![]() |
Ở bên ngoài, cuộc sống của những trẻ em sinh ra trong trại không nhất thiết là được cải thiện. Thay vào đó, chúng gia nhập đội ngũ vô số trẻ con bị chuyển thẳng vào nhà trẻ do cha mẹ bị bắt – là một loại nạn nhân trẻ em khác. Như thành thông lệ, các trại mồ côi nhà nước quản lý luôn đông đúc quá tải, bẩn thỉu, thiếu nhân viên và thường gây chết người. Một cựu tù nhớ lại những cảm xúc và kỳ vọng khi trại của bà gửi một nhóm con cái tù vào trại mồ côi thành phố - và nỗi khủng khiếp họ cảm nhận khi nghe thấy tất cả mười một đứa đã chết trong một đợt bệnh dịch. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 320) Ngay từ năm 1931, vào cao điểm của cuộc tập thể hóa, hiệu trưởng các nhà trẻ vùng Ural đã viết những bức thư tuyệt vọng gửi chính quyền vùng, cầu xin giúp đỡ chăm sóc hàng ngàn trẻ mồ côi kulak mới đến:
Trong một căn phòng 12 mét vuông, phải nhét tới 30 thằng bé. Chỉ có mỗi bảy cái giường cho chung 38 đứa trẻ, trên đó có những kẻ “tái phạm” nằm ngủ. Hai đứa mười tám tuổi đã phá hỏng máy phát điện, cướp cửa hàng và uống rượu với viên giám đốc... trẻ con ngủ ngay trên sàn nhà bẩn thỉu, chơi bài mà chúng làm từ những bức ảnh bị xé rời của “Lãnh tụ”, hút thuốc, đập gãy chấn song cửa sổ và trèo qua tường để định bỏ trốn. (Bazarov, tr. 362) Trong một nhà trẻ khác cho con cái kulak: Trẻ con ngủ trên sàn nhà, giày dép không đủ... đôi khi nhiều ngày liền không có nước máy. Thức ăn cho chúng rất tồi; ngoài nước lã và khoai tây, chúng không được ăn bữa trưa. Không có chén đĩa, chúng cứ húp thẳng từ muôi. 140 đứa chỉ có một cái chén, mà lại không có đủ thìa; chúng đành thay phiên nhau mà ăn, hoặc bốc tay. Không có đủ đèn điện, chỉ mỗi một bóng cho cả căn nhà, và dầu hỏa cũng không có. (Bazarov, tr. 370-376) |
Năm 1933, một nhà trẻ gần Smolensk đã gửi bức điện sau đây cho ủy ban trẻ em ở Moscow: “Thực phẩm cung cấp cho nhà trẻ đã bị cắt. Một trăm đứa trẻ đang bị đói. Tổ chức từ chối cấp khẩu phần. Không có ai giúp đỡ. Cần có các biện pháp khẩn cấp”. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 144)
Chuyện này cũng không hề thay đổi theo thời gian. Một mệnh lệnh năm 1938 của NKVD mô tả một nhà trẻ có hai bé gái tám tuổi bị mấy đứa con trai lớn tuổi hơn cưỡng hiếp, và một nhà trẻ khác có 212 đứa trẻ dùng chung 12 cái thìa và 20 cái đĩa, phải mặc quần áo và đi giày để ngủ vì không có đồ ngủ. (GARF, 9401/1a/20) Năm 1940, Natalya Savelyeva bị “bắt cóc” khỏi nhà trẻ của mình – cha mẹ cô bé đã bị bắt – và nuôi dạy bởi một gia đình muốn sử dụng cô làm người giúp việc nhà. Vì thế cô bị tách lìa khỏi chị mình, người mà không bao giờ cô gặp lại nữa. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 248) Trẻ em của tù chính trị bị bắt phải trải qua thời gian đặc biệt khó khăn trong những nhà trẻ như vậy, và thường bị đối xử tệ hơn các trẻ mồ côi bình thường cùng sống chung. Chúng bị yêu cầu, như Svetlana Kogteva lúc mười tuổi, phải “quên cha mẹ mình đi, bởi bọn họ là kẻ thù của nhân dân”. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 247) Các sĩ quan NKVD chịu trách nhiệm về những nhà trẻ như vậy được lệnh phải duy trì sự cảnh giác đặc biệt và phải tách riêng con cái của bọn phản cách mạng, để đảm bảo rằng chúng không được nhận bất cứ hình thức đối xử ưu đãi nào. (GARF, 9401/1a/20) Do quy định này, Pyotr Yakir phải trải qua đúng ba ngày tại một trong những trại mồ côi như vậy, sau khi cha mẹ ông bị bắt. Trong thời gian này, ông “tìm cách khai lấy tên của con của một đầu sỏ nhóm ‘phản bội’ ” và lập tức bị bắt khi mới mười bốn tuổi. Ông bị chuyển vào nhà tù, cuối cùng bị đưa vào trại. (Yakir, tr. 31) Thường xuyên hơn là con cái của tù chính trị phải chịu sự chế nhạo và tẩy chay. Một người nhớ lại rằng ngay khi tới trại trẻ mồ côi, con cái “kẻ thù” phải bị lấy dấu vân tay giống như bọn tội phạm. Các giáo viên và người chăm sóc tất cả đều sợ tỏ ra có tình cảm với chúng, do không muốn bị tố giác là thông cảm với “kẻ thù”. (Một người giấu tên, Ekho iz nebytiya, tr. 289-292) Con cái có cha mẹ bị bắt bị giễu cợt không thương tiếc về thân phận “kẻ thù” của mình, theo lời Yurganova, người chủ động quên đi tiếng Đức bà từng nói sõi lúc nhỏ cũng vì lý do này. (Yurganova, qua phỏng vấn với tác giả) |
Trong bối cảnh ấy, thậm chí con cái của những cha mẹ có học cũng mau chóng tập theo cung cách bọn tội phạm. Vladimir Glebov, con trai nhà lãnh đạo Bolshevik Lev Kamenev, là một đứa trẻ như vậy. Vào tuổi lên bốn, cha của ông này bị bắt, và Glebov bị “đày” tới nhà trẻ mồ côi đặc biệt ở miền tây Siberi. Khoảng 40 phần trăm trẻ con ở đấy là con cái của “kẻ thù”, khoảng 40 phần trăm là tội phạm vị thành niên, và khoảng 20 phần trăm là con cái dân Digan bị bắt vì tội lang thang. Như lời Glebov giải thích với nhà văn Adam Hochschild, có những lợi thế, thậm chí cả với con của tù chính trị, khi sớm có quan hệ với đám tội phạm trẻ:
