![]() |
Các câu chuyện thật ấn tượng kể trên và những ví dụ khác về các tù nhân giàu có vẫn sống khỏe - và sớm được chuyển đi - ấn tượng đến nỗi vào năm 1926 một nhóm tù ít được ưu đãi hơn đã viết một bức thư gửi Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản, tố cáo “sự hỗn loạn và bạo lực đang ngự trị tại trại tập trung Solovetsky”. Sử dụng các cụm từ nhằm thu hút sự chú ý của các lãnh đạo cộng sản, họ than phiền rằng “những kẻ có tiền có thể thu xếp mọi việc ổn thỏa bằng tiền, do đó trút mọi gánh nặng lên vai các công nhân và nông dân rỗng túi”. Trong khi bọn giàu có mua được cho mình công việc nhẹ nhàng, họ viết, thì “người nghèo làm việc 14-16 tiếng mỗi ngày” (Ostoriya otechestva v dokumentakh, Tập 2: 1921-1939, tr. 51-52). Hóa ra, họ không phải là những người duy nhất cảm thấy không hài lòng với phương pháp xử lý tùy tiện của các chỉ huy trại Solovetsky.
Nếu bạo lực bừa bãi và đối xử bất công khiến tù khó chịu, thì những người ở cao hơn trong chính quyền Xôviết lại bực mình vì các vấn đề có khác biệt đôi chút. Đến giữa thập kỷ 1920, mọi sự đã rõ rằng các trại của SLON, cũng như phần còn lại của hệ thống trại tù “thông thường”, đã không thể đạt được mục đích quan trọng nhất mà họ đã đề ra: có thể tự cân đối tài chính (Jakobson, tr. 70-102). Trong thực tế, không chỉ các trại tập trung Xôviết – cả “đặc biệt” và “thông thường” – đã thất bại trong việc tạo ra thu nhập, mà cả chỉ huy của chúng cũng đang thường xuyên yêu cầu cấp thêm nhiều tiền hơn. Về mặt này thì Solovetsky cũng giống như các nhà tù Xôviết khác cùng thời kỳ. Trên đảo, những tột cùng của sự tàn nhẫn và an nhàn sung sướng có lẽ là trần trụi hơn bất cứ nơi nào khác, lý do bởi hoàn cảnh đặc biệt của tù và lính gác, nhưng cũng cùng mức độ bất hợp lý tùy tiện đặc trưng cho các trại và nhà tù khác trên khắp Liên Xô vào thời kỳ đó. Về lý thuyết, hệ thống nhà tù thông thường cũng bao gồm các “khối” lao động liên thông với những nông trại, xưởng sản xuất và nhà máy, và các hoạt động sản xuất của chúng cũng được tổ chức kém và có năng suất thấp y như vậy (Krasilnikov, “Rozhdenie Gulaga”, tr. 142-143. Đây là một bộ sưu tầm các tài liệu được tái bản về sự tổ chức của Gulag, tất cả đều lấy từ kho lưu trữ của Phủ Tổng thống Liên bang Nga, các nhà nghiên cứu thường là không được tiếp cận nguồn tài liệu này). Một báo cáo thanh tra năm 1928 về một trong những trại như vậy tại vùng quê Karelia – có 59 tù, cùng 7 con ngựa, 2 con lợn và 21 con bò sữa – than phiền rằng chỉ có nửa số tù là có chăn đắp; rằng tình trạng lũ ngựa rất tệ (một con đã bị bán lén cho dân Digan); rằng những con ngựa còn lại thường xuyên phải chạy việc vặt cho lính gác trại; rằng khi tay thợ rèn tù nhân của trại hết hạn tù, anh ta bỏ đi ngay cùng tất cả dụng cụ của mình; rằng không một căn nhà nào của trại được sưởi ấm, thậm chí không được che chắn cẩn thận, chỉ trừ nơi ở của giám đốc trại. Còn tệ hơn nữa, cũng chính tay giám đốc ấy có đến ba tới bốn ngày mỗi tuần không có mặt trong trại; thường xuyên thả tù sớm hơn hạn mà không có sự cho phép; “khăng khăng từ chối” dạy nghề nông cho tù; và công khai ý kiến của mình cho rằng việc cải tạo tù là “vô ích”. Một số vợ tù vào sống ngay trong trại; các bà vợ khác đến thăm chồng một thời gian dài và biến vào rừng cùng với chồng mình. Lính gác thì suốt ngày “cãi cọ những chuyện vớ vẩn và say xỉn bét nhè” (NARK, 689/1/(44/465)). Không có gì ngạc nhiên rằng các lãnh đạo cao hơn đã quy trách nhiệm cho chính quyền vùng Karelia năm 1929 là “không quán triệt được tầm mức quan trọng của lao động cưỡng bức như một biện pháp phòng vệ xã hội và ưu điểm của biện pháp này đối với nhà nước và xã hội” (NARK, 690/6/(2/9)). Những trại như vậy hiển nhiên là không đem lại lợi ích kinh tế ngay từ lúc ban đầu, theo như số liệu lưu trữ cho thấy. Ngay từ tháng Bảy 1919, các lãnh đạo Cheka ở Gomel, Belorussia, đã gửi một lá thư cho Dzerzhinsky đề nghị bổ sung cho họ một khoản phụ trợ khẩn cấp 500.000 rúp: việc xây dựng các trại địa phương của họ đã phải dừng lại hoàn toàn vì thiếu kinh phí (RGASPI, 17/3/65). Hơn một thập kỷ sau, các cơ quan và bộ ngành khác nhau được giao nhiệm vụ quản lý trại tù vẫn tiếp tục cãi cọ nhau về chuyện kinh phí cũng như chia sẻ quyền lực. Các đợt ân xá tù được tuyên bố nhằm giảm áp lực cho hệ thống trại, đạt đỉnh điểm trong đợt đại ân xá mùa thu năm 1927, nhân kỷ niệm lần thứ mười Cách Mạng Tháng Mười. Có trên 50.000 người được thả khỏi hệ thống nhà tù thường, chủ yếu vì nhu cầu giảm sự quá tải và để tiết kiệm chi phí (Okhotin và Roginsky, tr. 18). |
Ngày 10/11/1925, nhu cầu cần “sử dụng tù nhân hiệu quả hơn” đã được nhận thức ở cấp cao nhất. Vào thời điểm này, G. L. Pyatakov, một nhà Bolshevik nắm giữ một loạt các vị trí có ảnh hưởng đến nền kinh tế, đã viết cho Dzerzhinsky như sau: “Tôi phải đi đến một kết luận rằng,” trong thư ông này giải thích, “nhằm tạo điều kiện cơ bản nhất cho nền văn hóa lao động, các khu định cư lao động cưỡng bức cần phải được thành lập tại các khu vực cụ thể. Những khu định cư như vậy sẽ giảm áp lực quá tải cho các điểm giam giữ. GPU cần được hướng dẫn để khai thác giải pháp này”. Sau đó ông nêu ra bốn khu vực cần được phát triển ngay, cả bốn – gồm quần đảo Sakhalin vùng Viễn Đông, vùng đất quanh cửa sông Yenisei vùng cực bắc, vùng thảo nguyên Kazakh và khu vực quanh thành phố Nerchinsk ở Siberi – sau này đều trở thành các trại. Dzerzhinsky thống nhất với bản ghi nhớ và gửi nó cho hai đồng sự khác để cùng nghiên cứu triển khai (Ivanova, Trại lao động XHCN, tr. 70-71).
Thoạt đầu đã chẳng có gì xảy ra, có lẽ bởi bản thân Dzerzhinsky mất sớm ngay sau đó. Tuy nhiên, bản ghi nhớ đã báo hiệu cho một sự thay đổi. Cho tới giữa thập kỷ 1920, giới lãnh đạo Liên Xô vẫn chưa làm rõ liệu hệ thống nhà tù và trại cải tạo nhằm vào nhiệm vụ hàng đầu là cải tạo tù nhân, hay trừng phạt tù nhân, hay để tạo lợi ích kinh tế cho chế độ. Giờ đây, nhiều cơ quan nắm giữ vận mệnh của hệ thống trại tập trung đã dần dần đạt được sự nhất trí: các nhà tù phải tự trang trải kinh phí. Đến cuối thập kỷ, thế giới hỗn loạn của hệ thống nhà tù Xôviết thời hậu cách mạng cần được biến đổi và một hệ thống mới sẽ ra đời từ cõi hỗn mang. Solovetsky không chỉ trở thành một đơn vị kinh tế có tổ chức mà cần trở thành một trại kiểu mẫu, một ví dụ để được nhân rộng hàng ngàn lần trên khắp lãnh thổ Liên Xô. Thậm chí nếu không một ai ý thức được chuyện đó vào thời điểm ấy thì tầm quan trọng của Solovetsky cũng đã trở nên rõ ràng trong quá khứ. Sau này, khi báo cáo kết quả trong một cuộc họp Đảng bộ Solovetsky năm 1930, một lãnh đạo địa phương tên là đồng chí Uspensky đã tuyên bố rằng “kinh nghiệm công tác của trại Solovetsky đã thuyết phục Đảng và chính quyền rằng hệ thống nhà tù khắp đất nước Liên Xô cần được chuyển thành hệ thống trại lao động cải tạo” (GAOPDFRK, 1051/1/1). Một số thay đổi đó đã được tiên đoán ngay từ đầu, ở cấp cao nhất, giống như bản ghi nhớ gửi Dzerzhinsky đã cho thấy. Nhưng các kỹ thuật cần thiết cho hệ thống mới – các phương pháp mới để điều hành trại, để tổ chức tù nhân và chế độ làm việc cho họ - chỉ được hình thành trên chính quần đảo này. Hỗn loạn có thể ngự trị trên Solovetsky giữa những năm 1920, nhưng chính trong sự hỗn loạn đó hệ thống Gulag tương lai đã ra đời. |
Câu trả lời có thể nằm phần nào trong việc làm cách nào và tại sao SLON đã bị biến đổi xoay quanh nhân vật Naftaly Aronovich Frenkel, một tù đã vươn lên vượt cấp để trở thành một trong những lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Solovetsky. Một mặt, như Solzhenitsyn đã nêu ra trong cuốn Quần đảo Gulag rằng Frenkel đã tự sáng tạo ra kế hoạch định mức khẩu phần cho tù dựa trên khối lượng công việc họ làm được. Hệ thống lao động chết người này, vốn sẽ hủy hoại các tù sức yếu chỉ trong vòng vài tuần, sau này sẽ gây ra vô số cái chết, như chúng ta sẽ thấy. Mặt khác, một số đông các nhà sử học Nga và phương Tây lại tranh cãi về tầm quan trọng của Frenkel, xem vô số giai thoại về quyền lực vô hạn của Frenkel chỉ là huyền thoại (Jakobson, tr. 121; các cuộc trao đổi năm 1998 và 1999 với Nikita Petrov, Oleg Khlevnuyk và Juri Brodsky. Solovki, bản tiếng Ý của cuốn sách của Brodsky, đã không hề đề cập tới Frenkel).
Trong thực tế, Solzhenitsyn có lẽ đã đánh giá vai trò của Frenkel quá cao: tù nhân trong những trại tù Bolshevik thời trước hoặc thời tiền-Solovetsky cũng nhắc tới việc được phụ cấp thực phẩm cho công việc làm thêm, và trong mọi trường hợp thì ý tưởng đó là bình thường, không cần phải có một người như Frenkel sáng tạo ra (Lấy ví dụ, Klementev; S. G. Eliseev, “Tyuremnyi dnevnik”, trong cuốn Uroki, tr. 30-32). Tuy nhiên, theo các lưu trữ mới được giải mật gần đây, đặc biệt lưu trữ của vùng Karelia – nước Cộng hòa Xô viết mà Solovetsky trực thuộc – tầm quan trọng của Frenkel đã được làm rõ. Thậm chí nếu Frenkel không sáng tạo được mọi khía cạnh của hệ thống này thì ông ta cũng đã tìm ra được cách để biến một nhà tù thành một đơn vị kinh tế đem lại lợi ích cụ thể rõ ràng, và ông làm được việc đó vào một thời điểm, tại một địa điểm và theo cách thức đã khiến ý tưởng trên thu hút được sự quan tâm của Stalin mạnh mẽ nhất. Nhưng sự mập mờ cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Tên của Frenkel xuất hiện trong rất nhiều hồi ký viết về những ngày đầu tiên của hệ thống trại tù, từ các hồi ký này ta thấy rõ là thậm chí chính cuộc đời ông ta cũng có xuất thân nhuốm đầy huyền thoại. Các bức ảnh chụp chính thức cho thấy một người đàn ông có cái nhìn nham hiểm đầy tính toán, đội cái mũ da với hàng ria xén tỉa cẩn thận; một người viết hồi ký nhớ lại rằng ông ta “ăn vận như một gã công tử” (Shiryaev, tr. 138). Một đồng nghiệp OGPU của Frenkel, rất ngưỡng mộ và thán phục ông ta về trí nhớ tuyệt vời và khả năng tính nhẩm trong đầu: “ông ấy không bao giờ viết bất cứ điều gì ra giấy” (Chukhin, Kanaloarmeetsi, tr. 30-31). Hệ thống tuyên truyền Xôviết sau này cũng tô vẽ cho “khả năng ghi nhớ phi thường của ông”, ca ngợi “kiến thức tuyệt vời về khai thác gỗ và về công tác lâm nghiệp nói chung” của ông, chuyên môn cao về nông nghiệp và hoạch định kỹ thuật, cũng như kiến thức tổng hợp rất bao quát: Lấy ví dụ, một hôm, anh sa vào tranh luận với hai công nhân của tổ hợp sản xuất xà phòng, nước hoa và mỹ phẩm. Chẳng mấy chốc anh đã khiến họ phải im bặt sau khi thể hiện vốn kiến thức khổng lồ của mình về ngành sản xuất nước hoa, thậm chí còn là một chuyên gia về thị trường quốc tế và biết rõ những tính chất khác thường của sở thích hay ác cảm khứu giác của cư dân quần đảo Mã Lai! (Gorky, Belomor, tr. 226-228) http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-5.jpg Chân dung Frenkel http://i653.photobucket.com/albums/u.../Gulag/2-6.jpg Frenkel đứng ngoài cùng bên phải |
Những người khác vừa sợ vừa ghét ông ta. Trong một loạt những cuộc họp đặc biệt của Đảng ủy khám Solovetsky năm 1928, các đồng sự của Frenkel tố cáo ông đã tự tổ chức mạng lưới cấp tin cho riêng mình, “nhờ thế anh ta biết mọi chuyện về từng người một sớm hơn bất kỳ ai” (GAOPPDFRK, 1033/1/35). Ngay từ năm 1927, những câu chuyện về ông ta đã len lỏi tới tận Paris. Tại một trong những cuốn sách đầu tiên về Solovetsky, một người Paris chống cộng đã viết về Frenkel rằng “nhờ có sự khởi đầu lạnh lùng kinh khủng của ông ta mà hàng triệu con người bất hạnh đã phải lãnh chịu bao thứ lao động khổ sai và đau khổ bạo tàn” (Duguet, tr. 75).
