![]() |
ĐỒNG CHÍ
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỉ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Chính Hữu (1948) * NGỌN ĐÈN ĐỨNG GÁC Trên đường ta đi đánh giặc Ta về Nam hay ta lên Bắc, Ở đâu Cũng gặp Những ngọn đèn dầu Chong mắt Đêm thâu Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt Như những tâm hồn không bao giờ biết tắt, Như miền Nam Hai mươi năm Không đêm nào ngủ được, Như cả nước Với miền Nam Đêm nào cũng thức... Soi cho ta đi Đánh trận trường kỳ Đèn ta thắp niềm vui theo dõi Đèn ta thắp những lời kêu gọi. Đi nhanh đi nhanh Chiến trường đã giục Đầy núi đầy sông Đèn ta đã mọc. Trong gió trong mưa Ngọn đèn đứng gác Cho thắng lợi, nối theo nhau Đang hành quân đi lên phía truớc. Chính Hữu (1965) Bài “Ngọn đèn đứng gác” đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc. * NGUYÊN VĂN BÀI THƠ “NGÀY VỀ” CỦA CHÍNH HỮU Kiến Văn QĐND - Nhà thơ Chính Hữu (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2001) có 3 bài thơ được phổ nhạc và trở thành “những bài ca đi cùng năm tháng” thành bài hát vượt thời gian. Đó là các bài Ngày về (nhạc sĩ Lương Ngọc Trác phổ nhạc thành bài hát cùng tên, năm 1947), Đồng chí (nhạc sĩ Minh Trí phổ nhạc thành bài hát Tình đồng chí năm 1949, trước tháng 4-1975 ở các tỉnh phía Nam quen gọi là Tình quê hương) và bài Ngọn đèn đứng gác (nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành bài hát cùng tên, năm 1966). Về bài Ngày về, ngay từ năm 1949, trên Tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam (số 11-12 tháng 4-5) nhạc sĩ Lương Ngọc Trác đã viết: “Bài thơ Ngày về của anh Chính Hữu tôi rất thích, sau khi phổ nhạc thành bài hát Ngày về được phổ biến rộng rãi hơn trong bộ đội”. Đây là bài hát dễ “vào” với bộ đội và nhân dân hơn là những bài Thủ đô huyết thệ, Mơ đời chiến sĩ cũng do ông sáng tác trước đây. Thế nhưng không hiểu lý do gì mà bài thơ Ngày về chưa bao giờ được xuất hiện trọn vẹn trên sách báo. Theo tìm hiểu của chúng tôi thì bài thơ được xuất hiện lần đầu tiên ở dạng “trích” trong bài Tiếng thơ của Xuân Diệu trên Tạp chí Văn nghệ số 7 (12-1948), tức là một năm sau khi bài Ngày về được sáng tác và phổ nhạc (1947). Ở bài của Xuân Diệu, Ngày về được trích cả thảy có 14 câu. Câu mở đầu: Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa và câu kết thúc: Bước căm giận xéo quân thù lớp lớp. Bốn mươi năm sau, năm 1998 khi làm sách Tuyển tập Chính Hữu cho Nhà xuất bản Văn học, tôi có đem thắc mắc này hỏi Chính Hữu. Ông cũng chỉ bảo: “Đó chỉ là phần lời cho bài hát Ngày về của Lương Ngọc Trác viết từ những năm tuổi trẻ ấy mà. Năm ấy mình mới 21 tuổi, chưa làm thơ, chưa có Đồng chí (1948), chưa có Đêm sầu Hà Nội (1950)”. Đòi mãi, gặng mãi, nhà thơ mới miễn cưỡng đưa cho một bản viết tay nguyên văn bài Ngày về với điều kiện là, trong tuyển tập thơ của ông chỉ được trích 10 câu thôi và phải có lời chú thích là “Lời viết cho bài hát Ngày về của Lương Ngọc Trác”. Tôi đem bản chính của Ngày về so với bản trích của Xuân Diệu hơn 40 năm về trước thì thấy rất khác. So với bản chép tay, truyền khẩu thì lại càng khác. Dường như chỉ có đúng một khổ hay nhất: “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng / Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm/ Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm/ Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”. Thế tức là đã có sự “tam sao thất bản”, đã có những “dị bản” . Để Ngày về được trở về với nguyên tác, với chính người sinh ra nó, tôi đã phải chọn một “giải pháp” là đưa toàn văn bài thơ vào phần chú giải cuốn Tuyển tập Chính Hữu, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1998, trang 135, 136. Bài thơ có 26 câu. Hai câu đầu: Có đoàn người lên đóng trong rừng sâu/ Đêm nay mơ thấy trở về Hà Nội và 4 câu kết thúc: Mịt mù khói ngợp/ Cờ máu huy hoàng/ Phất nắng/ Ôi bài chiến thắng reo vang. Dưới bài thơ ghi rõ con số 1947, năm mà các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô của Chính Hữu cùng người Hà Nội tiến hành tiêu thổ kháng chiến, thực hiện cuộc rút lui chiến lược lên Chiến khu Việt Bắc tiếp tục cuộc chiến đấu hết sức gian khổ nhưng vẫn nghe: Tiếng gọi của những người Hà Nội/ Trở về, trở về, chiếm lại quê hương. Và đây có thể xem như bài thơ đầu tay của Chính Hữu. Xin được phép giới thiệu nguyên văn bài Ngày về do chính tác giả chép tặng; đồng thời cũng là bản đã in trong phần Chú giải thơ Chính Hữu in trong tập sách nói trên: NGÀY VỀ Có đoàn người lên đóng trên rừng sâu Đêm nay mơ thấy trở về Hà Nội Bao giờ trở lại? Phố phường xưa gạch ngói ngang đường Ôi hôm nay họ nhớ mái nhà hoang Bức tường điêu tàn ngày xưa trấn ngự Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa Mái đầu xanh thề mãi đến khi già Phơi nắng gió. Và hoa ngàn cỏ dại Nghe tiếng gọi của những người Hà Nội Trở về, trở về, chiếm lại quê hương Nguy nga sao cái buổi lên đường Súng chuốt gươm lau, mắt ngời sáng quắc A ha! Nhà xiêu mái sập Xác oan cừu ngập lối chân đi Gạch ngói xưa mừng đón gót lưu ly Bước căm giận xéo quân thù lớp lớp Mịt mù khói ngợp Cờ máu huy hoàng Phất nắng Ôi bài chiến thắng reo vang. Chính Hữu (1947) |
TÔI ĐÃ HỌC NÓI TIẾNG LENIN NHƯ VẬY…
Ở thập niên 70’, tại Hà nội người ta đã cải biên lời bài hát ”Trường Sơn Đông, Trường sơn Tây” như sau :“Cùng vui sướng khi nhận được tin . Ra nước ngoài anh hằng mong đợi . Tàu liên vận mùa này chật lắm . Người đi “Tây” nhớ người bên ta…”. http://russiatrek.org/images/photo/u...chitecture.jpg “Thành phố Simbirsk bên bờ sông Volga là quê hương của Lenin . Sau này đổi tên là thành phố Ulyanovsk” Buổi tối ngày 27 tháng 7 năm 1971, chúng tôi lên tàu liên vận để đi học tại Liên Xô . Tôi chưa đi “Tây “ lần nào và cũng chưa từng tiễn ai đi “Tây”, nên buổi tối hôm ấy là lần đầu tiên tôi thấy số lượng người đi “Tây” đông đến như vậy, đồng thời số lượng người đi đưa tiễn còn đông hơn gấp vài ba lần… Chúng tôi tập trung trước cửa nhà hát Nhân dân (bây giờ là Cung văn hoá Hữu nghị) cùng với thân nhân, bạn bè đưa tiễn… Dòng người đi bộ kín cả lòng đường từ đó cho đến tận cửa ga Hàng cỏ ! http://www.astera-tur.ru/rs/module/images/i1787_0_0.jpg “Dòng sông Volga” Tàu hoả đưa chúng tôi đến thành phố Kiev để học 1 năm Dự bị tại đây . Nhiệm vụ chính của chúng tôi là học, chủ yếu học tiếng Nga, tức là tiếng của Lenin . Tiếng Nga đối với chúng tôi như một thứ vũ khí trang bị cho người lính trước khi ra trận . Chúng tôi phải hiểu và sử dụng tốt thứ vũ khí đó trên mặt trận tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến ở các trường Đại học trên khắp đất nước CCCP . http://www.ulzapovednik.ru/upload/ib...ity_39_900.jpg “Đài tưởng niệm I . N . Ulyanov (cha của Lenin) ở thành phố Ulyanovsk” Lớp học Nga văn ở Dự bị Kiev của tôi gồm có 8 người : Phạm Thị Khánh, Lâm Minh Châu, Đỗ Minh Loan, Nguyễn Thị Anh Nhi, Trịnh Long Hương, Nguyễn Bá Tòng , Võ Duy Vinh và tôi là Đặng Tuấn Phương . Trong lớp 8 người thì có 5 đã từng học Nga văn ở cấp III trong nước . http://www.venets-hotel.ru/uploads/v...l-around18.jpg “Ngôi nhà số 76 đường Lenin, nơi cậu bé Vladimir Ilich Ulyanov đã chào đời” Chắc các bạn còn nhớ hồi đó học sinh cấp III trong nước chỉ có hai ngoại ngữ để chọn lựa, đó là Nga văn hoặc Trung văn . Tôi đã học tiếng “Tàu”, nay lại đi “Tây“ nên học tiếng “Tây” rất khó khăn . Khỏi phải nói ai cũng biết lợi thế của các bạn đã từng học Nga văn ở trong nước, còn chúng tôi thì như những đứa trẻ bắt đầu học vỡ lòng A ,B ,C… http://upload.wikimedia.org/wikipedi...enin_Age_4.jpg “Tuổi thơ” Tạm dừng việc học Nga văn ở đây, để nhắc lại một số kỷ niệm, hay nói chính xác hơn là ấn tượng của tôi đối với tiếng Nga . Trên đường đến Kiev, chúng tôi đã dừng chân ở thành phố Irkutsk khoảng 1 tuần . Hàng ngày, sau bữa cơm chiều chúng tôi thường tản bộ quanh khu vực mình đang ở tạm . Quanh đó là những ký túc xá có nhiều sinh viên Nga và các nước khác sinh sống, nên chúng tôi có dịp gặp gỡ họ… Bản tính thanh niên dễ cởi mở, bởi vậy chúng tôi và họ làm quen nhau một cách khá dễ dàng . http://www.uycnr.com/yl/sd/201104/W0...1425303605.jpg “Thời học sinh” Có lần tôi đi chung với Nguyễn Minh Toàn (Toàn đã học tiếng Nga), chúng tôi gặp gỡ làm quen với mấy thanh niên Nga . Tôi câm như hến vì có biết nửa chữ Nga nào đâu mà nói ? Còn Toàn thì vừa nói bằng miệng, vừa múa bằng tay hay đáo để, thỉnh thoảng cũng cười nữa chứ... Mặt tôi cứ nghệt ra chẳng hiểu mô tê gì hết ! http://img.beta.rian.ru/images/22537/54/225375402.jpg “Thời sinh viên” Lần khác, Liêm rủ tôi đi xem phim, liều thế đấy, chữ nghĩa không biết gì mà lại đi xem phim ! Tôi không nhớ đã xem phim gì, vì điều ấy đâu quan trọng ? Mà quan trọng là Liêm và tôi đã làm quen được với một anh sinh viên Nga . Chẳng biết lúc đó Liêm nói những gì, nhưng sau đó anh ta đã mời Liêm và tôi về ký túc xá nơi anh ta sống để chơi cho biết… http://upload.wikimedia.org/wikipedi...riginal%29.jpg “Thời kỳ trước CMT10” Trong những lần cùng đi dạo chơi như thế, tôi thật sự lác mắt thán phục những bạn đã nói được bập bẹ tiếng Nga . Rồi tôi thầm tự hỏi chẳng biết ngày mai đây khả năng tiếng Nga của mình có được như các bạn ấy không ??? Phải cố gắng thôi, tôi tự nhủ… http://www.emersonkent.com/images/ru...ution_1917.jpg “CMT10 bùng phát…” Quay trở lại với lớp học Nga văn ở Dự bị Kiev . Tuy đã hết sức cố gắng, nhưng trong vài tháng đầu tôi không thể nào theo kịp được với các bạn trong lớp . Tôi “cày” tiếng Nga đủ kiểu, bằng mọi cách mà mình tự nghĩ ra... Thậm chí có lần tôi còn dùng bút chì phiên âm tiếng Nga theo tiếng Việt cho dễ đọc, nhưng tôi thất bại thảm hại ! Kể cả khi bạn Lâm Minh Châu giúp tôi học bài, dù đã phiên âm nhưng tôi không thể lặp lại cho đúng… http://images.wikia.com/althistory/i...0-F3D1EF27.jpg “CMT10 đang xảy ra…” Ngừng tại đây một tí, tôi muốn kể về bạn Lâm Minh Châu . Theo nhận xét của riêng cá nhân tôi thì Lâm minh Châu chính là người học giỏi nhất trong lớp . Mọi câu hỏi, bài tập… bạn ấy đều đạt điểm 5 là điểm cao nhất ! Có lần trong một buổi học, bà giáo chủ nhiệm nói trước lớp (lúc đó tôi chưa hiểu được mà phải nhờ Lâm minh Châu dịch lại) đại ý :”Các em vượt hơn 10.000 km đến đây, trong lúc đất nước Việt Nam đang trong chiến tranh . Các em phải cố gắng học để sau này giúp xây dựng lại đất nước khi chiến tranh kết thúc !”. Với bản tính yếu mềm dễ tủi thân nên các bạn nữ đã bật khóc trong buổi học đó . Nước mắt tôi không rơi, nhưng tôi rất buồn… “Học, học nữa, học mãi”, nhưng biết học như thế nào đây ??? Tôi vẫn bế tắc trong phương pháp học ! http://cdn.dipity.com/uploads/events...56b964b_1M.png “Quân đội cũng ngả theo Cách mạng” Dù kết quả học tập thê thảm như vậy, nhưng trong những ngày nghỉ tôi vẫn ham đi chơi chỗ nọ chỗ kia… Có một hôm chủ nhật, Bá Tòng, Duy Vinh và tôi (3 đứa sống chung phòng) rủ nhau đi chơi . Điểm đến là Công viên Bách thú Kiev . Tôi nhớ ở đây mỗi đứa chụp một tấm ảnh riêng, rồi chụp chung với nhau một tấm... http://us.123rf.com/400wm/400/400/se...ser-aurora.jpg “Chiến hạm Rạng Đông” Sau khi dạo khắp Công viên, chúng tôi ngồi nghỉ chân, thì có mấy ông già tới làm quen nói chuyện . Tòng và Vinh cũng đã nói tiếng Nga kha khá . Còn tôi vẫn bập bẹ như đứa trẻ lên 3 . Càng cố gắng nói cho đúng ngữ pháp bao nhiêu thì mấy ông già lại càng không hiểu bấy nhiêu, tay chân phụ họa cũng chẳng giúp ích bao nhiêu ! Cuối cùng, một ông già khuyên tôi :”Mày cứ nói chậm rãi từng từ một xem nào . Nói theo dạng nguyên thể, không cần chia, không cần đổi cách đổi giống gì hết…” Tôi ngoan ngoãn thử làm theo lời chỉ bảo của ông, ấy thế mà ông già lại hiểu hết mới chết chứ ! http://farm4.static.flickr.com/3115/...420d341274.jpg “Thuỷ quân tham gia Cách mạng” Cũng chính từ gợi ý của ông già người Nga tốt bụng hôm đó mà tôi nảy ra một phương pháp học mới . Tôi nghĩ tại sao mình không tranh thủ học thuộc thật nhiều từ vựng ? Nếu mình nhớ được nhiều từ, thì khi người ta nói là mình hiểu ngay . Cứ tạm thời gác vấn đề ngữ pháp sang một bên, chứ lao đầu vào học ngữ pháp mà từ vựng không biết thì khi người ta nói mình cũng chả hiểu gì ! http://www.emersonkent.com/images/ru...n_timeline.jpg “Quân Cách mạng sử dụng mọi phương tiện…” Nghĩ là làm . Tôi lao vào học từ vựng như điên . Tôi đặt chỉ tiêu cho mình mỗi ngày phải học thuộc ít nhất 40 từ . Buổi tối trước khi rời phòng học về phòng ngủ bao giờ tôi cũng tự kiểm tra số từ đã học thuộc trong ngày . Có ngày chỉ nhớ được 20 từ, có ngày nhớ được 25 hoặc 30 từ... Qua ngày sau tôi cố gắng bổ sung số thiếu hụt để cho đủ 40 từ mỗi ngày, nhưng hầu như vẫn cứ thiếu hụt liên miên ! http://www.soviethammer.info/img/upl...dsarefarae.jpg “Sức mạnh của nhân dân” Cứ thế, cứ thế… “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Tự tôi nhận thấy mình tiến bộ, vì tôi bắt đầu nghe được, hiểu được…Khi đã nghe hiểu được, tôi bắt đầu chú ý cố gắng nhớ cách bà giáo nói, người Nga nói… Hay nói cách khác là tôi đang tiếp cận với ngữ pháp tiếng Nga theo cách riêng của mình . http://learnlearn.net/Historie,relig...itmap02575.png “Quân Cách mạng tại Moskva” Khi còn học ở CCCP cho đến hôm nay, khi viết những dòng chữ này, vốn từ tiếng Nga của tôi nhớ rất nhiều, còn ngữ pháp chỉ là tối thiểu ! Thậm chí, hồi học tiếng Nga ở những năm Đại học, các bà giáo Nga văn đã từng nhận xét tôi như sau :”Anh nói hay, diễn đạt tốt, ý phong phú… Nhưng tại sao bài viết của anh lại nhiều lỗi thế ???”. Tôi quay ngược lại đố các bà giáo biết tại sao ? Các bà giáo đều chịu thua . http://www.lacrememagazine.co.uk/wp-...1/09/Lenin.jpg “CMT10 thành công” Tôi giải thích :”Thứ nhất vì vốn từ tôi nhớ nhiều, thứ hai khi tôi nói thì họ đã nghe được phần từ gốc nên họ hiểu, và họ không để ý đến cái đuôi của từ tôi nói có đổi đúng cách hay không… Vấn đề ngữ pháp đặc biệt quan trọng trong tiếng Nga, rất đặc trưng không giống như những ngôn ngữ khác . Bởi vậy, khi viết là giấy trắng mực đen thì tôi chẳng lấp liếm được, nên lòi cái đuôi dốt ra ! Sau này, tôi cố gắng rất nhiều cho việc bổ sung kiến thức về ngữ pháp tiếng Nga, nên cái đuôi dốt của tôi cũng ngắn đi nhiều . http://2.bp.blogspot.com/_LaBnKY3Tl9...ladivostak.jpg “Tiếp theo CMT10 là cuộc nội chiến đẫm máu trên khắp nước Nga…” Trình độ tiếng Nga của tôi được cải thiện thấy rõ theo mỗi ngày, mỗi tháng ở Dự bị Kiev… Thi học kỳ 1 tôi đạt loại trung bình khá . Cuối năm tôi đạt loại khá . Hết năm Dự bị tôi lên Leningrat vào học ở khoa Kinh tế của Đại học Lâm nghiệp Leningrad . http://www.westwingstudios.com/wws/w...ssianRev_1.jpg “Quân Bạch vệ” Đến đây, tôi nhớ lại các bà giáo dạy Nga văn lớp tôi thời Dự bị Kiev . Chẳng hiểu tại sao lớp tôi lại thay đổi bà giáo chủ nhiệm đến 3 lần ? Hai bà giáo đầu tiên tôi chưa kịp nhớ tên thì đã đổi . Còn bà giáo thứ 3 thì tôi nhớ vanh vách đầy đủ cả họ, tên, và tên gọi theo cha là “Asibenka Zinayđa Makarovna”. http://b.cdn.tendaweb.com/fckfiles/i...communism2.gif “Nữ Hồng quân” Cũng như các bà giáo chủ nhiệm những lớp khác, bà giáo chủ nhiệm lớp tôi là một phụ nữ châu Âu khá đẹp, dáng mảnh mai chứ không đẫy đà… Bà có nét đẹp hơi sắc sảo của phụ nữ phương Tây hơn là nét đẹp thuần tuý của phụ nữ Slave . Tóc bà màu xẫm . Đặc biệt mái tóc của bà hay thay đổi kiểu, chứ không như những bà giáo khác hầu như chỉ để một kiểu tóc . Bà ăn mặc khá model, và thỉnh thoảng mới thấy bà mặc một bộ đồ nào đó lần thứ hai ! http://www.colinfahey.com/vodka_tetris/lenin_007.jpg “Trong Điện Kremlin” Có lần bà đến thăm chúng tôi ở ký túc xá ob.6, xem chúng tôi sống ra làm sao, có khó khăn gì chăng… Bà ngỏ ý sẵn sàng giúp đỡ, hoặc đề nghị nhà trường giúp… Chúng tôi rất cảm động trước sự quan tâm đặc biệt của bà cũng như của nhà trường... http://bi.gazeta.pl/im/2/9946/z9946732Q.jpg “Bà Nadezhda Krupskaya, vợ của Lenin” http://img1.liveinternet.ru/images/a...a_v_Gorkah.jpg “Lenin và vợ khi đã lớn tuổi…” http://fotolenin.narod.ru/b/118.jpg “Cùng với trẻ em” Theo tôi nhận biết thì không chỉ riêng bà giáo chủ nhiệm lớp tôi, mà tất cả các thầy cô giáo ở Dự bị Kiev đều coi chúng tôi như những học trò nhỏ bé, và hơn thế nữa, họ coi chúng tôi là những đứa trẻ cần được giúp đỡ, dạy dỗ để chập chững những bước đi đầu đời, chuẩn bị cho một tương lai phía trước… http://29.media.tumblr.com/njE9Bw4rv...xawiXj_500.jpg “Lenin và người kế tục sự nghiệp là Joseph Stalin” Khi về Việt Nam công tác với hơn 30 năm hoàn toàn không sử dụng tiếng Nga, vốn liếng tiếng Nga trong tôi bị mai một đi khá nhiều . Ấy thế mà hôm nay tôi lại đang “kiếm ăn” bằng tiếng Nga đấy . Tôi đã về hưu sớm trước tuổi hưu 10 năm . Vì có người giới thiệu nên hiện nay tôi đang làm phiên dịch tiếng Nga ở Chi nhánh phía Nam của Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga . Đây là một việc làm quá tốt đối với tôi, vừa có thu nhập trang trải cuộc sống gia đình, và đặc biệt lại được tiếp tục sử dụng tiếng Nga - tiếng của Lenin ! Còn gì tốt hơn thế chăng ? http://static.atlasobscura.netdna-cd..._slideshow.jpg “Lenin từ trần” Tôi cũng chẳng ngờ sau 30 năm không sử dụng tiếng Nga, thế mà nay vẫn đáp ứng được yêu cầu để làm phiên dịch tiếng Nga . Mô Phật ! Chắc chắn là Tam Bảo gia hộ cho tôi . Và có thể cả ông Lenin cũng thương yêu phù hộ cho tôi chăng ??? Nhưng tôi tin chắc một điều là tiếng Nga đã ngấm sâu vào máu thịt của tôi . Tuy tôi chưa biết cách học và sử dụng tiếng Nga một cách tốt nhất, nhưng dù lớn tuổi đến đâu thì tôi cũng luôn ghi nhớ câu nói bất hủ của Lenin :”Học, Học nữa, Học mãi…” http://thepeoplescube.com/images/Fra...Stalin_2_5.gif “Lăng Lenin” Ở Việt nam, ngày 20-11 là Ngày Nhà Giáo . Từ sâu thẳm trong trái tim chúng ta cùng nhau nói lời “Cám ơn” gửi đến tất cả các thầy cô giáo, trong đó có những Nhà Giáo ở đất nước Xô-viết vĩ đại ! Sẽ chẳng bao giờ chúng ta có thể quên những Nhà giáo Xô-viết kính yêu ấy… http://www.beeldvanoverijssel.nl/nie...in/Lenin-1.jpg “Tượng đài Lenin bị hạ bệ…” Đặng Tuấn Phương - Sài gòn Trường Rừng Leningrad |
TUỔI THƠ CÙNG KHỔ CỦA TỔNG THỐNG HÀN QUỐC
