![]() |
Nhưng kẻ thù của Sholokhov đã không chịu buông vũ khí. Cuộc tranh cãi về Sông Đông êm đềm tại Ủy ban Giải thưởng Stalin là một bãi chiến trường. Nhà làm phim vĩ đại Alexander Dovzhenko, người đã tạo ra một trong những kiệt tác của phim câm Xô viết, phim Đất cày (1930), và là một trong những người được Stalin quý mến (ông được nhận Giải Stalin cho bộ phim Shchors của ông về Ukraina trong Nội chiến), đã đưa ra một bài phát biểu xúc động. “Tôi đã đọc cuốn Sông Đông êm đềm với cảm giác vô cùng bất bình trong lòng… Tôi có thể tóm tắt cảm tưởng của mình như thế này: đã hàng thế kỷ sông Đông êm đềm sống, nam nữ Cô-dắc cùng cưỡi ngựa, uống rượu và ca hát… cuộc đời của họ thật vui tươi, thơm ngọt, ổn định và ấm áp. Cách mạng tới, chế độ Xô viết thống trị và người Bolshevik phá hủy sông Đông êm đềm, đuổi mọi người đi, đẩy anh đánh nhau với em, cha đánh nhau với con, chồng đánh nhau với vợ, làm đất nước suy kiệt… tiêm nhiễm cho nó bệnh lậu và bệnh giang mai, gieo xuống những bẩn thỉu, giận dữ và đẩy những con người mạnh khỏe có cá tính trở thành thổ phỉ… Và rồi nó chấm hết. Thật là một sai lầm to lớn trong quan niệm của tác giả”. *
Các thành viên khác của Ủy ban cũng lên tiếng chống lại Sông Đông êm đềm, nhưng lời chê trách nặng nhất về bộ tiểu thuyết là của Fadeyev, chủ tịch Hội Nhà văn Liên Xô khi ấy (có tiếng là người Stalin được tin cậy): “Ý kiến cá nhân của tôi là nó không thể hiện chiến thắng của lý tưởng Stalinnít”. Sau này Fadeyev thú nhận với Shlokhov rằng mình đã bỏ phiếu loại ông ra. Nhưng Sholokhov, như chúng ta biết, vẫn được nhận giải thưởng và xuất hiện trên trang bìa tờ Pravda. Tại sao? * Trích trong: Osipov, Tainaia zhizn’, tr. 224 |
Câu trả lời phần nào nằm ở thực tế rằng Stalin có lẽ đã khuyến khích nhà văn không chỉ vì Sông Đông êm đềm mà cũng còn vì phần một bộ tiểu thuyết thứ hai của ông, sẽ được xuất bản sau đó. Đất vỡ hoang viết về tập thể hóa, tức là một đề tài rất quan trọng đối với đất nước và với cá nhân Stalin. Ý kiến của Stalin về bộ sách này phản ánh trong một lá thư gửi thủ hạ của mình là Lazar Kaganovich, đề ngày 7/6/1932: “Một tác phẩm thú vị! Anh có thể thấy rằng Sholokhov đã nghiên cứu kỹ các nông trang tập thể bên sông Đông. Tôi tin rằng Sholokhov có một tài năng sáng tạo vĩ đại. Bên cạnh đó, anh ta là một nhà văn rất tận tâm: anh ta viết về những chuyện mà anh ta biết rất rõ”. * (Tức Stalin đã thừa nhận rõ hơn rằng Sholokhov không phải một kẻ đạo văn).
Nhưng điều đó chưa phải là tất cả. Dường như rằng Stalin đang thưởng cho hoạt động của Sholokhov, về những việc mà thời ấy rất ít người được biết. Chúng vẫn là một bí mật suốt nhiều năm liền và mặc dù lần đầu tiên chúng được đề cập đến bởi Nikita Khrushchev năm 1963, chi tiết của câu chuyện không bao giờ lộ ra cho tới mãi thập niên 1990, sau khi đế chế Xô viết sụp đổ, khi thư từ giữa Sholokhov và Stalin được giải mật. * Pisatel’ i vozhd’. Perepiska M. A. Sholokhova s I. V. Stalinym. 1931-1950 gody. Sbornik dokumentov iz lichnogo arkhiva I. V. Stalina [Nhà văn và vị lãnh tụ. Thư từ giữa M. A. Sholokhov và I. V. Stalin, 1931-1950. Tập hợp các tài liệu từ lưu trữ cá nhân của Stalin] (Moscow, 1997), tr. 17 |
Khi dịch đến đoạn này, tôi không khỏi nêu một câu hỏi: phải chăng những người dịch Sông Đông êm đềm ra tiếng Việt trước đây đã có làm sai ý của tác giả chút ít khi sử dụng những đại từ nhân xưng rất tùy tiện, có khi là ác ý, một điều mà trong tiếng Nga không thể hiện cụ thể?
|
Mười lăm lá thư và giấy tay của Sholokhov gửi Stalin, và một lá thư với hai bức điện tín của Stalin gửi Sholokhov đọc lên nghe như một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, chỉ khác đây là câu chuyện thật (mặc dù chưa hoàn chỉnh) về quan hệ giữa vị lãnh tụ và nhà văn xuyên qua những sự kiện bi thảm nhất thời kỳ ấy, tập thể hóa và Đại Khủng bố.
Sholokhov, chưa đầy ba mươi, gửi những lá thư đầu tiên cho Stalin thời gian từ 1931-1933, trong nỗi thống khổ về cơn khủng hoảng nông nghiệp gây ra bởi tập thể hóa cưỡng bức. Để cung cấp lương thực cho thành thị, chính phủ tịch thu tất cả ngũ cốc mà nông trang viên kolkhoz có được. Sholokhov đi thẳng vào mô tả tình hình, với sự bộc trực và thẳng thắn hiếm có: “Ngay lúc này đây các nông trang viên và nông dân cá thể đang đói đến chết; người lớn và trẻ em đang phát phù và ăn những thứ mà con người không bao giờ ăn, bắt đầu bằng xác thối và kết thúc bằng vỏ sồi và mọi thứ rễ dại đầm lầy”. * Trong một lá thư khác ông viết, “Thật quá cay đắng, thưa đồng chí Stalin! Trái tim ta rỉ máu khi ta chứng kiến điều này bằng chính cặp mắt mình”. Sholokhov mô tả “những ‘phương pháp’ ghê tởm để tra tấn, đánh đập và làm nhục” được sử dụng để tìm ra nơi nông dân đang giấu ngũ cốc của họ: “Tại nông trang tập thể Vashchaevsk, họ đã đổ dầu hỏa vào hai chân phụ nữ và vạt váy họ, châm lửa đốt rồi dập tắt: ‘Mày có nói tao biết hầm chôn ở đâu không? Tao sẽ đốt lần nữa nếu mày không nói’.” * Đoạn này và các đoạn trích sau đây từ những lá thư của Sholokhov lấy trong Pisatel’ i vozhd’, tr. 24, 29, 49, 58, 68, 102-103 |
Có rất nhiều ví dụ trần trụi về tra tấn, hăm dọa và bạo lực trong các lá thư của Sholokhov gửi Stalin; ông dồn chúng lại, như một nhà văn giàu kinh nghiệm, rồi ép Stalin đáng kể bằng cách dọa sẽ tố cáo chế độ Xô viết trong cuốn sách mới của mình: “Tôi quyết định rằng viết cho ông thì tốt hơn là sử dụng các tư liệu này cho tập cuối của Đất vỡ hoang”. (Ta phải rất chắc chắn về tài năng của chính mình thì mới có thể viết như vậy cho Stalin; một kẻ đạo văn bình thường khó mà dũng cảm như thế được).
