Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn hóa (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=29)
-   -   Dàn hợp xướng thần kỳ (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=5049)

danngoc 31-01-2012 10:37

Nhưng kẻ thù của Sholokhov đã không chịu buông vũ khí. Cuộc tranh cãi về Sông Đông êm đềm tại Ủy ban Giải thưởng Stalin là một bãi chiến trường. Nhà làm phim vĩ đại Alexander Dovzhenko, người đã tạo ra một trong những kiệt tác của phim câm Xô viết, phim Đất cày (1930), và là một trong những người được Stalin quý mến (ông được nhận Giải Stalin cho bộ phim Shchors của ông về Ukraina trong Nội chiến), đã đưa ra một bài phát biểu xúc động. “Tôi đã đọc cuốn Sông Đông êm đềm với cảm giác vô cùng bất bình trong lòng… Tôi có thể tóm tắt cảm tưởng của mình như thế này: đã hàng thế kỷ sông Đông êm đềm sống, nam nữ Cô-dắc cùng cưỡi ngựa, uống rượu và ca hát… cuộc đời của họ thật vui tươi, thơm ngọt, ổn định và ấm áp. Cách mạng tới, chế độ Xô viết thống trị và người Bolshevik phá hủy sông Đông êm đềm, đuổi mọi người đi, đẩy anh đánh nhau với em, cha đánh nhau với con, chồng đánh nhau với vợ, làm đất nước suy kiệt… tiêm nhiễm cho nó bệnh lậu và bệnh giang mai, gieo xuống những bẩn thỉu, giận dữ và đẩy những con người mạnh khỏe có cá tính trở thành thổ phỉ… Và rồi nó chấm hết. Thật là một sai lầm to lớn trong quan niệm của tác giả”. *

Các thành viên khác của Ủy ban cũng lên tiếng chống lại Sông Đông êm đềm, nhưng lời chê trách nặng nhất về bộ tiểu thuyết là của Fadeyev, chủ tịch Hội Nhà văn Liên Xô khi ấy (có tiếng là người Stalin được tin cậy): “Ý kiến cá nhân của tôi là nó không thể hiện chiến thắng của lý tưởng Stalinnít”. Sau này Fadeyev thú nhận với Shlokhov rằng mình đã bỏ phiếu loại ông ra. Nhưng Sholokhov, như chúng ta biết, vẫn được nhận giải thưởng và xuất hiện trên trang bìa tờ Pravda. Tại sao?


* Trích trong: Osipov, Tainaia zhizn’, tr. 224

danngoc 31-01-2012 10:40

Câu trả lời phần nào nằm ở thực tế rằng Stalin có lẽ đã khuyến khích nhà văn không chỉ vì Sông Đông êm đềm mà cũng còn vì phần một bộ tiểu thuyết thứ hai của ông, sẽ được xuất bản sau đó. Đất vỡ hoang viết về tập thể hóa, tức là một đề tài rất quan trọng đối với đất nước và với cá nhân Stalin. Ý kiến của Stalin về bộ sách này phản ánh trong một lá thư gửi thủ hạ của mình là Lazar Kaganovich, đề ngày 7/6/1932: “Một tác phẩm thú vị! Anh có thể thấy rằng Sholokhov đã nghiên cứu kỹ các nông trang tập thể bên sông Đông. Tôi tin rằng Sholokhov có một tài năng sáng tạo vĩ đại. Bên cạnh đó, anh ta là một nhà văn rất tận tâm: anh ta viết về những chuyện mà anh ta biết rất rõ”. * (Tức Stalin đã thừa nhận rõ hơn rằng Sholokhov không phải một kẻ đạo văn).

Nhưng điều đó chưa phải là tất cả. Dường như rằng Stalin đang thưởng cho hoạt động của Sholokhov, về những việc mà thời ấy rất ít người được biết. Chúng vẫn là một bí mật suốt nhiều năm liền và mặc dù lần đầu tiên chúng được đề cập đến bởi Nikita Khrushchev năm 1963, chi tiết của câu chuyện không bao giờ lộ ra cho tới mãi thập niên 1990, sau khi đế chế Xô viết sụp đổ, khi thư từ giữa Sholokhov và Stalin được giải mật.


* Pisatel’ i vozhd’. Perepiska M. A. Sholokhova s I. V. Stalinym. 1931-1950 gody. Sbornik dokumentov iz lichnogo arkhiva I. V. Stalina [Nhà văn và vị lãnh tụ. Thư từ giữa M. A. Sholokhov và I. V. Stalin, 1931-1950. Tập hợp các tài liệu từ lưu trữ cá nhân của Stalin] (Moscow, 1997), tr. 17

danngoc 31-01-2012 10:43

Khi dịch đến đoạn này, tôi không khỏi nêu một câu hỏi: phải chăng những người dịch Sông Đông êm đềm ra tiếng Việt trước đây đã có làm sai ý của tác giả chút ít khi sử dụng những đại từ nhân xưng rất tùy tiện, có khi là ác ý, một điều mà trong tiếng Nga không thể hiện cụ thể?

danngoc 01-02-2012 12:29

Mười lăm lá thư và giấy tay của Sholokhov gửi Stalin, và một lá thư với hai bức điện tín của Stalin gửi Sholokhov đọc lên nghe như một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, chỉ khác đây là câu chuyện thật (mặc dù chưa hoàn chỉnh) về quan hệ giữa vị lãnh tụ và nhà văn xuyên qua những sự kiện bi thảm nhất thời kỳ ấy, tập thể hóa và Đại Khủng bố.

Sholokhov, chưa đầy ba mươi, gửi những lá thư đầu tiên cho Stalin thời gian từ 1931-1933, trong nỗi thống khổ về cơn khủng hoảng nông nghiệp gây ra bởi tập thể hóa cưỡng bức. Để cung cấp lương thực cho thành thị, chính phủ tịch thu tất cả ngũ cốc mà nông trang viên kolkhoz có được. Sholokhov đi thẳng vào mô tả tình hình, với sự bộc trực và thẳng thắn hiếm có: “Ngay lúc này đây các nông trang viên và nông dân cá thể đang đói đến chết; người lớn và trẻ em đang phát phù và ăn những thứ mà con người không bao giờ ăn, bắt đầu bằng xác thối và kết thúc bằng vỏ sồi và mọi thứ rễ dại đầm lầy”. * Trong một lá thư khác ông viết, “Thật quá cay đắng, thưa đồng chí Stalin! Trái tim ta rỉ máu khi ta chứng kiến điều này bằng chính cặp mắt mình”.

Sholokhov mô tả “những ‘phương pháp’ ghê tởm để tra tấn, đánh đập và làm nhục” được sử dụng để tìm ra nơi nông dân đang giấu ngũ cốc của họ: “Tại nông trang tập thể Vashchaevsk, họ đã đổ dầu hỏa vào hai chân phụ nữ và vạt váy họ, châm lửa đốt rồi dập tắt: ‘Mày có nói tao biết hầm chôn ở đâu không? Tao sẽ đốt lần nữa nếu mày không nói’.”


* Đoạn này và các đoạn trích sau đây từ những lá thư của Sholokhov lấy trong Pisatel’ i vozhd’, tr. 24, 29, 49, 58, 68, 102-103

danngoc 01-02-2012 12:30

Có rất nhiều ví dụ trần trụi về tra tấn, hăm dọa và bạo lực trong các lá thư của Sholokhov gửi Stalin; ông dồn chúng lại, như một nhà văn giàu kinh nghiệm, rồi ép Stalin đáng kể bằng cách dọa sẽ tố cáo chế độ Xô viết trong cuốn sách mới của mình: “Tôi quyết định rằng viết cho ông thì tốt hơn là sử dụng các tư liệu này cho tập cuối của Đất vỡ hoang”. (Ta phải rất chắc chắn về tài năng của chính mình thì mới có thể viết như vậy cho Stalin; một kẻ đạo văn bình thường khó mà dũng cảm như thế được).

Stalin đã phản ứng ra sao? Sau này Khrushchev nhớ lại là Stalin, bất cứ lúc nào được nghe về điều gì đó sai lầm, đều phát cáu, thậm chí cả khi ông biết rằng tình hình phải được sửa chữa: ông sẽ đồng ý nhưng tức giận. Việc ấp ủ phức tạp những cảm xúc mâu thuẫn này có thể thấy trong thư của Stalin trả lời Sholokhov (ngày 6/5/1933), trong đó ông cám ơn nhà văn vì những lá thư cảnh báo của ông, “do chúng đã kéo màng vẩy bao bọc công tác đảng ở Liên Xô chúng ta, tiết lộ rằng đôi khi các công nhân của chúng ta, vì muốn ngăn chặn kẻ thù, đã tình cờ đánh trúng bạn bè mình và thậm chí còn trở nên ác dâm”.

Nhưng Stalin cũng chỉ ra cho Sholokhov rằng những nông dân mà nhà văn muốn bảo vệ (Stalin mỉa mai nói họ là “những người thu hoạch ngũ cốc đáng kính”) theo quan điểm của ông thì là những kẻ phá hoại đang cố gắng từ chối bánh mì cho công nhân và Hồng quân và rằng “những người thu hoạch ngũ cốc đáng kính đó thực tế đang dấy lên một cuộc chiến ‘thầm lặng’ chống lại luật lệ Xô viết. Một cuộc chiến chết đói, đồng chí Sholokhov thân mến ạ”. Đồng thời, Stalin ra lệnh cho gửi thực phẩm tới các đồng hương đang đói khát của Sholokhov. Đó là một bước điển hình của Stalin, có những nhượng bộ nho nhỏ tạm thời trong khi cơ bản vẫn thúc tới theo kế hoạch của mình.

Sholokhov khẩn cầu Stalin bằng một lá thư dài khác ngày 16/2/1938, tại đỉnh điểm của Đại Khủng bố. Nhà văn đang bị dọa sẽ bị bắt vì là kẻ thù của nhân dân (một thành viên bị bắt của một dàn đồng ca Cô-dắc khai lúc ngồi tù rằng Sholokhov đã ra lệnh cho anh ta ám sát một quan chức chính phủ khi dàn đồng ca trình diễn tại Moscow), nhưng Sholokhov đã dùng hầu hết lá thư để bảo vệ cho các bạn mình đang ngồi tù và bị tra tấn: “Thưa đồng chí Stalin! Phương pháp điều tra này mà theo đó tù nhân bị trao vào tay những điều tra viên không bị khống chế giới hạn là hết sức thối nát… Chúng ta phải chấm dứt cái hệ thống tra tấn đáng xấu hổ đang được sử dụng với các tù nhân”.

danngoc 01-02-2012 12:31

Sholokhov được gọi tới Điện Kremlin để gặp Stalin và tại đó, trước mặt người đứng đầu đáng sợ của NKVD Nikolai Yezhov, ông đã kể một chuyện cười được lưu truyền. Một con thỏ đang cắm đầu chạy được hỏi là tại sao nó lại chạy.

“Tao sợ chúng đóng móng tao mất!”

“Chẳng ai đi đóng móng cho thỏ cả, người ta đóng móng lạc đà thôi!”

“Chờ đến lúc chúng bắt được mày và đóng móng thì đi mà cãi mày không phải lạc đà!”

Kể cho nhà độc tài một câu chuyện hài mang tính chính trị giống như đi bắt cá mà không có lưới vậy. Như sau này Sholokhov nhớ lại, Yezhov đã phá ra cười; Stalin không hưởng ứng lắm và mỉa mai nói, “Người ta bảo anh uống nhiều lắm, phải không đồng chí Sholokhov?” Sholokhov tiếp với cùng cái giọng pha trò như vậy, “Sống như vậy, thưa đồng chí Stalin, thì phải uống mới được”.

Không có lý do gì để phủ nhận chuyện này: nhà văn được đem tới Kremlin từ một nhà hàng ở Moscow nơi ông đang uống túy lúy với Fadeyev, người cũng thích say sưa. Stalin tha thứ cho cả hai người. Bí thư riêng của ông, Alexander Poskrebyshev, phản ứng gay gắt hơn nhiều trước sự xuất hiện của nhà văn say rượu tại Kremlin. “Say khướt phải không, đồ hề ngốc nghếch?” Trước khi Sholokhov ra gặp Stalin, vị bí thư dúi ông vào dưới vòi sen nóng, đưa ông cái sơmi sạch có cổ áo hồ trắng và rắc nước hoa cologne lên người để che bớt mùi vodka.

danngoc 02-02-2012 07:46

Stalin, người nói chung không thích những hành vi gọi là vô đạo đức, đã bỏ qua nhiều hơn là chỉ mỗi chuyện Sholokhov uống rượu. Tại thời điểm cuộc trò chuyện này, ông biết – và ông biết rằng Yezhov cũng biết – rằng người vợ xinh đẹp ba mươi tư tuổi Yevgenia (“Zhenya”) Khayutina-Yezhova của ông trùm NKVD, đã là tình nhân của Sholokhov từ nhiều tháng nay.

