![]() |
- Hôm nay không phải là ngày vất vả nhất. Mới có 3-6 chiếc tàu đến, có lẽ không phải là nhiều đối với khu vực vĩ tuyến 17. Thỉnh thoảng có lần chúng kéo đến bờ biển Vĩnh Linh hàng chục chiếc tàu một lúc, có khi còn nhiều hơn, - chiến sĩ quan trắc Nguyễn Văn Tư kể. – Tàu sân bay của Hạm đội 7 ở không xa chúng ta. Nhiều phi công Mỹ đến tàu sân bay lần đầu tiên bay đánh Việt Nam chính là đánh vào vùng Vĩnh Linh đấy. Đây là vùng đất lửa rộng lớn và các chuyến bay hầu như an toàn đối với phi công Mỹ. Nhưng chúng tôi sẽ dạy cho chúng phải coi Vĩnh Linh là đối thủ xứng đáng.
- Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa ven biển Vĩnh Linh từ tháng 12 năm 1964 rồi, - trung úy Thắng vừa hết phiên trực chiến nói, - Lúc đó nhiều cậu mới 18 tuổi. - Cậu nhớ trận đầu của chúng ta chứ? – chính ủy Thế hỏi Thắng. – Sao lại không? Có lẽ không ai trong đội tôi lại quên được, - anh trung úy đáp lại. Trận ấy là gần 1 giờ đêm mùng 1 tháng 2 năm 1965. Khi ấy tàu chiến của ngụy Sài Gòn đến gần bờ biển VNDCCH ở khu vực Vĩnh Linh. Khẩu đội cứ cho nó vào thật gần và sau đó hầu như là bắn trực diện vào con tàu phóng ngư lôi đó. – Đó là chiến công đầu tiên của chúng tôi, - khẩu đội trưởng Lê Sĩ Kích nói. Từ đó đến nay chúng tôi đánh mấy chục trận rồi. Khẩu đội tôi đã bắn cháy, bắn hỏng 14 tàu chiến địch, trong đó có tàu quét mìn, tàu phóng lôi Mỹ... Từ đầu năm 1967 tàu chiến Mỹ không rời bờ biển Vĩnh Linh. Chúng bắn vào huyện và khu phi quân sự cả ngày lẫn đêm. Rất nhiều tàu Mỹ tuần tiễu ven bờ khu phi quân sự giữa hai nhánh sông Bến Hải - Cửa Tùng (miền Bắc Việt Nam) và Cửa Việt (miền Nam Việt Nam) cách nhau chừng 7-8 km. Ngày 25 tháng 3 khẩu đội đánh tàu khu trục Osborn. Đạn pháo đã phá hỏng rada và đài chỉ huy của tàu. Bọn cướp biển đã phải tháo chạy khỏi bờ biển miền Bắc Việt Nam trong đống khói đen mù mịt. Sáng sớm 18 tháng 5 năm 1967. Hơn 10 nghìn lính thủy đánh bộ Mỹ chia thành nhiều tốp nhỏ xông vào khu phi quân sự. Trước đó chúng ném bom ác liệt. Sau đó 18 tàu chiến Mỹ tiến vào Vĩnh Linh. Trận đấu pháo bắt đầu. Các chiến sĩ Việt Nam vẫn đứng vững. Họ đã bắn hỏng hai tàu khu trục, hai tàu đổ bộ Mỹ. Sau đó tiểu đoàn đã chuyển hỏa lực sang bãi đổ bộ của lính thủy đánh bộ. Như ta biết, cuộc hành quân này đã bị tổn thất nặng nề. Ngày 24 tháng 5 năm 1967, tàu tuần dương hạng nặng của Mỹ tiến đến bờ biển Vĩnh Linh trong khu vực tác chiến của tiểu đoàn, và tiểu đoàn lại vào trận đánh. Báo động. Trong chớp mắt, vách hầm hạ xuống, trên vách chỉ là dãy mũ sắt. Các chiến sĩ pháo binh theo chiến hào chạy ra khẩu pháo. - Toàn đội chuẩn bị chiến đấu! – mệnh lệnh vang lên. Và vài giây sau, khẩu lệnh: - Bắn! Những loạt đạn nổ chói tai. Chiều tối, màn đêm phủ lấy ngọn đồi. Các chiến sĩ pháo binh ngủ thiếp đi sau một ngày chiến đấu. Chỉ từ đài quan sát vọng lại: - Đại bàng! Đại bàng! Hải Âu gọi, Hải Âu gọi. Có tàu khu trục Mỹ trong khu vực tác chiến của đội. Tôi đợi lệnh ..- Sau đó cả tôi cũng chìm vào giấc ngủ. |
Một ngày trong hầm
Một buổi sáng, sau trận bom thường lệ tôi ngồi đọc lại ghi chép của mình. Nhiều bài ghi chép lộn xộn, nhưng có một bài vì sao đó tôi không muốn sửa lại, tôi muốn để nguyên như khi viết nó ra bên bờ sông Nhật Lệ, gần vĩ tuyến 17. Vì chuyện đó đến nay đã gần 33 năm rồi. Tuổi của Chúa Giesu... “Gần sáng tôi nặng nề thức giấc. Theo thói quen tôi sờ soạng toàn thân. Hai chân vẫn ổn, đầu thì... Quỷ tha ma bắt, tôi quên cởi mũ sắt. Tay thì...Đừng để ý đến các vết trầy xước, vấn đề không phải ở đó. Tôi nhìn quanh. À, đây là hầm trú ẩn. Một căn hầm bình thường như hàng nghìn cái khác ở đây. Kia là những khuôn mặt nâu đen sạm của các anh bộ đội. Nhiều người đang ngủ mà không cởi mũ sắt, không tháo ba lô. Giấc ngủ không yên của người lính. Mọi người xung quanh không quan tâm bạn là ai, người mình hay người nước ngoài. Cứ ở đây thì bạn là người mình. Nếu không thì đã không đến đây. Bạn cứ ngủ. Đã quen với “bộ sưu tập các loại mùi” từ lâu rồi mà. Có phải “Lá ngọc cành vàng” gì đâu. Tôi mỉm cười với ý nghĩ của mình. Sáu giờ sáng. Giấc ngủ không yên, mặc dù tôi ngủ say, giống như ở nhà, ở Moskva, trong chăn ấm gối êm. Một cái huých làm tôi thức giấc. Liếc nhìn đồng hồ: 5.45. Lẽ nào vẫn còn sớm? Có lẽ không phải. Tôi bị đánh thức. Ai nhỉ? Xung quanh không một bóng người. Tôi đang ở đâu? Bên cạnh là chiếc mũ sắt với mấy con kiến. Mũ của tôi. Tôi nhận ra vì trên quai mũ có ghi tên. Bộ đội đi rồi. Họ đi mà không muốn làm tôi thức giấc. Hay là họ không để ý. Ngủ thì cứ kệ cho mà ngủ. Tôi châm một điếu thuốc, thấy dễ chịu hơn. Chính xác là thấy ấm áp hơn. Thuốc ẩm, không chịu cháy. Thuốc ẩm nhanh thật, may mà diêm không ẩm. Ngày mai sẽ ra sao? Mà không, hôm nay sẽ còn chuyện gì nữa? Nhưng mà hầm trống không. Những tia sáng xiên bát chợt bò vào hầm. Để làm gì nhỉ? Hầm sâu dưới đất, làm sao ánh sáng lọt vào được. Đến bom còn không vào được nữa là. Thế mà các tia nắng sớm lại bò vào được Chí ít thì cũng không phải là bom bi, tôi tự mỉm cười với mình. Ở đây thì không trống được được bom phá và bom napal. Lại buồn ngủ. Ai đánh thức tôi nhỉ? Xung quanh không có ai cả. Có thể tôi quá mệt rồi. Cũng có thể anh bộ đội nào đó vỗ vai tôi rồi đi ra. Dậy đi, nằm đến bao giờ... Nhưng có ai đâu. Buồn ngủ quá. Ba con kiến bò trên cánh tay. Tôi lấy mũ sắt dí bẹp không để chúng kịp đốt. Tôi thử chợp mắt. Rồi hầm lại đầy người. Súng tiểu liên, súng trường cũ, súng cacbin. Mùi mồ hôi. Có tiếng rì rầm ở góc hầm. Họ là ai nhỉ? Tôi biết họ là bộ đội và tôi chưa hề gặp họ trước đó. Họ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng chút bối rối. Rồi họ quên tôi ngay. Ở đây nghĩa là quân ta rồi. Chắc ai cũng nghĩ thế. Mà tôi là quân ta thật, dù là có bộ bộ râu quai nón chưa cạo rậm hơn họ. Xung quanh bỗng nổ lên ầm ầm. Hình như đất rơi xuống đầu. Bịt tai, cắn răng lại đi. Bom nổ ngay bên cạnh. Có tiếng rên. Những khuôn mặt bộ đội nghiêm nghị. Người băng đầu, người băng tay… |
Rồi hầm lại trống không. Mấy con kiến bò dưới đất. Có bao nhiêu con nhỉ? Rồi đâu đó bên cạnh lại vang lên tiếng nổ. Sau đó lại yên lặng. Yên lặng như tờ. Chỉ có tiếng rì rào của dòng sông. Tôi lại cố chợp mắt. Rồi lại tiếng nổ ngay gần…
- Con ơi dậy đi! Một bàn tay dịu dàng ngay bên cạnh. Mái tóc bạc như tóc mẹ. Nụ cười dịu dàng, rất thân thương, quen thuộc. – Tỉnh dậy đi, đến lúc lên đường rồi. Chỉ còn mấy phút nữa thôi. Muộn hơn là bị chậm đấy … Tôi ngồi dậy, bên cạnh là cái mũ sắt. Có tên tôi trên quai mũ. Cả đàn kiến bên cạnh. Cả người phụ nữ mặc bộ quần áo nâu. - Mau lên con, - nụ cười âu yếm, mái tóc bạc. Và rồi hầm lại chật đầy người. Quân phục đẫm mồ hôi. Tất cả những thứ này với tôi sao mà thân thuộc thế. - Mau lên con, - một giọng nói giống như giọng người mẹ, đều đều, mang lại sự bình tĩnh, tự tin. Tiếng người phụ nữ tóc bạc át hết tất cả. Sau này người ta bảo tôi là người phụ nữ ấy ngày đêm giúp đỡ bộ đội. Ở đây gọi là mẹ Suốt. Những người khác thì gọi bà là mẹ anh hùng. Mà bà đúng là anh hùng nước VNDCCH. Một trong những bà mẹ của Việt Nam dũng cảm”. Năm 1969 khi mẹ Suốt từ trần, dân làng đôi bờ và bộ đội bảo vệ bến phà qua sông Nhật Lệ đã an táng mẹ theo nghi thức quân đội. Thế còn căn hầm ấy của chúng tôi thì sao? Chúng tôi đi được nửa tiếng thì căn hầm đã bị bom phá hủy. Gặp may à? Phải, tôi cho là như vậy. Gặp may … Ngoài ra tôi cũng gặp may ở Hà Nội, khi tên lửa bắn trúng hai ngôi nhà dành cho điểm phóng viên thường trú trên phố Tôn Thất Thuyết… |
Nàng tiên trên đường.
Một đám mây đen nhỏ tụ lại, rồi dường như bị tiếng nổ làm kinh sợ, nó trôi vùn vụt về phía đường chân trời sắc lẻm, nơi dãy Trường Sơn vươn lên trong màn sương phía tây Vĩnh Linh. Ở đó, trên những đỉnh núi nhấp nhô, cơn giông đang tịnh nộ. Còn ở đây chúng tôi hổn hển vì nóng bức, chốc chốc lại lau mồ hôi trên mặt. Giá như có một giọt mưa… - Dừng lại! Không đi được nữa, có bom chưa nổ, - một cô gái đội mũ sắt lộ ra một mái tóc dài đen mướt. Đôi tay con gái mảnh mai cầm cái xẻng, giống như người lính cầm khẩu súng trường xông vào trận giáp lá cà. Trước đầu xe vài mét là một cái hố. Dưới đáy là một quả bom 250 kilogram xám ngoét nằm chình ình. - Chúng thả lúc nào thế? - Mười năm phút trước. Quanh cái hố là ba cô gái đang đóng những cái cọc tre và giăng dây để ngăn người và xe không đi vào. Mấy người công binh khăn che kín mặt để ngăn bụi đường. - Chúng mình làm gì đây Kim Huế? Quyết thôi, - mấy cặp mắt thiếu nữ hướng về phía người dừng xe chúng tôi. - Đợi thêm chút nữa đi, Trần Thị Mỹ sắp đến rồi. Chúng ta không ai tháo bom giỏi hơn chị ấy đâu. - Hay tốt nhất là đi vòng? - Cậu nói phải đấy Hoa ạ. Thời gian không chờ đợi, - Huế tán đồng. – Chúng mình làm đường tránh nào. Ô tô không thể đỗ mãi trên đường được. Bọn chúng sắp ném bom đấy… Từng tốp người mới mặc quần áo nâu, đội mũ rơm kéo đến bên hố bom ven đường ngày một đông hơn cùng với cuốc xẻng, quang gánh. Và rồi họ cuốc đào thứ đất khô cứng như nhựa đường. Một người không rõ đẩy từ đâu tới một cái xe cải tiến. Đất đá bay rào rào xuống hố. Ai đó cất tiếng hát. Thoáng sau đã thành một dàn đồng ca hát vang trên đường hòa lẫn tiếng cuốc tiếng xẻng. |
Tôi lại gần cô gái chỉ huy, gương mặt Nguyễn Thị Kim Huế ửng hồng.
- Em làm ở đây lâu chưa? - Từ khi có chiến tranh. Câu chuyện rời rạc, cô gái cảm thấy bối rối. Cô chỉ quen làm việc. Làm quanh năm suốt tháng, bất kể mùa mưa dầm hay nắng gắt, bất kể ngày đêm. Thế mà ở đây không rõ từ đâu lại xuất hiện một nhà báo nước ngoài mang máy ảnh. Lại còn phỏng vấn nữa chứ. Huế bỏ mũ sắt, sửa lại mái tóc. Cô nói khe khẽ: - Trước đây em làm ở hợp tác xã Phú Hội tỉnh Quảng Bình. Chiến tranh nổ ra, em đi thanh niên xung phong, vào đội xung kích mở đường. Có vất vả không? Tất nhiên là vất vả chứ. Chúng ném bom hàng ngày, có ngày còn mấy bận cơ. Khu vực đội em phụ trách là 12 km vuông. Mấy hôm nay chúng ném xuống chỗ bọn em hàng trăm quả bom các loại chỉ trong một ngày đêm. Không thể tin được, nhưng đó là sự thật, sự thật khốc liệt của Vĩnh Linh: ven đường cứ cách 5-6 m lại có một hố bom toang hoác, xen lẫn là những ngôi mộ… Bắt gặp cái nhìn của tôi, Kim Huế giải thích: - Chỗ này B-52 ném bom mấy ngày trước. Nói chung là không lúc nào ngớt. Nhưng anh thấy đấy, xe vẫn qua. Đây là gì, phép mầu chăng? Nhưng chính những bàn tay nhỏ nhắn, yếu ớt như đôi tay cô Kim Huế này đã làm nên phép mầu ấy đấy. Chợt ai đó kêu lên: - Chỉ huy, đường tránh xong rồi. Bảo anh chàng nước ngoài có máy ảnh này là anh ta có thể đi được rồi. Ở lại nữa là chúng tôi hôn đấy! Tất cả cùng cười vang. Mấy phút sau đám bụi đất đã tung lên mù mịt như lốc sau chiếc UAZ che khuất các chiến sĩ làm đường. Tôi muốn được ở lại, để được hôn. Bỗng chợt nhớ: “Đừng vùi lấp chúng tôi bằng Shrike”. - Cuộc gặp hay nhỉ! Vừa lái xe vừa hút thuốc, anh Lân bảo tôi. - Nhưng có gì đặc biệt đâu? – Tôi đáp lại. Tuần qua chúng ta đã gặp các chiến sĩ xung kích trên các ngả đường Vĩnh Linh hơn 15 lần rồi mà. - Nhưng lần này chính là cô Kim Huế! Ngạc nhiên vì thái độ dửng dưng lạ lùng của tôi, Lân kêu lên. – Cô ấy là một trong những anh hùng nổi tiếng nhất nước đấy! - Sao lúc nãy anh không bảo tôi ngay? - Tôi không giấu được thất vọng. Nhưng quay lại thì muộn mất rồi. Tôi vẫn giữ được tấm ảnh cô ấy. Kim Huế không đợi được “cái hôn mong đợi”, cô đã hy sinh dưới làn bom… |
Trên “đất nhỏ”
Đảo Cồn Cỏ. Từ những gò đồi ven biển Vĩnh Linh chỉ lờ mờ nhận ra đảo bằng ống nhòm. Cồn Cỏ cách “đất lớn” 28 km. Hàng chục chiếc tàu của Hạm đội 7 ngày ngày vây hãm Cồn Cỏ hòng cắt đứt các chiến sĩ bảo vệ đảo với Vĩnh Linh. Nhưng khi đêm xuống thì những con thuyền các loại cùng những con người can đảm vẫn đưa đạn dược, thức ăn và những đơn vị chiến đấu đến “đất nhỏ”. Mới mấy năm trước ít ai biết đến Cồn Cỏ, ngay cả ở Việt Nam. Dân chài mê tín đặt tên cho mảnh đất 4 km vuông lởm chởm đá này là “Đảo Nữ thần hộ mệnh” hay “Đảo cá voi”. Những hang động và vũng tự nhiên của đảo đã giúp dân chài tránh bão và gió biển. Từng đàn cá lớn bên đảo hấp dẫn dân chài đến đây. Nhưng họ thường gọi đảo là “miền đất của cỏ hoang” – Cồn Cỏ. Thế là tên gọi ấy gắn liền với đảo. Mới gần đây thôi Cồn Cỏ vẫn hoang vu vắng vẻ, chỉ có tiếng ve sầu kêu ra rả phá vỡ sự tĩnh mịch hàng nghìn năm của đảo mà thôi. Mọi thứ như vậy cho đến ngày 8 tháng 8 năm 1959. - Hôm ấy, - trong căn hầm kiên cố, mái bằng những thân gỗ to, phó chính ủy quân sự đảo Cồn Cỏ Trần Ngọc Cư kể với tôi,- mấy đơn vị quân đội nhận lệnh chiếm lĩnh vị trí trên đảo, xây dựng trận địa phòng thủ, biến Cồn Cỏ thành tiền đồn trên biển để bảo vệ các vùng phía nam của nước VNDCCH. Vậy là pháo đài trên biển của VNDCCH ở vĩ tuyến 17, cách bờ 28 km ra đời. Cồn Cỏ. - Chúng tôi khai khẩn trồng vườn, làm công viên, làm nhà, trồng dứa, trồng chè, trồng cam, trồng dừa trên đảo, - các chiến sĩ biên phòng bảo vệ đảo Cồn Cỏ nhớ về những ngày tháng đầu tiên sống trên đảo. - Nhưng khi ấy, - Thức, xạ thủ súng máy, kể, - 20 tàu địch đến gần đảo. Chúng tôi chưa có lệnh bắn. Đảo đợi tàu địch đến gần. Nhưng rồi bọn địch không dám đổ quân lên đảo. Nhưng sau đó ngày nào máy bay do thám Mỹ cũng bay là là trên đầu chúng tôi chụp ảnh. Từ tháng 8 năm 1964 chúng bắt đầu ném bom Cồn Cỏ. Ngày 8 tháng 8 năm 1964, đúng ngày kỷ niệm 5 năm chúng tôi đến đảo, - chính ủy Cư kể tiếp, – hai máy bay Mỹ lao đến đảo. Chiến sĩ quan sát Thái Văn A, anh hùng quân đội Việt Nam, là người đầu tiên phát hiện máy bay của bọn cướp biển và phát lệnh báo động chiến đấu. Chúng tôi bắn tất cả các loại vũ khí mình có vào đám máy bay. Ngày 7 và 8 tháng 8, khi bọn xâm lược tăng cường không quân đánh phá VNDCCH, đất liền gửi cho chúng tôi mệnh lệnh: “chiếm lĩnh trận địa, giữ đảo bằng mọi giá, bắt địch phải chịu tổn thất nặng nề nhất”. Từ ngày 14 tháng 8 năm 1964 không quân Mỹ bắt đầu những trận đánh phá ác liệt nhất vào đảo Cồn Cỏ. Từ đó ra đời trang sử oanh liệt hào hùng của cuộc chiến đấu dũng cảm bảo vệ đảo |
Câu chuyện của các chiến sĩ làm tôi liên tưởng đến trận chiến đẫu bảo vệ pháo đài Brest của chúng ta. Ở đây, ở vĩ tuyến 17 này, cũng giống y như vậy, các chiến sĩ bảo vệ Cồn Cỏ đã bảo vệ tiền đồn VNDCCH với lòng dũng cảm vô song.
