Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Học tiếng Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=20)
-   -   Hỏi-đáp (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=2028)

Saomai 16-01-2011 15:51

Trích:

USY viết (Bài viết 77295)
"чайник" được dùng với nghĩa "tài xế tay mơ" từ lâu lắm lâu lẳm rồi Nina ơi, trước khi PC thịnh hành nhiều. Ô tô tập lái còn đính cả hình này đằng sau kính thay chữ "TẬP LÁI" ở Vn ấy chứ! Mình nghĩ từ чайник với nghĩa "tay mơ" đầu tiên dùng cho cánh mới lái xe, về sau mới dùng lẫn sang lĩnh vực máy tính.
http://static2.aif.ru/public/article...08b54d_big.jpg

SM thì cho rằng người Nga dịch chữ Ấm ở (= tay mơ) của tiếng Việt sang tiếng Nga. "Ấm" thì đích thị là "чайник" rồi, nhưng "ớ" là gì thì họ không hiểu (đến người Việt cúng không hiểu), nên họ đành để dấu "..." với hàm ý, ai biết thì điền tiếp, hoặc buôn tiếp... Trong tiếng Trung, "Ớ quó" = Nước Nga (Nga quốc), do vậy kết hợp đông-tây-kim-cổ, thì "ẤM Ớ" có lẽ là ẤM NGA, nên dịch thành "чайник" là quá chuẩn (lại còn tránh được húy bác XAMOVA nữa)!!! Góp mấy dòng thư giãn ngày chủ nhật... Vì SM ở xa, nên có lẽ không cần phải ù té chạy như 1 số bác ở ngay HN :emoticon-0136-giggl

Để tránh phạm tội xì pam, xin gài đây 1 câu hỏi: trong tiếng Việt có chữ xà-ích, chỉ người đánh xe ngựa. Vậy xuất xứ của từ này là chi vậy?

nqbinhdi 16-01-2011 16:41

Trích:

Saomai viết (Bài viết 77298)
SM thì cho rằng người Nga dịch chữ Ấm ở (= tay mơ) của tiếng Việt sang tiếng Nga. "Ấm" thì đích thị là "чайник" rồi, nhưng "ớ" là gì thì họ không hiểu (đến người Việt cúng không hiểu), nên họ đành để dấu "..." với hàm ý, ai biết thì điền tiếp, hoặc buôn tiếp... Trong tiếng Trung, "Ớ quó" = Nước Nga (Nga quốc), do vậy kết hợp đông-tây-kim-cổ, thì "ẤM Ớ" có lẽ là ẤM NGA, nên dịch thành "чайник" là quá chuẩn (lại còn tránh được húy bác XAMOVA nữa)!!! Góp mấy dòng thư giãn ngày chủ nhật... Vì SM ở xa, nên có lẽ không cần phải ù té chạy như 1 số bác ở ngay HN :emoticon-0136-giggl

Giải thích hay tuyệt!
Loại suốt đời xiên xẹo như tui cũng phải ngả nón chào, xiên thế mới xẹo chứ!
Thật là kính nể.

:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm

Trích:

Saomai viết (Bài viết 77298)
Để tránh phạm tội xì pam, xin gài đây 1 câu hỏi: trong tiếng Việt có chữ xà-ích, chỉ người đánh xe ngựa. Vậy xuất xứ của từ này là chi vậy?

Chắc là từ tiếng Pháp hay tiếng Nga, đọc bồi theo kiểu uẩy me-xừ sếp, bông-giua me-xừ! với lại tuốt mo (tout le monde).

Saomai 16-01-2011 17:43

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 77303)
Giải thích hay tuyệt!
Loại suốt đời xiên xẹo như tui cũng phải ngả nón chào, xiên thế mới xẹo chứ!
Thật là kính nể.

:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm:emoticon-0102-bigsm

Chắc là từ tiếng Pháp hay tiếng Nga, đọc bồi theo kiểu uẩy me-xừ sếp với lại bông-giua me-xừ!.

