Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Lịch sử nền khoa học công nghệ Tin học Xô Viết (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=274)

Thao vietnam 20-07-2008 15:40

(tiếp theo và hết chương 3)
Cha cháu đặc biệt chú ý đến các bài thơ sư phạm của Makarenko. Ông tìm thấy ở đây nhiều điểm tương đồng trong công việc và những khó khăn trở ngại khi xây dựng một sự nghiệp mới. Ông trích dẫn chỗ nói rằng có thể đối xử với học trò thế nào cũng được nhưng họ sẽ không tôn trọng nếu như anh không phải là chuyên gia trong nghề của mình. Đây không phải là đoạn trích dẫn ngẫu nhiên. Chiếm vị trí đầu tiên trong con người cha là khoa học, quản lý hành chính (chính trị ) là thứ nhì. Khi nghiên cứu chế tạo máy tính ông sẵn sàng làm việc không cần thù lao. Với trí thông minh của cha cháu, là người phụ trách thành công gần như là đương nhiên. Cháu chẳng hiểu gì những vấn đề khoa học của ông mà chỉ thấy mọi việc với ông không hề đơn giản. Cháu khẳng định rằng bàn bè càng yêu quý ông bao nhiêu thì đối thủ càng ghét ông bấy nhiêu. Có lẽ nên phán xét con người theo cách đỗi xứng như vậy. Nhưng ai sẽ phán xét? Cháu giả sử là công việc giảng dạy của ông là chuẩn bị vị trí dự bị, nếu như không có Viện nghiên cứu mang tên ông. Nhưng thật may là Viện đó đã được thành lập.
Một trong những bộ phim mà cha cháu yêu thích là phim sử thi “Chế ngự lửa”. Cha cháu không phải là người lãng mạn hão, cháu đã từng nói là lãng mạn có tri thức. Chắc có lẽ ông thấy trong phim có nhiều điểm gần gũi. Sau này ông yêu thích cuốn sách của Victor Nhekrasov có tên là “Trong chiến hào Stalingrad”, mặc dù ông ít đọc sách về chiến tranh vì cho rằng trong đó không giống với những gì chính ông đã thấy. Ông chẳng lo lắng gì cho sức khoẻ của mình. Có lẽ nếu đưa ông đi nghỉ ở khu điều dưỡng, đi bơi và dạo chơi thì ông có thể sẽ sống lâu hơn. Nhưng như vậy thì ông sẽ không còn là ông nữa. Nhưng ông muốn sống và chết mà không từ bỏ thái độ của mình với cuộc sống, ông muốn là vị giám đốc chân chính của cái Viện do chính ông tạo lập ra và là thủ lĩnh của một trường phái riêng trong kỹ thuật máy tính”.
Ông yêu quý tất cả những người làm việc cùng ông không chỉ như là một thủ lĩnh có uy tín và là người lao động vĩ đại mà còn là một con người tốt bụng quan tâm đến mọi người, một con người rất trung thực và rất khiêm tốn. Nếu như ông có nhược điểm thì chỉ có một – đó là ông rất cả tin và coi mọi người xung quanh ai cũng tuyệt vời, trung thực, tốt bụng và công bằng như chính ông vậy".
M.A. Karsev vẫn là một nhân vật lớn nhất trong ngành khoa học và kỹ thuật máy tính thế giới. Tên ông được viết bằng chữ vàng trong lịch sử xây dựng và phát triển ngành máy tính.
Trong cuốn “Những vấn đề vô tuyến điện tử” (xuất bản năm 1993) nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh Karsev, tiến sỹ KHKT L.V. Yvanov đã viết rất đúng: “Ông thuộc về số ít người tạo ra bản sắc dân tộc và dân tộc không thể tồn tại nếu thiếu họ”.
hết chương ba

Bá cáo các bác, tôi đã làm xong chương 3 (với vô số lỗi).Vậy là đã được thở phào. Ban đầu tôi không lường được những khó khăn khi dịch chương này nên mạo muội xin thử nhưng rồi nghĩ mình bỏ thì ai làm đây nên cố gắng đến cùng. Nay nhìn lại sản phẩm thấy bao nhiêu là sạn, có cả những đoạn đọc mà không hiểu được, cái món tiếng Nga bỏ đã lâu, nhiều thuật ngữ, nhiều chữ viết tắt, trình độ có hạn, với tính chất của diễn đàn không tránh khỏi có lúc làm ẩu – Mong các bác lượng thứ cho.

huyphuc1981_nb 07-08-2008 15:59

Ôi trời, lâu quá, nữa đi bác, còn không bác.

