![]() |
Ngày 22 tháng Sáu 1942
Một năm chiến tranh. Hôm nay tin phát đi đầy lo âu. Tô-bơ-rúc thất thủ. Quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến Xê-vát-xtô-pôn. Còn mặt khar-cốp, quân ta đang củng cố vùng Bacư Đô-nét-xcơ, nhưng cũng bị đẩy lùi. 12 giờ 45 phút. Pháo kích dữ dội. Và đạn rơi ngay cạnh trại lính Grơ-na-đa. Tôi ngồi ở tầng dưới với nhà tôi. bây giờ thì im ả. Máy bay của ta đang bay. |
Ngày 24 tháng Sáu 1942
Cuối cùng, tôi cũng đã viết xong chương III của bài thơ "Pun-côp-xki". Tôi bắt đầu viết nó ngày 14 tháng Ba. |
Ngày 29 tháng Sáu 1942
Tin trên Đài đầy lo âu. Phía Cur-xki có chiến sự. Quân Đức chỉ còn cách Mát-xcơ-va một trăm cây số. |
Ngày 30 tháng Sáu 1942
Đài phát thanh đưa những tin tức nặng nề. Xê-vát-xtôn-pôn vẫn giữ vững, nhưng rõ ràng là khó khăn lắm. Hôm nay bỗng nhiên chúng tôi mới biết là quân ta đã rút khỏi Vôn-khốp. Nhà tôi nói: Chúng ta lâm vào cảnh mùa thu năm ngoái. nếu bọn Đức chiếm được Chi-khơ-vin chẳng hạn thì chúng ta ở đây bắt đầu ở vào một vòng vây thứ hai nữa. |
Ngày 5 tháng Bảy 1942
Quân ta rút khỏi Xê-vát-xtô-pôn. Có người nói xe tăng giặc Đức đang tiến về phía Chi-khơ-vin. Rõ ràng là chúng lại định tấn công Lê-nin-grát. Ép-ghê-ni-pê-trốp bị hy sinh trên đường từ Xê-vat-xtô-pôn về Mát-xcơ-va. |
Ngày 6 tháng Bảy 1942
Cũng ngày giờ này năm ngoái tôi tiễn Gian-na đi Trix-xtô-pôn. Lần cuối cùng trong đời tôi nhìn Mi-sen-ca. |
Ngày 8 tháng Bảy 1942
Tin tức khủng khiếp. Ở Li-bi quân Anh bị khốn đốn. Quân ta đã đánh nhau ở vùng Vô-rô-ne-giơ. Mát-xcơ-va lại bị tấn công. Ở Lê-nin-grát cùng đầy lo âu về việc bắt buộc phải tản cư một cách quy mô. Có quyết định của hội đồng quân sự đưa đi tất cả những người nào không cần thiết và tuyên bố Lê-nin-grát là thành phố quân sự, " với tất cả những hậu quả của nó". Hôm qua tôi được biết là tất cả cửa sổ ở tầng dưới cùng sẽ làm thành lỗ châu mai. Có một điều lạ lùng, điều đó làm tôi trở lên bình tĩnh mọt cách kỳ lạ. Pháo đài là pháo đài thôi. Tôi ngày càng phục nhà tôi. Khi có những người lạc quan quá thì anh nói:" Hãy còn sớm". Lúc có người hoảng sợ thì anh bảo: " việc đó chưa có căn cứ gì". Anh tin tưởng tuyệt đối là ta nhất định thắng không phải vì muốn tin tưởng điều đó. Anh biết là thắng lợi sẽ đến. Anh dạy tôi sáng suốt và dũng cảm. Tất nhiên khi tiếng pháo cao xạ nổ ngay trên đỉnh đầu thì tôi vẫn sợ, và cái chính là khi tiếng đạn réo. Tuy điều đó chứng tỏ là cái chết đã qua rồi. nhà tôi can đảm hơn tôi nhiều. nhưng bên ngoài bao giờ tôi cũng hầu như luôn bình tĩnh. Và đó là bước đầu của sự dũng cảm thật sự. |
Ngày 9 tháng Bảy 1942
Hôm qua tôi đi ô-tô con đến vịnh Ca-rên-xki về phía hồ La-đô-ga. Ơ Vô-lô I-a-vin nơi sinh viên của chúng tôi đang vào công sự phòng ngự. Biệt thự, những sân gỗ, vườn tược, giếng nước đều vắng vẻ. Cuộc sống trước chiến tranh đã từ giã nơi này lâu rồi. Có một đôi chim bách linh đậu trên cái thùng thư bưu điện đang tư lự điều gì. Hình như chúng bị cái thùng thư bỏ không ấy đánh lừa, tưởng là tổ ấm và định ở luôn đấy. Ngày tháng Bảy tưng bừng ở ngoại ô. Hoa đồng nhiều quá đến ngạc nhiên. Cả năm nay chúng tôi hình như quên cả cỏ hoa. Còn mùi ét xăng nồng nặc lúc nào cũng bám lấy chúng tôi, đúng hơn là đi trước chúng tôi làm át mùi hương thơm của cỏ hoa. Một chiếc xe vận tải quân sự chở dầu xăng chạy trước mặt chúng tôi. Họ quên vặn nắp thùng dầu trên xe. Chất dầu quý giá ấy chảy trên đường mà đường lại vắng tanh không có lấy một người để gọi anh lái xe đỗ lại. Chúng tôi đi vòng vèo rất lâu và cuối cùng mới đi thẳng đến những lều trại, nơi các cô sinh viên ở. Đến chỗ đào công sự hãy còn xa. Chúng tôi phải đi bộ đến đấy. Đằng xa mặt hồ La-đô-ga ánh lên trong màu xanh thẫm của rừng cây. Một tuyến mới công sự của chúng tôi đã chạy về phía tây. Thành phố càng đẩy quân Đức ra xa bao nhiêu. Nhưng nói chung thì ở đây trước kia vòng vây có chiều dài lớn nhất của nó. Lê-nin-grát không phải ở trung tâm của vòng vây. Ở khu phố Ki-rốp vòng vây đi ngay bên cạnh, còn ở đây vòng vây cách xa thành phố những sáu mươi cây số. Đây là chỗ chúng tôi xa giặc Đức nhất. Công sự và hào giao thông tương lai mà các cô sinh viên của chúng tôi đang đào theo rất đúng độ quanh co của một con sông nhỏ mọc đầy cỏ sung và chuồn chuồn đậu đầy: nó cũng không bao giờ nằm mộng thấy rằng mình trở lên " con sông giới tuyến" Từ xa tôi đã thấy trên bờ cỏ những gì giống như những bông hoa cẩm khôi, hoa bách hợp, hoa hướng dương rất lớn. Đấy là những chiếc áo sơ mi, váy và áo cánh đã phơi khô. Đấy là quần áo của các cô gái giặt ở dưới sông vào buổi sớm để khi đi làm về là có quần áo sạch sẽ mà thay. Công việc thật gian khổ. Đất thịt lầy lội. Những đàn muỗi dày đặc bay trên đầu. Người nào cũng bị muỗi đốt, nắng cháy da. Không có dày không có nước sạch. những điều kêu ca chính là " Tại sao lâu như thế mà không cử những tốp sinh viên khác cùng lớp ra làm thay đổi chúng tôi?" và " tại sao các trường Y khoa khác không đến làm, tại sao chỉ có chúng tôi thôi?". Có một số sinh viên đề ra những câu hỏi này rất gay gắt, hầu như một cô bé (sinh viên năm thứ nhất) mắt đen nhánh, chân lấm đất, trên mũi dán một chiếc lá xanh để che nắng. Nhưng cô ta lại kêu