Những người đương thời cũng không nắm rõ về thân thế ông ta. Solzhenitsyn gọi ông ta là “một gã Thổ Nhĩ Kỳ gốc Do Thái sinh ra tại Constantinople” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 76). Một người khác mô tả ông ta là một “nhà công nghiệp người Hungary” (Malsagov, tr. 61-73). Shiryaev thì tuyên bố ông ta đến từ Odessa, trong khi những người khác nói ông ta đến từ Áo, hoặc Palestine, hoặc rằng ông ta từng làm việc trong nhà máy Ford ở Mỹ (Shiryaev, tr. 137-138; Rozanov, tr. 174-191; Narinsky, Vremya tazhkikh potryasenii, tr. 128-149). Câu chuyện trên được xác nhận một phần bởi hồ sơ tù của ông ta, theo đó ghi rõ ông ta sinh năm 1883 ở Haifa - lúc này Palestine đang là một bộ phận của Đế quốc Ottoman. Từ đây, ông ta lần lần tới (có lẽ hoặc qua ngả Odessa, hoặc qua ngả Áo-Hung) Liên Xô, nơi ông ta khai bản thân là một “thương gia” (Rozanov, tr. 174-191; Shiryaev, tr. 137-148). Năm 1923 chính quyền bắt giữ ông ta về tội “vượt biên trái phép”, có lẽ do ông ta là thương gia có liên quan tới buôn lậu, hoặc đơn giản do ông là một thương gia quá thành công đến nỗi không thể chấp nhận tại đất nước Liên Xô. Họ kết án ông ta mười năm lao động khổ sai tại Solovetsky (Hồ sơ tù của Frenkel, Hoover, St Petersburg Memorial Collection). Chính xác làm cách nào để Frenkel hóa thân từ một tù nhân trở thành chỉ huy trại vẫn còn là bí ẩn. Huyền thoại cho rằng sau khi vừa tới trại, ông choáng váng vì sự thiếu tổ chức, tốn phí vô ích tiền bạc và sức lao động đến nỗi lập tức ngồi xuống viết một bức thư cực kỳ chuẩn xác, mô tả tỉ mỉ những sai lầm trong mỗi đội lao động của trại – đốn gỗ, nông trại và sản xuất gạch. Ông đặt bức thư vào “hộp thư góp ý” của tù nhân, nó đã khiến một quản lý chú ý và gửi nó một cách đầy hiếu kỳ tới cho Genrikh Yagoda, người nhân viên Cheka khi đó đã mau chóng nhảy dần từng cấp trong cơ quan công an mật và cuối cùng trở thành lãnh đạo cơ quan. Người ta cho là Yagoda đã ngay lập tức yêu cầu được gặp tác giả bức thư. Theo như một người đương thời (và cả Solzhenitsyn, cũng không nêu nguồn) thì chính Frenkel tuyên bố rằng ông ta đã có lúc chuồn về Moscow, tại đó ông ta trao đổi ý mình với Stalin và Kaganovich, cũng là một tay chân của Stalin (Chukhin, Kanaloarmeetsi, tr. 30-31; Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 78). Đó là lúc huyền thoại trở nên mù mờ hơn nữa: mặc dù các lưu trữ cho thấy Frenkel đúng là có gặp Stalin trong những năm 1930, và mặc dù ông ta được Stalin che chở trong những năm khủng bố Đảng sau đó, nhưng không có ghi nhận về bất cứ cuộc gặp gỡ nào vào những năm 1920. Không thể khẳng định rằng điều này đã không xảy ra: đơn giản là có thể các lưu trữ này đã bị hủy (Xem “Posetiteli kabinetu I. V. Stalina”, Istoricheskii Arkhiv, số 4, 1998, tr. 180). |
Một số bằng chứng tường tận chứng minh cho những giả thuyết trên. Lấy ví dụ, Naftaly Frenkel đã được thăng từ tù nhân lên thẳng lính gác trong một thời gian ngắn đến đáng ngạc nhiên, thậm chí cả với các tiêu chuẩn lộn xộn của SLON. Tháng 11/1924, khi Frenkel cư trú trong trại được chưa đầy một năm, quan bản lý SLON đã làm thủ tục cho ông ta được tha. Đề nghị cuối cùng được chấp thuận vào năm 1927. Cho đến lúc này, ban quản lý trại thường gửi báo cáo cho OGPU mô tả Frenkel với các cụm từ tích cực như : “trong trại anh ta đã chứng tỏ bản thân là một công nhân tài năng nổi bật khiến anh giành được sự tin tưởng của ban quản lý SLON, và đã được đối xử theo đúng thẩm quyền... anh ta là một công nhân hiếm hoi rất có tinh thần trách nhiệm” (Hoover, St Petersburg Memorial Collection).
Chúng ta cũng biết rằng Frenkel đã tổ chức và rồi điều hành Ekonomicheskaya kommercheskaya chast – Ban Kinh tế Thương mại của SLON, và tại đó khả năng cố gắng để trại Solovetsky không chỉ tự cân đối tài chính, như sắc lệnh về trại tập trung đã yêu cầu, mà còn thực sự thu lợi – đến mức họ bắt đầu giành bớt việc làm của các đơn vị sản xuất khác. Mặc dù đó là các đơn vị của Nhà Nước, không phải tư nhân, thành phần cạnh tranh này vẫn tồn tại trong nền kinh tế Liên Xô vào thập niên 1920, và Frenkel đã giành mất lợi nhuận của chúng. Tháng 9/1925, với Frenkel đang nắm Ban kinh tế, SLON đã giành được quyền đốn 130.000 mét khối gỗ rừng tại vùng Karelia, vượt qua mặt công ty lâm nghiệp địa phương. SLON cũng trở thành cổ đông trong Ngân hàng Cộng đồng Karelia, giành được quyền xây một con đường từ Kem tới thành phố Ukhta vùng cực bắc (NARK, 690/6/(1/3)). Ngay từ đầu chính quyền Karelia đã mất bình tĩnh với những hoạt động kể trên, đặc biệt từ khi họ bắt đầu chống lại việc xây dựng trại (Baron, tr. 615-621). Càng ngày lời than phiền của họ càng lớn tiếng. Tại một cuộc họp trên danh nghĩa để bàn về việc mở rộng SLON, chính quyền địa phương than phiền rằng trại này có khả năng sử dụng lao động giá rẻ nên cạnh tranh bất công, do đó khiến những công ty lâm nghiệp bình thường mất việc làm. Ngay sau đó, thái độ trong cuộc họp thay đổi hẳn, và những người tham dự đã phản đối dữ dội. Tại cuộc họp của Hội đồng Dân ủy Karelia – chính quyền nước Cộng hòa Karelia – tháng 2/1926, nhiều lãnh đạo địa phương đã chỉ trích SLON vì đòi hỏi họ quá nhiều và vì đang yêu cầu cấp thêm tiền để xây con đường từ Kem tới Ukhta. “Đã rõ ràng rằng”, đồng chí Yuzhnev giận dữ kết luận, “SLON là một kommersant, một con buôn với đôi tay khổng lồ luôn quơ quào, và mục tiêu cơ bản của nó chỉ là kiếm lợi nhuận” (NARK, 690/3/(17/148)). Công ty thương mại vùng Karelia, một công ty quốc doanh, cũng xắn tay áo chống lại quyết định mở cửa hàng của SLON tại Kem. Các công ty quốc doanh không đủ điều kiện để thực kiện một việc như vậy, nhưng SLON, vốn có thể bắt các nhân viên tù của mình làm việc nhiều giờ hơn và có thể trả công họ rẻ hơn nhiều – gần như không phải trả gì – thì có thể làm được (NARK, 690/3/(17/148)). Chính quyền địa phương than phiền rằng, tệ hơn nữa là SLON có mối liên hệ đặc biệt với OGPU cho phép nó không thèm đếm xỉa tới luật pháp địa phương và không phải nộp tiền vào ngân sách vùng (Kulikov, tr. 99). |
Cuộc tranh cãi quanh vấn đề lợi nhuận, tính hiệu quả và sự công bằng trong phân công lao động tù được tiếp diễn trong suốt một phần tư thế kỷ sau đó (và sẽ được phân tích nhiều hơn ở những phần sau của cuốn sách này). Nhưng đến giữa thập kỷ 1920, chính quyền vùng Karelia đã thất bại trong cuộc chiến này. Trong báo cáo của mình năm 1925 về tình hình kinh tế của trại Solovetsky, đồng chí Fyodor Eichmanns – lúc này là phó của Nogtev, mặc dù về sau ông lên làm chỉ huy trại – đã khoác lác về các thành tựu kinh tế của SLON, tuyên bố rằng nhà máy sản xuất gạch của nó, trước đấy trong “tình trạng rất khó khăn”, nay đang rất phát đạt, các công ty đốn gỗ của nó hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, nhà máy điện của nó đã xây dựng xong, còn sản lượng cá đã tăng lên gấp đôi (GAOPDFRK, 1033/1/15). Nội dung của các báo cáo đó sau này xuất hiện cả trên tạp chí của Solovetsky lẫn khắp nơi trên đất nước Liên Xô để phổ biến cho công chúng (Nogtev, “USLON”, tr. 55-60; Nogtev, “Solovki”, 1926, tr. 4-5). Nội dung của chúng bao gồm những tính toán rất cẩn thận: một báo cáo cho biết chi phí cho khẩu phần trung bình hàng ngày là 29 kopek, chi phí quần áo hàng năm là 34 rúp 57 kopek. Tổng chi phí cho mỗi tù nhân, gồm cả chăm sóc sức khỏe và di chuyển, được tính ra là 211 rúp 67 kopek một năm (Juri Brodsky, tr. 75). Mặc dù tới cuối năm 1929, trong thực tế trại này đã thâm hụt một khoản tiền 1,6 triệu rúp (Số tiền thâm hụt của Solovetsky được lấy theo Khlevnyuk, “Prinuditelnyi trud”; cũng có trong GAOPDFRK, 1051/1/1) – rất có thể do OGPU có rút thêm từ ngân quỹ - thành công kinh tế giả định của Solovetsky vẫn được ca ngợi vang xa và rộng khắp.
