Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thi ca (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=30)
-   -   Ba phút sự thật và các bài thơ khác của Evtushenko (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=116)

cây sồi 21-12-2010 14:42

thơ dịch
 
TÁO ĂN TRỘM
Evghênhi Evtu shenkô

Hàng rào đổ nghiêng vì lốc bão,
chúng tôi lẻn vào trộm táo, lạnh run,
như kẻ trộm, cả lũ mừng rơn,
những vạt áo đầy nghẹn lên những táo.

Những quả táo cầm sao nghe nặng trĩu,
đưa lên miệng ăn, thấy sợ hãi ghê,
nhưng chúng tôi đang thương yêu nhau,
và đây là điều mang bao nhiêu tốt đẹp.

Như đồng loã, giấu chúng tôi khỏi thế giới,
nơi bao nhiêu làn sóng bẩn dâng cao,
ngôi nhà tu sĩ cất tiếng thì thào:
“Đừng có sợ yêu thương. Các con không phải người ăn cắp”.

Và mặt trăng chiếu ánh sáng màu sữa
thì thầm xuyên qua lớp màn phủ bụi đầy:
“Người lấy trộm những gì mà cuộc đời
có thể lấy, không phải người ăn cắp…”

Có ông chủ một nhà vườn, tính nhân ái,
vốn là cao thủ đá bóng đã về hưu
và những bức ảnh nhấp nháy như trong sương
thầm thì bảo: ”Đừng sợ, nên thẳng tiến!”

Và cả lũ lao về phía khung thành gỗ,
lao vào yêu như vào chỗ phạt đền,
làm động tác lừa quay ngoặt hai bên,
đưa quả bóng - táo lăn vào lưới.

Và cả lũ chúng tôi cùng mơ tưởng
thấy những chiếc giầy đá bóng con con
thành món đồ chơi lớn ơi là lớn, luôn đung đưa
trên đầu cả bọn, treo trên làn chỉ mỏng.

“Đừng có sợ,- chúng như chú lùn, cùng nói nhỏ,-
Hãy chơi đi và chơi rõ thật vào…”
và đã tấn công vào quả địa cầu
vào một thứ thực ra cũng bé con như thế.

Chúng tôi đã chơi và đá mê mải.
Cuộc chơi có thể chẳng ích lợi gì
nhưng chúng tôi đang thương yêu nhau
và đó là điều mang bao nhiêu tốt đẹp.

Còn biển cả đang điên cuồng gào thét
báo cho ta biết trước một điều gì
nhưng giống con cá vàng ở truyện thần kỳ,
nhúm bờm tóc lấp lánh trên vầng trán.

Và không sợ khi phải suy nghĩ
về tương lai bị lốc bão lấy đi
vì tham lam và vì sự ngu si
tôi phải ở lại cùng máng vỡ.

Dù tôi bị dồn vào đường cùng vì chuyện bịa đặt
tôi biết rằng tình yêu không dành cho kẻ bạc nhược trên đời,
và hương vị tình yêu chính là mùi
của trái táo hái trộm được, chứ không do mua được.

Chúng tôi sẽ hạnh phúc chăng? Chưa chắc…
nhưng chúng tôi đã có thể nguyền rủa mọi thứ trong đời
nếu như mình tự lấy đi của chính mình
khả năng ăn trộm những giây phút đó.

Người gác cổng cứ gầm lên cuồng loạn
khi dưới sóng nước tung trắng bọt biển dâng
tôi gối đầu trên hai trái táo của tôi,
mặn mùi muối, do tôi hái trộm được!
Tùng Cương dịch
КРАДЕНЫЕ ЯБЛОКИ
Евгений Евтушенко

Кренились от шторма заборы,
и крались мы в тенях озяблых,
счастливые, будто бы воры
с рубахами, полными яблок.

Тяжёлыми яблоки были,
и есть было страшно –престрашно,
но мы друг друга любили,
и это было прекрасно.

И нас, как сообщница, пряча
от мира, где uрязные волны,
шептала монахиня-дача:
“Не бойтесь любить. Вы не воры”.

И лунного света молочность
шептала сквозь пыльные шторы:
“Укравшие то, что могло быть
украдено жизнью – не воры…”

Был дачи хозяин гуманный
футбольный – на пеисии- витязь,
и фото, мерцая туманно,
шептали:” Не бойтесь – прорвитесь!”

И мы прорвались к воротам
в любовь, как в штрафную площадку,
и делали финт с поворотом
и яблоками- в девятку.

И, крошечны, снились нам будто,
игрушками-игрунами rачались
футбольные бутсы
на ниточке тонкой над нами.

Не бойтесь,- шептали, как гномы.
Играйте, и не понарошке…” –
и били по шару земному,
такому же, в сущности, крошке.

И мы играли и били.
Игра была, может, напрасна,
но мы друг друга любили,
и это было прекрасно.

А море, лютея от рыка,
предупрждало о чём-то,
но, как золотая рыбка,
плескалась на лбу твоём челка.

И было не боязно думать,
что в будущем, штормом закрытом,
за жадность мою и за дурость
останусь с разбитым корытом.

Пусть буду я сплетнями загнан ,
я знаю – любовь не для слабых,
и запах любви – это запах
не купленных- краденых яблок.

Мы счастливы будем? Едва ли…
Но всё бы мы прокляли в мире,
когда б у себя мы украли
возможность украсть эти миги.

Что крик сторожей исступленных,
когда я под брызгами моря
лежал головой на солёных
двух яблоках, краденных мною!
1967

cây sồi 31-12-2010 15:11

thơ dịch
 
ТРИ ФИГУРКИ
Евгений Евтушенко

По Петрозаводскому перрону,
Зыбкому, как будто бы парому,
шла моя любимая с детьми.
Дети с ней почти бежали рядом
и меня упрашивали взглядом:
“Папа, ты на поезд нас возьми.

Что-то в тебе стало от солдатки.
Все разлуки, словно игры в прятки.
Вдруг потом друг друга не найти?
Женшины в душе всегда готовы
молча перейти из жён во вдовы,
потому их так пронизают зовы
железнодорожного пути.

На перроне, став почти у края,
три фигурки уменьшались, тая.
Три фигурки – вся мoя семья.
МОнументы – мусор, как окурки.
Что осталось? Только три фигурки –
родина предсмертная моя.
1995
BA DÁNG NGƯỜI
Evghênhi Evtu shenkô

Trên sân ga Pêtrôdavôt
rùng rình như bước trên phà,
người yêu tôi đi cùng lũ trẻ.
Lũ trẻ với mẹ đi bên như chạy
luôn đưa mắt nài nỉ tôi:
“Ba ơi, bế con lên tàu nhé…”

Có cái gì trong em như từ vợ lính.
Như chơi trò đuổi bắt, chỉ thấy chia xa.
Chợt bỗng nhiên ta bị lạc mất nhau?
Người phụ nữ luôn sẵn sàng trong tâm thế
lặng lẽ chuyển từ vai vợ sang vai bà goá
vì một điều họ đã ngấm sâu
tiếng gọi mời của những đường tàu.

Trên sân ga, đứng gần bên mép
Ba dáng người nhỏ dần, tan biến.
Dáng ba người là cả gia đình tôi
Mọi tượng đài chỉ là rác, như mẩu thuốc lá thừa thôi.
Còn lại gì? Ba dáng người nhỏ bé
là quê hương của tôi trước lúc tôi chết.
Tùng Cương dịch

cây sồi 11-02-2011 16:43

Một trăm lẻ một nhà thơ Nga
 



BỨC TRANH TUỔI THƠ
Evghênhi Evtu shenkô

Vung cánh tay liên hồi, chúng tôi chạy -
có người đang bị đánh ở chợ kia kìa.
Sao có thể đứng nhìn cảnh này được!
Vội ra chỗ ồn ào, chúng tôi vọt nhanh hơn,
không kịp lau người mồ hôi toá ra ướt,
quên cả chùi nước mũi đùn ra.

Và chết lặng. Tim có gì bóp chặt,
khi thấy vòng vây áo lông thu lại nhỏ hơn,
nạn nhân đứng bên dãy hàng rau
cố thụt đầu vào vai để tránh cơn mưa đá
những đấm đạp, xô đẩy, phỉ nhổ và tát bớp.

Bỗng bên phải có người kéo ngã vào xe bằng dây.
Chợt bên trái có kẻ đập cục băng to vào trán.
Máu phọt ra. Sự việc quá nghiêm trọng rồi.
Đám đông nhảy dựng lên. Người người gào rú,
đổ lên đầu nạn nhân đòn gậy gộc và dây cương,
cả đồ sắt từ bánh xe ngựa.
Nạn nhân rên rỉ khàn khàn, không ai động lòng:
“Này anh em, hỡi anh em, làm gì vậy?...”

Cả đám đông muốn kết thúc cho xong,
cả lũ thành câm lặng, lên cơn hung tợn.
Họ chửi bới những người chỉ đánh cho có đánh,
dẫm đạp lên cái gì giống thân người
trong tuyết xuân đã biến thành bùn loãng.
Họ đấm đạp rất có dáng. Có đầu óc. Rât hoành tráng.
Tôi đã thấy đám người đánh chính xác và cao tay,
nạn nhân nằm thở chỉ còn nghe thoi thóp.
Cả lũ đã biến thành bùn rác, đám phân lỏng
cố đánh thêm bằng giầy ủng của một người
giầy có cả đôi tai.
Chủ giầy ủng là anh chàng mõm ngay thẳng
tự hào sự đứng đắn của mình đến đáng sợ
luôn chân đá, tay đấm , miệng đế thêm:
“Thế vẫn chưa đã đâu!..”
Hắn đánh với lẽ phải có trọng lượng, tự tin,
người ướt đẫm mồ hôi, da đỏ rực, vui ra mặt
hắn kêu tôi: “Đánh thêm đi chứ, thằng nhóc!”
Tôi không nhớ có bao nhiêu người đấm đá và thét gào.
Có khi là một trăm, có thể là trên trăm,
nhưng đứa bé là tôi chỉ biết khóc lên vì xấu hổ.
Và nếu có một trăm kẻ, gầm rú cuồng điên,
cùng đánh một người – cho dù đáng tội hiển nhiên!-
Tôi sẽ không bao giờ là tên trăm lẻ một!
Tùng Cương dịch
КАРТИНКА ДЕТСТВА
Евгений Евтущенко

Работая локотями, мы бежали, –
кого-то люди били на базаре.
Как можно было это смотреть!
Спеша на гвальт, мы прибавляли ходу,
зачерпывали валенками воду
и сопли забывали утереть.

И замерли. В сердчишках что-то сжалось,
когда мы увидали, как сужалось
кольцо тулупов, дох и капелюх,
как он стоял у овощного ряда,
вобравши в плечи голову от града
тычков, пинков, плевков и оплех.

Вдруг справа кто-то в сани дал с оттяжкой.
Вдруг слева залепили в лоб ледяшкой.
Кровь появилась. И пошло всерьёз.
Все вздыбились. Все скопом завизжали,
обрушившись дрекольем и вожжами,
железными штырями от колес.

Зря он хрипел им: “ Братцы, что вы, братцы…”
толпа сполна хотела рассчитаться,
толпа глухою стала разьярясь.
Толпа на тех, кто плохо бил, роптала,
и нечто, c телом схожее, топтала
в снегу весеннем превращенном в грязь.

Со вкусом били. С выдумкою. Сочно.
Я видел, как сноровисто и точно
лежащему под самый-самый дых,
извожены в грязи, в навозной жиже,
все добавляли чьи-то сапожищи
c засаленными ушками на них.