Bạn bè dạy tôi những điều sẽ giúp tôi rất nhiều trong phần đời sau này để tự bảo vệ mình. Ở đây tôi có một cái sẹo, ở đây một cái nữa... khi người ta tấn công anh bằng dao, anh cần biết phải đánh trả thế nào. Nguyên tắc chính là phản ứng thật sớm, không để cho chúng đánh trúng anh. Thời niên thiếu Xôviết hạnh phúc của chúng tôi là như thế đó! (Hochschild, tr. 87) Tuy nhiên, một số trẻ thường xuyên cảm thấy tổn thương bởi những gì trải qua ở trại mồ côi. Một bà mẹ trở về sau thời gian lưu đày và đoàn tụ với con gái nhỏ của mình. Đứa bé, mới tám tuổi, bước đi vẫn rất chập chững, hay vồ lấy thức ăn và cư xử như thú hoang giống theo cách mà trại mồ côi đã dạy cho nó. (Pechora, qua phỏng vấn với tác giả) Một bà mẹ khác, được thả sau khi chịu án tám năm, đến đón lũ con mình tại trại mồ côi nhưng nhận ra chúng từ chối đi theo bà. Chúng đã được dạy rằng cha mẹ chúng là “kẻ thù của nhân dân” không xứng đáng được yêu thương và có tình cảm. Chúng đã được đặc biệt chỉ dẫn để từ chối đi theo họ, “nếu mẹ cháu đến đưa cháu đi”, và chúng không bao giờ muốn sống tiếp với cha mẹ mình nữa. (Lahti, hồi ký không xuất bản) Không có gì ngạc nhiên, trẻ em thường bỏ trốn khỏi các trại mồ côi như vậy – với số lượng đông đảo. Ngay khi thoát ra được ngoài phố, chúng rất mau chóng rơi vào đáy thế giới tội phạm. Và ngay khi chúng gia nhập phần đáy thế giới tội phạm, vòng chu kỳ tồi tệ lại tiếp diễn. Không sớm thì muộn, chúng cũng sẽ bị bắt. |
Thoạt đầu, báo cáo NKVD thường niên 1944-1945 của một nhóm đặc biệt tám trại thuộc Ukraina cho thấy không có gì khác thường. Bản báo cáo liệt kê những trại nào đạt được Kế hoạch Năm năm và trại nào không. Nó ca ngợi các tù công nhân-xung kích. Nó nghiêm khắc lưu ý rằng tại hầu hết các trại thực phẩm rất kém và đơn điệu. Nó có vẻ hài lòng hơn khi lưu ý rằng bệnh dịch chỉ xảy ra ở một trại, trong thời gian báo cáo khảo sát – và rằng chuyện này xảy ra sau khi năm tù bị chuyển đến đấy từ nhà tù Kharkov quá đông đúc.
Tuy nhiên, một vài chi tiết trong báo cáo là nhằm minh họa cho bản chất chính xác của tám tổ hợp trại ở Ukraina này. Lấy ví dụ, một thanh tra viên phản ánh rằng một trại rất thiếu “vở viết, bút, sổ tay, bút chì”. Cũng có một lưu ý nghiêm khắc về khuynh hướng một số tù cụ thể thua bài sạch thức ăn, đôi khi tiêu trước khẩu phần bánh mì nhiều tháng trời từ rất sớm: những cư dân trẻ tuổi của trại dường như quá thiếu kinh nghiệm khi chơi bài với bọn lớn tuổi hơn. (GARF, 9414/1/27) Tám trại ta đang đề cập chính là tám tiểu khu trẻ em ở Ukraina. Bởi không phải tất cả trẻ con rơi vào phạm vi quyền hạn pháp lý của Gulag đều có cha mẹ bị bắt. Một bộ phận trong đó xuất hiện trong hệ thống trại là vì chính bản thân chúng. Chúng đã phạm tội, bị bắt và bị chuyển đến những trại đặc biệt cho trẻ vị thành niên. Những trại này được điều hành bởi cùng bộ máy quản lý điều hành các trại cho người lớn, và chúng giống với những trại cho người lớn ở rất nhiều khía cạnh. Về nguồn gốc, những “trại trẻ em” này được tổ chức cho đám besprizornye, trẻ mồ côi, bị bỏ rơi và lũ trẻ em đường phố bẩn thỉu bị lạc hay chạy trốn cha mẹ trong những năm tháng có nội chiến, nạn đói, tập thể hóa và bắt bớ hàng loạt. Những trẻ em đường phố này đến đầu thập niên 1930 đã trở thành cảnh tượng phổ biến tại nhà ga đường sắt và công viên công cộng ở các thành phố Xôviết. Nhà văn Nga Viktor Serge đã mô tả chúng như sau: Tôi thấy chúng ở Leningrad và ở Moscow, sống trong lòng cống, trong các kiosk quảng cáo, dưới vòm mộ nghĩa trang nơi chúng là những chủ nhân không bị quấy rầy; tổ chức tụ tập tại nhà xí công cộng ban đêm; chu du trên mái toa tàu hay dưới gầm toa. Chúng xuất hiện, chuyên gây chuyện xấu, mình sạm mồ hôi, hỏi xin khách đi tàu vài kopek và nằm chờ cơ hội để ăn cắp một vài chiếc vali... (Serge, tr. 28) |
Những đứa trẻ như trên quá đông và gây phiền phức đến nỗi năm 1934 Gulag đã dựng ra các nhà dưỡng nhi đầu tiên bên trong trại người lớn, nhằm ngăn ngừa con cái của những cha mẹ bị bắt túa ra lang thang ngoài đường phố. (Bazarov, tr. 383) Không lâu sau, năm 1935, Gulag cũng quyết định thành lập những tiểu khu đặc biệt cho trẻ con. Trẻ con bị gom từ ngoài phố trong những cuộc bố ráp tập thể, rồi chuyển tới các tiểu khu để giáo dục và chuẩn bị cho gia nhập đội ngũ lao động.