lên đầu tiên: " Nói chuyện thế đủ rồi !" và cô nhảy ngay xuống một cái hố sâu, nơi chuẩn bị đặt một ổ súng máy. Những cô gái này đổi những giảng đường to rộng, sạch sẽ đến với những hầm hào đất cát này. Ở đây "thi thử" là do sĩ quan quân đội kiểm tra, không cần phải thi lại nữa. Sau bữa cơm vào lúc mặt trời sắp lặn có một cuộc mít tinh nhỏ trên bãi cỏ giữa những tuýp lều. Mọi người đều ngồi trên cỏ. Có những tốp người mới đến từ những khu xa hơn ngồi dần vào phía sau. Đơn vị bộ đội đến rất trật tự cũng ngồi ngay đấy. Người ta đốt lửa để đuổi muỗi cho chúng tôi. Cho chúng tôi ngồi trên một khúc gỗ lớn trên một cồn đất cao. Nhà tôi đọc bản báo cáo. Khi anh nói đến việc quân ta rú khỏi Xê-vát-xtô-pôn thì trên nét mặt mọi người thoáng vẻ đau buồn. Ở đây chưa biết tin này, vì tổ quốc, vì quê hương, để trả thù cho Xê-vát-xtô-pôn nằm ở bên kia tổ quốc, nhà tôi kêu gọi những người con gái của Lê-nin-grát hãy làm tất cả để cho cha anh chiến thắng. Sau đó tôi đọc thơ. Trên đường về nhà, chúng tôi gặp phải một việc phiền toái là lạc đường. Dưới ánh sáng của ngày không tắt, trong bóng tối nhờ nhờ, chúng tôi đi mãi bên cạnh một trận địa dài vô tận. sau đó mới đến một cánh đồng giăng đầy dây thép gai. Trên một tấm biển vẽ cái đầu lâu và hai cái xương bắt chéo nhau bảo rằng ở đây có mìn. Những bụi cây đứng như chết. Không khí lặng như tờ. Cái gì cũng có vẻ cổ kính, u ám, bất động, hệt như tàn tích của những cuộc chiến tranh nào khác. Xe chúng tôi đi vào một con đường um tùm. Chúng tôi đi nửa giờ, rồi một giờ. Bỗng xéc-gây Pa-vlô-vich nói:" Thế nào, chẳng lẽ chúng ta lại đi về phía bọn Đức sao?". Không phải chỉ tôi (về tôi thì khỏi phải nói) mà ngay nhà tôi cũng hoảng hốt. Tay đồng chí lái xe cũng run lên. Ngay lúc đó, chúng tôi lại nhìn thấy xa xa trước mắt một cái trạm gác bằng gỗ không có người. Chúng tôi quyết định đến đó nếu không gặp ai thì phải chạy trở lại và rời khỏi những nơi nguy hiểm này. Nhưng vừa đến chỗ trạm gác, chúng tôi lại gặp các chiến sĩ tuần tiễu. Chưa bao giờ chúng tôi thấy những nét mặt người lại có sức hấp dẫn đến thế. Thì ra chúng tôi đi đúng đường. Sau khi giấy tờ của chúng tôi được xem xét kỹ, chúng tôi mời các đội viên tuần tiễu hút thuốc. Anh em hút thuốc rất khoái trá. Khói từ ba điếu thuốc lá bốc lên treo lơ lửng trong không khí bất động. Chúng tôi quay lại nhìn họ rất lâu và cứ cười mãi về nỗi kinh hãi của mình vừa qua. Cho đến lúc ấy vẫn còn thấy lạnh ở sống lưng. |
Ngày 10 tháng Bảy 1942
Hôm nay là sinh nhật của tôi !... Trong năm này, điều bất hạnh duy nhất của riêng tôi, đó là cái chết của cháu Mi-sen-ca. Giá thử không có điều đó thì tôi là một người rất sung sướng, một người có hạnh phúc cao đẹp nhất vì công việc của tôi đã có ích trong thời gian chiến tranh. Tôi có thể lấy lời của một đồng chí du kích để nói về mình: " Chúng tôi sống đầy đủ. Tôi đánh giá như vậy là vì cuộc sống tốt đẹp khi nào những ngày bình thường tràn đầy những công việc chiến đấu". Nhưng đối với tôi công việc sáng tác cũng chính là công tác chiến đấu. Đêm đến tôi đáp máy bay đi Mát-xcơ-va và từ Mát-xcơ-va bay đi trix-tô-pôn để thăm Gian-na. |
Ngày 13 tháng Bảy 1942
Mát-xcơ-va. Thành phố Mát-xcơ-va và khách sạn. "Mát-xcơ-va "-Mát-xcơ-va trong hình vuông. Đài báo tin đáng sợ. Hôm nay tôi chưa nghe đài, nhưng hôm qua có chiến sự đã xảy ra gần vùng Vô-rô-ne-giơ rồi. nhà tôi lo lắng tuy cũng vẫn như trước kia, vẫn tin tưởng vào cái gì tốt đẹp nhất. Tôi cũng tin tưởng như vậy. Nhưng đất nước chúng ta ( và nói chung là tất cả các nước) sẽ ra sao sau cuộc chiến tranh khủng khiếp này? Ở đây lần đầu tiên theo những chuyện của những người đã ở Trix-xtôn-pôn, tôi đã cảm thấy không khí ở thành phố này rồi. Tôi không muốn đến sống ở đó. Tôi càng tin rằng cái nơi duy nhất mà tôi cần ở hiện nay vẫn Là Lê-nin-grát. Sống ở đó thoải mái hơn. và tôi tin là chết ở đó cũng dễ chịu hơn nếu phải chết. Chết trong lửa đạn lúc tấn công hay trong bom đạn bị oanh tạc-nhưng một cái chết anh hùng, sôi nổi. Lê-nin-grát hiện nay thực sự là một pháo đài mà chúng tôi là đội cận vệ. và trong pháo đài thì tất cả điều thích nghi với chiến tranh. Và ở đó thoải mái hơn chẳng hạn như ở Xa-ra-tôp ( tôi vừa nghe đài báo tin nặng nề: Quân ta lại tút về những phòng tuyến mới… chiến sự vẫn ở vùng cạnh Vô-rô-ne-giơ). |
Ngày 16 tháng Bảy 1942
Đài truyền tin khủng khiếp. Quân ta lại rút lui khỏi Bô-gu-sa và Mi-lê-rô-vô. Đứa con trai 18 tuổi của An-ta-côn-xki bị hy sinh ngoài mặt tiền tuyến. Hình như An-toa-đen cũng hy sinh ngoài mặt trận rồi. Xê-vin-xki chống gậy đi tập tễnh, rầu rĩ, một chân đi ủng, một chân đi giầy vải. Tình hình gần kéc-sơ chắc là khủng khiếp. Anh ta cũng đi về với gia đình ở Trix-tô-pôn nhưng anh đến Ca-dan bằng tàu lửa. Còn tôi đi lúc nào va bằng phương tiện gì thì chưa rõ. Tôi nghĩ đến máy bay. Mà ngày thì cứ trôi qua… Mát-xcơ-va đầy lo âu. Người ta bảo là bon Đức đã bay trên Mát-xcơ-va nhưng chúng bị đánh lúc ở Pa-don-xki. Tốt hơn lại trở về Lê-nin-grát. |
Ngày 19 tháng Bảy 1942
