![]() |
Ngày 2 tháng Giêng 1943
Ngày cuối cùng của năm cũ trôi qua không như tôi mong muốn. Tôi đã nghĩ là trong ngày ấy sẽ viết một bản kiểm điểm ngắn những thành công và thất bại của mình. Một bản ghi những ước mong của mình. Nhưng không làm kịp. Và hôm nay cũng chưa kịp viết những cái đó ra. Hôm kia máy bay địch đến đánh suốt đêm tôi cũng không ghi lại được. Gần đâu đây có một quả bom rơi: Mọi người đều rùng mình. Tôi chả làm xong được công việc gì. Chúng tôi đến thăm cây thông ngày Tết ở phòng giải phẫu số 2. Tôi đọc sách cho bệnh nhân nghe, rồi bỗng nhiên cảm thấy chính mình cũng ốm. Tôi mệt lả đi. Chương năm của bài thơ dằn vặt tôi. Người đọc không hiểu và không thích nó. Thế nghĩa là tôi không thể viết ra được những điều mà tôi muốn. Chả lẽ tôi làm hỏng cả bài thơ vì đoạn cuối không thành công này? Mà hay dở thì xem đoạn kết mới rõ! Tôi nghĩ hay là viết lại hay là viết một cái gì lớn hơn, hoặc là nghỉ đi một thời gian. Đọc sách. Gần đây tôi đọc được ít sách quá. Thôi được ! Đã ta thán nhiều rồi, đã khóc thầm nhiều rồi. Đủ rồi! |
Ngày 6 tháng Giêng 1943
Khoảng 9 giờ tối. Tôi vừa ở phòng y vụ quân đoàn mười một trở về. Ở đấy có cây thông của anh chị em y tế. Trong số nữ hộ lý có những cô gái rất xinh, tuổi trẻ như hoa đang nở, đã vượt qua tất cả, chịu đựng tất cả. Mà trong mùa đông vừa qua họ đã sống như thế nào! Bữa chiêu đãi bên cây thông có cà-phê đen và bánh mật (giống như đường nhưng vị dịu hơn) lại có cả mấy miếng bánh mì phết mật nho. Cái này giống như cặn sữa. Tôi thấy ngon tuyệt. Ngày 7 tháng Giêng 1943 Đêm qua báo động suốt đến sáng. Giặc Đức đến thả hàng tràng chất đốt. cách không xa chúng tôi, chúng thả một quả bom cháy rất lớn, cả một quả bom đầy dầu lửa và rất nhiều hỗn hợp cháy. Ngoài mặt trận công việc của chúng ta thật tốt. Quân ta đã giải phóng Nan-xích. |
Ngày 9 tháng Giêng 1943
Một câu chuyện ngộ nghĩnh với nhà tôi. Anh bảo rằng-bom rơi trúng đầu cũng như việc trúng số độc đắc hai vạn rúp là một chuyện hiếm. Vì thế anh không sợ gì cả. Tôi cảm thấy anh nói đúng. Nhưng sau khi nghĩ suốt đêm, đến sáng ra tôi hỏi anh: -Trúng số độc đắc thì rất hiếm, nhưng những số trúng nhỏ giống như những mảnh bom thì không hiếm. Nhà tôi đồng ý với tôi. |
Ngày 14 tháng Giêng 1943
Một ngày mỹ mãn, tôi đã viết xong bài thơ về Lê-nin. Tôi đến nhà in Vô-lô-đar-xki để dự quay phim thời sự. Trên đường đi hai lần bị pháo kích. Ở nhà in, các đồng chí đã quay phim tôi bên cái máy đã sắp chữ bài thơ "Pun-cốp-xki" của tôi. Tôi hỏi một chị công nhân: -Mùa đông vừa rồi các chị sống ra sao? Chị đáp: -Cũng giống như đồng chí đã tả trong chương hai bài thơ của đồng chí, đồng chí In-be ạ. Mặt trận của chúng ta ở Côn-pin đã bắt đầu… Một lần nữa (lần này thì thực sự) thử chọc thủng vòng vây. Còn giặc Đức (chúng đang co rúm lại ở đó) thì vừa đánh phá chúng tôi bằng máy bay cùng một lúc bằng pháo lớn. Bây giờ ( 11 giờ 30 phút đêm) đang có báo động, song rất yên tĩnh. Pháo cao xạ không bắn. Mà đạn địch rơi gần. Đài báo là chúng đang bắn đúng vào khu vực chúng tôi. Tôi không biết có quả đạn nào rơi vào đây không. Tôi rất mệt nhưng phấn khởi, sung sướng. Chỉ cần tình hình ngoài mặt trận chúng ta thắng lợi. Chẳng lẽ cuộc bao vây chấm dứt rồi. Thật không tin được. Và thật là tiếc nếu bị chết vào lúc này. |
Ngày 16 tháng Giêng 1943
Một ngày thật không bình thường. Nhân dân toàn thành phố đang chờ đợi. Quân ta đã chiếm Sơ-lit-sen-bua rồi. Đúng như vậy. Và còn một tin nữa là có hai mặt trận của chúng ta (Lê-nin-grát và Vôn-khốp) đã nối liền với nhau. Chưa có tin chính thức. Nhưng cả thành phố chờ đợi. Ở phía nào đó lại đang có pháo bắn. Vừa rồi mới dứt còi báo động: Cuộc sống của thành phố bị bao vây vẫn tiếp tục. Nhưng mọi người đều chờ đợi. Chẳng ai nói gì, hình như mọi người sợ rằng lời nói không đúng chỗ sẽ truyền đến chỗ quyết định vận mệnh của chúng tôi và ở đó có thay đổi gì chăng. Mọi người làm việc. Chân tay vẫn hoạt động. Mồm chỉ nói những câu nào cần thiết. Thế nhưng người nào cũng giống như được truyền một luồng điện hy vọng. Tôi cuống quýt không biết mình làm gì. Muốn viết nhưng không viết được. đến khu uỷ chụp ảnh để dán vào thẻ đảng viên. Hôm nay liệu " bản tin giờ chót" có nói đến hcúng tôi không? 12 giờ 30 phút đêm. Bản "tin giờ chót" làm mọi người không thể nghe một cách bình tĩnh được. Cuộc giải vây đang tiếp diễn. |
Ngày 18 tháng Giêng 1943
Đêm khuya. Bản " tin giờ chót"-vòng vây đã bị phá rồi Lê-nin-grát tự do. |
Ngày 19 tháng Giêng 1943