Их обладатель – парень с честной мордой
и честностью своею страшно гордый -
все бил да приговаривал:” Шалишь!..”
Бил с правотой уверенной, весомой
и взмокший, раскрасневшийся, весёлый,
он крикнул мне:” Добавь и ты, малышь!”
Не помню, сколько их галдевших, било.
Быть может, сто, быть может, больше было,
но я, мальчишка, плакал от стыда.
И если сотня, воя оголтело,
кого-то бьёт – пусть даже и за дело!
сто первым я не буду никогда!
1963

Tôi xin lỗi trước là trong bài có hai câu quá sức tôi:
-khổ 1, dòng thứ tư: зачерпывали валенками воду, tôi tra từ điển thành ngữ mà không thấy. tôi dịch kiểu tù mù:
-khổ 2, dòng 3: дох и капелюх, tôi chỉ biết nghĩa дох, còn капелюх tôi đã tra các loại từ điển tôi có mà chịu, hoặc nghĩa không hợp, hoặc tôi không hiểu câu. Tôi dịch thiếu ý này.
Vậy bác nào tình cờ đọc bài này thì ra tay cứu vớt, cho bài dịch trọn vẹn hơn.
Cám ơn trước.

hungmgmi 11-02-2011 17:15

Trích:

khổ 2, dòng 3: дох и капелюх, tôi chỉ biết nghĩa дох, còn капелюх tôi đã tra các loại từ điển tôi có mà chịu, hoặc nghĩa không hợp, hoặc tôi không hiểu câu. Tôi dịch thiếu ý này
КАПЕЛЮХ - м. капелюха ж. зап. южн. малахай, ушастая ШАПКА.
http://dal.sci-lib.com/word012667.html
КАПЕЛЮХ, КАПЕЛЮХА, КАПЕЛЮШ - шапка с ушами, малахай у белорусов.
http://lesita.com.ua/wp-content/File...85-150x150.jpg

Nina 11-02-2011 17:23

Trích:

-khổ 1, dòng thứ tư: зачерпывали валенками воду, tôi tra từ điển thành ngữ mà không thấy. tôi dịch kiểu tù mù:
Thật ra câu này không phải thành ngữ bác ạ, nghĩa đơn giản là múc nước bằng ủng thôi. Còn trong ngữ cảnh trên thì có thể hiểu - bọn họ chạy vội vàng quá, dẫm cả ủng vào các vũng nước.

cây sồi 12-02-2011 10:15

về hai câu khó hiểu
 
Chào hai bạn hungmm và Nina, đã nhanh chóng giải nghĩa giúp tôi hai câu này.
-Vậy khổ 1, sẽ là: chân vục xuống đường, giày sũng nước,
-khổ 2: mũ lông có tai đang ngắc ngoải ,
Cám ơn hai bạn nhiều nhiều. Tôi còn vài bài của Evtu shen ko, cũng vướng như vậy. Đành gác lại. nay nhờ các bạn, có thể gửi tiếp. Chào.

cây sồi 14-02-2011 17:01

thơ dịch
 
LÚC SẮP SÁNG
Evghênhi Evtu shenkô

Tôi thích lúc các vì sao còn le lói,
nhưng làn hơi của con trẻ có thể thổi chúng tắt đi,
và thế giới dần sáng rõ, sáng ra,
dù buổi sáng không sáng trí hơn một chút.

Tôi thích lúc trời sắp sáng hơn buổi sáng,
khi bầy muỗi vàng hoà tan
với hàng cây nhờ ánh sáng thấm đầy,
người ta nhón đầu ngón chân trở dậy.

Tôi thích giữa rừng thông , khi đang chạy,
trong tiếng hót của bày chim nửa thức, nửa mơ,
trên vành nấm ruyt xuyn đưa mùi tử đinh hương,
giọt sương rung rinh bên mép nấm.

Hơi bất tiện tỏ ra hạnh phúc trước mọi người.
Thói quen giấu đi hạnh phúc của mình thật ranh ma,
nhưng hãy để hạnh phúc lúc sắp sáng được nán thêm,
dù tất cả bất hạnh đều bắt đầu từ buổi sáng.

Tôi hạnh phúc: cuộc đời tôi dường như chuyện không tưởng,
nhưng dù sao là chuyện có thật, táo bạo, vui tươi,
Trời không cho tôi phải tức giận, ghen ghét ai,
tôi không rơi xuống bùn, không bị nghiền tan ra bụi.




Tôi hạnh phúc vì một ngày nào đó
sẽ là ông bầy cháu nhỏ sinh ra không phải qua tế bào.
Tôi hạnh phúc là bị bôi xấu và trung thành-
vì người đời chỉ gầm gừ với người sống, không gầm gừ người chết.




Tôi hạnh phúc có tình yêu của bạn bè, phụ nữ.
Hình ảnh họ là tranh thánh của tôi.
Tôi hạnh phúc đã kết hôn với cô gái Nga,
người xứng đáng sau này vuốt mắt cho tôi nhắm lại.

Yêu nước Nga là hạnh phúc vô cùng bất hạnh.
Tôi gắn với nước Nga bằng những sợi chỉ riêng.
Tôi yêu nước Nga, nhưng tất cả các chính quyền của Nga,
tôi cũng muốn yêu, nhưng chỉ thấy buồn nôn, xin thứ lỗi.

Tôi yêu quả địa cầu xanh, biếc xanh vầng trán,
như chú sói con má dính máu đầy.
Tôi tự lên dây cót. Tôi sẽ chết không do giận căm,
mà bởi, với trái tim, tình yêu không còn hợp sức.

Tôi không biết sống khôn ngoan, hoàn hảo,
nhưng các bạn cứ nhớ với lỗi lầm không thể đáp đền
cậu bé có cặp mắt mang thời khắc sắp sáng ra
của tự do đang hừng đông tốt hơn tự do giữa ban ngày sáng rõ.

Tôi là thứ tạo hoá sinh ra vô cùng không hoàn thiện,
nhưng tôi chọn giờ ưa thích là sáng sớm tinh mơ,
Chúa sẽ lại tạo ra từ trước ngày sinh
những hàng cây thấm đầy ánh sáng
tôi là người thấm đẫm tình yêu.
Tùng Cương dịch





ПРЕДУТРО
Евгений Евтушенко

Люблю, когда звёздочки всё ещё тлеют,
но можно их детским дыханьем задуть,
а мир постепенно утреет, утреет,
хотя не мудреет при этом ничуть.

Я больше, чем утро, люблю поутренье,
Когда, мошкару золотую меся,
лучами пронизанные деревья
на цыпочках приподнимаются.

Люблю, когда в соснах во время пробежки
под полуgроснувшихся птиц голоса
на шляпе сиреневой у сыроежки
по краешку вздрагивает роса.

Быть как-то неловко счастливым прилюдно.
Привычка скрывать своё счастье хитра,
но дайте счастливым побыть хоть под утро,
хотя все несчастья начнутся с утра.

Я счастлив, что жизнь моя вроде бы небыль,
а всё же весёлая дерзкая быль,
что Бог мне ни злобы, ни зависти не дал,
что в грязь я не влип и не втоптан был в пыль.

Я счастлив, что буду когда-нибудь предком
уже не по клеткам рождённых внучат.
Я счастлив, что был оклеветан и предан –
ведь лишь на живых, а не мёртвых рычат.

Я счастлив любовью товарищей, женщин.
Их образы – это мои образа.
Я счастлив, что с девочкой русской обвенчан,
достойной того, чтоб закрыть мне глаза.

Роcсию любить – разнесчастное счастье.
К ней жилами собственными пришит.
Роcсию люблю, а вот все её власти
хотел бы любить, но – простите – тошнит.

Люблю я зелененький, голуболобый
наш глобус-волчок со щеками в крови.
Я сам заводной. Я умру не от злобы,
а от непосильной для сердца любви.

Я жить не сумел безупречно, премудро,
но вспомните вы с неоплатной виной
мальчишку с глазами, где было предутро
свободы светающей – лучше дневной.

Я несовершеннейшее творенье,
но выбрав любимый час – поутренье,
Бог вновь сотворит до рождения дня
лучами пронизанные деревья,
любовью пронизанного меня.
1995

cây sồi 16-02-2011 10:03

thơ dịch
 
THỜI KHẮC NỬA THU NỬA ĐÔNG
Evghênhi Evtu shenkô

Thời khắc giao mùa nửa thu nửa đông
chiếc giày vải của em đoán được gì cho anh biết?
Nó bới tung đám lá chết khô lên
đòi hỏi một điều gì của mặt đất -
mặt đất chỉ khất câu trả lời.

Chiếc giày vải như chú thú con không người bảo vệ
dũi cái mõm ướt vào chiếc giày cổ cao.
Giày cao cổ vẻ thất thần, đã chết,
kìm giữ mình không muốn trả lời,
khắp bốn phía tiếng chổi đưa loẹt quẹt
vun lá khô chất thành ụ dưới chân.

Đống lá chết còn chưa đốt hết.
Anh cháy hết rồi. Bài ca của ta hát đã xong,
nếu tâm hồn của ai đó nổi lên công phẫn,
trong hồn ta không tìm thấy câu trả lời.
Sẽ không có lời khuyên nào thông minh hơn, đắng cay hơn nữa:
Đừng bới tung đám lá chết khô rồi.

Ngay bên cạnh, con em chơi trong cát.
Nhà đối diện, chồng em vẽ sơn dầu,
đang mê mải như người cuồng tín
tin tưởng em vô bến vô bờ,
vẽ phong cảnh có hoàng hôn dần lụi tắt.
Anh thấy mình hai mặt, thấp hèn,
như đánh cắp hộp màu của người khác.
Lá chết thường được đốt theo thói quen.
Khói lên mãi, như thánh ca không thành tiếng.




Trên bức tranh có đàn quạ râm ran,
cành trơ trụi đua ra trong bóng tối,
đây vẫn là đám lá chết khô rồi,
là em, con em, chiếc ghế dài trống vắng.
Đức Chúa ơi, nhỡ dưới bút vẽ của nhà tiên tri,
anh bỗng lớn thành cái bóng của sự phản trắc?

Cuộc đời không tha cho anh vì những trò nghịch tinh.
Anh tham quá. Máu tham con trẻ ấy
rất nhiều khi hoá tàn ác, không xót thương,
cứ gặp táo là nếm ăn rồi vung tay vứt.
Thói phàm ăn ơi, ngươi đắc tội rồi,
nếu mang lại khổ đau cho gia đình ai đó.

Lỗi lầm trước người thân sẽ biến thành
lầm lỗi trước toàn nhân loại
Khi ta mang đau khổ dù cho một gia đình
cũng có tội như đem khổ đau cho nhiều dân tộc.
Dù thoáng qua, đã phá hoại cuộc đời một người
cũng tàn ác, nếu không xây được cuộc đời nào khác.

Tiếng chuông rè là tiếng chuông tàu điện qua.
Anh trên bậc toa xe. Mặt đường bay vun vút.
Anh lại một mình. Chẳng sao hết. Không phải lần đầu.
Thà anh sẽ hoàn toàn cô độc,
vẫn còn hơn để sưởi ấm cho mình,
phải đốt cháy những tâm hồn sống,
dường như châm lửa đốt đống lá chết dưới chân.
Thế là hết. Anh không thể làm gì khác.
Tùng Cương dịch






В МИГ ПОЛУОСЕНИ-ПОЛУЗИМЫ
Евгений Евтушенко

В миг полуосени-полузимы
что твоя туфелька мне ворожила?
Мёртвые листья она ворошила,
что-то выcпрашивая у земли –
только земля свой ответ отложила.

Туфелька, как беззащитный зверек,
ткнулась в ботинок мордочкой мокрой.
Был он какой-то растерянный, мёртвый,
он от ответа себя уберёг,
ну а вокруг шелестящие метлы
мёртвые листья сгребали у ног.

