![]() |
Về chuyện bản quyền nó còn một vài vấn đề nữa các bác ạ. Giả sử có một nhà xuất bản A đã đồng ý sẽ xuất bản cuốn sách B. Thế thì việc đăng nội dung sách lên diễn đàn, blog để giới thiệu với độc giả cần phải có sự đồng ý của nhà xuất bản nữa, không phải cứ tác giả, dịch giả muốn là được.
Cá nhân em, thì em thấy việc giới thiệu một phần nội dung sách là không có vấn đề gì. |
Trích:
Chúng ta đã từng kêu gọi mọi thành viên đánh máy các tác phẩm văn học rồi đưa lên diễn đàn để mọi người cùng thưởng thức ví dụ: Mười ngày rung chuyển thế giới... Vậy là chúng ta cũng vi phạm sao. Nina mà nói vậy thì từ nay ai dám đánh máy một cái gì để đưa lên diễn đàn nữa... Và kể cả dịch các tác phẩm khác từ tiếng nước ngoài về NNN nữa? |
Bác nthach à, ý em nói đến những quyển sách chuẩn bị xuất bản bác ạ, em có thể đưa vài chương lên blog, diễn đàn để độc giả làm quen với sách, nhưng nếu đưa toàn bộ nội dung sách, trong khi sách còn chưa được in ra thì rõ ràng là không nên.
Cũng tương tự, khi em đã gửi bài cho một tờ báo (cũng thỉnh thoảng thôi, không thường xuyên), thì rõ ràng em cũng phải chờ cho báo in được xuất bản vài ngày, hoặc bản điện tử của báo đã lên mạng rồi, em mới đăng nó lên diễn đàn hoặc blog được. |
Trích:
|
Trong phần mở đầu của loạt bài Kênh đào Matxcơva, Kóc đã viết:
Trích:
Tất nhiên Kóc biết rằng việc post bài này là không hay đối với mình, nhưng cũng mạnh dạn góp ý kiến để diễn đàn ngày càng hoàn thiện hơn! |
Một mảng văn học đáng quan tâm khác về Gulag, đó là các sáng tác văn học, cô đọng nhất là thơ:
Liễu rủ liễu rũ khắp nơi Liễu Alma-Ata, người đẹp biết bao, sương phủ trắng ngời. Nhưng nếu ta quên em, nhành liễu úa ta yêu nơi phố Rozbrat, Vácxava. Xin cho thân ta khô úa vì em! Núi biếc núi biếc khắp nơi Thiên Sơn, trước mắt tôi, ưỡn ngực lướt trên trời tía... Nhưng nếu tôi quên người, đỉnh Tatra tôi bỏ lại chốn xa xôi, Dòng suối Biały, nơi con trai cùng tôi mơ màng chuyến đi biển rộng rực rỡ... Xin biến tôi thành đá núi Thiên Sơn. Nếu ta quên em Nếu tôi quên chốn quê hương... - Aleksander Wat, “Cây liễu xứ Alma-Ata”, tháng Giêng 1942 Bản tiếng Anh: Willows are willows everywhere Alma-Ata willow, how beautiful you are, draped in glowing white frost. But should I forget you, my withered willow in Warsaw's Rozbrat Street, Let my hand wither as well! Moutains are mountains everywhere Tian Shan, before my eyes, sails upwards into a purple sky... But should I forget you, the Tatra peaks I left so far behind, The Biały brook, where my son and I daydreamed colourful sea voyages... Let me turn into Tian Shan stone. If I forget you If I forget my hometown... |
Từng là lính, giờ tôi là tù
Hồn tôi đông cứng, lưỡi tôi khô. Nào đâu nhà thơ, nào họa sĩ Tả nổi cảnh tôi khổ tù đày? Và bày quạ ác đâu hay biết Thứ án nào chúng bắt tôi khuân Khi chúng tra tấn, khi truy đuổi Ngục tối, lưu đày, tới trại này. Nhưng kỳ diệu thay, trên mỏ đá Ngôi sao tự do chiếu sáng soi Chiếu xuyên hồn tôi - thôi đông cứng Chiếu qua lưỡi tôi - nói được rồi! - Leonid Sitko, bài thơ vô đề, trích từ Tyazhest sveta, tr. 11, 1949 I was a soldier, now I'm a convict My soul is frozen, my tongue is silent. What poet, what artist Will depict my terrible captivity? And the evil crows didn't know What sort of sentence they gave us When they tortured us, when they chased us From prison to exile to camp. But wonders occur! Above the quarry A free star shines Although my soul is frozen - it is not shattered Although my tongue is silent - it will speak! |
Nơi vách đá rong rêu và biển thiu thiu ngủ
Tại đây, với sức lao động Nhà máy sẽ mọc lên Thị trấn sẽ lan rộng. Ống khói sẽ vươn cao Dưới bầu trời phương Bắc, Các công trình cửa sổ sáng đèn Nào thư viện, nào nhà hát, nào câu lạc bộ. - Medvedkov, một tù Kênh đào Bạch Hải, 1934 Where mossy cliffs and water slumbered There, thanks to the strength of labour Factories will be built And towns will grow. Smokestacks will rise up Under the Northern skies, Buildings will shine with the lights Of libraries, theatres, and clubs. |