Đêm qua ngay sau bản " tin cuối cùng" bắt đầu có buổi phát thanh. Tôi cũng đi đến đài. Nhưng lại không có giấy thông hành đi đêm. Sau đó mới biết là đêm ấy người ta không kiểm soát giấy thông hành. Nhưng tôi lại sợ đến muộn. Vì trung tâm của đài ở cách xa chúng tôi. Tôi không biết trước rằng buổi phát thanh trên đài kéo dài cho đến tận ba giờ sáng. Nhưng ngồi nhà, tôi đã ghi hầu hết những người phát biểu. Đồng chí công nhân nói. -Tôi biết vào cái giây phút này không một người nào ngủ cả-(Đồng chí ấy nói đúng, còn ai có thể ngủ được vào cái giờ này nữa). Ôn-ga béc-hôn nói: -Vào tháng Giêng năm ngoái, lúc chôn những người đồng đội của mình xuống mảnh đất băng giá, chẳng có nghi thức quân nhân và lúc cúi mình trên mộ đồng chí thay vào lời vĩnh biệt, chúng tôi thề: " Vòng vây nhất định sẽ bị phá! Chúng ta nhất định thắng!" Chị công nhân Mu-khi-na nói: -Tôi vừa dự cuộc mít tinh ở phân xưởng hay nói đúng hơn là những cuộc mít tinh của các phân xưởng trong nhà máy chúng tôi. Thế này là thế nào các đồng chí ! Không nói được. Không nói lên lời. Chúng ta phải làm việc tốt hơn nữa. Nhưng ngay bây giờ chúng tôi đang xây dựng những công sự mới . Vì việc này chúng tôi đã được thưởng phần thưởng cao nhất của chính phủ. Đồng chí Xu-vô-rôp, công trình sư của các nhà máy Ai-xcai-a nói: -Hiện nay vào cái giờ này, lúc mà tôi đang nói chuyện trước các bạn đây thì anh em công nhân lò thép chúng tôi đang chuẩn bị chế tạo ra một loại máy hỗn hợp mới. Đồng chí Xta-lin muôn năm! Chúng ta hãy vì tên tuổi của Người mà chiến đấu, công tác và quyết giành lấy thắng lợi! Đồng chí Gơ-ru-dơ-đép nói: -Thưa các đồng chí! Thưa toàn thể đồng bào! đến hôm nay quân thù đang nghìn lần nguyền rủa đã thấy rõ lực lượng hùng mạnh của Hồng quân, đã thấy rõ sức mạnh phi thường của nhân dân Nga chúng ta. Chúng ta hãy nâng cốc chúc mừng Lê-nin, nhà chiến lược vĩ đại nhất trong lịch sử của chúng ta. Chúng ta hãy nâng cốc chúc mừng đồng chí Xta-lin, người kế thừa tinh thần của Lê-nin! Er-lư-kin, chiến sĩ lái máy bay nói: -Bọn phát xít đã chuẩn bị huy chương " đánh chiếm Lê-nin-grát" cho đám binh sĩ của chúng. Chúng đã nhiều lần đến thành phố của chúng ta trên những chiếc Gioonh-ke và Mét-séc-sơ-mít của chúng. nhưng bầu trời của lê-nin-grát trước kia, hiện nay, sau này mãi mãi vẫn là bầu trời của nhà nước Xô-viết. Đồng chí Xta-lin của chúng ta muôn năm!. Chiến sĩ Xvét-côp nói: -Cho phép tôi báo cáo tình hình chiến đấu của các chiến sĩ trong trung đội chúng tôi tham gia vào cuộc phá vây Lê-nin-grát. Cách đây hai hôm, chúng tôi tấn công vào xóm công nhân. Xe tăng của chúng tôi xông thẳng vào quân địch. Theo sau xe tăng là cả tiểu đoàn chúng tôi. Anh em hô to " Vì thành phố Lê-nin!" chúng tôi xông thẳng vào quân phát xít . Chúng tôi đánh tan chúng, bọn rắn độc trong một vị trí có lực lượng mạnh nhất, ở đó mỗi ngôi nhà là một pháo đài. Lúc tiến công có một viên đạn địch rơi xuống đầu tôi, mặt tôi đầy máu. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh tôi phải về trạm quân y ở tuyến sau. Tôi nói " đồng chí chỉ huy, cho phép tôi ở lại trận địa đến khi nào nhiệm vụ chiến đấu của chúng ta hoàn thành" Sáng sớm ngày 17 tháng Giêng, chúng tôi đánh chiếm được xóm công nhân. Khi đó tôi mới về bệnh viện dã chiến. Trong cuộc chiến đấu giành lại thành phố Lê-nin này tôi bị thương ba lần. Tôi đã đổ máu ba lần để đồng bào được sống dễ dàng hơn . Để giành lấy thắng lợi cuối cùng của chúng ta, tôi xin sẵn sàng cống hiến cả đời mình cho đến giọt máu cuối cùng. Ta-ni-a Xe-rô-va nữ công nhân của nhà máy X. Nói: -Ôi! Cái đêm hôm nay sao mà vui sướng! Đã từ lâu chúng tôi chờ mong nó. Và cuối cùng nó đã đến rồi! Chúng ta đã chặt đứt cái thòng lọng đen tối mà quân thù muốn dùng bóp chết thành phố chúng ta. Các đồng chí ! Chúng ta cũng là những người tham gia cuộc tiến công vĩ đại này. Công nhân chúng tôi trong nhà máy suốt mười ngày, mười đêm liên không ngủ, không nghỉ đã sửa chữa lại những xe cơ giới chiến đấu. Những xe máy đã ra mặt trận để chiến thắng !. Tất cả những lời phát biểu đó được xen kẽ bằng những bài thơ và bài hát. Tôi viết cho tờ báo nước ngoài một bài báo nhan đề: " Các đội quân ta đã nối liền nhau" Đoạn cuối cùng của bài báo tôi viết: "Ngay cả những giờ phút hiểm nghèo nhất trong những cuộc oanh tạc và pháo kích ban đêm, các xí nghiệp Lê-nin-grát vẫn không ngừng hoạt động các ca đêm. Chỉ một nhà in thôi một đêm đã có đến bốn mươi bảy công nhân bị thương vì mảnh bóng đèn vỡ, kính cửa rơi và tường bị đổ. Cả tuần này, trước khi phá vây, Lê-nin-grát vẫn sống như tất cả mười sáu tháng qua. Đêm nay có hai buổi hoà nhạc lớn, trình bày tác phẩm của Trai-cốp-xki và Scơ-rai-bin. Ở nhà hát quân đội diễn ra vở kịch "Người Nga" của Xi-mô-nốp. Ở nhà hát nhạc kịch trình diễn vở "Biển cả", lấy đề tài trong sinh hoạt của các thuỷ thủ biển Ban-tích. Trên tờ báo "Sự thật Lê-nin-grat" ngày 14 tháng Giêng chúng ta thấy có bảng tổng kết thành tích học tập học kỳ I năm nay trong cá trường học; 60 phần trăm học sinh đạt loại "ưu tú" và "giỏi". Tuy cách đây ít lâu một em nói với tôi là em bị một điểm hai môn toán vì bom. "Trong những ngày này một nữ sinh lớp bốn trường tiểu học số 49 đọc một bản báo cáo trước học sinh tiểu học trên đài phát thanh với đề tài: "Chim bồ câu-nhà nhiếp ảnh quân sự". "Em Vô-va Ki-xê-lốp thuộc trường số 52 kể chuyện em dạy con chó hộ lý" Ngày 17 tháng Giêng La-la một em gái lên bảy tuổi nói với mẹ rằng, ngày mai hoặc ngày kia, vòng vây nhất định bị phá dỡ. Em nói đó là tin do đơn