Một tiểu thuyết gia táo bạo nhất hẳn đã do dự trước một tình tiết như vậy, nhưng thực tế của nó đã được xác nhận bởi các tài liệu mật được giải mật năm 2001. Được mệnh danh Chính ủy Thép bởi bạn bè và Thằng lùn khát máu bởi kẻ thù, Yezhov được đưa lên chịu trách nhiệm thực hiện Đại Khủng bố ở tuổi bốn mươi mốt, một chính sách được gọi là yezhovshchina. Ông được nhớ đến như một gã ác dâm và một con quái vật, nhưng Nadezhda Mandelstam và Lili Brik, người biết rõ cá nhân ông vào những thời “chay tịnh” hơn, lại nghĩ ông là người “khá dễ chịu”. * Ông cũng là người song tính luyến ái, và cuộc hôn nhân giữa ông với Yevgenia Khayutina, một phụ nữ độc lập, đầy sinh lực và đa tình (trong vô số tình nhân của bà này có cả nhà văn Babel) là khá cởi mở. *

Người mai mối – không biết có cố ý hay không – cho mối quan hệ này là Fadeyev ở đâu cũng có mặt, khi Sholokhov tới Moscow đã đi cùng ông này đến thăm Khayutina tháng 8/1938. Cả ba ăn trưa tại Khách sạn Nasional, nơi Sholokhov trọ lại. Ngày hôm sau Khayutina quay lại gặp Sholokhov tại Nasional, nhưng đi một mình. Bản ghi tốc ký do công an mật thực hiện trong căn phòng bị gài bọ nghe lén của Sholokhov lưu lại không chỉ cuộc nói chuyện (“Chúng ta có một mối tình cam go, Zhenya”, “Em sợ”) mà còn cả tiếng động (“đi vào phòng tắm”, “hôn”, “nằm xuống”). ***


* Lili Brik qua trò chuyện với tác giả; Nadezhda Mandelstam, Vospominaniia, tr. 342
** Xem B. V. Sokolov, Narkomy strakha [Vị Dân ủy đáng sợ] (Moscow, 2001), tr. 107
*** Trích trong: Vitalii Shentalinskii, Donos na Sokrata [Tố giác ngài Socrates] (Moscow, 2001), tr. 422

danngoc 02-02-2012 07:46

Khayutina có lý do hợp lý để sợ hãi. Thật lạ là vợ của người đứng đầu công an mật lại không biết rằng các căn phòng trong khách sạn Nasional, một trong những khách sạn nhiều người đến nhất Moscow, có gài bọ. Dù sao đi nữa, bản tốc ký ngày hôm sau đã ở trên bàn làm việc của Yezhov; ông ta mang nó về nhà nghỉ ngoại ô ngay đêm đó và đập nó vào mặt vợ mình (có một người bạn nữ chứng kiến), nhưng không làm gì hơn. Vị dân ủy mới đây còn quyền hành vô song (Babel thường nói, “Chỉ cần nghe Yezhov gọi tên thôi là các thành viên Ủy ban Trung Ương cũng phát vãi đái”) đã bắt đầu cảm thấy đất dưới chân mình đang trượt dần đi.

Stalin có lẽ quyết định rằng Đại Khủng bố đã đạt được mục đích của nó và đã có thể giảm bớt áp lực. Đó là lý do tại sao ông tỏ ra đồng ý với sự phản đối đầy cảm động của Sholokhov đối với sự vô luật pháp của công an mật. Một nghị quyết đặc biệt của Hội đồng Dân ủy và Ủy ban Trung Ương ra đời ngày 17/11/1938, “Về việc bắt giữ, ủy quyền giám sát và thủ tục điều tra”, đọc lên nghe như một câu trả lời trực tiếp cho than phiền của Sholokhov: “Các chiến dịch tập thể để tiêu diệt và loại trừ tận gốc rễ những phần từ thù nghịch do các cơ quan của NKVD thực hiện năm 1937-1938, với quá trình điều tra và xét xử quá đơn giản, đã không thể tránh khỏi dẫn tới một số sai sót và lệch lạc cơ bản trong công tác của các cơ quan của NKVD và Văn phòng Ủy viên công tố”.

Giờ đây Stalin đem Yezhov ra làm vật tế thần. Khayutina uống một liều thuốc ngủ chết người ngày 21/11/1938, và hai ngày sau Yezhov đưa Stalin đơn từ chức thủ trưởng NKVD. Khi Thằng lùn khát máu bị bắt sáu tuần sau đó, ông bị kết tội là “mưu phản và có quan hệ gián điệp” với Ba Lan, Đức, Anh và Nhật, nhưng còn gồm cả tội đầu độc vợ mình: các nhân viên điều tra dệt ra một giả thuyết rằng Yezhov, Khayutina và tình nhân của bà Babel đã lên kế hoạch ám sát Stalin và rằng Yezhov giết vợ để xóa dấu vết của âm mưu này.

Yezhov bị hành quyết ngày 4/2/1940, tám ngày sau Babel và hai ngày sau khi hành quyết một tình nhân khác của Khayutina, Koltsov. Người tình thứ ba của bà, Sholokhov, có một số phận khác đang chờ đợi: chỉ nhỉnh hơn một năm sau, ông trở thành người đoạt Giải thưởng Stalin – không chỉ vì là một nhà văn (vì có hai bộ tiểu thuyết đồng thời) mà cũng vì là một nhân vật công chúng trong vai trò truyền thống của văn hóa Nga như “người bảo vệ nhân dân” (Stalin đã bảo ông, “Những bức thư của anh không phải văn học, chúng là thuần túy chính trị”), và thậm chí còn vì có cá tính đặc sắc.

danngoc 03-02-2012 10:06

Nếu Sholokhov đang đu dây trong quan hệ của mình với Stalin, thì Sergei Eisenstein, người đoạt Giải Stalin vì bộ phim nổi tiếng năm 1938 của ông Alexander Nevsky, cũng vậy.

Eisenstein người tầm vóc và tròn trịa (một số người mô tả ông như không có xương), cặp chân chắc mập, mái tóc mỏng xòe quanh khoanh đầu hói, cùng một nụ cười mỉa mai thường trực trên môi. Thoạt nhìn ban đầu ông tạo ra ấn tượng là người thoải mái, nhưng nghĩ thế thật sai lầm: Eisenstein có tư tưởng tình dục mâu thuẫn vốn là một người hay dày vò đau khổ từ tuổi thanh niên với mối quan tâm tới ác dâm và tra tấn, cũng là một người “bất bình thường” (theo lời bạn ông, nhà làm phim Mikhail Romm) có sở thích “vẽ tranh khiêu dâm trước mặt phụ nữ”. * Nhưng Eisenstein, bị bệnh tim, có một cuộc sống điều độ kỷ luật khác thường và không hề uống rượu hút thuốc; thói xấu duy nhất của ông được biết tới là ham thích đồ ngọt rất trẻ con.

Alexander Nevsky là một tác phẩm sáng chói về hình thức nhưng lạnh lẽo. Thực hiện theo đề nghị của cá nhân Stalin, nó phải hoàn tất càng sớm càng tốt, bởi vậy cảnh trung tâm của trận đánh giữa vị Công tước thế kỷ mười ba Alexander Nevsky và các hiệp sĩ Teutonic trên mặt hồ Peipus đóng băng phải được quay vào mùa hè, tại khu hậu cảnh của Mosfilm, mặt nhựa đường được phủ một lớp dày thủy tinh lỏng và rắc đá phấn vụn để tạo cảnh mùa đông.

Trên phong cảnh đó Eisenstein tung hứng bộ phim như thể nó là một ván cờ nhỏ với giới hạn yêu cầu của Stalin, lặp theo lời của Alexander Nevsky: “Kẻ nào đến gặp chúng ta với thanh kiếm, hắn sẽ chết vì kiếm, đó là tôn chỉ của đất Nga này”. (Eisenstein dự định kết thúc phim với cảnh cái chết của Nevsky khi ông từ chỗ Kim Trướng trở về, nhưng Stalin không đồng ý: “Một vị công tước tốt như vậy không thể chết”).


* Mikhail Romm, Kak v kino. Ustnye rasskazy [Sở thích trong điện ảnh. Những câu chuyện kể miệng] (Nizhny Novgorod, 2003), tr. 136

danngoc 03-02-2012 10:07

Bộ phim về cơ bản diễn đạt được những gì trong câu khẩu hiệu cuối phim, nhưng năm 1939 khi Stalin ký hiệp ước không xâm phạm với Hitler và bọn Quốc xã trở thành “bọn bạn hữu đáng nguyền rủa”, Nevsky biến mất khỏi màn ảnh. Điều này khiến chuyện Eisenstein và cả Nikolai Cherkasov, người đóng vai Nevsky trong phim, cùng hai thành viên đoàn làm phim được nhận giải thưởng vì bộ phim vào tháng 3/1941, khi hiệp ước trên vẫn chính thức có hiệu lực, trở nên hết sức có ý nghĩa.

Thật thú vị, tại một buổi chiếu riêng phim Alexander Nevsky ở Moscow cho các vị khách đến từ Mỹ - nhà văn Erskine Caldwell và nhiếp ảnh gia Margaret Bourke-White – vào giữa tháng Sáu, một tuần trước khi bọn Quốc xã xâm lược Liên bang Xô viết, Eisenstein tự tin tiên đoán rằng bộ phim sẽ sớm được chiếu rộng rãi trở lại.

Trực giác chính trị của nhà đạo diễn thật rất đúng điệu. Nhưng có lẽ không phải với Stalin, bởi cuộc tấn công của bọn tân-Teutonic, được báo trước đầy sinh động trong bộ phim của Eisenstein, đã nổ ra hoàn toàn bất ngờ trong thực tế. Hậu quả việc tính nhầm của Stalin thật tai họa: quân đội Đức đã tấn công ngày 22/6/1941, tràn vào Liên Xô và đến được Moscow vào tháng Mười năm đó.

Cùng với phần còn lại của đất nước, những công nhân của “mặt trận văn hóa” bị động viên ra trận chống quân thù, thông qua cách ấy chứng tỏ sự hữu ích của họ đối với Tổ quốc. Bản thánh ca ái quốc Sergei Prokofiev viết cho Alexander Nevsky được đánh lên ở khắp nơi: “Vùng lên, hỡi nhân dân Nga, vì trận chiến vinh quang, trận chiến chết chóc!” Bản thân nhà soạn nhạc cũng thích bài thánh ca, và thế là công bằng. Nhưng năm 1941, Stalin đã không công nhận giải thưởng cho tác phẩm của Prokofiev. Vào thời điểm đó (và cả ngày nay) chuyện này trông như một trừng phạt vì lý do gì đó, đặc biệt khi người cạnh tranh chính của Prokofiev, Shostakovich (trẻ hơn mười lăm tuổi), không chỉ được nhận Giải thưởng Stalin cho bản Ngũ tấu piano sáng tác năm 1940 mà ảnh của ông còn được in lên đầu, rõ ràng không theo thứ tự bảng chữ cái, trong loạt ảnh sáu người đoạn giải “quan trọng” trên trang bìa tờ Pravda.

danngoc 04-02-2012 14:43

Câu chuyện về giải thưởng của Shostakovich thật rắc rối. Chúng ta nhớ rằng năm 1936 nhà soạn nhạc trẻ và vở opera của ông Quý bà Macbeth tỉnh Mtensk đã bị đem làm vật tế thần chủ yếu trong chiến dịch chống chủ nghĩa hình thức của Stalin, vốn dự tính nhằm xác định phạm vi giới hạn của nền nghệ thuật Xô viết. Thực chất, Stalin đã thanh lọc tác phẩm của Shostakovich khỏi ranh giới của chủ nghĩa hiện thực xã hội. Nhưng vào cuối năm 1937, nhà soạn nhạc đã được phục hồi lại qua bản Giao hưởng số 5 của mình.

Bản Giao hưởng số 5 có thể mô tả là một bản giao hưởng-tiểu thuyết (cũng như Alexander Nevsky có thể mô tả là một phim-opera). Một so sánh với Sông Đông êm đềm ở đây có vẻ là thích hợp. Cả hai tác phẩm đều có mâu thuẫn tư tưởng sâu sắc và tại những thời điểm khác nhau đã được xem là tác phẩm Xô viết hoặc chống Xô viết. Chính bản chất âm nhạc giao hưởng cho phép ta những cách hiểu hết sức khác nhau. Tác phẩm quan trọng này của Shostakovich là một cái bình thần kỳ: mỗi người nghe đổ đầy vào nó tưởng tượng của mình theo như anh ta muốn. Đó là lý do tại sao Giao hưởng số 5 với nhiều người sẽ là sự phản xạ vỡ nát nhất về Đại Khủng bố, trong khi Sông Đông êm đềm sẽ tranh đua với Bác sĩ Zhivago của Pasternak là mô tả sinh động nhất về nước Nga trong Thế Chiến thứ I và Nội chiến.
Lạ lùng thay, trong khi trao giải cho Sholokhov vì Sông Đông êm đềm, Stalin lại chọn ra trong các tác phẩm của Shostakovich không phải bản Giao hưởng số 5 mà ông hiển nhiên đã bằng lòng, mà là bản Ngũ tấu piano, vốn không phù hợp chút nào thậm chí với biên độ khá rộng các tác phẩm hiện thực xã hội (từ Sông Đông êm đềm cho tới Alexander Nevsky, với các sáng tác của Mukhina và Gerasimov nằm ở giữa) mà ông giới thiệu là những “hình mẫu”.

