![]() |
IMF khủng bố tài chính
http://farm5.static.flickr.com/4122/...2785c932b6.jpg
Đúng là Điều I của Hiệp định IMF trơ tráo nói họ cho vay để: "Tạo sự tin tưởng cho các thành viên bằng cách tạo ra nguồn lực chung của Quỹ tạm thời có sẵn cho họ dưới sự bảo hộ đầy đủ, do đó tạo ra cho họ cơ hội để sửa chữa lệch lạc trong cán cân thanh toán của họ mà không cần đến các biện pháp hủy diệt của sự thịnh vượng của quốc gia hay quốc tế." Trang web của IMF nói họ cung cấp các khoản vay xóa đói giảm nghèo và tăng cường phát triển kinh tế, hơn nữa "trong thời điểm kinh tế khó khăn, (họ) giúp các nước bảo vệ trước những gì dễ bị tổn thương nhất trong cuộc khủng hoảng." Trên thực tế, điều đó ngược lại một cách chính xác, chúng bẫy họ trong nợ nần, nghèo đói và hư hỏng, chúng hoạt động như đàn cá mập cho vay toàn cầu, chúng đòi hỏi không chỉ chút máu tươi mà toàn bộ máu thịt bất chấp đau đớn và khổ sở chúng đã gây ra. Liệu pháp sốc làm Chile mắc kẹt lại dưới thời Pinochet, tỷ lệ thất nghiệp tăng 9,1-18,7% từ năm 1974 đến năm 1975. Đồng thời, xuất khẩu giảm 12,9% khi hàng nhập khẩu giá rẻ tràn ngập đất nước. Kết quả là, các doanh nghiệp địa phương đóng cửa, đói nghèo tăng, và do đó quần chúng tỉnh ngộ cùng với sự khắc nghiệt kinh tế sau các vụ đàn áp thẳng tay chống lại những thách thức để kiểm soát chế độ. Một thập kỷ sau, tăng trưởng trở lại, nhưng chỉ sau khi các điều kiện trở nên tồi tệ, trong đó 45% người Chile bị bần cùng hóa và 10% những kẻ giàu nhất thấy thu nhập của mình tăng 83%. Chúng hoạt động theo cách tương tự ở khắp mọi nơi theo ủy nhiệm IMF, trong đó có bần cùng hóa đại chúng, chuyển tài sản nhà nước sang tay tư nhân, tham nhũng vượt khỏi tầm kiểm soát và chủ nghĩa thuộc địa, các quốc gia bị biến thành cái vỏ rỗng để đem lại quá nhiều lợi ích cho giới bề trên siêu giàu. Năm 1980 Bolivia dưới thời Victor Paz Estenssoro, bị thắt lưng buộc bụng, bao gồm cả đóng băng tiền lương, chấm dứt trợ cấp thực phẩm, nâng kiểm soát giá cả, giá dầu tăng đột ngột 300%, áp đặt cắt giảm an sinh xã hội sâu sắc, cho phép nhập khẩu không hạn chế, thu hẹp các doanh nghiệp nhà nước trước khi tư nhân hóa, và gia tăng mạnh tỷ lệ thất nghiệp. Từ 1976 đến 1982, vay nợ của châu Mỹ Latinh tăng gấp đôi, 70% các khoản vay mới cần thiết là để trả nợ cũ.Cho đến đầu 1990, nợ nần của Mỹ latinh tăng theo cấp số mũ. Năm 1980 là $110 tỷ, năm 1992 là $473 tỷ, lãi phải trả tương ứng từ $6,4 tỷ đến $18,3 tỷ. Đó là cái bẫy nợ. Kết quả là, đời sống người lao động, y tế và phúc lợi xã hội phải gánh chịu thiệt hại. Trên toàn cầu, trong thực tế, nhiều triệu người may mắn có công ăn việc làm cam chịu mức lương nghèo đói để những con thú ăn thịt kiếm chác, thu lời khổng lồ trên đau khổ của họ. Kịch bản lặp lại từ cận Sahara châu Phi sang châu Mỹ La tinh đến Nga và các nước con Hổ châu Á năm 1997/98, chúng cướp bóc họ cùng một lượt hoặc kết hợp, trên thực tế chúng đã biến phép màu châu Á, thành thảm họa. Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính 24 triệu việc làm bị mất như hậu quả của việc bán doanh nghiệp nhà nước với giá bán đổ bán tháo, thay thế các thương hiệu địa phương bằng thương hiệu phương Tây, và để những con thú ăn thịt nước ngoài hưởng lợi từ những gì tờ The New York Times gọi là " Vụ bán tháo ngoài tầm lớn nhất thế giới". Đồng thời, lao động châu Á đã trở thành những con người đổ nát, IMF không bao giờ giải thích hậu quả chính sách của họ, chúng chỉ duy trì huyền thoại đề nghị giúp đỡ như một người cho vay cuối cùng khi, trên thực tế, nhiệm vụ của chúng là cướp bóc vì lợi nhuận, không quan tâm đến thiệt hại gây ra. Bài viết của Stephen Lendman có tên: IMF Financial Terrorism Stephen Lendman là nhà bình luận Mỹ, ông hay viết bài cho một số kênh TV, radio và báo chí như MoneyNewsNow.com, VeteransToday.com , The Progressive Radio News Hour; Stephen Lendman đã từng được nhắc đến ở đây: http://diendan.nuocnga.net/showthrea...3794&post=#102 |
Прощай, американская мечта!
Farewell to the American Dream!
Trộm cắp công quỹ bao nhiêu năm qua, lầm đường lạc lối và kém cạnh tranh, nước Mỹ ngày nay đang bị đẩy đến bờ vực phá sản. Những thành phố lớn một thời là điểm đến mơ ước bây giờ đang phá sản… Vĩnh biệt Giấc Mơ Mỹ! Bác nào vẽ cái mũi tên rất thâm thúy, đổ xuống đúng chỗ Cuba! http://expert.ru/data/public/433379/...0_crop_q70.jpg Tình cảnh kinh tế-xã hội Mỹ đã bắt đầu sa sút, vỡ nợ hàng loạt ở mức cơ sở, thành thị, và điều đó được che đậy một cách thận trọng khỏi các thống kê liên bang và quốc tế. Hai năm qua cho thấy một hướng di cư lạ lùng: trong số 21 bạn học và đồng nghiệp của tôi, họ đã lâu có được may mắn định cư ở Mỹ, hơn một nửa, 12 người bất ngờ trở về Nga. Hỏi “tại sao?”, họ kể những câu chuyện thê thảm tương tự như ở xứ đói nghèo nhất châu Phi. “Người Mỹ đã hoàn toàn không như vậy!” – Yura Istoev một lập trình viên nói, anh này đã từng học cùng tôi ở St. Petersburg và năm 2000 trái tim từ biệt Pulkovo tiễn biệt sang Mỹ. Nhìn vào con số thống kê Nga-Mỹ gần đây, thực sự là có xu hướng, như họ nó, diện mạo: từ Mỹ trở về nhà năm 2012 2102 người Nga, gần lớn hơn gấp 3 năm 2011. Những chỉ số kinh tế thể hiện vĩ mô của “đất nước tự do” này không trả lời được câu hỏi về nguyên cớ của hiện tượng này: không thấy có sa sút, thất nghiệp thường xuyên cao nhưng không nguy kịch, chỉ số công nghiệp dậm chân ở số 0. Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét sâu hơn, nhìn vào vấn đề trong diện mạo khu vực, thì rõ ràng là đã có vấn đề bị chôn vùi ở đây – khi ngày 1-8-2013, 12 thành phố đã tuyên bố mình phá sản và ngừng các trách nhiệm dịch vụ xã hội của mình, 346 thành phố, 113 tòa thị chính khu của đất nước này đang trong điều kiện trước phá sản. Những câu chuyện như vậy đã bị che giấu cẩn thận, và chỉ có Detroit là thế giới biết đến bởi vì tình cảnh kinh tế-xã hội đã nằm ngoài tầm kiểm soát từ lâu và không thể dấu giếm. San Francisco và dân chúng Trở về từ San Francisco, kỹ sư Nikolai Boev nâng cốc chúc mừng đồng nghiệp Mỹ Jimmy ở quầy bar và nói với tôi về cuộc sống thực ở thành phố ngày trước thịnh vượng này: "Ở đó có khu mang tên là “Hunter Point” – khủng khiếp tuyệt đối. Hơn một nửa cư dân sống trong nghèo khổ, và hơn một nửa trẻ em không có cha. Tôi thỉnh thoảng đi qua đây vì công việc. Tôi với sếp phải len qua những đống bùn và bê-tông ở các tòa nhà phía đông bắc. Một lần tôi dừng lại và nhìn ra xung quanh những ngôi nhà không trốngkhông có người ở, cửa sổ và cửa đi là những tấm ván gỗ. Những dòng phân, nước tiểu, bông gạc, giấy vệ sinh trôi ra từ những cái lỗ đen ngòm trên hè đường, chảy qua đồi và đổ cả loạt vào con phố tràn ngập những thứ như thể cả vũng chất thải bẩn thỉu. Chúng ngập đến 20 cm, phân tươi, bạn hiểu không? Chuyện này không hề đùa cợt.” Tôi tìm thông tin trên trang WHO về những "điểm đỏ" trên bản đồ thế giới - San Francisco được đánh dấu đậm với ghi chú: "tỷ lệ nhiễm khuẩn cao trong cư dân." Giải thích điều này theo chuyên môn rất rõ ràng: vấn đề chất thải - ẩn chứa những vi khuẩn nguy hiểm, đặc biệt là E. coli, loại vi khuẩn nguy hiểm này gây bệnh tiêu chảy thậm chí là chết người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Theo WHO ở các nước đang phát triển, nước bị ô nhiễm – là kẻ sát nhân chính, gây ra cái chết của 1,8 triệu người mỗi năm. Đói nghèo trẻ em, Detroit và bóng tối Tuy nhiên, nhìn chung San Francisco đã là nơi còn hơn phần còn lại của California. Xa về phía nam theo bờ biển, Los Angeles đã phải chịu số phận là thành phố thất nghiệp cao và thế nào cũng kéo theo tỷ lệ tội phạm. Cứ 3 ngày trôi qua có 54 vụ cháy và 8 vụ hiếp dâm (số liệu cảnh sát thành phố). Số lượng trẻ em sống trong điều kiện cực kỳ nghèo đói của bang California từ năm 2007 đến 2010 đã tăng 30%. Theo thông báo của Trung tâm quốc gia về trẻ em nghèo, ở Philadelphia có 36,4% trẻ em sống cực kỳ nghèo đói, ở Atlanta – 40,1%, ở Cleveland 52,6% (!), và ở Detroit – 53,6%. Theo nghiên cứu của Viện Brookings, từ 2000 đến 2010, tỷ lệ nghèo đói ở Mỹ đã tăng từ 15% lên đến 40%. Cùng với Detroit nhìn chung là những con số ghê sợ. Phân tích thống kê cho thấy 48,5% đàn ông Detroit ở độ tuổi 20 đến 64 thất nghiệp. Một ngôi nhà cơ trung bình ở Detroit hiện nay chỉ có giá $6000, và một số ngôi nhà bán với giá tượng trưng $1. Chỉ có 25% học sinh tiểu học tốt nghiệp trung học. Thành phố Detroit là nơi quá nguy hiểm để sinh sống. Gần đây, 100 tài xế xe buýt đã từ chối lái xe theo các tuyến đường vì sợ bị đe dọa đến tính mạng. Lãnh đạo liên đoàn tài xế Henry Gaffney nói các lái xe “sợ vì tính mạng của mình”, tình trạng mất an toàn đã kéo dài nhiều năm. Tôi nghĩ tai nạn ngày hôm qua chỉ đơn giản làm bùng lên sự nhẫn nại chịu đựng khi mà một trong những tài xế của chúng tôi bị đám thiếu niên đánh đập ở công viên Hoa hồng, cảnh sát đã đến đó trong vòng 30 phút, nơi đó ở ngoại ô Detroit. Detroit – thành phố đang bị trộm cướp và phá hoại xé toạc ra thành từng mảnh. Các tòa nhà tan rã thành những đống phế liệu theo nghĩa đen, dân chúng nhặt nhạnh lấy đi những gì còn có thể bán được để sống qua ngày. Chỉ riêng việc chiếu sáng đường phố, ở Detroit đã là cuộc vật lộn nghiệt ngã. Trộm cướp, thiết bị cũ kỹ và thiếu thốn công quỹ không cho phép chính quyền thành phố giải quyết vấn đề. Các quan chức thành phố ước tính 15-20% trong số 88.000 đường phố không ánh sáng, và thừa nhận rằng một số khu vực tỷ lệ này có thể lên đến 50%. Nhưng chiếu sáng không chỉ là thảm họa lớn của riêng Detroit. Thành phố Highland Park ở Michigan, hầu hết ánh sáng đường bị cắt bởi thành phố đã không trả tiền điện. Ở Fresno bang California., trộm cắp dây đồng chiếu sáng đèn đường trở thành vấn đề nghiêm trọng. Chỉ việc sửa chữa những đoạn dây điện bị trộm cắp đã tốn mất $50 ngàn hàng tháng mà vẫn có đến 2.500 bóng điện không có dây. Anh Andrey Rogov người Belarus, hiện đang làm việc ở Canada kể về chuyến đi đáng chú ý đến Detroit: Thành phố ma đáng sợ, tỷ lệ tội phạm rất cao, rất nhiều nơi thậm chí cả cảnh sát cũng chẳng dám đến, chỉ vì sợ bị bắn từ mọi hướng. Mỗi cái xe hàng đỗ dọc đường là một đầu mối, chỗ canh gác và chỗ cho bọn da đen bán ma túy… Năm nay, Mỹ một lần nữa tăng hạng trong bảng WHO về bệnh lao, (thứ 6) và bệnh lây nhiễm tình dục (thứ 5). Tỷ lệ nhiễm HIV ở bang Washington thậm chí cao hơn Tây Phi, Giám đốc cơ quan kiểm soát HIV và AIDS quận Columbia Shannon Hader nói: "Chúng tôi có mức độ (HIV&AIDS) cao hơn Tây Phi. Chúng tôi cùng hạng với Uganda và một số khu vực của Kenya ..." Canada đã đi đến cách lạ lùng để ngăn chựn lây lan HIV. Ví như ở Vancouver, họ phát các liều ma túy miễn phí, kể cả hạng mặng để làm giảm lây lan bệnh tật, nhưng cũng giới hạn, mỗi con nghiện chỉ được 1 liễu mỗi ngày. Stockton Thành phố Stockton đã đệ đơn phá sản ngày 28-6 năm ngoái vì thị trường bất động sản sụp đổ và nợ nần chồng chất. Thành phố đã cắt giảm hơn $90 triệu công quĩ anh ninh, phía sở cảnh sát cho rằng điều đó sẽ làm gia tăng tội phạm giết người và các tội phạm khác. Ruslan Bezhemsky vừa từ đó trở về quê ở St. Petersburg cho biết: "Bãi rác thành phố Stockton chỉ nằm cách tòa thị chính mấy khối nhà. Xung quanh đó vật vờ cả đám người đáng ngờ, hầu hết là da đen. Tôi thậm chí đã chẳng thấy nhiều vô gia cư đến thế ở các lối đi ở Mat-xcơ-va – họ còn đông hơn cả người đi đường. Họ thường vòi vĩnh những thứ lặt vặt, và nếu như bạn cho họ 1 thứ gì đó, ngay lập tức họ đòi thêm thứ khác. Trên đường phố treo những tấm biển cho thuê các căn nhà còn nguyên vẹn làm văn phòng, nhưng không có gì nguyên như vậy. Có đến cả nửa các căn nhà trong thành phố chằng buộc bằng xích hay gỗ ván. Nghề trộm cắp ở Stockton, chỉ là để bán lấy tiền mua rượu. Buổi chiều tối trên phố tràn ngập đám thanh niên da đen say xỉn với bộ dạng mới nhìn đã thấy khó ưa. Trong khi cả ngày trong thành phố, tôi chẳng nhìn thấy bóng một cảnh sát nào, ngay cả ở trong trung tâm. Thế nhưng hầu như khe cửa nào, cũng đều ngửi thấy mùi cỏ cần xa…” Những người hùng không ai biết Bạn sẽ không bao giờ đọc được trên báo chí Mỹ những tin tức như thế này: Mammoth Lakes, California Mammoth Lakes đệ đơn xin phá sản hồi tháng 7 vì không còn khả năng chi trả một vụ kiện đòi thành phố phải trả $43 triệu. San Bernardino County, California San Bernardino đã nộp đơn bảo hộ phá sản và trở thành thành phố lớn thứ 3 Mỹ phá sản. Thay vì cắt giảm cảnh sát và chữa cháy như Stockton đã làm, họ chọn cách phá sản. Chưởng lý thành phố James Penman nói hồ sơ đã được trình cho thị trưởng và hội đồng, đã 13 trong 16 năm giả mạo và che giấu chi phí cjc của thành phố, cuối cùng điều đó chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề tài chính của nó. Rockland County, New York Chính quyền quận đã cắt giảm 412 chỗ làm từ giữa năm ngoái, sau khi Moody có đánh giá tiêu cực về thâm thủng ngân quỹ $18 triệu. Năm nay lại cắt thêm 514 nhân viên nữa. Mọi nhà phân tích người Mỹ đề nói cùng 1 quan điểm rằng thành phố đã đến gần chỗ vỡ nợ, và điều đó sẽ xảy ra trong vòng 1-1,5 năm tới. Scranton, bang Pensilvania Ngân quĩ Scranton vào lúc này không còn đủ $16,8 triệu. Để giảm chi phí, thành phố đã cắt giảm 400 nhân viên. "Thành phố chẳng có tiền. Chúng tôi đang sống qua mỗi ngày, như thể ngày cuối cùng.” Chủ tịch hội đồng thành phố Robert Makgoff nói. Providence, Rhode Island Cuối tháng năm đã xem xét cho phá sản Central Falls (thành phố trong Providence), quan tòa nói: "Tôi không rõ họ có thể thoát ra khỏi tình trạng này bằng cách nào khác, ngoài tuyên bố phá sản”. Dự báo vỡ nợ: cuối năm 2013. Santa Ana, California. Xếp hạng tín dụng Moody thấy còn cao giá hơn, nhưng là về khả năng trả không trả được nợ. Dự báo phá sản năm 2014. Long Beach, California Long Beach đã duyệt lại hợp đồng với liên đoàn cảnh sát và chữa cháy về cắt giảm lương hưu và cắt giảm chi phí để cứu ngân quỹ thành phố đang ở cỡ $18,5 triệu. Dự tính phá sản năm 2014. Costa Mesa, California Để tiết kiệm tiền, thành phố bán trực thăng cảnh sát và cắt giảm chi tiêu. Phá sản trông đợi vào cuối năm 2013. San Diego, California Vấn đề hưu trí là bệnh dịch của thành phố đã nhiều năm, hầu hết các giải pháp đề xuất có ảnh hưởng tiêu cực đến lực lượng lao động, có rất ít việc có thể làm để cắt giảm nợ nần ngày càng phì đại. Phá sản năm 2014. Los Angeles, California Thành phố này thâm thủng ngân sách $238 triệu, họ có trách nhiệm chi trả quỹ hưu trí khổng lồ và ngân quỹ hàng năm gần bằng $7 tỷ. Dự đoán phá sản tháng 1-2014 nếu liên bang không cứu. Thống đốc bang Michigan Rick Snyder nói hồi đầu năm ông ước lượng có 235 thành phố lớn nhỏ đang trong tình trạng phá sản chức năng. Một trong số đó là thành phố Flint. Nơi một thời được gọi là “thành phố động cơ của Mỹ” vì có nhà máy lớn lắp ráp động cơ Buick, sản xuất bu-gi và Fisher Body. Đã chẳng còn nhà máy nào hoạt động"Thành phố-động cơ" giờ là thành phố tội phạm. Trước kia, thành phố có hơn 100 ngàn cư dân này chỉ ghi nhận 66 vụ tội phạm mỗi năm. Bây giờ thỉ mức độ tội phạm còn tồi tệ hơn cả Baghdad. Theo các nhà phân tích, các thành phố như Chicago và Santa Fe (bang New Mexico), có nghĩa vụ hưu trí cao đáng báo động so với thu nhập của họ. Trong số đó nổi bật là Santa Fe, quĩ hưu trí cao hơn 6 lần thu nhập – và là đặc điểm tồi tệ nhất trong số các thành phố. Tiếp theo sau là Virginia, vượt 5,9 lần. Las Vegas đứng thứ 3 vượt 5,5 lần, Chicago đứng thứ 4 vượt 5,4 lần. Moody đã hạ bậc Chicago 3 bậc xếp hạng xuống A3, Cincinnati xuống Aa2 vì chi phí hưu trí. Cũng như Detroit, Chicago đã giảm dân số 7% từ 2000 đến 2010, nhưng đó chỉ là bông hoa nhỏ, khi so sánh với Detroit giảm 25% cùng thời kỳ. Chuyên gia World Bank Eric Shvaytsern giải thích trong bài phỏng vấn với tờ "Expert Online": "Ở Mỹ, rất nhiều trách nhiệm xã hội trong những năm gần đây đã bị chuyển giao từ liên bang xuống mức bang, và chính các bang, đến lượt mình, hóa ra là lại sẵn lòng đẩy trách nhiệm của họ cho thành phố và khu vực. Đủ để nói rằng, trong 22 chương trình xã hội khởi động năm 2008 trong khuân khổ chống khủng hoảng, chỉ có 3 là thuộc liên bang và 7 là từ quỹ bang. Các nỗi hiểm nguy kiệt quệ trong hệ thống công quỹ của bang cũng bị chuyển giao sang thành phố và khu vực. Điều đó được thực hiện để che dấu mức thâm thủng khổng lồ trong ngân sách bang, mà nếu như xem xét kỹ một cách tổng thể thì đã mang các yếu tố vỡ nợ một cách rõ ràng. Che dấu thâm thủng theo cách chuyển giao cổ truyền từ Washington đã không còn tác dụng bởi luật kê biên. Trong vòng 3 năm tới, chúng ta trông đợi quá trình phá sản thác lũ các thành phố Mỹ, chúng thực sự đặt quốc gia vào trong gánh nặng vỡ nợ…” Để kết luận chúng ta chỉ cần chú ý một điều, bất chấp chính phủ Mỹ nỗ lực vùng vẫy khôi phục lại nền công nghiệp của đất nước, thì vẫn phải đối mặt với dòng di cư sản xuất sang châu Á. Theo đánh giá của OECD, trong vòng 20 năm qua từ Mỹ đã di chuyển hơn 43 ngàn công ty, hay 76% tiềm năng công nghiệp của Mỹ. Trong khi nghĩa vụ xã hội vẫn vẫn giữ nguyên ở mức cao. Giới cầm đầu Mỹ đang tính chuyện cắt giảm tiêu chuẩn xã hội. Nhưng dân Mỹ đã từ lâu quen hưởng thụ tiện nghi không chấp nhận ý tưởng này. Sẽ có rối loạn không bằng lòng với những điều chỉnh lạ lùng và mọi sự cắt giảm phúc lợi công. Barack Obama có trách nhiệm không mấy dễ chịu, dạy người Mỹ sống bằng những gì họ có và kết liễu dứt khoát Giấc Mơ Mỹ. http://expert.ru/2013/08/6/proschaj-...skaya-mechtai/ |