Tổng thống kể lại quãng đời tuổi thơ gian khó cũng như nguồn cảm hứng để ông có thể làm việc hết mình khi ở đỉnh cao quyền lực. http://www.business-mongolia.com/wp-...-Myung-bak.png Từ ngày 1.11, cuốn hồi ký bằng tiếng Anh The Uncharted Path (tạm dịch: Lối đi không dấu chân người) của Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak được xuất bản tại Mỹ, theo Korea Times. Sách phần lớn được dịch từ cuốn hồi ký bằng tiếng Hàn “ Không có thần thoại “được xuất bản vào năm 1995, nhưng có thêm những câu chuyện từ khi ông Lee rời Tập đoàn Hyundai để làm thị trưởng Seoul rồi làm tổng thống cho đến nay. Uống nước để lấp bao tử Trong cuốn hồi ký, ông Lee kể rằng vào tháng 8.1945, khi quân Nhật bị đánh bại, gia đình ông Lee rời khỏi Osaka, Nhật Bản để trở về thành phố Pohang, đông nam bán đảo Triều Tiên. Trên đường về, phà chở gia đình ông cùng nhiều người khác bị lật, rất may mọi người được cứu sống nhưng tất cả tài sản mà họ dành dụm được đều bị cuốn trôi. Khi đó cậu bé Lee Myung-bak mới 4 tuổi. Đến khi chiến tranh Triều Tiên xảy ra vào năm 1950, cha ông mất việc, gia đình phải chuyển đến một ngôi đền cũ dưới chân núi để trú ngụ cùng nhiều gia đình khác. Ông Lee nhớ lại: “Xung quanh chúng tôi là tiếng khóc của trẻ con, tiếng cãi vã của người lớn và tiếng rên rỉ của người bệnh đang nằm. Cái khổ nhất phải chịu đựng là cơn đói triền miên. Đói tới quặn ruột”. Trong những ngày đó, bữa ăn của gia đình ông chủ yếu là bã rượu vì đó là thứ mà gia đình có khả năng mua. Khi đến trường, ông không có cơm trưa để ăn. “Trong lúc những đứa trẻ khác ăn trưa, tôi hay đi đến vòi nước để lấy nước lấp đầy bao tử. Tôi nhớ rằng mình đã uống nước đến khi bụng trương lên, và rồi nhận ra dù uống bao nhiêu đi nữa, nước không bao giờ làm bạn no. Vào những ngày đóng học phí, tôi hay bị kêu về nhà để lấy tiền đóng. Mỗi khi việc này xảy ra, tôi chỉ đi lên ngọn đồi phía sau trường và đứng ở đó một lát, vì về nhà cũng chẳng có tiền. Sau một lúc thì tôi trở lại trường và xin giáo viên cho gia hạn”. Ông không có tiền đi học là do ba ông từ khi còn làm ở Nhật đã gửi tiền cho bác để nuôi con bác ấy ăn học. “Tôi không trách ông ấy, nhưng khi nhìn lại quả thật đó là thời gian khó nhọc đối với trẻ con. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Thay vào đó, cái nghèo đã làm cho chúng tôi mạnh mẽ hơn”. Trước khi vào lớp 5, Lee Myung-bak đã làm mọi thứ để kiếm tiền, như làm que diêm và bánh bán cho binh sĩ. Ông thường chịu đói nhưng vẫn tiếp tục đi học, dù mỗi ngày phải đi bộ tới 4 giờ. Bị liệt vào danh sách đen Khi còn là sinh viên, chàng thanh niên Lee Myung-bak từng phải ở tù về tội “kích động chống nhà nước”. Sau khi ra tù, ông được tốt nghiệp mà không cần phải hoàn tất những môn học bỏ lỡ. Ông giải thích: “Lý do là họ muốn tống tôi ra khỏi trường càng nhanh càng tốt vì không muốn tôi gây thêm rắc rối”. Cũng do có tiền án, ông đã nộp đơn vào nhiều công ty nhưng không qua được vòng phỏng vấn vì bị kiểm tra “lý lịch”. Sau đó, ông viết thư gửi Tổng thống lúc đó là Park Chung-hee. “Trong thư, tôi giải thích tại sao tôi trở thành chủ tịch hội đồng sinh viên và hướng dẫn các cuộc biểu tình. Tôi chỉ ra rằng mình tìm việc rất khó khăn. Tôi kết thúc thư bằng cách chỉ trích gay gắt hành vi của nhà nước trong việc xem quá khứ để cản tôi thực hiện ước mơ”, ông viết. Vài ngày sau, ông được ông Lee Nak-sun, thư ký của Tổng thống Park hẹn gặp. Thư ký Lee nói rằng ông đáng bị trừng phạt để làm gương cho những sinh viên muốn biểu tình chống chính phủ. Tuy nhiên, kết thúc cuộc gặp, ông Lee hỏi ông có muốn đi du học theo học bổng nhà nước hoặc làm việc tại công ty nhà nước hay không. “Tôi đáp lại là không. Tôi không thể chấp nhận củ cà rốt mà chính phủ ban phát cho tôi… Trước khi chúng tôi chia tay, tôi nói với ông ấy:Nếu nhà nước cản trở một công dân tự kiếm sống thì tôi phải nói rằng nhà nước đã nợ công dân đó rất nhiều. Tôi mong ông nhớ điều đó”. Đến tháng 7.1965, ông được nhận vào làm nhân viên của Công ty xây dựng Hyundai sau khi qua vòng phỏng vấn và trở thành Chủ tịch Hyundai vào năm 1988. “Tiếp tục phục vụ” Đến năm 1992, ông Lee rời công ty để bước chân vào con đường chính trị, gia nhập đảng Tự do Dân chủ. Ông đắc cử chức Thị trưởng Seoul năm 2002 và sau đó giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 19.12.2007. Ngay sau khi nhận được chi phiếu tiền lương đầu tiên cho chức vị tổng thống của mình vào ngày 10.3.2008, ông lập tức tuyên bố dành toàn bộ lương hằng tháng (khoảng 14 triệu won – tương đương hơn 210 triệu đồng) để tặng cho người nghèo trong suốt nhiệm kỳ 5 năm. Đến tháng 7.2009, ông công bố thành lập một quỹ từ thiện trong đó ông ủng hộ 33,1 tỉ won (gần 500 tỉ đồng). “Tôi không bao giờ quên được những người đã chìa tay ra giúp đỡ cậu thanh niên nghèo vượt qua khó khăn trong khi họ cũng nghèo. Và tôi biết đối với tôi, cách tốt nhất để đền đáp lại lòng tốt đó là cho lại xã hội những gì tôi kiếm được”, Korea Times dẫn lời ông Lee. Trong cuốn hồi ký mới, ông cho biết sẽ dùng quỹ từ thiện này để hỗ trợ những thế hệ trẻ đang chịu cảnh nghèo như ông đã gặp cách đây 5 thập niên. Ông Lee, 69 tuổi, tiết lộ rằng bà mẹ quá cố của ông có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời ông. Bà luôn muốn các con mình làm việc chăm chỉ, phục vụ và thương yêu người khác. Có lẽ vì thế mà ông chia sẻ: “Trong những ngày còn lại của nhiệm kỳ, tôi sẽ luôn nhớ vinh dự lớn là phục vụ. Sau khi về hưu, tôi sẽ tiếp tục phục vụ… Tôi sẽ tham gia việc giáo dục trẻ con về tầm quan trọng của sự phát triển xanh, bền vững và việc bảo vệ môi trường”. Theo TNO |
CHÚ LÌNH
NGUYỄN QUANG LẬP NQL: Tạm gọi bài này là khai bút đầu xuân… Mình có ông chú ruột không làm chức tước gì nhưng mình rất tự hào, ấy là chú Lình, con út của ông nội, em trai của ba mình. Xưa chú nổi tiếng nấu ăn ngon nhất tỉnh Quảng Bình. Chú đã từng nấu cơm cho Bác Hồ trong tuần Bác vào thăm Quảng Bình vào năm 59-60 chi đó thế kỉ trước. Hồi ở lính mình được coi là đứa nấu nướng vụng nhất Ban kĩ thuật trung đoàn, cứ mỗi lần anh em trong ban tổ chức nấu nướng nhậu nhẹt thể nào mình cũng được phân công bửa củi và xách nước. Hai việc đó nặng nhất nhưng mình lại thích, thà làm ào ào xong rồi nghỉ hơn là ngồi khom lưng nhặt một mớ rau. Anh Thành đại úy thường vẫn sai mình làm việc vặt, khi thì nhổ lông vịt lông gà khi thì đâm ớt tỏi làm nước mắm, việc nào mình cũng làm anh ngứa mắt. Lần nào anh cũng xòe cái răng vàng ra cười cười, nói mày như thằng tiểu tư sản, chẳng làm cái đéo gì ra hồn. Mình nhăn răng cười, nói em ăn giỏi hơn anh, được chưa? Rồi mình khoe chú Lình nấu ăn giỏi, đã từng nấu cơm cho Bác. Chẳng ai tin, cho là mình bốc phét. Anh Phúc trung úy cười cái hậc, nói thằng này hơi bị ngu, khoe gì lại khoe có ông chú nấu ăn cho Bác. Cả nước không còn ai biết nấu ăn cho Bác, phải cậy đến chú mày à. Hi hi tức chết đi được, chuyện nào mình bốc phét thì mấy ông tin sái cổ, chuyện mình nói thật thì chẳng ai tin. Hồi đó mình có lên sân khấu trung đoàn đọc bài thơ do mình sáng tác ( xưa mình đọc thơ trên nền nhạc hơi bị được, he he), không nhớ bài gì nữa, chỉ nhớ mỗi câu: “ Đêm tôi đi qua dãy phố nhà em/ tiếng dương cầm níu chân tôi dừng bước.” Mấy anh trong Ban phục mình lắm, nói thằng Lập tài, cưa được gái Hà Nội, mấy em biết chơi đàn dương cầm là chảnh lắm thế mà nó cưa được. Hi hi . Thủa chú Lình còn bé, ông bà nội mình chết bom, ông bác Vĩnh Tường ( ông bác ruột) đem ba con trai của ông bà nội về nuôi, đó là ba mình, bác Trang và chú Lình. Ông Vĩnh Tường hồi đó thuộc hàng giàu có nhất tỉnh, năm 1953 vô Sài Gòn, chẳng mấy chốc thuộc hàng giàu có nhất Sài Gòn. Nhắc đến tên ông, nhiều người sống ở Sài Gòn từ 1955-1975 vẫn còn nhớ. Vì giàu có mà ông Vĩnh Tường nuôi ba anh em ăn học, không phải làm gì. Nhưng chỉ ba mình là ham học, bác Trang thì mải chơi, chú Lình học giỏi nhưng chỉ thích nấu ăn không chịu học. Thấy ba mình ham học, ông Vĩnh Tường quí lắm, ông không có con trai nên chọn ba mình làm con nuôi, được hưởng tập ấm. Ông Vĩnh Tường vô Nam, chú Lình và ba mình theo cách mạng ở lại Bắc, chỉ bác Trang đi theo. Mình nghe ba mình kể, nói bác Trang ham chơi lắm, ông Vĩnh Tường giao cho một xí nghiệp để làm ăn, bác cũng bán nốt lấy tiền tiêu xài chơi bời, chơi cho đến già, khi chết không vợ con gì. Ba mình kể chú Lình rất ham nấu ăn. Ở trong lớp tiếng Pháp, cô giáo người Pháp hỏi học trò, nói học tiếng Pháp để làm gì. Ai cũng trả lời học để giúp dân giúp nước, chú Lình trả lời thẳng tưng, nói học để đọc sách dạy nấu ăn bằng tiếng Pháp. Nhà ông Vĩnh Tường nhiều đồ ăn, tha hồ chế biến. Chú Lình suốt ngày chui vào bếp, không đi chơi cũng chẳng đi học. Sợ mang tiếng bắt cháu chắt làm việc, ông Vĩnh Tường đuổi chú ra khỏi bếp, bắt đi học. Đuổi hôm trước, hôm sau chú lại lẻn vào bếp. Ông Vĩnh Tường bắt được, quát nạt doạ đánh. Chú khóc, nói con chỉ muốn nấu ăn thôi, nấu ăn cũng là nghề. Ông Vĩnh Tường nghe nói thế thì ngạc nhiên lắm, trợn mắt nhìn chú, nói mi nói thiệt chơi? Chú nói thiệt. Ông nói mi định lập nghiệp bằng nấu ăn à, chú nói dạ. Ông Vĩnh Tường ok liền, giao cả cái bếp cho chú. Từ đó chú Lình trở thành đầu bếp số 1 của nhà ông Vĩnh Tường. Khách của ông Vĩnh Tường toàn khách sang, ăn uống rất sành, hết thảy đều nức nở khen ngon, nói cu Lình còn nấu ngon hơn mấy ông ba Tàu ở Chợ Lớn. Nghe nói quan đầu tỉnh ở Đồng Hới ( tên gì quên mất rồi) vẫn thường ra Ba Đồn chơi, lần nào cũng vào thăm ông Vĩnh Tường, lần nào ông Vĩnh Tường cũng bày tiệc, sai chú nấu nướng. Ăn lâu quen mồm, nhậu ở đâu ngài cũng đem chú Lình ra so sánh, nói món ni ngon như cu Lình, món kia không bằng cu Lình, lâu ngày có tên là món cu Lình (Món gì cũng quên mất rồi). Sau đó chú rời nhà ông Vĩnh Tường theo Việt Minh, hòa bình lập lại, chú vào làm cho Giao tế tỉnh ( Giống như sở ngoại vụ bây giờ), chú nhanh chóng nổi tiếng khắp tỉnh về tài nấu nướng. Mình đã được mục sở thị tài nấu nướng của chú Lình. Ấy là ngày giỗ đầu ba mình, nhà làm 60 mâm, mời chừng 300 người là họ hàng và bạn bè, đồng chí của ba mình. Một mình chú Linh đứng bếp, có bốn năm chị em phục vụ nhưng chú chỉ cho rửa ráy rau thịt và sắp món chứ không ai được đứng bếp cùng chú. Chỉ duy nhất với một cái chảo, chú xoay trở đảo điên làm ra 6, 7 món cho ba trăm người, 8 giờ sáng vào bếp, đúng 11 giờ là dọn ra tăm tắp không mâm nào thiếu một món gì, ai cũng xuýt xoa khen ngon. Chỉ cần ngửi hơi là chú biết mặn hay nhạt, nhìn hơi chú biết loãng hay đặc, chín nhừ hay chín vừa, rất tài. Xưa đại tướng Nguyễn Chí Thanh về gây dựng phong trào Gió Đại Phong ở Quảng Bình, đi đâu cũng mang chú đi để chú nấu ăn cho. Đại tướng rất thích đi săn, kiếm được con gì ngon là Đại tướng nhất định chờ chú tới nấu, không cho ai nấu. Một khi nghe điện thoại của Đại tướng, nói đồng chí cu Lình đâu rồi, cấp cứu cấp cứu… là chú biết Đại tướng vừa săn được con gì đó ngon, đang chờ chú đến chế biến, nấu nướng. Bác Hồ về thăm tỉnh Quảng Bình 1 tuần, cả tuần ăn uống của Bác đều do chú lo. Một bữa ăn của Bác chỉ có 6 đồng ( Khoảng 600 ngàn đồng bây giờ), bữa nào Bác cũng mời chừng 4,5 người khách nhưng với tài chế biến của chú, mâm cơm của Bác rất nhiều món, món nào cũng ngon. Bác Hồ rất thích, có hôm Bác gật gù xuýt xoa khen, nói đến cà pháo chú Lình làm cũng khác người, ăn cứ ngậm mà nghe. Ra Hà Nội, Bác Hồ viết thư về tỉnh, Bác nhắc nhiều chuyện trong đó có câu: “ Một tuần Bác ở Đồng Hới, chú Lình nấu ăn cho Bác rất ngon” . Năm 1992 mình đọc một bài báo tỉnh Quảng Bình kể chuyện chú Lình nấu cơm cho Bác, có “cải chính” không những viết thư khen, Bác còn tự tay vẽ một tờ giấy khen gửi về cho chú. Mình hỏi chú có không, chú cười lắc đầu, nói có mô. Nhưng mình nghi chú giấu, chú sợ lộ ra thể nào bảo tàng tỉnh cũng tới xin, không cho không được mà cho thì tiếc lắm, hi hi. |
Mấy bức ảnh đẹp quá!
Nước Nga thật đẹp, mong sớm đc chiêm ngưỡng! |
Thấy các bác bàn luận sôi nổi quá nên em mạn phép góp vui.
Mấy câu truyện dưới đây là do các anh trong phòng em học tập ở Nga về kể cho em nghe chứ em thì chưa đi Nga bao giờ. Chuyện là thế này, có anh học ở MGU kể lại là có một thầy giáo rất nguyên tắc, ai đi học muộn là không cho vào lớp. Có một hôm anh đi thang máy còn thầy đi bộ lên lớp học, hai người cùng tới cửa lớp một lúc, lúc ý là vừa kịp giờ vào lớp. Cứ nghĩ là kính trọng thầy giáo nên trò nhường thầy vào lớp trước. Ai dè thầy vừa vào lớp là đóng sập cửa trước mặt anh, thế là chàng ta ngẩn tò te vì không được vào lớp. Bọn em nghe xong mà cười lăn cười bò ra :emoticon-0102-bigsm. Ngoài ra cũng có thầy giáo rất hiền và dễ tính. Một anh khác học ở Rostov về kể lại: với môn kĩ thuật điện thầy rất ưu tiên con gái, chỉ cần vẽ được hình cái điện trở là cho qua. Thế mà có cô cũng không qua được đấy. Có cô còn khóc nữa chứ. Thầy thấy thế hoảng quá bảo thôi thôi cho mày qua. Bọn em hậu bối rất ngạc nhiên hỏi là khóc lóc xin xỏ à. Anh ấy bảo không phải, bọn Nga cần cóc gì điểm, chỉ cần qua là được thôi, lắm lúc thầy giáo bảo là mày làm thêm câu nữa đi tao cho 5 điểm nhưng trò bảo là thôi chỉ cần qua thôi là được, không cần 5 điểm. Khóc chẳng qua là vì mấy cô em lúc thầy hỏi thì bảo là tao không biết đâu, cho tao về. Nhưng thầy cứ nhất định hỏi, mấy em ý ức quá nên khóc “ tao đã bảo là tao không biết rồi mà mày cứ hỏi mãi ” :emoticon-0100-smile. Thầy thấy học trò khóc nên thôi cho qua. Em cũng nghe kể là hồi trước học bên Nga hay cho điểm Automatic, tức là phát biểu nhiều thì cho điểm để qua mà không phải thi. Một anh khác chỗ em rất khôn, môn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô biết là dài nên thi khó qua. Cho nên cứ tới giờ là xung phong phát biểu, cũng không cần là đúng hết. Cô giáo dạy môn ý là người Bắc Triều Tiên nên quí học sinh Việt Nam, sau thấy anh này hay phát biểu nên 5 điểm qua luôn không phải thi. Nhưng có một môn cho qua nhưng chỉ cho 4 điểm, trước hôm thi một hôm mới biết thế, lên hỏi thầy giáo thì thầy bảo chỉ cho thế thôi, tức quá về hùng hục cầy cả đêm để đi thi hôm sau lấy điểm 5 cho bõ. Dạ hôm nay em mới nhớ tới đây, hôm nào nhớ ra em lại post tiếp, các bác đi học ở bên ấy về nhiều chuyện vui lắm. |
Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ
Một nhà khoa học thành danh ở Mỹ với nhiều công trình nghiên cứu và hằng trăm bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất thân từ một cậu bé bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp, Sài Gòn. Câu chuyện của Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành hiện đang giảng dạy tại trường đại học Utah, Hoa Kỳ, là niềm hãnh diện của người Việt trên trường quốc tế và là tấm gương đáng khâm phục để giới trẻ Việt Nam noi theo. Năm 11 tuổi, cậu bé Thành đã bắt đầu bươn chải, dãi dầu mưa nắng để kiếm tiền phụ mẹ nuôi 9 anh chị em sau khi cha mình bị liệt bán thân. Ngày ngày, sau giờ tan trường từ giữa trưa đến tận 9, 10 giờ đêm, cậu bé rong ruổi với thùng thuốc lá trên vai đi bán dạo quanh bến xe lam chợ Gò Vấp. Năm 1976, khi Việt Nam mở chiến dịch đưa cư dân ra các vùng kinh tế mới xa xôi, hẻo lánh, gia đình Thành chuyển xuống Lái Thiêu xoay sở tậu được một miếng ruộng nhỏ và một cặp trâu. Ở tuổi 15, Thành bỏ nghề bán thuốc lá dạo để chuyển sang đi cày thuê cuốc mướn. Việc học của cậu bé bị cản trở và chi phối rất nhiều bởi công cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày, nhưng ý chí quyết tâm theo đuổi con đường học vấn để đổi đời đã vun đúc trong lòng cậu bé từ rất sớm. Tiến sĩ Thành chia sẻ: “Tôi có tư duy thích học, những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy sách đọc. Chỉ có môn toán là tôi học được vì không đòi hỏi tập trung nhiều. Cứ rảnh là tôi ngó qua một cái rồi để cái đầu tôi làm việc. Tôi được sự dạy dỗ của ông nội và ba tôi. Họ thường khuyên rằng học vấn là con đường ngắn nhất để đưa một người không có gì tới thành công.” Tới năm học lớp 12, con đường học vấn của cậu bé nghèo, lam lũ bắt đầu rẽ bước ngoặt, xuất phát từ một đáp án dí dỏm của Thành trước câu hỏi của thầy đố các học sinh giỏi. Ấn tượng trước sự thông minh của Thành, người thầy đã soạn đưa cho cậu bé một số sách để tham khảo. Giáo sư Trương Nguyện Thành kể lại: “Năm 1979, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức kỳ thi toán toàn quốc. Thầy tôi có đem mười mấy cuốn sách cho tôi mượn, bảo tôi đọc cho biết rồi tới dự lớp thầy dạy cho các học sinh giỏi dự thi toán. Tôi rất cảm động trước nghĩa cử này. Mỗi tối sau giờ làm ruộng, tôi đốt đèn dầu đọc sách từ 9 giờ tới 12 giờ đêm. Thời điểm đó, ở Việt Nam, hạnh kiểm là vấn đề khá quan trọng. Hạnh kiểm tôi tương đối xấu nên cô hiệu trưởng không cho tôi đi thi học sinh giỏi toán. Ông thầy lén đưa tôi đi theo đội tuyển, may quá tôi thi đậu. Tỉnh Bình Dương lúc đó chọn khoảng 30-40 em học sinh giỏi toán lên trên tỉnh học chuyên toán trong 3 tháng. Sau 3 tháng, họ tuyển lại lấy 5 em. Tôi cũng may mắn lọt vào trong 5 em đó. Cũng vì thế, ba tôi nhận ra rằng tôi có tiềm năng. Từ lúc đó, ông khuyên tôi nên nghỉ đừng đi cày thêm mà tập trung học. Và từ đó, ông tìm cách cho tôi ra nước ngoài.” 19 tuổi, sau khi thi đậu vào đại học Bách Khoa, chàng thanh niên Trương Nguyện Thành vượt biên sang Mỹ. Sau 1 năm ở trung học với những khó khăn bước đầu về ngôn ngữ, anh từ giã gia đình bảo trợ người Mỹ để bắt đầu cuộc sống tự lập ngay từ năm thứ nhất đại học. Để trang trải sinh hoạt phí trong thời đèn sách, phần đông các bạn trẻ ở đây thường phụ việc ở nhà hàng, tiệm giặt ủi, hay đi giao báo. Riêng trường hợp của Thành, anh tìm đến một người thầy và xin được theo chân làm việc trong phòng thí nghiệm để bắt đầu công việc nghiên cứu ngay từ năm đầu đại học, một công việc thường bắt đầu ở bậc cao học. Số tiền kiếm được đủ trang trải các khoản chi phí hết sức tiết kiệm hằng ngày. Còn học phí của anh chủ yếu nhờ các khoản vay từ nguồn quỹ dành cho sinh viên và các phần học bổng của chính phủ. Sau 4 năm đại học, anh ra trường với bằng cử nhân hóa học cùng với 4 văn bằng phụ về lý, toán, công nghệ thông tin, và thống kê. Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ. Trong thời gian nghiên cứu hậu tiến sĩ, anh dành được học bổng của Qũy Khoa học Quốc gia dành cho các tiến sĩ trẻ có tiềm năng vì lúc tốt nghiệp tiến sĩ, anh đã có 16 bài nghiên cứu trong khi trung bình một tiến sĩ khi ra trường xuất bản chừng 4-5 bài nghiên cứu. Năm 1992, anh về làm Giáo sư hóa cho trường đại học Utah. Một năm sau, anh được chọn là 1 trong những nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ, với giải thưởng 500 ngàn đô la cho công tác nghiên cứu. Năm 2002, anh được cấp bằng Giáo sư Cao cấp, tức bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo sư của Mỹ. Những yếu tố nào giúp một cậu bé lam lũ, nghèo khó từng bán thuốc lá dạo, cày thuê cuốc mướn ở đáy xã hội Việt Nam lột xác, đổi đời thành một nhà khoa học danh tiếng tại Mỹ? Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành cho biết: “Người đó có tiềm năng trời phú. Thứ hai, có môi trường giúp họ phát triển. Thứ ba, người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không. Tiềm năng chỉ là khả năng, muốn đạt được thành công đòi hỏi phải có môi trường để phát triển. Môi trường không cho phép người đó phát triển, thì cũng không làm được. Điển hình là người Việt ở Mỹ hay ở nước ngoài thành công rất cao, thế nhưng tại sao ngay tại Việt Nam không có những ngôi sao như vậy? Khi tôi bước chân vào trung học ở Mỹ, có một cậu vượt biên cũng giống trường hợp như tôi, đi một mình, được một gia đình Mỹ bảo lãnh. Cậu ta cũng ở gần nhà tôi. Khi tới Mỹ, tôi và cậu ấy có cùng một cơ hội như nhau. Tôi cố gắng hơn, tôi vào đại học. Còn cậu ta làm việc cho một hãng gà Tây, kiếm tiền liền. Một năm sau, tôi về lại làng thăm ba mẹ nuôi và ghé thăm thằng bạn. Công việc nó làm chỉ đứng móc ruột gà Tây thôi, chờ con gà chạy qua, đưa tay vào móc ruột gà ra. Nó khoe với tôi nó có được chiếc xe hơi. Còn tôi lúc đó vẫn chưa có gì. Sau 4 năm đại học, tôi trở về, anh bạn vẫn còn móc ruột gà Tây. Anh đã có được một căn hộ, có TV lớn, dàn máy xịn, xe hơi sports. Còn tôi vẫn chỉ một thùng sách quèn. Sau 5, 6 năm sau, tôi trở về, cậu bạn vẫn còn làm chỗ cũ nhưng cho biết phải đổi nghề vì đau nhức xương khớp tay do làm việc ở phòng lạnh. Lúc đó, tôi sắp ra tiến sĩ. Đó là cái điều kiện thứ 3 mà tôi muốn nói: người có tiềm năng, có môi trường, mà không nhận thức được cơ hội của mình và quyết tâm đạt được cơ hội đó. Thật sự, tôi không có xe hơi, không có bạn gái, không có tình phí, ở nội trú, ăn mì gói. Cho nên, chi phí tôi rất ít. Tôi làm việc trong phòng nghiên cứu chỉ đủ sống. Tôi ra đại học trong túi chỉ có 200 đô la, nợ nhà nước khoảng 15 ngàn đô la (mỗi năm khoảng 3-4 ngàn tiền học phí cộng với tiền phụ thêm để sống), cùng một thùng sách và một giỏ quần áo cũ.” Thành công ở xứ người, Giáo sư Thành trở lại Việt Nam, giúp thành lập Viện Khoa học Công nghệ Tính toán TP.HCM bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2009. Vừa tiếp tục giảng dạy tại trường đại học Utah ở Mỹ, vừa giúp điều hành Viện nghiên cứu tại Việt Nam, Viện trưởng Trương Nguyện Thành nói về công việc của mình: “Điều khiển một viện nghiên cứu từ xa rất khó. Cho nên, có một viện trưởng tại Việt Nam chuyên lo các vấn đề hằng ngày như làm việc với chính phủ, hợp đồng, hay mướn người. Còn tôi phụ trách chiến lược phát triển về khoa học, kêu gọi những người khác về giúp phát triển.” Ngoài ra, cá nhân ông còn nhận bảo trợ cho các sinh viên giỏi từ Việt Nam sang Mỹ du học bằng chính nguồn quỹ nghiên cứu của ông. Đích thân Giáo sư Thành đứng ra phỏng vấn tuyển chọn người tài, và từ năm 2001 tới nay, ông đã tài trợ cho trên dưới 20 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập, nghiên cứu. Trong số này có nhiều người đã trở về giúp ông phát triển Viện nghiên cứu tại Việt Nam. Tiến sĩ Trương Nguyện Thành tâm sự: “Thời còn đi cày mướn, lời nguyền của tôi là nếu tôi thành công, tôi sẽ đem cơ hội đó cho lại những người khác. Đó là tâm nguyện của tôi lúc còn ở đáy xã hội Việt Nam. Tôi thường nói chuyện với học trò của tôi khi họ tới cảm ơn tôi đã cho họ cơ hội. Tôi bảo họ không cần cảm ơn tôi. Điều họ có thể trả ơn tôi là đem cơ hội đó cho một vài người khác. Chính vì vậy, một số đệ tử của tôi về lại Việt Nam, giúp tôi lập Viện. Tôi gieo những hạt giống và từ đó sẽ nhân thành những hạt giống khác. Một con én không làm nên nổi mùa xuân. Tôi chỉ là người mở đường. Những người khác bước chân theo, làm cho con đường rộng ra, nhẵn thêm, dễ đi hơn.” Giáo sư Thành nói ai cũng mơ ước thành công, nhưng chỉ có những người chịu khó nỗ lực mới tới được đích đến: “Tôi chỉ có một lời nhắn nhủ với các sinh viên ở Việt Nam rằng trên đời cái gì cũng có giá phải trả. Nếu muốn thành công, phải chấp nhận trả cái giá đó. Thành công là một con đường đi chứ không phải là một điểm đích. Tôi không nói tôi đã thành đạt điều gì, chỉ là một con đường mà khi quay lại tôi thấy tôi đã đi được rất xa rồi.” Con đường thành công của Giáo sư -Tiến sĩ Trương Nguyện Thành trải qua bao nhiêu năm gian nan, thử thách. Cậu bé bần cùng, lam lũ ở Việt Nam qua đến Mỹ cũng đã nếm trải bao nhiêu những thiếu thốn, khó nhọc để có được vị trí đáng nể như ngày hôm nay. Đó là nhờ sự quyết tâm vượt khó vươn lên, sẵn sàng trả giá cho con đường đã chọn. Trà Mi http://www.voanews.com/vietnamese/ne...138741834.html |
Trong tình yêu của con người thì tình yêu dành cho mẹ là thiêng liêng sâu nặng nhất. Nhất là lúc mẹ đã đi xa.Xin thêm một lần giãi bày với mẹ, dẫu biết rằng mẹ chẳng thể còn nghe.