Một bài hát của bọn cướp đúng luật trong vở kịch Aristokraty (Những nhà quý tộc) của Nikolai Pogodin, một hài kịch về Kênh đào Bạch Hải, diễn năm 1934, bị cấm thời Beria:
Tớ là tên cướp hung hãn, ừ, Tớ trộm cắp của nhân dân, thù ghét lao động, Và đời tớ tăm tối như bóng đêm. Nhưng giờ đây tớ được cho đến đào kênh, Mọi điều trước đây trôi đi như ác mộng. Cứ như thể tớ vừa được tái sinh. Tớ muốn được lao động, được sống và ca hát… I was a cruel bandit, yes, I stole from the people, hates to work, My life was black like the night. But then they took me to the canal, Everything past now seems a bad dream. It is as if I were reborn. I want to work, and live and sing... (Người dịch chưa tìm được nguyên bản tiếng Nga của các bài thơ nêu trên) |
Chúng tôi tiến tới, sau lưng
Là toàn đội vui vẻ bước. Phía trước - vinh quang của những người Stakhanovest Mở ra một con đường mới… Lối cũ chúng tôi đã quên hẳn, Từ ngục tối chúng tôi vươn lên theo lời kêu gọi Theo con đường của những người Stakhanovest vinh quang Xin hãy tin, chúng tôi đang đi tới cuộc đời tự do… - Trích từ tạp chí Kuznitsa, in tại Sazlag, 1936 We go forward, and behind us The whole brigade walks merrily along. In front of us, the victory of the Stakhanovites Opens a new path... For the old path is no longer known to us, From our dungeons we have risen to the call Along the path of Stakhanovite triumph Believing, we walk towards a life of freedom... |
Bài thơ của Osip Mandelstam công kích Stalin, lý do khiến ông bị bắt lần thứ hai và chết trong GULAG sau đó:
Chúng ta sống, không cảm thấy mặt đất dưới chân Chúng ta nói, không ai nghe dù chỉ cách xa mươi bước Nhưng nơi đâu có xì xầm trao đổi dẫu chỉ khe khẽ Kẻ sơn dã, sát nhân và uống máu nông dân ở Kremlin sẽ rõ ngay Ngón tay chuối mắn của y, tựa vòi giun, thật nhớp nhúa Lời y nói, nặng hơn chì, là lời quyết định Mũi ủng của y, bóng lộn, lóe sáng Và quanh y, một bầy lãnh đạo không xương sống Tựa dã nhân, phục vụ y như lũ đồ chơi Đứa hí, đứa meo meo, đứa nhai nhải Chỉ mình y là được la hét và chỉ tay Quăng sắc lệnh như tung mớ móng ngựa Trúng giữa háng, trúng sọ, văng tròng mắt Đối với y mọi án tử đều thơm ngọt Nếu dành cho, chàng Osseti ngực nở hiên ngang. We live, not feeling the land beneath us We speak, and ten steps away no one hears us But where there's even a whispered conversation The Kremlin's mountaineer, murderer and peasant-slayer will be mentioned. His fat fingers, like grubs, are greasy His words, like lead weights, are final His boot rims shine And all around him, a gaggle of spineless leaders, Half-humans, serve as his toys One whinnies, one purrs, one whines Only he shouts and points Throwing decrees like horseshoes Hitting a groin, a head, an eye - Every death sentence tastes sweet For the broad-chested Ossete. (Danngoc rất biết ơn bạn nào tìm giúp nguyên bản của các bài thơ trên) |
Trích:
Trích:
Trích:
|
Trích:
Мы живем, под собою не чуя страны, Наши речи за десять шагов не слышны, А где хватит на полразговорца, 1) Там припомнят кавказского горца. Его толстые пальцы, как черви, жирны, А слова, как пудовые гири, верны, Тараканьи смеются усища, И сияют его голенища. А вокруг него сброд тонкошеих вождей, Он играет услугами полулюдей, Кто свистит, кто мяучит, кто хнычет, Он один лишь бабачет и тычет. Как подковы, кует за указом указ — Кому в пах, кому в лоб, кому в бровь, кому в глаз Что ни казнь у него — то малина И широкая грудь осетина. (Ноябрь 1933) |
Mấy hôm nay cứ hắt xì, hắt xì… té ra là có người nhắc, ơn Giời, mình vẫn còn sống ở trong lòng một vài người một tí, ít nhất là từ khía cạnh “welcome or not welcome” hè hè… mỗi tội sống kiểu “viêm mũi dị ứng” này mệt quá, các Thày!