Stalin đã phản ứng ra sao? Sau này Khrushchev nhớ lại là Stalin, bất cứ lúc nào được nghe về điều gì đó sai lầm, đều phát cáu, thậm chí cả khi ông biết rằng tình hình phải được sửa chữa: ông sẽ đồng ý nhưng tức giận. Việc ấp ủ phức tạp những cảm xúc mâu thuẫn này có thể thấy trong thư của Stalin trả lời Sholokhov (ngày 6/5/1933), trong đó ông cám ơn nhà văn vì những lá thư cảnh báo của ông, “do chúng đã kéo màng vẩy bao bọc công tác đảng ở Liên Xô chúng ta, tiết lộ rằng đôi khi các công nhân của chúng ta, vì muốn ngăn chặn kẻ thù, đã tình cờ đánh trúng bạn bè mình và thậm chí còn trở nên ác dâm”. Nhưng Stalin cũng chỉ ra cho Sholokhov rằng những nông dân mà nhà văn muốn bảo vệ (Stalin mỉa mai nói họ là “những người thu hoạch ngũ cốc đáng kính”) theo quan điểm của ông thì là những kẻ phá hoại đang cố gắng từ chối bánh mì cho công nhân và Hồng quân và rằng “những người thu hoạch ngũ cốc đáng kính đó thực tế đang dấy lên một cuộc chiến ‘thầm lặng’ chống lại luật lệ Xô viết. Một cuộc chiến chết đói, đồng chí Sholokhov thân mến ạ”. Đồng thời, Stalin ra lệnh cho gửi thực phẩm tới các đồng hương đang đói khát của Sholokhov. Đó là một bước điển hình của Stalin, có những nhượng bộ nho nhỏ tạm thời trong khi cơ bản vẫn thúc tới theo kế hoạch của mình. Sholokhov khẩn cầu Stalin bằng một lá thư dài khác ngày 16/2/1938, tại đỉnh điểm của Đại Khủng bố. Nhà văn đang bị dọa sẽ bị bắt vì là kẻ thù của nhân dân (một thành viên bị bắt của một dàn đồng ca Cô-dắc khai lúc ngồi tù rằng Sholokhov đã ra lệnh cho anh ta ám sát một quan chức chính phủ khi dàn đồng ca trình diễn tại Moscow), nhưng Sholokhov đã dùng hầu hết lá thư để bảo vệ cho các bạn mình đang ngồi tù và bị tra tấn: “Thưa đồng chí Stalin! Phương pháp điều tra này mà theo đó tù nhân bị trao vào tay những điều tra viên không bị khống chế giới hạn là hết sức thối nát… Chúng ta phải chấm dứt cái hệ thống tra tấn đáng xấu hổ đang được sử dụng với các tù nhân”. |
Sholokhov được gọi tới Điện Kremlin để gặp Stalin và tại đó, trước mặt người đứng đầu đáng sợ của NKVD Nikolai Yezhov, ông đã kể một chuyện cười được lưu truyền. Một con thỏ đang cắm đầu chạy được hỏi là tại sao nó lại chạy.
“Tao sợ chúng đóng móng tao mất!” “Chẳng ai đi đóng móng cho thỏ cả, người ta đóng móng lạc đà thôi!” “Chờ đến lúc chúng bắt được mày và đóng móng thì đi mà cãi mày không phải lạc đà!” Kể cho nhà độc tài một câu chuyện hài mang tính chính trị giống như đi bắt cá mà không có lưới vậy. Như sau này Sholokhov nhớ lại, Yezhov đã phá ra cười; Stalin không hưởng ứng lắm và mỉa mai nói, “Người ta bảo anh uống nhiều lắm, phải không đồng chí Sholokhov?” Sholokhov tiếp với cùng cái giọng pha trò như vậy, “Sống như vậy, thưa đồng chí Stalin, thì phải uống mới được”. Không có lý do gì để phủ nhận chuyện này: nhà văn được đem tới Kremlin từ một nhà hàng ở Moscow nơi ông đang uống túy lúy với Fadeyev, người cũng thích say sưa. Stalin tha thứ cho cả hai người. Bí thư riêng của ông, Alexander Poskrebyshev, phản ứng gay gắt hơn nhiều trước sự xuất hiện của nhà văn say rượu tại Kremlin. “Say khướt phải không, đồ hề ngốc nghếch?” Trước khi Sholokhov ra gặp Stalin, vị bí thư dúi ông vào dưới vòi sen nóng, đưa ông cái sơmi sạch có cổ áo hồ trắng và rắc nước hoa cologne lên người để che bớt mùi vodka. |
Stalin, người nói chung không thích những hành vi gọi là vô đạo đức, đã bỏ qua nhiều hơn là chỉ mỗi chuyện Sholokhov uống rượu. Tại thời điểm cuộc trò chuyện này, ông biết – và ông biết rằng Yezhov cũng biết – rằng người vợ xinh đẹp ba mươi tư tuổi Yevgenia (“Zhenya”) Khayutina-Yezhova của ông trùm NKVD, đã là tình nhân của Sholokhov từ nhiều tháng nay.