LẠY MẸ Con rứt ruột Chiều Rằm Bỏ mẹ Ra đi Ngọn đèn cạn dầu Chiều hôm trước gió Biết ra đi là không còn mẹ nữa Sao con vô ơn đến thế Trời ơi Con khóc trên đường Khóc mãi không nguôi Biết mẹ sẽ lịm đi lịm đi lặng lẽ Không một lời cầu xin trối trăng rên rỉ Còn con thì bỏ đi về cuối phương trời Trăm vạn lần lạy mẹ mẹ ơi Cái ngày Giêng Hai sắn khoai rau má Cái ngày tháng Tám cháo trắng lụt mưa Cái ngày cà dưa tháng Năm đồng cạn Con đếm vô hồi Bước chân mẹ lận đận Lần mò trong đêm Qua chợ Lường Đến chợ Tràng chợ Huyện từng phiên Bông đồng Trang Khoai đồng Vẽ Lúa Rộc đông Bóng mẹ liêu xiêu Bòn từng cọng rơm con tép Con lớn lên biết đọc biết viết Bởi bạc trắng mồ hôi Tấm áo nâu vá mẹ mang Con đi khắp đó đây bốn phương Nhờ mẹ chắt chiu Từng củ khoai con cáy Con đi về trăm lần con thấy Mẹ cuống chân chạy đầu ngõ đón con Mẹ chong đèn làm việc sâu đêm Thức cho con theo học Nhớ ngày con đi xa Mẹ bứt trái ổi Mẹ dúi quả na Mẹ nắm cơm trưa Mẹ đùm khoai tối Mắt mẹ dõi theo con khuất lối Rỗi lùi lũi chờ ngày con trở về Không biết đến khi mô Nhà có năm con đi xa Năm khúc ruột không bên nào nặng nhẹ Mẹ như ngọn đèn đầu dần cạn đĩa Thắp sáng đời các con Than ôi Có nghĩa nào bằng nghĩa mẹ con Mà mẹ phải ra đi Để các con tan đàn xẻ nghé Ngày ba mươi cuối năm chiều xế Biết tìm mẹ ở đâu ở đâu Con như con thuyền lạc giữa bể dâu Cả hai đường không còn bố mẹ Trời tám phương Đất năm châu bốn bể Mà không có chỗ cho con về Trong ngày lễ ngày tết Than ôi Con lạy lạy này mặn chát mồ hôi Con lạy lạy này đẻ đau mang nặng Con lạy lạy này nhọc nhằn giáo dưỡng Con lạy lạy này trăn trở lo toan Giờ mẹ ra đi Bỏ lại sau lưng Bụi trần vất vả Mặn chát đắng cay Thôi rồi thân cò Thôi rồi kiếp vạc Mẹ không còn phải dậy sớm Mẹ không còn phải thức khuya Lưng không còng Trên đồng khô ruộng trũng Không còn nắm cơm Không còn đưa tiễn Không ru câu Kiều Không hát Cúc Hoa Phạm Tải Mẹ về với tổ tiên Như cánh hạc bay xa Để các con nơi trần thế Mất cả mẹ cả cha Lạy mẹ mẹ ơi (Thơ Nguyễn Ngọc Chu 13 – 02 – 2009) |
Nên chăng các bác mở topic mới để nói về những chuyện khác với CHUYỆN SINH VIÊN ?
|
Nguyễn Ngọc Chu là một sinh viên từng học tại Dự bị Kiev 71 . Bài thơ này thổ lộ tình cảm của một người sinh viên nhớ Mẹ và kính trọng Mẹ…
Vậy riêng bạn Baodung muốn mục “Chuyện Sinh Viên” nói kể về những chuyện gì ??? |
Trích:
Thiết nghĩ góp ý của bác Baodung là giúp cho những ai muốn biết chuyện sinh viên thật sự thì vào đây chia sẻ... :emoticon-0150-hands |
Chào các bạn !
Nếu thích thì các bạn hãy mở xem lại trang đầu tiên của mục “Chuyện sinh viên” này . Ngay từ đầu tôi đã có ý tưởng nói kể về những điều liên quan về tất cả mọi sinh viên trên thế giới này, chứ không riêng gì sinh viên đã học ở CCCP… Tiếp sau đó, bạn ngbinhdi đã tham gia viết bài về nhà thơ Việt Phương . Mặc dù chính ngbinhdi cũng tự cảm thấy lạc đề, nhưng vẫn cần phải viết để làm rõ hơn vần đề… Tôi rất cảm kích nhiệt tình của ngbinhdi, và chẳng thấy có gì phải quan tâm đến việc lạc đề ấy ! Ngược lại, sự lạc đề ấy còn làm cho chương mục này phong phú thêm… Tôi viết hoặc đăng bài lên diễn đàn với tiêu chí muốn chuyển tải những điều gì bản thân mình thấy hay và đẹp, để ai thích thì cùng thưởng thức . Chủ yếu là muốn đem lại niềm vui cho chính bản thân mình và cho người khác…, miễn sao đừng vi phạm đến quy định chung của diễn đàn . Tôi luôn tôn trọng lắng nghe sự góp ý của mọi người . Nếu góp ý đúng thì tôi sẽ tán thành, nếu góp ý chẳng đúng thì tôi vẫn cứ tỉnh bơ mà làm theo ý của riêng mình ! Đối với các chương mục do tôi mở như “Chuyện sinh viên”, “Chuyện Dự bị Kiev 71”, “Lịch sử Euro”, ai thích thì mời cứ xem, ai không thích thì đừng xem . Tôi chẳng bao giờ vui buồn về việc nhiều hay ít người xem… Đặc biệt là tôi không bao giờ viết và đăng bài theo yêu cầu hoặc ý muốn của kẻ khác !!! |
Trích:
Nhưng nếu điều trên không đúng thì bài CHÚ LÌNH cũng vẫn có thể coi là chuyện sinh viên được, vì hình như bác Nguyễn Quang Lập, tác giả bài viết ấy, đã từng là SV trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Vậy thì đúng là chuyện có liên quan đến sinh viên rồi. Thành thật xin lỗi bác. |
Với sự hiểu biết của tôi, thì “sinh viên” theo quan niệm thời xưa gọi là “kẻ sĩ”, nghĩa là người “có học” . Người đó có thể đi học ở trường, học với thày, hoặc tự học…
Ngay như thời hiện đại bây giờ mà quan niệm “sinh viên” phải là người đi học “đại học” thì vẫn không đúng ! Bởi vì vẫn có những “sinh viên” học “trung cấp”, "trường dạy nghề", hoặc tự học từ sách vở (mặc dù khá hiếm hoi)… Hiện nay, các trường đại học, trung cấp, và trường dạy nghề ở một số quốc gia tiên tiến vẫn chấp nhận những “sinh viên” tự học, rồi đến ghi danh dự thi . Miễn đạt điểm tốt thì trường vẫn cấp chứng chỉ cho từng môn, đến khi có đầy đủ chứng chỉ các môn theo yêu cầu thì trường vẫn cấp bằng tốt nghiệp… |
Sao Mai viết :“Còn bài thơ rất dài của anh Chu không cho thấy chất thơ sinh viên, không thấy bối cảnh ở nước Nga hoặc Ucraina nơi anh ấy từng học. Cuối bài có mở ngoặc (Thơ Nguyễn Ngọc Chu, 13 – 02 – 2009) trong khi anh ấy học dự bị Kiev từ năm 1971!...”
Khi mới sang CCCP, hầu hết người Việt Nam đều lạ lẫm với mùi vị các món ăn Nga, thậm chí dị ứng không thể nếm nhiều món… Nhưng sau đó thì dần dần quen và bắt đầu cảm thấy ngon, rồi thèm nhớ… Thì ra các món ăn Nga rất ngon, chỉ vì ta chưa hiểu biết cái ngon của chúng mà thôi ! Có thể ta không thấy ngon, nhưng người khác vẫn thấy ngon . Riêng bản thân tôi, từ khi mới sang cho đến khi rời khỏi CCCP (6 năm trường) thì vẫn cương quyết không ưa thích món “sữa chua sền sệt” của Nga . Tôi biết rằng cá nhân mình có quyền tự do chọn lựa không ưa thích món “sữa chua” đó ! Nhưng tôi chẳng bao giờ viết ra nhận xét, rồi đăng lên diễn đàn nnn rằng :”Sữa chua sền sệt của Nga không cho thấy có chất sữa tươi, hoàn toàn không thấy bối cảnh Nga hoặc Ukraina trong “sữa chua”, nơi nó đã được sản xuất . Và những người làm ra “sữa chua” ấy chẳng chịu khai báo rằng họ là người dân Nga…” Nếu tôi viết ra những nhận xét như vậy, rồi đăng lên diễn đàn nnn, thì các bạn đã từng sống và làm việc tại CCCP sẽ đánh giá tôi và sự hiểu biết của tôi ra sao đây ??? |
Trích:
Sau khi đọc phản hồi của bác, SM cũng đã ngộ ra bài thơ trên mang đậm chất SV, và nó được viết trong bối cảnh người viết khi đó đang học ở CCCP cũ (nói gọn 1 câu: Bài thơ "Lạy mẹ" được anh Nguyễn Ngọc Chu viết tại CCCP trong khoảng thời gian 1971-1977). Còn dòng ghi ngày tháng cuối bài thơ, chắc do một sự nhầm nhọt nào đó mà có (ví dụ do tam sao thất bản chẳng hạn, nên nó bị ghi lùi lại 32 năm). Một lần nữa xin lỗi bác HHH nhé, trước hết vì sự hiểu biết kém cỏi của mình. LẠY MẸ Con rứt ruột Chiều Rằm Bỏ mẹ Ra đi Ngọn đèn cạn dầu Chiều hôm trước gió Biết ra đi là không còn mẹ nữa Sao con vô ơn đến thế Trời ơi Con khóc trên đường Khóc mãi không nguôi Biết mẹ sẽ lịm đi lịm đi lặng lẽ Không một lời cầu xin trối trăng rên rỉ Còn con thì bỏ đi về cuối phương trời Trăm vạn lần lạy mẹ mẹ ơi Cái ngày Giêng Hai sắn khoai rau má Cái ngày tháng Tám cháo trắng lụt mưa Cái ngày cà dưa tháng Năm đồng cạn Con đếm vô hồi Bước chân mẹ lận đận Lần mò trong đêm Qua chợ Lường Đến chợ Tràng chợ Huyện từng phiên Bông đồng Trang Khoai đồng Vẽ Lúa Rộc đông Bóng mẹ liêu xiêu Bòn từng cọng rơm con tép Con lớn lên biết đọc biết viết Bởi bạc trắng mồ hôi Tấm áo nâu vá mẹ mang Con đi khắp đó đây bốn phương Nhờ mẹ chắt chiu Từng củ khoai con cáy Con đi về trăm lần con thấy Mẹ cuống chân chạy đầu ngõ đón con Mẹ chong đèn làm việc sâu đêm Thức cho con theo học Nhớ ngày con đi xa Mẹ bứt trái ổi Mẹ dúi quả na Mẹ nắm cơm trưa Mẹ đùm khoai tối Mắt mẹ dõi theo con khuất lối Rỗi lùi lũi chờ ngày con trở về Không biết đến khi mô Nhà có năm con đi xa Năm khúc ruột không bên nào nặng nhẹ Mẹ như ngọn đèn đầu dần cạn đĩa Thắp sáng đời các con Than ôi Có nghĩa nào bằng nghĩa mẹ con Mà mẹ phải ra đi Để các con tan đàn xẻ nghé Ngày ba mươi cuối năm chiều xế Biết tìm mẹ ở đâu ở đâu Con như con thuyền lạc giữa bể dâu Cả hai đường không còn bố mẹ Trời tám phương Đất năm châu bốn bể Mà không có chỗ cho con về Trong ngày lễ ngày tết Than ôi Con lạy lạy này mặn chát mồ hôi Con lạy lạy này đẻ đau mang nặng Con lạy lạy này nhọc nhằn giáo dưỡng Con lạy lạy này trăn trở lo toan Giờ mẹ ra đi Bỏ lại sau lưng Bụi trần vất vả Mặn chát đắng cay Thôi rồi thân cò Thôi rồi kiếp vạc Mẹ không còn phải dậy sớm Mẹ không còn phải thức khuya Lưng không còng Trên đồng khô ruộng trũng Không còn nắm cơm Không còn đưa tiễn Không ru câu Kiều Không hát Cúc Hoa Phạm Tải Mẹ về với tổ tiên Như cánh hạc bay xa Để các con nơi trần thế Mất cả mẹ cả cha Lạy mẹ mẹ ơi (Thơ Nguyễn Ngọc Chu 13 – 02 – 2009) |
Tôi muốn dành thời gian để làm việc khác, không muốn tiếp tục đối thoại với Sao Mai nữa !
|
BORIS PASTERNAK Boris Leonidovich Pasternak (1890-1960) ra đời tại Moskva, trong một gia đình người Nga gốc Do Thái . Cha của Pasternak là một hoạ sĩ nổi tiếng, ông là giáo sư dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ Thuật Moskva . Mẹ của Pasternak là một nghệ sĩ đàn dương cầm, thường trình diễn nhạc cổ điển... http://upload.wikimedia.org/wikipedi..._self_wife.jpg “Cha mẹ của Pasternak” (Tranh do cha của Pasternak tự hoạ) Pasternak lớn lên trong sự chăm sóc giáo dục kỹ càng của cha mẹ . Đồng thời, cậu bé cũng hấp thụ rất nhiều ảnh hưởng từ các vị khách nổi tiếng thường xuyên đến thăm gia đình, như nhạc sĩ Sergei Rachmaninoff, đại văn hào Lev Tolstoi… Ban đầu, cậu bé Pasternak ước mơ trở thành nhạc sĩ, sau đó chuyển sang mong muốn trở thành nhà triết học…, cuối cùng thì thực sự trở thành nhà thơ ! Năm 1914, Pasternak cho xuất bản tập thơ đầu tay của mình khi anh 24 tuổi . http://upload.wikimedia.org/wikipedi...boris_alex.jpg “Pasternak (trái) và em trai” (Tranh do cha của Pasternak hoạ) Sau Cách mạng tháng 10, hầu hết gia đình của Pasternak ra đi định cư tại nước ngoài, nhưng ông quyết định ở lại nước Nga . Pasternak say mê không khí đổi mới của cuộc cách mạng, và hy vọng cuộc cách mạng sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho đất nước Nga… Năm 1921, Pasternak xuất bản tập thơ “Đời chị tôi”, ông lập tức trở thành nhà thơ nổi tiếng trên văn đàn cách mạng xô-viết ! Đồng thời, Pasternak dịch sang tiếng Nga nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng trên thế giới như Shakepeare, Goethe, Tagore… http://thvl.vn/data/upload_file/Image/ThuHaTSQT/BP1.jpg “Pasternak trong Đại hội lần thứ nhất của Hội Nhà văn xô-viết” Năm 1932, Pasternak xuất bản tập thơ “Ra đời lần thứ hai”, tác phẩm này không những nổi tiếng khắp CCCP, mà còn được ưa chuộng ở thế giới phương Tây… Bởi vì tập thơ này bắt đầu phản ánh sự thay đổi trong các quan điểm cách mạng của Pasternak . Cơ quan mật vụ KGB của CCCP lập tức đã ghi tên Boris Pasternak vào “Bản danh sách Đen” ! Nhưng Chủ tịch Tối cao của CCCP là Joseph Stalin thì cho rằng Pasternak là nhân tài văn chương, nên ra lệnh cứ để yên cho ông tiếp tục sáng tác… http://thvl.vn/data/upload_file/Imag...Pasternak1.jpg “Boris Pasternak” Năm 1934, nhà thơ Osip Mandelstam bị chính quyền xô-viết bắt giam và tuyên án xử tử hình, vì đã làm thơ chống nhà độc tài Stalin ! Vì Mandelstam và Pasternak có nhiều quan hệ thân thiết, nên sự kiện này tác động mạnh và làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của Pasternak về chính quyền xô-viết… Trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, gia đình Pasternak đã được Nhà nước xô-viết ưu đãi cấp cho một ngôi nhà xinh xắn, nằm tại làng Peredelkino dành riêng cho các nhà văn thơ nổi tiếng của CCCP… Làng Peredelkino đẹp đẽ và yên tĩnh, nằm cách thủ đô Moskva không xa lắm . Pasternak yêu thích nơi này, và ông đã sống tại đây cho đến cuối đời . http://web.mmlc.northwestern.edu/~md...eredelkino.gif “Ngôi nhà của Pasternak tại làng Peredelkino” Năm 1956, Pasternak hoàn thành tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”. Đây được coi là cuốn sách tự thuật, bởi vì nó chứa đựng rất nhiều tình tiết giống hệt cuộc đời và suy nghĩ của chính bản thân Pasternak . Tên của nhân vật “Zhivago” xuất phát từ chữ “Zhiv”, trong tiếng Nga có nghĩa là “cuộc sống” ! Nhân vật người tình “Lara” của bác sĩ Zhivago cũng có những đặc tính giống hệt với người tình thật của Pasternak là bà Olga Irvinskaya… http://download.kataweb.it/mediaweb/...0_00b23e54.jpg “Pasternak cùng người tình Olga Irvinskaya và con gái của họ ” Nhân vật bác sĩ Yuri Zhivago xuất thân từ tầng lớp trí thức khá giả trong xã hội cũ . Anh là người theo chủ nghĩa duy tâm, vững lòng tin vào Thiên Chúa, vào những điều lương thiện tốt lành, và luôn luôn phản đối những điều bất chính, tàn bạo, chiến tranh… Lara là một cô gái xinh đẹp xuất thân từ gia đình tiểu tư sản . Nàng yêu và đính hôn với Pasha Antipov là một sinh viên nghèo, hoạt động theo phong trào cách mạng của những người Bolshevik... http://www.lakebaikaltravel.com/uplo...rkutsk-dam.jpg “Mùa thu Irkutsk” Trong những tình huống éo le bất ngờ, Lara bị dụ dỗ và cưỡng bức bởi một luật sư giàu có, đầy quyền lực nhưng vô cùng gian xảo là Komarovski . Lara căm thù Komarovski vì hắn đã hại đời cô, nên đem súng đi tìm bắn Komarovski, nhưng trượt ! Zhivago nhìn thấy Lara lần đầu tiên khi cô cầm súng bắn vào Komarovski, giữa buổi tiệc ăn chơi thâu đêm suốt sáng đang tổ chức tại một gia đình tư sản giàu có ở Moskva... http://4.bp.blogspot.com/_6BfXcmq8vy...s320/56114.jpg “Pasternak đi săn tại Peredelkino” Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ . Zhivago cùng gia đình vợ và hai đứa con nhỏ quyết định rời bỏ thành phố Moskva, tản cư về trang trại Yuratin của họ ở vùng thôn quê hẻo lánh, nằm cách thành phố Irkutsk khoảng một ngày đi bằng xe ngựa . Vừa sắp xếp tạm thời ổn định cuộc sống trong trang trại Yuratin, thì bác sĩ Zhivago bị triệu tập bắt buộc tham gia vào cuộc nội chiến, phải lên đường rời xa gia đình để phục vụ trong một bệnh viện cơ động của Hồng quân... http://luirig.altervista.org/cpm/alb...foreground.jpg “Vùng thôn quê hẻo lánh…” Hoàn cảnh chính trị hết sức rối ren, và cuộc sống gia đình tại trang trại Yuratin hẻo lánh lại thiếu vắng người đàn ông trụ cột, nên cha vợ của Zhivago buộc phải đưa vợ con anh quay trở về Moskva . Vợ của Zhivago tìm mọi cách liên lạc và mong mỏi chờ đợi anh, nhưng chẳng được ! Gia đình họ không thể chần chừ thêm, vì sợ bỏ lỡ mất cơ hội, nên ra đi định cư tại nước ngoài . Một mình Zhivago vẫn ở lại Siberia… http://4.bp.blogspot.com/_-sYtvMGgF0...pasternak5.jpg “Pasternak cùng vợ và con trai của họ” Lara tình nguyện làm y tá của Hồng quân để tìm kiếm cơ hội gặp lại người yêu “đính hôn” là Pasha Antipov . Cô đem theo cả đứa con gái nhỏ đi cùng . Bác sĩ Zhivago và Lara lại gặp nhau tại thành phố Irkutsk, trong khói lửa của cuộc nội chiến . Họ yêu nhau, và đưa nhau về sinh sống ở trang trại Yuratin hẻo lánh . Mặc dù cuộc sống vô cùng thiếu thốn khó khăn, nhưng tràn đầy hạnh phúc… http://img80.imageshack.us/img80/291...azambla007.jpg “Phong cảnh quanh vùng Peredelkino” Luật sư Komarovski ranh mãnh tìm cách len lỏi vào Chính quyền xô-viết non trẻ tại Siberia, được giữ một chức vụ khá quan trọng . Komarovski tìm tòi đến trang trại Yuratin, thuyết phục họ cùng trốn khỏi nước Nga, nhưng Zhivago và Lara kiên quyết từ chối ! Komarovski kín đáo hỏi riêng Zhivago rằng :”Anh sẽ làm được gì cho tương lai của mẹ con Lara tại nước Nga ???”. Sau khi đau buồn cân nhắc kỹ thực tế phũ phàng, Zhivago đành thuyết phục Lara dẫn con gái đi trước cùng Komarovski . Anh giả vờ hứa chắc chắn với nàng rằng nhất định sẽ theo sau để gặp họ tại Irkutsk trong vài ngày nữa… http://cumplede.files.wordpress.com/.../pasternak.jpg “Buồn bã…” Không còn bất kỳ ai là thân nhân, Zhivago buồn bã bơ vơ rời khỏi trang trại Yuratin . Chẳng có xu nào dính túi, anh lủi thủi đi bộ một mình, vượt qua hàng ngàn cây số từ Irkutsk quay trở về Moskva ! Tại Moskva, trong một lần lâm bệnh nặng, Zhivago được một phụ nữ trẻ tuổi khác để ý chăm sóc… Anh sống nghèo khổ với nàng, và có hai con . Tuy sức khoẻ tàn lụi dần, nhưng Zhivago không ngừng chong đèn thức đêm, đam mê cặm cụi viết về những suy tư trăn trở của riêng mình… http://polpix.sueddeutsche.com/polop...x860/image.jpg “Nỗi đau trong tim” (còn tiếp) |
(tiếp theo)
Bỗng một hôm, Zhivago bất ngờ nhìn thấy Lara đang bước lên xe điện trên đường phố Moskva . Mừng quá, Zhivago cố gắng chạy theo vẫy gọi nàng, nhưng Lara chẳng hề nghe thấy . Zhivago gục ngã giữa đường phố, chết ngay vì bệnh tim ! Lara tìm đến người em trai của Zhivago để hỏi thăm tin tức, thì rụng rời biết rằng ông vừa mới từ trần trong ngày hôm đó . Bà xúc động ở lại dự xong đám tang, rồi biến mất… Nhiều năm tháng trôi qua, sau Thế chiến thứ hai, những người bạn của Zhivago lục tìm thấy các tập vở và trang giấy viết cũ kỹ của ông, họ vô cùng ngạc nhiên, xúc động, say mê đọc chúng… http://1.bp.blogspot.com/--Os_H5jfoQ...ak+writing.jpg “Đam mê viết” Zhivago viết :”Quả thật khó hiểu khi người ta mong muốn sắp xếp lại trật tự bình đẳng trên khắp thế giới này, mà chủ yếu chỉ dựa vào sự lãnh đạo và sức mạnh của giai cấp vô sản, đó là tầng lớp nghèo khổ, ít học nhất trong toàn xã hội ! Liệu đa số những con người vô sản này thật sự có đầy đủ tài đức, thiện chí và trình độ để xây dựng nền tảng của “giấc mơ bình đẳng” cho tổ quốc họ chăng ? Liệu những con người vô sản bần cùng khốn khổ này sẽ lột xác để trở thành những “thiên thần” sống hoàn toàn hiến dâng, quên mình, chỉ biết thương yêu, phục vụ và hy sinh để xây dựng “thiên đường” trên mặt đất dành cho toàn thể nhân loại chăng ?... http://www.firebirdvideos.com/saints...nocentirk4.gif “Một nhà thờ đẹp của Irkutsk” Không thể nào !!! Có lẽ đây chỉ là một cuộc cướp chính quyền để đổi đời, những con người từ dưới đáy xã hội dần dần sẽ tự biến mình thành tầng lớp thống trị vinh hoa phú quý . Dù cố gắng tự che đậy bằng lớp vỏ bọc gì, thì tầng lớp thống trị mới cũng sẽ bị lộ rõ chân tướng, và mọi việc vẫn giống như muôn thủa mà thôi… Suy gẫm cho cùng, ngay chính quá trình lịch sử lâu dài của toàn nhân loại cũng đành bó tay, không thực hiện nổi giấc mơ “thiên đường bình đẳng” tuyệt đẹp này ! Phải chăng sự bất bình đẳng là lẽ đương nhiên trên trái đất này ???”… http://upload.wikimedia.org/wikipedi..._Pasternak.jpg “Pasternak (thứ 2 từ trái qua), nhà bác học Albert Einstein (thứ 3 từ trái qua), nhà thơ Mayakovski (cao lớn đứng giữa)” Zhivago tiếp tục trăn trở :”Những người theo chủ nghĩa duy vật lập luận rằng “vật chất có trước, tinh thần có sau” ! Tôi thường thắc mắc vì sao khi phe duy vật hoàn toàn thắng thế, thì lập tức vật chất trở nên khan hiếm vô cùng ? Sự việc lạ lùng này không chỉ tạm thời thoáng qua, mà kéo dài lê thê vài chục năm đằng đẵng, làm cho cuộc sống của hầu hết dân chúng bị lâm vào tình trạng thiếu thốn, nghèo nàn, cực khổ triền miên . Thật đau lòng quá !!!”… Zhivago rất tâm đắc những suy nghĩ sâu sắc mà một văn hào Nga là Dostoyevsky đã đúc kết :“Ý tưởng về sự thủ tiêu tư hữu – đó là tư tưởng cổ xưa và tự nó rất hào hiệp . Nó có cả trong đạo Kitô giáo . Hầu hết các tôn giáo đều khuyên người ta từ bỏ tư hữu, nhưng với một điều kiện rất quan trọng đặt trước là cần phải diễn ra một cách tự giác ! Không thể thực hiện nó bằng con đường bạo lực để bắt buộc người khác ! Vấn đề ở đây không phải là sự tư hữu, mà là ở tình cảm và thái độ của con người đối với sự tư hữu... Vấn đề ấy sẽ trở thành cuộc cách mạng của tâm hồn, chứ không phải là cuộc cách mạng chính trị !”. http://www.cityfarmer.info/wp-conten.../10/Boris5.jpg “Đào khoai tây trong vườn nhà” Bởi vậy, tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” bị các nhà kiểm duyệt xô-viết dứt khoát cấm, không cho phép in ấn xuất bản ! Pasternak quyết định bí mật chuyển bản thảo của tiểu thuyết này ra nước ngoài… Năm 1957, một nhà xuất bản sách giàu có người Italy tên là Giangiacomo Feltrinelli đã quyết định in tiểu thuyết “Doctor Zhivago” . Ngay lập tức, tiểu thuyết này được dịch sang nhiều thứ tiếng, và trở thành một hiện tượng nổi bật ngày càng cuốn hút sự say mê của đông đảo độc giả khắp thế giới phương Tây ! Từ năm 1958 đến 1959, tiểu thuyết “Doctor Zhivago” đã có 26 tuần được xếp hạng là “Cuốn sách bán nhiều nhất” trên khắp nước Mỹ ! http://upload.wikimedia.org/wikipedi...TA_edition.jpg “Bìa sách “Doctor Zhivago” do Feltrinelli xuất bản lần đầu tiên tại Italy 1957” http://4.bp.blogspot.com/-TSqVrL2j-q...dr+zhivago.jpg “Bìa sách “Doctor Zhivago” xuất bản tại Mỹ” Vì tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” nổi tiếng và gây ra nhiều ảnh hưởng chính trị tại thế giới phương Tây, nên chính quyền CCCP quyết định trừng phạt Boris Pasternak đang sống ở nước Nga ! Trước nhất, Pasternak bị giam lỏng, không được phép bước chân ra khỏi làng Peredelkino . Sau đó, ông bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn xô-viết, bị tước mất nhiều quyền lợi trước đây… Trên khắp đất nước CCCP lưu truyền một câu nói dân gian hài hước :”Mặc dù tôi chưa hề đọc cuốn sách nào của Pasternak, nhưng tôi vẫn lên án ông ta !” http://farm3.static.flickr.com/2550/...534b3ef6fe.jpg “Bên trong ngôi nhà của Pasternak” Ngày 23-10-1958, Hội đồng xét duyệt giải thưởng Nobel tại Thuỵ Điển đã tuyên bố nhà văn Boris Pasternak đoạt giải thưởng Nobel Văn Chương bởi tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” ! Ngày 25-10-1958, Pasternak gửi bức điện tín từ Nga đến Thuỵ Điển, trả lời :”Vô cùng cám ơn, xúc động, tự hào, ngạc nhiên, bối rối…” Nhận được lệnh đặc biệt từ Chính quyền Tối cao CCCP, các lực lượng công an mật vụ KGB lập tức bao vây chặt chẽ ngôi nhà của gia đình Pasternak tại làng Peredelkino suốt ngày đêm ! Họ giam lỏng ông, và thường xuyên tác động đe doạ gia đình ông… http://www.elpais.com/recorte/201012..._Pasternak.jpg “Đến cuối đời vẫn say mê viết…” Kết quả là Pasternak lại gửi bức điện tín khác đến Thuỵ Điển :”Sau khi cân nhắc kỹ về những tác động chính trị của giải thưởng này đến toàn thể xã hội mà tôi đang sống ở trong đó, tôi quyết định phải từ chối nó ! Xin đừng phật ý về sự tự nguyện từ chối giải thưởng của tôi .” Hội đồng xét duyệt giải thưởng Nobel của Thuỵ Điển trả lời như sau :”Sự từ chối này dĩ nhiên không thể thay đổi giá trị chắc chắn của giải thưởng . Giải thưởng vẫn được Hội đồng xét duyệt cất giữ bảo lưu . Mặc dù vậy, chúng tôi sẽ loan báo rằng giải thưởng vẫn chưa được trao .” Tuy Pasternak đã phục tùng mệnh lệnh khước từ giải thưởng Nobel, nhưng Chính quyền xô-viết và Hội Nhà văn xô-viết vẫn tiếp tục lên án, lăng mạ ông trên báo chí, phát thanh, truyền hình… http://3.bp.blogspot.com/_N0TSGcQUzg...7_Peve.aup.jpg “Hai vợ chồng Pasternak vẫn yêu thương nhau trong tuổi già” Thậm chí, Chính quyền xô-viết đã gợi ý ép buộc Pasternak rời khỏi nước Nga, lưu vong sang phương Tây để sinh sống . Nhưng Pasternak kiên quyết viết thư trực tiếp trả lời Chủ tịch Nhà nước CCCP là Nikita Khrushchev như sau :”Rời xa Tổ quốc sẽ giống như cái chết đối với tôi ! Tôi gắn chặt với đất nước Nga bằng sự ra đời, cuộc sống và công việc…”. http://www.hs.fi/kuvat/iso_webkuva/1073386621937.jpeg “Nhớ thời trước kia” Chính quyền xô-viết đã chấp thuận cho Pasternak tiếp tục sống ở nước Nga . Nhưng tiếc thay, ông không sống thêm được bao lâu nữa . Ngày 30-5-1960, Boris Pasternak từ giã cõi đời trong căn nhà của gia đình ông tại làng Peredelkino, vì chứng bệnh ung thư phổi . Tuy sự kiện này chỉ được tờ báo Văn Nghệ tại địa phương đưa tin vắn tắt bằng một vài dòng chữ nhỏ ngắn ngủi, nhưng nhiều người hâm mộ Pasternak từ khắp nước Nga đã lũ lượt kéo đến làng Peredelkino, để bày tỏ tấm lòng kính trọng một nhà văn thơ tài hoa của thế giới ! Họ vô cùng xúc động, tình nguyện khiêng quan tài Pasternak, tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng… http://upload.wikimedia.org/wikipedi..._landscape.png “Ngôi mộ của Pasternak tại nghĩa trang làng Peredelkino” Pasternak đã để lại bài thơ “Giải Nobel” như sau : Tôi mất hút, sa vào như con thú Đâu đó tự do, ánh sáng, con người, Và tiếng thét gào, xua đuổi sau lưng tôi… Nhưng lối thoát bên ngoài không hiện rõ. Khu rừng tối và bên hồ nước Gỗ thông già chất đống khắp nơi Cả bốn phía chặn bước con đường tôi ! Tôi chịu đựng, dù thế nào cũng được. Có phải tôi làm điều chi thô bỉ Tôi là tên ác độc, kẻ giết người ? Tôi chỉ làm cho lệ thế gian rơi Trước vẻ tuyệt vời của đất đai quê mẹ… Cái chết đã cận kề, nhưng dù thế Tôi vẫn tin rồi sẽ đến một thời Khi tinh thần thánh thiện sẽ lên ngôi Sẽ chiến thắng thói đê hèn, phẫn nộ ! Năm 1965, bộ phim “Doctor Zhivago” được một hãng phim của Anh Quốc hoàn thành và trình chiếu . Bộ phim này nhanh chóng trở nên “được nhiều người xem nhất” trên khắp thế giới phương Tây . Nhưng nó lại bị cấm trình chiếu tại quê hương của chính mình là CCCP, và tại các nước xã hội chủ nghĩa ! http://pics.hoobly.com/full/9LXO4P4QWYXF.jpg “Bộ phim “Doctor Zhivago” sản xuất tại Anh Quốc 1965” Hai mươi năm sau khi Pasternak đã từ trần, năm 1980, nhà thiên văn học CCCP tên là Lyudmila Karachkina đã phát hiện ra một hành tinh nhỏ, bà đặt tên cho hành tinh mới mẻ này là 3508 Pasternak . Mãi đến năm 1988, tại CCCP mới cho phép xuất bản tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”, và trình chiếu bộ phim “Bác sĩ Zhivago” . Tháng 12 năm 1989, tại thủ đô Stockholm của Thuỵ Điển, giải thưởng Nobel Văn Chương của Boris Pasternak đã được trao cho con trai của ông là Yevgeny Borisovich Pasternak . Năm 2006, Đài truyền hình Nga sản xuất và trình chiếu bộ phim truyện nhiều tập “Bác sĩ Zhivago”. http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:A...RfgyuN0EhBib7Q “Tem in hình Pasternak phát hành tại CCCP năm 1990” * |
Trích:
http://i917.photobucket.com/albums/a..._pasternak.jpg Mình xem phim "Doctor Zhivago" đã lâu, nhưng nhớ là do tập đoàn MGM nổi tiếng của Mỹ sản xuất. Vậy có cả phim do Anh Quốc sản xuất cùng năm sao? Trong forum NNN có topic Thơ Boris Pasternak. Trong đó có giới thiệu qua về cuộc đời, thân thế của ông. Bài viết trên đây cũng viết về cuộc đời, sự nghiệp và đặc biệt giới thiệu kỹ về tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago của Pasternak và bộ phim cùng tên. Tuy nhiên nó chẳng ăn nhập chút nào với topic Chuyện sinh viên của bác Hấp hao hoa cả. Phải chăng đây là sự lạc đề??... |
hihi... chao moi nguoi.. em cung la sinh vien ne. em sap tro thanh 1 sinh vien xa su roi.. cam giac se the nao day ?