Tiếng Việt rất hay các bác nhỉ, vì từ "chắc" như bác Bình Dị dùng thì đích thị có nghĩa là "chưa chắc":emoticon-0136-giggl

Và để tâm phục, khẩu phục thì nhất định người trả lời phải tìm được từ gốc của chữ đó bằng tiếng nước ngoài (hoặc phiên âm nếu thứ chữ đó tượng hình). Ví dụ rau Cải xoong của tiếng Việt có gốc từ chữ cresson [cre-xông] của tiếng Pháp.

nqbinhdi 16-01-2011 18:12

Tìm trên Internet thì thấy có chỗ giải thích rằng từ xà ích có nguồn gốc từ tiếng Phi-luật-tân (Philippines). Cơ mà dùng công cụ dịch Google với từ xà ích, chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Phillipines thì ra những từ chả có liên quan gì tới xà ích (hao hao đồng âm) cả. Có thể một phương ngữ Philippines nào đó chăng? Mà nếu thế thì botay.com.

Nina 16-01-2011 18:34

Em hỏi Google, "nó" dịch "xà ích" sang tiếng Pháp thành faisceau utile, còn "xà-ích" thì thành faisceau-ons. Vì trình tiếng Pháp của em là vô cùng bé, nên em đem chữ faisceau dịch lại ra tiếng Việt bằng Google thì được nghĩa là chùm.

Thế nên em cũng chẳng hiểu xà ích xuất phát từ đâu (từ chuồng ngựa?). Nhưng em phát hiện ra là chữ tiếng Nga кучер xuất phát từ chữ cocher trong tiếng Pháp - vì nghe nó phát âm cũng hơi hơi giống nhau thì phải.

nqbinhdi 16-01-2011 18:49

Tôi đã tìm theo cách như sau:

coachman, yêu cầu Google dịch sang các thứ tiếng vùng Nam Đảo (Philippines, Malaysia và Indonesia) bởi các thứ tiếng này chung một họ tiếng Nam Đảo, rất dễ gần nhau về một số từ. Rất may tới tiếng Indonesia thì được:

Từ điển - Xem từ điển chi tiết
danh từ
1. kusir
2. sais
3. pengendara kuda

Trong đó có từ thứ hai sais gần như đồng âm hoàn toàn (1. Cùng 2 âm tiết; 2. Âm tiết đầu là sa, giống xa/xà trong tiếng Việt; 3. Âm tiết thứ 2 là is, rất giống ích trong tiếng Việt).

Vấn đề cần tìm hiểu thêm ở đây là:
1. Liệu có đúng là từ xà ích có xuất xứ từ tiếng Indonesia nói riêng, tiếng Nam Đảo (gồm thêm Philippines, Malaysia) nói chung hay không (trong tiếng Malaysia sais cũng là coachman/xà-ích, có lẽ hai nước này tiếng giống nhau như Lào với Thái chăng?)?
2. Sâu hơn nữa, do dân Trung Quốc di cư rất nhiều sang vùng Nam Đảo (nhất là sau khi nhà Thanh diệt nhà Minh) nên có thể trong từ vựng của vùng Nam Đảo có thể pha lẫn từ tiếng Trung Quốc (trong tiếng Trung Quốc, từ phát âm là xa/xưa có một nghĩa là xe - từ Hán-Việt cũng là xa). Biết đâu từ sais đó chỉ là từ Hán-Indo thì sao (chỉ thêm đuôi is vào để chỉ người đánh xe - y như từ coachman = coach (xe 4 bánh, từ này gốc tếng Hung) + man (người) trong tiếng Anh vậy thôi).

Bàn thêm: Từ kusir thì là một từ khá chung vùng Nam Đảo (tiếng Malaysia cũng là kusir, còn tiếng Philippines là kutsero), còn từ pengendara kuda trong tiếng Malaysia thì cũng y như vậy.

nqbinhdi 16-01-2011 19:01

Trích:

Nina viết (Bài viết 77310)
Em hỏi Google, "nó" dịch "xà ích" sang tiếng Pháp thành faisceau utile, còn "xà-ích" thì thành faisceau-ons. Vì trình tiếng Pháp của em là vô cùng bé, nên em đem chữ faisceau dịch lại ra tiếng Việt bằng Google thì được nghĩa là chùm.

