Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Hồ sơ chiến tranh thế giới (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=48)
-   -   Nhật ký Leningrad (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3370)

nthach 21-09-2010 07:36

Ngày 17 tháng Hai 1942

Lại bàn đến vấn đề sơ tán của học viện (lần này nêu ra rất nghiêm túc). Thậm trí định rõ cả ngày tháng: Ngày 15 tháng ba. Địa điểm: Thành phố Ar-khan-ghen. Còn Lê-nin-grat… từ giã thành phố này thế nào đây? Nếu xem một tháng là một năm như thời kỳ bảo vệ Xê-vat-xtô-pôn thì chúng tôi ở đây đã sáu năm rồi. Không, ở đây phải tính hơn thế nữa.
Nếu chúng tôi đi thì chúng tôi sẽ mang Lê-la và In-na theo. Di-na A-xi-lô-vna, mẹ của Lê-la sắp chết rồi.

nthach 21-09-2010 07:37

Ngày 18 tháng Hai 1942

Hôm qua tôi nói chuyện ở bệnh viện, chỗ Ta-ra-xen-cốp nằm. Anh ấy càng ốm hơn. Ngày mai tôi phải nói chuyện ở bệnh viện trong học viện Ghéc-xen. Ngày kia sẽ họp Đảng. Đến ngày 21 sẽ cùng với đoàn Đại biểu của Khu phố Pê-trô-grat của chúng tôi ra mặt trận. Phải đi thôi!... Chỉ sợ một điều là rét cóng.

nthach 21-09-2010 07:37

Ngày 19 tháng Hai 1942

Tôi vừa mới nhận được thư của các con viết từ tháng Mười hai năm ngoái. Cháu Mi-sen-ca đã chết không kịp đầy tuổi tôi.

nthach 21-09-2010 07:37

Ngày 20 tháng Hai 1942

Tôi như đọc ngốn ngấu những dòng chữ của bức thư nhận được hôm qua. Tôi thấy như những hàng chữ này nhảy múa lên: "Chúng con không thể nào chịu được một điều bất hạnh lớn là Mi-sen-ca đã chết. Cuộc sống của chúng con ở Si-xtô-pôn bây giờ hình như hoàn toàn vô nghĩa và trống rỗng. Bởi vì cái làm cho chúng con đến đây đã không còn nữa. Căn nhà nhỏ của chúng con và xung quanh sao mà trở lên vắng lặng như thế… có thể chúng con sẽ đáp chuyến tàu thủy đầu tiên về Mát-xcơ-va".
Tôi đọc hết bức thư. Tôi để lại. Sau đó tự nhiên tôi lại cầm bức thư đọc lại một lần nữa với một hy vọng mờ ảo là tất cả những chuyện ấy chỉ là mộng mị. Nhưng không, tất cả đều là sự thật.

nthach 21-09-2010 07:37

Ngày 21 tháng Hai 1942

Ngày mai tôi sẽ ra mặt trận cùng với đoàn đại biểu khu phố. Đi là tốt. Nó sẽ giúp tôi chịu được nỗi đau đớn khó mà dịu đi trong lòng.

nthach 21-09-2010 07:38

Ngày 23 tháng Hai 1942

Ngày Hồng quân. Gô-rô-khô-vex
Tuyết, tuyết! Tôi viết những dòng này tại Cục chính trị quân đội của tướng Phê-đu-nin-xki. Đây là một căn nhà nhỏ bằng gỗ trước kia của một chủ nhà khá giả. Trên tường có treo ảnh, có tủ quần áo. Nhưng trong nhà lại có yên ngựa, súng, giày ủng, giày trượt tuyết và mấy chai dầu xăng…
Trên bầu trời giá băng trong suốt nghe có tiếng động cơ nhè nhẹ và một vệt trắng của chiếc máy bay. Người ta bảo là "A-đôn-phơ" đang bay (chỉ tên Hít-le-N.D). Ở đây nghe tiếng pháo cao xạ không giống như trong những ngôi nhà cao ở Lê-nin-grat.
Hôm qua (chẳng lẽ chỉ có hôm qua thôi ư?) nhà tôi lại dẫn tôi đi từ tờ mờ sáng đến Ủy ban khu phố Pê-tô-grat. Ủy ban đặt ở phố Xcô-pô-khô-đốp, nơi các đại biểu tập trung. Chúng tôi đến đấy đi qua những cái sân vắng vẻ. Trên trời còn đầy sao. Ngôi nhà của Ủy ban trống không. Có đèn điện (chỉ ở Ủy ban các khu phố là còn có điện). Nước trong ấm trà đang sôi sùng sục.
Chúng tôi những đại biểu của khu phố đã đến đủ. Chúng tôi ngồi trên một chiếc ôtô vận tải có ghép ván chung quanh. Nhìn từ đằng sau, bầu trời đầy sao như chuyển động. Những ngôi sao tắt dần trên đường đi. Chỉ có sao Mai rực rỡ theo chúng tôi mãi cho đến khi bình ming rạng dần lên át cả nó đi.
Khi đã đi rồi chúng tôi mới rõ là chúng tôi đi đâu. thì ra sẽ phải đi qua hồ La-đô-ga, đi qua vòng vây của địch đến địa điểm cách thành phố Lê-nin-grat hai trăm cây số. Nhà tôi mệt quá nhưng vẫn vui vẻ vẫy tay tiễn chúng tôi.
Ghế trên xe hẹp, không biết dựa vào cái gì. Dầu xăng bốc lên một mùi khó thở. Tôi ngồi cạnh một thùng xăng to tướng cao đến đầu. Chiếc thùng cứ lắc la lắc lư kêu váng lên. Thế mà vẫn không đủ xăng.
Đến khu phố Xmôi-nưi chúng tôi nghỉ lại rất lâu để chờ đại biểu của các khu phố khác. Cuối cùng mọi người đều đến đủ.
Chúng tôi mang tặng vật ra mặt trận: Năm khẩu súng tự động làm bằng tay (không có điện) trên bảng viết: "Tặng dũng sĩ diệt nhiều quân Đức nhất", áo ngụy trang, dao cạo râu, thuốc lá, găng tay da và lông cừu, xắc-cốt của sĩ quan, khăn mùi xoa, đàn ghi ta và măng-đô-lin. Tôi nghĩ những thứ này không đến nơi hoàn toàn được vì những cây đàn không được đóng gói cẩn thận nên khi ô-tô xóc, những cây đàn đổ xuống rên lên như người vậy. Chúng tôi giữ chúng bằng tay và cả lưng nữa.
Chúng tôi tặng riêng tướng Phê-đu-nin-xki một chiếc hộp đựng thuốc lá bằng da. Mỗi khu phố có những tặng phẩm khác nhau, nhưng yêu cầu thì chỉ có một: Phải phá vỡ vòng vây.
Cuộc hành trình kéo dài đến mười ba tiếng đồng hồ. Mệt và lạnh nhưng không phải là không chịu đựng được.
Qua hồ La-đô-ga đã mất tiếng rưỡi đồng hồ rồi. Băng còn rắn lắm. Nhưng đồng chí lái xe bảo đến giữa trưa nếu trời nắng to thì ôtô năm tấn không thể nào đi qua được. Bởi vì ngoài trời nắng to ra, trên mặt băng còn bị thủng vì bom. Tuy vậy chúng tôi vẫn đi qua một cách êm thấm. Qua đoạn đường lắm dốc, đầy tuyết, xe chúng tôi chạy trên đường băng trên mặt hồ bằng phẳng nên tôi cảm thấy dễ chịu vô cùng. Không xóc, không lắc.
Sau khi qua khỏi hồ, đến một nơi mà chúng tôi phải chờ để đổ thêm xăng, lần đầu tiên chúng tôi thấy dê, chó và gà còn sống. Mọi người trên xe đều thò đầu ra ngoài nhìn cái kỳ quan đó.
Sang bên này hồ, lần đầu tiên chúng tôi nghe tiếng hát. Nhìn sang các bạn đồng hành tôi thấy tất cả đều xúc động. Con người ở đây có cái gì khác với chỗ chúng tôi. Những người ở đây má ửng đỏ, đi lại rất nhanh, họ thở cũng rất mạnh, mỗi lần thở là lại rất nhanh , họ thở cũng rất mạnh, mỗi lần thở là lại có một luồng hơi đặc như khói từ mồm họ bay ra. Còn mặt chúng tôi thì tái mét, hơi thở cũng rất yếu (nhìn kỹ mới thấy hơi trong mồm bay ra), đi lại chậm chạp, nói năng thì rất khẽ.
Đến Giư-ha-liếp, chúng tôi nhìn thấy một đám cháy rất kinh khủng. Giặc Đức bắn sang mấy con đường làm cháy những chiếc xe tải chở dầu máy, ôtô chở dầu hỏa và những toa tàu chở than bùn đang đỗ bên đường ray. Những thứ này vừa chở đến đây. Buổi sáng bọn Đức bay trên không, phát hiện ra những thứ này, thế là đến tối chúng kéo đến ném bom, bắn phá ngay, định không cho đầu máy đến kéo những toa tàu này đi.
Xưa nay tôi chưa bao giờ nhìn thấy một ngọn lửa như vậy. Nó đỏ rực, dày đặc như một khối lửa cuộn trong khói đen và nặng nề cuộn lên trong không khí.
Chúng tôi không kịp nhớ lại giặc Đức bắt đầu đánh phá như thế nào. Bom rơi rất gần. Song cái đáng sợ hơn cả bom đạn đó là súng liên thanh mà giặc Đức nhằm từng chiếc xe ô tô mà xả xuống. Rõ ràng là súng cao xạ của chúng ta còn ít quá.
Mọi người nằm rạp trên tuyết. Cả những đồng chí bộ đội cũng vậy. Trên ôtô chúng tôi có người chạy ra, có người ngồi lại. Đó là Xư-sép ở nhà máy, tôi và hai người đàn ông nữa. Chúng tôi ngồi trong ôtô, ngay dưới những tấm ván (thật là ngốc quá) run lên và cứ gập người xuống khi không khí và những mảnh bom bay vù vù trên đầu chúng tôi.
Lúc này sao tôi nhớ da diết chiếc hầm trú ẩn của chúng tôi ở phố Lép Tôn-xtôi đến thế. Ở đó có những bức tường dày có cái vòm rất chắc, những phiến đá cao cả hứng lấy tất cả mọi mảnh bom, đầu đạn còn ở đây thì chỉ có trời xanh, không khí và những tràng súng liên thanh.
Điều ngu xuẩn của chúng tôi, về khía cạnh nào đó lại trở thành một sự ranh mãnh mang tính chất chiến thuật. Theo người ta giải thích thì giặc Đức sẽ không động đến hai chiếc ôtô này của chúng tôi. Có thể vì chúng nó không ngờ rằng trên hai chiếc xe này lại có người. Chúng cho rằng đây là hai chiếc ôtô vất đi.
Có từ mười năm đến hai mươi chiếc máy bay. Chúng cứ bay lượn mãi trên cái ga xấu số này. Vừa nghỉ lại được mấy phút thì lại nghe thấy tiếng hét: "Chúng nó đánh đợt hai đấy, nằm xuống đi!".
Lúc đó tôi vừa ở trong ôtô nhảy ra. Định đến nấp ở một chiếc hào gần đấy thì một anh bộ đội ở chiếc hào này đứng lên, tôi mới biết là mọi việc đã qua rồi. Có một chị trông rất linh lợi, thế mà lại sợ hơn bất cứ người nào trong chúng tôi (đạn cao xạ bắn lên dày đặc, chắc máy bay địch đang bay gần).
Bây giờ chúng tôi đến đơn vị pháo binh của sư đoàn X… Chúng tôi chỉ mượn được một tờ báo cũ của sư đoàn, trong đó có in bản mệnh lệnh của Xta-lin.
Tôi bằng lòng vì ở đây, trong lòng không muốn như trước nữa. Chỉ có điều ân hận là không được gặp tướng Phê-đu-nin-xki. Hôm qua vào lúc đã khuya lắm rồi ông đến một căn nhà của bộ chỉ huy, nhưng lại không phải căn nhà chúng tôi ở mà là căn nhà khác. Những người khác được bố trí ở căn nhà đó thật là may mắn, họ đều dậy cả và Tướng Phê-đu-nin-xki nói chuyện với họ rất lâu.
Ông đến với gương mặt tươi tỉnh sau khi tắm xong. Ông nói tắm rất thú mặc dầu rất lạnh. Đại bác của ta nổ rền vang. Ngôi nhà rung lên. Ôtô đến. Chúng tôi ra đi.