Đài quan sát của Thái Văn A. Đài quan sát giống như một cái lều tranh dựng trên ngọn của bốn cây gỗ. Chính từ đây ngày 14 tháng 3 năm 1965 các chiến sĩ bảo vệ đảo đã kịp thời thông báo có 28 máy bay và tàu tuần dương Mỹ đang đến gần đảo. Lũ máy bay bắt đầu ném bom xuống đảo. Thái Văn A bị thương nặng vào chân nhưng không rời vị trí quan sát. Các chiến sỹ trìu mến gọi Thái Văn A là “ra đa của đảo”. Trên đài quan sát của mình, anh đã chiến đấu hơn 600 trận với kẻ thù. Chiến sĩ Bùi Thanh Phong bị điếc trong một trận chiến đấu. Anh được đưa vào viện quân y trong đất liền, sau đó thấy anh không còn phục vụ cho chiến đấu được họ đã cho anh giải ngũ về quê gần thành phố Thanh Hóa. Ở đây anh được giao chỉ huy một đội dân quân. Các bác sĩ đã chữa và trả lại thính giác cho anh. Thế là anh đề nghị chỉ huy “Quân khu bốn” cho anh được trở lại đội ngũ những người bảo vệ Cồn Cỏ. - Tôi đã hứa với anh em là sẽ trở lại đảo. Mà người Cồn Cỏ lại biết giữ lời , - mọi lý lẽ của anh là như thế. Phong cố xin chỉ huy “Quân khu bốn” bằng được để quay lại đảo. Và rồi anh tiếp tục phục vụ ở Cồn Cỏ. …Đêm khuya. Một vài thuyền đánh cá lướt nhanh dưới ánh trăng. Họ cập vào bờ trong một cái hang... Đạn dược súng ống, lương thực thực phẩm, thư từ đưa tới. Những con người tình nguyện dũng cảm của Vĩnh Linh vừa vượt qua một chặng đường gian nan để đưa đến đảo Cồn Cỏ chuyến tiếp tế đêm thường lệ. |
Bên kia sông là miền Nam.
Không, thế là lần này không đến cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải được nữa. Tôi nằm dưới giao thông hào sâu. Đằng kia, bên kia sông là miền Nam Việt Nam. Trên trời, mấy tốp máy bay Mỹ bay từ miền Nam ra. Sau khi lượn lại, chúng bắt đầu thả bom. - Phải quay về đồn thôi, - trung úy Triết hét lên. - Hay là ta cứ đợi đi? Chúng ném bom xong thì cút thôi? - Bọn này cút thì bọn khác lại tới ... Chúng tôi lọ mọ quay lại đồn biên phòng. Ở đây rừng như bị phai màu. Rừng không còn xanh mà có màu vàng đỏ, như màu đất. Cây cối cháy sém nham nhở. Những miệng hố lở loét. Đâu đó vẫn còn những đám lửa đang cháy. Hai chiến sĩ biên phòng mặt mũi đen nhẻm vì bồ hóng đang dùng dao rìu dọn dẹp cây đổ lấy lối đi. Người thứ ba ở cách họ chừng chục mét đang đóng một tấm gỗ vào cây dừa đã cháy xém, tấm bảng ghi: “Đồn biên phòng”. -Tháng vừa rồi khó mà đếm được máy bay Mỹ đã ném bom khu vực này của Vĩnh Linh bao nhiêu lần, - trung úy đồn trưởng Triết nói. Các chiến sĩ biên phòng VNDCCH đã đến đây ngay sau khi ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, sát đường ranh giới phía bắc khu phi quân sự. Bọn biệt kích do “cố vấn” Mỹ huấn luyện đã xâm phạm ranh giới gần cầu hơn 40 lần. Cũng bấy nhiêu lần chúng bị các chiến sĩ biên phòng bắt gọn. - Có lần chúng khiêu khích thế này, - Triết kể tiếp, - còn nhớ mùa hè năm 1967, lính Mỹ áp giải đến đây một nhóm người, có hàng chục nhà báo Sài Gòn và nước ngoài đi cùng. Và chúng nói rằng đây là bộ đội Bắc Việt đang chiến đấu ở miền Nam. Hóa ra họ chỉ là những nông dân hiền lành ở mấy tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam. Họ bị quân Mỹ bắt giữ trong những trận càn khác nhau. Cả những trò như thế chúng cũng làm đấy. Tiếng keng keng của một cái kẻng bằng vỏ đạn cắt ngang câu chuyện của chúng tôi. Báo động. Máy bay Mỹ lại xuất hiện trên trời. Các chiến sĩ vào vị trí chiến đấu, nắm chắc súng máy phòng không. - Chúng đi ném bom phía bắc Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình đây, vừa nhìn lên trời, Triết vừa đoán. Anh lấy mũ sắt che cho đỡ chói mắt. ... Mấy hôm sau bọn xâm lược Mỹ đã phá cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải ở ngay giữa khu phi quân sự. |
Giữa chiến tranh và hòa bình
Năm 1973. Ngày 27 tháng giêng, ở Paris, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết. Số phận nhà báo một lần nữa lại đưa tôi tới khu phi quân sự vẫn còn đang phân chia hai miền Nam và Bắc Việt Nam.. Chúng tôi lập “tam ca” báo chí. Phóng viên Ý Massimo Lokke của báo Unita (bây giờ là phóng viên truyền hình Ý ở New York), phóng viên đặc biệt của tờ báo “Acahata” Nhật Bản và phóng viên báo “Tin tức”. ...Biết bao nhiêu dấu vết của chiến tranh ở khu vực Bến Hải... Những hố bom sâu hoắm giữa những hàng rào dây thép gai. Đây đó những khẩu pháo gục nòng xuống đất, những chiếc xe tăng của quân Sài Gòn đứt xích. Trên một cái bảng gỗ dán còn dòng chữ: “Phòng tuyến McNamara”. Và rồi lại những hàng dây thép gai bị cây cỏ tranh, dây gai leo trùm kín. Bao nhiêu năm rồi bàn tay nông dân cần cù không được chạm vào đất này, bao nhiêu năm rồi đất này không được biết đến lưỡi cày! Ngay cả chim cũng không làm tổ ở đây nữa... Năm 1966 quân Mỹ xây dựng ở đây những hàng rào đầu tiên của cái gọi là “Phòng tuyến McNamara”. Ba cứ điểm chính là Dốc Miếu, Cồn Tiên và Gio Linh tạo nên bộ xương của nó. Từ đây đại bác tầm xa liên tục bắn phá những vùng đất phía nam của VNDCCH. Năm 1967 pháo binh VNDCCH bắn trả, hai căn cứ Cồn Tiên và Gio Linh đã bị những loạt đạn chính xác bao phủ. Từ đó lính Sài Gòn bắt đầu gọi Cồn Tiên là khu vực túi lửa, là căn cứ chết. Ngày 30 tháng 3 năm 1972 những hàng rào đầu tiên của “phòng tuyến McNamara” bị các chiến sĩ Quân giải phóng nhân dân tiêu diệt hoàn toàn. Tuyến phòng thủ thứ hai đi qua Đông Hà – Cửa Việt. Một tháng sau nó cũng bị chọc thủng vào ngày 27 tháng 4 năm 1972. Lá cờ giải phóng cũng đã tung bay trên tuyến phòng thủ thứ hai và cuối cùng ở Khe Sanh, Ái Tử, La Vang và thành phố Quảng Trị ngày 1 tháng 5 năm 1972. Tướng Sài Gòn Vũ Văn Giai, - chỉ huy sư đoàn bộ binh thứ ba phòng thủ khu vực Quảng Trị đã bị kết án 5 năm lao động khổ sai và tước danh hiệu sĩ quan vì đội quân ông ta bại trận tại đây. Các tướng lĩnh Sài Gòn không ngớt tán dương binh lính của mình và gọi họ là đội quân “không thể chiến bại”. Và đây là đội “không thể chiến bại” mặc trang phục mang đủ sắc màu của rừng của lá (nói ngắn gọn là biệt kích). Đó là phân đội “không thể chiến bại’ mặc quân phục in hình sóng biển (lính thủy đánh bộ), và đây là những tiểu đoàn “dũng sĩ trời xanh” mũ nồi đỏ (lính dù). Tất cả các đơn vị “không thể chiến bại” đều có tên gọi và phù hiệu riêng: “hổ đen”, “đại bàng đỏ”, “trâu điên”. Trên cổ đeo đủ loại bùa – đuôi sóc, răng thú ... Chúng hung dữ, độc ác, tự mãn và khoác lác... Chính tại nơi đây, ở tỉnh Quảng Trị này, những người yêu nước đã đánh tan tác những kẻ không thể chiến bại, quét sạch khỏi mặt đất những “tuyến phòng thủ” mà bọn xâm lược đã tính toán là phải chia cắt Việt Nam hàng thế kỷ. Vùng này có một ý nghĩa đặc biệt: nó nằm ở chỗ giao nhau của hai con đường chiến lược quan trọng nhất là đường số 1 và đường số 9. Quảng Trị được coi là căn cứ bàn đạp trong cuộc chiến chống lại phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương. Toàn bộ làng mạc trong tỉnh đều bị phá hủy trong những năm chiến tranh. Trước mắt tôi thành cổ Quảng Trị là một đống đổ nát hoang tàn. Chỉ trong mấy tháng của năm 1972, đã có gần 200 nghìn tấn bom đạn đổ xuống thành phố này, diện tích thành phố chỉ có 10 km vuông. Khi nước sông Thạch Hãn dâng lên đã đe dọa nhấn chìm thành phố. Kẻ thù đã phá hủy hết đê điều bằng bom laze. |
Tôi đến Quảng Trị năm 1973 ngay sau khi ký Hiệp định Paris. Ở thị xã Đông Hà rất khó xác định chỗ nào từng có nhà, chỗ nào là đường phố. Quân đội Sài Gòn vẫn tiếp tục khiêu khích chống lại vùng giải phóng. Ở khu vực Cửa Việt, một sư đoàn quân Sài Gòn tấn công lấn chiếm vùng giải phóng nhưng đã bị những người yêu nước đánh bật ra.
Ở làng Nhân Biểu huyện Triệu Phong bên bờ sông Quảng Trị có một điểm trao trả tù binh. Bờ bên kia là lá cờ sọc đen vàng của Sài Gòn. Chỉ huy điểm trao trả tù binh là trung úy Quân đội nhân dân 28 tuổi Phạm Đình Oanh khi ấy đã cho tôi xem những ghi chép của anh sau khi đăng ký từng nhóm tù binh trao đổi. Đây là một vài đoạn trong đó: “Những tù binh và tù chính trị mà bên Sài Gòn trao trả đều có vẻ kiệt sức, phờ phạc. Một vài người bị cắt tai. Người bị thương không có thuốc men. Nhưng không một sự tra tấn tàn bạo nào có thể bẻ gãy được ý chí của họ, họ kiên quyết quay về vùng giải phóng. Nhiều người chỉ vừa chạm bờ của bên ta là giật ngay quần áo Sài Gòn vứt xuống sông. Một người bị thương còn xin chúng tôi mảnh giấy và lấy máu viết: “Tự do muôn năm! Bắc Nam nhất định thống nhất”. - Trước khi trao trả chúng tôi cho Chính phủ cách mạng lâm thời, - cựu tù chính trị ở Phú Quốc, nhà sư Thích Viên Thảo {8} và cô gái 27 tuổi Lê Thị Đỗ kể, - chúng còn bắt chúng tôi qua hàng loạt cuộc thẩm vấn. Ban đầu chúng dụ dỗ ở lại vùng của chính quyền Sài Gòn, sau đó đánh đập rồi lại dụ dỗ. Chúng thẩm vấn một phụ nữ có con ốm suốt bốn ngày đêm. Người phụ nữ ngất đi, nhưng khi tỉnh lại vẫn trả lời: “Tôi cùng con sẽ về vùng giải phóng”. Chị ấy đã thề với chồng mình, với bạn bè, với những người đã bị hành hạ trong những bức tường của Sài Gòn là sẽ về vùng giải phóng. Và khi thực hiện lời thề này chị đã phải trả bằng cái giá đắt nhất: đứa con thơ đã chết trên tay chị. |
Bão biển. Vượt qua bãi mìn như đi trên băng mỏng.
Bụi đường đỏ quạch bất chợt bị hút thẳng lên trời như hình một cái lò xo. Một cơn gió mạnh giật phăng chiếc mũ nan trên đầu bác nông dân đứng bên cạnh tôi. Chiếc mũ bay liệng theo gió giữa những đám cỏ tranh khô xác xơ phủ đầy bụi cho đến khi mắc vào hàng dây thép gai. Khuôn mặt bác nông dân nhăn lại tiếc nuối: thế là mất cái mũ. Ấy thế mà gió cứ mạnh lên mãi. Nó thổi làm cho những chiếc áo khoác pha nilon của chúng tôi căng lên như cánh buồm, cứ chực lôi chúng tôi đi trên mặt đất không thể cưỡng lại được. Những đám mây đen sà xuống ngày càng thấp dần. Một trong số mấy đám mây như va vào đỉnh dãy Trường Sơn ở biên giới phía tây với Lào liền tức giận xối xuống những dòng nước mưa xối xả. Gió vẫn mạnh lên, cơn mưa rào cứ như định nối liền bầu trời với mặt đất. - Bão đến đấy, - tôi chợt nghe thấy tiếng lão nông. Những âm thanh khác chìm nghỉm vào tiếng gió gào và tiếng mưa đổ. Trước đây tôi đã nhiều lần gặp bão. Nhưng một cơn bão thế này thì đây là lần đầu. Tốc độ gió lên đến hơn 40 m/giây. Tất nhiên điều đó mãi sau này tôi mới biết. Còn lúc này gió cứ chực làm đôi chân khuỵu xuống. Mưa như quất vào mặt. - Phải mau đến làng gần nhất thôi, lão nông hét lên với tôi. Con đường rẽ về phía một gò đất nhỏ, trên đó hiện ra mấy cái lều tre – cứu cánh là ở đó. Càng lúc đi càng khó. Đất sét trơn như đổ mỡ. Nước tràn lên. Những con suối nhỏ phút chốc biến thành dòng nước hung dữ. Những cái hố bom ngập nước biến thành một cái hồ vàng đục ngay trước mắt, nuốt gọn vào mình những bụi cây, đám măng tre. Chỉ còn hàng rào dây thép gai để định hướng đi trong sa mạc nước mênh mông. Tôi không biết làm sao qua được cơn ác mộng này. Nhưng thế chưa phải là hết. Hoá ra cánh đồng đã bị rải mìn và chúng tôi đang đi qua bãi mìn. Tôi cay đắng nói đùa: “Đi qua bãi mìn cũng như đi trên lớp băng mỏng thôi. Và không sao cả…” Phóng viên Ý Massimo Lokke không sao cười được. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được làng… Một cái nhà tạm bằng tranh tre nứa lá thành nơi trú ngụ của chúng tôi. Lão nông cẩn thận xếp củi. Tôi biết ở vùng hẻo lánh này, để có củi người nông dân phải đi hàng chục cây số vào rừng, mà ở đây mỗi bước chân là một bước liều, những quả mìn đang rình rập với mối nguy hiểm chết người. Ba bó củi nằm ngay ngắn trong góc lều ấy đủ dùng cho bao lâu đây? Và cơn bão còn kéo dài mấy ngày nữa? Không khí mỗi lúc càng ẩm ướt và lạnh lẽo… |
Trong lúc tôi đang vắt thật kỹ quần áo ướt ở cửa thì người bạn đường của tôi thì thầm gì đó với ông già. Gió mưa tiếp tục gõ trống trên mái nhà làm át tiếng của họ. Nước đang sôi sùng sục trong chiếc nồi đất cạnh cái cửa cọt kẹt. Vắt xong quần áo tôi đi chân đất bình bịch vào nhà. Trong nhà tối om. Ngọn lửa bập bùng cho thấy một cái bàn thờ nhỏ, trên đó có mấy nén hương cắm trong một cái vỏ đạn đại bác. Tôi nhìn quanh nhà: một cái bàn ghép bằng những mảnh ván thùng hàng quân sự, một cái phản, tức là giường nông dân, rải một mảnh chiếu cói cũ và ba chiếc ghế đẩu. Đó là tất cả vật dụng trong một nhà nông dân.
Lão nông kéo một chiếc ghế đến bên bàn mời tôi ngồi. Sau đó ông hút thuốc bằng một cái điếu ống, xong rồi ông chìa cái điếu cho tôi. Thuốc lá trong túi ướt đến nỗi trở thành một đống bầy hầy giữa giấy và thuốc. Tôi muốn vứt đi nhưng lão nông lại nhặt lấy bao thuốc, cẩn thận vắt nước rồi rải thuốc lên hòn đá bên ngọn lửa. - Tôi sẽ hong khô, thuốc còn cần cho anh đấy, - ông nói. Tôi thấy người nông dân này có vẻ cau có, lầm lì. Đôi mắt ốc nhồi đen to quá cỡ cứ nhìn chòng chọc. Những ngón tay khô ráp, chai sạn, cong queo với những cái móng ngắn tủn sứt mẻ làm người ta liên tưởng đến móng vuốt của loài chim ăn thịt. Áy vậy nhưng ông Quế lại là người rất tốt nhất đấy, - người nông dân cùng đi bảo tôi khi giới thiệu tôi với ông già. Chủ nhà xăng xái bên bếp lửa rồi sau đó khoác áo mưa đi ra. Chốc lát cái bóng gù gù của ông đã biến mất trong bóng tối. Mấy phút sau ông trở lại, dưới vạt áo mưa là một cái nồi cũ ám khói bên trong có ít gạo. - Có gì ăn nấy nhé, - lão nông bắc nồi lên bếp và bắt đầu nấu cơm. |
Ông Quế đã sống ở cái làng nhỏ này hơn sáu mươi năm. Từ nhỏ ông đã vào rừng hái củi, ông biết từng lối mòn trong xã Triệu Độ huyện Triệu Phong. Cha mẹ mất sớm. Họ mất khi ông Quế mới 13 tuổi. Bệnh sốt và đậu mùa khi ấy đã giết nhiều người dân Quảng Trị. Ông không nhớ bản thân ông làm sao sống sót được. Nhờ có những người tốt bụng mà cậu bé sống sót được.
