Trước kia chúng tôi đã thấy rồi. Tác dụng của nó là: để ra hiệu đợt tấn công đã bắt đầu… dùng cho máy bay hạ cánh, ra lệnh cho các khẩu đội, pháo binh dẫn đường cho bộ binh, báo trước cho xe tăngv.v… Nhưng những lúc ấy là những cái pháo hiệu lẻ một. Còn bây giờ thì hàng nghìn cuộc tnấn công, hàng trăm cuộc chiến đấu, thuỷ chiến đồng loạt bay vút lên không trung. Mà đặc biệt nhất là đèn pha của Hải quân ( cái này ở Mát-xcơ-va không có). Trong đó có một ngọn từ dưới đất chiếu thẳng đến tận nóc tháp Pê-rô-páp-lốp, chiếu thẳng đến tận trời, mạnh quá đến như đặc lại. Nó như một cái tháp dựng nghiêng hoặc như một cái cầu dính liền và có thể đi trên đó lên đến trời. Một ngọn đèn pha khác với một lối rọi ánh sáng của nhà hát, chiếu từ xa ngôi nhà ngân hàng, khi thì đưa nó về phía chúng tôi trên mộ luồng sáng chói lọi, khi thì cắt đôi nó, khi thì lại cuốn tất cả vào trong đêm tối. Cả bầu trời đều ngang dọc những ánh đèn pha. Những khẩu pháo đặt trên các quân hạm dọc theo hai bên bờ phải và trái. Trước khi súng nổ, những lưới lửa phụt ra giống như ngày xưa những bức tranh cổ vẽ lửa địa ngục. Lúc đài truyền tin về bắn pháo hoa thì tôi đang nói chuyện ở hội nghị trí thức ở Uỷ ban khu phố. Tôi kết thúc câu chuyện tước lúc bắn pháo hoa mười phút. Chúng tôi vội vàng mặc áo khoác, nhảy vối lên xe điện số 3 đã chật ních người. Mọi người đều đến cầu Ki-rốp. Vừa đến đó thì đúng lúc bắn loạt pháo hoa đầu tiên. Cầu Ki-rốp và cánh đồng Mác đầy người. Cạnh tượng Xu-va-rốp có một chiếc ô tô điện ảnh và người ta quay phim ở đó. Ô tô, xe đạp người dđ bộ chen chúc nhau. Trong đám xe cộ đó có cả xe tăng loại nhỏ và xe tăng lớn đang chạy từ từ. Tiếng súng nổ rất rền, quả là " tiếng sấm chiến thắng". Cả một biển ánh sáng đều ngẩng lên trời và tất cả những gương mặt đều được soi rõ từng nét nhỏ. |
Ngày 30 tháng Giêng 1944
Hai ngày sau khi bắn pháo hoa, ở khoa sản phụ chúng tôi một đứa trẻ ra đời. một cháu trai. Đứa con của Lê-nin-grát giải phóng. |
Ngày 2 tháng Hai 1944
Hôm qua tôi cùng với một số hoạ sĩ và cán bộ bảo tàng Du-déc-gốp Gát-si-na, Pa-vlốp-xki và Pu-skin. Trên đường trở về chúng tôi đi qua Pun-cốp. Lần cuối cùng tôi được nhìn thấy Đài khí tượng Pun-cốp trong ống nhòm nhiều màu của trẻ con. Ở đó những ngôi nhà màu trắng nằm giữa màu xanh của cây lá thấy rất to qua ống kính. Cái ngôi nhà chính của đài khí tượng, công trình của Ru-lốp, đỉnh tháp cao đặt kính viễn vọng chính và thư viện tàng trữ tiểu sử tất cả các vì sao. Bây giờ những cái đó đều bị cháy, bị tan, bị bom, bị huỷ hết. Trong công viên cũ, chỉ còn sót lại mấy cây gỗ đã biến thành than. Những ngôi nhà bị huỷ. Cả ngọn đồi Pun-cốp đều đầy hầm và hào. Đó là của chúng ta. Và ở bên kia đồi là của địch. Những hầm hào của chúng với cả ý nghĩa của danh từ đó, chĩa vào ngực của các đơn vị chúng ta. Nhưng rồi giặc Đức cũng chẳng làm gì được. Pun-cô-vô bị tàn phá trải