Năm 1935, chính quyền Xôviết cũng thông qua một đạo luật tai tiếng cho phép trẻ em từ mười hai tuổi trở lên có thể bị xét xử như người lớn. Kể từ đó, các cô bé nông dân bị bắt vì ăn trộm một ít thóc hay lúa mì, và con cái của “kẻ thù” bị nghi ngờ là giúp đỡ cha mẹ chúng, bắt đầu xuất hiện trong nhà tù vị thành niên cùng với bọn gái điếm non tuổi, lũ trẻ con móc túi, trẻ em đường phố và những loại tương tự. (GARF, 9414/1/42 và 9401/1a/7; Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 447-451) Theo một báo cáo nội bộ, các nhân viên NKVD trong thập niên 1930 đã tóm một cô bé người Tartar mười hai tuổi không biết nói tiếng Nga và bị lạc mẹ tại một nhà ga tàu. Họ cho đi đày cô bé, chỉ một thân một mình, tới miền viễn bắc. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 11) Tội phạm trẻ con ở Liên Xô nhiều đến nỗi NKVD đã lập ra các nhà trẻ với “chế độ đặc biệt” năm 1937, dành cho những đứa trẻ vi phạm có hệ thống các quy định của nhà trẻ thông thường. Năm 1939, trẻ mồ côi đơn thuần không còn bị chuyển tới các trại trẻ nữa. Thay vào đó, các trại này giờ dành cho đám tội phạm trẻ con đã thực sự bị kết án bởi các tòa án hay bởi osoboe soveshchanie, các “ủy ban đặc biệt”. (GARF, 9414/1/42; Bazarov, tr. 385-393) Mặc cho có mối đe dọa trừng phạt mạnh tay hơn, con số tội phạm vị thành niên tiếp tục gia tăng. Chiến tranh đã tạo ra không chỉ có trẻ mồ côi mà cả những người đi sơ tán, những đứa trẻ không được ai giám sát có cha đang ở ngoài mặt trận, có mẹ đang làm việc mười hai tiếng mỗi ngày trong nhà máy, cũng như cả một tầng lớp trẻ tội phạm mới mẻ: những công nhân chưa đủ tuổi bỏ chạy khỏi nơi làm việc ở nhà máy – đôi khi sau lúc nhà máy được sơ tán xa khỏi nơi có gia đình đứa trẻ – do đó vi phạm đạo luật thời chiến “Di chuyển không có giấy phép khỏi nơi làm việc tại các xí nghiệp quân sự”. (Razgon, tr. 162) Theo thống kê của chính NKVD, các “trung tâm tiếp nhận” trẻ em đã tập hợp được một số lượng đông khác thường 842.144 trẻ vô gia cư trong thời gian 1943-1945. Hầu hết bị chuyển về lại cho cha mẹ chúng, tới các nhà trẻ hay vào trường dạy nghề. Nhưng một con số đáng kể – 52.830 đứa, theo như ghi nhận – bị phân vào các “tiểu khu lao động-giáo dưỡng”. Cụm từ “tiểu khu lao động-giáo dưỡng” không có nghĩa gì hơn là một diễn tả nghe êm tai của trại tập trung trẻ em. (GARF, 9412/1/58) |
Trong nhiều khía cạnh, sự đối xử với trẻ em trong trại vị thành niên không khác biệt mấy với sự đối xử với cha mẹ chúng. Trẻ em bị bắt và chuyển đi theo cùng những quy định, chỉ với hai ngoại lệ: chúng bị quy định phải được giữ riêng khỏi tù người lớn và không bị xử bắn trong trường hợp tìm cách bỏ trốn. (GARF, 9401/1a/62 và 7) Chúng bị giữ trong cùng loại nhà giam như người lớn, trong các phòng giam riêng nhưng trang bị cũng sơ sài y như vậy. Một mô tả của thanh tra viên về một phòng giam như vậy nghe quen thuộc đến đáng buồn: “Những bức tường bẩn thỉu; không phải tù nào cũng có giường và nệm. Chúng không có vải trải giường, vỏ gối hay chăn. Tại phòng giam số 5, cửa sổ bị che lại bằng cái gối vì không có kính cửa, còn tại phòng giam số 14, một cửa sổ mở toang không đóng lại được”. (GARF, 8131/37/4553) Một báo cáo khác mô tả nhà tù vị thành niên là “thiếu vệ sinh không thể chấp nhận được”, cùng với thiếu nước nóng và các vật dụng cơ bản như ca uống nước, chén bát và ghế. (GARF, 9401/1a/57)
Một số tù trẻ hơn cũng bị điều tra hỏi cung như người lớn. Sau khi bị bắt khỏi trại mồ côi, cậu bé Pyotr Yakir mười bốn tuổi thoạt đầu bị đưa vào một nhà tù người lớn, sau đó trải qua một cuộc hỏi cung toàn diện kiểu người lớn. Điều tra viên của ông quy kết ông là “tổ chức một băng kỵ binh vô chính phủ, với mục đích là hoạt động đằng sau chiến tuyến của Hồng quân”, vin vào bằng chứng là trong thực tế Yakir rất mê cưỡi ngựa. Sau đó, Yakir bị kết án vì tội là một “Thành phần Nguy hiểm cho Xã hội”. (Yakir, tr. 32-62) Jerzy Kmiecik, một cậu bé Ba Lan mười sáu tuổi bị bắt khi đang gắng vượt qua biên giới Liên Xô vào Hungary – đây là năm 1939, sau khi Liên Xô xâm lược Ba Lan – cũng bị hỏi cung như người lớn. Kmiecik bị giữ phải đứng hoặc ngồi trên cái ghế đẩu không có lưng tựa hàng giờ liền không nghỉ, phải ăn xúp mặn chát và không được uống nước. Ngoài những chuyện khác, người hỏi cung ông còn muốn biết “Mr Churchill đã trả anh bao nhiêu để cung cấp thông tin?” Kmiecik không biết Churchill là ai và đã đề nghị người kia giải thích câu hỏi. (Kmiecik, tr. 70-74) Văn khố cũng lưu trữ biên bản hỏi cung Vladimir Moroz, mười lăm tuổi, bị tố cáo đã tiến hành “hoạt động phản cách mạng” tại trại mồ côi của mình. Mẹ và anh trai mười bảy tuổi của Moroz đã bị bắt trước đó. Cha của cậu bé bị xử bắn. Cậu bé còn giữ cuốn nhật ký mà NKVD tìm thấy, trong đó cậu công khai chỉ trích “những dối trá và vu khống” xung quanh mình: “Nếu có ai đó rơi vào giấc ngủ sâu mười hai năm trước và đột nhiên thức dậy bây giờ, anh ta hẳn sẽ choáng váng vì những thay đổi diễn ra tại đây vào lúc này”. Mặc dù bị kết án phải chịu ba năm trong trại, Moroz đã chết ngay trong tù năm 1939. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 283-293) |
Đó không phải là những vụ riêng lẻ. Năm 1939, sau khi báo chí Liên Xô cho đăng một số trường hợp sĩ quan NKVD bắt bớ căn cứ theo lời khai ép cung, một tờ báo Siberi kể lại câu chuyện về một vụ liên quan tới 160 trẻ em, hầu hết có độ tuổi từ mười hai đến mười bốn, nhưng một số chỉ mới lên mười. Bốn sĩ quan thuộc NKVD và văn phòng công tố phải nhận án từ năm tới mười năm vì đã hỏi cung những trẻ em này. Nhà sử học Robert Conquest viết rằng lời thú tội của họ được chấp nhận với “sự dễ chịu tương đối”: “Một đứa mười tuổi bị kiệt sức sau chỉ một cuộc hỏi cung suốt đêm, và đã thú nhận mình là thành viên của một tổ chức phát xít từ lúc bảy tuổi”. (Conquest, The Great Terror, tr. 274)