Vào những năm 30 Quế bỏ làng đi kiếm sống ở Quảng Trị và sau đó là Đà Nẵng. Nhưng cậu không thể tìm được việc làm. Có hàng ngàn người như cậu, cũng nghèo khổ, quỳ lạy xin việc ở các nhà máy trong thành phố. Họ còn phải hạ mình bao nhiêu nữa để kiếm sống! Đói rét, suy kiệt, họ chết dần chết mòn trên những ngả đường, dưới những gốc đa, gốc tràm, bên những hàng rào tre nứa. Những ai sống sót được thì hoàn toàn thất vọng mà tay không trở về làng quê. Ở huyện Triệu Phong có tất cả 21 nghìn mẫu {9} đất canh tác được và gần 15 nghìn hộ nông dân. Chỉ có điều là đất này lại không thuộc về họ. Còn thóc lúa mà họ trồng trên phần đất thuê của địa chủ hầu như phải nộp hết cho chủ. Nông dân phải đóng thuế nặng cho việc dùng nước suối chảy từ trên núi xuống. Số phận cũng không nhân từ với Quế. Cậu cũng buộc phải quay về làng, nơi cậu chỉ còn lại túp lều tranh tồi tàn. Nhưng một tai họa mới đang đợi cậu ở đây. Cơn bão từ ngoài biển đến đã phá hủy làng của cậu. Dòng nước điên cuồng đã rửa sạch những hạt giống mới gieo, phá vỡ đê đập, đồng lúa. Nạn đói đang chờ đợi mọi người. Cậu cùng những nông dân khác đến nhà địa chủ vay thóc. Lão địa chủ trong bộ áo thụng may chỉ vàng sang trọng ra gặp những người sắp chết đói, nghe họ giãi bày rồi sau đó ném một nắm thóc xuống đất. Bộ mặt béo núc của hắn nở một nụ cười: - Đấy, tao cho chúng mày chừng này… Thế là những người nông dân phải trở về tay không. Nhưng đêm đến nhà địa chủ bỗng bị cháy. Những thanh rầm xà vững chắc gãy răng rắc trong lửa, mái ngói sập xuống, cả nhà ngang nơi địa chủ cất thóc cũng bốc cháy. Những người nông dân cứ đứng xem ngọn lửa thiêu đốt của cải nhưng không ai xách đến một thùng nước. Mặc cho tên địa chủ van xin cầu cứu, không một ai nhúc nhích. Tên địa chủ mặc chiếc áo choàng hạng nhất ngồi bệt xuống đất ôm mặt nức nở. |
Sáng ra thì một đội cảnh sát đến làng Triệu Độ. Chúng điều tra ra kẻ đốt nhà chính là Quế. Chúng đánh đập anh nông dân rất tàn nhẫn rồi còng tay đưa về nhà tù Quảng Trị. Anh phải ở tù 8 năm. Mãi đến đầu những năm 40 Quế mới được trở về làng mình. Ở đó bọn Nhật đã làm chủ. Thực ra bọn lính không ở trong làng của anh, nhưng chúng ghé vào đây hàng tuần. Nông dân sợ hãi không dám ra khỏi nhà, thóc lúa, gà vịt đem giấu kín. Nhưng bọn Nhật tìm thấy và moi ra hết mọi thứ trong làng. Nếu có ai tuyệt vọng chống lại là chúng bắn ngay người ấy. Sau mỗi chuyến viếng thăm của bọn cướp là trong làng lại vang lên tiếng khóc than người chết rồi sau đó gửi họ cho đất trong nghĩa địa ven làng.
- Rồi bỗng một hôm có một người đến làng. Theo giọng nói thì anh ta chẳng khác gì người làng. Anh ta chẳng có túi đi đường gì lớn. Mọi đồ dùng lặt vặt đơn sơ anh đựng hết trong chiếc bị gai sờn sách trên vai. Nhưng Quế thấy hình như đã gặp người này ở đâu rồi. Rồi anh nhớ lại những ngày đầu ở nhà tù Quảng Trị. Sau khi đánh xong chúng liền quẳng anh xuống nền đá của buồng giam. Một người tù lại gần anh, rửa vết thương rồi xé áo mình băng bó cho anh. Quế đau đớn thập tử nhất sinh mất mấy hôm. Và người này luôn ở bên anh. Sau này bọn lính vào buồng giam đưa người này đi. Quế không còn gặp anh ấy nữa nhưng quyết định giữ lại mảnh áo để nhớ về anh ấy. Bây giờ ngắm kỹ khuôn mặt người lạ, Quế vui mừng nhận ra anh ấy chính là người trong nhà tù Quảng Trị. Một cuộc gặp gỡ tốt lành, như gặp lại người thân vậy. Anh nông dân chạy bổ về lều, lôi trong tráp ra mảnh áo rách anh cất giữ bấy lâu nay và đi tìm người ấy. Anh bắt gặp anh ta trong một quán cơm trong làng, chìa mảnh vải ra và hỏi: - Anh nhớ tôi chứ? Ở nhà tù Quảng Trị ấy… - Không, người lạ đáp lại, - anh nhận nhầm tôi là người khác rồi. - Không đâu. Đúng là anh mà. Anh đã cứu giúp tôi. Xin anh hãy nhớ lại..- Quế năn nỉ anh ta. – Tôi làm gì để đền ơn anh đây?... Cuối cùng người lạ mỉm cười chìa ta ra cho Quế. - Còn gì nữa, thế thì hãy cho tôi ngủ nhờ ở nhà anh một tối thôi. Lâu rồi tôi lâu quá rồi không được ngủ. Quế đưa mảnh chiếu của mình cho khách và đi nấu cơm. Hôm trước anh vừa mua được một con cá mực. Anh nhanh chóng nướng nó lên, đổ giấm ra bát rồi đặt lên bàn. Gia vị là tro cỏ tranh cháy. Sau khi cảm ơn Quế đã đón tiếp nồng hậu, người lạ mới thổ lộ cho Quế bí mật của mình: - Tôi vừa trốn tù ra. Cảnh sát đang truy bắt tôi. Tất nhiên là tôi cũng nhớ anh chứ. Nhưng lúc ở ngoài quán tôi không nhận là vì ở đó có nhiều người. Để đề phòng thôi, có thể mọi thứ sẽ ổn cả. Tôi sẽ ngủ nhờ anh một tối, sáng mai tôi lên núi. Người ta bảo ở đó có du kích. Quế đã nghe nói về du kích nhưng không biết họ ở đâu, họ là ai. Người ấy ăn nhanh, rõ ràng là đã lâu không được ăn. Anh nông dân đưa bát cơm của mình cho bạn. “Cứ để anh ấy ăn, anh ấy cần hơn, còn mình sẽ cố chịu”, Quế thầm nghĩ như vậy. Vầng trăng sáng như một quả xoài chín chiếu vào cửa sổ. |
Sáng ra Quế vay hàng xóm ít gạo bỏ vào túi rồi chỉ cho người ấy con đường dễ đi nhất để lên núi.
- Có thể tôi sẽ lại về với anh. Anh sẽ không đuổi tôi đi chứ? – người ấy hỏi. Quế đáp lại bằng một cái bắt tay thật chặt. Họ gặp lại nhau vào năm 1953 khi những người Việt Nam yêu nước chiến đấu chống lại thực dân Pháp. Lần này về làng, người ấy là chỉ huy đội du kích đã giải phóng Quảng Trị. Bây giờ anh không giấu tên mình nữa. Tên anh là Nguyễn Quang Vinh. Sau năm 1954, khi Việt Nam bị phân chia làm hai miền, quân lính Sài Gòn lại xông vào làng. Quang Vinh ẩn náu ở nhà Quế một thời gian dài rồi sau đó lên núi. - Hãy cố chịu đựng bạn nhé. Chúng tôi sẽ còn trở lại, - anh nói. - Quảng Trị sẽ được giải phóng. ... Những năm đói kém nặng nề cứ quanh quẩn ở làng Triệu Độ. Trong làng lại xuất hiện địa chủ, không biết từ đâu tới. Địa chủ bây giờ mặc quần áo sĩ quan. Mũ cát két kép sụp xuống trán. Đôi mắt ti hí loé lên dưới cặp lông mày rậm. Cái ba-toong trong tay hắn chỉ vào nhà nông dân cho đám lính và lặp đi lặp lại: - Nhà này cũng sẽ làm việc trên ruộng của tao, cho đến khi bù được gấp 10 lần những gì tao đã mất ở đây khi cháy... Ông Quế làm việc ngoài đồng quần quật từ sáng đến tối nhưng trong nhà không phải bao giờ cũng có bát cơm. Lưng đau buốt vì những trận đòn roi, đôi tay làm quá sức luôn đau đớn ... Mái lá nhà anh đã dột, mỗi khi trời mưa trong nhà chẳng khác gì ngoài sân. Quế đã nhiều lần nghĩ quẩn: anh không muốn sống nữa, không còn sức lực nữa. Nhưng mỗi khi tưởng như không còn chịu nổi anh lại nhớ đến Quang Vinh và lời của anh ấy: - Nhất định chúng tôi sẽ trở lại. Quảng Trị sẽ được giải phóng. Năm 1964 khởi nghĩa nổ ra trong tỉnh, Quang Vinh lại cùng du kích trở về Triệu Độ. Anh bảo ông Quế cùng đi lên núi. Nhưng người nông dân lắc mái đầu đã ngả muối tiêu và nói: - Tôi đã quá muộn để đi theo anh, quá muộn rồi. Tôi già yếu rồi. Tôi chẳng giúp được mấy nữa, lại không hành quân nổi, sẽ là gánh nặng cho các anh thôi. Nhưng ở đây biết đâu tôi lại có ích. Mấy tháng sau quân Sài Gòn lại chiếm làng Triệu Độ, xua mọi người đến sân làng và tuyên bố: mau thu dọn đồ đạc, các người sẽ phải chuyển đến ở trong “ấp chiến lược” Cùa. |
Người nông dân đã quen với mảnh đất của mình, dẫu nghèo khó, có lúc không nuôi nổi anh ta, nhưng là đất của mình. Tổ tiên của anh ta đang yên nghỉ trên đất này, đối với anh ta mảnh đất này là thiêng liêng. Nhân dân kêu ca nhưng bọn chúng không nghe họ. Bọn lính dùng lưỡi lê dồn mọi người lên xe tải và ép họ về Cùa. Vậy là Triệu Độ trở thành “vùng trắng”, nhà bị đốt, ruộng lúa đầy hàng rào dây thép gai.
Mãi đến mùa xuân năm 1972 mọi người mới trở lại đất Triệu Độ. Khi ấy lá cờ xanh đỏ có ngôi sao vàng đã tung bay trên khắp huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Đó là lá cờ do đội quân của Quang Vinh mang tới. ...Nồi cơm đã chín, mùi thơm tỏa ra khắp nhà. Ông Quế khéo léo xới cơm ra mấy cái bát nhôm. “Ấn tượng ban đầu về con người thường hay đánh lừa”, - tôi thầm nghĩ. Đôi mắt đen mở to của ông lão đối với tôi không còn gai góc nữa. Đây là cặp mắt mệt mỏi của một con người đã chiêm nghiệm nhiều trong đời. Trời vẫn đổ mưa ào ào như ban nãy. Trong nhà có thể thấy rõ nước đổ từ trên núi xuống. Nước nhấn chìm cả những lùm cây lẫn hàng rào dây thép gai. Mấy ngọn tre nhô lên lẻ loi. Cơn bão tiếp tục hoành hành. |
Cánh buồm của Lương
Con thuyền đánh cá với cánh buồm rách nát trên cột đang rẽ sóng dòng sông Thạch Hãn hung dữ, khi thì đè lên đỉnh ngọn sóng, lúc thì như tụt xuống vực sâu. Nhưng cánh buồm được một bàn tay khéo léo điều khiển vẫn đưa con thuyền hướng ra Cửa Việt phía biển Đông. Khi thuyền máy của chúng tôi lao ngang qua tôi thấy một chàng trai không cao lớn lắm mặc áo kẻ sọc đội mũ rơm đứng ở mũi lái. Những bắp thịt cuồn cuộn trên cánh tay: anh đang cầm chắc tay lái. Những đám mây xám nặng như chì càng lúc càng hạ thấp xuống dòng sông. Và rồi những giọt mưa đầu tiên đã gõ đều đều trên mái xuồng. Gió tung hoành như đè mây xuống sông, mưa đổ xuống thuyền như trút nước. Một thợ máy lấy ra một cái mũ sắt Mỹ màu xanh. Buộc vào đó một thanh tre làm cán, chiếc mũ sắt biến thành cái gàu , anh thợ máy dùng nó để tát nước ra. Nhưng nước vào rất nhanh nên chúng tôi quyết định ghé vào bờ. Anh thợ máy ném dây chão, nhảy qua thành xuồng rồi lội mấy mét nước sâu tới ngục buộc dây vào một cái cọc lim – một loại “cây sắt”. Cả chúng tôi cũng lên bờ. Bên cạnh cây đa to, dưới mái nhà lá gồi, mấy người dân chài đang sơn tẩm thuyền. Họ ngạc nhiên nhìn chúng tôi rồi sau đó mỉm cười chào thân thiện. Họ buông đồ nghề, lấy xơ gai lau tay mời chúng tôi ngồi. Người lớn tuổi nhất có bộ râu bạc nhọn hiếm thấy lấy cái ống điếu, thong thả nhồi thuốc, quẹt cái bật lửa làm bằng vỏ đạn châm thuốc rồi kéo một hơi dài. - Tôi là Liêu, ông chìa ra bàn tay khô ráp chai sạn, tự giới thiệu. - Các anh ở lại làng Xuân Khánh chơi nhé Khói thuốc tỏa ra dưới mái lá dừa rồi bay ngay ra dưới dòng nước mưa. Trên sông gió vẫn điên cuồng như trước. Có vẻ như chỉ có mỗi cánh buồm đằng xa kia đang đơn độc chống lại nó. |
- Bão là bão. Khi nó còn đang gầm gào, nó chưa ngớt thì hãy để công việc sang một bên, làm người thì phải chờ thôi, - lão ngư phủ nói. Ông sinh ra và lớn lên ở đây. Tóc ông bạc đi ở ngay bờ sông Thạch Hãn này nên ông biết rõ sự thất thường của dòng sông cũng như thời tiết. Gió này phải cỡ cấp 9, cấp 10.
- Thế chàng trai kia thì sao? – tôi chỉ về cánh buồm đang chìm trong mưa gió. - Đó là cậu Lương của chúng tôi, - ông Liêu đáp. Cơm của nó không nguội trên bàn thờ đâu. Tôi không hiểu. Một người giải thích: - Người miền Nam thường nói thế khi tin là con người sẽ sống trở về và không cần phải thờ cúng anh ta bằng cách đặt một bát cơm để nguội lên bàn thờ. – Các anh không biết là Lương mới có 16 tuổi thôi, - ông lão đánh cá lại kể tiếp. – Người bốn mươi tuổi cũng chưa phải chịu đựng nhiều như nó. Không ít đau khổ đã rơi vào phận nó. Tôi còn nhớ nó đến làng Xuân Khánh chúng tôi năm 1966. Đó là những ngày nóng nực. Tôi vác một tấm mành ra nằm trên bãi cát bên bờ sông Thạch Hãn, như thế mát hơn. Thú thực là tôi làm thế để đếm tàu chiến của quân Sài Gòn vào cảng Cửa Việt để báo cho du kích. Chợt thấy một thằng bé đói rách tả tơi ở bên cạnh. Rõ ràng là người nơi khác đến. “Cháu từ đâu tới?” – tôi hỏi. Nó nín thinh. Chiều hôm sau tôi lại gặp nó ở bờ sông. Nó nhìn về nơi nào đó xa xăm như mong chờ ai đó. Tôi bắt đầu thấy thương nó. Tôi lại gần vỗ vai bảo nó vào lều tôi mà ngủ lại. Thằng bé đồng ý... Tôi xới cơm, thêm vào miếng cá, nắm rau. Lương - tên nó là Lương, - lặng lẽ nhìn, không động đến đũa. “Nếu cháu muốn thì ở lại đây với bác, - tôi đề nghị. Chúng ta sẽ cùng đi đánh cá. Bác chỉ có một mình, vợ con chết cả rồi”. |
“Cảm ơn bác”, - nó khẽ nói rồi lại im lặng. Thú thực lúc ấy tôi thấy bực: mình nhận nó như người ruột thịt, vậy mà nó lại ... Nhưng chỉ một tháng sau Lương đã kể hết với tôi là mẹ nó bị tù ở chỗ nào đó gần Sài Gòn. Đêm đêm mỗi khi chúng tôi nằm xuống phản là tôi lại biết là nó nhớ mẹ, nó sợ là không bao giờ còn được gặp lại mẹ nữa.
