![]() |
Trích:
Dưng mà em đang tự hỏi, sao Tôn Ngộ Không chẳng chịu lôi thầy Tam Tạng ra đề cử sau cùng cho chắc thắng? Là vì em chưa thấy cái mặt nạ Đường Tăng nào trên đời, tức là chưa có ai mua... Thầy Đường Tăng từng kỷ luật TNK rất nhiều, nhưng kỷ bao nhiêu lần thì bấy nhiêu bận lén sai lão Trư đi mời về, hoặc biết Ngộ Không thông minh nên cũng sẽ tự quay về ! Rất cám ơn bác ! |
Trích:
Lại nói đên số phận các mặt nạ đã bị bán. Sau khi hô quân đi mua hết mặt nạ từ bi, mụ Tư Béo bèn cho lâu la lảng vảng quanh các trụ sở cơ quan Nhà nước. Thấy chỗ nào có vị sắp ngoi lên làm sếp, mụ bắn tin bán mặt nạ từ bi, đeo không có tác dụng không lấy tiền. Không ngờ mụ trúng lớn, vì các vị này mua ngay với giá cao, không thèm cò kè lấy một xu. Sau khi bán veo hết hàng, mụ liền mở xưởng sản xuất mặt nạ, mời nghệ nhân Vọng chủ cửa hàng Vong Mask trên phố Hàng Bông làm cố vấn. Hàng mụ sản xuất ra không đủ để bán, có người còn đặt hẳn mấy công xuất khẩu. Cuối năm đó, mụ Béo được thành phố tuyên dương là doanh nghiệp "trẻ" tiêu biểu, đã tạo công ăn việc làm cho mấy chục nhân công. Biệt danh Béo cũng mất, thay vào đó người ta gọi mụ là Tư "mặt nạ". Dân phố cổ nói ngọng thì gọi mụ là Tư "mặt lạ". Lạ quá đi chứ, chẳng gì thì mụ cũng đã góp phần tạo hình ảnh đáng kính cho các vị lãnh đạo khi khoác cho họ một gương mặt từ bi. Có người hỏi kháy:"Thế họ đeo cái mặt nạ của mụ được mấy nả?". Nhà doanh nghiệp "trẻ" cười rung cả...mỡ:"Thì ba bảy hai mốt ngày là hỏng ngay ấy mà, có thế thì hàng chúng iem mới bán chạy được chứ":emoticon-0102-bigsm |
Theo thống kê của các nhà kinh doanh trên phố Hàng Mã - Hà Nội, tỷ lệ mang lại lợi nhuận tối ưu khi nhập hàng mặt nạ của thầy trò Đường Tăng dịp Tết Trung thu hàng năm như sau:
- Mặt nạ Tôn Ngộ Không: 50%; - Mặt nạ Trư Bát Giới: 30%; - Mặt nạ Sa Tăng: 15%; - Mặt nạ Tam Tạng: 5%. Số liệu thống kê này nói lên điều gì, các bác nhỉ? |
Mặt nạ ĐT ra thị trường có 5%, thảo nào tôi không thấy (hay chưa thấy) ai dùng. Nguyên nhân tôi nghĩ chắc là do đeo vào, người ta phải kiêng tửu sắc, cũng cầm như đi bóc lịch ( mà khi bóc lịch vẫn có được baby để chống án tử kia mà). Hay là thiên hạ ngày nay không tin có ai mang quyền lãnh đạo cả ba tên Khôn (TNK)-Đần (ST) và Dâm (TBG) mà lại không màng đến bản thân, chỉ chăm chăm một định hướng cứu khổ cứu nạn xa xôi ! ( Tuy khi yêu quái dọa ăn thịt thì vẫn run rẩy như thường).
Noi gương anh MU, tôi nhờ cụ Gug kiếm tính hiệu quả của từng loại mặt nạ trên theo điều kiện về thứ tự quyền thế và thời gian đạt được mong ước, thì kết quả là : -ĐT: 100% -TBG: 95% -ST:90% -TNK: ...0% Con số trước số 0 nó mờ ảo nhìn không rõ, nhưng nếu đã xếp theo thứ tự thì hẳn nó phải thấp hơn 9. Như vậy hình như trật tự vẫn được tái lập trong thực tế. Vừa điện thoại hỏi bà Tư mặt nạ, thì bả cười khùng khục, giải thích vắn tắt: ít người mua là do hàng chất lượng cao và bền, vì làm nó rất khó phải dùng loại da... (nghe không rõ) thật dày và luyện rất lâu, người mua lại giấu kỹ ít khoe ra nên không ai biết hiệu quả của nó ra sao để đổ xô đi mua. Không biết phải vậy chăng, nhờ các bác kiểm tra giúp! |
Trích:
- Mặt nạ Tôn Ngộ Không: lãi rất cao (có thể "ăn dày" được); - Mặt nạ Trư Bát Giới: có lãi (nhưng chỉ "ăn mỏng" thôi); - Mặt nạ Sa Tăng: nhà nào khéo bán thì hòa vốn; - Mặt nạ Tam Tạng: lỗ vốn hoàn toàn. Bây giờ kinh tế thị trường rồi, không thể bắt người ta mua kèm như thời mậu dịch quốc doanh nữa. Có nhà khôn chơi trò khuyến mại: Mua Sa Tăng thì được tặng thêm Tam Tạng. Vậy mà vẫn ì ạch lắm! Không hiểu sao nhà sản xuất vẫn cứ cho Tam Tạng ra đời. Thế mới lạ chứ! |
Trích:
|
Bạn Vania nói "giải rút" là không đúng rồi. Nó là "dải yếm" bạn ạ:
Thuyền anh ngược thác lên đây Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền http://maxreading.com/data/books_ima...cc32c0aef8.jpg |
xin lỗi các bác vì em spam một tí, nhưng nhân đây em muốn hỏi về dải yếm ấy ạ. Em có nghe nói là các cô thôn nữ ngày xưa đôi khi chỉ mặc áo yếm thôi, không có áo tứ thân hay nâu sồng mặc ngoài. Bản thân em thì thấy đẹp, nhưng em thắc mắc như thế có bị xem là "mát mẻ" ko ạ? :emoticon-0136-giggl vì theo nét văn hóa của phương Đông truyền thống thì người phụ nữ phải "kín đáo", xem các phim cổ trang và tài liệu sử em cũng thấy những thiếu nữ phương Đông mình đôi khi tay áo trượt lên khuỷu tay là đã thẹn thùng rồi.
|
Phụ nữ ngày xưa không khi nào mặc độc có yếm đâu bạn ạ, trừ phi... đi gội đầu hay đi ngủ. Bao giờ cũng phải có áo cánh. Còn khi ra chợ, ra đường thì phải mặc áo cánh dài tay hoặc áo dài tứ thân ấy chứ, sao lại mặc yếm không được! (Bà ngoại tôi dặn thế)
|
Em đề nghị chúng ta viết là Trư Bát Giới cho nó thống nhất với truyện, các bác ạ.
|
Câu chuyện bên bàn cờ
Nhà cu Bi phun thuốc muỗi nên Bi phải sơ tán sang nhà ông ngoại. Biết là ông ngoại Hâm không thích chơi các trò trẻ con nên Bi mang theo hộp cờ vua, bắt ông phải chơi cờ với nó. Bi bày quân, trịnh trọng nhường cho ông ngoại Hâm chơi quân trắng. Liếc thấy bên quân trắng chỉ còn có sáu quân: Tướng, hậu, xe, voi và hai tốt, còn bên đen thì thiếu có hai con tốt, lão Hâm hỏi ông cháu láu lỉnh: - Con có biết là quân trắng được đi truớc không? Vậy là con nhường ông đi truớc? Ông cháu tám tuổi tuy khôn vặt nhưng vẫn thật thà: - Vâng, nhưng nếu quân trắng nhiều hơn thì con sẽ chơi quân trắng. OK, ăn thua gì đâu, chỉ là một trò chơi thôi mà! Hai ông cháu chơi được một lúc thì lão Hâm chịu thua. Bi khoái chí kết luận: - Ông phải chịu khó học lý thuyết cờ. Ông thua là vì ông chưa học chơi cờ như con. - Con nói rất đúng, làm việc gì cũng phải học thì mới làm tốt được. Thế con có biết chơi cờ tướng không? Ông có bộ cờ tướng đấy? Thế là hai ông cháu chuyển sang chơi cờ tướng. Tất nhiên là với biên chế đầy đủ, ông ngoại dễ dàng thắng Bi sau năm phút. Không chấp nhận thất bại, cu Bi làu bàu là cờ tướng rắc rối hơn cờ vua, chơi không sướng. Ông ngoại hỏi: - Con có thấy cả hai loại cờ đều có 32 quân, các quân khá giống nhau? Nghe nói cờ vua cũng xuất xứ từ phương Đông, du nhập sang phương Tây rồi biến tướng thành cờ vua hiện nay. Con có thể đưa ra nhận xét gì về sự khác biệt rõ rệt giữa cờ vua và cờ tướng? Chú bé suy nghĩ một lúc rồi trả lời: - Cờ vua có con hậu, không có hai con sĩ, nhưng lại có cặp voi. Mã thì không bị cản. - Con giỏi lắm. Đó là những khác biệt về quy định chức năng nhiệm vụ các quân cờ. Bây giờ ông phân tích thêm cho con thấy những khác biệt về nhận thức nhé? Thứ nhất là tính quần chúng. Vua trong cờ tướng là một tay hèn nhát và lười biếng, luôn phải có hai con sĩ bảo vệ sát sườn, ông ta chỉ đi lại loanh quanh trong một khoảng không gian hẹp, bắt tất cả phục vụ mình. Vua trong cờ vua tuy vẫn là vua nhưng phải làm việc nhiều hơn, ông ta có thể đi khắp bàn cờ, tham gia chiến đấu mà không đòi hỏi có vệ sĩ cặp kè. Con tốt là quân cờ có vị trí xã hội thấp nhất. Con tốt trong cờ tướng tiến lên tiêu diệt quân thù song nếu đi đến tận cùng thì nó thành con tốt lụt, không còn khả năng gì nữa, rất vô vị. Đó là kiểu vắt chanh bỏ vỏ đó con. Trong khi đó, con tốt trong cờ vua sau khi đã phấn đấu tích cực, đi đến tận cùng đẩt địch thì được lại tôn vinh công trạng và đãi ngộ xứng đáng bằng cách có quyền biến thành bất kỳ quân cờ nào có đẳng cấp cao hơn, trừ vua, tất nhiên! Rõ ràng là người châu Âu có quan điểm quần chúng hơn hẳn người châu Á? Họ biết động viên quần chúng tốt hơn và quần chúng có cơ hội thăng tiến nếu chịu phấn đấu hy sinh? Thứ hai là tính tự do. Trong cờ vua, các quân pháo không cần ngòi, quân mã không bị cản, quân tượng đi khắp bàn cờ. Rõ ràng là trong cờ vua các loại lực lượng cơ động hơn, tự do hơn, ít bị gò bó như trong cờ tướng? Thứ ba, điều thú vị nhất, đó là chỉ trong cờ vua mới có nhân vật nữ - con Hậu. Không những thế con Hậu là nhân vật có sức mạnh to lớn nhất. Đó thực chất là tôn trọng phụ nữ, là đánh giá đúng vai trò và tài năng của người phụ nữ trong xã hội chứ không phải là cái trò cơ cấu vớ vẩn, cho vài bà ngu lâu dễ bảo ngồi vào chính quyền để làm dáng như ở một số nơi đâu con. Cu Bi há mồm nghe. Chắc là nó chưa hiểu gì nhiều về tính dân chủ và tính tự do. Lão Hâm đoán vậy, khi nghe nó hỏi sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ: - Ông ơi, thế trong nhà con, mẹ con có phải là Hoàng hậu thật không, hay cũng chỉ là cơ cấu? |
(Chuyện cũ kể lại, xin lưu ý người đọc về thời điểm tôi viết truyện này!)
Nàng công chúa biển Gã thuê một apartment 80 USD/đêm ở Tuần Châu, dúi cho chú lái xe 300.000đ bảo tìm chỗ cất xe và trú ngụ qua đêm. Sau bữa tối nhẹ nhàng với ly rượu cô-nhắc, gã thả bước dọc theo bờ biển, để cho tâm hồn phiêu lãng cùng với sóng nước và mây trời. “Ngũ thập tri thiên mệnh”, gã qua ngũ thập mấy năm rồi, mệnh của gã chỉ còn mấy năm nữa là về hưu, điều này ghi rõ ở Luật công chức viên chức nhà nước, khỏi cần tài giỏi gì cũng biết. Gã để đôi chân trần được cát ướt vuốt ve. Bãi cát nhân tạo ở Tuần Châu có nhiều hạt thô ráp không mịn như những bãi cát tự nhiên. Quay đầu nhìn về phía sau, gã thấy những vết chân của gã bị sóng chồm qua xoá nhoà như chúng chưa hề có. Bỗng gã thấy một con cá bé xíu kẹt lại trên bờ, nó quẫy mạnh hòng ném mình xuống nước nhưng càng quẫy nó càng rơi xa mặt nước hơn nên đợt sóng kế tiếp không liếm được đến chỗ nó. Gã dừng lại, tò mò xem số phận con cá ra sao. Đời gã nhiều lần sa vào cảnh như con cá nọ và cũng nhiều lần chính gã đẩy người khác vào chỗ cùng quẫn không kém. Con cá mỏi mệt và tuyệt vọng, nó cất tiếng người, giọng nhẹ như tơ: “Ông ơi cứu tôi với!”. Ngạc nhiên, gã nhặt con cá lên, đặt vào lòng bàn tay. Con cá bé nhỏ này rất lạ, thân nó lóng lánh ngũ sắc, đặc biệt rất nhiều vây, hai hàng vây cạnh sườn giống như những mái chèo của con thuyền đua trên sông Hàn. Thay vì thả con cá xuống biển, gã chạy vội về căn hộ sang trọng kiếm cái xô mang ra múc đầy nước biển và thả con cá vào đó. Con cá bình tĩnh trở lại, ngon lành đớp từng ngụm nước biển quen thuộc, ngước mắt nhìn gã cảm ơn. Thế là nhà gã có thêm một bể cá mới, bể cá nước mặn. Trong phòng ăn gã đã có con hồng long giá mười triệu, ngoài sân gã có hòn non bộ với tám con cá vàng một con cá đen (số lượng đúng theo phép phong thuỷ). Riêng con cá mới nhặt được ở Tuần Châu gã để trong phòng ngủ, bể cá gã thuê làm bằng kính dày 1,5cm, chạy dài suốt cả bức tường. Con cá rất đẹp, gã nhờ người hỏi xem là giống cá gì mà không ai biết, kể cả mấy chuyên gia ở Viện Hải dương học. Tuy được gã đặc biệt quan tâm, con cá vẫn buồn bã, không hề ăn bất cứ thứ gì gã cho, nó lờ đờ bơi quẩn quanh ống xục khí như nhớ thương cố hương biển cả mênh mông của nó. Hàng tuần gã nhờ chú lái xe ra Tuần Châu lấy dăm bảy can nước biển mang về đổ vào bể thay cho lượng nước được hút ra làm sạch. Trong một lần thay nước như vậy, chú lái xe phát hiện thấy con cá bé nhỏ ăn mấy cọng rong biển, từ đó lần nào chú cũng cố tìm những sợi rong biển non nhất mang về cho cá. Một đêm thu dịu mát, gã mở bản Ánh trăng, châm điếu thuốc thơm, lim dim mắt hưởng thụ giây phút thư thái sau một ngày vật lộn với bốn năm cuộc họp căng thẳng. Gã ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng từ trong bể cá một cô gái xinh đẹp bước ra, áng chừng chưa đến 15 tuổi. Gã từng biết nhiều người đàn bà, nhiều tấm thân nõn nà người mẫu, nhưng đẹp và thuần khiết như cô gái này thì những lúc mơ mộng nhất gã cũng chưa bao giờ tưởng tượng nổi. - Thưa chú, cháu cảm ơn chú đã cứu sống cháu. Nhưng cháu không thể sống trong cái bể chật hẹp này được, cháu phải về với cha mẹ cháu, với đại dương của cháu. - Nàng là ai, hỡi nàng tiên xinh đẹp của ta? - Không dấu gì chú, cháu là con gái Thuỷ Tề, hôm đó ham đi chơi xa bị sóng đánh lên bờ, nhờ chú cháu mới thoát chết, nay cháu xin chú cho cháu trở về biển cả. - Ô, nàng hãy ở lại đây với ta, hãy làm vợ ta. Ta với nàng có duyên gặp nhau là trời đã định rồi, nàng đừng từ chối. - Nhưng cháu còn bé lắm chú ơi. - Ta đợi nàng lớn thêm mấy năm nữa. - Nhưng chú đã có vợ rồi, vợ chú nằm ngay phòng bên cạnh kia thôi! - H h h ừm, ta với bà ấy chỉ là nghĩa thôi, không còn tình nữa. - Không được đâu chú ơi, cô bé oà khóc rồi biến vào bể trở lại thành con cá bé nhỏ. Bàng hoàng chợt tỉnh, gã đăm đăm nhìn con cá đang lờ đờ bơi ở một góc bể, không biết câu chuyện vừa rồi là thật hay mơ. Gã chạy sang hỏi vợ, người phụ nữ đã về hưu đang ngồi lần tràng hạt lẩm bẩm đọc kinh Phật: - Bà có nghe thấy tiếng động gì trong nhà không? - A di đà phật, ông làm tôi giật mình, tôi có nghe thấy gì đâu? Vợ chồng gã lấy nhau đã gần ba mươi năm. Hồi đó gã vừa tốt nghiệp khoa Vô tuyến điện Đại học Bách khoa và xung phong đi bộ đội ngay, thời ấy hầu hết thanh niên là như vậy. Gã được đưa về đơn vị thông tin thuộc một Sư trong đoàn 559, làm quen với cô bác sỹ quân y xinh đẹp có đôi mắt mở to như chú nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư. Một năm sau hai người làm đám cưới giữa hai đợt bom B52 của Mỹ. Ba tháng sau đám cưới, gã nhận lệnh về đi học Học viện quân sự ở nước ngoài, còn cô bác sỹ mắt nai thì chuyển về một bệnh viện ở Hà nội. Hoá ra bố cô bác sỹ là một vị tướng Tư lệnh quân khu! Có bằng cấp, có lý lịch tốt, có quá trình ở chiến trường, gã leo tắt những bậc thang danh vọng nhẹ nhàng như người ta làm xiếc. Cô gái mắt nai nay đã nhìn rõ sự đời, nhìn rõ tâm can của gã, chỉ còn muốn an lạc nơi chốn Phật, mặc gã tự do với nhưng mưu đồ chính trị và đám gái gọi chạy xe Dylan. Đêm hôm sau gã giả vờ ngủ gật, cô Công chúa biển lại hiện lên: - Nếu chú thả cháu, Vua cha sẽ tặng chú 100 ngàn đôla. - Từng ấy không bằng số tiền ta đã chi ra cho cậu út sang Mỹ ăn học. - Một triệu đôla! - Cái nhà này của ta có giá còn cao hơn. - Thế thì một viên ngọc minh châu trường sinh! - Trường sinh làm gì, nếu không có nàng làm vợ? Thất bại trong vụ mặc cả, nàng Công chúa biển lại nức nở khóc, quay về với cái bể cá thắp nhiều bóng đèn màu rực rỡ. x x x Những hôm không phải đưa thủ trưởng đi công tác, chú lái xe quay về nhà Sếp, đảm nhiệm thêm việc làm vườn, chăm lo cây cảnh và mấy bể cá nhà Sếp. Chú rất thương con cá ngũ sắc bị nhốt trong cái bể đẹp đẽ trong phòng ngủ của Sếp. Chú đặt cho nó cái tên là Sa, ngụ ý nó bị sa vào chốn tù hãm. Chú đâu có biết đó chính là nàng công chúa biển, chú cũng không hay dưới đáy biển, trong kho của Thuỷ Tề có hằng hà sa số vàng bạc châu báu mà nếu chú giúp giải thoát con gái Người thì Người sẵn sàng ban thưởng cho chú. Chủ chỉ thương nó, thế thôi. - Sa ơi, anh sẽ tìm cách thả em về với biển. Con cá ngừng bơi, chăm chú nhìn chú nghi hoặc: - Anh cần tiền hay cần tình yêu? - Sao em lại hỏi thế? Chàng trai buồn bã, bao giờ chú cũng buồn khi người đời đo bụng chú bằng thước đo trong bụng người ta. Chú càng buồn hơn vì con cá xinh đẹp cũng suy nghĩ tầm thường như vậy. Nước mắt chú ứa ra, vô tình rơi vào bể cá. Không rõ mấy giọt nước mắt của chú có mặn hơn nước biển hay không mà con cá bơi lên cao, đớp chúng vào bụng rồi tỏ ra rất xúc động. x x x Đến ngày Rằm tháng Bảy, bà bác sỹ về hưu nói với chồng với giọng nghiêm trọng: - Căn bệnh phổi của em lâu nay bây giờ được kết luận là “K” rồi, đã di căn. Các giáo sư quen biết không muốn dấu em - một người đồng nghiệp. Gã choáng váng như lần đang đeo tai nghe bị sét đánh vào đường dây thông tin, há hốc mồm nhìn vợ. Lâu lắm rồi gã không nhìn kỹ vợ, khuôn mặt thân thương đã có nhiều nếp nhăn nhưng chưa già. Có lẽ nào, cái chết đến đơn giản thế sao? Thế là xong một kiếp người, là sẽ nhắm lại đôi mắt đen huyền ảo kia? - Em hỏi có loại thuốc nào đắt nhất anh cũng sẽ tìm mua cho em, ở Mỹ ở Anh ở đâu anh cũng mua được. - Y học thế giới bó tay. Chỉ còn một cách duy nhất, sư ông trụ trì chùa Quảng khuyên em ăn chay và phóng sinh. Nhân ngày Rằm tháng Bảy, anh cho em phóng sinh cá và chim, mỗi thứ 900 con. Gã nhờ chú lái xe đi mua cho bằng được ngần ấy chim và cá còn sống mang lên Phủ Tây Hồ thả. Đàn chim ào ào bay đi, để lại một đám lông rụng bay theo gió ven hồ. Ba tháng sau, vợ gã đi kiểm tra lại, thấy bệnh tình không những không phát triển mà hai đáy phổi có sáng lên. Gã mừng lắm, mail ngay sang Mỹ cho cậu út báo tin lành. Quả là có thờ có thiêng, có kiêng có lành! Một tối nọ, trong dịp hiếm hoi hai vợ chồng nói chuyện với nhau, bà bác sỹ quân y về hưu ngập ngừng đề nghị gã: - Sư ông lại bảo là em có thể khỏi được nếu anh cho phóng sinh tất cả cá cảnh trong nhà. Lần này gã còn bàng hoàng hơn lần trước, như bom tấn nổ ngay bên tai. Con hồng long gã không tiếc, bầy cá vàng thì đáng kể gì, riêng nàng công chúa biển thì... không lẽ gã mất nàng ư? Rồi cũng phải quyết định thả thôi. Đám cá vàng có sống sót được nửa buổi nếu chúng trở lại với tự nhiên, con hồng long quê hương tận Nam Mỹ làm sao mà tồn tại được giữa hỗn độn Hồ Tây? Phóng sinh mà đưa người ta vào chỗ chết là làm điều thiện hay làm điều ác đây? x x x Chỉ có hai cô cháu - bà vợ Sếp và chú lái xe đưa công chúa biển ra vịnh Hạ Long, họ thuê một tàu ra xa ngoài vịnh, chọn chỗ nào nước trong nhất, ít người qua lại nhất để thả con cá bé nhỏ xuống biển. Con cá sung sướng lượn đi lượn lại mấy vòng rồi biến mất dưới biển xanh sâu thẳm. - Sa ơi, em hãy hạnh phúc nhé! Chú lái xe lẩm bẩm một mình. Khoảng mười phút sau, bỗng nhiên biển động sóng cồn, con tàu chở hai cô cháu không thể nào đi được nữa. Nước rẽ ra hai bên, Thuỷ Tề dẫn đầu văn võ bá quan chắp tay tạ ơn hai người đã cứu mạng nàng công chúa biển yêu quý của Người: - Để trả ơn, ta ban cho mỗi người một điều ước, các ngươi ước ngay đi. Chú lái xe vội vàng: - Con mong cho bà chủ của con đây hết bệnh ung thư! Thuỷ Tề vuốt râu cười ha hả: - Bà chủ kính mến của con có bị ung thư bao giờ đâu! Bà bác sỹ về hưu chắp tay như niệm Phật: - Con đã theo Phật rồi, con không có điều gì cầu mong riêng cho con nữa! Trời lại trong xanh, biển lại dịu êm như bất kỳ một ngày đẹp trời nào khác. x x x Một tuần sau khi để vợ thả công chúa biển về với đại dương, gã lại mò ra Tuần Châu, thuê căn hộ quen thuộc rồi lại lững thững đi dọc theo bờ biển. Lần này gã không ngắm trời sao, không nghe biển gieo những vần thơ bất tận. Gã mong gặp lại cô gái xinh đẹp đáng ra đã là của gã, cũng chẳng phải để ngắm lại dung nhan của nàng, mà với mục đích khác - gặp được bố nàng. Gã đâu còn năng lực yêu mặc dù năng lực đàn ông của gã chưa hề suy giảm, thậm chí còn mạnh mẽ hơn hồi thanh niên nhờ những bình rượu ngọc dương, tắc kè và cá ngựa mà đàn em luôn lo đủ cho gã. Món đông trùng hạ thảo lão dùng thường xuyên như người ta ăn rau muống. Để yêu người ta cần phải có năng lực khác - năng lực hiểu và hy sinh dâng hiến cho người mình yêu, cái đó nay đã khô cạn trong lòng gã, đám đàn em làm sao tìm ra thứ thuốc khả dĩ chữa được bệnh này. Ngay hôm vợ gã xách xe ra Hạ Long, gã gọi điện cho một người quen ở Thanh tra Bộ Y tế, nói rất khéo: - Ông xem hộ hồ sơ bệnh án bà xã tôi ở Bệnh viện K. Tôi nghi là bà ấy bị ung thư nhưng các bác sỹ còn dấu. Tôi muốn biết để sớm lo liệu, cho dù đó là sự thật tàn nhẫn nhất. Không quá nửa buổi, người bạn kia gọi điện trả lời là vợ gã chưa hề điều trị ở Bệnh viện K nên không có hồ sơ bệnh án ở đấy. Thôi rồi, cao nhân hữu tắc cao nhân trị, vợ lão, con nai vàng ngơ ngác ấy đã đi một nước cờ cao qua mặt gã! Đã thế thì gã phải đòi lại một cái gì chứ, không lẽ mất tuột hết? Vì lẽ đó gã có mặt ở Tuần Châu, vừa chậm rãi đi dọc bờ biển, vừa lẩm bẩm: - Thuỷ Tề đâu, ta tha con gái nhà ngươi, đến một triệu đô la ta còn không thèm