![]() |
Trích:
Qua topic này, Tuntin có vài lời mạnh dạn đóng góp ý kiến với bác Wehrmacht. Nếu thấy không thích hợp lắm thì rất mong bác Wehrmacht và các bác thành viên khác thông cảm và cho Tuntin xin lỗi thật nhiều. Người xưa thương nói là Dịch Thơ chứ không phải là Diệt Thơ, chính vì vậy khi dịch một bài thơ từ nguyên ngữ sang tiếng Việt phải luôn luôn tuân thủ các tiêu chí sau đây: Tín - Đạt - Nhã. Tuntin xin tạm thích nghĩa là bản dịch thơ phải: - Trung thành tín cẩn với nội dung lời bài thơ nguyên ngữ, càng cố gắng trung thực với nội dung bản gốc bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. - Cố gắng diễn đạt tư tưởng, nghệ thuật của bài thơ nguyên ngữ cho thật hết khả năng có thể của mình. Những "ý tại ngôn ngoại", những thủ pháp "đối xứng""so sánh"...nếu có thể được thì phải biểu hiện trên bản dịch. - Chọn từ khi chuyển ngữ một cách thanh thoát mà nhã nhặn, gom ý mà kiệm lời. Tránh dùng những biểu hiện "thô thiển" và "không thông tục". Đọc rất nhiều bản dịch của bác Wehrmacht, Tuntin "cảm" thấy (rất mong bác tha lỗi) là bác đã hơi "phóng tay" khi chuyển ngữ, nhất là khi đối chiếu với các tiêu chí của người xưa. Riêng trong bài thơ này thì lại càng rõ, bác ạ. Không phủ nhận được rằng, bác Wehrmacht rất có tấm lòng và bác dịch rất nhanh, nhưng Tuntin hơi e ngại là như vậy có dẫn đến "ẩu" quá chăng? Ngoài ra, cũng xin thêm một ý nữa: Bác Wehrmacht ít thay đổi phong cách dịch quá, bác có bao giờ thử dùng những thể thơ khác, ví như thể "lục - bát" để dịch hay chưa ạ. Vài lời rất thành thật và "nôm na", bác mà "cảm" như có ý nào "xấu" thì Tuntin tôi rất ân hận và rất rất xin lỗi bác. Còn mong thêm nhiều những bản dịch thơ nồng nhiệt của bác. Trân trọng kính chào. Tuntin. P/S. "Nói thì dễ, làm thì khó", chưa chắc bản dịch của Tuntin đã "ra được một cái gì", nhưng cứ xin mạnh dạn góp vui với bác Wehrmacht, gọi là có tấm lòng với tất cả những niềm đam mê say đắm của bác với thơ Sergei Esenin. Đêm này mới thật là đêm! Chẳng an giấc ngủ. Đầy thềm trăng soi! Tưởng trong tấc dạ bồi hồi, Bâng khuâng níu giữ một thời xuân qua. Hỡi người năm tháng phôi pha, Trò chơi xin chớ gọi là tình yêu. Thà cho trăng tỏa diễm kiều Nhẹ tuôn dòng sáng ru nhiều gối mơ. Thà cho đường nét mấp mô Ngông nghênh trăng vẫn họa tô rườm rà, - Bởi em đâu thể lìa xa, Bởi em đâu biết thật thà yêu tôi. Một lần tình đến trong đời, Nên em mãi mãi ra người dửng dưng. Bóng Gia bao độ trông chừng, Dầm chân tuyết lạnh vẫy mừng hoài thôi. Tôi và em hẳn biết rồi, Trong vầng hư ảo xanh ngời ánh trăng - Trên cành nào thấy hoa giăng Trên cành chỉ thấy tuyết băng một màu. Mình từ lâu hết yêu nhau, Tôi thương người khác, em sầu tình ai, Và rồi cũng vậy cả hai Chơi cho trọn mối tình phai nhạt nhòa. Thì ôm thì ấp mặn mà Thì vui nhí nhảnh đậm đà nụ hôn, Cho tim mộng giấc bồn chồn Mãi thương người ấy, mãi buồn tháng Năm. 30 tháng Mười một 1925. Sergei Esenin |
Bài thơ "Trăng đêm" này bác Tuntin dịch ra thể thơ lục bát đọc thật là tuyệt. BZ đã đọc một số bài thơ Nga được dịch ra thể thơ lục bát ( hầu như đều là bản dịch của các bác NNN ở 4rum cũ như bài này chẳng hạn) , lúc nào BZ cũng cảm thấy rất gần gũi, dễ đọc dễ thuộc và cũng dễ cảm nhận hơn. Một lần nữa cảm ơn bác Tuntin!
|
Thích nhất là bài "thư Gửi mẹ". Xúc động
|
Lang thang trên gu - gồ, tình cờ em phát hiện ra tấm ảnh ngộ nghĩnh này của gia đình Esenin. Hihi, bức ảnh cho thấy bà mẹ gánh đôi thùng vô tình che mất cái mặt cậu con giai út, các bác thấy có đúng là nó được chụp khi cả nhà đang bận rộn không ?
|
:emoticon-0175-drunk
Trích:
:emoticon-0136-giggl :emoticon-0136-giggl :emoticon-0136-giggl |
Бомба
Bỏ bom phát, Bùm ! :emoticon-0136-giggl
Thơ: Sergej A. Esenin Dịch rả: Wehrmacht ---------
------------
------------------
|
Thêm phát nữa
Sergej A. Esenin Dịch rả: Wehrmacht
--------
----------
|
Wehrmacht bỏ bom khiếp thế :). Tớ chả chơi liền tù tì 6 bài như thế đâu, à, mà bài "Tôi không tiếc, không gọi, không khóc" thì tớ có dịch rồi, ở đâu chả nhớ nữa :), thôi chờ đến khi forum cũ phục hồi lại thì tớ sẽ ... đưa đường link :)
|
Bác WEHRMACHT dịch:
Và đây là 1 bản dịch khác, Siren ko nhớ của ai vì đã lâu quá rồi đóng cửa "ô" thơ trong bộ nhớ hôm nay tìm lại được chìa khóa nhưng vào trong thấy lộn xộn quá ko thể sắp xếp đưỢC! aloOOô! Cần thuê người dọn bộ nhớ đơiiii! ( Mong vong linh bác Esenhin siêu thoát và đại xá!) Tôi chẳng xót, chẳng nài, chẳng khóc Tôi chẳng xót, chẳng nài , chẳng khóc Tất cả qua đi như khói như hương Hoa đã rụng , đã úa vàng tan tác Chẳng bao giờ tôi còn được trẻ trung ..Và xứ sở Bạch Dương gấm lụa Đâu còn xui tôi bước la đà Hồn phiêu lãng mỗi ngày mỗi hiếm Mỗi tiếng than hay tiếng nồng nàn Vẻ tươi tắn trong tôi, ôi đã biến Đâu sóng tình đâu ánh mắt chứa chan? Giờ tôi so đo trong từng ước muốn Cuộc đời tôi hay giấc mộng đời ơi! Như một sớm đang xuân vang động Ngựa hồng tôi đã phóng đi rồi Chúng ta rồi thành bụi giữa trần ai Xin trọn kiếp mang niềm ân huệ Âu đến thời đời thắm và phai! |
Bài thơ không đề có câu đầu "Синий туман. Снеговое раздолье" của Esenin ấy, bạn Wehrmacht chép có một chữ nhầm - Тайно покинул я отчий кров chứ không phải дров :emoticon-0136-giggl
Bài này Nina cũng phải thừa nhận là dịch hơi ẩu, nhất là đoạn cuối...
