![]() |
Trích:
|
Các trường hợp "khác thường" của động từ trong câu mệnh lệnh.
- Có một số trường hơp động từ có đuôi -ать, -ять đổi như thế này: стать - стань, станьте (nhưng không dùng стайте) - Nếu đuôi -ить; -уть thì đổi cả 2 kiễu: глянуть - глянь (mà ít dùng гляните) заглянуть - загляни, загляните (nhưng hầu như không nghe загляньте) - Có thể đổi bằng cả 2 cách, ví dụ: поверить - поверь, поверьте , поверите (nhưng hầu như không nghe повери) морозить - морозь , морозите (nhưng hầu như không nghe морози) Như câu này trong bài hát: "Ой, мороз, мороз, не морозь меня,..." Hiễu biết của tôi về ngữ pháp biến đổi động từ trong câu mệnh lệnh kiễu này hơi bị lộn xộn. Xin bác nào nắm rõ góp ý thêm, và chắc nhiều bạn cũng cần biết rõ thêm phần này. |
Em thấy các trường hợp bác Dmitri Tran nêu trên không có gì khác thường. Tất cả đều theo đúng quy tắc cấu tạo mệnh lệnh thức của động từ.
Riêng 2 trường hợp "поверите" và "морозите" thì có lẽ không phải là thể mệnh lệnh thức, mà là động từ chia ở ngôi thứ 2 số nhiều (ngôi ВЫ). Do đó không có "морози" hay "повери" vì chẳng chia ở ngôi nào cả. Tuy nhiên, cũng có thể gặp "поверите" hay "морозите" được sử dụng với nghĩa mệnh lệnh thức, nhưng đó là kiểu sử dụng неграмотно. |
Có lần em nghe thấy Xếp em bảo với em là "мне по барабану твое мнение".Em cứ nghĩ là xếp ủng hộ em cả hai tay, có phải thế không các bác?
|
Hoàn toàn ngược lại bạn chumkhengot à, câu đó có nghĩa là "đối với tôi ý kiến của bạn chả là cái quái gì cả".
|
Trích:
|
Trích:
по барабану до фонаря до лампочки ни жарко ни холодно по фигу по хрену по барабасу по фигищу Còn mức độ thì phụ thuộc vào thái độ người nói. Ví dụ, câu sếp nói bình thường, không có ý chê bai, thì nên hiểu là "Với tôi ý kiến của cậu chẳng có giá trị gì cả". Còn khi gắt, nặng lời.. thì hiểu như bác Nina ở trên. |
Trích:
Một số động từ sau khi bỏ từ vĩ mà thân từ có tận cùng là 2 phụ âm thi thêm и помнить- по'мнят-> помни Các bác có gì bổ sung thêm cho cháu nha:) |
@socola94.
Bài viết trên đây của bạn bàn về kiến thức cơ bản của ngữ pháp tiếng Nga, vì thế có lẽ nên đưa vào topic nào đó thích hợp hơn. Trong topic này chỉ thảo luận về những tinh tế trong tiếng Nga, tức là những điều rất nhỏ và mong manh mà ngay cả những người giỏi tiếng Nga đôi khi cũng chưa hiểu rõ và vẫn có thể bị nhầm. |
sô cô la nói chuẩn rồi đấy! Đây cũng là cái mà bác Dmitri đưa ra phia trên mà!
|
Vâng, cũng là cái ấy, nhưng mà một đằng là ở trình tinh tế, một đằng là ở trình kiến thức phổ thông. Mà ở đây thì không bàn đến những điều ở trình phổ thông, anh Dũng ạ.