Nhạc giao hưởng, trong khi trong thứ bậc loại hình chính thức không được xếp cao như thể loại opera được Stalin yêu thích và không thuộc loại được chấp thuận đưa vào chương trình âm nhạc, vẫn là những tác phẩm sử thi, mà vì là một người yêu thích truyền thống cổ điển Nga nên Stalin vẫn ưa thích. Thay vào đó, bản Ngũ tấu piano là một tác phẩm thính phòng tinh tế theo phong cách tân cổ điển, với một cái gật đầu rõ ràng về phía truyền thống phương Tây mà hiện thời như chúng ta biết, đã được chỉ ra cho Stalin bởi những kẻ gièm pha Shostakovich trong số các quan chức âm nhạc Xô viết. *

Trong văn học, một tác phẩm tương tự với bản Ngũ tấu piano của Shostakovich chỉ có thể là bài thơ mới của Khodasevich hay một truyện ngắn của Nabokov, còn trong nghệ thuật – là một bức vẽ của Tatlin. Không thứ gì thuộc loại này có thể được ca ngợi trên trang bìa của tờ Pravda – cả khi ấy lẫn sau này.

Vậy điều gì đã thu hút Stalin trong bản Ngũ tấu? Giá trị “công dân” và chính trị của nó hẳn có vẻ là con số không đối với ông vào thời điểm ấy. Chẳng lẽ ông bị quyến rũ bởi bề sâu tinh thần gò bó mang tính tân-Bach của nó, và kỹ thuật điêu luyện không chê vào đâu được của nó? Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán.

Nhưng chúng ta có thể cho rằng Stalin đã không hối tiếc với sự nâng đỡ hào phóng của mình cho Shostakovich khi ông được thông báo rằng vào cuối năm 1941, nhà soạn nhạc đã hoàn tất bản Giao hưởng số 7 viết cho Leningrad, lúc này đang trong vòng vây của bọn Quốc xã. Số phận của bản nhạc này chưa hề có tiền lệ. Vội vã được biểu diễn tháng 3/1942 (ban đầu ở Kuibyshev và sau đó là Moscow, có nhà soạn nhạc tham dự ở cả hai buổi công diễn, sau khi ông được đưa khỏi vòng phong tỏa quanh Leningrad trên một máy bay đặc biệt theo lệnh của Stalin), bản Giao hưởng số 7 đáp ứng ngay lấy tình hình chính trị, điều mà trong lịch sử âm nhạc giao hưởng chưa bao giờ từng xảy ra.


* Xem Istochnik, 5 (1995), tr. 156-158

danngoc 04-02-2012 14:44

Giống như Giao hưởng số 5, bản giao hưởng-tiểu thuyết này có ngữ nghĩa rất nước đôi. Phần kết mạnh mẽ của Giao hưởng số 5 có thể hiểu là một hoạt cảnh thẳng thắn của niềm vui quần chúng hay như một cố gắng mô tả đầy mỉa mai vẻ hoan hỉ cưỡng ép và lòng nhiệt tình “vui như hội” bắt buộc phải có (dùng từ theo ý của Bakhtin) điển hình của thời đại Stalin. Phần thứ nhất của Giao hưởng số 7 cũng cho ta cơ hội có những cách hiểu trái ngược như vậy: phải chăng hành khúc dạo đầu dữ dội với mười một biến tấu, biểu diễn với độ mạnh dần không hề lay chuyển, nghe như thác đổ (“khúc xâm lược”), là một mô tả về cuộc tấn công của bọn Quốc xã vào Liên bang Xô viết như lời báo chí thế giới tức khắc tuyên bố, hay đó là một phản chiếu về sự bành trướng âm thầm của bộ máy đàn áp thời Stalin, như lời bản thân nhà soạn nhạc đã ám chỉ đến trong một cuộc trò chuyện với các bạn thân? *

Bản chất đa nghĩa của bản Giao hưởng số 7 được làm mạnh thêm bởi mô típ tôn giáo nằm trong phần ẩn nghĩa: ban đầu Shostakovich (bị ảnh hưởng bởi bản Giao hưởng Thánh ca [Symphonie des Psaumes] của Stravinsky mà ông khâm phục hết sức nồng nhiệt đến nỗi khi ông bay khỏi Leningrad, bản phối piano ông làm cho tác phẩm vĩ đại này là một trong số ít ỏi đồ đạc ông cầm theo người) còn dự định sử dụng một dàn hợp xướng để ngâm lên những trích đoạn trong Thánh ca của David.

Thính giả Nga cực kỳ nhạy cảm với những bội âm tôn giáo kiểu đó và họ khóc trong mỗi buổi diễn tại Liên Xô: trong những năm tháng chiến tranh khó khăn âm nhạc của Shostakovich tạo một tác động thanh tẩy, và phòng hòa nhạc thay thế cho nhà thờ, vốn bị bài trừ khỏi đời sống xã hội. Một sự kiện mang tính tượng trưng quan trọng, đã đẩy mạnh sự biến đổi của giao hưởng thành một tác phẩm cận-tôn giáo, là buổi trình diễn nó tại Leningrad. Buổi trình diễn này được tổ chức theo lệnh của Stalin và đạt được hiệu quả to lớn như một chiến dịch quân sự thực thụ, diễn ra ngày 9/8/1942 bởi những nhạc công đói khát của Leningrad, đến lúc đó đã được xem là một thành phố liệt sĩ anh hùng.

Với phương Tây dân chủ, vốn vì mục tiêu chiến thắng Hitler đã từ bỏ các thành kiến bài Bolshevik của mình khi bước vào chung một khối đồng minh “không thánh thiêng” với Stalin, vai trò chính trị của Giao hưởng số 7 được đánh giá cao sau lần phát thanh quốc gia buổi công diễn trên radio của nó tại New York ngày 19/7/1942, chỉ huy dàn nhạc là Arturo Toscanini; hàng trăm buổi biểu diễn tại Bắc Mỹ đã nối tiếp sau đó, và sau khi ảnh của ông xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time, Shostakovich, ba mươi sáu tuổi, đã trở thành nhà soạn nhạc “nghiêm túc” đương đại nổi tiếng nhất tại Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ và tại Liên bang Xô viết.

Bản Giao hưởng số 7 là tác phẩm thứ hai của Shostakovich được nhận Giải thưởng Stalin và một lần nữa là hạng nhất. Đó là ngày 11/4/1942, nhỉnh hơn một tháng sau buổi công diễn đầu của nó, một sự vội vàng chưa hề có tiền lệ trong lịch sử Giải thưởng Stalin. Tất nhiên, tình thế địa chính trị khi ấy cũng rất đặc biệt. Trước đấy là trận đánh bảo vệ Moscow, còn phía trước là trận Stalingrad mang tính quyết định. Washington tuyên bố rằng binh lính Đồng minh đang chuẩn bị mở một mặt trận thứ hai tại Châu Âu chống Hitler.

Stalin ít tin tưởng rằng những hứa hẹn ấy sẽ sớm thành hiện thực. Nhưng ông quan tâm tới mọi cây cầu văn hóa nối kết hai phía vốn xa cách về xã hội và chính trị lại gần nhau hơn. Bản Giao hưởng số 7 của Shostakovich là một cơ hội như vậy. Đó là lý do tại sao có lẽ Shostakovich là nhà soạn nhạc sáng giá nhất của Stalin vào thời điểm ấy. Nhưng chúng ta không thể trách Shostakovich vì điều này. Đó là cách mà các quân bài chính trị được chơi khi ấy.


* Xem Znamia, 12 (1996), tr. 164


Hết chương 7

danngoc 08-02-2012 15:09

Chương mười


Trước đám tang của Stalin diễn ra tại Moscow ngày 9/3/1953, thi hài ông được quàn tại Sảnh Đa trụ của Tòa nhà Liên Hiệp. Suốt nhiều ngày trời, những dàn nhạc và nghệ sĩ độc diễn Xô viết xuất sắc nhất thay phiên nhau trình diễn trước công chúng. Các nhạc công bao gồm David Oistrakh, nghệ sĩ violông, và Sviatoslav Richter – nghệ sĩ piano được đưa bằng một chuyến bay đặc biệt từ Tbilisi tới, trên đó ông là hành khách duy nhất, chỗ còn lại trong máy bay chất đầy hoa tươi gửi đến thủ đô phục vụ đám tang.

Richter sau này khăng khăng rằng mặc dù vậy mình luôn ghét Stalin. Không có lý do gì để nghi ngờ ông: cha của ông, một người Nga gốc Đức, đã bị xử bắn tháng 6/1941 vì tội làm gián điệp Quốc xã. Năm 1941, thầy dạy của ông là Genrikh Neihaus (ông này còn có một học trò khác là Emil Gilels) bị bắt vì chống Xô viết và “thủ bại” (cũng là người gốc Đức) bị giam gần chín tháng trong biệt khám ở Nhà tù Lubyanka đầy tai tiếng. Nhưng đến năm 1950, Richter ba mươi lăm tuổi vẫn được nhận Giải thưởng Stalin giống như những người thắng giải khác – Oistrakh (nhận năm 1943), Gilels (1946), nhạc trưởng Yevgeny Mravinsky (1946) và tay cello hai mươi tư tuổi Mstislav Rostropovich (1951).

Giải thưởng trao cho những nghệ sĩ ấy, phản ánh niềm tin của Stalin xem âm nhạc cổ điển là một công cụ tuyên truyền hiệu quả, đã biểu tượng hóa tầm quan trọng của những nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trong nền văn hóa Xô viết chính thức. Theo quan điểm của Stalin, tác phẩm của những nhà soạn nhạc cổ điển qua thể hiện của các nhạc sĩ tài năng ấy đã được huy động để phục vụ cho hệ tư tưởng Mác-xít, và những người trình diễn được biến thành các đại diện lý tưởng cho phe xã hội chủ nghĩa: họ sở hữu những kỹ thuật âm nhạc cao cấp (song song với chính sách công nghiệp hóa Liên Xô của Stalin), rất lạc quan và có trách nhiệm công dân (theo như mô tả về họ trên truyền thông đại chúng), vui vẻ lên đường theo hiệu lệnh và theo lời kêu gọi của Đảng và chính quyền tới những ngóc ngách xa xôi nhất ở Trung Á, Viễn Đông hay Siberia để chơi cho đám đông công nông đang khao khát văn hóa cao cấp (như lời truyền thông đại chúng lớn tiếng).

danngoc 08-02-2012 15:11

Bức tranh thực tế lại rất khác. Đúng, nhà nước có cho những nhạc sĩ giỏi nhất của mình các ưu đãi đáng kể, nhưng xem họ không gì hơn là những nô lệ được trọng vọng, bị buộc phải phục vụ trong mọi dịp chính thức, bất kể đó là buổi biểu diễn tại một trụ sở bầu cử địa phương, một bữa nghỉ ăn trưa ở nhà máy (biểu diễn trên các khoang nhạc giao hưởng, giống như những ngôi làng Potemkin di động, đặc biệt bất tiện cho các nhạc công và đám khán giả bắt buộc gồm những người lao động đã mệt rã rời), trước và sau những bài diễn văn chính trị khác nhau, hay tại các đám tang như của Stalin, nơi Richter và Oistrakh cùng các nhạc sĩ khác không được phép rời khỏi Sảnh Đa trụ suốt nhiều ngày đêm liền và chỉ sống bằng đồ ăn khô.

Trong khi các nhạc sĩ bị khóa nhốt tại Sảnh Đa trụ, giữa giờ nghỉ họ quan sát dòng người Moscow không ngớt đến để tỏ lòng tôn kính lần cuối với vị lãnh tụ, sự kiện đẫm máu cuối cùng trong thời đại Stalin đã diễn ra ngoài phố. Hàng ngàn người cố gắng len lỏi để tới bên quan tài. Nhà thơ trẻ Yevgeny Yevtushenko có mặt trong đám đông ấy và sau này nhớ lại, “Đó thật là một cảnh khủng khiếp quái đản. Những ai ùa vào dòng người ấy từ phía sau cứ liên tục dồn đẩy, lấn ép. Đám đông biến thành một xoáy nước đáng sợ”. *

Thảm họa xảy ra ở Moscow năm mươi bảy năm trước nay được lặp lại. Năm 1896, trong lễ lên ngôi của vị Sa hoàng Nga cuối cùng Nikolai II, hàng ngàn người đã bị dẫm đạp tới chết trong đám đông. Sự khác nhau là lần này tai họa không phải xảy ra ở cánh đồng Khodynka ngoại ô, mà ngay giữa trung tâm Moscow, tuy vậy thảm họa này mau chóng chìm vào im lặng hoàn toàn. Nhưng có một số nhân chứng đã cảm nhận một cách nghịch lý rằng “thậm chí trong cơn cuộn dâng kinh khủng và bi thảm ấy của người Moscow, vẫn có một cảm xúc mạnh mẽ nào đấy về sự tự do mới nảy sinh”. **


* Yevgeny Yevtushenko, Volchii pasport [Hộ chiếu chó sói] (Moscow, 1998), tr. 81

** Armen Medvedev, Territoriia kino [Địa hạt của điện ảnh] (Moscow, 2001), tr. 41

danngoc 09-02-2012 13:37

Yevtushenko cũng khẳng định rằng vào thời điểm đó ông “lần đầu tiên đã nghĩ về con người mà chúng tôi đang chôn cất với lòng căm hận”. Đó ắt hẳn là một biến đổi địa chấn với nhà thơ, người mới một năm trước thôi trong tập thơ đầu tay của mình, Người tiên phong của Tương lai, đã gọi Stalin là “người bạn tốt nhất thế giới của tôi”, và đã đáp lại chiến dịch bài Do Thái chống đám “bác sĩ sát nhân” năm 1953 theo cách sau: “Không một ai trong những kẻ sát nhân kia bị bỏ sót. Chúng sẽ không thể thoát mà không phải trả giá. Gorky chắc cũng đã bị giết bởi những kẻ mà, theo tôi nghĩ, cùng một giuộc thế này”. *

(Năm 1989, một Yevtushenko khôn ngoan hơn đã đưa tình tiết rắc rối ấy vào bộ phim thời perestroika của ông, Đám tang Stalin, thêm vào một lời khuyên kiểu đại chúng mà bản thân ông hiếm khi làm theo: “Hãy để các nhà thơ tương lai cẩn trọng hơn khi họ bắt tay vào viết ‘thơ công dân’.”)


