Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Học tiếng Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=20)
-   -   Hỏi-đáp (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=2028)

Мужик 16-12-2009 11:15

Trích:

linhami viết (Bài viết 45657)
Úi giời, cháu cám ơn 2 bác Thao vietnam và vinamilk quá ạ, dưng mà các bác đã giúp cháu thì cố giúp cho trót đi! Cháu cũng biết "ngày đêm" trong tiếng Nga là cytki rồi, nhưng cháu muốn dùng chữ cơ, dùng số 23 thì nói làm gì! Cháu biết là dvatsatch rồi, sau đó thì? Dvatsatch TRI thì xem ra không ổn rồi vì cytki nó là từ số nhiều mà. Thế nên cái số 3 ấy trong trường hợp đứng trước chữ cytki phải viết bằng chữ như thế nào ạ? Đấy, thế cơ!

Em đã PM cho bác rồi mà: Двадцать трое суток. Nhưng còn phụ thuộc ngữ cảnh bác dịch thế nào nữa. Nếu "trong suốt 23 ngày đêm" thì là в течение двадцати трех суток.

linhami 16-12-2009 13:03

U-kh-kh-kh....Vư, Muzhik! Cháu rất là voskhishaius Vami!

USY 16-12-2009 13:05

@ Bạn linhami
Tôi có tìm được 1 trang web liên quan đến vấn đề bạn thắc mắc, xin copy & paste để bạn tham khảo: http://yurikhelp.ru/consult/1475.html

Вопрос - Консультант - Как правильно сказать? (Câu hỏi của "Жуткий Зверек"):
"Прошу продлить срок содержания под стражей на двадцать трое суток" или "Прошу продлить срок содержания под стражей на двадцать три сутки" (P.S. Ни слова "двадцать трое" ни слова "сутки" именно в этом значении в русском языке НЕТ)

Trả lời
Уважаемый пользователь, скрывающийся под псевдонимом "Жуткий Зверек"!

Хотя это вопрос скорее не юридический, а филологический или лингвистический, постараюсь Вам мотивированно ответить. Ведь хороший юрист ДОЛЖЕН ГОВОРИТЬ И ПИСАТЬ ГРАМОТНО!

В данном вопросе надо исходить из того, что в русском языке имена существительные, имена прилагательные, числительные и местоимения изменяются по ПАДЕЖАМ.

В связи с этим, правильно говорить и писать: ОДНИ СУТКИ, ДВОЕ СУТОК, ТРОЕ СУТОК, ЧЕТВЕРО СУТОК, ПЯТЬ СУТОК и т.д. – в именительном и винительном падежах. Например, первые сутки (именит. падеж) начались вчера; он уехал на четверо суток (винит. падеж).
В родительном падеже будет следующее: ОДНИХ СУТОК, ДВУХ СУТОК, ТРЕХ СУТОК, ЧЕТЫРЕХ СУТОК, ПЯТИ СУТОК и т.д. Например, его нет уже более трех суток.
В дательном падеже: ОДНИМ СУТКАМ, ДВУМ СУТКАМ, ТРЕМ СУТКАМ, ПЯТИ СУТКАМ и т.д.
В творительном падеже: ОДНИМИ СУТКАМИ, ДВУМЯ СУТКАМИ, ТРЕМЯ СУТКАМИ и т.д.
В предложном падеже: ОБ ОДНИХ СУТКАХ, О ДВУХ СУТКАХ, О ТРЕХ СУТКАХ, О ПЯТИ СУТКАХ и т.д.

Теперь надо определиться с падежом! В Вашем случае правильно говорят и пишут так: «Прошу продлить срок содержания под стражей ДО ДВАДЦАТИ ТРЕХ СУТОК», т.е. используют РОДИТЕЛЬНЫЙ падеж.
Винительный падеж используется в таком случае: «Изменить срок содержания под стражей с … суток (родит. падеж) НА ДВАДЦАТЬ ТРОЕ СУТОК (винит. падеж)».


Желаю удачи!
Источник: Личные профессиональные знания и опыт юриста.

linhami 16-12-2009 13:24

Úi giời, cháu cám ơn bác USY quá ạ. Tất nhiên là cháu sẽ vất vả với cái nguồn quý giá mà bác cấp cho cháu đây. Dưng mà thích. Eshio raz cháu cám ơn bác.

nguyentiendungrus_83 16-12-2009 13:34

tôi thấy nếu là три ở cách 1 thì đằng sau vẫn là СУТОК chứ không nhất thiết cứ phải dùng ДВОЕ СУТОК, ТРОЕ СУТОК

Мужик 16-12-2009 13:50

Trích:

nguyentiendungrus_83 viết (Bài viết 45675)
tôi thấy nếu là три ở cách 1 thì đằng sau vẫn là СУТОК chứ không nhất thiết cứ phải dùng ДВОЕ СУТОК, ТРОЕ СУТОК

Không phải đâu bác ạ.
Từ này xa xưa lắm vốn xuất thân từ сутка (giống cái). Như vậy, nếu sau три phải là сутки (одна сутка, две сутки, три сутки...), chứ không là СУТОК được.
Cутки trong tiếng Nga hiện nay chẳng có liên hệ gì với сутка ngày xưa nữa.
Cũng có thể trong giao tiếp hàng ngày có gặp "три суток" (чего не бывает в разговорной речи!), nhưng đó không chuẩn это нарушение норм.

linhami 16-12-2009 15:35

Cháu cám ơn các bác lắm lắm ạ. Cháu đang viết một câu chuyện ngắn theo yêu cầu của cô giáo (kể về một con vật nuôi). Cháu kể về con chó nhà cháu. Nhưng oái oăm ở chỗ con sobaka nhà cháu lại là con chó đực nên cháu không biết là phải gọi nó là "ôn" hay "ona", chả lẽ cứ nhắc đi nhắc lại mãi "moia sobaka" hay "nasha sobaka" thì không hay rồi! Khổ thế đấy! Giá mà con chó nhà cháu là chó cái thì đâu đến nỗi! Các bác giúp cháu với nhé, tối nay cháu phải nộp bài rồi đấy (cháu định nói dối là chó nhà cháu là chó cái - cô giáo làm sao biết được chó nhà cháu là đực hay cái - nhưng cháu không quen nói dối ạ). Mau lên các bác ơi, cứu cháu gấp gấp nhé!

Мужик 16-12-2009 16:13

Trích:

linhami viết (Bài viết 45688)
Cháu cám ơn các bác lắm lắm ạ. Cháu đang viết một câu chuyện ngắn theo yêu cầu của cô giáo (kể về một con vật nuôi). Cháu kể về con chó nhà cháu. Nhưng oái oăm ở chỗ con sobaka nhà cháu lại là con chó đực nên cháu không biết là phải gọi nó là "ôn" hay "ona", chả lẽ cứ nhắc đi nhắc lại mãi "moia sobaka" hay "nasha sobaka" thì không hay rồi! Khổ thế đấy! Giá mà con chó nhà cháu là chó cái thì đâu đến nỗi! Các bác giúp cháu với nhé, tối nay cháu phải nộp bài rồi đấy (cháu định nói dối là chó nhà cháu là chó cái - cô giáo làm sao biết được chó nhà cháu là đực hay cái - nhưng cháu không quen nói dối ạ). Mau lên các bác ơi, cứu cháu gấp gấp nhé!