qua trước mắt chúng tối vào cái buổi chiều của ngày đông ngắn ngủi như một cảnh tượng buồn thảm. Du-déc-gốp (núi Va-rô-ni-a) nhìn từ xa giống cái bàn là. Từ Du-déc-gốp, giặc Đức điều chỉnh đường đạn pháo của chúng bắn vào thành phố. Có thể hình dung là chiếm được những sườn đồi dốc từng băng giá này. Chắc là bộ binh đánh chiếm. Trên xe của chúng tôi có các chị làm việc ở ba viện bảo tàng Pa-vlốp, Gát-si-na vàPu-skin. Và họ nhìn những tàn phá với nỗi đau lòng biết mấy. Tôi không vào cung Pa-vlốp, chỉ ngắm nó từ xa. Cái cầu qua sông Xla-vi-an-ca (cũng như những cầu khác) đã bị phá huỷ. Phải đi xuống cái vực rồi men theo những rầm gỗ đã đóng băng mà sang sông: Việc này đối với tôi thật khó khăn. Nhưng có một cô gái của viện bảo tàng Pa-vlốp chạy xuống rất nhanh theo bờ dốc có băng qua bên kia sông làm những người đàn ông theo không kịp. Lúc quay lại thì cô ta đi chậm, mắt tái mét, điều này thấy rõ ngay dù trời lạnh. Cô ta nói là viện bảo tàng chỉ còn là một " cái hộp" nghĩa là cái hình. Bên trong là đổ nát. Trên tấm bia cao ở cổng chính vào công viên Gát-si-na trước kia có một quả cầu đá hoa cương. Giặc Đức đạp vỡ quả cầu ra xây một chữ thập ngoặc rất lớn ở trên đó. Khi chúng tôi đén công viên thì cái chữ thập này đã bị các chiến sĩ ta lật nó xuống và ném vào chân tấm bia. Giặc Đức không chịu trả Gát-si-na . Ngược lại chúng còn dồn những người ỏ Pê-téc-gốp và Xtrê-na về đây. Vào cái phút cuối cùng, khi quân đội ta đã tiến vào trong thành rồi, giặc Đức tưới xăng lên cung viện rồi châm lửa đốt. Mỗi ô cửa sổ đều có những vệt lửa để lại, bên ngoài tường những vệt khói đen. Cả ngôi nhà bây giờ như mặc áo tang. Ngay lúc chúng tôi đến còn những thứ đang âm ỷ cháy. Bên tong ngổn ngang, đổ nát, những trần nhà bị sập. Trong gian phòng của Pa-ven một bức tường thả từ trên xuống. Trên bức tường là một bức phù điêu từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. vật cúng của hoàng đế Tít. Trong một gian phòng khác cũng ngay trên đầu, trên bệ cửa ra vào có một con mực bằng đá hoa cương. Nhìn những vật này phải dứng dưới ngẩng đầu lên, nhưng phải cận thận nếu không sẽ bị ngã. Từ trần của cổng chính đi vào cung viện là hai pho tượng của những nhà điêu khắc Ý: Chiế tranh và hoà bình. Hai bức tượng này còn giữ được nguyên vẹn, trong cái hộp bằng gỗ. Chị cán bộ ở viện bảo tàng Gát-si-na rất mừng rỡ trước khi hai pho tượng này, như gặp người sống. Chính trị đã giấu chúng vào những cái hộp gỗ ấy. Trên khung cửa cung điện có đề: " Khởi công ngày 30 tháng Năm 1766. Khánh thành năm 1781". Bây giờ thì có thể thêm vào: " bị giặc Đức phá hỏng tháng Giêng năm 1944". Trên một bức tường ở Gát-si-na, giặc Đức viết bằng bút chì hoá học dòng chữ: " chúng tôi đã ở đây…" tiếp đó là " Khi I-van đến thì ở đây sẽ trống rỗng". Dưới là địa chỉ: Richard Wourf, Stertri, Sanstras 2. Dây nói D. 28-10-43". Không biết bây giờ cái tên