lấy, không lý gì ngươi không biết ơn ta? Đúng lúc đó Thuỷ Tề hiện lên, ăn mặc bình dân kiểu vi hành, dắt theo vài chú vệ sỹ thuồng luồng, nghiêng mình chào gã: - Thuỷ Tề ta tuy không được ăn học bằng nọ cấp kia nhưng lễ nghĩa ở đời không phải là không biết. Hôm nay ta đến đây để ban cho nhà ngươi một điều ước nhằm đền ơn ngươi đã cứu mạng và thả con gái út yêu quý của ta. - Tôi nhớ ngày xưa có ông già câu được con cá vàng, thả nó ra, nó còn cho ba điều ước, sao bây giờ Thuỷ Tề chỉ cho tôi có một là sao? - Thời văn minh hiện đại phải khác với thời cổ hủ xưa kia chứ. Ngày xưa ai dám ước có máy bay để đi, có internet để giao du với cả thế giới loài người? Một điều ước ngày nay có giá bằng mười điều ước ngày xưa, ngươi có hiểu điều đó không? Thôi ngươi hãy nói ra điều ước của ngươi ngay đi! Gã suy nghĩ một lúc rồi gạ gẫm: - Tôi ước gì được thăng lên đến cái chức mà tôi sẽ không bao giờ phải về hưu. Gã biết có chức là có quyền, có quyền là có tiền, có tiền là có tất cả. Thuỷ Tề vuốt râu cười: - Trong vòng 100 ngày điều ước của ngươi sẽ thành hiện thực. - Phép thần gì mà 100 ngày mới linh nghiệm, ông không gạt tôi đấy chứ? - Ta là Thuỷ Tề còn thèm lường gạt ai? Công tác tổ chức cán bộ làm có 100 ngày là thần thánh lắm rồi. Good bye nhà ngươi! Chuyện 100 ngày sau gã có được thăng quan tiến chức hay không, chúng ta hãy cố đợi, khi nào có tin tức gì tôi sẽ xin chép lại cho các bạn hay. Riêng cô công chúa biển, sau khi đã hoàn hồn sau chuyến chu du bất hạnh kia, cô rất ăn năn là khi chia tay cô không hề nói một lời với bà chủ và anh lái xe, không cả cảm ơn những người đã cứu mạng mình. Anh lái xe còn chúc cô hạnh phúc, vậy mà cô vội vã đến mức quên cả tạm biệt các vị cứu tinh của mình! Thế là cô xin phép Vua cha được báo mộng cho chú lái xe, yêu cầu anh phải dùng lại lời ước mà lần trước anh sử dụng chưa đúng (anh cầu mong bà chủ khỏi bệnh ung thư, nhưng bà chủ đâu có bệnh tật gì). Chú lái xe rất vui mừng được gặp lại cô, vốn tính đa cảm, lại rơi nước mắt. Lần này nàng công chúa biển không uống những giọt nước mắt của anh lái xe như lần trước, nàng muốn hôn lên vầng trán trong sáng của anh như kiểu em gái hôn anh trai nhưng nàng không dám, dù sao nàng cũng đã lớn rồi. - Sa ạ, anh chỉ mong em được hạnh phúc là anh mãn nguyện. - Không được, phép thần của cha em chỉ có tác dụng khi anh ước cho bản thân anh. - Nhà anh nghèo, anh phải đi làm nuôi mẹ và các em, không học lên đại học được... - Nghĩa là anh muốn học đại học? Chuyện nhỏ như con thỏ! Anh vào khoa Công nghệ thông tin Đại học Bách khoa nhé? Giữa tháng này anh sẽ nhận được giấy gọi. Anh đừng thắc mắc là không thi sao lại được gọi, việc này cha em lo được. Anh phải làm có mỗi một việc là sáng mai mua một vé xổ số, anh sẽ trúng giải đặc biệt, đủ tiền nuôi mẹ cùng các em và anh ăn học đến lúc nào anh hết muốn học thì thôi. Chuyện đã dài, tôi không dám làm mất thêm thì giờ các bạn nữa, chỉ xin nói thêm một tình tiết: chú lái xe đã làm đơn xin thôi việc, gã chủ cũng đồng ý ngay (kinh nghiệm của các Sếp là lâu lâu nên thay lái xe, để bọn này biết nhiều là không có lợi). (5/9/2004) |
Thua đi thương khẻn
Lâu lắm rồi lão Hâm mới nhận được điện thoại từ ông bạn làm ở Ban Thi đua khen thưởng: - Bác Hâm ơi, hình như bác về hưu rồi mà không được cái huân chương nào cả? - Loại tài hèn sức mọn nỏ công lao như tớ thì không xứng đáng được huân chương. Đeo huân chương lên bộ ngực hâm này chỉ tổ làm ô uế cái huân chương! - Sao bác lại nói thế! Ối thằng nhận quyết định thưởng huân chương đồng thời với nhận tống đạt bắt giam đấy thôi? - Chú đừng có mỉa đời, đó chẳng qua chỉ là nằm trong tỷ lệ sai hỏng. Các chú chạy máy dập huân chương thể nào chả có cái phế phẩm? - Vâng, em biết là ní nuận với bác khó lắm, riêng khoản đó đủ thấy bác đáng được tặng huân chương rồi. Thật lòng em muốn làm cho bác một cái huân chương, nhất là vào dịp đại lễ lần này, anh em với nhau em chưa giúp được bác chuyện gì… - Để sau này khắc lên bia mộ tớ thêm một dòng “Huân chương lao động hạng ba”? He he. - Thế bác có làm không thì bảo? Bây giờ thủ tục không phiền hà rắc rối như trước đâu. Cải cách hành chính rồi mà. Có sẵn mẫu tờ khai, chỉ việc điền thành tích vào thôi. - Tớ đếch có thành tích! - Thì em điền cho bác, em điền quen rồi mà. - OK, chuyện “điền” thì dễ rồi, còn chuyện cũng vần “iền” thì sao? Đến đây ông bạn huân chương hơi ngần ngừ một chút rồi mới trả lời: - Cái đó thì không thể không có. Phần em bác không cần lo, coi như em giúp bác, bác chỉ phải chi cho các mắt xích khác trong dây chuyền thôi. - OK. Vậy chú nêu tổng số đi, nếu anh kêu gọi tài trợ được thì anh sẽ báo lại với chú. - Vậy nhé bác. Em chờ điện thoại. Rất có thể trong thời gian tới đây lão Hâm sẽ được trao tặng huân chương. Ai cần huân chương các loại xin liên hệ với lão Hâm vì lão có chân trong ở Ban Thua đi thương khẻn. Chỗ quen biết không lấy phần trăm dịch vụ. |
Tháng chin, mùa thu
Friday, 12th September 2008 Tân quay lại thành phố nơi anh đến làm việc gần hai năm khi mới ra trường. Anh đi bộ dọc theo những con phố cũ, gắng tìm lại những nét thân quen đã hằn sâu trong ký ức. Thành phố thay đổi nhiều quá, đường sá rộng rãi, làn cây xanh với những công viên nho nhỏ xinh xinh, những ngôi nhà cao, những tấm biển hiệu rực rỡ. Cuộc sống đổi thay nhanh chóng, cái hiện tại trong chốc lát đã biến thành quá khứ. Tân thuê phòng khách sạn chỉ cách công ty Vân không đầy một trăm mét, trên miếng đất ngày trước là cái ao ruồi muỗi chen nhau bay. Nhìn qua cửa sổ có thể thấy Vân tất bật với công việc như thế nào. Phòng làm việc của Vân bọc kính, máy điều hoà không khí chạy suốt ngày, người ra vào ký tá liên tục. Sang ngày hôm sau Tân mới gọi điện vào số máy của Vân. Danh bạ điện thoại ở một thành phố nhỏ thường ghi khá đầy đủ, tìm số của giám đốc Công ty X. không khó khăn lắm. Anh chỉ vừa mới nói: "A lô..." mà Vân đã nhận ra anh ngay sau gần hai mươi năm: - Anh Tân, anh đang ở đâu? - Ở rất gần em, anh ở khách sạn Bông Sen. - Phòng mấy? - Phòng 507. Vân hỏi theo phản xạ tự nhiên, đã nói ở khách sạn thì phải hỏi là phòng nào. Sau câu hỏi đó nàng hơi khựng lại rồi chuyển sang thăm hỏi tình hình công việc, gia đình, các con của Tân, cuối cùng mới hỏi anh đến đây làm gì. - Anh đi phép, gần chục năm nay anh chưa nghỉ phép ngày nào. Anh muốn về thăm lại biển. - Thế ư? Vân rất hay nói "Thế ư", đôi lông mày dướn cong trên cặp mắt đen tròn. - Thế anh đã ra biển chưa? - Anh ra rồi, đi dạo dọc bãi hai, ngắm bình minh lên. Tân nói dối, anh chưa hề ra biển. Anh không hay nói dối, anh ghét sự giả dối, vậy mà trong câu chuyện với Vân, anh thường buột miệng nói không thật. - Em sẽ đến thăm anh, xem anh hồi này có còn đẹp trai như trước nữa không. Vân lại nói đùa, tính nàng thích đùa, nàng có thể đùa ngay cả khi đang buồn và nhiều khi nàng đùa để che đậy sự lúng túng của mình. Anh biết nàng đang lúng túng trước sự xuất hiện của anh và anh cũng biết nàng đã nói thật là sẽ đến gặp anh. * * * Gần mười hai giờ trưa ngày hôm sau, Vân gọi vào số máy trong phòng Tân: - Anh ăn chưa? Anh xuống nhà ăn ở lầu một nhé, em và Sơn đang ngồi ăn ở đây, anh nên ngồi một bàn riêng. Tân chọn một bàn cách bàn của hai mẹ con Vân khoảng 5 mét. Nhà hàng rộng rãi, không khí mát rượi nhưng rất ít khách vì là buổi trưa. Vân mặc bộ váy sẫm, thân hình đầy đặn của người đàn bà tuổi viên mãn, một người thành đạt, có quyền lực, và quen không bộc lộ quyền lực của mình. Sơn là một chàng trai 18 tuổi, cao lớn, mặt thanh tú giống mẹ, đôi môi dịu dàng và có duyên, cặp lông mày rất đậm, đầy vẻ nam tính. Chàng trai vừa ăn vừa nhắn tin cho người yêu, Tân đoán thế, vì thấy Vân cười cười mỗi khi thấy con ngừng ăn để nhắn tin rồi chàng trai đỏ mặt quay sang kể lại nội dung tin nhắn vừa rồi cho mẹ nghe. Hai mẹ con cùng cười. Sơn không một chút để ý tới người đàn ông tóc hoa râm ngồi cách hai mẹ con không xa. Người đàn ông hầu như không đụng đến đĩa cơm, luôn nhìn về phía họ, ngắm Sơn rất kỹ. Sơn cũng không biết rằng mẹ mình thỉnh thoảng nhìn người đàn ông kia, ánh mắt dịu dàng, không có gì hết ngoài sự dịu dàng mà nó luôn thấy trong mắt mẹ. Máy Tân có tin nhắn: "Anh thấy Sơn giống ai?". Tân trả lời: "Giống em" Bữa cơm trưa kéo dài khoảng 30 phút, hai mẹ con đứng dậy ra về. Cậu con trai đi cạnh người mẹ nhỏ nhắn, người đàn ông cao lớn như che chở cho người đàn bà đã sinh ra mình. Tân về phòng, bật TV mà không biết trên TV đang chiếu cái gì. Anh bỗng sống lại cái cảm giác chỉ có một lần trong đời người, vào một đêm tháng chín mùa thu, trên bãi biển sóng vỗ không ngừng, Vân và anh hoà nhập làm một, hai tâm hồn hoà quyện vào nhau và đất trời chao đảo... Mối tình ngang trái. Tân nhận hết lỗi về phần mình, anh bị kỷ luật và bị điều đi nơi khác, thật xa Vân. Họ cố không liên lạc với nhau, nhưng cố biết những gì thuộc đời sống của nhau. Máy di động của Tân có tin nhắn: "Sơn là con anh, anh đã thấy là em yêu nó biết chừng nào. Khi nào nó hoàn toàn trưởng thành, em sẽ nói với nó về anh" Tân không trả lời tin nhắn, anh thu dọn đồ đạc, trả phòng và đi thẳng ra ga. Trên tàu anh mới nhắn lại cho Vân: "Anh đã rời thành phố. Cảm ơn em vì em rất yêu Sơn" Còn tàu đưa anh từ quá khứ trở lại hiện tại. Mùa thu dịu dàng lướt qua cửa sổ khoang tàu, dịu dàng như đôi mắt của Vân. Nàng đã vất vả nuôi con như thế nào, nàng đã chịu bao nhiêu cay đắng, nàng đã vươn lên ra sao. Ôi, Vân của anh, anh có xứng một phần mười giá trị khổ đau và hạnh phúc của Vân? Tháng chín, mùa thu. Tân lại rời xa thành phố, biết bao giờ anh mới quay lại nơi đây? |
Tản mạn ngày đầu sau đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội
(Monday, 11th October 2010) Hôm nay là ngày đầu tiên của năm thứ 1001 theo lịch Thăng Long Hà Nội. Chín giờ sáng. Mưa lắc rắc. Mưa nhẹ nhàng và dịu dàng vừa đủ để làm ướt mặt đường thay cho các xe tưới nước đã quá vất vả trong 10 ngày lễ hội. Và cũng vừa đủ để tạo ra một chút gì man mác đậm sắc mùa thu. Hình như ông Trời có ý nhắc cho người dân Hà nội biết là 10 ngày qua Trời đã chiều lòng người Hà nội, đã không mưa, chứ Trời thừa sức mưa. Sáng ngày 10 tháng 10 năm tròn thứ 1000 của Thăng Long Hà Nội thời tiết đẹp như đặt hàng, không nắng, không mưa, gió thổi vừa tầm để những lá cờ bay phần phật. Thời tiết đẹp đến nỗi có nhiều kẻ nghi ngờ là Nhà nước đã chi mấy tỷ đô-la đuổi mưa nhưng không dám công bố cho dân biết. Tâm lý nghi ngờ và phao tin đồn nhảm là một cái gì đó đã trở nên quen thuộc. Đêm mồng 9, một người quen gọi điện “bật mí” là đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa mất nhưng vì đại lễ nên chưa phát tang. Tôi thầm nghĩ nếu quả đúng như thế thì cũng là lẽ bình thường, người già sắp 100 tuổi như ngọn đèn trước gió… Song như thế thì cay đắng quá. Cụ Hồ mất đúng ngày Quốc khánh, chả nhẽ cụ Giáp lại mất vào ngày đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội? May sao, trưa hôm sau các báo đưa tin và ảnh cụ Giáp đang nằm xem truyền hình trực tiếp diễu binh và diễu hành. Diễu binh năm nay không có khí tài và các phương tiện chiến tranh, ngoài 10 chiếc máy bay trực thăng lướt qua quảng trường. Ban tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long có ý nhấn mạnh yếu tố con người hơn là yếu tố vũ khí, qua đó bày tỏ ý chí sắt đá bảo vệ độc lập dân tộc nhưng vẫn đầy thiện chí hoà bình. Lâu lắm mới được xem diễu binh. Thanh niên Việt nam ngày nay cao to hơn trước, “dày cơm” hơn nên diễu binh thấy oai phong hơn những lần trước. Đặc biệt có khối nữ sĩ quan thông tin mặc váy ngắn, đùi trần đi đều tăm tắp. Xinh xắn và hiện đại. Lễ bế mạc lễ hội được tổ chức ở sân vận động Mỹ Đình. Điều đáng nói là nó được kết thúc bởi màn bắn pháo hoa trong những âm thanh hoành tráng của bản hợp xướng của nhạc sỹ thiên tài Bach. Con gái tôi thắc mắc: “Sao lại dùng nhạc nước ngoài?” Mẹ nó bảo: “Chắc là muốn tỏ ra ta phát huy truyền thống văn hoá dân tộc nhưng sẵn sàng hội nhập quốc tế?” Tôi thì nghĩ có khi vì ta chả có bản hợp xướng nào phù hợp để dùng cho thời điểm cao trào kết thúc lễ hội. Thế là 10 ngày đại lễ đã qua. Nếu coi 25 năm là một thế hệ thì phải qua 40 thế hệ mới có một lần tròn 1000 năm. Nhiều người có ý kiến là tổ chức đại lễ to thế làm gì cho tốn kém, để tiền lo việc khác thiết thực hơn. Bây giờ bất cứ việc gì cũng đều có nhiều ý kiến thuận nghịch khác nhau. Tôi nghĩ đó là hiện tượng đáng mừng. Thế là bắt đầu có dân chủ. Nhà văn Trần Nhương viết giấy đề nghị ông Chủ tịch thành phố Hà nội ngừng bắn pháo hoa để lấy tiền ủng hộ đồng bào các vùng đang bị bão lụt. Được nói ra ý nguyện của mình, còn gì thích hơn? Nếu bạn bắt gặp những người từ Lai Châu, Thái Bình, Nghệ An và nhiều nơi khác cơm đùm cơm gói, vợ chồng con cái cõng dắt nhau về Hà Nội ăn sương ngủ gió xem đại lễ thì bạn sẽ hiểu ra một điều. Người dân bình thường rất cần những giây phút bứt ra khỏi cuộc sống thường nhật nhàm chán chuyện cơm áo gạo tiền. Họ cần có những lễ hội. Nếu ai đó nói tổ chức đại lễ hội để chính quyền tiêu tiền và ăn tiền thì thật là khó đồng ý cũng như khó phản bác. Không có số liệu đầy đủ và chính xác, rất khó kết luận một điều gì. Nhưng phải thấy một điều là chính quyền có trách nhiệm tổ chức lễ hội cho dân. Bỗng dưng tôi chợt nghĩ nếu một chính thể khác cầm quyền thì chính thể đó có tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà nội với quy mô như vừa qua hay không? Vì là không có chính thể khác nên câu trả lời chỉ là giả định. Giả định của tôi là chắc chắn có tổ chức. (Tài liệu tham khảo: Cùng với Hà Nội, trên thế giới chỉ có 28 thủ đô là những thành phố có truyền thống 1000 năm tuổi trở lên, với những cái tên "lừng lẫy" như Paris (Pháp), Rome (Italia), London (Anh), Athens (Hy Lạp), Prague (CH Séc) ở châu Âu... hay Bắc Kinh (Trung Quốc), Delhi (Ấn Độ), Cairo (Ai Cập)... Có những thành phố thật sự lâu đời như Bratislava (5000 năm trước Công nguyên), Jerusalem (thiên niên kỷ thứ 4 trước CN), hay Damascus (Siria) tới 8000 - 1000 năm trước CN) * * * Ăn sáng xong, theo thói quen, tôi lướt đọc tin trên mạng. - Lũ bùn đỏ ở Hunggari: Trách nhiệm của Công ty Sản xuất và kinh doanh bôxit - nhôm Hungary (MAL) - Cầu Khe Dầu ở Quảng Bình lộ... cốt tre. - Lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong Il và con trai Kim Jong Un, được cho là người kế nhiệm ông, đã cùng xuất hiện tại lễ duyệt binh sáng 10-10 kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng Lao động Triều Tiên. Một nước công nghiệp như Hungari, có kinh nghiệp sản xuất bôxit-nhôm mà còn thế, thử hỏi Việt nam ẩu tả làm cầu bê tống cốt tre thì sẽ tai họa như thế nào khi cứ liều mạng làm bôxit? Sẽ là như thế nào, nếu chúng ta sống dưới một chế độ như ở Triều Tiên. Một chế độ phong kiến quân chủ, cha truyền con nối thì làm gì có dân chủ, xã hội công bằng và văn minh? Và thế là tôi mừng mình là người Hà Nội. Hà Nội với những khó khăn và lúng túng trong quá trình phát triển. Thành phố thủ đô của một đất nước đang đồng thời tồn tại ba nền văn minh: văn minh lúa nước, văn minh công nghiệp và văn minh thông tin. Hình ảnh điển hình là chiếc xe Mersedes đời mới nhất đi bên cạnh mấy chiếc xe thồ và mấy bà quang gánh. Nhà cao tầng lấp lánh chen giữa đám nhà lộn xộn lố nhố phi quy hoạch. Những lực cản nội tại. Những ấu trĩ và nhỏ nhen trong quản lý. Tất cả những cái đó là có. Song vẫn có động lực phát triển. Vẫn có những người Hà Nội tài năng và thông minh. Những người đó biết nhìn lại một ngàn năm phía sau để biết phải làm gì cho tương lai. Hà Nội thân yêu là của tôi, là của những người “dân vạn đại” như tôi. Hà Nội không phải của một số ít nào đó đang muốn làm gì thì làm với Hà Nội. Và cũng không phải của những kẻ tìm cố tim mọi dịp để chê bai Hà Nội. Tháng 7 vừa rồi, cậu em họ tốt nghiệp một khoá chuyên tu nghiệp vụ tại thủ đô một nước từng là xã hội chủ nghĩa hùng mạnh. Câu đầu tiên khi nó về nước gặp tôi là sống ở Hà Nội bây giờ sướng hơn hẳn ở bên đó anh ạ. Không phải sợ hãi cướp bóc chém giết khi ra đường buổi tối, người nước ngoài không bị cảnh sát chặn lại giữa đường kiểm tra giấy tờ dể moi tiền. Hà Nội thanh bình, không đắt đỏ. Tâm lý con người luôn “nhìn lên”, luôn cố so sánh với những kẻ thành đạt hơn. Nhiều người so sánh Hà Nội còn lâu mới bằng Pari, New York… Đúng là còn lâu. Đúng là còn lâu thằng cháu ngoại tôi mới sẽ thành một chàng trai cao lớn cường tráng. Song tôi yêu nó vì nó là cháu tôi, mặc dù bây giờ nó còn bé tí, đôi khi vẫn còn tè dầm. -------------------------------------------------------- http://vnexpress.net/Files/Subject/3...1/Pho-ganh.jpg Hàng Phở gánh xưa. |
Đêm pháo hoa
Thật lạ là trong lúc cùng hàng vạn người ở Hà Nội ngẩng đầu xem pháo hoa rực rỡ tối ngày 10 tháng 10 vừa qua, bỗng dưng tôi lại nhớ đến anh Khâm. Anh mất đã 14 năm. Lúc đó tôi làm giám đốc doanh nghiệp, anh là cán bộ cấp phòng trong công ty. Do anh lớn tuổi hơn nên tôi thường gọi anh là anh và xưng em như từ trước vẫn thế. Anh thì gọi tôi theo chức vụ và xưng “tôi” một cách cẩn thận. Anh bất ngờ phát bệnh ung thư gan. Mắc bệnh ung thư gan là đi nhanh lắm. Tôi đến thăm anh, định an ủi động viên anh thì anh lại an ủi động viên tôi. Anh bất ngờ chuyển qua xưng hô mày tao với tôi. Anh bảo mày đang khó khăn vất vả chèo chống công ty, lo cho mấy trăm miệng ăn. Mày nên làm thế này, thế này. Không nên làm thế kia, thế nọ. Anh cầm tay tôi, mắt rưng rưng: “Tao tiếc là không còn sống được bao lâu nữa để giúp mày một tay” Sau cuộc nói chuyện đó khoảng một tuần thì anh mất. Mười mấy năm rồi, dòng đời trôi hỗn độn, tôi hầu như không nghĩ gì về anh. Vậy mà sao anh lại bất ngờ hiện về trong ngàn sắc đêm pháo hoa. So với nhiều triệu năm tiến hoá, đời người âu chỉ là chớp mắt. Nó như quả pháo nổ bung mình ra, tạo trong chốc lát cảnh tượng đẹp đẽ rồi lụi tàn ngay sau đó? Nhưng đâu phải người nào cũng được đóng vai quả pháo hoa. Anh Khâm là con cả trong một gia đình có thể nói là nổi tiếng về học vấn và uy tín. Tốt nghiệp phổ thông, anh được chọn đi học nước ngoài nhưng vì là con cả nên anh từ chối, chỉ xin học Bách Khoa Hà Nội để có điều kiện chăm sóc cha mẹ và các em, nhường việc học ở nước ngoài cho người em trai. Ra trường, anh xin vào quân đội, “xí” chỉ tiêu mỗi gia đình phải có người nhập ngũ để em trai yên tâm học tập. Những năm chiến tranh gian khổ, bị ảnh hưởng của sóng ra đa, sức khoẻ anh không tốt. Anh gầy và hay cáu bẳn. Trong công việc anh cần cù và sáng tạo nhưng ít được lòng cấp trên vì hay nói ngang, tuy là nói đúng. Em trai anh học xong đại học, học tiếp đến tiến sĩ mới về nước. Y cao lớn béo tốt. Y giỏi giang. Y có uy tín. Y lấy được vợ đẹp người đẹp nết. Y không bao giờ dám hỗn với ông anh. Nhưng trong thâm tâm y coi thường ông anh quê mùa và thiếu văn hoá. Ai lại quanh năm chỉ đóng mỗi bộ quân phục bạc màu, đến là cái áo cho phẳng cũng không biết cách. Chân thì đi chữ bát. Ăn xong cứ lấy cái tăm gảy đàn răng. Cũng là con ông cháu cha, học giỏi mà đi bộ đội không đeo quá một vạch hai sao, chuyển ngành ra mấy chục năm mà chỉ mò mẫm được cái chức phó phòng. Anh Khâm buồn nhưng không nói ra. Anh thường nói thế hệ bọn tao chỉ làm nhiệm vụ lót đường cho các thế hệ sau bước lên mà đi. Anh chẳng được ra nước ngoài bao giờ. Em trai anh thì đi liên tục. Em anh giàu. Giàu thì phú quý. Anh nghèo. Nghèo thì hèn. Em anh chưa bao giờ tìm cách kiếm cớ cho anh trai mình được lấy một xu. Hôm đám tang anh Khâm tôi là trưởng ban tang lễ. Chúng tôi cố gắng tổ chức sao cho long trọng nhất trong khả năng có thể. Em trai anh Khâm, bây giờ đóng vai trưởng nam thế chỗ anh Khâm, thay mặt gia đình đến bắt tay tôi cảm ơn cơ quan. Tôi nói với y: - Trong bài điếu văn tôi đã không nói anh Khâm là một tấm gương hy sinh tận tụy vì gia đình, bạn bè và cơ quan. Không cần thiết phải nói một điều hiển nhiên phải không anh? Ông tiến sĩ cao lớn nắm chặt tay tôi: - Đúng anh ạ. Trong tôi, trong anh, trong chúng ta có một phần rất lớn anh Khâm. Cảm ơn anh đã cho tôi cơ hội nói ra điều đó. ********** Người ta tiếp tục xem pháo hoa. Những tiếng thốt lên: “Đẹp quá! Đẹp quá!” Những đôi tình nhân hân hoan. Những cụ già nông dân cười hớn hở. Bọn trẻ con hò reo phấn khích. Tôi thấy pháo hoa rất đẹp. Pháo hoa càng đẹp hơn khi tôi hiểu rằng có nó là nhờ những người như anh Khâm, những thế hệ con dân Việt nam vô danh thầm lặng chịu mọi mất mát thiệt thòi. |