Tù trẻ con cũng không được miễn trừ khỏi các đòi hỏi không khoan nhượng của hệ thống lao động nô lệ. Mặc dù như một quy định, các tiểu khu trẻ con không phải đặt trong phạm vi các vùng khai thác lâm nghiệp hay trại khai mỏ khắc nghiệt, trong thập niên 1940 có một lagpunkt trẻ con thuộc tổ hợp trại Norilsk miền viễn bắc. Một số trong khoảng 1.000 tù của nó bị đưa vào làm việc trong nhà máy gạch Norilsk, trong khi những đứa khác bị đưa đi dọn tuyết. Trong số đó có một số trẻ em mười hai, mười ba và mười bốn tuổi, và phần lớn từ mười lăm tới mười sáu tuổi, những tù vị thành viên lớn hơn đã bị chuyển vào trại người lớn. Nhiều thanh tra viên lên án điều kiện sinh hoạt ở trại trẻ em của Norilsk và cuối cùng nó bị chuyển tới vùng gần phía nam hơn của Liên Xô – nhưng phải sau khi nhiều tù nhân trẻ của nó đã thành nạn nhân của cũng những căn bệnh do lạnh giá và thiếu dinh dưỡng đã hạ gục các tù người lớn cùng số phận. (GARF, 8131/37/2063) Điển hình hơn là báo cáo từ Ukraina, với giải thích rằng trẻ em ở các tiểu khu lao động trẻ em ở Ukraina đã được phân công công việc trong trại lâm nghiệp, xưởng cơ khí và xưởng may. (GARF, 9414/1/27) Kmiecik, có mặt trong một tiểu khu trẻ em gần Zhitomir, Ukraina, đã làm việc trong một nhà máy làm đồ gỗ. (Kmiecik, tr. 93-94) Hơn nữa, các tiểu khu tuân theo nhiều luật lệ giống như của các trại người lớn. Cũng có mục tiêu sản lượng để nhắm tới, chỉ tiêu sản lượng cá nhân để hoàn thành và một chế độ làm việc để tuân thủ. Một mệnh lệnh NKVD năm 1940 hướng dẫn trẻ em độ tuổi từ mười hai đến mười sáu làm việc bốn tiếng mỗi ngày, và bốn tiếng nữa để học ở trường. Cũng mệnh lệnh đó đã yêu cầu trẻ em tuổi từ mười sáu đến mười tám làm việc tám tiếng một ngày, với hai tiếng dành cho việc học. (GARF, 9401/1a/81) Tại trại Norilsk, chế độ này không được tuân thủ, do ở đây hoàn toàn không có trường học. (GARF, 8131/37/2063) |
Trong trại vị thành niên của Kmiecik, chỉ có lớp học buổi chiều. Ngoài những điều khác, ở đấy ông được dạy rằng “Anh quốc là một hòn đảo ở Tây Âu... Nó được cai trị bởi các lãnh chúa mặc áo choàng đỏ và cổ áo trắng. Chúng làm chủ những công nhân làm việc cực nhọc phục vụ chúng, trả công cho họ rất ít ỏi”. (Kmiecik, tr. 114-117) Được giáo dục không chỉ là ưu tiên hàng đầu của trẻ em: năm 1944 Beria tự hào báo cáo Stalin rằng các trại vị thành niên của Gulag đã đóng góp đầy ấn tượng cho nỗ lực phục vụ chiến tranh, sản xuất ra mìn, lựu đạn và các sản phẩm khác trị giá tổng cộng 150 triệu rúp. (Văn khố GARF, thuộc bộ sưu tập của tác giả)
Trẻ em cũng là đối tượng của cùng kiểu tuyên truyền trong trại giống như người lớn. Các tờ báo trại giữa thập niên 1930 đăng phác thảo chân dung các chiến sĩ Stakhanovets trẻ con, tán dương không tiếc lời khu “số 35”, khu phố trẻ em đặt trong trại dựa theo đạo luật năm 1935, vinh danh những người đã nhận thấy ánh sáng và được hoán cải bởi lao động chân tay. Cũng tờ báo ấy chê bai những trẻ em đã không hiểu rằng “mình phải từ bỏ quá khứ, rằng đã đến lúc bắt đầu cuộc đời mới... Chơi bài, say rượu, phá hoại, không chịu làm việc, trộm cắp v.v. chúng đều tham gia rất phổ biến”. (GARF, 9414/4/1; từ tờ báo Perekovka, số ngày 1/6/1934) Để chống lại “sự ăn bám” trẻ tuổi ấy, trẻ em bị buộc phải tham gia cùng những buổi biểu diễn văn hóa-giáo dục giống như người lớn, ca hát cùng những bài hát ca ngợi Stalin. (GARF, 9412/1C/47) Cuối cùng, trẻ em là đối tượng của cùng những áp lực tâm lý như người lớn. Một chỉ thị khác của NKVD yêu cầu tổ chức một agenturno-operativnoe obsluzhivanie – một “mạng lưới chỉ điểm viên” – bên trong các tiểu khu và trung tâm tiếp nhận trẻ em của NKVD. Tin đồn lan truyền về những tình cảm phản cách mạng xuất hiện trong cả ban quản lý lẫn trẻ em trong trại, đặc biệt những đứa con cái của bọn phản cách mạng. Trẻ con ở một trại nọ thậm chí còn dàn dựng một cuộc nổi loạn nhỏ. Chúng chiếm phòng ăn, xả rác bừa bãi và tấn công lính gác làm bị thương sáu người. (GARF, 9401/1a/107) |
Chỉ có một khía cạnh mà trẻ em trong trại vị thành niên là có may mắn: chúng không bị đưa tới các trại thường, bị vây quanh bởi các tù người lớn thông thường như các trẻ em khác bị. Thực ra, giống như các phụ nữ mang thai ở chỗ nào cũng có, con số luôn gia tăng trẻ vị thành niên trong trại người lớn khiến các chỉ huy trại phải nhức đầu kinh niên. Tháng 10/1935, Genrikh Yagoda giận dữ viết cho tất cả các chỉ huy trại rằng “mặc cho tôi đã có chỉ dẫn, các tù chưa đến tuổi vẫn không bị đưa tới các tiểu khu lao động cho trẻ vị thành niên, mà đang bị ngồi tù chung với người lớn”. Theo tính toán cuối cùng, ông tuyên bố, có tới 4.305 trẻ vị thành niên vẫn ở trong nhà tù thường. (GARF, 401/1a/7/84) Mười ba năm sau, năm 1948, các điều tra viên thuộc văn phòng công tố vẫn còn phàn nàn rằng có quá nhiều tù chưa đủ tuổi trong trại người lớn, nơi chúng bị làm hư hỏng bởi bọn tội phạm người lớn. Thậm chí chính quyền trại cũng phải để ý khi một tên trùm tội phạm thống trị trong trại đã biến một gã trộm vặt mười tám tuổi thành một tên giết người thuê.(GARF, 8131/37/4547)