Мёртвые листья ещё не дожгли.
Я был дожжён. Наша песенка спета,
если на взорванность чьей-то души
в собственном мы не находим ответа.
Нет мудрее и горше совета:
Мёртвые листья не вороши.

Рядом в песке твой ребёнок играл.
В доме напротив твой муж фанатично
делал, так веря тебе безгранично,
маслом пейзаж, где закат умирал.
Я себя чувствовал подло, двулично,
словно я краски чужие украл.
Мёртвые листья сжигали привычно.
Дым восходил, как беззвучный хорал.

Был на пейзаже хор воронья,
голые сучья, торчащие мглисто,
были те самые мёртвые листья,
ты, твой ребёнок, пустая скамья.
Господи, вдруг под провидческой кистью
вырасту тенью предательства я?

Жизнь не простила забавы мои.
Жадным я был. Эта детская жадность
переходила порой в беспощадность
к яблокам тем, что надкусывал и
сразу бросал. Ты преступна, всеядность,
если ты горе для чьей-то семьи.

Станет вина перед ближним – виной
передо всем человеческим родом.
Так же грешно, словно горе – народам,
горе семье принести хоть одной.
Подло ломать чью-то жизнь мимоходом,
если не можешь построить иной.

Колокол хриплый – трамвайный звонок.
Я на подножке. Летят мостовые.
Снова один. Ничего. Не впервые.
Лучше я буду совсем одинок
чем, согреваючись, души живые
жечь, будто мёртвые листья у ног.
Кончено всё. Я иначе не мог.
1971

cây sồi 17-02-2011 16:00

thơ dịch
 
GIÀY ỦNG
Evghênhi Evtu shenkô

Toa tàu hoả của chúng tôi giống đàn gia súc.
Tiếng hét, tiếng hò luôn sôi sục.
Trải đệm cỏ ở buồng nhỏ bên trái lối vào
đang ngủ say là đám lính thuỷ, trông như các vị thần.
Có ai đó mơ thấy Maruxia trong mộng.
Chú mèo xám hung liếm canh xuỵt xoạt
Một anh chàng vẻ tăm tối được dạy một bài
để sau này không còn dám ăn trộm của người.
Tôi hồi đó, vốn không xa lạ trò làm mẽ
từng có tiếng trong đám bạn hữu
chỉ nhờ mang đôi ủng Mỹ cổ cao.
Khi người này, lúc người khác
cầm giày lên tay,
cứ đòi bán,
nhưng tôi từ chối
chỉ cho họ sờ nắn đôi ủng ngoại,
đưa tay mân mê, gõ mãi đế giày.
Có anh chàng nằm giường dưới tôi
đi đâu đó,
về Etkul thì phải,
một nhúm tóc rậm xoè trên đầu hắn,
anh chàng
chạc tuổi tôi,
đi chân trần, ống quần rộng dài.
Liệu có phải
tôi có đôi giày diện,
liệu có tại
anh ta lại chân đất!-
nhưng vì sao đó tôi cố ít nhìn
về phía anh chàng ngồi cùng toa…
Tôi không nhớ,
tàu đến nơi nào đó
chỉ dừng lại có năm phút đỗ
Cả toa sôi lên vì biết tin:
“Anh em ơi!
Họ đang bán gì kìa!”
Còn ngái ngủ, u mê chửi thề mọi thứ,
tôi muốn xỏ chân vào giày của tôi đã,
nhưng có người chạy qua, miệng kêu:
“Ông chậm rồi!
Thôi phải chạy quàng lên!”
Tôi vùng chạy,
trong tiếng ồn ào, hỗn loạn
khi đến gần quầy hàng của nhà ga xe lửa
Từ xa xa,
tôi đã nhận ra
anh chàng cùng toa đang ôm đôi giày của tôi
Tôi vội phóng theo hắn như bão cuốn.
Người tôi bừng bừng công phẫn vì mình ngay thẳng.
Tôi nhảy ào từ cột giảm sóc này tới cột kia,
ống quần tôi rách tan vì vướng phải một cái gì.
Tôi cứ chạy, cứ lao đi hết tốc lực,
Khi đuổi kịp, tôi ép hắn vào thành toa, khoá chặt.
Hắn lặng im trả lại tôi giày
bỗng khóc oà và bỏ chạy đi luôn.
Tôi chết lặng,
lòng trào dâng xúc động
cứ nhìn mãi, nhìn hoài hạt mưa rơi xiên chéo
trên mặt đất mùa thu
ướt át dầm dề.
Anh chàng kia
vừa chạy vừa khóc
lê chân trần…
Rồi sau đó, một vị khách bệ vệ, dáng quan chức
thụôc loại cao niên trong toa mời tôi nửa cốc
rượu vang vùng Nôvôxibir.
Quần tôi rách được mấy em vá lại như xưa,
họ nói mãi rằng chuyện chưa đến nỗi tệ,
ngoài cửa sổ
những đường dây điện
vun vút qua,
hiện khi thấp, khi cao…
Tùng Cương dịch
CАПОГИ
Евгений Евтушенко

Был наш вагон похож на табор.
В нём были возгласы крепки.
Набивши сеном левый тамбур
как боги, спали моряки.
Марусей кто-то бредил тихо.
Котёнок рыжий щи хлебал.
Учили сумрачного типа,
чтоб никогда не мухлевал.
Я был тогда не чужд рисовки
и стал известен тем кругам
благодаря своим высоким
американским сапогам.
То тот,
то этот брал под локоть,
прося продать,
но я опять
лишь разрешил по ним похлопать,
по их подошвам постучать.
Но подо мной
куда-то в Еткуль,
с густой копной на голове,
парнишка
мой ровестник
ехал
босой, в огромных галифе.
И что с того,
что я обутый,
а он босой –
ну что с того !-
но я старался почему-то
глядеть поменьше на него…
Не помню я
в каком уж месте
стоял наш поезд пять минут.
Был весь вагон разбужен вестью:
“Братишки!
Что-то выдают!”
Спросонок тупо всё ругая,
хотел надеть я сапоги,
но кто-то крикнул, пробегая:
“Ты опоздаешь!
Так беги!”
Я побежал,
но в страшном гаме
у станционного ларька
вдали
с моими сапогами
того увидел паренька…
За вором я понёсся бурей.
Я был в могучем гневе прав.
Я прыгал с буфера на буфер,
штаны о что-то разодрав.
Я гнался, гнался что есть мочи.
Его к вагону я прижал.
Он сапоги мне отдал молча,
заплакал вдруг и побежал.
И я
в каком-то потрясенье
глядел, глядел сквозь дождь косой
как по земле сырой,
осенней
бежал он,
плачущий,
босой …
Потом внушительный, портфельный
вагона главный старожил
новоcибирского портвейна
мне полстакана предложил.
Штаны мне девушки латали.
твердя, что это не беда,
а за окном
то вверх взлетали
то вниз ныряли
провода…
1954

cây sồi 30-03-2011 17:41

thơ dịch
 
ĐỒNG BÀO ƠI, HÃY NGHE TÔI NÓI ĐÂY…
Evghenhi Evtu shenko

Tôi đang trên boong tàu “Phriđrich Enghen”,
đầu óc tôi loạn lên những điều tà giáo,
những ý nghĩ lậu vé lấn chen nhau.
Tôi không hiểu, có phải tai nghe thấy
cái câu đầy bối rối và buồn đau:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”
Boong tàu oằn mình xuống, rỉ rên,
nó nhảy điệu Chanxton trong tiếng đàn ắc cóoc
từ mũi tàu, cất giọng cầu xin mỏng manh,
cố len lỏi chui ra đầy hoang dã
cái câu đầu chán ngắt của bài ca:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”

Ngồi trên tàu còn có anh lính thường.
Nghiêng mình thả lọn tóc xuống đàn ghi ta gỗ,
các ngón tay hỗn loạn múa may.
Anh đang gảy đàn và lòng anh hiện rõ,
đôi môi đau khổ cất lời:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”

Đồng bào không buồn nghe.
Họ chỉ muốn được nốc rượu và chén đã,
muốn nhảy thôi, mọi chuyện khác chẳng thèm nghe!
Mà nói thật, họ chỉ mong được ngủ.
Vậy mà anh ta rên rỉ không thôi:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”

Người đang muối cà chua thật ngon lành,
kẻ dây bẩn những quân bài đầy dầu mỡ,
người mài gót giày trên mặt sàn,
kẻ xé túi đựng rượu, đứng bên đàn ắc cooc.
Đã bao lần, lúc thì gào lên,
và thẽ thọt nhắc lại câu thứ nhất:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói đây…”

Có người đôi khi chẳng buồn nghe.
Vừa giãn xương sườn vừa đau đớn
mà không nói được điều cốt yếu bật ra.
Còn lúc này, tâm hồn bên trong đã khép kín,
chẳng ai buồn nghe câu nói lạ xa:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”

Ôi anh lính đang ngồi trên đống thùng,
giống anh lắm, chỉ có điều tôi không có đàn ghi ta gỗ…
Vượt qua sông, núi và biển hồ
tôi lê bước và đôi tay dang rộng
giọng đặc khàn, lặp lại đúng một câu:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”

Đáng sợ thay, nếu mọi người không muốn nghe.
Thật là sợ, nếu mọi người bắt đầu nghe đấy.
Cả bài ca chợt nghe thấy cạn nông,
cả bài hát bỗng trở thành trống rỗng,
trừ câu đầu, nghe thấm máu, đau lòng:
“Đồng bào ơi, hãy nghe tôi nói nhé…”
Tùng Cương dịch
ГРАЖДАНЕ, ПОСЛУШАЙТЕ МЕНЯ…
Евгений Евтушенко

Я на пароходе “Фридрих Энгельс”
ну а в голове – такая ересь
мыслей безбилетных толкотня.
Не пойму я – слышится мне, что ли,
полное смятения и боли:
“Граждане, послушайте меня…”
Палуба сгибается и стонет
под гармошку палуба чарльстонит
на баке, тоненько моля
пробует пробиться одичало
песенки свербящее начало:
“Граждане, послушайте меня…”

Там сидит солдат на бочкотаре
Наклонился чубом он к гитаре,
пальцами растерянно мудря
Он гитару и себя изводит,
а из губ мучительно исходит:
“Граждане, послушайте меня…”

Граждане не хочут его слушать.
Гражданам бы выпить да откушать
и сплясать, а прочее – мура!
Впрочем, нет, ещё поспать им важно.
Что он им заладил неотвязно:
“Граждане, послушайте меня…”

Кто-то помидор со смаком солит,
кто-то карты сальные мусолит,
кто-то сапогами пол мозолит,
кто-то у гармошки рвёт меха.
Но ведь сколько раз в любом кричало
и шептало это же начало:
“Граждане, послушайте меня…”

Кто-то их порой не слушал тоже.
Распирая ребра и корежа,
высказаться суть их не могла.
И теперь со вбитой внутрь душою
слышать не хотят они чужое:
“Граждане, послушайте меня…”

Эх, солдат на фоне бочкотары,
я такой же – только без гитары.
Через реки, горы и моря
я бреду и руки простираю
и, уже похрипший, повторяю:
“Граждане, послушайте меня…”

Страшно, если слушать не желают.
Страшно, если слушать начинают.
Вдруг вся песня, в целом-то, мелка,
вдруг в ней всё ничтожно будет, кроме
этого мучительного, с кровью:
“Граждане, послушайте меня…”
1963

cây sồi 09-08-2011 16:25

tho dịch
 
КАРЬЕРА
Евгений Евтушенко

Твердили пастыри, что вреден
и неразумен Галилей,
но, как показывает время:
кто неразумен, тот умней.

Учёный, сверстник Галилея,
был Галилея не глупее.
Он знал, что вертится земля,
но у него была семья.