nthach 21-09-2010 07:39

Ngày 24 tháng Hai 1942

Buổi sáng. Tại sư đoàn N
Nửa đêm tỉnh giấc. Tôi ở đâu thế này. Sau đó mới nhớ ra là tôi đang ở trong hầm. Cùng ở với tôi, đang nằm trên những chiếc giường kia có Ma-ri-a Nhi-cô-lai-ep-vna Va-rốc ở Ủy ban khu phố. Còn đằng kia cũng có một người. Đồng chí trực ban ném củi vào lò. Khói ở những thanh củi ướt làm mắt chúng tôi cay xè. Bỗng nhiên có tiếng súng nổ dữ dội không biết của ta hay địch. Tuy đây là mặt trận, nhưng hình như không khủng khiếp như ở Lê-nin-grat của chúng tôi.
Trời sáng rõ. Đồng chí trực ban mang đến chúng tôi mỗi người một xoong con cháo, bánh mì và một miếng bơ to tướng. Thật quý giá ! Lần sau nhất định tôi phải cái thìa đi theo.

nthach 21-09-2010 07:39

Ngày 26 tháng Hai 1942

Lê-nin-grat
Nằm trên giường trong căn nhà của mình mà chẳng thấy ấm áp gì cả. Trên người tôi một chăn bông, một chăn len, khen quàng vai và áo bành tô đắp lên chân. Tôi mặc áo ấm. Trong nhà 14 độ âm. Hầu như cứ mỗi giờ các đồng chí lại cho tôi uống một thứ gì nóng, thế mà tôi vẫn chả thấy ấm lên chút nào cả.
Trong khi đi thăm mặt trận chưa lúc nào tôi cảm thấy ấm áp thật sự cả. Thực ra bên trong áo Ba-đờ-xuy tôi đã mặc áo bông và quần bông. Song những thứ đó đều đã cũ, những cái trước kia đã luộc để khử trùng. Sức trữ nhiệt của bông đã kém lắm rồi. Trên đầu lúc nào cũng bịt khăn len. Hai tay lúc nào cũng đeo bao. Lại còn một chiếc khăn quàng vai và khăn Phu-la đan quấn cổ màu trắng nữa. Chiếc khăn này lấy ở chỗ chị I-va-nô-vna. Tôi có hứa là sẽ giữ gìn cẩn thận và giữ phiếu bánh mì. Mặc tất cả những thứ này tôi càng giống nhân vật Ca-rô-bốt-ca của Gô-gôn.
Thế nhưng tất cả những thứ đó vẫn không đủ mà nhà tôi là người lính giàu kinh nghiệm, là người đã tham gia hai cuộc chiến tranh, một bác sĩ, một người chồng chăm sóc, thế mà anh cũng không cho tôi mang theo ít rượu thì thật là một sai lầm lớn. Nếu anh nhìn tôi trên đường về khi qua hồ cùng các đồng chí lái xe lại uống rượu mạnh, ăn đường và mỡ. Hình như nhờ có rượu mạnh mà tôi còn sống cho đến bây giờ.
Có một lúc đồng chí lái xe nhìn tôi chăm chú (đồng chí ấy đồng ý cho tôi ngồi trên buồng lái bên cạnh đồng chí) rồi bảo: "Bây giờ bà có thể cầu chúa giúp ôtô đừng hỏng, nếu tôi đóng máy thì bà chết ngay". Thật thế, chỉ khi nào lò trong máy chạy là tôi thấy được sưởi ấm.
Hồ La-đô-ga biến thành một bãi băng khổng lồ. Tuyết dày như ở trên Bắc cực ấy. Cái gì cũng làm từ tuyết mà ra; hàng rào xây bằng tuyết hoặc đắp bằng tuyết, hầm cho pháo binh trú ẩn, bệ pháo … đều bằng tuyết cả. Tất cả đều sạch sẽ, trinh tiết, trắng trẻo dưới một bầu trời xanh.
Một vật khác không phải màu trắng sẽ là một sự kiện đặc biệt. Cách xa một cây số có thể trông thấy chiếc cờ con màu đỏ trong tay người hướng dẫn giao thông.
Không phải ngoa mà ở đây người ta nói: Đối với chiến sĩ, tuyết quý nhất. Họ rúc vào tuyết, ăn tuyết và rửa cũng bằng tuyết. Mắt viễn thị của tôi làm trở ngại khi viết sách, đọc sách, ở đây lại rất tiện, nhìn rõ tất cả mọi vật ở tít chân trời. Những cái chấm màu đang di động trên đường, trên mặt hồ đóng băng là những chiếc ôtô. Nếu bạn nhìn thấy những vật màu đỏ ở trên xe thì đó là người ta chở thịt cừu. Còn cái gì màu đen thì đó ta người ta than đến. Những chiếc hòm bằng gỗ Bạch dương màu vàng thì tôi chịu không biết trong đựng gì. Còn màu trắng nhạt, gần giống như màu tuyết thì đó là những bao bột mì. Đó là bánh mì hàng ngày của chúng tôi, là sinh mệnh của chúng tôi chở từ vùng tự do vào Lê-nin-grat.
Lao động của những chiến sĩ lái xe trên hồ La-đô-ga là lao động thần thánh.!
Chỉ cần nhìn con đường. Con đường mang tên mình biết bao nhiêu thương tích. Suốt ngày đêm không một lúc nào yên tĩnh. Tuyết trên mặt hồ biến thành cát. Khắp nơi ở trong hang chỗ giấu xe, trong hồ, dưới hào, dưới rãnh nước, chỗ nào cũng thấy có ôtô và máy móc bị bắn phá hỏng.
Anh em lái xe trên hồ La-đô-ga mỗi ngày phải chạy bốn lượt trên con đường đầy bom đạn này. Để động viên anh em, dọc đường có những tấm biển đỏ viết: "Đồng chí lái xe, hôm nay bạn đã chạy được hai chuyến chưa?" và người lái xe chạy đủ hai chuyến.
Chúng tôi đến Grô-khô-vat, chỗ ban chỉ huy thì trời đã khuya. Ánh trăng sáng chiếu giữa đám sương giá dày đặc. Cứ nhìn cái quang cảnh này thì chắc trên mặt trăng giá lạnh dữ dội hơn ở trái đất chúng ta.
Ô-tô của chúng tôi vừa đến chỉ huy sở thì các đồng chí vội vã đưa ngay xe vào khu rừng thông để giấu. Các đồng chí bảo chúng tôi, dưới ánh trăng lồ lộ lại đi trên một vùng rất nguy hiểm. Nhưng ở đây lại im lặng quá, im lặng hơn cả trên sông Nê-va.
Chúng tôi từ Grô-khô-vat trở về Lê-nin-grat lúc đêm đã gần tàn, trời hãy còn sao. Dần dần pháo sáng của địch càng tái đi và buổi sáng chuyển mình trên khu rừng. Bầu trời màu xanh tái giống màu quả táo có một nửa màu hồng. Và chính lúc đó anh lái xe bảo tôi cầu chúa cho xe khỏi hỏng nếu không tôi bị chết cóng. Điều bất hạnh lớn nhất là tôi đánh mất cái khăn quàng ấm áp của chị I-va-nô-vna đã đưa tôi. Tôi đánh mất nó trên đường đi từ sư đoàn bộ về quân đoàn bộ. Chiếc ô-tô của chúng tôi chạy rất lâu trong rừng phủ tuyết. Sau đó chúng tôi phải xuống xe và bò qua một cánh đồng tuyết, nơi địch bắn pháo dữ dội nhất. Có một chiến sĩ ra đón chúng tôi chạy bên cạnh, thở ra hơi nóng hổi, không nén được thầm thì hỏi tôi
-Có phải chị là diễn viên ở lữ đoàn về không? Chị sẽ về đơn vị của chúng tôi biểu diễn đấy chứ?
Lúc này rất đáng tiếc là tôi không phải là nữ diễn viên. Chạy trên tuyết một cách rất khó khăn, tôi bị mọi vật xung quanh làm tôi rất hồi hộp nên cái khăn phu-la trắng rơi xuống tuyết trắng lúc nào tôi không biết.
Đến Lê-nin-grat, chúng tôi đi vòng qua phía Rê-giep-ki về. Từ cuộc sống của tiền tuyến sôi nổi, rực lửa chúng tôi trở về một thành phố bị bao vây vô cùng lặng lẽ.