Bọn maloletki – “vị thành niên” – gây rất ít cảm thông trong lũ tù đồng bọn. “Cái đói và nỗi khiếp sợ về những gì đã xảy ra đã tước đi của chúng mọi thứ để che chở”, Lev Razgon viết, người đã quan sát rằng trẻ vị thành niên bị thu hút một cách rất tự nhiên về phía những kẻ có vẻ có quyền lực nhất. Đó là bọn tội phạm chuyên nghiệp, những kẻ biến lũ con trai thành “người hầu, bọn nô lệ câm điếc, những thằng hề, lũ con tin và thành bất cứ thứ gì”, và cả bọn con trai lẫn con gái thành lũ bán dâm. (Razgon, tr. 162-163) Tuy nhiên, những trải nghiệm đầy kinh hãi của chúng không gây được nhiều thương hại; trái lại, một số lời chửi rủa tàn tệ nhất theo các hồi ký văn học trong trại là dành cho chúng. Razgon viết rằng bất kể nguồn gốc chúng ra sao, tù trẻ con mau chóng “tất cả đều phô bày một sự tàn bạo trả thù đáng sợ và không thể lung lạc, không hề kiềm chế hay có chịu trách nhiệm”. Còn tệ hơn, Chúng không hề biết sợ ai và sợ cái gì. Lính gác và các trùm trại cũng sợ bước vào các lán riêng biệt nơi bọn vị thành niên sống. Đó là nơi những hành động xấu xa, độc địa và tàn bạo nhất diễn ra trong trại. Nếu một trong những thủ lĩnh bọn tù tội phạm chơi bài, mất hết mọi thứ và đặt cược mất cả mạng sống của mình, bọn con trai sẽ giết hắn ngay chỉ vì khẩu phần bánh mì hàng ngày hay đơn giản vì “để cho vui”. Bọn con gái khoe khoang rằng chúng có thể làm thỏa mãn trọn vẹn bất cứ đội đốn gỗ tự do nào. Không còn chút nhân tính nào trong những đứa trẻ ấy và không thể tưởng tượng rằng chúng có thể quay lại thế giới bình thường và trở thành con người được nữa.(Razgon, tr. 162) Solzhenitsyn cũng cảm thấy thế: Trong ý thức của chúng không có ranh giới giữa cái gì chấp nhận được và cái gì không chấp nhận được, và không có khái niệm về cái tốt và cái xấu. Với chúng, mọi thứ mà chúng muốn đều tốt và mọi thứ cản trở chúng đều xấu. Chúng có được lối cư xử trơ tráo và láo xược của mình vì đó là hình thức cư xử có lợi nhất trong trại... (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 457) |
Một tù người Hà Lan tên là Johan Wigmans cũng viết về những thanh niên “có lẽ không thực sự quan tâm đến chuyện phải sống trong những trại này. Về chính thức thì chúng phải làm việc, nhưng trong thực tế đó là chuyện cuối cùng mà chúng chịu làm. Đồng thời chúng có lợi thế trong những phương tiện chính thức và nhiều cơ hội để học tập từ chiến hữu của chúng”. (Wigmans, tr. 90)
Cũng có những ngoại lệ. Aleksandr Klein kể lại câu chuyện về hai cậu bé mười ba tuổi bị bắt vì là du kích, phải nhận án hai mươi năm đi trại. Cả hai trải qua mười năm trong trại, xoay sở để được ở cạnh nhau bằng cách tuyên bố sẽ tuyệt thực nếu có ai tách chúng ra. Vì tuổi còn nhỏ, mọi người thương hại chúng, phân cho chúng công việc nhẹ nhàng và cho thêm thức ăn. Cả hai tìm cách tham gia các khóa học kỹ thuật trong trại, trở thành những kỹ sư có trình độ trước khi được thả ra nhờ các đợt ân xá sau khi Stalin chết. Nếu không phải là ở trong trại, Klein viết, “ai có thể giúp mấy cậu bé dân quê nửa mù chữ kia trở thành những người có giáo dục và là những chuyên gia giỏi?” (Klein, Ulybki nevoli, tr. 20-25) Tuy nhiên, khi vào cuối thập niên 1990 lúc tác giả bắt đầu tìm kiếm hồi ký của những người từng là tù vị thành niên, tác giả nhận thấy rất khó để tìm ra một ai. Với các ngoại lệ hồi ký của Yakir, Kmiecik và một vài người khác thu thập bởi Hội Ký ức và các tổ chức khác, số còn lại rất ít. (Xem Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, có đoạn trích của các hồi ký này) Vậy mà đã có hàng chục ngàn trẻ em như vậy, và rất nhiều vẫn hãy còn sống. Thậm chí tác giả có đề nghị một người bạn Nga rằng chúng ta hãy đăng quảng cáo trên báo, cố gắng tìm lấy một số người sống sót như vậy để phỏng vấn. “Đừng”, cô ta khuyên tác giả. “Tất cả chúng ta đều biết những con người ấy ra sao”. Hàng thập kỷ tuyên truyền, biểu ngữ dán khắp tường trại mồ côi, cám ơn Stalin “vì thời niên thiếu hạnh phúc của chúng em”, đã thất bại trong việc thuyết phục người dân Xôviết rằng trẻ con trong trại, trẻ con ngoài đường phố, và trẻ con trong trại mồ côi sẽ trở thành bất cứ thứ gì ngoại trừ những thành viên đầy đủ lông cánh của tầng lớp tội phạm đông đảo và len lỏi khắp nơi ở Liên Xô. Hết chương 15 |
Trích:
|
Đáng lý mình đã không trả lời bạn, nhưng lại vừa ngẫu hứng:
Mình vừa đọc bản tiếng Anh của Quần đảo Gulag, rồi đem so sánh với bản dịch của Ngọc Thứ Lang và phì cười rất lâu. Cười xong, mình nghiệm rõ câu của các cụ: văn là người. Văn thế nào người thế đó, không thể giả mạo được. Bạn, nthach, là người quân tử, thông minh cực kỳ, lập luận vô cùng chặt chẽ là logic, thế nên văn của bạn cũng y như vậy, bạn có muốn thế nào cũng không làm khác được. Còn mình, một kẻ ham lợi, thích lợi dụng các diễn đàn để đánh bóng bản thân, thích tự PR, đần độn, thiếu can đảm, thiếu chân thực, nên văn mình cũng có muốn thì vẫn không thể khác được! Mình có một lỗi lầm, mình xin thú nhận: đáng ra, mình phải tha thứ, rộng mở vòng tay, cho phép hai bạn là nthach và phuongnn được vào xem các topic của mình, mặc dù các bạn là người quân tử, thông minh cực kỳ, lập luận vô cùng chặt chẽ là logic. Nhưng để làm được việc đó, mình phải là một vị thánh, chí ít cũng là á thánh. Nhưng thật tiếc, mình chỉ là một con người bình thường. Thế nên mình không muốn đem văn của mình cho hai kẻ như hai bạn xem, những thứ mình dịch không nên để hai kẻ như bạn được diễm phúc đọc, vì nó (mình không nói là cá nhân con người mình) xứng đáng được đọc bởi những người xứng đáng hơn. Tuy nhiên, mình không hy vọng là bạn hiểu mình, nthach ạ, vì bạn quá thông minh, dũng cảm và quân tử. |
Xóa vì lỗi post. Sr
|
Trích:
|
Trích:
Cho dù bạn đã từng bị đuổi vĩnh viễn ở các diễn đàn khác vì một lý do nào đi nữa (tôi không cần biết), nhưng khi quay lại NNN thì mọi người vẫn mở rộng vòng tay đón bạn. Bạn đừng vừa về rồi lại lôi người khác ra hậm họe như ở bên các diễn đàn kia. |
Mình nhớ kỹ bạn ạ, bạn thích thì cứ việc khóa, cấm, mình chẳng vì thế mà buồn bạn đâu. Yên tâm chuyện đó nhé. Còn chuyện ở diễn đàn khác, là chuyện của riêng mình (lý do thế nào chỉ mình mình biết), cá nhân bạn lôi cái chuyện đó vào đây, thì đúng là bạn vừa thông minh, vừa dũng cảm, vừa nhân hậu, vừa đủ thứ hehe. Cám ơn bạn trải lòng nhé. Mình không thích nhìn thấy bạn, với cái tư cách tót vời như vậy, nhai nhải trên topic của mình.