vị bộ đội đã kết nghĩa với vườn trẻ nói cho các em biết "Các chú phá vỡ vòng vây sẽ đem bánh gừng đến cho chúng con ăn" bé La-la nói với mẹ như thế. Và đêm 18 tháng Giêng khi trên đài phát thanh báo: "Vòng vây đã bị phá vỡ" thì La-la mặc quần áo ngủ nhảy từ trên giường xuống. Run lên vì lạnh và xúc động, em bé của Lê-nin-grát trèo lên ghế để đứng cao lên rồi lên tiếng đọc một bài thơ mà em đã học thuộc ở vườn trẻ: "Bọn Hit-le không thoát khỏi bị báo thù". Các đêm trăng tuyết rơi ngày 18 rạng ngày 19 tháng Giêng 1943 ấy không khi nào phai trong trí tưởng tượng những ai đã sống qua đêm đó. Có người già hơn, có kẻ trẻ hơn. Tất cả chúng ta đều đã nếm đau thương và vui sướng, mỗi người một mức độ khác nhau. Chúng ta còn hưởng niềm hạnh phúc đánh bại hoàn toàn nước Đức Hít-le, quét sạch quân thù ra khỏi đất nước. Nhưng còn niềm vui này, niềm vui giải phóng Lê-nin-grát chúng ta sẽ không bao giờ quên. "Nhà máy, công trường, cơ quan uỷ ban phòng không, các khu nhà, khu phố, bệnh viện hộ sinh, trại thương binh… Cả thành phố đều truyền đi một tin ngắn ngủi: "Quân ta đã nối liền với nhau rồi!". "Như vậy có nghĩa là binh đoàn mặt trận Lê-nin-grát từ phía ấy đã nối liền được với đội quân của mặt trận Vôn-khốp đang tiến về Lê-nin-grát. Như vậy có nghĩa là vòng vây đã bị phá". |
Ngày 20 tháng Giêng 1943
Khoảng 10 giờ đêm Báo động phòng không lần đầu tiên sau khi phá được vòng vây. Ngày 23 tháng Giêng 1943 Ở mặt trận Xta-lin-grát quân ta ngày càng xiết chặt vòng vây. Ngày 8 tháng Giêng Rô-cốt-xốp-xki đã gửi tối hậu thư cho quân đoàn số 6 của Đức nói: "Mùa Đông băng giá của nước Nga chỉ mới bắt đầu. Bão tuyết gió rét băng giá ác liệt hơn còn đang sắp tới. Hoàn cảnh của các ngài "thật tuyệt vọng"… Bọn Đức cự tuyệt tối hậu thư này. Ngày 10 tháng Giêng cuộc tổng tiến công của quân ta bắt đầu. Đợt tiến công này kéo dài cho đến ngày … Giặc Đức không thể ra khỏi thành phố Xta-lin-grát được. |
Ngày 24 tháng Giêng 1943
Tôi chả làm được việc gì thành công cả. Tôi làm việc rất tồi. Chẳng viết được cái gì hay nhân ngày giải vây. Từ lâu tôi đã chú ý rằng hễ cứ đến những ngày long trọng là ít khi tôi thành công. Tôi tắt đài 10 phút. Vừa mới mở là đã có lệnh: báo động. Những ngày trước mắt sẽ có nhiều khó khăn. Giặc Đức sẽ quấy rối như những con ruồi trâu, chúng sẽ ra sức cho máy bay đến đánh trộm. Đêm qua hầu như báo động suốt đêm. Có một quả bom rơi vào vườn Bách thảo xuống hồ, còn hai quả nữa: Một quả rơi xuống phố-Pi-nô-ne, một quả trên phố Vơ-ne-đen-xki. Bây giờ chuyện này lại thường xảy ra. Bọn Đức trả đũa những thất bại trên khắp các chiến trường đặc biệt ở miền Bắc Cô-ca-dơ, nơi quân ta đã giải phóng Ar-ma-vi-a. Ngoài sân lạnh vô cùng, trong nhà cũng chả ấm áp gì. Nhân dịp này như một chiến sĩ đã nói: "Càng thèm ăn". |
Ngày 26 tháng Giêng 1943
Tôi đang nghe đài truyền đi bài thơ "Điểm cao N." của tôi. Nhạc khá hay. Ngày 27 tháng Giêng 1943 Hôm nay bắn rơi 28 máy bay địch ở ngoại thành. Nhờ đó hôm nay tôi có thể yên tâm ngồi làm việc. Có thể ngồi lâu viết bài cho "TASS" được. Ra-đi-ô lại hỏng rồi, và tôi chả biết gì. Đúng như chị I-va-nô-vna nói: "Không có đài, sống như trong hũ nút". Ngày 28 tháng Giêng 1943 Việc tiêu diệt quân đoàn số 6 của Đức ở Xta-lin-grát về căn bản là xong. |
Ngày 31 tháng Giêng 1943
Câu chuyện về bí thư đảng uỷ thư viện nhân dân Ph. Mùa đông năm ngoái Ph. và một người cùng công tác với chị ở thư viện đến một gian buồng của khu nhà tập thể, theo sự phỏng đoán của họ thì trong gian buồng này còn một em bé gái ở đây. Trong ngôi nhà vừa hoang vắng vừa lạnh lẽo: cảnh tượng khủng khiếp của căn phòng năm ngoái. Ph. và người bạn chị định đi ra nhưng bỗng nhiên họ nghe như có tiếng thở. Ph. bảo: "Ở đây có ai thở?" Vừa nói chị vừa đi đến bên chiếc giường trùm đầy chăn: -Tôi soi đèn, chị vào giường xem có ai không? -Không, tôi soi đèn cho, chị vào xem đi.-Chị bạn trả lời. Cả hai người đều rất sợ. Nhưng rồi chị Ph. quyết định vào xem. Chị dở hết các chăn lạnh giá ra. Trên giường có hai người chết nằm đó. Một cụ bà và một cụ ông. Nhưng trên cái gối ở giữa hai người chết ấy có một đôi mắt sáng của một đứa trẻ con. Đó là đứa cháu gái của hai cụ, một em gái khoảng ba bốn tuổi. Chị Ph. bế em bé về nhà. Cả người em bị tê liệt. Sau khi tắm rửa sạch sẽ cháu đòi ăn:-"cho cháu ăn cháo". ăn xong, em bé đến nhà thương và người ta đã dùng hết cách để cứu chữa cho em. Nhưng được mười bảy ngày thì em chết. Đến nỗi ngay tên của em là gì em cũng chưa rõ. Ma-sen-ca hay là Ni-nốp-sơ-ca-Ma-sen-ca". |
Ngày 1 tháng Hai 1943