|
Năm 1914 anh Esenin chắc chưa bị chán đời thê thảm, chắc anh ấy cũng không chịu ảnh hưởng gì của âm nhạc Wagner hoặc Richard Strauss nên bài thơ không đề về chú mục đồng của anh ấy còn rất trong sáng, như một bản nhạc đồng quê...Nhưng mà Nina cảm thấy mình không truyền đạt được điều này ...
|
Hóa ra là bài "Tôi không tiếc không gọi không khóc" và "Nơi xa xa kia" là mình đã dịch ở forum cũ rồi, chứ còn "sương mù" thì chưa dịch :). Nhưng bài đó thì bác Geobic và Smorodina đã dịch rồi, cả bài "Nơi xa xa" nữa :)
BÀI HÁT VUI NƠI XA - bác Geobic: http://diendan.nuocnga.net/showpost....7&postcount=47 Xa sau màn sương nào thấy chi đâu - bác Geobic: http://diendan.nuocnga.net/showpost....8&postcount=48 2 bản dịch của Smorodina: http://diendan.nuocnga.net/showpost....0&postcount=50
|
Esenin - sợi dây đàn thiên nhiên Nga
NGUYỄN TRỌNG TẠO http://nguyentrongtao.vnweblogs.com/...med/esenin.jpg S. Êxênin sinh ngày 21 tháng Chín năm 1895 tại làng Ku-dơ-min-xki, thuộc tỉnh Ria-dan của nước Nga. Năm lên năm tuổi, cái tuổi có thể tự mình cắp sách đến trường, cậu bé Êxênin cũng đặt bước chân thơ trẻ của mình vào thế kỷ XX. Lên chín tuổi, Êxênin đã bắt đầu làm thơ, nhưng đến năm 18 tuổi, thơ anh mới được đăng báo. Những bài thơ về thiên nhiên làng quê Nga của anh từ đó làm xôn xao dư luận người đọc, và lập tức, anh trở thành một nhà thơ nổi tiếng, được đặc biệt hâm mộ. Đúng như lời tâm sự của Êxênin với mẹ từ trước, trong một bài thơ nho nhỏ của mình: Ngày mai mẹ thức con dậy sớm Mở cửa ra cho ánh sáng vào nhà Người ta bảo con sắp thành thi sĩ Nổi tiếng, và, một thi sĩ người Nga. Phải chăng, người ta hâm mộ thơ anh vì thơ anh đẫm ướt tâm hồn Nga? Điều đó quá rõ ràng. Cho đến nay, trước những cửa hàng sách, người ta vẫn sắp hàng dài để mua thơ Êxênin khi thơ của anh vừa được tái bản. Chỉ tính trong những năm sáu mươi (thế kỷ XX), tuyển tập thơ Êxênin đã được tái bản nhiều lần ở Liên Xô với số lượng 12.000.000 bản, và chỉ đủ bán cho những người đã đặt hàng trước. Thơ Êxênin giàu nhạc điệu, được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, và là những bài hát hay. Người ta cũng sáng tác khá nhiều bài hát về Êxênin rất được thanh niên Liên Xô ưa thích. Êxênin là nhà thơ lớn của Nga và Liên Xô. Khi nhắc đến nền thơ Xô-viết, người ta thường kể đến Êxênin cùng với Blốc, Maiakôvxki. Êxênin cũng là nhà thơ lớn của thế kỷ XX, tiếc rằng, cuộc đời nhà thơ kết thúc quá sớm - Êxênin qua đời năm 30 tuổi. * Trong “Chân dung văn học”, khi viết về Êxênin, nhà văn Gorki kể lại rằng, cái chết của Êxênin đã làm sống lại trong ký ức của ông câu chuyện một cậu thiếu niên nông dân tình cờ đến thành phố Kralốp trên đảo Capri và bị lạc trong thành phố này. “Cậu ta đi loanh quanh mãi trên các phố, không sao thoát ra ngoài để trở về cảnh đồng rộng quen thuộc của cậu. Và cuối cùng, cảm thấy thành phố không chịu buông tha mình, cậu đã quỳ xuống đọc kinh cầu nguyện và đứng trên cầu nhảy xuống sông Vixoa, hy vọng dòng sông sẽ đưa mình trở về đồng ruộng. Người ta đã vớt được cậu bé lên, nhưng cậu đã chết vì những vết thương của mình…”. Êxênin cũng có thể chết một cách ngây thơ đến tuyệt đẹp giống như cậu thiếu niên kia, nếu như vì một lý do gì đó buộc anh phải lìa xa tình yêu nông thôn Nga của mình. Tình yêu nông thôn Nga của anh là hàng trăm bài thơ của anh, nông thôn mà ở đó những ngôi nhà gỗ tuyết phủ trắng mùa đông, những cánh đồng vàng ánh trăng mùa gặt, những dòng sông, ngọn núi, hàng cây luôn phát ra một thứ ánh sáng rực rỡ sắc màu, những đàn bò, con chó, bầy gà luôn gần gũi như bạn bầu thân thiết, và đặc biệt là những người nông dân gắn cả cuộc đời với ruộng đồng, với nước Nga tươi đẹp đượm buồn. Cảnh và người của nông thôn trong thơ Êxênin sống động đến kỳ lạ. Bởi vì, nó luôn sống động trong hồn anh: Và thơ con có một dòng sữa chảy Dòng sữa của đàn bò của mẹ, của nhà ta Đủ biết Êxênin yêu mẹ và yêu đàn bò đến nhường nào. Tình yêu ngỡ có thể trông thấy được, trắng trong và chầm chậm. ngọt ngào rỏ vào lòng người như dòng sữa chảy miệt mài qua năm tháng. Có được sự sống động ấy chính là nhờ tấm lòng cảm thông hoà nhập sâu sắc với cuộc đời, và đặc biệt là đối với tất cả mọi sinh vật ở chung quanh nhà thơ. Phải nói, Êxênin là người cảm thông thương yêu mọi sinh vật như đọc được mọi buồn vui của chúng. Đối với anh, buồn vui của mọi sinh vật là buồn vui của chính mình. Những nỗi buồn vui ấy trong thơ anh được thể hiện một cách tài tình tuyệt vời với những hình ảnh có sức lay động lạ lùng như là chỉ có ở một con người được sáng tạo ra với tư cách là một cơ quan của thiên nhiên và chỉ để làm thơ về thiên nhiên mới có thể nhận bắt được. Gorki đã một lần nhận xét như vậy. Ta hãy nghe Êxênin tả vầng trăng mà con chó mẹ bỗng nhìn thấy sau khi bầy chó con mới đẻ của nó vừa bị người ta bắt mang đi một cách tàn nhẫn: Trên mái nhà, trăng mọc Giống như một chó con. Và Êxênin nhận thấy chó mẹ khóc: Đôi mắt nó bỗng lăn Những sao vàng xuống tuyết: Ở một bài thơ khác, Êxênin lại thấy: Sáo vừa đi vừa chạy Trên đất cày đồng xa Tại sao lại có thể thấy được sáo vừa đi vừa chạy chứ không phải là sáo chỉ đi hoặc là chỉ chạy? Tôi có cảm giác như lúc khởi lên câu thơ này, Êxênin phải hoà tan mình vào trong những luống đất màu mỡ vừa được lưỡi cày lật lên để ngắm nhìn những con sáo đang cuống quýt nhặt mồi vậy. Không có sự cảm thông ghê gớm với muông thú, làm sao Êxênin có thể viết được những câu thơ như thế này: Một tiếng quạ kêu mờ Trong sâu thẳm sâu hồ nước Một con gà rừng đen Gọi đêm về chậm chạp Hoặc: Và ngoài sân bao con gà cộc Đang gáy lên bài hát ban trưa Qua đôi mắt và tâm hồn Êxênin giữa những sinh vật cũng có sự cảm thông đặc biệt với nhau: Với tôi, đàn bò hiền Luôn gật gù trò chuyện Khiến cây sồi trẻ lại Buông cành xuống dòng sông Nhắc