И он, садясь с женой в карету,
свершив предательство своё,
считал, что делает карьеру,
а между тем губил её.

За осознание планеты
шёл Галилей одним на риск.
И стал великим он.. Вот это
я понимаю – карьерист!

И так, да здравствует карьера,
когда карьера такова,
как у Шекспира и Пастера
Гомера и Толстого.. Льва

Зачем их грязью покрывали ?
Талант – талант, как ни клейми!
Забыты те, кто проклинали,
но помнят тех, кого кляли.

Все те, кто рвались в стратосферу,
врачи, что гибли от холер –
вот делали карьеру!
Я с тх карьер беру пример.

Я верю в их святую веру.
Их вера – мужество моё.
Я делаю себе карьеру
Тем, что не делаю её.
1957
CÔNG DANH
Evghênhi Evtu shenko

Các linh mục thường nói đi nói lại
rằng Galilê có hại và gàn,
nhưng đúng như thời gian cho thấy:
ai dở gàn, người ấy thông minh hơn.

Một học giả, với Galilê, là người cùng tuổi,
ông không hề dốt nát hơn Galilê,
ông biết quả địa cầu đang quay đó,
nhưng với ông, ông còn có gia đình.

Ông cùng vợ trịnh trọng lên xe ngựa,
ông đã làm hành vi phản bội của mình,
ông cứ nghĩ ông mưu cầu danh vọng,
nhưng thực ra đã giết chết công danh.

Để nhận thức đủ đầy về trái đất,
Galilê dám làm dám nghĩ một mình…
Và nhờ vậy ông thành người vĩ đại…
Tôi hiểu rằng ông đúng là người theo đuổi công danh.

Và như vậy, muôn năm sự mưu cầu danh vọng,
khi những người làm nên sự nghiệp như:
Sêc xpia và Pa ster nữa,
Hômer và Lev… Tôl xtôi.

Vì sao họ bị bôi do trát bẩn?
Tài năng là tài năng, dù có nói điều gì!
Người nguyền rủa thường bị đời quên lãng,
nhưng người bị nguyền được nhớ mãi trên đời.

Những bác sĩ đã bỏ mình vì bệnh tả,
cả những ai nghiên cứu tầng bình lưu
tất cả họ đều làm nên sự nghiệp!
Tôi lấy gương của họ để noi theo.

Tôi tin tưởng vào đức tin thiêng liêng của họ.
Niềm tin của họ là sự dũng cảm của tôi.
Tôi đang tạo dựng nên sự nghiệp
bằng cách không chạy theo danh vọng, chẳng bon chen.
Tùng Cương dịch


Nina 21-12-2014 23:55

Thực sự là mình không ngờ rằng Evgeny Evtushenko lại có một bài thơ mềm mại thế này. Mình biết đến do phần trình diễn rất tình cảm của Dmitri Hvorostovsky – một trong những giọng nam trung hàng đầu thế giới hiện nay.

https://www.youtube.com/watch?v=sFy-lIBwRWI


Đừng vội em ơi (A. Babadzhanian – E.Evtushenko)
Не спеши (А. Бабаджанян – Е. Евтушенко)
Baritone: Dmitri Hvorostovsky
Dàn nhạc thính phòng Moskva. Nhạc trưởng: Konstantine Orbelian




НЕ СПЕШИ

Евгений Евтушенко

Ты спеши, ты спеши ко мне,
Если я вдали, если трудно мне,
Если я – словно в страшном сне,
Если тень беды в моем окне.
Ты спеши, когда обидят вдруг.
Ты спеши, когда мне нужен друг.
Ты спеши, когда грущу в тиши,
Ты спеши, ты спеши!

Не спеши, не спеши, когда
Мы с тобой вдвоем и вдали беда.
Скажут «да» листья и вода,
Звезды и огни, и поезда.
Не спеши, когда глаза в глаза,
Не спеши, когда спешить нельзя.
Не спеши, когда весь мир в тиши.
Не спеши, не спеши!
Не спеши!
ĐỪNG VỘI EM ƠI

Evgeny Evtushenko

Em hãy vội lên, vội đến với anh,
Nếu anh ở xa, nếu anh gặp khó,
Nếu anh như đang trong cơn ác mộng,
Nếu tai ương bên cửa sổ nhà anh.
Em hãy vội, khi anh bị xúc phạm.
Hãy vội khi anh cần bạn ở bên.
Em hãy vội, khi anh buồn lặng lẽ,
Hãy vội đi em, hãy vội lên!

Nhưng đừng vội, em ơi, đừng vội,
Khi ta bên nhau, và bất hạnh ở xa.
Lá và nước cũng nói rằng “đồng ý”,
Cả lửa, cả sao, cả xe lửa nữa mà.
Em đừng vội, khi mắt nhìn vào mắt,
Đừng vội khi không được vội em à.
Em đừng vội, khi thế gian yên ả.
Đừng vội em ơi, đừng vội em à!
Đừng vội em à!


Nhân tiện bonus hình bản nhạc

https://fbcdn-sphotos-f-a.akamaihd.n...4b10ece3b7890d

Vania 08-04-2015 22:24



Наследники Сталина

Евгений А. Евтушенко

Безмолвствовал мрамор.
Безмолвно мерцало стекло.
Безмолвно стоял караул,
на ветру бронзовея.
А гроб чуть дымился.
Дыханье из гроба текло,
когда выносили его
из дверей Мавзолея.
Гроб медленно плыл,
задевая краями штыки.
Он тоже безмолвным был -
тоже! -
но грозно безмолвным.
Угрюмо сжимая
набальзамированные кулаки,
в нем к щели глазами приник
человек, притворившийся мертвым.
Хотел он запомнить
всех тех, кто его выносил, -
рязанских и курских молоденьких новобранцев,
чтоб как-нибудь после набраться для вылазки сил,
и встать из земли,
и до них,
неразумных,
добраться.
Он что-то задумал.
Он лишь отдохнуть прикорнул.
И я обращаюсь к правительству нашему с просьбою:
удвоить,
утроить у этой плиты караул,
чтоб Сталин не встал
и со Сталиным - прошлое.
Мы сеяли честно.
Мы честно варили металл,
и честно шагали мы,
строясь в солдатские цепи.
А он нас боялся.
Он, веря в великую цель, не считал,
что средства должны быть достойны
величия цели.
Он был дальновиден.
В законах борьбы умудрен,
наследников многих
на шаре земном он оставил.
Мне чудится -
будто поставлен в гробу телефон.
Энверу Ходжа
сообщает свои указания Сталин.
Куда еще тянется провод из гроба того?
Нет, Сталин не умер.
Считает он смерть
поправимостью,
Мы вынесли
из Мавзолея
его,
но как из наследников Сталина
Сталина вынести?
Иные наследники
розы в отставке стригут,
но втайне считают,
что временна эта отставка.
Иные
и Сталина даже ругают с трибун,
А сами ночами тоскуют о времени старом.
Наследников Сталина,
видно, сегодня, не зря
хватают инфаркты.
Им, бывшим когда-то опорами,
не нравится время,
в котором пусты лагеря,
а залы, где слушают люди стихи,
переполнены.
Велела не быть успокоенным Родина мне.
Пусть мне говорят: "Успокойся!" -
спокойным я быть не сумею.
Покуда наследники Сталина
живы еще на земле,
мне будет казаться,
что Сталин - еще в Мавзолее.
Những kẻ thừa kế Stalin

Phạm Xuân Nguyên dịch

Bức tường đá hoa lặng câm
Mặt gương lấp lóa lặng câm
Hàng vệ binh đứng lặng câm
Nghiêm trang như tượng đồng trước gió
Còn chiếc quan tài như đang thở
luồng hơi từ trong đó bốc ra.
Khi người ta mang nó
ra phía ngoài cửa Lăng
Chiếc quan tài trôi đi chầm chậm
giữa hai hàng lưỡi lê tuốt trần
Nó cũng lặng câm -
cũng lặng câm! -
nhưng là sự câm lặng đáng sợ
Cái người chết trong quan tài đó,
như đang từ khe hở nhìn ra,
Bàn tay nhợt màu xác chết,
co thành nắm đấm doạ đe
Ông ta muốn điểm mặt từng người
đang khiêng quan tài đi -
những thanh niên tân binh
người Ryazan và Kursk,
để về sau một lúc nào đó
khi sức lực phục hồi đầy đủ
từ dưới mồ ông ta nhô lên,
nhảy bổ vào đám thanh niên
những kẻ cuồng điên này
Ông ta đang suy tính điều gì
Ông ta chỉ nghỉ ngơi chốc lát
Vậy tôi xin yêu cầu Chính phủ chúng ta
một điều khẩn thiết :
tăng gấp đôi
tăng gấp ba
đội vệ binh đứng gác bên Lăng,
để Stalin không trở dậy,
và cùng với Stalin
quá khứ cũng nằm im,
Chúng ta gieo trồng một cách trung thực
Chúng ta luyện thép một cách trung thực,
và chúng ta bước đi một cách trung thực
trong hàng quân đội ngũ chỉnh tề
Thế mà ông ta sợ hãi chúng ta
Ông ta tin vào mục đích vĩ đại
nhưng lại không cho rằng
phương tiện cần phải xứng đáng
với sự vĩ đại của mục đích
Ông ta là người nhìn xa trông rộng
Ông ta hiểu thông các quy luật đấu tranh
nên trên mặt địa cầu này
Ông ta đã để lại nhiều người thừa kế
Tôi mơ thấy dường như
Trong quan tài có đặt telephone :
Stalin vẫn ra những chỉ thị của mình
cho người nào đó
Từ quan tài ông ta vẫn có dây dẫn nối
đi các ngả!
Không. Stalin chưa phải chết đâu
Ông ta cho cái chết là điều có thể sửa
Chúng ta mang ông ta
ra ngoài phía Lăng
Nhưng làm thế nào mang được Stalin
ra khỏi những người thừa kế Stalin
Một số kẻ thừa kế về hưu trồng hoa
chơi cảnh nhưng thầm cho rằng
hưu chỉ tạm thôi
Số kẻ thừa kế khác
thậm chí đăng đàn chửi Stalin hết lời
nhưng bản thân đêm đêm
vẫn buồn nhớ về thời thế cũ
Rõ ràng hôm nay chẳng phải là vô cớ
những kẻ thừa kế Stalin bị mắc bệnh
nhồi máu cơ tim
Bọn họ trước đây từng là chỗ dựa
không thích được thời nay
khi những trại tập trung vắng vẻ
còn những phòng nghe thơ
thì đông chật những người
Số phận Tổ quốc khiến tôi
không thể bình yên ngồi
Dù người ta bảo tôi :
"Hãy yên tâm !"
tôi không thể nào yên được
Chừng nào những kẻ thừa kế Stalin còn
sống trên Quả đất thì tôi cho rằng
Stalin vẫn còn ở trong Lăng.



cây sồi 13-12-2015 09:22

Chao Dien dan, Toi muon hoi, may tinh cua toi, khong the gui bai nhu moi khi, nay toi muon gui bai dich tho cho dien dan, roi nho cac ban dua vao muc nay, co duoc khong? gui qua Gmail theo dia chi nao? Phien cac ban qua!