|
Trích:
|
Dưới đây là một chuyện mới đăng trên mạng, đảm bảo 100% là "Chuyện sinh viên"
Xin lỗi cụ Lomonosov! [19.11.2012] Nhiều năm học tập, rồi lăn lộn kiếm sống, trên lãnh thổ liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết cũ, và liên bang Nga bây giờ, nếu là nhà văn đích thực, tôi dám cược “một ăn một trăm” là sẽ viết được cuốn tiểu thuyết cực kỳ vĩ đại, đủ sức hủy diệt bất kì đối thủ nào, dám cạnh tranh với tôi giải Nobel danh giá giành cho văn học. Nhưng chỉ là kẻ viết lách nghiệp dư, nên tôi quyết định nhường cơ hội ấy cho các nhà văn lớn, kẻo mọi người lại đàm tiếu là: Qụa muốn thành… Công!!! Hoặc cái gì đó tương tự. Mà tôi thì không thích, những lời lẽ ít tính nhân văn ấy lắm. Nên âm thầm rút lui, tuyệt nhiên không hé răng nói với bất kỳ ai, về cái ý định tranh giải Nobel văn học của mình. Tuy thế, tôi vẫn nhớ và muốn viết về nước Nga đến cồn cào cả lòng dạ. Bởi nước Nga có rất nhiều thứ để nhớ. Mùa thu vàng chẳng hạn. Ai mà không biết đến kiệt tác “Mùa thu vàng” của danh họa Levintan kia chứ. Nhưng với tư cách là người đã đi qua rất nhiều mùa thu vàng của nước Nga, tôi xin nói nhỏ với mọi người rằng: Cụ Levintan mới chỉ mô tả được một cái lá vàng, trong cái biển vàng chói lòa vời vợi, của mùa thu nước Nga mà thôi. Trời ơi! Mùa thu vàng nước Nga, làm sao mà ngợi ca bằng màu sắc, âm nhạc, thơ ca…hay bằng cái gỉ cái gi, cái gì đi nữa… thì cũng đành bó tay.com mà thôi!!!( Nói vậy, chứ tôi cứ phải xin lỗi cụ Levintan, vì tôi vốn không biết chi về hội họa, mà lại yêu mùa thu nước Nga quá, nên cứ nói đại thế, mong cụ đại xá cho). Hay như nhà thơ Tố Hữu đã trầm ngâm xác nhận: Đẹp như người con gái nước Nga…Tôi và tất cả mọi người đã sống, hoặc đã đến nước Nga, dẫu chỉ một lần, đều một trăm phần trăm đồng ý với nhà thơ về nhận định này. Không biết các nàng tiên trên thượng giới đẹp thế nào? Nhưng các cô gái Nga tóc vàng mắt xanh thì đúng là những kiệt tác tuyệt mỹ nhất, mà chỉ có Thượng đế mới tạo ra được. Nhưng tất cả những thứ đó đều lùi rất xa, mỗi khi tôi nhớ về những kỉ niệm ngọt ngào, trong những ngày đầu mới đến Matxcơva, và một kỉ niệm đặc biệt là được phong hàm “Giáo sư” đến hai lần trong một ngày…mà lòng tôi dâng đầy thương nhớ! Thượng tuần tháng 8 năm 1981, tôi có mặt và trở thành sinh viên tại khoa dự bị tiếng Nga của trường đại học tổng hợp quốc gia Matxcơva. Một hai tuần đầu, tôi luôn sống trong trạng thái của một kẻ mộng du, hạnh phúc tràn đầy. Trường đại học tổng hợp mang tên nhà bác học vĩ đại người Nga - Lomonosov đối với tôi quả là một thiên đường tri thức thực sự. Tôi chưa được đến các trường đại học danh tiếng khác trên thế giới như: Harvard, Sorbonne, Oxford…nhưng lúc đó tôi đã nghĩ: Chỉ là cái đinh rỉ so với MGU (Tên viết tắt của trường tổng hợp Matxcơva)…thôi. Bây giờ nghĩ lại thấy buồn cười vì sự so sánh đó. Nhưng lúc ấy, nếu là các quý vị, thì các quý vị cũng nghĩ như tôi mà thôi. Hôm cô giáo phụ trách lớp, dẫn chúng tôi đi thăm trường, đi dưới sân của tòa giảng đường chính, có ngọn tháp cao đến mấy trăm mét, thỉnh thoảng tôi cứ cấu vào mũi mình xem mình có đang mơ không??? (Bây giờ trên mũi tôi vẫn còn mâý vết sẹo mờ mờ của những cú cấu ấy!!!). Đêm đầu tiên nằm ngủ trong căn phòng thơm mùi sơn mới, trên tầng 12 của ký túc xá sinh viên 16 tầng cao vút.Tôi tuyệt nhiên không buồn ngủ chút nào. Tôi chỉ quen nằm trên giường vạt tre, hoặc gỗ. Bây giờ nằm trên giường lò xo, có đệm mút êm, cứ có cảm giác bồng bênh, như đang từ từ lún xuống sình lầy vậy. Thấy ghê ghê. Trăn trở mãi không ngủ được, tôi quyết định phải đi tắm một cái. Lại cũng lần đầu tiên nằm trong bồn tắm nước nóng, với một núi bọt xà phòng vừa thơm, vừa hăng hắc. Tôi miên man nghĩ về quá khứ. Không hiểu sao lúc ấy tôi lại “ Bất hiếu “ đến thế không biết? Bởi những hình ảnh tôi nhớ đến trước tiên, không phải là thày u tôi, mà lại là con trâu sứt mũi của hợp tác xã, giao cho nhà tôi nuôi. Tôi thấy mình đang cưỡi nó bơi qua đầm sen cạnh quốc lộ 21, con đường có cả đường bộ lẫn đường sắt song hành chạy gần sát qua làng tôi. Giữa mùa hạ, xung quanh hồ, sen đang vào mùa trổ bông, rực rỡ sắc hồng, sắc trắng, ngào ngạt hương thơm mê mẩn. Đoàn tàu khách bất ngờ chạy qua, u u kéo còi và xả ra những đám hơi nước rú rít mù mịt, đinh tai nhức óc. Con trâu sứt hoảng sợ ngụp vội xuống, khiến tôi nổi lềnh bềnh trên mặt nước. (Tôi sinh ra ở vùng đồng chiêm trũng, biết bơi khi còn trong bụng mẹ, có thể nằm nổi trên mặt nước bao nhiêu tùy thích. Cái này chính tôi cũng thấy lạ!!!). Trâu sứt ơi, cái bồn tắm này mày không thể tắm được đâu, tao còn không thấy hợp nữa là mày! (Tắm ở hồ quê mình, bơi lội tự do vẫn sướng hơn chứ! Phải không!) Nhưng thông cảm nghe! Nhập gia phải tùy tục mà. Tôi thấy rõ ràng cái mũi ươn ướt của nó cọ cọ, ngửi ngửi nơi tay tôi nhồn nhột ra vẻ thông cảm. Nó đã, và sẽ còn mãi mãi, cõng tuổi thơ của tôi trên lưng. Tôi như ngửi thấy mùi khen khét, mùi của da trâu, mùi của thuốc súng từ da thịt tôi tỏa ra. Ừ, mùi vị quá khứ của tôi đó, của đất Việt bao đời đạn bom chiến tranh, lầm than lam lũ của tôi đó. Tôi hít hà da thịt mình, hít hà mùi vị quê hương mà thương nhớ đến vô cùng. Lan man về quá khứ một lúc, tôi rời buồng tắm, quay về với tấm đệm bồng bênh, về với hiện tại của mình. Lúc đó tôi đã vô cùng hài lòng về bản thân. Tôi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng là vào đại học, mà lại được học đại học ở nước ngoài nữa. Chúa ơi! Tôi phục tôi quá đi mất!!! Lúc ấy đầu tôi bỗng trống không! Tôi đã không thể nào giải thích được điều đó. Mấy năm sau, một hôm xem truyền hình, về lễ trao giải Oscar của điện ảnh Mỹ, tôi mới lí giải được hiện tượng ấy: Một diễn viên nữ tuy chỉ đóng vai phụ trong một bộ phim, nhưng vì diễn xuất cực kỳ hay, cô đã được trao giải Oscar danh giá cho nữ diễn viên đóng vai phụ xuất sắc nhất. Khi bước lên sân khấu nhận tượng Oscar, cô òa khóc. Người dẫn chương trình phỏng vấn: Chị đang nghĩ gì vậy? Chị có thể nói đôi lời không? Cô ấy giơ tượng Oscar lên cao nói: Đầu tôi đang trống không đây, nói gì được kia chứ…à…à… mà có. Tôi rất hạnh phúc. Cảm ơn! Cảm ơn!!! Chắc là tôi cũng đã rơi vào trạng thái ấy, dẫu tôi không được giải Oscar. Nhưng được trở thành sinh viên của MGU (dẫu chỉ là sinh viên học tiếng Nga một năm), đối với tôi, một kẻ” chân đất mắt toét” là một điều không ngờ tới. Đó là một hạnh phúc lớn lao. Tôi biết rằng, có được cái hạnh phúc ngọt ngào đó, ngoài sự nỗ lực đến kiệt sức của bản thân, còn vô vàn những điều khác nữa đã nâng cánh cho tôi. Tự thẳm sâu trong trái tim, tôi đã nói ngàn lần lời cảm ơn vì tất cả. Có lẽ tôi đã thiếp đi trong lúc nói những lời cảm ơn đó. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, đang chiếu những tia nắng rực rỡ vào phòng tôi qua những ô kính lớn trên của sổ. Lệch múi giờ, tôi không thể đoán được lúc ấy vào khoảng mấy giờ sáng. Tôi bước đến bên của sổ, một phần của Matxcơva như một bức tranh tuyệt đẹp hiện ra phía ngoài kia. Vô số những tòa nhà 15 đến 20 tầng chạy dài tít tắp hai bên những đại lộ thênh thang. Những dòng xe ô tô nối nhau miên man không dứt. Tôi cố tìm kiếm bóng dáng cái xe đạp thân thuộc của xứ xở mình, nhưng đành bất lực. Rất nhiều những công viên cây xanh rải rác đây đó, như những điểm nhấn làm dịu mát không gian đô thị hiện đại. Những hàng bạch dương rì rào trong gió, đã thấp thoáng những cánh lá vàng, tín hiệu báo cho đất trời chuẩn bị chuyển sang mùa thu vàng huyền thoại. Khung cảnh ấy chợt gọi những hình ảnh Hà Nội về trong tôi. Tôi nhớ đến khu tập thể Giảng Võ với những dãy nhà năm tầng uy nghi, nơi có căn hộ ba buồng của một vị thứ trưởng, mà tôi chơi rất thân với cậu con trai của ông ấy. Mỗi lần đến chơi, nó lại luộc mấy cái xúc xích Nga chiêu đãi tôi. Hắn nói là mới mua ở cửa hàng Vân Hồ đấy. Tôi hỏi: Cửa hàng Vân Hồ ở đâu? Sao lại mua được xúc xích ở đó? Hắn nhìn tôi với ánh mắt vô cùng độ lượng, không chấp trách mà rằng: Là nơi bán hàng thực phẩm chỉ dành cho cán bộ cao cấp…như bố tớ chẳng hạn!!! Tôi hiểu ngay và buồn rầu nghĩ bụng: Thế kia đấy. Mình làm sao biết được cái cửa hàng Vân Hồ ấy ở đâu kia chứ!!! Mùi xúc xích luộc thơm nức trong trí tưởng, làm bụng tôi réo lên ùng ục. Lúc ấy mới biết mình đang đói. Chiều qua, lúc đi ngang nhà ăn ở tầng một của ký túc xá, tôi thấy xúc xích đầy trong tủ kính. Tôi khoan khoái nghĩ: Bây giờ không cần vô cửa hàng Vân Hồ cao cấp cũng mua được xúc xích thoải mái…Nhưng tôi lại không thèm xúc xích. Tôi muốn được ăn cả một con gà luộc cho đã. Lúc ấy tôi đã buồn cười về cái thèm khát vụn vặt, trần tục của mình. Chợt nhớ mấy câu thơ của Chế Lan Viên: Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp. Giấc mơ con đè nát cuộc đời con… Không sao, một con gà luộc không đè nát được cuộc đời của mình đâu mà sợ!!! Tôi an ủi mình như vậy và quyết định vào rủ thằng Q, bạn tôi ở phòng bên đi mua gà. Thằng Q dân xứ Nghệ. Chúng tôi đã học cùng nhau một năm ở khoa lưu học sinh tiếng Nga, tại trường đại học ngoại ngữ Thanh Xuân, Hà Nội. Nó đã đi lính, đánh giặc ở chiến trường Quảng Trị. Miền Nam giải phóng xong mới trở về thi đai học như tôi. Hôm sang Nga, bay được mấy tiếng, nó lên cơn sốt rét đùng đùng, mấy cô tiếp viên hàng không Nga được một phen sợ vỡ mật. Nó có nước da tím tái, xám xịt toàn phần. Chúng tôi trêu nó là: Nước da tươi màu sốt rét. Khi tôi bước vô phòng, thấy Q đang đứng cạnh cửa sổ nhìn ra ngoài như bị thôi miên. Chắc nó đang làm thơ! (Thằng Q làm thơ rất hay, chí ít là với tôi ). Thế nào thi nhân! Đầy thi hứng phải không? Tôi hỏi nó. Ừ. Tim thì đầy cảm xúc, nhưng bụng thì sôi ù ù đây. Đói bỏ mẹ. Nó nhăn nhó trả lời. Muốn ăn gì? Tôi dọ hỏi. Nó mím môi một cái rồi trả lời rất dứt khoát (Chắc nó đã nung nấu về điều này từ lâu lắm rồi): Gà luộc mày ạ. Phải ăn cả một con mới sướng!!! Giời đất ơi! Khốn nạn thân nó! Khốn nạn thân tôi thế không biết! Nghèo khổ giống nhau, nên thèm ăn cũng giống nhau nốt! Trái tim tôi nhói đau, nhưng miệng lại phì cười vì cái sự trùng hợp ấy. Nó đoán được tôi đang nghĩ gì nên hỏi: Mày cũng nghĩ vậy à? Tôi gật đầu xác nhận. Cửa hàng thực phẩm chỉ cách ký túc xá của chúng tôi vài trăm mét. Thằng Q ủy quyền cho tôi đi mua hai con gà, để tối nay luộc lên “ăn cả một con mới sướng”. Thằng Q nhắc đi, nhắc lại với cái giọng đầy khao khát! Cách bài trí trong cửa hàng thực phẩm hoàn toàn ấn tượng đối với tôi. Những dãy tủ kính có máy lạnh đựng các loại thịt, xếp hàng thẳng tắp, đèn neon sáng trưng. (Cái này không giống ở Hà Nội lắm. Hà Nội nhà mình thịt cứ bày trên sạp gỗ, tha hồ chọn, thuận lợi vô cùng. Ruồi nhặng cũng kiếm được chút đỉnh. Tủ lạnh làm chi cho rách việc). Tôi thầm so sánh rồi rồi đứng xếp hàng sau một phụ nữ. Ở đâu cũng xếp hàng, nhưng ở đây khác hơn thì phải. Dòng người xếp hàng mua thực phẩm hầu hết là những người đã có tuổi. Chắc họ đã về hưu cả. Mỗi người trên tay hoặc một cuốn sách, hoặc một tờ báo chăm chú đọc. Không ai cầm tem phiếu, và đặc biệt là không thấy một viên gạch, hoặc một cục đá nào xếp hàng như ở Hà Nội. Cái này đúng là thua ta xa! Xứ mình một cục đá, một viên gạch cũng có thể xếp hàng, và cũng được tôn trọng, tuyệt nhiên không có chuyện phân biệt đối xử! Dòng suy nghĩ miên man của tôi bỗng bị chặn đứng bởi câu hỏi: - Anh bạn trẻ! Có ai đứng sau cậu không ? Tôi đứng được chứ? Một người đàn ông khoảng 60 tuổi cao to, gương mặt phúc hậu nhìn tôi với ánh mắt nồng ấm. - Vâng! Không có ai cả. Xin mời ông! Tôi trả lời. - Ồ! Cậu nói được tiếng Nga à? Cậu từ đâu đến vậy? Người đàn ông sởi lởi bắt chuyện với tôi. - Tôi là sinh viên Việt Nam. - Ôi! Đồng hương của Đặng Thái Sơn. Cậu có biết Đặng Thái Sơn không? - Anh ấy là sinh viên của nhạc viện Tchaikovsky, đã đoạt giải nhất cuộc thi piano quốc tế về nhạc Chopin…tôi chỉ biết vậy. Tôi chưa được gặp anh ấy bao giờ. - Cậu ấy là một tài năng lớn. Chúng tôi mới chỉ biết người Việt Nam các cậu mặc áo lính, còn người Việt Nam mặc áo đuôi tôm chơi piano trên sân khấu thế giới, thì đây là lần đầu. Người Nga chúng tôi cũng thơm lây từ cậu ấy. Thế cậu học trường nào vậy? Người đàn ông hỏi và chăm chú đợi câu trả lời của tôi. Một niềm tự hào ngọt ngào dâng đầy trong tôi. Tôi mới thực sự là kẻ được hưởng lợi đây! Đặng Thái Sơn thân yêu ơi, cảm ơn cậu nghe! - Tôi học tại khoa dự bị tiếng Nga trường MGU. Tôi bình thản trả lời. - MGU? Người đàn ông giật giọng hỏi lại, âm điệu nghe chừng không mấy tin tưởng. Ông ấy không tin cũng phải. Tôi còn không tin nữa là. Tôi móc túi lấy thẻ sinh viên MGU đưa cho ông. Ông trân trân nhìn tấm thẻ, đầu lúc thì lắc lắc, lúc thì gật gật…tôi không hiểu ông ấy đang nghĩ gì! - Cậu biết không! Tấm thẻ này mãi mãi là ước mơ cháy bỏng của tôi, của mọi thế hệ tuổi trẻ nước Nga và cả liên bang Xô Viết nữa. Giọng ông trùng xuống, đầy nuối tiếc. - Cậu tuyệt lắm! Chúc mừng Giáo sư tương lai! Đi theo tôi lên đây. Người đàn ông bứt mình khỏi những kỉ niệm xa xưa, ông chúc mừng tôi với một ngữ điệu hồ hới, như cái cách mừng vui của một người cha với người con vậy. Ông kéo tôi ngược đoàn người đang xếp hàng, đến tận chỗ cô gái đang bán hàng. - Bà có thể cho phép vị giáo sư tương lai của Việt Nam này mua trước được không? Ông nói với người phụ nữ đứng đầu hàng. - Là sinh viên MGU đấy, cậu ấy bây giờ cần rất nhiều thời gian để học. Ông đưa tấm thẻ sinh viên của tôi cho người phụ nữ xem. Bà đọc xong, quay ra nhìn tôi với con mắt ngợi khen. - Cậu bé! Giỏi lắm! Khi nào cần mua gì ở đây, cậu không cần xếp hàng đâu. Hãy đến nói với cô bán hàng…Cậu là một ngoại lệ. Có phải không Lê na? Lê na là cô gái bán hàng. Lê na nhìn tôi mỉm cười nói: - Ồ! Tất nhiên rồi. Nhưng cậu nhất định là phải trở thành giáo sư nghe không! - Vâng! Nhất định là như vậy. Tôi mỉm cười hứa. Tôi cảm ơn tất cả mọi người rồi bước ra khỏi cửa hàng. Tôi thấy Matxcơva đang gần hơn trong tôi, thấy nước Nga đang cụ thể hơn, nồng ấm hơn trong trái tim mình. Lúc về tới ký túc xá, đồng hồ trên tường tiền sảnh chỉ 9 giờ sáng. Tôi nhìn chiếc đồng hồ nhựa trên tay đã chỉ 12 giờ trưa. Đây là giờ Việt Nam của tôi. Một chút luyến tiếc, tôi quyết định bấm lại đồng hồ theo giờ Matxcơva. Tạm biệt Việt Nam. Bây giờ tôi phải theo giờ của Matxcơva cái đã! Giao hai con gà cho thằng Q xử lý, tôi quyết định một mình tới trường để thực hiện một phi vụ bí mật: Đi tìm kho báu, mà một ông thày trẻ đã du học tại MGU về dạy tiếng Nga cho chúng tôi ở trường đại học ngoại ngữ Thanh Xuân, Hà Nội đã tiết lộ. Với tấm sơ đồ chỉ dẫn sơ sài trong tay, tôi lang thang trong rừng táo bạt ngàn trên đồi Chim Sẻ thuộc khuôn viên của trường. Sau mấy tiếng đồng hồ đi miên man theo bản chỉ dẫn, cuối cùng tôi cũng tìm được kho báu của ông thày tôi để lại. Đó là một thung lũng nhỏ, có những cây táo quả màu đỏ ngon nhất rừng táo MGU. Gần cuối tháng tám, những cây táo trĩu cành đã có rất nhiều quả căng mọng. Không cần leo lên cây, tôi tới một cành la thấp ngang tầm, vít xuống hái một quả đỏ ău màu hổ phách mọng căng thơm lựng. Không kìm được sự thèm khát, tôi lau vội quả táo vào tay áo mấy cái lấy lệ, rồi cắn một miếng rõ to. Không biết thuở hồng hoang, ông bà Ađam và Êva nghe con rắn xúi dại, đã nếm thử trái cấm trong vườn Địa Đàng ngon đến mức nào? Nhưng chắc chắn không thể ngon hơn trái táo của tôi lúc đó. Bằng chứng là đến tận bây giờ, sau hơn 30 năm, khi đang viết những dòng này, tôi vẫn thấy vị táo ngọt lịm, giòn tan nơi đầu lưỡi, hương của nó tôi vẫn ngửi thấy thơm nức trong cánh mũi,ngất ngây. Đó là quả táo ngon nhất, mãi mãi đi theo tôi đến tận bây giờ. Nhìn đồng hồ thấy đã gần 12 giờ, tôi quyết định vào nhà ăn của trường để ăn trưa. Theo các mũi tên chỉ dẫn, loanh quanh một hồi tôi cũng tới được nhà ăn. Khi tôi bước vào, nhiều điều làm tôi bối rối. Một không gian thênh thang, có sức chứa hàng ngàn sinh viên. Nhà ăn đã đông nghịt người. Có điều là tịnh không nghe thấy một tiếng nói chuyện, không một tiếng động nào do cái miệng khi ăn phát ra. Chỉ nghe tiếng thìa nĩa chạm vào đĩa sứ lanh canh. Điều này chúng tôi đã được dạy rất kỹ, nhưng bây giờ cần phải áp dụng vào thực tế. Tôi đã quen ăn uống vô tư, nhai nhồm nhoàm, húp soàn soạt, sùm sụp tự do như không khí!!! Không sao, cứ lấy đồ ăn rồi tính. Tôi tự trấn an mình vậy, rồi đi đến quầy thức ăn tự chọn. Đứng trong dòng sinh viên xếp hàng, tôi quan sát cái cách họ lấy thức ăn, cái cách họ trả tiền để đến lần mình khỏi bỡ ngỡ. Cuối cùng tôi cũng lấy được một đĩa xúp, một đĩa khoai tây nghiền có hai cái xúc xích chiên vàng thơm nức, một cốc nước táo và hai lát bánh mỳ đen. Bà thu ngân nói là tôi phải trả 50 xu. Bê khay đồ ăn ra khỏi quầy, tôi thở phào nhẹ nhõm, biết mình đã qua một đợt sát hạch nho nhỏ. Tôi đứng ngây người quan sát, tìm một chỗ trống để ngồi. Mắt tôi lướt qua mấy dãy bàn gần nhất, tất cả đều chật kín. Khi tôi đang thất vọng miên man, thì mắt tôi bắt gặp một dãy bàn khoảng ba bốn cái xếp liền nhau, có phủ khăn bàn trắng tinh, kê sát tường, bên những ô của sổ nhìn ra vườn cây, tuyệt nhiên không một ai ngồi.Tôi rảo bước tới đầu dãy bàn, đặt khay thức ăn xuống. Thật may quá! Tôi hân hoan nghĩ bụng. Nhìn hai cái xúc xích chiên vàng nóng hổi thơm lừng, nhớ đến những cái xúc xích mà thằng bạn ở Giảng Võ vẫn chiêu đãi, tôi chạnh lòng nghĩ: Không biết xúc xích cao cấp Vân Hồ có thơm như thế này không? - Chào Giáo sư trẻ! Chúc ngài ngon miệng! Khi tôi vừa cầm cái nĩa định xiên cái xúc xích, thì tiếng chào của một phụ nữ ngân lên trước mặt tôi. Trời ơi. "Trời đánh còn tránh bữa ăn mà”… Sao lại chào hỏi vào lúc này, mà còn gọi mình là “Giáo sư” nữa kia chứ…Tôi vội đứng lên cùng một chút bực bội trong lòng. - Cảm ơn bà. Tôi chỉ là một sinh viên mới. - Tôi đùa chút thôi. Chỉ có các sinh viên mới như các cậu, mới đến ngồi ở đây! Người phụ nữ nở một nụ cười thông cảm, và đi tới cuối dãy bàn nơi có đặt một tấm biển nhỏ hình chữ nhật, mà tôi đã không để ý tới. - Đây là bàn dành cho sinh viên mới phải không? Thưa bà? - Ồ! Không hẳn thế. Cậu đọc được chứ? Bà giơ tấm biển màu xanh có một hàng chữ màu trắng: BÀN DÀNH CHO CÁC GIÁO SƯ…cho tôi xem. Đọc xong dòng chữ, tôi giật nảy mình vì biết mình đã ngồi nhầm chỗ. - Xin lỗi bà! Lúc nãy tôi đã không để ý… - Không sao! Năm mới nào cũng có một vài chuyện như vậy. Một kỉ niệm rất thú vị phải không? Hôm nay cậu được ngồi đây 20 phút. Còn muốn tự do ngồi ở đây, cậu còn phải mất mươi, mười lăm năm nữa…Khi cậu đã trở thành một giáo sư. Cậu có biết ai đây không? Người phụ nữ chỉ tay lên tường, lúc này tôi mới nhìn thấy một khung ảnh to lồng ảnh nhà bác học Lomonocov, đang ngồi bên bàn viết với cây bút lông ngỗng trên tay. Mặt ông ngước lên, như đang mải miết đuổi theo những ý tưởng đang xuất hiện liên miên trong đầu. - Đó là Lomonocov. - Cậu giỏi lắm. Có thể ngày xưa, ông ấy đã ngồi trên cái ghế cậu đang ngồi đấy. Thôi chào Giáo sư trẻ nhé. Hẹn gặp lại cậu. Tôi là Ôlia phụ trách nhà ăn ở đây. - Cảm ơn bà Ôlia. Hẹn gặp lại. Bà Ôlia lại mỉm cười với tôi rồi đi khỏi. Tôi cúi đầu chào bà, mà lòng xáo động bao suy nghĩ. Ngày hôm nay thật kỳ lạ, tôi đã được “phong Giáo sư” đến hai lần. Tôi lại còn ngồi nhầm vào cái ghế mà có thể trước đây nhà bác học vĩ đại Lomonocov đã ngồi (như bà Ôlia đã nói). Tôi ngước nhìn lên ảnh cụ Lomonocov, trong thoáng chốc tôi như thấy cụ mỉm cười, nháy mắt với tôi. Hình như cụ còn biết cả chuyện tôi vừa đi ăn trộm táo nữa. Nhưng đôi mắt cụ tràn ngập yêu thương. Tôi chắp tay trang nghiêm, miệng lầm rầm khấn vái: - Cháu xin lỗi cụ Lomonocov. Cháu sẽ cố gắng học, để được ngồi ăn dưới ảnh chân dung của cụ. Huế 18/11/2012 H.T.C |
Trích:
|
Văn là người. Cái bài văn trên nói rõ cho biết về cái người viết ra nó, từ nguồn gốc xuất thân, tâm tính, trình độ, cách anh ta cư xử với vợ con trong gia đình, bạn bè, thái độ của anh ta với cuộc sống hiện nay v.v.