* Yevtushenko, Volchii pasport, tr. 435

danngoc 09-02-2012 13:40

Sự kiện thúc đẩy dẫn tới thay đổi trong tâm trí của giới trí thức thủ đô thường được công nhận là Liên hoan Thanh niên và Sinh viên Quốc tế Moscow năm 1957 (mà nghệ sĩ piano Maria Yudina đặt tên là “sự trật bánh tập thể”) và cuộc Triển lãm nước Mỹ đầy thành công và gây xúc động mạnh tại Sokolniki năm 1958. Nhưng có lý do để cho rằng vết nứt tư tưởng trong xã hội Xô viết thời hậu chiến, vốn có vẻ khá vững chắc trong mắt phần lớn những nhà quan sát phương Tây, đã xuất hiện từ sớm hơn, đâu đó khoảng cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Stalin sử dụng quá trình tẩy não liên tục của mình để cố gắng vá víu những lỗ hổng ấy xuất hiện trong không gian tư tưởng Xô viết sau Thế Chiến thứ II và do binh lính Hồng quân từ Châu Âu trở về. Trong phạm vi quần chúng Xô viết, Stalin đã khá thành công, nhưng con virus phương Tây đã ẩn nấp chứ không chết hẳn, tại khắp nơi của chính phần chóp của xã hội Xô viết.

Nhà văn Vassily Aksyonov đã mô tả về buổi tiệc thanh niên năm 1952 tại nhà của một nhà ngoại giao Xô viết cao cấp mà ông, chàng sinh viên tỉnh lẻ mười chín tuổi, đã may mắn được tham gia. Chiếc máy hát hiệu Victrola của Mỹ chơi những đĩa nhạc jazz của Louis Amstrong, Woody Herman và Nat King Cole. Đám stilyagi thanh niên (như cách gọi của các bài báo hằn học về những kẻ hâm mộ cuồng say thời trang và văn hóa pop của Mỹ; họ tự gọi bản thân là shtatniki – người chính quyền, lấy từ shtaty tức là “chính quyền”) mặc áo khoác hợp thời trang may tại phương Tây với hai bên vai độn cao, đi quần ống túm màu đen và giày đế cao, húp rượu whiskey và hút thuốc lá Camel *. Cô con gái ông xếp KGB cỡ bự nhảy cùng với Aksyonov và khiếp ông lập tức choáng váng: “Tôi ghét Liên bang Xô viết và yêu Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ!” Aksyonov quan sát thấy, “Đám stilyagi có thể được gọi là những người bất đồng quan điểm đầu tiên ở Liên Xô”. **


* Có thể xem thêm trong bộ phim ca nhạc Stilyagi của đạo diễn Valery Todorovsky (2008). - ND
http://www.sharereactor.ru/movies/9976

** Vassily Aksyonov, V poiskakh grustnogo bebi [Tìm kiếm đứa bé u sầu] (New York, 1987), tr. 20

danngoc 10-02-2012 09:34

Những thứ xa xỉ như thuốc lá Mỹ, rượu whiskey và đĩa hát ở Liên Xô thời hậu chiến chỉ có trong giới thượng lưu siêu cấp. Nhưng thậm chí trong thời kỳ tự cô lập chặt chẽ đó, khi trong câu nói đáng nhớ của Churchill một bức màn sắt đã sập xuống dọc biên giới Châu Âu, chia ra phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và Mỹ, văn hóa Mỹ cũng vẫn tìm cách thâm nhập được vào quần chúng Xô viết. Lạ nhất là, các can thiệp văn hóa như thế từ Mỹ xuất phát từ việc Stalin bắt đầu cho phép trình chiếu đại chúng những bộ phim phương Tây từ “quỹ chiến lợi phẩm”, tức là những bộ phim tịch thu được trong thời chiến hay là quà tặng của phe Đồng minh.

Điều này nhằm mục đích kiếm tiền và cũng để giải trí cho người dân: sau chiến tranh sản lượng phim trong nước giảm mạnh – mười bảy phim được làm năm 1948 và chỉ có năm phim trong năm 1952. Bởi thế, nhờ được Stalin cho phép, khán giả Xô viết đã có thể xem, ngoài những bộ phim khác, phim Stagecoach [Chuyến xe trạm] của John Ford (đổi tên thành Chuyến đi sẽ rất nguy hiểm) và bộ phim The Best Years of Our Life của William Wyler dưới cái tên Số phận người lính ở nước Mỹ. Một nghị quyết đặc biệt của Bộ Chính trị kêu gọi có những “chỉnh sửa biên tập cần thiết” đối với mỗi phim như vậy và thêm vào các phụ đề giới thiệu và bình luận với nội dung chống Mỹ.

Thật ngạc nhiên là Stalin đã thực hiện bước này. Ông biết rõ hơn ai hết về giá trị tuyên truyền của phim ảnh. Trở lại năm 1928, ông từng nói về chuyện này trong một cuộc trao đổi với Eisenstein: “Ở nước ngoài có rất ít sách với nội dung về chủ nghĩa cộng sản. Sách của chúng ta gần như không được đọc ở đấy, bởi người ta không biết tiếng Nga. Nhưng điện ảnh Xô viết thì được mọi người quan tâm theo dõi và họ hiểu tất cả”. *


* G. V. Aleksandrov, Epokha i kino [Thời đại và phim ảnh] (Moscow, 1976), tr. 107

danngoc 10-02-2012 09:37

Stalin luôn để tâm tới ảnh hưởng của các bộ phim của Eisenstein, Vsevolod Pudovkin, Alexander Dovzhenko và Dziga Vertov lên giới trí thức tiến bộ phương Tây – đó là lý do ông tôn trọng những nhà đạo diễn này. Vậy tại sao ông không xem xét tới hậu quả có thể của việc trình chiếu “những phim chiến lợi phẩm” tại Liên Xô? Có lẽ ông đã đánh giá quá cao hiệu quả thanh tẩy của kiểm duyệt Xô viết. Hậu quả đưa tới là rất đáng kể.

Joseph Brodsky mô tả ảnh hưởng tự do của phim ảnh Mỹ như sau: “Chúng được chiếu cho chúng tôi như những câu chuyện giải trí, nhưng chúng tôi lại tiếp nhận chúng như một bài thuyết giảng về chủ nghĩa cá nhân”. * Aksyonov xác nhận chuyện này: “Với chúng tôi nó là cái cửa sổ trong căn buồng lụp xụp nặng mùi của Stalin để mở ra thế giới bên ngoài”. **

Tôi biết có những người đã xem đi xem lại phim The Roaring Twenties *** đến ba mươi lần hoặc nhiều hơn thế, hau háu ghi nhớ đến từng chi tiết về lối sống Mỹ: quần áo, kiểu tóc, phong thái. Được nhiều người thích thú nhất là loạt bốn phim Tarzan đầu thập niên 1950; ý kiến ngược đời của Brodsky cho rằng chúng đã khuyến khích việc tẩy chay chủ nghĩa Stalin còn mạnh hơn bài diễn văn chống Stalin sau này của Khrushchev tại Đại hội Đảng lần thứ XX hay thậm chí hơn cả việc xuất bản cuốn Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich của Solzhenitsyn. “Đó là bộ phim đầu tiên mà trong đó chúng ta được xem về đời sống tự nhiên. Và cả để tóc dài”. ****

Những nổi loạn xảy ra trên khắp Liên bang Xô viết đòi để tóc dài cho giống Tarzan và tiếng hú nổi tiếng của anh ta được nghe thấy từ các khoảng sân sau hay thậm chí giữa hành lang trường học. Những giáo viên, tuân theo lệnh trên, cố gắng dập tắt chuyện này cùng những trò nhiệt tình khác theo “thời trang Mỹ” bằng mọi phương pháp trong tay, bao gồm cả đuổi học, vốn có thể hủy hoại vĩnh viễn cuộc đời của một cá nhân. Cùng với chiến dịch truyền thông chống lại bọn stilyagi (bọn họ bị lên án trên phim ảnh, đài phát thanh và báo chí, bị chế giễu trong những biếm họa trên tạp chí châm biếm), điều này tạo ra căng thẳng trong giới trẻ.


* Sochineniia Iosifa Brodskogo [Những tác phẩm của Joseph Brodsky], tập 6 (Moscow, 2000), tr. 16

** Aksyonov, V poiskakh grustnogo bebi, tr. 20

*** Bộ phim The Roaring Twenties [Thời đại năng động] (1939) nội dung kể về ba người bạn thân là cựu chiến binh Thế Chiến thứ I giải ngũ về New York, hai người cùng đi buôn rượu lậu còn người thứ ba làm công tố viên kiên quyết quét sạch nạn buôn rượu bất hợp pháp. Cụm từ Roaring Twenties dùng để ám chỉ thời kỳ phát triển năng động mọi mặt xã hội, nghệ thuật, văn hóa trong thập niên 1920, đặc biệt là tại nước Mỹ, cũng còn có thể hiểu là tinh thần hướng tới hiện đại hóa, quay lưng với những truyền thống cũ kỹ. - ND

**** Joseph Brodsky qua trò chuyện với tác giả

danngoc 13-02-2012 09:44

Liệu việc Stalin tính toán sai lầm về phim ảnh phương Tây có thể được giải thích phần nào bởi khao khát của nhà độc tài muốn chuẩn bị cho nhân dân Liên Xô sẵn sàng trước cuộc chiến quyết định với người Mỹ? Điện ảnh hẳn sẽ phục vụ như một thuốc chủng ngừa chống lại “căn bệnh lây nhiễm” phương Tây. Ở chốn riêng tư, Stalin nói rất thẳng thắn: “Tuyên truyền của chúng ta thực hiện rất kém, là thứ cháo hổ lốn chứ không phải tuyên truyền… Người Mỹ bắt bẻ chủ nghĩa Mácxít, nói xấu chúng ta, tìm cách lật tẩy chúng ta… Chúng ta cần phải vạch trần bọn chúng. Chúng ta cần phải làm cho nhân dân quen với hệ tư tưởng của kẻ thù, phê bình hệ tư tưởng đó, và điều này sẽ vũ trang cho lực lượng nòng cốt của chúng ta”. *

Cố gắng siết chặt các đinh ốc một lần nữa, Stalin khai mào một chiến dịch văn hóa bài ngoại. Nhưng đồng thời, ông hiểu rằng Liên bang Xô viết giờ đây đang phải đấu tranh với Hoa Kỳ trên đấu trường văn hóa quốc tế: “Chúng ta giờ đây đang giải quyết không chỉ với chính sách trong nước mà cả chính sách với thế giới. Người Mỹ muốn lôi mọi thứ lệ thuộc vào họ. Nhưng người Mỹ không được tôn trọng ở bất cứ thủ đô nào. Chúng ta cần phải mở rộng thế giới quan cho nhân dân ta trên tờ Pravda và các tạp chí Đảng, chúng ta cần có một chân trời rộng mở hơn, chúng ta là một sức mạnh tầm cỡ thế giới”. **


* Dmitrii Shepilov, Neprimknuvshii [Những người không liên kết] (Moscow, 2001), tr. 232-234

** Như trên

danngoc 15-02-2012 08:47

Những người Cộng sản luôn luôn dựa rất nhiều vào tuyên truyền tư tưởng quốc tế. Vai trò của Quốc tế Cộng sản (Komintern), thành lập theo đề xướng của Lenin năm 1919, và phái viên văn hóa của nó tại Châu Âu và Hoa Kỳ, Willy Münzenberg, ngày nay được nhiều người biết tới. Chính Münzenberg là người đã sử dụng mạng lưới quốc tế các câu lạc bộ thích phim Xô viết của mình để quảng bá Chiến hạm Potemkin và những bộ phim cách mạng khác tại phương Tây. Stalin sử dụng những cải tiến kỹ thuật cho các mục tiêu này: năm 1929 theo lệnh của ông, Đài phát thanh Quốc tế Moscow được thành lập, là cơ quan truyền thông quốc gia đầu tiên thuộc loại này trên thế giới, qua thời gian đã trở thành một trung tâm tuyên truyền đầy sức mạnh.

Người Mỹ có một ác cảm truyền thống đối với việc sử dụng tuyên truyền hải ngoại do chính phủ đài thọ, mặc dù trong Thế Chiến thứ I, Tổng thống Woodrow Wilson đã thành lập Ủy ban Thông tin Công chúng. Kinh nghiệm này về sau được sử dụng để tổ chức đài VOA [Tiếng nói nước Mỹ] sau khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Khi chiến tranh kết thúc, một số thượng nghị sĩ đã đặt câu hỏi tại sao người nộp thuế Mỹ lại phải tiếp tục trả tiền cho một đài phát thanh quốc tế.