Ca-dan sân bay. Tôi ngồi trong khách sạn ở sân bay. Đúng hơn đấy là một cái gì giống nhà ở tập thể mà ở đấy mỗi buồng có mấy cái giường. Thời tiết tai hại! Mưa mù mịt, lạnh, gió giật. Chẳng cần phải Nha khí tượng cũng hiểu ngay là máy bay không bay được. Thế mà hôm qua chúng tôi bay đến đây rất tốt, chỉ chạm thôi. Về phí tây, cả bầu trời ánh lên đỏ lửa và tôi nghĩ ngay là thời tiết sẽ xấu đi. Và đúng như thế thật. Ngoài cái thời tiết tệ hại ấy ở sân bay này còn có chuyện buồn. Hôm qua buổi sáng, một chiếc máy bay "Ú-2" bị rơi trong đó có hai người lái. Hôm nay chôn cất những ngườì bị nạn. người ta khiêng linh cữu ra nghĩa địa với những vòng hoa. Đêm đến tôi thức giấc vì một cơn dông dữ dội. Sấm làm rùn cả ngôi nhà. Một cô bé đi tản cư ngủ với mẹ cùng một giường vừa khóc, hỏi: -Mẹ ơi, chúng bắn hay ta bắn đấy mẹ? -Con ngủ đi, sấm đấy ! Không ai bắn cả-Người mẹ trả lời. Cô gái ngừng một phút rồi lại hỏi: -Mẹ ơi, địch hay là ta hở mẹ? Cháu bé này sẽ không chóng quên chiến tranh đâu. Tôi ở cách Gian-na không xa nhưng máy bay không có, còn đi tàu thuỷ tôi không dám: quá lâu và phức tạp. Cứ chờ xem đã. Ca-dan bây giờ không chỉ là thủ đô của Tac-ta. Đó là một phần của Mát-xcơ-va, nó gợi nhớ lại Lê-nin-grát, kỷ niệm về Ki-ép. Người Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Ki-ép đầy các phố Ca-da. Họ sống và làm việc ở đây. Có những cuộc gặp gỡ bất ngờ. Ca-da cũng như tất cả các thành phố khác của liên bang chúng ta ở vào trung tâm các sự kiện. Nó cột chặt với mặt trận cùng một ý chí, một hơi thở. Mát-xcơ-va đó là tượng trưng của Tổ quốc. Tất cả các ngôn ngữ và tiếng nói của Nhà nước nhiều dân tộc của chúng ta bây giờ thể hiện một điều: Sự thống nhất của tiền tuyến và hậu phương, sự thống nhất ý chí chiến thắng. Trong một quyển sách vĩ đại thống nhất, trong " Chiến tranh và hoà bình" của Tôn-xtôi có một cảnh: Pi-e Bê-du-khốp bị bắt làm tù binh đếm ngồi cạnh đống lửa, dưới bầu tời sao của Mát-xcơ-va bị quân Pháp chiếm đóng bỗng nhiên cười lớn và nói đi nói lại " Họ bắt… Ai? Tôi à? Cái tâm hồn bất tử của tôi". Có cái gì chung giữa thành phố Lê-nin-grát bị vây và nhân vật của Tôn-xtôi thời chiến tranh vệ quốc lần thứ nhất. Mà Lê-nin-grát thì không cười: Nó nghiêm nghị. Và nó không tiêu cực như Pi-e. Nó tự bảo vệ, nó tấn công. Nhưng cảm giác hơn hẳn quân thù về tinh thần đã làm gần gũi cái thành phố Nga vĩ đại với con người Nga Pi-e Bê-du-khốp. Đây sự cảm thấy chính nghĩa và sức mạnh tinh thần của mình thấm vào đất nước chúng ta từ mặt đất đến bầu trời. Từ hồ đến sông đến bể, đến đồng hoang. Bây giờ đi trên đất nước Xô viết ta sẽ có một cảm xúc đặc biệt: Khí hậu, cảnh vật, hoàn cảnh thay đổi. Nhưng con người…cũng vẫn những con người ấy. Con người không thay đổi. Cái ý nghĩ về đám mây đen đang uy hiếp trên đất nước thân yêu không một phút xa rời người Xô-viết. Và ở đâu cũng thế, ở một nơi mà anh đến. Hoàng hôn. Chân trời màu đỏ da cam đang di động dưới những đám mây màu xám đang bay nhanh. Bầu trời hình như cũng đang chạy: Có bao nhiêu mây đều dồn về một phía. Mưa tạnh nhưng ngày mai sẽ ra sao? Tôi vừa đến gặp trưởng sân bay và ông ta trả lời: -Ngày mai nhất định chúng ta đi thôi. Tôi không nghe đài nhưng người ta bảo tôi là chúng ta đã bỏ Vô-rô-si-lôp-grát. Tôi thấy rằng ở Lê-nin-grát những tin xấu dễ chịu đựng hơn là ở đây. |
Ngày 20 tháng Bảy 1942
Buổi sáng Thật bực là chuyến bay chỉ vẻn vẹn bốn mươi phút tốt hơn là tôi đi bằng tàu thuỷ. Nhưng buổi sáng nay thật đẹp. Trên trời không có một gợn mây. Gió thổi bạt hết. Tôi lại đi tìm đồng chí trưởng sân bay. Ban ngày. Tôi vẫn ở đây. Máy bay không có. Hẹn là đến bốn giờ rưỡi nhưng tôi không tin nữa rồi. Tôi sẽ đi trên chiếc "U-2". Ở đây không có máy bay hành khách. Chỉ đi nhờ máy bay bưu điện hay y tế. |
Ngày 22 tháng Bảy 1942
Tri-xtôn-pôn. Gần tối thì tôi bay tới đây vào cái lúc mà chẳng còn ai chờ tôi nữa. Từ sân bay ra tôi đi trên những con đường im vắng thoáng gió mùi đồng cỏ. Tôi đã đến Tri-xtô-pôn vào thời kỳ đi tuyên truyền lưu động năm 1924. Tôi không ngờ là đến đây lần nữa. Và tôi cũng không ngời rằng trên mảnh đất này đã chôn đứa cháu của tôi. Trên cả con đường từ Nê-va đến Ca-ma trên tất cả các đoạn đường dù là thành phố lớn hay là một nhà ga nhỏ, trong cả các tỉnh khác nhau tôi đã gặp cùng một người đó: người đàn bà Xô-viết năng động, có ý chí và đấy nghị lực. Nói chung đối với tôi Ca-dan và những thành phố ở Ca-ma liên hệ mãi mãi với những hình tượng tuyệt với của người phụ nữ: Dũng cảm, dịu dàng và thơ mộng. Cuối cùng rồi tôi cũng đi được trên chiếc máy bay "U-2". Tôi đi cùng với một cô gái cao, mặc đồng phục thợ máy lên máy bay. Cô ta buộc tôi vào chỗ ngồi bằng dây da thử lại xem tôi ngồi vững chưa. Phi công cũng là một phụ nữ, tóc vàng, răng trắng, trùng tên với tôi cũng là Ve-ra, đội mũ lên và ngồi vào chỗ. -Chú ý-Ve-ra nói: -Có đây-cô gái thợ máy trả lời. -Mở điện. -Có điện. Chiếc "U-2" nhỏ bé chạy khá lâu trên mặt đất rồi bay lên. Và tôi đã quen đi trên những máy bay lớn, nhiều chỗ ngồi, cửa đóng kín bỗng thấy mình ngồi trên một chiếc máy bay nhỏ, nhẹ như một cái hộp diêm. Tôi thấy mình ngồi đối mặt với khoảng không, với gió, với buổi chiều tà, với những cánh đồng Ca-ma mênh mông… Chúng tôi bay. Và cái điều máy bay do một phụ nữ lái làm tôi rất vui sướng. Tôi nhớ lại các câu nói: "chú ý" "có đây", "có đây, có đây"-tôi