|
Trích:
|
Trích:
|
Trích:
Rất nhiều cuốn sách được tung lên mạng một cách công khai, không sót một chữ. Sao chưa hề thấy có chuyện rắc rồi gì về bản quyền (?). Thường thì những sách đó cũng phải post làm một số lần, nhưng không quá vụn vặt, khó theo dõi. |
Trích:
Về bản quyền, mình không sợ post lên đây hoàn chỉnh thì có rắc rối gì nhưng mình muốn tôn trọng chất xám của tác giả. |
Về chuyện bản quyền nó còn một vài vấn đề nữa các bác ạ. Giả sử có một nhà xuất bản A đã đồng ý sẽ xuất bản cuốn sách B. Thế thì việc đăng nội dung sách lên diễn đàn, blog để giới thiệu với độc giả cần phải có sự đồng ý của nhà xuất bản nữa, không phải cứ tác giả, dịch giả muốn là được.
Cá nhân em, thì em thấy việc giới thiệu một phần nội dung sách là không có vấn đề gì. |
Trích:
Chúng ta đã từng kêu gọi mọi thành viên đánh máy các tác phẩm văn học rồi đưa lên diễn đàn để mọi người cùng thưởng thức ví dụ: Mười ngày rung chuyển thế giới... Vậy là chúng ta cũng vi phạm sao. Nina mà nói vậy thì từ nay ai dám đánh máy một cái gì để đưa lên diễn đàn nữa... Và kể cả dịch các tác phẩm khác từ tiếng nước ngoài về NNN nữa? |
Bác nthach à, ý em nói đến những quyển sách chuẩn bị xuất bản bác ạ, em có thể đưa vài chương lên blog, diễn đàn để độc giả làm quen với sách, nhưng nếu đưa toàn bộ nội dung sách, trong khi sách còn chưa được in ra thì rõ ràng là không nên.
Cũng tương tự, khi em đã gửi bài cho một tờ báo (cũng thỉnh thoảng thôi, không thường xuyên), thì rõ ràng em cũng phải chờ cho báo in được xuất bản vài ngày, hoặc bản điện tử của báo đã lên mạng rồi, em mới đăng nó lên diễn đàn hoặc blog được. |
Trích:
|
Trong phần mở đầu của loạt bài Kênh đào Matxcơva, Kóc đã viết:
Trích:
Tất nhiên Kóc biết rằng việc post bài này là không hay đối với mình, nhưng cũng mạnh dạn góp ý kiến để diễn đàn ngày càng hoàn thiện hơn! |
Một mảng văn học đáng quan tâm khác về Gulag, đó là các sáng tác văn học, cô đọng nhất là thơ:
Liễu rủ liễu rũ khắp nơi Liễu Alma-Ata, người đẹp biết bao, sương phủ trắng ngời. Nhưng nếu ta quên em, nhành liễu úa ta yêu nơi phố Rozbrat, Vácxava. Xin cho thân ta khô úa vì em! Núi biếc núi biếc khắp nơi Thiên Sơn, trước mắt tôi, ưỡn ngực lướt trên trời tía... Nhưng nếu tôi quên người, đỉnh Tatra tôi bỏ lại chốn xa xôi, Dòng suối Biały, nơi con trai cùng tôi mơ màng chuyến đi biển rộng rực rỡ... Xin biến tôi thành đá núi Thiên Sơn. Nếu ta quên em Nếu tôi quên chốn quê hương... - Aleksander Wat, “Cây liễu xứ Alma-Ata”, tháng Giêng 1942 Bản tiếng Anh: Willows are willows everywhere Alma-Ata willow, how beautiful you are, draped in glowing white frost. But should I forget you, my withered willow in Warsaw's Rozbrat Street, Let my hand wither as well! Moutains are mountains everywhere Tian Shan, before my eyes, sails upwards into a purple sky... But should I forget you, the Tatra peaks I left so far behind, The Biały brook, where my son and I daydreamed colourful sea voyages... Let me turn into Tian Shan stone. If I forget you If I forget my hometown... |
Từng là lính, giờ tôi là tù
Hồn tôi đông cứng, lưỡi tôi khô. Nào đâu nhà thơ, nào họa sĩ Tả nổi cảnh tôi khổ tù đày? Và bày quạ ác đâu hay biết Thứ án nào chúng bắt tôi khuân Khi chúng tra tấn, khi truy đuổi Ngục tối, lưu đày, tới trại này. Nhưng kỳ diệu thay, trên mỏ đá Ngôi sao tự do chiếu sáng soi Chiếu xuyên hồn tôi - thôi đông cứng Chiếu qua lưỡi tôi - nói được rồi! - Leonid Sitko, bài thơ vô đề, trích từ Tyazhest sveta, tr. 11, 1949 I was a soldier, now I'm a convict My soul is frozen, my tongue is silent. What poet, what artist Will depict my terrible captivity? And the evil crows didn't know What sort of sentence they gave us When they tortured us, when they chased us From prison to exile to camp. But wonders occur! Above the quarry A free star shines Although my soul is frozen - it is not shattered Although my tongue is silent - it will speak! |
Nơi vách đá rong rêu và biển thiu thiu ngủ