|
trong này mình không thấy có cái trình tinh tế gì cả? Đơn giản như Socola giải thích thôi! Cứ trọng âm không rơi vào vĩ từ của động từ đã chia ngôi thứ 3 số nhiều thì khi chuyển sang thức mệnh lệnh không thêm и mà thêm dấu mềm! Nhưng điều này chỉ xảy ra với cả động từ chia kiểu 2 có các đuôi ю, ишь ...ят... và у, ешь,... ут! Nguyên tắc nó như thế, cứ thế mà theo, tôi không hiểu như nào thì mới đc gọi là "tinh tế" và như nào là "cơ bản"!:emoticon-0107-sweat
|
Theo hungmgmi hiểu, một khi phải nắm chắc trình phổ thông (cơ bản, có tính phổ quát, thường gặp...) rồi khi đó chúng ta mới bàn đến sự tinh tế của tiếng Nga.
Còn tinh tế là gì thì đã được bạn masha90 nói trên kia rất đúng rồi: Trích:
|
Trích:
P/s : còn nếu bạn thấy vấn đề này có "tinh tế" xin bạn hãy просветить , tôi sẵn sàng lắng nghe và tiếp thu! Xin cảm ơn! |
Vậy cho em hỏi, các động từ отправлять/отправить và посылать/послать khác nhau ở chỗ nào trong sử dụng ạ? Hồi Windows 95 có phiên bản tiếng Nga, thì em nhớ rằng bản tiếng Anh, cái contact menu (menu mở ra khi click chuột phải ấy) có mục Send To, thì sang tiếng Nga người ta không dùng cặp động từ посылать/послать.
|
Thấy các bác bàn về vị trí của topic, là người mở chủ đề, xin nói thêm.
Тонкости đừng hiểu là "tinh tế", nó chăt quá, mà nên hiểu là nâng cao (nó có tính tương đối: với tôi là "cao', với người khác là "thường"). Cho nên ta cứ cho lên đây tất cả những gì khó hiểu, không "tinh tế" lắm nhưng nâng cao hiểu biết là tốt rồi. Vì vậy tôi ủng hộ ý kiến góp ý của bạn socola94: Trích:
Xin nói rõ thêm câu hỏi của tôi trên kia: nhiều trường hợp chia và dùng dạng mệnh lệnh không theo những gì tôi đã học trong sách vở. Ví dụ đơn giản: động từ глядеть, глянуть và следить, глядеть - глЯдят (hoặc глядЯт) - гляди, mà không dùng глядь. глянуть - глЯнут - глянь (-те), rất ít nghe гляни! заглянуть cũng có gốc глянуть, nhưng biến thành загляни! mà không nói заглянь!, tức là không theo quy tắc bạn socola94 nói. Và nói "Гляди в оба!" nhưng hầu như không nghe "Глянь в оба!", tức là dạng mệnh lệnh của глядеть và глянуть dùng khác nhau следить - следЯт - следи (-те), thân từ không có tận cùng là 2 phụ âm đi liền nhau (VD: Следи за ним!, mà không nói следь...) Tóm lại, tôi muốn biết có quy tắc thống nhất nào không, hay cứ dùng theo quán tính! |
Trích:
отправить có ý định, trách nhiệm, phương hướng rõ hơn, còn послать nói chung chung việc đó. Ngoài ra, trong tiếng Nga послать còn dùng để nói tục (Пошли куда подальше, Послать на три буквы), отправить hầu như không dùng như vậy. Có thể vì vậy отправить có trọng lượng hơn chăng!? |
Trích:
- глянь (-те) là mệnh lệnh thức của глянуть chứ? - слядь làm sao liên quan với следить được? Nếu em hiểu không đúng ý bác muốn diễn đạt thì xin bác lượng thứ:emoticon-0150-hands |
Trích:
(Tôi sẽ sửa lỗi trong post ở trên để hiểu đúng) |
Trích:
Trích:
|
Trích:
Hôm nay rảnh một chút (vừa đi làm bù thứ 7 để nghỉ 3 ngày liền, bắt đầu từ ngày mai), xin giải thích từng vấn đề bác nêu như sau: -глядеть - глЯдят (hoặc глядЯт) - гляди, mà không dùng глядь vì trọng âm rơi vào я cuối (em tô đỏ), cho nên гляди là đúng quy tắc. - глянуть - глЯнут - глянь (-те), rất ít nghe гляни! vì trọng âm không rơi vào âm tiết cuối nên глянь (-те) là đúng quy tắc và không thể là гляни được. -заглянуть cũng có gốc глянуть, nhưng biến thành загляни! mà không nói заглянь! bởi vì trong từ заглянуть trọng âm nó "chạy" xuống âm tiết cuối, nên mệnh lệnh thức загляни là đúng quy tắc (như bạn socola94 nói). Em không (và không bao giờ) biết hết các động từ tiếng Nga, nhưng thể mệnh lệnh thức của những động từ mà em biết đều tuân theo quy tắc cấu tạo như sách viết. Em chưa gặp trường hợp đặc biệt (trái quy tắc) nào. Có một số động từ gần như không sử dụng mệnh lệnh thức, nếu có thì chỉ trong những ngữ cảnh đặc biệt như: Мочь, Хотеть v.v... Động từ chuyển động Ехать, Ездить không cấu tạo mệnh lệnh thức (ta không chấp nhận kiểu nói Ехай). Để thể hiện nghĩa này trong tiếng Nga sử dụng các động từ khác, chẳng hạn như поезжай (-те)... |
Trích:
Trong ngoặc tôi viết tắt, minh chứng động từ послать dùng cho nói tục, có phải cả câu đâu mà phải kèm tân ngữ để khỏi cụt. Người đọc biết thêm gì vào để hiểu cho đúng, còn bác thêm ты thì nó thành là động từ идти là chuyện của bác. |
vâng! có lẽ em đã quá "lo"! có thể bác sống ở Nga lâu năm nên biết nhiều! Còn em ngày trước không nghe mấy kiểu nói này nên....lo hơi thừa!:emoticon-0150-hands:emoticon-0127-lipss
|
Người Nga khi gọi tên một người khác họ thay đổi "đuôi" tùy theo mức độ thân mật,các bác giải thích cho em khi nào thì dùng các danh từ riêng sau:
Светлана, Света, Светка |
Светлана: Không phải là cách gọi thân mật.
Giữa Света và Светка thì Светка là cách gọi thân mật hơn (hay dùng để gọi trẻ con, mặc dù các cụ già vẫn phều phào gọi nhau là Светка). |
Trích:
Света, Светка là tên gọi thân mật, trong đó Светка có ý thân mật hơn, dùng cho bạn bè gần gũi... Ngoài ra, còn có Вета, Лана là tên gọi tắt, và Светочка, Светуня, Светуся, Светуша, Светуля, Светик là các tên gọi thân mật, gần gũi. Chúng cũng phổ biến như Светка, bác cứ dùng để gọi thoải mái các cô Светлана! |
Mình không biết bạn chumkhengot bao nhiêu tuổi, thì mình không dám gọi Светлана nhưng ở tuổi mình là Светка đâu, mà chắc phải gọi đầy đủ như bà/cô/chị Светлана tự giới thiệu.
Còn với các em Светлана tuổi cỡ 20 trở xuống, thì mình nghĩ phương án Света là trung tính nhất, và ít bị phản tác dụng nhất. Nói chung hồi mình đi học, thì cô bạn Елена cùng phòng nói rằng cô ấy không thích được gọi là Ленка, Ленчик, vì nghe nó có vẻ quá suồng sã và thân mật giả tạo, còn gọi cô ấy là Лена thì bình thường, cô ấy cảm thấy đủ thân mật và được tôn trọng. |
Trích:
|
@chumkhengot.
Bác Muzhik giải thích như thế là quá chuẩn rồi. Nếu bác "suýt gặp hạn" thì chắc không phải vì cái tên Светка. |
Bàn về đặc ngữ (идиома) trong tiếng Nga.