Một tiểu thuyết gia táo bạo nhất hẳn đã do dự trước một tình tiết như vậy, nhưng thực tế của nó đã được xác nhận bởi các tài liệu mật được giải mật năm 2001. Được mệnh danh Chính ủy Thép bởi bạn bè và Thằng lùn khát máu bởi kẻ thù, Yezhov được đưa lên chịu trách nhiệm thực hiện Đại Khủng bố ở tuổi bốn mươi mốt, một chính sách được gọi là yezhovshchina. Ông được nhớ đến như một gã ác dâm và một con quái vật, nhưng Nadezhda Mandelstam và Lili Brik, người biết rõ cá nhân ông vào những thời “chay tịnh” hơn, lại nghĩ ông là người “khá dễ chịu”. * Ông cũng là người song tính luyến ái, và cuộc hôn nhân giữa ông với Yevgenia Khayutina, một phụ nữ độc lập, đầy sinh lực và đa tình (trong vô số tình nhân của bà này có cả nhà văn Babel) là khá cởi mở. * Người mai mối – không biết có cố ý hay không – cho mối quan hệ này là Fadeyev ở đâu cũng có mặt, khi Sholokhov tới Moscow đã đi cùng ông này đến thăm Khayutina tháng 8/1938. Cả ba ăn trưa tại Khách sạn Nasional, nơi Sholokhov trọ lại. Ngày hôm sau Khayutina quay lại gặp Sholokhov tại Nasional, nhưng đi một mình. Bản ghi tốc ký do công an mật thực hiện trong căn phòng bị gài bọ nghe lén của Sholokhov lưu lại không chỉ cuộc nói chuyện (“Chúng ta có một mối tình cam go, Zhenya”, “Em sợ”) mà còn cả tiếng động (“đi vào phòng tắm”, “hôn”, “nằm xuống”). *** * Lili Brik qua trò chuyện với tác giả; Nadezhda Mandelstam, Vospominaniia, tr. 342 ** Xem B. V. Sokolov, Narkomy strakha [Vị Dân ủy đáng sợ] (Moscow, 2001), tr. 107 *** Trích trong: Vitalii Shentalinskii, Donos na Sokrata [Tố giác ngài Socrates] (Moscow, 2001), tr. 422 |
Khayutina có lý do hợp lý để sợ hãi. Thật lạ là vợ của người đứng đầu công an mật lại không biết rằng các căn phòng trong khách sạn Nasional, một trong những khách sạn nhiều người đến nhất Moscow, có gài bọ. Dù sao đi nữa, bản tốc ký ngày hôm sau đã ở trên bàn làm việc của Yezhov; ông ta mang nó về nhà nghỉ ngoại ô ngay đêm đó và đập nó vào mặt vợ mình (có một người bạn nữ chứng kiến), nhưng không làm gì hơn. Vị dân ủy mới đây còn quyền hành vô song (Babel thường nói, “Chỉ cần nghe Yezhov gọi tên thôi là các thành viên Ủy ban Trung Ương cũng phát vãi đái”) đã bắt đầu cảm thấy đất dưới chân mình đang trượt dần đi.
Stalin có lẽ quyết định rằng Đại Khủng bố đã đạt được mục đích của nó và đã có thể giảm bớt áp lực. Đó là lý do tại sao ông tỏ ra đồng ý với sự phản đối đầy cảm động của Sholokhov đối với sự vô luật pháp của công an mật. Một nghị quyết đặc biệt của Hội đồng Dân ủy và Ủy ban Trung Ương ra đời ngày 17/11/1938, “Về việc bắt giữ, ủy quyền giám sát và thủ tục điều tra”, đọc lên nghe như một câu trả lời trực tiếp cho than phiền của Sholokhov: “Các chiến dịch tập thể để tiêu diệt và loại trừ tận gốc rễ những phần từ thù nghịch do các cơ quan của NKVD thực hiện năm 1937-1938, với quá trình điều tra và xét xử quá đơn giản, đã không thể tránh khỏi dẫn tới một số sai sót và lệch lạc cơ bản trong công tác của các cơ quan của NKVD và Văn phòng Ủy viên công tố”. Giờ đây Stalin đem Yezhov ra làm vật tế thần. Khayutina uống một liều thuốc ngủ chết người ngày 21/11/1938, và hai ngày sau Yezhov đưa Stalin đơn từ chức thủ trưởng NKVD. Khi Thằng lùn khát máu bị bắt sáu tuần sau đó, ông bị kết tội là “mưu phản và có quan hệ gián điệp” với Ba Lan, Đức, Anh và Nhật, nhưng còn gồm cả tội đầu độc vợ mình: các nhân viên điều tra dệt ra một giả thuyết rằng Yezhov, Khayutina và tình nhân của bà Babel đã lên kế hoạch ám sát Stalin và rằng Yezhov giết vợ để xóa dấu vết của âm mưu này. Yezhov bị hành quyết ngày 4/2/1940, tám ngày sau Babel và hai ngày sau khi hành quyết một tình nhân khác của Khayutina, Koltsov. Người tình thứ ba của bà, Sholokhov, có một số phận khác đang chờ đợi: chỉ nhỉnh hơn một năm sau, ông trở thành người đoạt Giải thưởng Stalin – không chỉ vì là một nhà văn (vì có hai bộ tiểu thuyết đồng thời) mà cũng vì là một nhân vật công chúng trong vai trò truyền thống của văn hóa Nga như “người bảo vệ nhân dân” (Stalin đã bảo ông, “Những bức thư của anh không phải văn học, chúng là thuần túy chính trị”), và thậm chí còn vì có cá tính đặc sắc. |
Nếu Sholokhov đang đu dây trong quan hệ của mình với Stalin, thì Sergei Eisenstein, người đoạt Giải Stalin vì bộ phim nổi tiếng năm 1938 của ông Alexander Nevsky, cũng vậy.
Eisenstein người tầm vóc và tròn trịa (một số người mô tả ông như không có xương), cặp chân chắc mập, mái tóc mỏng xòe quanh khoanh đầu hói, cùng một nụ cười mỉa mai thường trực trên môi. Thoạt nhìn ban đầu ông tạo ra ấn tượng là người thoải mái, nhưng nghĩ thế thật sai lầm: Eisenstein có tư tưởng tình dục mâu thuẫn vốn là một người hay dày vò đau khổ từ tuổi thanh niên với mối quan tâm tới ác dâm và tra tấn, cũng là một người “bất bình thường” (theo lời bạn ông, nhà làm phim Mikhail Romm) có sở thích “vẽ tranh khiêu dâm trước mặt phụ nữ”. * Nhưng Eisenstein, bị bệnh tim, có một cuộc sống điều độ kỷ luật khác thường và không hề uống rượu hút thuốc; thói xấu duy nhất của ông được biết tới là ham thích đồ ngọt rất trẻ con. Alexander Nevsky là một tác phẩm sáng chói về hình thức nhưng lạnh lẽo. Thực hiện theo đề nghị của cá nhân Stalin, nó phải hoàn tất càng sớm càng tốt, bởi vậy cảnh trung tâm của trận đánh giữa vị Công tước thế kỷ mười ba Alexander Nevsky và các hiệp sĩ Teutonic trên mặt hồ Peipus đóng băng phải được quay vào mùa hè, tại khu hậu cảnh của Mosfilm, mặt nhựa đường được phủ một lớp dày thủy tinh lỏng và rắc đá phấn vụn để tạo cảnh mùa đông. Trên phong cảnh đó Eisenstein tung hứng bộ phim như thể nó là một ván cờ nhỏ với giới hạn yêu cầu của Stalin, lặp theo lời của Alexander Nevsky: “Kẻ nào đến gặp chúng ta với thanh kiếm, hắn sẽ chết vì kiếm, đó là tôn chỉ của đất Nga này”. (Eisenstein dự định kết thúc phim với cảnh cái chết của Nevsky khi ông từ chỗ Kim Trướng trở về, nhưng Stalin không đồng ý: “Một vị công tước tốt như vậy không thể chết”). * Mikhail Romm, Kak v kino. Ustnye rasskazy [Sở thích trong điện ảnh. Những câu chuyện kể miệng] (Nizhny Novgorod, 2003), tr. 136 |
Bộ phim về cơ bản diễn đạt được những gì trong câu khẩu hiệu cuối phim, nhưng năm 1939 khi Stalin ký hiệp ước không xâm phạm với Hitler và bọn Quốc xã trở thành “bọn bạn hữu đáng nguyền rủa”, Nevsky biến mất khỏi màn ảnh. Điều này khiến chuyện Eisenstein và cả Nikolai Cherkasov, người đóng vai Nevsky trong phim, cùng hai thành viên đoàn làm phim được nhận giải thưởng vì bộ phim vào tháng 3/1941, khi hiệp ước trên vẫn chính thức có hiệu lực, trở nên hết sức có ý nghĩa.