cây sồi 03-01-2016 15:35

May tinh cua tôi có vấn đề, tôi đành g­ỉ tạm vào đây. Nhò­ các bạn gi chuyển giúp.
Baby Ia r
Khe Baby Ia r ch­u­a có đài tu­o­ngr

cây sồi 05-01-2016 10:24

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Khe BaBy Iar
Khe Baby Yar chưa có đài tưởng niệm.
Bờ dốc đứng, như bia mộ dạng thô.
Tôi thấy sợ.
Ngày hôm nay tuổi tôi
bằng với tuổi nhân dân Do thái.
Tôi cảm thấy-
giờ tôi là tín đồ Do thái giáo
Thì tôi đang hành hương trên đất Ai cập cổ xưa.
Và giờ đây bị treo trên thánh giá, tôi chết dần,
đến lúc này trên người tôi đinh còn đầy vết.
Tôi cảm tưởng
tôi cũng là Đrâyphút.
Đám tiểu thị dân là người trình báo và quan toà.
Tôi ngồi sau song sắt.
Tôi bị bắt giam.
Bị đầu độc,
bị vu oan,
bị phỉ nhổ.
Các quý bà mặc áo nẹp đăng ten,
miệng rin rít, tay chọc cán ô lên mặt tôi.
Có cảm tưởng
tôi là cậu bé ở Beloxtôc.
Máu đang chảy tràn ra sàn loang khắp.
Chủ quán rượu đang nháo nhác lộng hành
mùi vốt ca chộn pha với mùi hành.
Tôi bất lực bị giày đá văng nằm một góc.
Cầu cứu kẻ tàn ác chỉ hoài công tốn sức.
Trong tiếng gào
“ Hãy giết bọn Giứt, hãy cứu giúp nước Nga!”
chủ cửa hàng đồ khô đang cưỡng hiếp mẹ tôi.
Ôi nhân dân Nga của tôi! - Tôi biết rồi,
Người có tinh thần quốc tế,
Nhưng những kẻ tay không sạch sẽ
thường mang tên Người không tì vết ra múa may.
Tôi biết đất nước Người hay tốt bụng.
Thật đểu cáng những người chống Do thái
không run tay đặt tên lấy rõ kêu
họ gọi họ là “Liên minh nhân dân Nga”!
Tôi tưởng rằng
tôi là Anna Frănk.
Như cành lá, tháng tư, trông trong suốt.
Và tôi yêu.
Không cần mất nhiều lời.
Cái tôi cần
ta được nhìn vào mắt nhau thôi.
Có thể thấy, có thể cảm nhận thật là ít.
Ta không được ngắm lá cành
và bầu trời- không được hưởng.
Nhưng nhiều điều có thể - thật tuyệt vời
khi được ôm nhau ở nơi phòng tối.
Có người đến?
Đừng sợ - đấy là tiếng
rộn ràng của mùa xuân đang tới.
Nào lại đây.
Hãy ghé môi cho anh hôn.
Có tiếng phá cửa?
Không – đấy là tiếng băng trôi…
Tiếng cỏ dại trong khe Baby Iar nghe xao xác.
Rừng cây đứng nhìn dữ tợn,
như quan toà nghiêm khắc.
Mọi thứ đều kêu thét trong lặng im.
Cởi mũ ra,
tôi thấy tóc tôi chuyển bạc từ từ.
Và chính tôi
như tiếng kêu nghẹn ngào vang mãi
bay trên ngàn vạn nấm mồ.
Tôi chính là
mỗi người già bị xử bắn nằm đây.
Tôi chính là
mỗi em bé bị bắn chết nằm đây.
Không cái gì
trong tôi sẽ lãng quên ngay chuyện đó!
Hãy vang lên bài “Quốc tế ca”,
khi người bài Do thái cuối cùng trên trái đất này
sẽ được chôn vĩnh viễn ở đây.
Trong dòng máu của tôi
không có giọt nào dân Do thái.
Nhưng tất cả những người bài Do thái,
đều hận tôi với nỗi hận thâm căn,
họ coi tôi là dân Do thái
và còn bởi
tôi là người Nga chân chính!
Tháng Tám 1961
Kiep
Tùng Cương dịch

cây sồi 05-01-2016 10:26

XIN CHIA TAY LÁ CỜ ĐỎ CỦA TA

Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Từ trên tháp Kremli,
cờ bò xuống
không giống khi cờ được vác lên cao,
lụa thủng rách
dáng tự hào
khôn khéo
trong tiếng đạn nổ réo
liên hồi
trên nóc nhà quốc hội Đức khói lửa còn leo lét
dù rằng ngay lúc đó
bám quanh cờ là đám gian manh.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Cờ là anh em và kẻ thù của ta nữa.
Cờ là bạn đứng chung một chiến hào,
là hy vọng cả Châu Âu cùng chờ đợi,
nhưng như tấm bình phong đỏ chói,
cờ che đi bao nhà tù, bao trại tập trung,
bao thân phận khổ đau trong bộ áo tù rách nát.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta.
Cờ hãy nghỉ đi,
hãy nằm chơi đây đã,
còn chúng ta sẽ giẫm nát
tất những ai không thể đứng dậy dưới mồ
Cờ đã dắt bao người bị lừa dối
vào lò sát sinh
vào cối xay thịt.
Nhưng cờ sẽ bị giẫm đạp
vì chính cờ cũng bị gạt lừa.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta.
Cờ không đem lại cho ta bất kì điều hay nào hết.
Cờ nhuốm máu
và chúng ta
dùng máu để cướp cờ về.
Đó là lí do vì sao giờ đây
nước mắt ta không thể rơi một giọt
cờ dã man đập vạt cờ đỏ quật mắt ta.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Bước đầu tiên tới tự do, chúng ta bước
trong lòng giận dữ với chính cờ của ta,
ta căm giận chính ta
đã trở nên tàn độc trong tranh đấu.
Ước mong sao
Giưvagô không bị giập vùi thêm một lần nữa.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Cờ hãy tự gỡ khỏi bàn tay lại đang xiết chặt cờ,
họ đe doạ một cuộc chiến tương tàn huynh đệ,
khi xông tới nắm cán cờ
là những kẻ trộm cướp,
hay những người đói rách
bị u mê trước những lời hoa mỹ tuyên truyền.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Cờ sẽ trôi vào bao giấc mộng,
chỉ còn là một dải màu
trên lá cờ của Nga tam sắc.
Nằm trong tay dải trắng,
cùng với dải màu xanh
là dải đỏ, có thể, máu đã được gột sạch rồi.
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Ôi lá cờ tam sắc của ta,
Hãy cẩn thận đừng cho người đời dùng cờ để trộm cắp!
Không có lẽ, cả lá cờ tam sắc
cũng nhận cùng một mức án chung
khi đạn người ngoài cùng đạn người mình
đã bắn thủng làm cờ thành rách nát?
Xin chia tay lá cờ đỏ của ta…
Từ năm tháng ngây thơ, nhỏ tuổi,
ta chơi trò đánh trận hồng quân
và ta đánh bạch vệ bao đòn đau.
Ta sinh ra ở đất nước
giờ phút này còn tồn tại nữa đâu.
Nhưng chính ở Átlantiđa đó,
ta từng có tình yêu,
ta từng sống.
Lá cờ đỏ của ta
đang bầy giữa chợ Izmailôvô, mở rộng
Họ bán tống cờ đi
để nhận về mấy tờ đô.
Tôi không chiếm Cung điện Mùa Đông.
Không tấn công Nhà Quốc hội Đức.
Tôi không thuộc về “cộng gốc”.
Nhưng tôi vẫn vuốt ve cờ
và giờ tôi khóc chia tay.
22 tháng sáu 1992
Irkutxk
Tùng Cương dịch

Nhật Minh 07-01-2016 20:12

Bây giờ tôi mới biết hơn nữa về Evtusenco đấy. Cảm ơn người dịch giới thiệu.

cây sồi 12-01-2016 15:37

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Chưa một lần, tôi ruồng bỏ nguời yêu,
nhưng lại dễ gây ra nhiều lầm lỗi.

Chưa một lần, v­­ói bạn bè - tôi phản bội,
mà tôi chỉ phản tôi, thế đâu gọi có công.

Chưa một lần, tay tôi giết gà con,
nhưng tôi giết thời gian - gần như bằng đại bác.

Những giây phút chết rồi, như thây xác
nối thành năm… Trời hỡi, ngốc làm sao…

Tôi cứu ra nhiều bạn hữu khỏi nhà lao,
nhưng ngồi kể công lao – nghe nhục nhã.

Nhưng không cứu nhiều người, nhiều thứ quá,
và tôi lo ánh mắt thẳng Chúa nhìn tôi.

3 tháng bảy 1996
Trên tầu hoả Mátxcơva – Pêtrôdavôtxk

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУЩЕНКО

Не разлюбил ни одной любимой,
но был на прегрещенья неленивый.

Не предавал ни разу в жизни друга,
а лишь себя, но это не заслуга.

Я не убил за жизнь мою ни клушки,
а время убивал - почти из пушки.

Минуты убиенные, как трупы
сложились в годы… Боже мой, как глупо…

Я столькиx спас по тюрьмам и по зонам.
Да вот подсчёт спасательствам - позорен.

Н о я не спас так многиx и так много,
и я боюсь прямого взгляда Бога.

3 июля 1996
Поезд Москва - Петрозаводск

cây sồi 12-01-2016 20:50

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Không hẳn là tất cả những nụ hôn
đều bừng giấc trên môi đang thiêu đốt,
không hẳn là có những mảnh sân
vung tay vẫy vạt áo mang nước mắt,
một đêm trắng, bằng trụi trần sự thật,
thuyết phục tôi phải ghi nhận một điều:
Khi ta đang hạnh phúc – có tình yêu,
đừng có chạy đuổi theo tình yêu khác.
Không hẳn là trong lòng đang u tối,
mà ngoài trời lại sáng chói muôn phương,
chẳng ra là đêm tối đang giăng,
cũng không hẳn thiên thần đang vỗ cánh.
Đời thiếu vắng tình yêu – đáng sợ quá
sợ hơn nhiều – cùng lúc có hai tình yêu,
như mịt mù đêm tối đầy sương
hai tầu thuỷ bỗng đâm nhau quyết chiến.
Hai cuộc tình không hẳn là quà biếu,
gặp hiểm nguy là cái kết hiển nhiên,
không hẳn là tai hoạ - hai tình yêu,
sét chợt đánh giữa đêm, qua cửa sổ,
thanh kiếm lửa cắt giường thành hai nửa,
những lá thư từng quý giá ngày xưa
cháy thành tro như giấy lộn bỏ đi.
Hai cuộc tình chẳng ra tình yêu đến,
hai cuộc tình không hẳn là cuộc chiến.
Hai tình yêu không thể có song song.
Một trong hai sẽ thành kẻ sát nhân.
Hai tình yêu hệt như hai tảng đá
sớm kéo nhau xuống tận đáy chết chìm.
Tôi đang sợ, tôi còn yêu đương nữa,
Bởi từ lâu, tôi đã yêu rồi.

Tháng sáu 1994

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУЩЕНКО

То ли все поцелуи проснулись,
горя на губаx,
то ли машут дворы
рукавами плакучиx рубаx,
упреждая меня
белой ночью, дразняще нагой,
от любви дорогой
не xодить за любовью другой.
То ли слишком темно на душе,
а на улице слишком светло,
то ли белая ночь,
то ли ангельское крыло.
Страшно жить без любви,
но страшннее, когда две любви
вдруг столкнутся, как будто в тумане ночном корабли.
Две любви -
то ли это в подарок с опасным избытом дано,
то ли это беда
прыгнет молнией ночью в окно,
рассекая кровать
раскаленным клинком пополам,
драгоценные некогда письма
сжигая, как xлам.
Две любви
то ли это любовь, то ли это война.
Две любви невозможны.
Убийцею станет одна.
Две любви, как два камня,
скорее утянут на дно.
Я боюсь полюбить,
потому что люблю, и давно.