Trong giao tiếp, việc sử dụng tục ngữ (пословица), thành ngữ (поговорка), đặc ngữ (идиома) ... làm cho việc diễn đạt bằng ngôn ngữ phong phú, đẹp... và lôi cuốn hơn. Hai cái đầu ta có topic riêng rồi, nay ta
Bàn về đặc ngữ (идиома) trong tiếng Nga. Cùng là các cách thể hiện dân gian nhưng trong tiếng Nga việc phân biệt các khái niệm đó khá rõ. Vì không phải là nhà ngôn ngữ, tôi hiểu chúng trong tiếng Việt như thế này. Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, có ý nghĩa giáo dục, thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử... Thành ngữ là một cụm từ, diễn đạt một ý, mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng, thường dùng nghệ thuật tu từ. Còn đặc ngữ là thành phần 1 câu nói có kiễu nói ví von, lối nói bóng bẫy, mang màu sắc dân tộc và địa phương hơn. Dùng tục ngữ, thành ngữ đòi hỏi hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, còn sử dụng đặc ngữ "giản dị" và dân dã hơn, không có ý phô trương hiểu biết cá nhân... nên chúng hay được dùng trong thực tế giao tiếp. Hiểu biết thấu đáo đặc ngữ của thứ tiếng này làm phong phú cho cách sử dụng ngôn ngữ kia, điều này ta dể thấy khi đã am hiểu về 1 ngoại ngữ. Vài ví dụ (tạm đưa ra đặc ngữ tương đương, các bác góp ý và tìm thêm nhé): Tiếng Nga: Быть на седьмом небе - Trên chín tầng mây. Mежду молотом и наковальней - Trên đe dưới búa Играть с огнем - Chơi với lửa. Голодный как волк - Đói như đỉa đói Ходить вокруг да около - Nói quanh nói quẩn Нем как рыба - Im như thóc, Im như phỗng (câm như hến). Как на иголках - Như ngồi trên lửa Крепкий орешек - Bé hạt tiêu Делать из мухи слона - Bé xé ra to Висеть на волоске - Treo đầu sơi tóc Волосы становятся дыбом - Dựng tóc gáy Ловить рыбу в мутной воде Объяснить на пальцах Не видеть дальше своего носа Рубить сук, на котором сидишь Вертеться как белка в колесе Взять себя в руки Располагать по полочкам Вешать лапшу на уши Набрать в род воды Как гром среди ясного неба Клин клином выбивать Биться как рыба об лёд Tiếng Việt: Đục nước béo cò Mượn gió bẻ măng Nhân có mấy ngày nghĩ lễ, mời các bác "thể thao trí tuệ" một chút: góp ý, đưa thêm các ví dụ và các đặc ngữ tương đương! |
Em muốn hỏi về trật tự từ được sắp xếp trong câu, không biết cái này có được gọi là тонкости không nhưng mà em thấy khó quá. Kể cả khi dịch một văn tiếng Nga, có khi em cũng cảm thấy rất khó khăn khi xác định chủ ngữ, vị ngữ và nhất là bổ ngữ. Còn khi viết một bài tiếng Nga thì đa số viết theo trình tự tiếng Việt hoặc những cái khá cơ bản như trạng từ thì đứng trước động từ... Có một nguyên tắc gì không ạ? Nhưng mà em phải công nhận là trật tự từ mà xét về cái mặt biện pháp tu từ nhấn mạnh của tiếng Nga khó hơn tiếng Việt mình nhiều:(
|