Những nghi ngờ này biến mất cùng với khởi đầu Chiến Tranh Lạnh. Ngày 6/5/1948, John Foster Dulles đã thổ lộ cảm xúc của giới thượng lưu chính trị Mỹ khi phải đối mặt với việc mở rộng ra thế giới của ý thức hệ Cộng sản: “Lần đầu tiên kể từ khi có mối đe dọa Hồi giáo một ngàn năm trước, nền văn minh phương Tây mới lại lâm vào thế thủ”. * Hai năm sau, Tổng thống Harry Truman đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khía cạnh tuyên truyền trong việc đứng vững trước Liên bang Xô viết: “Trên hết tất cả, đây là một cuộc chiến giành lấy tâm trí con người. Tuyên truyền là một trong những thứ vũ khí mạnh mẽ nhất mà phe Cộng sản có được trong cuộc đấu tranh này”. **


* Arch Puddington, Broadcasting Freedom: The Cold War Triumph of Radio Free Europe and Radio Liberty (Lexington, KY, 2000), tr. 9

** Như trên

danngoc 15-02-2012 08:48

Học thuyết “ngăn chặn”, soạn thảo công phu bởi George F. Kennan, được chấp nhận và thực hiện như một công cụ của chính sách Mỹ đối với khối Cộng sản. Sau này Kennan nhấn mạnh rằng ông ngụ ý ngăn chặn sự bành trướng về mặt chính trị và ý thức hệ của Liên Xô. Hướng vào lĩnh vực phản tuyên truyền trong văn hóa, học thuyết này đã khá thành công.

Nhạc jazz, một trong những hiển thị quan trọng nhất của văn hóa Mỹ, được sử dụng ngay lập tức như một vũ khí tuyên truyền. Charles Bohlen, đại sứ Mỹ tại Liên bang Xô viết, đã nhận thấy sự phổ biến của các chương trình nhạc jazz trên đài Voice of America tại Moscow và theo đề nghị của ông này năm 1955 đài bắt đầu một dự án đặc biệt, Music USA, dành riêng cho jazz. Bản nhạc hiệu của chương trình, dẫn dắt bằng giọng nam trung êm dịu của Willis Conover sinh trưởng ở vùng Buffalo, người trở thành thần tượng của nhiều thế hệ shtatniki, là bài “Take the A Train” của Duke Ellington, do Billy Strayhorn sáng tác.

Vào thời điểm này, chương trình phát thanh có thể nhận qua tần số sóng ngắn từ Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây khác bị cấm tại Liên bang Xô viết, nhưng nhiều nhà vẫn còn những đài radio từ trước chiến tranh hay chiến lợi phẩm; ngoài ra, các chương trình của Conover bằng tiếng Anh, do đó chúng ít bị nhiễu hơn bản tin tiếng Nga của Voice of America. (Việc làm nhiễu sóng tần số radio phương Tây, liên quan tới việc xây dựng các trạm phát mạnh trên khắp Liên Xô, làm tốn của chính phủ Liên Xô một khoản tiền đáng kể).

danngoc 19-02-2012 08:37

Các chương trình của Conover cho thính giả nếm trải lần đầu âm nhạc của Thelonious Monk, John Coltrane và Ornette Coleman và trở thành bách khoa toàn thư ngoài luồng về jazz của giới trẻ Liên Xô. Nghề ghi lại “âm nhạc trên xương” ra đời: phim chụp X-quang được dùng làm mặt đĩa và những đĩa nhạc jazz và sau này là nhạc rock and roll tự chế được bán trên chợ đen, truyền cảm hứng làm nảy sinh các nhạc sĩ jazz trên khắp Liên bang Xô viết.

Người Mỹ cũng không bỏ quên văn hóa “cao cấp”. Biết rõ thiên hướng của người Nga đối với nhạc cổ điển (Stalin bắt đầu tài trợ cho các nhạc sĩ Xô viết tham dự thi đấu quốc tế từ thập niên 1930), những dàn nhạc giao hưởng xuất sắc nhất nước Mỹ được đưa sang Liên Xô – dàn nhạc Boston năm 1956, dàn nhạc Philadelphia năm 1958. Nghệ sĩ piano người Canada hai mươi lăm tuổi Glenn Gould đến Moscow và Leningrad năm 1957 với các chương trình ra mắt (ngoài Bach, ông còn chơi những tác phẩm hiện đại của Paul Hindemith và Anton von Webern, bị cấm ở Liên Xô khi ấy), và đối với rất nhiều chuyên gia bị làm choáng váng, như lời một người trong số họ nói, cuộc đời được chia thành hai giai đoạn, tiền Gould và hậu-Gould. *

Tột điểm của cuộc đấu âm nhạc giữa hai siêu sức mạnh (nghệ sĩ viôlông Oistrakh và nghệ sĩ piano Gilels có các buổi công diễn thành công tại Carnegie Hall năm 1955 và nghệ sĩ piano Richter năm 1960) là chiến thắng gây xúc động mạnh của Van Cliburn, hai mươi ba tuổi, tại Cuộc thi Piano Tchaikovsky ở Moscow năm 1958. Cao, rụt rè với ánh nhìn mơ mộng, tay pianist hết sức quyến rũ ấy mà dân Moscow đặt tên là “Vanechka” một cách trìu mến, đã liên tục giành được sự tán thưởng của khác giả (đặc biệt là phụ nữ). Quan trọng hơn là, Cliburn cũng chinh phục được ban giám khảo cuộc thi, chủ tọa là Gilels, bao gồm những nhạc sĩ đầy quyền lực như nghệ sĩ trình diễn Scriabin xuất sắc Vladimir Sofronitsky, người cảm nhận được sự lãng mạn thân tình trong Cliburn, và vị trưởng lão âm nhạc Alexander Goldenveizer, nhạc sĩ ưa thích và là bạn cờ với Lev Tolstoi. Goldenveizer đã so sánh Cliburn với Rachmaninoff trẻ tuổi.


* Muzyka i zhizn’. Muzyka i muzykanty Leningrada [Âm nhạc và cuộc đời. Âm nhạc với các nhạc sĩ Leningrad] (Leningrad và Moscow, 1972), tr. 127.

danngoc 19-02-2012 08:38

Khi xem xét các giải thưởng, những thành viên ban giám khảo Liên Xô phải đạt được sự chấp thuận kín của Nikita Khrushchev trước khi trao cho Van Cliburn. * Chiến thắng của chàng thanh niên người Mỹ tại cuộc thi, vốn từng được lướt qua trên một số báo hàng ngày của tờ The New York Times, nay được đưa lên trang tin bìa khắp thế giới. Gây xáo động chính trị, chiến thắng này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa Xô viết.

Lần đầu tiên, giới âm nhạc lưu vong Nga được công nhận: thật bất ngờ, thầy dạy của Cliburn tại Trường Juilliard ở New York là Rosina Lhevinne, tốt nghiệp Trường nhạc Moscow. Cliburn đã phổ biến bản Concerto số 3 cho piano của nhà soạn nhạc lưu vong Rachmaninoff. Điều này dọn đường cho các chuyến lưu diễn thành công tại Liên Xô của Igor Stravinsky và Đoàn ba-lê New York City của George Balanchine năm 1962, khi chính quyền Liên Xô buộc phải chào đón và ca ngợi những người cựu lưu vong, giờ đây lại đi lăng xê cho quan điểm hiện đại quốc tế cao cấp.


* Kirill Kondrashin qua trò chuyện với tác giả

danngoc 20-02-2012 08:38

Một chương trình Mỹ quan trọng khác đã mở rộng đường chân trời văn hóa và ảnh hưởng lên thế giới quan của giới ưu tú Xô viết là việc xuất bản sách bằng tiếng Nga. Nhiều nhà xuất bản Mỹ được thành lập cho nhiệm vụ này với hỗ trợ từ chính phủ và các nguồn tư nhân; trong số đó có Nhà in Chekhov Press ở New York, in những tuyển tập tiếng Nga của Bunin, Remizov, Tsvetaeva và Nabokov, được Quỹ Ford Foundation tài trợ khoản tiền 523.000 đô la. * Theo The New York Times, ít nhất một ngàn đầu sách đã được tài trợ, ** phủ một phạm vi rộng từ các bản dịch thơ và văn xuôi của T. S. Eliot cho đến tổng tập tác phẩm của Gumilev và Mandelstam và các tác phẩm của Pasternak, Akhmatova, Zabolotsky và Klyuev.

Việc thiếu định hướng về tư tưởng là rất rõ rệt. Những phương hướng hết sức khác nhau đều được giới thiệu: cả văn xuôi truyền thống lẫn văn xuôi thử nghiệm, cả thơ trường phái Tột đỉnh (Acmeism), trường phái Dadaism, lẫn thơ tân-nông dân. Chống Xô viết không phải là tiêu chuẩn chính, như người ta vẫn nghĩ (lấy ví dụ, các bài thơ phái tân-nguyên sơ [neoprimitivist] của Zabolotsky khó có thể được gọi là “chống Xô viết”); đúng hơn, khao khát nổi trội là muốn được trở lại phổ biến bên trong Liên bang Xô viết các tác phẩm của những tác giả từng bị cấm vì một lý do nào đó.

Các sách của những tác giả Nga được xuất bản tại phương Tây được gọi là tamizdat (“được xuất bản bên kia”; giống như samizdat là “tự xuất bản”) tại Liên bang Xô viết. Ở Nga (được đem vào bởi khách du lịch nước ngoài, thủy thủ Liên Xô và các công dân Liên Xô du lịch nước ngoài trong những phái đoàn chính thức), những cuốn sách này trở nên quý như vàng. Chúng được sao lại bằng cách đánh máy hay chép tay (thời kỳ này ở Liên Xô không thể tiếp cận được với máy photocopy); việc này mở rộng phạm vi của samizdat, trong nhiều năm trời chúng là nguồn chính của giới trí thức chống đối.

Dần dần không gian văn hóa bên trong Liên bang Xô viết, đặc biệt tại những thành phố lớn, đã được điền đầy bằng những cuốn sách tiếng Nga xuất bản tại phương Tây. Ta có thể đi ngang qua chúng ở những chốn bất ngờ nhất, thuộc về những con người không thể ngờ nhất.


* Frances Stonor Saunders, The Cultural Cold War: The CIA and the World of Arts and Letters (New York, 1999), tr. 142

** The New York Times, 25/12/1977

hungmgmi 20-02-2012 08:45

Trích:

danngoc viết (Bài viết 104163)
Khi xem xét các giải thưởng, những thành viên ban giám khảo Liên Xô phải đạt được sự chấp thuận kín của Nikita Khrushchev trước khi trao cho Van Cliburn. * Chiến thắng của chàng thanh niên người Mỹ tại cuộc thi, vốn từng được lướt qua trên một số báo hàng ngày của tờ The New York Times, nay được đưa lên trang tin bìa khắp thế giới. Gây xáo động chính trị, chiến thắng này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa Xô viết.

Trên NNN năm 2006, bạn Apomethe đã có những dòng sau chi tiết hơn về vụ này:
Trích:

Anh này là người Mỹ, vào năm diễn cuộc thi mang tên Tchaikovsky lần đầu tiên 1958 được tổ chức ở Moscow là thời gian đỉnh cao của cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Nga. Rất hiếm người Mỹ có cơ hội sang Nga nhưng Cliburn rất mong muốn được tham gia cuộc thi này. Ban giám khảo năm đó gồm Richter và Emil Gilels (chủ khảo và là nghệ sĩ piano Nga đầu tiên biểu diễn tại Mỹ) và một số nhà soạn nhạc, Shostakovich năm đó được làm chủ tịch cuộc thi. Van Cliburn đã gây ra lúng túng cho các giám khảo. Vài vị đã chọn ra thí sinh người Nga Lev Vlasenko, và hầu hết trong số ban giám khảo đều sợ Khruschev sẽ nổi giận nếu trao giải cho một thí sinh đến từ Mỹ trong cuộc thi lớn lần đầu tiên được tổ chức này.

Trong thang điểm 25, nhiều người cho Cliburn 15, 16 hay 19 điểm và thêm vào cho các thí sinh khác 1 hoặc 2 điểm để khiến không ai có thể nghi ngờ là có gian lận. Tuy nhiên Richter và vài người cảm giác có gì đang xảy ra và Richter đã lật đổi mọi tính toán của ban giám khảo bằng cách cho Cliburn điểm tuyệt đối là 25 và những người khác 0 điểm. Trong vòng chung kết Cliburn đã chơi hai bản concerto số 1 của Tchaikovsky và số 3 của Rachmaninov. Kết thúc bài diễn Gilels bất ngờ đi lên dẫn anh ra trước mọi người và ôm chặt anh. Gilels biết đấy là điều duy nhất ông có thể làm cho Gilels cho Cliburn lúc đấy

Buổi tối hôm đó Khruschev cùng bộ trưởng bộ văn hóa Ekaterina Furtsava đã hỏi Richter, Gilels và Shostakovich "Sao, các chuyên gia nói gì đây. Cliburn có phải là nhất không?". Tất cả đều đồng ý. Khruschev trả lời: "Thôi được, trong trường hợp này. Trao giải cho anh ấy đi."