Hôm qua Pha-đê-ép và Vi-sơ-nép-xki ngồi chỗ tôi đến một giờ sáng… Rất buồn cười và cảm động khi Pha-đê-ép đọc to chương hai bài thơ "Pun-cốp-xki" của tôi và sau đó chương bốn. Anh kêu lên thích thú" "Một con đại bàng! Tuyệt vời! Nào đưa tay cho tôi hôn". Hôm nay anh lại gọi dậy nói đến: Buổi sáng đọc thơ với đôi mắt "tươi" hơn. Anh lại nói đi nói lại "Ve-ra, tuyệt hay, tuyệt hay". Cái này sống hàng trăm năm". Dù sao thì tôi cũng rất thích thú. 5 giờ chiều Ra ngoài đi bách bộ. Tôi định đi trên con đường mà tôi thích nhất, dọc theo vườn Bách thảo. Từ cái ngày những chiếc xe vận tải hồ La-đô-ga rời khỏi nơi đây, chỗ này rộng rãi quá. Nhưng tôi chưa kịp đến cổng vườn bách thảo thì một trận pháo kích của địch bắt đầu, rất gần. Đạn bắn dày, y như trước kia chúng bắn vào khu chợ Xít-nư. Ngoài tôi ra trên đường phố còn một chị nữa với đứa bé. Chị nằm trên hè phố, lấy thân mình che đứa con gái. Tôi chạy qua cầu Ca-rơ-pốp-ca về nhà. Tôi thấy mình đang chạy về phía đạn địch bắn tới nhưng không dám dừng lại. Chạy như bay đến sân tôi vào ngay phòng thuốc, ngôi nhà gần nhất. Nhà tôi cũng đang ở đấy. Anh đến đây để lấy thuốc mê. Vừa nhìn thấy anh bao nhiêu nỗi sợ hãi đều biến hết. Chúng tôi cùng đi về phòng mình. Khoảng mười phát đạn, không hơn. Hình như chúng bắn từ tàu chiến vào. |
Ngày 4 tháng Hai 1943
Quân đoàn số 6 của Đức ở mặt trận Xta-lin-grát bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong bản báo cáo chiến sự này theo mối tương quan dưới thời Phi-e ngày xưa: Ta bắt được một đại tướng tư lệnh, hai tên thượng tướng. Ngoài ra còn có nhiều trung tướng và thiếu tướng. Tất cả hai mươi bốn tên tướng bị bắt làm tù binh. Tổng số là chín vạn một nghìn tên tù binh. Cuộc chiến đấu ở Xta-lin-grat đã chấm dứt. |
Ngày 5 tháng Hai 1943
Trích trong một bức thư: "Những người Lê-nin-grát đã mở ra một con đường bảo vệ thành phố, những người Xta-lin-grát đã hoàn thành công việc bảo vệ thành phố, rồi lại mở ra một con đường lớn, con đường đánh bại bọn Hít-le. "Xin cảm ơn các bạn, nhưng người của thành phố Lê-nin đã lập nên những thành tích vĩ đại cho toàn nhân loại mà trước hết là cho nhân dân Xô-viết". Ngày 8 tháng Hai 1943 Bệnh thần kinh giày vò tôi. Trước khi bị bệnh, tôi đã "bị rời tay" y như có lúc người ta "bị rời chân" vậy. Tôi không rõ việc đi Mát-xcơ-va sẽ như thế nào. |
Ngày 9 tháng Hai 1943
Một buổi sáng đẹp trời và giá lạnh. Lúc tang tảng sáng thì bắt đầu đợt pháo kích vào khu phố chúng tôi và kéo dài đến bốn tiếng đồng hồ. Đạn nổ đủ mọi kiểu: từ trên không-hai tiếng nổ có thể là tên lửa. Có quả trên mặt đất, làm nẩy cả đất lên. Trong một thành phố đang ngủ vào lúc tang tảng sáng này, tiếng đạn nổ nghe rất vang, giống như trong một giảng đường bằng đá, mà tiếng vang cũng nối liền nhau. I-va-nô-vna nói người ta khiêng đến bệnh viện chúng ta những người bị thương "mặc quần áo mà máu cứ chảy ra". Nghĩa là họ bị thương ngoài đường phố. Một quả đạn nổ ngay cạnh nhà thờ. Đấy là giặc Đức trả đũa về mọi thứ. Trước hết là Xta-lin-grát. Và hôm qua chúng bị thua ở Cua-xcơ và Ca-ra-sép. |
Ngày 10 tháng Hai 1943
Buổi sáng Tôi đã hoàn toàn rã rời, mất cả "nhịp", đối với tôi đó là một tai hoạ thực sự. Nếu viết từng đợt thì không được gì, phải cố gắng liên tục và phải kiên trì. Bệnh thần kinh và thiếu máy điện thoại dằn vặt tôi: Mọi công việc ngưng trệ. Chuyến đi Mát-xcơ-va còn treo trên không. Còn tập văn xuôi phải viết khác đi không như tôi đã suy nghĩ trước đây. Cái đau xót nhất là trong những phút như thế, ý chí lại bắt đầu yếu đi. Biết việc cần làm mà không có sức. Giương cung mà không bắn vì dây cung bị trùng mất rồi. Cái gì cần làm hôm nay. 1. Dù mệt đến thế nào cũng không được nằm. Đi gọi điện thoại, giải quyết công việc. 2. Viết cho xong bài cho " TASS" ( sáng sớm tôi đã bắt đầu rồi) 3. Bớt than vãn, việc đó làm tổn nhiều sức lực. Về việc " định màu" trong văn học. Chỉ cảm xúc thôi trong thơ hay văn xuôi thì chúng bay đi rất nhanh. Cần phải "củng cố" chúng bằng những chi tiết cụ thể. Đấy là những chất "giữ màu" tốt nhất. |
Ngày 11 tháng Hai 1943
Bệnh của tôi có lẽ tốt ở chỗ là nó làm ranh giới chia đôi thơ và văn xuôi. Tôi cứ nghĩ mãi về tập văn xuôi. Vẫn chưa quyết định việc đi Mát-xcơ-va ( lại có báo động phòng không. Tôi cũng không biết là bao nhiêu lần báo động rồi). Chúng ta đang đánh bọn Đức. Đã đến Khar-cốp rồi. Về sự hoảng hốt ở Đức " tôi đọc nhưng không thể đọc cho chán được" như Pu-skin đã nói. Nhưng lại về chuyện khác. |
Ngày 12 tháng Hai 1943
Tuyết tan một cách day dứt ở trong sân. Không phải là mùa đông năm ngoái với "cái lạnh hiền hoà nữa" . Mọi thứ đều chảy tan, đêm ướt át và bùn lầy. Bệnh thần kinh đang hoành hành trong thân thể tôi, đùa với tôi như chuột vờn mèo. Với khí hậu như thế này, tốt nhất là nên vùi đầu vào một chương thơ nào đó. Việc đi Mát-xcơ-va tạm hoãn. Sân bay ướt sũng và đường xe lửa đi thẳng đi thẳng Mát-xcơ-va chưa thông. Tóm lại dù sao thì cũng phải ngồi làm việc. |
Ngày 14 tháng Hai 1943
8 giờ tối. Vào bữa cơm trưa có một trận pháo kích dữ dội. Đạn pháo bắn sang vừa dày vừa gần. Cả toà nhà đều bị rung lên. Nó choáng váng như người bị đấm vào mang tai. Tôi khổ sở giữa hai sự thèm khát, khát uống nước chè và muốn xuống dưới nhà. Tôi đứng vừa uống quanh chén trà nóng không thể nào rời nó ra được . Và khi chúng tôi xuống dưới nhà thì đã yên tĩnh. Giờ đây im ắng. Nhưng rồi đêm đến sẽ ra sao? Một đêm trăng sáng, trăng quá sáng. |
Ngày 15 tháng Hai 1943.