Cái này thì không phải là "tinh tế" trong tiếng Nga mà là "siêu tinh tế" rồi bạn ạ, khi các nhà văn nhà thơ Nga làm thơ, họ phải dựa vào trật tự từ trong câu để gieo vần sao cho nó thành thơ. Còn trong hội thoại, hay bất kỳ một văn phong nào cũng thế, việc sắp sếp trật tự từ trong đâu là thể hiện khả năng ngôn ngữ của người đó, tại vì trật tự từ trong câu cùng với ngữ điệu lời nói sẽ biểu hiện thái độ, tình cảm, cũng như những sắc thái khác ảnh hưởng rất lớn đến ý nghĩa lời nói. Tôi cũng chỉ là một nghiệp dư trong làng Nga ngữ, nên về điều này không được nắm rõ cho lắm. Tôi chỉ biết có một nguyên tắc cơ bản thế này nếu trong câu từ nào để cuối câu thì người nói muốn nhấn mạnh đến từ đó. Tôi lấy một ví dụ đơn giản thế này để bạn hiểu:
Bạn so sánh сác câu sau : я тебя люблю! я люблю тебя! тебя люблю я! Có thể như này thì nó chưa rõ ràng lắm, bạn chưa hiểu, tại vì nó phải có đi kèm ngữ điệu nữa. Nhưng tôi chỉ cần thêm vào mỗi câu một vế bạn sẽ hiểu. я тебя люблю, а не ненавижу! (người nói muốn nói :anh yêu em chứ không phải ghét em hay là gì khác) я люблю тебя, а не ее! (anh yêu em chứ không phải yêu cô ấy) тебя люблю я, а не он! ( ý nói :người yêu em là anh chứ không phải anh ta) Tất nhiên ngữ điệu trong các câu này là rất quan trọng, có ngữ điệu người nghe có thể hiểu ý nghĩa lời nói mà không cần các vế câu sau mà tôi đưa ra. :emoticon-0150-hands |
Các bác cho em hỏi, trong trường hợp nào dùng "на переговорах" và trong trường hợp nào dùng "в переговорах"?
|
Mặc dù rất ngờ rằng cái lưỡi câu của chú MU cực sắc, nhưng cháu vẫn cứ liều mạng mà đoán mò rằng "на переговорах" áp dụng cho những cuộc đàm phán giữa các chính phủ, còn "в переговорах" thì dùng cho những cuộc thương lượng giữa các bà già.
|
Trích:
Dùng В khi các bên có vị trí tương đương, bàn luận có t/c bình đẳng để đi đến thống nhất chung về quan điểm... Còn НА thường dùng khi có 1 bên thấp hơn và trong cuộc bàn luận có đưa ra yêu cầu, đòi hỏi..., để đạt được sự thống nhất chung. Về 2 giới từ В và НА trong tiếng Nga hiện đại còn dùng trong nhiều trường hợp không "chuẩn tắc", nếu SV ta viết như vậy thì chắc chắn các thầy tiếng Nga của ta sẽ cho điểm 2. VD có 2 cách nói: 1. Он пришел на свидание в костюме и галстуке - Anh ta mặc vét tông và thắt cà vạt đi đến cuộc hẹn. 2. Он на костюме и галстуке пришел на свидание - Anh ta "thắng" cả vét tông và cà vạt đi đến cuộc hẹn. (Ý nói sự gò bó, anh ta miễn cưỡng phải mặc. Cách nói này rất "mốt", hiện nay thanh niên Nga, nhất là các cô, rất ưa dùng). @ masha90: Không phải là "còn "в переговорах" thì dùng cho những cuộc thương lượng giữa các bà già". VD đầu đề bài báo: "РФ и Украина заявляют о "прогрессе" в переговорах по газу" http://www.warandpeace.ru/ru/news/view/62119/ |
Trích:
Khi nào dùng "на переговорах" và khi nào dùng "в переговорах" có lẽ thuộc vấn đề tinh tế trong tiếng Nga. Vì vậy em xin được chuyển từ topic "Hỏi-Đáp" sang topic này để chúng ta cùng trao đổi theo đúng tinh thần "ум - хорошо, а два - лучше". Ý kiến của 2 bác masha90 và Dmitri Tran em thấy có những cái đúng, nhưng có lẽ mới chỉ là hiện tượng chứ chưa hẳn đã là quy luật. Vì vậy chúng ta tiếp tục trao đổi, bàn luận để cùng tìm ra quy luật. Quả thật trước đây em không để ý đến việc này. Chỉ khi thấy câu “tại cuộc hội đàm cấp cao, tổng thống hai nước đã thảo luận…” được Google dịch thô và bác Dmitri Tran chỉnh thành “в переговорах на высоком уровне, президенты двух стран обсудили…” em thấy lạ, vì nếu là em thì trong trường hợp này em sẽ dùng “на переговорах”. Tìm hiểu kỹ hơn mới thấy cả “в” và cả “на” đều được dùng rất nhiều với “переговоры” và khá khó phân biệt. ПЕРЕГОВОРЫ có 2 nghĩa: 1. Офиц. Обсуждение каких-л. вопросов между официальными сторонами с целью выяснения позиций сторон и заключения возможного договора. 2. - Обмен мнениями с целью договориться о чём-л.; разговор. - Разговор по телефону с абонентом другого города или страны. Với cả 2 nghĩa trên đều có thể dùng “в” và “на” , tất nhiên là tuỳ từng trường hợp, nhưng em chưa thể phân biệt được thật rõ ràng, cho nên nêu vấn đề ra với mong muốn “phát huy trí tuệ tập thể”. Về phần mình, em có cảm nhận ban đầu như thế này, cần kiểm chứng thêm: Khi nào chỉ đơn thuần nói về địa điểm, bối cảnh thì “на” hay được dùng: - Они были НА переговорах - Они вернулись С переговоров. Khi nói về quá trình, diễn biến bên trong thì “B” hay được dùng: - Азаров надеется на компромисс B переговорах с Россией - Главная партия оппозиции вышла ИЗ переговоров с правительством”.Các bác cho ý kiến thêm! |
Trích:
Còn cảm nhận về cách dùng 2 giới từ В và НА thì tôi thấy khá rõ trong các bài báo... Dùng В cho các trường hợp đàm luận thông thường, không có tình huống cay cấn..., còn НА dùng khi thảo luận căng thẳng, có yêu cầu đòi chấp nhận. Dùng chúng theo tính chất "bình thường" hay "gò bó" của cuộc đàm luận cũng y hệt như ví dụ в костюме и галстуке và на костюме и галстуке đã nêu trên. |
Trích:
Còn: Trích:
Ví dụ: có câu: Правила поведения на переговорах trong trường hợp này bắt buộc dùng HA mà không B, mặc dù chẳng có gì "căng thẳng", "gò bó" cả. Ngoài trường hợp chúng cùng nghĩa nhau, em nghĩ HA được dùng khi nói đến tính chất более конкретно, những vấn đề liên quan đến thảo luận, đàm phán, địa điểm, thời gian, làm gì, nói gì v.v Còn B được dùng với nghĩa bao quát và более абстрактно, nói đến thời gian, quá trình, tiến độ, sự tham gia v.v hoặc những từ đòi hỏi sử dụng giới từ B. Các báo trao đổi thêm. |
Vui hỉ! Tôi cũng ăn theo một phát.
1. Tổng thể: cuộc đàm phán, buổi thương lượng, hôi đàm, ... НА переговоры, НА переговорах: đến đàm phán, tại cuộc đàm phán С переговоров: (đi đâu đó) từ cuộc đàm phán 2. Bên trong: В переговорах: trong quá trình đàm phán ИЗ переговоров: ra khỏi các thoả thuận Hehe, xem ra vụ này không làm ai tự ái như dân U trong "На Украине" :emoticon-0136-giggl |
Trích:
в ходе во время + переговоров. Bác ạ! в рамке в процессе nữa, nhưng em chỉ thấy dùng trong kỹ thuật là nhiều! |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:31. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.