Việc một pianist người Mỹ chiếm giải nhất trong cuộc thi Tchaikovsky lần 1 đã gây một chấn động lớn trong cuộc chiến tranh lạnh Nga-Mỹ. Sau cuộc thi ấy Cliburn đã quay về mỹ và thu âm hai concerto cho piano số 2 của Rachmaninov và số 1 của Tchaikovsky với Kondrashin - nhạc trưởng của cuộc thi, người mà Cliburn rất có ấn tượng sau khi chơi cùng ông trong cuộc thi. Và nó nhanh chóng được tiêu thụ với số lượng 1 triệu bản và cũng là đĩa nhạc cổ điển lần đầu tiên làm việc đấy. Bây giờ nó đã lên đến con số 3 triệu bản. Cliburn đã làm được điều mà bất cứ nghệ sĩ nào cũng mơ ước, ông chơi nhạc Nga hay hơn chính các nghệ sĩ Nga.
Cũng cần nói thêm, Van Cliburn chính là nghệ sĩ có công lớn trong việc đưa những giai điệu tuyệt vời của "Chiều ngoại ô Moskva" ra công chúng thế giới:
Trích:

Bài hát “Chiều ngoại ô Matxcơva” được nhạc sĩ sáng tác ở eo đẩt Kareli thuộc tỉnh Kamarovo. Ông hoàn thành tác phẩm trong một nhà nghỉ cuối tuần trên Đại lộ Lớn và vợ ông-Tachiana Riabova là người đầu tiên được nghe các giai điệu tuyệt vời của bài hát này.
Điều khá ngạc nhiên là chính nhạc sĩ cũng không ngờ bài hát của mình sau này sẽ nổi tiếng như thế. Chính vì thế ông không tham gia Cuộc thi ca khúc quốc tế tại Liên hoan thanh niên và sinh viên quốc tế tổ chức tại Matxcơva mùa hè năm 1957. Vì vậy Soloviov Sedoi hết sức bất ngờ khi “Chiều ngoại ô Matxcơva “ được Ban Giám khảo trao tặng giải Nhất và Huy chương Vàng . Sau Liên hoan, bài hát nhanh chóng lan truyền và được đông đảo khán giả yêu thích.
Một năm sau. Van Cliburn-nghệ sĩ từng đoạt giải tại Cuộc thi âm nhạc quốc tế mang tên P.I.Traicovski đến Leningrad biểu diễn. Ông đến thăm trụ sở của Hội nhạc sĩ nằm trên phố Gertsen như một hình thức thư giãn sau nhiều ngày lưu diễn vất vả. Tại đây, Soloviov Sedoi cho Van Cliburn nghe một số bản valse, sau đó là những giai điệu của “Chiều ngoại ô Matxcơva”. Trước khi về nước, nghệ sĩ có một buổi trình diễn tạm biệt khán giả Liên xô. Chương trình được truyền hình trực tiếp. Khán giả vô cùng hâm mộ nghệ sĩ, yêu cầu ông chơi lại các bản nhạc yêu thích. Chiều lòng khán giả Van Cliburn ngồi vào đàn. Và thật bất ngờ, trong khán phòng bỗng vang lên những giai điệu của “Chiều ngoại ô Matxcơva”. Khán phòng lặng phắc và chợt vỡ òa ra khi bản nhạc kết thúc, khán giả đứng dậy vỗ tay hồi lâu, chắc hẳn không chỉ dành riêng cho người nghệ sĩ tài năng-người bạn của âm nhạc Xô-viết.
Van Cliburn tiếp tục biểu diễn nhạc phẩm của Soloviov Sedoi nhiều lần nữa ở nước ngoài. Nhạc sĩ cho rằng, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho bài hát được nhiều người trên thế giới biết đến. Vào cuối những năm 50, giai điệu “Chiều ngoại ô Matxcơva” trở thành nhạc hiệu của Đài phát thanh “Maiak”
http://luutru.nuocnga.net/viewtopic....c0c36f7b833300

danngoc 21-02-2012 10:56

Tôi còn nhớ lần có mặt tại lễ sinh nhật con gái một quan chức văn hóa cấp cao ở Moscow đầu thập niên 1970; đưa mắt lén nhìn thư viện gia đình đầy ấn tượng của ông này, tôi vươn tay tới một cuốn, vô tình làm đổ cả một núi sách khiến lộ ra, bị nhét đằng sau chúng, một bản mới in ở phương Tây bộ Những suy nghĩ không hợp thời của Gorky, một tuyển tập các bài báo chống Xô viết của ông vốn không được in tại Nga từ năm 1918 và bị cất kỹ trong “kho lưu trữ đặc biệt” của các thư viện Liên Xô. Tôi mau chóng xếp lại mấy cuốn sách, đồng thời xúc động lật lướt qua bộ sách quý giá của Gorky. Tôi đọc hết mức có thể và nó đã thay đổi hẳn nhận thức của tôi về nhà văn.

Năm 1972, Yevtushenko tìm cách đem về một lượng lớn sách tamizdat sau chuyến đi từ Hoa Kỳ trở về Moscow. Do nhân viên hải quan Liên Xô quan tâm nhất là tới văn hóa phẩm lậu, mọi cố gắng đem chúng về đều là gánh lấy rủi ro, có thể bị trừng phạt ở mức cao nhất theo luật. Có những lần Yevtushenko (giống như nhiều khách du lịch khác kém nổi tiếng hơn) đi qua trót lọt, nhưng lần này thì nhà thơ bị bắt.

Những cuốn sách bị tịch thu bao gồm tác phẩm của các lãnh đạo Bolshevik Trotsky và Bukharin, đã bị Stalin sát hại; thơ của Gumilev, bị người Bolshevik xử bắn, và của Mandelstam, chết trong trại GULAG; nghiên cứu triết học của những thành viên phong trào “phục hưng tôn giáo” Nga, Berdyaev và Shestov; văn xuôi của nhà văn lưu vong Nabokov và Những ngày bị nguyền rủa, nhật ký chống Bolshevik của người Nga đầu tiên đoạt Giải Nobel, Bunin. Cùng với sách, người ta đã tịch thu những bức ảnh Yevtushenko chụp chung với Richard Nixon và Henry Kissinger.

danngoc 21-02-2012 11:06

Nhà thơ bị yêu cầu phải viết giải trình, trong đó, phù hợp với lời tự mô tả của ông về sau này là “một Mowgli khôn ngoan và khá lanh lẹn của rừng xanh Xô viết”, ông tuyên bố: “Trong chuyến đi của tôi ra nước ngoài nhằm mục đích tuyên truyền cho lý tưởng của Tổ quốc chúng ta, đôi khi tôi cảm thấy mình không đủ trang bị về ý thức hệ để chiến đấu với kẻ thù của chúng ta, bởi tôi không biết tới những nguồn tư liệu cơ bản mà họ đặt làm cơ sở cho sự căm ghét trơ trẽn của họ. Không thể có được nhiều những nguồn cơ bản đến thế tại Liên Xô, thậm chí cả trong kho lưu trữ đặc biệt của Thư viện Lenin. Đó là lý do tại sao tôi mua các cuốn sách ấy – không phải để phân phát chúng mà là nhằm nâng cao mức cảnh giác về hệ tư tưởng cho mình”. *

Thật ngạc nhiên, sau một bước ngoại giao như vậy và sau cuộc nói chuyện với Tướng Filipp Bobkov, Vụ trưởng Vụ 5 của KGB, chịu trách nhiệm về trao đổi văn hóa với phương Tây, nhà thơ được nhận lại gần như tất cả các sách bị tịch thu.


* Yevgeny Yevtushenko, Ne umirai prezhde smerti [Đừng chết trước khi chết] (New York, 1993), tr. 496-497

danngoc 24-02-2012 10:13

KGB nặng tay với những trí thức Xô viết kém nổi tiếng và ít quan hệ hơn. Bộ Luật hình sự có, theo định nghĩa mỉa mai của Solzhenitsyn, “Điều Năm Mươi Tám oai vệ, hùng mạnh, chóng sinh sôi, nhiều nhánh cành, sặc sỡ đốm màu, hàm chứa tất cả”, đe dọa trừng phạt nghiêm khắc cái gọi là “hoạt động phản cách mạng chống Xô viết”. Khoản 10 của Điều này kêu gọi trừng phạt nặng tội “tuyên truyền hay xúi giục bao gồm kêu gọi lật đổ, phá hoại hay làm suy yếu chế độ Xô viết... và tương tự là phân phát hay biên soạn hay sở hữu văn học với các nội dung như vậy”.

Khoản này được hiểu nghĩa cực kỳ rộng: theo Solzhenitsyn, hầu như mọi ý kiến, được nói hoặc viết ra, trong thời Xô viết đều có thể rơi vào Điều 58 nổi tiếng. Mọi người ai cũng từng quen một vài nhân vật phải vào trại vì có sách hay bản thảo nội dung “chống Xô viết” bị phát hiện qua lục soát. Nhan nhản những vụ tò mò bi thảm. Tại Riga, đầu thập niên 1950, một người bạn của cha tôi phải nhận án đi trại bảy năm vì đã giữ cuốn Cuộc đời náo động của Lazik Roitshvanets và cuốn Trong thung lũng Protochny, xuất bản trong thập niên 1920. Bản án mô tả cả hai cuốn sách trên là chống Xô viết, nhưng không nêu tên tác giả vì có lý do hợp lý: đó là Ilya Ehrenburg, người đoạt hai Giải thưởng Stalin, vào thời điểm ấy làm đại biểu cho Riga trong Xô viết Tối cao Liên Xô.

Trong tất cả những năm tháng của chế độ Xô viết, thậm chí cả thời Gorbachev, một cuốn sách có nội dung đáng ngờ, đặc biệt khi nó được xuất bản tại phương Tây, nếu bị tìm thấy trong một cuộc lục soát có thể hủy hoại cả một đời người. Đó là lý do tại sao những ai đưa người khác mượn tác phẩm văn học tamizdat samizdat (thường những cuốn sách này được đưa cho mượn qua đêm và được đọc bởi cả gia đình cũng như các bạn thân) phải dùng tới những phương pháp mưu mẹo, thường là khá vụng về, như cuộc nói chuyện điện thoại sau đây: “Cậu đã ăn cái bánh tớ đưa cậu hôm qua chưa?” “Rồi.” “Cả vợ cậu chứ hả?” “Ừ, cô ấy cũng ăn.” “Ờ, vậy chuyền cái bánh ấy cho Nikolai, cậu ấy cũng muốn nếm nó.”

Công an mật Xô viết ngăn chặn dòng sách không mong muốn từ phương Tây một cách nghiêm túc và cơ quan này đã mở rộng mạng lưới của nó để làm điều ấy ra sao có thể thấy rõ qua một báo cáo mới được giải mật gần đây của Yuri Andropov, khi ấy là chủ tịch KGB, gửi Leonid Brezhnev ngày 6/5/1968, trong đó ông hãnh diện thông báo rằng trong vòng một năm “trong kênh thư từ quốc tế có hơn 114 ngàn thư từ và bưu phẩm chứa văn học có nội dung chính trị và chống Xô viết độc hại đã bị tịch thu”. *


* Lubyanka: organy VChK-OGPU-NKVD-MGB-MVD-KGB. 1917-1991. Spravochnik [Lubyanka: các cơ quan VChK-OGPU-NKVD-MGB-MVD-KGB. 1917-1991. Danh bạ] (Moscow, 2003), tr. 718

danngoc 27-02-2012 08:16

Dòng chảy khổng lồ những tài liệu “độc hại về mặt chính trị” này bao gồm một ít bản sao bài diễn văn mật được Nikita Khrushchev phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ XX ngày 25/2/1956. Bài diễn văn, “Về tệ sùng bái cá nhân và các hậu quả của nó”, là tiết lộ đầu tiên về những tội ác của Stalin được đảng cầm quyền cung cấp, và do đó nó là một sự kiện gây xúc động mạnh cả tại Liên bang Xô viết lẫn tại phương Tây, được đưa tin bởi The New York Times và các tờ báo khác. Bên trong Liên bang Xô viết, bài diễn văn chống Stalin của Nikita Khrushchev ban đầu được đọc cho các đảng viên, sau đó bị mật hóa cho tới 1989.

Dáng bè bè, đầu tròn và hói, Khrushchev là một nhà chính trị tới tận ruột gan, rất khó bị qua mặt, ranh mãnh, bướng bỉnh, và quan trọng nhất là đầy sinh lực đến quá mức. Nếu so sánh với Lenin và Stalin thì ông là người không có học thức. Những bài phát biểu vô số kể và thường là rất dài của Khrushchev được ứng biến lộn xộn, do ông hay đi lan man. Như một nhà thơ, ông bay lượn trên đôi cánh hùng biện của chính mình. Vào cuối đời, Khrushchev đọc cho chép hồi ký của ông nhằm dụng ý củng cố một hình ảnh tiến bộ của vị tác giả trong đầu óc của hậu thế. (Sau này nhà thơ Andrei Voznesensky sẽ khô khan lưu ý: “Tôi thích Khrushchev ở chỗ rất chú trọng đến văn phong.”)

Đỉnh cao sự nghiệp của Khrushchev là bài diễn văn chống Stalin của ông, như thường lệ được soạn bởi một nhóm cố vấn. Nhưng có một vài chi tiết sinh động trong bài diễn văn rõ ràng đã được chính Khrushchev đưa vào. Chính Khrushchev là người đầu tiên trích dẫn một số câu nói đáng nhớ của Stalin, lấy ví dụ tuyên bố của Stalin về việc ông sẽ ra tay với vị lãnh tụ nổi loạn của Nam Tư, Nguyên soái Tito, như thế nào: “Đây, chỉ cần tôi nhúc nhích ngón út là sẽ chẳng còn Tito nào nữa”. Trong bài diễn văn “mật” của mình, Khrushchev mỉa mai nói thêm: “Những cái ‘nhúc nhích ngón út’ như thế đã khiến chúng ta trả giá rất đắt”.

danngoc 27-02-2012 08:16

Khrushchev đã nảy ra một số ý tưởng lãng mạn thực sự. Theo lệnh ông, xác ướp Stalin bị chuyển khỏi lăng trên Quảng trường Đỏ, vùng đất hoang sơ ở Kazakhstan được cày bừa canh tác và con người đầu tiên được bay lên không gian. Các khẩu hiệu chính trị của Khrushchev cũng có xu hướng văn chương, nghe cứ như tiểu thuyết khoa học: “Thế hệ người Xô viết hôm nay sẽ sống dưới Chủ nghĩa Cộng sản!” “Đuổi kịp và vượt mặt Hoa Kỳ trong sản lượng thịt, bơ và sữa trên đầu người!” và lời lưu ý nổi tiếng dành cho Hoa Kỳ – “Chúng ta sẽ chôn vùi ngươi”.