đến Êxênin cũng có nghĩa là nhắc đến thiên nhiên Nga của anh. Có nhiều nhà văn nhà thơ Nga đã dành cả đời mình cho thiên nhiên Nga, nhưng Êxênin có tài kỳ lạ trong việc vẽ phong cảnh bằng những câu thơ giản dị. Những bức tranh thiên nhiên của anh là những bức tranh thuốc nước, màu sắc thật là hài hoà, nhưng không phải vì thế mà thiếu đi những ấn tượng độc đáo. Chính sự kết hợp hài hoà màu sắc và bố cục, làm tôn lên một cách bất ngờ cái anh định tập trung mô tả. Và nhờ vậy, xem những bức tranh thiên nhiên Nga của anh, người ta mãi nhớ nó và mãi còn run rẩy lên vì nó. Hình ảnh mà ta dễ nhớ nhất của anh là cây cỏ. Cây cỏ trong thơ Êxênin lúc nào cũng ánh lên, phát sáng lung linh. Hầu như ánh sáng từ cây cỏ là sự phản chiếu ánh lửa từ đôi mắt thăm thẳm của thi sĩ. Có người nhận xét rằng, Êxênin có đôi mắt cháy rực một ánh lửa buồn rười rượi. Nhận xét ấy dường như không thật thoả đáng với những bài thơ anh viết ở tuổi thiếu niên. Nhưng dù sao thì đôi mắt của Êxênin cũng có lửa, và nhờ vậy nó đã khiến cho thiên nhiên phát sáng lung linh chung quanh anh. Sự phát sáng này xảy ra rất nhiều lần trong thơ Êxênin: - Muôn chồi non ngậm tuyết Chĩa bạc lên nền trời - Và hạt tuyết vẫn cháy Trong ánh lửa bằng vàng - Còn bình minh chậm rãi Đi vòng theo chung quanh Với muôn vàng bạc mới Rắc êm lên lá cành - Trên gò đất cây bạch dương, cây bạch dương Trong trăng sáng lên như thanh bạc - Bên cửa sổ một ánh trăng. Bên cửa sổ một ngọn gió Thổi vào cây bạch dương – cây nến, cây bạc của tôi ... Tài quan sát của đôi mắt có lửa Êxênin quả là không lẫn với ai khác. Sự độc đáo của thơ anh đôi khi làm người đọc sửng sốt, đến phải xuýt xoa: ... Ở xa kia về phía dòng sông Như một giải nẹp viền lông thú Câu thơ không dùng đến một tính từ chỉ màu sắc nào, vậy mà cảnh vật hiện lên hết sức rõ nét trong các mảng tối, sáng của nó. Và đây là những đống cỏ trên cánh đồng bên sông lúc hoàng hôn xuống: Màu hung những đống cỏ Trông giống bao nhà thờ. Tài quan sát của Êxênin thật lạ, thật tinh vi: Rừng ngập hoàng hôn xanh kín cả từng quãng trống. Không gian trong thơ Êxênin là một không gian rực rỡ sắc màu. Sắc màu của không gian trước hết là màu sắc của mặt trời. Êxênin ít tả trực tiếp về mặt trời, không phải vì mặt trời quá chói chả khiến mắt anh không thích nhìn mãi vào nó, mà vì anh biết cái đáng quan tâm nhất của mặt trời là cái gì. Đó là ánh sáng. Và trong muôn vàn ánh sáng do mặt trời toả chiếu, anh đặc biệt quan tâm đến bình minh và hoàng hôn. Nói đến bình minh và hoàng hôn cũng chính là nói đến mặt trời. Hoàng hôn như một quyển kinh thánh đỏ Đang cầu nguyện những tin lành. Thi sĩ Êxênin 15 tuổi đi trong ánh “bình minh cháy đỏ mặt hồ”, đã thấy: Bên đường muôn đốm nắng bay Và tôi ngập giữa mê say sắc màu Tôi hôn bông nắng đỏ au Ngất ngây xin giữ mai sau cho mình. Tại sao lại giữ cho mình? Bởi những tia chớp hạnh phúc không phải lúc nào cũng có được dễ dàng. Đấy là biểu hiện của một tâm hồn khát khao hạnh phúc. Đối với Êxênin, bình minh là biểu tượng cho tương lai tươi sáng, cái tương lai đẹp đẽ trong giấc mơ của cậu bé chăn bò: Quên đi nỗi nhọc nhằn Tôi ngủ trên khúc gỗ Trong mơ, bình minh đỏ Rước lễ bên suối trong. Và chính ánh sáng của mặt trời ấy góp công cùng thi sĩ tô điểm màu sắc cho không gian tuyệt diệu thêm lên. Những làn mây, ngọn gió luôn ánh lên màu sắc lạ: - Mây phồng xốp bọt vàng Cuộn tròn trên rừng vắng - Gió thổi nhẹ đường cầu vồng vàng rực Dưới những làn mây xốp đồng quê. Nhưng trong không gian thiên nhiên này, trăng dường như được Êxênin miêu tả với xúc cảm thần tình lạ lùng nhất. Thơ cổ kim đông tây đã mang đến cho con người biết bao vầng trăng kỳ diệu rồi, vậy mà vầng trăng tuyệt đẹp này của đồng quê tưởng khó mà gặp được nếu không có thi sĩ Êxênin trên đời này: Trăng như quả lắc bằng vàng Nhịp thời gian đổ mơ màng mưa êm. Và đây, lại một vầng trăng kỳ lạ nữa: Ôi, giá được mỉm cười trên đống rạ Dùng miệng của vầng trăng nhai cọng rơm này. Ta có thể gặp trăng rất nhiều lần trong thơ Êxênin, vầng trăng nào cũng lạ, ánh trăng nào cũng lạ. “Và ánh trăng đã buông – Những dây cương vàng chói”... Tôi muốn trích thêm nhiều nữa, nhưng thật không nên làm cái công việc tẩn mẩn ấy. Chỉ biết là, trăng luôn ám ảnh Êxênin suốt cuộc đời thi sĩ, như là trường hợp Hàn Mặc Tử ở ta vậy. Trong thơ Êxênin, ánh trăng luôn tràn trề, nhưng đấy là thứ ánh trăng không vương bụi, ánh trăng trong suốt. Nỗi ám ảnh ấy khiến Êxênin viết được một câu thơ rất lạ: Chiếc mũ sau vòm cây – vầng trăng lặn muộn. Cho đến năm cuối cùng cuộc đời, vầng trăng vẫn ám ảnh thi sĩ, mặc dù khi ấy, vầng trăng đối với anh không còn tươi đẹp như xưa nữa, mà day dứt một nỗi buồn ảm đạm. Tuy vậy, cái vầng trăng buồn vẫn hiện lên trong thơ anh như là nó chỉ hiện lên một lần duy nhất trong vũ trụ: Đồng nội tuyết, một mặt trăng màu trắng. Mặt trăng buồn đến lạnh người, mặt trăng màu trắng, nhưng đó vẫn là cái nỗi buồn dịu muốt – nỗi buồn Êxênin. Nếu tả thiên nhiên mà chỉ để tả thiên nhiên thôi, thì dù có tài hoa đến mấy, cũng mới là tài hạng hai. Thiên nhiên trong thơ Êxênin là thiên nhiên của lòng người hoà nhập. Nói cách khác, thiên nhiên đã thở bằng hơi thở Êxênin, sống bằng sức sống Êxênin, cảm và nghĩ bằng trái tim thi sĩ. Sự tả cảnh trong thơ Êxênin bao giờ cũng như để chuẩn bị cho một cái gì đó sâu xa hơn, nói chính xác là sự tả cảnh tự mang trong nó cái gì sâu xa ấy. Đó là lòng người. Bài thơ “Đã chiều rồi” viết năm 15 tuổi, khi Êxênin đứng “ngả đầu vào dương liễu bên đường” nhìn ra cánh đồng làng là một bài thơ giàu mẫn cảm, giàu tâm trạng. Ở đây, Êxênin không có ý định phản ánh hiện thực già nua của nước Nga khi tả cảnh đồng quê, nhưng chính sự mẫn cảm thi sĩ đã làm sống lại hiện thực này: Ở xa kia về phía dòng sông Như một giải nẹp viền lông