Ông xích lô và nhà thơ
Một người nước ngoài chuyên nghiên cứu về Việt nam (tên chữ gọi là nhà Việt nam học) là khách mời dự đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Nhà thơ nọ đưa ông bạn Việt nam học đi tham quan Hà Nội. Hai người quyết định đi xích lô ngắm phố phường và các danh thắng Thủ đô. Đã lâu rồi xích lô chỉ còn được dùng để phục vụ du khách và đám cưới. Nó không còn là phương tiện vận chuyển phổ biến như cách đây vài chục năm. Chính vì vậy được ngồi trên chiếc thùng chật hẹp chậm rãi dạo quanh trong ngày lễ hội cũng là một thú vui hiếm có. Nhà thơ của chúng ta tuy là nhà thơ nhưng cũng khá thực tế, ông cẩn thận thống nhất giá cả và điều kiện phục vụ trước khi cùng ông Tây bước lên xe. Cụ thể là 300 ngàn cho một cuốc xe 4 giờ đồng hồ, khách ăn uống gì thì ông xích lô cũng phải ăn uống cùng. Điều khoản thoả thuận về ăn uống nghe hơi buồn cười, song ông nhà thơ không muốn tỏ ra mình là “ông chủ” còn ông xích lô chỉ là “người phục vụ” Xe từ từ lăn bánh quanh Hồ Gươm. Đi tới đâu nhà thơ giới thiệu tỉ mỉ tới đó. Ví dụ: "Chúng ta xuất phát từ bến xe điện Bờ Hồ, ngày ấy có tuyến xe điện chạy dọc đường Lý Thái Tổ. Tiếp theo là nhà hàng Thuỷ tọa mà người ta quen gọi chệch thành Thuỷ tạ, kia là nhà Đấu xảo thời Pháp, năm 1945 là nơi Quốc Hội nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên, những năm đất nước bị chia cắt nó là địa điểm ban Thống nhất trung ương dùng làm nơi giao lưu gặp gỡ của những cán bộ miền nam tập kết, sau năm 1975 được dùng làm phòng vé của Hàng Không Việt nam một thời gian. Cứ thế ông nhà thơ say sưa giới thiệu kỹ càng mọi ngôi nhà góc phố cho bạn nghe. Ông còn chỉ về phía vườn hoa quanh hồ: “Thời Mỹ ném bom miền Bắc, chỗ này là những hầm tránh bom”. Riêng Tháp Rùa, nhà thơ nói khá kỹ. Tượng Nữ thần Tự do thu nhỏ mà dân ta hay gọi là tượng bà đầm xòe được đem triển lãm ở hội chợ Đấu Xảo tại Hà Nội (nay là Cung văn hóa hữu nghị) vào năm 1887. Kết thúc triển lãm, tượng được tặng cho Hà Nội và được dựng ở vườn hoa trước Ngân hàng Đông Dương, tức vườn hoa Chí Linh, nơi đặt tượng đài Lý Thái Tổ bây giờ. Vào ngày 14 tháng 7 năm 1890, ngày Quốc khánh Pháp, chính quyền Pháp tại Đông Dương quyết định dựng tượng Paul Bert thế chỗ tượng bà đầm xòe; tượng bà đầm xòe do đó được chuyển lên đặt trên đỉnh tháp rùa, mặt hướng về phía tượng Paul Bert. Năm 1896, tượng được mang về đặt tại vườn hoa Cửa Nam, lúc đó gọi là Quảng Văn Đình hay vườn hoa Neyret. Quảng Văn Đình vốn là nơi nhà Nguyễn cho tụ họp mọi người đến nghe giảng về các chủ trương, thông báo của triều đình. Khi người Pháp chuyển tượng bà đầm xòe về đây đã làm biến đổi kiến trúc nơi này, khiến cho các nhà nho phản ứng. Ngày 31 tháng 7 năm 1945, thị trưởng Hà Nội trong chính phủ Trần Trọng Kim, lúc đó là ông Trần Văn Lai, ký lệnh giật đổ tượng bà đầm xòe vì cho rằng đó là tàn tích của chế độ thực dân Pháp. Cứ thế họ đi một vòng Hồ Gươm rồi dọc Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Ngang qua chợ Đồng Xuân, qua Tháp nước Hàng Đậu hơn 100 tuổi rồi theo đường Quán Thánh lên đường Thanh Niên. Ông nhà thơ tiếp tục giới thiệu kỹ các đền chùa, lịch sử hình thành đường Thanh Niên, còn nói thêm là mộ nữ thi sỹ Hồ Xuân Hương nay chìm dưới lòng Hồ Tây, lại nói kia là nơi nhà thơ Phùng Quán làm cái lều để cùng bạn hữu ngâm vịnh trong những năm ông bị “thi nạn”. Mải vui câu chuyện, nhà thơ và vị khách ngoại quốc to béo quên mất thời gian trôi rất nhanh và cũng quên không để ý ông xích lô lặng lẽ đạp xe đã ướt đẫm mồ hôi. Quán Bánh Tôm Hồ Tây cứu họ khỏi sự sơ suất đó. Ông nhà thơ mời bạn và ông xích lô vào uống giải khát. Nhà thơ đáng yêu của chúng ta say sưa kể tiếp về Hà Nội. Họ quay lại đúng điểm xuất phát ở Bờ Hồ. Không thích để ông bạn nước ngoài nhìn thấy, ông nhà thơ tế nhị kéo ông xích lô ra xa vài bước để thanh toán tiền. Thật bất ngờ là ông xích lô đổi giọng, thái độ có vẻ gì đó bất thường. Dân xích lô và xe ôm là chúa hay viện lý do này nọ xin xỏ thêm. - Bác cho tôi một trăm thôi. Ông nhà thơ ngần ngừ, rồi cũng lấy ra 400 ngàn đưa cho ông xích lô. Vị tài xế tay lái vuông (người Hà Nội gọi vui dân xích lô là tài xế tay lái vuông) kêu lên: - Tôi nói là chỉ lấy một trăm thôi. Rồi trả lại 300 ngàn cho nhà thơ. Nhà thơ ngớ người: - Sao thế? - Tôi dân Hà Tây, bây giờ là Hà Nội mới, làm ruộng, không được học hành mấy. Hôm nay đi với bác tôi nghe được nhiều điều tôi chưa hề biết nên chỉ xin bác cho một trăm là đủ. - Không được. Thoả thuận là thoả thuận. Bác đi làm vất vả phải mang tiền về cho vợ con. Ông nhà thơ nhượng bộ, bớt lại một trăm, cố dúi vào tay ông xích lô ba trăm. Hai người co kéo làm cho ông Tây trố mắt. Được cái là ông Tây khá thông minh, lại nhiều năm nghiên cứu về Việt nam nên nhảy vào làm trọng tài bằng một thứ tiếng Việt khá sõi: - Thôi xin hai ông, tôi nghĩ tốt nhất là “cưa đôi”, mỗi ông thiệt một ít. Một trăm cộng ba trăm là bốn trăm cưa đôi thành ra hai trăm. Thế được chưa? Ông Tây dúi hai trăm vào túi áo ngực ông xích lô. Chắc là vì ông Tây quá cao to nên ông xích lô nhỏ thó khó bề chống cự. Ông xích lô chợt nhớ mấy chữ tiếng Anh bồi do đám bạn bày cho: - Thanh kiu ve ri mát! Trên đường đến chỗ gửi xe máy, nhà Việt nam học khoác vai nhà thơ Việt: - Anh hay hỏi tôi vì sao tôi thích sang Việt nam. Hôm nay anh có câu trả lời rồi đó! |
Trích:
Cách đây tầm khoảng 20 năm (1991), tôi có ra Hải Phòng làm việc ở đấy 1 năm. Thỉnh thoảng tôi hay về Hà Nội chơi. Tôi hay đi lang thang khắp phố phường Hà Nội. Ông bà, cô chú tôi có xe máy, nhưng tôi lại muốn đi bộ cho thoải mái phần vì không thích làm phiền, phần thì không quen "lệ" đi đường ở Hà Nội(mặc dù nó không khác Sài Gòn). Hôm ấy tôi rảo bộ từ Trương Định (gần Mơ) đến Bờ Hồ, sau đó lang thang đến Bốt Hàng Đậu thì cũng cảm thấy mỏi chân rồi. Tôi bèn đến chỗ một chú đạp xích-lô (khoảng lục tuần)nói rằng muốn đi đến khu Thủ Lệ ở đường Bưởi-nhà cô bạn gái của tôi ở đấy. "Bố già" đạp xích-lô nhìn tôi hỏi: -Chú ở "miền Vô" mới ra đây hả? (Ông ấy nghe giọng của tôi) , bây giờ tôi phải về rồi, tôi không đi nữa! Chú đón xe khác hoặc xe ôm cũng được. Từ đây đến chỗ ấy khoảng chừng này... chừng này cây số thôi! Và chú cũng "giả" ngần ấy tiền thôi nhé! Tôi có việc nhà chứ không tôi cũng đưa chú đi! Nhớ là chỉ khoảng ngần ấy tiền thôi nhé! Ông già đạp xích-lô tận tình và và chu đáo thật! Trong tôi, vẫn có một Hà Nội khác như thế! Và còn nhiều chuyện khác, điều khác mà tôi đã được đón nhận ở Hà Nội...:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe |
Chiếc chậu thau đồng
Bà Hải có một chiếc chậu thau đồng nhỏ, cũ kỹ và móp méo. Thời sơ tán, đi đâu bà cũng tha chậu đi, nhưng chỉ để đựng gạo chứ không bao giờ dùng nó để giặt giũ. Sau này, mấy bận dọn nhà mới, bà vứt đi nhiều thứ tầm tầm, riêng cái chậu thau đồng bà vẫn cẩn thận mang theo, cất kỹ trong tủ. Có một việc duy nhất bà dùng đến cái chậu thau bé nhỏ là hoá vàng vào những ngày rằm, mồng một và giỗ chạp. Hoá vàng xong, bà rửa chậu sạch sẽ, lau khô rồi lại cất vào tủ. Con cháu bà dần quen với với việc bà đặc biệt quý cái chậu thau cổ lỗ sĩ, coi đó như một thói lẩn thẩn của người già. Bà Hải có một thói lẩn thẩn nữa là sợ nước. Đi sơ tán, việc gì khó mấy, vất vả mấy bà cũng xung phong nhận, nhưng xin các thủ trưởng hãy tha cho bà chuyện lội đồng, xuống ao, ra sông. Sau này, mỗi lần cơ quan tổ chức liên hoan trên du thuyền Hồ Tây, bà đều cố tìm cách vắng mặt. Mấy chú thanh niên cứ nằng nặc lôi bà đi. Ngồi trên du thuyền đi vòng hồ, mặt bà trắng bệch, tuyệt nhiên không cầm đũa gắp lấy một miếng. Người ta cười bà sợ nước. Hôm qua thằng con trai đầu của bà đi Hà Tĩnh về. Cơ quan nó tổ chức một đoàn đại biểu vào tận nơi trao quà cho các gia đình bị nạn. Quà gồm 40 cái phong bì, mỗi phong bì 500 ngàn đồng. Tổng cộng là 20 triệu. Thằng con kể có nhiều chuyện thương tâm lắm. Có nhà chết hai ba người. Có nhà chết người lớn, để lại con thơ, có nhà vợ mất chồng. Bà Hải lặng yên ngồi nghe, gần cuối mới hỏi: - Thế đoàn các anh đi ba ngày chi phí hết bao nhiêu? Anh con trai kế toán trưởng không dấu diếm gì mẹ: - Dạ, khoảng tám mươi triệu ạ. Bà Hải mím môi không nói gì. Mãi sau bà mới nói với anh con cả: - Mai mẹ làm cơm, con báo cho tất cả các con cháu tập trung ở đây nhé. Người con trai biết tính mẹ, không dám hỏi mai là ngày gì mà lại tập trung ăn cơm. * Khoảng 11g hôm sau, bốn gia đình con dâu rể cháu có mặt đầy đủ.* * Cô dâu trưởng chạy vào bếp định giúp một tay thì người giúp việc bảo bà làm xong hết cả rồi, bà dặn mọi người chờ bà tụng kinh xong là ăn cơm. Tiếng bà tụng kinh gõ mõ từ tầng 4 vọng xuống. Không một đứa cháu nào dám lên chào bà khi bà đang tụng kinh. Nửa giờ sau bà mới xuống, khoác bộ đồ nâu nhà chùa, tay cầm gói vàng mã. Mở tủ lấy cái chậu thau đồng cũ, bà mang ra sân, từ từ hóa xong chỗ vàng mã rồi mới vào nhà bảo con cháu dọn cơm ra ăn. Bữa liên hoan gặp mặt đại gia đình chỉ có hai món: Đậu phụ rán và rau muống luộc. Đám trẻ con nhìn nhau. Người lớn thì không dám hé răng hỏi. Bà Hải mời cả nhà ăn cơm, bảo ăn xong bà có chuyện muốn nói. Nhìn bữa cơm chay đạm bạc, ai cũng thất vọng. Nhưng ăn vào vẫn thấy ngon. Mấy đứa trẻ quen cơm gà giò chả, mấy người lớn quen lẩu nọ lẩu kia hôm nay ăn một bữa chay cũng thấy hay hay. Ăn xong, bà Hải gọi mọi người quây quần quanh bàn nước. Nhìn thái độ bà khác mọi ngày, ai cũng nơm nớp. - Mỗi lần nhà ta có việc, mỗi gia đình đóng góp bao nhiêu thì hôm nay xin bỏ ra bấy nhiêu. Bác cả nộp một triệu, ba người em mỗi người nộp năm trăm ngàn. Bà Hải cho số tiền hai triệu rưỡi vào phong bì, đặt lên cái đĩa trên bàn thờ. Bà ra sân lấy cái chậu thau đồng bây giờ đã nguội, đổ tro vào túi ni lông rồi cẩn thận rửa sạch cái chậu. Lau khô chậu bằng một cái khăn mặt mới, bà kính cẩn đặt cái chậu cũ kỹ lên mặt bàn nước. - Năm 1956 quê mình lụt to lắm. Nước ngập hết. Nhà mình nước lên đến gần vì kèo. Bố bà, tức là cụ ông của các cháu, đang công tác xa. Ở nhà chỉ có cụ bà, bà và hai người em. Bà 7 tuổi, ngồi trên vì kèo tre. Ông Hoàn 3 tuổi ngồi trong cái thúng bọc vải mưa còn bà Hiền mới 6 tháng thì nằm trong cái chậu thau đồng này. Cả hai thứ lềnh bềnh trên mặt nước. Bà Hải chỉ vào cái chậu thau bé tí. - Bà lấy tay giữ cái thúng và chậu thau để hai em khỏi bị lật xuống nước. Thỉnh thoảng cụ trèo lên nhòm qua lỗ mái tranh xem trời bên ngoài mưa gió đến mức nào. Toàn bộ thức ăn là mấy củ khoai sống mà cụ phải lặn xuống mò lên sau khi bố trí được cho ba người con an toàn. Rất lạnh. Bà ngồi ngâm chân trong nước. Ông Hoàn và bà Hiền tuy không bị ướt nhưng cũng lạnh. Bà Hiền nằm trong chậu thau càng lạnh hơn. Ông Hoàn được ưu tiên gặm khoai nên chịu nằm yên. Riêng bà Hiền khóc ghê quá vì khát sữa. Cụ cố gắng nhét vú vào miệng con. Nhưng sau hai ngày không ăn không uống, ngâm mình trong nước lạnh nên sữa cạn khô. Bà Hiền khóc khản tiếng, rồi không khóc nữa, nằm im. Thấy em nằm im hơn nửa ngày không khóc, bà hỏi cụ: - Sao em Hiền không khóc nữa? Cụ nói mà mắt nhìn đi chỗ khác: - Chắc là em thiếu sữa nên lả đi. Lúc đó bà còn bé quá, bà đâu biết là bà Hiền đã chết. Bà Hiền chết khi mới 6 tháng tuổi, chết ngay trong cái chậu thau này! Chết vì đói và lạnh. Mấy ngày sau nước rút. Cụ mang bà Hiền đi chôn, quấn con trong cái chiếu rách, làm gì có quan tài. Chôn con xong cụ mới ngồi khóc. Nếu còn sống, năm nay bà Hiền 54 tuổi rồi đó. Quê mình hay bị thiên tai bão lụt. Tháng tháng bà đều để dành khi được dăm chục, khi một trăm để hễ cứ nghe tin trong quê có lụt là bà lại gửi ngay về cho bác Thiện làm ở Uỷ ban xã để bác ấy chuyển cho những gia đình có người bị nạn. Cái phong bì hai triệu rưỡi mà các con đóng góp kia, mai bà cũng sẽ gửi về cho bác Thiện. Bà cảm ơn tất cả các con các cháu hôm nay đã cùng bà ăn chay niệm Phật chia sẻ với bà con vùng bão lụt. Mọi người kính cẩn nhìn chiếc chậu thau đồng. Bác cả đứng dậy, chắp tay lạy cái chậu thau rồi mở ví, có bao nhiêu trong đó là bỏ hết vào chậu thau. Mấy người em làm theo. Bọn trẻ con nhìn nhau, đứa nào trong túi có đồng nào cũng bỏ hết vào chậu. |
Đài Tổ Dân phố phỏng vấn lão Hâm về phòng chống hackers
- PV: Thưa lão Hâm, ông bình luận gì về việc một số blog sôi nổi bị hackers tấn công? - LH: Thường thì hễ cái gì nổi đều hay bị tấn công. Một người đàn bà đẹp bị nhiều ông tấn công. Một siêu sao bóng đá bị thợ săn ảnh vây bắt khắp nơi. Một ca sĩ nổi tiếng bị “Cô gái đồ long” ám sát trên blog của mình. Tôi không bình luận về việc hackers là ai và với mục đích nào hackers tấn công trang web hay blog của ai đó. Hãy hỏi chính các hacker, tôi không trả lời thay họ được. - PV: Vậy cách phòng chống hacker là như thế nào, thưa ông? - LH: Như tôi vừa nói, hackers chỉ tấn công vào những đối tượng nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng rộng trong cư dân blog. Vậy cách tốt nhất để khỏi bị tấn công là mình đừng có nổi tiếng. Hãy cố gắng làm một blogger bình thường như bao người khác. Đừng quá thông minh sắc sảo, đừng động vào những vấn đề nhạy cảm, đừng đi lề phải và cũng đừng đi lề trái! - PV: Tôi nhớ là giáo sư Ngô Bảo Châu có viết đại ý: “Chỉ có những con lừa mới chọn lề”… - LH: Giáo sư Ngô Bảo Châu nói đúng. Tôi chỉ phát triển ý của giáo sư thôi: “Đừng chọn lề nào hết!” Tóm lại là nên đi trên giải phân cách! - PV: Ông quả không hổ danh là lão Hâm, lúc nào cũng có thể đùa được! Thế những người vốn đã thông minh, sắc sảo và nhạy cảm thì phải làm sao, chả nhẽ phải giảm sự thông minh sắc sảo nhạy cảm của mình đi? - LH: Cảm ơn anh đã có lời khen. Nhà văn Nguyễn Quang Lập mà chúng ta quen gọi là “bọ Lập” đã khoá chiếu rượu của mình lại, ai vào đọc thì đọc chứ không cho comment nữa, cười ha hả cũng không, cười mỉa cũng không, cười ruồi cũng không. Chiếu rượu chỉ bày rượu chứ không cho uống. Không cắt gọt được sự thông minh sắc sảo của mình thì phải cắt gọt cái khác thôi? Tuy nhiên, người châu Âu có câu: “Không có tình huống nào không có lối thoát”, ta thì các cụ hay nói: “Vỏ quýt dày có mòng tay nhọn”. Vẫn có cách để phòng chống hacker có hiệu quả. - PV: Xin ông trình bày những cách đó cho bạn nghe đài của tổ Dân phố. - LH: Tôi xin giới thiệu cho những người bình thường đang chơi internet cách phòng chống thông thường đối với hacker thông thường. Còn loại hacker cự phách thì chỉ có cách làm như tổng thống Putin. Đó là yêu cầu các chuyên gia tin học lập cho tổng thống một trang web bảo mật đến tận răng. Các chuyên gia phải mất ba tháng mới làm xong trang web này. Chắc hẳn không có ai trong chúng ta đủ quyền và tiền để làm việc này. Thông thường hacker tìm cách lấy password (mật khẩu) hòm thư của bạn hay của blog bạn đang xài. Có mật khẩu rồi, hacker sẽ vào biến đổi nội dung trang blog của bạn, đơn giản là xóa những bài viết mà hacker không thích. Có nhiều cách đánh cắp mật khẩu. Nếu hacker chính là bạn mình ngoài đời thì hắn chỉ cần bạn cho hắn mượn máy tính khoảng mươi lăm phút là đời bạn tiêu rồi đó! Còn nếu là người xa lạ thì hacker phải tìm cách cài vào máy bạn một con sâu be bé. Con sâu này có khả năng ghi lại tất cả những gì bạn gõ trên bàn phím (Keylogger hay "trình theo dõi thao tác bàn phím" là một chương trình máy tính được viết nhằm mục đích theo dõi và ghi lại mọi thao tác thực hiện trên bàn phím vào một tập tin nhật ký (log) để cho người cài đặt nó sử dụng. Về sau, keylogger phát triển cao hơn, nó không những ghi lại thao tác bàn phím mà còn ghi lại cả các hình ảnh hiển thị trên màn hình (screen) bằng cách chụp (screen-shot) hoặc quay phim (screen-capture)), rồi gửi cho ông chủ của con sâu. Bạn làm gì nó cũng biết, mấy cái mật khẩu là cái đinh gì! - PV: Kinh nhỉ, thế làm sao cho nó không cài cái con sâu đó vào máy mình? - LH: Những việc cần làm ngay: 1. Cài đặt một phần mềm thực sự đảm bảo chống virus, chống gián điệp, chống tấn công từ bên ngoài. Cài đặt phần mềm này rồi thì phải thường xuyên cập nhật nó, kiểu như luôn bổ sung các loại kháng sinh mới để diệt những siêu vi trùng bị kháng thuốc hay siêu vi trùng mới xuất hiện. Cái khó là chọn phần mềm nào vừa giỏi đánh giặc lại ít đòi hỏi đãi ngộ (tốn ít bộ nhớ, không làm máy tính chạy chậm). Kinh nghiệm cá nhân tôi: Dùng Kaperski là tốt nhất. Hiện có các đại lý của Kaperski ở Việt nam. Mua gói 500 ngàn cho phép cài 5 máy tính dùng trong hai năm. Tính ra mỗi máy mỗi năm chỉ mất có 50 ngàn đồng! 2. Dùng một số phần phụ trợ của trình duyệt web, sẽ ngăn chặn rất tốt các loại gián điệp thông qua đường trang web. Cái này nên nhờ người thạo IT làm cho. 3. Không chát với người lạ, không mở các đường link xuất hiện trong cửa sổ chát nếu chưa biết ai gửi cho mình, có đảm bảo không. Thường hacker hay giả mạo người quen thân để cài bẫy mình. Ví dụ ta có ông bạn thân là “vanconghung”, nó sẽ bịa ra một cái tên gần giống là “vanconghưng” rồi nhảy vào chát với ta, ta cứ tưởng đó là anh bạn đáng yêu Văn Công Hùng, thế là nó cài được con sâu vào máy của ta rồi! Các bác giai ham của lạ hay bị lừa bởi các nick “Em xinh”, “Em chán chồng”, he he! 4. Tạo mật khẩu rắc rối, khó đoán. Nói chung càng nhiều ký tự càng tốt. 5. Không dùng bàn phím khi gõ mật khẩu. Cái này cực kỳ quan trọng, nhất là khi máy tính của bạn đã bị dính sâu. Bạn đánh mật khẩu vào một file, đặt tên file không liên quan gì đến mật khẩu hết, để hacker không quan tâm, ví dụ tên file là “nhackhongloi” (nhạc không lời). Mỗi khi cần nhập mật khẩu, bạn mở file đó ra, copy và dán mật khẩu để hacker không biết bạn gõ mật khẩu gồm những ký tự gì. Có một cách khác nữa là dùng con chuột để “gõ” mật khẩu. Vào “Start” – “All Progams” - “Assessories” - “Accessibility” chọn “On-Screen Keyboard”, sẽ hiện ra một bàn phím, ta dùng chuột mà lấy ký tự thay cho việc gõ vào bạn phím. Thoạt tiên thấy khá rắc rối, dùng vài lần quen thấy cũng đơn giản. 6. Dùng phần mềm LastPass là phần mềm lưu giữ (một cách an toàn) và tự động điền tên và mật khẩu cho ta mỗi khi đăng nhập. Có thể tải về và cài đặt LastPass. Nếu chưa thạo thì nhờ chuyên gia. Tôi không giới thiệu kỹ cái này mặc dù nó rất hay vì phải hơi thạo máy tính một chút thì mới sử dụng được. Mà đối với người thạo máy tính thì chỉ cần nói thế là đủ. - PV: Cảm ơn ông, có lẽ tôi cũng phải làm như ông bày. Chúc ông cuối tuần vui vẻ! - LH: Chúc các bạn nghe đài tổ Dân phố vào nét an toàn và bổ ích! |
Em cảm ơn nhà văn, em đã được đọc "Nhà số 10". Nhiều đoạn thú vị, cười khúc khích. Nhiều đoạn cảm động, nhớ về một thời mình chỉ được nghe mà không biết, nhớ cả thời cuối bao cấp mình cũng được nếp trải...