Topic này hay đấy chứ, mặc kệ, oeo-căm hay không thì tui cũng cứ đọc cái đã. Quả thực đây là những tư liệu rất quý giá. Khi mà chúng ta hầu hết được đọc những tài liệu, tác phẩm chủ yếu là tô hồng, ca ngợi con người mới, cuộc sống mới của văn học Xô-viết thì đây là dịp để được nhìn nhận “phân khúc” đó của lịch sử dưới một nhãn quan khác. Nhưng cũng cần thú thực, tui đọc xong cũng không hiểu mấy, chắc do “trình” của mình, nhất là “tiếng Việt” của mình có vấn đề. Để lúc nào đó, tâm trí sáng suốt thử đọc lại xem sao, chứ bây giờ “cơm áo gạo tiền” bận rộn như thế này thì chịu, đọc không vào. Trích:
“Chắc hẳn trước đây mình cũng đã làm đôi điều gì đó, để dẫn đến người khác có thành kiến như thế với mình hôm nay” – thôi thì chuyện gì thì cũng đã qua. Ai cũng có đôi chút năng lực, có chút tài năng… nhưng hôm nay, bạn, tôi, anh chị em… vẫn gặp được nhau, được cười vui với nhau, alô cho nhau, và hơn thế nữa, còn có cơ hội cùng sát cánh để làm thêm được vài điều tốt cho mọi người, cho xã hội. Tài năng, tiền của hỏi còn có ý nghĩa nhiều đến thế so với những gì chúng ta đang có? Tuần sau mà rỗi, tui vẫn vào đọc lại topic này. Tui xin hứa! |
Trích:
Cám ơn bác hungmgmi, như vậy là tui đã viết sai, bài thơ này có lẽ là lý do Mandelstam bị bắt lần đầu tiên (nội dung này không có trong bản tiếng Anh, mà là do em đưa vào cho thread dễ theo dõi). Tui xin sửa lại sau khi đối chiếu bản tiếng Nga: Chúng ta sống, không cảm thấy mặt đất ngay dưới Lời ta nói, nghe không rõ dù chỉ cách mươi bước chân Nhưng hễ đâu đó có người dám xì xầm trao đổi Là lập tức gã sơn dã xứ Kavkaz sẽ biết rõ. Ngón tay chuối mắn của y, tựa vòi giun, thật nhớp nhúa Lời y nói, nặng hơn chì, là lời quyết định Rồi nở nụ cười dưới bộ ria con dán Y khua ủng ống bóng lộn, lòng lâng lâng. Và quanh y, một bầy lãnh đạo không xương sống Y phóng tay sai khiến chúng như lũ đồ chơi Đứa hí, đứa meo meo, đứa nhai nhải Chỉ mình y là được la hét và chỉ tay Quăng sắc lệnh như tung mớ móng ngựa Trúng giữa háng, trúng sọ, văng tròng mắt Đối với y mọi án tử đều thơm ngọt Nếu dành cho, chàng Osseti ngực nở hiên ngang. |
http://i653.photobucket.com/albums/u...anlythe/10.jpg
Lao động tại Liên Xô là Danh dự, là Vinh quang và là Chủ nghĩa Anh hùng Dũng cảm! (trích lời Stalin) |
Tiếng chuông ngân vang xa xa
Vẳng vào khám cùng nắng sớm Chuông như nhắn hỏi tôi rằng: “Anh ở đâu? Anh ở đâu?” “Tôi đây!”... Lệ tuôn chào đón, Là lệ của chốn tù đày... Không phải lệ tuôn mừng Chúa Mà vì Người đấy, hỡi nước Nga. - Simeon Vilensky, 1948 The sound of a distant bell Enters the cell with the dawn I hear the bell calling out to me: "Where are you? Where are you?" "Here I am!"... Then tears of greeting, Mean tears of captivity... Not for God But for you, Russia. |
Trích:
quay về Moskva nhưng tiếp tục bị truy bức không cho sống ở Thủ đô. Ông đành về sống ở Kalinin (cách Moskva gần 200 km). Một thời gian sau, ông lại bị bắt ở Samatikha vì bị khép tội hoạt động phản cách mạng và bị đi đày xuống vùng Viễn Đông ở một trại tập trung. 27/12/1938, nhà thơ qua đời tại bệnh viện của trại. |
Trong truyện ngắn “Rượu từ quả anh đào” của Varlam Shalamov, có một mô tả hư cấu về cái chết của Osip Mandelstam, cái chết đang tới gần của nhà thơ được báo trước bởi sự thiếu quan tâm của ông tới những chuyện vặt : “Anh không còn dài cổ tìm kiếm đầu mẩu bánh mì hay gào lên khi không kiếm được chúng nữa. Anh không còn tọng bánh mì vào miệng bằng những ngón tay run rẩy nữa”.