Bạn cứ dùng là она bình thường vì trong tiếng Nga thì từ Собака chỉ chó nói chung. Chỉ khi nào người ta cần phân biệt giống của nó thì mới hỏi "Она самка или самец" Ngay trong ngữ cảnh này người ta vần dùng "она" đấy thôi.
Để yên tâm hơn, trong bài của mình bạn cố gắng tránh nói về giống của con chó nhà bạn thì dùng "Она" vô tư, không ai bắt bẻ được.
Nếu không ngay từ đầu bạn hãy tả con chó đực, tiếng Nga là "Пёс" thì gọi là "Он" thoải mái trong cả bài. Tuy nhiên, cần lưu ý, "Пёс" để gọi con chó đực to, đã trưởng thành, chứ còn những con be bé thì đều là Собака và tất nhiên, đều là "она" hết.
Chúc bạn được điểm cao mà vẫn không phải nói dối nhé!

linhami 16-12-2009 17:14

Cháu cám ơn bác Muzhik đã rất nhiệt tình giúp cháu ạ. Cháu chờ 30 phút vẫn không thấy bác nào lên tiếng, cháu lo quá, thế là cháu phải nhờ 1 chú hàng xóm giỏi tiếng Nga, chú ấy không dám chắc bèn gọi điện hỏi bà Nga mà chú ấy quen, bà ấy bảo "sobaka" hay "pios" thì chỉ có nghĩa là chó thôi chứ chưa rõ chó đực hay chó cái, từ "suka" chỉ rõ là chó cái, từ "kobel" chỉ rõ là chó đực, và trong 1 bài viết về 1 con chó cụ thể thì việc dùng từ "on" hay "ona" phụ thuộc vào câu cuối cùng trước đó ta dùng từ gì để chỉ con chó ấy. Nếu chó cái mà đặt tên là Sharik hoặc Trezor và ta vừa mới nhắc đến cái tên ấy để nói về nó thì phải dùng "on", hoặc chó đực mà có tên là Belka mà ta vừa nhắc đến cái tên ấy thì phải dùng từ "ona", còn nếu không nhắc đến tên con chó mà ngay trước đó ta dùng từ "sobaka" thì là "ona", mà nếu dùng "pios" thì lại là "on" bất kể nó là đực hay cái. Hơi lằng nhằng, nhưng mà hay thật đấy bác Muzhik nhỉ?

USY 16-12-2009 17:50

Trích:

Мужик viết (Bài viết 45691)
Tuy nhiên, cần lưu ý, "Пёс" để gọi con chó đực to, đã trưởng thành, chứ còn những con be bé thì đều là Собака và tất nhiên, đều là "она" hết.

Bác còn quên từ "chú cún con" - "щенок" trong bài "Hành lý" của nhà thơ Маршак nữa::emoticon-0102-bigsm

Багаж
Дама сдавала в багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку
И маленькую собачонку.

Выдали даме на станции
Четыре зелёных квитанции
О том, что получен багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка
И маленькая собачонка.

Вещи везут на перрон.
Кидают в открытый вагон.
Готово. Уложен багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка
И маленькая собачонка.
Но только раздался звонок,
Удрал из вагона щенок.
Хватились на станции Дно:
Потеряно место одно.
В испуге считают багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка...
- Товарищи!
Где собачонка?

Вдруг видят: стоит у колёс
Огромный взъерошенный пёс.
Поймали его
- и в багаж,
Туда, где лежал саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка,
Где прежде была собачонка.

Приехали в город Житомир.
Носильщик пятнадцатый номер
Везёт на тележке багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку,
А сзади ведут собачонку.

Собака-то как зарычит.
А барыня как закричит:
- Разбойники! Воры! Уроды!
Собака - не той породы!

Швырнула она чемодан,
Ногой отпихнула диван,
Картину,
Корзину,
Картонку...
- Отдайте мою собачонку!

- Позвольте, мамаша На станции,
Согласно багажной квитанции,
От вас получили багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку
И маленькую собачонку.
Однако
За время пути
Собака
Могла подрасти!
:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0157-sun::emoticon-0150-hands

voshka 16-12-2009 18:33

Trích:

linhami viết (Bài viết 45694)
Cháu cám ơn bác Muzhik đã rất nhiệt tình giúp cháu ạ. Cháu chờ 30 phút vẫn không thấy bác nào lên tiếng, cháu lo quá, thế là cháu phải nhờ 1 chú hàng xóm giỏi tiếng Nga, chú ấy không dám chắc bèn gọi điện hỏi bà Nga mà chú ấy quen, bà ấy bảo "sobaka" hay "pios" thì chỉ có nghĩa là chó thôi chứ chưa rõ chó đực hay chó cái, từ "suka" chỉ rõ là chó cái, từ "kobel" chỉ rõ là chó đực, và trong 1 bài viết về 1 con chó cụ thể thì việc dùng từ "on" hay "ona" phụ thuộc vào câu cuối cùng trước đó ta dùng từ gì để chỉ con chó ấy. Nếu chó cái mà đặt tên là Sharik hoặc Trezor và ta vừa mới nhắc đến cái tên ấy để nói về nó thì phải dùng "on", hoặc chó đực mà có tên là Belka mà ta vừa nhắc đến cái tên ấy thì phải dùng từ "ona", còn nếu không nhắc đến tên con chó mà ngay trước đó ta dùng từ "sobaka" thì là "ona", mà nếu dùng "pios" thì lại là "on" bất kể nó là đực hay cái. Hơi lằng nhằng, nhưng mà hay thật đấy bác Muzhik nhỉ?

Hay thật. Lần đầu nghe có người đặt cho con chó đực tên "Belka". :D. Bình thường đặt tên "đực" cho con chó đực, tên "cái" thì cho con chó cái. "Пёс" để gọi con chó đực.

nqbinhdi 16-12-2009 18:44

Trích:

linhami viết (Bài viết 45688)
Cháu cám ơn các bác lắm lắm ạ. Cháu đang viết một câu chuyện ngắn theo yêu cầu của cô giáo (kể về một con vật nuôi). Cháu kể về con chó nhà cháu. Nhưng oái oăm ở chỗ con sobaka nhà cháu lại là con chó đực nên cháu không biết là phải gọi nó là "ôn" hay "ona", chả lẽ cứ nhắc đi nhắc lại mãi "moia sobaka" hay "nasha sobaka" thì không hay rồi! Khổ thế đấy! Giá mà con chó nhà cháu là chó cái thì đâu đến nỗi! Các bác giúp cháu với nhé, tối nay cháu phải nộp bài rồi đấy (cháu định nói dối là chó nhà cháu là chó cái - cô giáo làm sao biết được chó nhà cháu là đực hay cái - nhưng cháu không quen nói dối ạ). Mau lên các bác ơi, cứu cháu gấp gấp nhé!