Thật thú vị, tại một buổi chiếu riêng phim Alexander Nevsky ở Moscow cho các vị khách đến từ Mỹ - nhà văn Erskine Caldwell và nhiếp ảnh gia Margaret Bourke-White – vào giữa tháng Sáu, một tuần trước khi bọn Quốc xã xâm lược Liên bang Xô viết, Eisenstein tự tin tiên đoán rằng bộ phim sẽ sớm được chiếu rộng rãi trở lại. Trực giác chính trị của nhà đạo diễn thật rất đúng điệu. Nhưng có lẽ không phải với Stalin, bởi cuộc tấn công của bọn tân-Teutonic, được báo trước đầy sinh động trong bộ phim của Eisenstein, đã nổ ra hoàn toàn bất ngờ trong thực tế. Hậu quả việc tính nhầm của Stalin thật tai họa: quân đội Đức đã tấn công ngày 22/6/1941, tràn vào Liên Xô và đến được Moscow vào tháng Mười năm đó. Cùng với phần còn lại của đất nước, những công nhân của “mặt trận văn hóa” bị động viên ra trận chống quân thù, thông qua cách ấy chứng tỏ sự hữu ích của họ đối với Tổ quốc. Bản thánh ca ái quốc Sergei Prokofiev viết cho Alexander Nevsky được đánh lên ở khắp nơi: “Vùng lên, hỡi nhân dân Nga, vì trận chiến vinh quang, trận chiến chết chóc!” Bản thân nhà soạn nhạc cũng thích bài thánh ca, và thế là công bằng. Nhưng năm 1941, Stalin đã không công nhận giải thưởng cho tác phẩm của Prokofiev. Vào thời điểm đó (và cả ngày nay) chuyện này trông như một trừng phạt vì lý do gì đó, đặc biệt khi người cạnh tranh chính của Prokofiev, Shostakovich (trẻ hơn mười lăm tuổi), không chỉ được nhận Giải thưởng Stalin cho bản Ngũ tấu piano sáng tác năm 1940 mà ảnh của ông còn được in lên đầu, rõ ràng không theo thứ tự bảng chữ cái, trong loạt ảnh sáu người đoạn giải “quan trọng” trên trang bìa tờ Pravda. |
Câu chuyện về giải thưởng của Shostakovich thật rắc rối. Chúng ta nhớ rằng năm 1936 nhà soạn nhạc trẻ và vở opera của ông Quý bà Macbeth tỉnh Mtensk đã bị đem làm vật tế thần chủ yếu trong chiến dịch chống chủ nghĩa hình thức của Stalin, vốn dự tính nhằm xác định phạm vi giới hạn của nền nghệ thuật Xô viết. Thực chất, Stalin đã thanh lọc tác phẩm của Shostakovich khỏi ranh giới của chủ nghĩa hiện thực xã hội. Nhưng vào cuối năm 1937, nhà soạn nhạc đã được phục hồi lại qua bản Giao hưởng số 5 của mình.
Bản Giao hưởng số 5 có thể mô tả là một bản giao hưởng-tiểu thuyết (cũng như Alexander Nevsky có thể mô tả là một phim-opera). Một so sánh với Sông Đông êm đềm ở đây có vẻ là thích hợp. Cả hai tác phẩm đều có mâu thuẫn tư tưởng sâu sắc và tại những thời điểm khác nhau đã được xem là tác phẩm Xô viết hoặc chống Xô viết. Chính bản chất âm nhạc giao hưởng cho phép ta những cách hiểu hết sức khác nhau. Tác phẩm quan trọng này của Shostakovich là một cái bình thần kỳ: mỗi người nghe đổ đầy vào nó tưởng tượng của mình theo như anh ta muốn. Đó là lý do tại sao Giao hưởng số 5 với nhiều người sẽ là sự phản xạ vỡ nát nhất về Đại Khủng bố, trong khi Sông Đông êm đềm sẽ tranh đua với Bác sĩ Zhivago của Pasternak là mô tả sinh động nhất về nước Nga trong Thế Chiến thứ I và Nội chiến. Lạ lùng thay, trong khi trao giải cho Sholokhov vì Sông Đông êm đềm, Stalin lại chọn ra trong các tác phẩm của Shostakovich không phải bản Giao hưởng số 5 mà ông hiển nhiên đã bằng lòng, mà là bản Ngũ tấu piano, vốn không phù hợp chút nào thậm chí với biên độ khá rộng các tác phẩm hiện thực xã hội (từ Sông Đông êm đềm cho tới Alexander Nevsky, với các sáng tác của Mukhina và Gerasimov nằm ở giữa) mà ông giới thiệu là những “hình mẫu”. Nhạc giao hưởng, trong khi trong thứ bậc loại hình chính thức không được xếp cao như thể loại opera được Stalin yêu thích và không thuộc loại được chấp thuận đưa vào chương trình âm nhạc, vẫn là những tác phẩm sử thi, mà vì là một người yêu thích truyền thống cổ điển Nga nên Stalin vẫn ưa thích. Thay vào đó, bản Ngũ tấu piano là một tác phẩm thính phòng tinh tế theo phong cách tân cổ điển, với một cái gật đầu rõ ràng về phía truyền thống phương Tây mà hiện thời như chúng ta biết, đã được chỉ ra cho Stalin bởi những kẻ gièm pha Shostakovich trong số các quan chức âm nhạc Xô viết. * Trong văn học, một tác phẩm tương tự với bản Ngũ tấu piano của Shostakovich chỉ có thể là bài thơ mới của Khodasevich hay một truyện ngắn của Nabokov, còn trong nghệ thuật – là một bức vẽ của Tatlin. Không thứ gì thuộc loại này có thể được ca ngợi trên trang bìa của tờ Pravda – cả khi ấy lẫn sau này. Vậy điều gì đã thu hút Stalin trong bản Ngũ tấu? Giá trị “công dân” và chính trị của nó hẳn có vẻ là con số không đối với ông vào thời điểm ấy. Chẳng lẽ ông bị quyến rũ bởi bề sâu tinh thần gò bó mang tính tân-Bach của nó, và kỹ thuật điêu luyện không chê vào đâu được của nó? Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán. Nhưng chúng ta có thể cho rằng Stalin đã không hối tiếc với sự nâng đỡ hào phóng của mình cho Shostakovich khi ông được thông báo rằng vào cuối năm 1941, nhà soạn nhạc đã hoàn tất bản Giao hưởng số 7 viết cho Leningrad, lúc này đang trong vòng vây của bọn Quốc xã. Số phận của bản nhạc này chưa hề có tiền lệ. Vội vã được biểu diễn tháng 3/1942 (ban đầu ở Kuibyshev và sau đó là Moscow, có nhà soạn nhạc tham dự ở cả hai buổi công diễn, sau khi ông được đưa khỏi vòng phong tỏa quanh Leningrad trên một máy bay đặc biệt theo lệnh của Stalin), bản Giao hưởng số 7 đáp ứng ngay lấy tình hình chính trị, điều mà trong lịch sử âm nhạc giao hưởng chưa bao giờ từng xảy ra. * Xem Istochnik, 5 (1995), tr. 156-158 |