|
Đề nghị các thành viên không sa vào chỉ trích cá nhân nhé.
|
Chuyện này thấy đăng trên mạng nhưng khuyết danh tác giả, bối cảnh chuyện vào khoảng sau năm 85 của thế kỷ trước.
CHÀNG TRAI TRÊN XE BUÝT Hơn hai mươi năm kể từ buổi chiều mùa hè ấy, bạn mới kể cho tôi câu chuyện này. Khi đó bạn mới là cô gái ngoài 20, sau giờ tan học, tất tả mua một cái bánh rán nóng trên hè phố và vội vã nhảy lên chuyến xe buýt về phía đông thành phố. Bạn phải đến nơi đăng ký gửi thùng hàng về nước trước 3 h chiều. Và trên chuyến xe buýt ấy đã xảy ra một cuộc gặp kỳ lạ ... Chuyến xe ấy đi về phía khu bách hoá tổng hợp lớn nhất thành phố, nên lúc nào cũng chật kín người. Cô bước lên xe và đưa mắt nhìn: không còn một chỗ trống. Cô đành lách vào giữa xe, giơ tay bám vào chiếc cột. Không khí ngột ngạt trong xe, khiến cô càng cảm thấy mệt mỏi. Sực tỉnh, cô vội vã đưa tay lên che cú ngáp. Cô thấy có bàn tay vỗ nhẹ vào chiếc túi cô đeo bên hông: Cô quay người và nhìn thấy cặp mắt màu hạt dẻ của một chàng trai tầm tuổi cô. "Mời bạn ngồi" - chàng trai đứng dậy nhường ghế. Cô cảm ơn và ngồi xuống không một chút khách sáo. Cô chống tay lên trán và chợp mắt trong giây lát. Xe dừng ở bến đỗ khiến cô tỉnh lại. Dòng người lục tục kéo lên làm cho chiếc xe trở nên chật chội hơn. Xe chạy, và cô có cảm giác có ai đó đang nhìn mình. Cô ngẩng đầu lên thì bắt gặp cặp mắt màu hạt dẻ đang nhìn cô chăm chú. Chàng trai ngượng nghịu mỉm cười, nhưng không chịu quay mặt đi. Lúc này cô mới để ý, đã đến đầu mùa hè mà chàng trai vẫn đội cái mũ len sùm sụp trên đầu. Xe lại dừng bánh. Lần này thì có người xuống, và cũng có người lên. Một bà già chống gậy lọc cọc đi đến bên ghế của cô. Ồ, dù có mệt thì vẫn phải đứng dậy nhường ghế thôi. Bà cụ cười hấp háy với cô gái tóc đen: "Cảm ơn con gái". Cô đứng đối mặt với chàng trai. Hai người cùng bám vào chiếc cột inox. Chàng trai đột ngột hỏi: - Bạn đi đâu? - Tôi đi, tôi đi... đến hải quan để gửi hàng về nước. Tôi sắp kết thúc khoá học ở đây. - Không hiểu sao cô lại nói được cái nguyên do đi đóng hàng, vốn là điều khá nhạy cảm đối với sinh viên nước ngoài, một cách dễ dàng như vậy. - Ồ, thế thì vất vả lắm. Bạn có khuân hết cả Liên Xô về không đấy? - Tôi rất muốn. Nhưng hải quan chỉ cho mỗi sinh viên mang về đúng 1 khối hàng. Kể cả cái thùng đựng cũng được đóng đúng tiêu chuẩn 1m x 1m x 1m. Nên chắc chỉ mang về được một phần của Liên Xô thôi. Còn anh đi đâu? - Tôi đến quận đội. Tôi sắp nhập ngũ. - Đi nghĩa vụ quân sự à? Anh sẽ đóng quân tại đâu? - Tôi chưa biết. Mà nếu có biết thì cũng không nói được. Bí mật quân sự mà. - "Bí mật quân sự" (1) của Gaidar ấy à? - Bạn cũng đọc Gaidar sao? - Có chứ, tôi đọc hết, cả "Timur và đồng đội" (2) lẫn "Bí mật quân sự". Tất nhiên là bản dịch tiếng Việt thôi. - Tôi thấy tiếng Nga của bạn tốt lắm mà. - Nhưng... nhưng tôi chưa tìm được mấy cuốn đó bằng tiếng Nga, - cô nói dối. Thời gian sang đây vừa học, vừa đi đặt mối giao hàng, vừa đi lùng mua hàng mang về nước, làm gì có thời gian mà vớ tới mấy quyển sách văn học. - Với lại... tôi cũng không có thời gian để đọc chúng. - Tôi sẽ tặng bạn 2 cuốn sách đó, - chàng trai nói. - Ồ, làm sao mà tặng được? Anh sắp đi nghĩa vụ. Tôi lại sắp về nước. Chắc mình không còn cơ hội gặp nhau nữa, - cô thốt lên. - Nhưng bạn có còn ở đây ít nhất là 2 ngày nữa không và bạn cũng có địa chỉ ký túc xá chứ? - Tất nhiên. Tôi còn phải thi và một tháng nữa mới về nước. Còn anh bao giờ đi? - Mai. - Mai à? Thế thì chắc chắn mình không gặp nhau được rồi. - Thốt nhiên cô thở dài. - Tôi cũng có nói mình sẽ gặp nhau đâu? - Chàng trai cười. - Nhưng tôi sẽ gửi sách cho bạn. Xe lại dừng. "Bến của tôi đây rồi. Tôi xuống đây. Tạm biệt anh", cô nói vội vã. Chàng trai cười hiền lành: "Tôi cũng xuống. Để lấy địa chỉ của bạn". Chàng trai rút một cuốn sổ nhỏ và chiếc bút bi từ trong túi đeo bên mình đưa cho cô gái. Cô ghi địa chỉ ký túc xá, số 15, phố Artilleristov, và họ tên mình vào đó rồi trả lại cho chàng trai. - Bạn không cho tôi địa chỉ ở Việt Nam à? Chẳng phải bạn sẽ chỉ ở Liên Xô có hơn một tháng nữa thôi sao? - chàng trai nheo mắt hỏi sau khi đọc những dòng chữ ghi vội trong cuốn sổ tay. - À vâng, nếu anh muốn, - cô nói và đưa tay đón lại cuốn sổ. Cô ghi địa chỉ của mình ở Hà Nội. - Đây, thế này là tôi khó chạy khỏi anh. - cô nói đùa. Chàng trai nhận lại cuốn sổ, nắm lấy tay cô và đặt tay cô lên môi hôn: "Cảm ơn bạn vì cuộc gặp rất có ý nghĩa trước khi nhập ngũ. Tôi sẽ nhớ bạn lắm đấy". Chàng trai lột mũ để lộ chiếc đầu trọc lốc (3) và cúi gập đầu xuống chào theo một kiểu rất kịch. Cô không nhịn được cười trước cử chỉ hài hước đó. Chàng trai giục: "Bạn đi đi. Tôi chờ chuyến xe kế tiếp. Quận đội còn cách đây 2 bến". - Vâng, tôi đi nhé. Chúc anh thượng lộ bình an và gặp nhiều may mắn. - Hãy tặng hải quan của chúng tôi một chai vodka và họ sẽ cho bạn mang về Việt Nam, nhiều Liên Xô nhất có thể. - Cám ơn anh đã khuyên, tôi sẽ tặng họ chai "Lúa mới". Tôi đi đây. Cô bước đi. Chừng mươi bước cô quay lại. Chàng trai đứng trên bến đợi xe, tần ngần vò chiếc mũ len trong tay, nhìn theo cô đăm đăm. - Tạm biệt! - cô nói. Chàng trai đưa 2 ngón tay lên môi gửi cho cô một nụ hôn gió. Và quay mặt đi. Một chuyến xe buýt vào bến. ------------------------------------------------------------------------------------------------ (1), (2): "Bí mật quân sự", "Timur và đồng đội" - Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn Liên Xô nổi tiếng Arcadi Gaidar. (3): Tân binh ở Liên Xô phải cạo trọc đầu trước khi nhập ngũ. |
... Đi thêm chừng ba chục bước nữa, cô quay lại. Nhưng chàng trai đội mũ len không còn tần ngần đứng nhìn theo cô nữa. Chiếc xe buýt đã rời bến.
Chẳng cần chàng trai khuyên, thì cô cũng đã mang theo một chai rượu Lúa mới 45 độ. Nhớ lại lời nói của chàng trai, cô hơi ngạc nhiên. Hình như chưa có người Nga nào khuyên cô phải "tử tế" với hải quan. Họ không có thói quen hối lộ người thừa hành công vụ. Mấy chiêu ranh mãnh đều là do người Việt nghĩ ra và phổ biến cho nhau. Và cũng chẳng phải nhân viên hải quan nào cũng nhận những món quà trên mức tình cảm. Một vài người thậm chí còn rất nghiêm khắc, rơi vào tay họ thì chẳng còn cách nào khác là chấp hành đúng quy định. Nhưng sao chàng trai này lại có vẻ thạo việc của người Việt như vậy? Ngay cả những người bạn Nga thân nhất với cô cũng không biết những chuyện buôn bán, gửi hàng của đám sinh viên người Việt. Không phải họ thờ ơ, mà chỉ bởi vì trong tư duy của họ những việc ấy hình như không tồn tại. Cô làm thủ tục hải quan khá nhanh chóng. Số hàng hoá cô gửi về nước có vượt quá cơ số cho phép một chút, nhưng có lẽ nhờ chai rượu tất cả đều qua trót lọt. Thế là xong cái công việc lớn nhất của chuyến đi học này. Bây giờ chỉ còn thi xong nữa là về nước. Chỉ còn một tháng, phải thi 4 môn, mua một ít hàng xách tay, xem nốt mấy bộ phim hay và đi xem trượt băng nghệ thuật. Đó là kế hoạch cuối cùng của cô ở xứ sở bạch dương. Và trước khi bắt tay vào làm những việc ấy, cô tự cho phép mình ngủ bù nguyên một ngày. Mãi đến chiều tối, cô mới xuống dưới để đi sang nhà ăn. Qua chỗ thường trực, cô kiểm tra ô thư theo thói quen và phát hiện một gói vuông vắn bọc bằng giấy khá dày mầu nâu. Cô hỏi bà thường trực: "Ai mang gói này đến cho cháu thế bác?". Bà thường trực đáp: "Một ông trung niên. Ông ấy nói con trai ông ấy gửi cho cháu". - "À!" - cô kêu lên một tiếng khi nhớ ra chàng trai trên xe buýt. Hoá ra anh ta giữ lời hứa gửi sách cho mình thật. Sang đến nhà ăn, chọn đồ ăn xong và bưng ra một cái bàn sát cửa sổ trông ra hàng cây bạch dương trổ lá xanh mướt, cô giở gói giấy ra. Quả nhiên, trong đó có 2 tập truyện của Gaidar bằng tiếng Nga, kèm thêm tuyển tập thơ Nga - Xôviết và một phong thư. Cô mở phong bì và lấy ra bức thư được viết bằng nét chữ nghiêng đặc trưng kiểu Nga rất đẹp. "Xin chào cô gái từ chuyện cổ tích phương Đông, Tôi tên là Kolia (1), hay Nikolai Gorenkov. Tôi 22 tuổi. Sinh viên năm thứ 4 Khoa thiết kế dân dụng Đại học Công nghệ. Trường tôi cũng có sinh viên Việt Nam đấy. Rất có thể một vài người bạn của tôi cũng là bạn của bạn. Bạn đừng ngạc nhiên khi thấy tôi hơi già để làm tân binh. Mấy năm trước điều kiện sức khoẻ của tôi không tốt, nên tôi toàn được miễn. Năm nay do chăm chỉ đi bơi mùa đông, sức khoẻ của tôi đã khá hơn, và giờ đây tôi có thể phụng sự. Hôm qua quả là một ngày đặc biệt. Đơn giản là vì tôi gặp bạn. Tôi nhận ra bạn là người Việt ngay (vì họ hay đi trên chuyến xe buýt này), nhưng bạn cũng thật khác biệt (vì hầu hết người Việt đều không kể chuyện đi gửi hàng). Tôi thấy bạn không biết và không muốn nói dối. Tôi chẳng biết phải viết gì cho bạn, vì chúng ta hầu như không biết gì về nhau. Tôi sợ rằng những lời vồn vã nồng ấm của tôi có thể khiến bạn hiểu lầm rằng tôi là kẻ quá lãng mạn hoặc là kẻ dở hơi - hai cái mác mà tôi hoàn toàn không muốn bị gắn vào trong tâm trí bạn. Chuyến đi sắp tới của tôi có thể sẽ là rất xa. Những việc tôi phải làm có thể sẽ rất khó khăn và vượt qua sự chịu đựng của tôi. Nhưng tôi không còn sự lựa chọn nào khác. Giờ đây tôi chỉ có một sự lựa chọn mà cả tâm trí tôi, tâm hồn tôi, tình cảm của tôi đều giục giã tôi phải làm - đó là làm quen với bạn, được trở thành bạn của bạn, và nếu có thể cùng với thời gian được trở thành một người thân của bạn. Chắc chắn bạn sẽ không khước từ mong ước đó của tôi. Đúng không? Tôi biết rõ là bạn sẽ trả lời đồng ý. Thế nên bạn sẽ đừng ngạc nhiên khi vài ba ngày nữa bạn sẽ nhận được bức thư đầu tiên tôi viết với tư cách là người lính trong Quân đội Xôviết từ một trại huấn luyện nào đó mà tôi còn chưa biết. Tôi hứa sẽ viết cho bạn hàng tuần. Thế nhé, cô gái trong chuyện cổ tích. Chúc mọi điều tốt lành sẽ đến với bạn trong những ngày tháng cuối cùng ở đất nước của chúng tôi. Hãy nhớ rằng, từ nay bạn có một người bạn tên là Kolia. Tạm biệt!" ____ (1) Kolia là tên gọi thân mật của Nikolai. còn nữa |
Cô đặt bức thư xuống bàn, bên khay thức ăn vẫn còn nguyên. Đan hai tay sau gáy, cô nhìn ra ngoài cửa sổ. Mùa hè đang đến, và ngày bắt đầu dài hơn. Đã hơn 7 giờ chiều mà trời vẫn sáng. Nhìn đám lá xanh mướt rung rinh sau lớp kính, cô cố hình dung ra tiếng rì rào của những ngọn gió đang vuốt ve chúng.
Cô nhìn lại bức thư. Nikolai Grenkov. Một cái tên đặc Nga và dễ nhớ. Mới chỉ cách đây chưa đầy 30 giờ đồng hồ, cô còn chưa biết đến sự hiện diện của con người này trên cõi đời. Thế mà giờ đây, bức thư của người ấy gửi cho cô đang nằm trước mặt. Một bức thư vừa thân thương vừa hờ hững, vừa nồng nàn vừa xa lạ. Rõ ràng cô không hề mong đợi bức thư này, nhưng lạ thay những dòng chữ trong đó khiến lòng cô nhẹ bẫng. Dường như những cực nhọc của mùa đông giá lạnh đã lùi xa vĩnh viễn. Cô gõ gõ ngón tay xuống bàn và lại đưa mắt nhìn ra ngoài trời. Mặt trời khuất ở đâu đó nhưng ánh sáng của nó phản chiếu trên mái ký túc xá đối diện một màu đỏ tinh khôi. Cô mỉm cười và lẩm bẩm: "Kolia, Kolia. Anh bước vào cuộc đời tôi như thế đấy à?" ... Từ nhà ăn trở về phòng, cô xem lại bức thư một lần nữa. Những lời lẽ giản dị trong thư như có sức hút kì lạ. Ta không thể lướt qua chúng một cách dễ dàng. "Anh ấy nói đúng, ta không thể khước từ mong ước kết bạn của một người lính!". Cô xem lại bì thư, trong đó còn có tấm danh thiếp của Sergei Gorenkov, kiến trúc sư, số điện thoại và dòng chữ viết tay: "Cô gái, hãy gọi điện khi nhận được gói quà này. Cảm ơn". Cô đi xuống phòng thường trực và xin gọi nhờ điện thoại. "Allo!" - một giọng nam trầm ấm vang lên. - Xin cho tôi gặp ông Sergei Gorenkov. - Tôi nghe đây. - Chào bác, cháu là cô gái Việt Nam mà bác chuyển sách đến hôm nay. Cháu đã nhận được rồi. Cảm ơn bác rất nhiều. - À, hoá ra là cháu đấy à. - Giọng người đàn ông lộ rõ vui mừng. - Tiếc quá, trưa nay bác đến mà không gặp được cháu. Hình như cháu không có nhà. - Cháu có nhà chứ ạ. Nhưng mà cháu ngủ, nên không nghe thấy tiếng người gọi. - Rất vui được gặp cháu. Kolia đã kể cho hai bác nghe về cháu. - Thế ạ? Anh ấy có biết gì về cháu đâu ạ? Cháu mới gặp anh ấy lần đầu tiên ngày hôm qua. - Hôm qua mới gặp lần đầu à? Thế mà bác có cảm giác nó biết cháu đã 100 năm nay. - Kolia đã đi chưa ạ? - cô hỏi sang chuyện khác, tránh đề cập đến mối quan hệ đang ở mức zero giữa cô và con trai của người đối thoại. - Đi rồi. Đi sáng nay. Tiễn nó xong là bác rẽ qua chỗ cháu đấy. - Thế anh ấy đi đâu hả bác? - Đi đâu ấy à? Hừm... đến một nước cộng hoà... ở Trung Á. Bác chỉ biết có thế, - giọng người đàn ông chùng xuống. - Xa quá bác nhỉ? Nhưng ở đâu thì cũng là Liên Xô thôi. Hai năm nữa anh ấy sẽ trở về. Chắc cũng nhanh thôi mà. - Này, con gái. Bác thấy con đúng là từ một đất nước đã quá quen thuộc với những cuộc chia ly. Con rất biết cách an ủi người khác! - Vâng, có lẽ thế. Nhưng đúng là 2 năm sẽ rất nhanh mà bác. - Bác cũng hy vọng thế, - người đàn ông bỗng thở dài. Cô gái hiểu rằng người cha này rất yêu con trai của mình. - Bác muốn mời con qua nhà bác chơi, khi nào con đi được thì báo để hai bác chuẩn bị. - Cháu sắp phải thi, nên chưa biết có thu xếp để đến thăm hai bác được không. Nhưng cháu sẽ cố gắng. Cháu sẽ gọi điện để thông báo sau. - Được rồi, bác chờ điện thoại của con. - Vâng, cháu chào bác. - Hẹn gặp con. Cô trở về phòng và mường tượng ra quan hệ trong gia đình Gorenkov. Nói chuyện với người cha, cô thấy phong thái nói chuyện của hai cha con thật giống nhau. Kolia chắc chịu ảnh hưởng từ người cha rất nhiều. Mà phải rồi, ông Gorenkov là kiến trúc sư, còn Kolia là sinh viên khoa thiết kế dân dụng. Hai nghề nghiệp mà họ theo đuổi cũng gần gũi với nhau. Cô lấy bàn chải, thuốc đánh răng và đi ra khu nhà vệ sinh trong block (*). Ở đó cô gặp Tania, cô bạn sống ở phòng bên cạnh đang chải mascara lên mắt, chuẩn bị đi chơi. - Sắp thi rồi còn đi nhảy sao, Tania? - cô hỏi. - Đi nhảy lần cuối cùng đây. Từ mai tớ sẽ là nữ tu, - Tania đáp hóm hỉnh. - Này, tân binh mà đi Trung Á thì làm gì ở đó hả cậu? Tania ngừng chải mascara, quay ngoắt sang cô: - Ai đi Trung Á? - Một người quen của tớ, - cô đáp hờ hững. - Người quen nào? - Tania hỏi dồn. - Thì... bạn cùng phòng với... anh bạn Việt Nam của tớ... bên Đại học Công nghệ. - cô ấp úng. - Sao cậu biết anh ấy đi Trung Á? - Tania tiếp tục truy vấn. - Bố anh ấy nói thế, - thái độ của Tania khiến cô lo âu. - Có chuyện gì hả cậu? - Có, chuyện khủng khiếp! - Tania lắc đầu như muốn xua đi ám khí. - Sao lại khủng khiếp? - cô mở to mắt. - Cậu không biết gì thật sao, con ngốc? - Không! - cô lắc đầu. - Nghe kỹ tớ nói này. Đi Trung Á, tức là sẽ bị điều sang Afghanistan. Cậu biết là bên đấy đang có chiến tranh chứ? ___ (*)block: Ký túc xá của Nga chia thành các block. Mỗi block thường có 3-4 phòng, mỗi phòng từ 2-6 người ở. Mỗi block có một khu vệ sinh chung. |
Nghe Tania nói thế, tim cô thốt nhiên như có ai bóp chặt lấy. Bàn tay quái ác ấy cứ xiết chặt, không chịu buông trái tim nhỏ nhoi của cô. Và vì thế nó quẫy đạp, cố gắng được đập tự do theo nhịp riêng của nó từ hơn hai chục năm qua. Cô vội vã đặt cốc nước đánh răng xuống bồn rửa mặt, một tay vịn vào thành bồn bằng sứ, một tay ôm ngực.
Tania hoảng hốt hỏi: "Cậu sao thế? Sao mặt cậu lại tái mét đi như vậy?" Vội vã lấy chiếc khăn vắt trên vai để lau bọt từ thuốc đánh răng trên miệng cô, Tania dìu cô vào phòng. Thận trọng đỡ cô ngồi xuống giường, Tania chạy ra bình nước rót một cốc nước đầy và đưa cho cô: "Cậu uống nước đi!". Cô cầm cốc nước và uống từng ngụm nhỏ. Bàn tay quái ác từ từ nới lỏng, và cô cảm thấy dễ chịu hơn. Phải rồi, chiến tranh ở Afghanistan. Ngày nào cũng có những chiến sĩ tình nguyện Xôviết hy sinh ở đó. Báo chí hầu như không nói đến cuộc chiến này, nhưng người dân thì biết rõ sự ác liệt của nó, bởi con em họ chông chênh giữa sự sống và cái chết trên đất khách quê người. Cô ngạc nhiên trước phản ứng cơ thể của chính mình. Kolia chỉ là một người mới quen, chỉ mới đi cùng nhau khoảng nửa giờ đồng hồ trên một chuyến xe buýt. Cô hầu như chưa biết gì về anh ta. Chưa có một tình cảm đặc biệt nào. Vậy tại sao, tại sao cô lại run rẩy đến như thế khi nghe tin anh sẽ phải đi sang Afghanistan. Tania ngồi xuống nền nhà và đặt hai tay lên gối cô. "Này, cậu hãy nói thật cho tớ nghe, ai đi Afghanistan? Một chàng trai Nga người yêu của cậu à?" - Không, - cô lắc đầu. - Không, chỉ là một người mới quen thôi. - Ừ, tớ hiểu, - Tania tỏ ra thông cảm. - Ai đi Afghanistan mà không lo chứ? - Đúng thế, - cô nhìn vào đôi mắt đang chuốt lông mi dở của Tania. Đôi mắt rất đẹp, nhưng cũng thăm thẳm buồn khi nói về những người đàn ông lên đường ra trận. Đôi mắt ấy cô đã nhìn thấy ở những người phụ nữ Nga trong những bộ phim về chiến tranh của Liên Xô. Sao dân tộc này lại cứ phải đối mặt với chiến tranh, cứ phải tiễn những người đàn ông ra trận mãi thế? - Thôi cậu đi đi, kẻo người ta lại đợi. Tớ ổn rồi. Cảm ơn cậu, - cô giục Tania. - Có gì đâu. Tớ nghĩ chắc cậu quá mệt mỏi sau đợt đóng hàng vừa rồi nên chỉ cần một tin xúc động cũng khiến cậu bị như vậy. Nghe tớ này, bây giờ cậu nằm xuống ngủ đi. Để tớ nhắc ai đó thỉnh thoảng chạy sang trông chừng cho cậu nhé. - Không cần đâu, tớ ổn rồi. Cậu đi đi. - Thôi được. Nhưng cậu đừng chốt cửa nhé. Cô gật đầu. Tania đi ra, đến cửa còn quay lại, ra dấu chúc ngủ ngon. Cô nằm xuống và nhìn chăm chăm lên trần nhà. Ở đó chỉ là một khoảng trắng tuyệt nhiên không có bất cứ một hình thù nào. Ở căn phòng này đã 9 tháng nay, nhưng chưa bao giờ cô nhìn lên trần. Tại sao trong cái ốc đảo này lại có thể tồn tại một cái khoảng trắng vô lý đến như vậy? Cô vùng dậy, lấy lại bức thư của Kolia, bật đèn trên table de nuit và đọc lại những dòng chữ nghiêng nhưng vẫn rắn rỏi của người con trai. Cô đọc lại từng dòng và cố gắng cắt nghĩa xem Kolia thực sự muốn nói gì. Đây rồi: "Chuyến đi sắp tới của tôi có thể sẽ là rất xa. Những việc tôi phải làm có thể sẽ rất khó khăn và vượt qua sự chịu đựng của tôi. Nhưng tôi không còn sự lựa chọn nào khác". Thì ra anh ấy đã biết trước tất cả, thế mà hôm qua khi gặp anh, cô chẳng thấy mảy may một dấu hiệu nào của người sắp đi vào giông bão. Thậm chí, đã có lúc cô thấy trò chơi kết bạn của anh có chút gì đó phù phiếm. Cô cảm thấy mình như người có lỗi vì đã thật vô tình. Cô đọc tiếp: "Giờ đây tôi chỉ có một sự lựa chọn mà cả tâm trí tôi, tâm hồn tôi, tình cảm của tôi đều giục giã tôi phải làm - đó là làm quen với bạn, được trở thành bạn của bạn, và nếu có thể cùng với thời gian được trở thành một người thân của bạn." - Anh ấy không đùa, anh ấy hoàn toàn nghiêm túc - cô nghĩ thầm. "Chắc chắn bạn sẽ không khước từ mong ước đó của tôi. Đúng không? Tôi biết rõ là bạn sẽ trả lời đồng ý" - Vâng, tôi đồng ý, lẽ nào tôi lại khước từ mong ước trong sáng như thế của một người lính. Tôi đồng ý. Cô khẽ lẩm bẩm một mình và không để ý rằng nước mắt đã chảy dài trên má. (còn nữa) |
Viết xong, cô chạy ra đầu phố bỏ thư ngay. Kể ra sáng mai đi học bỏ một thể cũng được, đằng nào thì xe bưu điện cũng đến thu thư vào lúc khoảng 8 giờ khi tất cả sinh viên đã kịp đáp xe buýt vượt chặng đường khoảng 5km để đến giảng đường. Không hiểu sao, cô cứ có cảm giác nếu bỏ thư sớm thì lá thư ấy sẽ sớm đến được tay Kolia, chỉ sớm hơn nửa tiếng thôi cũng được.