- Thế bố cháu đâu? – tôi hỏi và ngay lập tức thấy là không nên hỏi nó câu ấy. - Bố ư? – Ông lão rít một hơi thuốc rồi im lặng. Bố nó chết trước mắt Lương. Bố con nó thâm nhập vào vùng Quảng Trị để thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận. Thuyền bố con nó gặp phải bọn lính Sài Gòn đi tuần đêm. “Nhảy xuống nước đi, - bố nó ra lệnh. Bố sẽ chặn chúng”. Khi đang bơi Lương nghe thấy tiếng súng máy cỡ lớn nổ trên ca nô bọn giặc. Bố nó bắn trả bằng những loạt ngắn thưa thớt – phải tiết kiệm đạn để con bơi đi càng xa càng tốt... Khi Lương đến được bờ thì đã thấy trên sông im phăng phắc. Đâu đó trong đêm vọng lại tiếng ca nô bọn giặc đang xa dần. Lương không nhớ đã nằm ở bãi cát bao lâu và làm sao đến được làng Xuân Khánh. Khi gặp tôi nó hoảng sợ, liệu tôi có đem nó đi nộp cho giặc? Về sau nó tin tưởng... Ông lão nói với trưởng thôn đây là cháu ông. Tên này nheo mắt hoài nghi, đòi giấy tờ, nhưng sau khi được biếu một giỏ tôm cua và hai nghìn đồng bạc trắng (tất cà những gì cụ Liêu dành dụm được) hắn liền ghi tên Lương vào sổ của làng. Vậy là con trai người du kích trở thành cư dân “hợp pháp” của làng chài Xuân Khánh tỉnh Quảng Trị. Tháng 3 năm 1966 tai họa ập đến: chính quyền Sài Gòn đuổi hết dân ra khỏi làng. Ai định chạy là chúng bắn rồi sau đó giải thích: “Tên này là du kích”. Chúng dồn dân vào trại tập trung, trong đó đã có dân những làng lân cận. Cũng giống như mọi trại tập trung của tỉnh Quảng Trị, xung quanh là hàng rào dây thép gai và tám bốt gác, cứ 8 người dân bị giữ ở đây thì có một lính Sài Gòn. Ở cổng ra vào duy nhất là hơn 20 xe tăng và một tiểu đoàn lính. Phía bên kia trại tập trung giáp với sông Thạch Hãn thì cũng có lính Sài Gòn tuần tra, hàng chục chiếc ca nô xuôi ngược cả ngày lẫn đêm. Sau đó là một chuỗi ngày dài đen tối. Một bận, ông Lãng, người bạn 60 tuổi của ông không chịu nổi và định trốn khỏi trại tập trung. Bọn chúng bắt được và bắn chết ngay tại cổng trại. Lúc đó ông đã thấy thằng cu Lương nắm chặt nắm tay như thế nào. - Chúng ta sẽ trả thù cho ông ấy cháu ạ, - ông nói. – Rồi sẽ đến lúc. Nhớ là chỉ những cột buồm chắc mới không bị bão bẻ gẫy. |
Từ tối hôm đó Lương thường liều mạng trốn khỏi nhà, cậu bò dưới dây thép gai ra ngoài trại chạy vào rừng gặp du kích. Rồi cậu dẫn về một cô gái và bảo:
- Bác ơi, bác biết chị ấy đấy, đây là chị Trần Thị Lành. Chị ấy là người làng ta. Bác hãy cho chị ấy nấp, chị ấy là du kích. - Tôi không thể ngờ là cái cô Lành 23 tuổi chăm chỉ hiền lành mà tôi biết từ khi còn nằm nôi ấy lại làm du kích được. “Chị vào đi, - Lương bảo, - bác Liêu là người tin cậy, không báo giặc đâu”. Lành vào lều, đặt chiếc giỏ cá nặng phủ lá cây xuống cái chõng nứa. “Gì trong đó?” – tôi hỏi. “Mìn đấy, - cô đáp ngắn gọn. Ngày mai cháu và Lương phải làm sao cài nó ở cổng trại. Đến tối du kích sẽ đánh xe tăng. Bọn lính ngụy sẽ chạy vào trại núp vì biết du kích không dám bắn vào dân. Lúc đó mìn sẽ phát huy tác dụng, Lành dịu dàng vuốt ve cái giỏ. Có cả nhiệm vụ cho bác Liêu đây: du kích yêu cầu bác chuẩn bị mấy người tin cậy và tìm đường để đưa dân ra vùng giải phóng, lên Trường Sơn”. - Họ vẫn nhớ đến tôi đấy, - ông lão tự hào vuốt chòm râu bạc hiếm thấy của mình. Tối hôm sau ngoài hàng rào dây thép gai bỗng có nhiều tiếng súng, tiếng lựu đạn rộ lên. Một chiếc xe tăng của bọn ngụy bỗng bùng cháy như ngọn nến, những chiếc khác bắt đầu lui về cổng trại. Và ở đây một quả mìn lên tiếng, sau đó là một quả nữa. Hai chiếc xe tăng giật nẩy lên tại chỗ thật lạ lùng. Những luồng khói đen hăng hắc tuôn ra từ mấy cái cửa. Lúc đó du kích tấn công và đốt hết cả tám chòi canh, cắt dây thép gai và tiến vào trại. - Tôi không bao giờ nghĩ rằng những người bị nhốt trong trại, những người tôi biết từ lâu, lại bình tĩnh và kiên quyết đến thế, - ông lão đánh cá nhớ lại. – Vừa bắt đầu đánh nhau là họ đã thu dọn chút đồ đạc đơn sơ của mình. Trận đánh kéo dài không quá một giờ. Tận bây giờ tôi cũng không nhớ sao mình làm được, nhưng mọi người toàn ông già bà cả lẫn trẻ con đều trông vào tôi như nhìn một người chỉ huy và răm rắp thực hiện những gì tôi nói. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đi xa trại, Lương bước đi bên tôi... Ông Liêu bỗng im bặt. Nước trong cái ống điếu của ông lại kêu ro ro ngon lành. Gió đã lặng, mây chỉ còn thả những giọt nước thưa thớt xuống bãi cát ven bờ. - Tôi đã bảo các anh là không phải đặt cơm lên bàn thờ cho Lương đâu mà. Nó bây giờ là một dân chài đích thực rồi. Nhìn nước là nó biết có bão hay chỉ là một cơn giông thôi... Tôi nhìn ra sông, ngoài đó con thuyền vẫn lắc lư trên sóng như ban nãy. Dường như cánh buồm của nó không còn vẻ cũ kỹ, rách nát nữa. Nó đã trở nên mạnh mẽ như chính chàng trai đang lái thuyền ngược gió. - Thế những người thoát khỏi trại sau này thế nào, cả cô Lành nữa? – tôi hỏi ông Liêu. - Các anh có thể sẽ gặp họ thôi. Họ đang ở đây, sau giải phóng miền Nam thì họ lại trở về làng Xuân Khánh này. Chúng tôi len lỏi qua những cái hố bom đầy nước mưa đi dọc bờ sông. Mấy chú bé lấy những cái lá to gấp thành tàu chiến, thả xuống nước rồi “bắn” chúng bằng những hòn cuội tròn. Mỗi khi hòn đá ném trúng chiếc tàu là chúng lại vỗ tay hân hoan. “Trẻ con còn chơi trò chiến tranh bao lâu nữa đây”? – tôi tự hỏi. |
Đường 9
Cô gái phất lá cờ nhỏ, mái tóc dài lộ ra dưới tấm khăn rằn mà phụ nữ miền Nam thường đội. Đường thông rồi. Động cơ gầm lên, đoàn xe vận tải bắt đầu lên đường. - Họ rải đá xong trước thời hạn đấy, - anh bộ đội giải thích cho tôi. – Cứ chỗ nào có đội cô Quít làm đều thế cả. (Họ gọi cô gái ngăm đen dáng thâm thấp với mái tóc dài là cô Quít). Cô Quít khiêm nhường, ít nói gia nhập đội du kích Cam Lộc năm 1968, khi ấy cô mới 15 tuổi. Cha mẹ chết cả. Cha cô bị lính ngụy Sài Gòn bắn chết. Cô gái thề trả thù và sẽ chiến đấu đến khi quê hương cô được giải phóng. Bây giờ cô đang phụ trách một đội làm đường. Cô gái vẫy tay từ biệt chúng tôi rồi cài một bông hoa lan dịu dàng lên bím tóc. - Bông hoa này đối với cô ấy là một biểu tượng đấy, - anh bộ đội nhìn làng Cam Lộc và hình cô Quýt đứng bên đường đang lùi xa dần vừa giải thích cho tôi. Dịp Tết năm 1953 khi cô Quýt chào đời thì bố cô mang về một bó hoa lan, loài hoa mà mẹ cô thích nhất. Bây giờ cô cài bông hoa này để nhớ về những người thân yêu nhất... Ra khỏi Cam Lộc thì bắt đầu đoạn đường núi, con đường lúc thì leo lên đỉnh núi, khi thì đột ngột đi xuống như đang nghỉ ngơi bên những dòng sông, dòng suối trên núi. Những thác nước đổ xuống ngay bên thành xe, phun vào người qua đường những hạt nước li ti mát rượi. Thiên nhiên hào phóng ban cho cái góc nhỏ hầu như còn hoang vu này của dãy Trường Sơn màu xanh nhiệt đới mượt mà, dòng nước trong vắt, những loài gỗ quý và thế giới động vật phong phú. Vậy mà chiến tranh đã tàn phá không thương tiếc những gì thiên nhiên ưu ái. Những đỉnh núi trước đây là rừng rậm bây giờ là một chuỗi những quả đồi trọc lốc, - bom napal đã đốt hết cỏ cây. Những thân cây cháy đen tạo thành một “hàng cây” quái đản giữa cánh rừng chết trải dài theo hai bên đường số 9. Không quân Mỹ đã rải xuống nơi đây rất nhiều chất độc hóa học. Người ta kể rằng những thế kỷ trước, khi bọn xâm lược phương Bắc tràn vào Việt Nam, chúng đã định hủy diệt cả người lẫn cỏ cây trong phạm vi một tầm tên bắn từ trại của chúng. Các tướng lĩnh Mỹ và Sài Gòn cũng dùng biện pháp tương tự trong cuộc chiến với những người yêu nước miền Nam Việt Nam. Chỉ có điều trong chiến tranh Việt Nam khoảng cách “một tầm tên bay” được thay bằng “những vùng đất bị đốt”. Gió núi vẫn rít giữa những cánh rừng không lá, chỗ này chắc còn phải lâu lắm mới có chim làm tổ, những đàn hươu đông đúc từ xa xưa gắn liền với bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp của Trường Sơn sẽ không còn kéo lên những đỉnh núi này. |
Càng đến gần Khe Sanh diện mạo núi non càng thay đổi nhiều. Những dãy núi đen thui ảm đạm đang giơ cái lưng nhăn nheo của mình ra để hứng mưa. “Hàng cây chết” kéo dài đến tận đèo Ái Lão – đường phân thủy tự nhiên của lưu vực sông Mekong và sông Hiếu chảy xiết. Cách đèo không xa là là những cứ điểm của quân Sài Gòn bị phá nát. Ngay từ năm 1972 những cứ điểm này nằm trong hệ thống của căn cứ Khe Sanh nổi tiếng, Khe Sanh được coi là trung tâm chiến lược quan trọng gần biên giới Lào. Sân bay Khe Sanh có thể tiếp nhận được máy bay vận tải và lũ trực thăng lúc nào cũng vè vè trên đường số 9 và vùng đất Lào do Mặt trận yêu nước kiểm soát. Sang bên Lào thì đường số 9 giao nhau với hai con đường huyết mạch khác của bán đảo Đông Dương là đường số 13 và số 23. Những con đường này dẫn đến Luang Prabang, Vientian, Saravan, Pacse ở Lào, đến Stungcheng, Krache ở Campuchia. Cựu chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam tướng Westmoreland đã buông một câu: “Ai làm chủ vùng này sẽ kiểm soát được tình hình trung phần Đông Dương”.
Ở Khe Sanh tôi gặp một trinh sát của bộ đội chủ lực tên là Điền. Con người này đã chiến đấu nhiều năm ở Khe Sanh. Lúc này anh đang đi theo một lối mòn lờ mờ quanh co giữa những hố bom, bình thản bước qua những mảnh sắt và bê tông, lấy chân gạt những vỏ đạn đại bác méo mó. Lối mòn dẫn lên một quả đồi thấp trước đây trung tướng Sài Gòn Hoàng Xuân Lãm đặt sở chỉ huy. Đội quân của ông ta đã bị những người yêu nước đánh tan trong thời gian xâm nhập đường số 9 trên lãnh thổ Lào tháng 2, tháng 3 năm 1971. Điền nhảy xuống một đường giao thông hào chạy ngoằn ngoèo xuống theo sườn đồi ra ngoài căn cứ. - Đường hào này dài mấy cây số, - Điền kể. Mùa xuân năm 1968 và mùa hè năm 1971 chúng tôi đã theo mấy đường hào này bí mật áp sát vào Khe Sanh và tấn công cứ điểm của địch. – Sau quả đồi nhỏ đằng kia, - Điền chỉ về hướng đông nam, mấy tiểu đoàn tên lửa chúng tôi đã triển khai trận địa bí mật tạm thời để bắn phá sân bay Khe Sanh. Thường thì chúng tôi chỉ bắn trong vòng mấy phút thôi. Nhưng thế là đủ để tiêu diệt mấy cái trực thăng và máy bay vận tải C-130 và C-123 vừa bay đến căn cứ rồi. |
Cách khu phi quân sự mấy dặm. Khe Sanh là cái chết.
…Chuyện này xảy ra ở Băng cốc mùa hè năm 1968. Báo chí nhiều nước trên thế giới dành những cột đầu tiên cho tin tức từ Khe Sanh. Khi ấy tôi được gặp một lính thủy đánh bộ Mỹ, người này vừa thoát ra khỏi một mảnh đất nhỏ của miền Nam Việt Nam gần khu phi quân sự. Một vết sẹo sâu trên má phải, một cánh tay què quặt. Anh ta cứ khập khiễng khó nhọc đi đi lại lại với cái chân phải bị thương. Đôi môi mỏng phì phèo một điếu thuốc. Đôi mắt xanh sáng lướt trên mặt những người đang lên chiếc máy bay vận tải Mỹ. Ánh mắt của anh ta như nói: “Những kẻ may mắn, các người được bay khỏi Đông Dương. Bao giờ đến lượt tôi đây?” Máy bay lăn bánh ra đường băng, quành lại rồi nhẹ nhàng bay vút lên không trung. Người lính vẫn đứng bất động, sau đó nhăn mặt đau đớn xoa xoa cánh tay bị thương. Mấy phút trôi qua, nhưng anh ta vẫn chưa rời sân bay. - Đừng để ý đến anh ta, - một nhân viên sân bay mau miệng thì thầm. – Chàng trai này chắc dở hơi rồi , - và như để khẳng định điều vừa nói, anh ta gõ gõ ngón tay lên trán. Người ta bảo anh ấy vừa ở Khe Sanh đấy. Ít người còn sống mà về lắm. Anh ta còn may đấy. Khe Sanh. Ở miền Nam Việt Nam tên gọi nơi này đã trở thành một danh từ chung. Khi lính Mỹ nói “Khe Sanh” thì anh ta có ngụ ý “thất bại”, “chết”, “đại bại”. Ở đó có chuyện gì vậy? Tại sao giới quân sự Mỹ dành cho Khe Sanh tầm quan trọng lớn đến thế? Ngày 21. 1. 1968. Một báo cáo mật được truyền từ khu phi quân sự về Sài Gòn theo đường liên lạc đặc biệt: các đơn vị của lực lượng vũ trang giải phóng bắt đầu bao vây Khe Sanh. Chỉ huy căn cứ đại tá David Lownds cho rằng lính thủy đánh bộ Mỹ có thể giữ được căn cứ. Tình báo quân sự Mỹ phải làm sáng tỏ sự thật. Ngay từ năm 1962 đã có lệnh sử dụng Khe Sanh làm nơi đóng quân cho lực lượng đặc biệt “mũ nồi xanh” và lính thủy đánh bộ Mỹ. Khe Sanh được chú ý vì nó là căn cứ để tiến hành những chiến dịch bí mật chống lại du kích miền Nam Việt Nam và Lào, nó lại trực tiếp gần miền Bắc Việt Nam. Theo mức độ chiến sự đang lan rộng ở khu phi quân sự thì nguy cơ bị những người yêu nước tấn công cứ lơ lửng trên Khe Sanh. Lo ngại căn cứ có thể bị đánh chiếm, cựu chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tướng Westmoreland và tướng Wolt chỉ huy lính thủy đánh bộ Mỹ ở Việt Nam khi ấy đã thăm vùng này và cùng nhau vạch ra trên cát đỏ những đường chiến tuyến, những tuyến phòng thủ tiền duyên cho căn cứ hành quân này. Từ khi ấy lính thủy đánh bộ liên tục được điều đến Khe Sanh. Từ cuối tháng giêng năm 1968 thì những người yêu nước bắt đầu nã đạn vào căn cứ suốt ngày đêm. Thế chủ động ở Khe Sanh hoàn toàn chuyển sang tay họ. Trung bình có hơn một trăm quả mìn và hỏa tiễn dội xuống căn cứ này. Nhiều nhà quan sát đã so sánh Khe Sanh với Điện Biên Phủ. Tất nhiên có nhiều điểm khác nhau. Nếu như căn cứ Điện Biên Phủ trải ra trên vùng đất rộng 70 dặm vuông thì Khe Sanh đã thu lại trong một khu vực chỉ có 2 dặm vuông. Nếu như thành trì của người Pháp hoàn toàn cách biệt với các lực lượng khác thì Khe Sanh lại dựa vào sự yểm trợ bằng pháo binh của các căn cứ Mỹ ở gần đó là Carrol và Rocpail cộng thêm sự yểm trợ của không quân và hải quân. |
Từ đầu năm 1968 máy bay ném bom chiến lược B-52 và máy bay ném bom chiến thuật đã ném 50 nghìn tấn bom lẫn napal xuống các khu vực xung quanh Khe Sanh. Lính thủy đánh bộ tin tưởng không quân và pháo binh sẵn sàng yểm trợ đến mức khinh thường cả việc xây dựng hầm hào bê tông ở Khe Sanh. “Đào hào không có trong truyền thống của lính thủy đánh bộ”, - trung tướng Robert Keshman (con) nói. “Bỏ Khe Sanh, - một tướng khác nói, - nghĩa là bỏ thành trì phía tây của tuyến phòng thủ của chúng ta. Khi ấy đối phương có thể sẽ đi vòng qua bên sườn chúng ta và uy hiếp nghiêm trọng 2 hoặc 3 tỉnh miền Nam Việt Nam”.
Phần lớn quân đồn trú ở Khe Sanh là lính của trung đoàn 26 lính thủy đánh bộ. Ở đây cũng có vài phân đội của đoàn quân viễn chinh Mỹ, các phân đội công binh của hải quân và một tiểu đoàn lính dù ngụy. Chỉ huy căn cứ đại tá David Lownds cho rằng ông ta có địa thế phòng thủ tốt và vùng bắn tuyệt vời. Ông ta báo cáo về Sài Gòn là tình hình ở Khe Sanh được cải thiện hàng ngày, công binh đang xây dựng hầm ngầm, tình trạng hầm ngầm liên tục được hoàn thiện. Báo cáo gửi về ngày càng nhiều. Vài hôm sau những cái báo cáo như thế thì những người yêu nước đã dễ dàng chiếm trại của lực lượng đặc nhiệm Mỹ cách Khe Sanh bốn dặm về phía tây. Chiến hào tấn công của những người yêu nước bắt đầu đến gần trận địa của lính thủy đánh bộ. Trinh sát không quân Mỹ báo cáo: “Du kích cách căn cứ không đến một dặm. Một sĩ quan tình báo nói rằng anh ta không mảy may biết một chút nào về kế hoạch của du kích. Chúng tôi chỉ biết là đối phương đang bò vào ngày càng gần hơn mà thôi”. Ngày 5 tháng 3 năm 1968 các đơn vị chính quy của Quân giải phóng đã trút 150 quả trái phá và hỏa tiễn vào pháo đài của lính thủy đánh bộ. Thiệt hại nặng nhất là máy bay vận tải C-130 và C-123 hàng ngày hạ cánh xuống đây. Khi máy bay hạ thấp xuống thì pháo cao xạ tốc độ cao và súng máy của Việt cộng bắn những loạt ngắn, và thường là trúng mục tiêu. - Trên máy bay chẳng có chỗ nào an toàn, - một quân nhân Mỹ có lần kể. – Đạn xuyên qua vỏ nhôm mềm. Máy bay chỉ dám đỗ dưới đất vài phút để dỡ hàng. Tổ lái và khách đợi chẳng có vật che chắn nào dù là nhỏ nhất và họ chỉ còn biết hy vọng là đạn không trúng vào họ. ...Núi đồi và thung lũng xung quanh Khe Sanh nằm xa ở góc đông bắc miền Nam Việt Nam hoàn toàn im ắng và hoang vu, nhưng trận địa của những người yêu nước nằm đâu đó trong khu vực này. Những đường hào du kích đào quanh co theo sườn núi tiến gần đến trận địa của Mỹ và bao vây căn cứ. Đến giữa tháng ba năm 1968 những người yêu nước đã đào được một đường ngầm đến trận địa của tiểu đoàn biệt kích ngụy. Trước trận địa này bọn lính Sài Gòn rải ba lớp rào dây thép gai có treo mìn chống bộ binh Claymor, khi nổ sẽ bung ra một quầng bi thép chết chóc. |
Đêm đêm các chiến sĩ giải phóng chui lên theo đường ngầm này, bò qua hàng rào thứ hai và thứ ba và xoay mìn về phía địch. Nếu lính Sài Gòn quyết định nổ mìn thì chính bản thân chúng bay lên trời.