nthach 21-09-2010 07:40

Ngày 27 tháng Hai 1942

Chúng tôi đã ở ngoài vòng vây cả thảy ba hôm.
Chia ra từng nhóm, những đại biểu chúng tôi đi thăm hỏi tất cả các binh chủng. Chúng tôi được dẫn lên một sư đoàn pháo binh cách địch sáu trăm mét. Đây chưa thật là tiền tiêu.
Đến mỗi khẩu đội nấp trong rừng chúng tôi đều mở một cuộc mít tinh ngắn, rất ngắn. Mọi người đều đứng. Một người trong chúng tôi đứng ra nói chuyện rồi một đồng chí trong khẩu đội đứng ra đáp lễ. Những cây thông đầy tuyết, những cây tùng và những khẩu pháo để trần lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn vây quanh chúng tôi. Chủ đề câu chuyện chỉ là một: Phá vây, giải phóng thành phố Lê-nin-grat khỏi bàn tay của địch.
Một chiến sĩ pháo binh nói: "Nhờ các đồng chí chuyển đến Lê-nin-grat khỏi bàn tay của địch.
Một chiến sĩ pháo binh nói: "Nhờ các đồng chí chuyển đến Lê-nin-grat lời chào của khẩu đội I. Xin các đồng chí nói giúp là chúng tôi sẽ đem hết sức mình góp phần giải phóng thành phố Lê-nin".
Một chiến sĩ khác nói; "Đẩy lùi quân địch thì làm được. Nhưng đấy chưa phải là nhiệm vụ. Phải tiêu diệt chúng…". Anh ta đã nói những câu: "Các chiến sĩ lòng nặng căm thù". "Sự trả thù đã thấm sâu trong lòng chúng tôi".
Ở một khẩu đội, cứ mỗi đại biểu đến thì các đồng chí bắn một phát đại bác để chào mừng. Tiếng pháo nổ rầm trời, làm cho tôi ù cả tai. Tuyết trên cây rơi đầy đầu và vai chúng tôi. Sau đó mấy phút giặc Đức cũng bắn trả lại. Nhưng đạn của chúng rơi đâu ấy.
Sau ba ngày sống với quân đội, chúng tôi được biết không chịu nổi những cuộc tấn công vào hai bên sườn và những cuộc bao vây dù một cuộc vây nhỏ nhất. Và chúng nó thiếu lực lượng dự trữ.
Chúng tôi nghe câu chuyện về một người "trốn" ra tiền tiêu. Anh ta là thợ cắt tóc. Vì sự "cần thiết cao độ" nên anh bị giữ diệt ở Bộ chỉ huy. Nhưng người ta không trông anh cẩn thận. Và giờ đây anh ta cạo cho bọn chó Đức bằng khẩu súng máy. Người ta không còn nhớ anh là thợ cắt tóc nữa.
Lại một câu chuyện khác: Có một bà mẹ vợ không thích anh chàng rể của bà, nói với anh ta (khi anh ta về phép ở Lê-nin-grat), "tao nghe đài nói đến đội quân ấy cũng đủ rồi". Chàng rể đáp: "Mẹ cứ nhìn con cũng thế". Thế là lần đầu tiên bà mẹ vợ gọi anh ta: "con của mẹ!".
Người ta nói với tôi: "Nếu chị đưa vị chỉ huy của chúng tôi vào một cái giường êm hay vào một căn phòng ấm áp thì ông ta sẽ bị cúm ngay. Chỉ huy cần giá băng, cần ở trong hầm đất và chịu đựng gian khổ".
Câu chuyện về một chiến sĩ đang đi phát bánh mì cho mọi người thì pháo địch bắn chết. Viên đại bác xé nát vụn người anh. Và dù muốn chân anh cũng không có gì để chôn nữa. Nhưng còn lại một khúc bánh mì thấm đầy máu. Thế là các chiến sĩ nhặt khúc bánh mì ấy và mang đi chôn như chôn con người vậy.
Còn một vài mẩu chuyện nữa nói về những chiếc áo khoác và những đôi giày cạnh đống lửa. Nhưng chiến sĩ đã mệt mỏi, hễ cứ đến là thò ngay chân vào đống lửa. Một đoàn viên Côm-xô-mô được cử đến trực ban ở đấy. Anh cũng buồn ngủ lắm, lại phải đi đánh thức những người đang ngủ để họ khỏi ngã ngào đống lửa. Nhưng nếu không gọi được những người ngủ say thì anh phải bê chân họ ra xa đống lửa. Anh nói: "Các bạn xem cái chân đang ngủ này ban ngày đi hàng chục cây số thì cân nặng bao nhiêu!"
Một thiếu tá nhận xét; "Những người Đức trượt băng thường là không đi giày trượt băng, chẳng biết vì sao? Hay là chúng sợ tuyết Nga!?"
Một công nhân từ vùng duyên hải đến. Trước kia anh là pháo binh, anh nói: "Phải giã cho chúng một trận như giã vừng ấy mới khoái!"
Câu chuyện về vấn đề quy tắc, nghĩa là người nào quay nòng pháo phải quay phần đuôi cho nhanh theo hướng dẫn của khẩu đội trưởng. Đồng chí chỉ huy nói: Trong chiến tranh không những chỉ cần có sức mạnh mà cần biết tính toán cho tốt. Có bạn thanh niên khỏe nhấc được cả khẩu pháo lên. Nhưng không chỉ nhấc lên mà quan trọng ở chỗ là không nên bắn phát đạn thừa".
Đồng chí chủ nhiệm câu lạc bộ trong khi cùng đi với tôi đến đảng ủy khen ngợi thân hình nhỏ nhắn của tôi làm tôi đi đường không cần phải cúi nữa, ở đây đạn giặc Đức chỉ nhằm bắn những người có thân hình tầm thước. Điều đó thấy rõ qua những vết đạn trên cây.
Một chiến sĩ súng máy đi với chúng tôi bảo:
-Sau chiến tranh, những người đẵn gỗ. Mà trên cây nào cũng đầy những mảnh đạn. Cưa sẽ gẫy lưỡi.
Ở khẩu đội pháo về, chúng tôi gặp một toán chiến sĩ anh em vây thành hai vòng xung quanh một người tay cầm giấy đứng ở giữa. Ánh mặt trời màu hồng lúc chiều tà vào những gương mặt chăm chú.
Chúng tôi hỏi có chuyện gì vậy?
Anh em cho biết đó là tòa án quân sự.
-Xử vụ gì thế?
Anh em trả lời chúng tôi ngắn và giọng nói nghiêm khắc:
-Tội hèn nhát.
Ở sư đoàn bộ trước lúc vào một căn hầm, có người nhắc chúng tôi:
-Các đồng chí cứ bình tĩnh, ở đây không có bậc đâu. Mặt dốc bằng.
Chúng tôi vào hầm. Trong bóng tối, những chấm lửa xanh chiếu sáng trên nền nhà. Hai chấm sáng ở sân, vào trong nhà lại có hai chấm sáng nữa. Thì ra đó là mắt những con ngựa. Có một con đang giậm chân. Một chiến sĩ giữ ngựa vuôt ve nó rồi nói:
-Còn bé lắm.
Tôi bỗng nhớ đến những con ngựa bằng đồng xanh ở Lê-nin-grát, chúng bị người ta mang từ cầu A-ni-cốp đến một nơi rất xa để tránh bom đạn giặc. Có lẽ chúng cũng đang đứng trong một chuồng ngựa nào đó ở dưới hầm, lặng lẽ giậm chân. Còn những thanh niên bằng đồng xanh đang đứng giữ dây cương, vỗ về chúng.
Trong hầm của chỉ huy sư đoàn, nơi chúng tôi dùng cơm rất ấm áp nên có đến hai ba chỗ có những mầm Bạch dương non mọc trên bức tường đất dày. Tuy chúng yếu ớt và xanh xao nhưng vẫn là cây sống.
Khi bắt đầu ăn trưa, chúng tôi nâng cốc trước hết chúc sức khỏe đồng chí Xta-lin, chúc cho bản mệnh lệnh của đồng chí công bố ngày hôm nay thu được thắng lợi. Cốc thứ hai chúng tôi chúc thành phố Lê-nin-grát được giải vây. Đồng chí chính ủy nói:" Vấn đề không phải là ở chỗ sống hay không sống, mà phải nói rằng cuộc sống của chúng ta thuộc về thành phố Lê-nin-grát!".

nthach 21-09-2010 07:40

Ngày 10 tháng Ba 1942

Những công việc của chúng tôi vẫn cứ làm cho tôi lo lắng. Rồi sẽ ra làm sao đây? Nhưng đau xót nhất vẫn là những bức thư Gian-na. Bây giờ chúng tôi thường nhận được thư của nó, và những bức thư ấy giày vò tôi.
Kinh khủng nhất là những bức thư viết khi thằng bé vẫn còn sống. Bưu điện hiện nay làm việc không đều" thư gửi trước thì lại đến sau. như thứ báo tin cháu bé chết cho đến nay tôi vẫn chưa nhận được.
Mi-sen-ca không còn nữa, thế mà tôi không có lấy một tấm ảnh của nó. Chỉ còn một cái đồ chơi màu hồng của cháu. Nhưng giờ đây tôi lấy xuống và cất vào ngăn kéo.
Điện thoại từ Mat-xcơ-va. Báo "Sự thật" đề nghị tôi viết bài. Chủ yếu nhất là điện thoại của dồng chí Pa-xpê-lôp yêu cầu tôi gửi bài thử…

nthach 21-09-2010 07:41

Ngày 12 tháng Ba 1942

Buổi tối
Những ngày trôi qua nhanh. Phải viết, viết và viết không được lãng quên vì những bức thư cay đắng của Gian-na. Vì ăn uống đói khát ( bây giờ càng khó khăn mà chịu đựng điều này) hay ngược lại vì những tiếng chuông điện thoại từ báo " Sự thật" , vì những hy vọng vào lời khen những chương thơ của tôi gửi về Mát-xcơ-va. Không có cái gì làm bận tâm tôi. Tóm lại là như Ve-ra-In-be nào đó đã nói một lần: " Bạn không vui nhưng bạn viết… bạn hạnh phúc ở trong lòng, bạn hãy viết đi".
Thư của Gian-na gửi cho nhà tôi viết:" Đến tối thằng bé bắt đầu hiếng mắt và ngoẹo đầu. Đó là bệnh viêm màng não. Con là người đầu tiên bắt trúng bệnh đó. Trong đời con, con cũng đã từng mắc bệnh đó, con liền nhận ra ngay.
Trong giờ phút đó con hiểu là hết rồi, chỉ mong một điều là cháu bé không bị dằn vặt lâu nữa.
Con không muốn kể cho bố nghe những giờ phút cuối cùng, con không thể nào viết ra được.
Trong mấy tiếng đồng hồ, cháu bé thổi hết ba túi dưỡng khí. Và nó chắc là lịm đi rồi.
Con chôn cất nó theo kiểu ở nông thôn: "Cột chiếc quan tài nhỏ bé lên chiếc xe trượt tuyết đưa ra nghĩa địa. Và chúng con đã trở lên thân thuộc với thành phố này, vì nó đã che chở cho chúng con".
Thật là đau đớn, hầu như không tài nào đọc tất cả những điều đó. Giờ đây tôi phải làm việc thật nhiều để khuây khỏa đi.

nthach 21-09-2010 07:41

Ngày 22 tháng Ba 1942

Hôm qua lúc 3 giờ sáng (không sai một phút) thì địch bắt đầu pháo kích thành phố, vào khu vực chúng tôi. Chúng tôi chưa nghe tiếng rít thì đạn đã nổ dồn. Có sáu quả đạn sáu mươi ly rơi vào khu vực chúng tôi. Hai quả làm sập ngôi nhà bếp một tầng của chúng tôi. Phát đạn xuyên qua mái rơi xuống nền nhà, giết chết một thanh niên công nhân chữa ống dẫn nước. Một viên đạn khác đã cắt mất chân một em bé, con của người hộ lý.
Đạn làm sập ngôi nhà xác, làm hỏng một giảng đường ( may mắn làm sao trong đó lại không có người) phá nát một giá sách, nhỡng bản mẫu ngâm trong rựợu bị bắn trúng bay tung lên. Vợ chồng tôi đã đi xem những tiêu bản đó, nhưng lại chưa xem hết.
Tôi còn nhớ, tôi lặng lẽ xem từng chiếc lọ thủy tinh, ngoài lọ có dán giấy viết: " Gan", "Tim", "Cật". nhưng đến chỗ cái nọ trên đó viết "Mũi", nhìn trong chất nước trong suốt đố nổi lên nửa cái đầu của một thanh niên với gương mặt đầy đặn tôi bỗng lùi ngay xuống cầu thang làm nhà tôi theo không kịp. và bây giờ người thanh niên đã chết ấy lại chết lần thứ hai nữa.
Hai phát đạn rơi ngay trước cửa sổ chúng tôi. căn nhà nhỏ của chúng tôi lại nứt thêm ở chỗ cạnh lò sưởi. Mọi thứ đều lung lay. Tôi và Ma-ri-et-ta khoác áo măng tô đứng đấy không biết nên chạy đi hay là ở lại.
Ống dẫn nước ở nhà bếp lại bị hỏng vì đợt pháo kích (hay là không phải nó gây ra). Nhà tôi rất thật vọng.
Ngay cả niềm lạc quan không gì lay chuyển nổi của anh cũng bị rạn nứt giống như tường nhà chúng tôi.

nthach 21-09-2010 07:42

Ngày 27 tháng Ba 1942

Còn mấy hôm nữa thì chúng tôi dọn đến ở một căn buìong lớn có ba cửa sổ nhìn về phía đông. Tôi đang nóng lòng chờ đợi. Ở đó có thể đi lại không vấp phải bàn ghế, không thở vào mặt nhau. Vào những ngày sau này, căn buồng nhỏ bé mà chúng tôi rất thích về mùa đông, sao bây giờ tôi lại ghét nó đến thế. (Hình như có tiếng súng cao xạ và tiếng máy bay. Chắc là máy bay trinh sát đang họat động. Chẳng lẽ chúng có thể bắt đầu bắn phá sao?).
Hôm nay là ngày chủ nhật tổng vệ sinh đường phố. Nhà tôi cũng đang làm dở ngoài ấy. Còn tôi khi thì là quần áo, khi thì ngồi bàn viết. Ma-ri-et-ta thì ôm lấy cái bếp sưởi soạn một bữa cỗ. Hôm nay chúng tôi phát tài. Nhận được một gói quà của Hội nhà văn từ Mat-xcơ-va gửi tới. Nhìn những thứ được gửi đến tôi như bàng hoàng. Hay tay tôi ôm một hộp sữa đặc, giữ chặt lấy không muốn rời nó ra.