Hoan hô bạn! Ngày nay rất hiếm thấy một bạn trẻ lại còn giữ được phẩm chất tốt như thế. Không thích nói dối là một phẩm chất tuyệt vời, nó là tiền đề để ta trở thành một người lao động chân chính, giỏi giang đấy. Nó cũng là một trong những tính cách giữ cho người ta tránh xa được cái ác!

Мужик 16-12-2009 19:40

Trích:

USY viết (Bài viết 45696)
Bác còn quên từ "chú cún con" - "щенок" trong bài "Hành lý" của nhà thơ Маршак nữa::emoticon-0102-bigsm

Багаж
Дама сдавала в багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку
И маленькую собачонку.

Выдали даме на станции
Четыре зелёных квитанции
О том, что получен багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка
И маленькая собачонка.

Вещи везут на перрон.
Кидают в открытый вагон.
Готово. Уложен багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка
И маленькая собачонка.
Но только раздался звонок,
Удрал из вагона щенок.
Хватились на станции Дно:
Потеряно место одно.
В испуге считают багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка...
- Товарищи!
Где собачонка?

Вдруг видят: стоит у колёс
Огромный взъерошенный пёс.
Поймали его
- и в багаж,
Туда, где лежал саквояж,
Картина,
Корзина,
Картонка,
Где прежде была собачонка.

Приехали в город Житомир.
Носильщик пятнадцатый номер
Везёт на тележке багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку,
А сзади ведут собачонку.

Собака-то как зарычит.
А барыня как закричит:
- Разбойники! Воры! Уроды!
Собака - не той породы!

Швырнула она чемодан,
Ногой отпихнула диван,
Картину,
Корзину,
Картонку...
- Отдайте мою собачонку!

- Позвольте, мамаша На станции,
Согласно багажной квитанции,
От вас получили багаж:
Диван,
Чемодан,
Саквояж,
Картину,
Корзину,
Картонку
И маленькую собачонку.
Однако
За время пути
Собака
Могла подрасти!
:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0155-flowe:emoticon-0157-sun::emoticon-0150-hands

Cám ơn bác Ria! "щенок" cũng là từ để chỉ các con cún nói chung, không phân biệt giống. Ví dụ: Chó mẹ sinh ra một đàn cún thì vẫn dùng щенок, hoặc trong bài thơ này (mặc dù theo em Marshak dùng щенок ở đây cho nó vần với звонок ở trên). Trừ các trường hợp cần phân biệt đực, cái rõ ràng thì dùng "suka" và "kobel". Bài thơ này ngày xưa em được bà giáo dùng để luyện IK 4.

Мужик 16-12-2009 20:50

Trích:

linhami viết (Bài viết 45694)
Cháu cám ơn bác Muzhik đã rất nhiệt tình giúp cháu ạ. Cháu chờ 30 phút vẫn không thấy bác nào lên tiếng, cháu lo quá, thế là cháu phải nhờ 1 chú hàng xóm giỏi tiếng Nga, chú ấy không dám chắc bèn gọi điện hỏi bà Nga mà chú ấy quen, bà ấy bảo "sobaka" hay "pios" thì chỉ có nghĩa là chó thôi chứ chưa rõ chó đực hay chó cái, từ "suka" chỉ rõ là chó cái, từ "kobel" chỉ rõ là chó đực, và trong 1 bài viết về 1 con chó cụ thể thì việc dùng từ "on" hay "ona" phụ thuộc vào câu cuối cùng trước đó ta dùng từ gì để chỉ con chó ấy. Nếu chó cái mà đặt tên là Sharik hoặc Trezor và ta vừa mới nhắc đến cái tên ấy để nói về nó thì phải dùng "on", hoặc chó đực mà có tên là Belka mà ta vừa nhắc đến cái tên ấy thì phải dùng từ "ona", còn nếu không nhắc đến tên con chó mà ngay trước đó ta dùng từ "sobaka" thì là "ona", mà nếu dùng "pios" thì lại là "on" bất kể nó là đực hay cái. Hơi lằng nhằng, nhưng mà hay thật đấy bác Muzhik nhỉ?

Hay quá đi ấy chứ! Bạn được giải thích như vậy là quá rõ ràng rồi. Thực ra có nhiều con vật trong tiếng Nga không có từ riêng để phân biệt đực, cái, như các loài chim chẳng hạn. Về khoản này thì tiếng Nga không tiện như tiếng Việt, cứ dùng tên con vật + đực, cái là xong.
"Khôn ngoan chẳng lọ thật thà",-tính không thích nói dối của bạn cũng tạo ra được chủ đề hay đấy chứ!

linhami 16-12-2009 21:51

Cháu vừa đi học về và rất vui khi thấy các bác động viên cháu ạ. Cháu sẽ còn phải nhờ các bác nhiều đấy ạ. Cháu nghĩ tốt nhất là cứ thật thà, nói dối có thể được việc trong chốc lát nhưng rồi trước sau gì thì cái dối trá nó cũng sẽ lộ ra và chỉ càng có hại hơn mà thôi. Ví dụ như hôm nay cháu lờ việc chó đực-chó cái đi thì bài cũng xong, nhưng mà thế thì có phải là mất cơ hội học hỏi được một điều hay rồi không! Cũng như ai chả có lúc đau ốm nhức đầu sổ mũi, bác sĩ hỏi "đau ở đâu?" lại cứ nói dối là "không sao, khỏe lắm!" thì chỉ có ốm nặng thêm. Cháu thấy trên forum có rất nhiều bác cực giỏi, mỗi bác bảo cho một tí là biết được bao nhiêu điều hay, cô giáo cháu làm sao mà biết được nhiều bằng tất cả các bác cộng lại, đúng không ạ? Cháu nghĩ là trước sau gì mình cũng sẽ phải có quan hệ về nhiều mặt với một cường quốc như nước Nga, tạm thời tiếng Nga có vẻ bị yếu thế nhưng 15-20 năm nữa sẽ rất cần những người giỏi tiếng Nga, lúc ấy các bác giỏi già yếu rồi thì những ai chăm chỉ học tiếng Nga sẽ có tương lai. Vì thế nên cháu vui vẻ chăm chỉ học, kệ cho một số ngườì cười cợt. Cháu cố gắng học chậm mà chắc kiểu con rùa bò mỗi ngày một tí, nhưng cứ kiên trì bền bỉ sẽ đến đích. Cháu đặt mục đích 20 năm nữa sẽ khá tiếng Nga đấy ạ.