Wourf ấy chạy đi đâu rồi ( theo tiếng Nga tiếng này có nghĩa là "vứt đi"). Có phải hắn bị vất vào đống tuyết trên đường đi giữa Gát-si-na và Pa-vlốp-xcơ chân trần, một nửa đầu bị tê cóng, nắm băng tuyết thấm máu thay đôi mắt chết rồi? Dưới tuyết còn thấy phù hiệu trên tay áo " SS". Những xác chết như thế ở dọc đường chúng tôi thấy rất nhiều. Ở ngày Gát-si-na còn lại những vết tích cuộc sống ghê tở kinh khủng của giặc Đức: Nhà tù, hai lần bao bọc dây thép gai, câu lạc bộ sĩ quan những tấm biển viết bằng hai thứ chữ " cửa hàng bán đấu giá", " Hiệu bánh mì" và họ những người chủ Ai-xên, Maxlen-ni-cốp. Khi quân đội chúng ta giải phóng gát-si-na thì ở đây tìm ra gần bốn nghìn người. đây là một người đàn ông gầy và xanh xao, hai tay bị băng bó, không còn nhìn rõ chúng tôi là những người từ Lê-nin-grát đến. Cuộc sống bên ven cầu trên những con đường hoang vắng đã bắt đầu, thật ra thì vẫn là cuộc sống chiến tranh, cuộc sống lang thang. Những đám lửa nhỏ nấu nước tuyết ở trong xoong. Có một chỗ xem ra như vừa mới thịt xong một con ngựa. Trên một ngã tư đường khác là văn phòng dã chiến. Có bàn viết và chiếc ghế bành lấy từ trong hầm của giặc Đức mag kê ngay ngoài trời. Một người đội mũ lông cẩn thận đổ mực vào một cái lọ con rồi hà hơi cho nó nóng. Ở dưới sông I-gio-re có hai chiếc xe tăng cỡ vừa của chúng ta bị băng dính đầy "Vì Lê-nin-grat" và "Xu-va-rốp". Cả hai đều bị méo mó và nước giá cọ rửa vết thương của nó nhuộm cái màu sắt gỉ đỏ quạch như máu. Khi đi vào công viên Pus-kin, Ép-ghê-ni-a Lê-vi-tan-na trước là người hướng dẫn tham quan ở đây kêu lên vui sướng: "Di tích vẫn còn nguyên". Và thực thế, những tàn tích nhân tạo laãn mạn chủ nghĩa từ thời Ê-ca-tê-ri-na vẫn còn nguyên vẹn. Và ngay trong lâu dài không kể đêếnlời dặn dò của người công binh dắt con chó, chị Lê-ô-ni-đô-vna chạy khắp các phòng, các buồng lớn nhỏ, các hành lang và lối đi lại. Đến những gian không thể đi được, chị đứng ngoài sân nhìn vào. Chúng tôi cố gắng đi theo chị. Đến gian hầm của nhà bảo tàng Ca-me-rô-va tôi đi vào đầu tiên, bước mạnh dạn, nhanh nhẹn, nhưng tôi liền nhảy vội ra, trên sàn nhà ba quả bom to như những cái vại đã tháo kíp rồi mà chúng tôi không biết. Mỗi quả bom này nặng đến một tấn, tất cả có mười một quả. Những thứ này được đặt trong cung điện, trong công viên, nối lại với nhau bằng dây điện. Bom ấy phải nổ vào giờ phút cuối cùng. Nhưng bọn Đức đã không kịp làm việc đó. Trong gian hầm xếp một dống rất nhiều ủng rách: Đó là chỗ vá giày. Nơi ở của lính Đức cũng nằm dưới đất. Chúng khuân ghế bành, đi văng, lọ hoa, thảm vân vân ở trên mặt đất xuống hầm. Tất cả những thứ đó rất bẩn đầy bùn và nhọ than. Bọn chúng chưa kịp mang đi đá lót nền quý giá của cái phòng lớn, chỉ mới gỡ lên từng mảng chuẩn bị đem lên xe. Cái phòng gương bị đập phá, bị đốt một nửa siêu vẹo. Mái nhà bị phá. Trần nhà đổ xuống từng mảng treo lơ lửng và thay vào cái vòm vẽ mực màu xanh chói lọi là cái lỗ thủng để lộ khoảng trời đông lạnh xám xịt. Cả sàn nhà ngập ngụa nhưữn mảng kiín vỡ và những vật chạm trổ bằng gỗ nạm vàng làm rất công phu, tỉ mỉ. Còn cung A-lếch-xan-đra tuy đã trống rỗng nhưng dù sao cũng còn lại khá hơn. Ở đây là cái phần mang tính chất Tây-ban-nha. Điều này thấy rõ quá những gó vẽ trên tường đá cẩm thạch: Mũ cài hoa hồng, quạt, những cái lược cao trên búi tóc. Trong gian phòng tròn của phần Tây-ban-nha có một nơi không phải là nhà thờ cũng không phải là nơi cầu đảo. Đây là cái "bàn thờ" kỳ quái họp lại bằng các thứ đồ gỗ hác nhau, trong đó chị Lê-ô-ni-đô-vna nhận ra ngay một cái giá sách kiểu Trung quốc khuân từ phòng của cố hoàng hậu Ma-ri-a Phê-đô-vna. Đã đến lúc chúng tôi phải trở về Lê-nin-grat. Chúng tôi còn đi một vòng bên ngoài cung viện và trường học của Pu-skin, một số đường râm mát trong công viên hầu như không bị tổn thất gì, bóng cây cối ngả ra làm xanh màu tuyết trắng. Trên dường về nhà, lúc đã vào đến thành phố, chúng tôi gapự một đoàn lớn tù binh, có đến ba trăm tên. |
Ngày 2 tháng Hai 1944
Một sự bất ngờ: ngày mai tôi lại đi Mát-xcơ-va dự hội nghị cá nhà văn. Ngày 5 tháng Hai 1944 Mát-xcơ-va Hôm qua hội nghị đã khai mạc. Đi Mát-xcơ-va không cần phải chuyển tàu nữa. Đi thẳng từ ga Tháng Mười. Đây vẫn chưa phải là chuyến tàu tốc hành "Mũi tên bay", nhưng cung là chuyến tàu chạy thẳng. |
Ngày 17 tháng Hai 1944 Mát-xcơ-va như thường lệ, rất sôi sục. Tôi có nhiều cuộc gặp gỡ thảo luận và nói chuyện. Tương lai của tôi rất tốt đẹp, nhưng hienẹ tại thì u ám vì bệnh hoạn. Tôi cảm thấy sức khoẻ của mình không tốt. Muốn có hạnh phúc thì phải có một sức khoẻ như thép. |
Ngày 20 tháng Hai 1944
Mát-xcơ-va Có một kế hoạch mới là tôi sẽ đi Lê-nin-grat một chuyến. Ở đó tôi sẽ chờ chuyến tàu tốc hành "Mùi tên bay" thứ nhất sắp chạy Lê-nin-grát rồi cùng nó trở về Mát-xcơ-va và sẽ viết cho báo "Sự thật" về chuyến tàu này. Chắc là tôi sẽ làm như thế này. Hãy tạm giữ cái phòng này ở khách sạn. Đi rồi còn quay lại. Đi Lê-nin-grat rồi quay về… sao chuyện ấy bây giờ giảm tiện thế! Khó mà quen với điều đó. |
Ngày 25 tháng Hai 1944
Lê-nin-grát. Tôi đá đến Lê-nin-grát, còn chuyến tàu "Muũ tên bay" thì chưa thấy. Máy chữ của tôi lại ở Mát-xcơ-va, không có máy chữ tôi như bị cụt tay. Bao nhiêu lần tôi đã tự nhủ rằng đừng có rời nó ra. Ngày 26 tháng Hai 1944 Hình như chuyến tàu "Mũi tên bay" có lẽ mồng hai hoặc mồng ba tháng Ba mới chạy. Tôi vẫn chờ nó ở đây. |
Ngày 27 tháng Hai 1944