Giống như Giao hưởng số 5, bản giao hưởng-tiểu thuyết này có ngữ nghĩa rất nước đôi. Phần kết mạnh mẽ của Giao hưởng số 5 có thể hiểu là một hoạt cảnh thẳng thắn của niềm vui quần chúng hay như một cố gắng mô tả đầy mỉa mai vẻ hoan hỉ cưỡng ép và lòng nhiệt tình “vui như hội” bắt buộc phải có (dùng từ theo ý của Bakhtin) điển hình của thời đại Stalin. Phần thứ nhất của Giao hưởng số 7 cũng cho ta cơ hội có những cách hiểu trái ngược như vậy: phải chăng hành khúc dạo đầu dữ dội với mười một biến tấu, biểu diễn với độ mạnh dần không hề lay chuyển, nghe như thác đổ (“khúc xâm lược”), là một mô tả về cuộc tấn công của bọn Quốc xã vào Liên bang Xô viết như lời báo chí thế giới tức khắc tuyên bố, hay đó là một phản chiếu về sự bành trướng âm thầm của bộ máy đàn áp thời Stalin, như lời bản thân nhà soạn nhạc đã ám chỉ đến trong một cuộc trò chuyện với các bạn thân? *
Bản chất đa nghĩa của bản Giao hưởng số 7 được làm mạnh thêm bởi mô típ tôn giáo nằm trong phần ẩn nghĩa: ban đầu Shostakovich (bị ảnh hưởng bởi bản Giao hưởng Thánh ca [Symphonie des Psaumes] của Stravinsky mà ông khâm phục hết sức nồng nhiệt đến nỗi khi ông bay khỏi Leningrad, bản phối piano ông làm cho tác phẩm vĩ đại này là một trong số ít ỏi đồ đạc ông cầm theo người) còn dự định sử dụng một dàn hợp xướng để ngâm lên những trích đoạn trong Thánh ca của David. Thính giả Nga cực kỳ nhạy cảm với những bội âm tôn giáo kiểu đó và họ khóc trong mỗi buổi diễn tại Liên Xô: trong những năm tháng chiến tranh khó khăn âm nhạc của Shostakovich tạo một tác động thanh tẩy, và phòng hòa nhạc thay thế cho nhà thờ, vốn bị bài trừ khỏi đời sống xã hội. Một sự kiện mang tính tượng trưng quan trọng, đã đẩy mạnh sự biến đổi của giao hưởng thành một tác phẩm cận-tôn giáo, là buổi trình diễn nó tại Leningrad. Buổi trình diễn này được tổ chức theo lệnh của Stalin và đạt được hiệu quả to lớn như một chiến dịch quân sự thực thụ, diễn ra ngày 9/8/1942 bởi những nhạc công đói khát của Leningrad, đến lúc đó đã được xem là một thành phố liệt sĩ anh hùng. Với phương Tây dân chủ, vốn vì mục tiêu chiến thắng Hitler đã từ bỏ các thành kiến bài Bolshevik của mình khi bước vào chung một khối đồng minh “không thánh thiêng” với Stalin, vai trò chính trị của Giao hưởng số 7 được đánh giá cao sau lần phát thanh quốc gia buổi công diễn trên radio của nó tại New York ngày 19/7/1942, chỉ huy dàn nhạc là Arturo Toscanini; hàng trăm buổi biểu diễn tại Bắc Mỹ đã nối tiếp sau đó, và sau khi ảnh của ông xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time, Shostakovich, ba mươi sáu tuổi, đã trở thành nhà soạn nhạc “nghiêm túc” đương đại nổi tiếng nhất tại Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ và tại Liên bang Xô viết. Bản Giao hưởng số 7 là tác phẩm thứ hai của Shostakovich được nhận Giải thưởng Stalin và một lần nữa là hạng nhất. Đó là ngày 11/4/1942, nhỉnh hơn một tháng sau buổi công diễn đầu của nó, một sự vội vàng chưa hề có tiền lệ trong lịch sử Giải thưởng Stalin. Tất nhiên, tình thế địa chính trị khi ấy cũng rất đặc biệt. Trước đấy là trận đánh bảo vệ Moscow, còn phía trước là trận Stalingrad mang tính quyết định. Washington tuyên bố rằng binh lính Đồng minh đang chuẩn bị mở một mặt trận thứ hai tại Châu Âu chống Hitler. Stalin ít tin tưởng rằng những hứa hẹn ấy sẽ sớm thành hiện thực. Nhưng ông quan tâm tới mọi cây cầu văn hóa nối kết hai phía vốn xa cách về xã hội và chính trị lại gần nhau hơn. Bản Giao hưởng số 7 của Shostakovich là một cơ hội như vậy. Đó là lý do tại sao có lẽ Shostakovich là nhà soạn nhạc sáng giá nhất của Stalin vào thời điểm ấy. Nhưng chúng ta không thể trách Shostakovich vì điều này. Đó là cách mà các quân bài chính trị được chơi khi ấy. * Xem Znamia, 12 (1996), tr. 164 Hết chương 7 |
Chương mười
Trước đám tang của Stalin diễn ra tại Moscow ngày 9/3/1953, thi hài ông được quàn tại Sảnh Đa trụ của Tòa nhà Liên Hiệp. Suốt nhiều ngày trời, những dàn nhạc và nghệ sĩ độc diễn Xô viết xuất sắc nhất thay phiên nhau trình diễn trước công chúng. Các nhạc công bao gồm David Oistrakh, nghệ sĩ violông, và Sviatoslav Richter – nghệ sĩ piano được đưa bằng một chuyến bay đặc biệt từ Tbilisi tới, trên đó ông là hành khách duy nhất, chỗ còn lại trong máy bay chất đầy hoa tươi gửi đến thủ đô phục vụ đám tang. Richter sau này khăng khăng rằng mặc dù vậy mình luôn ghét Stalin. Không có lý do gì để nghi ngờ ông: cha của ông, một người Nga gốc Đức, đã bị xử bắn tháng 6/1941 vì tội làm gián điệp Quốc xã. Năm 1941, thầy dạy của ông là Genrikh Neihaus (ông này còn có một học trò khác là Emil Gilels) bị bắt vì chống Xô viết và “thủ bại” (cũng là người gốc Đức) bị giam gần chín tháng trong biệt khám ở Nhà tù Lubyanka đầy tai tiếng. Nhưng đến năm 1950, Richter ba mươi lăm tuổi vẫn