USY 16-12-2009 22:24

Trích:

linhami viết (Bài viết 45715)
Cháu cố gắng học chậm mà chắc kiểu con rùa bò mỗi ngày một tí, nhưng cứ kiên trì bền bỉ sẽ đến đích. Cháu đặt mục đích 20 năm nữa sẽ khá tiếng Nga đấy ạ.

Cách đây 20 năm tôi nghĩ mình hơi kha khá tiếng Nga rồi (hơn các em chưa ra trường hoặc vừa ra trường chưa đi làm - 1 chút) - bằng chứng là đi làm việc liên quan đến tiếng Nga được trả lương :emoticon-0136-giggl. Nhưng có ai ngờ được là "20 năm sau" - đến hôm nay - tôi lại thấy mình biết tiếng Nga không ra hồn gì - bằng chứng là người ta không trả lương cho cái thứ tiếng Nga của tôi nữa - kém quá!:emoticon-0107-sweat :emoticon-0102-bigsm

Bạn nói vậy tôi lại tự nhủ: Hay là mình cứ mơ ước đi, đến "10 năm sau nữa" biết đâu mình lại khá thứ tiếng ở nước Nga người ta dùng? - Thí dụ bán hàng ở chợ Vòm như bác OT kể - dùng máy tính, sổ, bút, tiếng Việt như gió nhưng ngôn từ lạc hậu, và tiếng Nga "bồi", để bán hàng chẳng hạn? Nhưng đọc lại lần nữa, thì thấy còn thiếu, không thể đáp ứng được 1 điều kiện nữa mà từ khi sinh ra đến tận bây giờ không học nổi (và có lẽ mãi mãi không học nổi, đành chịu thua kém ngườ khác vậy), nên chắc cũng không ai thuê đi bán hàng ở chợ Vòm, hoặc chợ Chim, hay chợ gì đó khác. Thế nên đành dẹp mơ ước chịu an phận vào nhà dưỡng lão nói tiếng Nga thập kỷ 70-80 thế kỷ XX với đồng môn vậy! May ra còn đủ răng để phát âm ra từ, người khác còn hiểu nổi mình nói gì!:emoticon-0102-bigsm

Hay là học tiếng Tàu để đi khai thác dầu ở Sibiri hay Viễn Đông??? Nhưng sức cùng lực kiệt, đến "nỗi căm hờn trong cũi sắt" cũng chẳng còn sức nữa mà gặm!:emoticon-0100-smile, nói gì đến chuyện Nhớ Rừng!

linhami 16-12-2009 22:33

K Voshke: A gde eto napisano, shto nelzia davatch kobeliu klichku s okonchanhiem na "a" ili "ia"? Ia vdovol khikhikaiu, chitaia tvoiu repliku.

voshka 16-12-2009 22:55

Trích:

linhami viết (Bài viết 45726)
K Voshke: A gde eto napisano, shto nelzia davatch kobeliu klichku s okonchanhiem na "a" ili "ia"? Ia vdovol khikhikaiu, chitaia tvoiu repliku.

Tôi không biết viết ở đâu. Tôi đã nói là "bình thường" đặt như thế. Còn lại gì bạn viết trên là tự nghĩ ra. Tôi thật sự lần đầu nghe con chó đực có tên là "belka". "Belok" thì quen hơn.

linhami 16-12-2009 23:15

Ối, bác Ria ơi, bác đừng nói thế chứ! Bác bi quan thế! Hy vọng là bác chỉ đùa thôi. Bác giỏi tiếng Nga thế cơ mà! Chẳng qua là tiếng Nga ở VN đang trong giai đoạn thoái trào, chắc là chỉ vài năm nữa bác lại được thỏa chí tung hoành thôi. Mong bác đừng than thở, kẻo lại làm con cháu nản chí. Bác vui lên đi, tạm thời chưa có cơ hội tung hoành thỏa chí thì bác mở lớp dạy nghe-nói cho lũ con cháu thử xem, đảm bảo là bác sẽ thấy vui ngay. Sẽ có nhiều trò cắp sách đến học đấy bác ạ. Kính chúc bác mau chóng lạc quan yêu đời cho con cháu nhờ, bác nhé!

Trans-Over 17-12-2009 02:46

con chó, con chó đực và con chó cái
 
Trích:

linhami viết (Bài viết 45688)
Cháu cám ơn các bác lắm lắm ạ. Cháu đang viết một câu chuyện ngắn theo yêu cầu của cô giáo (kể về một con vật nuôi). Cháu kể về con chó nhà cháu. Nhưng oái oăm ở chỗ con sobaka nhà cháu lại là con chó đực nên cháu không biết là phải gọi nó là "ôn" hay "ona", chả lẽ cứ nhắc đi nhắc lại mãi "moia sobaka" hay "nasha sobaka" thì không hay rồi! Khổ thế đấy! Giá mà con chó nhà cháu là chó cái thì đâu đến nỗi! Các bác giúp cháu với nhé, tối nay cháu phải nộp bài rồi đấy (cháu định nói dối là chó nhà cháu là chó cái - cô giáo làm sao biết được chó nhà cháu là đực hay cái - nhưng cháu không quen nói dối ạ). Mau lên các bác ơi, cứu cháu gấp gấp nhé!

Đây là một câu hỏi nhỏ nhưng đặt ra vấn đề rất hay mà nhiều khi chúng ta ít để ý. Trước hết, cần phải phân biệt phạm trù “giống” và khái niệm “giới (tính)”.

“Giống” - род là một phạm trù ngữ pháp mang tính khái quát, trừu tượng và thường ít liên quan đến thực tế. Ngược lại, khái niệm hay ý nghĩa “giới” - пол (giới tính tự nhiên, sinh học) gắn liền với bản chất sinh học của người và động vật.

Trong tiếng Nga, mối quan hệ giữa ý nghĩa “giới” (ý nghĩa từ vựng) và phạm trù “giống” (ngữ pháp) không phải là mối quan hệ 1:1.

Có 3 loại danh từ chung chỉ tên gọi các con vật:

1. Có 1 danh từ chung chỉ tên gọi, có thể là giống đực (biểu thị cả con đực và con cái: дикобраз, окунь, снегирь, чиж, ястреб) hoặc giống cái (biểu thị cả con đực và con cái: белка, выдра, галка, куница, пантера, рысь, синица, сорока, стерлядь);

2. Có hai danh từ chỉ tên gọi, có hai tiểu loại:

+ 1 danh từ chỉ con cái, 1 danh từ chỉ con đực, đồng thời dạng số nhiều của danh từ chỉ con đực biểu thị ý nghĩa chung: лев – львица (tên gọi chung – львы), волк – волчица и волчиха (волки), орел – орлица (орлы), слон – слониха (слоны);

+ 1 danh từ chỉ con đực, 1 danh từ chỉ con cái, đồng thời dạng số nhiều của danh từ chỉ con cái biểu thị ý nghĩa chung: кот – кошка (tên gọi chung – кошки), баран – овца (овцы), боров – свинья (свиньи), козел – коза (козы), селезень – утка (утки);

3. Có ba danh từ chỉ tên gọi: 1 danh từ giống đực chỉ con đực, 1 danh từ giống cái chỉ con cái và 1 danh từ giống đực hoặc giống cái chỉ tên gọi chung: жеребец – кобыла (tên gọi chung, giống cái – лошадь); кобель – сука (tên gọi chung, giống cái – собака); гусак – гусыня (tên gọi chung, giống đực – гусь).