Có một vài ghi chép kiểu tản văn tạp văn của bác trong đó, em nghĩ nếu phát triển tiếp nữa thì thành một truyện ngắn hay truyện dài tuyệt hay! Cả nhà em đọc tập truyện này. Xin cảm ơn bác nhiều! |
Thư của Đặng Phương Trâm
Đăng Phương Trâm - em gái của anh hùng liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm - là bạn học học phổ thông với tôi. Hôm nay bạn ấy gọi điện rồi mail cho tôi lá thư, tôi xin đưa nguyên văn lên đây để chia sẻ cùng các bạn. Thắng ơi, Đã lâu không họp lớp, chắc là hôm nào phải hâm lại mối liên kết tuổi già này chứ? Có người bảo vì lớp trưởng chỉ mải làm thơ mà chẳng nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ để các bạn già mỗi đứa một nơi chẳng gặp được nhau. Hôm 26/11 này là sinh nhật chị tớ, mình soạn lại các bài viết trên máy tính, muốn gửi Thắng một bài mình viết đã lâu, dịp NXB Kim Đồng đăng loạt bài về 35 năm cuốn nhật ký của chị ấy. Thắng đọc đi, xem như món quà sinh nhật tinh thần gửi đến chị ấy nhé. Gặp Nguyễn Trung Hiếu ở Mỹ Frederic Whiterhurst, người lính Mỹ đã giữ cuốn nhật ký của chị tôi từ năm 1970 tới nay nói anh giữ cuốn nhật ký này mà không quăng nó vào lửa như như đã làm đối với những vật dụng khác không liên quan đến thông tin quân sự, chính là vì người phiên dịch của anh lúc ấy tên là Nguyễn Trung Hiếu đã nói với anh rằng “bản thân nó đã có lửa rồi”. Fred không thể đọc tiếng Việt, nhưng lúc đó anh giữ cuốn nhật ký lại. Đó là một khoảnh khắc sẽ thay đổi cả cuộc đời anh. Nghe người phiên dịch đọc những dòng chữ từ cuốn sổ, anh hiểu rằng đó là cuốn nhật ký của một người nữ bác sĩ của phía bên kia, một “Vi Xi “. Và rồi như một định mệnh, anh có thêm cuốn nhật ký thứ hai cũng của người nữ Việt cộng ấy, thu được từ hành trang còn lại khi người nữ bác sĩ bị giết để rồi những buổi tối trong khoảnh khắc ngưng tiếng súng, qua người phiên dịch Hiếu những câu chữ từ cuốn nhật ký cho Fred thấy hiện lên hình ảnh một con người với sức sống tràn trề, với lòng thương yêu tha thiết và lòng căm thù ngùn ngụt. Con người ấy ngay nơi chiến trường khói lửa vẫn sống một cuộc sống nội tâm sâu sắc, đa sầu đa cảm mà lại kiên cường. Lần đầu tiên Fred có được sự hình dung cụ thể về cuộc sống nội tâm của người phía bên kia chiến tuyến, Việt cộng là như vậy sao? Cuốn nhật ký làm cho anh trăn trở, băn khoăn. Rồi thời hạn quân ngũ chấm dứt, trở về Mỹ Fred đã mang theo hai cuốn nhật ký của người bác sĩ Việt cộng. Với sự giúp đỡ của người anh cũng là lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam, có vợ là người Việt Nan, Fred càng đọc càng khâm phục những tình cảm, cuộc sống của người con gái và thấy như bị một điều gì đó từ cuốn nhật ký thôi thúc. Chị là ai? Gia đình chị giờ này ở đâu có còn hay đã mất sau những năm tháng bom đạn chiến tranh liên miên? Gia đình chị có biết những suy nghĩ của chị? Họ đã thử tìm kiếm nhưng rồi vô vọng, và đến lúc như đã tuyệt vọng họ đem hai cuốn nhật ký tặng cho Trung Tâm Việt Nam của trường Đại học Texas ở Lubbok nhân một kỳ hội thảo thường niên. Bài tham luận của Fred về nhật ký của người Việt cộng hôm ấy thật sự đã gây được xúc cảm sâu sắc của cử toạ, và một người cựu binh Mỹ khác, phóng viên ảnh chiến trường Ted Engelmann nhận lời giúp tìm kiếm gia đình. Điều kỳ diệu xảy ra thật nhanh: chỉ vài tuần sau Ted tìm được địa chỉ gia đình Đặng Thùy Trâm. Từ T.P Hồ Chí Minh anh bay ngay ra Hà Nội, và trao cho gia đình chiếc đĩa CD quý báu. Lần đầu tiên những người ruột thịt của Đăng Thùy Trâm biết được chị sống ra sao và những gì trải qua trong cuộc sống tinh thần của chị trong những ngày trên chiến trường khói lửa ấy. Những dòng nhật ký mang trong nó sự tràn trề tình yêu cuộc sống, yêu tổ quốc, yêu thương con người, những dòng chữ thấm máu đồng đội và của chính chị thật cụ thể như chị đang hiển hiện Những người thân của chị không thể đọc hết cuốn nhật ký ngay trong lần đầu tiên mà phải dừng lại từng quãng để nén lại nỗi đau, để tạm nguôi ngoai những dòng nước mắt. Chị đã sống bằng tất cả trái tim tình cảm của tuổi thanh xuân đang sôi nổi tràn trề. Trái tim chị dành nhiều tình thương cho đồng đội, cho tổ quốc và biết bao nỗi nhớ về Hà Nội, nơi có người mẹ đang đau đáu trông con, nơi có những đứa em thân thiết, nhớ hình ảnh thanh bình của trường mẫu giáo lúc trẻ thơ tan trường, nhớ ánh nắng trong hành lang bệnh viện nơi chị thực tập…Đọc những dòng chị viết, tôi - đứa em thân thiết mà chị thường nhắc tới nhiều nhất - thấy lòng nhói đau vì thương chị, và vì sao mãi giờ này chúng tôi mới có được những có được một phần chân dung cuộc sống tinh thần của chị trong những ngày chị cách xa gia đình từ dạo ấy. Cám ơn những người lính Mỹ đã gìn giữ và đem những dòng nhật ký, linh hồn chị về cho gia đình. Nhưng người đã có công giữ lại cuốn nhật ký trước hết phải là người lính phiên dịch tên là Nguyễn Trung Hiếu, nếu không có anh thì những trang viết của chị tôi chắc sẽ chỉ là tro bụi. Chỉ đọc lướt trong lúc phân loại tài liệu và cảm nhận được chất lửa từ những dòng chữ chị tôi để lại, tôi đoán anh là con người rất có tình mới có thể can đảm vượt qua những quy định về kỷ luật quân đội mà nói với vị cố vấn Mỹ cấp trên của mình là Fred đừng đốt nó. Nói về cuốn nhật ký bằng hai từ “có lửa”, anh chắc phải là người yêu thích văn học, tao nhã, có tâm hồn mẫn cảm. Nhật ký được xuất bản. Em gái tôi - Kim Trâm - khi viết lời đề từ cho cuốn nhật ký xuất bản, đã nhắn lời tha thiết đến Hiếu, người phiên dịch ở Quảng Ngãi năm ấy, mong rằng anh sẽ lên tiếng để gia đình tôi được có dịp gặp gỡ và tri ân. Nhưng rồi sách đã xuất bản, tiếng vọng từ độc giả khắp trong Nam ngoài Bắc và cả từ nước ngoài đã gửi về gia đình ào ạt, chúng tôi có thêm nhiều bạn, mẹ có thêm nhiều người con, nhưng không có tin gì về Nguyễn Trung Hiếu. Khi anh em nhà Whiterhurst sang Việt nam, cùng gia đình tôi về Quảng Ngãi thăm lại nơi chị Thuỳ Trâm chiến đấu và hy sinh, với ý định sẽ tìm kiếm Hiếu tôi đã nhờ Fred tả lại hình dáng anh. Theo Fred, khuôn mặt Hiếu khó mô tả nhưng có thể anh giống một người cùng đi trong đoàn của chúng tôi lần ấy. Tôi băn khoăn với ý nghĩ trong cuộc chiến tranh ác liệt nhường ấy năm ở nơi chiến trường máu lửa, số phân của anh có được may mắn bình an … Biết đâu đã có điều gì không may, vì thông tin về số phận kỳ lạ của cuốn nhật ký của chị tôi cũng như cách nó đi qua nửa vòng trái đất trở về với gia đình sau 35 năm đã nhanh chóng được nhiều người quan tâm, hiện tượng gần như một cơn sốt, sách trở thành “best seller”, các cuộc giao lưu giữa gia đình và công chúng, các phương tiện thông tin đại chúng cũng nói rất nhiều về người nữ bác sĩ đã viết cuốn nhật ký, vậy mà chẳng có một tin tức nào về anh hay gia đình, bạn bè anh. Chúng tôi đoán là có lẽ anh đã theo dòng người di tản và đang sống nơi nào đó ở hải ngoại, Mỹ chẳng hạn. Nhiều người nhắc đến anh, trân trọng việc anh làm và cho rằng anh có thể đã chết vì chỉ như vậy mới không thấy anh lên tiếng. Anh Hiếu ở đâu, có biết rằng chúng tôi mong mỏi tin anh biết chừng nào? Chúng tôi gần như không hy vọng về tin tức của Hiếu vì chẳng có một dấu hiệu gì. Trước khi về Mỹ anh em Rob và Fred tha thiết mời mẹ tôi nhận lời tài trợ của họ để đến Lubbok, nơi lưu giữ cuốn nhật ký của chị Thùy Trâm, và đến Bethel quê hương họ thăm bà mẹ Whiterhurst người đã khuyến khích các con giữ mối liên hệ tốt với gia đình tôi. Sau nhiều đắn đo mẹ tôi quyết định sắp xếp để cả ba chị em cùng đi với bà. Mẹ sẽ nhận tài trợ từ anh em Whiterhurst để họ yên tâm về “trách nhiệm chăm sóc mẹ từ những đứa con” còn lại chị em tôi sẽ tự sắp xếp. Chúng tôi đều nghĩ rằng đến để tận mắt nhìn thấy những dòng chữ của chị sẽ là giây phút thiêng liêng, niềm an ủi như gặp lại chính linh hồn chị, và việc con gái đi cùng để chăm sóc an ủi mẹ trong những lúc tình cảm xúc động là cần thiết nhưng việc cùng lúc phải trang trải cho mấy chị em “xuất ngoại” sẽ là điều phải tính toán. Cuối cùng chúng tôi chọn được phương án tối ưu, dù tuyến bay có kéo dài nhưng chi phí giảm đáng kể, và mẹ tôi có thể nghỉ ngơi vì có những thời gian không liên tục giữa các chuyến bay. Mọi sự chuẩn bị cho chuyến đi thuận lợi. Một tin vui đến với chúng tôi trước ngày lên đường: Hiếu vẫn còn sống! Qua sự tích cực tìm kiếm của báo Tuổi trẻ, cuối tháng 9/2005 gia đình tôi bỗng có tin về Hiếu.Thật may mắn khi biết anh vẫn bình an, và đang định cư ở Mỹ. Nhưng cuộc sống của anh hình như cũng nhiều uẩn khúc… Em gái tôi nói rằng khi gọi cho Hiếu, biết là điện thoại từ gia đình Thuỳ Trâm giọng anh rất thảng thốt và lo sợ. Anh không từ chối trả lời cuộc gọi nhưng lại rất dè dặt, lúng túng. Lý do nào ngăn cản để anh không thể chuyện trò bình thường, điều gì đã xảy ra? Anh nói về những phiền phức từ những kẻ nào đó có thể làm xáo trộn cuộc sống của anh, và anh đang thất nghiệp. Không có vẻ oán trách hay căm thù chúng tôi, nhưng anh đang bối rối chưa muốn tiếp xúc. Dù sao chúng tôi cũng thở phào nhẹ nhõm biết chắc là anh vẫn còn sống. Qua báo chí và các phương tiện thông tin, anh biết cuốn nhật ký năm xưa của chị tôi đã được xuất bản, và đang ngày càng có nhiều người tìm đọc. Anh nói đã quá lâu, chuyện cũ tưởng đã qua đi, không ngờ… Sau đó những cuộc gọi từ chị em tôi, nhất là từ Uyên Ly, cô phóng viên của báo Tuổi Trẻ cứ ngày lại ngày nhẹ nhàng động viên anh, hẹn anh một dịp gặp gỡ. Ở Mỹ, Fred cũng liên lạc với Hiếu qua điện thoại. Chắc là họ đã cùng nhau nhắc lại thời tuổi trẻ nơi chiến trường khói lửa, và nhắc nhau về cuốn nhật ký có lửa ngày ấy. Nhưng Hiếu không cho chúng tôi một lời hẹn nào. Ngày lên đường đến Mỹ, bên cạnh mục đích chính “đến để nhìn tận mắt và cầm trên tay những gì chị tôi để lại” chúng tôi cũng phác thảo một kế hoạch đi gặp Hiếu. Những ngày ở Lubbok thật cảm động. Chúng tôi được Viện lưu trữ của Trung Tâm Việt Nam đón tiếp rất chu đáo, đích thân các ông GĐ và PGĐ ra tận sân bay đón cả gia đình với những bó hoa tươi, và họ cũng chuẩn bị cho gia đình phòng nghỉ rộng rãi ngay tại nhà khách của Đại Học Texas. Buổi sáng hôm sau, Gíam đốc Recxner và phó giám đốc Maxner cùng Lê Công Khanh một Việt kiều nay làm việc ở trung tâm này cùng đưa gia đình đi thăm cuốn nhật ký. Trung tâm nằm trong khuôn viên của Đại HọcTexas, không gian thoáng đãng với bãi cỏ rộng xén tỉa sạch sẽ và những bụi lau đang mùa nở hoa, những bông lau trắng muốt dập dờn theo gió cuối thu trong các bồn hoa bên ngoài Trung Tâm gợi cho tôi một cảm giác vừa lạ lẫm lại vừa man mác buồn. Giám đốc Recxner đưa tay chỉ tấm cửa căn phòng lớn và nói với tôi rằng cuốn nhật ký nằm trong phòng này.Tôi nắm tay mẹ, cùng các em gái theo chân ông bước vào phòng. Nhật ký được đặt trong hộp giấy có hoa văn màu đỏ trông rất quen thuộc, sau này Sarah, cô gái phụ trách việc chuẩn bị và bảo trì các tài liệu nói rằng khi được giao bảo trì cuốn nhật ký này cô đã nghiên cứu rất kỹ để chuẩn bị sao cho nó ở tình trạng tự nhiên nhất và giống như lúc đầu nhiều nhất. Giây phút cầm trên tay cuốn nhật ký của người chị yêu thương thật là thiêng liêng cảm động. Mẹ tôi đã không còn giữ được vẻ cứng cỏi như chúng tôi thường thấy, bà phải khuỵ xuống và không thể khóc thành lời. Còn tôi, nước mắt cứ chảy tràn không sao ngăn được. Những dòng chữ của chị nghiêng nghiêng nhỏ nhắn đều đặn từ trang này nối tiếp trang khác, chữ ký ở trang đầu vẫn là chữ ký ngày nào. Chị như đứng trước mặt tôi, chị Thuỳ của tôi với vẻ đoan trang và nụ cười nhẹ nhàng tươi tắn, với mái tóc xoã ngang vai. Một cái gì hư ảo khiến tôi nghẹn ngào không thể nói ra lời. Và thật đau lòng vì tôi không thể nào quên được hình ảnh trang cuối cùng của nhật ký mới chỉ ở phần đầu cuốn sổ, còn quá nhiều trang giấy trắng nguyên vẹn. Không hiểu khi viết đến những trang ấy chị có biết rằng sẽ phải dừng lại vĩnh viễn chỉ hai ngày sau? Dù sao chúng tôi cũng đã đến được Texas nơi có những trang giấy ghi lại những dòng được viết từ chính tay chi, tôi nghĩ thầm biết đâu có những khoảnh khắc nào đó linh hồn chị sẽ ở nơi này, cúi nhìn lại những trang viết của mình và mỉm cười vì nó đã từng được mẹ và những đứa em ruột thịt của chị lặn lội từ hàng chục ngàn cây số đến tận mắt nhìn, tận tay nâng niu ôm vào ngực di vật chị để lại. Chúng tôi rời Texas và lên đường đến gặp gia đình Whiterhurst ở North Carolina như kế hoạch đã định sẵn. Làng Bethel yên tĩnh, ít thấy bóng người qua lại nhưng những căn nhà nhỏ xinh đẹp được trang điểm bằng những bồn hoa đủ màu thấp thoáng dưới bóng cây cao vọi, xen giữa các ngôi nhà là thảm cỏ xanh mướt bằng bặn chứng tỏ chúng thường xuyên được chăm sóc xén tỉa, có cả những chú sóc nhỏ nhảy nhót vô tư kiếm ăn dưới tán những cây gỗ già. Phong cảnh nơi này thanh bình và nên thơ, đẹp đến nao lòng. Cuộc gặp gỡ giữa hai gia đình có hai người con xưa kia ở hai chiến tuyến đối đầu dường như không có chút gì xa lạ. Hai bà mẹ ôm nhau trong nước mắt, hai người con của họ nay chỉ còn lại người đàn ông Mỹ đã đứng tuổi, to lớn dềnh dàng đang nép vào khung cửa số phía cuối phòng cố nén tiếng khóc để không ai chú ý đến mình. Đã vĩnh viễn không còn người con gái đa sầu đa cảm rất đỗi yêu thương cuộc sống, yêu thương con người, chỉ còn lại hai gia đình nay đã gắn bó với nhau. Không ai nói ra nhưng hình như mọi người đều thấy sự hiện diện của chị ngay trong căn phòng khách của gia đình Whiterhurst trên đất Mỹ xa xôi này, vì chính chị là nguyên nhân của buổi gặp gỡ. Như Rob dã nói, cây cầu đã được bắc qua dòng sông cay đắng, để hai gia đình, hai dân tộc xích lại gần nhau. Người chị yêu thương của tôi đã làm nên chiến công cuối cùng như vậy. Nhưng còn Nguyễn Trung Hiếu, người đã phát hiện ra cây cầu ấy hiện giờ ra sao? Chúng tôi và anh em Fred đều nhắc đến anh. Việc liên lạc với Hiếu vẫn tiếp tục, các em tôi nói rằng giọng anh trong điện thoại có lúc nghe thổn thức nhưng vẫn lúng túng và tránh né đầy cảnh giác. Anh bối rối chưa biết có quyết định tiếp xúc với chúng tôi được không, và hỏi liệu gặp gia đình thì có phải gặp cả Uyên Ly nữa không? Dường như anh sợ sẽ bị xuất hiện trước công luận. Có một điều chúng tôi vẫn khẳng định được qua những cuộc trao đổi là trong anh không có sự hận thù. Chúng tôi không có nhiều thông tin về quan hệ của anh với cộng đồng người Việt nơi anh sống, nên luôn ngại liệu có làm phiền anh nếu cuộc viếng thăm của chúng tôi làm họ khó chịu. Về sự xuất hịên của gia đình tôi ở Lubbok có rất nhiều báo đài đưa tin và hình ảnh trên các phương tiện thông tin nên ở những nơi công cộng chúng tôi thường được nhiều người nhận ra. Những người Mỹ không quen biết thân thiện chúc mừng, những người Việt gặp trong quán ăn cũng vậy. Liệu có ai đó không ủng hộ chúng tôi và đã làm Hiếu phải lo lắng?. Cho đến lúc này, Hiếu vẫn còn rất dao động. Sau khi đã chịu nhận lời hẹn sẽ gặp nhau ở một địa điểm nào đó ở Washington để tránh mọi sự ồn ào chú ý, lúc trả lời cuộc gọi tiếp theo anh lại bất ngờ thay đổi ý kiến nói rằng có lẽ lần này không thể gặp nhau được vì anh còn có 3 con nhỏ phải chăm sóc đưa đón, và còn phải chờ vợ về để xem ý kiến chị thế nào. Nhiều băn khoăn trở ngại vậy sao? Chúng tôi không bao giờ muốn gây cho anh những điều nguy hiểm nếu có nhưng cũng không muốn từ bỏ ý định tiếp xúc với anh. Còn Uyên Ly, cô bảo nhất định sẽ đến gặp anh. Tôi đã hỏi Fred, đại ý là dưới cái nhìn của một người Mỹ biết rõ những mối quan hệ trong sự việc này, việc chúng tôi tìm gặp Hiếu có trở ngại gì không và liệu có điều gì bất trắc sẽ xảy ra? Với một thoáng ưu tư trong ánh mắt, Fred nói với tôi rằng việc gia đình chúng tôi gặp Hiếu sẽ rất tốt, và còn có ý nghĩa như là cứu cuộc đời của Hiếu. Tuy nhiên gặp ở đâu và như thế nào là thuận lợi nhất thì cần suy nghĩ. Đang băn khoăn chưa biết nên sắp xếp gặp gỡ nhau bằng cách nào thì đột ngột Hiền, em gái tôi báo là qua điện thoại Hiếu bảo anh không thể đến New York và đồng ý tiếp chúng tôi tại nhà anh, nguyên văn là “các cô đến đây”. Thế là trên đường đi từ North Carolina đến Washington một kế hoạch nhanh chóng được phác thảo: sau buổi đến thăm Đại sứ quán VN tại Mỹ tối nay, ngày mai chúng tôi gồm tôi, em gái tôi Hiền Trâm và Uyên Ly, cô phóng viên báo Tuổi Trẻ sẽ đi từ Washington đến thăm Hiếu ở San Jose (California) Một trở ngại lớn là làm sao ngay ngày mai có vé đi San Jose nơi Hiếu đang sống? Việc mua vé máy bay không dễ dàng vì chúng tôi không có thẻ tín dụng. Nhưng rồi chúng tôi đã nhờ được anh em ở sứ quán mua giúp vé, lại còn đặt hộ khách sạn. Đúng là ra nước ngoài thì sứ quán của ta chính là nơi tin cậy và thân thiết, khi chúng tôi gọi điện thoại đến, Bạch Ngọc Chiến - người tiếp điện thoại là tuỳ viên báo chí của sứ quán – dù chưa biết mặt và phải hỏi kỹ cụ thể họ tên chúng tôi nhưng vẫn nhanh chóng trả tiền mua vé và tiền đặt phòng ở khách sạn nơi chúng tôi sẽ đến ngày mai. Cuộc gặp gỡ ở sứ quán nghiêm trang nhưng thân mật, đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Tâm Chiến dành cho chúng tôi một sự đón tiếp ân cần. Có cả một số phóng viên từ Việt Nam qua, họ cũng rất quan tâm muốn biết lần này chúng tôi có liên lạc với Hiếu không? Chúng tôi tránh câu trả lời vì muốn giữ cho Hiếu một sự yên tĩnh. Mãi gần nửa đêm chúng tôi mới chia nhau về nghỉ ở các gia đình của sứ quán. Ba chi em tôi về nghỉ ở nhà Bạch Chiến để tiện sáng