Giấc mơ của tôi: Trên một mẩu báo rách một máy con én cánh quạt kiểu mới. Phạm vị hoạt động của nó: Toàn bộ lục địa khổng lồ. Tôi đang nghĩ đến giấc mơ: Một em bé hôm qua rất đẹp, nghiêm chỉnh, mặc chiếc quần đi tuyết dài, đội chiếc mũ lông thỏ. Em đang bước đi theo bà, vừa nhìn lên trời xem có máy bay Đức không. Mẹ đi ra, vẫy tay với nó và nói: -Không sợ, Vô-vích con, con không sợ. Con đi với bà cơ mà! Đấy mới thật là một sự bảo vệ hùng mạnh. Quân ta đã giải phóng Rô-xtốp và thành phố Vô-rô-si-lốp-grát. Đêm Trăng sáng quá. Không có báo động, nhưng pháo kích đang tiếp tục. Pháo hạm cực nặng bắn ác liệt. Toàn thành phố mất điện. Có lẽ có đường dây điện chính nào đó bị đứt. Chúng tôi thắp ngọn đèn hoa kỳ vừa chùi sửa xong. Ma-ri-ét-ta chuẩn bị bài giảng ngày mai. Bài "Dấm thanh" và cái gì gì nữa. Nhà tôi đang cố gọi dậy nói cho ai đó. Một cơn mệt mỏi đến với tất cả. Không, những ngày khó khăn của Lê-nin-grát chưa chấm dứt. Mà đợt phá vây này … cũng chưa phải là hoàn tất. Không, bản anh hùng ca Lê-nin-grát không thể kết thúc như thế này được. Tất cả sẽ khác đi: khủng khiếp hơn và hùng vĩ hơn. |
Ngày 18 tháng Hai 1943
Dần dần tôi bắt tay vào việc. Đã hàng ngàn lần tôi tự nói với mình là không thể để mình đi sai "quy hoạch đồ bản" được. Làm việc, không dừng tay: đó là tất cả. Ngày 25 tháng Hai 1943 Trước ngày kỷ niệm Hồng quân, các chiến sĩ một đơn vị pháo cao xạ mời vợ chồng tôi đến nói chuyện. Nhà tôi báo cáo về tình hình quốc tế. Tôi ngâm thơ. Khẩu đội pháo cao xạ này đóng ở bên cạnh chiếc cầu Tu-sơ-cốp, trên mấy chiếc phà đậu dọc bờ sông. Họ dẫn chúng tôi đi qua sân vận động Lê-nin theo một cái cầu gỗ dài. Sông Nê-va vẫn còn đóng băng, lạnh quá, đến nỗi bất cứ mùa xuân nào cũng không thể chọc thủng được nó. Trên ván phà, dưới bầu trời mờ sương buổi tối, các cô gái pháo thủ đứng cạnh các khẩu pháo. Chúng tôi ở trong khoang thuyền dưới để nói chuyện, chỗ mà đạn pháo địch không rơi đến được. Trước lúc tôi ngâm thơ, đồng chí khẩu đội trưởng phát biểu: -Đồng chí In-be, hầu như đêm nào đồng chí cũng nghe tiếng nói của chúng tôi. Và bây giờ chúng tôi nghe tiếng nói của đồng chí. Không thì chỉ được nghe đồng chí qua đài phát thanh. |
Ngày 5 tháng Ba 1943
Trên tờ báo "Sự thật Lê-nin-grát" có một bút ký rất thú vị của Đan-chen-cô, nhan đề "Nhà máy an-buy-min nhân tạo" về những viên an-buy-min. Nhà máy này bắt đầu hoạt động cách đây một năm. Vào những ngày gian khổ nhất trong vòng vây. "Trong hơn một nghìn loại, người ta phát hiện ra một loại vi khuẩn của nấm men-một tổ chức hoá học có lượng cực nhỏ chứa trong thể chất của nó một chất an-buy-min từ chất đường của cây gỗ. Nhà máy này đặt ngay ngoài mặt trận. "Đêm đêm những người xây dựng, những người vạch đồ án, những người sản xuất tương lai đến tuyến đầu của phòng tuyến. Ở đấy máy móc nằm sâu dưới lòng đất bị bom đạn cày xới lên, không có chúng thì nhà máy không hoạt động được. Người ta lắp máy chỉ cách công sự địch có mấy trăm mét, lo làm sao không để cho bàn tay bị lạnh cóng run rẩy, không để cho tiếng sắt, tiếng đồng chạm nhau kêu lên. Đến rạng sáng họ lại ra về". Rồi bài báo miêu tả quá trình sản xuất: "Những mẫu đầu tiên ra lò. Một thế giới lạ kỳ thấy hiện ra trong kính hiển vi. Những hình ngôi sao mờ nhạt hoạt động như mũi tên. Đó là những tử thù, những kẻ cạnh tranh của nấm men, chúng ăn thức ăn của nấm men và săn đuổi chúng. Cả một đội những nhà khoa học giúp cho các nấm men trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng để sống, xảy ra trong cái bên ngoài có vẻ yên tĩnh. Người ta thử nhiệt độ, thành phần thức ăn từng giống một. Xuất hiện rõ rệt những hạt nấm men hình bầu dục giống hạt cà-phê. Độ nóng cao làm phát triển nấm và tiêu diệt kẻ thù của chúng. Độ đông của đường tăng lên. Người ta đổ thêm vào bể những lít nước. Những hạt men hoạt động không bị kìm hãm nữa. Chúng đã quen với môi trường và "ăn" rất ngon miệng. Sau ba tiếng đồng hồ, bọt sôi lên tràn ra vành bể nước. Số lượng nấm men tăng lên đến nửa tấn. Đợt thu hoạch khởi đầu. Sau một lúc thì máy ly tâm hoạt động. Những loại máy ly tâm rất mạnh tách nước ra. Thế là cuối cùng ở một hình thể màu nâu sáng xuất hiện. Đó chính là hạt an-buy-min mà một ki-lô-gam an-buy-min thay ba ki-lô-gam thịt…" Tôi đọc một mạch hết bài báo đó. Bây giờ thì chúng tôi sẽ nhìn những hạt an-buy-min mà chúng tôi thường hay ăn đó một cách khác. |
Ngày 10 tháng Ba 1943
Mát-xcơ-va Không chờ được máy bay, chúng tôi phải đáp xe lửa. Cuộc hành trình thật gian nan, dọc đường luôn luôn có báo động, trên không và mặt đất đều có. Xe lửa tốc hành từ Lê-nin-grát đi Mát-xcơ-va chưa có. Chỉ có xe lửa chở hàng hoá chạy thẳng qua cầu phao gần sơ-li-sen-bua từ sông Nê-va ra khỏi hồ La-đô-ga. Nhân viên đường sắt gọi đoạn đường này là "hành lang chết". Bọn Đức bắn rất rát vào con đường này. Tất cả những gì-một cân bột mì, một lọ đồ hộp đều qua "hành lang" này. (Tôi chợt nhớ lại câu chuyện người lính thuỷ từ hồ La-đô-ga lái chiếc ca-nô chở đầy hàng đến Lê-nin-grát. Hồi đó còn chưa phá vỡ được vòng vây. Đợt oanh tạc bắt đầu. Cả đội thuỷ thủ đều bị thương, nhưng người lái vẫn có thể lái con tàu và đưa ca-nô đến đích an toàn. Tôi hỏi anh: -Ca-nô đó chở những hàng gì? Người lính thuỷ đáp: -Ca-cao và Sô-cô-la cho trẻ em Lê-nin-grát. Vợ chồng tôi đến ga Phần-lan trên một toa đất đầy hàng hoá. Lúc đến Bô-ri-xốp Gri-vơ thì trời đã tối mịt không còn nhìn thấy gì nữa. Chúng tôi đi tìm đồng chí trạm trưởng trại sơ tán. Các đồng chí dùng xe trượt tuyết chở va-li của