Không một nhà văn đương đại nào có thể sánh với những tuyên bố như vậy, đúng theo nghĩa đen là khiến cả thế giới cứng người vì sợ. Nhưng tuy nhiên một nhóm thi sĩ trẻ người Nga đã tìm cách ngoi lên khỏi sự huyên náo chính trị. Yevtushenko, Voznesensky, Bella Akhmadulina và Bulat Okudzhava đã trở nên phổ biến rộng rãi.

Người nổi tiếng nhất trong số họ là Yevtushenko cao, lòng khòng, lớn tiếng và không bao giờ biết mệt; theo tính toán của chính ông, ông đã có mặt ở chín mươi tư quốc gia, và thơ của ông được dịch ra bảy mươi hai thứ tiếng. Người dân ở khắp nơi – Nga, Pháp, Mỹ, Istrael – đều biết rằng năm 1961 Yevtushenko đã xuất bản trường ca “Babi Yar” viết về những người Do Thái bị bọn Quốc xã giết hại ở Ukraina trong Thế Chiến thứ II. Trường ca này cũng được hiểu như một lên án chủ nghĩa bài Do Thái ở Liên Xô.

danngoc 29-02-2012 11:38

Yevtushenko trở thành người viết thời sự bằng thơ về các thay đổi chính trị tại Liên bang Xô viết, đôi khi còn vượt lên trước (vốn khiến chính phủ chuyển sang đàn áp ông, hiển nhiên sẽ đẩy ông nổi tiếng hơn nữa tại quê hương và ở phương Tây), đôi khi tụt lại đằng sau (sẽ khiến đúng điều ngược lại). Khrushchev là một vị thuyền trưởng không thể đoán trước được, và trên tàu của ông mọi người hết bị ném sang trái rồi lại sang phải, đầu lắc lư vòng vòng. Yevtushenko có tài viết những khẩu hiệu thơ giản dị, dễ hiểu và hiệu quả, thể hiện thực chất của các thay đổi gây hoang mang.

Voznesensky từng nói rằng Yevtushenko đã tạo ra một thể loại đặc biệt – “làm báo bằng thơ”. * Hàng ngàn người tham dự các buổi đọc của ông, và cùng các đồng chí của mình Yevtushenko điền đầy cả một sân bóng đá khổng lồ với đám đông những người hâm mộ đứng chen chúc. Nhà Bolshevik lão thành và là Ủy viên Bộ Chính trị Anastas Mikoyan từng nói đầy kinh ngạc rằng đó là lần đầu tiên ông thấy mọi người đứng xếp hàng không phải chờ mua thịt hay đường mà là chờ nghe thơ.

Alexander Tvardovsky thường nói rằng những nhà thơ thực sự là những người được nhớ đến bởi những người không quan tâm gì đến thơ. Nếu chúng ta chấp nhận cách phân loại của Tvardovsky, vậy thì bất cứ hợp tuyển thơ ca Nga nào của thế kỷ hai mươi, cho dù có chọn lọc, cũng sẽ bao gồm ít nhất chục bài thơ của Yevtushenko và Voznesensky.

Voznesensky trải thực nghiệm nhiều hơn, giống với thần tượng của ông là Pasternak và cũng giống Mayakovsky thời kỳ đầu, với sự phối hợp vần điệu gây ấn tượng, thường là mang tính hình tượng và trau chuốt không tưởng tượng nổi. Ông trở thành thi sĩ Nga hiện đại dễ dịch nhất bởi lối tiếp cận thơ ông dễ nhận biết, với xu hướng siêu thực mạnh mẽ, và do đó dễ tiếp cận hơn đối với trí thức phương Tây.


* Voznesensky, Na virtual’nom vetru, tr. 242

danngoc 07-03-2012 11:16

Việc tự tạo phong cách của Yevtushenko đi theo truyền thống văn chương Nga lâu đời từ Blok qua Esenin và Mayakovsky cho tới tận Akhmatova, bậc thầy vĩ đại của việc tự sáng tạo. Trong ngay dòng đầu tiên trang tiểu sử Xô viết chính thức của ông – “Yevgeny Yevtushenko sinh ngày 18/7/1933 tại ga Zima, tỉnh Irkutsk” – đã có ít nhất ba sai biệt so với sự thực. Họ của cha Yevtushenko là Gangnus, ông sinh ra trước đó một năm, năm 1932, và không phải tại ga Zima mà tại một ngôi làng Siberia khác, làng Nizhneudinsk.

Giải thích của Yevtushenko về sự chênh lệch trong ngày tháng là khá mập mờ, nhưng những gì còn lại không khó để lý giải. Một nhà thơ Nga nổi tiếng, như Yevtushenko đã mong muốn trở thành kể từ rất sớm, không thể mang cái họ nghe có vẻ Đức hay sinh ra tại nơi có tên gọi không chất thơ chút nào. Ông dùng họ của mẹ mình, và vắt ra mọi thứ có thể từ cái ga Zima [Mùa Đông] nghe rất lãng mạn ấy, bao gồm cả một bài thơ rất dài.

Yevtushenko bách bộ khắp nơi trong mấy bộ complê nhập khẩu bóng bẩy, những mũ đội sặc sỡ và cà vạt sáng màu, trong khi Voznesensky phong cách hơn thì đeo cái cà vạt lớn màu trắng, thắt lại thành cái nơ đỏm dáng. Còn Akhmadulina tóc đỏ thì làm khán giả sửng sốt bằng cái nhìn kỳ lạ của bà: khuôn mặt trái xoan thanh tú “như từ nét cọ của Botticelli” và cặp mắt nhìn nghiêng nghiêng của “con mèo Xiêm”, như lời người chồng đầu Yevtushenko mô tả về bà.

Akhmadulina đọc những bài thơ bóng bẩy do bà viết theo một cách ve vãn và khá kiểu cọ, luôn gây ấn tượng được với công chúng của mình, số lượng không đông bằng của các bạn bà, bởi thơ bà tinh khiết hơn và xa cách với những sự kiện đương thời. Không phải ai cũng thích, như được chứng minh trong một đoạn nhật ký cay đắng của người chồng thứ hai của bà, nhà văn Yuri Nagibin: “Akhmadulina độc ác, ranh ma, hay trả thù, và hoàn toàn không có tình cảm, mặc dù cô ấy sáng chói khi diễn tuồng không nơi nương tựa rất cảm động... Bella lạnh như băng, cô ấy chẳng yêu ai – thậm chí không cả bản thân – ngoại trừ những ấn tượng mà mình tạo ra”.

danngoc 07-03-2012 11:16

Akhmadulina và các bạn mình không phải là những nhà thơ chống Xô viết (mẹ của bà, theo lời Yevtushenko, có chức cao trong KGB). Như Yevtushenko nhớ lại, đầu thập niên 1950, trong số bạn bè sinh viên có người đã nói, “Cách mạng đã chết và xác của nó bốc thối hoăng”. Cô thiếu nữ Akhmadulina, cặp mắt lóe lên giận dữ, đã la lớn, “Cậu nên thấy xấu hổ với bản thân! Cách mạng không chết. Cách mạng đang bị ốm. Chúng ta phải giúp đỡ cho cách mạng”.

Yevtushenko thừa nhận rằng thậm chí cả sau khi ông chuyển sang căm ghét Stalin, ông vẫn tiếp tục thần tượng hóa Lenin, người là thần tượng của ông cho tới khi bắt đầu perestroika. Ông vui sướng ca ngợi Castro của Cuba trong thơ mình (và viết kịch bản cho bộ phim tuyên truyền Tôi Cuba của Mikhail Kalatozov) và không khó khăn gì khi viết thơ khẩu hiệu về bất cứ chủ đề tuyên truyền nào. Robert Rozhdestvensky và nhiều nhà thơ trẻ khác cũng làm việc trong cùng nguồn cảm hứng như vậy vào giữa thập niên 1950, khi thời kỳ được gọi là Tan băng trở thành thời kỳ cho họ có dịp va chạm ngắn ngủi nhưng náo động với chế độ.

danngoc 10-03-2012 06:47

Dường như rằng thoạt đầu, Khrushchev đã phải đồng tình với những thi sĩ trẻ lý tưởng hóa, bởi ông cần có đồng minh mạnh mẽ trong giới trí thức khi ông đi đu dây với việc bài chủ nghĩa Stalinnít. Sự ủng hộ của ông, theo sau là những cuộc công kích hung bạo đột ngột, đã giúp khiến họ trở nên nổi tiếng thế giới. Tuy nhiên, tại Nga, không phải ai cũng bị gây ấn tượng.

Akhmatova có một thái độ hoài nghi đối với những “thi sĩ sân vận động”. Trong trò chuyện riêng bà gọi Yevtushenko là người kế nghiệp Mayakovsky “nhưng không có thiên tài của ông ấy”; bà so sánh Voznesensky với Igor Severyanin, một nhà thơ phổ biến vào cuối thế kỷ trước (“cũng có sự vô vị và kiểu báng bổ rẻ tiền đó”); còn liên quan tới Akhmadulina bà đã bất thần trích đọc những bài thơ kiểu cách của Mikhail Kuzmin, người chết trong quên lãng năm 1936. *

Khrushchev cố gắng hình thành giới ưu tú văn hóa của riêng mình. Fadeyev, nhà văn từng một thời tài năng được Stalin đưa lên làm người giám sát nền văn học Xô viết, bị ông tước bỏ quyền lực. Ngày nay, sau khi những lá thư lo sợ của Fadeyev gửi Khrushchev năm 1953 được xuất bản, đã rõ là chính thái độ lạnh nhạt rõ rệt của vị lãnh tụ mới lên đối với nhà văn, chứ hoàn toàn không phải sự day dứt lương tâm của Fadeyev về vai trò của mình trong những cuộc đàn áp Stalinnít đối với đồng nghiệp của ông như trước đây thường nghĩ, đã đẩy Fadeyev đi tới việc bất ngờ tự sát năm 1956 ở tuổi năm mươi tư.

Khrushchev cũng vứt bỏ một người được Stalin sủng ái khác là phó của Fadeyev, Konstantin Simonov, sáu lần đoạt Giải thưởng Stalin và là tác giả của bài thơ thời chiến nổi tiếng “Đợi anh về”. Vị lãnh tụ mới của Liên Xô tức giận bởi lời chỉ dẫn của Simonov xuất hiện trên tờ Literaturnaya Gazeta không lâu sau khi Stalin mất: “Mục tiêu quan trọng nhất, cao quý nhất trước văn học Xô viết là nắm bắt lấy tất cả vẻ uy nghiêm và trọn vẹn nhất hình ảnh của thiên tài vĩ đại nhất mọi thời đại và của mọi dân tộc – hình ảnh của Stalin bất tử – cho những người đương thời và cho các thế hệ tương lai”. ** (Một thời gian sau, Simonov lâm trọng bệnh sẽ đọc cho chép lại bộ hồi ký có lẽ là hay nhất về những cuộc gặp của ông với Stalin).


* Anna Akhmatova qua trò chuyện với tác giả

** Literaturnaia gazeta, 19/3/1953

danngoc 12-03-2012 09:22

Khrushchev đã chặn con đường công danh của một người được Stalin sủng ái khác, Alexander Gerasimov, chủ tịch Viện Hàn lâm Nghệ thuật Liên Xô và bốn lần đoạt Giải thưởng Stalin. Cuộc nói chuyện giữa Gerasimov với Khrushchev, trong đó nhà họa sĩ cố gắng thuyết phục ông rằng bài trừ chủ nghĩa Stalinnít là một sai lầm, đã kết thúc bằng một xì căng đan: Gerasimov tính khí thất thường hiên ngang bước khỏi phòng làm việc của Khrushchev và đóng sầm cửa sau lưng. Gerasimov được lệnh phải đệ đơn từ chức; đêm hôm đó ông uống trọn cả chai vodka và suýt chết vì một cơn đau tim.

Những bức chân dung Stalin ở đâu cũng có bị đưa vào nhà kho bảo tàng; nhưng trên các bức khác, đặc biệt là những tranh trong đó vị lãnh tụ được vẽ đứng cạnh Lenin, các họa sĩ vẽ chồng lên trên Stalin các nhân vật khác và những tác phẩm này tiếp tục được trưng bày và sao chép, gợi nên nụ cười kín đáo cho những người hiểu biết.