mai đi sớm.. Trước ba giờ sáng Chiến đã kịp thức dậy và chuẩn bị cho chúng tôi mỗi người một tô mì nóng nấu với cải xanh. Món ăn chuẩn bị theo kiểu Việt Nam và tình cảm của Chiến làm chúng tôi thấy vui và thật cảm động. Ba giờ sáng bên ngoài tối và lạnh,Chiến lái xe đưa chúng tôi ra sân bay, quãng đường khá xa mất khoảng gần một giờ. Biết mục đích chuyến đi của chúng tôi, và thấy chúng tôi băn khoăn hỏi thăm về cộng đồng người Việt ở Cali nơi Hiếu ở, Chiến động viên rằng chỉ có một số người qúa khích, có lẽ họ gắn bó và bị mất mát từ mối liên hệ với chế độ Sài Gòn cũ, còn đa số kiều bào ta lo làm ăn và có tình cảm rất tốt khi gặp đồng hương, nhiều người vẫn thường về nước. Chiến cũng nói rằng Hiếu đã làm một việc thiện, anh sẽ được mọi người ủng hộ và không có gì phải lo lắng như vậy. Chiến ghi cho chúng tôi một số điện thoại và dặn nếu gặp bất cứ khó khăn gì hãy gọi vào số này sẽ có can thiệp kịp thời. Chúng tôi xuất phát từ sân bay Washington và sẽ trở về sân bay J.F.Kenedy. Ở Mỹ sau thời điểm “11/9” những vé đi một chiều của người nước ngoài được xem xét rất kỹ, nên vé chúng tôi bị đóng dấu an ninh mức SSSS, tức là chúng tôi sẽ được khám xét kỹ càng nghiêm ngặt nhất. Quả thật vậy, những người có vé loại này phải đi cửa riêng, phải đứng vào vị trí nhất định theo tư thế bắt buộc để nhân viên an ninh kiểm tra cơ thể, vòng vàng hoặc kim loại đeo trên người phải cởi ra, tất cả đồ dùng cá nhân bị xem xét kỹ lưỡng, giày dép áo khoác phải để vào khay, ai có thắt lưng cũng vậy. Người ta còn dùng loại giấy đặc biệt rà phía trong túi xách tay của hành khách để dò phản ứng thuốc nổ nếu có. Từ cửa an ninh tôi quay ra vẫn thấy Chiến lặng lẽ đứng bên ngoài hàng rào đăm đăm nhìn vào. Tôi giơ tay chào và ra hiệu mọi sự ổn thoả trước khi bước vào cửa phía trong, lúc đó Chiến mới vẫy tay chào tạm biệt và bóng anh khuất dần. Khi chúng tôi ngồi yên chỗ trong máy bay thì cũng vừa 6 giờ sáng. Ba chi em bảo nhau gọi điện cho Hiếu để anh biết là chúng tôi chắc chắn sẽ có mặt ở San Jose, nghe tiếng chuông reo có người nhấc máy nhưng lại đặt xuống. Gọi lại lần thứ hai, có tiếng “alô” rồi dập máy ngay, có lẽ nhầm số…không liên lạc được với Hiếu, chúng tôi đành tắt máy theo yêu cầu vì chuyến bay sắp xuất phát. Sau một đêm không ngủ, kèm theo những băn khoăn từ lời đe doạ trước đó của Hiếu về việc đến thăm anh có thể bị “bụp” hoặc “không trở về được” khiến chúng tôi thấy căng thẳng. Để tránh sự chú ý của mọi người chúng tôi bảo nhau không nói tiếng Việt và không nhắc tên Hiếu. Tên anh được viết bằng mật danh “H1”. Do giờ ở San Jose chậm hơn Washington đến 3 giờ, sau 6 giờ bay chúng tôi đến Oakland thì đồng hồ ở đây mới hơn 8 giờ sáng! bước ra cửa sân bay, việc đầu tiên chúng tôi gọi cho Hiếu. Nghe giọng Uyên Ly nói nho nhỏ vào điện thoại, hình như có gì đó không ổn? Sau hồi lâu trao đổi cô tắt máy và nói rằng Hiếu lại bối rối chưa muốn gặp, anh bảo phải đi đón con, và rằng sáng hôm nay anh vừa bị ai đó gọi 2 cú điện thoại chửi bới lúc 3 giờ sáng. Thái độ của Hiếu làm chúng tôi cứ mãi băn khoăn và lo lắng cho anh. Từ sau sự kiện cuốn nhật ký của chị tôi, biết bao người đã nhắc đến Hiếu với một tình cảm trân trọng, đánh giá cao sự nhân ái trong con người anh.Tôi luôn nghĩ anh là người tốt, một người có tình cảm, vậy mà ai đã làm gì và sao anh lại phải sống thấp thỏm trong nỗi lo sợ đến như vậy? Ai đó đe doạ ư? Ở đâu cũng có người tốt và người xấu, thế nào cũng có người ủng hộ anh chứ! Chợt nhớ vì quên mất rằng trên bản đồ nước Mỹ New York ở mép bờ phía Đông còn San Jose nằm trên bờ phía Tây, lệch nhau đến 3 múi giờ nên sáng nay trước khi xuất phát 6 giờ sáng chúng tôi gọi đến anh thực ra là quá sớm, chỗ anh mới chỉ 3 giờ nên với cảm giác bất an lo lắng anh tưởng có ai đó đã gọi lại quấy rối! |
(tiếp theo)
Dù sao đã đến đây mà không gặp được anh thì sẽ rất ân hận nhưng trong tình thế này cứ phải về đến khách sạn rồi sẽ tính sau vậy. Tôi nhắc Uyên Ly quay mặt túi xách có logo của báo Tuổi trẻ vào phía trong để đừng ai chú ý, rồi chúng tôi thuê một chiếc taxi. Cầm địa chỉ trên tay, trên đường từ sân bay về khách sạn ông tài xế vui chuyện hỏi chúng tôi từ đâu đến và định làm gì ở đây? Chúng tôi bảo ở Việt Nam qua, đang thăm dò thị trường tơ lụa. Ông à à tỏ ra thông cảm và không hỏi gì thêm. Khách sạn nằm ở một quãng vắng trên đường từ sân bay vào thành phố Oakland. Đó là một khu nhà không lớn, trông có vẻ bình dân. (sau này qua tài liệu để trong phòng tôi biết Ramada có cả một hệ thống ở nhiều nước trên thế giới) Bước vào lobby hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là hai ông bà chủ với nước da nâu vùng Trung Đông, vẻ mặt không có vẻ gì là hiếu khách. Phía sau lưng họ có dòng chữ lớn “Ramada” tên khách sạn. Cảm giác cứ như đang như lạc vào thế giới đạo Hồi! Chúng tôi hỏi ông bà chủ về việc muốn nhận phòng đã đặt từ internet, sau một hồi kiểm tra họ cho biết dù đã có xác nhận giữ phòng nhưng tiền chưa chuyển tới, coi như không hợp lệ. Một thanh niên người châu Á cũng đang đi tới đi lui trong sảnh. Anh cứ nhìn chúng tôi như muốn chuyện trò, rồi lại thôi. Ngập ngừng hồi lâu anh hỏi giọng miền Nam khá thân thiện: “Các chị mới qua hả?” Thì ra anh đã biết chúng tôi là đồng hương, nhưng chỉ thế thôi, không phải là nhận diện được từ báo chí. Sau khi than phiền về việc ở đây thường xảy ra sự trục trặc phòng ốc sao đó và thăm hỏi chúng tôi vài câu xã giao, anh bước ra ngoài. Mọi sự không có gì phải cảnh giác! Sau hồi lâu trao đổi cuối cùng chúng tôi lại phải đóng tiền mặt mới có phòng nghỉ. Để hành lý lên giường, tôi bàn với Hiền và Uyên Ly tiếp tục liên lạc với Hiếu. Em gái tôi vốn có duyên trong các cuộc thương thảo, tôi mong là lần này Hiền cũng sẽ thuyết phục được Hiếu. Hiền bấm số, may sao gặp được Hiếu đang ở nhà. Tôi nghe giọng Hiền cứ nhẩn nha nói với Hiếu một cách nhẹ nhàng, từ những tình cảm của chúng tôi trong những ngày vừa qua khi đang ở trên đất Mỹ đến việc gặp gỡ cảm động ở nhà Fred, sau đó ân cần hỏi Hiếu về cuộc sống gia đình, về hai đứa con sinh đôi học giỏi của anh, về việc đưa đón vợ anh đi làm các con anh đi học hàng ngày liệu anh có quá vất vả…Rồi Hiền lại nhắc tới việc gặp gỡ. Không hiểu anh nói gì lúc đó mà em gái tôi kêu lên: “Không, em đã đến đây rồi mà không gặp được anh là em không chịu đâu!” Thì ra anh lại tránh cuộc gặp, và cách từ chối của anh nghe thật mủi lòng: “Tôi mang ơn gia đình cô vì đã đến đây thăm tôi, cô Thùy đã cứu sống cuộc đời tôi, nhưng lần này không gặp được đâu, hẹn lần sau…” Anh lại hoãn binh là phải đi đón con, về sẽ tính tiếp. Ba chị em tôi thấy thương anh lạ lùng. Có vẻ anh đang bị nhốt trong một tâm trạng hoang mang sợ hãi, không tự tin, một sức ép tinh thần nào đó đã đè nặng khiến anh luôn hốt hoảng không thể thoát ra được.Tuyệt không thấy anh oán trách về những sự phiền phức từ gia đình của người chủ cuốn nhật ký có lửa, nhưng lại không thể gặp chúng tôi. Chắc là anh rất hiền lành nên quá nhút nhát. Cho đến lúc này chúng tôi cũng chưa biết có thật là có một ai đó hay nhóm người nào đó đang chú ý đến Hiếu, ngăn cản đe doạ không cho anh tiếp xúc với chúng tôi? Thật là khó xử vì chúng tôi không muốn anh phải lâm vào tình trạng không may nào đó mà cuộc gặp gỡ có thể gây ra sau này. Đã quá trưa, sau khi gọi đem một ổ bánh pizza lên phòng, ba chị em cứ thế vừa ăn vừa bàn kế hoạch. Chúng tôi thống nhất là phải gặp được Hiếu, và thử đưa ra những phương án khác nhau. Nếu cả ba chị em cùng đi có thể gây cho Hiếu cảm giác bị sức ép và sự chú ý từ bên ngoài. Vả lại Hiếu đã từ chối mà chúng tôi cứ đến có thể làm anh không vui. Hai chị em tôi đi thì Uyên Ly không chịu, còn nếu chỉ một người đi “tiền trạm” có lẽ nên để Uyên Ly gặp Hiếu trước là hợp lý hơn cả vì anh đã biết Uyên Ly là phóng viên có quyền tiếp xúc, cô lại đã chuyện trò với Hiếu nhiều lần qua điện thoại như vậy đã là người quen của nhau. Cô sẽ nhắc cho anh về lời mời của anh là lý do chị em tôi có mặt ở đây, và sau đó chúng tôi sẽ danh chính ngôn thuận đến gặp anh. Uyên Ly gọi về toà soạn báo cáo tình hình và giống như một chuyên án trong phim hình sự cô cho biết có ba phương án: 1. Hiếu vui vẻ tiếp 2- Công khai đến để Hiếu miễn cưỡng tiếp -3. Bí mật tiếp cận và xuất hiện. Cô được lệnh thực hiện phương án 3. Thế là Uyên Ly bấm vào máy câu nhắn tin gửi về toà soạn cũng mang đầy tính hình sự : “Đã rõ!” Chúng tôi chọn thời gian đến vào khoảng giữa buổi chiều để có thể gặp Hiếu ở nhà. Một thoáng lo ngại khi Uyên Ly chuẩn bị xuất phát, tôi nhắc cô bỏ lại khách sạn cái túi phóng viên, cất giấy tờ hộ chiếu và tiền bạc sao cho kín đáo, và để cô không phải mở số tay hay lung túng tìm kiếm giấy tờ gì tôi ghi sẵn mảnh giấy có tên nhà, số điện thoại của Hiếu để cô đưa cho tài xế taxi tìm đường, và dặn dò khi gặp được Hiếu phải báo tin ngay cho chị em tôi đang luôn túc trực ở khách sạn. Đúng 3 giờ chiều Uyên Ly lên đường. Cô gái này thật can đảm và có bản lĩnh. Uyên Ly đi rồi, tôi và Hiền bỗng thấy bồn chồn. Chúng tôi hình dung tình huống xấu có thể xảy ra: cô gái trẻ trung xinh đẹp như thế, đi một mình đến nơi xa lạ trong hoàn cảnh có thể không có sự trợ giúp và biết đâu có những kẻ quá khích…Trời đã về chiều mà chẳng có tin tức gì, chúng tôi lại không có điện thoại di động mà máy bàn của khách sạn thì từ chối không cho gọi đến San Jose vì khác vùng. Ruột gan như có lửa đốt, loay hoay mãi cuối cùng chúng tôi cũng tìm cách gọi được cho Kim Trâm đang cùng mẹ ở NewYork. May sao hồi sau Kim gọi đến báo là đã liên lạc được với Uyên Ly, mọi sự không có gì đáng ngại. Khoảng 6 giờ 30 chiều, Uyên Ly gọi về báo chúng tôi là Hiếu đã sẵn sàng tiếp hai chị em. Chỉ chờ có thế, chúng tôi vội nhờ khách sạn gọi ngay taxi nhưng vì trời sắp tối mà khách sạn lại không ở trong trung tâm thành phố nên cũng phải gần một giờ sau mới có xe. Trước khi chúng tôi đi cô tiếp tân ở khách sạn là người Philippin nên rất nhiệt tình với đồng hương châu Á, đã ân cần dặn tôi là taxi đến San Jose chỉ khoảng 50-60 USD là cùng. Thế là lên đường. Bác tài xế có bộ râu rậm, tôi đưa miếng giấy ghi địa chỉ cần đến cho ông, ông nhìn rồi gật đầu, mở cửa xe cho chúng tôi vào. Xe taxi này thật lạ: có hẳn một tấm kính dày ngăn cách giữa khách và tài xế, ngoại trừ một khe nhỏ để khi khách trả tiền thì bỏ vào. Kiểu này không thể hỏi han trò chuyện gì được với bác tài để thăm dò về thành phố San Jose. Có lẽ ở đây hay có cướp xe? Tôi và Hiền nhìn nhau cười vì sự bí hiểm của chuyến đi dường như ngày càng tăng dần. Quả vậy, trời đã tối hẳn mà xe cứ lầm lũi đi trên con đường dài vắng vẻ, lúc lên đồi lúc xuống dốc, hai bên đường thấp thoáng ánh đèn đỏ quạch. Đồng hồ trên xe đã nhảy đến con số hơn 80USD mà vẫn chỉ là xa lộ chẳng thấy phố phường đâu. Đành phải cứ đi thôi, hai chị em tôi yên lặng suy nghĩ mông lung. Tôi nghĩ về Hiếu và cuộc gặp gỡ sắp xảy ra: chúng tôi sẽ thấy Hiếu bằng xương bằng thịt như thế nào? Anh sẽ đối xử với chúng tôi ra sao? Thân mật hay là lạnh lẽo? Và còn điều gì xảy ra? Chúng tôi ân hận là lúc chiều khi Uyên Ly gọi về báo tin Hiếu đang đợi, mừng quá cả hai chị em không kịp hỏi chi tiết đường đi xa hay gần và có gì đáng chú ý không để định liệu trước. Cuối cùng thì xe cũng đã vào được thành phố San Jose. Nơi đây nghe nói rất nhiều người Việt sinh sống, tôi nhìn hai bên đường và nhận ra nét gì rất quen, nhà cửa, vỉa hè, đường phố giống như đường phố Việt Nam. Vì là buổi tối nên khá vắng vẻ, xa xa thấp thoáng vài bóng người đi bộ không rõ có phải Việt Nam không, thỉnh thoảng một vài chiếc xe ô tô chạy nhanh trên phố. Sau một hồi chạy loanh quanh, bỗng bác tài ghé xe vào mé bên phải đường và chỉ tay vào một khu nhà cho tôi biết đã đến nơi. Lúc đó khoảng hơn 8 giờ tối, mở cửa xe bước ra.tôi đang quan sát khu chung cư thì ngay trên vỉa hè hai bóng người bước tới, giọng Uyên Ly khe khẽ…chúng tôi gặp nhau như vậy. Hiếu đứng ngay trước mặt tôi, đó là một người đàn ông mập, già nua mệt mỏi, chiếc áo sơ mi bỏ ngoài quần nên nhìn rõ cái bụng khá lớn và trông anh có vẻ hơi xộc xệch. Tôi lại có cảm giác hư ảo và tự vấn mình: đã gặp Hiếu rồi sao, người phiên dịch năm nào cứu cuốn nhật ký của chị tôi là anh đó sao? Chúng tôi chào hỏi nhau, rồi anh dẫn chúng tôi vào chung cư, vừa đi vừa giải thích là nơi đây rất an toàn, khi đã bước vô nhà thì không phải lo lắng gì nữa. Trông anh đi bước thấp bước cao nặng nề phía trước, cái cách giới thiệu về sự an toàn của chung cư nơi anh ở và rồi chỉ vài phút sau anh lại nói có lần nhà anh hình như bị ai đó bắn cảnh cáo(?) Rõ ràng anh ở trong trạng thái rất bất an, tôi bỗng như đọc được những suy tư nơi anh, hình dung những thăng trầm mà anh đã trải qua chắc là nặng nề lắm nên đã ám ảnh anh đến như vậy. Chúng tôi vào thang máy lên tầng 3, sau đó đi thêm vài bước Hiếu mở cửa một căn hộ mời chúng tôi vào. Bé gái chừng 2 tuổi thấy chúng tôi thì rất dạn dĩ chạy đến chào lặp đi lặp lại bằng tiếng Việt rất rõ: cháu chào bác! Cháu chào bác! Vợ anh, người phụ nữ Việt Nam trẻ có gương mặt rất đẹp lặng lẽ nhìn chúng tôi, khẽ chào rồi chị dẫn con biến vào phía sau cánh cửa của căn phòng sát đó. Căn hộ của Hiếu khá hoàn thiện, bài trí không có vẻ Mỹ, đây đó vương vãi vài món đồ trẻ con. Anh mời chúng tôi ngồi ở chiếc salon nơi góc phòng, trong ánh sáng mờ của ngọn đèn phía xa. Ngay phía trước chỗ chúng tôi ngồi là kệ thờ có để chân dung một người đàn ông mặc theo lối nho học. Hiếu nói nhà anh theo đạo thờ cúng ông bà, chú trọng việc giữ điều nhân đức. Quả thật vậy, trông anh hiền lành có phần nhút nhát. Fred nói đúng, anh có nét giống một người đi trong đoàn cùng với chúng tôi trong chuyến đi Quảng Ngãi. Nhưng đã 35 năm rồi, làm sao Fred biết chàng thanh niên Nguyễn Trung Hiếu ngày ấy lại trở thành người đàn ông đứng tuổi mập mạp như Hiếu bây giờ? Chúng tôi nói với anh chuyện gia đình tôi đến Mỹ, chuyện cuốn nhật ký được dư luận ủng hộ và nhắc nhờ anh chúng tôi mới có cơ hội như ngày hôm nay. Hiếu nói ngay: “Tôi không biết chính trị, chỉ vì giọng văn bắt mắt nên tôi đã can Fred đừng đốt cuốn nhật ký, chuyện lâu quá rồi không ngờ…” Tôi tin anh, vì một người hiền lành như anh chắc chắn không bao giờ dám nổi loạn chống đối điều gì, anh là người mẫn cảm, yêu cái đẹp của câu văn hay, đồng cảm với tâm hồn lãng mạn. Những trang viết của chị tôi dù là nhật ký chiến tranh, nhưng là cuộc sống tâm hồn của một người con gái đang tràn trề sức sống với những ý nghĩ thánh thiện, may mắn sao lại được chị chuyển tải bằng giọng văn cùng nhịp rung trong tâm hồn anh, khiến anh không thể đành bỏ qua. Chỉ có vậy thôi, không vì lý do nào khác. Hiếu chẳng giấu điều gì, anh kể cho chúng tôi nghe về quãng đời sau khi anh ngăn Fred đừng đốt cuốn nhật ký của chị tôi. Lính phiên dịch các anh lúc đó trong tình trạng rất cơ động, nay bị điều đến chỗ này mai lại bốc đi nơi khác, chẳng biết trước được số phận sẽ ra sao. Mặc dù anh không phải là phiên dịch giỏi nhất, nhưng lại hay được Fred gọi, chắc là do hợp tính nhau? Anh nói rằng Fred lúc đó còn rất trẻ, mới chỉ ngoài 20 nhưng ai cũng “ngán” vì tính cách của anh này nói một là một, hai là hai. Anh bồi hồi nhớ về người bạn phiên dịch tên Đức vì muốn dành cho anh cơ hội được ở nhà để gặp bạn gái vừa từ xa đến thăm, đã chết thay anh trong cái lần theo đơn vị đi hành quân. Cuộc chuyện trò khá cới mở, nhìn Hiếu sinh động hơn. Khi anh cười tôi nhận ra một vẻ tao nhã và sự sinh động của cách anh trò chuyện làm mờ đi cái cảm giác về người đàn ông già nua mệt mỏi lúc mới gặp ngoài đường. Khác với sự rụt rè cảnh giác trong điện thoại, anh không có vẻ né tránh, không có gì bối rôi và còn đùa: “Gặp Uyên Ly, có chết vì người đẹp cũng đáng!” nhưng vẫn nhắc đi nhắc lại không biết chính trị là gì. Anh trả lời tất cả những câu hỏi của chúng tôi về quãng thời gian đã trải qua sau khi phát hiện cuốn nhật ký, rồi những ngày sau giải phóng phải sống 7 năm trong trại cải tạo. Trong lúc hồi tưởng về quá khứ, anh đọc thơ cho chúng tôi nghe, và còn sẵn lòng nhắc lại từng câu để tôi chép bài thơ do chính anh làm khi còn ở trại cải tạo: Sáng qua dòng sông nhỏ Thân thương có ý lo Hỏi tôi người năm trước Còn yêu dấu đợi chờ Cám ơn anh Trà Buông Yêu thương như cải lương Phấn son và nước mắt Lau khô là hết tuồng Những câu thơ buồn qúa. Hiếu thật là một người rất đa cảm và chắc là cô đơn lắm trong những ngày ấy. Anh đã nhận được những tin gì không vui? Gian khổ vật chất chắc là không đau bằng nỗi buồn về sự mất mát tình cảm. Khi biết rằng đã xảy ra cái chuyện giống như cảnh phấn son và nước mắt dù mùi mẫn đến đâu trên sân khấu nhưng hết tuồng chỉ cần lau khô là sạch sẽ, anh buồn da diết nhưng chẳng thể nói cùng ai, đành tâm sự với sông Trà Buông, con sông nhỏ gần trại cải tạo nơi anh sống như là chuyện trò với người bạn thân thương tri kỷ. Trong những ngày khó khăn ở trại cải tạo, Hiếu vẫn nhớ và kể với chúng tôi về người giám thị tên Lâm mà anh rất kính trọng. “Cán bộ” Lâm trông coi các anh làm các công việc lao động hàng ngày, tính tình nghiêm túc nhưng nhân hậu và rất có đạo đức. Đó là cũng là hình ảnh về nhân cách đẹp đẽ của một con người phía bên kia sau chị Thùy Trâm anh còn lưu giữ trong ký ức. Nhắc những chuyện đã qua với chút cay đắng, anh