chúng tôi trên đường tuyết ướt át gần như đi trên nước vậy. Đến trạm chúng tôi ngủ đêm ở đó. Chăn nệm bốc mùi thuốc sát trùng nhưng rất sạch. Chúng tôi đốt lò ăn tối. Các đồng chí ấy để lại cho chúng tôi một chiếc đèn con. Sáng sớm có chuyến xe của y tế đi về phía La-đô-ga, nhân tiện chở luôn chúng tôi đến Côn-bôn. Băng đã vào mùa xuân chảy ướt át, ôtô chạy trên những vũng nước. Ở Côn-bôn chúng tôi vừa bước chân lên tàu hoả thì có báo động. Lần thứ hai chúng tôi lại bị báo động ở Vôn-khốp, tập trung nhiều đoàn tàu chở hàng. Khi đạn liên thanh bắn xuống, tôi hỏi nhà tôi: Có nên dậy không? ( tôi nằm ở giường trên) Anh trả lời: -Em chạy đi đâu? Thực vậy, chẳng có chỗ nào mà chạy nữa. Bên phải, bên trái cũng đều như thế cả, đều là những toa tầu, đăng kia là một nhà ga bị bom đất hoang đổ nát. Và thế là tôi nằm nguyên trên toa. |
Ngày 15 tháng Ba 1943
Mát-xcơ-va. Giữa những công việc bè bộn ở Mát-xcơ-va, tôi càng nghĩ mãi về cái chương "Xuân" trong tập thơ " Pun-cốp-xki" của tôi. Tôi muốn viết về mùa xuân ở Lê-nin-grát như mùa đông của chương hai ấy. Ngày 27 tháng Ba 1943 Tác phẩm của Grôm-xman " Nhân dân bất tử"-phi thường. Đấy là quyển sách hay nhất viết về chiến tranh, Xuất sắc. Thấm vào lòng. Đọc quyển này thì tự mình cũng muốn viết. Và lại càng yêu tha thiết Tổ quốc mình. Nghĩa là tất cả cái gì mà Grô-xman muốn anh đều đạt được. Và có thể qua ảnh hưởng của tác phẩm này sự sụp đổ tâm hồn kinh khiếp của tôi-" cái sọt than" mà trong đó không có lấy mọt vì sao, sẽ chấm dứt. Câu chuyện của kỹ sư P. Về một nhà máy quốc phòng. Nhà máy phải chia thành hai bộ phận. Nhà máy "con" tức là phân xưởng từ nhà máy "cha" chia ra, chuyển đến vùng U-ran. Ở đấy với một tốc độ phi thường nó xây dựng xong các phân xưởng và làm việc rất giỏi. Nó giành cờ đỏ thi đua luân lưu của nhà máy "cha". Lại còn gửi cho "cha" một bức thư an ủi. |
Ngày 14 tháng Tư 1943
Lê-nin-grát. Đã từ lâu chả có cuộc hành trình nào lại làm cho tôi phấn khởi như lần trở về Lê-nin-grát này. Sau một chuyến đi Mát-xcơ-va nếm mùi cay đắng, sau khi vì rất nhiều việc lớn, nhỏ mà "ăn no" điện thoại, sau khi cái cảm giác không chịu đựng được nữa. Ôi hỏng việc rồi, trễ mất rồi! Sau những bức thư buồn thương của Gian-na, sau cái lần "thất bại" cuối cùng (chúng tôi lại đến sân bay chậm nên phải quay lại khách sạn, tôi cắn chặt môi dở hành lý ra rồi lại gói lại), sau tất cả những cái đó là chuyến đi kỳ diệu , phấn khởi. Chỉ khổ một điều là ở trên máy bay tôi bị rét cóng. Hôm đó giá rét quá! Một ngày khô, rét và đẹp đầu xuân. Chúng tôi dừng lại ở Khơ-vôi-nôi. Hoàng hôn. Trời không A-luy-min mà cũng không phải bạc. đến Khơ-vôi-nôi trên máy bay có một chiếc ghế bành bỏ không, tôi liền ngồi vào đó. Sau khi ngồi trên chiếc ghế dài cứng đến ngồi chiếc ghế này sao mà thoải mái thế. Ngồi rất thích hợp, lưng quay vào bản chữ của tờ báo "Sự thật" (nếu như tôi không lầm). Tôi ngủ, dù rét đến cóng người. Tôi ngắm hồ La--đô-ga qua giấc ngủ. Băng ở giữa hồ đã tan. Mọi vật đều yên tĩnh, chúng tôi vượt qua hồ chẳng có gì che chở cho cả. Chúng tôi bay vào cái thành phố huyền bí này. Trong một đêm trăng sáng quá. Một đêm sáng và im vắng quá. Tàu điện không chạy, phố xá vắng tanh phủ dưới ánh trăng lạnh mờ xương xuân. Tất cả những cái đó sao chẳng giống Mát-xcơ-va chút nào… Bây giờ cái ô-tô buýt chuyên chạy từ sân bay đến Li-tai-nư.Thật là tiện lợi Về đến nhà… Mọi vật đều như rực rỡ, phảng phất một mùi thanh khiết. Đêm mới yên tĩnh làm sao. Giặc Đức cũng không đến quấy rầy chúng tôi nữa. Sau khi bị cóng trên máy bay, giờ tôi ngủ rất say. Chỉ một đêm Lê-nin-grát thế này như làm tiêu tan hết mọi nỗi mệt nhọc của những ngày dài dằng dặc ở Mat-xcơ-va. Nói chung, sau khi ở Mát-xcơ-va rồi, Lê-nin-grát thật yên tĩnh rất hợp cho công việc. Sáng nay tôi quyết định là dù nặng nhọc thế nào cũng phải viết lại chương năm của bài thơ. Hoặc là sửa lại hoặc là viết chương mới. Muốn viết về hạm đội ban-tích, về bi kịch của chiến hạm không thể chạy nữa. Nó mọc rễ dưới nước. Từng là một chiến hạm hùng mạnh, con chim ưng của biển, nó thèm muốn được như những con "chim con" trên biển, những chiếc tầu chiến nhỏ, những ngư lôi hạm, những khu trục hạm (trận pháo kích dữ dội. Thế mà tôi nghe chim vẫn ríu rít, chúng đã quen rồi không sợ nữa). Có thể viết một bài ca chiến hạm đầy lãng mạn, giận giữ và ác liệt: "Đâu là những biển cả mà ta đã đi qua?". Đấy sẽ là xuân chiến đấu của năm 1943. Chiến tranh đang tiếp diễn. Hãy chưa kết thúc. (Lại yên lặng, không nghe tiếng súng nữa). |
Ngày 16 tháng Tư 1943
Đi dạo với Ma-ri-ét-ta và quay về một trận pháo kích dữ dội nhất. Chúng tôi còn muốn đi nữa nhưng gặp Ép-phrô-xi-ni-a bảo: -Đi đâu, đi đâu … ngay xưởng rèn cũng bị đổ rồi. Tôi phải bò, bò đấy… Xưởng rèn ở ngay cạnh hiệu thuốc mà chúng tôi muốn đến đó. Ngày đẹp quá. Gió xuân thổi nhẹ. "Còn sống vào một ngày như thế này thì tốt quá" như Ji-mi Côn-li-dơ, viên phi công Mỹ, nay đã chết rồi, từng nói: Hôm qua Chi-khô-nốp,, Vít-sơ-nép-xki, Cơ-rô, A-da-rốp, Béc-hôm, Ma-cô-gô-nen-cô đến chỗ tôi chơi. Tôi "báo cáo" về Mát-xcơ-va. Rất vui vẻ, hồ hởi. Mọi người ra về vào lúc báo động. Về đêm nghe nói có pháo kích dữ dội. Nhưng tôi cũng không thức giấc. Thật ức nếu bị chết bây giờ trong lúc rất muốn sống! Tôi không bao giờ quên Lê-nin-grat tất cả những dáng hình của nó. Nếu còn sống, tôi còn viết nhiều về thành phố này. |
Ngày 17 tháng Tư năm 1943