Thi xong môn thứ hai cũng đúng vào ngày thứ Bảy. Đằng nào thì cũng phải nghỉ ngơi một ngày rồi mới bắt tay vào học ôn cho môn thứ ba, nên cô quyết định sẽ đến nhà Kolia thăm bố mẹ anh. Cô quay số điện thoại đã được biên từ danh thiếp của ông Gorenkov vào sổ tay. Từ đầu kia vang lên giọng của một người phụ nữ. - Thưa, đây có phải điện thoại của gia đình Gorenkov không ạ? - Đúng rồi, cô tìm ai? - Chào bác, chắc bác là mẹ của Kolia? - Còn cô là... Có phải là "cô gái trong chuyện cổ tích phương Đông" đó không? - Dạ, vâng ạ. - Chào con gái. Bác thật kém may mắn, vì là người cuối cùng trong gia đình Gorenkov được nói chuyện với con. Con thi cử thế nào rồi? - Hôm nay cháu vừa thi xong môn thứ hai, bác ạ. Cháu có hứa với bác Gorenkov và với Kolia là sẽ qua thăm hai bác... - Ồ hay quá. Bao giờ con định tặng cho bác niềm vui ấy? - Ngày mai bác có rảnh không ạ? - Có, ngày mai con đến nhé. Con đến vào buổi trưa nhé. Mình sẽ ăn trưa, ăn tối và có nhiều thời gian nói chuyện với nhau. - Vâng ạ. Nhưng bác có thể cho cháu nấu một món Việt Nam được không? - Được, được chứ. Con biết địa chỉ nhà bác chưa? Có rồi phải không. Nhà bác dễ tìm lắm. Nếu không tìm thấy thì con cứ gọi cho bác từ trạm điện thoại trên phố, bác sẽ xuống đón. Thế 11 giờ mai bác chờ con nhé. - Vâng, hẹn gặp bác ngày mai. Cô vội vã soát lại "kho" dự trữ thực phẩm Việt Nam của mình. May quá vẫn còn một ít miến và nấm hương để làm nem, nhưng bánh đa nem thì lại còn quá ít. Sợ rằng sáng mai các bạn sẽ ngủ bù không tiện đánh thức, cô vội vã chạy khắp các phòng có sinh viên Việt Nam để hỏi xin bánh đa nem. Cuối cùng cô cũng kiếm được hai chục lá. Thế là đủ. Chủ nhật là một ngày đẹp. Nắng đầu hè mơn man trên đường phố. Các cô gái Nga bắt đầu diện những bộ váy áo mỏng phô phang vẻ đẹp mướt mát. Cô cảm thấy hơi thiếu tự tin khi ăn mặc có phần hơi giản dị. "Không sao, mình có ra mắt bố mẹ người yêu đầu mà sợ" - cô nhủ thầm. Cô tìm được căn hộ của gia đình Gorenkov trên tầng 7 của căn hộ chung cư ở khu Zelenyi Lug khá dễ dàng. Ngôi nhà không cách bến xe buýt bao xa. Cô nhấn chuông và ngay sau hồi chuông đầu tiên, cửa đã bật mở, cứ như vị chủ nhà đã đợi khách từ lâu và chỉ cần nghe có ai đó nhấn chuông là mở cửa. Một phụ nữ Nga đôn hậu tuổi chừng 50, mái tóc xoăn có những lọn tóc ốp vào gương mặt khá đẹp, dang hai tay tươi cười: "Con gái đã đến đây rồi. Chào con". Bà ôm chầm lấy cô như hai người thân lâu ngày mới gặp lại. "Con vào nhà đi, đưa bác xách cho cái túi nào, vào đi". Bà vồn vã dắt cô vào phòng khách, ấn vào tay cô một cốc nước quả rồi nắm lấy hai vai cô: "Cho bác ngắm con một cái nào... Ồ, bác không thể tin được! Con thật giống với những gì mà Kolia đã hình dung". Cô nhấp một ngụm nhỏ. Nước quả ngọt và mát thấm vào từng tế bào. Cô rụt rè hỏi: "Sao bác lại biết con giống với những gì mà Kolia đã hình dung?" - Bác biết chứ. Vì Kolia đâu chỉ hình dung trong đầu óc? Nó vẽ những gì nó hình dung mà. Để bác dẫn con vào phòng nó nhé. Bà Gorenkova kéo tay cô đứng dậy và dẫn vào căn phòng có cửa thông với phòng khách. Bà mở cửa và nhường đường cho cô vào trước. Căn phòng có một ban công rộng quay ra khu rừng xa ngút tầm mắt. Ánh sáng ùa vào kéo theo những đốm nắng lung linh nhảy múa trên tường. Cô bỗng đứng sững lại khi nhìn thấy ở bức tường trên đầu giường của Kolia có một tấm tranh cao chừng 1m vẽ bằng bút chì đen hình một cô gái phương Đông. Dường như có một luồng điện mạnh mẽ truyền từ bức tranh sang người cô. Cô nhìn quanh, như e rằng có ai đó chiếu phim đèn chiếu lên bức tường. Hay đó chỉ là ảo ảnh? Cô gái trong bức tranh chính là cô: gương mặt của cô, đôi mắt của cô, nụ cười của cô. Chỉ có trang phục là khác - đó là mớ xiêm y lả lướt. Và mái tóc khác. Cô để tóc dài, xoã tự nhiên, còn cô gái trong tranh có đôi bím tóc tết thật ngộ nghĩnh. |
Thấy cô đứng lặng nhìn trân trối vào bức tranh, bà Gorenkova nắm lấy tay cô: "Thôi, bác cháu mình ra ngoài đi. Xem con gái chiêu đãi bác món gì nào? Hôm nay chỉ có cánh phụ nữ chúng ta ở nhà thôi. Ông Gorenkov đi công tác rồi. May quá con đến chơi, nếu không bác chẳng biết phải làm gì..."
Bà kéo cô ra bếp. Căn bếp cũng có bancông trông ra rừng cây giống như phòng của Kolia. Bà Gorenkova mở cánh cửa ra bancông. Làn gió mát ùa từ cánh rừng tinh khiết vào nhà khiến cô cảm thấy thật sảng khoái. Cô đặt các thứ mang theo lên bàn ăn, hỏi bà Gorenkova thịt xay, trứng, hạt tiêu - những thứ có thể dùng làm nhân nem mà trong gia đình Nga nào cũng có. Cô hướng dẫn bà Gorenkova làm nem. "Để làm món này ở Nga cái gì cũng có, trừ cái giấy bằng gạo (bánh đa nem) và sợi mì (miến) này. Có cái gì thay thế được không nhỉ? Để bác xem nào, chắc là không rồi. Thế nên món của Việt Nam sẽ mãi là món Việt Nam đúng không?" - bà Gorenkova vui vẻ nói. Bà giành phần rán nem, vì "chắc không có gì khó" và quả nhiên bà rán rất khéo. Vừa làm bà vừa kể những câu chuyện dí dỏm xung quanh những bà bạn làm cùng hay những bà bạn từ thời còn sinh viên, nhưng cô như không hoà nhập được vào câu chuyện của bà. Cô cứ bị ám ảnh mãi với câu hỏi: Tại sao cô gái trong bức tranh của Kolia lại giống cô đến thế? Nấu nướng xong, bà Gorenkova ngắm nhìn đầy mãn nguyện thành quả là đĩa ném rán vàng. Bà hỏi: "Bác có thể mời bà hàng xóm tốt bụng sang cùng thưởng thức món ăn Việt Nam tuyệt vời này không? Nếu chỉ có mình bác với con ăn, thì sẽ chẳng biết chia sẻ cảm xúc với ai". Cô đáp: "Vâng, bác mời ai cũng được ạ. Hai bác cháu mình cũng khó mà ăn hết đĩa nem này". Bà Gorenkova quay điện thoại và chừng mươi phút sau có tiếng chuông cửa. Bà ra mở cửa và một người phụ nữ trung niên có dáng người mảnh dẻ tới mức ngạc nhiên so với phụ nữ Nga tầm tuổi ấy, tay cầm một chai rượu vang Gruzia, bước vào. Bà Gorenkova giới thiệu người hàng xóm với cô: "Đây là bác Orlova!" Nhìn thấy cô, bà Orlova vui vẻ bắt tay và khen: "Cháu xinh quá! Bạn của Kolia đấy à?" - "Không, cháu chỉ là người quen thôi ạ" - cô đáp. "Người quen ai lại mời đến nhà chơi bao giờ?" - bà Orlova nhướng lông mày. Bà Gorenkova đỡ lời: "Là bạn, là bạn của cả gia đình tôi". - Tôi vừa đi lưu diễn ở Gruzia về. Mang theo chai rượu vang hảo hạng này. Rượu hảo hạng uống kèm món ăn hảo hạng. Được không bà? - bà Orlova hóm hỉnh hỏi. - Được, được chứ. Cám ơn bà đã mang rượu đến. Bác Orlova là nghệ sĩ violon trong dàn nhạc giao hưởng của Nhà hát opera và ballet. Bác ấy đi nhiều lắm, sành ẩm thực lắm. Bác ấy mà khen món ăn của cháu, thì tức là cháu là đầu bếp có hạng đấy! - bà Gorenkova giải thích. Bà mở rượu vang, rót vào ba cái ly cao miệng rộng. "Nào ta cùng chúc mừng cho cuộc hội ngộ này" - bà Gorenkova nói. Ba người phụ nữ cụng ly. Bà Orlova ăn uống thật kiểu cách. Ăn xong miếng nem thứ nhất, bà ngồi lặng im chừng một phút đồng hồ như để cảm nhận bằng hết dư vị của nó: "Ngon! Tôi chưa bao giờ ăn món gì tương tự như thế này. Rất đặc biệt" - bà thốt lên. Bà Gorenkova cười khanh khách: "Có thế chứ. Không ngon làm sao tôi dám mời bà. Nào nâng ly thứ hai chúc mừng tài nghệ nấu nướng của cô gái đến từ đất nước xa xôi này". Cô sung sướng đỏ mặt: "Món này còn thiếu nhiều vị lắm. Khi nào hai bác có điều kiện sang Việt Nam, cháu sẽ mời hai bác món nem đúng vị của nó". - Tôi thì có thể có cơ hội sang Việt Nam biểu diễn. Chứ bà Gorenkova thì hơi khó đấy. Trừ trường hợp có con dâu là người Việt Nam. Phải không bà Gorenkova? - bà Orlova rổn rảng hỏi. Thốt nhiên cả ba người phụ nữ cùng im lặng. Bà Gorenkova nhìn cô. Cô đọc được trong ánh mắt của bà sự hoài nghi. Nhưng đằng sau sự hoài nghi ấy là tâm trạng bối rối và lo âu. Con trai bà sắp phải xông pha nơi hòn tên mũi đạn. Điều bà cần nhất lúc này là con trai bà bình an vô sự và trở về lành lặn, chứ không phải là nghĩ về một tương lai xa hơn cho nó. - Mấy tuần nay tôi vắng nhà không biết chuyện gì. Kolia nhập ngũ rồi phải không? Cuối cùng thì nó đi đâu? - bà Orlova hỏi. Lần này đến lượt cô nhìn bà Gorenkova. Bà cúi xuống trong vài giây, khi ngẩng lên thì đã nước mắt lưng tròng. Bà Orlova ngừng uống, chăm chú nhìn bà Gorenkova: "Nó phải đi đến đó hả?" Bà Gorenkova lặng lẽ gật đầu. Bà Orlova đặt mặt cái ly xuống bàn: "Thật quá quắt! Hết việc rồi hay sao mà có bao nhiêu đứa con trai khoẻ mạnh, thông minh, tràn đầy sức sống đều bị đưa vào chỗ chết thế?" Bà Gorenkova oà lên khóc. Dường như những mối lo âu về người con trai bị kìm nén lâu nay bây giờ mới có dịp được trút ra. Bà Orlova ôm lấy vai người bạn và nước mắt cũng chan hoà. Vừa vuốt lưng bạn, bà Orlova vừa nói: "Thôi, yên tâm đi, chắc chắn Kolia sẽ không sao đâu mà. Một chàng trai tuyệt vời như nó đâu dễ chết! Nó sẽ trở về, lấy vợ, sinh con đẻ cái. Cuộc chiến tranh khốn kiếp kia sẽ không làm gì được nó đâu mà!" Bữa ăn thế là hỏng. Bà Gorenkova vật vã khóc lóc một lúc nữa. Bà Orlova ra sức an ủi bạn và cuối cùng dìu bà Gorenkova vào phòng. Lát sau bà Orlova đi ra, đặt một ngón tay lên môi ý nói giữ im lặng. Bà ra hiệu cho cô cùng dọn dẹp bàn ăn, rửa sạch bát đĩa. Rồi bà châm ấm đun nước, pha trà. "Cháu ngồi xuống đây, uống trà một lát!" - bà nói. Hai bác cháu ngồi lặng lẽ vừa uống trà vừa nhìn ra trảng rừng đằng xa. Không hiểu sao họ không nói được thêm với nhau câu nào. Ngồi được một lát, cô nói: "Thôi, cháu xin phép đi về". Bà Orlova khuyên cô nên ngồi chơi thêm một lát, đợi bà Gorenkova ngủ dậy. Nhưng cô nói cô phải chuẩn bị cho môn thi thứ ba. Bà Orlova không nói gì thêm mà lẳng lặng ra mở cửa. Cô ra về trong một tâm trạng nặng nề. Giá như cô đến mà gặp được cả ông Gorenkov ở nhà thì có lẽ cuộc trò chuyện đã không đẫm nước mắt như thế. Mười ngày nữa trôi qua. Cô đã thi xong cả bốn môn. Chỉ còn chờ lễ tổng kết, làm nốt các việc đã ghi trong lịch, là cô sẽ lên đường về nước. Khi tất cả những vất vả của thời sinh viên đã lùi xa, cô mới chợt thấy, cô không muốn rời xa đất nước này. Biết bao nhiêu kỷ niệm đã gắn bó với cô trong suốt mấy năm qua. Nhớ cái mùa đông đầu tiên được nhìn thấy tuyết, cô đã lao ra sân trường đón những khóm bông nhẹ nhàng rơi xuống và cười nắc nẻ như một con điên. Nhớ những mùa thu huy hoàng khi đường phố thắp lửa trên những tán cây. Nhớ những cơn mưa cuối thu bị ướt lướt thướt lạnh run lập cập khi cả lũ sinh viên đi giúp nông trang viên thu hoạch khoai tây. Nhớ những buổi đi chơi nướng thịt trong rừng vui ơi là vui... Nhớ những thầy cô cực kỳ tận tuỵ. Nhớ những người bạn Nga luôn sẵn lòng giúp đỡ mỗi khi gặp khó... Và nhớ Kolia, chàng trai đầu trọc vẽ bức tranh một người con gái giống cô... Nhưng nỗi nhớ cuối cùng này thật mơ hồ. Nó tồn tại mà dường như không tồn tại. Có những lúc cô thấy mối quan hệ giữa Kolia và mình thật rõ ràng, dường như có thể chạm vào và cảm nhận được. Nhưng cũng có những lúc cô thấy mối quan hệ ấy thật mỏng tang và mơ hồ. Ừ thì một người con trai đẹp trai, dí dỏm, thông minh, thoáng nhìn cũng biết là người tốt. Rồi sao nữa... Chẳng có gì. Chẳng có gì... Nhưng tại sao cô lại lo lắng cho số phận của anh đến như vậy? Một người lính ra trận, cũng bình thường như bao nhiêu người lính khác. Vậy mà chỉ cần nửa tiếng trò chuyện trên xe buýt và hai bức thư, người lính ấy đã khiến cô không còn vô tư được nữa. Như vậy là khi rời xa xứ sở này, cô mang theo trong lòng một món nợ - món nợ đối với người đã nhìn thấy cô từ trước khi gặp cô. Còn một tuần nữa là đến ngày về nước, cô nhận được điện thoại của ông Gorenkov, ông báo tin đã đi công tác về và ngỏ ý muốn đến gặp cô. Cô nói rất nhanh: "Để cháu qua nhà bác, cháu muốn qua chào tạm biệt hai bác luôn. Tuần sau cháu về nước rồi ạ!". Ông Gorenkov đáp: "Thế cũng được, hai bác chờ con". Cô đến nhà gia đình Gorenkov ngay chiều hôm đó. Như lần trước bà Gorenkova ra mở cửa. Đôi mắt buồn của bà ánh lên niềm vui khi thấy cô. Vào đến phòng khách, cô thấy ông Gorenkov bước ra. Cô đoán không nhầm: Kolia giống cha như tạc. Trên tay ông cầm một phong thư: "Thư của Kolia gửi cho con". Cô đỡ lấy bức thư và ngạc nhiên hỏi: "Sao anh ấy không gửi về ký túc xá cho cháu?". Ông Gorenkov nói: "Cháu đọc đi. Có lẽ Kolia giải thích cho cháu trong thư!" Cô mở bức thư và đọc: "Chào cô gái trong mơ của tôi, Chắc hẳn bạn sẽ rất ngạc nhiên khi nhận được bức thư này qua "trạm quân bưu" của ông bà Gorenkov. Từ nay, đây sẽ là cách duy nhất để tôi có thể gửi thư được cho bạn. Mỗi người lính sắp lên đường làm nhiệm vụ chỉ có hai địa chỉ để gửi thư: một cho bố mẹ, một cho vợ con. Trong trường hợp của tôi, thì chỉ được phép gửi đến một địa chỉ. Vì vậy thư gửi cho bạn nằm trong phong bì thư gửi cho bố mẹ tôi và họ sẽ chuyển cho bạn. Nói là sắp, nhưng tôi chưa phải đi ngay ngày mai. Vẫn còn hơn hai tháng huấn luyện nữa. Bức thư này đến tay bạn khi bạn vẫn đang còn ở Liên Xô, sống những ngày thảnh thơi cuối cùng trước hành trình trở về nhà. Ở đây tôi vẫn khoẻ. Thảnh thơi đối với tôi, đối với tất cả chúng tôi, không còn nữa. Bên ngoài kia vẫn là yên bình, nhưng trong lòng thì "bình yên chỉ vãng lai trong mộng". Luôn tin rằng những chuyện xấu nhất sẽ không xảy ra với mình, nhưng cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng rằng chuyện xấu nhất có thể đến. Ở đây, vào giây phút này, tôi bỗng thấy mình thật có lỗi, khi tự nhiên lôi bạn vào câu chuyện của tôi và khiến bạn phải lo âu một cách vô cớ. Lẽ ra bạn đã có thể rời đất nước của chúng tôi một cách rất thanh thản mà không phải khoác thêm mối quan tâm về một kẻ ngốc nghếch như tôi. Bạn sẽ ở rất xa tôi. Tôi có bạn đấy, nhưng cũng sẽ không có bạn giống như trước kia. Tôi đã từng thấy hình bóng bạn rất đậm đặc trong tâm trí tôi, nhưng lại không bao giờ với tới được. Hãy tha thứ cho tôi nhé, cho những hành động bồng bột của tôi. Lẽ ra không bao giờ nên đánh thức cái giấc mơ đẹp ở trong tôi. Chúc bạn lên đường may mắn và sớm đoàn tụ bên người thân của bạn. Người luôn nhớ bạn, Nikolai Gorenkov". (còn nữa) |
... Chuyến tàu đưa cô đi khỏi thành phố xuất hành vào lúc 8 h chiều. Phải gọi là chiều, bởi vì vào giờ đó đầu tháng 7 trời vẫn sáng như ban ngày. Cô đáp chuyến tàu đêm, sáng mai sẽ đến Mátxcơva. Ở đó vài ba ngày, làm nốt thủ tục với bộ phận quản lý sinh viên, nhận vé máy bay rồi lên đường về nhà.
Có 3 người bạn ra tiễn cô, 2 nam một nữ, toàn là những sinh viên năm dưới. Thốt nhiên cô mỉm cười, mình chẳng có người đàn ông nào đưa tiễn cả. Năm trước, cũng có vài anh ngỏ lời với cô. Nhưng cô chẳng mấy rung động. Cánh sinh viên thì trẻ quá. Các anh nghiên cứu sinh thì hầu hết đều đã có vợ con. Hơn nữa quan hệ bên này phần lớn là những liên minh hàng hoá, nên cô không thiết tha. Đưa hành lý vào kupe xong, cô quay ra bậc thang đầu toa chào những người đi tiễn. Nhạc hành khúc vang rộn ràng khắp sân ga. Một cặp trai gái Nga ôm hôn nhau thắm thiết dưới sân ga. Chàng trai đã bước lên bậc thang rồi, lại nhảy xuống hôn từ biệt người yêu thêm một lần nữa. Tự nhiên, như một phản xạ, cô đưa mắt nhìn khắp sân ga, dường như tìm kiếm một ai đó, dường như nghĩ rằng đến lúc này, sẽ có một ai đó xuất hiện, như một món quà bất ngờ của số phận dành cho người có thể sắp rời xa thành phố thân yêu này mãi mãi. Nhưng không có ai đến tiễn cô vào phút chót. Đoàn tàu rùng mình và từ từ lăn bánh. Cô vẫn đứng trên bậc thang đầu toa, mắt nhìn về phía xa. Hai chàng trai và cô gái đứng dưới sân ga vẫy rối rít: "Chúc chị thượng lộ bình an". Cô vẫy tay đáp lại, môi nở một nụ cười héo hắt. Thế là hết những tháng ngày tươi đẹp! Thế là hết thời thanh niên sôi nổi của ta! Cô cứ đứng ở đó cho đến khi đoàn tàu rời khỏi ga và nhân viên phục vụ toa đóng cửa ở bậc lên xuống và yêu cầu cô trở về chỗ ngồi. Cô đi dọc hành lang, đến trước cửa kupe của mình và ngồi xuống chiếc ghế nhỏ bên cạnh ô cửa kính. Đầu óc trống rỗng... ... Chuyến bay của Aeroflot đưa cô về nước không được suôn sẻ như mong muốn. Đến chặng dựng chân ở Calcutta, khi chuẩn bị cất cánh thực hiện nốt phần còn lại của hành trình, phi hành đoàn phát hiện hỏng hóc, không thể bay tiếp. Hành khách được thông báo phải ở lại đây một ngày chờ máy bay khác đến tiếp viện. Calcutta tháng 7 nóng như thiêu như đốt. Chiếc xe buýt đưa hành khách từ sân bay về khách sạn trong thành phố có những ô cửa sổ được lắp chấn song như xe chở tù. Khách sạn không đến nỗi nào, nhưng ba hành khách phải ghép chung một phòng vốn chỉ dành cho hai người. Cô ở chung với hai nữ ca sĩ của một đoàn nghệ thuật TP Hồ Chí Minh sang Liên Xô biểu diễn cho các công nhân xuất khẩu lao động. Mỗi người được phát một phiếu ăn tự chọn cho bữa tối. Ăn xong, hành khách lục tục kéo sang quán bar cạnh đó, nơi có dàn nhạc sống người Ấn đang biểu diễn. Máu nghệ sĩ nổi lên, các diễn viên của chúng ta xông lên mượn sân khấu. Hai cô ca sĩ ở cùng phòng với cô cũng nhảy nhót gào rú. Nhận thấy đây là cơ hội tốt để có thể được ở một mình, cô lặng lẽ trở về phòng. Cô thả mình xuống giường, và vùi mặt vào gối. Nhưng cái mùi cay cay nồng nồng không quen từ ga gối sộc vào mũi khiến cô phải quay người lại nhìn lên trần nhà. Hiện trước mắt cô khoảng trần mầu trắng vô nghĩa, mà cô đã nhìn thấy trong căn phòng cô ở ký túc xá vào buổi tối cái hôm Tania nói cho nghe tân binh đi đến Trung Á, tức là sẽ bị điều sang Afghanistan. Chỉ có điều không gian ở đây có thêm tiếng lạch cạch đều đều một cách khó chịu của máy điều hoà không khí. Cô với tay lấy túi xách và lôi ra ba bức thư của Kolia. Cô gần như đã thuộc lòng những dòng chữ viết trong đó. Nhắm mắt cũng có thể đọc được. Nhưng cô vẫn muốn cầm lấy những bức thư, nhìn thấy những dòng chữ viết tay của Kolia, đọc chúng bằng mắt. Cô vẫn nhớ cái cảm giác khi đọc bức thư thứ ba. Có một cái gì đó thật bẽ bàng: Anh làm quen với tôi thật ấn tượng, anh khoác lên tâm hồn tôi mối lo âu về số phận của anh, để rồi anh nói rằng anh hối hận đã lôi tôi vào trò chơi của mình. Hai bức thư đầu, anh ký thật giản dị, “tạm biệt” kèm tên gọi thân mật “Kolia”, nhưng sang bức thứ ba anh ký trịnh trọng “Người luôn nhớ bạn” với đầy đủ họ tên “Nikolai Gorenkov”, giống hệt câu cuối trong bài thơ đoạn tình “Bức thư gửi người đàn bà” của Sergei Esenin. Phải chăng anh không còn cần tôi nữa. Phải chăng tất cả những gì đã có giữa chúng ta, cho dù là chưa sâu đậm, nhưng cũng đủ làm tôi phải suy nghĩ, trăn trở, chỉ là trò đùa? Nếu như vậy thì, Nikolai Gorenkov, anh quả là người độc ác! |
Hà Nội đón cô trở về với không khí nóng ẩm, mồ hôi lúc nào cũng rịn trên da, gây một cảm giác nhớp nháp khó chịu. Những đường phố đầy bụi nóng như rang. Mùa hè chỉ ngồi yên một chỗ mà ngồi thở cũng đủ mệt, chứ đừng nói làm gì.