nói rằng chẳng ai tin anh, và dù mang tiếng là làm việc cho CIA nhưng anh lại không được hưởng tiền Mỹ vì bị nghi ngờ là thân cộng sản. Gia đình anh nay đều định cư ở Mỹ nhưng mẹ anh lại trở về sống ở quê nhà với người em đau ốm ở Sóc Trăng. Anh không yên lòng vì không được kề cân chăm sóc mẹ trong những năm tuổi già…Bao năm nay anh sống không có bạn, không có niềm tin và cũng chẳng thể tự tin. Sau khi học tập về, anh dắt con trai lên thuyền vượt biển. Bao ngày lênh đênh, sức đã tàn, đã cảm thấy tuyệt vọng thì thuyền của anh dạt vào một hòn đảo nhỏ. Thật không hiểu sao lại có sự may mắn đến vậy vì Inđonesia có hàng nghìn đảo mà thuyền của anh lại dạt vào đúng cái đảo tập trung người tỵ nạn. Một thời gian sau anh qua Mỹ tìm được việc làm rồi gặp người vợ hiện nay. Lúc ấy chị là nhân viên còn anh là “sếp”, anh lớn hơn chị tới 14 tuối. Chị là người nhân hậu, đã nhìn thấy cái đẹp trong tâm hồn anh, chị tin ở con người hiền lành của anh và dành cho anh một tình yêu tuyệt đối, đã dám cùng anh và còn cưu mang anh vượt qua những trở ngại lớn lao cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngay trong thời điểm này trong lúc anh chưa có việc làm thì chị vẫn vất vả theo đuổi công việc ở nhà máy để trang trải cho cả gia đình, ngày nào cũng phải thức dậy từ 3 giờ sáng và phải theo ca đến 5 giờ chiều mới về. Có chút ái ngại nhưng chúng tôi mừng cho anh đã tìm được người vợ thật tốt, và chợt có một sự liên hệ tâm linh: anh đã làm điều thiện, cuộc đời đã bù đắp cho anh như luật nhân quả. Có được chị, dù cuộc sống của anh hiện vẫn đang có nhiều thử thách nhưng tôi tin rằng Hiếu sẽ không bao giờ còn phải đem câu thơ cay đắng năm nào bên bờ sông Trà Buông ra để suy ngẫm về nhân tình thế thái của cuộc đời. Nghe chúng tôi chuyển lời thăm hỏi và một món quà nhỏ của mẹ tôi, Hiếu cảm động cám ơn và nhắc lại rằng chính chị Thùy Trâm đã cứu cuộc đời anh, nhờ cuốn nhật ký nay mọi người đã hiểu anh. Anh bảo rất vui vì gặp được gia đình tôi dịp này. Tôi ướm lời hỏi anh rằng cuốn nhật ký đã xuất bản thành sách, chúng tôi mang theo để trân trọng dành cho anh, nhưng mẹ tôi chưa ký tặng vì chữ ký tặng của gia đình liệu có ảnh hưởng gì đến anh? “Không, các cô ký vào chứ” thế là tôi và Hiền thay mặt gia đình ký tặng và trao cho anh bản in của chính cuốn nhật ký mà sau chị Thùy Trâm anh là người đầu tiên đọc 35 năm trước. Khi chúng tôi đề nghị chụp một vài tấm ảnh kỷ niệm cuộc gặp gỡ, anh ngập ngừng đôi chút rồi giải thích: xưa nay anh vốn ngại chụp ảnh, nói thêm là vì anh mắc chứng “shy photo”, bạn bè hiếm khi thấy có ảnh anh. Nhưng anh bảo chúng tôi cứ tự nhiên, rồi chủ động tiến lại chiếc bàn dưới ánh đèn ở phía góc kia của căn phòng. Chúng tôi chụp vài kiểu, và cuộc trò chuyện lại tiếp tục. Chúng tôi lại chuyển lời mẹ tôi mời anh một chuyến về thăm Việt Nam, Nguyễn Trung Hiếu phân vân. Anh bảo anh rất mong có một ngày nào đó được thăm Hà Nội nhưng chưa biết lúc nào có thể thực hiện, và chuyến đi Việt Nam của anh phải là con đường chính thức. Hiếu ơi, anh vẫn chưa hiểu được sao? Mẹ Việt Nam đâu có hẹp cửa với người con xa tổ quốc nào, nhiều năm nay biết bao Việt kiều từ khắp nơi trên thế giới về thăm nhà thường xuyên, và nhiều người đã về ở lâu dài với các kế hoạch làm ăn trong nước. Anh đã làm một việc nhân ái khi giữ cuốn nhật ký của chị tôi lại, cuốn nhật ký nay được đánh giá là một báu vật không chỉ của gia đình mà còn của cả dân tộc vì đó chính là linh hồn cả một thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước hào hùng. Lá thư của thủ tướng Phan Văn Khải cũng có lời cám ơn anh, bao nhiêu người đã nói về hành vi tốt đẹp của anh, làm sao anh lại không phải là khách mời chính thức của chúng tôi? Uyên Ly động viên anh là báo Tuổi trẻ cơ quan cô sẽ dành cho anh một sự tiếp đón trọng thị, ấm áp. Anh có thể về thăm quê, về Sóc Trăng nơi mẹ già đang ở với người em trai anh, rồi ra Hà Nội, nơi anh hình dung ra bao điều thơ mộng đẹp đẽ mà chưa một lần tới. Hiếu trầm ngâm, chắc anh nghĩ về một ngày trong tưong lai không xa điều đó sẽ thành hiện thực. Tôi hỏi thăm quê anh. Hiếu kể về quê hương Bến Giá ở một huyện vùng biển Trà Vinh, nơi có những giồng cát trắng mùa giáp tết người ta trồng rất nhiều dưa hấu. Lúc đó là mùa khô, mỗi lần gió to cát bay mù mịt, đường đi trong xóm cũng đầy cát, mỗi bước đi lại nghe cát lạo xạo dưới chân. Dưa trồng trên giồng cát khô, những người trồng dưa phải gánh hàng trăm gánh nước tưới dưa mỗi ngày thật cực. Và anh rất nhớ những trái dưa hường nấu canh có vị ngọt mát rất riêng. Quê anh có cốm dẹp không đâu ngon bằng, món cốm dẹp làm từ nếp mới rang trộn dừa nạo với chút đường sao thơm ngon đến vậy. Anh bảo ở Mỹ họ cũng bán cốm dẹp, làm kỹ và có vẻ cũng được lắm, nhưng có lẽ ký ức tuổi thơ đã cho anh cảm giác rằng chỉ có cốm dẹp thời anh còn là đứa trẻ 10 – 12 tuổi đi giữ trâu mới ngon như vậy. Rồi gia đình anh phiêu bạt lên Sài Gòn. Hiếu rất thương mẹ, anh nhắc nhiều tới hình ảnh má anh hàng ngày đi bán bánh dạo ở các trường học trong khi ba làm nghề cắt tóc dạo. Chàng thanh niên Nguyễn Trung Hiếu ngày ấy nhà nghèo, ham học nhưng gia đình không có tiền phải gửi anh vào học ở trường dòng. Các thầy dạy anh đa số người Bắc, mà giọng văn của người Bắc đối với anh hình như rất hợp khiến ngày mỗi ngày cứ thấm vào anh, vậy nên khi đọc cuốn nhật ký chính giọng văn ấy đã “bắt “ được anh. Thời tuổi trẻ Hiếu là người đa cảm lãng mạn, ký ức lần lượt trỗi dây trong anh, đã nhiều năm trôi qua và trải bao thăng trầm ngay lúc này trong anh vẫn nhớ về xóm nhỏ gần cây cầu Thị Nghè ở Sài Gòn, nơi anh có cô bạn gái…Chợt Hiếu nói với chúng tôi: ngày ấy khi cầm trên tay cuốn nhật ký, thấy có kẹp tờ giấy chép bài thơ “Núi đôi”. Bài thơ sao hay và xúc động quá…Dù biết cất giấu tài liệu của phía bên kia là vô cùng mạo hiểm nhưng anh đã lén giữ bài thơ lại để lâu lâu giở ra đọc. Sau này chiến tranh loạn lạc anh đã không giữ được bài thơ ấy, nhưng vẫn nhớ… Vẫn băn khoăn rằng có ai đó sẽ làm phiền anh sau khi biết chúng tôi đến thăm, tôi lại gặng hỏi anh xem sau cuộc gặp gỡ này liệu có sao không ? Hình như mọi chuyện thực sự không có gì, thấy Hiếu đã có vẻ tự tin. Anh cứ nhắc rằng cuốn nhật ký của cô Thuỳ Trâm cứu cuộc đời anh, vì trước kia không ai tin anh, không muốn nói chuyện với anh thì nay mọi người đã hiểu anh và tỏ ra rất thân thiện, chủ động bắt tay, họ còn hỏi bao giờ anh về Việt Nam? Như vậy cuộc đời anh chắc đã đổi khác rồi, anh có thể hy vọng. Anh cũng vừa kết thúc một khoá học nghiệp vụ bảo vệ, và muốn tìm công việc phù hợp để có thể vẫn đưa đón vợ con hàng ngày. Chúng tôi gợi ý về việc có thể nhờ người bạn cũ Fred tìm việc cho anh? Nếu vậy thì cũng khó quyết định, vì anh còn vợ con ở đây… Đã nửa đêm, chúng tôi phải tạm biệt Hiếu vì sáng mai anh phải dậy sớm từ lúc 3 giờ sáng để chuẩn bị đưa vợ đi làm.Trong lúc Uyên Ly nhờ điện thoại của anh để gọi taxi, tôi bỗng thấy Hiếu xua tay làm dấu gì đó, hình như muốn ra hiệu đừng làm ồn. Khi theo tiễn chúng tôi ra cửa, cánh cửa sau lưng vừa khép lại anh nói ngay: “Để tôi đưa các cô về!” Tôi hơi bất ngờ nhưng thấy trào lên một cảm giác vui mừng khi anh khẳng định: “Tôi biết có thể có chuyện, nhưng tôi không đưa các cô về thì không đáng là người đàn ông”. Không biết điều gì làm anh lo, nhưng việc anh quyết định hành xử “như một người đàn ông” chứng tỏ anh đã thắng được sự ngại ngần, có tự tin và can đảm bước qua ranh giới của cuộc sống khép kín lâu nay. Điều này đáng giá biết bao. Trời khuya, đường vắng và se lạnh. Chúng tôi ghé đổ xăng, Hiếu tranh thủ hỏi đường vì hình như anh cũng chưa bao giờ đến Oakland. Khi xe về đến khách sạn thì cửa gian lobby đã đóng, hầu như tất cả đã im lìm trong giấc ngủ. Hiếu không quay về ngay mà cho xe vào bãi đậu, rồi bảo:” Tôi phải có một ly cà phê mới về được”. Chúng tôi mời anh lên phòng, và nhanh chóng thu dọn những vật dụng còn để bừa bộn trên giường vì lúc chiều vội đi không kịp cất. Chỉ còn có một bịch cà phê, chúng tôi nấu trong chiếc ấm điện có sẵn trong phòng và rót ra ly mời Hiếu. Anh cầm ly cà phê trong tay, xoay xoay mà chưa uống. Chúng tôi lại nói chuyện với nhau, lần này thì Hiếu tự chủ động nói và chúng tôi phụ hoạ theo. Ly cà phê như cái cớ để Hiếu ngồi lại với chúng tôi, anh bảo đã rất lâu mới nghe tiếng Việt Nam được nói lưu loát, giọng Hà Nội thật hay. Có lẽ lâu lắm Hiếu mới có dịp ôn lại những ngày xa ngái đã tưởng như không bao giờ còn có dịp nhắc lại. Anh nói mải mê về những điều thật giản dị: vùng nước mặn quê anh, món ăn cá kèo đặc sản, những con đuông nơi giồng cát và mùa dưa tết… Dòng cảm xúc trong anh cứ dâng trào không ngưng lại được, anh cứ nói và chúng tôi nghe anh nói. Tôi bỗng hỏi Hiếu và Uyên Ly: mọi người đã ăn gì chưa? Thì ra cả bốn người chúng tôi chưa ai ăn bữa chiều, gặp nhau xúc động quá cũng không ai nhớ…không khí hình sự đã tan biến tự lúc nào, cả Hiếu và chúng tôi đều có cảm giác nhẹ nhõm, thoải mái. Mở hộp khoai tây chiên vừa mua ở trạm đổ xăng chia nhau, câu chuyện cứ tiếp nối cho đến khi Hiếu chợt nhớ phải về vì sắp tới giờ anh đưa vợ đi làm. Chúng tôi chia tay với đôi chút bịn rịn và tiếc sao thời gian quá ngắn. Tiễn Nguyễn Trung Hiếu ra về trời đã gần sáng, ai nấy đều mệt nhoài nên chúng tôi cứ để nguyên quần áo, kéo chăn đắp qua loa và ngủ một giấc ngủ ngắn nhưng thật ngon trong tâm trạng thanh thản vì biết rằng rằng mình đã làm được một việc to tát: gặp được Nguyễn Trung Hiếu, người ân nhân của gia đình tôi. Quan trọng hơn là cuộc gặp gỡ đã làm cho mọi việc tốt hơn, có hậu hơn. Chúng tôi biết từ nay có thể yên tâm về anh, dù cho nếu còn một ai đó không thiện cảm với cái việc anh giữ lại cuốn nhật ký của đối phương đe doạ nhưng từ nay anh sẽ đủ tự tin để giữ cho mình không phải phập phồng lo lắng, và sẽ có một ngày chúng tôi được đón anh ở Việt Nam trong vòng tay gia đình bè bạn, trong sự cảm động như đã đón anh em Fred vừa cách đây không lâu… Chuyến bay trở về từ Oakland đến sân bay J.F. Kenedy của chúng tôi xuất phát từ 8 giờ sáng, nhưng lại bay theo múi giờ nên xuống được sân bay đã là 5 giờ chiều, dù thời gian ngồi trên máy bay cũng chỉ 6 tiếng đồng hồ. Mẹ và em chúng tôi đang chờ, tuy đã biết là cuộc gặp gỡ với Nguyễn Trung Hiếu cuối cùng đã xảy ra tốt đẹp, nhưng một việc quan trọng như vậy cần phải biết từng chi tiết! Chúng tôi đã sẵn sàng báo cáo với mẹ về “nhiệm vụ đã hoàn thành “! |
Bình rượu cao trăn
Cách đây khoảng chục năm, thấy chồng viêm khớp gối, Thảo thuơng và lo quá. Chồng uống thuốc Tây mãi không khỏi, cứ bị đi bị lại. Nghe người ta bảo cao trăn chữa đau khớp tốt lắm, Thảo cạy cục nhờ người bạn tít trong Tây Nguyên mua giúp được ba lạng. Rồi chị đi mua một cái bình to 10 lít, đổ rượu vào ngâm cao trăn, bảo anh chồng đợi đủ một tháng cho cao tan rồi uống. Uống hết chỗ rượu cao trăn, người chồng hết viêm khớp gối. Hết hẳn. Không tái phát nữa. Nhưng than ôi, cũng từ đó, anh ta khỏi luôn cả chuyện chăn gối. Vũ khí diệu kỳ của anh bây giờ ỉu xìu xìu như bánh đa dúng nước. Thảo buồn lắm. Thắc mắc không biết vì sao. Thương mình một, thương chồng mười. Đàn ông mà không còn là đàn ông thì còn gì là đàn ông? Vì là chuyện tế nhị nên Thảo chỉ để bụng, không dám hỏi ai. Đến một lần nọ, mấy chị em trong phòng ngồi tán gẫu, có chị bảo bố chị ấy cách đây mười năm tuy đã 78 tuổi rồi mà chuyện ấy vẫn còn khoẻ lắm. Vợ chết đã lâu, ông cụ cứ hay loạng quạng với mấy em mất nết trong xóm, con cháu ngượng hết chỗ nói. Có người bày kiếm cao trăn cho cụ uống, giả vờ là rượu bổ. May quá, có người nhượng lại nguyên một bình 10 lít ngâm sẵn, mang về cho cụ uống được ngay. Từ đó cụ khoẻ mạnh, song không loạng quạng nữa. Cả nhà vui hết chỗ nói. Nghe thấy thế, Thảo giật mình. Hoá ra mình vô tình "tiêu diệt" chồng. Từ đó chị càng thương và chăm lo cho anh nhiều hơn trước. Chồng làm việc vất vả, đi sớm về muộn, chị không hề trách móc. Chồng đòi ngủ riêng, chị cũng đồng ý. Lao xao tin đồn là chồng có vợ bé, Thảo chỉ tủm tỉm cười. Anh ấy uống hết ba lạng cao trăn rồi thì có tiên nữ nằm cạnh cũng chịu. Thiên hạ hay đặt điều nói xấu người khác, chẳng qua cũng chỉ là vì ghen ghét với người thành đạt. Hôm rồi, nhân chồng chị sắp nghỉ hưu, cơ quan xin cho anh được huân chương Lao động hạng ba. Cơ quan thuê hẳn hội trường khách sạn Melia tổ chức lễ đón nhận huân chương rất long trọng, mời rất nhiều khách. Chị bạn cùng phòng với Thảo cũng đến dự. Khi gặp chồng Thảo, chị ấy bắt tay chúc mừng rất nồng nhiệt. Không những thế, chị ấy còn lắc lắc tay chồng Thảo rất lâu: - Cả nhà em cảm ơn anh. Nhờ có bình cao trăn anh để lại cho mà bố em "ổn" cho đến nay anh ạ. Thảo ngỡ ngàng không hiểu chuyện gì. Tối về hỏi chồng. Anh ấy lấp liếm bảo thì cũng giới thiệu cho người ta mua thuốc trên Lãn Ông, người ta không biết chỗ thì dẫn đi mua giúp. Thế thôi! Thảo đâu biết rằng anh chồng đã bí mật bán bình rượu cao trăn, mua bình khác giống hệt như thế, nhưng lại là cao hổ cốt. Uống cao hổ cốt cũng hết sưng khớp gối. Còn chuyện "ỉu xìu" thì đổ lỗi cho cao trăn! Để kết thúc câu chuyện này, tác giả lấy làm tiếc rằng đáng ra tên chồng kia phải được huân chương lao động hạng nhất mới đúng? |
Hâm và Đơ!
Con bé Đơ cháu lão Hâm gọi điện: - Bác nghe thành phố Hà Nội thông báo tổng chi phí cho đại lễ 1000 năm Thăng Long chưa? - Nghe rồi. - Chỉ có 266 tỷ đồng, ít quá bác nhỉ? Cháu tưởng phải nhiều hơn. - Mày dốt! - Ơ sao bác bảo cháu dốt? Cháu là sinh viên giỏi năm cuối đại học Báo chí đấy nhé! - Sinh viên hay sinh hòn mà dốt thì tao vẫn bảo là dốt. Riêng cái đọan “cháu tưởng” là đủ nói rằng cháu dốt rồi. Không bao giờ được “tưởng” mà phải phân tích số liệu, lập luận lôgic. Làm nghề báo mà cứ “tưởng” là toi sớm đấy. - Ha ha, bác chả có ai để mắng nên túm được cháu là mắng khơi khơi. Thế bác phân tích đi, để con bé Đơ còn học hỏi lão Hâm chứ! - Vậy mày nghe đây. Trong dịp Đại lễ, có người tung ra con số chi phí cho Đại lễ hết 94 ngàn tỷ đồng. Nhiều người bám vào con số đó để ta thán là lãng phí quá. Có người lại còn làm phép tính một tỉnh phải nhịn ăn 100 năm mới đủ số tiền chi cho đại lễ. Ai tin vào con số đó là dốt, hoặc cố tình giả vờ dốt! - Có cả đại biểu Quốc hội dùng con số đó để chất vấn đấy. - Tao không nói đại biểu Quốc hội dốt mà tao nói ai tin vào con số đó là dốt. Một cái đám cưới, khi đang tổ chức, không ai có thể đưa ra con số về chi phí cho đám cưới. Khoản này người này chi, khoản kia kẻ khác chi, khoản nọ cơ quan hỗ trợ v.v. May ra phải đợi qua “tuần trăng mật” cô dâu chú rể mới có thời gian tính đếm để có con số tổng hợp cuối cùng. Đám cưới đã thế, một cái đại lễ của cả nước, bao nhiêu là nguồn chi, khoản chi. Ban tổ chức đại lễ còn chưa có số liệu đầy đủ mà người ngoài đã có? Bởi vậy bác mới nói ai tin vào con số 94 ngàn tỷ là dốt. - Vâng, cháu hiểu rồi. Nhưng cháu đang nói về con số 266 tỷ, sao bác lại vòng về con số cũ rích ấy làm gì? - Là vì tao hiểu con số 94 ngàn tỷ nó vẫn còn ám ảnh trong đầu mày nên mày “tưởng” con số 266 tỷ là ít. Cứ cho rằng đây là con số trung thực đi, thì phải hiểu rằng nó đương nhiên là chưa đầy đủ. Thành phố tập hợp các khoản do thành phố chi. Còn các khoản do dân chi hoặc các cơ quan, đoàn thể, lực lượng không thuộc thành phố đã chi ra thì thành phố làm gì có số liệu mà tập hợp. Ví dụ nhiều phường tổ chức gia công và bán cho dân từ 70 ngàn đến 90 ngàn đồng một bộ gồm cờ, cán cờ, giá treo cờ gắn vào tường. Ví dụ các doanh nghiệp, cơ quan, doanh trại quân đội treo đèn kết hoa, giăng khẩu hiệu… bằng kinh phí của mình. Đó là vài cái ví dụ nho nhỏ. Bây giờ thử lấy vài cái ví dụ to to. Tiền mười cái máy bay trực thăng bay qua quảng trường Ba Đình thành phố có trả không? Các lực lượng công an, quân đội phục vụ đại lễ, đảm bảo an toàn an ninh cho đại lễ thành phố có chi tiền cho họ không? Vân vân và vân vân. Vì vậy bác mới nói con số 266 tỷ là con số chưa đầy đủ. Mà suy cho cùng, chả ai có thể tính đầy đủ được khi phải chi từ rất nhiều nguồn khác nhau. - Vâng cháu hiểu rồi, cảm ơn bác. - Chưa cảm ơn vội. Vì mày sẽ làm nghề báo, bác mong là làm nghề báo chí chứ không phải nghề báo hại. Vì thế bác nói thêm một vài con số nữa. - Hôm nay trên trang Vietnamnet có bài “Bé cái nhầm chi tiêu đại lễ, thở phào là xong?” của tác giả Khánh Linh, trong đó viết: “Chỉ đơn cử một việc nhỏ, thành phố ngừng bắn pháo hoa ở 29 điểm, chỉ để lại duy nhất bắn pháo hoa nghệ thuật tại sân Mỹ Đình, để tiết kiệm số tiền 5 tỷ đồng ủng hộ đồng bào miền Trung. Về mặt nghĩa cử thì chắc chắn cử tri đánh giá cao quyết định của Thành phố, nhưng bình tĩnh xét lại, ngừng tại 29 điểm mà chỉ tiết kiệm được 5 tỷ đồng thì có đúng không? Nếu đúng, tính trung bình mỗi điểm bắn pháo hoa "chỉ" tốn khoảng 172.4 triệu đồng.” Cách tính này không phải là cách tính của nhà quản lý. Thông thường các khoản chi có thể ít hơn, bằng hoặc vượt quá con số dự toán. Người ta có thể “bội chi” ở hạng mục này, “tiết kiệm” ở hạng mục khác. Tổng số tiền tiết kiệm, nếu có, không phải chỉ là từ việc ngừng bắn phào hoa 29 điểm, để rồi từ đó tính ra chi phí cho mỗi điểm bắn phào hoa là 172,4 tr. đồng. Cháu hiểu chưa? - Cháu hiểu rồi ạ! - Mày hiểu cái gì? - Dạ cháu hiểu là không phải một mình cháu dốt ạ! - Vậy thì tốt, cố gắng lên Đơ nhé! |
....