nói thầm. Có một nỗi mong muốn, nguyện vọng thiết tha là cống hiến tất cả cho Tổ quốc. Có một "bàn tay phụ nữ đảm đang", khéo léo mà tôi đã miêu tả nó trong nhưng vần thơ của tôi. Chiếc máy bay con cứ chạy vòng mãi trên mặt đất làm cho tôi phát hoảng lên. Tôi nghĩ như thế này thì liệu có đến được Tri-xtô-pôn không? Nhưng tôi bỗng nhớ ra là mình đang trên đường Ca-ma. Trên chuyến máy bay "U-2" người ta có cảm giác như nằm trên một cái giá. Chung quanh toàn là không khí, gió và khoảng không mênh mông. Không có một sự vững chắc nào cả. Cả chuyến bay bị xóc. Mặt trời khổng lồ đang từ từ lặn. Chúng tôi bay qua Ca-ma, hương thơm của đồng cỏ xông lên tận máy bay của chúng tôi. Đồng chí trưởng sân bay ở Tri-xtô-pôn cũng là một phụ nữ. Chị đứng trong đám cỏ cao đến tận thắt lưng nắm lấy cánh máy bay "U-2" của chúng tôi như con cò trắng bắt nó dừng lại. Lúc từ giã đồng chí phi công gái của chúng tôi, tôi định mời chị hút thuốc. Song chị lại không biết hút. Tôi lấy chai rượu nho hồng rất quý ra, chị cũng không uống. Chị không biết uống rượu. Lúc đó, sau một phút do dự tôi móc túi áo bành-tô ra một hộp son bôi môi còn nguyên. Chị phi công của chúng tôi, không thể từ chối nữa, cười ngượng ngùng, cầm lấy. |
Ngày 23 tháng Bảy 1942
Ở đây tôi buồn lắm. Gian-na thật đáng thương quá. Nhưng tôi không định cho nó cùng đi Lê-nin-grat. Bản thân tôi hoàn toàn không quen với cảnh sống hoà bình. Hôm qua khi đứng nhìn thấy một người đàn bà bế đứa con nhỏ chạy trên phố, tôi liền nghĩ ngay rằng: "Sao mình lại không nghe còi báo động". Thì ra con ngựa dữ bị xổng cương làm cho những người đi đường hoảng sợ. Tôi rất ngạc nhiên là những buổi tối trời không sụp tối ngay. Theo thói quen tôi vẫn ngồi xa các cửa kính. Tối hôm nay tôi có một cuộc nói chuyện rất lớn. Tôi sẽ phải ngâm bài thơ "Pun-cốp-xki". |
Ngày 24 tháng Bảy 1942
Đêm qua trong buổi nói chuyện của tôi rất đông người đến nghe: Tất cả những người ở Tri-xtô-pôn, đúng hơn là những người Mát-xcơ-va sơ tán về đây vì chiến tranh. Trên bàn chủ tịch đoàn có: I-xa-cốp-xki, Pa-xte-nác, Xen-vin-xki, A-xê-ép. Tất cả những điều đó là khác thường. Tôi rất hồi hộp, không phải nỗi bồi hồi thường ngày mà là một nỗi hồi hộp khác kia, sâu sắc hơn… nói thế nào… một nỗi hồi hộp có trách nhiệm. Trong một ý nghĩa nào đó, tôi thay mặt cho Lê-nin-grat đến nói chuyện ở đây. Mọi người đều chờ ở tôi điều đó. Giữa những hàng ghế, trên bệ cửa sổ, chỗ nào cũng chật ních những người. Các cửa đều mở toang, ở ngoài cửa cũng đứng chật những người. Đêm đầy sao, ấm áp khô ráo (không như ở Lê-nin-grát) nhìn vào những cửa sổ. Tôi nói chuyện và đọc thơ đều khá tốt dù đọc thơ là khó khăn nhất. Đó là chương ba của bài thơ, đoạn nói đến cái chết của đứa bé. Tôi đứng lại, im lặng một phút. và trong im lặng ngột ngạt ấy, tôi nghe tiếng thở hồi hộp xúc động của hàng chục người. Tôi cố gắng… Tôi muốn khối khổng lồ hoa cương Lê-nin-grat-bây giờ đang sáng mờ trong những đêm trắng-vượt qua tất cả không gian, vượt qua quá nửa nước Nga đến sát với cái thành phố nhỏ trên bờ sông Ca-ma tĩnh mịch này. Tôi kể chuyện những người Lê-nin-grat, nói đến chị em phụ nữ, nói đến những người ngoài mặt trận, nói đến những trẻ em … Tôi nói đến một đứa trẻ vừa khóc vừa lấy cát dập tắt đám lửa của bom na-pan. Thằng bé rất sợ, nó mới lên 9 tuổi đầu. Tuy nó khóc đấy, nhưng cuối cùng nó đã dập tắt được đám lửa. Khi tôi dứt lời, mọi người chạy ùa cả về phía tôi, bao vây tôi, bắt tay tôi thật chặt. Tất cả những cử chỉ đó đối với tôi là vì Lê-nin-grát. |
Ngày 26 tháng Bảy 1943
Kết thúc những ngày ở Tri-xtô-pôn. Hôm qua chờ suốt một ngày ở sân bay mà chả có kết quả gì cả ngoài việc được hưởng không khí có mùi hương thơm kỳ lạ của cỏ mật và sữa bò lạnh lấy từ trong hầm ra. Không một chiếc máy bay nào cho chúng tôi đi vào ở đây cũng rất ít máy bay. Tôi gọi dây nói mượn được ngựa. Thế là tôi cùng với Vích-to Chi-pô-tơ cưỡi ngựa xuyên qua thành phố đến bến phà. Trong một căn nhà nhỏ nhưng sạch sẽ ở đầu một nhánh sông (nơi đây làm cho tôi sực nhớ tới một ngôi nhà của Pê-gốt-ti trong cuốn "Đa-vit Cốp-pơ-phin"). Chúng tôi chờ suốt từ một giờ trưa đến tận một giờ đêm mới lên được tàu thuỷ. Ngày hôm nay chúng tôi sẽ đến Ca-dan. |
Ngày 28 tháng Bảy 1942
Mát-xcơ-va Tôi trở lại Mát-xcơ-va. Tình hình ngoài mặt trận rất căng. Quân ta rút khỏi thành phố Rốt-xtốp và Nô-vô-séc-cát. Và còn có chuyện gì đó khủng khiếp đang xảy ra. Đường đi rất khó khăn. Tôi không thể nào quên được những người tàn phế. Ở Lê-nin-grát không có những người này. Ở đó chỉ có những người bị thương còn có thể bình phục được. Tại Ga-can-dan có một thương binh còn rất trẻ, chống hai cái gậy cố gắng leo lên toa tàu, chị phục vụ rất thương xót, nhắc mãi: " Cứ thong thả, bình tĩnh, chú ý cái chân đấy". Mà cái chân này còn rất mới , cái chân giả ấy chưa đi giầy, còn khoác ở vai, chiếc chân giả thứ hai dự trữ không có gày, anh thương binh xách nó trên tay. Đường đi rất khổ, niềm vui duy nhất là còn cách Mát-xcơ-va không xa. Lúc đến bến Cua-rôp-xcai-a có cái gì đẩy tôi đến chỗ bảng treo tờ : Pra-vđa" ( sự thật). Và ở đây tôi thấy tờ báo đã đăng chương ba bài thơ " Pun-côp-xki" của tôi |
Ngày 3 tháng Tám 1942