Dưới sự bảo hộ của Khrushchev, một nhà hát liều lĩnh được thành lập tại Moscow – nhà hát Sovremennik [Đương đại], đứng đầu bởi Oleg Efremov trẻ tuổi và tài năng. Các diễn viên của nhà hát, vé buổi diễn của họ luôn bán hết sạch, đặc biệt sau buổi công diễn vở kịch trào phúng tinh quái Nhà vua cởi truồng của Yevgeny Shvarts, đã tự gọi mình là “những đứa con của năm 1956”, tức là cái năm đáng nhớ có Đại hội Đảng thứ XX bài chủ nghĩa Stalinnít và cũng là năm khai sinh ra nhà hát của họ. Sự rộng lượng của Khrushchev trái ngược hẳn với Stalin, người đã đóng cửa Nhà hát Mái vòm thử nghiệm của Alexander Tairov tài ba năm 1949.

Chính sách văn hóa của Nhà Nước Xô viết cũng thay đổi trên một đấu trường quan trọng khác. Năm 1951, chỉ có ba bộ phim truyện – Năm 1919 không thể lãng quên, Đô đốc UshakovNhà soạn nhạc Glinka – được sản xuất tại Mosfilm, xưởng phim chính của đất nước. * Đó là kết quả của ý tưởng điên rồ của Stalin già nua cho rằng nếu ông chỉ làm một vài bộ phim nhưng với nhân sự giỏi nhất và dưới sự giám sát của chính ông, tất cả chúng sẽ là kiệt tác. Khi thật tai họa cả ba đạo diễn đều ngã bệnh cùng một lúc, công việc tại Mosfilm ngưng hoàn toàn; bầy dơi bay vào trú ngụ trong những căn chòi tối tăm.


* Kogda fil’m okonchen. Govoriat rezhisery “Mosfil’ma” [Khi bộ phim kết thúc. Nói chuyện với các đạo diễn Mosfilm] (Moscow, 1964), tr. 116

danngoc 13-03-2012 13:31

Trái lại, đến năm 1960 sản lượng hàng năm đã tăng lên hơn một trăm phim truyện. Chúng bao gồm hai phim về Thế Chiến thứ II sẽ thắng giải tại Liên hoan Phim Cannes: bộ phim tình cảm Khi đàn sếu bay về của Kalatozov, với các vai diễn không thể nào quên của Tatyana Samoilova và Alexei Batalov, và bộ phim cảm động Bài ca người lính của Grigory Chukhrai, suốt nhiều năm liền là danh thiếp cho nền điện ảnh Xô viết mới mẻ tại phương Tây. Lần đầu tiên từ thời kỳ kinh điển của phái tiền phong – Eisenstein và các đồng nghiệp – giới phê bình am hiểu ở phương Tây mới lại viết về điện ảnh Xô viết với sự kính trọng.

SSX 14-03-2012 03:46

Ông Stanislav Govorukhin, không biết bác có xếp ông này vào "dàn ... thần kỳ" hay không? Nhưng ông ấy nói thế này: Интеллигенция - это говно нации; http://diendan.nuocnga.net/showpost....6&postcount=33

Em ngờ rằng chẳng có cái dàn thần kỳ nào cả mà bác đang vọc tay hay thậm chí tệ hơn là các bộ phận khác vào cái đống говно;

SSX 17-03-2012 02:12

Nhân sĩ đối lập - hay dàn thần kỳ!
 
Xin phép chủ topic!

Lẽ ra bài này được post vào topic: Phe đối lập ở Nga, nhưng xem ra để vào đây hợp lý hơn bởi thứ nhất, đó là câu chuyện thời Xô Viết, và bởi thứ 2 đó cũng là các nhân sĩ trong dàn hợp xướng, đủ cả các thể loại nhà văn nhà thờ nhà họa, nhà nhạc... vân vân.

Không cần phải giới thiệu tác giả Alexander Mikhaylov là ai, bởi câu chuyện là của chính ông ta. Tự nhiên nó sẽ cho một trong số các lời giải đáp cái dàn thần kỳ này là thế nào; Nhưng trước khi đi vào nội dung của chùm bài viết, có lẽ nên nhắc qua câu chuyện vừa đọc trên mạng. Các nhân sĩ Nga ngố lại vừa ca ngợi, ở Paris hay ở xứ Iceland, có hàng đống nhân sĩ, ra đường là đụng nhân sĩ, dù bất kể là đầu đường xó chợ. Nga ngố cứ gọi là nhìn họ mà thèm. Trong các quán bar, quán cà phê bài trí đầy chất nghệ, nhung nhúc các nhân sĩ làm thơ và viết văn. Còn ngoài đường, hàng đám các tao nhân mặc khách, toàn nhìn cao cỡ ngọn cột điện trở lên.

Cơm áo không đùa với khách thơ. Thế rồi cái ponzi schemes hay pyramid schemes sụp đổ. Vỡ lở ra các xứ này lại là nạn nhân. Bao nhiêu tiền bạc, ngân khố quốc gia được vét sạch đi mua những công phiếu trái phiểu rởm của đám tài phiệt quốc tế kiếm lời, nay những thứ đó ngang giấy lộn.

Thay vì các nhân sĩ lên án đám tài phiệt Do Thái lừa đảo, gây họa cho cả thế giới và thậm chí bắt chúng quì xuống chịu tội, thì họ lại như nhân sĩ Nga ngố... vẫn ca ngút trời. Ta có thể nói gì? đám nhân sĩ Nga ngố đối lập này là vô chính phủ - Anarchism, là loạn tặc bởi thứ có từ xa xưa và cực gần với Mác-xít này - chúng sẽ hành xử vô hạn độ. Đối với chúng, chẳng có tự do, dân quyền, dân chủ nào là đủ cả. Và tệ hơn, các chính phủ châu Âu, nhất loạt thi nhau chui vào cái rọ chúng mở sẵn, tên là Liên bang Xô viết châu Âu! Cả một đám các quốc gia, vốn có chút tự hào tự do dân chủ nhất loạt quì gối ngửa tay xin vay những đồng tiền của chính mình bị chúng cướp từ ponzi schemes, đánh đổi bằng cách tước đoạt của dân chúng châu Âu tự do, nhân quyền, dân chủ.

Chẳng có ai bầu ra cái Liên Minh châu Âu này cả. À, có trưng cầu dân ý, trưng lần 1 không được thì trưng lần 2, lần 3. Các ông chủ nhắc nhở các quốc gia phải tích cực tuyên truyền quảng bá (hay tích cực nhồi sọ?), thí dụ như Iceland trưng cầu lần 2, có 45% cho ý kiến, hơn 50% của 45% thuận. Nghĩa là đồng thuận cỡ 25%. Cực kỳ dân chủ nhé! Người ta chán ngán, thờ ơ bởi biết trưng cầu cũng chỉ là trò hề, bởi quyền của họ đã bị tước đoạt sạch rồi.

Nạn nhân đầu tiên: Lybia. Chúng ta đang ở năm 1939 của WW-II;

SSX 17-03-2012 02:19

Rơi xuống lỗ ký ức: Suy ngẫm về phản văn hóa Xô Viết 1980s
 
Alexander Mikhaylov, chùm bài viết của ông này ở đây, có 5 phần được trình bày như một bài tiểu luận. Mọi ý kiến trong này là của tác giả, không phải của người truyền tải.

Cuối cùng, “hệ thống” không để lại bất kỳ dấu hiệu nhìn thấy được nào trong đời sống văn hóa Xô Viết. Thật vậy, đáng ngạc nhiên là một tập hợp lớn như thế, phản văn hóa như thế, một lãnh địa của rất nhiều các nhà thơ, nghệ sĩ, và nhạc sĩ mà thất bại khi nêu ra bất cứ ai có tầm quan trọng. Cái “hệ thống” đã sẵn sàng để tung hô nhau như là thiên tài sáng tạo thật sự. Điều này, tất nhiên, là một truyền thống tốt của người Do Thái: anh bạn hầu như rất khó để tìm thấy một gia đình Do Thái, nơi cha mẹ không coi con họ là một "thần đồng". Tuy nhiên, để trích dẫn một thành viên Do Thái của 'hệ thống', “nghệ thuật là lâu dài, nhưng tôi thì không, vì vậy tôi quyết định ngừng chơi nhạc và bắt đầu kiếm tiền.” Cuối cùng, kinh doanh giỏi sẽ luôn luôn là lựa chọn số 1 của những thiên tài sáng tạo, và nó không có gì là bí mật đời sống tài chính và kinh doanh của nước Nga mới vẫn Do Thái nặng nề, mặc dù tôi không thể nói liệu các doanh nhân mới nở đã có hứa hẹn gì các nghệ sĩ trong thời Xô Viết.

Mặt khác, “hệ thống” đã biến rất nhiều những chàng trai và cô gái trẻ không Do Thái tốt nhất và sáng giá nhất thành những phế thải mà người ta không thể cứu giúp mà chỉ có thể tự hỏi – mục đích của chúng là gì?


Bài tiểu luận này là một sự phản ánh một số khía cạnh nào đó trong quá khứ của tôi liên hệ đến “phản văn hóa” của Xô Viết cũ và các kiến trúc sư chính của nó, những kẻ tham gia và là động lực dẫn dắt - những người Do Thái. Tôi đã là một người trẻ vỡ mộng vào cái lúc tôi tham gia vào cái gọi là phong trào “hệ thống”, và mặc dù sự dính líu của cá nhân tôi với nó là khá ngắn ngủi, thì chính sự giao thiệp với “hệ thống” và những con người - tự nó hoàn toàn là một cuộc nếm mùi kỳ lạ - đã thay đổi mạnh con đường hợp lẽ của cuộc đời tôi. Vẫn còn nguyên đó khó khăn đối với tôi để viết về 'hệ thống' (tên tiếng lóng ban đầu về phản văn hóa Xô Viết là 'hệ thống', hoặc ‘Sistema’, những kẻ tham gia hoặc thành viên của nó thường gọi chính mình là 'lập dị-hippies', 'chủ thuyết hòa bình' hoặc 'rác rưởi-punks', nhưng những cái tên đó hoàn toàn là tùy ý. Tên lóng chung chúng ưa dùng là "người của hệ thống” hoặc “sistemny” hoặc số nhiều “công chúng-peoply’”.

SSX 17-03-2012 03:00

Rơi xuống lỗ ký ức: Suy ngẫm về phản văn hóa Xô Viết 1980s
 
Mặc dù cái “hệ thống” này là một đặc tính quan trọng và hữu hình của đời sống đô thị Xô Viết, thì người ta khó mà nghe thấy chúng ngày nay, như thể là hiện tượng đặc biệt này đã mất hút vào cái lỗ ký ức Orwellian không một dấu vết. Người ta cho là, đã có hàng trăm nếu không phải là hàng ngàn hợp lại, những thanh niên, Do Thái và không-Do Thái như nhau, cùng chung một thái độ nổi loạn đối với hệ thống Xô Viết. Nó báo hiệu sẽ phá vỡ tình trạng trì trệ bởi sức mạnh liên hiệp của thế hệ trẻ và vỡ mộng thanh niên Xô Viết không có gì để mất, ngay cả khi họ không có khả năng. Tuy nhiên, tất cả những người phản đối trong im lặng và các hoạt động được cho là nổi loạn trở nên vô ích, họ biến mất vào quá khứ, hoặc là họ đã bị xóa bỏ một cách chủ ý.

Trên thực tế, mà giờ đây tôi nhìn lại, tôi không thể nêu tên bất kỳ hoạt động hoặc hành động rõ ràng nào mà được cho là trông đợi hay là phổ biến đối với “công chúng”. Họ hút thuốc cỏ, nghe nhạc, mặc quần áo theo cách lập dị, lảng tránh làm công việc sản xuất và nghĩa vụ quân sự: Tôi hầu như bị xui khiến để nói rằng họ chỉ là những kẻ lười biếng. Nhưng thực tế là tất cả sự lười biếng của họ được thực hiện ở cái tên chống đối chính quyền tạo ra thái độ không bình thường của họ đối với thời kỳ Xô viết. Để minh họa cho điểm này, tôi một lần nghe nói rằng từ chối nhường ghế xe buýt cho người lớn tuổi có thể được coi là một hành động chính trị, không phải vì ví dụ về Rose Parks, mà đơn giản chỉ vì người lớn tuổi có thể là một cựu chiến binh Xô Viết và do đó không xứng đáng để có một chỗ ngồi. Tương tự gần nhất ở phương Tây có thể là phong trào beatnik (hippies lập dị), ngoại trừ là hệ thống thiếu tập trung nghệ thuật vào beatniks. Điều duy nhất mà tất cả mọi người đã đồng ý là Sovdep (một từ xúc phạm đối với Xô Viết) là không tốt.

Cái gì đập vào tôi khi xem xét hiện tượng này bây giờ, đó là một sự trái ngược quá ư phức tạp mà đã lan tỏa khắp cấu trúc và giá trị nội tại của “hệ thống”: nó được định hướng theo cách không vì lời lãi từ “lính trơn” của phong trào. Ví dụ, “hệ thống” chủ yếu xoay quanh ma túy, nhưng những kẻ đã đẩy họ hoặc cố gắng kết nạp người ngoài vào (tức là, từ các thành viên băng đảng đường phố trẻ và thanh thiếu niên không có niềm tin chính trị rõ ràng - tất cả những kẻ này chắc chắn không phải là người Do Thái) không bao giờ cố gắng kiếm lợi nhuận từ đó. Có vẻ như là kẻ chủ mưu của “hệ thống”, phổ biến ma túy nhằm phục vụ một mục đích khác. Một điều kỳ quặc khác: các thành viên cốt lõi của nó tuyên bố là người bất đồng chính kiến, gần như là “nhà cách mạng”, đúng là rất nhiều kẻ, có lẽ là một phần ba nếu không phải một nửa, là mật vụ KGB.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:34.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.