được nhận Giải thưởng Stalin giống như những người thắng giải khác – Oistrakh (nhận năm 1943), Gilels (1946), nhạc trưởng Yevgeny Mravinsky (1946) và tay cello hai mươi tư tuổi Mstislav Rostropovich (1951). Giải thưởng trao cho những nghệ sĩ ấy, phản ánh niềm tin của Stalin xem âm nhạc cổ điển là một công cụ tuyên truyền hiệu quả, đã biểu tượng hóa tầm quan trọng của những nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trong nền văn hóa Xô viết chính thức. Theo quan điểm của Stalin, tác phẩm của những nhà soạn nhạc cổ điển qua thể hiện của các nhạc sĩ tài năng ấy đã được huy động để phục vụ cho hệ tư tưởng Mác-xít, và những người trình diễn được biến thành các đại diện lý tưởng cho phe xã hội chủ nghĩa: họ sở hữu những kỹ thuật âm nhạc cao cấp (song song với chính sách công nghiệp hóa Liên Xô của Stalin), rất lạc quan và có trách nhiệm công dân (theo như mô tả về họ trên truyền thông đại chúng), vui vẻ lên đường theo hiệu lệnh và theo lời kêu gọi của Đảng và chính quyền tới những ngóc ngách xa xôi nhất ở Trung Á, Viễn Đông hay Siberia để chơi cho đám đông công nông đang khao khát văn hóa cao cấp (như lời truyền thông đại chúng lớn tiếng). |
Bức tranh thực tế lại rất khác. Đúng, nhà nước có cho những nhạc sĩ giỏi nhất của mình các ưu đãi đáng kể, nhưng xem họ không gì hơn là những nô lệ được trọng vọng, bị buộc phải phục vụ trong mọi dịp chính thức, bất kể đó là buổi biểu diễn tại một trụ sở bầu cử địa phương, một bữa nghỉ ăn trưa ở nhà máy (biểu diễn trên các khoang nhạc giao hưởng, giống như những ngôi làng Potemkin di động, đặc biệt bất tiện cho các nhạc công và đám khán giả bắt buộc gồm những người lao động đã mệt rã rời), trước và sau những bài diễn văn chính trị khác nhau, hay tại các đám tang như của Stalin, nơi Richter và Oistrakh cùng các nhạc sĩ khác không được phép rời khỏi Sảnh Đa trụ suốt nhiều ngày đêm liền và chỉ sống bằng đồ ăn khô.
Trong khi các nhạc sĩ bị khóa nhốt tại Sảnh Đa trụ, giữa giờ nghỉ họ quan sát dòng người Moscow không ngớt đến để tỏ lòng tôn kính lần cuối với vị lãnh tụ, sự kiện đẫm máu cuối cùng trong thời đại Stalin đã diễn ra ngoài phố. Hàng ngàn người cố gắng len lỏi để tới bên quan tài. Nhà thơ trẻ Yevgeny Yevtushenko có mặt trong đám đông ấy và sau này nhớ lại, “Đó thật là một cảnh khủng khiếp quái đản. Những ai ùa vào dòng người ấy từ phía sau cứ liên tục dồn đẩy, lấn ép. Đám đông biến thành một xoáy nước đáng sợ”. * Thảm họa xảy ra ở Moscow năm mươi bảy năm trước nay được lặp lại. Năm 1896, trong lễ lên ngôi của vị Sa hoàng Nga cuối cùng Nikolai II, hàng ngàn người đã bị dẫm đạp tới chết trong đám đông. Sự khác nhau là lần này tai họa không phải xảy ra ở cánh đồng Khodynka ngoại ô, mà ngay giữa trung tâm Moscow, tuy vậy thảm họa này mau chóng chìm vào im lặng hoàn toàn. Nhưng có một số nhân chứng đã cảm nhận một cách nghịch lý rằng “thậm chí trong cơn cuộn dâng kinh khủng và bi thảm ấy của người Moscow, vẫn có một cảm xúc mạnh mẽ nào đấy về sự tự do mới nảy sinh”. ** * Yevgeny Yevtushenko, Volchii pasport [Hộ chiếu chó sói] (Moscow, 1998), tr. 81 ** Armen Medvedev, Territoriia kino [Địa hạt của điện ảnh] (Moscow, 2001), tr. 41 |
Yevtushenko cũng khẳng định rằng vào thời điểm đó ông “lần đầu tiên đã nghĩ về con người mà chúng tôi đang chôn cất với lòng căm hận”. Đó ắt hẳn là một biến đổi địa chấn với nhà thơ, người mới một năm trước thôi trong tập thơ đầu tay của mình, Người tiên phong của Tương lai, đã gọi Stalin là “người bạn tốt nhất thế giới của tôi”, và đã đáp lại chiến dịch bài Do Thái chống đám “bác sĩ sát nhân” năm 1953 theo cách sau: “Không một ai trong những kẻ sát nhân kia bị bỏ sót. Chúng sẽ không thể thoát mà không phải trả giá. Gorky chắc cũng đã bị giết bởi những kẻ mà, theo tôi nghĩ, cùng một giuộc thế này”. *
(Năm 1989, một Yevtushenko khôn ngoan hơn đã đưa tình tiết rắc rối ấy vào bộ phim thời perestroika của ông, Đám tang Stalin, thêm vào một lời khuyên kiểu đại chúng mà bản thân ông hiếm khi làm theo: “Hãy để các nhà thơ tương lai cẩn trọng hơn khi họ bắt tay vào viết ‘thơ công dân’.”) * Yevtushenko, Volchii pasport, tr. 435 |
Sự kiện thúc đẩy dẫn tới thay đổi trong tâm trí của giới trí thức thủ đô thường được công nhận là Liên hoan Thanh niên và Sinh viên Quốc tế Moscow năm 1957 (mà nghệ sĩ piano Maria Yudina đặt tên là “sự trật bánh tập thể”) và cuộc Triển lãm nước Mỹ đầy thành công và gây xúc động mạnh tại Sokolniki năm 1958. Nhưng có lý do để cho rằng vết nứt tư tưởng trong xã hội Xô viết thời hậu chiến, vốn có vẻ khá vững chắc trong mắt phần lớn những nhà quan sát phương Tây, đã xuất hiện từ sớm hơn, đâu đó khoảng cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Stalin sử dụng quá trình tẩy não liên tục của mình để cố gắng vá víu những lỗ hổng ấy xuất hiện trong không gian tư tưởng Xô viết sau Thế Chiến thứ II và do binh lính Hồng quân từ Châu Âu trở về. Trong phạm vi quần chúng Xô viết, Stalin đã khá thành công, nhưng con virus phương Tây đã ẩn nấp chứ không chết hẳn, tại khắp nơi của chính phần chóp của xã hội Xô viết.