Thế nên em cũng chẳng hiểu xà ích xuất phát từ đâu (từ chuồng ngựa?). Nhưng em phát hiện ra là chữ tiếng Nga кучер xuất phát từ chữ cocher trong tiếng Pháp - vì nghe nó phát âm cũng hơi hơi giống nhau thì phải.

Ý kiến của Nina lại gợi cho tôi một hồ nghi nhỏ: Liệu từ kutsero hay kusir có nguồn gốc xuất xứ từ từ coach (gốc tiếng Hung là kocsi, mang tên làng Kocs, nơi đầu tiên sản xuất ra xe 4 bánh) hay không?

Мужик 16-01-2011 19:51

Bác nào biết tiếng Khơ-me thử xem "xà ích" có phải bắt nguồn từ đó không nhé! Xà ích dùng chủ yếu ở Nam bộ, sau này mới lan ra Bắc bộ nhưng không phổ biến lắm. Ở Nam bộ người Khơ-me nhiều, hay dùng xe thổ mộ. Biết đâu xà ích lại chẳng bắt nguồn từ tiếng Khơ-me, chứ tiếng Việt ta ít chịu ảnh hưởng bởi mấy bác Phi-líp, Mã-lai hay In-đô lắm!

nqbinhdi 16-01-2011 19:53

Trích:

Saomai viết (Bài viết 77308)
Tiếng Việt rất hay các bác nhỉ, vì từ "chắc" như bác Bình Dị dùng thì đích thị có nghĩa là "chưa chắc":emoticon-0136-giggl

Trong tiếng Việt có nhiều từ như từ "Chắc" ấy. Chẳng hạn như từ "Dám".

Truyện Kiều có câu:

Trăng thề còn đó trơ trơ
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng


Dám ở đây có nghĩa là đâu dám, không dám.

Cũng còn có nhều từ mà ghép vào hai từ đối nghịch lại ra cùng một nghĩa. Từ mòn chẳng hạn. Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao vốn ban đầu là Chết mòn, nghĩa chẳng hề thay đổi mấy (theo phương diện ngữ nghĩa mà Nam Cao định truyền tải).

---

Mà cái này có lẽ cũng có cả trong tếng Nga nữa ạ. Từ знать chẳng hạn.

Đặt ở đầu câu, nó có nghĩa là Chẳng lẽ?, không dính dáng gì tới từ Hãy biết cho cả

Thí dụ câu hát trong bài ca sông Volga:

Знать любовь не дорога?

Nghĩa là Chả lẽ tình yêu lại không quý giá sao?, sang tiếng Việt, lời ấy được dịch là Có hay chăng (ngày tháng mong chờ - ơ hơ, cái này thì dứt khoát là nhét ca từ ta vào mồm ca sĩ nhở)

Cái đoạn này thì tui cũng không chắc lắm, các bác thạo tiếng Nga chỉ giáo giúp nhé.

nqbinhdi 16-01-2011 19:56

Trích:

Мужик viết (Bài viết 77322)
Bác nào biết tiếng Khơ-me thử xem "xà ích" có phải bắt nguồn từ đó không nhé! Xà ích dùng chủ yếu ở Nam bộ, sau này mới lan ra Bắc bộ nhưng không phổ biến lắm. Ở Nam bộ người Khơ-me nhiều, hay dùng xe thổ mộ. Biết đâu xà ích lại chẳng bắt nguồn từ tiếng Khơ-me, chứ tiếng Việt ta ít chịu ảnh hưởng bởi mấy bác Phi-líp, Mã-lai hay In-đô lắm!

Rất tiếc là nếu lên mạng tìm kiếm, ta sẽ bắt gặp một bài viết về xe thổ mộ (xe bốn bánh kiểu Nam Bộ để chở người/hàng hóa). Trong đó nói rõ người đầu tiên mua cái xe kiểu đó về - sau lan dần ra, rất thịnh hành ở cả Nam Bộ - lại mua cái xe thổ mộ đó ở Malaysia với giá quy ra vàng 7-9 cây!

Rất có thể từ xà ích đã theo về cùng với cái xe thổ mộ đó.