Hạ sĩ lính thủy đánh bộ hai mươi tuổi Rodger Johns từ đài quan sát mỗi sáng lại thấy chiến hào của du kích tiến gần hơn đến trận địa của đơn vị hắn. Nếu lính thủy đánh bộ đi tuần ra ngoài giới hạn của tuyến phòng thủ thì họ không trở về căn cứ nữa. Hàng chục người mất tích. Mọi chuyện cứ tiếp diễn như thế đến đầu tháng 7 năm 1968. Trước sức tấn công của những người yêu nước bọn xâm lược đã phải rút khỏi Khe Sanh. Tên lính thủy đánh bộ cuối cùng rời Khe Sanh chiều 5 tháng 7 năm 1968. Số lính Mỹ được thoát khỏi Khe Sanh lại bị ném vào vùng bí mật mới ở tây bắc Nam Việt Nam. Khi rút khỏi căn cứ lính Mỹ đã phá hủy hết công sự. Khe Sanh – một trong những căn cứ Mỹ lớn nhất ở phần bắc của miền Nam Việt Nam đã biến thành cái bẫy lớn nhất đối với đội quân viễn chinh. Khe Sanh là nơi thất bại của chính CIA, mà lại cứ ngoan cố đổ hết lỗi cho Lầu Năm Góc. Đó là Điện Biên Phủ thứ hai. Chỉ khác về thời gian và lực lượng tác chiến... ...Tôi đứng trên sân bay trực thăng Khe Sanh lát bằng những tấm ghi thép, vỏ đạn, mảnh mìn, trái phá rải đầy xung quanh. Tôi biết Cục tình báo trung ương Mỹ vì muốn biết thực chất tình hình ở Khe Sanh và không tin vào những báo cáo theo kênh của Lầu Năm Góc đã liên tục cử điệp viên của mình đến đây. Tuy nhiên, như các phóng viên phương Tây ở miền Nam Việt Nam khẳng định, cứ hai điệp viên mà CIA phái đi thì một người không trở về. Làm sao gặp được một người trong số họ nhỉ? Một nhà báo Anh làm việc ở miền Nam Việt Nam kể cho tôi nghe về số phận của một người trong số những điệp viên mật như vậy. Anh ta nghe được câu chuyện về một tay George McCaill nào đó từ một sĩ quan Mỹ, người này đã làm báo cáo tỉ mỉ cho CIA sau khi điều tra hoàn cảnh chết của các điệp viên CIA. Sự nghiệp của George McCaill ở Nam Việt Nam thật ngắn ngủi... ...Chiếc Boing của Air Vietnam bắt đầu hạ cánh. Những rừng dừa rải rác tựa như những ốc đảo ngày một gần hơn, xen lẫn là những nhánh sông của dòng Mekong như những dải lụa xanh nhạt. Cuối cùng bánh máy bay đã chạm mặt đất sân bay Tân Sơn Nhất của Sài Gòn. Chiếc Boing thong thả lăn bánh tới chỗ đỗ. Hành khách tháo dây an toàn. 10 - 20 phút trôi qua mà vẫn chưa có xe thang. Dưới cái nắng nhiệt đới nóng nực chiếc Boing trở thành một cái buồng hấp. - Đúng là phòng hơi ngạt, - một người đàn ông béo phệ phẫn nộ, vừa kêu vừa lau những giọt mồ hôi lớn trên trán. - Phải đợi thêm mấy phút nữa thôi, - cô tiếp viên người Việt xinh xắn cố trấn an hành khách. – Hãy cố chịu, tạm thời cấm ra khỏi máy bay. Trên đường băng đang có một đội máy bay ném bom. Phải nhường họ bay đi trước... Thời chiến mà... |
Cuối cùng thì thang cũng đến. Những hành khách mệt lử do ông béo dẫn đầu khôn khéo chen ra trước, loạng choạng bước trên nền xi măng. Trong nhà ga, một hành khách của chiếc Boing Air Vietnam, một người trẻ tuổi cao lớn trong bộ quần áo nhiệt đới mỏng, đội mũ nan cao bồi, sau khi chúc ông béo thành công ở Nam Việt Nam liền chen đến chỗ người phụ trách hải quan và họ nói với nhau vài câu.
- Anh hãy liên hệ với Văn phòng di trú nhé. Phòng thứ hai sau ki ốt bán hàng lưu niệm ấy, vị quan chức khuyên. Vừa chửi đổng vừa gạt mấy người bốc vác quấy rầy ra, người thanh niên chen đến cánh cửa viên hải quan vừa chỉ. Trong căn phòng không rộng lắm, một người đàn ông tóc hoa râm mặc trang phục đại tá quân đội Mỹ ngồi trong chiếc ghế bành mềm sau chiếc bàn lớn kiểu Trung Hoa cổ. - Xin phép ngài! – người thanh niên nói. - Thì anh đã vào rồi còn gì, - viên đại đáp khô khốc và phẩy tay chỉ vào chiếc ghế bành bọc da cũ sờn rách trước bàn. – Tôi giúp được gì đây? Người thanh niên bỏ mũ, thục tay vào túi trong áo vét chìa giấy chứng minh cho viên đại tá. - Anh là George McCaill à? Rất hân hạnh. – Sau khi kiểm tra giấy tờ, viên đại tá chìa tay cho người thanh niên. Bây giờ anh sẽ làm việc ở chỗ tôi. Tiếc là anh đến hoàn toàn không đúng lúc. – Viên đại tá liếc nhìn đồng hồ. Mấy tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ bay đi Okinawa, hai tuần sau mới về. Anh sẽ nghỉ ở Sài Gòn ba bốn hôm, sau đó sẽ đi Đà Nẵng, rồi Huế, Khe Sanh. Anh nhận nhiệm vụ rồi chứ? McCaill gật đầu thay câu trả lời. - Không có thay đổi gì nữa! Thi hành đi. |
Viên đại tá lấy trong tủ lạnh ra một chai Wishky Scotland, một ít đá và nước khoáng. Mở nút chai bằng một động tác thành thạo rồi rót đầy hai cốc.
- Chúc mừng lần đầu anh đến châu Á, McCaill. - Sau khi làm vài ngụm, viên đại tá tiếp tục: - Trước tiên là hãy giấu mọi hoạt động của anh như chúng ta đã quy ước. Anh là chuyên gia thủy lợi nhé. Tôi cấm anh mang vũ khí. Như thế là mạo hiểm nhưng công việc của chúng ta bao giờ cũng gắn liền với nguy hiểm. Dân địa phương cần phải quen và tin tưởng anh. Hãy thâm nhập vào dân. Cố mau chóng nắm tình hình, thường xuyên giữ liên lạc. 9 giờ sáng mai người của chúng tôi sẽ mang điện đài tận phòng cho anh ở khách sạn Brink Sài Gòn. Anh cũng nhận tiền luôn với anh ta. Trạng thái tinh thần của quân đội, tình hình chính trị thực tế ở Nam Việt Nam, sơ đồ bố trí quân của Việt Cộng – đó là những thông tin Washington đang mong đợi ở anh. Trong ban chỉ huy mỗi quân đoàn đều có sĩ quan tình báo của ta. Tôi đã báo cho họ biết về anh. Cần gì họ sẽ tìm đến anh. Người đến gặp anh sẽ hỏi mật khẩu: “Hình như chúng ta đã gặp nhau ở quán bar Se Jan. Đáp là: “Không phải, có lẽ là ở khách sạn Masjetic”. Nhớ chưa? - Rõ, thưa ngài. - Những gì anh ta sẽ nói chính là mệnh lệnh của trung tâm. Phải rồi, trước khi đi đừng quên thay bộ quần áo anh vẫn dùng để đi loanh quanh ở New York. Có lẽ ở trong rừng thì bộ quần áo nông dân bình thường sẽ hợp với anh hơn. Rõ chưa? - Thưa sếp, tôi có nhiều câu muốn hỏi. Tôi đến Đông Dương lần đầu mà. Tôi đã có ấn tượng chung về Đông Dương khi đọc hàng loạt báo cáo của các điệp viên Nam Việt Nam. Nhưng tình hình ở đây thế nào? - McCaill này, anh là tình báo viên. Đầu của anh trong tay anh đấy. Nào ta uống để cái đầu của anh được bình an. – Dốc hết cốc wishky, viên đại tá đứng lên. – Chúng ta sẽ gặp lại nhau sau mấy tháng nữa nhé, còn bây giờ hãy về khách sạn “Brink” đi. Chúc anh thành công! Ngoài cửa, sân bay ầm ĩ không lúc nào ngớt. McCaill đi ngang qua phòng lớn rồi bước ra mặt đường nhựa nóng bỏng. Mấy người tài xế taxi xúm lại mời mọc. - Đến khách sạn “Brink”, - McCaill lầm bầm. - Ôkê, thưa ngài! Tay tài xế chiếc Toyota già nua đáp lại một câu thuộc lòng. |
Bốn mươi phút sau chiếc Toyota trờ tới khách sạn. McCaill giúi cho tay tài xế tờ một đô la nhàu nhĩ. Anh chàng người Việt không hài lòng nhìn vị khách:
- Chừng này ít quá thưa ngài. - Cầm lấy đô và biến đi. Đồ bố láo! Bắt chẹt người mới hả... McCaill quát . Sảnh lớn khách sạn “Brink” mát mẻ làm anh chàng người Mỹ tươi tỉnh lại. McCaill đến quầy lễ tân chìa hộ chiếu ra. - Đề nghị cho một phòng, khoảng ba bốn ngày. -“George McCaill”, nhân viên lễ tân đọc tên vị khách. Phòng đã được trả tiền rồi. Phòng 112, chìa khóa đây, thưa ngài. “Chắc là đại tá đây. Khởi đầu tốt đẹp rồi”, chàng thanh niên thầm nghĩ. Sau khi bảo người mang hành lý lên phòng, McCaill ra quầy bar uống wishky. Vừa bước vào quầy bar anh ta như được chìm vào một nơi mờ ảo mát rượi. Hai cô gái trẻ người Việt đang chống tay lên quầy tán gẫu với một viên trung úy Mỹ. McCaill cảm thấy tay trung úy này có vẻ quen quen. “Không lẽ là Bill? Ở đây sao? Lại mặc quân phục”? McCaill tiến tới viên sĩ quan. - George đấy à? Ôi ông bạn cũ. Bất ngờ quá! Viên trung úy nắm tay McCaill kéo về phía quầy. - Các em, cho hai wishky đúp! Rất vui được gặp cậu. Cậu kể xem nào! Đến đây lâu chưa? Ở nhà có gì không? - Có gì để nói đâu? – McCaill mỉm cười. – Tớ học xong hai năm trước, kỹ sư rồi. Tớ đến đây làm thủy lợi. - Bọn ngu! Chúng bảo cậu đến đây đào kênh cơ đấy! – viên trung úy bật cười. Bom đạn chúng ta làm việc ấy giỏi hơn bất cứ loại máy ủi nào. Thôi, gác chuyện đó lại. Gia đình ở Richmond thế nào? Đã gặp ai rồi? Marry ra sao? - Tớ đã không còn ở Richmond cũng như Virginia năm năm rồi. Mình và Marry đã chia tay nhau. Ở Washington tớ không gặp ai là bạn cùng trường cũ. Thế cậu làm gì ở đây? - Làm cái mọi người đang làm thôi, ông bạn ạ. Tớ bắn súng. Chuyện này buồn lắm. Thôi, tốt nhất là ta uống đã. Cô gái!{10} Wishky. Hai ly đúp. Tớ đã đánh nhau ở Khe Sanh rồi George ạ. Ông bạn, ông có biết đó là gì không? - Tớ nghe nói rồi. Tớ phải đến đó đấy. - Nhưng ở Khe Sanh thì cần gì thủy lợi nhỉ. – Bill cười hơ hớ. Gọi là người quét dọn thì đúng hơn. Cậu sẽ được giao việc rửa máu. - Tếu buồn, ông bạn. - Cậu mà ở đấy cậu cũng sẽ buồn cho mà xem. Bây giờ thì tớ biết, mỗi phút sống thừa đáng giá thế nào. Và tớ cho rằng tốt nhất nên chia sẻ nó với một cô gái dễ thương. Bên cô, ta quên là chiến tranh đang ở sát nách, quên mũi tên hòn đạn, quên cả rừng thiêng nước độc lẫn hàng rào dây thép gai trên phố. Phải thế không hả Thanh? Bill bỗng kéo giật cô gái Việt lại và vuốt má. Cô gái tên Thanh mỉm cười. |
- Nhưng với các cô gái ở đây phải biết giữ mồm giữ miệng. Tớ sẽ đặt một trăm đô nếu như mà biết được cái đầu xinh đẹp này đang nghĩ gì. - Bill ghì chặt Thanh. – Đấy, mới mấy hôm trước một cô ở Cần Thơ vừa qua đêm với một ông đại tá rồi trộm tài liệu mật trong két sắt, tặng ông ấy một viên đạn vào thái dương rồi trốn mất. Hóa ra cô ấy là du kích. Này cô gái, em có phải là Việt cộng không?
Bill say thật nhanh. - Và nếu như ở đây người ta giết chúng ta thì họ đã làm đúng. Giá mày biết chúng ta làm gì. Chúng ta là lũ giết người, quân ăn cướp, lũ súc sinh. Tao cũng là kẻ súc sinh. Tao đã bắn giết, George ơi. Lúc đầu tao không muốn, - viên trung uý cười phá lên. Mày có nghe về Sơn Mỹ, Mỹ Lai chưa? Về đại đội “Charly” chưa? Chưa hả?! Chỉ mấy ngày trước tao phải giết 3 phụ nữ và một đứa trẻ. Mày không hình dung nổi nó như thế nào đâu. Tao không muốn bắn giết. Nhưng tất cả đều làm thế. Tất cả! Mày hiểu không, tất cả! Tao nhìn đứa trẻ, nó nằm khóc. Tao vừa bắn mẹ nó xong. Tao giơ súng lên để giết cả nó. Nhưng tao không thể. Thằng khác bắn vỡ sọ nó luôn. Nào George, uống tiếp đi! Nó bé tẹo và tuyệt vọng. Tao không thể dừng nghĩ đến nó được. Khuôn mặt của nó lúc nào cũng trước mắt tao. Tao không thể chợp mắt được. Không thể chịu nổi. Cô gái, thêm 2 wishky… - Đừng uống nữa, Bill. Vì cậu là lính chiến thôi. - Tao là lính chiến á? Tao là kẻ giết người, giết người! - Thật tởm khi gặp cậu, Bill. - Vậy thì mày biến đi! Cút đi! Rồi mày cũng sẽ giết người như những kẻ khác thôi. Đừng nghĩ là mày trong sạch nhé! Mày cũng là đồ vô lại như tao thôi. Ở đây tất cả chúng ta như nhau cả. Lương tâm ư? Là thứ bỏ đi. Lương tâm chỉ là chữ mà con người nghĩ ra để che đậy sự đê tiện. Lương tâm hả! Ý nghĩa của nó là gì? Nghĩ về lương tâm ư? Muộn rồi. Tao biết mà. Hãy tự bắn mình đi, tự treo cổ đi. Đó là tất cả những gì còn lại. Nhưng tao không thể. Này cô gái, wishky đâu! |
– Thôi, đừng làm trò nữa, cậu làm sao thế?
- Làm sao ư? Như bọn khác thôi. Nếu mày không thế thì kệ tao. McCaill ra khỏi quầy bar. Người lễ tân chu đáo hỏi: - Ngài không quên phòng chứ? Số 112. McCaill im lặng gật đầu đáp rồi chậm chạp lên phòng, cởi bỏ cravat rồi ngã vục mặt xuống giường. “Ở đây có chuyện gì nhỉ? Mai mình bay đi Đà Nẵng rồi, - một ý nghĩ vụt qua đầu McCaill. Tay Bill này chỉ là một tên vắt mũi chưa sạch. Chảy dớt dãi thôi. Trạng thái tinh thần của quân đội ư? Thế mà ở Wasington nói biết bao nhiêu về chuyện này rồi. Một lũ ngốc...” McCaill thiếp đi trong giấc ngủ. Một ngày sau, chiếc máy bay vận tải quân sự đưa McCaill cùng năm mươi hành khách khác đi Đà Nẵng. Trên máy bay một trung sĩ tóc bạc hướng dẫn bằng giọng của người lính từng trải: - Nếu họ bắn tới chúng ta thì mau mau nhảy ra khỏi máy bay. Theo kinh nghiệm tôi biết là trên không trung chúng ta sẽ cháy trong bốn mươi giây. Cửa sau để mở sẵn. Cũng có thể nhảy ra từ cửa hông, nhưng không hoàn toàn bảo đảm là không va phải cánh quạt máy bay đâu. Để thần kinh không căng thẳng trong chuyến bay, hãy cố chợp mắt một chút đi. Ai nôn thì tự lo lấy nhé...Nước trong thùng kia... McCaill không để ý đến tay trung sĩ, bắt đầu trò chuyện với người bên cạnh: - Anh đã ở Đà Nẵng à? - Không, tôi từ Khe Sanh về. Trung úy George Campbell, lính thủy đánh bộ. Còn anh? — Смотри, как бы «чарли» не нанесли тебе там визит. – Tôi mới đến Việt nam lần đầu. Tôi đến Đà Nẵng, sau đó đi tiếp đến Khe Sanh và ở đó một tuần. Sau đó đi tiếp đến khu phi quân sự, tới mấy làng miền núi ở biên giới Lào. - Cẩn thận đấy, đừng để “charly” đến thăm cậu. - Charly ư? - Là cánh lính thủy đánh bộ chúng tớ gọi du kích Việt cộng như thế. Đến đó hãy thật cẩn thận nhé, chàng trai ạ... Câu chuyện cứ như vậy suốt chuyến bay. |
- Hạ cánh an toàn rồi, - lại cái giọng trầm của tay hạ sĩ. – Thường thì ở Đà Nẵng không gặp may đâu. Chưa kịp xuống là “charly” đã bắn rồi. Không thể phát hiện là họ bắn từ đâu tới. Tuần trước họ vừa bắn tan nát sân bay, đốt hàng chục máy bay. Đừng quên đội mũ sắt nhé, chưa ra khỏi sân bay thì đừng cởi mũ. Nếu không thì không được một giờ...
- Cái kiểu quy củ này làm tôi chán ngấy rồi, - George vừa lẩm bẩm vừa đi ra cửa máy bay. - Cậu quen rồi thì sẽ thấy là anh ta đúng đấy. Cậu cũng sẽ làm như tay trung sĩ này. Nếu không thì chỉ mau vào hòm thôi, - viên trung úy cảnh báo. - Anh rồi cũng thành người khó tính cho mà xem, - George hậm hực. Còn cái gì mà rừng nhiệt đới không làm với các anh nữa. - Xem rồi cậu sẽ ra sao sau một năm, có khi chi một tháng thôi. Cậu đúng là chưa ngửi thấy Việt cộng là thế nào. Nhưng bỗng... Chuyện xảy ra chỉ trong có một phút. Nhưng đó là phút cuối cùng đối với McCaill. Hàng chục quả trái phá chụp xuống sân bay. Mấy ngày sau, từ Đà Nẵng một báo cáo được gửi cho cơ quan tình báo Mỹ ở Sài Gòn : “George McCaill bị giết khi máy bay hạ cánh. Hãy gửi những người mới cho vùng Khe Sanh. Tình hình ở Khe Sanh ngày càng xấu đi” Hết chương IV |
CHƯƠNG V. Hội chứng Việt Nam. Cuộc chiến cân não. Lính chiến đại đội "Charlie" Mỹ Lai "Hội chứng Việt Nam" - sẽ còn kéo dài. Đó là điều xảy ra đối với ai đã từng ở đấy, tại Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những nhóm người khác - những ai đã sống sót, đã thoát ra từ khói lửa của địa ngục. Ví dụ như từ Khe Sanh. Ở Mỹ, nói chuyện với các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, tôi nhận ra rằng ai cũng cố gắng tìm lời giải đáp cho câu hỏi: "Tại sao ngưòi khác lại bị giết, chứ không phải là mình?" Ý thức mỗi người đều bị dằn vặt bởi ý nghĩ cuộc sống của họ đã được trả giá bằng cái chết của những người lính khác. Để biện minh cho sự tồn tại của bản thân, để thoát khỏi hay vượt qua những mặc cảm tội lỗi, cần phải trả thù cho những người lính Mỹ đã chết. Trong thời chiến, việc thực hiện hành động trả thù như vậy không phải chỉ là tấn công lại đối phương, mà còn là bạo lực chống lại dân thường. "Điều đó đã từng xảy ra trong chiến tranh thế giới thứ hai, và đặc biệt tại Việt Nam", một nhà báo Mỹ - Redmond nói với tôi, và tôi nghe ông ta, cố gắng để hiểu được logic của tư tưởng ông. Ông tiếp tục: - Thậm chí có những nghi lễ trả thù, đó là khi một người lính có thể chứng minh sức mạnh và sáng kiến của mình. Nhưng kể từ khi có cuộc chiến tranh trong rừng rậm Việt Nam thì những "nghi lễ" như thế đã không tồn tại, không có những cuộc chiến giáp lá cà, và trong hầu hết các trường hợp ta không thể nhìn thấy đối phương, mọi người đã phải đối mặt một mình với nỗi đau của họ, với cảm giác tội lỗi và sự mất mát. Mặt trái của cảm giác này đã trở nên sự giận dữ. Và như vậy, cái chết của Bill Weber là "bước ngoặt" trong cuộc đời của đại đội "Charlie". Anh có biết đại đội "C", đại đội "Charlie" là thế nào không? - Redmond nói tiếp: - Đột nhiên, nhận ra rằng tại đây mỗi người trong chúng tôi đều có thể bị giết, chúng tôi quyết định sẽ trả thù cho tất cả, khi mà chúng tôi chưa ra đi. Anh có biết chuyện của Trung úy Calley? Một chuyện không có gì bí mật. Là một sĩ quan chuyên nghiệp, ông ta không yêu cầu phải tuân theo kỷ luật nữa, và cũng như những người còn lại, ông đã hoàn toàn hành động theo bản năng. Sau vài lần bị phục kích, một số người bị thương, đại đội của ông ta gặp tai hoạ: rơi vào một bãi mìn, họ đã bị thiệt hại tới hai mươi phần trăm quân số (bốn người thiệt mạng, 28 người bị thương nặng). Theo các nguồn tin khác, sáu người thiệt mạng và 12 người bị thương . Nhưng đây là những chi tiết cho giới báo chí. Điều chính yếu nằm ở chỗ khác. Sự kiện này đã làm tăng thêm cảm giác tội lỗi cho những người còn sống sót. Một trong số họ sau này nhớ lại: "Đồng đội đã chết ngay trước mắt anh, và anh không nằm trong số họ". "Cảm giác tội lỗi đã lấn át đi ý nghĩ lo lắng, rằng đại đội, như một đơn vị quân đội, một sự thống nhất, với những người lính như thay thế cả thế giới này, đã không còn tồn tại nữa", - nhà báo nhớ lại. Chỉ có những ý tưởng cực đoan, phải trả thù đẫm máu mới có thể buộc binh lính của đại đội nguôi đi với chính mình. Một cuộc đại trả thù !.. Anh có hiểu gì đó về điều này không? Một trong những kẻ tham gia sự kiện ở thôn Mỹ Lai, làng Sơn Mỹ đã tả lại cảnh loạn tâm thần tập thể đó: "Chúng tôi khi đó đã nói thành tiếng những gì mà mỗi người chúng tôi nghĩ về bản thân: về việc làm thế nào để xóa bỏ đất nước này ra khỏi bề mặt trái đất. Phổ biến cái gọi là tâm lý học kiểu Anh điêng, có nghĩa là "Người Việt Nam tốt - là người Việt Nam đã chết". Định nghĩa mơ hồ về khái niệm "kẻ thù" đã được mở rộng cho bất kỳ người nào không có quan hệ gì với quân đội Mỹ và đi đứng trong bộ quần áo kiểu Việt Nam". |
Theo xác nhận của một trong những cựu chiến binh ở Mỹ Lai, có cơ sở xác đáng để tin rằng những quả mìn được cài đặt không phải bởi người Việt Nam mà là do các lực lượng đồng minh Nam Hàn, doanh trại của lực lượng này đã đóng ở đó không lâu trước khi xảy ra vụ thảm sát. Trong trường hợp này, Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của lính Mỹ, khi mà lẽ ra họ phải thông báo về việc triển khai các lực lượng lính Nam Hàn trước đó. Tuy nhiên, người ta đã bác bỏ ý kiến này và đổ lỗi hết cho Việt Cộng, và hơn thế nữa - cho tất cả những người Việt Nam. Điều này đã giúp họ biện minh cho “ý tưởng trả thù".