- Cháu hiểu rồi ạ! - Mày hiểu cái gì? - Dạ cháu hiểu là không phải một mình cháu dốt ạ! - Vậy thì tốt, cố gắng lên Đơ nhé! ... Em thích nhất cái đoạn này của bác Phan, và cô bé Đơ dù là sinh viên hiện giờ thế nào không quan trọng, nhưng sau này chắc sẽ là CÔ NHÀ BÁO nổi tiếng. Hi hi! |
Cái chuồng cọp
Lão Mơ gọi điện rủ lão Hâm đi café. Lão Hâm biết ngay là tay Mơ này đang có chuyện gì đó bức xúc. Nếu hắn đang lâng lâng thi hứng hay lung linh tửu hứng thì hắn chả bao giờ rủ lão Hâm mà phải rủ mấy em nhà thơ chân-dài-tài-thơ-ngắn đi nghe hắn hùng hồn nói về thi ca hiện đại. Biết vậy, lão Hâm đủng đỉnh: - Ông chờ tôi khoảng một giờ nữa tôi sẽ ra quán mọi khi nhé. Một giờ sau, lão Hâm đã thấy lão Mơ ngồi đợi bên cái bàn quen thuộc nấp dưới bóng cây hoàng lan đang như người đàn bà dịu dàng xõa mái tóc dưới ánh nắng chiều một ngày đẹp nhất trong năm ở Hà Nội. Vị trí này rất hợp với những câu chuyện văn chương thơ phú. Thấy ba cái đầu mẩu thuốc lá cong queo trong gạt tàn, lão Hâm biết là lão Mơ đã ngồi đợi khá lâu. Phớt lờ chi tiết đó, lão chào vui vẻ: - Ông khoẻ chứ? Trông ông có vẻ béo trắng ra? - Đợt này ít phải đi công tác xa nên người nó bệu ông ạ. Không đủ kiên nhẫn chờ lão Hâm an tọa, lão Mơ hỏi luôn: - Ông bình luận thế nào về việc Đà Nẵng quyết định không nhận người có bằng tại chức vào biên chế Nhà nước? - No comments! - Thế là đúng hay sai? - Đúng. - Nhưng có người bảo thế là vi phạm cái luật gì đó về giáo dục. Bằng chính quy hay tại chức đều có giá trị như nhau. - Họ nói đúng. - Có người lại bảo Đà Nẵng làm thế là vì dân tại chức nằm trong diện “dốt chuyên tu, ngu tại chức”. - Cũng đúng. - Ơ hay, hôm nay ông biến thành “Đúng tiên sinh” rồi hay sao mà hỏi gì ông cũng đúng hết? - Vì tất cả đều nói đúng. Ở Việt nam ta có cái hay thế đấy. Tất cả đều đúng, trong khi người này bảo người kia sai. Mà khi tất cả đều đúng thì chả ai đúng cả. He he! Thôi uống café đi đã, chuyện đúng sai tính sau. Nhấp vài ngụm café Buôn Mê Thuột, lão Hâm hỏi thăm lão Mơ: - Nhà tập thể chỗ ông người ta làm chuồng cọp hết cả rồi chứ? - Làm lâu rồi, nhà nào cũng phải dựng một cái chuồng bịt kín ban công, vừa tăng diện tích vừa chống trộm. Nhà tôi cũng phải làm trước khi dọn về ở. - Vậy việc đó là đúng? - Quá đúng. Chứ không thì trộm nó bê hết đồ trong nhà… - Thế xét trên quan điểm mỹ quan thành phố thì các cái chuồng cọp nhố nhăng kia là đúng hay sai? - Hừm… Tất nhiên là không đúng lắm. - Vậy thì cái sự đúng sai phải được xem xét trên từng mặt bằng cụ thể, không gian và thời gian cụ thể, đáp ứng những yêu cầu cụ thể. Có phải thế không ạ? - … - Tôi thấy cái quyết định của Đà Nẵng vừa rồi nó giống như việc làm chuồng cọp ở khu tập thể nhà bác. Chả khác tẹo nào. Lão Hâm chiêu thêm một ngụm café, lim dim mắt nhìn theo làn khói thuốc lá từ từ lan toả trong nắng chiều đông se lạnh. Lão Mơ chuyển sang lý luận theo đúng tính cách của lão: - Vấn đề gốc là chuyện trộm cắp. Muốn người ta không làm chuồng cọp thì phải tiêu diệt nạn ăn trộm. Muốn Đà Nẵng hay bất cứ địa phương nào không cấm người có bằng tại chức vào biên chế thì phải thiết lập lại trật tự trong ngành Giáo dục, làm sao để cái bằng tại chức, tại vị hay tại tiền phải phản ánh đúng trình độ thật mà cái bằng đó xác nhận. Ông nhỉ? - Quá đúng! - Nhưng suy cho cùng, vấn đề cũng không ở chỗ cái bằng. Cái bằng chỉ là một tờ giấy. Chúng ta quen ỷ vào một tờ giấy mà không nhìn con người qua năng lực thực tế của họ. - Lại đúng nữa. - Giả sử cái anh Bill Gates mà sinh ra ở Việt nam, chắc bây giờ anh ấy làm đến chức xe ôm là cao nhất. Vì anh ấy làm quái gì có cái bằng nào? - Tuyệt đúng! - Ha ha. Hôm nay Đúng tiên sinh toàn dùng từ đúng thôi nhỉ? - He he. Thì ông nói đúng, tôi phải bảo là đúng chứ chả nhẽ bảo ông sai? Câu chuyện kết thúc ở chỗ lão Mơ tranh quyền trả tiền café. Được ca ngợi là đúng, phải trả tiền café cũng đáng? |
Voi đú
(Viết tặng một ngườì xa lạ, Saturday, 14th March 2009) Lâu nay lão Hâm tưởng mình không còn hâm nữa. Lão buồn. Lão chỉ khác thiên hạ ở mỗi cái chữ hâm, ngoài ra cái gì lão cũng thua kém, phương diện nào lão cũng không hơn ai. Nếu bây giờ hết hâm thì lão làm sao dám ngẩng cao đầu (có đội mũ bảo hiểm) nhìn thiên hạ khi chạy xe trên đường? Lão buồn đến gầy người đi. Thế mới biết con người ta, cái sỹ diện là quan trọng nhất. Lão cố moi móc tìm kiếm những chi tiết, những suy nghĩ hâm của mình. Không thấy! Lão sinh hoạt điều độ, ăn mặc chỉn chu, tập thể thao đều đặn, tử tế với mọi người. Chết thật rồi, thế là bế mạc cuộc đời lão Hâm? Vậy mà sáng nay lại có chuyện. Chuyện rất vớ vẩn, rất tí xíu. Nhưng nhờ đó lão vô cùng sung sướng là mình vẫn còn hâm. Sáng nay lão đi đóng thuế sử dụng đất. Mỗi năm nhà thuế đi thu một lần, thu ngay tại trụ sở của tổ dân phố. Mọi việc diễn ra tốt đẹp, trật tự, vui vẻ. Có lẽ vì là đi nộp tiền nên khác hẳn đi xin tiền? Xin tiền thì phải tranh nhau, phải chen lấn, dẫm đạp cho được nhiều hơn người khác hoặc chí ít thì đến lượt mình vẫn chưa bị hết tiền? Trong khi nghiêm túc hút thuốc lá chờ đến lượt mình được đến ngồi cạnh cô nhân viên thuế, lão tự cho phép mình ngắm nghía cô ta một chút. Ngắm cô nhân viên thuế thì chắc hẳn sở thuế sẽ không thu lệ phí? Lão cười thầm với ý nghĩ này và tiếp tục ngắm. Tuổi khoảng 30. Tóc cắt tỉa, nhuộm màu hạt dẻ. Mắt bình thường. Môi tô son hơi nhiều. Cô này có vẻ đanh đá khi cần thiết. Mà cũng có thể là sẽ đanh đá cả khi không cần thiết. Lão ghét người đanh đá. Thôi không thèm ngắm cô này nữa, có hâm thì mới ngắm cái cô không có chút gì hấp dẫn này. Một người đàn ông đến xin lửa. Châm xong hắn lừ lừ bỏ đi, không thèm biểu lộ dù chỉ là cái gật đầu cảm ơn. Lão Hâm không trách, ở ta người ta giáo dục đủ thứ lý tưởng chung chung nhưng không hề dạy con người biết cách làm người trong đời thường. Nếu mình cứ trách người thiếu văn hoá thì trách suốt ngày? Nhìn vào lưng của gã đàn ông đang bỏ đi chỗ khác, lão Hâm phát hiện thấy thằng cha này cũng mặc một cái áo vét y chang như của mình. Lão tự hào về cái áo vét của mình lắm. Nó được mua ở Hồng Kông, để kỷ niệm một chuyến đi qua đó. Lão cứ nghĩ cái áo của mình là độc nhất vô nhị. Ai ngờ... - Anh gì ơi, cho tôi hỏi chút! Lão gọi giật giọng người vừa xin lửa. Tay kia quay người lại, nhìn lão Hâm một cách tò mò. - Tôi hỏi khí không phải, cái áo vét này ông mua ở đâu mà đẹp thế? Chủ nhân của cái váo vét đã sờn ống tay, dăm ba vết mỡ lốm đốm ngay trên ve áo trừng mắt: - Cái áo này mà ông khen đẹp ư? Ông có hỏi đểu không đấy? Ui chao, sao người đời kỳ cục vậy? Mình nói thật thì người ta cho là nói đểu. Những lúc mình nói thực sự đểu, đểu toàn diện và đểu triệt để thì người ta lại tưởng thật, mắt long lanh sung sướng. - Tôi hỏi vì tôi cũng có một cái áo y như cái của ông... - Tôi mua ngoài vỉa hè, hàng sida bán cả đống, có năm chục ngàn. Trời đất ơi, làm sao diễn tả được nỗi đau của lão Hâm vào giây phút khủng khoảng tâm lý tột cùng này? Đóng thuế xong, lòng nặng trĩu nỗi buồn vì chiếc áo vét "xịn" của mình thực chất giá trị không hơn không kém đồ sida lổn nhổn bày bán trên vỉa hè, lão tập tễnh ra về. Buồn được một lúc, lão chợt thấy mình hâm, ai lại đau lòng về một cái áo vét cũ? Đúng là hâm. Ha ha, mình vẫn còn hâm! Lão sung sướng, lão phấn khởi. Người hâm là thế đấy, buồn đó, vui đó, không như người thường. Lão không phải là người thường, lão cao hơn người tầm thường một cái đầu, cái đầu hâm! Về gần đến nhà, lão nhòm qua cửa sổ nhà hàng xòm, thấy nhà nó mới tậu cái TV LCD 32" y chang như cái TV lão mới mua hồi tết vừa rồi, trong đợt khuyến mại giảm giá. "Cái đồ voi đú chuột chù cũng đú!". Lão lầu bầu mở cửa cổng. |
Lâm Cúc – nhà thơ nỗi đau
Friday, 7th January 2011 Tôi luôn cảm thấy mình còn mắc nợ một bài viết về thơ Lâm Cúc. Không phải nợ Lâm Cúc mà nợ chính mình. Tôi bắt đầu đọc Lâm Cúc từ bên BlogViet. Khi cả làng di cư sang vnweblogs năm 2007, tôi tiếp tục đọc nàng. Rồi tôi vượt mấy ngàn cây số, lên tận Đức Linh – Bình Thuận tìm gặp nhà thơ, ăn bữa cơm canh cá với Lâm Cúc và vài người bạn, xin được một cuốn Đãi Trăng kèm theo lời thì thầm của tác giả: “Em chỉ còn có một cuốn này thôi…” Bên cạnh Phạm Dạ Thủy nữ tính theo kiểu truyền thống, Võ Kim Ngân đằm thắm thiết tha, Vũ Thanh Hoa bùng nổ đam mê, Huỳnh Thuý Kiều mới lạ đâm chồi, Tóc Nguyệt đa mang suy tưởng, Hoàng Thanh Trang đột phá tìm tòi, Mắt nâu chân dài thổn thức yêu đương, Đặng Mỹ Duyên tơ vò đắm đuối…cùng nhiều cây viết nữ bloggers khác, Lâm Cúc là một hiện tượng khác biệt. Lâm Cúc làm thơ như người đàn bà sinh nở. Đớn đau quằn quại. Chính vì thế mà thơ nàng không nhiều, cho đến nay mới xuất bản vỏn vẹn có mỗi một tập Đãi trăng không dày dặn. Một người bạn yêu thơ Lâm Cúc nói rằng thơ in ra hình như nhiều chỗ bị sửa, không hay bằng nguyên bản. Lâm Cúc không cãi. Nàng không thuộc thơ mình. Việc thuộc thơ Lâm Cúc là dành cho người khác. Các nhà thơ nữ thường viết thơ yêu. Yêu và được yêu. Hết yêu hoặc hết được yêu. Nồng nàn thắm thiết vụng dại đắm đuối si mê... Có thể có đau nhưng là cái đau của tình yêu nam nữ. Nhưng chưa ai viết thơ đau như Lâm Cúc. Trong bài “Lòng ta”, Lâm Cúc tự bạch: Có những lúc ta ngồi như đá núi Trầm mặc trăm năm, cô quạnh ngàn đời Lòng thương ta, lòng khe khẽ nói Ôn ào ngoài kia cũng là chốn không lời. Ta vỗ về lòng, Đừng đau nữa lòng ơi ! Nàng thừa nhận là mình đau. Vì sao đau? Đó là vì: Mồ côi Vinh hạnh được là người Tôi mang nỗi nhục không thành người! Lột bỏ mọi vỏ bọc Trầy trụa một hồn tôi! Tôi ôm hồn ngồi khóc Chợt hiểu hồn mồ côi! Cái đau của Lâm Cúc là cái đau khi thấy nhiều người không muốn hoặc muốn mà không được sống làm người với đầy đủ ý nghĩa của hai từ làm người. Nàng lấy mình ra để nói thiên hạ. Thậm chí trước cảnh một đôi nam nữ hẹn hò, họ đang ngập tràn hạnh phúc mà Lâm Cúc vẫn sợ một nỗi đau sẽ đến với họ: Người ta hẹn hò, mà lòng tôi cứ rưng rưng Mà đứng ngồi cứ vô hồi xao xuyến Liệu người ta có buồn lúc đưa tiễn? Liệu người ta có đau lắm! Liệu người ta... (Vô cớ) Lâm Cúc ít khi viết dài. Nhiều bài thơ ngắn hoặc rất ngắn. Nó ngắn như một cái dằm, cứ cắm vào da thịt người đọc, làm người ta cứ đau hoài, day dứt. Xuân Diệu, Xuân Quỳnh và rất nhiều nhà thơ khác viết về biển. Họ ví đôi tình nhân như bờ với biển, như thuyền với biển. Biển hùng vĩ và bao la luôn là đề tài bất tận của các thi nhân. Lâm Cúc cũng viết về biển, nhưng rất ngắn và không giống ai: Kìa biển Bao la Xanh thẳm Rạt rào Sẽ ra sao Một mai anh khát Biển dường kia Không uống được giọt nào? Một logic bất ngờ. Một cách thể hiện tình yêu rất lạ. Yêu anh và lo cho anh một ngày nào đó sẽ khao khát vô vọng. Tứ thơ rất đàn bà và rất Lâm Cúc. Lâm Cúc có bài thơ “Để khoe cho hết” Khi yêu thương bỏ ta đi Nhân gian hóa thạch những gì đang hương Đóng đinh lên vách linh hồn Treo trong thân xác nỗi buồn váng rêu Đục lòng cho rỗng để kêu Bùm, beng chiêng trống. Người theo chân người Nhe răng ra đếm nụ cười Để khoe cho hết, một đời rỗng không. Câu thơ “Đục lòng cho rỗng để kêu” là một câu thơ đau tuyệt vời! Còn: "Nhe răng ra đếm nụ cười" Thì quả là đỉnh điểm của chua chát? Nghệ thuật thơ Lâm Cúc là nghệ thuật hình ảnh của ngôn từ. Ngôn từ đậm đặc. Hình ảnh dữ dội. Tối rất thích bài “Tháng ba”: Tháng ba Núi vã mồ hôi Hổn hà hổn hển Cõng trời oằn lưng Gió chướng như bầy ngựa rừng Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo. Nắng quạt lửa dọc đường chiều Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông. Mỗi câu là một hình ảnh. Ngoài sự dữ dội, nó còn rất khoáng đạt. Thật bất ngờ khi gặp sự khoáng đạt nơi một nhà thơ nữ. Đau cho mình, đau cho đời, Lâm Cúc thể hiện nỗi đau đó trong thơ. Nhưng ở ngoài đời sống thực, nàng cô đơn. Nàng phải tìm đến trăng để giải bày tâm sự: Đãi Trăng Hôm nay nhàn, ta mở tiệc mời Trăng Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống! Rót lặng thinh vào vô biên độ lượng Đêm giang tay trên thập tự mênh mông. Này Trăng Ta cũng có một tấm lòng... Để tha thứ và để đau nông nổi Trăng có gì riêng mà trầm tư chẳng nói? Cứ xa xăm, cứ lẳng lặng bên trời. Cạn ly nhé, Sông có vơi cũng mặc Say thì say, nhưng đừng khóc Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười. Bứt ra khỏi hiện thực, nhà thơ vẫy vùng trong mơ. Nàng cho phép mình đại ngôn, mang cả dòng sông ra để uống. Nhưng vẫn thấy đêm chỉ là một cái thập tự mênh mông! Tưởng là đãi trăng, nào ngờ nàng thổn thức: Ta cũng có một tấm lòng... Để tha thứ và để đau nông nổi Khi phải thốt lên “Ta cũng có một tấm lòng”, thi sỹ khóc nhiều hơn là cười? Nhưng vẫn cười: Say thì say, nhưng đừng khóc Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười Ta gặp lại ở Lâm Cúc bóng dáng những nhà thơ - nhà nho bất đắc chí, khóc với đời, khóc cho đời và cất lên tiếng cười ngạo mạn. Đời này có mấy ai biết khóc như ta? Ai quen Lâm Cúc hẳn đều luôn được nghe tiếng cười “ha ha” của nàng qua điện thoại. Nghe tiếng cười đó, không ai nghĩ Lâm Cúc là một nhà thơ đau. Thơ Lâm Cúc không rơi vào cái tầm thường nhi nữ, không sụt sùi nhớ nhớ thương thương, không oán giận hờn ghen vun vặt. Nàng lặng lẽ “đảo chính” trong thơ. Thơ nàng muốn vuơn đến những giá trị mới, phủ định những cái sáo mòn cũ kỹ, vô vị. Nhưng không phải lúc nào Lâm Cúc cũng đau. Có những lúc nàng thanh thoát, tự nhiên, nhẹ nhàng như chính bản chất con người nàng, như chính cái điều mà nàng khao khát: Chiều quá buồn Chút nữa e là mưa Cây nhớ người Cành lá rũ ngẩn ngơ Dáng ai giờ Bụi sương giăng mờ che Áo thu Trời khoác cả sang hè. (Cây nhớ người) Bài thơ giàu nhạc điệu. Hồn thi sĩ trải rộng, hòa quyện với thiên nhiên mùa thu. Tôi yêu quý nhiều nhà thơ nữ mà tôi quen biết. Lâm Cúc, người đang sống và làm việc ở một huyện miền núi xa lắc của Bình Thuận, có một vị trí rất đặc biệt trong số họ. Lâm Cúc viết không nhiều. Nhưng bài thơ nào của nàng cũng thuộc loại “chết người”! Ngày đầu năm 2011, tôi loay hoay viết bài này. Viết xong vẫn không biết mình đã trả được món nợ mấy năm rồi hay chưa? |
Cán bộ chủ chốt
Con Cáp xin thôi việc. Cả Tổng Công ty cuống cuồng lo sợ. Không có nó thì công việc của Tổng Công ty sẽ ra sao đây? Bao nhiêu việc chỉ có một mình nó lo được… Thực ra nó tên là Cáy. Cáy là cái tên bố mẹ nó đặt cho. Người nhà quê quanh năm chỉ thấy cua với cáy. Nên con cái họ đều là Cáy với Cua. Khi bỏ quê ra Hà Nội, nó tự đổi tên mình thành “Cáp”, bằng cách tẩy sửa từ “Cáy” trong giấy khai sinh thành cái từ gần nhất là “Cáp” khả dĩ chấp nhận được. Chữ Cáp nghe hơi lạ tai, nhưng dù sao cũng đỡ quê mùa hơn chữ Cáy. Mười sáu tuổi, mới học lớp 10 trường huyện, không biết ông nào trong làng, thầy giáo nào hay bạn trai nào trong trường làm cho nó có con. Nó phải bỏ học, sinh con. Nuôi con đến một tuổi thì nó gửi con cho ông bà ngoại, tìm đường ra Hà Nội, bắt đầu cuộc sống mới dưới cái tên là Cáp. Con nó năm nay hẳn đã là sinh viên đại học, nếu được học hành và thi đỗ vào đại học. Không ai biết con nó là trai hay gái, hiện làm gì ở quê. Mới mười bảy tuổi, là gái một con, trông nó thật ưa nhìn. Giống bao cô gái nông thôn khác, không có chữ, không có nghề, nó xin làm tiếp viên cho một quán karaoke ở một địa điểm ven đô. Nó hơn đứt mấy cô không có chữ, không có nghề và cũng không có nhan sắc. Đám này giỏi lắm là đi bê phở, không thì làm phụ nề hoặc bán rau, buôn chè chai. Vẫn là bán mặt cho đất, bán lưng cho trời như khi còn ở nhà quê. Người ta cứ tưởng các sinh hoạt văn hoá kiểu như hát karaoke phải ở trung tâm thành phố thì mới đắt khách. Nhầm to! Thực tế là những quán khiêm tốn nép mình trong cái chỗ trước đây từng là làng thì mới ăn tiền. Các vị có chức có quyền, có khuôn mặt đạo đức, chả mong ai biết là mình đang mân mê một em trong cái phòng kín ở một chốn bí mật không ngờ thường chọn chỗ ăn chơi nhảy múa ở những nơi kín đáo nằm ngoài Hà Nội. Làm tiếp viên được một năm, nó được lòng một vị giám đốc bên A nọ. Nói cho chính xác là ông này phải lòng nó. Vị này không muốn nó tiếp nhiều người, từ nay về sau chỉ tiếp một mình vị ấy thôi. Bèn nhờ ông bạn giám đốc một công ty bên B nhận con Cáp vào công ty ông ấy làm việc. Ở ta có một cách rất hay, ông nhận người của tôi, tôi nhận người của ông. Đó là trường hợp quan hệ thân hữu, bằng vai phải vế. Còn quan hệ bên A bên B thì đương nhiên là bên B phải “hỗ trợ” bên A thì bên A mới “hỗ trợ” lại bên B. Giá trị hợp đồng tăng lên, thanh toán hợp đồng nhanh gọn, tiền không kéo lê thê mấy năm, v.v. Nó được nhận vào làm tạp vụ. Có khách thì bưng nước lên mời khách. Khoản này thì nó quá thành thạo. Kiêm việc nấu cơm trưa cho khối văn phòng công ty. Nó nấu khéo, nhanh và ngon. Những đồng chí cốt cán trong công ty lúc đầu phản đối việc giám đốc nhận một người không có văn hoá, không nhiệp vụ vào công ty làm việc dần dần chuyển sang quý mến con bé Cáp. Những lần công ty mời đối tác đi nhậu, nó làm chân long tong điếu đóm. Thường các em thu ngân ở nhà hàng là chúa khai vống hoá đơn. Mấy bác chức quyền nổi máu sỹ lên, không bao giờ kiểm tra, rút cả nắm tiền ra thanh toán. Con Cáp thì khác. Là dân trong nghề, nó “bóc” khối lượng rất nhanh và rất tinh, tiết kiệm được cho công ty ối tiền. Cuối năm đó, nó được giám đốc xếp vào danh sách cán bộ công nhân viên có sáng kiến làm lợi cho sản xuất kinh doanh. He he, và nó được thưởng tiền sáng kiến! Dần dần người ta thấy để nó làm tạp vụ thì phí, mặc dù nó pha cafe và nấu cơm rất ngon. Nó được chuyển lên phòng Hành chính quản trị, làm chân giao dịch viên. Ngoài việc giao dịch chạy giấy chạy tờ, những cuộc nhậu của lãnh đạo vẫn được lãnh đạo tin tưởng giao cho nó phụ trách. Bởi ngoài cái tài phục vụ nhậu, nó còn có tài làm cho các bố say bét nhè giã rượu rất nhanh. Ông giám đốc bên A về hưu. Về hưu toàn diện. Vậy là nó không còn nghĩa vụ phải “tiếp” ông ấy nữa. Nó đi lấy chồng. Tay chồng có hộ khẩu Hà Nội, có nhà, làm nghề xe ôm. Nó đẻ cho thằng này một đứa con trai và đều đặn gửi tiền về quê nuôi đứa con nó lỡ sinh ra khi mới mười sáu tuổi. Nghe đâu tên chồng này khá thoáng, không bắt ne bắt nét con Cáp đi sớm về muộn hoặc đi với thằng nào con nào, chỉ cần tối nào cũng cho nó “U em ơi!” một cái là được. Nó được cái mát tay, mát vía. Những khoản chạy thủ tục, khó mấy, giao cho nó là xong. Bên công an, bên thuế vụ, bên hải quan, bên nhà đất, bên cấp trên, bên địa phương, bên… đủ thứ bên, bên nào hễ thấy mặt nó là giải quyết thủ tục nhanh bất ngờ. Có nơi quy định từ khi nộp hồ sơ đến khi trả hồ sơ là hai tuần, nó đi hai ngày về là có ngay. Mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Bảo nó lẳng lơ dùng “vốn tự có” để giao dịch chưa chắc đã đúng. Nó xinh xắn thật, ăn nói thưa thốt dễ thương thật, nhưng luôn tỏ ra là gái có chồng, đàng hoàng chững chạc chứ không bờm xơm tự hạ giá mình khi đi xin xỏ. Có lẽ các bác giải quyết thủ tục toàn là người tốt, chỉ gây khó khăn cho ai đó chứ không gây khó khăn cho con Cáp. Ông bộ trưởng muốn xin cho con đi Mỹ học bằng học bổng nhà nước, không giám nhờ quân tướng văn phòng bộ chạy vạy. Sợ bị lộ, he he! Công ty nó, đúng hơn là chính con Cáp đứng ra giúp. Xong ngay. Gọn ghẽ. Chi phí không đáng kể. Nhưng có một số kẻ xấu bụng thì lại xì xào là nó bắt bồ với cái ông gì đó to lắm, to dễ sợ. Nhờ thế lực ông này nên nó chạy mọi thủ tục cứ băng băng. Xì xào là nghề của những kẻ vô công rồi nghề, kệ họ! Cách đây ba năm, ông giám đốc của nó được đề bạt làm Tổng giám đốc Tổng công ty. Ông kéo theo chú lái xe và con Cáp về Tổng. Chú lái xe thì tất nhiên là giữ nguyên chức lái xe. Còn con Cáp được sếp bố trí làm chuyên viên hành chính. Coi như nó được nâng hạng từ cán sự lên chuyên viên. Ai cũng biết là muốn ăn lương chuyên viên phải có bằng đại học, có chứng chỉ trung cấp chính trị, sơ cấp tiếng nước ngoài, sơ cấp vi tính v.v. Nhưng nó vẫn được xếp lương chuyên viên. Không phải là vì sếp ưu ái nó, cũng chẳng phải là thiếu người thắc mắc. Mà là vì có khối chuyên viên hưởng lương to hơn nó mà ngồi một chỗ tán phét suốt ngày, chả làm được việc gì. Chỉ tốn công cô nhân viên quét dọn phải luôn tay đi đổ bã chè và tàn thuốc. Từ hồi ông giám đốc công ty con lên làm Tổng giám đốc Tổng công ty, hay nói đúng hơn là từ hồi con Cáp lên làm chuyên viên hành chính của Tổng công ty, mọi công việc của Tổng công ty đổi thay rất nhiều theo hướng tích cực. Hợp đồng kéo về được nhiều hơn. Lợi nhuận cao hơn. Lương bổng anh em khá hơn. Tổng công ty mở mày mở mặt hơn. Bằng khen các loại rồi cả huân chương Lao động ùn ùn kéo về Tổng Công ty. Tổng công ty còn chạy xin được thành phố cấp đất, tới đây sẽ xây toà bin-đing 22 tầng, vừa làm trụ sở vừa kết hợp cho thuê văn phòng. Tổng công ty phát triển mạnh mẽ và bền vững. Trong báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng luôn có câu đó. Người ta không phân tách được công của Tổng giám đốc là bao nhiêu phần so với công của con Cáp. Ai nhiều hơn, ai ít hơn. Vì chỉ có nó với Tổng giám đốc đi giao dịch các vụ làm ăn. Chỉ nó với sếp biết những chuyện chỉ nó với sếp biết! Cũng cách đây ba năm nó đẻ thêm một thằng con trai nữa. Chính vì đứa con trai này mà vợ chồng nó cãi nhau suốt. Thằng chồng xe ôm ít lý sự, ít biết nói bằng mồm, chỉ biết nói bằng cẳng chân và cẳng tay. Mặt con Cáp sưng tím, chắc trong người nó cũng nhiều vết bầm. Thằng chồng gào tướng, hàng xóm nghe rõ hơn nghe cái loa của tổ dân