Мужик 16-01-2011 19:58

Trích:

USY viết (Bài viết 77295)
"чайник" được dùng với nghĩa "tài xế tay mơ" từ lâu lắm lâu lẳm rồi ....Mình nghĩ từ чайник với nghĩa "tay mơ" đầu tiên dùng cho cánh mới lái xe, về sau mới dùng lẫn sang lĩnh vực máy tính.

và sang cả nhiều lĩnh vực khác nữa. Để chỉ những người "lính mới", tay nghề còn non, chưa thành thạo...(ещё не съел собаку) nói chung, ví dụ: Я чайник в этой области.

Dmitri Tran 16-01-2011 20:46

Trích:

USY viết (Bài viết 77295)
"чайник" được dùng với nghĩa "tài xế tay mơ" từ lâu lắm lâu lẳm rồi Nina ơi, trước khi PC thịnh hành nhiều. Ô tô tập lái còn đính cả hình này đằng sau kính thay chữ "TẬP LÁI" ở Vn ấy chứ! Mình nghĩ từ чайник với nghĩa "tay mơ" đầu tiên dùng cho cánh mới lái xe, về sau mới dùng lẫn sang lĩnh vực máy tính.
http://static2.aif.ru/public/article...08b54d_big.jpg

Tôi thì nghĩ đơn giản hơn.
Từ чайник đơn thuần Nga, nó là dụng cụ nhà bếp đơn giản nhất, trước khi chuẩn bị nấu ăn người ta thường đun ấm nước rồi mới làm tiếp các việc đòi hỏi chuyên môn khác.
Ngoài ra, về hình tượng người Nga hay dùng, khi chụp lên đầu чайник thì phải "lọ mọ" tìm kiếm học hỏi như hai chú này!

hungmgmi 16-01-2011 22:25

Trích:

nqbinhdi viết (Bài viết 77313)
Tôi đã tìm theo cách như sau:

coachman, yêu cầu Google dịch sang các thứ tiếng vùng Nam Đảo (Philippines, Malaysia và Indonesia) bởi các thứ tiếng này chung một họ tiếng Nam Đảo, rất dễ gần nhau về một số từ. Rất may tới tiếng Indonesia thì được:

Từ điển - Xem từ điển chi tiết
danh từ
1. kusir
2. sais
3. pengendara kuda

Trong đó có từ thứ hai sais gần như đồng âm hoàn toàn (1. Cùng 2 âm tiết; 2. Âm tiết đầu là sa, giống xa/xà trong tiếng Việt; 3. Âm tiết thứ 2 là is, rất giống ích trong tiếng Việt).

Vấn đề cần tìm hiểu thêm ở đây là:
1. Liệu có đúng là từ xà ích có xuất xứ từ tiếng Indonesia nói riêng, tiếng Nam Đảo (gồm thêm Philippines, Malaysia) nói chung hay không (trong tiếng Malaysia sais cũng là coachman/xà-ích, có lẽ hai nước này tiếng giống nhau như Lào với Thái chăng?)?

Mời các bác đọc đoạn sau, theo em là khá thú vị, chú ý phần em bôi đậm:
Trích:

Các yếu tố trong hàng loạt từ phiên âm đích thị là vô nghĩa nếu tách rời. Thí dụ: xà bông / xà phòng (do tiếng Bồ Đào Nha sa bão và tiếng Pháp savon), hủ tíu / hủ tiếu (do tiếng Triều Châu cổ chéo mà âm Hán Việt là quả điều), phô mai / phó mát (do tiếng Pháp formage), mít tinh (do tiếng Anh meeting ), lô cốt (do tiếng Đức blockhaus), ghi ta (do tiếng Ý gitarre và tiếng Pháp guitare, tiếng Anh guitar), sát na (do tiếng Sanskrit ksana, phiên âm qua tiếng Hán), lì xì (do tiếng Quảng Đông mà âm Hán - Việt là lợi thị)... Có thể nói trừ một ít trường hợp ngoại lệ, thì đại đa số từ tố phiên âm tiếng nước ngoài đều không mang nghĩa và chúng chỉ có nghĩa khi tập hợp đủ yếu tố cần thiết.