thú Có cụ già gác đồng buồn ngủ Gõ triền miên vào chiếc mõ đã già. Ở một bài khác, một bài gần như hoàn toàn tả cảnh, vậy mà khi kết thúc bài thơ, một hồn người bỗng hiện lên, choáng ngợp cảm xúc của ta: Anh cầu mong thầm lặng Cho số phận của em! Người ta say mê thiên nhiên trong thơ Êxênin là bởi vậy. Tấm lòng nhà thơ luôn được ký thác vào thơ một cách đắm đuối nhất. Niềm vui đắm đuối đã đành, nỗi buồn cũng đắm đuối. Bạn cứ tưởng tượng xem, có một con người không hề yêu cũng không hề ghét… Thật vô duyên biết chừng nào! Tôi không muốn nói thiên nhiên trong thơ Êxênin là một thiên nhiên tuyệt vời duyên dáng, nhưng kỳ thực là vậy, bởi nó chứa một tâm hồn cao đẹp được bộc lộ đến tận cùng với vẻ duyên dáng trời cho. Cây rung lên khe khẽ Anh đã yêu tiếng động buồn, có lẽ Trước mùa thu. Đấy, Êxênin đã trò chuyện với cây dương – với thiên nhiên như vậy đấy, như là trò chuyện với người tình say đắm của mình! * Nếu như con người là đối tượng đáng được hưởng sự cảm thông, lòng yêu thương hơn tất cả mọi vật, thì Êxênin là nhà thơ đã dành hết thảy sự cảm thông, lòng yêu thương của mình cho con người. Suy cho cùng sự cảm thông, lòng yêu thương của anh đối với mọi vật cũng chính là một biểu hiện vì con người mà thôi. Năm cuối cùng của đời mình, Êxênin vẫn ca hát cề con người: Đất nước màu xanh. Và vui làm sao Tâm hồn tôi bán cả cho bài hát Như vì Ghe-li-a trong bóng những vòm cây. Con chim sẻ ôm hoa hồng thơm ngát. Trước đó 13 năm, trong bài thơ “Nhà thơ”, Êxênin từng khẳng định: Ai đã yêu con người như thể những anh em Và cả quyết dám khổ đau vì họ? - Nhà thơ Nhà thơ đã tự do làm tất cả Mà bao nhiêu người khác chẳng thể làm. Nhưng chúng ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy, con người trước hết trong thơ Êxênin là con người nông dân, những con người gần gũi với thi sĩ từ thuở anh mới lọt lòng mẹ. Và thực ra, chính anh cũng là một tế bào trong cộng đồng làng quê nông dân ấy. Cho nên, sự đồng cảm của anh với những con người nông dân dường như là sự đồng cảm tuyệt đối. Anh hiểu người mẹ khi ở “Trong nhà”, “Mẹ không bao giờ nghỉ ngơi – Dáng lưng còm đi lại”, và khi đứa con đi xa, mẹ luôn mong ngóng tin con: Quãng đường vắng mẹ thường đi Mình choàng chiếc áo dân quê bông sờn. Khi xa nhà, anh tự hỏi “ở đâu nhà của bố tôi – Tấm lưng còm sém nắng trời tháng, năm”, và khi trở về nhà sau bao năm xa cách, anh bỗng ngỡ ngàng trước đứa em gái “không một chút ngại ngần – Mở quyển sách to như Kinh thánh – Quyển Tư bản – Và nói về CácMác – Nói về Ăngen…” – Ở đây, sự ngỡ ngàng xảy ra bởi những gì quá quen thuộc trước đó mà thôi. Sự đồng cảm lớn với người nông dân đã giúp Êxênin phát hiện ra những vẻ đẹp ẩn giấu trong họ từ lâu. Đấy là câu chuyện riêng tư của người chăn bò với cây dương liễu tơ non bên hồ nước vắng vẻ. Êxênin nghe được người chăn bỏ hỏi cây dương: “Gió đã thì thầm gì với em – Cát đã nói gì với em?...” Người ta có thể hỏi những lời như vậy không đến nỗi khó khăn lắm, nhưng nghe được những câu trả lời như thế này của cây dương thì không phải ai cũng dễ dàng nghe được: “Ôi, người bạn tò mò ơi Ở đây dưới đêm sao Có một người chăn bò vừa khóc. Khi ánh trăng trang sức Trên những tán cây xanh Anh ấy đã ôm tôi thật chặt Đôi bắp chân cóng rét để trần. Cứ như vậy anh thở dài não ruột Nói dưới tiếng động của lá cành: - Vĩnh biệt bồ câu của anh Đến những mùa chim sếu!...” Đấy là sự phát hiện tài tình ra hạnh phúc của những người nông dân trong lao động vất vả cực nhọc của họ, cái niềm hạnh phúc mà nếu là người không có sự đồng cảm sâu sắc với người nông dân, không thể nào thấy được: Hạnh phúc cho những người khi nhận thấy Niềm vui trong nỗi buồn chăn bò của mình. Tôi muốn nhắc lại một lần nữa: Niềm vui trong nỗi buồn chăn bò của mình… Và cũng chính vì vậy mà Êxênin, anh luôn mang trong mình niềm day dứt về sự lam lũ khổ đau, bị chà đạp tàn nhẫn của người nông dân Nga. Cho mãi về sau, khi nước Nga đã được giải phóng bằng Cách mạng tháng Mười, niềm day dứt ấy vẫn in đậm trong thơ Êxênin: Sao rồi em, đồng nội của chúng ta Ôi đồng nội mặn mà cát trắng Và ai đó không lỗi lầm bị dẫm Và đau thương có thật của ai xưa? Tình yêu người nông dân cũng chính là khởi nguồn tình yêu con người nhân loại lớn trong thơ Êxênin. Con người, đối với Êxênin, nếu không có nó thì trái đất sẽ chỉ là một quả cầu chết. Êxênin là người biết nhận ra sự cô đơn ghê gớm khi chung quanh mình vắng bóng con người, hoặc trống vắng tình yêu của con người. Anh cảm thấy không thể ngủ được khi nằm một mình trong căn phòng giữa đêm mênh mông, và không thể chịu được sự cô đơn, anh thoát khỏi căn nhà để tìm đến với con người: Đêm không ngủ. Đêm không ngủ ……. Ra đi hỡi trái tim nhỏ của tôi Nghe bài hát người chơi đàn guxli, nghe bài hát Và khi đến được với con người rồi, không còn cô đơn nữa, nhà thơ sung sướng đến reo lên: Tôi say đắm trong tuyệt vời vẻ đẹp Của người con gái dưới trăng đêm Tôi sẽ nhảy theo đàn guxli ấy Và sẽ xé tan chiếc khăn cưới của em! Dĩ nhiên là chàng trai Êxênin không xé tan chiếc khăn cưới của người con gái mà anh say mê ấy, nhưng tình yêu con người ở anh quả là đến mức có thể làm được điều ấy, thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa: Tôi sẽ mang em vào tháp gỗ tối đen Vào khu rừng xanh vào nơi xa vắng Những sườn núi – tôi sẽ mang em đến Bình minh cây anh túc mỉm cười. Những đoạn thơ trên trong bài thơ Êxênin viết năm 16 tuổi, cái tuổi vừa qua thời niên thiếu để trở thành người lớn, cái tuổi mà tình yêu cuộc đời toát ra mãnh liệt nhất với sự tươi mới của nó. Nhưng không phải vì thế mà trở thành ngông cuồng, lố bịch. Đấy là sự hồn nhiên không thể cưỡng của tuổi trẻ, cũng là điều đáng cảm thông nhất của con người. Niềm cảm thông và tình yêu thương lớn của thi sĩ đã giúp Êxênin nhận ra được “trên sóng