Các nhà băng phương Tây sẵn sàng để nô dịch Nga
http://pravda-team.ru/eng/image/arti...4/5/51145.jpeg
Cựu chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu Wim Duisenberg, lặp lại lời tự nhận là "Cha đẻ của châu Âu" Jean Monnet, một vài năm trước đây nói rằng "liên minh tiền tệ" phải đi tay trong tay với "liên minh chính trị". Tiết lộ trong những lưu ý mục tiêu, nghị sự được chia sẻ bởi tất cả các thành viên chủ chốt của tầng lớp ngân hàng phương Tây. Mục tiêu của các tổ chức tài chính phương Tây tại thời điểm này trong lịch sử không phải là để "sửa chữa" hệ thống, mà để ghi giờ ưu tiên "các giải pháp" được bày ra trong bóng tối, những căn phòng đầy bụi - giải pháp mà sẽ nô phần còn lại của thế giới phát triển, bao gồm cả Nga. Vũ khí hạt nhân vô dụng khi sự tuyệt vọng vô gia cư túng quẫn và nghèo đói là kẻ thù. Xem xét các sự kiện: nợ nần của Mỹ và EU đã ở vào điểm bão hòa và việc tìm kiếm khách hàng mới sẽ khó khăn, đặc biệt là từ khi Trung Quốc và Nga phản đối kế hoạch nới lỏng tiền tệ mới Anh-Mỹ -Âu (QE) và nhận chỗ trong kế hoạch bấp bênh mà nền văn minh phương Tây ngồi. Và bởi vì đồng tiền mất Mỹ và EU mất giá trị, có nghĩa là suy giảm giá trị cổ phần nước ngoài hiện tại của khoản nợ nước ngoài nắm giữ bằng đồng euro và USD, khuyến khích bỏ rơi khối tài sản đó, không mua chúng, sẽ là canh bạc. Những gì sau đó có thể dự đoán là hậu quả của nới lỏng tiền tệ tại thời điểm dễ đổ vỡ trong lịch sử kinh tế toàn cầu? Trong ngắn hạn, là sự hỗn loạn. Tại sao khi đó, các nhà băng phương Tây lại theo đuổi lạm phát nhiều hơn, in nhiều hơn đồng đô la mất giá, bất chấp những hậu quả lịch sử (như Bolvia, Weimar Đức) của hành động này ? Những kẻ ở vị trí điều khiển không điên. Có những kẻ được dạy dỗ. Làm thế nào các bậc thầy tài chính có thể ủng hộ một cái gì đó mà họ biết sẽ kết thúc trong thảm họa, trừ khi thảm họa là mục đích theo một nghĩa nào đó? Giả thuyết này, nếu đúng, sẽ tiếp tục có nghĩa xa hơn là những kẻ này đã có một số loại kế hoạch để cố gắng ngăn chặn và hướng kết quả hỗn loạn đến một giải pháp tính toán từ trước. Giống như một căn bệnh được phát minh ra để chữa chạy có dụng ý, vì thế, các nhà băng phương Tây có kế hoạch tái sắp xếp lại hệ thống tài chính toàn cầu theo thiết kế của riêng mình. Có lẽ là thích hợp khi cho rằng những kẻ ủng hộ hội nhập tài chính hiện tại cùng là những kẻ trong vài thập kỷ qua xúc tiến phong trào tự do hóa thị trường vốn toàn cầu với mục đích tăng cường lưu thông vốn đến độ thay đổi đột ngột dòng vốn có thể gây ra những hậu quả không kể xiết, gây biến động tỷ giá hối đoái, làm gián đoạn thương mại thế giới, và tạo ra nhu cầu giả tạo cho một đồng tiền chung. Trong bất kỳ chế độ tài chính toàn cầu nào, Nga sẽ suy giảm xuống thành một "nông nô", buộc phải làm thuộc địa tài chính của một trật tự tiền tệ mới được chế tác cho các nhà băng phương Tây, và hoàn toàn bị kiểm soát bởi các nhà băng phương Tây. Không giống như hệ thống được thừa nhận, nơi nhiều loại tiền tệ thả nổi dựa vào một đơn vị trao đổi chính như đồng đô la, các cuộc thảo luận hiện nay đang đi đến tâm điểm về một phương tiện duy nhất - một đồng tiền cho thị trường toàn cầu đơn nhất. Quan điểm "tình huynh đệ " toàn cầu phổ biến rộng rãi trong học viện thế kỷ XIX cuối cùng sẽ là một thực tế, nhưng chỉ một phiên bản phiến diện của thực tế này sẽ chiếm ưu thế. Một số người ở Nga và Trung Quốc, trong một danh sách dài các quốc gia thương mại khác, đã công khai ủng hộ việc phá hủy có sắp đặt đồng đô la Mỹ như là đồng tiền dự trữ của thế giới bởi vì họ thấy được vấn đề một cách đúng đắn với hệ thống tài chính đơn cực. Nhưng sẽ là sai lầm nếu Nga tìm cách chống lại quyền bá chủ tài chính Mỹ. Ngược và phản trực giác, nếu như Nga và Trung Quốc bán tháo đồng đô la Mỹ như có vẻ họ có ý định, một chuỗi các sự kiện sẽ thực sự đẩy nhanh cuộc đảo chính như các nhà băng phương Tây mường tượng sẽ được khởi động. Do đó điều quan trọng là Nga và các quốc gia liên kết của họ tiếp tục ủng hộ đồng đô la, dù thế nào, nó cũng có thể trở thành phồng lên, dư thừa quá đáng. Sự sụp đổ của đồng đô la sẽ không thành nếu thiếu sự gián đoạn chuỗi cung ứng, nạn thất nghiệp, chiến tranh thương mại và sự bất ổn định chung. Cuộc cách mạng sẽ dường như là khi tiêu dùng Mỹ hiện vực dậy các nền văn hóa tiêu dùng vừa chớm nở ở Nga và Trung Quốc sẽ nhanh chóng tiêu tan – làm tiêu chuẩn sống đang lên của Nga tan biến theo. Tài nguyên dầu ở Nga sẽ không bức tường thành ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực tài chính toàn cầu. Thực tế hiện nay phải thừa nhận: Kinh tế thế giới hiện tại không thể tồn tại mà không có Mỹ. Nhìn chung, Mỹ mua 20% tất cả các hàng nhập khẩu. Mặc dù điều này nghe có vẻ không đáng kể, so sánh con số này với EU, đứng ở mức 16%, hay Nhật Bản 5%. Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc là nhà xuất khẩu ròng, với khoảng 60% GDP của họ là từ xuất khẩu, do đó, tổng số đóng góp của họ đối với tăng trưởng kinh tế thế giới là nhỏ. Khi thương mại bị phá hủy bởi phạm trù phát triển, Mỹ chiếm gần một nửa xuất khẩu của các nước đang phát triển. Nhưng sự phụ thuộc của các quốc gia vào nền kinh tế Mỹ vượt xa kết nối thương mại thuần túy. Tài sản nước ngoài ở Mỹ có tổng 23 ngàn tỷ USD, trong đó ngàn tỷ là chứng khoán. Các công ty sở hữu nước ngoài tại Mỹ có doanh thu hàng năm 31 ngàn tỷ USD. Riêng Nga có 45% dự trữ ngoại tệ của mình bằng đô la Mỹ. Các nước như Anh và Nhật Bản đem về từ Mỹ 20% các khoản thu, làm cho hoạt động của họ ở Mỹ là quan trọng về kinh tế. Vì những mối quan hệ này có thể suy luận rằng sự suy giảm tiêu dùng tại Mỹ sẽ có hậu quả nghiêm trọng cho nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đã chứng minh điều này nhiều. Cũng như các nhà kinh tế nói rằng sự tăng trưởng đã được "tách" ra từ chu kỳ kinh doanh Mỹ, bong bóng nhà đất Mỹ vỡ, thúc đẩy các gói cứu trợ nhỏ ở nhiều nước công nghiệp, thậm chí cả Trung Quốc. Thật vậy, báo cáo mới của IMF cho thấy nền kinh tế thế giới vẫn còn rất nhiều liên kết với xu hướng tiêu dùng Mỹ. Suy thoái G-7 vẫn còn 60% tương quan với suy thoái kinh tế Mỹ, và giá cổ phiếu của các quốc gia công nghiệp vẫn còn 70% tương quan với chỉ số S&P 500, thế giới phụ thuộc vô vọng vào Mỹ. Khi đó làm thế nào để Nga có thể duy trì độc lập tài chính, và vẫn ủng hộ đồng đô la, mà dường như kéo dài mãi quyền lực vô vọng không cân xứng của giới bề trên nhà băng Mỹ trong mối quan hệ với phần còn lại của thế giới ? Nga sẽ phải khuyến khích sự phát triển của thị trường tiêu dùng mới và thúc đẩy mức tiêu dùng cao hơn trong môi trường ảnh hưởng của mình, điều đó sẽ giảm dần sự phụ thuộc của nhiều nền nền kinh tế xuất khẩu vào tiêu dùng Mỹ. Hệ thống thuế mặt bằng mới được đặt ra bởi Liên bang là một bước khởi đầu tốt trong việc tạo ra các điều kiện cho tầng lớp tiêu dùng. Một quốc gia không kiểm soát tiền tệ của mình là quốc gia không có quyền lực thực sự. Làm thế nào để quốc gia diễn vai cường quốc mà không có khả năng đảm bảo thanh khoản cần thiết để huy động các yếu tố quân sự? Nếu hệ thống tiền tệ bị toàn cầu hóa, thì vị thế của quyền lực cũng sẽ bị toàn cầu hóa, điều đó báo hiệu sự kết thúc của giới lãnh đạo Nga trong mọi phương diện. Những nỗ lực để tiêu diệt hệ thống tài chính hiện tại để hiện thực hóa hình ảnh của những đầu óc khách quan phải bị chống lại bằng mọi giá. Nếu sự thịnh vượng và sung túc kinh tế là mục tiêu, liên minh tiền tệ phải bị phản đối. Dâng nộp chủ quyền không dễ dàng khôi phục lại. John Griffing – Pravda.ru http://english.pravda.ru/business/fi...ghty_dollar-0/ 2013/09/19 |
Lời thú tội của một sát thủ kinh tế
Bài viết từ năm 2004; Lời thú tội của một sát thủ kinh tế - Confessions of an Economic Hit Man: Mỹ sử dụng toàn cầu hóa để lừa đảo các nước nghèo cả hàng ngàn tỷ
http://www.johnperkins.org/wp-conten...ionshitman.jpg Lời thú tội của một sát thủ kinh tế: các nhà lãnh đạo Nam Mỹ thường xuyên bị ám sát nếu họ chống đối nhà băng Do Thái những kẻ nhằm mục tiêu làm đế chế toàn cầu. Bài phỏng vấn của Amy Goodman, nữ thủ lĩnh Democracy Now! - Mỹ với John Perkins. Perkins chính là sát thủ bỏ nghề nên những gì ông viết ra rất thật và chuẩn xác. John Perkins làm việc cho hãng tư vấn quốc tế Chas. T. 1971-1981. Chính cái nơi ông mô tả mình là, "sát thủ kinh tế". Chúng tôi nói chuyện với John Perkins, một cựu thành viên được kính trọng của cộng đồng ngân hàng quốc tế. Trong cuốn sách “Confessions of an Economic Hit Man”, ông mô tả cách mà một chuyên gia được trả lương cao, đã giúp Mỹ lừa đảo các nước nghèo trên toàn cầu hàng nghìn tỷ USD bằng việc cho họ vy nhiều tiền hơn khả năng họ có thể có thể trả nợ và sau đó chiếm đoạt nền kinh tế của họ. John Perkins mô tả mình là một cựu sát thủ kinh tế - chuyên gia được trả lương cao để lừa đảo các quốc gia trên toàn thế giới. 20 năm trước đây Perkins bắt đầu viết một cuốn sách với tiêu đề "Lời thú tội của một sát thủ kinh tế - Conscience of an Economic Hit Men". Perkins viết: "Cuốn sách là để dành tặng cho các tổng thống 2 quốc gia, những người đã từng là khách hàng, những người mà tôi tôn trọng và đồng cảm tinh thần-Jaime Roldós, TT Ecuador, và Omar Torrijos, TT Panama. Cả hai đều đã chết trong những tai nạn bốc lửa. Cái chết của họ không phải là tình cờ. Họ đã bị ám sát bởi vì phản đối lại phường hội tập đoàn, chính phủ và các thủ lĩnh nhà băng với mục tiêu đế chế toàn cầu. Chúng tôi – những sát thủ kinh tế đã thất bại trong việc mang Roldós và Torrijos đi, và một loại sát thủ khác, khác của những người đàn ông nổi tiếng, những con chó rừng theo lệnh CIA, những kẻ luôn luôn theo sau chúng tôi bước vào. John Perkins tiếp tục viết: "Tôi đã bị thuyết phục để dừng viết cuốn sách đó. Tôi đã bắt đầu nó hơn 4 lần trong hai 20 năm sau. Mỗi lần, tôi quyết định bắt đầu lại là vì ảnh hưởng bởi các sự kiện thế giới hiện nay: Cuộc xâm lược Mỹ vào Panama năm 1980, chiến tranh vùng Vịnh I, Somalia, và sự nổi lên của Osama bin Laden. Tuy nhiên, các mối đe dọa hay mua chuộc luôn luôn thuyết phục tôi dừng lại." AMY GOODMAN: John Perkins tham gia cùng chúng tôi tại phòng thu trạm cứu hỏa. Chào mừng ông đến với Democracy Now! JOHN PERKINS: Cảm ơn Amy. Thật tuyệt vời khi được ở đây. AMY GOODMAN: Rất tốt khi ông cùng chúng tôi. Được rồi, ông hãy giải thích thuật ngữ này, "sát thủ kinh tế", như ông gọi nó. JOHN PERKINS: Về cơ bản những gì chúng tôi được đào tạo để làm và những gì công việc của chúng tôi làm là để xây dựng đế quốc Mỹ. Để đem đến - để tạo ra các tình huống khi mà càng nhiều tài nguyên càng tốt có thể chảy vào đất nước này, vào các tập đoàn của chúng tôi, và vào chính phủ của chúng tôi, và trong thực tế chúng tôi đã rất thành công. Chúng tôi đã xây dựng lên đế chế lớn nhất trong lịch sử thế giới. Điều đó được thực hiện trong vòng 50 năm qua kể từ khi Thế chiến II với rất ít sức mạnh quân sự, thực sự vậy. Đó chỉ là trường hợp hiếm hoi như Iraq, nơi quân đội đến như một phương sách cuối cùng. Đế chế này, không giống như bất kỳ cái nào khác trong lịch sử thế giới, đã được xây dựng chủ yếu thông qua thao túng kinh tế, thông lừa đảo, thông qua gian lận, thông qua dụ dỗ người ta vào cách sống của chúng tôi, thông qua những sát thủ kinh tế. Tôi đã là 1 phần lớn trong đó. AMY GOODMAN: Làm thế nào ông lại trở thành 1 sát thủ? Ông đã làm việc cho ai? JOHN PERKINS: Vâng, tôi đã bước đầu được tuyển dụng khi ở trong trường kinh doanh cuối những năm 1960 bởi Cơ quan An ninh Quốc gia (National Security Agency), tổ chức gián điệp lớn nhất và ít biết đến nhất, nhưng cuối cùng tôi đã làm việc cho các tập đoàn tư nhân. Những kẻ sát thủ thực sự đầu tiên, trở lại đầu những năm 1950, Kermit Roosevelt, cháu trai của Teddy, đã lật đổ chính quyền Iran, một chính phủ dân cử, chính phủ của Mossadegh, người của tạp chí Times; hắn ta (Roosevelt) đã làm điều này rất thành công mà không có đổ máu – rất cừ, có một ít máu đổ, nhưng không có can thiệp quân sự, chỉ cần chi tiêu hàng triệu đô la và thay thế Mossadegh bằng Shah của Iran. Vào thời điểm đó, chúng tôi hiểu rằng ý tưởng này, sát thủ kinh tế là cực kỳ tốt. Chúng tôi không phải lo lắng về nguy cơ chiến tranh với Nga khi chúng tôi làm nó theo cách này. Vấn đề là Roosevelt – gián điệp CIA. Ông ta là một nhân viên chính phủ. Ông đã bị bắt, chúng tôi sẽ có rất nhiều rắc rối. Đã có nhiều lúng túng. Vì vậy, tại thời điểm đó, đã quyết định sử dụng các tổ chức như CIA và NSA để tuyển dụng các sát thủ kinh tế tiềm năng như tôi và sau đó phái chúng tôi đi làm việc cho công ty tư vấn tư nhân, các công ty kỹ thuật, các công ty xây dựng, do đó, nếu chúng tôi bị bắt, sẽ không có liên hệ gì với chính phủ. AMY GOODMAN: Được rồi. Ông giải thích công ty mà ông làm việc cho đi. JOHN PERKINS: Vâng, công ty tôi làm việc có tên là Chas. T. Trụ sở chính ở Boston, Massachusetts. Chúng tôi có khoảng 2.000 nhân viên, và tôi trở thành nhà kinh tế trưởng của nó. Tôi cuối cùng có 50 người làm việc cho. Nhưng công việc thực sự của tôi là làm các giao dịch. Đó là trao các khoản vay cho các nước khác, các khoản vay rất lớn, lớn hơn nhiều so với họ có thể có để trả nợ. Một trong các điều kiện của khoản vay - chúng ta hãy nói $1 tỷ cho một quốc gia như Indonesia hay Ecuador - và đất nước này sau đó sẽ phải trả 90% của khoản vay trở lại cho một công ty Mỹ, hay các công ty Mỹ, để xây dựng cơ sở hạ tầng – như là Halliburton hay Bechtel. Đây là những công trình lớn. Các công ty này sau đó sẽ tiến vào và xây dựng hệ thống điện, cảng biển hoặc đường cao tốc, và những cái đó cơ bản sẽ phục vụ chỉ một vài trong số các gia đình rất giàu có ở các nước đó. Người nghèo ở những quốc gia này sẽ bị mắc kẹt với rốt cục là các khoản nợ sửng sốt này và họ không thể có khả năng trả nợ. Đất nước ngày nay như Ecuador có hơn 50% ngân sách quốc gia của mình chỉ để trả các món nợ. Và họ thực sự không thể trả nợ. Vì vậy, chúng tôi theo nghĩa đen đặt họ trên đống lửa. Vì vậy, khi chúng tôi muốn nhiều dầu mỏ hơn, chúng tôi đến Ecuador và nói, "Hãy nhìn xem, các vị không có khả năng trả nợ của mình, vì vậy hãy giao các công ty dầu mỏ rừng mưa Amazon trong đó chứa đầy dầu của các vị." Và ngày nay chúng tôi đang tàn phá rừng mưa Amazon, buộc Ecuador nộp chúng cho chúng tôi bởi vì họ đã tích lũy tất cả các khoản nợ này.Vì chúng tôi tạo ra khoản vay lớn này, hầu hết chúng quay trở lại với Mỹ, đất nước đó bị bỏ lại với các khoản nợ cộng với lấy đi nhiều lợi ích, và họ về cơ bản trở thành đầy tớ của chúng tôi, nô lệ của chúng tôi. Nó là một đế chế. Không có hai cách về nó. Nó là một đế chế lớn. Nó đã rất thành công. … AMY GOODMAN: Chúng tôi đang nói chuyện với John Perkins. Trong cuốn sách của ông, ông nói về cách mình trợ giúp để thực hiện một chương trình bí mật đổ hàng tỷ đô la dầu của Saudi Arabia trở lại vào nền kinh tế Mỹ, và tiếp tục củng cố mối quan hệ mật thiết giữa nhà Saudi và chính phủ Mỹ. Ông giải thích đi. JOHN PERKINS: Đúng, đó là một thời kỳ hấp dẫn. Tôi nhớ rõ, có lẽ bạn lúc đó đang quá nhỏ để nhớ, nhưng tôi nhớ rất rõ trong những năm đầu 1970 OPEC thực hiện quyền lực này như thế nào, họ đã, và cắt giảm nguồn cung dầu mỏ. Chúng ta có hàng đoàn xe ô tô xếp dài tại các trạm xăng. Đất nước sợ rằng sẽ phải đối mặt với một loại tai nạn như năm 1929 – suy thoái, và điều này là không thể chấp nhận được. Vì vậy, họ - Bộ tài chính đã thuê tôi và một vài hit men khác. Chúng tôi đã đến Saudi Arabia. Chúng tôi - AMY GOODMAN: Ông thực sự được gọi là sát thủ kinh tế? JOHN