Sự thành công ấy trở thành tâm điểm bàn cãi về việc tái cấu trúc toàn bộ hệ thống nhà tù Xôviết. Nếu kết quả đó đạt được với mức khẩu phần thấp hơn và điều kiện sống cho tù tồi tệ hơn thì cũng chẳng làm sao (Baron, tr. 624). Nếu kết quả đó đạt được với cái giá phải trả là khiến quan hệ với chính quyền địa phương xấu đi, cũng chẳng khiến ai thấy phiền. Bản thân bên trong trại, chẳng mấy người nghi ngờ về việc ai là người đem lại cái kết quả được coi là thành công ấy. Mọi người đều nhất trí Frenkel là người đã thương mại hóa trại này, và cũng rất nhiều người vô cùng ghét ông ta vì điều ấy. Tại một cuộc họp chi bộ Solovetsky đầy ganh ghét năm 1928 – có nhiều ganh ghét đến nỗi một phần của biên bản họp được đánh giá là quá bí mật để được giữ lại trong hồ sơ lưu trữ, đồng thời bị xem là không có giá trị - một chỉ huy trại, đồng chí Yashenko, than phiền rằng Ban Kinh tế-Thương mại của SLON đã thu nắm được quá nhiều ảnh hưởng: “mọi thứ đều nằm trong tay họ”. Ông này cũng chỉ trích Frenkel, “một cựu tù được tha sau ba năm trong trại chỉ bởi vì vào lúc ấy không có đủ người (lính gác) làm việc cho trại”. Frenkel đã trở nên quan trọng đến nỗi, Yashenko than phiền (lời lẽ ông này có thái độ bài Do Thái rõ rệt), “khi có tin đồn là anh ta sắp chuyển đi, mọi người liền bảo ‘Chúng ta không thể làm việc thiếu anh ấy được’”. Yashenko ghét Frenkel tới mức, theo như ông ta thừa nhận, ông ta đã ngầm tính thủ tiêu Frenkel. Những người khác tự hỏi tại sao Frenkel, một cựu tù nhân, lại được hưởng các chế độ đặc biệt và được mua hàng giá rẻ tại các cửa hàng của SLON – cứ như thể ông ta là chủ nhân vậy. Một số người nói rằng SLON đã trở nên thương mại hóa đến mức quên hết các nhiệm vụ khác: mọi hoạt động tái giáo dục con người trong trại đều bị ngưng lại, còn tù thì phải thực hiện các định mức lao động đầy bất công. Đến mức các vụ tù tự chặt chân tay mình để thoát khỏi công việc đã không được điều tra chi hết (GAOPDFRK, 1033/1/35). Nhưng ngay vào lúc SLON thắng trong cuộc tranh cãi với chính quyền vùng Karelia thì Frenkel cũng chiến thắng trong cuộc tranh cãi trong nội bộ SLON – có lẽ nhờ mối quan hệ của ông ta với Moscow – về vấn đề trại Solovetsky sẽ nên phát triển theo hình thức nào, tù nhân cần lao động trong trại ra sao, và họ cần được đối xử như thế nào. |
Mặc dù mình biết là tư liệu mà danngoc đang dịch là rất thú vị, nhưng mà cũng phải thú thật là mình chưa có thời gian đọc :(
|
Đâu quan trọng, ai quan tâm thì xem, có sao đâu!
|
http://i653.photobucket.com/albums/u...nlythe/2-7.jpg
Tù nữ thu nhặt than bùn, Solovetsky, 1928. http://i653.photobucket.com/albums/u...nlythe/2-8.jpg Tù đi vào Kem, trại trung chuyển của Solovetsky Như tác giả đã đề cập, Frenkel có lẽ đã không tự sáng tạo ra hệ thống nổi tiếng anh-được-ăn-theo-mức-anh-làm-việc, theo đó tù được phát khẩu phần theo khối lượng công việc họ hoàn thành. Tuy nhiên, ông ta đúng là đã điều phối việc phát triển và nảy nở của hệ thống đó, ban đầu chỉ từ các thu xếp tùy tiện để đôi khi công việc được “trả công” bằng thức ăn, cho tới khi hình thành một phương pháp rất chính xác và được điều hành trật tự để phân phối thực phẩm và tổ chức tù nhân. Trong thực tế, hệ thống của Frenkel khá là rõ ràng. Ông chia tù của SLON thành ba nhóm dựa theo khả năng lao động: nhóm được đánh giá là có thể lao động nặng, nhóm có thể lao động nhẹ và nhóm tàn phế. Mỗi nhóm được nhận các nhiệm vụ khác nhau và một định mức khối lượng phải hoàn thành. Và họ được cho ăn dựa theo đó – mức chênh lệch khẩu phần giữa ba nhóm là khá đáng kể. Một bảng phân cấp, được lập trong khoảng từ 1928 đến 1932, chia 800 gram bánh mì và 80 gram thịt cho nhóm thứ nhất; 500 gram bánh mì và 40 gram thịt cho nhóm thứ hai; 400 gram bánh mì và 40 gram thịt cho nhóm thứ ba. Loại người lao động thấp nhất, nói cách khác, sẽ được nhận chỉ phân nửa thực phẩm so với loại cao nhất (Juri Brodsky, tr. 75). Trong thực tiễn, hệ thống này rất mau chóng phân tù thành hai loại: loại có thể sống sót và loại không thể. Được nuôi ăn tốt, các tù khỏe càng khỏe hơn. Bị thiếu thức ăn, các tù yếu sẽ càng yếu hơn, cuối cùng sẽ mắc bệnh hoặc chết. Tiến trình này được đẩy nhanh tới tột cùng bởi định mức công việc thường được lập khá cao – tới mức không thể hoàn thành đối với một số người, đặc biệt với dân thành thị chưa từng đào than hoặc hoặc đốn gỗ. Năm 1928, chính quyền trung tâm đã phạt một nhóm lính gác bởi họ bắt 128 người phải làm việc trong rừng suốt đêm giữa mùa đông để hoàn thành định mức sản lượng. Một tháng sau, 75 phần trăm số tù này vẫn còn ốm nặng vì bị giá ăn nghiêm trọng (Juri Brodsky, tr. 114). |
Dưới tay Frenkel, bản chất của lao động ở SLON cũng bị thay đổi: ông ta không thèm quan tâm tới những trò hoa hòe hoa sói như nuôi thú lấy lông hay ươm trồng các giống cây lạ miền cực bắc nữa. Thay vào đó, ông cho tù đi xây dựng đường xá và đốn cây, rất thuận tiện nhờ lượng lao động trình độ thấp và không tốn tiền công mà SLON có rất nhiều (Juri Brodsky, tr. 195). Bản chất của lao động đã mau chóng thay đổi bản chất của trại tù, hay đúng hơn là của các trại tù, bởi giờ đây SLON đang bắt đầu mở rộng trong phạm vi quần đảo Solovetsky. Đặc biệt, Frenkel không còn quan tâm việc giữ tù bên trong phạm vi trại tù hay bên trong một nhà tù, đằng sau hàng rào kẽm gai. Ông gửi các đội tù lao động đi khắp Cộng hòa Karelia và vùng Arkhangelsk thuộc nội địa nước Nga, cách xa Solovetsky hàng ngàn cây số, tới những nơi cần đến họ nhất (NARK, 690/6/(1/3)).
Như một chuyên gia quản lý nắm quyền điều hành một công ty đang thua lỗ, Frenkel cũng “phân loại” các khía cạnh khác của cuộc sống trong trại, dần dần hủy bỏ mọi thứ không đem lợi cho hoạt động sản xuất kinh tế của trại. Mọi hoạt động tái giáo dục giả tạo mau chóng ngưng lại. Theo như lời than phiền của những kẻ gièm pha Frenkel, ông ta đã đóng cửa các tờ tạp chí và báo của trại, cho ngừng các cuộc họp của Hội Bách khoa địa phương Solovetsky. Bảo tàng và nhà hát Solovetsky tiếp tục tồn tại, nhưng chủ yếu để tạo ấn tượng với các nhân vật quan trọng tới thăm. Đồng thời, bạo lực bừa bãi cũng trở nên ít phổ biến hơn. Năm 1930, Ủy ban Shanin, đoàn công tác đặc biệt của OGPU, đã tới đảo để điều tra tin đồn về việc đối xử tệ với tù. Báo cáo của họ xác nhận các câu chuyện về việc hành hạ và đánh đập tù quá mức trên đảo. Với chính sách trái hẳn tiền lệ đến đáng ngạc nhiên, ủy ban này đã kết án và hành quyết mười chín thủ phạm là nhân viên OGPU (Chukhin, “dva dokumenta”). Lối hành xử như vậy giờ đây được xem là không phù hợp với một cơ quan có trudosposobnost – “năng lực làm việc” – đáng giá trên hết mọi thứ. Cuối cùng, dưới sự lãnh đạo của Frenkel, khái niệm “tù chính trị” đã thay đổi. Mùa thu năm 1925, lằn ranh giả tạo từng được vạch ra giữa những ai bị lãnh án tội phạm và những người bị kết án phản cách mạng đã biến mất do cả hai nhóm này đều bị gửi về nội địa để làm việc trong các dự án lâm nghiệp và xưởng chế biến gỗ khổng lồ của Karelia. SLON không còn chấp nhận các ưu tiên cho tù mà xem mọi tù đều là những lao động có thể sử dụng (Juri Brodsky, tr. 115). |
Các cư dân đảng xã hội của lán Savvatyevo đem lại một vấn đề lớn hơn. Rõ ràng, quan điểm xã hội không phù hợp với bất cứ ý tưởng nào về tính hiệu quả kinh tế do họ đều từ chối, về nguyên tắc, thực hiện bất cứ hình thức lao động cưỡng bức nào. Họ thậm chí còn từ chối việc tự chặt lấy củi cho mình. “Chúng tôi đã bị chính quyền cho đi đày”, một người than phiền, “vậy thì chính quyền phải cung cấp cho chúng tôi mọi thứ cần thiết” (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 183-188). Không ngạc nhiên rằng tình thế này bắt đầu khiến cho ban quản lý trại bực bội. Mặc dù bản thân đã từng thương lượng với tù chính trị ở Petrominsk dạo mùa xuân năm 1923, và đã từng hứa cho họ một chế độ tự do hơn trên Solovetsky nếu họ chấp nhận chuyển đến đây một cách yên bình, chỉ huy trại Nogtev tỏ ra vô cùng bực mình vì những đòi hỏi bất tận của họ. Ông này tranh cãi với tù chính trị về chuyện họ muốn tự do đi lại, về quyền họ được đến khám bác sĩ, và về quyền của họ được liên lạc với thế giới bên ngoài. Cuối cùng, ngày 19 tháng 12 năm 1923, vào cao điểm của cuộc tranh luận hết sức gay gắt về giờ giấc giới nghiêm của tù, lính gác lán Savvatyevo đã nổ súng vào một nhóm tù chính trị, giết chết sáu người.
Vụ này gây ra náo động lớn ở nước ngoài. Hội Chữ thập đỏ Chính trị tuồn các báo cáo về cuộc nổ súng qua biên giới. Các bài tường thuật có mặt trên báo chí phương Tây thậm chí trước cả khi chúng được xuất hiện tại Nga. Những bức điện tín giữa quần đảo và các lãnh đạo Đảng chuyền qua chuyển lại như con thoi. Thoạt đầu, chính quyền trại bênh vực cho việc nổ súng, tuyên bố rằng tù đã vi phạm giờ giới nghiêm và rằng lính gác đã có cảnh cáo ba lần trước khi nổ súng. Sau đấy, vào tháng Tư năm 1924, trong khi vẫn không thừa nhận là lính gác đã không có bất cứ cảnh cáo nào – còn tù thì thống nhất là họ không được cảnh cáo – ban quản lý trại cung cấp một bản phân tích tỷ mỉ về những gì đã xảy ra. Tù chính trị, theo như báo cáo này giải thích, thuộc một “giai cấp khác” với những người lính được giao nhiệm vụ canh giữ họ. Các tù đã sử dụng thời gian của họ để đọc sách báo; lính thì không có sách và báo. Tù ăn bánh mì trắng, bơ và sữa; còn lính thì một miếng như vậy cũng không có. Đó là một “tình thế bất bình thường”. Sự căm giận đã hình thành một cách tự nhiên, công nhân thì phải căm ghét bọn không làm việc, và khi tù vi phạm giờ giới nghiêm thì máu phải đổ là không thể tránh khỏi (Hoover, Fond 89, 73/32). Để hỗ trợ cho kết luận này, ban quản trại đã đọc to các bức thư của tù trong cuộc họp Ủy ban Trung ương Đảng tại Moscow: “Anh cảm thấy khỏe, anh ăn uống ngon miệng... bây giờ không cần thiết phải gửi quần áo và thực phẩm cho anh nữa”. Các bức thư khác mô tả cảnh quan tuyệt đẹp trên đảo (Hoover, Fond 89, 73/34). Khi một vài bức thư như vậy xuất hiện trên mặt báo chí Xôviết, tù nhân khăng khăng rằng họ đã viết những mô tả điền viên về cuộc sống trên đảo như vậy cốt chỉ để người thân họ bình tĩnh không phải lo lắng nữa (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 218-220). |
Đầy phẫn nộ, Ủy ban Trung ương Đảng ra tay hành động. Một ủy ban do Gleb Boky, một lãnh đạo OGPU chịu trách nhiệm về các trại tập trung, đã thực hiện chuyến đến thăm trại Solovetsky và nhà tù trung chuyển ở Kem. Một chuỗi các bài viết trên tờ Izvetstiya đã tiếp nối trong tháng Mười năm 1924. “Những ai tin rằng Solovetsky là một nhà tù ảm đạm buồn thảm, nơi con người ngồi giết thời gian trong các nhà ngục chật kín, rõ ràng đã hoàn toàn sai lầm”, N. Krasikov viết. “Toàn trại là một tổ chức làm kinh tế khổng lồ bao gồm 3.000 lao động, làm việc trong những hoạt động sản xuất rất đa dạng”. Sau khi ngân nga ca ngợi nền công nghiệp và nông nghiệp của Solovetsky, Krasikov tiếp tục mô tả cuộc sống tại lán Savvatyevo của các tù xã hội:
Cuộc sống của họ có thể mô tả là trí thức vô chính phủ, với đầy đủ mọi khía cạnh tiêu cực của hình thức tồn tại đó. Ăn không ngồi rồi ngày này qua ngày khác, lải nhải về những bất đồng chính trị, các cãi cọ trong gia đình, các tranh luận bè phái, và trên hết là thái độ hung hăng và thù địch đối với nhà nước nói chung và với ban quản lý địa phương và các lính gác Hồng quân nói riêng... tất cả kết hợp lại khiến cho ba trăm con người rảnh rỗi đó trở nên thù địch với mọi biện pháp và mọi cố gắng của chính quyền địa phương nhằm đưa sự quy củ và có tổ chức vào cuộc sống của họ (Krasikov, tr. 2). Trên một tạp chí khác, chính quyền Xôviết tuyên bố rằng tù xã hội được hưởng khẩu phần còn hơn cả trong Hồng quân. Những tù ấy cũng được tự do gặp gỡ thân nhân – nếu không làm cách nào họ có thể tuồn tin ra ngoài? – và được rất nhiều bác sĩ chăm sóc, còn nhiều hơn cả trong các khu ở công nhân bình thường. Một cách mỉa mai, bài báo cũng tuyên bố rằng các tù đó đòi được dọn ăn “sơn hào hải vị” với hàm răng bịt vàng lấp lánh trong miệng (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 215). |
Đó chỉ là khởi đầu cho sự kết thúc. Sau một chuỗi các cuộc tranh luận, tại đấy Ủy ban Trung ương đã cân nhắc và gạt đi ý tưởng cho đi đày tù chính trị ra nước ngoài – họ lo rằng sẽ ảnh hưởng tới các đảng xã hội phương Tây, và đặc biệt, vì lý do gì đấy, ảnh hưởng tới Đảng Lao động Anh quốc – họ đã đi tới một quyết định (Hoover, Fond 89, 73/34, 35 và 36). Mờ sáng ngày 17 tháng Sáu năm 1925, binh lính tỏa ra bao vây tu viện Savvatyevo. Họ cho tù hai giờ đồng hồ để gói ghém đồ đạc. Sau đó họ dẫn tù ra bến cảng, dồn lên tàu và đưa tù về các nhà tù xa xôi hẻo lánh tại vùng Trung Nga – Tobolsk, miền Tây Siberi, và Verkhneuralsk, trong dãy Ural – nơi những người này phải chịu điều kiện sống còn tệ hơn tại Savvatyevo (Hoover, Nicolaevsky Collection, Box 782; Melgunov Collection, Box 8). Một tù viết lại
phòng giam bị khóa chặt, không khí bên trong vấy đầy mùi của chiếc xô đại tiểu tiện cũ hôi thối; các tù chính trị bị cách ly không được liên lạc với nhau... khẩu phần của chúng tôi còn tệ hơn cả ở Solovetsky. Ban quản tù từ chối chấp nhận các starosta (nhóm trưởng) do chúng tôi bầu lên. Không có cả bệnh viện lẫn hỗ trợ y tế. Nhà tù có hai tầng: các phòng giam tầng dưới ẩm ướt và tối tăm. Trong đó giam cầm các đồng chí bị bệnh, một số trong đó bị mắc bệnh lao phổi... (Hoover, Nicolaevsky Collection, Box 782, Folder 6) Mặc dù họ vẫn tiếp tục chiến đấu đòi hỏi quyền lợi, vẫn gửi các bức thư ra nước ngoài, vẫn gõ lên tường phòng giam các thông điệp gửi mọi người và vẫn tiến hành các cuộc tuyệt thực, hệ thống tuyên truyền Bolshevik đang nhấn chìm dần các chống đối của phe xã hội. Tại Berlin, Paris và New York, các tổ chức cứu trợ tù nhân bắt đầu cảm thấy khó khăn hơn mỗi khi cần quyên góp tiền bạc (Hoover, Nicolaevsky Collection, Box 782, Folder 1). “Khi sự kiện ngày 19 tháng 12 xảy ra”, một tù viết cho một người bạn bên ngoài nước Nga, ý nói đến cuộc nổ súng bắn chết sáu tù năm 1923, “dường như chúng tôi đã chủ quan cho rằng “thế giới sẽ bị chấn động” – tức thế giới đảng xã hội của chúng tôi. Nhưng hóa ra nó đã không chú ý đến sự kiện Solovetsky, và rồi một tràng cười nhạo tiếp nối theo tấn thảm kịch” (Những bức thư từ tù ngục nước Nga, tr. 160). Đến cuối thập niên 1920 tù chính trị xã hội không còn mang một thân phận khác biệt nữa. Họ phải ở chung với những người Bolshevik, Trotskyit và đám tội phạm. Trong vòng một thập kỷ những tù chính trị – hay đúng hơn là “phản cách mạng” – sẽ được xem không còn là tù được ưu đãi mà chỉ là thứ tù chiếu dưới, thấp kém hơn tù tội phạm trong hệ thống thứ bậc của trại. Không còn là các công dân với những quyền chính trị được bảo vệ, họ khiến đám cai tù quan tâm chỉ khi nào họ còn có thể làm việc được. Và chỉ khi họ còn có thể làm việc thì mới được cho đủ ăn để tiếp tục sống sót. Hết chương 2 |
danngoc xin giới thiệu thêm một trong những chương xúc động nhất của bộ sách. Thực sự không dám post hết, và cũng không đủ sức post hết cả cuốn.
15 Phụ nữ và trẻ em … người tù làm phục vụ quét dọn trong lán tôi đón tôi với câu hét: “Chạy đến xem cái gì dưới gối cô kìa!” Tim tôi như muốn nhảy lên: có khi mình được khẩu phần bánh mì cũng nên! Tôi chạy tới giường và lôi cái gối ra. Dưới đó là ba lá thư nhà, cả ba lá thư nguyên vẹn! Đã sáu tháng nay tôi không nhận được bất cứ thứ gì. Phản ứng đầu tiên của tôi khi thấy chúng là sự thất vọng sâu sắc. Sau đó là nỗi khiếp sợ. Tôi sẽ ra sao nếu một mẩu bánh mì đối với mình còn giá trị hơn cả những bức thư của mẹ, của bố và con tôi. … Tôi quên khuấy chuyện bánh mì và òa khóc. - Olga Adamova-Sliozberg, Chuyến đi của tôi (Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 53-54) |
Họ phải đạt cùng một sản lượng công tác và họ ăn chung cùng món xúp lõng bõng. Họ sống cùng một kiểu lán ở và đi trên cùng chuyến tàu chở gia súc. Quần áo của họ hầu như giống nhau, giầy dép của họ cũng thiếu thốn y như vậy. Họ bị đối xử khi điều tra chẳng khá hơn chút nào. Thế nhưng, trải nghiệm trong trại của đàn ông và phụ nữ không hoàn toàn giống nhau.
Hiển nhiên nhiều phụ nữ sống sót cho rằng làm phụ nữ có nhiều ưu thế hơn trong hệ thống trại. Phụ nữ biết tự chăm sóc tốt hơn, biết khâu vá quần áo tốt hơn và giữ đầu tóc sạch sẽ hơn. Họ dường như có khả năng tồn tại với khẩu phần ít ỏi tốt hơn và không dễ chết vì bệnh viêm da pellagra và những căn bệnh do thiếu dinh dưỡng khác. (Lấy ví dụ, Vilensky, qua phỏng vấn với tác giả) Họ có tình bạn bè mạnh mẽ, biết giúp đỡ người khác theo những cách mà đàn ông không tài nào làm được. Margarete Buber-Neumann ghi lại rằng một trong những phụ nữ bị giam cùng với bà ở nhà tù Butyrka bị bắt trong bộ áo đầm nhẹ mùa hè mau chóng biến thành giẻ rách. Phòng giam của bà quyết định may cho người này một chiếc áo mới: Họ họp lại với nhau và đem tới nửa tá khăn tắm bằng vải lanh thô kiểu Nga. Nhưng không có kéo thì cắt áo làm sao đây? Một chút khéo léo là giải quyết được vấn đề. Đường “cắt” được đánh dấu bằng đầu que diêm cháy hết, các mảnh vải được gấp theo đường đánh dấu, và một que diêm cháy được hơ đi hơ lại một chốc dọc theo đường gấp. Sau đó mảnh vải được gấp ngược lại và đường cắt bị cháy bị gập đứt. Chỉ để khâu có được bằng cách thận trong rút chỉ từ các quần áo khác… Cái áo đầm bằng khăn tắm – được may cho một phụ nữ Latvia béo tốt – được chuyền tay từ người này sang người khác và được thêu rất đẹp ở cổ áo, hai ống tay và quanh gấu váy. Khi cuối cùng đã làm xong, nó được rấm nước và gấp lại cẩn thận. Người chủ may mắn ban đêm nằm lên nó mà ngủ. Bạn có tin hay không thì tùy, nhưng khi xuất hiện vào buổi sáng, trông nó tuyệt đẹp; chắc chắn nó sẽ không làm mất mặt bà chủ một cửa tiệm áo dài rất hợp mốt. (Buber-Neumann, tr. 38) |
Trích:
|
Tuy nhiên, trong số nhiều cựu tù nam lại thịnh hành một quan niệm ngược lại, cho rằng phụ nữ bị sa đọa đạo đức nhanh hơn đàn ông. Nhờ giới tính của mình mà họ có cơ hội đặc biệt để được phân cấp lao động tốt hơn, được nhận công việc nhẹ nhàng hơn và có địa vị cấp cao hơn trong trại. Hậu quả là, họ trở nên mất phương hướng, mất sức kiềm chế giữa thế giới khắc nghiệt trong trại. Lấy ví dụ, Gustav Herling đã viết về “một nữ ca sĩ tóc đen của Nhà hát Opera Moscow”, bị bắt vì làm “gián điệp”. Do bản án quá nặng, cô này lập tức bị phân vào làm trong rừng khi vừa đến Kargopollag:
Không may là gã Vanya, một tên urka lùn tịt chỉ huy đội của cô, đã để ý đến cô, và cô bị đẩy vào làm việc tỉa gọn cành lá những cây thông đã bị đốn ngã bằng cái rìu lớn mà cô vất vả mới nhấc nổi. Tụt lại nhiều bước phía sau đám thợ rừng vạm vỡ, buổi chiều cô về tới zona kiệt sức đến nỗi chật vật bò vào nhà ăn và nhận “muôi đầu” của mình (khẩu phần xúp chất lượng kém nhất)... rõ ràng rằng cô đã bị sốt cao, nhưng tay trợ lý bác sĩ lại là bạn của băng Vanya và không cho cô nghỉ làm... Cuối cùng cô đành đầu hàng, ban đầu là cho Vanya, sau cùng là cho “một xếp trại nào đó” đã “nắm tóc cô lôi từ đống rác lên và đặt cô ngồi sau cái bàn làm việc ở phòng kế toán trại”. (Herling-Grudziński, tr. 136) @hungmgmi: anh có cao kiến gì không? post lên đây quá ít người đọc. |
Cũng còn các số phận khốn khổ hơn nữa, như vẫn là Herling mô tả. Lấy ví dụ, ông kể lại chuyện một cô gái trẻ người Ba Lan, người mà một “ban giám khảo không chính thức của bọn urka” đã đánh giá rất cao. Thoạt đầu,
cô bước đi làm với mái đầu ngẩng cao kiêu hãnh, gạt phăng bất cứ gã nào đánh bạo đến gần mình bằng ánh mắt tóe lửa giận dữ. Chiều đi làm về cô trở nên khiêm tốn hơn nhiều, nhưng vẫn không thể lại gần được và vẫn tỏ ra kiêu kỳ vừa phải. Cô đi thẳng từ chòi gác của lính canh tới nhà ăn để nhận phần xúp, và không rời khỏi lán nữ lần nào trong suốt buổi tối. Do đó có vẻ như cô đã không mau chóng trở thành nạn nhân các cuộc săn đêm trong vùng zona của trại. Nhưng các cố gắng ban đầu ấy đều trở thành vô vọng. Sau nhiều tuần bị theo dõi kỹ càng bởi tay đốc công của mình, kẻ ngăn cô không lấy trộm được một củ cà rốt nhỏ hay một mẩu khoai thối nào từ nhà kho thực phẩm mà cô đang làm việc, cuối cùng cô gái đã đầu hàng. Một chiều nọ, gã kia bước vào lán của Herling và “không nói một lời ném một cặp trang sức gẫy lên giường tôi”. Đó là lúc bắt đầu bước biến đổi của cô: Kể từ lúc ấy cô gái trải qua một sự thay đổi hoàn toàn. Cô không bao giờ vội vàng đến lấy xúp ở nhà ăn như trước nữa, mà sau khi đi làm về cô lảng vảng quanh khu zona trại cho đến tối như một con mèo rượng đực. Gã nào muốn cô cũng chịu, bất kể là trên giường, dưới giường, trong phòng ngủ xép của chuyên gia kỹ thuật hay trong kho quần áo. Bất cứ lúc nào gặp tôi, cô đều quay mặt đi và mím chặt đôi môi đang run run. Có lần, khi bước vào kho khoai tây ở giữa trại, tôi thấy cô trên đống khoai cùng tay đội trưởng đội 56, gã người lai gù lưng tên là Levkovich; cô òa lên khóc, đôi vai run rẩy giật giật, và khi quay về trại buổi chiều vẫn thấy cô kìm những giọt nước mắt bằng hai nắm tay bé nhỏ... (Herling-Grudziński, tr. 134-135) |
Đó là cách của Herling kể về một câu chuyện thường xảy ra ở khắp nơi – loại chuyện mà, cần phải nói rằng, luôn nghe có chút khác biệt nếu được thuật lại dưới góc nhìn của người phụ nữ. Lấy ví dụ, một chuyện tương tự được kể bởi Tamara Ruzhnevits, người mà “niềm lãng mạn” trong trại bắt đầu bằng một bức thư, một “lá thư tình điển hình, kiểu đặc trưng trong trại”, từ anh Sasha, một thanh niên có nghề đóng giày dễ thở khiến anh thuộc thành phần quý tộc trong trại. Đó là một bức thư ngắn, thô thiển: “Hãy chung sống cùng nhau nhé, và anh sẽ giúp em”. Vài ngày sau khi gửi nó đi, Sasha kéo Ruzhnevits vào một góc, yêu cầu có câu trả lời. “Em có chịu sống với anh hay không?” anh ta hỏi. Cô đáp là không. Anh ta nện cô một trận bằng cái đai sắt. Sau đó anh ta đưa cô đến bệnh viện (nơi vị thế đặc biệt của thợ đóng giày khiến anh rất có ảnh hưởng) và yêu cầu ban quản lý chăm sóc tốt cho cô. Cô ở lại đây để hồi phục vết thương trong suốt nhiều ngày. Khi rời viện, đã có nhiều thời gian để suy nghĩ, cô bèn đi đến với Sasha. Bằng không, anh ta sẽ nện cô nhừ tử lần nữa.