Lê-nin-grat Hôm qua chúng tôi từ Mát-xcơ-va bay về đây cả phi đội: năm chiếc "Đu-gơ-lát" và bảy chiếc máy bay khu trục. Thân những chiếc "Đu-gơ-lát" nặng nề như treo lơ lửng trong không trung bất động, khoảng cách gửi nhau rất đều, chỉ có nhưng cánh quạt là chuyển động như những đám khói. Máy bay khu trục bay trên chúng tôi. Luôn luôn như bên cạnh sườn, đâu đó đều có những trận không chiến. Nhưng đến hồ La-đô-ga thì yên tĩnh. Lúc này là 12 giờ đêm. Im vắng. Chỉ thỉnh thoảng mới có tiếng súng. Trong lòng rối bời, nhưng từ ngày mai tôi phải ngồi lại mà viết chương bốn của bài thơ. Rối bời và kinh sợ. Hôm qua đã xảy ra nhưng trận không chiến rất lớn trên thành phố có lợi cho ta. Nói chung là vui hẳn lên. Hình như chúng ta lấy lại một phần của Lơ-gốp và có thể thẳng thắn hơn nữa nhưng lại không củng cố và phát triển thắng lợi. Cả ngày hôm nay tôi nghe trọng pháo, hình như của chúng ta. Mọi người đều tập trung chú ý. |
Ngày 4 tháng Tám 1942
"Sạch sẽ" "Thứ tự", hai nữ thần hay ghen và nghiêm khắc đã tiến công tôi khi về đến nhà, đòi hỏi những vật hy sinh một cách quyết liệt. Tôi phải hiến cho chúng những vật hy sinh ấy với bao nhiêu là công việc, quét dọn với nước sạch, lau chùi bụi bẩn. Những vị bạo chúa trong nhà ấy mới chịu yên (nhưng chỉ một thời gian thôi). Tiếng pháo ầm ầm suốt cả đêm. Đặc biệt là về sáng súng càng nổ dữ. Giờ thì đã yên rồi. Nhìn chung, và qua bài nói trên đài phát thanh của Chi-khô-nốp thì ta đang tiến công. Hình như chúng ta quyết định đẩy lùi bọn Đức khỏi thành phố, hơn nữa chúng đang bận ở mặt trận phía Nam. |
Ngày 9 tháng Tám 1942
Gian phòng hoà nhạc lại đầy người giống như hồi trước chiến tranh hay hồi chiến tranh mới bắt đầu ấy. Những người tấu nhạc rất xúc động. Nhạc trưởng hình như cũng thế. Nghe bản giao hưởng số 7 xong, tôi cảm thấy như cả nhạc phẩm đó nói về Lê-nin-grát. Tiếng rít của xe tăng địch đã có trong đó. Nhưng cái kết thúc rực rỡ hãy còn trong tương lai. Chi-khô-nốp đã viết: "Để cho cuộc sống như sự khéo léo của một bậc thầy, Bước vào tiếng rì rào của lá, Như bài hát Đại-tây-dương Cùng nhịp với bài hát của sông Nê-va và Tem-da". |
Ngày 14 tháng Tám 1942 Đêm Vào lúc nửa đêm, có điện thoại gọi nhà tôi đến ngay khu uỷ. Bây giờ lại gọi đến bảo đi nhanh lên. Thật là căng thẳng. Hôm nay sau một thời gian im ắng dài lại bắt đầu có pháp kích. Năm quả đạn rơi vào khu Li-tai-nư. |
Ngày 15 tháng Tám 1942
Đêm qua nhà tôi được gọi đến khu uỷ là để kiểm tra lại tình hình chuẩn bị đề phòng quân địch đổ bộ. Chẳng lẽ chúng tôi sẽ thấy các lỗ châu mai của chúng ta hoạt động hay sao? |
Ngày 17 tháng Tám 1942
Quân ta lại rút lui khỏi Mai-cốp. Ngày 20 tháng Tám 1942 Quân ta đã rút khỏi Cra-xnô-đa-rơ, nhưng lại oanh tạc Đan-xich, Kê-nin-xbe và Tin-dit Hôm qua lúc tôi đi một mình về nhà thì gặp pháo kích. Những viên đạn (mới, bắn xa) rít lên mạnh đến nỗi chỉ ra được mảnh trời mà đạn bay qua giống như có người lấy đinh nhọn siết trên mặt kính. Khi phát đạn đầu tiên vừa nổ, một người đàn bà đi trên phố bảo: "Nào, lại loạn não rồi!" Chị ta chửi Hít-le đấy. Tôi rất phấn khởi thấy mình hoàn toàn không sợ gì nữa. Bước vào nhà trong lúc vẫn còn rền vang tiếng súng, tôi thấy nhà tôi đứng trên chiếc ghế đóng lên tường một cái đĩa sản phẩm xô-viết của xưởng Lô-mô-nô-xốp. Bên lề đĩa đó in hàng chữ: "Trí tuệ không chịu được tù túng!" Thật là tượng trưng! |
Ngày 23 tháng Tám 1942
Trên những đường phố có dán những thông báo của "TASS" (Thông tấn xã Liên-xô), với bài thơ "Đập tan quân thù" của tôi. Ngày 24 tháng Tám 1942 Tôi đến đây đã được một năm. Một năm trọn vẹn và quan trọng nhất trong cuộc đời tôi. Ngày kia tôi sẽ đi Crôn-sơ-tát mấy hôm. Ngày 26 tháng Tám 1942 "Tình hình phức tạp đã diễn ra" gần Xta-lin-grat. Két-lin-xcai-a, Béc-gôn. Ma-ca-gô-nhen-cô và tôi đi Crôn-sơ-tát. Chúng tôi sẽ nói chuyện ở đó. |
Ngày 27 tháng Tám 1942
Quân ta đã phá được vòng vây của địch ở mặt trận phía Tây và mặt trận Ca-li-nin, đánh bật chúng ra được bốn mươi nhăm ki-lô-mét. Địch chết và bị thương bốn vạn năm nghìn tên. Quân ta thu được rất nhiều chiến lợi phẩm. Tình hình mặt trận phía Nam cũng sáng sủa hơn hay ít nhất thì cũng không xấu hơn. Ngay ngày hôm qua thôi, chúng ta vẫn còn lo ngại cho Xta-lin-grat. Tin này do đài phát thanh truyền đi. Khi phát thanh viên đọc đến mấy chữ "Tin giờ chót" qua giọng nói tôi biết ngay là sẽ có một cái gì khác thường. Thật kỳ lạ, bản tin tổng hợp này làm thay đổi bao nhiêu nét mặt. Hôm nay người nào cũng như được tưới một luồng nước sống. Ép-phrô-xi-ni-a I-va-nô-vna đến, mặt rạng rỡ nói: "Giặc Đức lùi rồi!" Hôm nay chúng tôi đến Crôn-sơ-tát. Đi ca-nô, ngay từ cầu Tu-sơ-cốp. |
Ngày 29 tháng Tam 1942