Tương tự như thế, các yếu tố trong những tổ hợp song tiết hoặc đa tiết sau đây thực sự vô nghĩa: tùm lum, thè lè, lớ ngớ, ba lăng nhăng... Nhiều người xác định đây là những từ láy thuần Việt. Đúng ra, chúng là từ gốc Môn - Khmer đã được du nhập vào tiếng Việt. Tlum, tiếng Cam-pu-chia, có nghĩa là rộng, ta phiên âm và phát triển nghĩa thành tùm lum. Còn thè lè thì phiên từ thle (nghĩa gốc là giơ ra, thòi ra), lớ ngớ vốn từ lngơ (nghĩa gốc: lạ lẫm), ba lăng nhăng xuất phát bởi blanhang (nghĩa gốc: vớ vẩn)... Tiêng Malaysia cũng góp nhiều từ vào kho tàng tiếng Việt qua con đường phiên âm: xà ích (do chữ saìs), mã tà (do chữ mata-mata)... Thí dụ một câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Đồ Chiểu: Kẻ đâm ngang, người chém dọc làm cho mã tà ma ní hồn kinh.
Nguồn:
http://cadao.org/index.php?option=co...hong&Itemid=91

htienkenzo 16-01-2011 22:45

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 77344)
Mời các bác đọc đoạn sau, theo em là khá thú vị, chú ý phần em bôi đậm:

Tương tự như thế, các yếu tố trong những tổ hợp song tiết hoặc đa tiết sau đây thực sự vô nghĩa: tùm lum, thè lè, lớ ngớ, ba lăng nhăng... Nhiều người xác định đây là những từ láy thuần Việt. Đúng ra, chúng là từ gốc Môn - Khmer đã được du nhập vào tiếng Việt. Tlum, tiếng Cam-pu-chia, có nghĩa là rộng, ta phiên âm và phát triển nghĩa thành tùm lum. Còn thè lè thì phiên từ thle (nghĩa gốc là giơ ra, thòi ra), lớ ngớ vốn từ lngơ (nghĩa gốc: lạ lẫm), ba lăng nhăng xuất phát bởi blanhang (nghĩa gốc: vớ vẩn)... Tiêng Malaysia cũng góp nhiều từ vào kho tàng tiếng Việt qua con đường phiên âm: xà ích (do chữ saìs), mã tà (do chữ mata-mata)... Thí dụ một câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Đồ Chiểu: Kẻ đâm ngang, người chém dọc làm cho mã tà ma ní hồn kinh.

Nguồn:
http://cadao.org/index.php?option=co...hong&Itemid=91

:emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands

Không có nhiều thời gian để gõ lại trong "CHUYỆN ĐÔNG CHUYỆN TÂY"-Quyển 1 của tác giả An Chi, tôi xin trích trong E-thuvien.com:

64. (KTTN 110, ngày 01-6-1993)
Xin cho biết xuất xứ của mấy tiếng mã tà (lính cảnh sát thời trước).

AN CHI: Mã tà là do phiên âm từ tiếng Mã Lai manta-mata có nghĩa là cảnh sát. Hình thức gốc ban đầu là ma tà, theo ghi nhận của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc âm tự vị. Về sau, ma đã được phát âm thành mã. Xin nhớ rằng tiếng Việt, nhất là địa phương Nam Bộ, có nhiều từ gốc Mã Lai. Thêm một ví dụ: xà ích, người đánh xe ngựa, là do tiếng Mã Lai saïs.

link: http://www.e-thuvien.com/forums/show...t=6033&page=10

nqbinhdi 17-01-2011 00:08

Có vẻ như đề nghị của tôi về gốc từ sais từ tiếng Trung Quốc gây hồ nghi cho nhiều người. Tôi sẽ giải thích thêm suy nghĩ của tôi như sau.

Quá trình mượn từ ngoại lai của mọi dân tộc (mọi thứ tiếng) đều diễn ra như sau:

1. Có người nước ngoài tới (buôn bán hay chiếm đóng...) mang theo các khái niệm mới, hoặc có hàng hóa/vật dụng/gia súc... mới theo chân các nhà buôn hoặc các nhà thám hiểm đi xa trở về.

2. Do mới, tức là không có khái niệm/từ ngữ trong ngôn ngữ bản địa nên người ta sẽ: a) Cố chuyển nghĩa sang gần giống với từ đã có sẵn; b) Mượn từ nước ngoài và phiên âm cho dễ đọc/nói. Có quá nhiều thí dụ như thế trong rất nhiều thứ tiếng khác nhau, không thể kể xiết.