Июнь 1994

cây sồi 12-01-2016 21:06

ЕВГЕНИЙ ЕВТУЩЕНКО
БАБИЙ ЯР
Над Бабьим Яром памятников нет.
Крутой обрыв,
как грубое надгробье.
Мне страшно.
Мне сегодня столько лет,
как самому еврейскому народу.
Мне кажется сейчас -
я иудей.
Вот я бреду по древнему Египту.
А вот я, на кресте распятый, гибну,
и до сих пор на мне - следы гвоздей.
Мне кажется что Дрейфут -
это я.
Мещанство -
мой доносчик и судья.
Я эа рещёткой.
Я попал в кольцо.
Затравленный,
оплеванный,
оболганный.
И дамочки с брюссельскими оборками,
Визжа, зонтами тычут мне в лицо.
Мне кажется -
я мальчик в Белостоке.
Кровь льётся растекаясь по полам.
Безчинствуют вожди трактирной стойки
и пахнут водкой с луком пополам.
Я, сапогом отброшенный, бессилен.
Напрасно я погромщиков молю.
Под гогот:
“Бей жидов спасай Россию!”
насилует лабазник мать мою.
О, русский мой народ !-
Я знаю -
по сущности интернационален.
Но часто те, чьи руки нечисты,
твоим чистейшим именем бряцали.
Я знаю доброту твоей земли.
Как подло,
Что, и жилочкой не дрогнув ,
антисемиты пышно нарекли
себя “Союзом русского народа”!
Мне кажется -
Я - это Анна Франк ,
Прозрачная,
как ветка в апреле.
И я люблю.
И мне не надо фраз.
Мне надо,
чтоб друг в друга мы смотрели.
Как мало можно видеть,
oбонять!
Нельзя нам листьев
и нельзя нам неба.
Но можно очень много -
это нежно
друг друга в тёмной комнате обнять.
Сюда идут?
Не бойся - это гулы
самой весны -
она сюда идёт.
Иди ко мне .
Дай мне скорее губы.
Ломают дверь?
Нет - это ледоход…
Над Бабьим Яром шелест диких трав.
Деревья смотрят грозно,
Посудейски.
Всё молча здесь кричит
И, шапку сняв,
я чувствую ,
как медленно седею.
И сам я,
как сплошной беззвучный крик
над тысячами тысяч погребенных.
Я -
каждый здесь расстрелянный старик.
Я -
каждый здесь расстрелянный ребёнок.
Ничто во мне про это не забудет!
“Интернационал”
пусть погремит,
когда навеки похоронен будет
последний на земле антисемит.
Еврейской крови нет в крови моей .
Но ненавистен злобой заскорузлой
я всем антисемитам,
как еврей ,
и потому -
я настоящий русский!
Август 1961
Киев

cây sồi 13-01-2016 15:45

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

XẤU HỔ
Cả đất nước giờ đang bị xua đuổi,
như trong tay gian giảo tắc xi.
Suốt chiều dài lịch sử nước Nga
chỉ thấy những xấu xa và xấu hổ.

Làm sao nước Nga xa lầy đáy hố-
không đường đi ngược, chẳng lối chạy xuôi.
Thay cho đám vật tư xây dựng trên đời,
chỉ thấy hổ thẹn, xấu xa rồi xấu hổ.

Nỗi xấu hổ ăn cả vào vương trưởng-
ngài trên ngai không phải kỵ sĩ tài
và có khi bị gạt xuống khỏi ngai,
bởi xấu hổ mới toanh, ma giáo.

Việc lựa chọn của người Nga chỉ có:
một trong hai đĩa cá thối ươn,
một đĩa con hay là đĩa lớn hơn,
nhưng vẫn chỉ loại đĩa toàn xấu hổ.

Cả cuộc sống đẹp như tranh hay đáy hố
đều ngập chìm trong xấu hổ, xấu xa.
Cả ván bài – những kế hoạch của ta,
vì hổ thẹn đều bị thu nhỏ lại.

Tôi đang sống những ngày gần cuối
đầy xấu xa như phủ bụi toàn thân,
tôi ẩn mình trong góc nhỏ con con,
ở Vôlôđimia, trên miền đất cổ.

Đáng thương hại phải chết trong xấu hổ.
Vì xấu xa đâu có đẹp đẽ gì.
Nhưng không còn biết xấu hổ là khi,
tất cả chúng ta đến kì tận thế.

Tháng sáu 1994

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУЩЕНКО

СТЫДЫ
Вся страна сейчас в угоне,
как в блатных руках такси.
От стыда к стыду другому -
вся история Руси.

Как Россия подзастряла -
ни туды и ни сюды.
Вместо стройматериала -
лишь стыды, стыды, стыды.

Стыд похмельно держит скипетр -
он на троне не седок,
и его, наверно, скинет
ловкий новенький стыдок.

Русский выбор - выбор между
двух тарелок тухлых щей,
между большей или меньшей,
но опять стыдобищей.

Жизнь - нища или шикарна,
обыстыженная вся.
Oт стыда вся наша карта
так и сьеживается.

И в остатные денечки
весь в стыдобе, как в пыли,
притулюсь я на кусочке
володимирской земли.

Помирать в стыде обидно.
Стыд он делу не венец.
Но когда не станет стыдно,
лишь тогда нам всем конец.

Апрель 1994

cây sồi 14-01-2016 10:22

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ
DI CU DO DANG
Nơi đất khách, tôi là người xa lạ
chìm vào đêm càng thấy quá lạ xa,
dường như tôi bị giết ở quê nhà
và họ ném xác tôi xa khuất mắt.

Và thân xác tôi còn hơi ấm áp
không chờ mong dù một chút cầu may,
khi bay lên đâu đó khắp trời này,
lúc vật vã, quật quăng ngay mặt đất.

Chả có lẽ tôi không là người đã
từng di cư một nửa, dở dang,
tránh cảm giác kinh tởm vì ước mong
ném đi hết quả không kết trái?

Tôi che mắt như khi tôi bị đánh,
để quạ đàn không mổ nát mắt tôi.
Thế hệ tôi là chính đoàn quân
bị đánh bại nát tan vì chiến thắng.

Này đợt sóng thứ năm – khởi đầu biển cả-
cảnh di cư dang dở xua đuổi ta đến đâu,
chốn đi đâu, chạy tránh những khổ đau,
tránh vỡ mộng, xấu xa, xấu hổ?

Tôi rời bỏ cái hạnh phúc kiểu đó.
Cái niềm vui chỉ có chọn một trong hai,
hoặc ở đây, nước Mỹ, Măcđônan,
hay ở đó, Matxcơva, Puskin.

Ở Quê hương, Tổ quốc ngày một ít.
Có kẻ mong thấy người ỏ­ quán ba
trong hình hài gái chính thống giáo – ghêi sa,
nhưng bị kẹp nằm trong tay bạo chúa.

Những gấu Nga trên sàn diễn xiếc
đấm đá nhau, phát chết vì buồn.
Rời Quê hương, Tổ quốc bỏ đi luôn,
Nếu tất cả chạy quê hương đi hết.

Thiếu Tổ quốc, lòng trống không khủng khiếp
suy nghĩ buồn bám theo bước chân ta.
Ta muốn gì trong cuộc sống của ta –
muốn được hiểu ở đây và ở đó.

Nhưng ở Nga, mỗi quả dưa chuột nhỏ
dính trên mình chút đất bở ướt mềm
như con người nhỏ bé mới ra đời
cứ có rốn – đều coi là thân thiết.

Nhưng ở Nga có Iatxnaia Paliana- Rừng sáng
bởi bất kì vùng đất khách tôi đi,
tôi suốt đời không rời nó một ly,
tôi phỉ nhổ tất những gì mua chuộc.

Gì đi nữa, ta trung thành với Tổ quốc
dù phải chôn bao mơ ước, cầu mong
Không nhận thấy, chúng ta thành Tổ quốc.
Vậy làm sao, ta bỏ được ta đi?

Tháng Mười 1993

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ПОЛУЭМИГРАЦИЯ
Сам себе чужой я на чужбине,
всосанный в совсем чужую ночь,
будто бы на Родине убили,
ну а тело выкинули прочь.

И моё живое еле тело,
не надеясь даже на авось,
то куда-то небом полетело,
то землей опять поволоклось.

неужели я не тот, что прежде,
полуэмигрировавший от
чувства отвращения к надежде,
выкинувшей столь бесплодный плод?

Стал глаза я прятать, как побитый ,
чтоб их не склевало воронье.
Армия, разбитая победой, -
это поколение моё.

Пятая волна - начало моря,
но куда, ты гонишь нас, куда
полуэмиграция, от горя,
разочарования и стыда.

Я от счастья этакого тронусь.
Счастья вариации лишь две -
либо здесь, в Америке, Макдональдс,
либо после Пушкина в Москве.

Родины на Родине всё меньше.
Видеть её хочут в кабаке,
чем то вроде православной гейши,
но зажатой в царском кулаке.

Цирковые русские медведи
воют- их тоскою извело.
Родина из Родины уедет,
если все уедут из неё.

Без неё такая пустотелось
и дурные мысли по пятам.
Ишь чего мне в жизни захотелось -
понятым быть сразу здесь и там.

Но в России каждый огуречик
с неотлипшей нежною землей -
это как родимый человечек
и любым пупурышком - он свой.

Но в России Ясная Поляна -
потому в любом чужом краю
я её вовек не брошу, я на
столькие соблазны наплюю.

Родину мы всё-таки не сдали,
сколькие надежды погребя.
Незаметно Родиной мы стали .
Как же нам уехать из себя?

Октябрь 1993

cây sồi 15-01-2016 21:39

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

CON KIẾN AFGANISTAN

Chàng trai Nga nằm trên đất Afganístan.
Một con kiến đạo Hồi bò trên gò má.
Thật khó bò…Người chết quá rậm râu,
con kiếm thì thầm nho nhỏ:
“Anh biết chính xác chỗ nào anh bị chết vì vết thương.
Anh chỉ biết một điều…gần Iran, ở đâu đó,
Tại vì sao anh mang vũ khí tới đất nước tôi,
nơi chỉ mới lần đầu nghe đến từ “Hồi giáo”?
Anh mang gì cho Tổ quốc tôi đi chân đất, đói nghèo,
Nếu ở chính nước anh – muốn mua giò phải xếp hàng rồng rắn?
Phải chăng đất nước anh vẫn ít người bị giết không,
để giờ lại thêm vào số hai mươi triệu đã chết?
Chàng trai Nga nằm trên đất Afganístan.
Một con kiến đạo Hồi bò trên gò má.
Về việc có cách nào giúp anh đứng dậy và hồi sinh,
Nó muốn hỏi đàn kiến chính thống Nga giáo
Nhưng quê hương phương bắc của những bà goá và trẻ mồ côi
còn lại ít những con kiến đó.

Tháng Mười hai 1980

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

АФГАНСКИЙ МУРАВЕЙ

Русский парень лежит на афганской земле.
Муравей -мусульманин ползёт по скуле.
Очень трудно ползти …Мёртвый слишком небрит,
и тихо ему муравей говорит:
“Ты не знаешь, где точно скончался от ран.
Знаешь только одно - Где -то рядом Иран.
Почему ты явился с оружием к нам,
здесь впервые услышавший слово “ислам”?
Что ты дашь нашей стране – нишей, босой,
если в собственной - очередь за колбасой?
Разве мало убитых вам - чтобы опять
к двадцати миллионам ещё прибавлять.