PERKINS: Vâng, đó là một thuật ngữ đầu lưỡi táo tợn mà chúng tôi tự gọi bản thân mình. Một cách chính thức, tôi là một nhà kinh tế trưởng. Chúng tôi gọi chính mình là sát thủ. Đó là đầu lưỡi táo tợn. Điều đó giống như, không ai tin chúng tôi nếu chúng tôi nói điều đó, bạn biết đấy? Và, vì vậy, chúng tôi đến Ả Rập Saudi vào đầu 1970. Chúng tôi biết Saudi là chìa khóa để giảm sự phụ thuộc của chúng ta, hoặc để kiểm soát tình hình. Và chúng tôi đã làm ra thỏa thuận này, trong đó Hoàng gia Saudi đã đồng ý gửi phần lớn số đô la dầu trở về Mỹ và đầu tư chúng vào chứng khoán chính phủ Mỹ. Bộ Tài chính sẽ sử dụng lợi ích chứng khoán này để thuê các công ty Mỹ xây dựng Saudi Arabia – thành phố mới, cơ sở hạ tầng mới - mà chúng tôi đã làm. Và nhà Saudi sẽ đồng ý để duy trì giá dầu trong giới hạn chấp nhận được đối với chúng ta, điều mà họ đã làm trong tất cả những năm này, và chúng ta sẽ đồng ý để duy trì nhà Saudi trong quyền lực miễn là họ thực hiện điều này, cái mà mà chúng ta đã làm, cái là một nguyên do để chúng ta đi đến chiến tranh với Iraq lần 1. Và ở Iraq, chúng ta đã cố gắng để thực hiện chính sách tương tự như cái đã rất thành công ở Saudi Arabia, nhưng Saddam Hussein đã không mua. Khi những sát thủ kinh tế thất bại trong kịch bản này, bước tiếp theo là cái mà chúng ta gọi là chó rừng. Chó rừng là người theo lệnh CIA đến để xúi giục đảo chính hay cách mạng. Nếu điều đó không diễn ra, họ tiến hành ám sát. hoặc cố gắng để. Trong trường hợp Iraq, họ đã không thể làm xong Saddam Hussein. Ông ta có – những vệ sĩ của ông ta đã quá tốt. Ông đã có gấp đôi. Họ không thể kết thúc ông ta. Vì vậy, dòng thứ ba của quốc phòng, nếu những hit men và chó rừng thất bại, dòng tiếp theo của quốc phòng là những người chàng trai và phụ phụ nữ, những người được gửi đi để chết và giết chết, đó là những gì chúng ta rõ ràng đã thực hiện ở Iraq. AMY GOODMAN: Ông có thể giải thích Torrijos đã chết như thế nào? JOHN PERKINS: Omar Torrijos, tổng thống Panama. Omar Torrijos đã ký Hiệp ước kênh đào với Carter nhiều - và, bạn biết đấy, nó đã được thông qua Quốc hội của chúng ta bằng chỉ 1 lần biểu quyết. Đó là vấn đề tranh đấu ở mức độ cao. Và Torrijos sau đó cũng đã đi trước một bước đàm phán với Nhật Bản để xây dựng một con kênh mực nước biển mới. Nhật Bản muốn cung cấp tài chính và xây dựng con kênh này ở Panama. Torrijos đã nói chuyện với họ về việc này và điều đó gây nhiều khó chịu cho Bechtel Corporation, vị chủ tịch của nó là George Schultz và hội đồng cấp cao là Casper Weinberger. Khi Carter bị ném đi (và đó là một câu chuyện thú vị - làm thế nào đã thực sự xảy ra), và thua cuộc bầu cử, Reagan nắm quyền và Schultz làm thư ký Nhà nước từ Bechtel, Weinberger làm Bộ trưởng Quốc phòng từ Bechtel, họ đã vô cùng tức giận Torrijos – họ đã cố gắng tìm Torrijos để đàm phán lại Hiệp ước kênh đào và không nói chuyện với người Nhật. Ông ta kiên quyết từ chối. Ông là một người rất nguyên tắc. Dù có vấn đề của mình, nhưng rất nguyên tắc. Torrijos là một con người Ông là một người lạ lùng, qua đời trong một vụ tai nạn máy bay, liên quan đến máy ghi âm chứa chất nổ trong đó, tôi đã ở đó. Tôi đã làm việc với ông ấy. Tôi biết rằng hit men chúng tôi đã thất bại. Tôi biết chó rừng đã theo sát ông ấy, và điều tiếp theo, máy bay của ông phát nổ với một máy ghi âm có quả bom trong nó. Không nghi ngờ gì trong trí óc tôi rằng đó là lệnh của CIA, và hầu hết - nhiều nhà điều tra Mỹ Latinh đã đi đến kết luận tương tự. Tất nhiên, chúng tôi chưa bao giờ nghe nói về điều đó trong đất nước của chúng ta. AMY GOODMAN: Vì vậy, từ đâu – và khi nào con tim ông đã xảy ra thay đổi? JOHN PERKINS: Tôi cảm thấy có lỗi trong suốt toàn bộ thời gian này, nhưng tôi đã bị cám dỗ. Sức mạnh của loại thuốc này, giới tính, quyền lực, và tiền bạc, là cực kỳ mạnh đối với tôi. Và, dĩ nhiên, tôi đã làm những điều khi được vỗ nhẹ vào lưng. Tôi là nhà kinh tế trưởng. Tôi đã làm những việc mà Robert McNamara muốn và cứ thế. AMY GOODMAN: Công việc của ông liên quan chặt chẽ với World Bank như thế nào? JOHN PERKINS: Rất, rất chặt chẽ với World Bank. Ngân hàng Thế giới cung cấp phần lớn số tiền được sử dụng bởi những hit men, nó và IMF. Nhưng khi 911 xảy ra, tôi đã thay đổi con tim. Tôi biết câu chuyện này phải được kể ra bởi vì những gì đã xảy ra tại 911 là hậu quả trực tiếp từ những gì những sát thủ kinh tế đang làm. Và cách duy nhất mà chúng ta cảm thấy an toàn trên đất nước này và chúng ta cảm thấy tốt đẹp về bản thân mình một lần nữa là nếu như chúng ta sử dụng những hệ thống này, chúng ta sẽ đặt vào vị trí để tạo ra thay đổi tích cực trên thế giới. Tôi thực sự tin rằng chúng ta có thể làm điều đó. Tôi tin rằng World Bank và các tổ chức khác có thể quay trở lại và làm những gì họ dự định để làm thuở ban đầu, đó là giúp đỡ xây dựng lại những vùng bị tàn phá của thế giới. Giúp – nghĩa là thực sự giúp đỡ người nghèo. Có đến 24 ngàn người bị chết đói mỗi ngày. Chúng ta có thể thay đổi điều đó. AMY GOODMAN: Ông John Perkins, tôi muốn cảm ơn ông rất nhiều vì đã ở bên chúng tôi. Cuốn sách của John Perkins được gọi là, “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế - Confessions of an Economic Hit Man”. http://www.democracynow.org/2004/11/...onomic_hit_man John Perkins: "Zeitgeist: Addendum" Extended Interview 2008 http://www.youtube.com/watch?v=xLe9u9SffO0 John Perkins - Confessions of an Economic Hit Man - Part I http://www.youtube.com/watch?v=yTbdnNgqfs8 John Perkins - Confessions of an Economic Hit Man - Part II http://www.youtube.com/watch?v=29GhXsx7-Rs John Perkins on President Obama http://www.youtube.com/watch?v=TF2CXcQ3W7M John Perkins - Our Current World Crisis http://www.youtube.com/watch?v=5mqqtCoes50 John Perkins - The Secret History of the American Empire http://www.youtube.com/watch?v=7fVAifnnlg0 The Hidden Faith of The Founding Fathers 2010 http:/www.youtube.com/watch?v=xU24fJ4NQxo Có thể đọc cuốn sách của John Perkins, bản tiếng Việt ở đây: http://reds.vn/index.php/thu-vien/ki...e-john-perkins |
Trans-Pacific Partnership
Trans-Pacific Partnership không phải là tự do thương mại – Cuộc đảo chính tập đoàn chống lại chúng ta!
TPP đã được nhắc đến ở đây: http://diendan.nuocnga.net/showthrea...age=5&post=#84 Cả Bush và Obama đã giữ các cuộc đàm phán bí mật về NAFTA hạt nhân hóa này. Năm 2002, có tin nói rằng Ttg Anh Tony Blair đã kể với một người bạn câu chuyện vui về George W. Bush. Có vẻ như là hai người trong số họ và TT Pháp Jacques Chirac đã có một cuộc thảo luận kinh tế, sau đó George được cho là tâm sự với Tony rằng ông ta rõ ràng chẳng có ấn tượng với quan điểm của Jacques, Bush chế giễu: "Vấn đề với Pháp, là họ không có một chữ 'buôn-entrepreneur'. " Đầu Bush luôn luôn ám ảnh khu vực cấm bay. Tuy nhiên, điều gì làm tâm trí ông ta do dự ngay cả khi người Mỹ đã đánh cắp từ đó từ người Pháp, là thực tế chính phủ hoàn toàn không phải là con yêu tinh có máu đi buôn (Mon dieu! ông George ạ, đó là 1 từ Pháp khác) để giáo lý hoạt họa của ông Bush vẽ ra nó được. Trên thực tế, chính phủ có thể là bạn thân tốt nhất của giới con buôn. Một chỗ kinh ngạc để thấy đám bạn bè này làm ăn là nơi trần tục nhất của các văn phòng chính phủ: Mua sắm. Nơi nào ông thị trưởng, ban giám hiệu nhà trường, thống đốc, hoặc bất kỳ "nhà mua sắm công” nào khác đi mua đồ, thực phẩm, đồ gỗ, hàng xa xỉ, và những thứ linh tinh? Các cơ quan khác nhau đã mua Austin, Texas, mua hàng Mỹ, mua xanh, mua các nhà máy bóc lột lao động tàn tệ -miễn phí, và mua các chính sách mục tiêu khác áp tiền thuế của người ta với các giá trị. Ý tưởng nhạy cảm này đã quét khắp đất nước, rất có thể bao gồm cả nơi bạn sống, và những cơ quan đang mua thêm sự thúc đẩy tài chính lớn để bắt đầu mua nốt các doanh nghiệp nội địa độc lập, phụ nữ làm chủ khác. Hơn là mua tất cả mọi thứ từ Walmart hay Trung Quốc (xin lỗi vì rườm rà) – nghĩa là vận chuyển tiền bằng xe tải và tàu thủy ra khỏi cộng đồng của họ - những đồng tiền công tái đầu tư trở lại sân nhà làm cơ sở tăng trưởng kinh tế và sinh sôi công ăn việc làm. http://s11.postimg.org/io27f7ek3/Tra...artnership.jpg Ngừng chế cảm giác Chính quyền chúng tôi cam kết tạo ra một mức độ chưa từng có sự cởi mở trong chính phủ. Chúng tôi sẽ làm việc cùng nhau để đảm bảo lòng tin công chúng và thiết lập một hệ thống minh bạch, có sự tham gia của công chúng, và sự hợp tác. Tổng thống Obama, nói ngày 26 tháng 1 năm 2009. Tưởng tượng tiếng om sòm nếu TT Obama và Quốc hội Mỹ cố gắng để thông qua một dự luật cấm như chính sách "ưu đãi mua sắm", tóm lược huỷ bỏ quyền dân chủ của chúng tôi để quyết định sẽ mua sắm công ở đâu. Tôi sẽ có cái “trả giá đến chết” đẹp, còn bạn? Và nếu họ cũng đề nghị các công ty nước ngoài tại Brunei, New Zealand, Việt Nam, và các quốc gia khác phải được trao quyền thực hiện buôn bán mọi và tất cả các sản phẩm được mua bằng tiền thuế của chúng tôi? Tóc tôi muốn bốc cháy! Dân Mỹ sẽ không bao giờ chịu được sự xúc phạm trắng trợn chủ quyền của họ, vì vậy tôi có thể đảm bảo với bạn rằng Obama và Quốc hội chắc chắn không đề xuất bất kỳ điều gì như thế. Không trực tiếp, đó là. Thay vào đó, họ niềm hy vọng của họ là kiễng chân xung quanh chúng ta. Việc hủy bỏ quyền của dân chúng để chi tiêu trực tiếp tiền thuế của chúng ta chỉ là một trong số những câu chuyện kinh dị được lặng lẽ đóng gói vào một quả bom kinh tế-chính trị dán nhãn tốt lành TPP - Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Điều này là một cái siêu kích cỡ và hạt nhân hóa NAFTA , vụ lừa đảo thương mại 1994 qua mặt Quốc hội bởi Bill Clinton, Robert Rubin của phố Wall, và toàn bộ tổ chức doanh nghiệp. Họ hứa rằng "vinh quang toàn cầu hóa" sẽ trút sự thịnh vượng lên khắp đất chúng ta. Họ đã nói láo. Tập đoàn có được vàng. Chúng ta có sự lừa đảo – [B]hàng ngàn nhà máy đóng cửa, hàng triệu việc làm của tầng lớp trung lưu chuyển về phương nam, và kinh tế của hàng trăm thị trấn, thành phố (bao gồm cả Detroit) bị khoét rỗng. Hầu hết người Mexico cũng có thứ NAFTA shafta. Các nhà buôn ngũ cốc như ngô ADM đổ vào Mexico, tiêu diệt hàng triệu kế sinh nhai của nông dân nghèo, và hàng ngàn doanh nghiệp địa phương đã bị nghiền nát khi Walmart xâm lược với hàng hóa Trung Quốc sản xuất của nó.) Hai mươi năm sau, băng đảng tập đoàn làm chúng ta bị mắc kẹt với NAFTA đã quay trở lại, với hy vọng sẽ lừa chúng ta bằng một thỏa thuận đa quốc gia khác thậm chí còn phá hoại hơn. Điều này gợi một trích dẫn bất tử của George W. Bush: . "Fool me once, shame on--shame on you. Fool me--you can't get fooled again." Vâng, bạn biết ông ta có nghĩa Thời gian này, chúng ta thực sự phải chú ý, bởi vì TPP không chỉ là một thỏa thuận thương mại. Đầu tiên, nó là lớn và mở. Nó sẽ đẩy chúng ta ngay lập tức đến 11 quốc gia bờ TBD (Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, và Việt Nam), và cánh cửa của nó sẽ tiếp tục mở rộng để thu hút Trung Quốc, Indonesia, Nga , và các quốc gia khác đến gia nhập!??? Thứ hai, lưu ý rằng nhiều trong số các quốc gia này đã có hiệp định thương mại với Mỹ. Do đó, Thực tế kinh ngạc này: TPP là "thỏa thuận thương mại" chủ yếu không nhằm vào thương mại. Trong thực tế, trong số 29 chương của tài liệu này, chỉ có 5 chương về vấn đề thương mại truyền thống! Hai chục chương khác thực chất là "đối tác" hiểm độc của chủ nghĩa bảo hộ tập đoàn. Chúng tạo ra những "quyền" bao quát mới và thoát khỏi rào cản bảo vệ các tập đoàn đa quốc gia khỏi trách nhiệm đối với chính phủ và đối với dân chúng. Dưới đây là một vài điều khoản TPP sẽ làm cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta rủi ro hơn, nghèo túng hơn, và ít tự do hơn: An toàn thực phẩm. Mọi quy định an toàn thực phẩm của chính phủ (về mức độ thuốc trừ sâu, nhiễm khuẩn, tiếp xúc với phân bón, chất phụ gia độc hại, biến đổi gen, chất độn không ăn được, etc) mà là chặt chẽ hơn các "tiêu chuẩn quốc tế", hầu hết là bị loại bỏ như là "rào cản thương mại bất hợp pháp". Sau đó, chính phủ sẽ phải xem xét lại bảo vệ tiêu dùng của chúng ta phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn toàn cầu yếu kém hơn. Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ không còn có thể cấm nhập khẩu thịt không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn để ăn, miễn là quốc gia xuất khẩu chỉ đơn giản tuyên bố rằng hệ thống kiểm tra của họ là "tương đương" với chúng ta. Hơn nữa, luật ghi nhãn thực phẩm dựa trên phân loại (nguồn gốc hữu cơ, quốc gia xuất xứ, chứng nhận bảo vệ động vật, không biến đổi gen, vv) cũng sẽ bị coi là cản trở như rào cản thương mại. Khí đá. Cơ quan năng lượng sẽ mất quyền điều chỉnh xuất nhập khẩu khí đốt tự nhiên cho bất kỳ quốc gia TPP nào. Điều này sẽ tạo ra một sự bùng nổ quá trình khí đá phá hoại trên khắp đất nước, cả tập đoàn Mỹ và nước ngoài có thể xuất khẩu khí đốt từ Mỹ đến các quốc gia thành viên mà không cần bất kỳ xem xét DOE nào về tác động môi trường và kinh tế đối với cộng đồng địa phương - hoặc lợi ích quốc gia. Nó cũng có nghĩa là hầu hết khí đốt từ quá trình gây ô nhiễm dữ dội này sẽ không đến với chúng ta, mà đến với người nước ngoài, sẽ làm tăng giá tiêu dùng và cắt giảm tăng trưởng sản xuất của chúng ta. Công ăn việc làm. Các tập đoàn Mỹ sẽ nhận được sự bảo vệ đầu tư nước ngoài đặc biệt để hạn chế chi phí và rủi ro di dời các nhà máy của họ sang các nước có mức lương thấp ký kết thỏa thuận này. Ví dụ, một công ty Mỹ nghĩ về việc di chuyển nhà máy sản xuất biết họ được đảm bảo một thỏa thuận ngọt ngào nếu xuất khẩu sang quốc gia TPP như Việt Nam. Công ty có thể ở ngoài pháp luật Việt Nam và yêu cầu bồi thường tại tòa án quốc tế đối với bất kỳ chính sách của chính phủ hoặc hành động nào của chính phủ (chẳng hạn như tăng mức lương tối thiểu) làm hao mòn lợi nhuận "dự kiến" của họ. Bảo đảm này sẽ là sự khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp hành đầu xuất khẩu nhiều hơn công ăn việc làm ra nước ngoài. Giá thuốc. Các ông lớn dược sẽ được trao nhiều năm độc quyền giá cả trên mỗi đăng ký nhãn hiệu của họ và được trao quyền để ngăn cấm các loại thuốc giá rẻ hơn. Bên cạnh việc giữ giá thuốc cao một cách giả tạo, đây sẽ là bản án tử hình đối với nhiều người bị ung thư, HIV/AIDS, bệnh lao và các bệnh có thể điều trị khác trong các vùng đất nghèo khó. Thỏa thuận này cũng sẽ hạn chế quyền của chính phủ để đàm phán với các hãng dược khổng lồ để có được giá tiêu dùng thấp hơn khi mua số lượng lớn, như Medicare và Medicaid thực hiện ở Mỹ. Những gã cho vay nặng lãi. Wall Street đã là kẻ cướp. Nhưng thằng kẻ cướp này được bảo hộ trong TPP: Thỏa thuận công khai ngăn cấm các loại thuế giao dịch có thể làm đóng cửa giới đầu cơ siêu giàu, những kẻ đã nhiều lần gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính và đổ vỡ kinh tế khắp thế giới, nó hạn chế cải cách "bức tường lửa" ngăn cách ngân hàng tiêu dùng với rủi ro từ ngân hàng đầu tư (nghĩa là cấm Quốc hội khỏi khôi phục nhu cầu rất cần thiết với tường lửa như Glass-Steagall), nó có thể đảo ngược cải cách mà chính phủ thông qua để sửa chữa thể chế cực đoan qui định nhà băng, thứ đã gây ra vụ sụp đổ Wall Street năm 2007, và nó tạo ra lối thoát cửa hậu từ luật lệ quốc gia giới hạn qui mô của con vật kếch xù "quá lớn để sụp đổ". Những quy định cực đoan này sẽ có thể được thực thi bởi chính bản thân các nhà băng - TPP trao quyền cho chúng để buộc các chính phủ hoặc phải bãi bỏ luật cải cách hoặc đền bù cho các nhà băng bằng tiền thuế của dân cho "những thiệt hại" mà chúng nói là gây ra do cải cách. Tự do Internet. Nhờ cuộc nổi loạn công khai, hy vọng của tập đoàn khóa và độc quyền trên Internet đã thất bại trong Quốc hội năm ngoái khi thông qua luật đàn áp của chúng "Đạo luật chấm dứt vi phạm bản quyền trực tuyến- Stop Online Piracy Act.". Tuy nhiên, chúng đã lén lút đút hầu hết các quy định SOPA nguy hiểm vào TPP. Nội dung số tập đoàn nghiệp tạo ra, ví dụ, sẽ được bảo vệ bản quyền choáng váng đến tận 120 năm! Thỏa thuận này cũng sẽ biến các nhà cung cấp dịch vụ internet thành tư nhân, Big Brother thành lực lượng cảnh sát, được trao quyền giám sát màn hình "hoạt động người dùng," tùy tiện tải xuống nội dung của người dùng, cắt đứt đường dây người truy cập internet. Trên hết, người sử dụng có thể bị phạt tiền bắt buộc vì sao chép qui mô nhỏ, phi thương mại – như gửi cho mẹ của bạn một công thức làm bánh lấy từ một trang web trả tiền. Dịch vụ công. TPP quy định hạn chế các chính phủ điều