Crôn-sơ-tát. Câu lạc bộ Hải quân. Chúng tôi chờ ở cầu Tu-sơ-côp rất lâu, đến tận chiều tối, tàu nhỏ chỉ đi đêm. nhưng cái đếm trăng vằng vặc như thế này, liệu nó có thể che chở được không. Nhưng tất cả đều yên tĩnh. Thỉnh thoảng mấy chiếc pháo hiệu vút bay lên. những chiếc tàu bảo vệ đi hộ tống chạy giữa chúng tôi và bờ sông. Dưới ánh trăng các khẩu pháo nhỏ càng trở nên đen nhánh. Chúng tôi ngồi trên mạn tàu cho đến khi thấy thấm lạnh mới chui vào trong căn buồng nhỏ nơi cấm hút thuốc vì nó mở cửa về phía bờ giặc đóng. Đến Crôn-sơ-tat (chúng tôi đến đây đêm đã khuya lắm rồi) có người đón và đưa chúng tôi về câu lạc bộ Hải Quân. Cả thành phố tắm trong ánh trăng, im lặng như tờ. Đội tuần tra kiểm soát giấy thông hành dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn đã được che kín, đặt sát mặt đất. Những ánh đèn vàng cũng bị ánh trăng át đi. Ở đây chiến tranh thấy rõ hơn ở Lê-nin-grát nhiều. Đường phố vắng hơn, tàn phá rõ hơn. Những cây cổ thụ bị bom đạn phạt đứt. Tôi gặp một người đàn bà ngoài phố, bế đứa con đi thay băng. đầu và mắt đứa trẻ bọc trong băng vải, tay nó lủng lẳng sau vai mẹ. Đứa trẻ bị thương đã ba ngày vào lúc địch pháo kích. để trẻ con ở lại đây thật không đúng. Theo tôi thì nên mang tất cả chúng nó ra khỏi nơi này. Trước mắt tôi tất cả đều gợi lên hình tượng một chiếc tàu nơi chúng tôi sẽ nói chuyện ở đó. Thực ra đây không phải là tàu chiến nữa, mà là một cứ điểm xây trên mặt nước. Năm ngoái máy bay ném bom của địch làm nó bị những vết thương rất nặng, các pháo đài mất liên lạc giữa nhau, và chiến đấu đơn độc như những cứ điểm riêng rẽ. Khi đồng chí chỉ huy từ pháo đài trung ương ra lệnh cho chiến sĩ liên lạc đến mũi tàu thì đồng chí này báo về là nó không còn nữa, thay vào chỗ nó, người ta sẽ nhìn thấy đằng xa một nhà thờ và một khoảng không mênh mông. Cả một núi sắt gỉ nằm trên đống đá trên bờ cạnh chiếc quân hạm. Đó là những thứ gì mà người ta thu nhặt lại từ chiếc tàu đó sau những trận chiến đấu. Tuy bây giờ chiến hạm nằm một chỗ nhưng nó vẫn làm kẻ thù khiếp sợ. Khi những pháo đài của nó còn lại khai hoả thì chúng tôi ở Lê-nin-grát có thể nghe thấy tiếng nổ, và Ép-phrô-xi-ni-a I-va-nô-vna sẽ nói: " Ôi, chúa phù hộ đấy". Buổi nói chuyện văn học của chúng tôi chuyển vào phòng họp chung, một nơi ấm áp, nóng nữa là khác vì nó sát buồng máy và số lượng người đến nghe chúng tôi lại rất đông. Cả thành phố là một cái tổ thật sự của biển cả. Ngoài phố rất ít phụ nữ. Từ sân nhà Hải quân nhìn vào một cửa sổ, chúng tôi thấy một con cá: Chị diễn viên tóc vàng của sư đoàn tiền tiêu phơi ra nắng con cá xơ-ga do những học viên biết ơn mang tặng. Mà ở đây những người đến nghe quả là những người biết ơn . |
Ngày 2 tháng Chín 1942
Nếu Crôn-sơ-tat là cái chìa khoá của Lê-nin-grat thì Crôn-sơ-lốt là cái chìa khoá nhỏ của Crôn-sơ-tat. Cái đảo nhỏ này được đắp lên từ thời Pi-e đại đế, nằm ngay cạnh cửa ra vào của Crôn-sơ-tat. Vượt nó khi vào thành phố là không thể được. Đảo Crôn-sơ-lôt nhỏ đến nỗi tôi cứ tưởng nó chỉ là một cái gì ở dưới biển nổi lên. Đi khắp một vòng quanh đảo cũng chỉ mất có hai mươi phút. Ở đây chúng tôi không nhìn thấy một người phụ nữ nào. Anh em thuỷ quân ở đây gọi đùa Crôn-sơ-lôt là " Hòn đảo không lấy được vợ". Chúng tôi đến đây bằng một chiếc thuyền con gắn máy. Những bức tường của cái nhà, nơi chúng tôi nói chuyện dày đến nỗi không sợ bất cứ loại đạn nào. Sau khi nói chuyện, các đồng chí dẫn chúng tôi lên bức tường thành bằng đá hoa cương. Nơi đây cảnh Pê-tê-gốp bị tàn phá gần một nửa hiên nên rõ rệt trong không khí mùa thu trong vắt. Chúng tôi nhìn thấy những đường viền của cung điện, chóp nhà thờ và những ngọn cây. Ở đấy là quân thù. một đồng chí sĩ quan nói: "không sao, sẽ đến lúc…". Buổi chiều, lúc trở về gặp gió to. Ngày mai chúng tôi sẽ đến đầu bên kia của cái bán đảo này để thăm những người lái máy bay của Hải quân. |
Ngày 4 tháng Chín 1942 Tôi đã viết một bút ký về những người lái máy bay cho một tờ báo nước ngoài. đầu đề bài bút ký là : "AX" (con chủ bài) bài bút ký như sau: Phòng đọc sách báo của cá chiến sĩ lái máy bay đặt trong một ngôi nhà gỗ ở trong rừng. Những tờ báo và tạp chí đặt trên bàn thơm mùi lá thông. Trên tường treo những biểu ngữ. Một trong những biểu ngữ đó có vẽ một "Ax" nổi tiếng. Thượng uý cận vệ Pê-tơ-rốp. Chiếc mũ quân sự bằng da của ông ta đang làm nổi bật khuôn mặt đầy đặn và nghiêm nghị. Pê-tơ-rốp khoảng chừng 30 tuổi. Bên dưới bức chân dung có ghi những thành tích của chiến sĩ lái máy bay này như sau: 500 lượt bay chiến đấu, 50 trận chiến đấu trên không. Một mình bắn rơi 5 chiếc máy bay của phát xít Đức. Oanh tạc 30 lần. Trinh sát 40 lần. Đánh lui máy bay địch 36 lần. -Nếu Pê-tơ-rốp có thì giờ rỗi, tôi muốn nói chuyện với đồng chí ấy,-Tôi nói với đồng chí Liên đội trưởng đi theo chúng tôi. -Chị gặp may-Anh đáp-Hôm nay Pê-tơ-rốp được nghỉ. Tôi đi gọi ngay đồng chí ấy đến với chị. Tôi dừng lại một mình trên ngưỡng cửa ngôi nhà, nhìn ra sân bay bị cây cối vây kín chung quanh. Đàn máy bay khu trục thường trực như một đàn chuồn chuồn đậu trên bãi cỏ rộng. Hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ có trên bầu trời xanh lam xa thẳm của mùa thu là có tiếng vang của động cơ máy bay. Thời gian trôi qua mà chưa thấy Pê-tơ-rốp xuất hiện. Hai đồng chí lái máy bay trẻ tuổi đi qua bên cạnh tôi, vừa đi vừa nói chuyện sôi nổi. Một đồng chí thợ máy mặc quần áo công tác đi qua. Rồi một cậu con trai rất trẻ, mắt xanh má núm đồng tiền đi qua. Một con chó hung đi theo anh, chạy xổ đến chỗ tôi. -Gép-bên, quay lại!-Người chiến sĩ lái máy bay trẻ tuổi quát con chó. -Tại sao lại Gép-bên.-Tôi hỏi. -Vâng, chính tôi cũng hỏi: "Tại sao?" có ma mà biết được. Làm hại con chó.