“Cuộc sống gia đình của tôi bắt đầu thế đó”, Ruzhnevits viết. Lợi ích xuất hiện ngay lập tức: “Tôi khỏe hơn trước, bước đi trong những đôi giày đẹp, không còn phải mặc những thứ gớm ghiếc trời mới biết là giẻ rách kiểu gì: tôi có áo khoác mới, cái quần mới... Thậm chí có cả nón mới”. Nhiều thập kỷ sau, Ruzhnevits vẫn mô tả Sasha là “tình yêu đầu tiên và đích thực của đời tôi”. Bất hạnh thay, anh ta sớm bị chuyển đi tới trại khác, và không bao giờ Ruzhnevits gặp lại anh nữa. Tệ hơn thế, gã đàn ông chịu trách nhiệm chuyển Sasha đi cũng thích cô. Do “không cách nào khác”, cô cũng bắt đầu ngủ với hắn. Không bao giờ viết rằng mình có chút yêu thương nào với tay này, cô nhớ lại rằng chuyện này cũng có đem lại lợi lộc cho cô: cô được cấp một giấy phép đi lại không cần lính áp tải và một con ngựa cho riêng mình. (Levinson, tr. 72-75) Câu chuyện của Ruzhnevits, giống như chuyện mà Herling đã kể, có thể xem là một vụ sa đọa đạo đức. Nói cách khác, nó có thể gọi là một chuyện nhằm mục đích sống còn. http://i653.photobucket.com/albums/u...Gulag/15-4.jpg Khao khát tình yêu: cảnh tù nam dõi qua hàng rào về phía khu vực tù nữ – phác thảo của Yula-Imar Sooster, Karaganda, 1950. |
Xét từ quan điểm của ban quản lý, không có trường hợp nào kể trên được phép xảy ra. Về nguyên tắc, đàn ông và đàn bà không được giam giữ chung đụng trong trại, và có những tù đã tuyên bố rằng mình không hề liếc mắt đến giới tính kia suốt hàng năm trời. Các chỉ huy trại cũng không hề đặc biệt muốn có tù nữ trong trại mình. Thế chất yếu hơn, họ có thể cản trở việc hoàn thành chỉ tiêu sản xuất của trại, điều này khiến một số quản lý trại cố gắng chuyển họ đi nơi khác. Có thời điểm, vào tháng 2/1941, Ban quản lý Gulag thậm chí còn gửi một bức thư tới toàn thể lãnh đạo NKVD và tất cả các chỉ huy trại, nghiêm khắc hướng dẫn họ việc tiếp nhận các đoàn vận chuyển tù nữ và liệt kê tất cả những loại công việc mà phụ nữ có thể làm được một cách hữu hiệu. Bức thư đề cập tới công nghiệp nhẹ và dệt may; làm đồ gỗ và đồ kim loại; các loại công tác lâm nghiệp cụ thể; bốc xếp và khuân dỡ hàng hóa. (GARF, 9401/1a/107)
Có lẽ bởi vì sự phản đối từ phía cánh chỉ huy trại, số lượng tù nữ thực sự bị chuyển tới các trại luôn duy trì ở mức khá thấp (giống như số phụ nữ bị hành quyết trong thời kỳ thanh trừng 1937-1938). Lấy ví dụ, theo các số liệu thống kê chính thức, chỉ có khoảng 13 phần trăm tù Gulag trong năm 1942 là phụ nữ. Con số này tăng lên 30 phần trăm năm 1945, một phần do rất nhiều tù nam bị động viên và gửi ra mặt trận, và cũng do luật quy định cấm công nhân đi khỏi nhà máy – dẫn tới việc bắt giữ nhiều nữ thanh niên. (Lấy ví dụ, xem Alin, tr. 157-160, và Evstonichev, tr. 19-20) Năm 1948 con số này là 22 phần trăm, và lại tụt xuống 17 phần trăm trong năm 1951 và 1952. (Các thống kê trên tổng hợp từ nhiều nguồn thuộc GARF. Tác giả rất cám ơn Aleksandr Kokurin vì việc này) Tuy nhiên, thậm chí các con số trên cũng không đủ để phản ánh tình hình thực tế, bởi phụ nữ rất thường được phân về thi hành án tù tại các “tiểu khu” có chế độ nhẹ nhàng. Tại các tổ hợp trại công nghiệp rộng lớn vùng viễn bắc, họ thậm chí còn ít hơn, sự có mặt của họ là rất hiếm hoi. Tuy nhiên, số lượng thấp của tù nữ có nghĩa là phụ nữ – cũng như thực phẩm, quần áo và các vật dụng khác – gần như lúc nào cũng thiếu. Vậy là mặc dù có thể họ ít có giá trị đối với những người tổng hợp số liệu thống kê sản lượng trại, họ lại mang một loại giá trị khác đối với đám tù nam, lính gác và công nhân tự do của trại. Trong những trại mà không ít thì nhiều có những quan hệ công khai giữa tù nam và tù nữ – hay tại các nơi trong thực tế có những loại đàn ông nhất định được phép vào trại phụ nữ – họ thường xuyên bị đề nghị, gạ gẫm và, phổ biến nhất, được tặng thực phẩm và những công việc nhẹ nhàng để đổi lấy tình dục. Điều này có lẽ không phải là một đặc trưng riêng của cuộc sống trong Gulag. Ví dụ, một báo cáo Ân xá Quốc tế năm 1999 về tù nữ ở Hoa Kỳ đã tiết lộ những vụ cai tù nam và tù nhân nam hãm hiếp tù nhân nữ; tù nam hối lộ lính gác để vào gặp tù nữ; phụ nữ bị lột trần khám xét và đùa ghẹo bởi lính gác nam. (“Not Part of My Sentence: Violations of the Human Rights of Women in Custody”) Tuy nhiên, cơ chế xã hội kỳ quặc của hệ thống trại Xôviết có nghĩa là phụ nữ bị hành hạ và làm nhục đến một mức độ thái quá kể cả đối với một hệ thống trại tù. |
Trích:
|
Ngay từ đầu, số phận một người phụ nữ tùy thuộc rất nhiều vào địa vị và vị trí của cô ta trong nhiều phe cánh khác nhau của trại. Bên trong thế giới tội phạm, phụ nữ là đối tượng của một hệ thống quy định và nghi thức chi tiết, được nhận rất ít tôn trọng. Theo Shalamov, “Một tên tội phạm thế hệ thứ ba hoặc thứ tư sẽ được học cách xem thường phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ… phụ nữ, loại người thấp kém, được tạo ra chỉ để làm thỏa mãn sự thèm khát thú vật của bọn tội phạm, làm mục tiêu cho những trò đùa thô lỗ của chúng và là nạn nhân của các trận đánh hội đồng khi thằng côn đồ của cô ta quyết định ‘quậy lên’ ”. Phụ nữ làm gái điếm thực sự “thuộc sở hữu” của đám tội phạm nam hàng đầu, có thể được trao đổi hoặc mua bán, hoặc thậm chí được thừa kế từ anh trai hay bạn bè, nếu người đàn ông đó bị chuyển sang trại khác hoặc bị giết chết. Khi có trao đổi diễn ra, “thường những người liên quan không tới can thiệp, và cô điếm cam chịu ngủ với người chủ mới của mình. Không có chuyện tình bộ ba (Khái niệm ménages à trois: ba người sống luyến ái chung đụng. - ND ) – hai đàn ông chia nhau một phụ nữ – trong thế giới tội phạm. Cũng không có chuyện một tên trộm nữ lại sống chung với một tù không phải tội phạm”. (Shalamov, Kolyma Tales, tr. 415-431)
Phụ nữ cũng không phải là những con mồi duy nhất. Trong số đám tội phạm chuyên nghiệp, quan hệ đồng tính hóa ra được dàn xếp với những quy tắc không kém phần tàn bạo. Một số ông trùm tội phạm có các cậu trai đồng tính trong đám tay chân của mình, đi cùng hoặc thay cho các “phi tần” trong trại. Thomas Sgovio có viết về một đội trưởng có người “vợ” nam - một thanh niên được nhận thêm khẩu phần để đổi lấy quan hệ tình dục. (Sgovio, tr. 173-174) Tuy nhiên, khó mà diễn tả rõ được những quy tắc quy định về quan hệ đồng tính nam trong trại, bởi các hồi ký hiếm khi đề cập tới chủ đề này. Có lẽ là do chuyện đồng tính, trong văn hóa Nga, vẫn là việc bị cấm đoán phần nào, và mọi người tránh không viết về nó. Đồng tính nam trong trại dường như cũng chủ yếu giới hạn trong giới tội phạm – mà bọn tội phạm thì rất ít kẻ viết hồi ký. Tuy nhiên, chúng ta biết được rằng trong các thập niên 1970 và 1980, bọn tội phạm ở Liên Xô đã phát triển các quy định vô cùng phức tạp về những nghi thức đối với quan hệ đồng tính. Đám đồng tính nam “thụ động” bị tẩy chay khỏi xã hội tù, phải ăn ở bàn riêng, và không được nói chuyện với đàn ông khác. (Abramkin và Chesnokova, tr. 18; Marchenko, To Live Like Everyone, tr. 16) Mặc dù hiếm khi được mô tả, các quy định tương tự dường như đã tồn tại ở một số khu vực ngay từ cuối thập niên 1930, khi Pyotr Yakir, mười lăm tuổi, đã chứng kiến một vụ quan hệ đường hậu môn trong một phòng giam cho tội phạm vị thành niên. Thoạt đầu, ông bị sốc khi nghe các thiếu niên khác kể về kinh nghiệm tình dục của mình và tin rằng chúng chỉ thêm hành thêm tỏi: nhưng tôi đã lầm. Một trong những thằng kia giữ lại phần bánh mì của mình cho tới tận buổi chiều và tới hỏi Mashka, kẻ mà nguyên ngày hôm đó không có gì để ăn cả, “Mày có muốn cắn một miếng không?” “Muốn”, Mashka đáp. “Thế thì cởi quần ra”. Chuyện ấy xảy ra trong một góc phòng, từ lỗ quan sát ở cửa thì khó mà thấy được, nhưng ở trong phòng thì ai cũng nhìn rõ. Chẳng ai buồn ngạc nhiên và tôi cũng giả vờ không hề ngạc nhiên. Nhiều vụ khác nữa xảy ra khi tôi ở trong phòng giam ấy; luôn luôn vẫn những thằng nhóc đó đóng vai trò làm kẻ thụ động. Chúng bị đối xử như đám mạt hạng, không được phép uống cốc chung và là đối tượng của nhiều trò nhục mạ. (Yakir, tr. 46-47) |
Trích:
|
Đáng tò mò là, đồng tính nữ trong trại công khai hơn, hay ít nhất là được mô tả thường xuyên hơn. Trong số đám tội phạm nữ, chuyện này cũng được quy định hóa rất nặng nề. Đồng tính nữ trong tiếng Nga được đề cập bằng đại từ nhân xưng giống trung, ono, và họ tự phân chia mình thành đám “ngựa cái” nữ tính hơn và “chồng” nam tính hơn. Theo như một ghi chép, loại người đầu đôi khi còn được gọi là đám “nô lệ thực thụ”, phải lau dọn và chăm sóc cho “chồng” mình. Loại người sau mang các biệt danh kiểu đàn ông, hầu hết lúc nào cũng phì phèo thuốc lá. (Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 388-391 và Lvov, hồi ký không xuất bản) Bọn họ công khai nói về chuyện đồng tính nữ, thậm chí còn hát những bài về chuyện đó:
Ôi ta nhờ ơn Stalin Người khiến tôi thành nữ công tước Tôi đây người nửa nam nửa nữ Vừa bò cái vừa bò đực sống chung. (Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 388-391) Họ cũng tự khẳng định bằng trang phục và cung cách ứng xử của mình. Một tù nữ người Ba Lan sau này viết lại rằng: Những cặp phụ nữ như vậy ai cũng biết, và họ không thèm giấu giếm hành vi của mình. Người đóng vai trò của đàn ông thường là mặc quần áo đàn ông, cắt tóc ngắn và xỏ tay túi quần. Khi một cặp tình nhân như vậy đột nhiên trào dâng cảm xúc, họ bật dậy từ chỗ ngồi, rời khỏi máy khâu và đuổi theo nhau, sau đó vừa điên cuồng hôn hít vừa ngã lăn ra đất. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2) |
Trích:
|
Valery Frid viết rằng đám tù tội phạm nữ ăn mặc như đàn ông, tự nhận mình là kẻ lưỡng tính. Một cô “tóc ngắn, xinh đẹp, mặc quần dài sĩ quan”; một cô khác dường như đã bị biến dạng sinh dục thực sự. (Frid, tr. 186-187)