Tại đây, với sức lao động Nhà máy sẽ mọc lên Thị trấn sẽ lan rộng. Ống khói sẽ vươn cao Dưới bầu trời phương Bắc, Các công trình cửa sổ sáng đèn Nào thư viện, nào nhà hát, nào câu lạc bộ. - Medvedkov, một tù Kênh đào Bạch Hải, 1934 Where mossy cliffs and water slumbered There, thanks to the strength of labour Factories will be built And towns will grow. Smokestacks will rise up Under the Northern skies, Buildings will shine with the lights Of libraries, theatres, and clubs. |
Một bài hát của bọn cướp đúng luật trong vở kịch Aristokraty (Những nhà quý tộc) của Nikolai Pogodin, một hài kịch về Kênh đào Bạch Hải, diễn năm 1934, bị cấm thời Beria:
Tớ là tên cướp hung hãn, ừ, Tớ trộm cắp của nhân dân, thù ghét lao động, Và đời tớ tăm tối như bóng đêm. Nhưng giờ đây tớ được cho đến đào kênh, Mọi điều trước đây trôi đi như ác mộng. Cứ như thể tớ vừa được tái sinh. Tớ muốn được lao động, được sống và ca hát… I was a cruel bandit, yes, I stole from the people, hates to work, My life was black like the night. But then they took me to the canal, Everything past now seems a bad dream. It is as if I were reborn. I want to work, and live and sing... (Người dịch chưa tìm được nguyên bản tiếng Nga của các bài thơ nêu trên) |
Chúng tôi tiến tới, sau lưng
Là toàn đội vui vẻ bước. Phía trước - vinh quang của những người Stakhanovest Mở ra một con đường mới… Lối cũ chúng tôi đã quên hẳn, Từ ngục tối chúng tôi vươn lên theo lời kêu gọi Theo con đường của những người Stakhanovest vinh quang Xin hãy tin, chúng tôi đang đi tới cuộc đời tự do… - Trích từ tạp chí Kuznitsa, in tại Sazlag, 1936 We go forward, and behind us The whole brigade walks merrily along. In front of us, the victory of the Stakhanovites Opens a new path... For the old path is no longer known to us, From our dungeons we have risen to the call Along the path of Stakhanovite triumph Believing, we walk towards a life of freedom... |
Bài thơ của Osip Mandelstam công kích Stalin, lý do khiến ông bị bắt lần thứ hai và chết trong GULAG sau đó:
Chúng ta sống, không cảm thấy mặt đất dưới chân Chúng ta nói, không ai nghe dù chỉ cách xa mươi bước Nhưng nơi đâu có xì xầm trao đổi dẫu chỉ khe khẽ Kẻ sơn dã, sát nhân và uống máu nông dân ở Kremlin sẽ rõ ngay Ngón tay chuối mắn của y, tựa vòi giun, thật nhớp nhúa Lời y nói, nặng hơn chì, là lời quyết định Mũi ủng của y, bóng lộn, lóe sáng Và quanh y, một bầy lãnh đạo không xương sống Tựa dã nhân, phục vụ y như lũ đồ chơi Đứa hí, đứa meo meo, đứa nhai nhải Chỉ mình y là được la hét và chỉ tay Quăng sắc lệnh như tung mớ móng ngựa Trúng giữa háng, trúng sọ, văng tròng mắt Đối với y mọi án tử đều thơm ngọt Nếu dành cho, chàng Osseti ngực nở hiên ngang. We live, not feeling the land beneath us We speak, and ten steps away no one hears us But where there's even a whispered conversation The Kremlin's mountaineer, murderer and peasant-slayer will be mentioned. His fat fingers, like grubs, are greasy His words, like lead weights, are final His boot rims shine And all around him, a gaggle of spineless leaders, Half-humans, serve as his toys One whinnies, one purrs, one whines Only he shouts and points Throwing decrees like horseshoes Hitting a groin, a head, an eye - Every death sentence tastes sweet For the broad-chested Ossete. (Danngoc rất biết ơn bạn nào tìm giúp nguyên bản của các bài thơ trên) |
Trích:
Trích:
Trích:
|
Trích:
Мы живем, под собою не чуя страны, Наши речи за десять шагов не слышны, А где хватит на полразговорца, 1) Там припомнят кавказского горца. Его толстые пальцы, как черви, жирны, А слова, как пудовые гири, верны, Тараканьи смеются усища, И сияют его голенища. А вокруг него сброд тонкошеих вождей, Он играет услугами полулюдей, Кто свистит, кто мяучит, кто хнычет, Он один лишь бабачет и тычет. Как подковы, кует за указом указ — Кому в пах, кому в лоб, кому в бровь, кому в глаз Что ни казнь у него — то малина И широкая грудь осетина. (Ноябрь 1933) |
Mấy hôm nay cứ hắt xì, hắt xì… té ra là có người nhắc, ơn Giời, mình vẫn còn sống ở trong lòng một vài người một tí, ít nhất là từ khía cạnh “welcome or not welcome” hè hè… mỗi tội sống kiểu “viêm mũi dị ứng” này mệt quá, các Thày!