Đối với danh từ riêng, áp dụng như đối với danh từ bất động vật.

------------
§ 1141. У слов – названий животных связь между лексическим значением и грамматическим родом не отличается той последовательностью, которая свойственна названиям лиц. Существуют три типа наименований животных. 1) Называние одним именем, обозначающим и самку, и самца, причем это имя может быть существительным как муж. р. (дикобраз, окунь, снегирь, чиж, ястреб), так и жен. р. (белка, выдра, галка, куница, пантера, рысь, синица, сорока, стерлядь). 2) Называние двумя именами; этот тип представлен двумя разновидностями: а) одно слово служит названием самки, а другое называет самца и одновременно является общим названием данного вида животных, без указания на пол; это названия диких животных: лев – львица (вместе – львы), волк – волчица и волчиха (волки), орел – орлица (орлы), слон – слониха (слоны); б) одно слово служит названием самца, а другое называет самку и одновременно является общим названием; это названия домашних животных: кот – кошка (вместе – кошки), баран – овца (овцы), боров – свинья (свиньи), козел – коза (козы), селезень – утка (утки). 3) Называние тремя именами, при этом два существительных – жен. и муж. р. – называют самца и самку, а третье существительное, жен. или муж. р., является общим названием: жеребец – кобыла (общее название – лошадь); кобель – сука (собака); гусак – гусыня (гусь).

Несмотря на то что наименования животных не отличаются строгим и последовательным соответствием рода существительного и пола называемого животного, у этих слов сохраняется основное противопоставление значений муж. и жен. р., характеризующее все одушевл. существительные. При наличии парных наименований самца и самки названия самок – всегда имена жен. р. Муж. р. закрепляется за названием самца только в тех случаях, когда обозначение самца не совпадает с общим названием животного без указания на пол (см. выше): боров, бык, жеребец, козел, кот, селезень.

linhami 17-12-2009 02:56

Cháu cám ơn bác Trans-Over nhiều ạ. Hì-hì, cháu mới bị cô Nina nhắc nhở xong: phải gõ tiếng Nga, không nên gõ ký tự la-tinh sẽ gây khó đọc. Bây giờ cháu tìm hiểu cách gõ tiếng Nga đây ạ. Một lần nữa cháu cám ơn bác ạ.

tonichoat_lhp 19-12-2009 02:36

Trích:

voshka viết (Bài viết 42668)
Câu - "трудно" tương đương với "c трудом". Мне трудно поверить (во что-то) = мне с трудом вериться (во что-то) tức là "Tôi khó tin vào điều nào đó" = "Tôi tin vào điều nào đó (nhưng)với một sự khó khăn (ý là không tin)".

cho em thắc mắc lại câu hỏi này một chút.Phân biệt cách dùng của 2 từ "трудно" và "c трудом".EM nghĩ là cách dùng của 2 từ này không tương đương,nó chắc chắn có sự khác biệt...nhưng em kô hiểu đc nó khác nhau ở đâu:((:emoticon-0127-lipss.Mọi người giải thích hộ em với.Cảm ơn mọi người!!

tonichoat_lhp 19-12-2009 02:45

Trích:

Old Tiger viết (Bài viết 40905)
Nhưng khúc sau tôi không đồng ý:



Dù ngữ cảnh gì đi nữa thì их ở đây đối với người Nga cũng chỉ bổ nghĩa cho oни là chủ ngữ (và chủ thể) ở thành phần chính, chứ khó có thể là ngôi thứ 3 nào đó.

cháu không hiểu phần này lắm...:(,bác hổ ơi giải thích lại cho cháu,từ xưa đến nay cháu vẫn nghĩ là их phải bổ nghĩa cho những người khác chứ kô phải là oни,còn từ свои (nếu đc nói dến trong câu) mới là của oни chứ ạ:(
cháu sắp thi học kì,thế là giở lại mấy trang cũ đọc phần hướng dẫn của mọi người,chứ cái phần này có từ lâu lắm rồi(trang 3,4 hay sao ấy).

linhami 19-12-2009 04:35

Gửi bạn tonichoat lhp.
Mình không đủ trình để giải thích cho bạn một cách thật chuẩn như các bác cao nhân trong 4rum, nhưng трудно khác với с трудом chứ (về nghĩa thì có lẽ là không khác, nhưng về cách sử dụng thì khác vì nó ảnh hưởng đến các từ khác trong câu). Ví dụ:
1) Мне трудно говорить по-русски
2) Я с трудом говорю по-русски
Сâu 1 nghĩa là "tôi gặp khó khăn khi nói tiếng Nga", còn câu 2 nghĩa là "tôi nói tiếng Nga một cách khó nhọc". Về nghĩa thì gần như nhau hoặc là như nhau, nhưng bạn thấy không, sau мне трудно thì động từ ở dạng nguyên thể (không chia), còn khi dùng с трудом thì động từ cứ chia bình thường. Мне трудно вставать рано = Я с трудом встаю рано; Мне трудно пить пиво со льдом = Я с трудом пью пиво со льдом v.v...
Bạn cứ so sánh sẽ thấy sự khác biệt. Còn giải thích như thầy dạy ngữ pháp tiếng Nga thì mình chịu. Mình cũng mới tốt nghiệp khoa Russkii iazyk thôi mà.

linhami 19-12-2009 04:42

Gửi bạn tonichoat lhp.
Mình quên mất đoạn sau của bạn. Hình như về cái này thì các bác ý đã giải thích cặn kẽ lắm rồi còn gì, bạn đọc lại những trang trước đi. Có bác còn lấy ví dụ: A và B đánh mất vé CỦA MÌNH. C và D không biết vé CỦA HỌ ở đâu cả (của HỌ tức là của A và B, còn nếu nói "C và D không biết vé CỦA MÌNH ở đâu cả" thì tức là C và D cũng bị mất vé).

nguyentiendungrus_83 19-12-2009 06:50

Trích:

tonichoat_lhp viết (Bài viết 45883)
cho em thắc mắc lại câu hỏi này một chút.Phân biệt cách dùng của 2 từ "трудно" và "c трудом".EM nghĩ là cách dùng của 2 từ này không tương đương,nó chắc chắn có sự khác biệt...nhưng em kô hiểu đc nó khác nhau ở đâu:((:emoticon-0127-lipss.Mọi người giải thích hộ em với.Cảm ơn mọi người!!