chỉnh các dịch vụ công cộng như điện nước, giao thông vận tải, giáo dục, bao gồm cả hạn chế chính sách nhằm đảm bảo sự tiếp cận rộng rãi hoặc phổ biến những nhu cầu thiết yếu. Một quy định đặc biệt quỉ quyệt nói rằng các quốc gia thành viên phải mở lĩnh vực dịch vụ của họ cho cạnh tranh tư nhân, điều đó sẽ cho phép các nhà cung cấp tập đoàn anh đào khoét lợi ích khách hàng và nhấn chìm các dịch vụ công. Ngoài ra, các tập đoàn từ bất kỳ quốc gia TPP nào phải được phép chào thầu cung cấp dịch vụ công tương tự như nhau. Các tập đoàn thống trị nhà nước Lori Wallach, Giám đốc nhóm nghiên cứu Public Citizen's superb research and activist group, Global Trade Watch, đã chính xác khi gọi Đối tác xuyên Thái Bình Dương - Trans-Pacific Partnership, là một “cuộc đảo chính của tập đoàn". Thật vậy, các quốc gia tham gia phải tuân thủ pháp luật và các quy tắc của họ theo cái tròng chật hẹp TPP. TPP lật nhào chủ quyền quốc gia và hủy bỏ quyền tự trị của nhân dân. Tệ hại hơn, nó tạo ra quy tắc thực sự của tập đoàn ngự trị trên mỗi chúng ta - không có ngày hết hạn trên các thỏa thuận, và không có điều khoản nào trong nó có thể thay đổi trừ khi tất cả các nước đồng ý. Vì vậy, ngay cả khi dân chúng bất kỳ quốc gia TPP nào bỏ phiếu trong cuộc bầu cử để thực hiện thay đổi, bất kỳ quốc gia TPP nào khác có thể bác bỏ chúng bằng cách không đồng ý. Vâng, bạn có thể nghĩ rằng, chúng ta vẫn sẽ có tòa án của mình để sửa chữa tình trạng tập đoàn lạm dụng quy định TPP. Hừm!... không. Một trong những chương của TPP tạo ra qui định khỉ đột khổng lồ được gọi là hệ thống "giải quyết tranh chấp nhà đầu tư-nhà nước". Theo cái nghĩa kín đáo, siêu "tòa án" pháp lý này, tập đoàn có quyền kiện chính phủ về môi trường, y tế, người tiêu dùng, phân vùng, hoặc bất kỳ chính sách nào khác mà chúng tuyên bố hoặc là bị tổn hại “quyền” TPP của chúng hoặc bị giảm "lợi nhuận dự kiến trong tương lai" có thể có của chúng. Điều này đôn hàng ngàn các tổ chức tư nhân tìm kiếm lợi nhuận lên tầm cao hơn tình trạng pháp lý quốc gia có chủ quyền. Theo hệ thống nhà đầu tư - nhà nước, một phiên bản nhỏ hơn như thế đã được bao gồm trong NAFTA và các chương trình tự do thương mại khác, cỗ bài được thu xếp vì lợi ích của tập đoàn. Các tình thế đã được quyết định sau những cánh cửa đóng kín bởi các tòa án quốc tế ba người các luật sư tư nhân thường thiên vị rõ ràng về phía tập đoàn. Cùng các luật sư ấy đại diện cho các tập đoàn trong các vụ kiện này chuyển sang vụ khác làm “quan tòa”. Cánh cửa quay thần thánh! Những "tòa án chủ nghĩa này" không có trách nhiệm với bất kỳ cử tri nào, và quyết định chúng là cuối cùng - không có kháng cáo lên một tòa án thực sự nào. Nếu một tập đoàn thắng kiện, người nộp thuế của chính phủ bị kiện thiệt hại, vì họ phải cóp nhặt từng đồng tiền bồi thường cho tập đoàn vì “những mất mát” lợi nhuận hư vô của chúng. Hiện nay, ngay cả trước khi con voi TPP bắt người ta phải chịu, các tập đoàn đang yêu cầu tổng số gần $14 tỷ chỉ trong các vụ kiện theo các thỏa thuận tự do thương mại gồm cả Mỹ. Trong số các tập đoàn khổng lồ hiện tại đang kiện chính phủ ra tòa án nhà đầu tư - nhà nước là (1) Philip Morris (Altria), tấn công chính sách ghi nhãn thuốc lá của Uruguay và Úc, (2) Chevron, cố gắng trốn tránh trách nhiệm của mình đối với sự ô nhiễm độc hại to lớn đến con người và thiên nhiên Amazon của Ecuador, (3) Eli Lilly, đòi Canada viết lại luật đăng ký của mình để mở rộng bảo hộ độc quyền các hãng dược phẩm, và (4) một số công ty đầu tư châu Âu, công kích luật lương tối thiểu của Ai Cập. Hừm!!! Tại sao không thấy la hét, manh động, xuống đường, gọi chó, lê máy chém câu chuyện tin tức và vấn đề chính trị? Bởi vì quyền lực của các tập đòan và giới đầu sỏ chính trị (xin lỗi một lần nữa vì sự rườm rà) chắc chắn không muốn chúng ta nổi xung và om sòm làm chúng bị cản trở, vì vậy bọn chúng đã rúc vào trong chăn để đàm phán với nhau, giữ toàn bộ quá trình bánh mình cho tập đoàn đầu sỏ quốc tế được bí mật. Đàm phán TPP bắt đầu năm 2008 bởi không ai khác hơn là vị tổng thống không thể bị lừa một lần nữa - Bush. (Được rồi, một Bút sít hơn: " I think--tide turning. See, as I remember--I was raised in the desert, but tides kind of--it's easy to see a tide turn." Các phương tiện truyền thông đại chúng thờ ơ đồng lõa, tuy nhiên, media đã chấp nhận câu chuyện che đậy chính thức trên trang bìa rằng, thỏa thuận chỉ là một cái ngáp khác của hiệp định thương mại, vì vậy không phải bận tâm - ngay cả khi 19 vòng đàm phán lén lút đã rít lên dưới tầm media. Obama – kẻ cam kết năm 2008 tránh lén lút, kiểu NAFTA, tập đoàn bán đứng - nhanh chóng đầu hàng kẻ chủ mưu toàn cầu một khi đã lần được vào Nhà Trắng. Nhóm của Obama thúc ép quá trình đàm phán TPP và đã đi đến cực đoan biến nó thành lén lút hơn cả khi Bush đã lén lút. Năm 2010, tất cả các quốc gia tham gia thậm chí đã ký một cam kết chính thức giữ kín chi tiết các cuộc thảo luận trước công chúng - và giữ kín các tài liệu liên quan đến thỏa thuận này cho đến bốn năm sau khi quá trình hoàn tất. Chú ý – cẩn thận té ghế trước khi đọc điều này: Năm ngoái, đại diện thương mại hàng đầu của Obama, Ron Kirk, tuyên bố đóng cửa trước dân chúng là cần thiết, bởi vì các chi tiết của thỏa thuận sẽ làm người Mỹ phẫn nộ và Quốc hội kinh hãi vì nó. Trong ngắn hạn, để giành chiến thắng thông qua TPP, đám người của Obama nói rằng chúng phải giữ kín nó trước công chúng. Quốc hội ở đâu, bạn có thể hỏi? Trong bóng tối. Mặc dù Hiến pháp nói rằng Quốc hội có quyền độc nhất "điều hành thương mại với nước ngoài", Nhà Trắng đã nhiều lần từ chối khá-lịch sự yêu cầu của các nhà lập pháp chỉ đơn giản là tham dự cuộc đàm phán như quan sát viên, và các nhà lãnh đạo quốc hội đã không được phép xem xét, có rất ít quyền xem xét văn bản dự thảo 29 chương của TPP. (Cập nhật: Trong tháng 6, người bạn cấp tiến của chúng tôi, dân biểu Alan Grayson, người đã bền bỉ phản đối quá trình đàm phán bí mật, cuối cùng đã được cho nhìn lén vào bản dự thảo đầy đủ - mặc dù không được phép có một bản sao. "Thật dễ để hiểu. tại sao nó được giữ bí mật,"Grayson nói, khẳng định rằng, "Nó đặt lợi ích tập đoàn lên trước lợi ích người Mỹ." Phe tập đoàn Quốc hội mù tịt, tuy nhiên, 600, hay"kẻ ngoài", lại được chào đón vào trong giúp viết TPP. Họ được lựa chọn cẩn thận các thành viên của 16 Ủy ban Tư vấn Công nghiệp Thương mại - thực tế tất cả họ đều điều hành công ty. Từ AT&T đến nhà máy Zippo, từ đế chế Koch đến các tỷ phú của Walmart, các thế lực tập đoàn được kiểm tra để các nhà đàm phán chính phủ đảm bảo các tài liệu cuối cùng phục vụ lợi ích rất đặc biệt của họ. Ngoài ra, Obama hiện đã đặt một trong những người của riêng mình thay thế Kirk: Michael Froman, một ông bạn cùng lớp Obama trong trường luật và là kẻ bảo trợ của Robert Rubin trong chính quyền Clinton. Hậu Clinton, Froman đi cùng Rubin tới Citigroup, điều đó biến ông ta thành triệu phú Wall Street. Từ đó, ông trở về với Obama trong năm 2004 như một cố vấn chiến dịch Thượng viện và túi tiền (bao gồm cả việc giới thiệu các ngôi sao chính trị đang lên với Rubin). Bây giờ ông ta được đưa vào dây với tất cả các kết nối đến quả bom chủ quyền TPP. Các vị đại diện thương mại mới cuối cùng sẽ áp dụng cam kết của TT Obama năm 2009 "minh bạch, sự tham gia của công chúng, và sự hợp tác" với các cuộc đàm phán trọng này? Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren hỏi Froman câu hỏi này trong tháng 6, đưa ra ba gợi ý cụ thể chiếu một chút ánh sáng lợi ích dân chủ vào quy trình. "Phản ứng của ông Froman là rõ ràng," Thượng nghị sĩ Warren sau đó nói: "Không, không, không." Obama & Co có thể đóng cửa chúng ta khỏi căn phòng, nhưng họ không thể làm xong thỏa thuận đó. Trong khi ông ta muốn kết thúc đàm phán chính thức vào tháng 10, ông ta khi đó phải được sự đồng ý từ Quốc hội. Điều này có nghĩa cầu khẩn cùng các thành viên đã khó nhọc ký tên Mỹ vào tài liệu. Làm thế nào để ông ta có họ làm điều đó? Như Clinton và Bush đã làm trong thúc ép thương mại tự do trước kia, ông ta sẽ cố gắng sử dụng một thủ tục lập pháp cao điểm đột ngột được gọi là "quyền theo đuổi nhanh" trong khi khởi động TPP đồng thời đóng kín các cuộc tranh luận công khai trong mây mù mất lạc hướng của các hãng PR. Nhà Trắng và các đồng minh tập đoàn của mình cũng sẽ cưỡi một chiến dịch vận động hành lang mạnh tay để đẩy gói thỏa thuận của họ thành luật. Tuy nhiên, ngay cả với tất cả bên trên, do không có phương tiện gì để đảm bảo được thông qua - hoặc là có khả năng như thế. Bắt đầu "quyền theo đuổi nhanh". Thuật ngữ rất gợi ý về một công việc đường sắt, mà có lẽ là thích hợp, nó ít được sử dụng, một mánh khóe phản dân chủ để qua mặt quyền bỏ phiếu Quốc hội. Theo thủ tục này, ông Obama được phép ký TPP trước khi Quốc hội biểu quyết. Sau đó, ông t viết "thực hiện dự luật" để biến các luật Hoa Kỳ phù hợp với hàng trăm trang mệnh lệnh TPP. Đó là những gì ông ta gửi lên Quốc hội, nơi không sửa đổi nào được cho phép và các cuộc tranh luận sẽ bị giới hạn nghiêm ngặt. Ý tưởng là buộc các thành viên phải nuốt trôi toàn bộ thỏa thuận này trong một lần vội vã, bỏ phiếu lên hay xuống. Tuy nhiên, Quốc hội, đầu tiên đã cho quyền Nhà Trắng sử dụng thủ đoạn theo đuổi nhanh - và đó là rất không chắc chắn. Các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa đã chứng tỏ họ không sẵn lòng trao mọi thứ cho Obama. Trong khi đó, đảng Dân chủ không có khả năng bôi trơn để cái thỏa thuận hôi hám này trượt qua. Phe dân chúng Nhưng vấn đề cơ bản để thúc đẩy thỏa thuận không phải là thủ tục, mà là nội dung: TPP bốc mùi. Nếu người Mỹ ngửi thấy dù chỉ 1 luồng hơi của nó, họ sẽ bịt miệng. Đúng, tập đoàn sẽ đặt một tấn tiền chẹn sau TPP, nhưng ngay cả họ có thể sẽ không có đủ nước hoa PR để làm cho Quốc hội ôm lấy nó. Cũng có những hội đoàn, được tổ chức tốt, có kiến thức và kinh nghiệm liên minh chính trị rộng rãi, các nhóm cơ sở thực sự đang làm việc ngăn chặn tình trạng lầm lạc này của nguyên tắc quản trị cơ bản Mỹ. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia sẽ cho chúng ta biết rằng họ không thể ngăn chặn được TPP, bởi công chúng không thể hiểu được các giao dịch phức tạp. Vớ vẩn. Đầu tiên, đây không phải là cái gì quá phức tạp, đó đơn giản là tước đoạt quyền lực kiểu cũ của giới lắm tiền nhiều của bề trên thế giới, và dân chúng ngày nay đã còn quyền lợi trong việc trao thêm tiền và quyền cho thế giới 1% nữa. Thứ hai, lực lượng dân túy hiện tại đối kháng TPP đã giành được rất nhiều vụ thắng qua những trận cãi lộn brawls trong quá khứ, bao gồm: Ngăn chặn Clinton đòi hỏi quyền theo đuổi nhanh năm 1998. Làm chệch hướng Hiệp định đa phương về đầu tư năm 1998. Phá hoại sự mở rộng của WTO năm 1999 và một lần nữa năm 2010. Đánh bại Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ (mở rộng 14-quốc gia NAFTA) năm 1999. Ngăn chặn các thỏa thuận thương mại đa quốc gia như AFTA (các nước Andean) và NAFTA với APEC (một nỗ lực trước TPP với 18 quốc gia Thái Bình Dương), SACU (Nam Phi), Malaysia, và Thái Lan. Chúng ta có thể làm điều này. Chúng ta dân chúng có thể bảo vệ quyền dân chủ của mình trước mối đe dọa mới nhất của việc chiếm đoạt của tập đoàn. Cách duy nhất để các Quyền lực có thể giành được chiến thắng là giữ công chúng trong bóng tối những gì là TPP. Vì vậy, bây giờ là thời để Lowdowners rung âm thanh báo động, phổ biến thông tin về Đối tác xuyên Thái Bình Dương - Trans-Pacific Partnership, và thắp ánh sáng ban ngày vào thứ quyền lực họ chơi trước khi nó đến được Quốc hội. Cái bẫy mới của vòng nô dịch cũ: đế quốc-thuộc địa! Jim Hightower and Phillip Frazer http://www.hightowerlowdown.org/node/3402 |
Về Trans-Pacific Partnership, vẫn còn những bài viết khác nữa khá hay:
Stealth Corporate Coup d'Etat, ACTA 2.0 "ACT(A) with a Vengeance" - ACTA 2.0: The Trans-Pacific Partnership. Tác giả tephen Lendman, từng được dẫn nhiều trong này. |
Ngân hàng BRICS: mục đích, phương tiện và chiến lược
Tại hội nghị G20 các quốc gia BRICS (Brazil-Russia-India-China-South Africa) đã đồng ý về hỗ trợ tài chính chung. Các thành viên nhóm 5 chấp thuận thành lập ngân hàng phát triển với vốn điều lệ 50 tỷ USD. Ngoài ra, trù định vốn dự trữ đóng góp 100 tỷ. Mục đích tạo ngân hàng – làm phương tiện đối phó với các đối tác xuyên Đại tây dương hiện đang tập trung cắt giảm chương trình nới lỏng tiền tệ (Quantitative Easing). Các nhà đầu tư phương Tây trong nửa năm qua đã thực sự rút vốn ra khỏi các nước đang phát triển, ảnh hưởng đến chiều hướng của đồng tiền các nước. Một số nhà kinh tế và phân tích cho rằng quyết định của BRICS là còi cọc về qui mô trong phạm vi kinh tế toàn cầu hiện nay không có triển vọng nào là sáng sủa. Như Mr. O'Neill, người đánh vần "BRIK", nhìn chung sẵn sàng bỏ đi 1 ký tự ‘đứa bé’ của mình, có nghĩa gì? Hãy đọc. Patrick Bond của "Daily Maverick" đặt câu hỏi: liệu các nước BRICS có thể bằng cách nào đó góp phần khôi phục lại cấu trúc tài chính thế giới đã hư hỏng? Trong chừng mực nào đó ngân hàng phát triển BRICS, như tuyên bố tại G20, khác biệt gì với những ngân hàng tương tự ở phương Tây? Liệu đứa bé này trong năm tới có thể thách thức tổ chức Bretton-Woods trong thế giới tài chính chao đảo và đổi thay? Sau 70 năm, các chuyên gia lưu ý, World Bank và International Monetary Fund được thành lập để khôi phục hệ thống nhà băng phương Tây sau đại suy thoái và WW-II. Lẽ nào các nước BRICS lại có ý định thay thế Washington và tư tưởng neo-liberal của họ? Tác giả cho rằng điều này không gì hơn là một thuật tu từ hùng biện. 50 tỷ USD tiền vốn của BRICS không thể nào ganh đua với WB. Và 100 tỷ USD vốn góp dự trữ sẽ nhanh chóng cạn kiệt – trong trường hợp khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Tuy nhiên, tổng vốn có thể tăng trong những năm tới. Và tất cả, chúng vẫn còn là rất nhỏ bé trước nhu cầu của thị trường các nước đang phát triển. Kể từ giữa thập kỷ 1990, nhiều quốc gia đã cần đến hàng nhiều tỷ. Nhưng tội lỗi cả trong thông báo thay đổi chính sách của FED. Điều được chờ đợi là FED sẽ kích thích kinh tế một cách ít gượng ép hơn, nghĩa là tiến hành "nới lỏng tiền tệ". Tuyên bố về điều này đã dẫn đến sự tháo vốn “kịch tính” khỏi các thị trường mới nổi, và cũng đã gây ra giảm giá đồng tiền của Nam Phi, Brazil, Nga và đặc biệt là Ấn Độ. Đại diện nhà băng "Goldman Sachs" Jim O'Neill, người mà tháng trước "Wall Street Journal" hỏi ý kiến về từ tắt BRICS xuất hiện đã 10 năm trước, ông ta trả lời thế này: "Nếu như tôi phải thay đổi tên nó, tôi chỉ đơn giản là bỏ đi chữ “K” (China)”. Viết trên tờ "China Daily", các chuyên gia bản địa tiên đoán: BRICS thúc đẩy TQ lên phía trước. Nhà kinh tế Li Dokuy từ trường ĐH Tsinghua thông báo rằng kết thúc chính sách nới lỏng của FED - “là tin tức tốt lành cho đồng yuan", và "khái niệm BRICS có thể biến mất, chỉ còn lại mình TQ gần với các nền kinh tế đang phát triển khác". Theo lời nhà kinh tế Lu Ting của "Merrill Lynch", tác giả của tư liệu sâu hơn khác cho rằng TQ phần nhiều sẽ trụ được trước ảnh hưởng kinh tế xấu bên ngoài vì "thặng dư ổn định của các tài khoản hiện có, nợ nước ngoài thấp, dự trữ lớn, mức dành dụm cao và kiểm soát được dòng vốn”. Do vậy, các nhà phân tích đi đến kết luận, sẽ là có lý để vin vào thái độ hoài nghi về ngân hàng mới BRICS. Và nếu như "cuộc thử nghiệm" BRICS là nhằm vào các yếu tố địa chính trị, thì nền kinh tế thế giới giờ đây đang làm cái việc chống lại sáng kiến BRICS. Syria, nghe trộm NSA, bao gồm cả nghe trộm TT Brazil, và những việc khác nữa – tất cả chỉ là một, chiến lược kinh tế như thế, theo ý tác giả, ở các nước BRICS là không có, đó là điều hoàn toàn khác… Khi "Бизнес-ТАСС" đưa tin tại G20, có một sự chú ý đặc biệt dành cho vấn đề giảm bớt chương trình nới lỏng của FED. Tuyên bố về khả năng kết thúc chương trình này vào cuối năm nay mà Ben Bernanke đã đưa ra hồi tháng 5, đã gây ra rút vốn khỏi các thị trường mới nổi và làm yếu đi đồng tiền của nhiều quốc gia. "Hiện giờ các đối tác của chúng ta đang bắt đầu rời khỏi các biện pháp phi tiêu chuẩn của chính sách tài chính – kinh tế, và điều này có thể ảnh hưởng đến tình trạng rủi ro chủ chốt toàn cầu, động chạm đến kinh tế của những nước khác" - Vladimir Putin nói, nhấn mạnh sự cần thiết "tiếp nhận kịp thời các biện pháp ngăn chặn bổ xung cả ở mức độ quốc gia và cả ở mức độ toàn cầu”. «Сейчас наши партнёры начинают выходить из нестандартных мер финансово-экономической