Cái chết của Trung sĩ Cox, người bị xé ra từng phần bởi mảnh đạn trái pháo, là giọt nước cuối cùng làm tràn sự kiên nhẫn của đại đội "Charlie". Những trái pháo lợi hại này được khoả lấp kín, kích nổ bởi tiếp xúc trực tiếp bằng cơ cấu đồng hồ hay do một người ngồi phục kích điều khiển từ xa, đã làm trầm trọng thêm cảm giác kinh hoàng bất lực của lính Mỹ. Trong chính tên gọi "cái bẫy kẻ khờ" mà những người lính của đại đội "Charlie" nghĩ ra cho loại vũ khí này, đã phản ánh phương pháp hoạt động của nó, biến người ta thành nạn nhân tàn phế. Trong đại đội, Cox được đánh giá là một trong những người lính giàu kinh nghiệm nhất. Cái chết của Cox đã làm gia tăng cảm giác kinh hoàng cho tất cả, dẫn đến một cơn giận dữ không kiềm chế, không kiểm soát được. Ngày tiếp theo để tưởng nhớ Cox và những người lính bị tử nạn khác, một lễ cầu siêu đã được tổ chức trong đại đội. Đầu tiên là cha tuyên úy lên tiếng, sau đó là một bài phát biểu dài của đại uý chỉ huy Medina. Có nhiều phiên bản bài phát biểu của Medina, nhưng theo ý kiến chung, nó đã làm cho những người lính trong đơn vị gần như rơi nước mắt và dường như buộc họ tin vào "sứ mệnh của những người sống sót" và "sứ mệnh trả thù". Bài phát biểu có những lời gần như thế này: "Trong địa ngục này, chúng ta đã mất đi những thanh niên trai tráng. Bây giờ chúng ta phải trả thù cho họ, bằng bất cứ cách nào cũng tốt ". Hay theo hồi ký của một kẻ khác đã tham dự cuộc thảm sát tại Mỹ Lai, Medina đã nói: "Chúng ta có cơ hội bắt kẻ thù phải trả nợ máu ...Hãy nhớ rằng, ở đất nước này không có thường dân vô tội ". Từ những lời nói đó, người nghe có thể kết luận rằng họ "cần phải xóa bỏ đất nước này khỏi bề mặt trái đất". Những cựu chiến binh Mỹ Lai khác nhớ lại cụm từ "giết chết hết những người còn sống", "tiêu diệt hết những gì đang sống". Những từ nghe giống như một lời kêu gọi, như một mệnh lệnh. Tuy nhiên, nó đúng như là mệnh lệnh, đáp ứng được tâm trạng của những người lính đang cần thực hiện trả thù. Sau bài diễn thuyết này đã có ấn tượng rằng "Medina muốn tiêu diệt sao cho được nhiều người Việt Nam hơn. Ông tin rằng "nó mang lại quyền và cơ hội cho mỗi người lính để cho thấy những gì bản thân người đó có khả năng thực hiện được". Không phụ thuộc vào những gì mà Medina đã nói trong thực tế, bài diễn thuyết của ông nhanh chóng được bao bọc bởi một vầng hào quang. Họ đã nói về những người đã chết, với những người còn lại thì dường như được trao một “sứ mệnh đặc biệt của những người còn sống”. Bài diễn thuyết này dường như đã trở thành một mối liên kết đặc biệt giữa cái chết của các binh sỹ trong đại đội, cái chết đã gây sốc cho những người còn sống và tất cả những người cần phải trả thù cho họ bằng những hành động quyết định của riêng mình. Cứ cho rằng Medina không trực tiếp ra lệnh bắn giết phụ nữ và trẻ em. Nhưng lời hô hào của ông ta lại chứa những mệnh lệnh chung chung kết hợp với sự thịnh nộ của một sỹ quan mẫn cán cùng kiểu muốn kích động tinh thần binh lính trong đại đội. Trong hoàn cảnh bức bách đó điều này tất yếu dẫn đến các cuộc thảm sát hàng loạt. Nhưng điều đó đã không biện hộ được cho những kẻ giết người. Bây giờ dù có cố gắng tìm cách giải thích tâm lý thế nào đi nữa thì tội phạm vẫn là tội phạm, vẫn là một hành động quái dị và man rợ. Một người khác tham gia trong vụ thảm sát Mỹ Lai nhớ lại khi Medina nói rằng họ sẽ đốt nhà người Việt Nam, tiêu hủy gia súc và lương thực, bỏ thuốc độc vào giếng nước, một tay hạ sỹ thích thú thì thầm vào tai anh ta, "Rồi cậu sẽ thấy, đó sẽ là một vụ tàn sát thực sự. Một cảnh hiếm có". Điều tra các sự kiện tại Mỹ Lai cho thấy một ngày trước khi phát biểu những lời nói trên, Medina đã được đại tá chỉ huy binh đoàn Henderson ra chỉ thị. Ông ta mới nhận làm chỉ huy các đơn vị chưa được bao lâu, hình như ông có nói rằng muốn "nhổ bật vĩnh viễn các lực lượng Việt cộng đóng quân ở gần đó", và kêu gọi đại đội hãy “tiến hành mạnh mẽ hơn” các trận chiến với đối phương. Đại tá Barker, người đã chỉ huy đơn vị lính Mỹ thực hiện chiến dịch theo chỉ thị. Ông có vẻ là người đã kêu gọi "đốt cháy nhà dân thường Việt Nam, xả đầy nước tất cả các đường hầm, hào, hầm trú ẩn, tàn sát gia súc và gia cầm." Sau các tác động tâm lý của cấp trên nhằm "lên dây cót" đã có ảnh hưởng tới tất cả các hành vi tiếp theo của cấp dưới. Có thể nói rằng bất kỳ hành vi nào nói chung - cũng đều là phản ứng đáp trả lại lời nói của ai đó đã thốt ra. Và hành vi được diễn biến dưới tác động của kinh nghiệm trong quá khứ và các sự kiện diễn ra ở hiện tại. |
Vào lúc 8 giờ sáng, sau khi pháo binh bắn mở đường, binh lính Mỹ sẵn sàng chiến đấu được đổ bộ bằng trực thăng xuống thôn Mỹ Lai. Đầu tiên những vụ giết người là sự tình cờ, còn sau đó họ đã tiến hành việc thảm sát hàng loạt. Họ lùa đuổi những thường dân Việt Nam tập trung thành “đàn” và xả súng bắn. Trước khi bị bắn, những người đàn ông (đặc biệt là giới trẻ) đã bị đánh đập tàn nhẫn. Phụ nữ bị cưỡng hiếp công khai, nhà cửa bị đốt cháy, gia súc bị giết. Vụ giết người là hệ quả trực tiếp của trạng thái tâm thần trước đó, trung úy William Calley yêu cầu không được để lại nhân chứng. Các lính Mỹ đã vùi xác nạn nhân trong các bãi cát ven biển ...
Hầu như tất cả các vụ giết người được thực hiện cho tới 11 giờ sáng, đến khi đại đội nghỉ để "ăn trưa". Khoảng 400 hoặc 500 người dân quê đã bị giết. Sau này còn được biết vào buổi sáng hôm đó tại thôn bên cạnh thuộc làng Sơn Mỹ, một nhóm lính Mỹ tham gia chiến dịch này cũng đã giết chết khoảng một trăm người dân Việt Nam nữa. Trong cuộc chém giết say sưa, lính Mỹ hành xử như trong một trận chiến. Những kẻ tham gia vụ thảm sát ở Mỹ Lai có lưu ý đến việc là khi xả súng họ đã quỳ gối, ngồi thấp hẳn xuống, “dường như đang chịu luồng đạn bắn trả”. Họ giải thích tình trạng này là: "Nếu anh thực sự cho rằng đang bắn vào một nhóm người không có khả năng tự vệ, thì việc gì anh phải trườn, bò sát mặt đất? Tất cả những trò hề và thủ thuật đó để làm gì? Vậy có nghĩa là, anh nghĩ anh đang chiến đấu thực sự với ai đó. Anh nghĩ anh có thể bị giết... rằng họ là mối đe dọa thực sự đối với anh...". Vậy điều gì đã xảy ra ở Sơn Mỹ? Khái niệm của mọi người về cuộc sống và cái chết bị đảo lộn. "Một cái gì đó đã thay đổi trong nhận thức...Phải đánh giá thường dân Việt Nam như thế nào? Thường dân không còn là người không có vũ khí, họ quá giống kẻ thù, giống những người lính hay giống hình ảnh kẻ thù, được hình thành trong trí tưởng tượng bệnh hoạn". Và còn một mệnh lệnh nữa. Cơn ác mộng của cái chết. Một số nhà tâm lý học đã cố gắng giải thích lính Mỹ có những hành động tàn bạo ở Mỹ Lai (và các làng mạc khác), là do bị ám ảnh bởi bóng ma và ảo giác. Dường như họ có cảm giác trước mắt họ là những binh sĩ đối phương, chứ không phải là người già, phụ nữ và trẻ em...Họ nói: "đã phát hiện kẻ thù", và hun khói cho đối phương phải ra khỏi nơi trú ẩn, buộc họ phải "đi ra khỏi nơi phục kích và chiến đấu". Và điều đó có nghĩa là họ đã bắn vào binh sĩ đối phương, chứ không phải dân thường. Hơn nữa, trong đại đội "C" hầu hết là lính mới - chưa chiến đấu, thậm chí không biết gì về các cuộc chạm súng dù là nhỏ nhất, và những lần sa vào bẫy mìn và những “cái bẫy kẻ khờ" đã trở thành nỗi kinh hoàng, như cơn ác mộng ở địa ngục đối với họ. Và họ đã bóp cò súng mà không cần suy nghĩ xem ai đứng trước mặt họ. Bắn và bắn! Họ muốn chiến đấu và đã có một trận chiến đầu tiên ở Mỹ Lai, khi họ nhận ra họ đang giao chiến với ai thì họ không cần giấu mặt nữa. Giờ đây với sự mê muội của những kẻ cuồng tín và những tên đao phủ, họ đã ra tay tra tấn dã man và tàn sát khủng khiếp. Các nhà tâm lý học Mỹ tìm cách biện minh cho vụ thảm sát Mỹ Lai như vậy. Đức quốc xã cũng đã từng biện minh cho những hành động man rợ của họ ... Mô tả trạng thái cảm xúc của binh lính Mỹ ở Mỹ Lai, sau khi nghe các cuộc thẩm vấn là rất khác nhau. Theo hồi ký của một số người, khi binh sĩ bắn vào thường dân ở Mỹ Lai, những kẻ giết người đã không biểu lộ bất cứ “cảm xúc”nào. Bao trùm toàn bộ là một sự “quan tâm vì công việc” nào đó. Thỉnh thoảng, "họ, những người lính, lại tạm ngừng công việc của mình để ăn thêm gì đó hoặc hút thuốc". Những người khác cho biết trong thời gian các vụ giết người, cưỡng hiếp và tàn phá, người Mỹ "đã hoá thú" đã trở thành “những kẻ điên rồ". Một lính Mỹ đã nghĩ ra trò “rượt đuổi điên loạn” một con lợn, và cuối cùng giết chết con vật bằng lưỡi lê, những người khác thì tiêu khiển bằng trò ném lựu đạn và bắn vào các cô gái mỏng manh yếu ớt trong thôn. Cả hai mô tả về mặt tâm lý đều chính xác. Dáng vẻ "bận rộn vì công việc" của những người lính là do thực tế họ đang ở trong một trạng thái “cảm xúc u ám”. Họ thực hiện răm rắp các mệnh lệnh, và tin rằng đang làm công việc "chuyên nghiệp" của họ. Những cảnh thảm sát, đổ máu đã làm cho lính Mỹ điên loạn. Những gì xảy ra đã buộc họ phải có vẻ ngoài đần độn về cảm xúc, các giác quan dường như triệt tiêu, tất cả chỉ còn là sự thực hiện “sứ mệnh của người còn sống”. Tất cả đều lẫn lộn: nỗi sợ hãi trước cái chết và cảm giác tội lỗi trong cái chết của những người lính khác. Trước tất cả mọi người là câu hỏi: "Ai sẽ là người chết tiếp theo?" Khi giết những người dân Việt Nam, lính Mỹ hét lên: "Ê, Lũ súc sinh! Đây là những gì cho bọn mày vì Bill Weber", hoặc “Khóc đi, khóc to lên như chúng tao đã khóc!" Hình thức giết người hàng loạt, những “bữa tiệc rượu đẫm máu” làm cho mất trí đã thúc đẩy lính Mỹ phạm thêm những tội ác mới. Tình trạng này nhiều kẻ giết người, những tội phạm đều biết và các nhà điều tra, các nhà báo Mỹ cũng cho là như vậy.. Có ý nghĩ hay cái nhìn nào tỉnh táo ở đây không? Đã có nhiều sự nhìn nhận khác nhau. Chỉ có điều không phải là sự tỉnh táo. Nói chung là không có gì tốt lành. Dưới đây là những điều ghi chép của một người lính: "...Khi tiến hành trinh sát thăm dò, chúng tôi nhận ra đã đến một ngôi làng bình thường...Người dân tiếp tục làm những công việc của mình như thường lệ, không để ý gì đến chúng tôi...Khoảng 15-20 lính của chúng ta đi vào làng. Tiếp theo, hoàn toàn bất ngờ...người dân lo lắng...Ngay sau đó một trong các trung sĩ ra lệnh "bắt hai người kia và mang lại đây". Tiếp đó họ bắt thêm người thứ ba...Và giờ thì chúng tôi đã tập hợp lại cả một đám đông. Dân chúng khóc lóc sợ hãi, la hét, quẫy đạp, và không thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra...Sau đó, lần lượt những tiếng súng vang lên, và ai đó hét: "Này thì cho bọn mày, lũ súc sinh!" Lính Mỹ trong sự phấn khích đã nổ mấy loạt súng bắn vào đám đông...Nhìn thấy một vài người ngã xuống...Anh ta sợ hãi. Tuy nhiên, để biện minh cho chính mình và những hành động của mình, anh ta đã bắn thêm một lần nữa, lần nữa và lần nữa... Tiếp theo là cú sốc tâm lý. |
Một người lính khác nhớ lại trong vụ thảm sát, anh ta đã cố gắng để quyết định có nên giết một cậu bé đang sợ hãi với cánh tay đã bị bắn trọng thương hay không. Anh ta nghĩ cậu bé chắc ở khoảng tuổi với em gái mình, và tự hỏi, "Điều gì sẽ xảy ra nếu như đất nước của chúng ta có một đội quân nước ngoài tràn vào, và một số lính nhìn em gái tôi, như tôi nhìn vào đứa trẻ này? Người lính nào đó có thể giết chết em gái của tôi không?" Và anh ta quyết định: “Nếu người lính ấy có đủ can đảm để làm điều đó, thì tôi cũng như vậy", và bóp cò.