nthach 21-09-2010 07:42

Ngày 28 tháng Ba 1942

Phố Ren-ghen bị pháo kích, rất gần chỗ chúng tôi. Trước cửa học viện Ren-ghen có bức tượng: Một cái đầu của Ren-ghen bằng đồng xanh đặt trên mấy cuốn sách bằng đá kim cương, xếp thế nào mà người ta tưởng như một bàn tay vội vã chọn trong chồng sách ấy một cuốn sách đang cần.
Nhà tôi kể cho tôi nghe rằng: Bốn mươi bẩy năm về trước (cũng đúng vào tháng ba) trong một hiệu sách ở một phố lớn thành phố Vư-xơ-bua xuất hiện một tấm ảnh: Bức ảnh chụp một bàn tay trông rất rõ những xương đốt ngón tay, trong đó có một ngón tay đeo chiếc nhẫn.
Cả bàn tay không có thịt gân và dây thần kinh, da hình như không hề có. Đó là một trong những tấm ảnh đầu tiên chụp quang tuyến Ren-ghen.
Đêm hôm đó các đoàn thể sinh viên trong thành phố này đốt đuốc và rước cờ đi đến trước cửa ngôi nhà ba tầng của học viên vật lý, nơi giáo sư ren-ghen giảng bài, và không những chỉ có sinh viên và còn có cả công chức, quân nhân nhà buôn cả thành phố Vư-xơ-bua đến chào mừng người đồng hương vĩ đại của mình.
Thế mà hôm nay đây, một ngày trong tháng ba năm 1942 này. Bom đạn của giặc Đức đã rơi trên đường phố Ren-ghen làm hỏng bức tượng kỷ niệm nhà bác học ấy. Tôi và ma-ri-ét-ta đến phố Ren-ghen để xem, một phần cái bệ sách bằng đá hoa cương bị phá vỡ. Cái đầu bằng đồng vẫn ở nguyên chỗ cũ chị bị nghiêng sang một bên và bây giờ đầu ông vẫn năm nghiêng đau đớn áp má vào mặt đá hoa cương.
Tuyết tháng Ba rơi xuống tan đi trông như trên trán cao của ông thì phủ mồ hôi lạnh. Nước mắt chảy trên má và chảy vào chòm râu rậm.
Tôi viết cho một tòa báo ngoại quốc bài bút ký:" Phố ren-ghen".

nthach 21-09-2010 07:44

Ngày 29 tháng Ba 1942

Vào hồi 6 giờ sáng, một tiếng nổ lớn quá làm chúng tôi tỉnh giấc. Sau đó có ba tiếng nổ nữa. Tiếng nọ cách tiếng kia rất lâu. Mặt đất và không khí đều rung chuyển. Chẳng lẽ đạn pháo lại mạnh đến thế kia ư?
Tối
Bây giờ chúng tôi biết là sáng nay những toa tầu chở đạn bị bọ Đức thả bom làm nổ trên đường sắt ở Rơ-giep-xki.
Hiện nay tôi làm việc được rất ít và điều đó làm cho tôi rất khổ tâm. Bản trường ca bị xếp vào một xó. Tôi suy nghĩ lan man va dần dần quên đi. Nhiều việc trôi qua không trở lại.
Lại bị dằn vặt vì cái hỏa lò. Đã không ấm gì cả lại còn khói um lên. Không biết có tìm được người thợ chữa lò hay người thông ống khói không? Hình như có một người thợ chữa lò già, nhưng ông ta đã chất cách đây mấy hôm rồi.
Giờ đây, vào những ngày này số phận mùa xuân của thành phố sẽ được quyết định: Liệu bệnh truyền nhiễm có phát ra không? Lòng tôi xe lại khi nghĩ rằng có những bệnh dịch, bệnh lỵ sẽ trùm lên thành phố lê-nin-grát. Ai còn đủ sức chống đỡ với những bệnh này? Ai sẽ săn sóc người ôm?
Cả thành phố, tất cả mọi người, ai còn đủ sức cầm cái cuốc hay cái xẻng đi quét dọn đường phố. Chuyện ấy chẳng khác nào đi sắp xếp lại miền Bắc cực bẩn thỉu, dọn tuyết , xếp băng. Có rất nhiều người tự nguyện làm việc đó. báo" Sự thật Lênin-grat" đăng một cuộc nói chuyện ngắn của em bé Phi-ma Ô-der-kin, 11 tuổi ở phố Li-gôp-xki; Phi-ma nói: "Chẳng ai bảo chúng cháu ra dọn sân cả. Đó là chúng cháu làm lấy theo ý mình. Bác có thấy đống tuyết khổng lồ ở trong sân ấy không? Cháu và Tô-ni-a dọn đấy. Ngày mai chúng cháu sẽ ra quyét sân nữa". Cảm động biết bao khi đứng trên bờ sông hay trên cầu bỗng trông thấy một đoạn đường đã được quét dọn sạch sẽ. Nó trở nên rất đẹp, như một cánh đồng phủ đầy hoa.
Một chị phụ nữ mặt vàng ệch, sưng vù lên, mặc chiếc áo khoác đã ám khói đen sạm (rõ ràng là suốt cả mùa đông chị không cởi ra lần nào) chống tay trên cán xẻng, đứng nhìn một đoạn đường nhựa do chị đã dọn sạch. Rồi chị lại tiếp tục làm.
Một chi tiết mới ở thành phố: Mọi người đều đi trẩy cành thông và tùng. Đấy là Vitamin. Chúng tôi uống nước đun từ những thứ lá ấy. Bóc lấy mảnh vỏ cây sến cao bằng đầu người trên các loại cây sến, đặc biệt là loại cây sến con đem về nấu nước uống có thể chữa được bệnh đau dạ dày. Trong vỏ cây sến có rất nhiều chất ta-nin. Đây là một thứ thuốc hàn vết thương. Có điều là cây bị bóc vỏ đi rồi trông giống như con người không có da trên một bản đồ giải phẫu.
Cách đây ít lâu tôi trông thấy ngoài đường phố một con ngựa gầy quá sức tưởng tượng. Nhưng nó đã vượt qua mùa đông này nghĩa là nó có thể còn sống được.
Tôi mệt mỏi vô cùng. Tôi sợ cái gì? Không sợ bom đạn, không sợ đói khát, mà đây là một loại mệt mỏi tinh thần, một số suy nhược quá độ, khi người ta bắt đầu thấy ghét cả tiếng động và mọi vật xung quanh. Chẳng phải ngoa mà người ta nói: Ai vững thần kinh thì người đó thắng. Tôi sợ chính điều đó: tôi yếu thần kinh, suy nhược. Điều chủ yếu là tôi không viết được.
Đi ngủ vậy. Rồi sau sẽ hay.

nthach 21-09-2010 07:44

Ngày 30 tháng Ba 1942

Một đêm trôi qua yên tĩnh. tôi ngủ say như chết. Một vài cơn mê dằn vặt tôi. Tôi mơ thấy một em bé có một con mắt xanh rất to mọc trên trán. Mẹ em nói: Đấy bà xem, hai con mắt của nó ghép lại thành một con đấy!".
Đó là hình ảnh cô bé mắt xanh Ki-rôt-sca đã đi vào giấc mơ tôi. Hôm qua tôi được nghe rất nhiều về em, được xem cái đầu tuyệt đẹp của em tạc bằng cẩm thạch bị hơi ép của bom làm tách khỏi thân.
Trong buồng chúng tôi rất lạnh. Bác thợ chữa lò sưởi hứa đến nhưng lại không đến. Tuy vậy hôm nay tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút. Có lẽ vì bên ngoài cửa sổ vẻ đẹp giận giữ của mùa xuân đã lánh đi một lúc. Gió tuyết nổi lên.

nthach 21-09-2010 07:44

Ngày 31 tháng Ba 1942

Không có hôm nào tệ hơn hôm nay nữa. Một trong những ngày khổ nhất của tôi ở Lênin-Grát.
Hôm qua chúng tôi dọn đến gian buồng mới. Nó tiếp tôi một cách kinh khủng: Tôi mất ngủ suốt đêm. Cảm xúc không tự tin và xáo động-bần thần quá. Chúng tôi rồi sẽ ra sao đây. Gian-na rồi sẽ ra sao? Tôi không biết nữa. Điều chủ yếu là bản trường ca tôi viết ra sao, tôi không biết. Toi thấy hình như nó giống một kho tàng trong rừng như trong một chuyện thần thoại. Mà những con đường đi đến đấy ngày càng phải nấp đi. Tôi chặt một bụi cây, phát quang con đường thì ngày hôm sau nó trở lên rậm rạp hơn, hoang vu hơn.
Tôi khuân đồ đạc mệt lử ra. Chưa kịp khiêng giường đến nên đêm qua tôi ngủ trên đi-văng. và cái ý nghĩ trên chiếc ghế này chị Xô-phi-a Va-xi-li-e-vna xấu số nay đã chết rồi cũng thường ngủ ở đây, làm tôi không tài nào nhắm mắt được. Khoảng một giờ sáng thì bắt đầu có tiếng nổ ( ở rất xa). Tôi cứ tưởng đó là bom và vì không có loa truyền thanh nên chúng tôi không nghe báo động.
Căn nhà lạ với những tiếng nổ xa đã làm tôi sợ khiếp, một cơn sợ mà cả đời tôi chưa từng trải qua.
Ở Gơ-kha-ri-ép hay ở Xít-nư hay bất cứ nơi nào tôi chưa bao giờ gặp một cơn sợ như vậy. Người tôi run lên, tê cóng, mà nhà tôi thì như trêu ngươi cứ ngủ ngon lành. Tôi gọi anh, anh bảo: " Việc vặt, việc vặt ! Em ạ !".
Tôi bỏ mặc anh, đi xuống chỗ tực ban phòng không ở bên dưới. Nhưng ở đó không hiểu tại sao cửa lại khóa rất chặt. Đêm trăng sáng như ba ngày dưới ánh trăng và tuyết. Tôi quay trở về: Tuyết xuân mềm mại ! Những hàng cây đứng như trong mùa táo ra hoa.
Đã có tới hàng trăm lần, tôi ngồi đọc tiểu thuyết Pháp. và thật lạ lùng những câu chuyện trong sách ấy, cả cuộc sống những tình yêu ấy ở đâu đó trên Ri-ve-e ở Ni-xơ hiện ra như trong một giấc mơ.
Ni-cô-Lai I-va-nô-vích đến báo tin: Các lớp học năm thứ nhất và thứ hai của học viện ản cư khỏi Lênin-grát. Thời hạn là trước ngày 10 tháng Tư. Khi hồ la-đô-ga còn đóng băng. năm thứ ba và năm thứ tư ở lại. Nhà tôi ở lại đây với sinh viên. Và tôi cũng ở lại với chồng tôi.
10 giờ đêm.
Buồng đã được dọn dẹp xong. nhưng một cảm giác thiếu tự tin và hồi hộp làm tôi không yên tâm được. Chúng tôi rồi sẽ ra làm sao đây? Tôi rồi sẽ ra sao? Tôi không biết nữa.
Tôi không biết gì hết. Tôi thấy nặng trong lòng và kinh hãi lắm. Tôi viết về điều này không một chút hổ thẹn giả dối nào. Tôi khiếp sợ. ma-ri-ét-ta kể rằng hôm nay giặc Đức tiến rất gần vào thành phố. Chắc tôi đã cảm thấy điều đó rồi tuy là tôi không biết. Chúng đưa đến một khẩu đội pháo binh đường sắt rất mạnh và bắn vào thành phố.

nthach 21-09-2010 07:45

Ngày 1 tháng Tư 1942

Tôi ngồi viết cho báo: "Sự thật Lênin-grát" một bài thơ về một đội vận tải du kích của nông trang tập thể đã vượt qua tất cả các đội tuần tiễu và đồn bốt của giặc Đức để đến với chúng tôi. Hơn hai trăm xe lương thực. Tất cả phải đi qua phòng tuyến bí mật đến đây. Nửa đêm hôm qua tòa soạn báo gọi dây nói đến chỗ tôi. Nhưng tôi không gặp được đoàn đại biểu đó. Dĩ nhiên là vì xe thôi: Không có dầu xăng.