-Người chiến sĩ lái máy bay vội vã đáp-Mà nó thì lại quen với cái tên này rồi. Người chiến sĩ lái máy bay đến đứng gần tôi. Chúng tôi im lặng. -Không biết làm thế nào đây-Tôi nói-Tôi đang chờ một người, mà thời giờ tôi còn quá ít. -Tôi cũng thế-Người chiến sĩ lái máy bay thở dài nói-Tôi cũng không có nhiều thì giờ. Đồng chí trung đoàn trưởng bảo tôi đến phòng đọc sách báo. Đến để làm gì, đồng chí đó không nói. -Thế xin hỏi đồng chí, đồng chí chính là Pê-tơ-rốp?-Tôi ngạc nhiên hỏi. -Đúng ạ. -Chính là Ax? -Người ta gọi tôi như thế. Tự nhiên tôi quay lại nhìn bức chân dung để đối chiếu ảnh với người. Thì ra giữa ảnh và người như hai anh em, chẳng qua chỉ có khá nhau về tuổi. -Tôi đấy-Pê-tơ-rốp nói-có điều ảnh hơi già một chút. -Đúng, hơi già một chút,-tôi đồng ý và giấu nụ cười-Nhưng xin lỗi, đồng chí bao nhiêu tuổi! -21-Đồng chí ngừng lại một lát-Sắp 21. Thế là lúc đó tôi hiểu: người nhiếp ảnh lúng túng trước vị Ax quá trẻ nên cố làm cho ảnh của anh già đi. -Đồng chí Pê-tơ-rốp, xin đồng chí cho biết, đồng chí đã chiến đấu như thế là do bẩm sinh hay do đồng chí tự rèn luyện thử thách? Pê-tơ-rốp ngồi xuống khúc gỗ, con chó Gép-bên quấn quít quanh chân anh. -Tôi thấy khó trả lời câu hỏi của chị. Dũng cảm … anh hùng … tôi chưa hề nghĩ tới. Tôi cất cánh là để tiêu diệt giặc Đức. Tôi chỉ nghĩ có thế thôi. Và tôi đã hạ được chúng. Để làm chuyện đó tôi sẵn sàng làm tất cả. Và chẳng phải chỉ có mình tôi. Về mùa đông chúng tôi thường phải đeo mặt nạ và đeo kính để bay. Để phòng lạnh. Nhưng nó làm yếu tầm nhìn của chúng tôi. Mùa đông năm ngoái, chúng tôi không đeo mặt nạ và kính để bay nữa. -Thế ai nghĩ ra cách bay như vậy? -Một trong số chúng tôi. -Có thể chính là anh? -Cái đó không quan trọng. Điều quan trọng là bằng cách đó chúng tôi đã tăng sức chiến đấu của mình. Nói chung về mùa đông phải vất vả. Đã có lúc chúng tôi phải trực suốt mấy ngày đêm không hề rời khỏi máy bay nửa bước. Thậm trí ngủ ngay dưới cánh máy bay. Trên trời kẻ địch mạnh hơn chúng ta. Nơi nào chúng tới, chúng cho rằng nhiệm vụ của chúng là bay trên chúng tôi và ném bom vào chỗ ấy. -Thế hiện nay? -Hiện nay thì chúng bay một vòng xa để tránh chúng tôi. -Xin đồng chó kể cho một câu chuyện nào đó trong những chuyến bay của đồng chí. -Cách đây không lâu, tôi đánh nhau với hai chiếc "Mát-xéc-sơ-mít 109". Thoạt đầu tôi bắn bổ đôi ngay môt chiếc. Còn chiếc thứ hai tôi cứ dẫn nó đi từ đám mây này sang đám mây khác. Tôi thoắt ẩn, thoắt hiện, thoắt ẩn, thoắt hiện làm cho nó không nhẫn lại được nữa nên mắc phải một sai lầm rất lớn, dành cho tôi một khoảng không gian rất lớn để đánh nó. Tôi hạ nó xong bắt đầu quay trở về. Bỗng tôi lại phát hiện… Ôi, lạy chúa! Một đồng chí lái máy bay của chúng tôi đang nhảy dù và tên giặc lái trên chiếc Méc-xéc-sơ-mít thứ ba đang dùng súng tự động bắn người chiến sĩ lái máy bay của ta. Thế là tôi bay ngoặt lại buộc tên giặc Đức phải bỏ chạy. Tôi không thể hạ nó được. Bản thân tôi đã kiệt sức lắm rồi và dầu xăng cũng sắp hết. -Đồng chí thấy thế nào? Liệu giặc Đức có cứu đồng đội của chúng như thế không? -Qua lời khai của những tên giặc lái máy bay Đức bị bắt, chúng tôi được biết, bọn chúng mỗi lần hạ được của ta một máy bay là chúng được hưởng một khoản tiền lớn. Chị hiểu chứ? Tiền ! Giặc Đức chỉ cần hạ được máy bay của ta là chúng chạy ngay đến phòng kế toán. Còn như bảo vệ cho đồng đội hắn nhảy dù ra thì chả được cái gì cả. Chúng nó đánh chác như vậy đấy. Bọn chó chết. Đồ súc vật tham lam ấy. Pê-tơ-rốp đứng lên. Đôi mắt màu xanh nhạt của người thanh niên sẫm lại. Hai vết nhăn rất sâu hiện lên hai bên mép. Những mạch máu xanh trên cổ nổi lên. Ax Pê-tơ-rốp đứng trước mặt tôi lúc này giống hệt anh trong bức ảnh. |
Ngày 5 tháng Chín 1942
Hôm qua tảng sáng thì tôi từ Crôn-sơ-tát trở về sau khi ở đấy một tuần lễ. Chúng tôi đã nói chuyện ở đấy mười một lần, không kể những buổi nói chuyện trên đài truyền thanh. Buổi gặp gỡ cuối cùng được tổ chức ở câu lạc bộ Hải quân. Có tới tám trăm người đến dự. Tất cả đều nhuộm màu xanh của áo hải quân và sáng chói màu vàng những chiếc neo. Họ rất thích nghe chúng tôi. Chúng tôi rời khỏi Crôn-sơ-tát trong đêm khuya vơi nhiều chuyện rủi ro. Thoạt đầu chúng tôi chở tàu bảo vệ rất lâu. Không có chúng, các đồng chí không cho chúng tôi đi. Song cuối cùng chúng tôi cũng đã đi không cần tàu bảo vệ. Chuyện phiền phức nhất là chiếc phà, mà chiếc xuồng máy chúng tôi phải kéo nó nhưng không kéo nổi. Gió mạnh quá gần như bão. Mọi vật trông trở lên dữ tợn: trăng hạ tuần, những đám mây đen, gió biển gào rít, sóng biển càng to. Một chiếc phà lớn dưới ánh trăng tỏ mà dây xích lại không cột chặt nên lúc thì nó đánh vào đuôi chiếc xuồng máy của chúng tôi, lúc lại đập vào hai mạn xuồng. Rồi nó còn uy hiếp đập vào xuồng chúng tôi nữa.. Trên đường đi nó gây cho chúng tôi đủ tình đủ tội. Nó bị đứt dây thế là chúng tôi lại phải đi tìm nó ở giữa biển. Pháo sáng của địch ở bờ bên kia làm chúng tôi thấy mình ở vào một tình cảnh bất lợi, và chúng tôi càng tiếc là không có tàu bảo vệ. Nhưng cuối cùng mọi việc rồi cũng ổn, tuy nó xóc làm chúng tôi mệt lử, choáng váng đứng không vững. Có lúc ở dưới khoang mọi thứ như đè lên người tôi. Đến cầu Tu-sơ-cốp thì trời đã rạng sáng. Tất cả đều nhuốm màu hồng. Chưa có tài điện. Tôi và Két-lin-xcai-a đi bộ qua đại lộ về nhà. Ăn xong, chúng tôi uống cà phê rồi đi ngủ. Trên đất liền thật tốt hơn trên mặt biển biết bao. |