Theo tôi hiểu thì hai cái này có khác nhau chút chụt! Hiểu khái quát là như thế này: nếu dùng trạng từ với động từ nguyên thể và chủ thể ở cách 3 thì trong lúc này chủ thể bị chi phối bởi hành động tức là chủ thể phụ thuộc vào hành động. Nói cách khác thì chính hành động đã đưa chủ thể đến trạng thái, chứ không phải chủ thể hành động với trạng thái đó. Nghe có vẻ trừu tượng đúng không? nhưng ta hãy đi vào ví dụ để dễ hiểu hơn. Trong câu:Мне трудно говорить по-русски thì rõ ràng lúc này chủ thể phụ thuộc vào hành động. Câu này phải hiểu là việc nói bằng tiếng nga làm cho tôi thấy khó khăn. Ý là không phải do tôi, mà do tiếng nga khó nói, khó phát âm , nên làm tôi khó nói .Hay việc tôi nói tiếng khó là do nguyên nhân khách quan .
Còn trong câu: Я с трудом говорю по-русски thì mình phải hiểu là tôi nói tiếng nga với một sự khó nhọc. Cái này là do tôi, tôi không thể nói đc tiếng nga do nguyên nhân chủ quan. Nhìn chung về ý nghĩa thì nó không khác nhau. Nhưng sâu xa vấn đề thì nó khác nhau như thế. :emoticon-0150-hands

tonichoat_lhp 19-12-2009 17:34

cảm ơn anh nguyentiendungrus_83 rất nhiều...em thật sự khâm phục anh kô những ở tài hiểu tiếng nga cặn kẽ,mà còn là cách lí giải của anh khá cụ thể và dễ hiểu...giờ thì em hiểu hai cách dùng rồi
@linhami:hihihi..về cách sử dụng thì tôi nắm rõ rồi,cái cốt yếu là dùng nó nghĩa là bạn hiểu nó như thế nào thôi...tôi cũng đã đọc những phần mọi người giải thích ở trang trước nhưng tôi không hiểu mấy ,và thường thì giải thích kô sát vấn đề tôi cần thắc mắc lắm..hihi..và nói thật tôi cũng hơi chậm hiểu...hih...nên cái gì càng đơn giản đối với tôi là càng tốt:)

garnet 20-12-2009 10:12

Hôm qua em học một bài đọc có câu thế này:"Мы с Серёжей..."nhưng thực ra từ "мы" chỉ là một người dù trong quan hệ bạn bè,cô giáo của em bảo bắt buộc phải như thế.Thế là sao ạ?

TLV 20-12-2009 10:29

Đúng là bắt buộc, vì trong tiếng Nga là... phải như vậy. "Tôi cùng với vợ" bắt buộc phải là "Мы с женой", hay câu chúng ta thường gặp " anh và em" sẽ là: "Мы с тобой"...

tonichoat_lhp 20-12-2009 10:40

Trích:

garnet viết (Bài viết 45986)
Hôm qua em học một bài đọc có câu thế này:"Мы с Серёжей..."nhưng thực ra từ "мы" chỉ là một người dù trong quan hệ bạn bè,cô giáo của em bảo bắt buộc phải như thế.Thế là sao ạ?

đó là ngôn ngữ nói của người ta rồi,mình chỉ là những người bắt trước nên hãy chấp nhận lối nói này,dù là hơi khác tiếng việt của mình:)

Мужик 20-12-2009 11:39

Trích:

tonichoat_lhp viết (Bài viết 45988)
đó là ngôn ngữ nói của người ta rồi,mình chỉ là những người bắt trước nên hãy chấp nhận lối nói này,dù là hơi khác tiếng việt của mình:)

Đúng là người Nga nói vậy và mình cũng phải nói thế nếu không muốn nói sai.
Tuy nhiên, điều này có thể lý giải theo logic trong tiếng Nga được:
Cụm từ này dùng khi có từ 2 người trở lên cùng thực hiện một hành động nào đó, như vậy chủ thể phải ở số nhiều rồi:
- Số nhiều của ia là mưi
- Số nhiều của tưi là vưi
Số nhiều của on, ona là oni
Vì vậy không chỉ có Mưi s Sashei... (Ia+Sasha) mà còn có Vưi s
Shashei (Tưi+Shasha), Oni s Sashei (On+Sasha)
Xin lỗi vì mình không có bàn phím tiếng Nga ở nhà nên không gõ tiếng Nga được.

nqbinhdi 20-12-2009 12:47

Lời bài Đôi bờ cũng có câu Мы с тобой два берега у одной реки, người Nga người ta nói vậy, biết làm sao được, đành theo thôi.
http://www.youtube.com/watch?v=v3TvlFwr4kY

nqbinhdi 20-12-2009 13:08

Trích:

Мужик viết (Bài viết 45993)
Đúng là người Nga nói vậy và mình cũng phải nói thế nếu không muốn nói sai.
Tuy nhiên, điều này có thể lý giải theo logic trong tiếng Nga được:
Cụm từ này dùng khi có từ 2 người trở lên cùng thực hiện một hành động nào đó, như vậy chủ thể phải ở số nhiều rồi:
- Số nhiều của ia là mưi
- Số nhiều của tưi là vưi
Số nhiều của on, ona là oni
Vì vậy không chỉ có Mưi s Sashei... (Ia+Sasha) mà còn có Vưi s
Shashei (Tưi+Shasha), Oni s Sashei (On+Sasha)
Xin lỗi vì mình không có bàn phím tiếng Nga ở nhà nên không gõ tiếng Nga được.

Úi cha cha,
Không xong, không xong rồi.
Gì chứ xem bóng đá Việt Nam thì dứt khoát không thể мы с женой được (kệ bọn Nga với bọn Nga muốn nói cái chi nhé). Lần nào xem VN đá mà có sư tử cũng chầu hẫu xem (ác cái là vừa xem vừa bắn súng máy liên tục, liên tục, liên tục, như ê-ne-rơ-chai-zơ nhá) thì kiểu gì ta cũng thua. Tôi đã có kinh nghiệm rồi. Vì vậy, hôm VN-Mã-lai vừa rồi, thấy mụ xí xớn vô chỗ xem đá bóng của mấy bố con nhà tôi là tôi đuổi quầy quậy, cơ mà y thị cứ vưỡn ngoan ngoãn và cố gắng đứng xem, lại còn bình luận mới bỏ mẹ con nhà người ta chứ. Nhà miềng bèn bảo "thôi rồi, mẹ chúng mày mà vô đây xem, thời ta tất thua". Y như rằng! Vía đen thế cơ mừ, đen toàn tính, nhá.