Như vậy khung cảnh giết người hàng loạt đẫm máu, rối loạn tâm thần đã làm chủ mọi tâm trạng, biến thành một "chương trình hành động" để biện minh cho tất cả mọi thứ - tàn ác man rợ, những gì đang xảy ra. Một chuẩn mực đồi bại. Trong những người tham gia vụ thảm sát ở Mỹ Lai, có kẻ đã ví việc giết người như sự "giải thoát khỏi cơn ngứa có thể làm bạn điên lên". Hắn ta giải thích ý nghĩ của mình: "Bạn cảm thấy cần thiết phải xả stress. Như ở Triều Tiên hay trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ở Mỹ Lai lính Mỹ có thể dùng súng máy để cắt người như cắt cỏ. Họ đúng là đã phát điên lên rồi. Giết người - đó là điều vô cùng khó với một công dân bình thường. Liệu tâm trạng bạn có chịu đựng được điều này? " Trung úy Paul Medlou tám tháng sau sự kiện tại Mỹ Lai trong một cuộc phỏng vấn truyền hình, sau những gì đã làm ở Sơn Mỹ cho biết: “y cảm thấy một sự hài lòng về đạo đức". Y đã kể về trạng thái tâm lý của mình: "Tôi đã mất nhiều bạn hữu. Mất bạn chí thân Bobby Wilson. Cái chết của họ đè nặng lên lương tâm tôi. Và sau những gì đã thực hiện ở Mỹ Lai tôi cảm thấy như đã cất đi được gánh nặng đó, những nối niềm trăn trở và tha thứ cho bản thân mình". Cũng trong cuộc phỏng vấn đó Medlou nói rằng "giết người ở Mỹ Lai là việc hiển nhiên". Điều này có nghĩa việc giết người là chuẩn mực hành vi trong hoàn cảnh đó. Chúng là sự cần thiết tâm lý, có thể giải thích và biện minh được. Đó không phải là một cuộc tắm máu, mà là việc thực hiện "sứ mệnh của những người còn sống". Cơ chế thảm sát hàng loạt chỉ cần đưa vào vận hành, còn tiếp theo nó sẽ tự làm việc như một cái máy tự động theo quán tính. Và mỗi vụ giết người mới là một sự tiếp tục của những gì trước đó. Guernica và Sơn Mỹ - đều có tên trong danh sách các tội ác, tuy rằng xảy ra trong những thời gian khác nhau. Những vụ việc này - đều là sự thoái hoá theo quán tính. Mong muốn của những kẻ trừng phạt thực hiện vụ thảm sát này đến cùng không chỉ là do "sự cần thiết phải trả nợ máu, sự đòi hỏi về mặt tâm lý", mà cũng vì họ có một nỗi sợ hãi vô thức, nỗi sợ hãi những người sống sót sẽ nói về vụ thảm sát. (Đó là những gì quả thực đã xảy ra: những người Việt Nam còn sống, cũng như những người Mỹ tham gia vào chiến dịch này đã không thể giữ im lặng). ...Tôi đã ở Mỹ Lai. Đã nói chuyện với những người sống sót, đã đứng cạnh các ngôi mộ tập thể trên bờ biển Đông, tôi đã hiểu ra được rất nhiều. Nhưng chúng ta hãy trở lại với những gì người Mỹ nói về Mỹ Lai. Trong vụ án xử trung úy Calley, nhân chứng - bị cáo Medlou đã cố ý gọi dân làng Mỹ Lai là "những con khỉ", "những con gấu Việt nam". Trả lời câu hỏi tại sao y lại bắn vào phụ nữ và trẻ em ngồi trên mặt đất, y nói: “Trong mỗi phút tôi đều sợ rằng họ sẽ chống cự và phản công lại chúng tôi...Có lẽ họ chỉ có việc giật nụ xoè khối bộc phá, và tất cả chúng tôi sẽ bị bắn tung vào trong không khí ..." Và điều gì tiếp theo? Có cảm giác như bữa tiệc rượu đẫm máu tại Mỹ Lai đã có một tác động tích cực tới ...tính sẵn sàng chiến đấu của đơn vị lính Mỹ. Tuy nhiên, khả năng "sẵn sàng chiến đấu" của đại đội này đã không kéo dài được bao lâu: sau khi xảy ra vụ Mỹ Lai, tháng 3 năm 1969, đơn vị này đã bị những chiến sỹ Việt Nam xoá sổ. Những gì còn lại của đại đội này đã bị giải tán ... Phải chăng có thể biện minh cho tội ác? Dù ở Mỹ Lai hay bất cứ nơi nào ở Việt Nam, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, tội ác là không thể biện minh. Mỹ Lai - đó là chiến tranh, một số người nói như vậy. Mỹ Lai - đó là "một cái lò nướng theo công thức không đúng chuẩn và thành phần nguyên liệu cũng không giống bình thường". |
Ngay cả trong tòa án lời lẽ biện minh cho cuộc tàn sát vẫn là: "Trong làng rặt một loại Việt gì đó, chúng không phải là người". "Còn trẻ em bị giết thì sao? Thì họ đưa ra lập luận: "Bọn trẻ sẽ trưởng thành và giúp người lớn chiến đấu chống lại chúng ta." Khác với các quan chức đại diện cho bên quân sự, những người tham gia trong vụ Sơn Mỹ đã không cố gắng tìm cách che giấu các chi tiết của tội ác mà họ gây ra trong ngôi làng ấy. Trái lại, họ có vẻ hài lòng với những diễn biến của sự kiện: "Bây giờ, thay vì lo lắng, nhớ lại những cảnh tượng khủng khiếp cái chết của các đồng đội trong các bãi mìn, họ có thể nói về Mỹ Lai". Như những người lính, họ khoe nhau những "chiến tích", cùng nhớ lại những gì đã trải qua: "Cậu đã hạ được bao nhiêu tên"..? Ừ, có chuyện đó. Khoảng một tá ...Còn cậu thì đập được bao nhiêu?..Để tớ tính lại đã... Một người lính rất vui khi có kết quả... Anh ta đã giết hơn một trăm người ... Có lẽ là con số phóng đại...". Nhưng đây quả là một trường hợp đặc biệt.
Sau khi đưa ra những lòi làm chứng, ngày hôm sau Medlou dẵm phải mìn và y bị bay mất chân phải. Theo lời những người chứng kiến, Medlou rên rỉ: "Đây là Chúa Trời đã trừng phạt tôi." Và y giận dữ rít lên nguyền rủa Trung úy Calley: "và Chúa Trời sẽ trừng phạt anh ta. Vì những gì anh ta buộc tôi phải làm ... " 18 tháng sau khi xảy ra sự kiện Mỹ Lai, nhớ lại chuyến đi thăm “đại đội Charly” nhà báo Gershen nhận thấy những người lính ở đây đều có vẻ "sợ hãi". Một trong số họ "vẫn bị người Việt Nam tấn công từ trong bóng tối" một người khác "đã cảm nhận sâu sắc cảm giác tội lỗi," và thêm hai người nữa "bị sang chấn vì rối loạn thần kinh" và ít nhất là có khoảng 4 người không thể đi tìm việc làm hay có thể làm việc vì mất khả năng tập trung. Chỉ có một người lính là không bắn, không giết một người dân Mỹ Lai nào. Anh ta cũng quá đau khổ vì “cảm giác tội lỗi”... Bây giờ nói về một chuyện khác. Tình trạng "tích cực hay bị động của người chứng kiến" là chuyện bình thường đối với người Mỹ trong sự kiện ở Mỹ Lai và trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Để không phải tham gia trong các vụ thảm sát, người ta cần trở thành một kiểu gì đó không giống với những người khác. Đó là trong những trường hợp, hoặc anh là một người bất đồng chính kiến, hoặc anh là một người gần như "lập dị". Trong cuộc thảm sát ở Mỹ Lai, một trong những người lính, không tham gia bắn giết đã lẩm bẩm:"Điều này là không thể được, đó là việc phi nghĩa". Tuy nhiên, với người lính này không cần suy diễn anh ta không phải là lính hay là lính "không có khả năng" chiến đấu. Và không phải anh ta không thể hoặc không muốn chiến đấu: anh ta tin vào những lý tưởng của đất nước mình, nhưng vì đã từ lâu anh không chấp thuận hành động của những người lính khác đối với ngườì Việt Nam. Tóm lại anh cảm thấy ghê tởm cuộc chiến này. Anh đã rời bỏ “chuẩn mực người lính” - anh đã không bắn giết. Các nhà tâm lý học đã xác định được ba nguyên nhân chính tạo nên hành vi "bất thường" của người lính đó ở Mỹ Lai. Đầu tiên, anh ta đã có một ý thức rõ ràng về công lý - kết quả của giáo dục gia đình - được hỗ trợ bởi các nguyên tắc công giáo.Thứ hai, anh ta về bản chất là một người đàn ông đơn độc và không bị ảnh hưởng bởi môi trường, không tìm thấy vị trí của mình trong trật tự chung, loại trừ chính mình ra khỏi môi trường "kích động tàn ác". Thứ ba, anh ta có một ý thức mạnh mẽ về danh dự quân nhân, và tại Việt Nam, đặc biệt là ở Mỹ Lai, anh đã phải chứng kiến sự vi phạm thô bạo các điều luật về danh dự của một người lính. Sau các sự kiện ở Mỹ Lai một khoảng cách lớn đã tồn tại giữa anh ta và những người lính còn lại, không phải chỉ tăng lên mà còn trở thành vực thẳm. Anh ghét những người mà anh đã từng coi là bạn bè của mình: "Tôi đã nhìn thấy những người mà tôi nghĩ là "bạn tốt"...đã bắn vào tất cả trên đường đi". Còn có những trạng thái tâm lý khác. Một số lính không bắn người dân Mỹ Lai, nhưng đã cố gắng dấu diếm điều này không để người khác biết. Ví dụ, một tay lính đã không giết người, mà giết chết gia súc. Anh ta ghi chép lại như sau: "Tôi đã không giết người, nhưng không một ai biết điều đó. Và bởi thế sẽ không có ai mắng mỏ tôi". Chìa khóa để hiểu được sắc thái tâm lý của những người lính trong các sự kiện ở Mỹ Lai, cũng như trong suốt cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam, có thể là một bản thống kê thiệt hại của đối phương (chứ không phải của mình). Chính nó đã trở thành một “tấm gương ma quỷ" do chiến tranh tạo ra. Đếm số quân lính bị chết - một thủ tục thông thường trong chiến tranh. Nhưng nếu chiến thắng chỉ được ước tính trên cơ sở các số liệu thống kê, nó sẽ biến thành "nỗi ám ảnh và gian lận có chủ ý". Chiến thắng bình thường trở thành một đại chiến thắng. Nhiệm vụ chính của những người lính Mỹ ở Việt Nam là để tiêu diệt người Việt Nam (nếu không thì tại sao họ lại đến một vùng đất lạ với những quả bom tấn và bom napan), con số người bị giết trở thành tiêu chí duy nhất đánh giá đóng góp của cá nhân cho sự thành công cả đơn vị. Do đó thống kê được làm sai lệch trở thành cách duy nhất để tạo ra ảo tưởng chiến thắng cho cuộc chiến này. Việc giết chóc đối với lính Mỹ khi mà tâm trí đã bị biến dạng là cách duy nhất để vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân. Ở Mỹ Lai việc giết người Việt Nam "đã giúp" cho các lính Mỹ thoát khỏi cảm giác tội lỗi trong những cái chết của đồng đội họ. Từng là "mục tiêu", giờ họ đã biến thành những kẻ thực hiện mệnh lệnh gieo rắc cái chết. Đối với họ chỉ có giết người mới trở thành chuẩn mực của quyền lực, là sự thực hiện nghĩa vụ và nhiệm vụ, là có bản lĩnh trở thành một người lính thực sự. Bởi vậy, không phải khi nào cũng giết người, thì ở quân đội Mỹ, cũng như ở các quân đội khác trên thế giới, lúc không có cơ hội kiểm tra xem lực lượng của mình đã được giết bao nhiêu lính và dân thường của đối phương, thì bản "thống kê người chết" được lập ra. Có lý do để tin rằng ngôi làng Mỹ Lai ở một mức độ nào đó là nạn nhân của "tham vọng thống kê" do bộ chỉ huy các lực lượng quân đội Mỹ ở Việt Nam đặt ra. Như vậy "thống kê" đã giúp cho việc lên ngạch bậc của một số sĩ quan. Ví dụ, Đại tá Henderson, người từ lâu mơ ước trở thành một vị tướng nhưng không thành, đã thành công vượt trội trong việc “thống kê người chết và ghi chép bổ sung". Cũng làm y như vậy là đại tá Frank Barker, chỉ huy các lực lượng đặc nhiệm, được biết như là một người đặc biệt hiếu chiến và hiếu danh. Trong đơn vị của ông con số người bị giết chết cao một cách đặc biệt, và các binh sỹ của ông có khả năng sẵn sàng cho bất kỳ một người Việt Nam nào "sang thế giới bên kia". Thậm chí cả những người mà họ không thấy tận mắt. Tự do theo đuổi những chỉ số cao trong bảng "thống kê số địch bị chết" là cả chuỗi từ các cấp tướng đến các sĩ quan cấp dưới. Tất cả mọi người đã phải chịu đau khổ từ mối liên hệ ràng buộc này, tất cả đã trỏ thành nạn nhân của các thói xấu, sự méo mó, loạn tâm thần . |
Giữa số lượng người Việt Nam bị giết và số vũ khí đã thu được của đối phương (thường được lờ đi) có sự không tương ứng đáng lo ngại. Khi đó tư duy phê phán trở nên rõ ràng: đã có dân thường bị giết hại (nếu không thì:"lính tráng" lại là những người không có vũ khí). Tại sao họ bị giết? Câu hỏi này người ta đã cố gắng không đưa ra. Bởi lẽ giết chết một tù nhân chiến tranh cũng là một tội phạm.
Tất nhiên, các nguyên tắc và tiêu chuẩn tính đếm trong các đơn vị quân sự khác nhau của Hoa Kỳ tại Việt Nam không giống nhau. Và các “số liệu thống kê kép" này được sử dụng theo hai cách. Đôi khi một người bị giết lại được tính nhiều lần trên cơ sở công lao đồng thời của nhiều người. Trong một số đơn vị quân đội Mỹ người ta tính số dân thường, động vật bị giết hại, hoặc thậm chí những người không hề tồn tại - tùy thuộc vào nhu cầu hoặc mức độ tự trọng của người đưa ra con số. Nhưng bằng cách nào đó tại Việt Nam đã có hơn một triệu rưỡi người Việt Nam thiệt mạng. Đây chính là tội ác của quân đội Mỹ. Và ở đây không có việc ghi bổ sung thêm. Theo báo cáo ban đầu ở Mỹ Lai có khoảng ba trăm - ba trăm rưởi người Việt Nam bị giết (điều này trùng hợp với những tính toán trước đó của Medina). Nhưng sau đó, không ai có thể hiểu lý do tại sao con số này giảm xuống 128. Các kêt quả xác thực của chiến dịch quân sự đã bị các sỹ quan tham mưu nào đó che đấu đi? Hay là quỷ kế của chiến dịch phản tuyên truyền? Theo các nguồn tin của tôi, thì khoảng 500 người đã bị giết chết. Kết quả cuối cùng số người chết do đại đội "Charlie" gây ra đã được người ta ghi chỉ có 14 từ 128 người, còn cái chết của hơn 400 người khác - thì bị coi là kết quả của các đợt pháo kích là sự cố không may của tầm nhìn trong trận chiến. Trong báo cáo chính thức có nhắc tới sự "chạm trán với kẻ thù", nhấn mạnh rằng "cuộc tấn công đã thực hiện chính xác". Trong cuốn sổ ghi lại các hoạt động của đơn vị đặc nhiệm do Barker chỉ huy (trong đó bao gồm cả đại đội "Charlie"), đã tiến hành chiến dịch quân sự trong khu vực Mỹ Lai, có nhắc tới con số 128 người Việt Nam thiệt mạng. Không ai có thể đưa ra một câu trả lời chính xác. Con số này ở đâu ra? Trong lời khai của mình, trung úy Calley nhớ lại một cuộc trò chuyện với đại uý Medina. Calley: Ông ấy hỏi có bao nhiêu người Việt Nam đã bị chúng ta giết ngày hôm đó? Tôi trả lời rằng tôi không biết, và nói ông hãy tự đi mà tìm hiểu lấy... Daniel (công tố viên): Anh muốn nói rằng có thể nêu lên bất kỳ con số nào? Calley: Vâng, thưa ông. Daniel: Đại úy Medina có thể chỉ ra bất kỳ số nào trong bản báo cáo, con số mà ông ấy nghĩ ra trong đầu? Calley: Bất kỳ số nào trong phạm vi có thể chấp nhận được.Tôi nghĩ rằng ông ta đã nói con số cao nhất ... Daniel: Nhưng ông ấy đã tiến hành kiểm tra, vậy con số đó có thực sự đúng không? Calley: Có đúng và không đúng.Tôi không nhớ chính xác ông ấy đã làm việc đó như thế nào. Tôi chỉ nhớ rằng tôi đã tính được khoảng 50 người bị giết ... Daniel:Anh có nói với đại uý Medina về việc đã bắn vào những người ẩn nấp dưới hào? Calley: Vâng, thưa ông. Daniel: Anh đã thực hiện việc đó trong hoàn cảnh nào? Calley: Anh ta hỏi tôi, có bao nhiêu thường dân nằm trong số người chết. Daniel: Và anh đã trả lời thế nào? Calley: Tôi đã nói rằng ông ấy phải tự mình giải quyết việc đó. Nói cách khác, Calley và Medina bắt đầu cùng nhau ước lượng con số "thực tế", con số có thể nêu ra theo mức độ đánh giá sự phát triển các sự kiện “thống kê số người chết” và con số này đảm bảo phù hợp xác nhận được "logic các sự kiện". Vì vậy, Medina nói rằng ông ta đã giết chết “từ 30 đến 40 người", còn Calley thì có vẻ thích con số 50 hơn. Medina sau đó đưa ra con số 310 cho tất cả các đơn vị lính Mỹ, nhưng trong quá trình "xem xét lại" và đánh giá tình hình đã được giảm đến 128, v.v.. Tuy nhiên, các cư dân của làng Sơn Mỹ và thôn Mỹ Lai đã đếm được khoảng 500 người chết. Và điều đó - việc thống kê các tội ác mà lính Mỹ đã thực hiện. Sau mỗi con số - là một tội phạm, là một sinh mệnh bị thủ tiêu...Bằng cách đếm số người chết, người ta lãng quên ngưòi còn sống. Người còn sống dường như đã không tồn tại ... |