Hôm qua tôi đến dự lễ kỷ niệm hai trăm ba mươi năm ngày thành lập Học viện Thực vật. Buổi lễ được cử hành trong ngôi nhà gỗ có lò sưởi ở khu Học viện Thực vật. Từ ngoài trời băng rất rét bước vào phòng nhìn thấy trên bàn chủ tịch đoàn những cánh hoa linh lan và đinh hương trắng đang nở toả mùi hương, trong phòng náo nức. Cán bộ khoa học và kỹ thuật của học viện đnag ngồi trong gian phòng lớn. Rất nhiều trẻ con. Đứa bé ngồi ở hàng nghế thứ hai đội mũ kiểu hoa linh lan khoác áo choàng xanh lá cây trông xinh tệ. Chúng tôi nghe báo cáo công tác của viện mà trước chiên stranh có lieê hệ với tất cả các nước trên thế giới. Ở đây trồng những cây mang từ cao nguyên Pa-mia, từ Ca-sơ-ga-ri, Ai-cập, Brê-din về. Tất nhiên đây là những loại thực vật mà Liên-xô không có. Bắt nguồn từ cái "vườn cây thuốc" thời Pi-e đại đế, khu vườn Bách thảo ở Lê-nin-grát theo số lượng người đến thăm đứng hàng thứ hai sau viện bảo tàng cách mạng của Mát-xcơ-va. Những tiêu bản thực vật của vua Pi-ốt đều bị mất hết trong vụ cháy ở Mát-xcơ-va naă 1812. Nhưng còn giữ được những thực vật mà viện Ngự y của nữ hoàng Ê-li-da-vét sưu tập. Các đồng chí cho chúng tôi xem một số giấy dày màu nhạt, mỗi một thứ thcj vật ở trên giấy đều được dán hết sức tinh vi, cho đến cả những cái lông rất nhot. Dưới mỗi cây thực vật đều có ghi bằng chữ La-tinh cổ "Tìm được ở gần Pôn-ta-va". "Tìm được ở gần thành phố Lai-đơn ở Hà Lan" "cây Hồ tiêu Ghi-nê". Chúng tôi được biết là cây thực vật ngay khi chết rồi vẫn còn có thể bảo tồn được vĩnh viễn. Trên nhưữn cánh hoa cúc và hoa thuốc phiện ở trong quan tài của những vua Ai-cập còn giữ được vết tích màu sắc của chúng. Trên bảng thực vật có hai điều kỵ; ẩm ướt và giữ gìn không cẩn thận. Trong thời gian chiến tranh, công taá chủ yếu của học viện này là "giữ vững nguồn thực vật và giúp đỡ hồng quân". Học viện xây dựng những bản đồ thực vật. Nghiên cứu chất vi-ta-min trong cây tường vi ở phương Bắc và trong lá thông nhọn. Đã và đang sản xuất ra một loại dầu dùng trong y dược để cung cấp cho các bệnh viện. Phát hiện nội dung vi-ta-min trong rau củ cải. Phát hiện các loại thay thế cho phân bón. Trồng nấm ăn và thuốc lá. Đã làm một công trình lớn là đưa vào thức ăn những cây "hoang". Lần đầu tiên ở miền Bắc xa xăm lại trong điều kiện bị bao vây như thế này, viện đã chế ra một thứ thuốc chữa bệnh đau tim quý giá, đó là Đi-gi-ta-lis. Trồng rất nhiều loại hoa dùng trong các bệnh viện trong một số trường hợp nào đó bổ sung cho việc thiếu chất dinh dưỡng. Đó là một loại vi-ta-min, nhưng thấm vào thân thể người ta qua thị giác và khứu giác. Có một lần nàh bác học về trống vườn teê là Ni-cô-lai I-va-nô-vích Cur-na-cốp nhận được một bức thư của một chiến sĩ đã phục hồi sức khoẻ nhờ những bông hoa, gửi đến cảm tạ và hứa rằng bây giờ anh sẽ chiến đấu mạnh hơn nữa. Trong thời kỳ bị bao vây, vườn bách thảo đã gửi vào thành phoó hai mươi triệu cây rau giống. Đó là công tác của một trăm năm mươi đội trưởng trồng rau làm ra. Trong số cán bộ công tác ở học viện có chín người đã bảo vệ luận án tiến sĩ sinh vật học và tám người phó tiến sĩ rồi. Kết thúc bản báo cáo của mình, đồng chí Xô-cô-lốp nói: -Thành phố Lê-nin-grát được giải phóng khỏi quân thù phải càng đẹp hơn trước ngày