политики, и это может сказаться на состоянии ключевых глобальных рисков, затронуть экономики других стран», — сказал Владимир Путин, подчеркнув необходимость «своевременного принятия дополнительных превентивных мер как на национальном, так и на глобальном уровне». Ở đây, quyết định thành lập ngân hàng phát triển BRICS và đóng góp vốn dự trữ chung của BRICS là biện pháp như thế. Qui mô ban đầu của ngân hàng - 50 tỷ đô la, qui mô góp vốn - 100 tỷ đô la (41 tỷ từ TQ, Nga, Ấn, Brazil 18 tỷ và Nam Phi 5 tỷ). Nhà lãnh đạo Ngân hàng nhân dân TQ Zhou Xiaochuan tuyên bố: "Thành lập vốn dự trữ chung sẽ tạo điều kiện kích thích tăng trưởng kinh tế các nước BRICS và duy trì ổn định hệ thống tài chính thế giới". Tiền sẽ được chi tiêu vào việc gì? Như Tatyana Golovanova của “Tiếng nói nước Nga” chỉ ra, các phương tiện tài chính sẽ được đầu tư vào các dự án hạ tầng của các nước đang phát triển. Vốn đóng góp được hình thành cho mục đích cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô của các nước BRICS. Về thực chất, vốn đóng góp trở thành thay thế cho World Bank và IMF và cần làm giảm ảnh hưởng của đồng đô la lên nền kinh tế khối BRICS, nhà báo Golovanova cho biết. Kể từ tháng 5-2013, vàng và dự trữ ngoại tệ của các nước đang phát triển đã giảm hơn 80 tỷ USD. Bộ trưởng tài chính Nga Anton Siluanov cho rằng, hình thành vốn dự trữ sẽ giúp chuẩn bị đối phó với hậu quả của chính sách mới FED. Sau đó có thể có các quốc gia khác và các tổ chức tài chính quốc tế gia nhập vào ngân hàng. Ngân hàng sẽ cung cấp tín dụng cho các nước BRICS và đầu tư tài chính vào các lĩnh vực thực tế của nền kinh tế: xây dựng hạ tầng và các dự án công nghiệp. Nhưng không chỉ ở trong biên giới BRICS, mà cả ở các quốc gia đang phát triển khác. Cho rằng, những đồng tiền xứng tầm sẽ tạo ra sức thúc đẩy lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Ngân hàng phát triển BRICS sẽ được cấp vốn bởi các nước tham gia, có nghĩa là từ tiền của người đóng thuế, ông Sergey Storchak, thứ trưởng BTC Nga cho biết trong 1 bản tóm tắt ngày 6 tháng 9 vừa qua. "Các thỏa thuận có được ngày hôm nay, dự tính rằng các BTC hình thành ngân hàng vốn BRICS. Đây là tiền ngân sách, tiền của người đóng thuế" – RBC dẫn lời Storchak. Tuy nhiên, vốn dự trữ của BRICS sẽ được định hình theo một cách khác. Theo thứ trưởng, vốn dùng để đáp ứng nhanh chóng những biến động rõ rệt của thị trường tiền tệ. "Phần đóng góp trong vốn sẽ được thực hiện theo tính toán dự trữ quốc tế mà các ngân hàng quốc gia hoặc ngân hàng nhà nước đảm trách", ông giải thích và bổ xung thêm: "Không vô ích khi gọi vốn này là “tiềm tàng”. Nói về thỏa thuận đạt được bởi các NHTW về mặt pháp lý mà trong trường hợp cần thiết có thể linh hoạt cho phép tiến hành hoạt động “tráo đổi”. Theo lời Storchak, đối diện với đồng tiền quốc gia trong trường hợp này cung cấp đô la bằng thành viên góp vốn cho quốc gia quan tâm sẽ được thực hiện. Đề cập đến việc đồng tiền quốc gia các nước BRICS bị mất giá, Roman Markelov của tờ "Российская газета" nhắc lại, viện dẫn lời ông bộ trưởng BTC Nga Anton Siluanov rằng kể từ hồi đầu năm, đồng rub Nga đã yếu đi 7-8%, đồng rupee Ấn Độ 20%, đồng real Brazil - 16%. Bây giờ chúng ta nhìn vào vấn đề với phía TQ, dựa trên quan điểm của Shi Tszyansyunya, giám đốc viện nghiên cứu kinh tế và quản trị của trường ĐH Tuntszi công bố cách đây chưa lâu trên tờ "Nhân dân nhật báo". Tác giả gọi chính sự thành lập ngân hàng BRICS không chỉ là sự kiện kinh tế, mà còn là quyết định thể hiện vị thế chính trị của nhóm các nước thành viên trên vũ đài quốc tế. Ngân hàng – là biểu tượng thống nhất của thế giới các nền kinh tế đang phát triển năng động và là dấu hiệu phát triển của các đất nước có thị trường đang lớn mạnh trong thế kỷ XXI, chuyên gia này cho là như vậy. Tác giả chắc chắn rằng, ngân hàng BRICS sẽ trở thành nền tảng cho sự tiến tới cải tổ các hệ thống tài chính quốc tế sau này bởi 5 nước thành viên: chính các nước BRICS – là những người đi vay chủ yếu của World Bank và cùng với điều đó họ tăng cường đầu tư vào IMF. Trong khi phương Tây nắm vai trò lãnh đạo 2 tổ chức tài chính quốc tế này. Như vậy, mục đích địa chính trị của ngân hàng BRICS là rõ ràng: đối áp với hệ thống tài chính toàn cầu được điều khiển bởi phương Tây, mà trước tiên là Mỹ. Mục đích kinh tế cũng rõ ràng: giúp đỡ lẫn nhau trong khối các nước thành viên, cho vay rộng rãi đối với các nền kinh tế đang phát triển và là "biện pháp phòng ngừa" chống lại những rủi ro toàn cầu liên quan đến những thay đổi chính sách của FED. Bước đầu tiên chưa có nhiều vốn tài chính, như WB hay WB, nhưng bước đầu tiên là đầy táo bạo và rủi ro. Còn nói về chiến lược, ở đây như người ta nói, "tôi muốn được biết chi tiết hơn"… Oleg Chuvakin - topwar.ru http://topwar.ru/33799-bank-briks-ce...trategiya.html |
Cuộc đảo chính quân phiệt Chile 1973 và hoang đường tân liberals về Pinochet
Военный переворот 1973 года в Чили. Неолиберальный миф о Пиночете
Vào buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 1973, lúc 6h20ph TT Chile El Salvador Allende nhận được thông báo về cuộc nổi loạn hạm đội ở Valparaiso. Các tàu hải quân Chile đang trong cuộc tập trận với hải quân Mỹ "Unitas". Một vài trăm thủy thủ và sĩ quan – những người ủng hộ Thống nhất quốc gia đã từ chối ủng hộ bọn nổi loạn, họ bị bắn và ném xác xuống biển. Trong buổi sáng, bọn phiến loạn nổ súng vào bến cảng và thành phố Valparaiso, chúng đổ bộ và chiếm giữ thành phố. Đến 6h30ph, phiến quân bắt đầu đánh chiếm thủ đô. Chúng chiếm được một số cơ sở quan trọng. Đài phát thanh Agrikultura, Mineriya và Balmasedo thuộc cánh hữu, loan báo đất nước có cuộc đảo chính và thành lập Hội đồng quân sự lâm thời. Trong thành phần chính phủ lâm thời, có Augusto Pinochet – cầm đầu lực lượng bộ binh, José Merino – chỉ huy hải quân, Gustavo Li – chỉ huy không quân và Cesar Mendosa. Không quân Chile ném bom phá hủy đài phát thanh Portales và Korporasyon, là nơi ủng hộ Thống nhất quốc gia và TT dân bầu. Máy bay cũng phá hủy 2 tháp truyền hình ở thủ đô Chile. Sự kiện này gợi nhớ 911 cùng ngày tháng ở tòa tháp đôi WTC-Mỹ. Lúc 9h30, đài phát thanh Magalyanes truyền đi thông điệp cuối cùng của TT Allende. Sau đó nó bị ném bom và phiến quân chiếm giữ. Vài chục nhân viên đài phát thanh bị giết chết. Cuộc tấn công vào dinh TT được khoảng 40 người bảo vệ bắt đầu. El Salvador Allende đã từ chối rời khỏi dinh TT và kháng cự cho đến khi không thể. Ông đề nghị tất cả mọi người ra hàng để bảo toàn mạng sống. Còn lại một mình, ông đi vào Hội trường nhân dân và tự sát bằng khẩu súng AK mà người bạn chí tình Fidel Castro tặng. Cuộc đảo chính quân sự chống TT dân bầu El Salvador Allende này do tướng Augusto Pinochet cầm đầu. Nó được lên kế hoạch, chuẩn bị và thực hiện dưới sự điều khiển trực tiếp của CIA. Chương bi thảm Chile bắt đầu! http://topwar.ru/uploads/posts/2013-...lende_1973.jpg |
Cuộc đảo chính quân phiệt Chile 1973 và hoang đường tân liberals về Pinochet
Cái gì là nguyên do đảo chính
Ngày 3 tháng 11 năm 1970, El Salvador Allende Gossens trở thành TT Chile. Ông là tổng bí thư đảng XHCN Chile trước kia, người thành lập ra đảng nhân dân XHCN, liên minh với những người cộng sản thành lập Mặt trận “hành động nhân dân”, sau đó chuyển đổi thành Mặt trận thống nhất quốc gia. Các nhà XHCN, CSCN, các thành viên đảng cấp tiến và Dân chủ Thiên chúa giáo đứng cùng liên minh này. Cuộc bầu cử 1970, Allende bỏ xa và giành thắng lợi lớn trước ứng cử viên đảng Quốc gia. Chương trình kinh tế của Allende quốc hữu hóa hầu hết các công ty tư nhân lớn và các nhà băng, tiến hành cải cách ruộng đất và xung công nhiều tài sản tư nhân. Trong 2 năm đầu chính phủ của Allende đã tịch thu 500 ngàn héc-ta đất, đó là 1/4 đất đai của cả đất nước Chile, tính cả các chính phủ trước đó là 40% đất nông nghiệp. Điều đó gây ra sự chống đối và phá hoại của các chủ đất lớn. Xuất hiện sự căng thẳng với Washington trong việc bảo vệ lợi ích Mỹ. Mỹ cấm vận xuất khẩu đồng của Chile, đó là nguồn xuất khẩu thu ngoại tệ lớn nhất, các tài khoản Chile bị đóng băng. Tín dụng không còn được cung cấp. Nhiều doanh nghiệp Chile bắt đầu chuyển vốn ra nước ngoài, thiếu vốn, công ăn việc làm bị giảm sút, thiếu lương thực 1 cách giả tạo bị tạo ra. Trong năm 1972-1973 các phần tử chống đối Allende cả trong lẫn ngoài tổ chức biểu tình và bãi công số đông. Kẻ khởi xướng là Liên đoàn các chủ vận tải. Tình trạng khẩn cấp được ban bố, TT chỉ thị tịch thu các xe tải nghỉ việc. Tháng 11-1972, chính phủ mới được lập, các tướng lĩnh quân đội chiếm các vị trí quan trọng. Cựu tướng Carlos Prats làm lãnh đạo bộ nội vụ, tướng Ismael Uert – bộ lao động xã hội, tướng Claudio Sepulved – bộ công nghiệp mỏ. Đất nước bị chia rẽ thành 2 phía đối địch, 2 phe chống đối và ủng hộ hình thành. Cần phải nói là cải cách của Alyenda là nhằm mang lại lợi ích trực tiếp cho đông đảo quần chúng. Số nhỏ hơn bị mất mát thiệt hại, hàng chục ngàn việc làm được tạo ra, thất nghiệp giảm, những lĩnh vực lương thấp được tăng lương, mức sống, mức lương tối thiểu được cải thiện. Chính phủ đã phát triển hệ thống trợ cấp và ưu đãi cho số đông, tiến hành dân chủ hóa y tế và giáo dục. Theo lẽ tự nhiên, tất cả điều đó đụng chạm đến các ông chủ lớn, điền trang, tư sản. Họ không muốn nhượng bộ và tự nhiên có đồng minh lớn – nước Mỹ. El Salvador Allende Gossens – con người muốn đưa Chile thoát khỏi cảnh thuộc địa của đế quốc bị các tập đoàn mại bản cướp bóc. Mục đích của Mỹ và cấu trúc quốc gia chuyển tiếp Washington không muốn thấy 1 Cuba thứ 2 ở châu Mỹ Latinh. Allende tiến hành quốc hữu hóa các nhà máy công nghiệp qui mô lớn, và mang lại lợi ích cho dân chúng bằng cải cách ruộng đất. Điều đó có nghĩa là, lợi ích địa chính trị Mỹ - với mong muốn giữ Chile trong vòng quĩ đạo ảnh hưởng, cũng đồng điệu với lợi ích tập đoàn xuyên quốc gia. Người Mỹ đã chống lưng mạnh cho giới chủ lớn ở Chile. Về mặt chiến thuật, tất cả liên quan đến việc phải thay đổi người lãnh đạo đứng đầu Chile, tổng thống cánh tả XHCN dân bầu El Salvador Allende, và đè bẹp cánh tả, xóa bỏ phe XHCN ở Chile. Và cần phải nhanh chóng và cứng rắn, đưa Chile quay lại trong tầm kiểm soát của các tập đoàn xuyên quốc gia và nhà băng. Trả lại các nhà máy bị quốc hữu hóa cho chủ cũ, bao gồm cả các tập đoàn Mỹ. Cần phải chặn đứng cải cách mang đặc điểm XHCN. Về mặt chiến lược, điển hình thành công của Chile XHCN là nguy hiểm cho Mỹ, cho tập đoàn đa quốc gia và các nhà băng ở châu Mỹ Latinh. Họ đã thực sự bị mất mát ở Cuba. Rất nhiều quốc gia Nam Phi đang có phong trào giải phóng thuộc địa và cách mạng lớn mạnh, họ đã không còn chịu đựng được cướp bóc của các tập đoàn xuyên quốc gia và nhà băng. Mỹ và các nước chuyển tiếp đang đối mặt với mất mát nhiều hơn nữa, một phần đáng kể hay thậm chí toàn bộ Mỹ Latinh. Chiến thắng của Allende và cải cách Chile mở ra con đường thẳng tới tuyên bố CNXH trên toàn châu Mỹ Latinh. Rõ ràng Mỹ phải chặn đứng điều đó bằng mọi giá. Đặc biệt là dưới sự ủng hộ của Liên Xô chủ nghĩa Stalin. Nhưng đáng tiếc Mat-xcơ-va đã không dùng KGB và các lực lượng để bảo trợ Allende có hiệu quả. http://topwar.ru/uploads/posts/2013-..._1970-1973.jpg |
Cuộc đảo chính quân phiệt Chile 1973 và hoang đường tân liberals về Pinochet
Cuộc đảo chính diễn ra như thế nào
Hầu hết toàn bộ mô tả cuộc đảo chính Chile 1973 đều nằm trong các báo báo về các hoạt động Chile gửi Thượng viện Mỹ. Theo đó $13 triệu đã được chi cho các tổ chức lật đổ. Người Mỹ đã hành động theo nhiều hướng quan trọng cùng lúc. Tiền được cấp cho các đảng phái đối lập, những kẻ tấn công phong trào cánh tả, mà đầu tiên là Dân chủ Thiên chúa giáo. Tiền cũng được cấp cho các tờ báo đối lập, mà chủ yếu là tờ báo lớn El-Merkurio. Người Mỹ nuôi phong trào bãi công. Đặc biệt là phong trào bãi công của giới chủ vận tải năm 1972-1973 đã làm đình đốn kinh tế Chile (khi Liên đoàn vận tải vận chuyển đến 80% hàng hóa đất nước). Tiền bạc cũng đến với các nhóm khủng bố cánh hữu như "Patria and Lebertad" (có nghĩa là đất mẹ và tự do). Áp lực đè nặng lên chính phủ Chile bằng cách trì hoãn cung cấp tín dụng, cả cho khối doanh nghiệp và cả ở cấp chính phủ. Vũ khí được cung cấp cho các nhóm khủng bố. Cuộc bầu cử Chile năm 1970, $0,5 triệu được chi để chống lại Allende. Ngày 7 tháng 9 1973 đại sử Mỹ ở Chile Nathaniel Davies vội vã bay về Washington. Hắn ta họp kín cùng Henry Kissinger và quay lại Santiago ngày 9-9. Đại sử Chile tại Mexico Hugo Vigoren cho biết một vài ngày sau cuộc đảo chính đã nhìn thấy tài liệu của điệp viên CIA, trong đó trình bày kế hoạch lật đổ Allende ("the Plan Centaur"). Cần phải nói là Allende hầu như đã đánh mất các chỗ dựa quan trọng. Tháng 8-1973, giới quân sự do Pinochet cầm đầu đã tổ chức khiêu khích chống lại tướng Carlos Prats, người nắm vận mệnh của chính phủ Thống nhất quốc gia. Prats đã từ chức. Và Allende đã bổ nhiệm chính Pinochet thay thế vị trí của Prats. Ngày 23 tháng 8, Prats viết trong nhật ký: "Sự nghiệp của tôi đã hết. Không nói quá về vai trò của mình, tôi cho rằng, tôi sẽ rời khỏi chức vụ - khúc dạo đầu của cuộc đảo chính nhà nước và phản bội nghiêm trọng… Bây giờ chỉ còn chờ ấn định ngày đảo chính…”. Các sự kiện đảo chính có nói về khả năng của Prats khi CIA cho loan tin đồn (một dạng tâm lý chiến). Ở Santiago tin đồn về đội quân do tướng Prats cầm đầu và những người tình nguyện đang tiến về thủ đô để hỗ trợ TT, thực ra là Prats đã bị giảm lỏng tại nhà. Hậu quả là những người ủng hộ Allende ở Santiago vui lòng chờ đợi “lực lượng tăng cường” và bỏ lỡ thời cơ tự tổ chức lực lượng. Phe đảo chính thì tránh đối đầu qui mô lớn. Tại sao Allende đã quá mất cảnh giác? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, El Salvador Allende hiểu mối nguy hiểm đảo chính khi chính mình thuộc về hàng ngũ quí tộc Chile và là hội viên Tam điểm(mason, ông thú nhận điều này). Theo đạo lý Tam điểm, không được phép đụng đến "người của mình". Pinochet cùng là hội viên, và do đó không thể chống lại “người anh em”. Tuy nhiên, Allende rõ ràng đã nhầm lẫn. Tam điểm không có ngôi vị cao nhất trong thứ bậc phương Tây. Hành động của Allende làm nguy hại đến Mỹ, đến tập đoàn đa quốc gia và do đó ông đã bị tuyên án. Những mưu toan hòa bình – bằng bầu cử, bãi công, không làm cho ông bị đổ, do đó chúng đã đi đến những biện pháp cuối cùng. "Patria and Libertad". Ngày 30-7-1971, TT Richard Nixon thay đại sứ ở Chile Eda Corrie bằng N. Davies, kẻ được biết đến là chuyên gia “các quốc gia cộng sản”. Davies trong giai đoạn 1956 - 1960 làm lãnh đạo Ủy ban về Liên Xô ở Bộ Ngoại giao Mỹ, hắn cũng từng làm đại sứ ở Bulgaria và Guatemala. Ở Guatemala hắn được gọi bằng cái tên “bố già”, “bàn tay đen” - các tổ chức bán vũ trang, hoạt động có tổ chức và tiến hành khủng bố chống các đại diện phong trào cánh tả. Bên cạnh đó, Davies được cho là kẻ đã lập ra tổ chức gián điệp phụ trợ "World Case", ngay khi bắt đầu đảo chính, World Case đã cho tuồn vào Chile cả trăm tên tay chân. Hoạt động của tổ chức này ngang nhiên đến nỗi, năm 1969 nghị sĩ Luis Figueroa, chủ tịch Liên đoàn lao động Chile đã phải kết tội chúng hoạt độn gián điệp. Một ví dụ khác của “bàn tay đen”, ngày 10-9-1970, CIA thành lập ở Chile phong trào "Patria and Libertad" do Pablo Rodriguez làm cựu thủ lĩnh. Phong trào này dùng để đối đầu với Allende. Nhóm chiến binh của phong trào được chuẩn bị và huấn luyện kỹ năng bắn súng và chiến đấu tay không. Roberto Temye là thủ lĩnh của nhóm này. Bên cạnh đó, chúng cũng chuẩn bị các doanh trại bên ngoài Chile. Thường là ở gần thị trấn Vyach, cách La Paz 30 km. Cựu thiếu tá Chile Arturo Marshall cầm đầu nhóm này. Số các tay súng lên đến 400 tên. Trong các thủ lĩnh Patria and Libertad, Ivan Feldes là 1 kẻ nổi bật. Hắn chịu trách nhiệm về thông tin liên lạc. Hắn đem vào Chile các thiết bị cho phép chặn bắt liên lạc mã hóa của các lực lượng quân sự Chile và có khả năng làm tê liệt mọi kênh thông tin trong nước. Chủ tịch Hiệp hội phát triển công nghiệp Orlando Sáez và chủ đất lớn Benjamin Matta, đại diện Hiệp hội nông nghiệp quốc gia, bảo trợ Patria and Libertad, who represented the National Association of Agriculture . Nhóm phiến quân “tự do” hoạt động với sự cộng tác gần gũi với các phần tử tội phạm. "Patria and Libertad" tổ chức các vụ nổi loạn đường phố, tấn công vào các công sở, trường học, trụ sở đảng XHCN và đảng cộng sản, chúng nhằm vào các nhà báo bày tỏ ủng hộ Thống nhất quốc gia. Chúng sắp đặt các vụ khủng bố công khai. Ngày 17-6-1973, chúng nã súng máy vào trụ sở đảng CS ở Nunyoa, trụ sở đảng XHCN ở Barrankas. Ngày 20-6, chúng đặt bom nổ tung đài truyền hình quốc gia ở Santiago. Ngày 26-6, chúng đốt cháy tòa nhà công quyền ở Santiago. Những vụ “tai nạn” như thế xảy ra hàng ngày: bắn phá, đặt bom, tấn công, đốt nhà… và cứ thế. Các nhóm phá hoại làm nổ tung các cây cầu, đường sắt, trạm điện và các công trình quan trọng. Mất điện làm máy điều hòa không chạy được, ngành công nghiệp lạnh dừng hoạt động làm cả nước mất đến phân nửa rau quả trữ lạnh. Thông tin liên lạc giữa các tỉnh tê liệt vì phá hoại có chủ ý. Các lái xe chở hàng đến các khu vực bị chặn bắt, đánh đập và giết chết. Tình cảnh cả nước Chile bị đặt vào trước giờ “X”. Ngày 29-6, các tay súng “tự do” tiến hành một cuộc tập dượt thực sự cho cuộc đảo chính đến gần. Buổi sáng ở Santiago xuất hiện một số chiếc xe tăng Sherman, xe bọc thép, xe tải và binh lính của trung đoàn thiết giáp số 2 trên đường phố. Chúng tiến đến Quảng trường Bulnes, 1 chiếc nã đạn vào dinh TT, những chiếc khác hướng đến trụ sở Bộ quốc phòng. Chúng dừng lại ở mặt trước, leo lên lối vào cầu thang, bắn vào các cánh cửa và nã đạn vào tiền sảnh. Cuộc nổi loạn bị chặn lại vào buổi chiều. Cuộc điều tra cho thấy đứng sau cuộc nổi loạn này là " Patria and Libertad". Pinochet là bình phong, một mặt tiền để che chắn kẻ tổ chức thực sự là các chuyên gia lật đổ CIA. Mọi manh mối đều dẫn đến Hội đồng an ninh quốc gia – Mỹ mà kẻ đứng đầu chỉ đạo là Henry Kissinger. Kẻ chịu trách nhiệm phá hoại và bóp nghẹt kinh tế Chile là Dean Roish Hanton. Năm 1971 hắn được bổ nhiệm phó chủ tịch Ủy ban chính sách kinh tế quốc tế. Hanton cùng với N. Davies tổ chức các nhóm “phản cách mạng” ở Guatemala. Tham gia tổ chức còn có Harry U. Shlaudeman là công sứ thứ 2 của sứ quán Mỹ ở Chile. Trước đó hắn làm việc tại Bogota, Bulgaria, Dominican Republic. Và rất nhiều những kẻ khác nữa can dự: Daniel Arzak, James E. Anderson, Delon B. Tipton, Raymond Alfred Uorren, Arnold M. Isaaks, Frederick U. Latrash, Joseph F. Makmanus, Kate Uillok (hắn tổ chức và điều khiển "Patria and Libertad"), Donald Uinters, v, v. TT Allende rõ ràng đã biết đảo chính sẽ xảy ra từ rất sớm. Nhưng thế lực bọn chúng quá mạnh và không thể làm gì được để đảo ngược tình hình. |
Cuộc đảo chính quân phiệt Chile 1973 và hoang đường tân liberals về Pinochet
Hoang đường tân liberal về Pinochet
http://topwar.ru/uploads/posts/2013-...edabombing.jpg Dinh tổng thống "La Moneda" bị ném bom trong cuộc đảo chính Chile 1973 Các quân đoàn WB và IMF xâm lăng ra toàn cầu, chúng rất cần một ví dụ sinh động, hiển nhiên Chile được bơm thổi, xuyên tạc thành phép màu, kỳ tích kinh tế Chile. Cùng một kịch bản như Nam Mỹ diễn ra ở khắp nơi, cuộc thí nghiệm Chile lại đi lặp lại ở Nam Mỹ, Nga và Đông Âu, châu Á... Trong những năm hệ tư tưởng liberal ngự trị ở Nga, hoang đường về sự cai trị tử tế Pinochet và phép màu nhiệm kinh tế, kỳ tích Chile bắt đầu. Sự thực, Pinochet lên nắm quyền, cũng chỉ là bù nhìn Mỹ, ông ta chấp nhận ý tưởng thí nghiệm Chicago boys, cũng giống như liberal Igor Gaidar theo đuổi “Liệu pháp sốc” ở Nga sau này. Tất cả cùng 1 kiểu. Thực sự, chẳng có kỳ tích hay phép màu nhiệm nào ở Chile, cũng như ở Nga thập kỷ 90. Ngay cả khi Pinochet đã thoái vị, và cho đến tận ngày nay, Chile (cũng như Nga) vẫn đang vật vã với gánh nặng quá khứ để lại. Chile là quốc gia đầu tiên, được đem ra thử nghiệm “Chicago boys” – ý tưởng mờ ám của “nhà kinh tế đoạt giải Nobel lỗi lạc” năm 1976 Milton Friedman. Chicago boys là một nhóm 30 người Chile đã nghiên cứu kinh tế tại Trường Chicago từ năm 1955 đến năm 1963. Trong quá trình nghiên cứu sau đại học, chúng đã trở thành môn đệ của Milton Friedman, và trở lại Chile để truyền bá trọn vẹn ý tưởng lý thuyết thị trường tự do. Đến cuối năm 1974, chúng đã thăng tiến lên các vị trí quyền lực trong chế độ Pinochet, kiểm soát hầu hết các cơ quan lập kế hoạch kinh tế. Chương trình “Chicago boys" được triển khai theo lối tiếp cận chủ nghĩa tiền tệ (mọi chương trình của IMF đều theo cách này). Chủ nghĩa tiền tệ nhìn nhận gốc rễ của mọi bất ổn là do có quá nhiều tiền lưu thông, từ chính sách "đồng tiền rẻ" của nhà nước và sự phát hành thiếu chừng mực đồng tiền gây ra lạm phát. Vì thế để “tăng cường” kinh tế, họ đề nghị giảm lượng tiền lưu thông bằng cách xiết chặt tín dụng và chính sách ngân quĩ chặt chẽ. Giảm thâm hụt đầu tư ngân sách bằng cách cắt giảm các chương trình nhà nước, bao gồm cả chi tiêu cho an sinh xã hội, đầu tư và trợ cấp. Khi được áp dụng, chính sách này làm giảm mạnh chi tiêu. Trong khi cả 3 nhân vật lịch sử: Roosevelt, Stalin và Hitler đều giành được những thành côn lớn lao về kinh tế, đều đưa một lượng tiền khổng lồ vào phát triển cơ sở hạ tầng đất nước. Chủ nghĩa tiền tệ đề nghị cắt giảm tiêu dùng bằng cách giảm lương hoặc đóng băng lương. Bên cạnh đó biện pháp này làm giảm chi phí sản xuất. Trong khía cạnh ngân hàng – chính sách “đồng tiền đắt” tăng lãi suất. Giảm giá đồng tiền quốc gia, giảm phát hành tiền tệ. Hạn chế kiểm soát giá cả và ngoại thương. Chile đã giảm lương, giảm số người nhận lương trong lĩnh vực công, bãi bỏ trợ cấp, cắt giảm chi tiêu giáo dục y tế . Thiếu hụt ngân sách được bù đắp bằng tín dụng IMF. Phát hành tiền tệ được đưa đến gần con số 0. Hơn 1/3 dân chúng bị ném vào nghèo đói. Có sự phụ thuộc mạnh giữa nghèo đói và bất bình đẳng xã hội. Ví dụ, giám đốc công ty làm giấy và bìa nhận lượng 4,5 triệu peso một năm, còn y tá – 30 ngàn peso một năm (chênh lệch 150:1). Về mặt kinh tế, Chile giống như thuộc địa cũ, phụ thuộc nguyên liệu vào phương Tây. Nợ nước ngoài trên thực tế làm họ mất độc lập quốc gia. Trong 2 thập kỷ, Chile đã rơi xuống hố nợ: $3 tỷ năm 1973 lên đến $17 tỷ năm 1982 và $21 tỷ năm 1993. Dưới nền kinh tế quốc dân bị đặt “quả bom” ở dạng giảm mạnh đầu tư nhà nước phát triển hạ tầng (thông tin liên lạc, đường điện, trường học, bệnh viện). Từ 1973 đến 1982, chỉ số phát triển hạ tầng giảm xuống 22%. Thực tế, năm 1973 Chile vượt Mỹ Latinh về phát triển điện năng 50%, trong 20 năm sau điện năng chỉ tăng 1%. Nền kinh tế quốc dân thiếu đầu tư trong lĩnh vực này là một trong những đặc điểm của chương trình “ổn định” tân liberal (mà thực ra là suy thoái ổn định). Đó là quả bom hạt nhân đặt dưới nền kinh tế. Rất nhiều quốc gia cùng nằm trong cái bẫy như thế, kể cả Nga và Ukraina. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Steve Kangas
http://imperium.lenin.ru/LENIN/29/pinochet.html http://www.rrojasdatabank.info/econom~1.htm Tóm tắt: Vậy, những gì đã được ghi nhận về toàn bộ chế độ Pinochet? Từ năm 1972 đến năm 1987, GDP trên đầu người giảm 6,4%. (13) Tính với giá đô la 1993, thu nhập bình quân đầu người của Chile là hơn $3600 năm 1973. Thậm chí cho đến tận cuối năm 1993, cho dù là có phục hồi, thì cũng chỉ còn $3170. (14) Chỉ có năm nước Mỹ Latinh có GDP đầu người tồi hơn trong thời kỳ Pinochet (1974-1989). (15) và những kẻ biện hộ cho thí nghiệm của Trường Kinh tế Chicago gọi đây là một "kỳ tích kinh tế." Nhiều người thường tự hỏi lập ra một quốc gia chỉ dựa duy nhất trên niềm tin chính trị và kinh tế sẽ giống như thế nào. Hãy tưởng tượng: không có phe đối lập, không có đối thủ chính trị, không có thỏa hiệp đạo đức. Chỉ là một "nhà độc tài nhân từ", nếu bạn muốn, thiết lập một xã hội theo những lý tưởng của bạn. Trường Kinh tế Chicago đã có cơ hội như thế 16 năm ở Chile, trong điều kiện gần như phòng thí nghiệm. Từ năm 1973 đến năm 1989, một nhóm kinh tế của chính phủ được đào tạo tại Chicago đã hủy diệt hay ít nhất phân ly nhà nước Chile đến tận cùng mà chúng có thể. Chương trình của chúng bao gồm tư nhân hóa phúc lợi và các chương trình xã hội, bãi bỏ kiểm soát thị trường, tự do hóa thương mại, chống lưng nghiệp đoàn thương mại, viết lại hiến pháp và luật pháp theo ý mình. Và chúng đã làm tất cả điều này trong khi vắng mặt tổ chức cánh tả chúng ghét nhất: dân chủ. Kết quả là chính xác như những gì liberals dự đoán. Nền kinh tế của Chile trở nên “ổn định” hơn bất kỳ nước Mỹ Latinh nào khác, luân phiên thử nghiệm đâm đầu xuống và ngóc cổ dậy. Một khi tất cả các hành vi thất thường này được lấy trị số trung bình, thì hóa ra, tốc độ tăng trưởng của Chile trong thời gian 16 năm này là chậm nhất trong tất cả các quốc gia châu Mỹ La tinh. Tệ hơn nữa, sự bất bình đẳng thu nhập tăng mạnh. Phần lớn lao động thực sự thu nhập vào năm 1989 ít hơn so với năm 1973 (sau khi điều chỉnh lạm phát), trong khi thu nhập của giới nhà giàu tăng vọt. Thiếu bóng điều tiết thị trường, Chile cũng đã trở thành một trong những nước bị ô nhiễm nặng nề nhất Mỹ Latinh. Và đất nước Chile thiếu bóng dân chủ thì chỉ còn lại đàn áp đối lập chính trị và công đoàn lao động dưới một triều đại khủng bố và vi phạm nhân quyền phổ biến. Thế nhưng, điều hài hước là phe bảo thủ đã phát triển tài liệu biện hộ Chile như một câu chuyện thành công to lớn, như phép màu nhiệm kinh tế Chile. Năm 1982, Milton Friedman nhiệt tình ca ngợi độc tài Pinochet vì "đã ủng hộ nền kinh tế hoàn toàn thị trường tự do như một vấn đề nguyên tắc. Chile là một phép màu kinh tế." (1). Tuy nhiên, số liệu thống kê dưới đây cho thấy điều này là bịp bợm. Chile là một sự thất bại bi thảm của nền kinh tế cánh hữu, và độc tài Pinochet. Người dân Chile vẫn đang phải trả cái giá này cho đến tận ngày hôm nay. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Lịch sử Chile và "Chicago boys"
http://topwar.ru/uploads/posts/2013-...het_junta2.jpg Augusto Pinochet, người đứng giữa cùng các tướng lĩnh của ông ta Thật không may, Chile đã thành nơi làm thí nghiệm cách mạng trong hơn 30 năm đến nay. Từ 1964 đến 1970, Tổng thống Eduardo Frei đứng đầu một "cuộc cách mạng tự do". Năm 1970 đến năm 1973, Salvadore Allende dấn thân vào "con đường Chile đến chủ nghĩa xã hội". Năm 1973 đến năm 1989, Tướng Augusto Pinochet và chế độ quân phiệt của ông ta tiến hành “cuộc cách mạng thầm lặng" (được gọi thế là bởi thị trường tự do lặng lẽ mang lại sự thay đổi xã hội mạnh mẽ). Sau năm 1990, Chile quay trở lại nền dân chủ, nhưng là một quãng đường dài hồi phục từ các thí nghiệm. Xuất khẩu chính của Chile với thế giới là đồng, và Mỹ từ lâu đã quan tâm đến nó. Vào những năm 1960, các công ty Mỹ đã đầu tư rất mạnh vào các mỏ đồng Chile mà chúng sở hữu hầu hết trong số đó. Khi nhà cải cách bảo thủ Eduardo Frei trở thành tổng thống năm 1964, ông đã cố gắng để quốc hữu hóa các mỏ đồng, nhưng không có kết quả - ông gặp sự chống đối gay gắt từ cộng đồng doanh nghiệp. Năm 1970, Salvadore Allende trở thành nhà Mác xít đầu tiên được bầu làm tổng thống dân chủ ở Tây bán cầu. Trong quá trình cải cách xã hội chủ nghĩa sâu rộng của mình, ông đã quốc hữu hóa không chỉ các mỏ đồng, mà cả nhà băng và các tài sản nước ngoài khác. Cùng với sự phân bố lại đất đai theo cải cách ruộng đất, cùng những hành động thù địch sâu sắc cộng đồng doanh nghiệp Chile và cánh hữu. Vấn đề bây giờ, như ghi chép của lịch sử, là CIA đã giúp tổ chức ra phe đối lập phản đối Allende. Một chiến dịch lớn các cuộc đình công, bất ổn xã hội và lật đổ chính trị khác theo sau. Tháng 9 năm 1973, CIA giúp Pinochet phát động một cuộc đảo chính quân phiệt, trong đó Allende đã bị giết chết. Chính phủ Pinochet tuyên bố ông tự tử; người ủng hộ nói ông bị sát hại. Chính phủ mới ngay lập tức bắt đầu tư nhân hóa các doanh nghiệp Allende đã tịch thu, cũng như đảo ngược những cải cách xã hội chủ nghĩa khác của Allende. Nhưng Pinochet đã không có kế hoạch kinh tế của riêng mình, và đến năm 1975 lạm phát tăng cao đến 341%. Một nhóm kinh tế gọi là "Chicago boys" bước vào giải quyết khủng hoảng. Chicago boys là một nhóm 30 người Chile đã nghiên cứu kinh tế tại Trường Chicago từ năm 1955 đến năm 1963. Trong quá trình nghiên cứu sau đại học, chúng đã trở thành môn đệ của Milton Friedman, và trở lại Chile để truyền bá và thực hành trọn vẹn lý thuyết thị trường tự do. Đến cuối năm 1974, chúng đã thăng tiến lên các vị trí quyền lực trong chế độ Pinochet, kiểm soát hầu hết các cơ quan lập kế hoạch kinh tế. Sắp đặt là một điều mới trong lịch sử chính phủ. Mặc dù là một độc tài, Pinochet giao lĩnh vực kinh tế cho Chicago boys, vai trò duy nhất của ông ta là đàn áp đối lập chính trị và lao công phản đối chính sách của chúng. Sự sắp đặt này được trình bày cho dân chúng Chile như việc loại bỏ các chính trị gia và chính trị khỏi các vấn đề quốc gia. Thay vào đó, các kỹ trị với bằng tiến sĩ sẽ vận hành nền kinh tế theo lý thuyết tốt nhất hiện có. Những lý thuyết này, tất nhiên, là những lý thuyết "tân tự do - neoliberal" của Milton Friedman. Khoa học lý trí sẽ quyết định chính sách - không phải những khẩu hiệu chính trị và dân chủ lộn xộn. Tháng 3 năm 1975, Chicago boys đã tổ chức một hội thảo kinh tế nhận được sự chú ý của phương tiện truyền thông quốc gia. Tại đây chúng đề xuất một chương trình thắt lưng buộc bụng triệt để - "liệu pháp sốc", như chúng gọi nó - để giải quyết khủng hoảng kinh tế Chile. Chúng mời một số nhà kinh tế hàng đầu thế giới phát biểu tại hội nghị, trong đó có giáo sư Chicago Milton Friedman và Arnold Harberger. Không ngạc nhiên, chúng đưa ra đề xuất mà tự chúng đánh giá cao nhất. Kế hoạch kêu gọi giảm đáng kể việc cung ứng tiền bạc và chi tiêu chính phủ, tư nhân hóa các dịch vụ chính phủ, bãi bỏ quy mô lớn điều tiết thị trường, và tự do hóa thương mại quốc tế. Điều này là không chỉ là duy nhất trong kế hoạch Chicago boys. Chúng cũng được xây dựng bởi WB và IMF, là những kẻ lập ra chương trình với một điều kiện tiên quyết cho các khoản vay trong tương lai đối với Chile. IMF và WB đã đề ra điều kiện tương tự như của các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới, nhưng không ai thực hiện chương trình của chúng kỹ lưỡng và đầy đủ như Chile. Điều hài hước là, WB hiện giờ lại đôn Chile thành một ví dụ tiêu biểu để phần còn lại của thế giới thứ ba noi gương. Xem xét khoản nợ và lãi khổng lồ của Chile trả cho WB, chẳng khó khăn gì để thấy lý do tại sao. Nợ nần, tàn phá, bất bình đẳng và bóc lột mà WB và IMF đem đến đến cho các nước thế giới thứ ba dưới cái tên "phát triển tân tự do" bản thân nó là một câu chuyện khác. Brazil và Peru là hai ví dụ đáng chú ý khác nữa - nhưng hậu họa ở Chile vẫn là tồi tệ nhất. Một thời gian ngắn sau hội nghị 1975, chính phủ Chile khởi xướng chương trình phục hồi kinh tế (ERP- Economic Recovery Program). Giai đoạn đầu của liệu pháp sốc đã giảm lượng cung ứng tiền và chi tiêu chính phủ, điều đó đã thành công trong việc cắt giảm lạm phát ở mức chấp nhận được. Tuy nhiên, nó cũng gây ra tình trạng thất nghiệp tăng cao 9,1-18,7% từ năm 1974 đến năm 1975, một con số ngang bằng với cuộc Đại suy thoái ở Mỹ. Sản lượng giảm 12,9% - tạo ra cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất ở Chile kể từ năm 1930. (2) Trong khi đó, để ngăn chặn những hậu quả chính trị của một cú sốc như thế, Pinochet bắt đầu đàn áp các nhà lãnh đạo đối lập. Nhiều người chỉ đơn giản là "biến mất." Các vi phạm nhân quyền của chế độ Pinochet sẽ được xem xét, nhưng đủ để nói, người lao động phải "chấp nhận" chương trình thắt lưng buộc bụng này bằng súng. Đến giữa năm 1976, nền kinh tế bắt đầu hồi phục, và 1978-1981 nó đã đạt được cái mà Chicago boys gọi là "kỳ tích kinh tế". Trong giai đoạn này nền kinh tế đã tăng trưởng 6,6%/năm. (Để so sánh, nền kinh tế Mỹ thường phát triển 2,5%/năm). Chicago boys đã dỡ bỏ gần như tất cả các hạn chế về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo ra "các gói bảo lãnh hầu như hấp dẫn không thể cưỡng lại được cho các nhà đầu tư nước ngoài” và các “cho phép đặc biệt”. (3) Đầu tư và các khoản vay nước ngoài đổ vào Chile, và các khoản vay đã tăng lên gấp ba lần giữa năm 1977 và năm 1981. (4) Trong số 507 doanh nghiệp nhà nước thiết lập trước hoặc trong nhiệm kỳ tổng thống Allende, Chicago boys loại bỏ hoặc tư nhân hóa gần như tất cả chỉ còn lại 27. (5) … Những gì đã xảy ra được coi là "kỳ tích kinh tế" Chile - nhân công bị sa thải trở lại công việc cũ của họ. Khi lấy cả hai cuộc suy thoái và phục hồi vào để tính, Chile thực sự có tốc độ phát triển tồi tệ thứ 2 ở Mỹ Latinh trong giai đoạn 1975-1980. Chỉ có Argentina là tồi tệ hơn. (6) Và thậm chí khi đó, phần lớn tăng trưởng của Chile là giả tạo hoặc hư cấu. Giữa năm 1977 và năm 1981, 80% tăng trưởng