Ngày 6 tháng Chín 1942 Cuộc chiến đấu ở Miền Nam thật vô cùng ác liệt. Chắc Xta-lin-grat có thể đứng vững và đang đứng vững. Tôi đang làm bài ca: "Điểm cao N.". Tôi rất muốn viết ba bài nữa và gửi cho Sô-xta-cô-vích. |
Ngày 7 tháng Chín 1942
¬Nửa đêm không ngủ được, tôi thức dậy vì "Điểm cao". Hôm nay trời êm có lất phất mưa thu, thoang thoảng mùi thơm cây cỏ. Mùa thu rụt rè đã sắp đến. Và rồi nó sẽ biến thành một bà phù thuỷ, có kinh nghiệm. Bây giờ nó mới bắt đầu bằng một nàng tiên. Mà tôi yêu nó với tất cả những hình dáng của nó. Viết vào một ngày như thế này thật là thú vị. Hôm qua tôi đến thăm vườn Bách thảo. Mùa hè từ giã nó thật tuyệt đẹp. Những con chuồn chuồn bay lượn trên một hồ nước nhỏ. Không có lấy một luồng gió nhẹ. Những con đường trong vườn bắt đầu ngả màu vàng. Cây hoè dại lấp lánh dưới bóng nước. Có lúc tôi cảm thấy Lê-nin-grat này bây giờ là một trong những thành phố tĩnh mịch nhất trên thế giới. |
Ngày 9 tháng Chín 1942
Hôm qua đúng một năm ngày thành phố Lê-nin-grat bị oanh tạc lần đầu tiên (ngay cái kho Ba-đa-ép-xki nổi tiếng bị cháy). Chúng tôi đã đi xem vở kịch "con dơi" ở nhà hát. Cũng từ tối hôm đó trở đi, tôi không còn được gặp Phê-di-a nữa. Anh đã bị chết đói. Thoạt đầu anh còn sức đến đọc truyện ở bệnh viện. Ở đấy người ta cho anh ăn. Về sau anh cứ yếu dần và càng ngày càng không nhúc nhích được nữa. |
Ngày 10 tháng Chín 1942
Tôi lại bắt đầu viết chương bốn cho bài thơ của tôi. Đó là một chương mới. Ở phía Nam, ở Xta-lin-grat tình hình tốt. Còn ở Nô-vô-rô-xich-xki cuộc chiến đấu đã diễn ra trên đường phố. |
Ngày 12 tháng Chín 1942
Tối Quân ta lại bỏ Nô-vô-rô-xích-xki. Gió dữ. Có nguy cơ xảy ra tai nạn lụt. Ngay con sông nhỏ Ca-rơ-pốp-ca của chúng tôi nước cũng dâng lên đến sợ. Chương bốn của bài thơ hình như viết đầy cảm hứng. |
Ngày 13 tháng Chín 1942
Gió đã ngừng-Nước đã rút. Ngoài mặt trận "không có gì thay đổi lớn". Chương bốn của bài thơ đang từ từ tiến. Tôi bắt đầu cảm thấy ấm áp trong chương thơ này giống như ở bên trong một căn phòng. Tôi hầu như sưởi ấm nó bằng hơi thở của mình nhưng vẫn còn e sợ, như Pa-xtéc-nắc đã nói: "Bài thơ như treo trên sợi tóc". Tôi đang đọc Pa-xtéc-nắc và tiểu thuyết Pháp. Trong lúc này điều rất quan trọng là đừng có đổi sách, nên tập trung vào một hoặc hai quyển sách. Để chiều hướng tư tưởng và tình cảm đã hình thành của bạn không bị rối loạn. Nếu lúc đó bạn lại đọc một sách gì khác thì tư tưởng sẽ phân tán. Sẽ khó mà viết được. |
Ngày 15 tháng Chín 1942
Lúc ở nội thành về, hai lần nhỡ tàu điện vì đứng nghe đài truyền đi bài nói chuyện của Chi-khô-nốp. Đó là buổi nói chuyện với Cô-ca-dơ rằng: "Hỡi những người con của Gơ-ru-di-a, A-xê-tin, Đa-ghe-xtan…" Chi-khô-nôp dùng một câu trong bài hát cũ để khuyên bảo họ "Đấy sẽ là một ngày nóng bỏng mà chúng ta chỉ có thể trông vào bóng những thanh kiếm của chúng ta". Trên quảng trường Lê-nin-grat mờ tối trong buổi chiều mùa thu, với tiếng súng nổ ở đằng xa, rất nhiều người đứng nghe bài nói chuyện đó. |
Ngày 16 tháng Chín 1942
Chúng tôi lại dọn sang nhà mới. Bây giờ chúng tôi có hai buồng. Rõ ràng là nếu số chúng tôi may mắn thì chúng tôi có thể ở đây cho đến khi chiến tranh kết thúc được. Hôm qua tôi đến nói chuyện ở nhà máy Mác Hên-xơ. Những thanh niên làm nghề thủ công đang làm việc tại đây. Họ ngồi yên lặng nghe rất chăm chú. Lúc tôi nói xong, có một thanh niên đầu đội mũ bịt tai từ hàng đầu bước đến trước mặt tôi ở chỗ bàn nói chuyện. Đồng chí bí thư Đảng uỷ nói nhỏ với tôi: -Anh ta là một chiến sĩ thi đua giỏi nhất của phân xưởng này đấy. Thay mặt toàn thể phân xưởng, anh ta cám ơn tôi. Tôi hỏi anh có yêu thơ không. Anh ngừng lại một lát rồi trả lời: -Nhưng đấy không phải là thơ mà là sự thật… Một lời khen cao nhất. Lúc về nhà qua sông Ca-rơ-pốp-ca có hai đồng chí kỹ sư trong nhà máy xách đèn đưa tôi về. Trong nhà máy họ không rời nhau ra. Gia đình đã tản cư đi hết rồi. Nhưng một trong hai người mới mấy hôm trước về thăm nhà. Anh ta sống ở một ngôi nhà gỗ nhở ở xóm mới. Anh chạy về nhà, nhưng ngôi nhà nhỏ không còn nữa. Bàn ghế trong nhà đã thành từng mảnh. Trong đống gạch vụn anh tìm thấy mấy tấm ảnh vợ con còn lại. Anh kỹ sư bảo: "cả nhà tôi bây giờ nằm gọn trong túi áo và tôi mang nó đi theo mình". |
Ngày 18 tháng Chín 1942
Người ta đang đóng đinh bằng hai cái búa. Họ mắc màn cửa và đặt cái hoả lò con. Chúng tôi chuẩn bị cho mùa đông. Mùa đông thứ hai ở Lê-nin-grát. Hôm qua tôi cùng với Chi-khô-nốp và Prô-cốp-phi-ép nói chuyện ở sở cảnh sát. Chương hai bài thơ tác động rất mạnh. |
Ngày 20 tháng Chín 1942
Chiến sự ác liệt ở gần Xta-lin-grat. Nhưng nó đứng vững được. Tên tướng Đức Phôn Cơ-lai-xtơ đã tử trận gần Mô-dơ-đốc. Quân Anh đã oanh tạc mu-ních Lúc tin tức đáng mừng thì cứ nhìn qua những nét mặt cũng biết. Có thể thấy ngay trên tàu điện, ngoài đường phố. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 23:59. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.