hào quang của sao – Những khổ đau đang ước vọng”, và càng tin yêu hơn “tiếng rì rào của dòng nước mạnh”. Lòng tin vào sự vươn tới của con người trong thơ anh thật mãnh liệt: Có nghe không, hoa hồng đang gục xuống Đang rữa tan. Bài hát vẫn vang lên? Nói đến tình yêu con người trong thơ Êxênin, không thể không nhắc đến mảng thơ tình của anh. Đấy là những bài thơ tình vào loại “gối đầu giường”, cho đến bây giờ, nó đã được rất nhiều người thuộc như thuộc ca dao. Cái hay của những bài thơ tình này không chỉ ở nhạc điệu tuyệt vời mà người ta có thể dễ dàng hát lên được, cũng không phải vì nó mô tả những tâm trạng cô đơn tuyệt vọng của tình yêu éo le, rắc rối. Điều chủ yếu, đấy là những bài thơ của tình yêu rực cháy khát vọng hạnh phúc của tuổi trẻ. Và nó được ghi lại một cách chân thực. Cảm giác như là tình yêu của chàng trai Êxênin tràn trề như thế nào, thì những dòng thơ tình yêu của thi sĩ Êxênin cũng tuôn chảy tràn trề như vậy. Tình yêu như chỉ còn có hai người với nhau. Nghe không em – xe trượt tuyết đang phi – nghe không em? Tuyệt diệu làm sao, cùng người yêu biến vào cánh đồng êm Đấy là niềm vui sướng không thể kìm lại được, phải thốt ra thành thơ. Để rồi cùng reo lên trước thiên nhiên bao la: Ối, xe trượt tuyết! Xe trượt tuyết! con ngựa hung nhạt của tôi Không phải người say rượu đâu – ở xa kia cây phong đang múa đó thôi Và cuối cùng là: Chúng tôi đến và hỏi rằng: Làm sao thế cây phong? Rồi cùng nhảy với nhau – ba người – trên tuyết trắng như bông. Đấy chỉ có thể là tình cảm của người đang bốc men say. Nhưng đây không phải là men rượu, đây là men ái tình. Đối với Êxênin, tình yêu có thể làm cho người ta chấp nhận cây phong với tư cách một con người đồng điệu, một con người biết yêu say đắm và biết biểu hiện tình yêu ấy bằng sự múa nhảy nồng nàn. ( còn nữa) |
Esenin - sợi dây đàn thiên nhiên Nga
NGUYỄN TRỌNG TẠO ( tiếp theo) Cao hơn tất cả những tình yêu bình thường phải là tình yêu với sự bộc lộ bản năng cao đẹp của con người. Nếu như bây giờ, người ta coi sự thật là biểu tượng cao cả của đạo đức, thì chính Êxênin, từ cách đây hơn nửa thế kỷ đã từng đốt lên một ngọn lửa bằng nhiên liệu sự thật trong những bài thơ tình của mình. “Tôi không nói cùng người yêu những lời không có thật”, câu thơ như một câu thề thốt, bởi nó không phải là sự thề thốt, nó là sự giãy bày với chính mình, thi sĩ Êxênin. Sự thật bao giờ cũng mang trong bản thân nó tính hồn nhiên tuyệt đối. Thơ tình của Êxênin cũng vậy. Người yêu hỏi rằng: “Gió tuyết có không anh? Để trải đệm? Hay đốt lò sưởi vậy?” Tôi nói với người yêu: “Từ trên cao ấy Đang có người tung hoa tuyết trắng tinh Hãy đốt lò, hãy trải đệm đi em Anh không em, tim anh như bão tuyết!” Một lần khác, Êxênin lại quả quyết: Bởi sinh ra là một thi sĩ Anh sẽ hôn như thi sĩ mà thôi. Có khi, ta bỗng ngạc nhiên đến sửng sốt, khi nghe Êxênin bộc lộ sự thật trong tình yêu của mình một cách chân thành đến quá mức tưởng tượng. Đấy là khi tình yêu đang dâng lên trong lòng anh trước một người con gái nơi xa lạ, và anh đã tỏ tình. Nhưng trong lời tỏ tình ấy, anh không hề dấu người con gái này, có một người con gái khác đang yêu anh: Sa-ga-nê, em của anh, Saganê Ở phương bắc cũng có người con gái Trông rất giống em, chẳng khác gì Cũng có thể đang nghĩ về anh đó Saganê, em của anh, Saganê!... Hẳn là Saganê không nỡ chối tấm lòng chân thật đến nhường kia của người thi sĩ. Và đây, lại là một sự thật khác, một sự thật vừa cay đắng, vừa cao thượng: Khi mân mê bàn tay, đừng làm méo đi nụ cười Tôi yêu người khác mà chẳng yêu em Ôi, em biết, và chắc em biết lắm Tôi không phải nhìn em, cũng chẳng đến với em đâu Tôi chỉ đi qua với trái tim lặng lẽ Và cũng chỉ ngoái nhìn qua cửa sổ mà thôi. Người đời thường cho rằng, những ai chỉ sống với bản năng thì rốt cuộc chẳng làm nên được trò trống gì. Nghĩa là anh ta thiếu sự kìm chế của ý thức, và bởi vậy mà tự cắt đứt những sợi dây ràng buộc với xã hội. Nhưng bản năng tâm hồn Êxênin thì khác, đấy là cái bản năng người nhất, cái bản năng mà tự nó là một sự cao thượng, vừa đáng kính nể lại vừa dễ gần gũi. Đấy là khi đang yêu say đắm, anh nói với người yêu: Người ta yêu em đến sờn mòn Người ta chiều em đến nhàu nát. Hoặc là khi anh nói với người yêu đã bỏ anh mà đi: Sợ chi một chuyện đau lòng Tôi cần nhiều, cũng chẳng mong chi nhiều. và: Tôi không phải kẻ mê say Bằng âu yếm lúc cầm tay, sát kề Vậy mà tình yêu vẫn cứ day dứt anh mãi: Mà nụ cười – lạ lùng sao Cứ như bão tuyết xoáy vào tim tôi! Tại sao nỗi buồn cứ đeo đẳng thi sĩ như bóng với hình khi tưởng như đáng lẽ phải tức giận vì nó? Vì Êxênin biết trân trọng tất cả tình yêu của mình, đấy là những gì trong sáng, đẹp đẽ và hồn nhiên nhất. Không phải ai cũng dễ dàng có được một tình yêu thực sự để rồi được day dứt mãi về nó khi nó không còn quay lại nữa. Có cảm thông như vậy ta mới có thể thấm thía sâu sắc nỗi buồn của thi sĩ trong câu thơ anh viết: Và bây giờ, đối với người yêu, tôi chẳng là gì Tôi khóc tôi cười trong bài hát không hề thân thuộc Nỗi buồn của Êxênin khi thì tràn ngập và nặng nề như mây chì, bão tuyết, khi thì phảng phất như những làn gió nhẹ trên đồng lúa mênh mông quạnh vắng cuối hoàng hôn. Nỗi buồn ẩn hiện trong cả những bài thơ trữ tình vui tươi lẫn trong những bài thơ cách mạng khoẻ khắn. Nhiều khi, nỗi buồn thi sĩ cũng đượm vẻ bi tráng: Đêm như đêm nay xanh nhờ trên Ba-ku 26 bóng đen bóng đen của 26 người ấy 26 nỗi đau của chúng ta bài hát của chúng ta. Nhưng bao trùm Êxênin vẫn là nỗi buồn người. Nỗi buồn tưởng như không thể nào thắng nổi. Êxênin cũng đã nhiều lần nhận thấy tai hoạ của nỗi buồn. Và anh ngang tàng chỉ trích, và ngang tàng tuyên chiến với nó: Tàn bạo và kiêu hãnh Dáng điệu mới luôn luôn Xưa máu đầy trong miệng Nay máu đầy trong hồn Tôi không nói