của Chile là trong các lĩnh vực phi sản xuất của nền kinh tế, như tiếp thị và dịch vụ tài chính. Phần lớn điều đó là do thu hút đầu cơ vào Chile với lãi suất cao phi thường, trong đó, cao đến 51% năm 1977, và cao nhất thế giới. (7) Hội nhập của Chile vào thị trường thế giới để lại cho nó dễ bị tổn thương trước các lực lượng thị trường thế giới. Suy thoái kinh tế tế giới, tấn công vào Chile năm 1982 đặc biệt nặng nề, nặng nề hơn bất kỳ quốc gia Mỹ Latinh nào khác. Không chỉ vốn và thị trường nước ngoài khô kiệt, mà cả Chile đã phải trả lãi suất cao đến tận trời cho các khoản vay liên miên. Hầu hết các nhà phân tích chia thảm họa Chile cho cả những cú sốc bên ngoài và chính sách kinh tế hỏng hóc sâu sắc của Chile. Đến năm 1983, nền kinh tế của Chile đã bị phá hủy, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đến 34,6% - còn tồi tệ hơn cuộc Đại suy thoái Mỹ. Sản xuất công nghiệp tụt giảm 28%. (8) tập đoàn tài chính lớn nhất đất nước đã rơi tự do, và lẽ ra đã sụp đổ hoàn toàn nếu không có cứu trợ lớn từ nhà nước. (9) Chicago boys đã chống lại biện pháp này cho đến khi tình hình trở nên nghiêm trọng đến nỗi chúng không thể né tránh được nó. IMF cung cấp khoản vay mới để giúp Chile thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng của mình, nhưng với các điều kiện nghiêm ngặt. Chile đã phải bảo lãnh bộ khoản nợ nước ngoài của mình - một tổng số đáng kinh ngạc là 7,7 tỷ USD (dân số Chile chỉ 15 triệu). Tổng gói cứu trợ chiếm mất 3% GNP của Chile mỗi ba năm. Các chi phí này bị chuyển cho người nộp thuế. Thật thú vị khi lưu ý rằng khi nền kinh tế đang phát triển, các công ty có lợi nhuận bị tư nhân hóa, khi những công ty này thất bại, chi phí cứu trợ chúng được xã hội hóa. Trong cả hai trường hợp, những kẻ giàu có đã được cứu. (10) Sau khi các khoản vay của IMF được thông qua, kinh tế bắt đầu phục hồi năm 1984. Một lần nữa, nó có mức tăng trưởng đặc biệt cao, trung bình khoảng 7,7% từ 1986 đến 1989. (11) Tuy nhiên, như chu kỳ trước, điều này chủ yếu là do tăng trưởng thực tế, không phải tăng trưởng tiềm năng. Năm 1989, GDP bình quân đầu người vẫn còn thấp dưới năm 1981 6,1%. (12) Vì vậy, kỷ lục cho toàn bộ chế độ Pinochet là gì? Từ năm 1972 đến năm 1987, GDP tính trên đầu người giảm 6,4%. (13) Theo thời giá đô la năm 1993, GDP bình quân đầu người Chile là hơn $3600 năm 1973. Thậm chí cho đến tận cuối năm 1993, tuy đã đã phục hồi chỉ còn $3170. (14) Chỉ có năm nước Mỹ Latinh có GDP đầu người kém hơn trong thời kỳ Pinochet (1974-1989). (15) và những kẻ biện hộ kế hoạch Chicago gọi đây là một "phép lạ kinh tế!" Thống kê tổng hợp có vẻ tốt hơn. Từ năm 1970 đến năm 1989, tổng GDP của Chile đã tăng mờ nhạt 1,8-2,0% một năm. Đó là chậm hơn so với hầu hết các nước Mỹ Latinh khác, và chậm hơn so với kỷ lục của chính Chile những năm 60. (16) Với nền kinh tế bùng nổ trong năm 1988, chính phủ Chile cảm thấy an toàn để tôn vinh nhu cầu một nhiệm kỳ mới: một cuộc bỏ phiếu có/không xác nhận Pinochet thêm 1 nhiệm kỳ lãnh đạo 8 năm nữa. Nhưng sự tự tin của chính phủ hóa ra là tự lừa dối mình, và Pinochet bị mất phiếu bầu. Điều đó dẫn đến cuộc bầu cử công khai hơn năm 1989. Các phe phái đối lập bị phân mảnh thống nhất nhau lại để đánh bại Pinochet, người được bầu thay thế là Patricio Aylwin, ứng cử viên vừa từ đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, Pinochet vẫn nắm quân đội. Ngày nay nền dân chủ được phục hồi ở Chile, nhưng nền văn hóa buông thả vẫn tồn tại, và nhiều chương trình xã hội (như an sinh xã hội) vẫn được tư nhân hóa. Tất nhiên kinh tế Chile thì dường như đã bị thay đổi vĩnh viễn. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Sự suy thoái của lao động
Nền kinh tế thất thường của Chile và cuối cùng là tăng trưởng chậm không phải là di sản tồi tệ nhất của Chicago boys. Mức sống của người lao động bị sụp đổ dưới chế độ Pinochet. Thực tế, đây là một phần thực sự khủng khiếp của câu chuyện. Theo mọi cách đo lường, mức lương nhân công trung bình năm 1989 là tồi tệ hơn so với năm 1970. Trong thời kỳ này, phần thu nhập quốc gia đã giảm từ 52,3 xuống 30,7%. (17) Ngay cả trong kỳ bùng nổ thứ hai (1984-1989), tiền lương tiếp tục giảm. Chỉ số sau đây cho thấy sự suy giảm mức lương cả trung bình và tối thiểu: http://img-fotki.yandex.ru/get/5013/...33b42c06_L.jpg Đến năm 1989, tỷ lệ đói nghèo của Chile là 41,2%, 1/3 trong số họ là bần cùng hoặc nghèo khủng khiếp. (19) Các khu phố ổ chuột được gọi là poblaciones mọc lên xung quanh Santiago và các thành phố lớn khác, duy trì sự sống bằng cách tự kiếm, hoặc súp nhà bếp. Năm 1970, chế độ ăn uống hàng ngày của 40% dân số nghèo nhất có được 2.019 calo. Đến năm 1980 con số này đã giảm xuống còn 1.751 calo, và năm 1990 nó đã giảm xuống còn 1.629 calo. (20) Hơn nữa, tỷ lệ phần trăm của người Chile không có nhà ở thỏa đáng tăng từ 27 đến 40% từ năm 1972 đến năm 1988, mặc dù chính phủ khoe khoang rằng nền kinh tế mới sẽ giải quyết nạn vô gia cư. (21) Trong khi đó, những người giàu có lại càng giàu hơn. Bảng dưới đây cho thấy 20% mở rộng phần bánh của họ với phí tổn của tất cả những người khác. (Lưu ý, "nhóm đầu tiên" đại diện cho 20% người nghèo nhất trong xã hội, "nhóm thứ năm", những người giàu nhất 20%. Con số đại diện cho số phần trăm tiêu thụ hàng hóa theo nhóm tương ứng). http://img-fotki.yandex.ru/get/9161/...ceeb3813_L.jpg Bất bình đẳng thu nhập của Chile cũng trở thành tồi tệ nhất trên lục địa này. Năm 1980, 10% giàu nhất chiếm 36,5% thu nhập quốc dân. Năm 1989, con số này đã tăng lên 46,8%. Ngược lại, dưới 50% người có thu nhập đứng ở đáy thấy phần của họ giảm từ 20,4 còn 16,8% cùng thời kỳ. (23) Thu nhập không phải là điều duy nhất mà tập trung trong tay số ít, mà sản xuất cũng vậy. Khi Chicago boys bãi bỏ thị trường, độc quyền nhóm nhanh chóng hình thành trong hầu như mọi lĩnh vực. Biểu đồ dưới đây cho thấy nhiều công ty xuất khẩu lớn kiểm soát tỷ lệ phần trăm trong ngành công nghiệp tương ứng. http://img-fotki.yandex.ru/get/9161/...ad64372d_L.jpg Làm thế nào sự bất bình đẳng cùng cực như vậy xảy ra? Nó là một phần của chính sách có chủ ý giữ cho tỷ lệ thất nghiệp càng cao càng tốt. (25) Thất nghiệp trên diện rộng có tác dụng kéo tiền lương xuống, nhân công thất nghiệp cạnh tranh một số lượng hạn chế công việc, thậm chí chấp nhận mức lương dưới nghèo đói để có được việc làm. Nhiều quảng cáo "thị trường tự do" đã quên - hoặc dường như đã khai thác - thực tế là thị trường lao động cũng giống như bất kỳ thị trường nào khác: quyết định bởi quy luật cung và cầu. Để thấy điều này hoạt động như thế nào, hãy hình dung một vùng đất nơi cung cấp nhân công hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người sử dụng lao động, và tất cả mọi người được trả $10 một giờ. Những gì sẽ xảy ra nếu chúng ta thêm một vài nhân công vào đó? Nhà kinh tế Paul Krugman giải thích: "Cách mà một thị trường lao động tự do hoạt động đảm bảo rằng hầu như tất cả mọi người mong muốn có công ăn việc làm có được một công việc là bằng cách chấp nhận tiền lương giảm, nếu cần thiết, để phù hợp với nhu cầu tuyển dụng..." (26) Và khi có nhiều hơn nhân công thêm vào nền kinh tế, tiền lương giảm nhiều hơn. Một ví dụ về sự tương quan này có thể nhìn thấy trong suy thoái kinh tế năm 1982, khi tỷ lệ thất nghiệp đạt 11% trong quý 4 ở Mỹ, và tiền lương theo giờ thực tế đã giảm gần 50 cent từ ba năm trước. Còn khía cạnh ngược của ví dụ này là những năm 1980 "Massachusetts Miracle", khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống một cách thấp phi thường 2,7%, và McDonald bắt đầu đề nghị gấp đôi mức lương tối thiểu ($7 một giờ) để cố gắng thu hút lao động. (27) Tại Chile, tỷ lệ thất nghiệp cao là một phần của chính sách có chủ ý, được khuyến khích bởi IMF và WB, để làm giảm tiền lương. Trong cuộc khủng hoảng năm 1975, tỷ lệ thất nghiệp đạt 18,7%. Nhưng thậm chí qua các thời kỳ bùng nổ và đổ vỡ kinh tế tiếp theo trong hơn mười năm tới, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn trung bình 15,7%. Điều này dễ dàng là điều tồi tệ nhất trong tất cả các nước Mỹ La tinh. (28) Kết quả của chính sách này là tiền lương giảm, các công ty đã kiếm được lợi nhuận nhiều hơn, và bất bình đẳng tăng rất cao. Như có thể đoán, tỷ lệ thất nghiệp cao như vậy cũng làm giảm năng suất của một quốc gia, đó là phần lớn của lý do tại hồ sơ tăng trưởng của Chile lại rất kém so với các nước láng giềng. Làm thế nào mà Chicago boys thực hiện cuộc chiến tranh này đối với lao động mà không có các cuộc nổi dậy? Câu trả lời nằm trong triều đại khủng bố Pinochet. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Tội ác chống lại nhân loại Pinochet
Ngay từ khi bắt đầu cai trị, Pinochet đã dùng đàn áp để ngăn chặn tất cả các phe đối lập. Ông ta cấm tất cả các đảng phái chính trị khác, đình chỉ công đoàn lao động, và đập vỡ mọi bất đồng chính kiến về chế độ của ông ta. Trong 16 năm cầm quyền, bộ máy đàn áp Pinochet đã hành quyết ít nhất 1.500 nhà hoạt động, trục xuất lưu vong 15.000 người khác, giam cầm, tra tấn, ám sát, hoặc gây ra các vụ "mất tích" hàng ngàn không tính đếm được những người khác. (29) Theo một tổ chức nhân quyền, chế độ Pinochet chịu trách nhiệm về 11.536 vụ vi phạm nhân quyền chỉ tính giữa các năm 1984 và 1988. (30) Thời gian trôi đi, tuy nhiên, Pinochet đã làm một điều không bình thường nhất đối với một nhà độc tài (dưới áp lực đấu tranh không ngừng của quần chúng-ND): ông ta giải thể chế độ của mình. Không chỉ trao toàn quyền kiểm soát kinh tế cho Chicago boys, mà cuối cùng cũng cho phép một phần tự do chính trị của người dân quay trở lại. Một khi cảm thấy quyền lực độc tài của mình là an toàn trong cuối những năm 70, ông ta đã hợp pháp hóa trở lại công đoàn lao động và các chính đảng một lần nữa, mặc dù vẫn đàn áp hạn chế và kiểm soát. Và ông ta đã đồng ý một bản hiến pháp mới mà trong đó đòi hỏi phải có trưng cầu dân ý trên nguyên tắc về quyền cai trị của mình, và thậm chí cả một cuộc bầu cử dân chủ. Liệu có thực tế là một chế độ quân phiệt đàn áp cho phép Chicago boys thực hiện thí nghiệm của mình bằng cách nào đó lại làm mất hiệu lực kết quả của chúng? Không theo Milton Friedman: "Tôi chẳng có gì tốt đẹp để nói về chế độ chính trị mà Pinochet áp đặt. Đó là một chế độ chính trị khủng khiếp. Kỳ tích thực sự của Chile không phải là đã làm như thế nào đó về kinh tế; Kỳ tích thực sự của Chile là một chính quyền quân phiệt đã sẵn sàng đi ngược lại nguyên tắc của nó và ủng hộ chế độ tự do thị trường được thiết kế bởi các tín hữu nguyên tắc trong một thị trường tự do. Kết quả thật ngoạn mục. Lạm phát đã giảm mạnh. Sau một thời gian tạm thời suy thoái kinh tế và sản lượng thấp mà không thể tránh khỏi trong quá trình đảo ngược lạm phát mạnh, sản lượng bắt đầu mở rộng, và từ đó đến nay, nền kinh tế Chile đã thể hiện tốt hơn so với bất kỳ nền kinh tế Nam Mỹ nào khác.“ "Tại Chile, dẫn dắt đến tự do chính trị, đã được tạo ra bởi tự do kinh tế và kết quả của sự thành công kinh tế, cuối cùng dẫn đến một cuộc trưng cầu giới thiệu nền dân chủ chính trị. Bây giờ, cuối cùng, Chile có tất cả ba điều: Tự do chính trị, tự do con người và tự do kinh tế. Chile sẽ tiếp tục là một kinh nghiệm thú vị để xem xét liệu nó có thể giữ tất cả ba điều này hay không, bây giờ liệu họ có tự do chính trị, liệu tự do chính trị sẽ có xu hướng được sử dụng để tiêu diệt hoặc làm giảm tự do kinh tế." (31) Tuy nhiên, giáo sư Mỹ Friedman lại bi quan cho rằng tự do kinh tế của Chile có thể kéo lùi nền nền dân chủ. Ông ta lưu ý ở đâu đó khác rằng "trong khi tự do kinh tế tạo điều kiện cho tự do chính trị, tự do chính trị, một khi được thiết lập, lại có xu hướng tiêu diệt tự do kinh tế." Bởi ánh đèn soi sáng Friedman, nền dân chủ sẽ phải giết chết cải cách tự do thị trường của Chile. Người ta có ấn tượng Friedman lại coi cuộc thí nghiệm là một thành công không trọn vẹn ở chế độ lẽ ra đã không bao giờ tồn tại. Đó là điều thú vị cần lưu ý, tuy nhiên, các cải cách chống người lao động được ban hành bởi Chicago boys sẽ không bao giờ được chấp nhận trong một nền dân chủ (và trong thực tế là không, khi thời gian đến). Sự đàn áp phe đối lập với các chương trình Chicago do đó cho phép chúng ta nhìn thấy nó sẽ làm như thế nào ở dạng không thỏa hiệp. Sau thí nghiệm, người Chile quay trở lại điểm xuất phát cũ với cái giá vô cùng đắt đỏ. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Bãi bỏ luật lệ và ô nhiễm
Chile là một đất nước có 15 triệu người, nhưng 5 triệu người trong đó sống tại thủ đô Santiago. Thị trường tự do của Chile có nghĩa là có một sự thiếu vắng rõ ràng luật lệ chống lại ô nhiễm. Kết quả là, Santiago đã bị ô nhiễm một cách tuyệt vọng. Năm 1992, Santiago là thành phố nhỏ ô nhiễm tồi tệ thứ 5 thế giới, với các giới hạn vượt khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới 3-4 lần. (32) Một phần của vấn đề là Santiago bị bao quanh bởi các dãy núi, nên không khí ô nhiễm bị kẹt bên trong thành phố. Tuy nhiên, trên tất cả các lý do mà nhiều quan chức sẽ phải thừa nhận là sự điên rồ của ô nhiễm bừa bãi và ban bố các điều luật củng cố môi trường lẽ ra đã phải có từ lâu. Khoảng 150 nhà máy trong Santiago thải ra ô nhiễm gấp 100 lần thông thường theo khuyến cáo. Chỉ có 30% trong số 600 ngàn xe của thành phố có bộ chuyển đổi xúc tác. Do thiếu các chương trình công cộng (và cũng thiếu lợi nhuận), thành phố có gần 600 dặm đường bụi bặm, không trải nhựa. Kết quả là khói bụi dày, đỏ tím làm ghẹt thành phố theo đúng nghĩa đen. (33) Chi phí thật là khủng khiếp, chuyển thành tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao bất thường so với châu Mỹ La tinh. Bệnh viện Santiago bị tràn ngập bởi 2.700 trẻ sơ sinh mỗi ngày cần thở bằng mặt nạ ô-xy. Các thầy thuốc gọi đó là tình trạng khủng hoảng, và nhà chức trách đã phải thiết lập hệ thống cảnh bảo "tiền khẩn cấp" và "khẩn cấp". Nhìn chung trong cảnh báo tiền khẩn cấp, chính quyền hạn chế giao thông, tập thể dục và các hoạt động công nghiệp. WB ước tính mức độ tiền khẩn cấp tại Santiago là 18% nhiều nguy hiểm hơn các cảnh báo tại Los Angeles và châu Âu. Nhưng cho đến gần đây, chính phủ Chile đã không muốn ban hành bất cứ luật lệ môi trường nghiêm chỉnh nào nữa. Năm 1996, Tiến sĩ Ricardo Tulane bỏ Ủy ban môi trường để phản đối, cáo buộc chính phủ làm quá ít để đáp ứng cuộc khủng hoảng. (34) Tờ tạp chí Chile Apsi viết: "Nước chảy ra khỏi hàng triệu cái vòi trong nhà và ngõ hẻm Santiago có mức độ đồng, sắt, magiê và chì vượt quá nhiều lần so với tiêu chuẩn tối đa chấp nhận được. Các vùng đất cung cấp rau quả cho đô thị được tưới bằng nước có lượng vi khuẩn coliforms vượt 1000 lần mức chấp nhận. Đây là lý do tại sao ở Santiago có mức độ viêm gan, thương hàn, và ký sinh trùng không thấy được ở bất cứ phần nào khác của châu lục." (35) Vấn đề là không giới hạn ở Santiago. Một nửa đất nước đã trở thành sa mạc theo chính sách công nghiệp và môi trường sai lầm. Nghiên cứu của NHTW Chile ước tính vào năm 2025, các khu rừng nguyên sinh của Chile sẽ biến mất với tốc độ khai thác hiện nay. (36) Họ cũng cho biết trong số 9 loại cá ngoài khơi bờ biển Chile, chỉ có 1 (cá mòi) đã tăng từ năm 1985 đến năm 1993. Năm loại đã sự suy giảm mạnh, từ 30-96%. (37) Hài hước không kém là nhà kinh tế Chicago Ronald Coase, lại giành được giải Nobel cho một định lý giải thích tại sao thị trường tự do có thể giải quyết các yếu tố bên ngoài như ô nhiễm môi trường. Chile – cuộc thí nghiệm của Chicago boys – lại cho thấy rõ ràng điều ngược lại. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Lương hưu tư nhân của Chile