Nhà văn Vassily Aksyonov đã mô tả về buổi tiệc thanh niên năm 1952 tại nhà của một nhà ngoại giao Xô viết cao cấp mà ông, chàng sinh viên tỉnh lẻ mười chín tuổi, đã may mắn được tham gia. Chiếc máy hát hiệu Victrola của Mỹ chơi những đĩa nhạc jazz của Louis Amstrong, Woody Herman và Nat King Cole. Đám stilyagi thanh niên (như cách gọi của các bài báo hằn học về những kẻ hâm mộ cuồng say thời trang và văn hóa pop của Mỹ; họ tự gọi bản thân là shtatniki – người chính quyền, lấy từ shtaty tức là “chính quyền”) mặc áo khoác hợp thời trang may tại phương Tây với hai bên vai độn cao, đi quần ống túm màu đen và giày đế cao, húp rượu whiskey và hút thuốc lá Camel *. Cô con gái ông xếp KGB cỡ bự nhảy cùng với Aksyonov và khiếp ông lập tức choáng váng: “Tôi ghét Liên bang Xô viết và yêu Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ!” Aksyonov quan sát thấy, “Đám stilyagi có thể được gọi là những người bất đồng quan điểm đầu tiên ở Liên Xô”. ** * Có thể xem thêm trong bộ phim ca nhạc Stilyagi của đạo diễn Valery Todorovsky (2008). - ND http://www.sharereactor.ru/movies/9976 ** Vassily Aksyonov, V poiskakh grustnogo bebi [Tìm kiếm đứa bé u sầu] (New York, 1987), tr. 20 |
Những thứ xa xỉ như thuốc lá Mỹ, rượu whiskey và đĩa hát ở Liên Xô thời hậu chiến chỉ có trong giới thượng lưu siêu cấp. Nhưng thậm chí trong thời kỳ tự cô lập chặt chẽ đó, khi trong câu nói đáng nhớ của Churchill một bức màn sắt đã sập xuống dọc biên giới Châu Âu, chia ra phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và Mỹ, văn hóa Mỹ cũng vẫn tìm cách thâm nhập được vào quần chúng Xô viết. Lạ nhất là, các can thiệp văn hóa như thế từ Mỹ xuất phát từ việc Stalin bắt đầu cho phép trình chiếu đại chúng những bộ phim phương Tây từ “quỹ chiến lợi phẩm”, tức là những bộ phim tịch thu được trong thời chiến hay là quà tặng của phe Đồng minh.
Điều này nhằm mục đích kiếm tiền và cũng để giải trí cho người dân: sau chiến tranh sản lượng phim trong nước giảm mạnh – mười bảy phim được làm năm 1948 và chỉ có năm phim trong năm 1952. Bởi thế, nhờ được Stalin cho phép, khán giả Xô viết đã có thể xem, ngoài những bộ phim khác, phim Stagecoach [Chuyến xe trạm] của John Ford (đổi tên thành Chuyến đi sẽ rất nguy hiểm) và bộ phim The Best Years of Our Life của William Wyler dưới cái tên Số phận người lính ở nước Mỹ. Một nghị quyết đặc biệt của Bộ Chính trị kêu gọi có những “chỉnh sửa biên tập cần thiết” đối với mỗi phim như vậy và thêm vào các phụ đề giới thiệu và bình luận với nội dung chống Mỹ. Thật ngạc nhiên là Stalin đã thực hiện bước này. Ông biết rõ hơn ai hết về giá trị tuyên truyền của phim ảnh. Trở lại năm 1928, ông từng nói về chuyện này trong một cuộc trao đổi với Eisenstein: “Ở nước ngoài có rất ít sách với nội dung về chủ nghĩa cộng sản. Sách của chúng ta gần như không được đọc ở đấy, bởi người ta không biết tiếng Nga. Nhưng điện ảnh Xô viết thì được mọi người quan tâm theo dõi và họ hiểu tất cả”. * * G. V. Aleksandrov, Epokha i kino [Thời đại và phim ảnh] (Moscow, 1976), tr. 107 |
Stalin luôn để tâm tới ảnh hưởng của các bộ phim của Eisenstein, Vsevolod Pudovkin, Alexander Dovzhenko và Dziga Vertov lên giới trí thức tiến bộ phương Tây – đó là lý do ông tôn trọng những nhà đạo diễn này. Vậy tại sao ông không xem xét tới hậu quả có thể của việc trình chiếu “những phim chiến lợi phẩm” tại Liên Xô? Có lẽ ông đã đánh giá quá cao hiệu quả thanh tẩy của kiểm duyệt Xô viết. Hậu quả đưa tới là rất đáng kể.