Nhưng dù sao cũng về đến Hà Nội và đang ở nhà. Điều đó khiến cô nguôi ngoai phần nào. Cô cũng quên cái đêm giận dữ ở Calcutta. Cô nghĩ chẳng qua Kolia muốn cô hãy quên anh đi, không cần vương vấn bận tâm làm gì nữa, nên mới viết như vậy. Một trong những bức thư đầu tiên cô viết cho bạn bè, thầy cô giáo và những người thân quen ở Liên Xô, gửi ông bà Gorenkov. Cô viết, cô đã về đến nhà bình an vô sự. Cô sẽ nghỉ ngơi mấy tháng rồi tìm việc làm. Cô nhờ ông bà nếu có thư Kolia viết cho cô gửi về đó, thì hãy chuyển sang Việt Nam cho cô. Vài tuần sau cô nhận được thư trả lời. Người viết là ông Gorenkov. Ông thông báo, từ hôm cô về đến nay, gia đình ông không nhận được thêm thư nào của Kolia. Có lẽ anh đã được điều sang Afghnistan. Mặc dù vợ chồng ông rất lo lắng, song luôn hy vọng Kolia sẽ trở về. Ông sẽ chuyển lời hỏi thăm của cô tới con trai và mong muốn cô thường xuyên liên lạc với gia đình. "Đối với hai bác, con như là con gái trong nhà. Con đã xuất hiện trong nhà bác từ khá lâu và hai bác đều rất yêu quý con". Cô viết thư trả lời, rằng cô sẽ duy trì liên lạc thường xuyên với ông bà. Cô thú thực: "Ngoài hai bác ra, cháu chẳng còn biết hỏi qua ai tin tức về Kolia". Ba tháng đầu tiên, cô viết khá chăm chỉ. Nhưng đến tháng 10, cô xin được việc làm, trở nên bận rộn thì việc viết lách có thưa dần. Cô cũng giải thích lý do và mong ông bà Gorenkov thông cảm. Cô chuyển sang quan tâm đến thời sự quốc tế. Hầu như không chịu bỏ chương trình thời sự nào của Đài truyền hình trung ương phát lúc 19 giờ hàng ngày. Bản tin quốc tế thu qua trạm vệ tinh mặt đất "Hoa sen" được cô chú ý hơn cả. Bố cô tấm tắc khen: "Đi Liên Xô về có khác, bản lĩnh chính trị vững hẳn!" Nhưng ông đâu có biết rằng cô chỉ quan tâm đến tình hình chiến sự ở Afghanistan. Thời đó báo chí ít, truyền hình có đưa tin chiến sự, thì cũng đa phần là chiến thắng của quân tình nguyện Xôviết trong các cuộc giao tranh với lực lượng mujahideen. Đó cũng là thời điểm Liên Xô bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan. Cứ mỗi lần có đợt rút quân, là cô lại chầu trực bên máy thu hình, căng mắt nhìn những người lính ngồi trên xe tăng đi qua biên giới, hay những cảnh đón tiếp rơi nước mắt những người con trở về trên đất Liên Xô, để xem có gương mặt của Kolia hay không? Nhưng cô không một lần thấy gương mặt đã gặp gần 2 năm trước. Cô tự nhủ thầm, lính Liên Xô hàng vạn người, làm sao truyền hình quay được hết. Mà nếu có quay được, thì gương mặt Kolia hẳn cũng đã đổi khác sau những sương gió đạn bom của chiến tranh, làm sao cô còn nhận ra? Ngày 15.2.1989, những đơn vị cuối cùng của quân đội Liên Xô rút khỏi Afghnistan. Mặc dù không vẫn không nhìn ra Kolia trong số những gương mặt vừa sung sướng vừa thất thần của những người lính được bỏ lại sau lưng mảnh đất chết chóc, nhưng cô vẫn rất vui. Cô viết thư cho ông bà Gorenkov: "Cháu rất vui vì tất cả những người lính đã trở về. Cháu hy vọng sớm nhận được tin vui về Kolia". Nhưng cô lại không tính được rằng đến lúc đó, Kolia đã nhập ngũ được 2 năm 7 tháng, nhiều hơn 7 tháng so với thời hạn. Lẽ ra anh đã phải gửi thư cho cô từ lâu. Hai tuần sau, cô nhận được thư của ông Gorenkov: "Đúng là vui thật. Cuối cùng thì cuộc chiến tranh khốn kiếp đó đã chấm dứt. Hai bác đang chờ Kolia trở về". Bẵng đi một thời gian không có thư, đến mùa thu cô nhận được một tấm bưu thiếp với dòng chữ: "Cháu còn ở địa chỉ này không. Báo lại để bác gửi bưu phẩm". Cô vội vã trả lời: "Vâng, cháu vẫn ở địa chỉ cũ". (còn nữa) |
Cảm ơn bác Mien trung đã post truyện. Câu chuyện rất gần gũi và chân thật. Chờ những phần tiếp theo của bác.
|
Một tháng sau, cô nhận được giấy báo lên Bưu điện Bờ Hồ nhận bưu phẩm. Người nhân viên bưu điện hỏi lạnh lùng: "Chị có biết ai gửi bưu phẩm cho chị không?". Cô đáp: "Có, bố mẹ nuôi của tôi". "Người nước ngoài à?" - "Vâng, người Nga"!
... Cô nhân viên bưu điện nhìn thẳng vào mặt cô dò xét, rồi hất hàm: "Đi sang kia làm thủ tục hải quan". Bưu phẩm là một cuộn hình ống dài chừng hai gang tay. Nhác trông thấy nó, cô đã thấy run. Tim cô đập dồn dập và miệng đắng ngắt. Anh nhân viên hải quan đưa cho cô tờ giấy: "Cô điền vào tờ khai, rồi vào đây mở bưu phẩm". Cô đỡ lấy tờ khai và run run hỏi: "Liệu không mở bưu phẩm có được không ạ?' Người hải quan trợn mắt: "Không mở thì làm sao kiểm soát được bên trong có gì? Nhỡ trong ấy có hàng quốc cấm thì sao?". Giọng cô đã lạc đi: "Em cam đoan là không có hàng quốc cấm đâu ạ. Trong đấy có vài thứ rất... riêng tư. Chắc chắn là như vậy ạ!". Người hải quan lắc đầu cương quyết: "Đây là việc của chúng tôi. Riêng tư mấy chúng tôi cũng phải mở!". Cô cắn môi: "Anh ơi, trong đó chỉ có kỷ vật của một người lính đã... hy sinh thôi ạ". Không hiểu sao cô lại nói ra điều ấy. Cái điều mới chỉ lờ mờ lướt trong đầu cô kể từ khi cô nhận được tấm bưu thiếp của ông bà Gorenkov yêu cầu khẳng định địa chỉ để gửi bưu phẩm. Cô mong sao điều đó chỉ là một giả thiết và chỉ chiếm vài phần trăm khả năng sự thật. Nhưng vào giây phút người hải quan định mở bưu phẩm, thì cô lại thốt ra cái điều mà cô không bao giờ tin. Người hải quan ngừng tay lại nhìn cô. Hàng ngày, anh phải tiếp xúc với bao nhiêu loại người đến đây nhận hàng. Anh biết đủ các loại mánh khoé. Nhưng cô gái này lần đầu tiên anh gặp, và gương mặt méo xệch của cô, giọng nói vừa lạc vừa run của cô, đôi mắt khẩn khoản của cô cho anh biết rằng cô không có ý định lừa dối anh. - Đằng nào cô chẳng phải mở ra... - người hải quan nói như phân bua. - Vâng ạ, nhưng... nhưng không phải là mở ở chỗ này, giữa bao nhiêu người thế này... - Nhưng cô phải hiểu chúng tôi có nhiệm vụ kiểm hàng nhập khẩu. - Không có hàng đâu ạ. Đó... đó chỉ là bức tranh thôi ạ. - Làm sao cô biết được trong đó chỉ là bức tranh. - Dạ, linh tính của em bảo thế. Người hải quan cười nhạt: "Cô thật buồn cười. Công việc của tôi mà cô lại đem linh tính ra đây. Kiểm bưu phẩm từ nước ngoài gửi về là nhiệm vụ của hải quan theo quy định nhà nước. Nhưng cô đã nói vậy, thì tôi linh động để cho cô tự mở. Cô có thể đem gói này đến chỗ cái bàn ở góc quầy kia, mở ra, rồi mang lại đây để tôi ghi vào phiếu hải quan". Không có cách nào khác, cô làm theo lời của người hải quan. Tay run run bẻ con dấu xi, tháo những chiếc dây buộc quay cái ống theo hình lưới mắt cáo, gỡ lớp giấy tráng nhựa, cô thấy một cái ống nhựa. Rút đầu ống nhựa ra, cô thấy những tấm giấy trôki. Cô run rấy lôi những tấm giấy ra khỏi ống. Quả nhiên, đó là những bức tranh. Bốn bức tranh... Tất cả đều là những ký hoạ bằng bút chì và nhân vật trong cả bốn bức tranh đều là một người con gái... Là cô! Ở bức thứ nhất, cô thấy cô trong trang phục khoẻ khoắn đứng bám tay vào chiếc cột inox trên chuyến xe buýt đông người. Ở bức thứ hai, cô mặc áo dài đội nón, nhưng áo dài thì quá ngắn, nón thì quá nông, giống hệt cách thể hiện của người nước ngoài khi họ vẽ phụ nữ Việt Nam trong trang phục truyền thống. Ở bức thứ ba, cô mặc bộ trang phục nào đó của một dân tộc vùng Trung Á. Bức cuối cùng là cô trong hình hài một cô gái Nga, mặc sarafan trắng, trên đầu đội vòng hoa đồng nội. Cô đứng nhìn những bức tranh, nước mắt chảy chan hoà trên má. Rồi cô ôm những bức tranh và tiện tay vơ cả ống lấy giấy và dây gói đồ mang lại chỗ anh hải quan. Anh ta vẫn để ý cô từ nãy tới giờ, liếc nhìn chiếc bàn xem cô có để lại thứ gì không. Xem các bức tranh, anh ghi vào tờ khai hải quan: "4 bức tranh vẽ bằng bút chì trên giấy trắng". Anh lẳng lặng ký, đóng dấu "đã làm thủ tục hải quan" và chuyển một liên lại cho cô. Có lẽ kể từ khi làm việc ở đây đến giờ, anh chưa bao giờ thấy người ta gửi những thứ kỳ dị như vậy qua bưu phẩm từ nước ngoài. |
... Cô đạp xe thật nhanh về nhà. Trải những bức tranh ra chiếc bàn kê sát cửa sổ, xem lại chiếc ống một lần nữa và tìm thấy trong đó một phong thư. Lá thư của ông Gorenkov.
"Con gái yêu quý, Con đang cầm trong tay những kỷ vật của Kolia. Nó đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó ở Afghanistan, một địa danh xa lạ ở một đất nước xa vời mà hai bác không bao giờ biết được. Sau khi quân đội Liên Xô được rút hết khỏi Afghanistan, hai bác hay tin: Kolia bị liệt vào dạng mất tích. Nhưng mãi đến gần đây, một đồng đội của Kolia mới vượt hàng nghìn km đến gặp hai bác để trao lại đồ đạc và những kỷ vật của nó. Anh ấy nói rằng Kolia đã tử nạn và đó là một câu chuyện dài, đau lòng mà bác chưa thể kể cho con nghe được. Bác gửi cho con những bức tranh mà Kolia vẽ. Chúng là của con và con là người xứng đáng được lưu giữ chúng. Kolia không còn nữa, nhưng đối với hai bác, con mãi là một người thân trong gia đình. Hãy viết thư cho hai bác và nếu có dịp sang Liên Xô, thì hãy biết rằng căn nhà bác luôn mở rộng cửa đón con. Bác thành tâm mong con hạnh phúc và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Sergey Gorenkov" ...Cô ngồi xuống ghế, đưa những ngón tay run rẩy lên mặt giấy trôki. Cô vẫn đủ tỉnh táo để không vuốt mạnh ngón tay xuống mặt giấy, sợ sẽ làm nhoè vết chì. Những tấm giấy không còn phẳng phiu nữa, nhưng cũng không bị quăn sờn, chứng tỏ chủ nhân của chúng đã rất dầy công giữ gìn. Mặt giấy đã hơn ngả sang màu vàng, xem ra những bức tranh đã được vẽ từ cách đây năm rưỡi hai năm. Những tấm giấy này đã từng nằm trong tay Kolia. Anh đã đặt chúng lên đùi, lên balô, hay lên một mặt phẳng tạm bợ nào đó để vẽ. Cô cúi xuống sát những bức tranh ngõ hầu tìm kiếm một mùi vị vô định nào đó, nhưng từ đó chỉ toát ra mùi thơm của bưu phẩm gửi từ nước ngoài mà người ta thường gọi là "mùi tây"... Rồi cô đứng dậy đi ra phía tủ thờ, châm một nén hương, chắp tay thì thầm: "Kolia, em đã nhận được những bức tranh của anh. Cảm ơn anh đã luôn nhớ tới em. Hãy tha lỗi cho em vì không đủ sức lôi anh khỏi tay thần chết. Cầu mong anh được yên nghỉ nơi suối vàng!". Cô gục đầu vào thành tủ thờ và khóc nức lên... ... Đó là mùa xuân đầu tiên Kolia xa nhà. Đơn vị anh khi đó đóng trên một điểm cao bảo vệ cho con đường huyết mạch vận chuyển vũ khí đạn dược và lương thực chạy ở bên dưới. Từ điểm cao có thể bao quát được một vùng rộng lớn. Cảnh tượng ở đây thật đẹp. Phía xa có một con thác đổ nước tung bọt trắng xoá tạo thành một dòng suối khá lớn chạy về hướng này. Rất may, con đường không chạy song song với con suối mà cắt con suối ở một điểm rất dễ quan sát từ một mỏm đá nhô ra từ trên điểm cao. Có một đêm rạng sáng Kolia canh gác gần mỏm đá đó. Đêm đó thật yên tĩnh. Có cảm giác như đất nước này không còn chiến tranh nữa. Hơi thở mùa xuân đang rón rén từng bước chân trên mảnh đất khô cằn và đầy mảnh đạn. Trời dần hửng sáng, và trước mắt Kolia hiện lên một cảnh tuợng đẹp dữ dội và hoang dã. Những thớ đất mầu đen bắt đầu cựa quậy, những ngọn núi ở phía xa bắt đầu hiện hình, và mặc dù không có cây, nhưng chúng bắt đầu được tô màu xanh lam. Kế đến những vạt đồi quay mặt về hướng mặt trời được tô màu vàng nhạt. Con suối ở khuất mé đồi bên này vẫn còn ngủ yên trong mầu xanh thẫm. Ngược lên một chút, thác nước phản chiếu ánh mặt trời tạo ra một cầu vồng nhỏ. Thiên nhiên tranh thủ một khoảnh khắc yên lặng để phô diễn vẻ đẹp mê hoặc của nó. Kolia đứng ngây người ra ngắm bình minh hoang dại ở đất nước xa lạ. Anh hít thở thật sâu vì biết rằng khoảng khắc yên lặng ấy sẽ biết mất trong giây lát. Anh chợt nghĩ lẽ ra mình phải ghi lại được khoảnh khắc này, dẫu chỉ bằng chì đen thôi cũng được. Nhưng anh không thể chạy về lán trại vì đang ở trong phiên gác. Kolia tự nhủ thầm, nhất định anh phải ghi lại bằng được cảnh tượng huy hoàng này. Đêm sau không phải là phiên gác của Kolia. Nhưng anh bí mật trở dậy vào lúc rạng sáng. Mang giấy và bút chì đến bên người đồng đội đang đứng gác, Kolia giải thích anh muốn ngắm cảnh bình minh và mong người bạn không báo cáo lại việc này với cấp trên. Người đồng đội lặng lẽ gật đầu. Kolia tiến về phía mỏm đá, vươn vai khoan khoái. Lát sau mặt trời ló rạng và cảnh tượng huy hoàng lại tái hiện. Kolia tiến thêm vài bước đến điểm trung tâm của mỏm đá. Và đúng lúc đó vang lên một tiếng nổ trầm đục, một quầng lửa bừng sáng bao trùm lấy người anh. Người đồng đội hét lên một tiếng thất thanh: "Koliiiiiiiiiaaaaaaaaa!" Anh đã đạp phải mìn. Một loại mìn của Mỹ có tính sát thương cực lớn xé con người ta ra thành từng mảnh và hầu như không để lại dấu vết. Chiến tranh không bao giờ quên rằng nó đang diễn tiến, chỉ có con người với trái tim biết rung cảm trước vẻ đẹp mới tự cho phép mình quên đi chiến tranh trong giây lát. Chàng trai trên xe buýt đã hy sinh như thế... *** - Bác Gorenkov không bao giờ kể chuyện Kolia đã hy sinh như thế nào. Mình cũng ngại hỏi, vì không muốn gợi lại nỗi đau của người khác - chị kể sau khi rót cho tôi một chén trà đen pha bằng ấm samovar. - Thế tại sao cậu lại biết chuyện anh ấy đạp phải mìn? - Tôi đặt tách trà đang uống xuống bàn. - Có một đêm tớ mơ thấy giấc mơ kỳ lạ ấy. Tớ thấy rõ ràng tớ cũng bước ra mỏm đá ấy với Kolia và cái quầng lửa ấy cũng cuốn chặt lấy tớ và nhấc bổng tớ lên cao. Tớ thấy hẫng đi và như bay vào vô định. Đúng lúc ấy thì tớ tỉnh dậy, mồ hôi toát ra đầm đìa. Tớ tin chắc rằng Kolia đã hiện về báo mộng cho tớ biết. Căn nhà 4 tầng của chị nằm trên đường Linh Lang yên tĩnh gần hồ Thủ Lệ. Chị sống với chồng cùng hai con ở đây. Trên tầng 4 cạnh phòng thờ và thư viện đồng thời là nơi chồng chị làm việc có một căn phòng nhỏ mà chị gọi là phòng Liên Xô. Đấy như một cái bảo tàng viện nho nhỏ của chị với những đồ vật chị mang về từ cái lần đi đóng hàng vào buổi chiều cuối tháng 6 năm 1986. Nay chúng chẳng còn sử dụng được vào việc gì nữa. Trên một bức tường có treo bốn bức tranh vẽ chị trong bốn loại trang phục khác nhau. Nét vẽ thật sinh động và thật giống chị, khiến ai nhìn thấy mà không biết chuyện đều nghĩ chắc chị phải bỏ ra nhiều giờ để làm mẫu cho hoạ sĩ. Chồng chị giới thiệu: "Khi nào buồn bực, vợ mình hay vào phòng đó. Cũng hay ông ạ, nhờ vậy nhà mình chẳng bao giờ có chiến tranh..." Hình như anh không biết chuyện Kolia... |
Bí mật của lão Khoa ở nước Nga
(Chuyện từ blog của nhà thơ Trần Đăng Khoa) Gọi là "bí mật", nhưng thực ra cũng chẳng còn gì là "bí mật" nữa bởi lão Khoa cũng đã có lần kể qua ở đâu đó, hình như trên truyền hình, mà chuyện xảy ra cũng lâu rồi, về cái chuyện lão đi thi hồi lão học bên Nga, cái chuyện cô gái Nga nào đó giúp lão ... À, đấy là kỳ thi đầu tiên năm thứ nhất. Khi đó tôi đã là một lão già... 28 tuổi. Tôi gọi là lão già, vì mình nhiều tuổi nhất lớp, đã bôn ba đời lính mười năm rồi mới trở lại làm học trò. Bạn bè Nga cùng học chỉ 17-18 tuổi thôi. Họ là những học sinh mới từ phổ thông lên. Tôi không còn là trẻ con nên không câu nệ lắm về điểm thi. Hơn nữa, lại là một lão già thực dụng, nên tôi chỉ học những gì mình thấy thiếu, thấy cần thiết. Nghĩa là học cho mình, chứ không học cho các... thầy cô. Có những môn rất nặng, nhưng học rồi cũng không biết để làm gì nên tôi bỏ, chỉ lướt qua quít, ví như Tiếng Nga cổ. Thực ra môn này cũng rất hay, rất cần thiết, nếu như mình theo nghề nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng mình chỉ là anh sáng tác «a ma tơ», lại là dân ngoại quốc, tiếng Nga hiện đại còn chưa vỡ, thì lọ mọ lục lọi đống chữ cũ của người ta làm gì. Năm thứ nhất ú ớ lắm nhưng lại thi nhiều môn rất nặng đối với người nước ngoài, nên thày cũng có phần xuê xoa. Tôi lên bốc câu hỏi thi rồi về chỗ chuẩn bị. Ngồi bên tôi là Nhina Rưbacova, một cô bé rất đẹp. Ngày thường, các cô gái Nga thường xúng xính nhiều bộ mốt rất rực rỡ. Nhưng hôm đi thi, các nàng thường chỉ diện một loại váy xếp, không có cúc hay phécmơtuya. Tôi chỉ vào câu hỏi đặt trước mặt: «Cái này là cái gì? Tớ chả hiểu gì cả...». Nhina Rưbacova nhìn lướt qua rồi khẽ vảy tay. Từ trong ống tay áo của cô bé xòe ra cả một đống tà phướn. Cô bé rút một «lá bùa» đưa cho tôi. Đó là đáp án của câu hỏi tôi cần. Những dòng chữ lí nhí, lại viết tắt. «Cậu viết thế này thì đến quỷ cũng không hiểu nổi...». Cô bé luồn tay xuống gầm bàn, vắt phải rồi vắt trái cái màn váy buông lõa tõa. Tôi chỉ thấy trắng lóa một vùng. Trắng đến hoa cả mắt. Rồi cô bé rút ra một cuốn sách giáo khoa. Cuốn sách dày bịch, nặng đến chừng... 5 ký, mà chẳng biết cô bé giấu ở xó xỉnh xỉnh nào mà giấu tài thế. Thế rồi nhanh như cắt, cô lật ngay ra cái trang mà tôi cần tìm. Tôi nói thì ú ớ, nhưng đọc rất tốt. Còn 5, 6 sinh viên nữa mới đến lượt mình, nhưng tôi chen lên ngay, bước rất hiên ngang, rất tự tin, cứ như câu hỏi của thày chỉ là chuyện vặt. Trước khi trả lời thày, tôi còn hỏi : «Thày thấy thời tiết hôm nay thế nào?». «Đẹp lắm anh bạn ạ - Thày chỉ qua khung cửa sổ - Nắng nhảy nhót như sóc trong khu vườn kia... ». «Thế mà em rét lắm. Ngồi trước mặt thày thì sinh viên nào cũng rét, dù có mặc cả áo bành tô». Thày cười sặc sụa và tôi bắt đầu thao thao bất tuyệt. Tôi nói rất nhanh. Lúc nào bí, tôi lại hỏi thày : «Em nói thế, thày có hiểu không?». «Hiểu. Hiểu. Tốt. Anh bạn nói tốt lắm!». «Thế thì thày tài quá – Tôi nức nở khen thày – Thày hiểu được điều em nói, trong khi chính em lại hoàn toàn không hiểu em đang nói cái gì... ». Cả phòng thi cười ồ. Thày cũng cười rất sảng khoái rồi cho tôi điểm 5. Điểm ở nấc cao nhất. Tôi đi tua một vòng qua phố rồi quay lại thi môn thứ hai. Thật bất ngờ khi tôi thấy Nhina Rưbacova vẫn còn ngồi ở hành lang chờ thi, mắt đỏ hoe. Vị cứu tinh của tôi bị hai điểm đang muốn xin thi lại. Tôi bèn đến gặp thày. «Ồ, có chuyện gì thế, anh bạn?». «Xin thày chuyển điểm 5 của em cho Nhina Rưbacova. Vừa rồi cô ấy bảo em đấy. Chứ em dốt lắm». «Có. Tôi có biết cô ấy cho anh xem cái gì rồi. Cô ấy rất xinh đẹp, chỉ tiếc câu hỏi của tôi, cô ấy lại trả lời rất tồi. Vừa nãy, cho anh điểm cao nhất, tôi đã nghĩ mình quá dễ dãi. Nhưng bây giờ, tôi thấy tôi đánh giá anh chính xác. Đấy là điểm tôi cho anh về sự trung thực. Chứ thực ra anh nói gì, tôi có hiểu anh nói gì đâu...». Có lần anh bảo tôi «Thím ạ, thiên hạ sẽ không bao giờ để cho ta yên đâu. Mình muộn vợ, họ bảo mình có vấn đề giới tính, vấn đề tâm sinh lý. Mình lấy vợ rồi, họ bảo chắc gì đã có con. Mình có con, họ bảo chắc gì đã phải con của mình. Cứ thế». Nghe thiên hạ đồn: Hồi học ở Nga, bạn cùng phòng có mang bạn gái về ngủ trong phòng, anh cũng không hé mắt. Theo anh, cái tâm lý hay nhòm qua lỗ khóa nhà người khác và “hạnh phúc của họ là bất hạnh của ta” ở người Việt Nam mình, nhất là dân miền Bắc mình, đáng thương hay đáng giận? Đó là điều ghê rợn, chứ không còn là chuyện thương hay giận nữa. Ở một số người Việt có một đức tính rất đáng sợ đó là sự vô cảm. Vô cảm trước nỗi đau của người khác nhưng lại tò mò, tọc mạch những chuyện riêng tư của người ta. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng có những câu thơ rất đắng đót nói về thói xấu này: “Gập ghềnh đường tôi đi – Không một ai ngó tới – Bỗng nhiên họ xúm lại – Dính bùn, tôi trượt chân – Không phải đỡ tôi lên – Họ xem cho đỡ tẻ…”. Mình học được nhiều điều rất hay của thiên hạ. Có một đức tính mình thích nhất ở người Nga là chuyện đâu bỏ đó. Không chõ mũi vào nhà người khác, nếu ở đó không có gì liên quan đến mình. Ở nước Nga, một cặp tình nhân khỏa thân ôm nhau trong phòng, dù có mở toang cửa cũng chẳng ai nhìn, thậm chí mọi người còn tránh xa để không làm phiền họ. Nhiều cặp trai gái ôm nhau, hôn nhau trong toa tầu điện ngầm, có ai để ý đâu. Đấy là cõi riêng của họ. Chỉ có họ ngự trị. Nếu có người nhìn thì chỉ người Việt mình thôi. Đấy là một hành động rất man rợ mà chúng ta không tự biết. Tôi học được của người Nga rất nhiều bài học ở bên ngoài giáo trình Đại học. Hồi ấy tôi ở chung phòng với ông bạn Nga Ivan Navichxki. Tôi cũng đã viết khá nhiều về ông bạn vàng này. Riêng có một chuyện ta không viết mà không hiểu sao thím lại biết? Đấy là chuyện riêng của Ivan. Anh bạn có cô bồ trẻ. Chàng cứ băn khoăn. Nếu cần phải có một phòng riêng thì người phải ra khỏi phòng là Ivan chứ không phải ta, vì ta là khách ngoại quốc. Ta bảo: Các bạn cứ thoải mái. Đừng quan tâm đến tớ làm gì. Mất vui. Thế là họ lên tiên. Còn mình nằm quay mặt vào tường và… đọc sách. Hai cái giường kê sát nhau. Nhưng đó là hai thế giới hoàn toàn riêng biệt. Cả hai xứ sở đều tự do tuyệt đối. Nhưng cũng có một bài học rất hay của người Nga mà ta không học được. Sự kém cỏi này, làm ông bạn Ivan rất… khinh bỉ ta. Sự việc bắt đầu từ buổi Ximena tác phẩm của Nhina Rubacova, một cô bạn Nga rất đẹp. Vị cứu tinh của ta mà ta đã kể ở trên. Thơ Nhina Rưbacova rất ngộ: “Những quả đồi khỏa thân - Nằm mê man như những người đàn bà - Trong lúc chúa trời đang táy máy. Rồi Những con quạ - Nhìn ta - Bằng con mắt nghĩa địa - Sỏi đá rì rầm - Hiện tại của tôi là tương lai của bạn. Thơ ấy không hề dở. Thậm chí còn hay là đằng khác. Nhưng bè bạn chê dữ quá. Chỉ có mỗi ta khen. Nhưng ta không khen thơ mà khen cô ấy đẹp. Ta còn nói với lũ đầu gấu đang xỉa xói cô ấy rằng: “Các bạn hãy nhìn lại đi. Có phải Natasa vừa bước từ trang sách của L. Tonxtoi ra không? Không! Natasa còn có có vết chủng đậu mờ mờ ở cánh tay, còn nàng tiên cá này không có khuyết tật gì cả. Cái nhược điểm lớn nhất của Nhina là không có nhược điểm gì”. Mọi người vỗ tay còn cô bé mặt đỏ bừng rạng rỡ. Tưởng chỉ là chuyện vui. Ai ngờ tôi ấy, Nhina gõ cửa phòng mình. Dạo ấy, nhà thơ Chế Lan Viên vừa gửi sang tặng mình tập thơ Hàn Mặc Tử do tỉnh Nghĩa Bình in do ông tuyển chọn và viết tựa. Đấy cũng là lần đầu tiên, thơ Hàn Mạc Tử được in lại và phát hành rộng rãi. Mình giới thiệu với Nhina về Hàn Mạc Tử và còn bảo: “Đây là B. Paternac của Việt Nam”. Rồi mình đọc một bài thơ bằng âm tiếng Việt để cô bé nghe nhạc điệu, rồi dịch ý một bài thơ bốn câu. Nhina bảo: “Sao giống thơ cổ điển Trung Quốc thế?”. Mình bảo, không phải thơ của chúng tớ giống thơ Đường Trung Quốc đâu, mà thơ Đường bắt chước thơ chúng tớ đấy. Cả các công trình lăng tẩm, đền đài ở Huế cũng vậy, họ toàn bắt chước chúng tớ để xây dựng Tử Cấm thành, bắt chước chúng tớ nhưng lại xây trước chúng tớ đến cả mấy trăm năm. Thế mới “đểu” chứ. Cô bé cười ngặt nghẽo. Ivan về giơ một ngón tay lên, làm một cử chỉ rất kỳ quặc, rồi anh bạn ôm chăn mền ra ngoài phòng. Mình chẳng hiểu gì cả. Rồi đêm ấy, không thấy Ivan về. Mình lại thấy Nhina ôm chăn mền sang trải trên chiếc giường của Ivan. Rồi cô bé tắt điện trút bỏ quần áo chui vào chăn. Mình lại tưởng phòng cô bạn có khách, nên phải sang ngủ nhờ giường Ivan. Thế là bọn mình lại tiếp tục chõ miệng sang giường bên trò chuyện. Rồi mình ngủ lúc nào chẳng biết nữa. Sáng hôm sau, Ivan “khinh bỉ” mình ra mặt: “Mày là một thằng nhà thơ rất tốt nhưng là một thằng đàn ông vô cùng tồi tệ. Mày không phải là đàn ông”. Bây giờ, nghĩ lại, vẫn còn thấy bàng hoàng. Đúng là mình kinh tởm thật! |
Chú masha90 rất giỏi tiếng Nga, trong sân chơi này chú cũng giỏi che chắn cho những tư tưởng cực đoan, dân tộc chủ nghĩa, gây ra sự chia rẻ ngày càng trầm trọng trong diễn đàn!