Một trong những "thành công" khoe khoang khoác lác nhất của “phép màu kinh tế” Chile là việc tư nhân hóa hệ thống an sinh xã hội công cộng. Kẻ ủng hộ mạnh mẽ nhất cho điều này là nhà kinh tế Chile José Piñera, cựu bộ trưởng Bộ Lao động của Pinochet, và do đó hắn ta là một trong những kẻ bị ghét nhất ở Chile. Ngày nay, hắn làm một dạng nhân viên bán hàng quốc tế, hắn bán cho các quốc gia khác ý tưởng chương trình hưu trí tư nhân của Chile. Nhà báo Fred Solowey viết: "Trong các bài phát biểu và bài viết của mình, Piñera ghi công trạng về mô hình hưu trí Chile với cỡ đứng trên mọi thứ chỉ thứ 2 sau Chúa: lương hưu cao hơn 40-50% so với bảo hiểm xã hội, an sinh cho người cao tuổi, chi phí thấp hơn là do "thực tế" lĩnh vực tư nhân hiệu quả hơn nhiều so với lĩnh vực công, tỷ lệ tiết kiệm sánh với nền kinh tế ‘con hổ’ châu Á;. và thậm chí kết thúc xung đột giai cấp ở Chile." (38) Piñera là đồng chủ tịch cuộc chiến tranh $2 triệu tiến hành chống an sinh xã hội Mỹ của Viện Cato. Mục tiêu của chúng là tư nhân hóa chương trình theo kiểu Chile. Chuyển sang lý lẽ này bao gồm cả Newt Gingerich, và, rõ ràng là tạp chí Times. Trong câu chuyện bề ngoài mang tên "Vụ án giết chết An Sinh Xã Hội", Times bao gồm cả "Làm thế nào Chile có nó đúng đắn". (39) Từ tung tác ở đây là đúng đắn, như trong cánh hữu – Bài của Times viết trích dẫn tất cả các ý kiến giới chiến lược gia bảo thủ, nhưng không có bất kỳ tiếng nói bất đồng chính kiến nào. Hệ thống hưu trí Chile chỉ là một thành công cho những công ty đang kiếm lời một cách thái quá từ đó. Đối với những người lao động Chile, nó là một thảm họa trong thực hiện. Theo SAFP - cơ quan chính phủ quản lý hưu trí tư nhân, 96% lực lượng lao động được biết đến đã được ghi danh vào lương hưu tư nhân cho đến tháng 2 năm 1995, nhưng 43,4% các chủ sở hữu tài khoản không ghi tên của họ vào quỹ của chúng. Có lẽ có tới 60% không đóng góp thường xuyên. Do nghèo đói gia tăng ở Chile, điều đó không khó để hiểu tại sao. Thật không may, đóng góp thường xuyên là cần thiết để nhận được lợi ích đầy đủ. Đến năm 1988, khoảng 1/4 lao động Chile đã đóng góp đủ để được hưởng lợi ích theo chương trình tối thiểu: $1,25 một ngày! (40) Các nhà phê bình tính rằng chỉ có 20% những người đóng góp sẽ thực sự nhận được đồng lương hưu tử tế. Tệ hơn nữa, nhiều kế hoạch được cho là có lợi ích cao hơn từ tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh cuối những năm 80. Nhưng sự tăng trưởng này kéo theo sau cuộc suy thoái kinh tế sâu năm 1983, và đã bị kẹt lại ở mức cao trong nhiều năm sau. Bây giờ tăng trưởng thực tế đã đến mức tiềm năng, nền kinh tế Chile bị chậm lại. Tiền lương hưu, do đó sẽ không còn hiệu quả như tuyên truyền công bố. Khi hệ thống hiện tại được tạo ra đầu những năm 80, chính phủ đã cho người dân lựa chọn: ở lại trong các chương trình công cộng, hoặc bắt đầu đóng góp vào lương hưu tư nhân. Hơn 90% dân chúng chuyển sang kế hoạch tư nhân. Điều này đã được thực hiện, tuy nhiên, dưới sự đe dọa và ép buộc trộn lẫn với ưu đãi ngắn hạn. Nhiều ông chủ chỉ đơn giản là chuyển nhân viên cho chúng. Tiền công chết đói cũng được tăng ngắn hạn bằng cách chuyển sang lương hưu tư nhân, trong khi chi phí của các chương trình công được tăng lên cho những người còn ở lại. "Với những thông tin tôi có bây giờ", Cecilia Prado, một người công làm 17 năm nói, "Tôi sẽ không bao giờ chuyển sang. Dưới chính phủ dân chủ họ không bao giờ có thể áp đặt nó với chúng tôi. Và nếu như họ thông qua đạo luật cho phép mọi người quay lại, sẽ có một sự di chuyển khổng lồ." (41) Điều mà nhiều kẻ bảo vệ cho chương trình hiện tại của Chile không tiết lộ là theo kế hoạch công cũ, người lao động không chỉ nhận được lương hưu, mà cả chăm sóc y tế, các khoản vay cho nhà cửa ở với lãi suất thấp từ các quỹ hưu trí, và nhiều lợi ích khác. Và chương trình bao trùm 75% mọi người dân Chile. Khi lương hưu tư nhân có hiệu lực, tất cả các dịch vụ khác này đã bị bỏ rơi. Kết quả là, "phúc lợi hưu trí" của Chile cho những người nghèo túng tuyệt vọng nhanh chóng tăng lên 400% - lên đến giới hạn pháp lý. Cũng là cực đoan khi nói rằng khi Pinochet đã đưa ra chương trình , quân đội và cảnh sát của ông ta được phép giữ lại các kế hoạch công hào phóng của riêng họ. Các kế hoạch tư nhân mà “phù hợp với dân chúng” rõ ràng là không đủ tốt cho những kẻ chịu trách nhiệm của đất nước. Có nhiều khía cạnh khác đối với thảm họa đang diễn ra này , nhưng để ghi lại tất cả ở đây là không thể. Đủ để nói, bán "thành công" của Chile sang Mỹ là công việc cuối cùng. |
Chicago boys và "kỳ tích kinh tế” Chile
Kết luận
Một lý lẽ biện hộ cho cuộc thí nghiệm Chicago là "sự thịnh vượng của Chile ra đời trong đau đớn". ( 42 ) Tuy nhiên , cơn đau vẫn tiếp tục cho đến tận ngày nay. Mặc dù nền kinh tế Chile đang phát triển với một tốc độ lành mạnh ngày nay, nó vẫn đứng sau hầu hết các nước Mỹ Latinh khác. Phần lớn sự phát triển không bền vững với môi trường. Bất bình đẳng và nghèo đói vẫn còn khắc nghiệt. Hơn nữa, nhiều ngành công nghiệp của đất nước hiện nay thuộc sở hữu của nước ngoài - có nghĩa là lợi nhuận không ở lại Chile, mà được chuyển sang nước khác. Chile tiếp tục có các khoản nợ nước ngoài cao nhất thế giới , và do đó tiếp tục được dùng làm đứa con quảng cáo của IMF và WB. Tại Mỹ, Chile là đối tượng “theo đuổi nhanh” để trở thành thành viên thứ 4 của NAFTA – và về động cơ người ta có thể dễ dàng đoán ra. Một biện hộ khác cho thí nghiệm Chicago là các điều kiện không đúng, do đó thất bại của nó là hiển nhiên. Điều khó chịu nhất là chế độ quân phiệt đàn áp Pinochet. Nhưng vẫn chưa rõ chính sách chính trị của ông ta đã ảnh hưởng xấu đến chính sách kinh tế Chicago boys như thế nào - nếu như mọi thứ, mà ông ta đã cho phép chúng thực hiện kế hoạch của chúng. Nếu thị trường tư bản chủ nghĩa không được kiểm soát chỉ có thể bị áp đặt đối với người lao động bằng khủng bố, thì đây là một lý luận rằng chúng ta nên tìm kiếm một giải pháp thay thế, nhân đạo hơn. Biện hộ thứ 3 là cuộc thí nghiệm không hề thất bại, mà là một thành công mạnh mẽ. Thông thường dạng ngụy biện này dựa trên giải thích sự vận động của chu kỳ kinh doanh. Phổ biến nhất là nhìn vào sự bùng nổ đáng kinh ngạc cuối những năm 70 và cuối thập niên 80 - trong khi bỏ qua các sự kiện chịu trách nhiệm cho chúng, cụ thể là, các suy thoái sâu đã xảy ra trước đó. Hiện nay, nền dân chủ dường như đã đảo ngược làn sóng chuyên chế thị trường, mặc dù các doanh nghiệp lớn vẫn có ảnh hưởng không đáng có với chính phủ. Sự phục hồi của đời sống công cộng ở Chile, do đó, có thể sẽ là một cuộc đấu tranh lâu dài, chậm chạp và đau đớn. |
Sự ra đời của thế giới "Loại bỏ Mỹ hóa - deAmericanized”
Bắc Kinh kêu gọi hình thành "Dự trữ ngoại tệ" mới thay thế đồng đô la Mỹ.
http://www.globalresearch.ca/the-bir...the-u-s-dollar http://www.atimes.com/atimes/World/WOR-02-151013.html http://www.rense.com/1.imagesH/screw-(R).jpg Đã quá đủ rồi. Găng tay ngoại giao đang được ném ra. Đã đến lúc để xây dựng một thế giới "loại bỏ Mỹ hóa". Đã đến lúc cho "đồng tiền dự trữ quốc tế mới" thay thế đồng đô la Mỹ. Tất cả ở đây, trong một bài xã luận Tân Hoa Xã, trực tiếp từ miệng con rồng. Và năm nay là chỉ năm 2013. Thắt chặt dây an toàn của bạn - và điều đó áp dụng đặc biệt cho tầng lớp bề trên Washington. Nó sẽ là một cuộc chơi gập ghềnh. Những ngày Đặng Tiểu Bình "giữ mình thấp" đã xa. Các biên tập Tân Hoa Xã tóm tắt thứ vô giá trị phá hỏng sự trở lại của con rồng – Mỹ hiện đóng cửa. Sau khủng hoảng tài chính phố Uôn, sau cuộc chiến Iraq, một "thế giới ngớ ngẩn", và không chỉ có Trung Quốc, muốn thay đổi. Đoạn này không thể sinh động hơn: "Thay vì tôn trọng bổn phận của mình là một cường quốc hàng có trách nhiệm, một Washington tự phụ đã lạm dụng vị thế siêu cường của mình và đem thậm chí nhiều hỗn loạn hơn đến thế giới bằng cách chuyển rủi ro tài chính ra nước ngoài, xúi giục những căng thẳng khu vực trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ, và chiến tranh những cuộc chiến không có lý do xác đáng che đậy dưới những lời dối trá trắng trợn. Giải pháp, đối với Bắc Kinh, là "loại bỏ Mỹ hóa" sự cân bằng địa chính trị hiện nay - bắt đầu với việc có tiếng nói nhiều hơn trong IMF và WB đối với các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển, dẫn đến một "đồng tiền dự trữ quốc tế mới mà được tạo ra để thay thế đồng đô la Mỹ chiếm ưu thế ". Lưu ý rằng Bắc Kinh đang không ủng hộ hoàn toàn việc đập tan hệ thống Bretton Woods - ít nhất là lúc này, nhưng là để có thêm sức mạnh quyết định. Nghe có vẻ hợp lý, xét rằng Trung Quốc nắm giữ phần trọng lượng nhẹ hơn Ý trong IMF. “Cải cách” IMF – là thứ - đã diễn ra từ năm 2010, nhưng Washington, một cách ngạc nhiên, đã phủ quyết bất cứ điều gì đáng kể. Đối với bước dịch chuyển xa rời khỏi đồng đô la Mỹ, nó đã thực sự bắt đầu, trong các mức độ khác nhau về tốc độ, đặc biệt là liên quan đến thương mại giữa các nước nhóm BRICS của các cường quốc mới nổi (Brazil, Nga, Indonesia, Trung Quốc và Nam Phi), mà bây giờ đã quá mạnh trong tiền tệ riêng của họ. Đồng đô la Mỹ đang chậm chạp nhưng chắc chắn bị thay thế bằng một giỏ tiền tệ. http://previous.presstv.ir/photo/201...lar%20Yuan.jpg “Loại bỏ Mỹ hóa” đã thực sự bắt đầu. Tuần trước, TQ đã có cuộc tấn công quyến rũ thương mại khắp Đông nam Á, nghiêng rõ rệt về phía hành động hơn nữa với các đối tác thương mại hàng đầu của họ. Chủ tịch TQ Tập Cận Bình giải quyết một loạt các chương trình thương mại với Indonesia, Malaysia và Úc, chỉ một vài tuần sau khi có một loạt các chương trình thương mại khác với Trung Á. Cam kết của Trung Quốc về cải thiện Con đường sắt tơ lụa làm lên cơn sốt, cổ phiếu của các công ty đường sắt TQ đi qua mái nhà thế giới trong bối cảnh triển vọng kết nối đường sắt tốc độ cao xuyên qua Thái Lan thực sự đã được cụ thể hóa. Tại Việt Nam, TTg TQ Lý Khắc Cường báo hiệu rằng tranh chấp lãnh thổ 2 quốc gia trong vùng biển Đông sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giao thương. Đó là “trụ cột” đối với châu Á. Tất cả lên con tàu Petro-Yuan Mọi người đều biết Bắc Kinh giữ quả núi Himalaya trái phiếu kho bạc Mỹ - biếu không thặng dư thương mại khổng lồ tích lũy qua ba thập kỷ qua cộng với chính sách chính thức giữ đồng nhân dân tệ tăng giá rất chậm, nhưng chắc chắn. Đồng thời, Bắc Kinh cũng đã hành động. Đồng nhân dân tệ cũng đang chậm rãi nhưng chắc chắn trở thành có thể chuyển đổi được hơn trong thị trường quốc tế. (Chỉ mới tuần trước, ECB và Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã đồng ý thiết lập một dòng tráo đổi tiền tệ trị giá US $45 - $57 tỷ, làm tăng thêm sức mạnh quốc tế của đồng yuan và cải thiện tính năng tài chính thương mại trong khu vực đồng Euro.) Ngày không chính thức để đồng yuan chuyển đổi được hoàn toàn có thể là đâu đó giữa 2017 và 2020. Mục tiêu là rõ ràng, di chuyển ra khỏi gánh nợ Mỹ chồng chất, đó là hàm ý về lâu dài, Bắc Kinh tự tách mình ra khỏi thị trường này - và do đó làm nó theo cách tốn kém hơn để cho Mỹ vay mượn. Tập thể lãnh đạo ở Bắc Kinh đã thực sự quan tâm về điều đó, và đang hành động một cách phù hợp. Dịch chuyển về phía một đồng nhân dân tệ chuyển đổi được đầy đủ trong khi BRICS đang không gì lay chuyển được tiến tới một giỏ tiền tệ dần dần thay thế đồng đô la Mỹ làm đồng tiền dự trữ. Cho đến khi nào đó, sự kiện đại hồng thủy thực sự được hiện thực hóa, sự ra đời của đồng Petro-Yuan – dự định lấn át đồng petrodollar khi các chế độ quân chủ vùng vịnh nhìn thấy cách mà làn gió lịch sử đang thổi. Sau đó chúng ta sẽ bước vào một trò chơi địa chính trị hoàn toàn khác. Chúng tôi có thể có một chặng đường dài, nhưng điều chắc chắn là tập những huấn thị nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình đang được loại bỏ dần dần, "Quan sát bình tĩnh, bảo đảm vị thế của chúng ta, đối phó với các vấn đề một cách bình tĩnh; che giấu năng lực của chúng ta và chờ đợi thời cơ của chúng ta, là tốt khi giữ mình thấp, và không bao giờ đòi hỏi lãnh đạo". Kết hợp thận trọng và mưu mẹo, căn cứ vào sự tự tin lịch sử của Trung Quốc và xem xét đến những tham vọng dài hạn quan trọng, đây là binh pháp cổ điển Tôn Tử. Cho đến nay, Bắc Kinh đã giữ mình ở thế thấp, để cho đối thủ phạm sai lầm chết người (và cái bộ sưu tập những sai lầm nhiều nghìn tỷ USD...), và tích lũy "vốn". Thời để tư bản hóa bây giờ đã đến. Đến năm 2009, sau khi phố Uôn gây khủng hoảng tài chính, TQ đã thực sự có nhiều sôi sục về "sự trục trặc của mô hình phương Tây" và cuối cùng là "sự hỏng hóc của văn hóa phương Tây". Bắc Kinh đã nghe Bob Dylan (với phụ đề tiếng Hoa?) và kết luận Đúng, đã vào lúc họ đang thay đổi. Mỹ đã không có những tiến bộ xã hội, kinh tế và chính trị có thể dự đoán – đóng cửa chỉ là một minh họa sinh động khác, nếu có điều gì là cần thiết – thì đó là Mỹ đang trượt dốc trong khi Trung Quốc không gì lay chuyển được, từng chút từng chút một, giang rộng đôi cánh của mình làm chủ thế kỷ 21 hậu hiện đại. Nếu không nhầm, bề trên Washington sẽ chống lại điều đó như tai họa cuối cùng. Tuy nhiên, trực giác của Antonio Gramsci bây giờ cần phải cập nhật, trật tự cũ đã chết, và cái mới là cái đang bước đến gần ngày ra đời. http://www.abandonthecube.com/blog/w...na-us-debt.jpg U.S. Needs De-Americanized World To Solve Fiscal Failure China's State Press Calls for 'Building a de-Americanized World' U.S. debt crisis spurs Chinese calls for ‘de-Americanized’ world Stand Up Americans — Paul Craig Roberts |
Tại sao người Mỹ hoàn toàn không biết gì đến Federal Reserve Bank “của họ”?
Có những vấn đề rất lớn về Mỹ mà hầu hết người Mỹ lại không hề hay biết gì. Ví dụ, người Mỹ tưởng Federal Reserve Bank Cartel là "của họ"!
Federal Reserve Bank Cartel – Cục dự trữ Liên bang không hề là Ngân hàng dự trữ TW của Mỹ. Cartel này là ngân hàng tư nhân của Do Thái, cụ thể, qua các khâu khớp và đầu mối trung gian, kẻ sở hữu cuối cùng và lớn nhất vẫn là nhà Do Thái Rothschild. Chỉ có 1 lý do, nước Mỹ bị Do Thái kiểm soát toàn bộ! Trong khi Do Thái chỉ chiếm 2,2% dân số Mỹ. Việc tổng thống Mỹ bổ nhiệm chủ tịch Federal Reserve Bank chỉ là hình thức. Tin tức mấy ngày qua về việc Obama bổ nhiệm Janet Yellen làm chủ tịch mới của Cartel này, thay thế Ben Bernanke. Không đáng ngạc nhiên khi Yellen là Do Thái, tiếp tục một truyền thống lâu đời kể từ ngày lập Ban quản trị Cartel. http://s11.postimg.org/n5fu9dj3n/Janet_Yellen.jpg Vậy thì, cái gì làm cho người Do Thái lại đặc biệt để có thể vận hành định chế tài chính lớn nhất và quan trọng nhất Mỹ và thế giới này? Có phải vì họ thông minh? Hay họ tài giỏi để làm cái công việc tuyệt vời là kiểm soát nền kinh tế, nắm mọi tài khoản và giao dịch tiền tệ? Hay chỉ đơn giản là Do Thái có xu hướng thuê hay đề xướng Do Thái khác vào các vị trí quan trọng đối với mục đích kiểm soát kinh tế từ Cartel này? Câu trả lời đơn giản là KHÔNG! Chính phủ Mỹ đã vay nợ khổng lồ, chủ yếu từ các nhà băng Do Thái. Điều này được truyền thông Mỹ giải thích là may mắn, người Mỹ vay nợ của chính người Mỹ! Tất nhiên, chỉ cần Cartel này không cho vay, là chính phủ Mỹ đóng cửa, nước Mỹ sụp đổ. Vì vậy, chính phủ Mỹ ngoan ngoãn vâng lời các ông chủ Do Thái là điều quá dễ để hiểu. Điều rõ ràng là các Cartel này, kể từ khủng hoảng năm 2008 đã tung ra $2,9 nghìn tỷ bởi một hệ thống gọi là "nới lỏng tiền tệ" (Quantitative Easing), đó đơn giản chỉ là in tiền! Ngay cả các gói cứu trợ các nhà băng Do Thái đang sắp sụp đổ lúc đó cũng lại là tiền của người đóng thuế Mỹ. Lẽ ra $2,9 nghìn tỷ đó có thể được dùng để giải quyết vô số những vấn đề nội bộ nước Mỹ, chẳng hạn như vấn đề đói nghèo, hay chăm sóc sức khỏe, tạo thêm công ăn việc làm… Nhưng không! Chúng được đưa vào các nhà băng Do Thái kiểm soát trong hệ thống Federal Reserve Cartel. Chính Cartel này cũng không thể trình bày hầu hết số tiền đó ở đâu? Thế nào là Kinh tế thị trường! mà Mỹ vẫn rao giảng? Không thân những cô thợ may khắp thế giới còng lưng đạp máy khâu 12 tiếng mỗi ngày để nhận đồng công rẻ mạt 5 đô la! Gần 50 triệu người Mỹ nhận tem phiếu mua thực phẩm, họ thuộc diện nghèo đói, không có khả năng mua thức ăn đủ cho chính mình và gia đình. Nhưng trớ trêu thay, mỗi một cái tem phiếu, mỗi một thẻ tín dụng vay nợ phát hành, các nhà băng Do Thái đều ăn lãi ở đó. Vì vậy, câu hỏi là bao lâu nữa người Mỹ sẽ đưa vụ biển thủ khổng lồ này ra ánh sáng? Họ có thể đổ tội cho ai? Khi cuối cùng họ là kẻ phải trả những món nợ khổng lồ. Có lẽ là không bao giờ! Chủ tịch đầu tiên của Federal Reserve Cartel: Charles Sumner Hamlin, dân Do Thái. Thứ hai, William Proctor Gould Harding Do Thái. Thứ ba, Daniel Richard Crissinger gốc Do Thái. Cũng là một Tam điểm nổi tiếng nhất. Thứ tư, Roy Archibald Young Do Thái. Thứ năm, Eugene Isaac Meyer Do Thái, cũng là chủ tịch đầu tiên của World Bank. Thứ sáu, Eugene Robert Black Do Thái. Thứ 7, 8, 9, 11 là ngoại lệ không Do Thái. Thứ mười, Arthur Frank Burns Do Thái. Thứ mười hai, Paul Adolph Volcker gốc Do Thái. Thứ mười ba, Alan Greenspan Do Thái. Và cuối cùng, thứ 14, chủ tịch hiện tại Ben Bernanke Do Thái. http://uprootedpalestinians.wordpres...ank-is-jewish/ http://www.thetruthseeker.co.uk/?p=81801 |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:56. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.