Joseph Brodsky mô tả ảnh hưởng tự do của phim ảnh Mỹ như sau: “Chúng được chiếu cho chúng tôi như những câu chuyện giải trí, nhưng chúng tôi lại tiếp nhận chúng như một bài thuyết giảng về chủ nghĩa cá nhân”. * Aksyonov xác nhận chuyện này: “Với chúng tôi nó là cái cửa sổ trong căn buồng lụp xụp nặng mùi của Stalin để mở ra thế giới bên ngoài”. ** Tôi biết có những người đã xem đi xem lại phim The Roaring Twenties *** đến ba mươi lần hoặc nhiều hơn thế, hau háu ghi nhớ đến từng chi tiết về lối sống Mỹ: quần áo, kiểu tóc, phong thái. Được nhiều người thích thú nhất là loạt bốn phim Tarzan đầu thập niên 1950; ý kiến ngược đời của Brodsky cho rằng chúng đã khuyến khích việc tẩy chay chủ nghĩa Stalin còn mạnh hơn bài diễn văn chống Stalin sau này của Khrushchev tại Đại hội Đảng lần thứ XX hay thậm chí hơn cả việc xuất bản cuốn Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich của Solzhenitsyn. “Đó là bộ phim đầu tiên mà trong đó chúng ta được xem về đời sống tự nhiên. Và cả để tóc dài”. **** Những nổi loạn xảy ra trên khắp Liên bang Xô viết đòi để tóc dài cho giống Tarzan và tiếng hú nổi tiếng của anh ta được nghe thấy từ các khoảng sân sau hay thậm chí giữa hành lang trường học. Những giáo viên, tuân theo lệnh trên, cố gắng dập tắt chuyện này cùng những trò nhiệt tình khác theo “thời trang Mỹ” bằng mọi phương pháp trong tay, bao gồm cả đuổi học, vốn có thể hủy hoại vĩnh viễn cuộc đời của một cá nhân. Cùng với chiến dịch truyền thông chống lại bọn stilyagi (bọn họ bị lên án trên phim ảnh, đài phát thanh và báo chí, bị chế giễu trong những biếm họa trên tạp chí châm biếm), điều này tạo ra căng thẳng trong giới trẻ. * Sochineniia Iosifa Brodskogo [Những tác phẩm của Joseph Brodsky], tập 6 (Moscow, 2000), tr. 16 ** Aksyonov, V poiskakh grustnogo bebi, tr. 20 *** Bộ phim The Roaring Twenties [Thời đại năng động] (1939) nội dung kể về ba người bạn thân là cựu chiến binh Thế Chiến thứ I giải ngũ về New York, hai người cùng đi buôn rượu lậu còn người thứ ba làm công tố viên kiên quyết quét sạch nạn buôn rượu bất hợp pháp. Cụm từ Roaring Twenties dùng để ám chỉ thời kỳ phát triển năng động mọi mặt xã hội, nghệ thuật, văn hóa trong thập niên 1920, đặc biệt là tại nước Mỹ, cũng còn có thể hiểu là tinh thần hướng tới hiện đại hóa, quay lưng với những truyền thống cũ kỹ. - ND **** Joseph Brodsky qua trò chuyện với tác giả |
Liệu việc Stalin tính toán sai lầm về phim ảnh phương Tây có thể được giải thích phần nào bởi khao khát của nhà độc tài muốn chuẩn bị cho nhân dân Liên Xô sẵn sàng trước cuộc chiến quyết định với người Mỹ? Điện ảnh hẳn sẽ phục vụ như một thuốc chủng ngừa chống lại “căn bệnh lây nhiễm” phương Tây. Ở chốn riêng tư, Stalin nói rất thẳng thắn: “Tuyên truyền của chúng ta thực hiện rất kém, là thứ cháo hổ lốn chứ không phải tuyên truyền… Người Mỹ bắt bẻ chủ nghĩa Mácxít, nói xấu chúng ta, tìm cách lật tẩy chúng ta… Chúng ta cần phải vạch trần bọn chúng. Chúng ta cần phải làm cho nhân dân quen với hệ tư tưởng của kẻ thù, phê bình hệ tư tưởng đó, và điều này sẽ vũ trang cho lực lượng nòng cốt của chúng ta”. *
Cố gắng siết chặt các đinh ốc một lần nữa, Stalin khai mào một chiến dịch văn hóa bài ngoại. Nhưng đồng thời, ông hiểu rằng Liên bang Xô viết giờ đây đang phải đấu tranh với Hoa Kỳ trên đấu trường văn hóa quốc tế: “Chúng ta giờ đây đang giải quyết không chỉ với chính sách trong nước mà cả chính sách với thế giới. Người Mỹ muốn lôi mọi thứ lệ thuộc vào họ. Nhưng người Mỹ không được tôn trọng ở bất cứ thủ đô nào. Chúng ta cần phải mở rộng thế giới quan cho nhân dân ta trên tờ Pravda và các tạp chí Đảng, chúng ta cần có một chân trời rộng mở hơn, chúng ta là một sức mạnh tầm cỡ thế giới”. ** * Dmitrii Shepilov, Neprimknuvshii [Những người không liên kết] (Moscow, 2001), tr. 232-234 ** Như trên |
Những người Cộng sản luôn luôn dựa rất nhiều vào tuyên truyền tư tưởng quốc tế. Vai trò của Quốc tế Cộng sản (Komintern), thành lập theo đề xướng của Lenin năm 1919, và phái viên văn hóa của nó tại Châu Âu và Hoa Kỳ, Willy Münzenberg, ngày nay được nhiều người biết tới. Chính Münzenberg là người đã sử dụng mạng lưới quốc tế các câu lạc bộ thích phim Xô viết của mình để quảng bá Chiến hạm Potemkin và những bộ phim cách mạng khác tại phương Tây. Stalin sử dụng những cải tiến kỹ thuật cho các mục tiêu này: năm 1929 theo lệnh của ông, Đài phát thanh Quốc tế Moscow được thành lập, là cơ quan truyền thông quốc gia đầu tiên thuộc loại này trên thế giới, qua thời gian đã trở thành một trung tâm tuyên truyền đầy sức mạnh.
Người Mỹ có một ác cảm truyền thống đối với việc sử dụng tuyên truyền hải ngoại do chính phủ đài thọ, mặc dù trong Thế Chiến thứ I, Tổng thống Woodrow Wilson đã thành lập Ủy ban Thông tin Công chúng. Kinh nghiệm này về sau được sử dụng để tổ chức đài VOA [Tiếng nói nước Mỹ] sau khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Khi chiến tranh kết thúc, một số thượng nghị sĩ đã đặt câu hỏi tại sao người nộp thuế Mỹ lại phải tiếp tục trả tiền cho một đài phát thanh quốc tế. Những nghi ngờ này biến mất cùng với khởi đầu Chiến Tranh Lạnh. Ngày 6/5/1948, John Foster Dulles đã thổ lộ cảm xúc của giới thượng lưu chính trị Mỹ khi phải đối mặt với việc mở rộng ra thế giới của ý thức hệ Cộng sản: “Lần đầu tiên kể từ khi có mối đe dọa Hồi giáo một ngàn năm trước, nền văn minh phương Tây mới lại lâm vào thế thủ”. * Hai năm sau, Tổng thống Harry Truman đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khía cạnh tuyên truyền trong việc đứng vững trước Liên bang Xô viết: “Trên hết tất cả, đây là một cuộc chiến giành lấy tâm trí con người. Tuyên truyền là một trong những thứ vũ khí mạnh mẽ nhất mà phe Cộng sản có được trong cuộc đấu tranh này”. ** * Arch Puddington, Broadcasting Freedom: The Cold War Triumph of Radio Free Europe and Radio Liberty (Lexington, KY, 2000), tr. 9 ** Như trên |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 05:05. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.