nổ ra chiến tranh. Như vậy có nghĩa là "nó vẫn cần phải có cây cối và hoa lá". Và trong ngôi nhà kính của vườn Bách thảo lại cần phải thu thập mọi loại thực vật quý giá trên toàn thế giới. Sau đó các đại biêu phát biểu ý kiến và chào mừng, trong đó có người bạn láng giềng và là anh em-học viện huyết thanh và thuốc miễn dịch. Chúng tôi ra về sau khi Hội đồng Xô-viết Lê-nin-grát trao tặn bằng khen trước khi buổi hoà nhạc bắt đầu. Ở gian gửi mũ áo trẻ em, người giữ mũ áo tuyên bố: -Em nào đi với mẹ đến tôi sẽ trả áo cho. Một em bé gái nói vẻ tự hào: Mẹ cháu ở trong kia được thưởng bằng danh dự. |
Ngày 29 tháng Hai 1944
Chuyến tàu "Mũi tên bay" vẫn chưa chạy. Nghe nói con đường sắt Tháng Mười không phải là hoàn toàn không nguy hiểm. Giặc Đức vẫn bay ở vùng đó và đường ấy còn rất nhiều mìn. Thật chính xác tôi không biết, nhưng chuyến tàu "Mũi tên bay" không có. Buổi tối Tôi quyết định đi Mát-xcơ-va bằng tàu thường. |
Ngày 12 tháng Ba 1944
Mát-xcơ-va Công việc tiến hành rất tốt. Đúng là công việc. Nhưng viết thì tôi không có thì giờ. Mà tôi rất muốn ngồi viết nhật ký. Đài đang đưa tin: Một điểm dân cư đầu tiên của tỉnh Ô-đét-xa đã xuất hiện. |
Ngày 14 tháng Ba 1944 |
Ngày 20 tháng Ba 1944
Lê-nin-grát Đi tàu thường về Mát-xcơ-va, nhưng sau đó lại được đi chuyến tàu " Mũi tên bay" đầu tiên đến Lê-nin-grát. Toa quốc tế của chúng tôi hầu như đầy các nhà văn,nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh của tất cả các báo ở Mát-xcơ-va. Đoàn tầu rất trọng thể và đẹp đẽ. Người lái tàu là anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa. Tất cả các nhana viên phục vụ trai và gái đều là người Lê-nin-grát, những người công taá ưu tú nhất trong thời kỳ bị bao vây. Từ những tấm thảm trai trên mặt đất đến những cái khuy bóng loáng trên những chiếc áo xanh của nhân viên phục vụ tất cả đều sáng ngời, sạch sẽ và mới mẻ. Thời gian tàu chạy mất hai mươi tiếng đồng hồ. Chúng tôi cứ bám lấy cửa sổ cho đến khi trời tối. Từ rạng sáng chuún tôi lại tựa người vào cửa sổ rồi. Tất cả những vùng Bô-lô-gôi Lu-ban, Tô-xnô đều đổ nát. Chỉ đến chỗ nào có cầu bắc tạm là tàu phải chạy chậm lại. Khắp nơi những baản viết bằng tiếng Đức và tiếng Nga "Min" "Cẩn thận". Chiếc cầu xưa kia bắc trên sông Tô-xnô thật là đáng sợ: Dầm cầu đã hỏng, dây xích gỗ ngang treê cầu đều đổ xiêu vẹo xuống nước. Những cột dây điện cũ bị giặc Đức đốt hoặc cưa đi, thay bằng những cột điện mới, sáng trắng lên như những cột nến. Có một số nơi tàu chúng tôi chạy men theo một hành langtoàn công sự và lô cốt của giặc Đức để lại xây rất gần đường. Một công sự bị bắn trúng giữa tung toé cả beê trong ra: Những mảnh bê tông cốt sắt, những phiến sắt hình cong, súng máy, ghế dài, hòm đựng đạn suún máy đã vỡ. Cạnh cửa lô cốt, bên dưới tuyết là một chiếc áo khoác đã nhàu nát của giặc Đức và đôi ống tay cong veo. Khôi phục con đường này là công việc anh