3. Một số từ đã quá lâu sẽ được coi như và trở nên từ thuần của ngôn ngữ chịu du nhập. Thí dụ trong số từ được coi là thuần Việt, có rất nhiều từ gốc Hán chứ không phải là từ Việt cổ (có gốc từ hệ Việt-Mường trong họ tiếng Môn-Khơ-me), chẳng hạn như từ buồm, gan... có gốc tếng Hán.

Khái niệm xe chắc chắn chưa có trong ngôn ngữ các dân tộc vùng Nam Đảo từ trước, bởi xe ở châu Á được làm ra có lẽ đầu tiên tại Trung Quốc (chỉ có hai bánh - có thể thấy rõ điều này từ chữ tượng hình, chữ xa/xe trên mặt quân cờ/lá bài tam cúc rất quen thuộc, khác với kocsi hay coach... của châu Âu có 4 bánh). Thế thì nó sẽ có lúc nào đó được du nhập vào các đảo vùng Đông Nam Á, tôi thiên về giả thuyết người Trung Quốc di cư mang theo, mạnh nhất là vào thời sau nhà Minh (hàng vạn/chục vạn người đã di cư tránh tàn sát/cướp bóc của quân Thanh, mang theo phong tục, ngôn ngữ... ảnh hưởng mạnh tới các vùng họ tới). Từ đó người vùng Nam Đảo mới có khái niệm về xe, và rất có thể đã mượn chữ xa (ký hiệu phiên âm thành sa) trong tiếng Trung Quốc, y như người Việt đã mượn chữ xa (phiên và biến âm dần thành xe, còn từ này ngày trước người TQ đọc/nói thế nào vị tất cũng đã có ai biết bởi tiếng nào cũng vậy, tiếng Trung Quốc cũng không là ngoại lệ nên đã thay đổi theo thời gian - thế nên mới gọi là sinh ngữ). Nhìn vào 3 chữ trong tự điển do Google cung cấp, ta thấy từ kusir và từ sais được đưa lên trên từ pengendara kuda (tôi đoán là từ Malaysia cổ, với từ pengendara nghĩa là người cưỡi/người điều khiển còn kuda nghĩa là ngựa, chỉ là cố chuyển nghĩa thành từ đã có sẵn trong ngôn ngữ Nam Đảo từ trước), cái này thường thấy trong các từ điển là xếp các nghĩa/từ thông dụng hơn lên trước - trong trường hợp này là các từ mượn được dùng nhiều hơn, nhất là trong văn viết, quan trọng (điều này cũng thấy tương tự trong tiếng Việt: những văn bản quan trọng, trịnh trọng thì người ta hay dùng từ Hán-Việt hơn còn trong văn nói thì lại hay dùng từ thuần Việt, thí dụ như thiếp mời đám cưới thì ghi Kính mời... tới dự hôn lễ của..., chứ không viết tới dự đám cưới, trong khi có ai hỏi ta đi đâu ta sẽ trả lời đi dự đám cưới của... chứ không mấy khi nói đi dự hôn lễ của..., có vô số thí dụ như vậy). Như vậy, ngoài từ pengendara kuda thuần Mã-lai, rất có thể các từ saiskusir có gốc ngoại lai (kusir/kutsero thì lai từ tiếng Châu Âu - coach/kocsi/cocher/kutsche...), còn sais thì liệu lai từ tiếng nào?

Lai từ tiếng TQ chăng?

USY 17-01-2011 08:51

Em xin đóng góp 1 chuyện vui có thật.
Chuyện là có 1 hôm, ông Nga ở cơ quan ngày xưa của em mặt mũi nghiêm trọng hỏi nhỏ em: "Cơm lễ" là gì? Em nghĩ mãi 3 ngày không ra, kể cả tra các kiểu từ điển tiếng Việt từ cuốn của cụ Đào Duy Anh cho đến cuốn của cháu chắt cụ.
Mãi sau em bực quá, mới hỏi lại: ông thấy cụm từ này ở đâu? Ông ta trả lời là ở trong giấy mời đi dự chiêu đãi.
Liệu các bác có suy luận ra đó là từ gì không ạ?:emoticon-0102-bigsm

Thêm 1 câu đó vui nữa (cái này em "cóp" của 1 mem cũ NNN: từ "bát phố", rồi sau là "bát tiết (học)" có gốc từ đâu?