với mẹ Mà với cả mọi người - Tôi vấp vào hòn đá Ngày mai sẽ lành thôi Ngay cả khi đứng trước tượng Puskin, nhà thơ mà anh rất kính trọng nhưng đã kết thúc số phận bằng sự chiến bại trước nỗi buồn, Êxênin muốn khẳng định ý chí của mình: Nhưng tôi là một người trong xua đuổi Tôi phải còn, và phải hát không ngừng Để những bài hát của tôi về đồng nội Mãi rung lên như tiếng ngân đồng. Một lần khác, anh đã thét lên xua đuổi nỗi buồn, như là đã vĩnh biệt nó lần cuối cùng: Bây giờ đây dù ai có các vàng Tôi cũng không muốn lại nghe điệu nhạc kia não ruột. Oái oăm thay, cái điệu nhạc của nỗi buồn não ruột kia vẫn đeo đuổi thi sĩ như một định mệnh. Và Êxênin đã không sao chiến thắng nổi nó; câu thơ cuối cùng anh để lại là một bằng chứng của sự thất bại này: Trên đời này, chết phải đâu là mới Nhưng sống, tất nhiên, cũng chẳng mới hơn gì! Cái chết đầy bi kịch của tính cách Êxênin như là không thể khác được. Bạn đọc của anh không ai muốn anh chết như vậy. Anh đã mang đi bao nhiêu bài thơ mà đáng lẽ chúng ta còn có thể được đọc và được buồn vui nhiều thêm lên trong cuộc đời, những tháng ngày mà chúng ta được sống trên trái đất này. Những bông hoa đến từ biệt cùng tôi Cúi thấp xuống những mái đầu xinh nhỏ Mặt người yêu và mảnh đất ông cha Tôi mãi mãi sẽ không còn thấy nữa … Chẳng còn gì hơn, rồi lại có người - Nỗi buồn cũ cần chi cho kẻ chết Một người khác sẽ cất lời hát tiếp Cho người tôi yêu còn bỏ lại trên đời Người tôi yêu sẽ yêu lại một người Và tiếp nhận bài ca kia lặng lẽ Có thể đôi khi nhớ về tôi nhỉ Như một cánh hoa không lặp lại bao giờ. Đúng như vậy, thơ Êxênin không lặp lại dọc thời gian, nó luôn luôn mới mẻ như vừa được sinh ra. “Con người của tương lai sẽ đọc Êxênin như nhân dân hiện giờ đã đọc anh. Sức sống mãnh liệt của thơ anh đã nói nhiều với họ” – (nhận định của nhà thơ N.Tikhônốp). Thơ Êxênin sống mãi là vì vậy. Rồi người những đời sau có thể quên đi rằng, trước khi đến yên nghỉ tại một nghĩa trang ở Lêningrat, tháng 11 năm 1925, quan tài Êxênin đã được đưa quanh tượng đài Puskin… nhưng người ta sẽ không bao giờ quên thơ anh, những bài thơ thuộc về thiên nhiên và con người trên trái đất. Hà Nội, tháng 11-1981 NGUYỄN TRỌNG TẠO Nguồn: tạp chí Văn học nước ngoài, số 6.2006 |
|
|
Góp vui với các bác bằng một bản dịch của Lê Đức Thụ:
Saganê em ơi, Saganê! Phải chăng anh người phương Bắc ra đi Mà muốn kể em nghe chuyện đồng quê, Miền sóng lúa rập rờn đêm trăng bạc Saganê em ơi, Saganê! Phải chăng anh người phương Bắc ra đi Nơi vầng trăng gấp trăm lần thế kia Dù tuyệt đẹp miền quê em Sirat Vẫn kém xa miền Razan bát ngát Phải chăng anh người phương Bắc ra đi Anh muốn kể em nghe chuyện đồng quê, Mái tóc anh đây cũng từ cây lúa Nếu em thích cuốn trên tay em đó Nào anh đâu có đau đớn chút chi Anh muốn kể em nghe chuyện đồng quê. Miền sóng lúa rập rờn đêm trăng bạc Em thân yêu, hãy mỉm cười, ca hát Nhìn mái tóc anh em thử đoán xem Nhưng chớ khơi hồi ức dậy nghe em Miền sóng lúa rập rờn đêm trăng bạc Saganê em ơi, Saganê! Người con gái xa xôi phương Bắc Cũng giống em, từ nụ cười, tiếng hát Đang mòn mỏi trông đợi buổi anh về Saganê em ơi, Saganê! |
Về bài thơ Da svidanja của Esenin
Trong khi làm video thuyết minh tiếng Nga về vụ TQ thảm sát hải quân
Việt Nam năm 1988, em đã lồng bài thơ Vĩnh biệt of Esenin vào, trong video từ phút 07:40 đến 08:04, anh Валентина Анищика lồng tiếng. Tất nhiên nếu xem toàn bộ video, sẽ thấy đoạn đọc thơ đó hay hơn, ý nghĩa ntn:emoticon-0111-blush http://www.youtube.com/watch?v=gDwxIx67QoU Toàn bộ video thuyết minh tiếng Việt, Anh, Nga, Đức do em làm được post tổng hợp / thập cẩm tại đây:emoticon-0136-giggl http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=5480 Còn đây là phần lời trong video do em viết, được bạn Phạm Khắc Đạt tại Saint Petersburg sửa lỗi và hiệu chỉnh. Китайцы устроили резню на вьетнамских островах Спратли ( реальные кадры 1988) Доказательства преступности Китая: Резня на Островах Спратли 1 / Доказанными историческими свидетельствами и непрерывным владением Вьетнам подтверждал его государственный суверенитет над островами Спратли в Восточном вьетнамском море, которое известное как " Южно-Китайское море". Однако, по простой причине: потребность в природных ресурсах и в морских транспортных маршрутах - Китай негуманно и жестоко атаковал Вьетнам, серьезно нарушая суверенитет Вьетнама и международные права. Эта реальная резня , которая была совершена китайским военно-морским флотом в завоевании островов Спратли 14 Мартa 1988, неопровержимое доказательство преступления китайского правительства. C подавляющей силой войска Китая убили 64 невооруженных вьетнамских матросов, уничтожили невооруженные транспортные судна Вьетнама, шедших на спасение пострадавших. Этот фильм поднимает вопрос о преступности цели китайского правительства под руководством Дэн Сяопина, чтобы найти правосудия. Действительно, этот случай продлился многие часы на трех рифах , ближайших к острову Син Кoвe, одному из крупнейших островов на Спратли. Острова Спратли отстоят более чем на 1000 километров от южного побережья Китая (острова Хайнань) и законно принадлежат Вьетнаму исторически. 