Hề hề, ai ủi Hổ già tí nhở.

garnet 20-12-2009 14:44

Chết,bác nói thế thì thiệt cho đàn bà con gái chúng cháu quá.:emoticon-0106-cryin
Thế thì mỗi lần VN đá thì bọn cháu phải vào phòng khóa kín cửa,không dám ló mặt xem bóng đá,không VN thua thì chết:emoticon-0136-giggl

tonichoat_lhp 04-01-2010 18:19

Cho em hỏi động từ nguyên thể sau động từ решать - решить có phải là động từ hoàn thành thể không ạ? Em thấy trong động từ chuyển động thì sau động từ này dùng пойти với ý nghĩa là quyết định nhưng không biết khi dùng động từ thường thì có phải để ở thể hoàn thành không ạ?

Мужик 04-01-2010 19:53

Trích:

tonichoat_lhp viết (Bài viết 47318)
Cho em hỏi động từ nguyên thể sau động từ решать - решить có phải là động từ hoàn thành thể không ạ? Em thấy trong động từ chuyển động thì sau động từ này dùng пойти với ý nghĩa là quyết định nhưng không biết khi dùng động từ thường thì có phải để ở thể hoàn thành không ạ?

Không nhất thiết đâu tonichoat ạ, mặc dù rất hay sử dụng động từ hoàn thành thể sau cặp động từ này, nhất là sau решить. Nhưng "rất hay" không có nghĩa là "bắt buộc".

Nina 04-01-2010 23:40

Nhân tiện hôm nay Nina thấy đoạn trả lời này về ... số ít và số nhiều của vị ngữ, khá là phức tạp, mời các bạn đọc để ... cảm nhận vậy

Nguồn: http://gramota.ru/spravka/letters/?rub=bolshinstvo
 
Единственное и множественное число сказуемого
Выбор правильной формы числа сказуемого – трудная задача, если в составе подлежащего имеются слова, указывающие на количество или совокупность предметов. Среди таких слов:
собирательные существительные (напр. большинство),
количественные числительные (пять, двадцать),
собирательные числительные (двое, трое, пятеро),
счетные существительные (тысяча, миллион, миллиард),
слова, обозначающие приблизительное количество (более десятка, менее пятидесяти, несколько),
счетные местоименные наречия (много, столько, сколько),
существительные со значением определенного (тройка, пара, сотня) и неопределенного (масса, уйма) количества, существительные с первой частью пол- (полгода, полдома),
сочетания типа брат с сестрой.
Каждая из этих групп имеет свои особенности согласования со сказуемым.
Согласование сказуемого со словами «ряд, большинство, меньшинство, часть, множество»

Выбор правильной формы сказуемого осложняется тем, что опорное слово подлежащего (ряд, большинство, множество и т. п.), представляя собой существительное в форме единственного числа, фактически означает множество предметов или явлений как совокупность. В этой связи появляются две возможности для согласования сказуемого:
формально-грамматическое согласование: сказуемое принимает такую же грамматическую форму, как и подлежащее; большинство граждан проголосовало за нового президента («большинство» и «проголосовало» – единственное число, средний род); ряд пользователей отказался от платной услуги («ряд» и «отказался» – единственное число, мужской род);
согласование по смыслу: сказуемое принимает форму множественного числа, поскольку подлежащее обозначает множество предметов или явлений: большинство граждан проголосовали за нового президента, ряд пользователей отказались от платной услуги.
В современном русском языке формально-грамматическое согласование сказуемого и согласование по смыслу конкурируют, и в большинстве случаев (но не всегда!) формы единственного и множественного числа сказуемого взаимозаменяемы.
Формальное согласование рода и числа сказуемого требуется, если собирательное существительное не имеет при себе зависимых слов, а также если в составе подлежащего нет существительных в форме множественного числа: За принятие постановления проголосовало большинство, меньшинство было против; Подавляющее большинство парламента проголосовало против принятия закона; Часть населения безграмотна.
Согласование по смыслу предпочтительно:
1) если между подлежащим и сказуемым располагаются другие члены предложения: Множество замечаний по содержанию диссертации и оформлению библиографии были высказаны молодому аспиранту;
2) если при подлежащем имеется последующее определение в форме множественного числа, выраженное причастным оборотом или придаточным предложением со словом которые: Часть средств, вырученных от продажи книги, пойдут на содержание больниц; Часть средств, которые будут выручены от продажи книг, пойдут на содержание больниц;
3) если нужно подчеркнуть раздельность действий каждого действующего лица, называемого подлежащим, а также подчеркнуть активность действующих лиц: Ряд сотрудников нашей организации выступили с инициативой; ср.: В прошлом году было построено множество дорог.
4) если сказуемых – несколько: Ряд учеников не считают выполнение домашних заданий необходимым и приходят на урок неподготовленными.
5) если в составе сказуемого есть существительное или прилагательное в форме множественного числа: Большинство домов в этой деревне были деревянными.
Согласование сказуемого с числительными

Имя числительное, в отличие от других имен (существительного и прилагательного), лишено признаков числа. Иными словами, если существительные могут иметь формы единственного и множественного числа (книга – книги), то числительные не имеют таких форм (ср.: два, пятеро, сто пятьдесят). По этой причине с числительным собственно «согласование» сказуемого по форме числа принципиально невозможно. Форма сказуемого единственного или множественного числа выбирается говорящим произвольно. При постановке сказуемого в ед. ч. прошедшего времени сказуемое принимает форму среднего рода: пятьдесят человек пришло на лекцию, в ДТП погибло два человека; открылось десять новых магазинов и т. п.
Хотя форма сказуемого не регламентируется жестко, существует ряд факторов, способствующих употреблению формы единственного или множественного числа.
На постановку сказуемого в форму единственного числа влияет стремление автора текста обратить внимание читателей на пассивность подлежащего, совместность действия действующих лиц, а также на количество, названное в подлежащем. Пассивность подлежащего может подчеркиваться употреблением в качестве сказуемых глаголов со значением бытия, наличия: быть существовать, иметься и др.
В результате урагана упало двадцать деревьев. На лекцию пришло именно пятьдесят человек, а не пятьдесят два. У существительного имеется двенадцать падежных форм.
Факторы, способствующие употреблению формы множественного числа сказуемого, противоположны: значение раздельности действия, акцент на активности лиц, названных в подлежащем, стремление автора обратить внимание на действие (характеристику), а не на количество.
Восемь студентов уже защитили дипломные работы. Сто аспирантов пишут диссертации (т. е. каждый пишет собственную работу).
Кроме этого следует запомнить, что:
Числительные, оканчивающиеся на один, обычно требуют формы единственного числа сказуемого: В институт поступил пятьдесят один абитуриент. Но: Пятьдесят один участник обсудили проблему на круглом столе (глагол обсудить означает совместное действие и не может быть употреблен в форме ед. ч.).
Форма множественного числа сказуемого используется, если подлежащее конкретизируется определением в форме множественного числа, например словами все, эти, данные, любые и др. Все пятьдесят восемь абитуриентов поступили в институт. Васины пятьдесят рублей были немедленно потрачены. Эти двое явились с опозданием, остальные пятеро прибыли вовремя.
Если числительное употребляется в качестве подлежащего без зависимых слов (обозначая число как математическое понятие), то оно согласуется со сказуемым в форме единственного числа: Сто пятьдесят делится на тридцать без остатка.
Согласование сказуемого со словами «тысяча, миллион, миллиард»