nthach 21-09-2010 07:45

Ngày 2 tháng Tư 1942

Tôi vô cùng sung sướng là ở đây tôi có cái bàn viết, chính là cái bàn viết chứ không phải cái bàn trang điểm, bàn ăn như ở đằng kia.
Ở gian buồng này dần dần rồi cũng quen. Hôm qua tôi đã làm việc được một ngày rất tốt. Và hình như " nhiệt tình lao động" đã sưởi ấm những bức tường này.
Bên ngoài cửa sổ tuyết ngây thơ của tháng Ba, à không đã là tuyết của tháng Tư rồi. Thật là một ngày rất tốt để làm việc. Còi bào động im bặt.
Các đồng chí bảo là vài ba ngày nữa ở nhà chúng tôi sẽ có điện từ cái máy " Djik". Thật khó tin một niềm hạnh phúc như vậy.

nthach 21-09-2010 07:45

Ngày 4 tháng Tư 1942

Một cuộc tấn công ghê gớm. lần đầu tiên trong năm nay, nhà cửa lại rung lên như nửa năm về trước: Tiếng nổ, tiéng rền.
Giáo sư P. mang biếu tôi quả địa cầu con con, hôm nay tí nữa thì chết vì đạn pháo.
Chúng tôi đứng trên hành lang gác 2. Ở đó dù sao cũng nguy hiểm hơn.
Đến 6 tháng Tư một nửa số người của học viện phải đi Pê-ti-gor-xcơ. Lúc đầu tôi định bụng sẽ cùng đi với họ về Mat-xcơ-va để làm một viêc (nhiều việc chồng chất ở đó rồi). Sau đó đáp máy bay quay về. Nhưng rồi sau mới biết là chuyến tàu của học viện không hề đi qua Mát-xcơ-va.
Bây giờ người ta tìm cách cho tôi đáp máy bay đi Mát-xcơ-va với Gơ-ru-giơ-đec.
Hôm qua đi nói chuyện ở trung đoàn thông tin số 2. Tuy từng tiểu đội đến nghe tôi nhưng chăm chăm chú lắm. Cuộc nói chuyện làm tôi rất mệt, mồ hôi ra đầy trán, hai tay tê dại đi. Đọc thơ lại càng khó hơn. Ngoài ra căn phòng thật bất tiện: Dài mà hẹp, y như một cái ống chữa cháy. Tôi phải nói to để cho người ngồi hàng cuối nghe rõ. Nhưng được cái là rất im lặng.
Sau buổi nói chuyện anh em dẫn tôi đến nhà ăn của trung đoàn. Tôi phấn khởi vô cùng.
Anh em đem đến cho tôi một bát to xúp rau xanh rất đầy, khói lên nghi ngút, trong canh lại có cả thịt nữa. Thế nhưng tôi vừa bỏ chiếc thìa vào bát thì có người đến nói là tiện có một chiếc xe ô tô con có thể đưa tôi về khu phố Pê-trô-grát. Và nếu tôi không đi ngay bây giờ thì chốc nữa sẽ phải đi bộ về.
Làm thế nào bây giờ? Đã lâu lắm rồi tôi chưa thấy một bát xúp ngon mà lại nhiều như thế, nhưng lại phải đi bộ... lúc về đến chỗ ngã tư đường phố tối om, tý nữa thì đâm phải chiếc xe vận tải. Trên những đường phố tối mò của chúng tôi, những việc đâm nhau như thế thường xảy ra lắm

nthach 21-09-2010 07:46

Ngày 7 tháng Tư 1942

Một ngày rất nặng nề.
Chuyện bắt đầu từ sáng sớm. Ni-cô-lai I-va-nô-vich đến báo tin: " trong khu nhà tập thể của sinh viên đã phát bệnh thương hàn". Nhà tôi một người khổ sở, ngồi ì ra đấy. Lúc nào anh cũng lo những việc như thế xảy ra.
Nhưng trước đó thì I-va-nô-vna đến bảo chồng chị chết rồi. Tôi đưa cho chị một ít bánh mì ( để đi đổi lấy quan tài). Thế là chị ra đi, không đốt lò. Một đồng chí công nhân trang hoàng nhà cửa của học viện đến giúp tôi nhóm lò. Anh làm việc ở đây suốt ngày: Treo những tấm rèm cửa và ngăn căn phòng. Tôi nấu ăn cho anh ta.
Ve-ra đem những đồ hộp ở nhà bếp đến cho chúng tôi, ngày mai cô sẽ tản cư theo học viện. Làm thay cô là cô Nhu-ra bị đói quá và tôi phải đưa chao cho cô ta ăn ngay.
Chị U-li-a Mar-cô-vna đến với một tay bị gãy. Tôi mời chị uống chè.
U-li-a mar-cô-vna, giáo sư, nhà hóa học sinh vật, cách đây ít lâu bị trượt chân ngã ở ngoài phố. Chị bị gãy một cánh tay, nhưng rồi sau lại vui lên. Chị không muốn đi tản cư cùng với sinh viên. Bây giờ thì chị có tất cả lý do để không đi nữa.
Nhà tôi đói lả đã về. Cho anh ăn cơm trưa. Cô bé Ve-ra đến chào để đi, cô ta cũng đói, tôi cho cô ăn cháo. Chốc nữa Ma-ri-et-ta xanh xao, mệt mỏi và đói khát sẽ đến. Rồi lại đến nhà tôi cũng đói.
Nhưng dẫu sao tôi vẫn làm việc được. Gian buồng này của chúng tôi trước kia là lớp học vẫn còn treo biểu đồ của nhà tôi: Công tác của người thầy thuốc ở nông thôn, tỷ lệ trẻ con chết trong mấy tháng đầu của chúng nó. Căn buồng rất rộng. Chúng tôi chỉ ở một phân chỗ gần lò sưởi thôi. Còn một nửa bên kia xếp bàn ghế, bảng, mực, đồ dùng học tập của lớp học. Nhưng trong cái hành lang của chúng tôi vẫn còn những lớp học hiện đang hoạt động . Bây giờ ở đấy đã ấm áp rồi, nhưng về mùa đông ngồi học ở đó giáo sư và sinh viên ( đều mặc áo khoác da cả) quây tròn quanh lò sưởi.
Có một lần vào lúc sâm sẩm tối một ngày tháng Giêng nhân đi lại trong hành lang, tôi thấy một cô sinh viên ở lại một mình, áp người vào cái lò sưởi chỉ còn hơi âm ấm. hai tay cô ôm lấy cái lò, áp trán vào đấy. Cô ngồi như thế mắt nhằm nghiền, rồi lại đến sát cửa sổ lạnh giá. Chút ánh chiều tà lọt qua khe cửa. Rồi cô tiếp tục đọc sách. Cùng một ngày tháng Giêng ấy nhưng không phải vào lúc hoàng hôn mà là đêm khuya lắm rồi, tôi phải cầm ngay cuốn từ điển bách khoa toàn thư Xô-Viết để tra chữ " Lê-nin-grát". Tôi chạy xuống phòng bên dưới để tìm trong tủ sách nơi để quyển từ điển.
Tôi bước vào phòng thấy hai trực nhật: Một nam và một nữ sinh viên. Anh sinh viên đang ngồi cạnh lò sưởi. Cô ta ( lúc đầu tôi không nhận ra sinh viên này là nữ) có bộ mặt bủng beo, mặc chiếc áo khoác da của nam giới, đầu đội mũ, mặt cận thị đeo kính, đang ngồi học bài chuẩn bị thi dưới ánh sáng ngọn đèn dầu.
Ma-ri-et-ta nói với tôi rằng ngay ngày hôm ấy cô sinh viên bé nhỏ này đã chôn căt cả cha lẫn mẹ ông bố chết tước mấy ngày, song bà mẹ cô ta nói: " Thong thả hãy chôn, chờ mẹ chết rồi đem chôn một thể".
Rất cần nước, thế mà mãi đến nay vẫn chưa có. Bao nhiêu thời gian bỏ ra nhưng vẫn không tìm thấy chỗ hỏng. Hoặc là đóng băng ( tuy tuyết đã tan rồi) hay là bị đạn nổ cắt đứt.

nthach 21-09-2010 07:46

Ngày 18 tháng Tư 1942

Một ngày đầy lo âu và náo động. Cả đêm học viện chuẩn bị để tản cư. Chúng tôi chuẩn bị ra ga tiễn nhưng đến phút cuối cùng thì không được đi vì xe hỏng. Thế là chúng tôi không chào tạm biệt Ni-cô-lai I-va-nô-vich, A-lê-na và cả mọi người. Những bức thư của tôi do đó mà cũng không nhờ họ mang đi gửi được.
Trông dáng nhà tôi thật là đáng sợ, anh đi lại khó nhọc lảo đảo. Nhưng cái đáng nhất là khuôn mặt anh. Tôi chưa hề thấy sắc mặt con người lại như thế, một màu vàng xám tro với đôi gò má xương đỏ.
Tôi thương anh quá, đến ứa nước mắt

nthach 21-09-2010 07:46

Ngày 9 tháng Tư 1942

Đêm yên tĩnh và một ngày yên lặng ( về mọi mặt) bắt đầu.
Học viện giống như một tổ ong bị bay mất một nửa. Trong các lớp học của bộ môn chúng tôi không có lấy một người. Chị Ep-phơ-rô-xi-ni-a về chôn cất chồng. Nhà tôi chống gậy, nhấc từng bước chân mọt cách khó khăn đi xuống thang gác. vắng lặng.
Bên ngoài cửa sổ là một ngày màu xám. Chỗ nào cũng có nước, mọi thứnhư chảy tan ra. Thậm chí có một con chim nhỏ nhảy trên cành cây cũng quay cái đầu bé tí như một cái gì không yên phận. Tiếng nó kêu trong im vắng lọt qua cửa kính. Tuyết nằm kia đang hấp hối hơi thở cuối cùng.
Nhà tôi nói rất hay rằng mùa xuân này trong những sinh vật còn sống sót ở Lê-nin-grát chỉ có thực vật là no nê, bởi vì chỗ nào cũng có nước.
Chiều tối hôm qua, vợ chồng tôi đến khu nhà tập thể của anh em sinh viên nơi đang bị bệnh thương hàn. Nhà tôi không cho tôi vào. Thế là tôi đi dạo để chờ anh ra.
Tôi qua cầu Grơ-na-đa rồi quay trở lại. Bộ mặt thành phố trông đến thương tâm. Phố xá vắng tanh những đổ nát, những chiếc sân nứt nẻ, những bức tường đổ mất một nửa treo trong vắng lặng, những bãi hoang đầy nước. Những hàng người cô độc một mùa xuân nhếch nhác đang đi qua.
Hôm qua Lê-li-a và In-na đã đi tản cư trong chuyến xe cuối cùng trước khi băng tan trên hồ La-đô-ga. Bà mẹ chi đã chết rồi.
Chị Ma-ri-et-ta bảo là ở nhà ga người ta có cảm giác hình như cả thành phố tìm cách thoát đi trước khi hồ La-đô-ga băng tan.
Mấy chữ " băng hồ La-đô-ga" mới trừu tượng làm sao, khi vào hồi đầu tháng Năm năm ngoái chúng tôi ra về từ nhà hát rực sáng, ấm áp và tràn đầy âm nhạc, nơi U-li-ra-nô-va đóng Ju-li-et và Ba-la-lin trong vai Đôn-Ki-sốt mới nhộn làm sao!.
Ra khỏi nhà hát say sưa vì nhạc, ấm lên vì những động tác tuyệt đẹp, chúng tôi rét cóng đang đứng chờ xe điện, người nào cũng mặc áo bông, đứng quay lưng về chiều gió. Chung quanh mọi người nhắc lại câu: "Băng trên mặt hồ La-đô-ga đang tan cho nên trời lạnh". Và trong chí tưởng tượng của tôi hiện ra một tảng băng sặc sỡ như trong vũ kịch, tắm trong ánh sáng, trong rực rỡ đang trôi trên những làn sóng xanh. Còn bây giờ thì...
Ban ngày
Rất có thể đến sáng sớm ngày kia tôi sẽ đáp máy bay đi Mát-xcơ-va. Bao nhiêu là việc. Bây giờ tôi là nhà văn của Lê-nin-grát.
Sao mà tôi muốn viết bản trường ca