Một tù khác mô tả cảnh “hãm hiếp” đồng tính nữ; bà đã chứng kiến một cặp nữ đồng tính dồn bắt một “cô gái e lệ ít nói” dưới gầm giường, sau đó chọc rách trinh cô này. (Lvov, hồi ký không xuất bản) Trong giới trí thức, đồng tính nữ dường như ít được vui lòng để ý hơn. Một cựu tù chính trị nhớ rằng đó là “một thói quen đáng phẫn nộ”. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2) Tuy nhiên, mặc dù thường bị giấu diếm trong giới tù chính trị, nó cũng vẫn tồn tại trong số họ, thường xảy ra giữa các phụ nữ có chồng con tự do. Susanna Pechora kể cho tác giả rằng tại Minlag, một trại tù chính trị lớn, quan hệ đồng tính nữ “đã giúp một số người sống sót”. (Pechora, qua phỏng vấn với tác giả) Bất kể là tình nguyện hay ép buộc, bất kể là do ham muốn đồng tính hay quá thèm khát quan hệ khác giới, hầu hết quan hệ tình dục trong trại đều cùng chia sẻ bầu không khí tàn bạo chung. Khi cần thiết, chúng được thực hiện với sự công khai khiến rất nhiều tù nhân cảm thấy choáng váng. Các cặp thường “bò dưới hàng rào thép gai và làm tình ngay cạnh nhà vệ sinh, trên mặt đất”, như lời một cựu tù kể với tác giả. “Một chiếc giường tầng che bằng mấy mảnh giẻ rách khỏi mắt đám phụ nữ hàng xóm đã là một cảnh phổ biến kinh điển trong trại”, Solzhenitsyn viết. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 233) Isaak Filshtinsky có lần đã thức giấc lúc nửa đêm và thấy một phụ nữ nằm trên chiếc giường gần mình. Cô ta đã lén leo qua tường để vào làm tình với tay đầu bếp trại: “Khác hẳn với tôi, không một ai ngủ đêm hôm ấy, mọi người đều tập trung say sưa lắng nghe cuộc mây mưa”. (Filshtinsky, qua phỏng vấn với tác giả) Hava Volovich viết rằng “những điều mà một người tự do thường phải suy nghĩ hàng trăm lần trước khi dám làm, lại diễn ra tại đây rất đơn giản y như chuyện giữa đám mèo hoang vậy”. (Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 260) Một tù khác nhớ rằng tình yêu, đặc biệt là tình trong đám trộm cướp, “y như thú hoang”. (Lvov, hồi ký không xuất bản) |
Thực ra, tình dục diễn ra công khai đến nỗi nó bị mọi người khá hờ hững: hãm hiếp và bán dâm đối với một số người đã trở thành bộ phận của cuộc sống ngày thường. Edward Buca có lần làm việc gần một đội lao động nữ ở xưởng cưa. Một nhóm tù tội phạm xuất hiện. Chúng “tóm lấy những phụ nữ mà chúng muốn và đè họ ra trên tuyết, hoặc ẩy họ dựa vào đống gỗ. Dường như đám phụ nữ đã quen nên không chống cự gì. Họ cũng có đội trưởng của mình, nhưng cô ta không chống lại những sự gián đoạn ấy, trong thực tế chúng có vẻ gần như là một phần khác của công việc”. Lev Razgon cũng kể câu chuyện về một cô gái trẻ tóc vàng mà có lần ông bắt gặp đang quét khoảng sân của một khu trạm xá trại. Lúc ấy ông đã là công nhân tự do, đến thăm một bác sĩ quen, và mặc dù không đói, ông vẫn được mời dùng bữa trưa thịnh soạn. Ông đưa nó cho cô gái, cô này “ăn thật lặng lẽ và gọn gàng, ta có thể nói rằng cô đã lớn lên trong một gia đình tử tế”. Thực ra cô làm Razgon nhớ tới chính con gái mình:
Cô gái ngừng ăn, gọn gàng xếp mấy cái đĩa vào khay gỗ. Sau đó cô kéo váy lên, tụt quần lót xuống và, cầm chúng trong tay, cô quay khuôn mặt không cười về phía tôi. “Nằm hay thế nào?” cô hỏi. Thoạt đầu vẫn chưa hiểu, và rồi phát hoảng vì phản ứng của tôi, cô nói bằng giọng tự bào chữa, cũng lại vẫn không cười “Không ai cho tôi ăn không...” (Razgon, tr. 163-164) Cũng có khi, tại một vài trại, những lán nữ nhất định trở thành không hơn gì một nhà thổ công khai. Solzehnitsyn mô tả một lán như vậy Bẩn thỉu và ọp ẹp không gì so sánh nổi, bên trong vảng vất mùi ngột ngạt, các giường tầng không có chăn đệm. Có một lệnh cấm chính thức cấm đàn ông vào đây, nhưng chẳng ai thèm quan tâm và không ai tuân theo. Không chỉ có đàn ông tới, mà cả bọn thiếu niên, những thằng nhóc mười hai mười ba tuổi, bu tới để học hỏi... Mọi thứ được thực hiện hết sức tự nhiên như ngoài thiên nhiên, giữa mắt mọi người, và tại nhiều nơi cùng một lúc. Hiển nhiên chỉ có tuổi già và sự xấu xí rõ mồn một mới là thứ bảo vệ duy nhất cho phụ nữ ở đấy – ngoài ra không còn gì khác. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 233) |
Tuy nhiên – ngược hẳn lại với những câu chuyện về bạo lực tình dục và sự thô lỗ, trong nhiều hồi ký cũng có số lượng nhiều tương tự những câu chuyện không chắc thực lắm về tình yêu trong trại, một số đơn giản chỉ bắt đầu từ mong muốn tự bảo vệ của phụ nữ. Theo các quy tắc đặc trưng của cuộc sống trại, những phụ nữ chọn cách đi theo một “ông chồng trại” thường được đám đàn ông khác để yên, một hệ thống mà Herling gọi là “ius primae noctis đặc thù của trại”. (Herling-Grudziński, tr. 135) Đó không nhất thiết phải là “các cuộc hôn nhân xứng đôi vừa lứa”: phụ nữ đứng đắn đôi khi vẫn sống chung với những tên trộm cướp. (Frid, tr. 187) Hay, như Ruzhnevits đã kể, họ cũng không nhất thiết được lựa chọn theo ý mình. Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn đúng nếu xem bọn họ là gái điếm. Theo như Valery Frid viết, đúng hơn đấy là “braki po raschetu” – “hôn nhân có tính toán” – “đôi khi đồng thời cũng là hôn nhân vì tình yêu”. Thậm chí nếu khởi đầu chỉ là vì các lý do thực dụng, tù cũng cân nhắc những mối quan hệ như vậy hết sức nghiêm túc. “Khi đề cập về người tình không ít thì nhiều cũng là thường xuyên của mình, một zek sẽ nói ‘vợ tôi’, ” Frid viết, “Và cô ta sẽ nói anh ta là ‘chồng tôi’. Không phải là nói chơi: các quan hệ trong trại khiến cuộc sống của chúng tôi có nhân tính hơn”. (Frid, tr. 187-188)
Và, mặc dù nghe có vẻ lạ, những tù không quá mệt mỏi hay kiệt sức thực sự có đi tìm kiếm tình yêu. Hồi ký của Anatoly Zhigulin có mô tả lần ông tìm cách tán tỉnh một nữ tù chính trị người Đức, cô “Marta vui tươi, tốt bụng, mắt xám, tóc vàng”. Sau này ông được biết cô đã sinh một đứa con, đặt tên là Anatoly. (Đây là vào mùa thu 1951, và do cái chết của Stalin dẫn tới một cuộc tổng ân xá cho tù nước ngoài, ông cho rằng “Marta và đứa trẻ, nếu không có gì xui xẻo xảy ra, hẳn đã trở về quê hương”. (Zhigulin, tr. 128-133)) Hồi ký của viên bác sĩ trại Isaac Vogelfanger có những lúc đọc nghe cứ như tiểu thuyết tình cảm, với nhân vật anh hùng phải bước dọ dẫm rất cẩn thận giữa một bên là nỗi nguy hiểm của cuộc dan díu với bà vợ ông trùm trại và một bên là niềm hạnh phúc của một tình yêu thực thụ. (Vogelfanger) http://i653.photobucket.com/albums/u...Gulag/15-1.jpg Trẻ em người Ba Lan, ảnh chụp ngay sau khi được tha năm 1941. http://i653.photobucket.com/albums/u...Gulag/15-2.jpg Khu dưỡng nhi của trại: một tù nữ cho con bú. http://i653.photobucket.com/albums/u...Gulag/15-3.jpg Nhà trẻ trại: trang trí cây thông năm mới ius primae noctis: Tiếng latin, nghĩa là “Luật đêm đầu tiên”: xuất hiện vào thời Trung Cổ, quy định lãnh chúa được quyền hưởng trinh các cô gái nông nô trong lãnh địa của mình. - ND |
Những con người bị tước hết mọi thứ khao khát các mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ đến nỗi một số lún sâu vào những cuộc tình lý tưởng thuần túy kiểu Platon, chỉ bằng những lá thư. Đó đặc biệt là những trường hợp cuối thập niên 1940, tại các trại đặc biệt cho tù chính trị, nơi tù nhân nam và nữ bị giam giữ tách biệt rất nghiêm túc. Ở Minlag, một trại giống như vậy, tù nam và nữ gửi bút đàm cho nhau qua các bạn tù trong bệnh viện trại, được cả hai giới dùng chung. Tù cũng tổ chức một “hộp thư” bí mật tại công trường xây dựng tuyến đường sắt nơi có đội lao động nữ làm việc. Cứ mỗi vài ngày, một phụ nữ làm trên đường ray lại giả vờ để quên cái áo khoác hay món đồ nào đó để đi tới chỗ hộp thư, gom nhặt thư từ được gửi đến và để lại thư trả lời. Sau đó một tù nam tới lấy chúng. (Sitko và Pechora, qua phỏng vấn với tác giả) Cũng có những phương thức khác: “Tại một thời điểm nhất định, một người được chọn trước tại một khu vực sẽ ném xuống thư của nam gửi cho nữ hay của nữ gửi cho nam. Đó là một kiểu ‘dịch vụ bưu điện’ .” (Kaufman, tr. 223)
Những bức thư như vậy, như Leonid Sitko nhớ lại, được viết trên các vuông giấy nhỏ, cỡ chữ li ti. Mọi người ký tên trong thư bằng tên giả: chàng là “Hamlet”, bạn gái của chàng là “Marsianka”. Hai người được “giới thiệu” với nhau thông qua những phụ nữ khác, họ cho chàng hay là nàng đang vô cùng sầu não, do phải rời xa đứa con nhỏ sau khi nàng bị bắt. Chàng bắt đầu viết thư cho nàng, thậm chí bọn họ còn tìm cách gặp được nhau một lần, bên trong khu mỏ bỏ hoang. (Sitko, qua phỏng vấn với tác giả) Những người khác sáng tạo ra các phương cách thậm chí còn kỳ quái hơn nữa để tìm kiếm một mối làm quen. Tại trại đặc biệt Kengir, có những tù nhân – hầu như tất cả đều là tù chính trị người nước ngoài, bị tước mất mọi liên hệ với gia đình, bạn bè và vợ chồng ở quê nhà – đã phát triển những mối quan hệ phức tạp với những con người mà họ chưa từng gặp mặt. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 248-249) Một số đã làm đám cưới với nhau qua các bức tường ngăn chia giữa trại nam và trại nữ mà không hề gặp nhau. Người phụ nữ đứng bên này, người đàn ông bên kia; họ cất lời thề và một tù là linh mục ghi nhận hôn thú trên một mảnh giấy. Kiểu tình yêu này rất bền bỉ, kể cả khi ban quản lý trại xây cao bức tường, chằng thêm lên dây thép gai và cấm tù lảng vảng lại gần. Mô tả các hôn nhân mù quáng kiểu này, thậm chí ngay Solzhenitsyn cũng buông những lời nhạo báng chua cay mà ông gán cho hầu hết tất cả các quan hệ khác trong trại: “Trong cuộc hôn nhân với một người không quen biết bên kia bức tường thế này ... tôi nghe được tiếng đồng ca của các thiên thần. Tựa như một đấng cõi trên điềm đạm thanh khiết, đầy vị tha. Điều ấy quá cao quý trong thời buổi đầy tính toán vụ lợi và nhảy nhót lố lăng thế này...” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 249) |