dũng biết bao! Thật kinh khủng khi nhìn khu Côn-pi-nô, nhiì nhưữn xưởng máy tan nát, bị cháy dở, trần trụi của nhà máy I-gio-re đầy những vệt và đường hầm ngang dọc. Qua "nhà máy sứ" là chúng tôi đến dưới nóc nhà ga Mát-xcơ-va của thành phố Lê-nin-grát (ở Lê-nin-grát có ga Mát-xcơ-va và ở Mát-xcơ-va có ga Lê-nin-grát-ND). Những người Lê-nin-grat đã chào đón chúng tôi. Suốt cả thời gian đi treê đường tôi nghĩ đến lúc cách đây gần ba năm khi tôi từ Mát-xcơ-va đến ga này. Giữa hai chuyến tàu là cả một đoàn đời đóng vào trong hai dấu ngoặc sắt |
Ngày 24 tháng Ba 1944
Sự im vắng, yên tĩnh, không có báo động máy bay, cũng không có tiếng súng. Tất cả những cái này tác động đến tôi một cách lạ lùng. Rõ ràng Không phải dễ mà quen ngay được với cảm giác bình yên này. Trong Không khí yên tĩnh này công việc lại khó khăn. Bệnh của tôi hình như lại tăng lên nhiều vẻ. Có thể nghĩ rằng mọi thứ bệnh lại tăng lên trong thời kỳ bị bao vây chỉ bây giờ mới dằn vặt người ta. Rất kỳ là Không phải mình tôi kêu ca điều này. |
Ngày 25 tháng Ba 1944
Bài báo trên tờ "Sự thật Lê-nin-grát" noó vê fnhững bản dodò tìm thấy trong nhưữn tên tù binh pháo binh Đức. Cả thành phố vạch ra Không những bằng ô vuông mà cả những mục tiêu rieêg biệt và có đánh số. Trong số những mục tiêu phải tiêu diệt có những trường học, viện baản tàng, bệnh viện, viện mỹ thuật E-rơ-mi-ta-giơ nhà hát Ki-rốp, học viện y khoa của chúng tôi (mục tiêu số 89). |
Ngày 28 tháng Ba 1944
Tôi đã đi xem triển lãm vệ sinh y tế hai lần. Côgn việc này bắt đầu từ hồi còn trong vòng vây, trong nhưữn trận pháo kích ác liẹt nhất và những người làm triển lãm rất sợ là đạn pháo địch có thể làm tan nát những hiện vật của họ. Lúc làm lễ khai mạc, đoàn chủ tịch chúng tôi gồm rất nhiều người từ phòng họp đến các phòng trưng bày. Lối vào của phòng triển lãm có một sợi băng bằng lụa chắn ngang. Chiếc kéo được trao cho tư lệnh đội quân bảo vệ Lê-nin-grát. ông ta thaâ thiết chuyển cái kéo cho tôi đang đứng cạnh và tôi cắt dải băng. Cái đẹp nhất trong phòng triển lãm là toàn cảnh con đường băng chạy quanh hồ la-đô-ga "Con đường sống", Không có nó thì chắc gì Lê-nin-grát còn tồn tại được. Những chấm lửa tí hiệu nhỏ tí bật lên và giữa những hố bom, trong khói tuyết bạc thếch đi vì băng giá, những chiếc xe tải chở lương thực to bằng caáihộp diêm (chỉ sa bàn trong phòng triển lãm-N.D) lại di động về phái thaàn phố. Và từ đó lại chở những người đi tản cư ra. Ở những vùng nguy hiểm ác liệt nhất, ở những nơi căng thẳng nhất, khẩn trương nhất, chỗ nào cũng có Hội chữ thật đỏ chỗ nào cũng có bác sĩ, y tá, vệ sinh viên, hộ lý của Lê-nin-grát. Tôi nhớ lại một vật rất có ý nghĩa-tiêu ngữ của Van Tun-pa bác sĩ thời cách mạng Hà-lan làm một cây nến sắp cháy một nửa đặt trên cái chân đèn cổ (có ngọn lửa cao) bên dưới viết "Tôi phải cháy-để phục vụ mọi người". Trong một gian phòng nhỏ dài và hẹp-đó