nthach 21-09-2010 07:47

Ngày 10 tháng Tư 1942

Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì một nỗi kinh sợ và nỗi buồn suýt làm tim tôi như ngừng đập.
Nhà tôi đi lê từng bước, trông anh mà phát sợ, thay đổi rất nhanh. Công việc của bệnh viện ngày càng xấu đi. Bây giờ lại đang có một căn bệnh thương hàn. Cũng may đấy là một trường hợp duy nhất. Có lẽ rồi bệnh ấy sẽ qua đi thôi.
Nhưng cũng có những tin vui. Những chuyến xe đi hồ La-đô-ga mà chúng tôi hằng lo lắng đã sang tới bờ bên kia từ lâu rồi. Họ có thể tin được là họ sẽ không trở lại nữa. Điều mà họ rất sợ.
(Tôi nghe hình như lò sưởi của chúng tôi đã cháy. Chị Ép-phơ-rô-xi-ni-a đi chôn cất chồng mãi vẫn chưa về).
Trong bệnh viện vẫn như trước kia không có nước. Không có biểu đồ hệ thống dẫn nước (trên nhà máy nước thành phố cũng không tìm ra). Những người quản lý của chúng tôi đâm thọc vào mọi chỗ, mọi vòi nước, đốt nó lên bằng mấy giọt dầu quý. Và sau đó mới rõ rằng đốt chỉ vô bổ mà vấn đề là không có nước. Còn làm thế nào được nữa! Việc này thật giống như khi không tìm thấy tĩnh mạch mà cứ tiêm bừa vào thân thể người ta.
Trên bàn của tôi có một quả địa cầu nhỏ, quà tặng của một người bạn. Trước đây tôi rất muốn có quả địa cầu này nhưng tìm mãi không ra. Trên vòng tròn nam cực của quả địa cầu bao nhiêu kinh, vĩ tuyến tập trung ở đấy (cả mùa đông, nó nằm trong khu nhà tập thể bị bắn sập).
Tôi lấy bút chì đỏ vẽ "kinh tuyến" của riêng tôi. Song khi nào tôi có thể gặp lại nói ? Ôi! tôi làm sao biết được. Hôm qua tôi chỉ viết được hai đoạn thơ.
Ýnghĩ rằng ngày mai tôi có thể ở Mát-xcơ-va rồi đối với tôi hình như chỉ là ảo tưởng. Trong ảo tưởng thôi sao. Nhưng có lẽ đúng hơn hết là không phải ngày mai.

nthach 21-09-2010 07:47

Ngày 13 tháng Tư 1942

Hiện nay mọi người đều chú ý vào chiếc máy điện nhỏ. Nếu nó chạy được thì nhà giặt sẽ tan hết băng và phòng điện quang sẽ làm việc, không có cái này thì bệnh viện sẽ không phải là bệnh viện… Nếu cái máy chạy được… nhưng nó lại không chạy. Không chỉ toàn bộ phận kỹ thuật mà cả đồng chí bí thư khu ủy khu phố là Gi-gan-xki; kỹ sư điện cũng tham gia vào chữa cái máy điện nhỏ này.
Ngày ấy ông cũng đến chỗ chúng tôi. Hàng ngày qua cửa sổ, tôi thấy một đoàn người vẻ lo lắng đi về phía sân chỗ đặt là ở trong căn nhà nhỏ, trong đó để cái máy phát điện bị hỏng.

nthach 21-09-2010 07:47

Ngày 15 tháng tư 1942

Tôi vẫn ở đây. Vì đường bay không làm việc-mýa bay không bay được. Vắng lặng trong thành phố và ở mặt trận cũng im ắng.
Công việc tản cư của bệnh viện đã xong xuôi. Việc di chuyển trên băng hồ La-đô-ga đã trở lên nguy hiểm rồi. Bây giờ chúng tôi hoàn toàn bị cắt đứt khỏi lục địa. Băng đã tan, mà nước thì không có.
Tôi bị mất ngủ, vắng lặng như đè nặng lấy tôi. Ngay cả tiếng súng cũng hầu như ngừng hẳn, ít nhất cũng tại khu phố chúng tôi. Ngay máy bay của chúng ta cũng không bay nữa. Chắc là do đường bay.
Chợp tối, tôi cùng Ma-ri-ét-ta đi dạo trên cầu Grơ-na-đa đi qua khu nhà tập thể đau thương (trước kia là trại lính nơi thi sĩ Bờ-lốc đã sống. Ở đấy đã sạch sẽ lắm rồi. Từng đống rác đổ xuống sông nằm trên mặt băng sông Nê-va. Chỉ lúc băng tan là nước sẽ mang rác rưởi ra ngoài biển khơi.
Hôm qua lần đầu tiên tôi đọc những mẩu chuyện huyền bí của Bai-rơn qua bản dịch của Bu-nin. Tuy về hình thức tất cả những cái này chắc là hoàn toàn không phải như vậy nhưng về bản chất tôi tin rằng rất đúng. Và điều này là vĩ đại.

nthach 21-09-2010 07:48

Ngày 18 tháng Tư 1942

Thời kỳ theo dõi bệnh thương hàn đã qua rồi. Bệnh không thể xảy ra nữa. Cô sinh viên bị bệnh đã khỏi. Nhà tôi cho rằng (trước kia anh đã nghĩ như thế) đây không phải là bệnh thương hàn.
Hôm nay tôi và Ma-ri-ét-ta đến khu tập thể của sinh viên để kiểm tra vệ sinh ở đó.
Trong những hành lang trước kia vẫn dải thảm và đặt bàn ghế đan bằng mây, bây giờ chống trải và lạnh cóng. Có một chỗ còn treo chiếc hàn thử biểu như chế giễu mọi người.
Chúng tôi bước vào một phòng đúng lúc sinh viên đang chặt chiếc bàn tròn bằng gỗ hồng. Một chiếc chân bàn đang cháy trong lò sưởi. Một sinh viên đang nhóm lò. Một sinh viên khác ngồi trước cửa lò, trên một cái bàn tròn đặt ngay dưới sàn, đang đọc to bài học. Anh chị em sinh viên đang chuẩn bị thi tốt nghiệp. Người nào cũng mặc áo khoác lông, đầu đội mũ. Rát nhưng ánh nắng mặt trời chiếu vào những gương mặt xanh xao, gầy guộc và đã từ lâu không rửa. Thế nhưng kết quả kỳ thi lại rất tốt. Đấy là điều kỳ lạ.
Chúng tôi đi tìm người quản lý khu nhà tập thể cũng là một sinh viên đã tốt nghiệp. Thấy anh ta trong một căn phòng tương đối ấm cúng, chất đầy những đồ đạc. Ngồi cạnh lò sưởi, anh ta không mặc áo khoác mà chỉ mặc một chiếc áo bông thôi. Anh quản lý chậm rãi đưa những ngón tay đã lạnh cóng lên chữa đồng hồ. Trên mặt bàn bầy những cái bánh xe con, mấy cái đinh ốc nhỏ, bộ kim đã tháo rời ra.
Anh quản lý này bị bệnh thiếu máu. Chắc là anh ta đã kiệt sức vì những cái hành lang kia, vì bàn ghế bị phá hủy mà anh ta không còn sức để trông nom nữa. Và anh ta chỉ còn cách là ẩn mình trong cái xó tĩnh mịch này với vài ba cái bánh xe con bên cạnh lò sưởi, dưới ánh nắng mùa xuân.
Nhưng rồi anh ta cũng trả lời tất cả các câu hỏi của chúng tôi. Anh còn cho chúng tôi biết là sinh viên định tìm cách giặt giũ quần áo.
Trên đường về chúng tôi đi trên băng con sông Car-rơ-pốp-ca giữa hai bờ trên mặt sông là những đống tuyết và rác rưởi. May mà người chúng tôi nhẹ. Dưới chân chúng tôi, bên dưới lớp băng này tôi cảm thấy có nước chảy rồi.
Mọi vật đều rực rỡ, chói lọi. Lạnh của băng thấm qua giày vào chân. Nhưng mắt lại chói chang vì ánh sáng. Giồng như trầm mình vào một bể tắm băng và ánh nắng.

nthach 21-09-2010 07:48

Ngày 19 tháng Tư 1942

Chúng tôi đến vườn bách thảo
Các đồng chí Chi-khô-mi-rôp và Cur-na-cốp đãn chúng tôi đi thăm khắp vườn và chỉ cho chúng tôi xem những cây cọ đã chết. Tôi rất ân hận là không ngắm chúng khi chúng còn sống. Mà chủ nhật nào tôi cũng chuẩn bị đến !
Trên một căn nhà của viện thực vật, trên bức tường đá của một ngôi nhà có một vạch đen. Đó là mực nước của thời kỳ nước lũ đáng sợ năm 1824 (cái năm Pu-skin viết "chàng kị sĩ bằng đồng"). Mực nước của "năm tai họa 1941" thì lại cao hơn mực nước trước kia rất nhiều. Nó ở trên đầu chúng tôi, trên ngọn cây cọ. Những cây cọ đã chất kia.
Đồng chí Chi-khô-mi-rốp kể cho chúng tôi nghe về một loại hành rất hiếm, mà có người đói đã đào trộm nấu cháo ăn. Một người đã bị bắt quả tang tại chỗ can tội. Anh ta mang hành trong cái túi đeo mặt nạ phòng độc. Nhưng có phải đấy là "tội phạm" vào cái mùa đông như mùa đông này không!
Lý thú là câu chuyện của Chi-khô-mi-rốp về cuộc "chống tăng" vào tháng Chín 1941. Có thể chuyện xảy ra vào cái ngày mà chúng tôi bị một đoàn xe vận tải hỗn độn cản đường ở góc phố Pê-sốt-snai-a và đại lộ Áp-chê-ca
Đó một ngày mà thành phố Lê-nin-grát bị tập kích. Cho đến bây giờ chúng tôi mới biết rõ chuyện đó. Thì ra đó là một đội xe tăng của quân ta bị máy bay địch đuổi đánh phải tìm chỗ nấp.
Xe tăng đã đến cổng vườn bách thảo. Chiếc nọ bám sát chiếc kia để chạy vào vườn. Chỉ một lát thôi là một số cây quý, chẳng hạn như cây hắc dương nổi tiếng do vua Pi-ốt đại đế trồng sẽ chết mất.
Chi-khô-mi-rốp không kể nguy hiểm xông ra nhưng đội trưởng không nghe và cứ tiếp tục cho xe chạy vào vườn. Chi-khô-mi-rôp hét lên:
-Cái vườn trồng hai trăm năm mà các anh phá hủy nó chỉ trong vài phút !
Câu nói đó kích động đồng chí đội trưởng. Hình như anh ta nghĩ đến hai trăm năm dài đằng đẵng kia nên anh dừng xe lại. Dừng lại trong lúc tiến lên có nghĩa là phải lùi.
Quay lại các chiến sĩ lái xe của mình, đội trưởng ra lệnh.
-Quay lại, vị trí này không thích hợp !
Thế là xe tăng rút ra khỏi vườn, đỗ trên bờ sông Nê-va, chỗ có những cành cây cao rủ xuống che nấp.
Chúng tôi đi xem gian phòng lớn trưng bầy những mẫu thực vật. Đây là nơi trưng bầy những tiêu bản thực vật lớn nhất thế giới. Trong đó có năm triệu loại thực vật. Trên tường treo những biểu đồ các loại gió: Gió nóng, gió bãn, những cơn bão sương mù quay quanh địa cầu.
Tôi đến bên một cái tủ, cầm lấy một tập cây (thật là kỳ lạ !) thì đây là một loại thực vật thời thơ ấu của tôi, cây Cổ phùng ở vùng biển Hắc-hải. Chúng có rất nhiều loại, có tới mấy chục loại. Thật là một dịp hiếm có. Thật là một dịp hiếm có, trong số năm triệu thực vật này tôi bỗng gặp lại người bạn thời thơ ấu.
Theo tiếng la-tinh thì loại cây Cổ phùng của chúng tôi có cái tên rất kêu " Arteemisia inodorata" có nghĩa là "loại cỏ không thơm". Thực ra cái tên đó không đúng. Loại cỏ ấy có mùi hương. Có điều là hương của nó không ngào ngạt như các loại Cổ phùng khác. Tôi cứ đứng mãi bên cây đó. Tôi về nhà mang theo tập 1 của bộ sử Viện thực vật. Người mệt nhưng rất hài lòng.