|
Hai tự chuyện chân thành và mộc mạc dưới đây của tác giả QVM, những bạn nào đã từng say mê văn học Nga, yêu thích tiếng Nga, yêu đất nước Nga và con người Nga... đều có thể tìm thấy ít nhiều bóng dáng của mình trong các chuyện kể dưới đây:
1.Tiếng Nga trong tôi Quán Vi Miên (05.05.2013) Năm 1988, về nước, trong thùng hàng tàu biển của tôi có đến một nửa là sách. Mấy năm tiếp sau là những năm khó khăn nhưng tôi vẫn âm thầm giữ những cuốn sách Nga, thỉnh thoảng lại đưa ra đọc. Đọc để nhớ. Đọc để giữ tình yêu với nước Nga, tiếng Nga. Nhiều người bỏ tiếng Nga (sau khi Liên Xô sụp đổ 1991), sang học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung. Đây là thời điểm tôi mua được nhiều sách tiếng Nga, sách dịch của Nga nhất, ở trong các hiệu sách, vì người ta không chú ý đến tiếng Nga nữa Tôi sinh ra và lớn lên trong một bản Thái ở miền Tây xứ Nghệ xa xôi hẻo lánh. Hẻo lánh nhưng rất may là cũng có một cái chợ ở gần bản. Khoảng 6, 7 tuổi là tôi đã rủ bạn lân la ra chợ chơi. Chợ hấp dẫn tôi vì mấy cái kẹo kéo, bát phở hay là bánh mướt của người Kinh – tất nhiên rồi. Nhưng còn có một thứ nữa hấp dẫn tôi không kém – đó là sách. Có một cái sạp sách nhỏ ở cuối chợ. Tôi xin phép chủ quán cầm một cuốn sách lên xem. Chao ôi! Sách vẽ toàn cảnh bộ đội đánh giặc, thích quá! Ở một quyển khác là cảnh thành phố, cảnh ô tô, cảnh nhà máy…Tôi chưa biết chữ; chưa đi học; chưa có trường, nhưng xem tranh cũng đã sướng! Ít lâu sau thì mấy bản trong vùng tìm được một người biết chữ để dạy vỡ lòng (lớp 1) cho bọn trẻ con chúng tôi. Đó là vào khoảng cuối những năm 50 của thế kỷ trước. Tôi xin bố được 5 hào ra chợ mua một cuốn sách thiếu nhi về “đọc” – tập “ê a” các chữ cái, tập đánh vần…Tóm lại, sách “dạy” tôi đọc, viết, nói tiếng Kinh. Năm 1960 có trường, có giáo viên miền xuôi lên dạy, tôi sung sướng vào học cấp 1. Biết đọc thông thạo, tôi thường xuyên ra chợ xem có sách mới là mua ngay. Tôi thích đọc Tô Hoài, Phong Thu, Lê Khắc Hoan, v.v…Chiến tranh chống Mỹ bùng nổ (1964), tôi học lên cấp 2, cũng là lúc tôi bắt đầu biết đến sách Liên Xô, biết đến văn học Xô Viết. Trường sơ tán vào rừng sâu, học dưới hầm lũy, nhưng có dịp là tôi lại tìm đến hiệu sách của huyện (lúc này cũng sơ tán trong rừng), mua những cuốn sách của Gorky, Simonov, Polevoi, Gaida, Kazakevich, Ostrovsky, Erenburg, Fadeev, Solokhov, v.v… “Chủ nghĩa anh hùng Xô Viết” qua sách đã “truyền lửa” sang tôi. Liên Xô – vị cứu tinh nhân loại, luôn “sống” trong tôi; những Pavel Korsaghin, những Kachiusa, v.v… thúc giục tôi học tập, rèn luyện, để đến một ngày nào đó cầm súng ra trận. Liên Xô – những con người có lý tưởng cao đẹp, có sức hấp dẫn làm sao! Đến tuổi 18, tôi đi tuyển nghĩa vụ quân sự, sẵn sàng nhập ngũ. Nhưng tôi đã bị loại vì thị lực kém. Lên cấp 3, bạn học đi bộ đội trống hẳn các lớp. Tôi liền bỏ ngang đi trung cấp sư phạm. Trường sơ tán lên đầu nguồn suối, học hành rất gian khổ, thiếu thốn. Nhưng bù lại, tôi lại được học với các giáo viên rất giỏi về chuyên môn, rất giàu tình cảm yêu thương sinh viên, và rất cao về tinh thần trách nhiệm. Thầy giáo dạy văn của tôi là một người rất giỏi về văn học Nga. Ông giảng rất hay về Gogol, Pushkin, L.Tolstoy, Dostoevsky, Lermontov, Turghenev, Sekhov, v.v… Nước Nga, Liên Xô – đối với tôi là “đỉnh cao chói lọi” về văn chương, là “người khổng lồ” về văn học. Mặc máy bay Mỹ quấy rối ngày đêm, tôi vẫn “mặc kệ”, vùi đầu vào các trang sách văn học Nga (trong thư viện trường hoặc ra ngoài mua được). Tôi “sống” với các chàng Ivan, các nàng Natasa, v.v… của tôi. Họ rất đẹp, rất thánh thiện, rất “người”. Một đất nước, một dân tộc như vậy thì sẽ phát triển rực rỡ trên hành tinh của chúng ta - tôi tin như vậy. Tốt nghiệp, tôi ra dạy phổ thông. Mấy năm nữa thì đất nước thống nhất. Cái tủ sách của tôi, trong đó chủ yếu là sách văn học Nga – Xô Viết, ngày một cao lên. Với đồng lương ít ỏi của người giáo viên thời bao cấp, gì thì gì, tôi vẫn dành dụm để mua sách. Tôi biết thêm các tác phẩm của A.Tolstoy, Fedin, Rưbakov, Ajaiev, Bondarev, Leonov, Aimatov, v.v… (dĩ nhiên là tôi cũng có sách của các nước khác). Đất nước ta còn nghèo, còn thiếu thốn đủ điều, nhưng sẽ có một lúc “như nước Nga”, “như Liên Xô” – tôi nghĩ thế. Vẻ đẹp văn học Nga – Xô Viết, vẻ đẹp ngôn ngữ Nga đã tăng thêm sức mạnh cho tôi, giúp tôi vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống, tin tưởng ở ngày mai. “Ngôn ngữ Nga”, giá mà tôi biết nó, nắm được nó, để có thể đọc nguyên bản thì hay biết chừng nào! Ở chốn rừng rú xa ngái này thì làm sao đây? Không có ai biết tiếng Nga, không có sách báo tiếng Nga. Nhưng, như người ta thường nói, vấn đề là đừng tắt niềm hy vọng. Đùng một cái, quê tôi phát hiện ra mỏ thiếc (Quỳ Hợp, Nghệ An), và các chuyên gia Nga – Liên Xô xuất hiện! Họ ghé vào mái trường rẻo cao của tôi. Lần đầu tiên tôi nghe họ nói “khơrasô” (tốt), “đa” (vâng), “nhét” (không), v. v… Qua phiên dịch, tôi nói là tôi mê đọc sách Nga – Liên Xô, tôi muốn biết tiếng Nga lắm… Năm 1976, tôi được Phòng giáo dục điều về dạy Bổ túc văn hóa cho công nhân Lâm trường huyện. Ở Lâm trường bộ có một kỹ sư lâm nghiệp học ở Liên Xô về. Anh ta người nhỏ, hơi đen, hiền lành, nhưng đi một cái xe Sport đem từ Liên Xô về nên xem rất “phong độ”. Mọi người đề nghị anh ta dạy tiếng Nga cho. “Được”, anh ta nói. Lâm trường bộ cũng ủng hộ và bố trí điện thắp sáng cho học ban đêm. Vậy là ban ngày tôi đi dạy bổ túc văn hóa, ban đêm đi học tiếng Nga. Nhà tôi cách Lâm trường khoảng 5 – 6 km, đạp xe cũng mất khoảng 30 phút. Nhưng dọc đường phải qua sông, suối. Hồi đó lại đúng vào mùa đông, rét kinh khủng, nước buốt giá, sương muối giăng đầy núi rừng. Chập tối, ăn xong là tôi đạp xe đi, vì quá rét nên phải mặc thêm áo bạt bên ngoài. “Thầy giáo – kỹ sư” viết lên bảng mấy từ và bảo chúng tôi đọc đồng thanh như lớp 1: “banan” = quả chuối; “ananas” = quả dứa; “i” = và; v.v… Nhưng cũng những từ đó ở vào vị trí khác thì lại đọc khác – điều này chúng tôi không thể hiểu được. Thế là “rối tung” cả lên. Sau này tôi mới hiểu là tiếng Nga có “giống, số, cách”. Rõ ràng là “thầy giáo – kỹ sư” đã không có nghiệp vụ sư phạm nên anh ta không biết dạy từ đâu và dạy như thế nào. Lớp dạy tiếng Nga ấy không có hiệu quả, nên Lâm trường bộ cũng đóng cửa. Năm 1982 tôi thi vào trường Đại học sư phạm Vinh và được chuyển ra Hà Nội học ở khoa Lưu học sinh Nga, trường Đại học ngoại ngữ. Ở đây, tôi chính thức được học tiếng Nga từ “a, b, c”. Cũng tại đây, tôi thấm thía câu nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Nga”. Một ngôn ngữ đẹp như vậy mà sao khó thế? Tôi thấy mình hoàn toàn không có khả năng ngoại ngữ và định “đầu hàng”. Nhưng tình yêu tiếng Nga đã nâng đỡ tôi. Năm sau tôi bay sang Liên Xô cùng với hàng trăm lưu học sinh khác. Tôi học Dự bị ở thành phố Erevan (Armenia). Tiết học đầu tiên thầy Igor – một người Armenia to béo, rậm râu, hiền lành – hỏi tôi (và lần lượt từng người) tên là gì, ở đâu, gia đình thế nào, v.v… Tôi nói tên, và muốn nói “dân tộc Thái, ở miền rừng núi cao như Armenia, có con suối, v.v…”, nhưng không nói được. Ông hỏi tôi học tiếng Nga khi nào (mà chưa nói thạo), tôi nói là tôi “học tiếng Nga 10 năm rồi!”, ý tôi muốn nói là tôi đã học tiếng Nga từ hồi 1976, rồi sau đó là học ở Hà Nội năm 1982 vừa qua. “10 năm rồi à?”, ông ngạc nhiên kêu lên (vì học 10 năm rồi sao lạinói kém vậy!). Một người trong lớp mới giải thích là tôi chia sai thời của động từ "học", lẽ ra phải nói đã học cách đây 10 năm, chứ không phải học được 10 năm. Sau năm Dự bị, vốn tiếng Nga của tôi cũng chưa khá gì, nhưng đã viết được, đọc được, nghe cũng đã “thủng” hơn, riêng nói là vẫn khó, chưa lưu loát được. Dầu sao, tôi cũng đã viết được 1 bài thơ, nhờ thầy sửa cho, in báo “Komsomol” (Đoàn thanh niên cộng sản) của nước Cộng hòa. Tiền nhuận bút mua được 1 cái bàn là kỷ niệm. Đến Volgagrat học chính thức, sống trong môi trường người Nga cả, vốn tiếng Nga của tôi có khá hơn. Tôi lên thư viện đọc sách nhiều hơn. Cạnh trường có một hiệu sách nhỏ. Tôi thường xuyên ghé vào và mua được những cuốn sách của các tác giả mà hồi ở nhà tôi đã đọc. Tôi xếp chúng ngăn nắp trong tủ và đem ra đọc dần. Giấc mơ đọc sách nguyên bản của tôi được thực hiện. Văn hay lên một bậc. Ngôn từ, ngữ điệu Nga tuyệt vời làm sao! Cô giáo biết tôi ham đọc sách nên tặng tôi những cuốn sách hay và khuyên tôi dịch thử. Dịch cũng là một cách học tốt. Thế là vào các dịp nghỉ đông và nghỉ hè, khi mọi người đi chơi, thăm bạn bè ở các thành phố khác, thì tôi đóng cửa tập dịch sách, báo. Những bản dịch này (không nhiều lắm) khi về nước tôi đã xem lại và gửi đăng báo, tạp chí. Dầu sao, nó cũng đem lại cho tôi niềm vui. Tôi cũng tập làm thơ bằng tiếng Nga, kết quả cũng có 1 bài được in báo “Utrichel” (Người thầy) của nhà trường. Có thể nói là trong tôi luôn có “tình yêu” tiếng Nga thường trực. Tình yêu đó như dòng chảy ngầm, khi có dịp là “dào dạt nổi sóng”. Ở khoa tôi có lần tổ chức đọc thơ. Các bạn Nga đọc thơ nghe hùng hồn quá. Tôi lặng cả người đi. Thơ Nga đọc lên nghe khác hẳn, thuyết phục vô cùng. Tôi nghĩ đến Maiakovsky đọc thơ trên quảng trường, chắc là “hiệu ứng tức thì” đối với công chúng. Tôi rút ra điều này: “Thơ Việt Nam thì ngâm, thơ Nga thì phải đọc” mới thấy hết cái hay. Hôm đó cô giáo bảo tôi đọc thơ mình làm (cô biết tôi có thơ in báo Utrichel) nhưng tôi chỉ xin đọc mấy bài thơ ngắn của Pushkin, Lermontov. Tôi muốn “cảm nhận” thơ Nga bằng cách “nghe” mình đọc. Vâng, ngôn ngữ Nga phải “cảm nhận” may ra mới thấy hết cái hay, cái đẹp của nó. Năm 1988, về nước, trong thùng hàng tàu biển của tôi có đến một nửa là sách. Mấy năm tiếp sau là những năm khó khăn nhưng tôi vẫn âm thầm giữ những cuốn sách Nga, thỉnh thoảng lại đưa ra đọc. Đọc để nhớ. Đọc để giữ tình yêu với nước Nga, tiếng Nga. Nhiều người bỏ tiếng Nga (sau khi Liên Xô sụp đổ 1991), sang học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung. Đây là thời điểm tôi mua được nhiều sách tiếng Nga, sách dịch của Nga nhất, ở trong các hiệu sách, vì người ta không chú ý đến tiếng Nga nữa. Sau 5, 10 năm bỏ quên tiếng Nga, nhiều người lại muốn sang Nga, hoặc để dạy cho những người sang làm việc ở Nga, thì lại tìm đến tôi để mượn sách Nga. Tôi đã nhờ có tiếng Nga mà nắm được chuyên môn của mình. Tôi lại dùng kiến thức chuyên môn đó truyền thụ lại cho sinh viên. Đến khi về hưu, có thời gian rỗi hơn, hàng ngày tôi vào các trang web Nga để cập nhật thông tin. Cũng là một cách để đỡ nhớ nước Nga, tiếng Nga – một thứ tiếng không bị “thời cuộc” làm tôi từ bỏ, - tiếng Nga luôn “sống” trong tôi. 2.Ký ức Lễ hội ở Volgagrad Quán Vi Miên (07.08.2013) Mùa thu 1984, 7 sinh viên Việt Nam chúng tôi đến Volgograd, học khoa “Tâm lý học và Phương pháp giảng dạy tiểu học” (viết tắt là PIMNO) ở trường Đại học sư phạm Quốc gia Volgograd. Không thấy ai là người Việt Nam học ở đây. Chúng tôi hỏi Trưởng khoa Đối ngoại của trường thì ông nói: “Trước thì có, nhưng mấy năm gần đây thì không”. Đi trong thành phố cũng không gặp người Việt Nam nào. Một hôm Việt nói với tôi: “Hình như bên trường Bách khoa (chúng tôi thường gọi trường “Đại học Tổng hợp Kỹ thuật” như vậy) có 1 người Thái Lan?”. Tôi nói: “Không có chuyện sinh viên Thái Lan sang học ở Nga đâu. Họ thường sang các nước tư bản. Có lẽ là người Lào đó”. Quả đúng như vậy. Tôi đã gặp người đó trên đường và hỏi chuyện anh ta bằng tiếng Thái. Một tuần sau Thái đi chơi đâu đó về, nói: “Ô! Công nhân ‘xuất khẩu’ Việt Nam ‘đầy’ ở bên thành phố Volshky!”. “Volshky ở đâu?”. “Ở bên kia sông Volga”. À ra thế! Nhưng hai thành phố cách xa nhau nên anh em hoàn toàn không gặp nhau và chẳng ‘giao lưu’ gì được với nhau. Cảm thấy “lạc lõng, cô đơn” quá! Trong trường, ngoài sinh viên Việt Nam còn có sinh viên Lào, Cu Ba, Ăngôla, Côngô, Ápganistan, …Cứ đến ngày Quốc khánh (hoặc Lễ hội Quốc gia) của nước nào thì Khoa Đối ngoại đều tổ chức Lễ chào mừng/ Kỷ niệm cho nước đó. Năm thứ nhất, đến ngày Lễ của Ápganistan (tôi không nhớ ngày nữa), Khoa Đối ngoại “đặt vấn đề” tổ chức rất long trọng (vì quân đội Liên Xô đang tham chiến ở đó). Nhạc (trưởng đoàn) nói với anh em: “Ta phải ‘biểu thị’ tình đoàn kết với bạn. Phải ‘góp’ một tiết mục gì đó”. Việt nói: “Hát đi!”. “Ừ, ta ‘đồng ca’ bài ‘Ápganistan’ nhé!”, Thái nói. Mọi người nhanh chóng đồng ý. Tôi ái ngại nhìn sang Mai và Trinh. Hai cô này cũng như tôi: Chưa lên sân khấu lần nào! Bài hát này khá phổ biến ở ta vào đầu những năm 1980. Mặc dầu tôi không biết chính xác tên nó là gì, tác giả là ai, nhưng cũng thuộc được đôi đoạn. Thế là đến giờ, mọi người vào Hội trường, ngồi nhóm vào một chỗ chuẩn bị. Khi các nghi thức buổi Lễ đã xong, đến lượt các nước lên ‘bày tỏ tình đoàn kết’ thì đoàn Việt Nam lên sân khấu để hát ‘chúc mừng’ sinh viên Ápganistan. Thái và Tuấn mỗi người khoác một ghita. Việt là người lĩnh xướng. Còn lại đứng hàng sau ‘đồng ca’. Chúng tôi hát đến câu “Ápganistan!” (điệp khúc 2 lần) thì Hội trường sôi nổi hẳn lên. Ở phía dưới mọi người cũng hát hòa theo chúng tôi. Tôi thấy các bạn Ápganistan rất phấn khởi. Tiết mục thành công bất ngờ. Ngày 9/5/1985, Liên Xô kỷ niệm lần thứ 40 ngày Chiến thắng phát xít Đức rất rầm rộ. Volgograd đỏ rực cờ hoa, băng rôn, biểu ngữ…Chúng tôi cũng sẽ đi diễu hành trên đường phố. Trinh và Mai sẽ phải mặc áo dài dân tộc (mặc dầu trời vẫn rất rét; tuyết bên đường chưa tan hết). Hai đứa kêu: “Trời thế này, mặc áo dài thì chết cóng mất”. “Mặc (áo dài) vào cho đẹp chứ!”, trưởng đoàn yêu cầu: “Mang sẵn áo len đi”. Thế là hai đứa cắp thêm áo ấm. Đúng là mặc áo dài thì người đẹp hẳn lên. Mai mặc áo màu trắng, điểm xuyết vài bông hoa sen. Trinh mặc áo màu xanh lơ, điểm thêm vài bông mai vàng. Hai cô như hai nàng tiên giáng trần đi trên Đại lộ Lenin. Người Nga già trẻ, lớn bé, phụ nữ, đàn ông đi diễu hành nườm nượp, đều ngoái cổ lại nhìn. Tôi đi bên hai cô cũng cảm thấy hãnh diện lây. Nghi thức Kỷ niệm tổ chức ở Quảng trường Lênin, cạnh Đại lộ Lenin, ở Trung tâm thành phố. Người đông quá. Chúng tôi chỉ nhích được từng bước một. Đến nơi cũng không vào được vòng trong, vì có hàng giây xích bảo vệ chăng ngang. Có cả cảnh sát giữ trật tự. “Cần phải xem tận mắt Nghi lễ ý nghĩa này, dù chỉ một lần trong đời”. Nghĩ thế, tôi chen lên chỗ các bạn Lào. Cô Teng Òn ăn mặc theo trang phục Lễ hội Lào một cách rực rỡ: Váy lóng lánh kim tuyến. Vai vắt chéo tấm sà rông. Đầu búi tóc ngược lên. Chiếc kim thoa bạc cài ngang bíu tóc. Gương mặt thoa phấn son nhìn rất tươi. Tôi rủ cô lại chỗ rào chắn xin vào xem. Viên cảnh sát thấy chúng tôi lại, hiểu ý liền mỉm cười hỏi: “Các bạn từ nước nào đến?”. “Từ Lào và Việt Nam”, chúng tôi đáp. “Thôi vào đi! Ưu tiên đấy”. Thế là chúng tôi được vào bên trong hàng rào xem. Những người Nga xung quanh nhìn chúng tôi “thông cảm”. Ngày 2/9/1985, Quốc khánh lần thứ 40 của nước ta. Lúc này đoàn Việt Nam ở trường đã khá đông vì có thêm 1 lớp sinh viên mới sang. Buổi lễ Chào mừng/ Kỷ niệm Quốc khánh nước ta diễn ra rất trang nghiêm. Khi làm nghi thức chào cờ và hát quốc ca, tôi đã không cầm được nước mắt. Đi xa Tổ quốc, thấy cờ đỏ sao vàng và nghe quốc ca của ta ngân lên thiêng liêng quá chừng! Trưởng đoàn Việt Nam lên đọc bài diễn văn, nói về lịch sử, ý nghĩa của ngày 2/9/1945 đối với dân tộc ta, đất nước ta. Nhạc đã soạn bài này khá công phu và đọc rất cảm động. Dứt lời, mọi người vỗ tay nồng nhiệt. Tiếp theo, đại diện sinh viên các nước lên chúc mừng. Sau đó Việt lên hát bài “Hà Nội – những công trình” (tôi không biết tên tác giả). Bài hát này lúc đó đang là “mốt” ở Hà Nội. Thái và Tuấn đệm ghita. Buổi tối bật TV lên, thấy Đại sứ Nguyễn Mạnh Cầm đọc Lời chúc mừng/ Kỷ niệm ngày Quốc khánh nước ta. Lòng cảm thấy rất xúc động. Thấy Tổ quốc Việt Nam gần lại. Người như được truyền thêm sức mạnh mới. Tết Nguyên đán 1986 đúng vào kỳ nghỉ đông. Đoàn Việt Nam ở trường lúc này đã tăng lên gấp cả hàng chục lần. Có thêm 2 đoàn sinh viên Thực tập của trường Đại học sư phạm Hà Nội và Đại học sư phạm Huế sang. Bên trường Bách khoa (đã nói ở trên) có mấy anh Nghiên cứu sinh và Thực tập sinh cũng mới sang. Thế là chúng tôi quyết định “tổ chức một cái Tết Việt Nam” ngay ở Ký túc xá số 2 (nhà số 62, Đại lộ Rokosovsky). Ký túc xá có 1 gian rất rộng ở tầng 1. Gian này sinh viên thường tổ chức vũ hội, dạ hội, sinh nhật, v.v. Nhạc làm giấy mời Nhà trường, Khoa Đối ngoại, khoa PIMNO (đã nói ở trên), khoa Tiếng Nga hiện đại, Quản lý Ký túc xá, v.v. tới dự. Một số cô gái đẹp người, tốt giọng thì ôn lại mấy bài dân ca 3 miền. Thái và Tuấn thì chỉnh lại dây đàn ghita. Mấy anh Đại học sư phạm Huế thì phụ trách loa đài. Các cô gái Đại học sư phạm Hà Nội nấu ăn giỏi thì thoăn thoắt rán giò chả, bánh phồng tôm…Còn lại tất cả tập trung bày bàn ghế, trải khăn, trang trí phông màn, cắt giấy làm hoa đào, v.v. Đến giờ hẹn, mọi người ngồi vào ghế/ bàn ăn đầy đủ. Trưởng đoàn lên giới thiệu ‘lý do’ họp mặt hôm nay. Quản lý Ký túc xá lên thay mặt Nhà trường và các Khoa phát biểu chúc mừng Ngày Hội/ Lễ mừng năm mới của Việt Nam. Tiếng sâm panh nổ vang. Các chai rượu “Lúa mới” bật nắp. Mọi người cụng ly “Chúc mừng năm mới”. Tiếng đàn thánh thót vang lên. Tiết mục dân ca bắt đầu. Một số bạn Nga ăn thử miếng chả rán và khen “ngon, lạ”. Mọi người vừa nghe/ xem biểu diễn vừa ăn uống. Các ‘diễn viên và nhạc công’ cũng vừa biểu diễn vừa xuống chạm cốc. Các món đủ cả: Nào canh măng, nấm, khoai tây, cà rốt. Nào giò chả (của Nga), chả rán, phồng tôm. Bánh mỳ thì loại trắng, loại đen, loại dài, loại ngắn. Chỉ thiếu mỗi “dưa hành, câu đối đỏ/ Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh” mà thôi! Nhưng có hề gì! Bấy nhiêu cũng đủ cho ta “vui xuân” xứ tuyết nổ trời rồi. “Nào! Nổi nhạc lên, ta cùng nhau nhảy múa!”, trưởng đoàn ra hiệu. Thế là nhạc vang lên. Mọi người vào vòng nhảy. Một lát sau chuyển sang nhạc valx. Tôi mời bà Komenđant (Quản trị Ký túc xá) nhảy. Thú thật là tôi nhảy valx lần này là lần đầu. “Nhưng biết làm sao được, xã giao mà!”. Tôi nắm tay bà, người đu đưa theo điệu nhạc. “Cái chính là đừng dẫm lên chân bạn nhảy”, tôi tự nhủ…Mấy người mang theo máy ảnh cứ chớp lia lịa. Nhờ thế mà tôi có ảnh giữ lại làm kỷ niệm đến ngày hôm nay. Thỉnh thoảng nhớ Volgograd tôi lại lấy album ra xem. Kể từ đó đến nay, ¼ thế kỷ đã lùi lại phía sau lưng. Bao nhiêu cái Tết đã đi qua đời tôi? Bao nhiêu Lễ hội/ kỷ niệm mà tôi đã trải? Nhưng những Lễ hội/ kỷ niệm ở Volgograd thì không bao giờ phai mờ. Hãy còn đó thầy, cô, bạn bè, người quen, đường phố, mái trường, ký túc xá, v.v. Hãy còn đó tình người Volgograd sưởi ấm lòng tôi. Hãy còn đó ý nghĩa của thành phố Volgograd đối với đời tôi. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:32. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.