2 / в начале 1988 года, китайский военно-морской флот совершил высадку войск на пять рифов и атоллов островов Спратли. Они тянутся вблизи крупных островов, которые принадлежат Вьетнаму. Вьетнамский флот в тот момент транспортировал материалы и оборудование к шести другим рифам и атоллам. Он успешно занимал позицию, задерживая расширение оккупированной зоны в другие острова Китайскими противниками. В начале марта этого года высшие командующие вьетнамского военно-морского флота решили мирно защитить другие три рифа , которые являются частью острова Син Кове Вьетнама. Такие рифы формируют открытое кольцо вокруг этого острова 13 марта, в конце вечера, три транспортные корабля Вьетнама прибыли на эти рифы , подняли флаги и представили Вьетнамский суверенитет над ними. за несколько последующих часов четыре китайских эскадренных миноносца приблизились к вьетнамцам, включив тревожный громкоговоритель. Несмотря на угрозы с китайских мощно-вооруженных военных кораблей, вьетнамские транспортные корабли терпеливо отшвартовали у рифов. Они были невооруженными , чтобы противостоять китайскому военно-морскому сильно-вооруженному флоту . Вьетнамцам не хотелось эскалации конфликта. Китайским солдатам приказали принять присягу , после чего они отправились на моторных лодках с большим количеством тяжелых вооруженных морских пехотинцев к рифу . они замышляли спровоцировать вьетнамцев, чтобы грянула война. Китайцы, особенно солдаты, учили, что океан в районе островов Спратли с более чем двухстами островами, рифами и атоллами, принадлежит Китаю. Напряжение продолжалось до утра следующего дня, когда Китайцы мобилизовали больше эскадренных миноносцев, а также отправили больше моторных лодок к данным рифам. Китайцы очень сильно провоцировали, чтобы битва разразилась. В шесть часов утра Китайцы внезапно спустили три алюминиевых катера, которые везли около 40 вооруженных морских пехотинцев. Катера стремительно бросились к рифам. Китайские войска высадились на фронте вьетнамских матросов и попытались спустить флаги Вьетнама, которые уже были посажены в фундаментах рифов с прошлого вечера. Стоящие на рифах, где уровень воды охватывает до половины тела, Вьетнамские моряки занимали позиции вдоль края рифов, заложив оборонные линии , чтобы не допустить продвижения противника вперед. Китайцы угрожали простым невооруженным вьетнамским матросам , чтобы они отступили от рифов. Это вторжение вызвало бурные реакции со стороны вьетнамских защитников. Они решили закрепиться на рифе , смело держа свои флаги любой ценой. Китайские морские пехотинцы Не смогли заставить вьетнамских невооруженных матросов уйти от рифа и им пришлось вернуться к своим эскадренным миноносцам , и резня началась Финальная тишина за вьетнамских матросов . ..... Пли ! Пли !.............. Просто потому , что вьетнамские моряки отказывались уходить от рифа, Китайцы 37-мм Противовоздушной обороной открыли стрельбу по безоружным и легко вооруженным вьетнамским морякам на рифе, которые мирным путем старались защищать свою родную землю и священное море, не собираясь нападать на Китайцев. Китайцы яростно из 100mm пушки продолжали стрелять по трем транспортным вьетнамским кораблям , два из них затонули. В конце концов, Вьетнам успешно защитил два рифа в этот день. Китай своей вооруженной силой бесцеремонно занял другие после этого инцидента. 64 вьетнамских моряков и офицера пожертвовали своими собственными жизнями. Среди них тела трех погибших были обнаружены после окончания битвы. Тела 61 матроса неизвестно потерялись в море после жестокой стрельбы Китая. 3 / Летом 2008 года , делегация вьетнамского военно-морского флота организовала церемонию в честь 20-ти летней годовщины героических павших моряков, которые защищали родную землю и священное море от китайского вторжения. в память жертвы офицеров и моряков, венки вместе с сигаретами, жевательными резинками и простыми предметами, которые каждый моряк использовал в повседневной жизни в прошлом , были спущены на воду. Многие из членов делегации плакали в тот момент. Эта церемония организуется ежегодно после китайского вторжения в 1988 году. В воспоминание этих моряков : последние мгновения о павших , кровавые моменты их товарищей, которые использовали свое тело, рука за руку , образовав стену за оборону отечественной территории , постепенно появились и становились снова сильнее и сильнее. До свиданья, друг мой, до свиданья. Милый мой, ты у меня в груди. Предназначенное расставанье Обещает встречу впереди. До свиданья, друг мой, без руки, без слова, Не грусти и не печаль бровей, - В этой жизни умирать не ново, Но и жить, конечно, не новей. В настоящее время живущий в постоянных угрозах и провокациях со стороны китайского правительства Вьетнам постоянно подтверждает свой суверенитет над островами Спратли и решительно выступает за сохранение мирной обстановки в регионе. Агрессивные вторжения со стороны Китая привели вьетнамских моряков в состояние постоянной готовности к бою против Китайских захватчиков. (40”) Несмотря на ежедневные оккупационные происки островов Спратли от китайского морского флота, Вьетнамские моряки и народ продолжают приятную жизнь на островах Спратли, их уровень жизни постепенно повышается. Все поколения вьетнамских моряков и народа защищали родные острова Спратли, и всегда будут защищать свое священное море и родные земли Вьетнама. В середине океана на расстоянии 400 км от побережья Вьетнама, они стоят вместе и объединяются как бастион на защиту морской территории своей родины. |
:emoticon-0115-inlov. Bản dịch hay quá. Cứ có chất Nga là có gì đó liên quan đến thơ văn, nghệ thuật. Khó tả quá, chỉ cảm nhận thôi.
|
Trích:
Dạt dào mà lắng đọng cảm xúc |
Các bác cho em hỏi 1 tí ạ, bản dịch Tu viện của em khoảng 6 tháng trước :
http://diendan.nuocnga.net/showpost....&postcount=175 hồi đó là nó đi theo mạch cảm xúc của em khi biết tin bác gái này "đi tu" ạ. Thế nên lúc dịch trong đầu em cứ đinh ninh nhân vật chính của ảnh Esenin trong tu viện là bác gái này, chắc vì thất tình hoặc gì đấy mà phải bỏ vô tu viện đi tu : http://farm3.static.flickr.com/2508/...a42407dfbd.jpg Bác gái này nick là Bizu (Бизу), giờ em mún ghi lời đề tặng tiếng Nga thì phải ghi ra sao đây hả các bác . chẳng lẽ lại là Бизуу nếu coi y là phụ âm . hay là để nguyên. |
Theo mình bạn cứ nên để nguyên thôi, Wehrmacht ạ.