Dmitri Tran 17-01-2011 09:39

Trích:

USY viết (Bài viết 77365)
Em xin đóng góp 1 chuyện vui có thật.
Chuyện là có 1 hôm, ông Nga ở cơ quan ngày xưa của em mặt mũi nghiêm trọng hỏi nhỏ em: "Cơm lễ" là gì? Em nghĩ mãi 3 ngày không ra, kể cả tra các kiểu từ điển tiếng Việt từ cuốn của cụ Đào Duy Anh cho đến cuốn của cháu chắt cụ.
Mãi sau em bực quá, mới hỏi lại: ông thấy cụm từ này ở đâu? Ông ta trả lời là ở trong giấy mời đi dự chiêu đãi.
Liệu các bác có suy luận ra đó là từ gì không ạ?:emoticon-0102-bigsm

Thêm 1 câu đó vui nữa (cái này em "cóp" của 1 mem cũ NNN: từ "bát phố", rồi sau là "bát tiết (học)" có gốc từ đâu?

Từ "Cơm lễ" chắc là dịch từ "Праздничный обед", người Nga hay dùng từ này.
Xin góp thêm một chuyện có thật như tiếu lâm về người Nga học tiếng Việt. Khi tôi mới học tiếng Nga, có tiếp xúc với 1 cậu SV Nga ở trường Phương Đông, câu ta kể lại 1 tháng thực tập ở Hà Nội:

Ra chợ, anh ta thấy có người nói: "Chuối hôm nay rẻ thối", về nhà hỏi: "Rẻ thối là gì?". Các bạn VN trả lời: Có nghĩa là rất rẻ.
Một tháng sau, trên sân ga, vẫy tay chia tay mọi người, anh ta gào lên: "Tôi nhớ các bạn thối ra đấy!".

Còn xuất xứ của cụm từ "bát phố", "bát tiết (học)" xin chờ ý kiến mọi người.

hungmgmi 17-01-2011 11:20

Bát tiết...he he, bát tiết canh chứ nhỉ, thèm quá:
Tứ thời bát tiết canh chung thủy
Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.
:emoticon-0102-bigsm

nguyentiendungrus_83 17-01-2011 12:54

Trích:

Dmitri Tran viết (Bài viết 77368)
Từ "Cơm lễ" chắc là dịch từ "Праздничный обед", người Nga hay dùng từ này.
Còn xuất xứ của cụm từ "bát phố", "bát tiết (học)" xin chờ ý kiến mọi người.

Theo em từ này chỉ đúng với Người Nga thôi. Tại vì từ Праздничный là thuộc về ngày lễ ngày ngày tết, tất nhiên có thể áp dụng đc với tương đương tiếng việt nếu là "cơm lễ" vào những ngày này. Nhưng nếu là cơm cúng ngày giỗ thì sao? Đó cũng được coi là cơm lễ chứ! Tại chữ lễ ở đây theo em hiểu là cúng lễ. Vậy từ bác đưa ra có phù hợp không? Hơn nữa từ обед là từ bữa cơm trưa. Nhưng nhiều khi ở Việt nam người ta là cơm lễ vào buổi tối, hay đêm thì sao? Vậy đã chuẩn xác về mặt ý nghĩa chưa? Như vậy theo em đc biết : từ "cơm lễ" là một loại từ đặc thù nhằm truyền đạt lại việc làm cơm cúng lễ vào các ngày lễ tết, hay ngày mất của người thân, nghi lễ này đc coi là một thực thể văn hóa đặc biệt chỉ có ở nước việt nam hay một số nước châu Á khác, mà ở Nga thì không có. Vậy để dịch cho từ này, em nghĩ phải tùy trường hợp, Ta áp dụng phương pháp dịch phiên âm + dịch giải thích từ là phiên âm Комлэ chẳng hạn rồi mở ngoặc bên cạnh : nếu ngày lễ tết thật thì ta có thể nói như bác dimitri tran nhưng em đề nghị phải bổ sung, thêm для жертвоприношения на алтарь предков hoặc không thì là приготовленные блюда для жертвоприношения на алтарь предков