Một đêm đáng sợ! Một đêm trăng đáng sợ! Báo động bắt đầu ngay từ chập tối, Súng cao xạ bắn khắp thành phố. Tất cả những chuyện đó xảy ra lúc trăng tròn… Sau đó hơi yên tĩnh một tí, và chúng tôi chợp mắt. Nửa đêm tỉnh dậy vì bị chấn động, nhưng không phải tiếng nổ. Giường lắc lư. Tôi nhớ lại chuyện này đã xảy ra đã lâu lúc động đất ở Cơ-ri-mê. Và lâu hơn nữa hồi tôi vẫn còn là cô gái bé tí ở Ô-đét-xa. Lúc bấy giờ cũng còn một chấn động ngầm rất mạnh dưới đất. Đó là vào một đêm hè. Tôi mặc có mỗi chiếc áo ngoài, chân đất, chạy qua suốt ngôi nhà đến với bố. 7 giờ tối Tôi về đến nhà trong tiếng nổ ùng oàng. Ngay lúc ấy phố Li-ép Tôn-xtôi đã bị ngăn lại sau những ngôi nhà của chúng tôi. Người ta cắm ở đó một tấm biển đề: "Nguy hiểm, xe cộ và người đi bộ không được vào" (cách đó không xa có một quả bom chưa nổ. Quả bom rơi xuống chỗ sân ra vào mà trước đây chúng tôi lên đảng uỷ khu phố thường đi qua. Sẽ phá quả bom này). Đêm nay nhất định cũng sẽ xảy ra như vậy. |
Ngày 18 tháng Tư 1943
5 giờ chiều Tôi vừa mới ở phòng triển lãm dáng tác của thiếu nhi do Cung thiếu nhi và học viện chuyên tu giáo viên tổ chức trong thành phố về. Phòng triển lãm đã mở cửa được mấy ngày. Tất cả các khu phố có trường không đi sơ tán đều tham gia vào cuộc triển lãm này. Trong các phòng của Cung thiếu nhi đều có biểu diễn ca hát, nhảy múa, ngâm thơ và hoà nhạc. Người ta ra sức dọn dẹp làm cho tất cả các phòng ấm áp. Có triển lãm tranh ảnh, đồ thủ công điêu khắc. Trong một gian phòng nó tròn màu xanh lam nho nhỏ có một đội nhạc của trường tiểu học số 341 thuộc khu phố Vô-lô-đa đang trình bày bài "Ma-khô-rốc". Một số diễn viên phải đứng lên ghế dài để khán giả thấy rõ hơn. Diễn viên đứng dưới đất tỏ ra coi thường số đứng trên ghế. Có một ca sĩ vừa mới thay những chiếc răng sữa. Người ta đưa em tạm thời làm chỉ huy và như thế em có thể đứng quay lưng lại khán giả. Cậu Vi-ti I-va-nốp đáng buồn cười kéo đàn bai-an, chốc chốc lại giấu mặt sau đàn. Trên áo cậu ta lại đeo phù hiệu thượng sĩ không quân. Trường tiểu học số 116 thuộc khu phố vư-bo biểu diễn múa rối vở "Bé Pi-ốt thông minh". Nhân vật gồm có: Bé Pi-ốt, cô chăn lợn, con ngựa và con bò. Những cô nữ sinh lớn hơn một tí thì ngâm thơ. Để kết thúc chương trình, khám giả xem trình bày điệu nhảy Nga. Cách đây một năm các em bé này không những không nhảy được, ngay đến đi lại cũng không vững. Lúc ấy chúng nó yếu lắm. Từ Cung thiếu nhi chúng tôi sang nhà thờ Ca-dan, nơi có mộ của Cu-tu-dốp. Chúng tôi đã đến đấy từ lâu. Mây tháng tư bay trên mặt sông Nê-va. Không khí tươi mát và nhẹ nhõm. Trong nhà thờ tường đá hoa cương lạnh. Ánh sáng chiếu như phả khói vào giữa các hàng cột. Những lá cờ rủ trên mộ. Và trên bia khắc chữ vàng lời của Xu-vô-rốp nói về Cu-tu-dốp khi tiến công I-dơ-ma-in "người chiến đấu bên sườn trái của tôi, nhưng lại là cánh tay phải của tôi…" Chúng tôi về nhà. Vào lúc chúng tôi đi vắng thì có bốn quả đạn rơi xuống chỗ chúng tôi. |
Ngày 19 tháng Tư 1943
Thời tiết không thuận lợi cho máy bay: Vừa có tuyết lại có mưa. Nếu đối với pháo binh thì hay quá Ngày 27 tháng Tư 1943 Tôi bị cảm lạnh trong phòng hoà nhạc kỷ niệm Ra-khơ-ma-ni-nốp. Những ngôi nhà đá lớn này hấp cái lạnh của mùa đông và giữ nó cho đến tận mùa đông năm sau Trong phòng chật ních người. Tôi biết nhiều người mà tôi đã gặp họ trong những buổi dạ hội trước, khi chúng tôi còn mang ủng da áo khoác lông. Bây giờ thì không phải như thế. Hồi đó nến mới cháy một phần tư, còn bây giờ thì có những cái chao đèn trong vắt đầy tràn ánh sáng. Một số quân nhân đã mang những huân chương mới mà mùa thu 1941 chưa có. Chỉ có điều là rất lạnh Tôi ngồi mà cảm thấy mình như ốm dở. Nhưng lại không muốn rời bản công-xe thứ hai (Pi-a-nô và dàn nhạc). Tác phẩm này tác động đến tôi một cách kỳ diệu… khó tả nên lời. Lạnh như chạy trong sương sống tôi. Nó nhập lại với cái lạnh của ngôi nhà. Và hai cái lạnh đó làm tôi bị cảm. Đành phải đi nằm. |
Ngày 29 tháng Tư 1943
12 giờ trưa. Trận pháo kích hôm qua là một trong những trận dữ dội nhất, nếu như không dữ dội nhất trong cả thời kỳ bị bao vây. Hai trăm hai mươi phát đạn rơi vào thành phố nhưng không vào chỗ chúng tôi mà lại vào khu phố Cui-bư-sép. Chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng đạn réo, nhưng nó réo nghe vang mạnh quá, tưởng nó rơi ngay xuống chỗ chúng tôi. Đạn rơi trúng vào cơ quan Uỷ ban phòng không thành phố, một đồng chí uỷ viên Uỷ ban phòng không bị hy sinh. Có một quả rơi xuống xuyên qua toà nhà của đài phát thanh trung ương phá hỏng ngôi nhà của " Bản tin giờ chót". May mà tất cả đã được lệnh xuống hầm rồi. Mọi người ngày càng bàn tán về chuyện phản công. Trên một quảng trường cạnh toà báo " Sự thật Lê-nin-grát" không xa đã xây dựng một số công sự mà trước kia chưa có. Tai phải tôi bị đau. Do tiếng ồn ào và sức yếu. Nhưng tâm trạng vui. Tôi hài lòng với những bài báo về thiếu nhi và mấy bài thơ. |
Ngày 1 tháng Năm 1943
Lúc gần trưa. Lại pháo kích nhưng không biết vào đâu. May mà đài làm việc rồi, báo là vào khu phố chúng tôi. Khoảng 9 giờ sáng hôm nay, tôi thức giấc vì ngôi nhà rung chuyển. Nó chao đảo giống như đu quay rồi dừng lại. Đó là Hít-le " chúc mừng" chúng ta ngày quốc tế lao động mồng 1 tháng Năm. Đạn nổ không nhiều, chỉ có tám phát nổ liên tiếp hết quả đạn nọ đến quả đạn kia. Rõ ràng là chúng bắn từ cứ điểm vào. Một đợt thứ hai như thế vào ban ngày, có hơi yếu hơn. Đêm qua có một buổi hoà nhạc tuyệt diệu vào khoảng 12 giờ rưỡi khuya. Tiếng ghi-ta hạ-uy-di và những bài tình ca cổ vang trên làn sóng không rung vừa ngớt bị chấn động của hàng loạt đại bác. |
Ngày 9 tháng Năm 1943.