nthach 21-09-2010 07:49

Ngày 22 tháng Tư 1942

Mat-xcơ-va.
Tôi ở Mát-xcơ-va. Hôm qua đáp máy bay về đây.
Ở Pháp thành phố Run-an với những tuyệt tác kiến trúc thời trung cổ bị thiêu hủy hoàn toàn, thư viện Tua với hai triệu rưỡi sách quý bị cháy. Nhà thơ Rem vừa được phục hồi lại bị phá hủy lần thứ hai. Đối với bọn phát xít hình như nhà bảo tàng và thư viện cũng nguy hiểm như đại bác và xe tăng. Ở Pa-ri vừa có danh sách những quyển sách bị cấm. Nó có thể dùng làm tập tóm tắt giáo trình văn học hiện đại: Trong ấy có những tác phẩm các nhà văn lớn nhất ccủa Đức và Pháp.

nthach 21-09-2010 07:49

Ngày 23 tháng Tư 1942

Tôi đánh điện cho biết " Nhà giặt, phòng điện quang đã làm việc"

nthach 21-09-2010 07:49

Ngày 25 tháng Tư 1942

Mát-xcơ-va.
Mệt không thể tả được. Tôi trìu mến nhớ lại chiếc ghế bành da của tôi cạnh cửa sổ trong sân của bệnh viện ở Lê-nin-grat. Tôi rất lo cho nhà tôi. Nhận được bức điện của Gian-na trong đó đứa con gái khốn khổ của tôi mơ ước là tôi sẽ đến Tri-xtô-pôn hay là nó đến chỗ tôi.
Công việc văn chương của tôi rất thuận lợi. Nhưng ngày 24 ở Lê-nin-grat bị đánh phá rất dữ, điều đó dằn vặt tôi nhiều.
Hôm qua đến chỗ nhà văn E-ren-bua. Tôi nhớ lại Pa-ri xa xôi trẻ trung. Buồng ở khách sạn, máy đánh chữ, sự ấm cúng của sự xê địch. Thoải mái.
Ê-ren-bua làm việc rất hăng. Ban ngày viết ba bài báo vào buổi tối uống một cốc rượu rót từ một chiếc bình pha lê rất đẹp, hút xì gà với một khúc tàn tro màu xám xanh rất dài… Rồi sau đó đến báo "Sao đỏ" viết bài hoặc nghe Ghét-bên-xơ chửi anh về giòng dõi Do thái qua Đài phát thanh.
Đến 2 giờ sáng anh mới về nhà. Và sáng mọi việc lại bắt đầu như thế.
Bây giờ tôi cũng ở khách sạn. Căn phòng của tôi rất không tiện. Không có nước, lạnh kinh người. Nóc nhà bị giột, bị đóng băng. Và cái chính là không có thang máy. Do đó mà tôi ở khách sạn y như một người nước ngoài.
Ê-ren-bua tặng tôi một huy hiệu "Nước Pháp tự do", giống con tem trên nền xanh có một chữ cái la-tinh màu đen, chữ "V" (Victoire-Chiến thắng) ở góc bên phải của chữ cái này là một cái mào đỏ của con gà trống Gô-loa.

nthach 21-09-2010 07:50

Ngày 15 tháng Năm 1942

Mát-xcơ-va
Tôi cảm thấy viết về Mát-xcơ-va rất khó. Vì nó khác Lê-nin-grat. Mà có thành phố nào giống Lê-nin-grat không? Chỉ có ở đây tôi cảm thấy đối với tôi nó rất thân thiết, gần gũi. Tôi muốn sống trong thành phố, chia xẻ số nhập của nó, cống hiến toàn bộ sức lực của tôi cho nó.

nthach 21-09-2010 07:50

Ngày 22 tháng Năm 1942

Lê-nin-grat
Trên đường từ Mát-xcơ-va về đây, máy bay chúng tôi có đỗ lại Khơ-vôi-nôi một lát. Lập tức có ô-tô chở dầu xăng đến và chiếc "Du-gơ-lát: của chúng tôi chĩa ngay cái vòi cao-su ra.
Ánh nắng chiều màu ngọc thạch rót xuống rừng thông. Rừng mùa xuân tỏa ra một mùi hương khô và mạnh làm ta không thể không thưởng thức món ăn trong suốt này.
Chúng tôi bay qua hồ La-đô-ga chỉ có bảy phút. Hồ không còn băng nữa. Chỉ ở chỗ nào có bọt thì còn ít băng đang trôi.
Máy bay lượn vòng trên sân bay Xmôn-nưi rồi hạ cánh. Và sự im lặng đặc biệt không tả được của thành phố bị bao vây chuyển ngay chúng tôi từ không khí Mát-xcơ-va sang Lê-nin-grat.
Không có một chiếc ôtô con nào. Chiếc ô-tô vận tải đến chở bưu kiện từ máy bay đưa chúng tôi về thành phố. Ô-tô đó chở luôn cả chúng tôi đi.
Khi ôtô chạy trên đường lát nhựa một đội tuần tiễu đã xem xét chúng tôi rất kỹ. Chúng tôi đi qua phố Bgi-ép-ca bị tàn phá. Từng đường phố hiện lên trước mắt chúng tôi. Trời mát, có lúc có mưa phùn, đêm trăng. Chị lái xe xin chúng tôi một ít đường đem về cho đứa con nhỏ của chị. Nhưng đáng tiếc là chúng tôi chỉ có thuốc lá và một ít bánh mì.
Nhà tôi đang ngủ khi tôi gõ cửa ở hành lang. Anh liền đưa ngay cho tôi những tặng phẩm quý báu do "Hội Chữ thập đỏ" Tân-tây-lan gửi tặng tôi mà anh vẫn giữ nguyên.
Vật chính là cái hộp lớn đặt ở giữa, trong đó có những viên kẹo màu vàng, đỏ, nâu lấp lánh, lộng lẫy và sạch sẽ thế kia mà ăn thì tiếc . Nhưng trong đó không có cái gì khác ngoài đường và những chất hóa học. Còn mật thì rất tốt.
Giờ đây tôi phải làm việc nhiều hơn nữa để bù cho thời gian đi Mat-xcơ-va. Ở đây nhiều cuộc gặp gỡ, nhiều cảm tưởng. Ngày qua đi mà tôi không nhớ nữa. Thật khó mà quen với cái điều là có thể đi trên đường phố mà không sợ. Người ta nghe chuyện Lê-nin-grat rất mê say, hỏi đủ thứ về thành phố này mà không biết mỏi.

nthach 21-09-2010 07:51

Ngày 23 tháng Năm 1942

Một chị thanh niên công nhân viết thư cho bạn gái ngoài mặt trận về việc thu dọn mùa xuân ở Lê-nin-grat: "Đến ngày mồng 1 tháng Năm này thành phố của chúng ta sẽ chói lọi như một viên đá quý." Bức thư viết tiếp " Mình tập hợp một số chị em lại và nói với họ: " Này các bạn trong trường hợp hiện nay, chúng ta không chỉ làm đúng mức mà phải làm vượt mức".
Khu vực bệnh viện của chúng tôi cũng được quét dọn rất sáng sủa, ngăn nắp, đến nỗi không nhận được ra nơi này nữa. Người ta bảo còn sạch hơn hồi chiến tranh. Chỗ để những đống rác trước kia thì nay biến thành vườn ra rồi.
Cái nhà ăn một tầng của sinh viên bây giờ đổi thành "Nhà ăn bồi dưỡng". Hiện nay khu phố nào cũng có mấy cái nhà ăn như thế.
Những con người xanh xao, kiệt sức, yếu ớt (bệnh thiếu chất dinh dưỡng cấp hai rồi) lle bước vào đấy, chói mắt vì ánh nắng xuân. Hình như chính họ cũng ngạc nhiên là họ còn sống sót. Khi họ ngồi xuống nghỉ, họ xắn quần, vén tay áo lên cho mặt trời chiếu vào. Nắng chữa bệnh xấu máu.
Nhưng ở Lê-nin-grát còn có một loại người không đi lại được, cũng không cử động được nữa (họ mắc bệnh thiếu chất dinh dưỡng cấp ba). Họ nằm liệt ở những căn phòng lạnh giá suốt mùa đông, những nơi mà bây giờ mùa xuân cũng không đủ sức len đến được.
Những thầy thuốc trẻ tuổi, những sinh viên các trường Đại học Y khoa, các nữ y tá phải đến những ngôi nhà như thế. Những người ốm nặng phải đưa đến bệnh viện. Bây giờ chúng tôi có gần hai nghìn chiếc giường mới đặt ở những ngôi nhà này, ngay trong phòng trước kia là sản khoa: Trẻ con sinh ra quá ít, hầu như không có nữa.