Có vài đoạn vấp chút nhưng tôi tự hiểu được. Đến đoạn này mới là đoạn hay nhất của Máy tính Liên Xô, nó đi ra thị trường thế giới.
Ngày hôm nay, ngồi bên chiếc PC, ít người biết được nó là cấu trúc Liên Xô. Các hãng sản xuất quảng cáo nhiều quá mà quá ít người biết được cấu trúc nó như thế nào.

Máy tính theo định nghĩa nguyên thủy phướng Tây hồi nững năm 198x là một bus, trên đó có RAM, CPU và IO được nối vào đó. Máy tính thực hiện từng lệnh trong chương trình, thành một chuỗi lệnh liên tiếp. Đây là cấu trúc máy tính định hướng, vector.

Vào những năm cuối cùng của Liên Xô, ở đây đã phổ biến cấu trúc scarlar, cấu trúc vô hướng, và kỹ thuật hình tháp dùng cache. Cấu trúc máy tính này gồm có nhiều bus xếp theo hình tháp, trên cũng là những bus nhanh nhất nhưng dung lượng nhỏ, dưới là những bus chậm nhưng dung lượng lớn. Người ta đoán những dữ liệu sắp được sử lý đem lên tầng trên, đẩy kết quả xuống tầng dưới, nhờ đó máy tính có dung lượng lớn đồng thời có tốc độ cao, đây là cơ chế cache. Vô hướng, scalar là người ta đoán trước các lệnh liên hệ với nhau làm việc theo chuỗi, và tiến hành song song nhiều chuỗi như vậy (kỹ thuật làm việc dây chuyền kiểu đường ống, pipeline).

Cấu trúc máy tính này dĩ nhiên là hướng đi đúng đánh nhất. Các nhà khoa học Liên Xô lang thang đi kiếm ăn đã đem kỹ thuật này đi nhiều nơi. Vào những năm 1993, Intel mua lại kỹ thuật pipeline từ một hãng nhỏ với giá vài triệu USD. Một thời gian sau khi Liên Xô mất, những CPU 386 (dùng cache) và 486 (pipeline) xuất hiện. Cấu trúc 486 tồn tại rất lâu, chỉ mới gần đây nó mới được thay thế.

Máy PC ngày nay, và phần lớn các loại máy tính khác, mang cấu trúc Liên Xô, nhưng rất ít người biết điều đó. Linh kiện ngày nay đã khác xa ngày xưa, nhưng những khung cơ bản của cấu trúc Liên Xô, cache và scalar, vẫn là những khung cơ bản của máy tính ngày nay.

nthach 25-11-2008 13:17

Chương Bốn

Bí mật của những năm sau chiến tranh




http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image1160.jpg

Rất nhiều nhân viên của Bruk đã chạy sang làm việc với các dự án máy tính quân sự. Alexander Zalkind đã trình bày với một số hiểu biết riêng của ông về các dự án tối mật trước đây, tại viện ngiên cứa khoa học thiết bị tự động. Tiếp theo đó, là một phần trích đoạn trong bản báo cáo của Zalkind:

Vào năm 1957, chúng tôi – O.V. Rosnitsky, A.I. Shurov, tôi và người lãnh đạo chung cả nhóm là Nikolai Matyuhin – quyết định chuyển sang viện nghiên cứu khoa học bộ công nghệ Radio để phát triển một hệ thống SAGE của Liên Xô (SAGE được viết tắt của cụm từ - Semi-Automatic Ground Environment – một hệ thống phòng không được vi tính hóa và được thiết kế tại viện công nghệ Massachusetts - Mỹ) . Viện ngiên cứu khoa học thiết bị tự động được thành lập vào năm 1956. Tiến sĩ G.L. Shorin, vào thời gian này là giám đốc kiêm kỹ sư trưởng dự án thiết kế hệ thống phòng không. Vào năm 1958, nhóm chúng tôi bắt đầu thiết kế một hệ thống "Mặt đất"

Hệ thống Mặt đất này được bắt đầu thiết kế với các thiết bị điện báo thông thường. Chuyên cung cấp các thông tin về sự chuyển động của các vật thể, các thông tin này được truyền qua một mạng lưới điện báo. Những người trực tổng đài điện báo, sẽ định dạng các thư tín này và chuyển giao cho những người điều hành bảng điều kiển kỹ thuật số, họ sẽ mã hóa các thông tin này thành những cơ sở dữ liệu riêng biệt; các dữ liệu này từ các bo mạch điện tử sẽ được đi qua các thiết bị tính toán dữ liệu, để phân tích được các tọa độ và đường chuyển động của các vật thể. Các dữ liệu khi truy xuất sẽ được lưu giữ trong một trống từ có chức năng như là một bộ nhớ trung gian. Sau đó, các dữ liệu được truyền đi trống từ đến một chiếc máy tính sử lý thứ cấp, chiếc máy tính này được lắp một đèn hình tia cực âm đặc biệt. Tất cả các ký tự, con số dự toán và biểu tượng logic sẽ được hiện thị trên màn ảnh của bóng hình bằng một tấm chắn chiếu tia điện tử.