Nếu tình yêu, tình dục, hãm hiếp và mại dâm là một phần của đời sống trong trại, vậy thì chúng cũng dẫn tới bầu bì và sinh nở. Cùng với các công trường khai mỏ và xây dựng, các đội sản xuất lâm nghiệp và khám phạt, lán ở và đoàn tàu chở súc vật, trong Gulag còn có cả bệnh viện phụ sản và trại dưỡng nhi – cũng như các bảo mẫu chăm sóc cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Không phải tất cả những trẻ em đến các cơ sở đó đều được sinh ra trong trại. Một số bị “bắt” cùng với mẹ của chúng – những quy định chi phối chuyện này không bao giờ được biết rõ. Trong mệnh lệnh hành động năm 1937, yêu cầu bắt giữ tất cả vợ con của các “kẻ thù của nhân dân”, đã cấm tuyệt đối bắt giữ phụ nữ mang thai và phụ nữ nuôi con nhỏ. (Mệnh lệnh hành động của NKVD ngày 15/8/1937, in lại trong Sbornik, tr. 86-93) Mặt khác, một mệnh lệnh năm 1940 lại nói rằng trẻ con phải ở cùng mẹ chúng trong một năm rưỡi, “cho tới khi chúng không còn cần sữa mẹ”, lúc chúng phải bị đưa vào trại trẻ mồ côi hoặc đưa về với người thân. (GARF, 9401/1a/66) Trong thực tế, cả phụ nữ mang thai lẫn đang nuôi con nhỏ cùng bị bắt đều đặn. Khi tiến hành kiểm tra định kỳ một đoàn tàu vận chuyển tù mới tới, một bác sĩ trại phát hiện một phụ nữ đang co thắt dạ con. Cô này bị bắt khi đang mang thai bảy tháng. (Kaufman, tr. 223) Một phụ nữ khác, Natalya Zaporozhets, bị tống lên đoàn tàu vận chuyển khi đang mang thai tám tháng: sau khi bị quăng quật trên tàu và đằng sau xe tải, cô sảy ra cái thai nhi đã chết. (Natalya Zaporozhets, trong Vilensky, Dodnes tyagoteet, tr. 532-539) Hồi ký của nghệ sĩ Evfrosiniya Kersnovskaya kể lại chuyện bà đã đỡ đẻ một em bé sinh ra trên đoàn tàu vận chuyển. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 428) Trẻ nhỏ cũng bị “bắt” cùng với cha mẹ chúng. Một tù nữ, bị bắt trong thập niên 1920, đã viết một bức thư chua xót than phiền với Dzerzhinsky, cám ơn ông ta đã “bắt luôn” đứa con trai ba tuổi của bà: nhà tù, bà nói, tốt hơn ở nhà trẻ, nơi mà bà gọi là “nhà máy sản xuất các thiên thần”. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 41-42) Hàng trăm ngàn trẻ em đã thực sự bị bắt cùng với cha mẹ mình trong hai đợt sóng lưu đày vĩ đại, đợt đầu là đám kulak đầu những năm 1930, đợt thứ hai là đám người dân tộc và những nhóm thuộc các quốc gia “kẻ thù” trong và sau Thế Chiến thứ II. |
Đối với những trẻ em này, cú sốc thay đổi sẽ tồn tại với chúng đến suốt cuộc đời. Một tù người Ba Lan nhớ lại rằng có tù nữ bị giam trong phòng giam của bà cùng đứa con trai mới ba tuổi: “Đứa trẻ rất ngoan, nhưng ốm yếu và ít nói. Chúng tôi cố gắng hết sức làm nó vui bằng cách kể chuyện cổ tích và nói chuyện với nó, nhưng bé thường ngắt lời chúng tôi ‘Chúng ta đang ở tù, phải không ạ?’ ” (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2)
Nhiều năm sau, người con trai của một kulak bị đi đày nhớ lại sự cam go trải qua trên đoàn tàu chở gia súc: “Mọi người như hóa dại... Tôi không rõ là chúng tôi đã đi được bao nhiêu ngày rồi. Trong toa có bảy người chết vì đói. Chúng tôi tới Tomsk và họ đưa các gia đình chúng tôi ra ngoài. Họ cũng dỡ xuống nhiều xác chết, có đủ trẻ con, thanh niên và người già”. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 117) Mặc dù vất vả, cũng có nhiều phụ nữ cố ý chủ động, thậm chí là bất chấp, có bầu khi đang ở trong trại. Đó luôn là tù nữ tội phạm hay bị bắt vì tội vặt muốn có thai để tránh phải làm việc nặng, để được cấp thức ăn có đôi chút khá hơn và có lẽ để được hưởng dịp ân xá định kỳ phụ nữ có con nhỏ. Những đợt ân xá như vậy – lấy ví dụ một đợt năm 1945 và một đợt khác năm 1948 – không phải lúc nào cũng áp dụng cho tù nữ phạm tội phản cách mạng. (Lấy ví dụ, đợt ân xá cho phụ nữ có con năm 1945 đặc biệt loại trừ tù chính trị, cũng như đợt tương tự năm 1948. GARF 8131/37/4554; 9401/1a/191; và 9401/1/743) “Mang bầu có thể khiến cuộc sống dễ thở hơn”, Lyudmila Khachatryan nói với tác giả như một cách để giải thích tại sao một số phụ nữ vui lòng ngủ với đám cai tù của mình. (Khachatryan, qua phỏng vấn với tác giả) Một phụ nữ khác nhớ lại đã nghe một tin đồn rằng tất cả phụ nữ có con nhỏ - mamki, theo thứ tiếng lóng trong tù – sẽ được thả. Bà đã cố tình có thai sau đó. (Lahti, hồi ký không xuất bản. Tác giả rất biết ơn Reuben Rajala vì bản thảo này) Nadezhda Joffe, một tù có thai sau khi được phép gặp chồng, đã viết rằng các bạn tù của bà tại “lán dưỡng nhi ẩm ướt” ở Magadan đơn giản là “không có chút bản năng làm mẹ nào”, và vứt bỏ đứa trẻ lại ngay sau khi họ có thể rời đi. (Joffe, tr. 124) |
Có lẽ không có gì ngạc nhiên rằng không phải tất cả phụ nữ dính bầu khi ở trong trại đều muốn giữ lại. Ban quản lý Gulag dường như có mâu thuẫn về việc có nên cho phép phụ nữ phá thai hay không, đôi khi cho phép, đôi khi lại phang thêm án tù nữa cho những ai tìm cách làm vậy. (Frid, tr. 184; GARF, 9414/1/2741) Hoặc ta cũng không rõ chúng có xảy ra thường xuyên hay không, bởi chúng hiếm khi được kể lại: trong hàng chục cuộc phỏng vấn và hồi ký, tác giả chỉ đọc hoặc nghe thấy có hai trường hợp. Trong một cuộc phỏng vấn, Anna Andreeva kể cho tác giả về một phụ nữ “nhét cái đinh vào cửa mình, ngồi xuống tiếp tục làm việc trên máy khâu. Cuối cùng cô bị xuất huyết rất nặng”. (Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả) Một phụ nữ khác kể lại chuyện viên bác sĩ trại đã tìm cách phá thai cho bà ra sao:
Hãy hình dung ra cảnh này. Lúc đó ban đêm. Trời tối... Andrei Andreevich cố gắng phá thai cho tôi, chỉ dùng ngón tay bôi iod, không có dụng cụ gì khác. Nhưng anh ấy căng thẳng đến nỗi không có tác dụng gì. Tôi nghẹn thở vì đau, nhưng cố chịu đựng không kêu một tiếng để không bị ai phát hiện. “Thôi!” cuối cùng tôi hét lên vì đau không chịu nổi, và toàn bộ câu chuyện chấm dứt sau hai ngày. Kết cục, tất cả đều ra hết – toàn bộ cái thai, cùng một lượng máu khủng khiếp. Đó là lý do tôi không bao giờ còn có thể làm mẹ. (Yakovenko, tr. 196) Nhưng cũng có những phụ nữ muốn có con, và số phận của họ thường là bi kịch. Ngược với mọi điều từng được viết về tính ích kỷ và dễ bị mua chuộc của những phụ nữ sinh con trong trại, bật lên câu chuyện của Hava Volovich. Là một tù chính trị bị bắt năm 1937, bà vô cùng cô đơn trong trại, và chủ động tìm cách sinh cho được một đứa con. Mặc dù bà không có tình cảm gì đặc biệt với cha đứa bé, Eleonora được sinh hạ năm 1942, tại một trại không có trang bị gì riêng cho các bà mẹ: Ở đấy có tất cả ba người mẹ, và chúng tôi được phân riêng cho một căn buồng bé xíu trong lán. Rệp rơi xuống như mưa từ trần và tường nhà; suốt đêm chúng tôi phải phủi chúng khỏi người lũ trẻ. Vào ban ngày chúng tôi phải ra ngoài làm việc và để con lại cho bất cứ phụ nữ lớn tuổi nào chúng tôi thấy không phải đi làm; những người này bình thản chén sạch chỗ thức ăn mà chúng tôi để lại cho đám trẻ. Tuy nhiên, Volovich viết Đêm nào cũng vậy trong suốt một năm trời, tôi đứng bên chiếc giường con mình, nhặt bỏ lũ rệp và cầu nguyện. Tôi cầu Chúa hãy kéo dài sự khốn khổ của tôi thêm trăm năm nữa miễn sao tôi không phải xa rời con gái mình. Tôi cầu mong mình sẽ được thả cùng bé, thậm chí nếu tôi phải đi ăn xin hay tàn phế cũng được. Tôi cầu cho mình có thể nuôi dạy con cho tới lớn, thậm chí phải quỳ phục dưới chân mọi người van xin tôi cũng làm. Nhưng Chúa không đáp lại lời tôi. Con tôi chật vật tập đi, tôi vất vả mới được nghe những tiếng đầu của nó, thốt lên lời kỳ diệu ấm lòng “Mama” khi chúng tôi quấn trên mình toàn giẻ rách dù đang giữa mùa đông giá rét, chen chúc trong toa tàu chở hàng và di chuyển tới “trại cho các bà mẹ”. Tại đây, thiên thần bé nhỏ bụ bẫm với mớ tóc vàng xoăn tít của tôi mau chóng biến thành một bóng ma xanh xao với những quầng thâm dưới mắt và vết lở loét khắp môi. Volovich ban đầu bị nhét vào một đội lâm nghiệp, sau đó chuyển tới làm tại trại cưa. Mỗi buổi chiều, bà mang về nhà một ôm củi để đưa cho các cô nuôi trẻ trong nhà trẻ. Để đáp lại đôi khi bà được phép đến gặp con gái mình ngoài giờ thăm con bình thường. Tôi thấy các bảo mẫu đánh thức trẻ con dậy vào buổi sáng. Họ xô đẩy và đá đít để lùa chúng ra khỏi những chiếc giường lạnh lẽo… lấy nắm tay đẩy dúi chúng và chửi rủa thô bạo, họ lột quần áo ngủ và tắm cho chúng bằng nước lạnh buốt. Thậm chí lũ trẻ đến khóc cũng không dám. Chúng chỉ khụt khịt khe khẽ như người già và buột ra những tiếng rít trầm trầm. Tiếng rít dễ sợ phát ra từ giường cũi ấy suốt cả ngày. Lũ trẻ đã đến tuổi ngồi thẳng lưng và bò trườn nay thường nằm ngửa, đầu gối gập đến tận bụng, đã tạo ra những tiếng động kỳ lạ ấy, giống như tiếng gù của con bồ câu bị bóp nghẹt họng. Một bảo mẫu phải lo cho mười bảy đứa trẻ, nghĩa là cô ta khó mà có đủ thời gian để cho tất cả thay đồ và ăn uống, chưa nói đến chăm sóc đúng mức: Cô nuôi trẻ đem ra một thau cháo bốc khói từ nhà bếp, chia nó vào từng đĩa. Cô ta tóm lấy đứa gần nhất, nắm tay nó ra sau, trói lại bằng cái khăn mặt rồi bắt đầu nhồi hết muỗng này đến muỗng khác món cháo nóng vào họng nó không để thời gian cho nó nuốt, chính xác y như nhồi thức ăn cho gà tây vậy. Dần dần, Eleonora bắt đầu héo lả đi. Vào một trong những chuyến đến thăm tôi trông thấy những vết bầm trên mình nó. Tôi không bao giờ quên cảnh nó ôm lấy cổ tôi bằng đôi tay gầy trơ xương mà kêu van “Mama, muốn về nhà!” Nó vẫn chưa quên cái phòng nát đầy rệp nơi lần đầu tiên nó thấy ánh sáng mặt trời, nơi nó được luôn bên mẹ suốt cả ngày… Eleonora bé bỏng, nay mới có mười lăm tháng tuổi, mau chóng nhận ra việc đòi về “nhà” chỉ là vô vọng. Nó thôi không còn vươn tay với tôi khi tôi đến thăm; thay vào đó nó lặng lẽ quay đi. Vào ngày cuối cùng của đời mình, khi tôi nhấc nó lên (họ cho phép tôi cho con bú) nó đã mở to mắt nhìn vào khoảng trống xa xăm, sau đó đập nắm tay nhỏ bé lên mặt tôi, bấu lấy ngực tôi rồi cắn lấy. Rồi nó chỉ xuống cái giường. Đến chiều, khi quay về với ôm củi, cái giường của nó đã bỏ trống. Tôi thấy nó trần truồng nằm trong phòng xác cùng xác của những tù người lớn. Nó trải qua một năm và bốn tháng trên cõi đời này, rồi chết ngày 3/3/1944… Đó là câu chuyện về việc, khi sinh hạ đứa con duy nhất của mình, tôi đã phạm cái tội khốn nạn nhất như vậy đó. (Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 260-264) |
Trích:
Cảm ơn bác về tư liệu quý giá như vậy! Và cũng cảm ơn bác đã dành thời gian để chia sẻ cùng mọi người! :emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands |
Trích:
|
Sao mình không thấy ảnh chụp bìa cuốn sách nhỉ (hình như hồi trước có thì phải)?