Như vậy là trước khi chết, Osip Mandelstam đã trở thành một dokhodyaga - kẻ tới số. Vào giai đoạn cuối cùng, một dokhodyaga sẽ có bề ngoài kỳ quái và không còn giống người nữa, biến thành một hình mẫu hoàn chỉnh về mặt thể xác của thuật hùng biện làm mất nhân tính được chính quyền sử dụng: nói cách khác, trong những ngày sắp chết, lũ kẻ thù của nhân dân không còn chút nào có vẻ là con người nữa. Chúng đã hóa điên, thường lảm nhảm mê sảng hàng giờ liền. Bộ da chúng khô quắt và lùng thùng. Cặp mắt chúng lóe lên những ánh lạ lùng. Chúng ăn bất cứ thứ gì lọt vào tầm tay – chim, chó, rác rưởi. Chúng di chuyển chậm chạp và không thể kìm nổi tiêu tiểu bừa bãi, vì thế chúng tỏa ra mùi hôi thối kinh khủng. Ghi chú: Tù thường giành giật nhau để có được phần đầu mẩu ổ bánh khô và ít nước hơn, do bột nướng bánh thường được trộn với rất nhiều nước, khiến bánh ướt và nặng hơn quy định. Đầu mẩu bánh do thế sẽ là phần "có chất" hơn. Varlam Shalamov: nhà văn, từng là tù GULAG. Varlam Shalamov cũng để lại một bài thơ khó có thể quên được, mô tả các dokhodyaga, về sự giống nhau của họ, về việc họ mất hẳn những cá tính và bản sắc con người, và về sự vô danh của họ, là một phần của nỗi khiếp sợ mà họ gây ra: Giương kính tôi dõi con đường tới khu rừng Nhìn ai ngã xuống khi đang đi trên ấy Nhìn ai không thể lê mình xa hơn nổi Nhưng vẫn cố mà lết tới, ráng sức tàn Nhìn đôi môi họ xanh xao khô cứng Nhìn mặt họ giống nhau không phân biệt nổi Nhìn cái áo rách phủ bạc sương giá Nhìn đôi tay trần không có găng che Nhìn họ húp ca nước sắt tây cũ móp Nhìn nướu lợi hoại huyết không còn răng Nhìn đôi nanh bầy chó xám béo tốt Đánh thức họ buổi sáng dậy điểm danh Nheo nhìn lên vầng mặt trời ảm đạm Xói xuống họ mà không chút xót thương Nhìn mộ chí tuyết trắng rơi vương Là tác phẩm của cơn bão băng giá Nhìn phần bánh thô thớ cứng như đá Mà hàng ngày tù hay nhai nuốt vội Nhìn trời cao, vòi vọi nhưng nhợt nhạt Nhìn dòng Ayan-Yuryakh hững hờ trôi! Bản tiếng Anh (danngoc rất biết ơn bạn nào tìm giúp bản nguyên bản tiếng Nga để đối chiếu): I raise my glass to a road in the forest To those who fall on their way To those who can't drag themselves further But are forced to drag on To their bluish hard lips To their identical faces To their torn, frost-covered coats To their hands without gloves To the water they sip, from an old tin can To the scurvy which sticks to their teeth. To the teeth of fattened grey dogs Which awake them in the morning To the sullen sun, Which regards them without interest To the snow-white tombstones, The work of clever snowstorms To the ration of raw, sticky bread Swallowed quickly To the pale, too-high sky To the Ayan-Yuryakh river! |
Trích:
Đặc biệt, trên mỗi cổng chào của các Gulag luôn có khẩu hiệu này. Bộ phim Trốn chạy khỏi Gulag của Đức cũng cho ta thấy một đoạn khẩu hiệu trên. Khẩu hiệu này ám ảnh đến nỗi nhà văn bị lưu đày ở Gulag là Varlam Shalamov phải bàng hoàng viết và so sánh chua chát: Trích:
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 00:37. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.