Русский парень лежит на афганской земле.
Муравей мусульманин ползёт по скуле
и о том, как его бы поднять, вокресить,
муравьев- православных он хочеть спросить
но на северной родине сирот и вдов
маловато таких муравьев

Декабрь 1980

cây sồi 15-01-2016 21:42

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẦU TIÊN

Giống đa tình, cái từ thấy kì kì…
Bậc tam cấp, hội làng mùa đông ấy,
“Phải mạnh dạn! nàng thì thầm đưa đẩy:
“Mặc áo len, cậu cứ đến chỗ tôi,
chỗ ấm ghê, như lò bếp nhóm rồi.
Nàng chèo kéo tôi luồn tay vào dưới áo.
Chú gấu rung xích kêu lách cách trong vườn.
Chào đón khách, cửa nhà rên cót két.
“Nếu so tuổi, tôi đã là già khú.
Thế cậu qua tuổi mười sáu hay chưa?
Lấy đủ hơi, tôi làm vẻ tỉnh bơ,
thổi dăm sợi râu tơ trên môi xuống:
“Đã lâu rồi! Từ cái độ tháng giêng…”
Và mật ong sóng sánh vàng ươm
như đang sôi trong xô vải không thấm nước.
Răng hai hàm đua nhau nhảy múa
bên miệng chiếc gầu sắc vành,
khi áo lông cừu trải dưới,
tôi chờ nàng, cuống quýt muốn được yêu.
Nàng bảo tôi:”Nào cậu quay mặt đi!”
Còn tôi vẫn giữ nguyên, không ngoảnh mặt,
tôi nghẹt thở vì tôi đang phấn khích
tôi bay lên tìm gò cao nữ thần.

Nàng dứ tôi, đưa cối giã chụp lên đầu:
“Thật xấu hổ, xin cậu đừng nhìn nữa!”
nàng đã khắc vào lòng tôi dấu vết,
nhẹ nhàng bước qua chiếc váy để rơi,
rồi đến quần con, rồi tới đôi giầy,
thành thánh nữ dịu mềm nơi rừng núi.

Là bà goá đã lâu, không còn là thiếu nữ,
toàn thân nàng trắng ngần, chỉ khuôn mặt ngăm ngăm,
nàng cởi áo quần tôi, như cởi cho con nít,
bàn tay nàng thèm khát, đói ăn.

Ở trại ong, vùng Antai, nơi rừng núi,
tôi e thẹn vì mình đang trần trụi,
tôi vào em, người tôi thấy sướng run,
như mình được bước lên vũ trụ.
Lần đầu tiên, tôi thực sự thành đàn ông,
nằm trên áo lông cừu của người đánh xe ngựa.

Mất thói quen, nàng cảm thấy đau đau –
năm năm trước, chồng của nàng bị giết.
Hai mắt nàng nhắm lại rất tự nhiên,
nàng có lẽ hình dung tới anh chồng trước.

Vầng trán nàng in đầy vết ong châm.
Biết rằng tôi mới chỉ tuổi mười lăm,
nàng quỳ xuống trước tranh tượng Chúa,
miệng nức nở:”Tội con đáng chết quá”
và tất nhiên, Chúa tha thứ nàng thôi,
vì gần như nàng say đắm yêu rồi,
bằng vết thuỷ tinh do chiếc nhẫn
để lại vết xước trong tôi mãi mãi.

Say cuồng nhiệt, tấm thân nàng hừng hực,
vẫn trinh nguyên, hai vồng ngực cứng căng,
giây phút ấy, nàng đã mong muốn trước
tôi sẽ yêu nàng qua nhiều phụ nữ khác trong đời.

17-25 tháng một 2005

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ПЕРВАЯ ЖЕНЩИНА

Любиночки -что за словечко…
На посиделках у крылечка
шепнула ты:” Смелее будь.
Зайди под кофту. Там, как печка “
и пригласила руку в грудь.

Медведь тряс цепью во дворе.
Изба встречала скрипнув глухо.
“Я коль сравнить с тобой, старуха.
Шестнадцать есть?” Набравшись духа,
я сдунул с губ небрежней пуха:
“Давно уж было… В январе …
и золотилась медовуха,
шипя в брезентовом ведре.

Как танцевали мои зубы
по краю острого ковша,
когда поверх овчинной шубы
я ждал тебя, любить спеша.

И ты сказала:” Отвернись”,
а я совсем не отвернулся
и от восторга задохнулся,
взмывая в агельскую высь.

Ты пригрозила, вскинув ступку:
“Бестыжий, зыркать не моги!”
И, сделав мне в душе зарубку,
легко перешагнула юбку,
и трусики и сапоги,
став нежным ангелом тайги.

Давно вдова, а не девчонка
Белым-бела, лицом смугла,
меня раздела, как ребёнка,
рукой голодной помогла.

На пасеке в Алтайской чаще
смущался я того, что гол,
но я в тебя, дрожа от счастья,
как во вселенную вошёл.

И стал впервые я мужчиной,
на шубе возчицкой, овчинной.
Тебе с отвычки было больно -
пять лет назад был муж убит.
Закрыла ты глаза невольно,
но его представив, может быть.
Был пчелами твой лоб искусан.
Узнав, что мне пятнадцать лет,
упала ты перед Иисусом,
рыдая:” Мне прощения нет”

И он простил тебя, конечно,
за то, что ты, почти любя,
стекляшкой бедного колечка
в меня вцарапала себя.

И всею истовостью тела,
грудей нетроганно тугих
ты наперёд тогда хотела -
чтоб я любила тебя в других.

17-25 января 2005

cây sồi 18-01-2016 10:00

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Cái cần yếu trong đời người là
đàng hoàng đón mọi đổi thay thời đại,
cái thời lúc thì trì trệ,
lúc thì đảo lộn đến tận đáy chưa thôi.

Đàng hoàng là cái chính trong đời người,
để cho kẻ đi phát ban tài lộc,
không dẫn anh đến chuồng súc vật,
không lấp mồm anh bằng nắm cỏ thôi.

Sợ thời đại là đã sa sút rồi,
đừng mất sức cho những trò hèn nhát,
nhưng nên chuẩn bị mình trước mất mát,
mất tất những gì ta sợ mất lắm thôi.

Và nếu như mọi sự rối tinh lên rồi,
khi ta không thể làm gì giải quyết trước,
ta nhớ nhắc ta, dù vắn tắt:
“ Cái này phải sống qua mới bíêt thôi…”
1976

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

Достойно, главное, достойно
любые встретить времена,
когда эпоха то застойна,
то взбаламучена до дна.

Достойно, главное, достойно,
чтоб раздаватели щедрот
не довели тебя до стойла
и незаткнули сеном рот.

Страх перед временем – паденье,
на трусоть душу не потрать,
но приготовь себя к потере
всего, что страшно потерять.

И если всё переломалось,
как невозможно предрешить,
скажи себе такую малость:
“И это надо пережить…”
1976

cây sồi 18-01-2016 10:02

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Ngay cả Chúa, cũng đừng thần thánh hoá.
Ngài cũng là người, đâu là chúa tể trần gian.
Trên thế giới, quá nhiều máu rơi và dối trá,
khiến ta nghĩ Ngài có lỗi liên quan.

Xin đừng biến Tổ quốc thành thần tượng,
nhưng cũng đừng ngoi lên ngôi chỉ hướng, dẫn đường.
Ơn Tổ quốc công sinh thành ta phương trưởng,
nhưng đừng vì cám ơn mà quỳ xuống cầu xin.

Chính Tổ quốc, trong nhiều điều, Người có lỗi,
cả chúng ta đều mắc tội cùng Người.
Tôn sùng quá nước Nga đã là hơi tồi tệ,
nhưng khinh bỉ Người còn tệ hại hơn.
2003
Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

Обожествлять не надо даже Бога.
Он тоже человек - не царь земной.
А лжи и крови так на свете много,
что можно подумать - он всему виной.

Не сотвори из Родины кумира,
но и не рвись в её поводыри.
Спасибо, что она тебя вскормила,
но на коленях не благодари.

Она сама во многом виновата,
и мы виноваты вместе с ней.
Обожествлять Россию – пошловато,
но презирать её ещё пошлей.
2003

cây sồi 28-01-2016 14:52

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Em hỏi anh, giọng khe khẽ thì thào:
“Rồi sau đó thì sao?
Rồi thế nào sau đó?”
Đám chăn gối trên giường quăng bốn phía,
và dáng em lộ rõ vẻ hoang mang…
Nhưng rồi em đặt chân bước trên đường,
đầu ngẩng lên đẹp đẽ,
kiêu sa lọn tóc hung hung,
đôi giầy gót cao nhọn hoắt.
Trong mắt em, vẻ nhạo báng hiện lên,
và đôi mắt ban ra mệnh lệnh:
anh không được lẫn em
với người bạn gái cũ,
người được anh yêu,
người đã yêu anh.
Nhưng điều đó nay đã thành vô vọng.
Đối với anh,
em đã thuộc hôm qua,
với lọn tóc bung ra loã xoã,
đành bất lực rơi vào quên lãng.
Em đặt em vào chỗ đứng thế nào,
em bắt anh phải tính toán ra sao,
trên giường đó,
có người đàn bà khác,
nằm cạnh anh,
và hỏi anh, giọng khe khẽ thì thào:
“Rồi sau đó thì sao? Rồi thế nào sau đó?”

1957-1975

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

Ты спрашивала шёпотом:
“А что потом?
А что потом?”
Постель была расстелена,
и ты была растеряна…
Но вот идёшь по городу,
несёшь красиво голову,
надменность рыжей челочки,
и каблучки – иголочки.
В твоих глазах -
Насмешливость,
и в них приказ -
не смешивать
тебя
с той самой,
бывшею,
любимой
и любившею.
Но это - дело зряшное.
Ты для меня -
Вчерашняя,
с беспомощно забывшейся
той челочкой сбившейся.
И как себя поставишь ты,
и как считать заставишь ты,
что там другая женщина
со мной лежала шепчуще
и спрашивала шёпотом:
“А что потом?
А что потом?”
1957-1975

cây sồi 28-01-2016 14:54

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

Một cô gái đang chơi đàn gió.
Nhìn dáng cô, có vẻ hơi say,
đầu mẩu bánh đen đen lăn lóc,
trông bóng lên vì đám tỏi hành.

Lũ bạn tôi cùng nghề địa chất,
không tỏ ra một chút máu yêng hùng
tổ chức hội linh đình trong nhà gỗ,
ôm vai nhau, hát múa cùng phong cầm.

Tôi ngồi lại phía bên chiếc ghế,
sát cạnh chân người thực tập - nữ sinh viên.
Những sợi tóc trên đầu tôi chảy nhẹ
qua kẽ tay cô gái trẻ đứng bên.

Tôi, có lẽ, ngồi không hay đang uống,
hình như đang bận nghĩ đến chuyện riêng,
tôi không phải người thương của cô ấy,
mà là người cô ấy thích cũng nên.

Một cô gái đang chơi đàn gió,
cô hát về cuộc sống lang thang,
đôi giầy nhỏ dưới chân chằng dây dợ
khẽ chạm nhau kêu lạch cạch không thôi.

Tiếng đàn gió hiện lên đời cô độc,
những tháng ngày bị cháy rụi vì buồn,
những miền đất mịt mùng xa lắc,
những bóng cây, đống lửa, hàng rào.

Một cô gái chơi đàn, miệng cô hát,
và lặng thầm cho tới sáng hôm sau,
khóc rền rĩ là người nhiều chữ nghĩa,
cô sinh viên – em gái cô chơi đàn.

1 tháng tám 1957

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

Играла девка на гармошке.
Она была пьяна слегка,
и корка чёрная горбушки
лоснилась вся от чеснока.

И безо всяческой героики ,
в избе устроив пир горой,
мои товарищи – геологи,
обнявшись, пели под гармонь.

У ног студентки - практикантки
сидел я около скамьи.
Сквозь её пальцы протекали
с шуршаньем волосы мои.

Я вроде пил, и вроде не пил,
и вроде думал про своё,
и для неё любимым не был,
и был любимым для неё.

Играла девка на гармошке,
о жизни пела кочевой,
и шлепали ее галошки,
прихваченные бечевой.

Была в гармошке одинокость,
тоской обугленные дни
и беспредельная далекость,
плетни, деревья и огни.