Сказуемое при словах тысяча, миллион, миллиард обычно принимает форму подлежащего (единственное число, женский или мужской род). Тысяча человек каждый год отдыхает в этом санатории. Миллион тюльпанов посажен на клумбе.
Согласование сказуемого при обозначении подлежащим приблизительного количества

При подлежащем – количественном сочетании со значением приблизительности предпочитается форма единственного числа сказуемого: Откроется несколько новых школ. На земле живет более трех миллиардов людей. Но: Лишь несколько студентов смогли решить эту задачу; форма множественного числа сказуемого обусловлена «активностью» действующих лиц, названных подлежащим.
Согласование сказуемого со словами «много, столько, немало»

Счетные местоименные наречия столько, сколько, много, немного, мало, немало согласуются иключительно со сказуемым в форме единственного числа: Столько долгов накопилось! Довольно много народу пришло на лекцию. Немало знаменательных событий предшествовало этому дню. Такое требование содержится в академической «Русской грамматике».
Д. Э. Розенталь в «Справочнике по правописанию и литературной правке» отмечает, что в последнее время форма множественного числа в подобных конструкциях «…встречавшаяся в прошлом редко, находит все большее распространение»: Сколько замученных работой калек помирают с голоду (М. Горький).
Согласование сказуемого с существительными со значением определенного («тройка, пара, сотня») и неопределенного («масса, уйма») количества, а также с числительным «пол-»

Существительные со значением определенного и неопределенного количества, а также слова с первой частью пол- (полчаса, полгода) обычно требуют постановки сказуемого в форму единственного числа: Пара ботинок была куплена за бесценок. Уйма времени ушла впустую. Масса ненужных вещей захламила квартиру. Полчаса прошло незаметно (но с определением: Первые полчаса прошли незаметно).
Согласование сказуемого с сочетаниями типа «брат с сестрой»

Сказуемое может стоять как в форме множественного, так и в форме единственного числа. Форма множественного числа сказуемого показывает, что действие, обозначаемое сказуемым, в равной мере приписывается обоим действующим лицам, которые названы подлежащим. Форма единственного числа сказуемого показывает, что обозначаемое сказуемым действие приписывается первому из названных действующих лиц. Ср.: Шарик с Матроскиным делят избу. Вася с мамой пошел в школу.
Академическая «Русская грамматика» отмечает, что «если в группу со значением совместности входит местоимение 1-го или 2-го лица, то глагол в сказуемом, уподобляясь числовому значению местоимения, имеет ту же личную форму, что и это местоимение: Я с отцом (с сестрами) пойду; Мы с отцом (с сестрами) пойдем; Ты с матерью (с сестрами) останешься; Вы с матерью (с сестрами) останетесь».
Данная статья написана по следам наиболее частых вопросов «Справочного бюро» ГРАМОТЫ.РУ и не претендует на полноту изложения. Подробные сведения о колебаниях в форме числа сказуемого читатели могут найти в «Русской грамматике» (М., 1980), параграфы 2244–2248.


Ấn tượng của Nina là... phức tạp khiếp :D :D

tonichoat_lhp 05-01-2010 06:11

Trích:

Мужик viết (Bài viết 47325)
Không nhất thiết đâu tonichoat ạ, mặc dù rất hay sử dụng động từ hoàn thành thể sau cặp động từ này, nhất là sau решить. Nhưng "rất hay" không có nghĩa là "bắt buộc".

Những lúc nào có thể dùng thể chưa hoàn ạ?Có thể cho em ví dụ được không ,em hơi tối dạ:">.Em tưởng cứ nói đến quyết định thì phải nói đến động từ ở thời tương lai và bắt buộc phải thực hiện nên dùng động từ thể hoàn thành :)

Мужик 05-01-2010 12:48

Trích:

tonichoat_lhp viết (Bài viết 47387)
Những lúc nào có thể dùng thể chưa hoàn ạ?Có thể cho em ví dụ được không ,em hơi tối dạ:">.Em tưởng cứ nói đến quyết định thì phải nói đến động từ ở thời tương lai và bắt buộc phải thực hiện nên dùng động từ thể hoàn thành :)

Động từ này đâu có gì đặc biệt để mà sau nó phải dùng động từ hoàn thành thể hả tonichoat? Chắc là em đã biết cách sử dụng động từ chưa hoàn thành thể rồi, đúng không? Cứ thế mà "áp" vào thôi!
Quyết định sao lại chỉ có thời tương lai nhỉ, nó có đầy đủ cả 3 thời đấy chứ? Trong tiếng Việt cũng thế và trong tiếng Nga cũng vậy mà.

Trans-Over 05-01-2010 15:44

Trích:

tonichoat_lhp viết (Bài viết 47318)
Cho em hỏi động từ nguyên thể sau động từ решать - решить có phải là động từ hoàn thành thể không ạ? Em thấy trong động từ chuyển động thì sau động từ này dùng пойти với ý nghĩa là quyết định nhưng không biết khi dùng động từ thường thì có phải để ở thể hoàn thành không ạ?

Các phỏng đoán của em đều chưa chính xác. Sau này, khi tích lũy đến một "lượng" đơn vị từ vựng và văn bản, ngôn bản nhất định em sẽ có "так называемое" (сái gọi là) "cảm giác ngôn ngữ". Cảm giác này ngày càng chính xác hơn, tỷ lệ thuận với trình độ ngoại ngữ.

Khi học một từ mới, em nên đọc thật kỹ các nét nghĩa (thường được đánh số 1, 2, 3... trong từ điển), rồi đến "khả năng kết hợp từ" của chúng ("словосочетаемость"). Ví dụ học một động từ mới thì ta xem xem nó trả lời câu hỏi nào? Đồng thời, tìm các cách sử dụng tương ứng ví như: участвовать в чём-л = принимать участие в чём-л

----------

решить (что-л.) нв. - решать; св. - решить

1. (о задаче, вопросе и т.п.) solve; settle решить задачу — to solve a problem; to accomplish a task

2. (делать что-л.) (принимать решение) decide (to do smth.; on/for doing smth.) , resolve, make up one's mind (to do smth.), determine (to do smth.; on doing smth.); (делать что-л.) be determined он решил ехать — he decided/determined to go, he made up his mind to go решить дело в чью-л. пользу — to decide a case in someone's favo(u)r решить чью-л. участь — to decide someone's fate


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 19:33.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.