nthach 21-09-2010 07:51


Ngày 24 tháng Năm 1942

Lại đến thăm chị em Men-đê-lê-va là viện nhi khoa ở khu phố Vư-bor-xki. Khu phố trải qua nhiều đau đớn ! Thực vậy, cái học viện này ở vào chỗ thật vô cùng nguy hiểm: bên trái là nhà máy sản xuất mìn, bên phải là doanh trại bộ đội. Và ngay cạnh đấy là cái cầu nối con đường sắt đi Phần-lan. Tất cả những cái đó đều là mục tiêu cả.
Men-đê-lê-va có ba chị em đều đã đứng tuổi cả rồi. Cả ba người đều là bác sĩ, đều tốt nghiệp ở trường Đại học Y khoa số 1 ra cả.
Người chị cả Giô-ri-Ar-lô-vna là một vị viện trưởng lớn tuổi đã làm việc lâu năm ở học viện nhi khoa này. Học viện này chính là con đẻ của chị, là tác phẩm của chị.
Viện này là một thành phố nhỏ, y như trường Đại học Y khoa số 1 của chúng tôi. Ở đây nuôi dưỡng những em bé rất béo khỏe, chữa cho một số em ốm. Chính học viện đã tự túc làm ra những thứ nước hoa quả cho các em ăn. Giúp ý kiến cho các bà mẹ và đào tạo những bác sĩ nhi khoa.
Tại đây có phòng chữa bệnh lao phổi, ở đây có em sau một thời gian ngắn lại lành, khỏe đến nỗi bà mẹ đến mà không nhận ra, còn suýt ta thán là đã trả nhầm đứa bé. Đó là những học viện trước khi xảy ra chiến tranh. Nhưng bấy giờ phòng khám và chữa bệnh vẫn còn làm việc. Tuy thức ăn bằng sữa thì rất bị hạn chế. Tất cả các khoa một ngày chỉ được có hai trăm gam kem sữa. Họ phân phối đúng là tính từng giọt.
Ngoài ra còn có sữa đậu nành và sữa bột pha nước thêm vào. Ấy thế mà nhiều cháu bé trông khỏe khắn. Có đứa trông rất hồng hào.
Cháu Ác-ca-sa Phê-đô-tốp mùa đông gầy yếu và không nhúc nhích đến nỗi người ta đã làm sẵn tờ giấy khai tử. Đứa bé hình như không còn hy vọng gì sống được nữa. Bây giờ thằng bé ấy đã hồng hào béo phính ra và giọng thì to hơn ai hết.
Du-ra Dô-lô-tôi cũng khá lắm rồi. Mẹ nó chết ngay khi sinh nở. Bố nó ở ngoài mặt trận, viết về những bức thư tạ ơn.
Trong những căn phòng của trẻ con sang sủa. bàn ghế chia làm ba cỡ (theo ba lứa tuổi): bé tí, bé và bé vừa. Hệt như trong truyện cổ tích.
Chúng tôi đến vào buổi sáng. Đêm qua khu vực học viện bị pháo kích rất dữ dội. những ngọn cây dương liễu như bị dao cắt ngang. Những thanh thép trên nóc nhà cũng bị bắn gãy bay từng mảnh cắm vào cành cây. Hơn ba nghìn mét vuông kính cửa sổ vừa lắp sau trận pháo kích trước, bây giờ bay đi hết.
Trong một gian dài hai màu trên tường treo các bức chân dung Qui-vi-ê, Vôn-te, Bo-na-pac, Niu-tơn,Rut-xô, Đác-uyn và những người khác nữa. Trong ngôi nhà này toàn là trẻ em đẻ thiếu tháng. những trẻ em này có đứa phải nuôi trong thẩu đựng rượu đệm đầy lông cừu, có đứa nuôi trong ống tay áo bông.
Trong viện có một khoa độc nhất chuyên nghiên cứu về trẻ con đẻ thiếu tháng. Có một thằng bé khi mới đẻ ra chỉ nặng có sáu trăm năm mươi gam. Chụp ảnh nó nằm cạnh cái bình sữa, cái bình sửa còn to hơn nó. Khi đầy tuổi tôi đã được giải nhất trong cuộc thi trẻ em khỏe.
Người ta dùng cái ống nhỏ với cái phễu bằng thủy tinh để cho trẻ em thiếu tháng ăn. Cái ống ấy được đưa thẳng vào dạ dày đứa bé tới một đoạn dài nhất dịnh. Khoảng cách rất ngắn, nhưng nếu sâu hơn thì không được vì sẽ xảy ra bệnh vàng da.
Phòng thí nghiệm ở đây (phát đạn đại bác rơi ngay cạnh) đang thu dọn. Người ta mang đi những dụng cụ vỡ, quét những mảnh vụn, chùi những lớp bụi dày cộm. Thế mà tất cả những thứ này vừa mới được sắp đặt lại sau một mùa đông rất rét.
Về mùa đông, trong phòng thí nghiệm nhiệt độ xuống mười độ âm. Không thể nào làm việc được. Do đó mà phòng thí nghiệm được chuyển sang một căn buồng nhỏ có lò sưởi để sưởi các chất phản ứng dễ bắt lạnh nhất.
Phòng thí nghiệm về mùa rét còn lo lọc từ dầu gai do học viện dự trữ được bằng phương pháp hóa học (180 kilô-gam) thành mỡ để phân phối cho những người công tác ở bệnh viện dùng làm thức ăn.
Bây giờ đây đang chuẩn bị tu sửa lại. và tôi nghĩ những người làm việc ở đây có chuyển số mỡ đã lọc rồi thành dầu gai không.
Trong lúc pháo kích không một đứa bé nào bị thương. Chúng được đưa xuống hầm với những cái đệm bé tí của chúng. Bỗng đèn tắt và trong lúc nằm trong bóng tối chúng nói luôn miệng: " Chúng cháu ở đây, đừng giẫm lên nhé".
Ngày đêm hôm đó, cũng ở trong một căn phòng trú ẩn có ba đứa trẻ ra đời: hai gái một trai. Vich-to nặng hai cân rưỡi.
Những chiến sĩ tập ném lựu đạn gỗ trên cánh đồng Mác. Sau đó họ lại cầm cuốc vỡ đất để trồng rau.

nthach 21-09-2010 07:51

Ngày 2 tháng Sáu 1942

Viện sĩ Cơ-rát-côp-xki, nhà nghiên cứu phương Đông không đi khỏi Lê-nin-grát, không chịu rời những bản thảo Ả-rập. Ông đã nói: " Chúng sẽ chết mất nếu không có tôi !" Và ông ta cũng không nghĩ rằng ông cũng sẽ có thể chết nếu ở lại với các bản thảo ấy.

nthach 21-09-2010 07:52

Ngày 4 tháng Sáu 1942

Hôm nay cùng với Gác-sin đến nhà cụ I-li-in, một người vẽ đồ biểu đã già. Cụ đã là nhà nghiên cứu tiền cổ, chủ nhiệm bộ môn Tiền cổ học Viện bảo tàng.
Bước vào căn phòng nhỏ của cụ ở tầng dưới của Viện bảo tàng có cửa sổ mở về phía sông đào, tôi cảm thấy một sự rụt rè kì lạ. Tôi cảm thấy tôi lại trở thành một cô nữ sinh nhỏ và thầy gọi tôi lại cạnh bản đồ bảo phải chỉ các nhánh của sông Von-ga. nhưng may là chuyện ấy không xảy ra.
Chuyên môn của I-li-in không phải là sông ngòi mà là đồi núi. Thì ra núi trên bản đồ, là một điều quan trọng và khó khăn nhất.
Cụ đã 86 tuổi. Cụ mắc bệnh liệt nửa người, đang lấy một tay nâng đầu.Song nửa người bên trái không bị liệt, hình thể cụ cho đến bây giờ vẫn rất đẹp. Cụ là một người có một sắc đẹp hiếm có.
Giáo sư I-li-in cho chúng tôi biết rằng cụ được chuyển đến ngôi nhà này ngay từ khi thành phố Lê-nin-grát mới bắt đầu bị bao vây, ngày nào người ta cũng mang đến một bó củi lấy từ những dự trữ quý nhất của Viện bảo tàng.
Trên bàn làm việc của cụ luôn có điện sáng. Đó là điện bắt từ chiếc quân hạm đậu ngay cạnh viện bảo tàng. Tôi hỏi giáo sư I-li-in, bộ môn Tiền cổ học do cụ chủ trì hiện nay ở đâu. Cụ trả lời rằng bộ môn đó đã tản cư đi ngay từ khi thành phố bị bom đạn uy hiếp.
-Thế tại sao cụ ở lại?-Tôi hỏi
-Còn đi đâu được? Tôi đã 86 tuổi. Già rồi. Nhưng những thứ tôi sưu tập thì trẻ mãi. Điều đầu tiên mà tôi nghĩ là về những thứ đó.
Sau đó, cụ thêm là người ta đến đề nghị cụ tản cư nhiều lần. Người ta đến đón, cưỡng bức cụ đi. Nhưng cụ đều cự tuyệt. Bởi vì cụ có một sưu tập Tiền cổ nước Nga không nhiều, nhưng rất quý, và cụ đã tặng cho Viện bảo tàng rồi. Cần phải chỉnh lý nó lần cuối và bây giờ cụ đang làm việc đó.
Khó khăn lắm cụ mới đứng dậy khỏi cái ghế dài bằng gỗ bạch dương và với bàn tay run run mở một cái ngăn kéo ở bàn làm việc. Trong ngăn kéo có một tập báo, trên đó xếp thành hàng những đồng tiền cổ và huy chương. Trong đó có một loại đồng bạc rất nhỏ, chỉ bằng cái vẩy cá, một trong những đồng rúp đầu tiên của nước Nga.
Tôi chú ý đến một đồng năm hào màu vàng ra muộn hơn đồng rúp kia nhiều. Cụ I-li-in nói cho tôi biết cái đồng năm hào bạc này nằm cạnh đồng tiền bằng đồng. Và bạc rất dễ bị cảm nhiễm giống như loại kim khí thông thường khác. Chỉ có vàng ròng là không bao giờ chịu ảnh hưởng bất cứ thứ gì mà giữ nguyên chất của mình.
Lúc từ giã, cụ lại một lần nữa ca tụng văn phòng nhỏ của cụ, trong đó cụ cố ý không mắc loa truyền thanh vì cụ không muốn nghe tiếng còi báo động máy bay, để tránh hồi hộp.
Ở viện bảo tàng ra về chúng tôi lặng lẽ đi trên bờ sông đầy ánh sáng. Chúng tôi nhìn thấy một chiếc quân hạm, ( không biết có phải chiếc quân hạm đã cung cấp điện vào nhà giáo sư I-li-in không?) cạnh những khẩu pháo cao xạ có mấy chiến sĩ hải quân đầu đội mũ sắt. Đằng xa tàu điện nằm im lìm trên cầu. Bờ sông vắng lặng. Chúng tôi nghĩ ngay là đang có báo động. Lúc ở nhà cụ I-li-in, chúng tôi không biết vì không có loa truyền thanh.
Tôi đã viết cho báo nước ngoài một bút ký về cụ I-li-in. tên bài đó là " Vàng ròng".

nthach 21-09-2010 07:52

Ngày 12 tháng Sáu 1942

Hôm qua, lúc đã khuya. Vợ chồng chúng tôi đi dạo. Những quả cầu màu bạc nhẹ lâng lâng ẩn vào bầu trời màu hồng tái và hình như tan ra trong ấy. Dọc theo vườn bách thảo cạnh sông Nê-va, những cây bồ đề đã nở hoa. Mùi hương thơm của hoa át hẳn mùi thối rũa của những rác rưởi chưa được dọn sạch.
Bên kia sông ca-rơ-pốp-ca, trong một ngôi nhà gỗ nhỏ gần trụ sở đội cảnh sát có tiếng hát của những đĩa hát chiến lợi phẩm. những cô gái cảnh sát nhoài người ra ngoài cửa sổ để nghe nhạc.
Về đến nhà, vừa bước vào sân, chỗ gần nhà ăn của sinh viên, chúng tôi nghe tiếng đài phát đi bản tin cuối cùng: Nước ta và nước Anh ký hiệp ước hữu nghị hai mươi năm, đồng chí Mô-lô-tốp đang trên đường đi Luân-đôn, tin về quyết định mở mặt trận thứ hai.
Đoạn cuối cùng của bản tin giờ chót chúng tôi nghe ở Ban phòng không. Ở trong góc nhà treo những mặt nạ phòng độc giống như những cái túi đi săn, trên tường là những bức vẽ những loại bom. Trên bàn chỗ để bút là một quả bom cháy loại nhỏ bị mất một mảng trông rất kỳ quặc để trong cái ống cứu hỏa màu đỏ. Một quả đạn đại bác 80 ly rơi vào khu vực chúng tôi chưa nổ, đặt trên chiếc bàn nhỏ trong góc tường. Bên cạnh quả đạn đó là một mảnh của một quả đạn kểu mới có sáu bộ phận. Qua quả đạn này người ta có thể thấy bọn Đức đã suy nghĩ, nghiên cứu cách giết người như thế nào.
Chẳng lẽ lại không có một hạnh phúc như thế này sao: Một buổi sáng loài người tỉnh dậy không còn bọn Hit-le nữa !.

nthach 21-09-2010 07:53

Ngày 13 tháng Sáu 1942

Nghe bài hát bắt đầu: " Cô dâu có một con bò…"

nthach 21-09-2010 07:53

Ngày 14 tháng Sáu 1942

Những quả cầu phòng không giống như những gương mặt khổng lồ.
Trong dàn nhạc ở nhà hóa nhạc những người kéo vi-ô-lông thứ hai nhận loại phiếu thực phẩm loại hai vì thế không chịu đựng được, chết cả rồi. Bây giờ ở đấy là những người mới.


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:58.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.