Bây giờ mình mới bắt đầu đọc, nên cũng nhận xét và góp ý từ những bài đầu tiên trong post này. Cũng xin nói trước - đây là quan điểm cá nhân của mình, dịch giả có quyền đếm xỉa hoặc không đếm xỉa :). Về mục tiếng lóng - hiện nay blog trích dẫn mình không vào được, nên không có ý kiến về sự sát nghĩa của bản dịch. Tuy nhiên, một số từ lóng ngày nay đã được dùng tương đối phổ biến, ví dụ кайф, халява, nghĩa của chúng thì giống như danngoc đã dịch. |
http://i653.photobucket.com/albums/u...he/Gulag/1.jpg
Bìa sách đây. Về danh mục các từ lóng, cuốn Gulag của Anne có dẫn nguồn là cuốn Shtrikhi i portrety, Igor Guberman, Moscow 1994, tr. 72-73. (nguồn blog kia là em lấy từ trước khi dịch cuốn này) |
Trong văn khố Gulag, có lưu trữ các bức ảnh chụp kiểu trại nuôi trẻ mà Volovich mô tả. Một cuốn album như vậy bắt đầu bằng lời giới thiệu sau đây:
Mặt trời chiếu trên tổ quốc Stalinít của các em. Đất nước tràn đầy tình yêu thương các lãnh tụ và trẻ em tuyệt vời của chúng ta hạnh phúc cũng như toàn thể đất nước non trẻ đang hạnh phúc. Nơi đây, với giường chiếu rộng rãi và ấm áp, các công dân mới mẻ của đất nước ta đang nằm ngủ. Sau khi ăn, chúng ngủ say sưa và chắc hẳn đang mơ những giấc mơ hạnh phúc… Các bức ảnh trong đó ngược hẳn lại với lời chú thích. Trong một tấm, một hàng các bà mẹ nuôi con với khẩu trang trắng che kín mặt – bằng chứng của thực hành vệ sinh trong trại – ngồi với ánh mắt nghiêm trang không mỉm cười trên băng ghế, tay ôm lũ trẻ. Trong tấm khác, lũ trẻ đang cùng nhau đi bộ buổi chiều. Kéo đuôi nhau thành hàng, chúng nhìn không thoải mái gì hơn các bà mẹ của chúng. Trong nhiều tấm ảnh, lũ trẻ bị cạo trọc đầu, có lẽ để ngừa chấy rận, tạo cảm giác chúng trông như những tù nhân bé nhỏ và trong thực tế chúng cũng bị xem như vậy. (GARF, 9414/6/44 và 45) “Khu nhà cho bọn trẻ cũng là một phần của tổ hợp trại”, Ginzburg viết. “Nó có chòi gác của mình, có cổng riêng, có lán riêng và hàng rào thép gai của riêng mình”. (E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 3) Ở mức độ nào đó, Ban quản lý Gulag ở Moscow chắc hẳn phải biết cuộc sống trong trại đối với trẻ em trong đó kinh khủng ra sao. Chúng ta biết ít nhất là các thanh tra trại có chuyển về các thông tin này: một báo cáo năm 1949 về tình trạng của phụ nữ trong trại nhấn mạnh một cách chê trách rằng trong số 503.000 tù nữ thuộc hệ thống Gulag khi đó, 9.300 người có thai trong khi 23.790 người khác đang chịu án cùng con nhỏ. “Ngoài ra cần tính thêm các tác động xấu lên sức khỏe và điều kiện giáo dục trẻ em”, báo cáo đề nghị thả sớm cho mẹ chúng, cũng như thả sớm cho những phụ nữ có con ở nhà, tổng số – trừ những trường hợp tái phạm và tù chính trị phản cách mạng – khoảng 70.000. (GARF, 9401/2/234) |
Hết lần này đến lần khác các đợt ân xá như vậy đã được thực hiện. Nhưng có rất ít cải thiện được thực hiện cho đời sống những đứa trẻ còn lại. Trái lại, bởi chúng không đóng góp gì cho sản lượng của trại, sức khỏe và phúc lợi cho chúng ở mức rất thấp trong danh sách ưu tiên của hầu hết chỉ huy trại, và chúng luôn phải sống trong những căn nhà tồi tàn nhất, lạnh lẽo nhất và cũ kỹ nhất. Một thanh tra viên xác nhận rằng nhiệt độ tại nhà trẻ của một trại không bao giờ vượt quá 11 độ C; một người khác phát hiện thấy ở nhà trẻ nọ sơn tường bị bong và không hề được chiếu sáng, thậm chí đến đèn dầu cũng không có. (GARF, 8313/37/4554 và 1261) Một báo cáo năm 1933 từ Siblag cho biết trại này thiếu 800 đôi giày trẻ em, 700 áo khoác trẻ em và 900 bộ đồ ăn. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 150) Những người làm việc trong đó cũng không nhất thiết phải đủ tiêu chuẩn. Trái lại, công tác bảo mẫu là loại công việc “tin cậy”, và những việc như vậy thường được giao cho tù tội phạm chuyên nghiệp. Joffe viết rằng “Hàng giờ liền không dứt, chúng đứng dưới cầu thang với “chồng” của chúng, hay đơn giản là chúng bỏ đi chơi, trong khi lũ trẻ con, chưa ăn uống và không được chăm sóc, có thể bị ốm và lả dần”. (Joffe, tr. 127-135)
Thậm chí các bà mẹ, mà bản thân việc mang thai của họ cũng đã làm tốn của trại khá nhiều, không phải lúc nào cũng được phép để góp sức giảm bớt cho sự bỏ bê kể trên – đấy là giả sử rằng họ có quan tâm để làm vậy. Họ bị buộc phải quay lại làm việc càng sớm càng tốt, và chỉ miễn cưỡng được cho đủ thời gian nghỉ giữa giờ để về cho con bú. Thông thường, họ chỉ được nghỉ giữa giờ làm cứ bốn tiếng một lần, mỗi lần mười lăm phút cho con – trên mình vẫn còn mặc bộ quần áo lao động bẩn thỉu – sau đó quay lại ngay, nghĩa là đứa trẻ vẫn còn đói. Đôi khi thậm chí họ còn không được phép làm vậy. Một thanh tra trại đã trích dẫn trường hợp một phụ nữ chỉ đến cho con bú trễ có vài phút, do quy định nơi làm việc, mà đã bị từ chối cho vào. (GARF, 8313/37/4554) Trong một cuộc phỏng vấn, một cựu quản lý trại dưỡng nhi đã kể với tác giả – rất thô bạo – rằng những đứa trẻ nào không thể uống no trong khoảng thời gian mà bà ta nói là nửa tiếng cho phép sẽ bị một trong những bảo mẫu cho bú nốt từ bình. @all: thật đáng tiếc là em không có khả năng post hết từ đầu, vì cuốn này không nên xem từng đoạn như thế này, sẽ thiếu thông tin để ta đánh giá tổng thể. Nhưng post hết thì thật phí phạm, ta sẽ mất khả năng xuất bản thành sách. |
Cũng chính người phụ nữ này đã xác nhận sự mô tả của tù về một hình thức tàn nhẫn khác: khi cho bú xong, bà mẹ thường bị cấm có thêm tiếp xúc với con mình. Trong trại của bà ta, bà ta nói, bản thân bà ta đã cấm tất cả các bà mẹ tiếp tục đi cùng với con, lấy lý do là bà mẹ tù nhân có thể làm hư con mình. Bà ta tuyên bố đã thấy một bà mẹ đưa cho con miếng đường tẩm thuốc lá để ăn, nhằm mục đích đầu độc nó. Một người khác, bà ta nói tiếp, đã cố ý lột chiếc giầy con mình ngay giữa tuyết. “Tôi phải chịu trách nhiệm về tỷ lệ tử vong của trẻ con trong trại”, bà ta nói với tác giả để giải thích tại sao bà ta phải tách rời các bà mẹ ra. “Đám trẻ đó không cần thiết đối với mẹ chúng, lũ bà mẹ ấy chỉ muốn giết bỏ chúng thôi”. (Một người giấu tên, qua phỏng vấn với tác giả) Cũng chính thứ lập luận này có lẽ đã dẫn đến việc các chỉ huy trại khác cấm bà mẹ đến gặp con mình. Tuy nhiên, cũng rất có thể các quy định như vậy là một sản phẩm khác của sự tàn bạo không suy tính của ban quản lý trại: ban cảm thấy phiền phức khi phải bố trí cho các bà mẹ gặp con, thế là nó cấm chuyện này.
Hậu quả của việc tách cha mẹ khỏi con cái ở tuổi quá nhỏ như vậy là có thể tiên đoán được. Bệnh dịch ở trẻ em nổ ra vô số. Tỷ lệ tử vong trẻ nhỏ hết sức cao – cao đến nỗi, theo các báo cáo của thanh tra cũng có ghi nhận, chúng thường bị cố ý che dấu. (GARF, 8313/37/4554) Nhưng thậm chí những đứa trẻ sống sót lúc còn nhỏ cũng có ít cơ hội để có cuộc sống bình thường bên trong trại dưỡng nhi. Một số có thể may mắn được các nữ bảo mẫu tù tốt bụng hơn chăm sóc. Một số thì không. Bản thân Ginzburg từng làm trong một trại dưỡng nhi và, khi vừa đến, đã thấy thậm chí trẻ đã quá tuổi cũng vẫn chưa biết nói: Chỉ một số trẻ bốn tuổi có thể phát ra được vài từ rời rạc, trống không. Kêu ú ớ không rõ ràng, bắt chước và đập đập là những cách chủ yếu để trao đổi với nhau. “Làm sao có thể trông chờ chúng nói được? Có ai ở đó mà dạy cho chúng?” Anya thản nhiên giải thích. “Trong nhóm ấu nhi chúng suốt ngày chỉ có nằm trên giường cũi. Không ai ẵm chúng lên, kể cả khi chúng có gào rách phổi đi chăng nữa. Điều này là không được phép, ngoại trừ để thay tã bẩn – tất nhiên là nếu có sẵn tã khô”. Khi Ginzburg cố gắng dạy cho những bé do mình phụ trách, bà nhận thấy chỉ một hoặc hai trong số những đứa có duy trì được vài quan hệ với mẹ mình là còn có thể học được chút gì. Và thậm chí kiến thức của chúng cũng rất giới hạn: “Xem này”, tôi nói với Anastas, chỉ cho nó ngôi nhà nhỏ mà tôi vừa vẽ. “Cái gì đây?” “Lán trại”, chú bé trả lời khá quả quyết. Với vài nét bút chì tôi vẽ thêm con mèo bên cạnh nhà. Nhưng chẳng đứa nào nhận ra nó, kể cả Anastas. Chúng chưa bao giờ trông thấy loại động vật hiếm này. Sau đó tôi vẽ một hàng rào gỗ truyền thống thôn quê xung quanh ngôi nhà. “Thế cái này là gì?” “Zona!” Vera thích thú reo lên. (E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 3-11) |
Thông thường, trẻ con lên hai tuổi thì bị chuyển khỏi các trại dưỡng nhi để vào những trại mồ côi bình thường. Một số bà mẹ tán thành như vậy, xem như là cơ hội để lũ trẻ được thoát khỏi trại. Số khác thì phản đối, biết rằng mình có thể vô tình hay cố ý bị chuyển sang trại khác, xa rời con cái, tên tuổi của chúng sau đó có thể bị thay đổi hay quên mất khiến không thể còn giữ quan hệ với nhau hay thậm chí liên lạc được. ()Mặc dù người quản lý trại dưỡng nhi giấu tên mà tác giả có trao đổi đã phủ nhận có chuyện này xảy ra, rất nhiều, rất nhiều hồi ký đã kể rằng mẹ bị tách dần ra khỏi con. Susanna Pechora nói rằng trong các trại đặc biệt, đó là một chuyện hết sức điển hình) Điều này đôi khi xảy ra cả với trẻ em trong những nhà trẻ thường. Valentina Yurganova, con gái của một kulak Đức vùng Volga, bị đưa vào một nhà trẻ nơi một số khu trông nom quá nhỏ để cần nhớ tên chúng, và chính quyền cũng quá vô tổ chức nên không ghi lại tên chúng. Một bé, bà kể với tác giả, đơn giản được đặt lại tên là “Kashtanova” (Hạt dẻ) bởi có rất nhiều cây dẻ trong công viên phía sau nhà trẻ.
Nhiều năm sau, một đứa trẻ như vậy đã viết một đoạn văn tan nát cõi lòng mô tả cuộc tìm kiếm dài đằng đẵng nhưng không thành của mình để tìm lại họ tên thật của bố mẹ bà: không có ghi nhận về bất cứ đứa trẻ nào được sinh ra trong vùng với cái họ ghi trong hộ chiếu của bà, và lúc đó bà lại quá nhỏ để nhớ được họ tên thật của hai người. Tuy nhiên, bà nhớ được từng đoạn trong ký ức của mình: “Mẹ ngồi bên máy khâu. Tôi xin mẹ cái kim và sợi chỉ... Tôi đang ở trong vườn... Rồi sau đó... Căn phòng rất tối, cái giường ở bên tay phải để trống, có điều gì đó đã xảy ra. Vì lẽ nào đó mà tôi còn lại một mình. Tôi sợ quá”. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 241-242) Không có gì ngạc nhiên rằng khi con họ bị đưa đi, một số bà mẹ đã khóc và la hét, một số thậm chí phát điên và bị khóa nhốt trong hầm cho tới khi họ hồi lại. Ngay khi chúng bị đưa đi, khả năng được đoàn tụ là rất mờ nhạt. (Armonas, tr. 156-161) |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:16. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.