phố: - Ông sẽ đến đốt nhà thằng nào dám ngủ với vợ ông! Con Cáp bấm một cú điện thoại. Thằng chồng gào thêm vài ngày nữa rồi im. Cái “thằng nào đó” đã đền bù cho nó một khoản tiền kha khá. Nó hết gào, im lặng ký vào tờ đơn ly dị do con Cáp thảo sẵn. Toà án xử nhanh như điện cho anh chị bỏ nhau. Đã bảo là con Cáp luôn biết giải quyết các thủ tục pháp lý mà! Thế là nó có tổng cộng ba con, nhưng trong hồ sơ cán bộ nó không khai cái đứa ở quê, cái đứa mà năm nay nếu như là con người ta thì đã vào đại học hay đi bộ đội rồi. Ai xì xào kệ họ, án tại hồ sơ. Coi như nó không vi phạm quy định mỗi bà chỉ có hai con. Thiên hạ rất hay thích xì xào. Song hơi đâu mà xì xào chuyện nó có ba hay hai con. Cái họ xì xào nhiều nhất là thằng bé ba tuổi giống hệt cái ông cán bộ “to dễ sợ” nói trên. Mắt giống, mũi giống, miệng giống. Cái đầu hơi nghiêng nghiêng có vẻ quan trọng cũng giống! Như đã nói là án tại hồ sơ. Ai xì xào thì cứ xì xào. Thời nay người ta lấy kết quả công việc làm thước đo giá trị con người. Con Cáp cứ chiến sỹ thi đua năm một. Cái ông “to dễ sợ” kia thì cứ to như cũ. Có khi rồi sẽ còn to hơn. * * * Vậy mà đùng một cái con Cáp xin nghỉ việc. Trưởng phòng Tổ chức mời nó đến gặp, tìm hiểu nguyên nhân, lý do, mục đích. Ông tổ chức nào mà chả bận rộn, có mỗi một việc gặp con Cáp mươi phút mà ông đã tính phải làm tới ba việc: Tìm hiểu nguyên nhân, tìm hiểu lý do, tìm hiểu mục đích. May là ông ấy chưa kê ra các khoản tìm hiểu hoàn cảnh, tìm hiểu tâm tư, tìm hiểu nguyện vọng. Thế thành ra những sáu việc? Con Cáp bảo nó còn trẻ, chưa có bằng đại học nên muốn học đại học. Xin nghỉ, dành trọn năm năm cho việc trang bị kiến thức, đi học chính quy đàng hoàng. Chứ ăn lương chuyên viên mà không có bằng đại học thì ngượng lắm. Nắm vững các loại nguyên nhân, lý do, mục đích của con Cáp, ông Trưởng phòng tổ chức lên gặp Tổng giám đốc. Hai ông này mất gần một giờ đồng hồ mới bàn xong phương án xử lý. Tồng giám đốc bảo: - Anh làm sao thì làm chứ con Cáp mà nghỉ việc lấy ai thay? - Dạ, sếp để em tính ạ. - Tính nhanh lên, ông tính cái gì cũng chậm. - Thưa anh, làm công tác tổ chức tuy chậm một chút nhưng phải chắc. - Ừ uống nước, hút thuốc đi rồi nghĩ ra kế. Nói thế thôi chứ ông Trưởng phòng đã có kế rồi. Lúc nào trong bụng ông chả có vài trăm kế. Ông hạ giọng thì thầm: - Anh ạ, hay là ta cử con Cáp đi học tại chức? Tổng công ty hỗ trợ kinh phí cho nó học. Nó vẫn phải lo giải quyết các ông việc Tổng công ty giao, mà mấy năm sau vẫn có bằng đại học? Học tại chức là học giả bằng thật, khó khăn gì đâu! Thực ra ông Tổng đã nghĩ ra cái mẹo này từ trước rồi, nhưng lại muốn để cấp dưới đề xuất ý kiến. Làm lãnh đạo là phải thế, phải tạo điều kiện cho cấp dưới đựoc tự do tư duy, tự do sáng tạo. - Hay đấy! Ông đúng là dân tổ chức xịn! Ông Tổng mở tủ, lôi ra một cai rượu ngoại vàng sánh như mật ong, rót ra hai cái ly. Hai ông cạn chén. Rượu ngon. Rượu càng ngon khi biết uống đúng lúc. Ông Tổng phán: - Anh làm thủ tục cho con Cáp đi học đại học tại chức, đồng thời giới thiệu cho nó học cái khoá chính trị cao cấp của Bộ sắp mở luôn nhé. Bây giờ con Cáy, à con Cáp, là cán bộ thiết yếu của Tổng Công ty. Mấy năm nữa nó sẽ là cán bộ chủ chốt. Đó là về hình thức, chứ thực chất thì nó đã là cán bộ chủ chốt từ lâu rồi! Qua rồi cái thời chiến đấu hy sinh, thời mà người chủ chốt phải là người biết chiến đấu và sẵn sàng hy sinh. Qua rồi cái thời bao cấp, thời mà người chủ chốt phải là người nghiêm túc thực hiện các quy định của trên, cho dù các quy định đó có oái ăm đến mức nào. Cũng qua rồi cái thời lãi giả lỗ thật, thời mà người chủ chốt phải là người biết báo cáo láo và có ô dù che đỡ. Bây giờ là thời của các mối quan hệ. Thời của con Cáp. |
Thực ra:
Đối với một số người, chuyện nhỏ cứ làm cho to và ngược lại, với một số người chuyện to cũng là chuyện nhỏ. ( Không phụ thuộc vào cái tên, giới tính, bằng cấp, xuất phát điểm...) |
Lão Hâm ca ngợi cô Lê Thị Yến
Nhà lão Hâm thường ăn tối muộn, vừa ăn cà rà kề rề vừa xem TV. Hôm đó đang chiếu chương trình “Ai là triệu phú”. Có câu hỏi là lúc nhà Vua đi qua thì bà Ỷ Lan đang làm gì. Hãy chọn một trong bốn phương án: Đang nấu bếp, đang giã gạo, đang quét nhà hay đang hái dâu. Bà xã lão Hâm nói ngay: “Dễ thế. Ai chả biết. Là hái dâu!” Lão Hâm đồng ý là câu này quá dễ. Rồi nói thêm cái cô Lê Thị Yến này khôn bỏ xừ. Mụ vợ hỏi Lê Thị Yến là ai. Lão Hâm bảo đó là tên thời con gái của Nguyên Phi Ỷ Lan. Bà xã lại hỏi khôn là khôn thế nào? Lão Hâm bảo: - Khôn ở chỗ là biết nhà Vua sẽ đi qua nên ra đứng sẵn cho nhà Vua nhìn thấy. - Làm sao biết là nhà Vua sẽ đi qua? Ông chỉ hay áp đặt ý nghĩ cho người khác! - Úi giời, mới sáng ra đã cho xe phun nước rửa đường hai ba bận. Rồi giăng đầy cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, lính đặc nhiệm cầm dùi cui, công an các phường sở tại cũng có mặt. Đến con mẹ bán mắm tôm còn biết là Vua sẽ đi qua, huống hồ người thông minh như cô gái Lê Thị Yến? - Ừ nhỉ. Nhưng đến con mẹ bán mắm tôm còn đoán biết được thì bà Ỷ Lan khôn nỗi gì? - Đã bảo là khôn ở chỗ ra đứng sẵn cho nhà vua trông thấy rồi mà. Chứ ở trong nhà thì ai thấy? Mà ra đứng hái dâu mới đích thị là khôn. - Khôn sao? - Tại sao không ra gánh nước, bón phân hay làm việc gì khác mà nhất thiết phải là hái dâu? - Hái dâu thì có gì mà khôn? - Thứ nhất là… - Ông cứ hay thứ nhất thứ hai con cà con kê sốt cả ruột! - Để yên cho người ta nói. Thứ nhất là đứng trong vườn dâu trông rất thơ mộng, gợi cảm. Tạo ấn tượng đặc biệt. Thứ hai là… À, bà có nhớ bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ của họa sỹ Tô Ngọc Vân không? - Có nhớ. Nhưng sao ông đang nói về cô gái Lê Thị Yến lại vòng sang cô gái của Tô Ngọc Vân? - Vì rằng mà là khi cô gái đưa cái tay lên phía trên đầu thì khuôn ngực đầy đặn nhô ra, nổi bật hơn. Da trắng, tóc đen, ngực tròn, lưng ong thấp thoáng trong đám lá dâu xanh. Trông thấy cảnh đó vua nào không mê thì cứ chặt đầu tôi đi! - Chà chà! Lão Hâm có vẻ sành sỏi nhỉ? - Sành là cái chắc. Như vậy là cô Lê Thị Yến đã chủ động tự giới thiệu mình vào cơ cấu lãnh đạo, nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại là ứng cử vào cơ quan quyền lực cao nhất. Một con người thông minh và cơ mưu như thế, sau này nắm quyền bính trong tay là chuyện đương nhiên? Cuối cùng bà xã lão Hâm cũng đành phải công nhận là lão Hâm phân tích đúng. Đến lúc này cô con gái rượu của lão Hâm mới lên tiếng: - Tiếc thật, ở Hà Nội không còn bãi dâu nào. Lão Hâm nhìn sang cô gái hóm của mình: - Và cũng không có Vua. |
Ông tất yếu
Ông Tất yếu sống ở gần nhà lão Hâm. Hễ cứ mở miệng ra là “Quy luật tất yếu!” hoặc ngắn gọn hơn là “Tất yếu!” nên người ta quen mồm gọi ông là Tất yếu. Mưa to, nước dềnh lên. Ông Tất yếu gửi xe đạp nhà người quen đầu ngõ, xắn quần lên quá đầu gối, lội nước về nhà, để lộ hai cẳng chân làm người đi đưởng phải nghĩ là tổ tiên loài người xuất phát từ loài vạc. Ông Vừa lội nước, ông vừa lẩm bẩm rằng mưa to, cống thoát không kịp thì tất yếu là phải ngập. Nước ngập thì tất yếu phải lội, không có gì đáng ngạc nhiên. Nhà nọ kho cá bị cháy, khét lẹt cả xóm. Ông gật gù: “Quên không tắt bếp thì tất yếu là phải cháy!” Đài tổ dân phố loan tin bà cụ Nậu mất. Ông bình thản: “Già thì tất yếu phải chết”. Bà vợ đi chợ bị kẻ cắp rút mất tiền. Ông bình luận: “Có kẻ cắp thì tất yếu sẽ có hành vi ăn cắp”. Bà vợ ngoặc lại: “Mất tiền thì tất yếu hôm nay nhịn đói”. Ông cười nhất trí. Chuyện vui hay chuyện buồn, chuyện nào ông cũng tất yếu hết. Nghe dân phố nói trước đây ông dạy chính trị ở một trường phổ thông nên quen dùng cụm từ “quy luật tất yếu”. Thỉnh thoảng lão Hâm sang nhà ông Tất yếu uống trà, hút thuốc và nói chuyện vãn. Khi lão Hâm ca thán là hồi này tham những ghê quá, cả về mức độ lẫn về quy mô. Ông Tất yếu thủng thẳng: - Quan liêu và tham nhũng là thuộc tính của chính quyền. Các Mác nói khi đến chế độ cộng sản, không còn chính quyền thì mới hết quan liêu và tham nhũng. Vậy tham nhũng ở ta là tất yếu. Nói thế quá đúng, nhưng chẳng còn gì để nói tiếp nữa. Lão Hâm quay sang đề tài khác, bàn về các em hoa hậu, tưởng ông Tất yếu không “tất yếu” trong chuyện người đẹp. Nào ngờ ông phán: - Có thằng nhiều tiền muốn mua gái đẹp thì tất yếu có người đứng ra tổ chức thi chọn người đẹp thôi! * * * Chiều hôm qua ông Tất yếu đi lĩnh lương hưu. Làm thế quái nào mà cái trục bàn đạp bỗng dưng gãy, cái bàn đạp rời ra, ông ngã lộn nhào từ trên xe đạp xuống, trượt dài ra đường. May là người ông thấp bé nhẹ cân nên cú ngã không gây hậu quả nghiêm trọng. Không thể đi tiếp để lĩnh lương hưu, ông tập tễnh dắt xe về nhà. Trông thấy thế, lão Hâm định an ủi rằng cái trục bàn đạp là đồ rởm nên tất yếu đến lúc nào đó nó sẽ gãy. Thấy cái bản mặt bi hài của lão Hâm, ông Tất yếu dừng dắt xe, gật đầu chào rồi nhìn xuống chân mình. Chính xác là ông Tất yếu nhìn xuống mấy ngón chân đang thò ra khỏi cái tất bị rách lúc ông ngã. Lần này ông nói hơi khác một chút: - Tại cái tất nó yếu bác ạ, trượt hơi mạnh chân là tất yếu phải rách! |
Người hay giả vờ
Lão Hâm rỗi hơi, ngồi chơi xếp chữ. Lão chơi theo kiểu của lão là tìm những cặp tính cách đối nghịch. - Thành thật và giả dối, - Chân thật và điêu toa, - Bộc trực và kín đáo, - Nồng nhiệt và lạnh lùng, - Sâu sắc và hời hợt, - V.v. Tìm mãi không ra từ nào đối lại với “giả vờ”, lão Hâm cắn bút suy nghĩ rồi sực nhớ đến ông bạn Giả vờ của mình. Ông này rất hay giả vờ, giả vờ thành một thói quen cố hữu. Xa xưa nhất là hồi ông mới 30 tuổi. Chả biết ông làm thế nào và không làm thế nào mà vẫn chưa có người yêu, dẫu ông có cái bằng kỹ sư Bách khoa khoá 1 sáng ngời. Khuôn mặt ông cũng sáng láng. Vậy mà chả cô nào mê. Trai lấy vợ, gái lấy chồng, ông quyết định phải tìm người yêu. Lần đó ông ra Ủy ban Nhân dân Tiểu khu (tương đương với Phường hiện nay), thấy có niêm yết danh sách cử tri bầu Quốc hội. Ông bèn rút sổ tay, ghi lại đầy đủ họ tên, năm sinh, địa chỉ của tất cả các nữ cử tri trong khoảng từ 20 đến 25 tuổi. Chiều chiều, sau giờ làm việc ông lượn vòng quanh tiểu khu, liếc mắt vào các nhà theo liệt kê địa chỉ ông đã ghi chép rành mạch, rình cơ hội nhìn thấy dung nhan các nữ ứng viên vào danh sách người yêu của ông. Ông chọn được 5 cô, chủ yếu là theo tiêu chuẩn ngoại hình. Rồi ông ra hiệu sách, mua một cuốn “Thép đã tôi thế đấy”. Tối hôm đó, ông đến nhà cô thứ nhất, sau khi đã trinh sát biết là cô ấy đang đi học buổi tối. Chào hỏi bố mẹ cô gái mà rất có thể sẽ là bố mẹ vợ trong tương lai của mình, ông nói năng nhỏ nhẹ: - Cháu xin gửi trả em A cuốn sách. Bố mẹ cô gái lịch sự tiếp, hỏi kỹ anh ở đâu, làm gì… Ông Giả vờ ngồi thêm năm phút rồi cũng lịch sự xin phép ra về. Bố mẹ cô gái thấy con mình quen với anh thanh niên tử tế, lại có lý tưởng cách mạng (Mê “Thép đã tôi thế đấy” mà!), trong bụng không có gì nghi ngại. Con về liền kể ngay có anh đến trả sách. Cô gái chối là không hề cho ai mượn sách. Hai vị phụ mẫu cười thầm, con gái ngượng đấy mà, con gái nhà lành vẫn thế. Vài hôm sau cô gái không quen biết tìm ông trả lại sách, chỉ nói gọn lỏn mỗi một câu là anh nhầm em với ai đó, rồi ra đi không hề tiếc nuối. Ông Giả vờ tiếp tục quay vòng cuốn sách sang nhà cô thứ hai. Bằng cách đó ông Giả vờ đi hết một vòng 5 nhà có con gái. Cuối cùng là ông có người yêu. Người yêu đó là vợ ông sau này. * Kiểu giả vờ trên không ảnh hưởng gì đến chúng ta lắm, bạn đọc nhỉ?* * Tôi xin kể thêm vài ba kiểu giả vờ khác của ông để bạn tham khảo. Vào năm 1982, cơ quan được thành phố cấp 10 căn hộ. Tổng số cán bộ công nhân viên cơ quan xấp xỉ 300. Một chọi ba mươi. Rất nhiều người chạy chọt và số người không chạy chọt còn nhiều hơn, tự biết là không đến lượt mình. Ông Giả vờ không nằm trong số chạy và không chạy đó. Ông tiến hành kiểu khác. Ông nghỉ ba ngày liền ở nhà không xin phép cơ quan. Hồi đó chưa nhà ai có điện thoại, bạn nên nhớ như thế. Cơ quan đang bàn cử người đến thăm xem ông ốm đau ra sao thì ngày thứ tư ông vác khuôn mặt thiểu não, thân hình tiều tuỵ đến. Hai con con mắt ông đỏ hoe: - Vợ chồng tôi đã ra toà ly dị. Tôi phải dọn đến ở nhờ nhà bà chị. Xin bạn đọc đừng nghĩ là Hội đồng phân phối nhà quan liêu và lười nhác. Hội đồng đi kiểm tra kỹ từng trường hợp có đơn xin cấp nhà. Họ thấy đúng là ông Giả vờ đã ly dị vợ và đang ở nhờ gầm cầu thang nhà bà chị vốn cũng đã khá chật chội. Ông được phân căn hộ. Sửa sang, lát gạch men mới, lắp đèn tuýt sáng trưng xong, ông đón cô vợ, cái cô cử tri đi bầu Quốc hội ngày nào, về ở. Biết được là ông ấy giả vờ ly dị thì đã quá muộn. * Thường ngày ông rất hay giả vờ. Câu nói cửa miệng của ông là: “Thế à?”.* * Bạn bè hay nói đùa rằng ví như có người nói với ông Giả vờ rằng vợ ông tên là Linh, ông cũng giương mắt ngạc nhiên: “Thế a?” Cái gì ông cũng tỏ ra là chưa biết. Mấy vị lãnh đạo cơ quan đấu đá nhau, vị nào cũng tranh thủ lôi kéo ông. Nói mãi một hồi mà ông nào cũng chỉ nhận được có hai chữ “thế à”, chán không thèm nói nữa. Học chính trị ư? Ông giả vờ chăm chỉ. Chống tham những ư? Ông giả vờ tích cực, mỗi tội chưa biết là có ai trong cơ quan tham nhũng. Tốt với bạn bè ư? Ông cũng tốt như hầu hết chúng ta. Đám ma đám cưới đi đầy đủ. Trong cơ quan có một anh rất giỏi Tử vi. Mọi người bàn nhờ anh này xem kỹ số ông Giả vờ sang năm mới sẽ thế nào để cuối năm rà soát lại xem đúng bao nhiêu phần trăm. Sau năm năm kiên trì lấy tử vi cho ông Giả vờ, mọi người thất vọng là không hề đúng tẹo nào, ngoài việc năm tới ông ấy sẽ nhiều hơn năm nay một tuổi. Ông thầy xem Tử vi nổi cáu: “Tay này hoặc là khai sinh sai hoặc là nó cầm tinh con khác chứ không phải cầm tinh con Rồng” Mọi người thắc mắc: - Thế nó có thể cầm tinh con gì? - Chắc là cầm tinh con Giả vờ! Nhờ cái đức giả vờ nên ông tồn tại yên lành cho đến lúc về hưu trong cái môi trường cơ quan đầy sóng gió. Mà không phải tồn tại thường đâu nhé. Mọi quyền lợi ông đều thu về mình khá hơn những người khác. Gần đây nghe tin ông chết. Bạn bè cứ phải hỏi nhau rất kỹ trước khi đi đưa đám ông: - Liệu nó chết thật hay chỉ giả vờ? |
Câu chuyện bên bàn cờ (2)
Cu Bi ngày một mê cờ tướng. Hở ra một chút là cu cậu gạ gẫm ông đánh cờ. Bi đang nhăn trán suy nghĩ vì gặp nước bí thì cu em mới hai tuổi rưỡi chạy đến xin chơi chung: - Anh cho em một miếng! Cu Tý chỉ biết nói câu xin ăn, chưa biết xin cái khác nên hễ xin gì nó cũng “Cho em một miếng” như thế. Cy Bi đang tập trung vào việc gỡ bí, gạt em sang một bên. Cu Tý bèn nổi máu côn đồ, chộp lấy một quân cờ, chạy vụt đi, ném quân cờ qua cửa sổ. Cu Bi tức lắm nhưng không dám đánh em, ngồi khóc rưng rức. Cu Tý liếc mắt không thấy ông ngoại bênh mình, biết lỗi, sợ sẽ bị người lớn đánh, cũng khóc oà lên, gào to hơn cả cu Bi. Lão Hâm thấy hai cháu khóc, buồn cười quá, ngồi cười. Bà chạy vào quát: - Ông làm gì để các cháu khóc rồi ngồi cười một mình? Bà ngoại ôm Tý vào lòng, dỗ nó nín. Lão Hâm cũng chạy đến nựng cu Tý. Cu Tý giận ông không bênh mình, bèn vẫy vẫy tay: “Bai bai ông ngoại!”. Đó là cách nó đuổi ông đi chỗ khác. Lão Hâm vẫn cứ bám theo hai bà cháu, bảo có ai làm gì đâu mà con khóc. Cu Tý: “Chúc ông ngoại ngủ ngon!”, ý là ông im đi, đừng nói nữa! Lão Hâm quay lại ôm Bi vào lòng, vỗ về: - Thằng Tý nó ném có mỗi mẩu gỗ thôi mà, con tiếc làm gì, để ông chạy ra sân tìm cái mẩu gỗ ấy cho. Nín đi nào, cháu yêu! Cu Bi làu làu: - Quân cờ của người ta mà ông bảo chỉ là mẫu gỗ. Để con đập vỡ đèn xe máy của ông rồi bảo đó chỉ là miếng nhựa xem ông có tức không? Lão Hâm ra sân, một lúc sau tìm thấy con cờ mang vào cho Bi: - Thôi con đừng đập vỡ đèn xe của ông nữa nhé! Thằng bé bật cười. Đúng là trẻ con, khóc đó cười đó. Lão Hâm nhường cho cu Bi thắng ván cờ, coi như đền bù phần nước mắt nó đã bỏ ra. Thắng trận, cu Bi chia sẻ quan điểm với ông ngoại: - Đúng là mỗi quân cờ chỉ là một mẩu gỗ, ông nhỉ? Lão Hâm tranh thủ dạy cháu: - Cháu có thấy là 32 quân, quân nào cũng to và nặng bằng nhau? Quân này được vẽ lên chữ “Tướng” thì nó là tướng, quân kia bị bôi lên chữ “Tốt” thì nó là tốt. Khác nhau ở cái chức vụ, còn thì đều là mẩu gỗ như nhau hết? Cu Bi trầm ngâm suy nghĩ, so sánh ông tổ trưởng dân phố và bố nó. Tạm coi là họ như nhau, nhưng nó vẫn nghĩ là bố nó giỏi hơn và đẹp trai hơn ông tổ trưởng dân phố. Ở phòng bên cạnh, bà ngoại nghe hai ông cháu nói chuyện, lại vội chạy sang, lại quát: - Ơ hay nhỉ? Ông không dạy cháu chịu khó học hành tu dưỡng phấn đấu, có bằng cấp cao, có vị trí xứng đáng để đóng góp cho đời, vinh hạnh cho gia đình mà lại dạy cháu “tướng” với “tốt” đều là cá mè một lứa?! Lão Hâm cãi: - Tôi chưa kịp nói đến phần sau thì bà đã vội chen ngang. Tôi định nói là mọi quân cờ đều như nhau, mọi con người trong xã hội cũng đều có giá trị và đều được tôn trọng như nhau. Và tôi còn định nói tiếp nữa là ta chẳng thà làm con tốt mà gỗ cứng còn hơn làm con tướng mà gỗ mọt! Việc đầu tiên con người phải làm là phấn đấu để mình luôn là một mẩu gỗ cứng chứ không phải cố bôi lên mình chữ “Tướng” hay chữ “Sỹ”. Mụ vợ suỵt một cái rõ to: - Thế thì được, tôi nhất trí là làm con gì cũng được, chỉ xin là không hâm. |
Băng giá đầu đời - dịch giả Phan Bạch Châu
Anh Phan Bạch Châu vừa ký tặng bạn bè tập thơ dịch "Băng giá đầu đời" của anh. Tôi cũng được tặng một cuốn. http://i659.photobucket.com/albums/u...dualenblog.jpg Là một nhà khoa học, Phan Bạch Châu rất yêu thơ. Nhà khoa học mà không yêu thơ thì đó có thể là nhà khoa học chưa trọn vẹn? Phan Bạch Châu làm thơ và dịch thơ. Cả hai việc anh đều làm cẩn trọng, tỷ mỉ, không khoa trương ồn ào. "Băng giá đầu đời" là tập thơ anh dịch từ nguyên bản tiếng Nga, gồm 41 bài anh chọn của 9 cây đại thụ thi ca Nga. Không có Pushkin, có lẽ vì nhiều người đã dịch Pushkin rồi. Đó là quyền của anh, "gu" của anh. Phan Bạch Châu dành nhiều ưu ái cho A. Voznesensky, O. Berggolts và M. Lermontov. Cầm tập thơ dịch 160 trang trong tay, là người biết tiếng Nga, tôi cẩn thận đọc từng bài một. Đọc thơ là phải cẩn thận, phải nghiêm túc. Đọc thơ dịch càng phải cẩn thận và nghiêm túc hơn. Vì vậy bài viết này chưa phải là bài nhận xét đầy đủ và toàn diện về "Băng giá đầu đời". Tôi chỉ muốn kịp thời bày tỏ lòng kính trọng và sự khâm phục trước tấm gương lao động nghiêm túc và tài hoa của anh Phan Bạch Châu, một ngườì cách đây không lâu đã vượt qua căn bệnh hiểm nghèo trở về với gia đình, với bè bạn và với thơ! Ai đã từng dịch thơ đều hiểu rằng dịch thơ là vô cùng khó. Phải hiểu được đến tận cùng bài thơ gốc. Phải giỏi tiếng mẹ đẻ. Và phải có tâm hồn thơ thì mới có thể dịch thơ được. "Băng giá đầu đời" là tên một bài thơ của A. Voznesensky mà anh Phan Bạch Châu dùng để dặt tên cho cả tập thơ dịch. Nguyên nghĩa của nó là "Băng giá đầu tiên". Anh Phan Bạch Châu chuyển nghĩa thành "Băng giá đầu đời" thật là đúng và thoát. Đó là một ví dụ nhỏ cho thấy dịch giả đã lật đi lật lại từng con chữ, đã mất rất nhiều công sức cho việc đạt đến một phương án "chuyển ngữ" mà dịch giả đặt mình vào vị trí người đọc khó tính nhất để tự kiểm định. Đây là một tấm gương đáng quý về lao động con chữ. Qua những bài mà tôi đã đọc (thành thật nhận rằng tôi chưa đọc hết song ngữ 41 bài thơ), tôi đã nhận thấy anh dịch chuẩn, rất tôn trọng nguyên tác mà vẫn Việt hoá được ý thơ và hồn thơ của các tác giả Nga. http://hovanthien39.vnweblogs.com/ga...1-IMG_0257.jpg (Tiến sỹ Phan Bạch Châu học ở Nga, mặc áo khoác trắng) Bằng những dòng này, tôi xin chúc mừng anh Phan Bạch Châu với tập thơ dịch lần này (trước đó anh đã có 4 ấn phẩm là các tập dịch thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết Nga). Nhân dịp năm mới Tân Mão 2011 xin kính chúc anh luôn mạnh khoẻ, lao động sáng tạo và tiếp tục cho ra đời những tác phẩm có giá trị! |
cám ơn bác Phan! họ bán ra TT chưa để em mua ủng hộ 1 cuốn?
|
Trích:
Tiếp: Tôi vừa gọi cho ô PBC, ông ấy chuẩn bị bay đi Tp HCM và sẽ ở trong đó 4 ngày. Ai ở SG muốn xin sách thì mời liên hệ với ông ấy qua điện thoại: 0903 416 092 và có thể gặp để nhận sách, chỉ cần nói là bạn lão Hâm. Hihi! |
Em thay mặt gia đình cám ơn bác Phan за "NHÀ SỐ 10" của bác. Nhà em nó đọc xong truyện ấy mà bỗng dưng mấy hôm nay trong nhà đỡ tiếng ồn của bà "não"(có tác dụng theo chiều hướng tốt). Con gái em đang có ý định đi tìm kiếm ít truyện na ná như vậy để cho "NHÀ SỐ 76" vui hơn và ấm hơn cho những ngày đông lạnh lẽo này...
Cám ơn bác nhiều! Chúc bác khỏe và cho ra đời nhiều những tản văn và truyện ngắn đầy ý nghĩa. |
Trích:
Nhà cháu xin có vài nhời bàn có được không ạ, cũng chỉ là xin cho một quân cờ tầm thường được kể thêm một câu chuyện tào phào dư vầy thôi. Rằng, Một ngày nọ, khi các con cờ đã mòn vẹt cả, nằm buồn thiu trong cái bao ni-lông cùng với cái bàn cờ giấy cáu bẩn, lẫn lộn cả mấy mẩu gỗ tạp chẳng có chữ nào trên đó - vốn người ta dùng tạm để thay cho quân cờ gỗ khác đã bị mất hay bị vứt thẳng xuống cống, ai cũng hãi chẳng dám nhặt lên - một con cờ gỗ vẫn còn cứng chưa kịp mọt nghĩ ra: Các quân cờ không chỉ khác nhau ở cái chữ người ta vẽ trên đó, mà là khác nhau ở nước đi, cách đi. Mấy cái mẩu gỗ mọt chẳng chữ nghĩa gì kia, muốn làm con gì mà chả được. Quan trọng là nó đi thế nào trên bàn cờ thôi. Khốn nạn thay cái gọi là cuộc cờ! |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:28. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.