Topic này hay đấy chứ, mặc kệ, oeo-căm hay không thì tui cũng cứ đọc cái đã. Quả thực đây là những tư liệu rất quý giá. Khi mà chúng ta hầu hết được đọc những tài liệu, tác phẩm chủ yếu là tô hồng, ca ngợi con người mới, cuộc sống mới của văn học Xô-viết thì đây là dịp để được nhìn nhận “phân khúc” đó của lịch sử dưới một nhãn quan khác. Nhưng cũng cần thú thực, tui đọc xong cũng không hiểu mấy, chắc do “trình” của mình, nhất là “tiếng Việt” của mình có vấn đề. Để lúc nào đó, tâm trí sáng suốt thử đọc lại xem sao, chứ bây giờ “cơm áo gạo tiền” bận rộn như thế này thì chịu, đọc không vào. Trích:
“Chắc hẳn trước đây mình cũng đã làm đôi điều gì đó, để dẫn đến người khác có thành kiến như thế với mình hôm nay” – thôi thì chuyện gì thì cũng đã qua. Ai cũng có đôi chút năng lực, có chút tài năng… nhưng hôm nay, bạn, tôi, anh chị em… vẫn gặp được nhau, được cười vui với nhau, alô cho nhau, và hơn thế nữa, còn có cơ hội cùng sát cánh để làm thêm được vài điều tốt cho mọi người, cho xã hội. Tài năng, tiền của hỏi còn có ý nghĩa nhiều đến thế so với những gì chúng ta đang có? Tuần sau mà rỗi, tui vẫn vào đọc lại topic này. Tui xin hứa! |
Trích:
Cám ơn bác hungmgmi, như vậy là tui đã viết sai, bài thơ này có lẽ là lý do Mandelstam bị bắt lần đầu tiên (nội dung này không có trong bản tiếng Anh, mà là do em đưa vào cho thread dễ theo dõi). Tui xin sửa lại sau khi đối chiếu bản tiếng Nga: Chúng ta sống, không cảm thấy mặt đất ngay dưới Lời ta nói, nghe không rõ dù chỉ cách mươi bước chân Nhưng hễ đâu đó có người dám xì xầm trao đổi Là lập tức gã sơn dã xứ Kavkaz sẽ biết rõ. Ngón tay chuối mắn của y, tựa vòi giun, thật nhớp nhúa Lời y nói, nặng hơn chì, là lời quyết định Rồi nở nụ cười dưới bộ ria con dán Y khua ủng ống bóng lộn, lòng lâng lâng. Và quanh y, một bầy lãnh đạo không xương sống Y phóng tay sai khiến chúng như lũ đồ chơi Đứa hí, đứa meo meo, đứa nhai nhải Chỉ mình y là được la hét và chỉ tay Quăng sắc lệnh như tung mớ móng ngựa Trúng giữa háng, trúng sọ, văng tròng mắt Đối với y mọi án tử đều thơm ngọt Nếu dành cho, chàng Osseti ngực nở hiên ngang. |
http://i653.photobucket.com/albums/u...anlythe/10.jpg
Lao động tại Liên Xô là Danh dự, là Vinh quang và là Chủ nghĩa Anh hùng Dũng cảm! (trích lời Stalin) |
Tiếng chuông ngân vang xa xa
Vẳng vào khám cùng nắng sớm Chuông như nhắn hỏi tôi rằng: “Anh ở đâu? Anh ở đâu?” “Tôi đây!”... Lệ tuôn chào đón, Là lệ của chốn tù đày... Không phải lệ tuôn mừng Chúa Mà vì Người đấy, hỡi nước Nga. - Simeon Vilensky, 1948 The sound of a distant bell Enters the cell with the dawn I hear the bell calling out to me: "Where are you? Where are you?" "Here I am!"... Then tears of greeting, Mean tears of captivity... Not for God But for you, Russia. |
Trích:
quay về Moskva nhưng tiếp tục bị truy bức không cho sống ở Thủ đô. Ông đành về sống ở Kalinin (cách Moskva gần 200 km). Một thời gian sau, ông lại bị bắt ở Samatikha vì bị khép tội hoạt động phản cách mạng và bị đi đày xuống vùng Viễn Đông ở một trại tập trung. 27/12/1938, nhà thơ qua đời tại bệnh viện của trại. |
Trong truyện ngắn “Rượu từ quả anh đào” của Varlam Shalamov, có một mô tả hư cấu về cái chết của Osip Mandelstam, cái chết đang tới gần của nhà thơ được báo trước bởi sự thiếu quan tâm của ông tới những chuyện vặt : “Anh không còn dài cổ tìm kiếm đầu mẩu bánh mì hay gào lên khi không kiếm được chúng nữa. Anh không còn tọng bánh mì vào miệng bằng những ngón tay run rẩy nữa”.
Như vậy là trước khi chết, Osip Mandelstam đã trở thành một dokhodyaga - kẻ tới số. Vào giai đoạn cuối cùng, một dokhodyaga sẽ có bề ngoài kỳ quái và không còn giống người nữa, biến thành một hình mẫu hoàn chỉnh về mặt thể xác của thuật hùng biện làm mất nhân tính được chính quyền sử dụng: nói cách khác, trong những ngày sắp chết, lũ kẻ thù của nhân dân không còn chút nào có vẻ là con người nữa. Chúng đã hóa điên, thường lảm nhảm mê sảng hàng giờ liền. Bộ da chúng khô quắt và lùng thùng. Cặp mắt chúng lóe lên những ánh lạ lùng. Chúng ăn bất cứ thứ gì lọt vào tầm tay – chim, chó, rác rưởi. Chúng di chuyển chậm chạp và không thể kìm nổi tiêu tiểu bừa bãi, vì thế chúng tỏa ra mùi hôi thối kinh khủng. Ghi chú: Tù thường giành giật nhau để có được phần đầu mẩu ổ bánh khô và ít nước hơn, do bột nướng bánh thường được trộn với rất nhiều nước, khiến bánh ướt và nặng hơn quy định. Đầu mẩu bánh do thế sẽ là phần "có chất" hơn. Varlam Shalamov: nhà văn, từng là tù GULAG. Varlam Shalamov cũng để lại một bài thơ khó có thể quên được, mô tả các dokhodyaga, về sự giống nhau của họ, về việc họ mất hẳn những cá tính và bản sắc con người, và về sự vô danh của họ, là một phần của nỗi khiếp sợ mà họ gây ra: Giương kính tôi dõi con đường tới khu rừng Nhìn ai ngã xuống khi đang đi trên ấy Nhìn ai không thể lê mình xa hơn nổi Nhưng vẫn cố mà lết tới, ráng sức tàn Nhìn đôi môi họ xanh xao khô cứng Nhìn mặt họ giống nhau không phân biệt nổi Nhìn cái áo rách phủ bạc sương giá Nhìn đôi tay trần không có găng che Nhìn họ húp ca nước sắt tây cũ móp Nhìn nướu lợi hoại huyết không còn răng Nhìn đôi nanh bầy chó xám béo tốt Đánh thức họ buổi sáng dậy điểm danh Nheo nhìn lên vầng mặt trời ảm đạm Xói xuống họ mà không chút xót thương Nhìn mộ chí tuyết trắng rơi vương Là tác phẩm của cơn bão băng giá Nhìn phần bánh thô thớ cứng như đá Mà hàng ngày tù hay nhai nuốt vội Nhìn trời cao, vòi vọi nhưng nhợt nhạt Nhìn dòng Ayan-Yuryakh hững hờ trôi! Bản tiếng Anh (danngoc rất biết ơn bạn nào tìm giúp bản nguyên bản tiếng Nga để đối chiếu): I raise my glass to a road in the forest To those who fall on their way To those who can't drag themselves further But are forced to drag on To their bluish hard lips To their identical faces To their torn, frost-covered coats To their hands without gloves To the water they sip, from an old tin can To the scurvy which sticks to their teeth. To the teeth of fattened grey dogs Which awake them in the morning To the sullen sun, Which regards them without interest To the snow-white tombstones, The work of clever snowstorms To the ration of raw, sticky bread Swallowed quickly To the pale, too-high sky To the Ayan-Yuryakh river! |
Trích:
Đặc biệt, trên mỗi cổng chào của các Gulag luôn có khẩu hiệu này. Bộ phim Trốn chạy khỏi Gulag của Đức cũng cho ta thấy một đoạn khẩu hiệu trên. Khẩu hiệu này ám ảnh đến nỗi nhà văn bị lưu đày ở Gulag là Varlam Shalamov phải bàng hoàng viết và so sánh chua chát: Trích:
|
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:21. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.