là toàn cảnh sơ đồ triệt thoái thương binh từ những đơn vị đóng trên điểm cao Pun-cốp. Lại họ! … Cuộc chiến đấu đang tiếp diễn… Người bị thương nấp dưới hào cúi gập người xuống, có người nằm trên cáng khiêng tới trạm quân y tiểu đoàn. Từ đó xe do chó kéo đến quaâ y trung đoàn. Tiếp đó là dùng ngựa kéo xe đưa thương binh về trạm chính, còn đặt ở ngay mặt trận. Và chỉ từ đó về Lê-nin-grát đến bệnh viện mới đi bằng ôtô. Cuộc triển lãm này sẽ biến thành Viện bảo tàng. Và như vậy là rất đúng. Ở đây trình bày rõ, trong thời kỳ bị bao vây, ngành y tế hoạt động như thế nào. Việc mổ xẻ xảy ra thế nào khi một cái bàn mổ đặt dưới chân tường: Trên tường có viết "Lúc pháo kích, phía này nguy hiểm nhất!" Hay là vào những giờ khi còi báo động rền rĩ, pháo nổ ầm ầm, nghe tiếng bom nổ gần, nổ xa như vào mùa thu năm 1941, lúc này giáo sư Gia-nê-lít-dê đang mổ có vợ chồng tôi cùng đến đấy xem. Trong giảng đường, trên những ghế dài, sau hàng rào các nam nữ sinh viên và cả nhưữn bác sĩ trẻ tuổi của bệnh viện hải quân gần đó đến dự lần mổ ấy. Người ta khiêng đến một cô gái đùi bị dập và đánh thuốc mê. Bác sĩ Gian-nê-lít-dê cắt những thớ thịt và để cho hai đầu cái xương bị gẫy không chạm vào nhau, ông dùng một miếng thép kẹp ở dưới làm cho cái xương gẫy nằm im hai đầu đấu lại với nhau và như thế sẽ làm cho việc của nhà phẫu thuật dễ dàng hơn. Ngay như tôi, một người không biết gì về môn này cũng Không thể Không thán phục sự khéo léo và sức mạnh của công việc này, niềm tự tin của đôi bàn tay đó. Những mảnh xương vụn được gắp hết ra, và vất chúng vào một cái hộp bình thường (vì thật thà nên tôi cho rằng tất cả những cái đó không cần đến nữa) rồi lại được lấp vào chỗ của chúng. Những cái mà tôi hiểu và thấm sâu sức vào tôi nhất đó là sự sạch sẽ và không ồn ào. Không một vết bẩn trên sàn nhà. Không một miếng lót bị vấy máu. Ngay trên cái vung nồi có hơi nước cũng được vùi sạch bóng. Nơi mổ được xếp đặt trật tự trong quá trình mổ xẻ. Không một chút gì là vội vàng, nóng nảy. Thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng thép va vào mặt kính hay một câu nói ngắn: một lời chỉ bảo hoặc một lời giảng giải. Bỗng trong cái im lặng lắng đọng này, tiếng còi báo động nổi lên. Tiếng pháo cao xạ lẫn với tiếng động cơ máy bay ập đến với một độ nhanh kinh khủng. Mặt đất dung chuyển. Kính vỡ loảng xoảng. Những người ngồi trên ghế dài bất giác quay người về phía cổng: -Việc mổ vẫn chưa xong-Gia-nê-lít-dê nói với cái giọng rền của miìn một cách nghiêm khắc. Và chỉ đến lúc tiếng nổ vang lên ngay bên cạnh thì chiếc bàn mổ mới được chuyển sang một phòng khác Không còn cửa kính nữa. |
Ngày 10 tháng Tư 1944
Giải phóng Ô-đét-xa! Hôm nay bắn hai loạt pháo hoa. Một loạt chào mừng lục quân, một loạt nữa chào mừng hạm đội Hắc-hải. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:23. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.