Tôi bị ốm mất hai tuần lễ, bây giờ mới lại sức. Tôi bắt đầu bị sưng phổi. người ta cho tôi uống xun-pha-din. Thuốc này diệt vi trùng song cầu ở trong phổi, nhưng xuýt nữa thì nó cũng giết tôi cùng một lúc với vi trùng. Bây giờ thì ổn rồi, chỉ còn nhức đầu vì bệnh thần kinh. Hôm qua cơn đau đó kéo dài tới sáu tiếng đồng hồ. Trong lúc tôi chiến đấu với vi trùng phổi thì một mùa xuân tuyệt đẹp đã bắt đầu! Tuy phải nằm, tôi có thể nhìn qua cửa sổ thấy những chiếc lá non đang nhú, cái màu xanh đã trùm lên thành phố. Thế mà tôi phải nằm. Và điều chủ yếu tôi không làm gì trong cả năm này. |
Ngày 10 tháng Năm 1943
Hôm nay lại đau đầu. Và cả người tôi suy yếu, xanh xao. Bị chất độc của thuốc làm mệt mỏi, phải đặt túi chờm và đắp chăn len. Kinh khủng quả ! Phòng ngoài đã mở tung cửa sổ. Và một mùa xuân thần tiên tràn ngập vào buồng. Tôi cũng cố gượng dậy xếp đặt lại trật tự trong phòng trên bàn viết và trong những suy nghĩ nữa. Suốt đêm nay tôi không ngủ vì tâm hồn rối loạn. Tất cả những kế hoạch chưa hoàn thành, những ý đồ chưa thực hiện, những bức thư chưa viết, những bức điện chưa gửi, những câu thơ chưa nghĩ cho cùng v.v…, cả cơn gió lốc ấy xoáy chung quanh tôi và tôi chính là cái bánh xe, cái trục bất hạnh ấy. Tôi bật đèn và ngồi viết một lúc. Một đôi câu trong chương tiếp của bài thơ sau đó tôi thấy người nhẹ nhõm hơn, tôi ngủ thiếp đi. |
Ngày 13 tháng năm 1943
Ban ngày. Hôm nay bị thức giấc từ 6 giờ 30 sáng. Pháo kích dữ dội nhất và rất gần. Báo yên vào lúc hai giờ rưỡi chiều. Đây là một trong những lần báo động lâu nhất. Đúng lúc máy bay Đức bay trên đầu thì tôi và Ma-ri-ét-ta ở ngoài sân. Súng cao xạ của ta gầm lên. Khói đạn mù trời. Có một chiến sĩ lái máy bay ở ngoài mặt trận về nói: -Giặc Đức âm mưu tập trung lực lượng lại bắn phá. Và anh thêm: -Nói chung là chúng điều lực lượng mới đến nhưng Lê-nin-grát cũng không còn chịu đựng lâu nữa. Thời tiết lại xấu đi, nhưng cũng có những buổi tối đẹp phi thường: Màu vàng đồng xanh với một vành trăng nhỏ nhưng sáng vô cùng; những ngôi sao rất to giống như trên một bầu trời nhân tạo trong Viện thiên văn. |
Ngày 17 tháng Năm 1943
Kiên nhẫn, kiên nhẫn và kiên nhẫn! Bình tĩnh ( tôi nói về công việc chứ không phải về báo động). Bình tĩnh. Đừng dể tim đập mạnh. Phải bình tĩnh đi đến đích đã vạch ra. Nhưng còn cái gì khó hơn điều ấy trên thế giới này !. Gần 12 giờ đêm Pháo cao xạ gầm lên … Kinh khủng thật! Nhà rung lên. Mọi thứ làm tôi cứ nghĩ là bom rơi xuống bây giờ. Chưa có lần bắn cao xạ nào như thế này. Tôi không tắt điện; trong tối hãi lắm. |
Ngày 22 tháng Năm 1943
Sắp sửa có xe từ nhà máy Ki-rốp đến đón tôi. Đã từ lâu họ mới đến nói chuyện. Nhưng tôi hết ốm lại quá bận. Tôi nghe tiếng còi ở ngoài cửa sổ. Ô-tô đến đón tôi. Buổi tối Tôi vừa ở xưởng Ki-rốp về. Thính giả rất đông. Họ nghe rất chăm chú tuy tôi nói kém hơn vì sau trận ốm, cứ phải thở dồn dập. Câu lạc bộ của nhà máy đặt dưới hầm. Vì giặc Đức ở bên cạnh. Không thể nào trầm tĩnh mà nhìn khu đất của nhà máy. Nó hầu như Xta-lin-grát trong bút ký "Hướng tấn công chủ yếu" của Vat-xi-li-Gơ-rô-xman. Ở đây cũng "những khối đen đồ sộ của những xưởng, những đường ray lấp lánh vì ẩm ướt đã bắt đầu bị han gỉ chỗ này, chỗ nọ. Những toa xe bị phá huỷ chất đống. Những núi than. Những ống khói hùng vĩ của nhà máy, bị đạn Đức bắn thủng nhiều chỗ". Song khác với Xta-lin-grát, cuộc "tấn công chủ yếu" của giặc Đức vào nhà máy Ki-rốp chia thành rất nhiều cuộc tấn công không dứt. Khi chúng tôi ở dưới hầm lên với không khí tươi mát của tháng Năm thì tiếng nhạc của điệu van-xơ chào đón chúng tôi. Máy hát đặt ngay ngoài trời, trên đống gạch vụn. Có hai đôi nữ tự vệ mặc quần dài và đi giày ủng đang nhảy theo điệu hát ở trên sân của nhà máy đã bị cháy. Trên đầu họ có một "con chim" sắt đang bay lượn. Hình như để bảo vệ cho cuộc vui ngắn ngủi này của họ. Tôi nhớ lại nhà máy "Xép-ca-bên" trên đảo Va-xi-li-ép-xki mà năm ngoái tôi đã đến đó. Giặc Đức bắn vào nhà máy này từ Lu-gốp trên vịnh bên kia. Ở đây tất cả những xưởng máy cũng bị phá hỏng và đánh sập. Một bụi cây nở hoa ngoài sân ngạo nghễ nhìn vào lỗ hổng của một ngôi nhà bị phá. Những nhà máy này của Lê-nin-grat giống như những viện tu đạo ngày xưa vậy. |
Ngày 24 tháng Năm 1943
Hôm qua tôi đến nói chuyện ở một đơn vị Hải quân nhưng lại đóng trên đất liền sau ô Xpa-xki ở một nơi trên mũi gấu. Sóng ô-khơ-ta chảy qua đấy. Tất cả đều chìm đắm trong hoa anh đào. Người ta tặng tôi nhiều hoa đặt trên xe đến nỗi đồng chí xem giấy thông hành của tôi phải hỏi "Thế người đâu?" Tôi mang hoa anh đào tặng cho những gia đình cùng hành lang với tôi. |
Ngày 25 tháng Năm 1943
3 giờ 30 phút Trên không vừa có tiếng nổ làm tôi xuýt ngã xuống ghế. Một tiếng nổ chưa hề nghe bao giờ. Mười phút sau lại có một tiếng nổ thứ hai như vậy. Tôi nghĩ ngay là bom, nhưng lại giống tiếng pháo. Chị I-va-nô-vna định đi lau cửa sổ, nhưng bây giờ chị lại nói: "Chả còn tâm tư nào nữa". Và chị thôi không lau cửa nữa. Tiếng nổ thứ ba. Đài truyền thanh im bặt Một lát sau Các đồng chí trấn an tôi, bảo đó là pháo của quân ta. Đó là một thứ "đồ chơi" mới của ta. Hình như đặt gần chỗ chúng tôi và người ta đang thử nó. |
Ngày 26 tháng Năm 1943
Hôm qua giáo sư A-bram-xông bị pháo địch bắn chết. Ông là một nhà giải phẫu có tài, đã giảng dạy ở trường Đại học y khoa chúng tôi. Vừa qua ông còn đến đằng nhà chị Ma-ri-ét-ta (tôi nghe thấy tiếng ông nói ở bên kia tường) và yêu cầu tôi xem thơ của con gái ông. Ma-ri-ét-ta nói với ông là hiện nay tôi đang rất bận, tốt nhất là để thư thả vài hôm nữa. Chính lúc A-bram-xông chết thì phiên họp hội đồng khoa học của học viện truyền huyết thanh đang chờ ông. Chính vì để đến đấy không bị chậm trễ ông đã rút ngắn thời gian lên lớp cho sinh viên trong bệnh viện Các mác hai mươi phút. Ông là người rất tôn trọng giờ giấc, thường tự nói với mình: "Tôi không bao giờ đi chậm cả". |
Ngày 27 tháng Năm 1943
A-bram-xông chết vì mảnh bom chứ không phải vì mảnh đạn. Đầu ông bị mất một nửa. Hôm qua Ma-ri-ét-ta thấy ông nằm trong quan tài, trên đầu quấn chiếc khăn mỏng trống rỗng, trong nhét đầy bông. Các cụ thân sinh ông cũng ở đây, tại Lê-nin-grat. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:56. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.