Играла девка, пела девка,
и потихоньку до утра
по-бабьи плакала студентка -
её учёная сестра.

1 августа 1957

cây sồi 30-01-2016 10:00

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

SỐNG THẾ NÀY, KHÔNG TIẾP TỤC ĐƯỢC ĐÂU

Khi đất nước bắt đầu lao xuống dốc,
ta nghiến răng bám thật chắc bánh xe
và ta hiểu
chỉ có ngăn nó lại:
“Sống thế này không tiếp tục được đâu!”
Đỉnh nhục nhã là bán mua phẩm giá.
Không được treo tranh Chúa trong nhà xăm.
Chỉ có vậy, cuộc sống này đi tiếp,
bắt đầu từ một phát kiến lớn lao:
“Sống thế này, không tiếp tục được đâu!”
1988

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ТАК ДАЛЬШЕ ЖИТЬ НЕЛЬЗЯ

Когда страна пошла с откоса,
зубами мы вцепились ей в колёса
и поняли,
её затормозя:
“Так дальше жить нельзя!”
Есть пик позора в нравственной продаже.
Нельзя в борделе вешать образа.
Жизнь
только так и продолжалась дальше -
с великого:
“Так дальше жить нельзя!”
1988

cây sồi 30-01-2016 14:29

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

MỌI THỨ VẪN NHƯ XƯA

Mọi thứ vẫn như cũ,
thành phố này, mọi thứ vẫn như xưa,
cửa hàng,
nhà tắm,
công xưởng
chỗ giặt là,
lũ chim câu trông phát phì, khệnh khạng,
những cậu bé phóng đua xe bạt mạng,
người Matxcơva nói nghe đậm âm a,
nhân viên đưa hoá đơn đến từng nhà,
tiếng gầm rú của máy bay phản lực,
những thùng sữa chua va nhau lịch kịch.
Mọi thứ như xưa
mọi thứ hệt như xưa
có điều gì mới mẻ vẫn nhận ra
trong im lặng, nghe qua giọng nói
những thay đổi lớn lao nào đó
đang diễn ra nơi góc phố, con đường.
Sáng sớm ra, tôi vội vã đến trường,
lên tầu điện, bánh mì chưa kịp nhá
tôi nhận thấy có điều gì mới quá
sau cặp kính căng thẳng cậu sinh viên,
một cái gì quyết liệt, trang nghiêm
trong ánh mắt người thợ sơn làm kiệt sức,
qua vầng trán nữ sinh đè lên kính,
tôi hiểu ra, có lẽ, có cái gì
bị phá đi,
đã bắt đầu,
sắp xảy ra.
Tất mọi thứ vẫn y nguyên -
cả mặt nhà
và biển hiệu
Chưa thấy sự lật nhào
và sự biến,
nhưng nhìn qua mọi thứ khiến tôi nghi
nhiều biến động bất ngờ
đã chín muồi chờ xuất hiện.
24 tháng bẩy 1957

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ВСЁ, КАК ПРЕЖДЕ

Всё, как прежде,
Всё, как прежде, в этом городе:
магазины,
бани,
фабрики,
химчистки,
ожиревшие напышенные голуби,
самокатами гремящие мальчишки,
и московское особенное аканье,
и разносчицы жировок по квартирам,
и гуденье реактивное,
и звяканье
проволочных ящиков с кефиром.
Всё, как прежде,
Всё, как прежде, -
тем не менее
что- то новое
и в тишине, и в говоре,
и какие то большие изменения
происходят,
происходят в этом городе.
Рано утром,
в институт рассчитывая,
я в трамвай влезаю с булкой непрожеванной,
что-то новое я вижу
и решительное
у студента за очками напряжёнными.
В том, как смотрит на меня маляр натруженный,
в том, как лбом к стеклу прижалась ученица,
понимаю –
что-то, видимо, нарушено
что-то начато,
и вскоре учинитсь.
Всё на месте –
и фасады,
и названия
Ни событий чрезвычайных,
ни свержений.
Но во всём подозреваю
назревание
и возможность неожиданных движений
24 июля 1957

cây sồi 15-02-2016 16:03

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

NGHÈO THANH BẠCH

Những người già và đám trẻ trai
chân đều diện trong đôi dép lốp.

Bốn mươi đồng là lương bốc vác,
mặc áo quần, vá đúp, vá chằng.

Bà lái đò có độc khuy, chỉ trong nhà
và huy hiệu, huân chương, thừa cả vốc.

Họ không thích người ngoài thương xót,
giọng ban ơn với người sống ở đây.

Họ không sợ cái nghèo đói đắng cay,
điều này quý hơn nhà đầy của cải.

Phụ nữ khóc trên tro tàn còn lại,
nhưng chưa một lần tôi gặp ăn mày.

Nếu xứ này, có ai đó chìa tay,
là để nhận súng, đạn, ta đưa họ.

Chuyện tem phiếu không phải điều giễu cợt
họ sống nghèo vẫn hài hước, trọc cười.

Dáng người đi không khom gối, hận đời.
Nạn tem phiếu đâu phải là kiêu hãnh.
và kiêu hãnh là thước đo trong lịch sử,
người nơi đây sánh Lêningrat ở độ tự hào.

Người ta coi chiến thắng là nghèo thanh cao,
nếu họ thoát được ngay nghèo đói
và vươn lên nghèo đói thanh cao.
Đây chính là đường nét của tương lai.

Hà Nội, 1972
Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ГОРДАЯ БЕДНОСТЬ

Сандалеты из автопокрышек
на ногах стариков и мальчишек.

Сорок донгов у грузчиц зарплата,
и к заплате прижалась заплата.

У лоточниц лишь пуговики, нитки,
и значки, и значки: их в избытке.

Но не любит, чтоб им выражалась
снисходительно чья-нибудь жалость.

И моральней любого богатства -
горькой бедности не пугаться.

Плачут женщины на пепелищах,
но ни разу не встретил я нищих.

Если руку протьянут здесь – только,
чтобы взять в эту руку винтовку.

Всё по карточкам - только не юмор.
Он в измученных людях не умер.

Люди ходят не хныча, не горбясь.
Всё по карточкам - только не гордость,
и по гордости с Ленинградом
эти люди в истории рядом.

В этой бедности гордой - победность
если всё -таки в гордую бедность
люди выбились из нищеты.
В этом будущего черты.

Ханой, 1972

cây sồi 15-02-2016 16:08

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ

TRÍCH TRƯỜNG CA” ĐẠI HỌC TỔNG HỢP KADAN”

Nỗi nhớ về Tổ quốc lúc tha hương,
khi đứng dưới tán cây rừng xa lạ
ẩn dưới tim, như mũi dao nằm lại,
rút dao ra, ta cũng mất mạng theo.

Ở nơi xa, không cảnh cắn hạt dưa,
không nghe tiếng chửi thề và văng tục
nhưng ta bỗng nhớ buồn chuyện đê tiện,
thói tục tằn, thô thiển của người Nga.

Nhưng nếu hàng ngày đểu cáng được bày ra,
tiếng chửi tục người Nga bật ra mọi lúc
thì bệnh tâm thần lại bùng phát,
buồn nhớ quê hương bỗng chà xát trong tôi.

Tôi không ưa cái chế độ qúai thai,
tôi chỉ quý trên đồng những cây thập tự.
Ơi nỗi nhớ quê hương trên tổ quốc,
không có gì khủng khiếp hơn nỗi buồn này.

Ngày hôm nay, vì thế, tôi uống say,
như thợ kim hoàn rượu say tuý luý,
nỗi buồn công dân giương lên móng vuốt
móc vào tim làm tan nát lòng tôi.

Hãy nhìn đi, các trung uý, sĩ quan ơi,
tôi sẵn sàng hôn, không hề xấu hổ,
hôn tay cô gái thường dân, như Đuynxinê xứ nọ,
tay nữ hoàng, nhất định, tôi không hôn.

Tôi mê say cái nước Nga,
tôi kiêu hãnh về Tổ quốc,
nơi không có sa hoàng, không quan chức,
không công an, mật thám, hay đơn giản, chẳng công an.

Tôi không ưa cái thế giới thanh cao,
tôi không thích nước Nga trong vai đế quốc,
tôi chỉ quý nước Nga tương lai –Tổ quốc,
là quê hương thân thiết của tôi.
1970

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ИЗ ПОЭМЫ “КАЗАНСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ”

Тоска по Родине вне родины
под сенью чуждых чьих-то рощ
сидит, как будто нож под ребрами,
а если выдернешь - умрёшь.

Там семечками не залускано,
не слышно “в бога душу мать”,
но даже по хамству русскому
вдруг начинаешь тосковать.

Но если хамство эжедневное
и матерщина - просто быт,
то снова, как белезнь душевная,
тоска по родине свербит.

Мне не родной режим уродливый -
родные во поле кресты.
Тоска по родине на родине,
нет ничего страшней, чем ты.

Я потому сегодня пьянствую,
как пьянствуют золотари,
что раздирает грусть гражданская
меня когтями изнутри.

Глядите, бурши и поручики,
я поцелую без стыда,
как Дульцинее, девке рученьку,
цареву руку – никогда!

Я той Россией очарованный,
я тою родиною горд,
где ни царей и ни чиновников,
ни держиморд, ни просто морд.

Чужие мне их благородня
и вся империя сия,
и только будушая Родина -
родная Родина моя!

1970

cây sồi 24-02-2016 10:27

EVGHÊNHI EVTUSHENKÔ
Tặng Ma sha
Anh yêu em nhiều hơn yêu thiên nhiên,
vì một lẽ em là thiên nhiên đấy.
Anh yêu em nhiều hơn yêu tự do -
không có em, tự do thành tù ngục.

Anh yêu em một cách không thận trọng,
cứ như yêu vực thẳm, chứ không phải con đường.
Anh yêu em nhiều hơn là có thể,
nhìêu hơn cái có thể thông thường.

Anh yêu em vô hạn, chẳng nhìn quanh,
thậm chí cả lúc say, ngay cả khi nói bậy,
nhiều hơn yêu chính anh, đây mới là sự thật! -
thậm chí nhiều hơn cái đơn giản là yêu em.

Anh yêu em nhiều hơn yêu Sếchpia,
nhìêu hơn mọi vẻ đẹp trên trái đất,
thậm chí nhiều hơn âm nhạc trên thế giới,
vì sách báo, âm nhạc mới là em.

Anh yêu em nhiều hơn yêu vinh quang,
ngay cả trong những ngày sắp đến,
còn nhiều hơn yêu cường quốc đã gỉ mòn,
vì Tổ quốc là em, không phải là cừơng quốc.

Em bất hạnh? Em cầu xin thông cảm?
Em đừng xin, làm Chúa phải bực mình
Anh yêu em nhiều hơn yêu hạnh phúc.
Anh yêu em nhiều hơn cả tình yêu.
1995
Galveston

Tùng Cương dịch
ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

Маше
Я люблю тебя больше природы,
ибо ты как природа сама.
Я люблю тебя больше свободы -
без тебя и свобода – тюрьма.

Я люблю тебя неосторожно,
словно пропасть, а не колею.
Я люблю тебя больше, чем можно-
Больше, чем невозможно, люблю.

Я люблю безоглядно, бессрочно,
даже пьянствуя, даже грубя,
и уж больше себя - это точно!-
даже больше, чем просто тебя.

Я люблю тебя больше Шекспира,
больше всей на земле красоты,-
даже бoльше всей музыки мира,
ибо книга и музыка – ты.

Я люблю тебя больше, чем славу,
даже в будушие времена,
чем заржавленную державу,
ибо Родина – ты, не она.

Ты несчастна? Ты просишь участья?
Бога просьбами ты не гневи.
Я люблю тебя больше счастья.
Я люблю тебя больше любви.
1995
Гальвестон


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:52.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.