Cuộc chiến cân não Vào những năm 60, trong các cơ quan an ninh Xô Viết, đặc biệt là trong các trường nghiệp vụ (các học viện) của Bộ Quốc phòng và Ủy ban an ninh quốc gia thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã có một chủ đề "mốt": đó là phân tích các trạng thái tâm lý của binh lính và sĩ quan Mỹ trong thời chiến - khi tham gia chiến đấu và lúc ở hậu cứ, mặc dù thuật ngữ “hậu cứ” trong cuộc chiến tranh du kích là một khái niệm rất tương đối. Chủ đề này - là một tập hợp các vấn đề về chiến tranh tâm lý. Nhưng cũng có một nhóm khác nghiên cứu những đặc điểm về phong tục, tập quán, thói quen của các dân tộc thiểu số và phương thức sử dụng chúng của Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam và các nước khác - đã từng tham gia vào cuộc xung đột vũ trang ở khu vực này vì lợi ích của chính họ. “Nhóm” thứ hai này mang một ý nghĩa chiến lược không thua kém gì nhóm đầu tiên. Nếu vấn đề "tinh thần chiến đấu của lính Mỹ” có "những khoảng thời gian", bắt đầu từ những phát súng đầu tiên và tiếng nổ của bom đạn, sau đó là đoạn cuối ở chiến trường (chưa đề cập đến "hội chứng Việt Nam" sau chiến tranh - khi đó thì tầm bao quát của vấn đề không thể đánh giá hết), thì với mục đích chiến tranh tâm lý, việc sử dụng các phong tục tập quán của những dân tộc chính và hàng chục dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân cư vùng núi và hải đảo, đã mang một ý nghĩa quan trọng, được tính toán cho nhiều năm phía trước. Trong vấn đề này việc nghiên cứu những truyền thống và kinh nghiệm hàng thế kỷ của các mối quan hệ giữa các tộc người sống trong cùng một khu vực hoặc ở cạnh nhau có một giá trị đặc biệt. Đây là vấn đề phức tạp như ta vẫn biết trên tất cả các châu lục (ai dám phủ nhận cho đến ngày nay ngay cả ở châu Âu vẫn tồn tại những mâu thuẫn giữa người Pháp và người Đức, người Pháp và người Ý, vv...). Vì vậy, sau khi "chiến tranh tâm lý" đã trở thành chủ đề "mốt", việc nghiên cứu tinh thần lính Mỹ ở Đông Dương và những đặc điểm, tập quán của các dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia cũng như khoảng tám mươi dân tộc nhỏ khác ở Đông Dương đã thu hút tới Việt Nam các chuyên gia "chiến tranh tâm lý", một số cán bộ đặc nhiệm chủ yếu của các phân ban KGB cư trú tại Hà Nội, Viênchăn, Pnom Penh buộc phải "thay đổi nghành nghề". Anh bạn thời sinh viên của tôi Georgi (chúng ta chắc còn nhớ, là nhân viên tình báo PGU đầu tiên biết tiếng Việt tại Hà Nội trong thời gian đầu cuộc chiến năm 1964) cũng đã phải ngồi viết một luận án về “đề tài tâm lý” dưới nhãn mác của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Anh không phải là người mưu cầu danh lợi, có tiếng là một chàng trai tuyệt vời và là một con người thực tiến, nhưng danh hiệu phó tiến sĩ sử học sẽ làm anh không bị khó dễ trong bất cứ biến cố nào. Cách tiếp cận vấn đề theo kiểu “khoa học hóa” và “lý thuyết hóa” làm cho công việc của nhà tình báo tiến triển chật vật, hơn nữa “người thật việc thật” lại không có nhiều. Thế là cánh phóng viên nhà báo lại phải giúp vậy. Cánh nhà báo Mỹ là những trợ lý xuất sắc, họ đúng là những người đã lục lọi trong thế giới nội tâm, trong những trải nghiệm tinh thần của lính Mỹ đang ở địa ngục của cuộc chiến tranh Việt Nam. Chủ đề chủ nghĩa anh hùng, tinh thần yêu nước của người Mỹ, chủ đề khát khao chiến thắng (dù là thua) trong phim ảnh, văn học xuất hiện muộn hơn, sau khi tâm trạng thua trận đang hủy hoại tâm hồn. Chính sách xâm lược của Mỹ bị thất bại và phá sản càng rõ ràng thì chủ nghĩa anh hùng Rambo càng có vẻ đẹp đẽ. Đồng nghiệp Herr M. của tôi đã viết một loạt các bài phóng sự từ Sài Gòn, tôi đã thu thập được và gửi bản sao cho Georgi. Tại sao chính là bài viết của M. Herr, chứ không phải của hàng chục đồng nghiệp Mỹ khác? Tôi không biết. Trước hết, chúng tôi đã gặp Herr nhiều lần, hơn nữa, chúng tôi dường như có nhiều điểm chung. Ví dụ, ở văn phòng của tôi tại Hà Nội, trên tường có treo những bản đồ Việt Nam cũ của Pháp, bản đồ Bắc Bộ, Trung bộ, với người Việt khi đó có thể coi là của hiếm và có độ "chính xác gián điệp" (trên đó in tên tất cả các vùng làng quê và các đường mòn trên núi). Những bản đồ này đã biến mất khỏi tường ở chỗ tôi một cách bí ẩn. Sửa chữa văn phòng, thì tất nhiên, tôi đã không tiến hành. Những bản đồ tương tự cũng có ở Herr. Chính từ những bản đồ này, ông bắt đầu một loạt các bài phóng sự "Hơi thở của địa ngục", trong đó, như tôi nghĩ, ông ấy đã truyền đạt chính xác tình cảnh của người lính Mỹ và lực lượng viễn chinh trong những năm 1964-1968. Ông cũng đã có không ít những phát hiện trên báo chí. |
MỘT BÀI PHÓNG SỰ TỪ MÁY BAY TRỰC THĂNG BAO QUANH BỞI LỬA ĐẠN "Trên bức tường căn hộ của tôi ở Sài Gòn có treo một tấm bản đồ" - M. Herr viết ("chiêu thức"này tôi cũng áp dụng trong những năm 1966-1969). Đôi khi, trở về muộn vào ban đêm, tôi mỏi mệt đến nỗi không còn sức lực gì nữa, duỗi người dài trên giường và tôi nhìn vào bản đồ. Kỳ diệu thay - tấm bản đồ, khi mà giờ đây nó đã cũ vàng, cũ vọt. Tôi được thừa kế nó từ khách trọ cũ đã sống ở đây nhiều năm trước. Có lẽ là người Pháp, bởi bản đồ đã được in tại Paris. Sau nhiều năm trong cái nóng ẩm của Sài gòn, giấy của nó nhăn lại và cong vênh. Trên đó Việt Nam vẫn còn bị phân chia thành các vùng đất thuộc địa cũ: An Nam, Bắc Kỳ và Nam Kỳ, và phía tây tiếp giáp với Lào và Cam-pu-chia là Thái Lan - Vương quốc Xiêm. Vâng. Đây quả là tấm bản đồ cũ có giá trị thực sự! Nếu như những cái bóng của các quốc gia bị tiêu vong có thể sống lại tương tự những bóng ma của người chết, thì trên bản đồ này có thể đóng con dấu “Những công việc đang tồn tại”, và các loại bản đồ khác sử dụng từ năm sáu tư có thể đốt đi. Nhưng bạn hãy tin rằng không có gì giống thế sẽ xảy ra. Bây giờ đã là cuối năm sáu bảy, ngay cả khi xem các bản đồ chi tiết nhất bạn sẽ không nhận thấy điều gì rõ ràng cả. Cố gắng xem và hiểu được chúng cũng như cố gắng đọc các bộ mặt của người Việt Nam hay người Mỹ. Và điều đó tương tự như cố gắng để đọc gió thổi vậy. Chúng ta biết hầu hết các thông tin thu thập được đọc hiểu theo những cách khác nhau; các phần lãnh thổ khác nhau truyền đạt lại cho mọi người theo cách khác nhau. Chúng ta chỉ biết nơi đây đang có chiến tranh… Và cuộc chiến ấy người ta lại đọc hiểu, nhận thức cũng theo nhiều cách khác nhau. Đại sứ quán Hoa Kỳ liên tục khẳng định các đơn vị "Việt Cộng" đã bị đánh cho tan tác, một tháng sau các đơn vị Việt Cộng ấy lại xuất hiện cũng trên chính chiến trường đó với quân số đầy đủ. Dường như không có gì huyền bí về điều này. Sẽ đơn giản nếu như quân đội Mỹ chiếm được phần đất của đối phương và cố thủ chiếm giữ nó tới cùng, nhưng nếu sau đó họ không thể giữ được thì điều gì sẽ xảy ra? Hãy tin những gì bạn nghe được đi, họ nói, chỉ nghe theo các thông tin hiện có thôi. Vào cuối tuần đầu tiên tại nơi dàn quân cho cuộc chiến, M. Herr viết, ông đã gặp và làm quen với một sỹ quan thông tin ở trụ sở của sư đoàn 25 tại Củ Chi. Ban đầu viên sỹ quan giới thiệu trên bản đồ, sau đó thì từ máy bay trực thăng của mình, chỉ cho Herr thấy người ta đã làm những gì với cụm dân cư Hố Bò ở đây, bằng các xe ủi đất khổng lồ, chất hoá học, và bằng các trận bom đạn triền miên…cụm dân cư đã bị xoá khỏi mặt đất. Hàng trăm hecta đất trồng trọt cũng như rừng cây bị phá hủy, "kẻ thù đã bị tước mất các nguồn tài nguyên có giá trị và nơi trú ẩn." Chiến dịch đã thực hiện này cho thấy người Mỹ có thể làm những gì khi có máy móc kỹ thuật và kỹ năng sử dụng chúng. Còn nếu các tháng tiếp theo, hoạt động của đối phương trong khu vực rộng lớn của chiến khu "C" tăng lên đáng kể và phía Mỹ tổn thất về người tăng gấp đôi thì điều đó, quỷ sứ bắt, không thể diễn ra ở Hố Bò, nơi đã không còn tồn tại, mà ở đâu đó cũng tại đấy nhưng dưới một tên gọi khác. Đừng tin vào bản đồ! Có lẽ tất cả mọi thứ diễn ra không phải ở tại Hố Bò mà là Bò Hố? ...Trước khi đi ra ngoài để hoạt động ban đêm, các binh sĩ đã được phát thuốc y tế Dexedrine. Phải uống thứ thuốc này như nuốt một con rắn đã chết mục trong hộp sắt tây. M. Herr biết một chàng trai ở đơn vị trinh sát thám báo của sư đoàn bốn, anh này nuốt các viên thuốc theo từng vốc tay: một vốc thuốc an thần từ túi quần bên trái của bộ đồ ngụy trang, và ngay lập tức tiếp theo là một vốc thuốc kích thích từ túi bên phải. Thuốc bên phải - để lập tức được phê mê mẩn, còn thuốc bên trái - để cơn phê thuốc được ngấm sâu hơn. Anh ta giải thích các liều thuốc làm cho anh có được “vẻ ngoài thích hợp". Anh chàng này đã ở Việt Nam tới nhiệm kỳ thứ ba. Trong năm 65 anh là người sống sót duy nhất khi trung đội của sư đoàn "kỵ binh" nơi anh tại ngũ đã bị xoá sổ trong một thung lũng vùng núi. Năm 66, anh quay trở lại Việt Nam trong biên chế các đơn vị đặc nhiệm. Thế nào đó mà đơn vị của anh lại bị sa vào một trận phục kích. Anh nấp dưới thi thể những người đồng đội, khi quân du kích trang bị bằng dao găm kiểm tra xem ai bị thương mà vẫn còn sống. Rồi họ rút đi sau khi tháo và lấy đồ quân trang từ những người chết, trong đó có cả mũ nồi xanh. Sau chuyện này, anh không thể nghĩ mình sẽ làm công việc nhà binh nào khác trong cuộc chiến, ngoài trỉnh sát thám báo. - Đơn giản là tôi không thể nào quay trở lại thế giới ban đầu nữa, - anh nói.Và nhớ lại anh đã lái xe về nhà lần cuối cùng như thế nào, rồi ngồi ẩn mình cả ngày trong phòng riêng, thỉnh thoảng đặt khẩu súng săn lên bệ cửa sổ, ngắm qua đầu ruồi những người đi đường và các xe ôtô chạy ngang qua. Trong tất cả những suy nghĩ và cảm xúc chỉ còn lại cảm giác ngón tay trên cò súng. - Điều này đã làm những người thân của tôi rất lo lắng, - anh nói. Đến lượt họ lại làm anh hay nổi cáu, mất bình tĩnh. Một mối liên quan có đi có lại. (Hội chứng Việt Nam ở dạng này cho đến nay vẫn chưa chấm dứt). Người lính này dường như luôn luôn ở trạng thái cảnh giác đề phòng, lúc nào cũng tìm kiếm một cái gì đó. Khi nằm ngủ, có lẽ với đôi mắt mở to. Anh ta làm tất cả phải sợ hãi. Anh đeo một chiếc vòng vàng và đầu trùm khăn, xé ra từ một mảnh vải dù ngụy trang. Không ai dám nói với anh phải đi cắt tóc. Mái tóc của anh mọc dài xuống dưới vai, che đi vết sẹo dày màu đỏ tía. Ngay cả việc sư đoàn bố trí giao nhiệm vụ, anh cũng không bước đi mà không lấy theo ngưòi một con dao và khẩu súng "Colt". Nhưng anh ta đã kể lại chuyện gì! Những câu chuyện ấn tượng về chiến tranh mà nhà báo chưa từng được nghe. Dưới đây là một chuyện như vậy: - Có một tốp lính tuần tra đi lên núi. Quay trở lại chỉ có một người. Và anh lính này đã chết, không kịp nói cho tôi biết những gì đã xảy ra với họ. Herr chờ đoạn tiếp theo, nhưng đã không có. Sau đó, ông hỏi chuyện gì đã xảy ra tiếp? Người lính nhìn ông thông cảm. Và trên mặt của anh ta dường như đọc được câu: "Đồ chậm hiểu, mẹ kiếp ..Ông cần đoạn tiếp theo gì nữa kia chứ?" Anh ta là kẻ giết người, một trong những kẻ giết người hàng đầu ... "Sau này, tôi không còn có dịp nói chuyện với anh ta, tuy rằng có nhìn thấy một lần nữa - M. Herr viết - Khi tốp lính trinh sát trở về vào sáng hôm sau, anh ta dẫn theo một tù binh. Người tù binh bị bịt mắt, hai tay trói xoắn ra sau lưng. Rõ ràng trong cuộc thẩm vấn tù binh, không có người lạ nào được phép vào lều. Dù sao, tôi cũng đã ở bãi đáp, đang chờ máy bay trực thăng. Anh lính nọ cũng sẵn sàng cho công việc tìm kiếm tiếp theo. " "Có khi nào ông đã phải viết một phóng sự từ máy bay trực thăng bao quanh bởi lửa đạn?" – Người ta đã hỏi một phóng viên. "Không-phóng viên đó thành thật trả lời.–Nếu vậy thì tôi sẽ sống sót làm sao được "? Các phi công trực thăng nói rằng, nếu trên máy bay có ai chết thì hồn người chết sẽ ở lại đó mãi mãi, và sẽ bay cùng với bạn. Giống như tất cả những ai trải qua cuộc chiến, các phi công trực thăng có chút mê tín. Tuy nhiên, chuyện "giao tiếp" gần gũi với người đã chết thì các phi công trực thăng nhớ mãi suốt đời. Và đó là điều thực sự không chịu đựng nổi. Hội chứng Việt Nam. |
Cơ động bằng máy bay làm tăng cảm giác an toàn, kịp có mặt ở mọi nơi. Phương tiện cơ động này đã giải cứu cho nhiều người sống, nhưng nó cũng mang họ ra đi mãi mãi. (Sự "cơ động" tốt nhất - đó là được trở về nhà. Nhưng điều này còn được coi như là - đào ngũ).
Lo sợ và di chuyển, lo sợ và dậm chân tại chỗ. Thật khó để lựa chọn điều gì là tốt nhất - chờ đợi hành động hoặc là tự mình hành động. Chiến trận thương tiếc con người ta nhiều hơn là giết hại họ. Nhưng trong cuộc chiến tất cả phải chịu khổ sở khi tạm ngưng chiến, đặc biệt là khi hàng ngày phải đi tìm kiếm cuộc chiến tiếp theo. Thật khó khăn khi đi vào chiến trận bằng cách hành quân; thật đáng sợ - khi đi trong các xe tải và xe bọc thép, thật khủng khiếp - khi tới bằng trực thăng, và tồi tệ hơn cả - bằng máy bay trực thăng, khi bạn được đưa tới với tốc độ cao như thể đi gặp một cơn ác mộng. Còn nếu như lọt vào máy bay trực thăng bị đạn từ dưới đất bắn rơi, mà bạn vẫn sống sót, thì “khối trực thăng” này sẽ bao bọc, bảo vệ bạn cho đến cuối ngày. Một lần phải "hạ cánh nóng" khi phía Việt Cộng bắn vào lính Mỹ bằng hỏa lực mạnh mẽ từ các cây cối cách nơi hạ cánh khoảng một trăm mét, binh sĩ mặt ép xuống bùn lầy; luồng đạn đã buộc họ phải bò lết tới nơi cỏ cây không bị đổ rạp xuống vì luồng gió từ trực thăng thổi tới. Một nơi trú ẩn Trời cho không tốt lắm, nhưng còn hơn là không có gì. Trong khi các lính Mỹ chưa kịp xuống đất hết thì chiếc trực thăng đã vội vã bay vọt lên trời, buộc nhóm lính cuối cùng phải nhảy giữa hai luồng lửa đạn - từ súng máy trên mặt đất và súng máy trên ngưỡng cửa máy bay trực thăng. Sau đó, đại uý đã cho điểm danh. Mọi ngưòi đều ngạc nhiên, không có ai bị thương, ngoại trừ một người lính, chân bị bong gân khi nhảy xuống từ máy bay trực thăng. Ông nhớ lại sau đó, mọi người đã lội bì bõm trong bùn lầy, sợ nhất là gặp phải đỉa ... ...Khi tiểu đoàn 173 tiến hành lễ cầu nguyện cho những người lính, trên mặt đất người ta xếp thành hàng các đôi giày của những người đã chết. Đó là truyền thống cũ của binh chủng lính dù. Một đại đội các chiếc giày rỗng nằm trong bóng mát và nhận những lời cầu phúc an lành. Chúng sẽ được gửi về nhà theo địa chỉ của người nhận trong những cái túi đánh số, thông qua cái gọi là "Trụ sở trung chuyển cho những người đã mất". Nhiều người xem đôi giày như một biểu tượng trang nghiêm và chìm đắm trong lời cầu nguyện. Những lời cầu nguyện được cất lên ở Sài Gòn, ở đồng bằng sông Cửu Long, trên núi non, trong hầm tránh đạn của thủy quân lục chiến, tại "biên giới" dọc theo khu phi quân sự. Tuy nhiên, những lời cầu nguyện từ phía này lại tương tự như lời cầu nguyện từ phía kia. Lời cầu nguyện có đủ loại khác nhau. Một số lời cầu lên Chúa Trời. Một số lời cầu khác...- tới các nhà lãnh đạo chính trị đã không còn đủ lý trí. Và thật khó để nói lời cầu của ai sẽ giành được thế thượng phong. Tại Huế bà mẹ của nhà vua bện tóc có lẫn những hạt gạo để chim chóc bay quanh và ăn những hạt gạo đó khi bà đang cầu nguyện. Trong các căn phòng ốp gỗ có gắn máy điều hoà -"nhà cầu nguyện" của phái đoàn viện trợ quân sự (MABП) Hoa Kỳ tại Việt Nam, lính cần vụ thắp hương trầm đầy đủ, họ đã cầu xin Đức Chúa Giêsu nhân từ hãy ban phước lành cho các kho bãi đạn dược, cho các khẩu đội pháo 105 ly và các câu lạc bộ sĩ quan. Sau thời gian hành sự, các đội tuần tra trang bị vũ khí vào loại tốt nhất trong lịch sử đã mang lại sự chết chóc cho nhiều người, trong số họ có người đã tự nguyện thiêu mình trên ngã tư đường phố, chỉ để lại một ít nắm tro màu xám. Từ các con hẻm sâu và dưới mái vòm các ngôi chùa đều vang vọng lời cầu nguyện Phật giáo cho hòa bình. Mùi thơm thoảng nhẹ của khói hương đã đi qua cả khối mùi nặng nề của những đường phố xứ châu Á này. Tất cả mọi người ở Sài Gòn đã trở nên mê tín. Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge có lần đi dạo cùng các phóng viên tại thảo cầm viên Sài gòn, có một con hổ đã tiểu tiện qua những chấn song sắt bắn vào ông ta. Lodge đã nói đùa: "Ai bị dính nước tiểu hổ trong năm tới chắc sẽ không thành công". Những thất bại có tính quyết định đã chờ đợi Lodge. Ở đây hổ không có vai trò gì... Mê tín dị đoan và những điềm báo trước không giúp được gì cả. Lính Mỹ chết hàng ngày vì những điều nhỏ nhặt. Người thì quá mệt mỏi không thể mặc áo khoác chống đạn, không thể lau sạch súng trường, mệt mỏi khi phải dùng bàn tay che cho cây diêm cháy, phải tuân theo các quy tắc an toàn cần thiết trong chiến đấu. Đơn giản là người lính đã quá mệt mỏi. Dường như chính cuộc chiến này đã kiệt sức; cỗ máy chiến tranh gần như mất trí, tự nó lăn bánh đi đâu đó trong một trạng thái hoàn toàn trì trệ. Toàn bộ các sư đoàn lính Mỹ hoạt động như trong một cơn ác mộng, tiến hành các cuộc chiến đấu mà không có bất kỳ sự liên kết hợp lý nào với mục tiêu chính của họ. Cỗ máy đã trục trặc, và cũng không thể chỉnh sửa lại nó nữa. Và bất kỳ sự so sánh đối chiếu lịch sử nào cũng là giả dối. Những người lính đã phát điên: người ở giữa trận chiến, người ở lúc tuần tra, người lúc trở về doanh trại, người lúc đi nghỉ phép, và người thì một vài tháng sau đó, sau khi phục viên trở về nhà. Chứng bệnh tâm thần đã trở thành một phần không thể thiếu được của lính Mỹ khi chiến đấu ở Việt Nam. Và hội chứng này tiếp tục một phần tư thế kỷ sau đó. Trong những năm 60 ở Hoa Kỳ ngưòi ta bắt đầu nhận ra rằng vấn đề Việt Nam chỉ có thể được giải quyết theo một cách duy nhất: mọi người Việt Nam, thậm chí cả những người thân thiện, xếp tất cả họ lên tàu và đưa ra ngoài biển Đông. Sau đó, ném bom vùng đất này, nghiền tán mọi thứ thành bột, và các con tàu thì đánh chìm. Chiến thắng đât nước này là điều vô vọng, chỉ có thể phá hủy, tiêu diệt, và họ bắt đầu tiến hành cuộc tiêu diệt với lòng đầy hăng hái, không để lại viên đá nhỏ nào. Nhưng kẻ nào gieo gió, kẻ đó ắt hẳn phải gặt bão ... |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:04. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.