-Phương pháp dịch này thường đc áp dụng dịch các từ đặc thù mô tả thực thể văn hóa. Em lấy ví dụ trong tiếng nga có từ Самовар. Đây là một từ đặc thù trong văn hóa nga mà việt nam không có. Với từ này người ta đã áp dụng các cách dịch như sau:
-giải thích : ấm lò
-phiên âm: xa-mo-va nhưng phải thêm từ chỉ chủng loại : ấm xa-mo-va để người chưa từng tiếp xúc với nền văn hóa Nga cũng có thể hiểu đc. Hay thậm chí có thể dịch ấm lò xa-mo-va
Ý em là với những từ hay ngữ đặc thù kiểu này ta phải áp dụng cả hai phương pháp để giúp người tiếp nhận thông tin có thể hiểu thông tin một cách tốt nhất. :emoticon-0150-hands

Đây chỉ là một ví dụ điển hình, còn rất nhiều ví dụ khác. :emoticon-0150-hands

Dmitri Tran 17-01-2011 19:09

Trích:

nguyentiendungrus_83 viết (Bài viết 77378)
Theo em từ này chỉ đúng với Người Nga thôi. Tại vì từ Праздничный là thuộc về ngày lễ ngày ngày tết, tất nhiên có thể áp dụng đc với tương đương tiếng việt nếu là "cơm lễ" vào những ngày này. Nhưng nếu là cơm cúng ngày giỗ thì sao? Đó cũng được coi là cơm lễ chứ! Tại chữ lễ ở đây theo em hiểu là cúng lễ. Vậy từ bác đưa ra có phù hợp không? ...
. Vậy để dịch cho từ này, em nghĩ phải tùy trường hợp, Ta áp dụng phương pháp dịch phiên âm + dịch giải thích từ là phiên âm Комлэ chẳng hạn rồi mở ngoặc bên cạnh : nếu ngày lễ tết thật thì ta có thể nói như bác dimitri tran nhưng em đề nghị phải bổ sung, thêm для жертвоприношения на алтарь предков hoặc không thì là приготовленные блюда для для жертвоприношения на алтарь предков

-Phương pháp dịch này thường đc áp dụng dịch các từ đặc thù mô tả thực thể văn hóa. Em lấy ví dụ trong tiếng nga có từ Самовар. Đây là một từ đặc thù trong văn hóa nga mà việt nam không có. Với từ này người ta đã áp dụng các cách dịch như sau:
-giải thích : ấm lò
-phiên âm: xa-mo-va nhưng phải thêm từ chỉ chủng loại : ấm xa-mo-va để người chưa từng tiếp xúc với nền văn hóa Nga cũng có thể hiểu đc. Hay thậm chí có thể dịch ấm lò xa-mo-va
Ý em là với những từ hay ngữ đặc thù kiểu này ta phải áp dụng cả hai phương pháp để giúp người tiếp nhận thông tin có thể hiểu thông tin một cách tốt nhất. :emoticon-0150-hands

Đây chỉ là một ví dụ điển hình, còn rất nhiều ví dụ khác. :emoticon-0150-hands

Tiếng Nga không dùng kiễu giải nghĩa như vậy, có những từ sau để chỉ:
Праздничный обед - bữa cơm nhân ngày lễ hội có t/c vui mừng.
Поминки - đồ vật hoặc bữa cơm tưởng niệm, như kỵ giỗ của ta.
Приношение - đồ vật, nghi lễ dùng tế thần trong các lễ tôn giáo,
Tôi dùng trường hợp đầu vớ câu "Chắc là..." vì nó phổ thông nhất, còn có đúng với bối cảnh hay không thì tác giả câu hỏi biết.

Về phương pháp dịch, để tránh nhầm lẫn xin bạn miễn bàn, và ta không nên "изобретать велосипед". Khi dịch, ngoài hiểu biết của mình, các quy tắc dịch thuật phải căn cứ vào Quy định của Viện KHXH Việt Nam nếu dịch Nga-Việt, và của Viện Phương đông thuộc Viện HLKH Nga nếu dịch Việt-Nga.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:43.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.