|
Trích:
Mà cái bác gài Bizu này con cái nhà ai mà xinh đáo để các bác nhể. Ối Giời người như thế này mà bỏ đi tu thì phí quá. Hic! :emoticon-0106-cryin |
Bạn Wehrmacht lâu lắm mới quay lại viết bài ở NNN ấy nhỉ? Thế mà sao mình chẳng thấy bản dịch thơ nào của Esenin mới xuất hiện là sao? :) :)
|
|
Trích:
Bên đó lượng mem rất trẻ , nên Wehrmacht có lời mời các bác cao nhân NNN nếu có thời gian và nhã hứng thì có thể qua đó dạy bảo cho các bạn trẻ 9x về quân sự, văn hóa, ngôn ngữ, kinh nghiệm sống v.v.... Hi vọng là có thể có riêng một nhóm pro Nga tại đó. Wehrmacht có lập nhóm pro Nga tại đó mà lèo tèo ít quá. Mình mong muốn đây sẽ là một sân chơi đúng nghĩa kiểu Nga (dvor) cho tất cả các bạn có chung tấm lòng với Hoangsa.org nói chung và nước Nga nói riêng. http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=8814 “Мы никогда не забудем тех отважных солдат, павших в защиту своей родной земли. И мы никому не позволим менять историю и перекраивать карту Вьетнама!” Trân trọng, Wehrmacht |
|
Bài ĐÊM thứ hai của S.Esenin, bạn TQ đã post bên box "Tuyệt tình":emoticon-0136-giggl của bạn ấy, tới thấy nó vẫn vui nên trả lại box này của chàng Thi sĩ tóc vàng:
|
Các bác ơi!
Cho em xin bản dịch chuẩn của bác Tạ Phương bài thơ Đêm của Esenin với? em xem ở những trang trước có up lên bài này nhưng có chỗ cuối không biết đúng chuẩn không? ĐÊM Dòng sông thiu thiu ngủ, Rừng thông tối ngưng reo, Họa mi không hót nữa, Muông thú cũng ngừng kêu. Đêm. Bốn bề tĩnh lặng Còn suối róc rách thôi, Và vầng trăng vằng vặc Rắc bạc khắp nơi nơi. Bạc lấp lánh dòng sông, Bạc long lanh bờ suối, Bạc láng trên cỏ cây Thảo nguyên thành đắm đuối. Đêm. Bốn bề tĩnh lặng. Vạn vật ngủ say rồi. Riêng vầng trăng vằng vặc Vẫn rắc bạc nơi nơi. 1911-1912 thực chất là Thảo nguyên thnàh đắm đuối hay rừng dương thành đắm đuối vậy các bác? |
Trích:
Bác Tạ Phương cũng chính là bác Geobic trên diễn đàn, bạn có thể PM hỏi trực tiếp bác ấy.:emoticon-0150-hands |
Trích:
|
bác Tạ Phương cho em hỏi tí nhé.
Bác có thể cho em xin bản dịch này để đưa vào luận văn không? Dĩ nhiên em sẽ làm công tác PR luôn hộ bác. Còn nhuận bút thì ... hihi em sẽ đền trả bác vào một ngày đẹp trời. À, mà bác cho em hỏi, bác ở đâu trên trái đất này? Em ở Nha Trang nên nếu bác ở hai đầu đất nước thì phải hẹn ngày tái ngộ tương phùng thôi. Nói nhỏ nhé, em là em thích phong cách dịch thơ của bác và bác Nina lắm đó. Em ủng hộ cả hai tay luôn. à, em xin hỏi, bác nói bản dịch đã được in năm 2004, vậy thì nó nằm ở trong tác phẩm nào vậy bác? nếu được bác cung cấp hộ em địa chỉ để dễ bề ăn nói, bác nhé. em cám ơn bác nhiều nhiều |
|
|
Xin chép lại bài dịch của bạn Sông La, chia theo cột
|
Đọc bài này cứ thấy quen quen, thì ra mình dịch cũng lâu lắm rồi, từ tận trang 7 của chủ đề này :)
Nhưng chẳng biết bạn Sông La có thích góp ý cho bản dịch của bạn ấy không nhỉ (mình biết một số người không thích nghe góp ý chút nào)? |
Nhi na viết ...Đọc bài này cứ thấy quen quen, thì ra mình dịch cũng lâu lắm rồi, từ tận trang 7 của c.....
Thực ra thì mình chưa vào trang nói về nhà thơ Êxenhin ..tình cớ lướt web thấy có mục :Если любовь уходит...lại buồn cười nhớ câu đùa với người yêu: Khi em đến tình yêu bỏ chạy, nên thử dịch một chút cho vui chứ nghe bạn nói mới tìm lại trang 7...nó có hao hao thì cũng thường thôi vì bộ khung nó có sẵn mà nhà thơ đã dựng, khác là khác chút hoa văn thôi mà , dịch thơ khó là thế, nhiều khi hai cô gài giống nhau lắm, chỉ khác một khóe mắt thôi, làm cho kẻ lấy chồng sớm, ,kẻ lấy muộn vậy..Còn mình cũng thích góp ý lắm, không câu nệ, bảo thủ đâu |
Tôi nhớ
Nhớ luôn, em hỡi nhớ hoài Mái đầu em tựa, tóc người hào quang Xa em giờ phải lỡ làng Không vui cũng chẳng dễ dàng đâu em. Anh còn nhớ mãi những đêm Lào xào rong lá êm đềm bạch dương Dẫu ngày khi ấy ngắn hơn Choàng đôi ta, ánh trăng xuân ngợp trời Nhớ xưa em nói cùng tôi: “Những năm của tuổi xuân rồi sẽ qua Và, anh yêu quý, dần dà Bên người yêu khác anh đà quên em!” Cành hoa nay nở hoa thêm Nhắc cùng anh mối tình duyên khi nào Cánh hoa anh rắc hôm nao Lên làn sóng tóc em- sao dịu dàng! Trái tim ngừng đập sẵn sàng Yêu người yêu khác, sầu mang trong lòng Ôi thiên tình sử nghẹn ngùng Ngồi bên ai, vẫn mơ màng nhớ em. X. Exênhin (bản dịch của Xuân Diệu) |
À, mình nói là bài thơ tiếng Nga quen mà ban Sông La ơi. Mình cảm thấy, hai câu đầu Esenin không hề nói - "Anh nhớ em", mà chỉ nói là "помню сиянье твоих волос" thôi. Nếu dịch thành "Anh nhớ em lắm", thì có lẽ nó làm cho ý của tác giả bị thô đi khá nhiều. Mặc dù tất nhiên, nhiều người dịch thích làm thơ mộng hóa ý tứ của bản gốc hơn.
|
Cảm ơn Nina, TQ đã sửa lại bản dịch theo phân tích ngữ pháp của Nina cho SL vì TQ dịch theo cảm tính quá! Anh chàng nhớ có mỗi mái tóc mà cho nhớ cả cô em thì...quá hoang :emoticon-0136-giggl. Mình thấy hầu như các bản dịch đều dịch chữ Сиянье = hào quang và trong từ điển cũng có nghĩa như vậy. Tuy nhiên nếu dịch ra tiếng Việt với mái tóc hào quang thì hình như không ổn lắm. Không sai tất nhiên nhưng nên hiểu đó là mái tóc bạch kim sáng lên thì Việt hóa hơn. Trong từ điển Сиянье còn có một nghĩa khác là tươi sáng, rạng ngời... |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 03:09. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.