Tất cả các thiết bị được chế tạo rất nhanh chóng, để kịp với tiến độ. Vào quí hai năm 1960, ủy ban nhà nước đã xem xét lại các thiết bị của chúng tôi và kết luận rằng; hệ thống này không đáng tin cậy, do không đủ tính năng đa chiều của các bộ phận sử dụng đèn chân không điện tử. Ủy ban quyết định, ngăn cấm sử dụng các loại bóng đèn điện tử trong mọi dự án trong tương lai.

Một trong những lý do mà chúng tôi muốn đề cập đến hệ thống Mặt đất ở đây, là có liên quan đến một số viễn cảnh mà nhóm của chúng tôi giành được thành công sau này. Trong vòng 15 năm, viện chúng tôi đã tạo dựng được cả một mạng lưới toàn cầu, bao gồm hơn 20 trung tâm tổng đài địa phương. Mạng lưới này, thông tin được trao đổi hoạt động suốt ngày đêm với hệ thống phòng không. Trong thời kỳ này, hệ thống hầu như không bị hỏng hóc gì. Tetiva, đây là một chiếc máy tính bán dẫn đầu tiên của Liên Xô, nó được hình thành vào năm 1960 cho mục đích cụ thể này. Tetiva – trong tiếng Nga có nghĩa là – dây cung.
Chiếc máy tính Tetiva đầu tiên của Liên Xô, được sử dụng một chương trình cực tiểu lưu giữ trong ma trận của bộ nhớ lưu giữ nhị phân. Sau này, hệ thống kiểm soát chương trình cực tiểu này cũng sử dụng trong những chiếc máy tính như chiếc Armenian Nairi được thiết kế vào năm 1964, chiếc Mir, và ES-1020. Phần số học của chiếc Tetiva chỉ sử dụng các mã hóa toán hạng trực tiếp. Loại máy tính này đắt tiền hơn tất cả các loại đã được phát triển trước đây, nhưng nó có tốc độ khá cao và có một bộ xử lý tự điều khiển tốt nhất.

Xưởng máy tính Minsk đã sản xuất một loạt máy tính Tetiva, và vào năm 1962, có tám chiếc được lắp đặt ở các hệ thống phòng thủ trên các quốc gia khác trên thế giới. Các thông tin ban đầu được nạp vào máy tính Tetiva, được thực hiện bới sự trợ giúp của một khóa chuyển đôi cơ học đặc biệt, nó dẫn tọa độ của các vật thể từ một màn hiển thị của đèn chiếu tia cực âm. Chương trình máy tính bán tự động, cũng đã cung cấp các thông tin về vị trí của các tên lửa.

Để đảm bảo được các chức năng của hệ thống phòng không được hoạt động suốt ngày đêm, có hai chiếc máy tínhTetiva được hoạt động cùng một lúc để tạo ra được tình trạng "máy tính liên hoàn không sự cố", nếu có một sự cố xảy ra trên một chiếc máy tính nào, thì hệ thống sẽ tự động chuyển đổi chương trình sang một chiếc máy tính khác. Hệ thống máy tính liên hoàn này, chính xác là được sử dụngtrong hệ thống phòng không của Liên Xô trong suốt hơn 30 năm, và vào năm 1987, nó đã bắt được tín hiệu về chiếc máy của Mathias Rust đã bay vào vùng trời của Liên Xô (Mathias Rust người Tây Đức năm 1987, đã dùng một chiếc máy bay thể thao hạng nhẹ bay vào quảng trường Đỏ ở Moskva – ND). Sự phát triển của chiếc máy tính Tetiva dựa trên hệ thống này vẫn còn tiến triển tiếp tục, cho đến khi các công việ được bắt đầu trên các loạt máy tính biến tấu đầu tiên, 5E63 và 5E63.1. Vào năm 1967, sau khi thử nghiệm thành công những chiếc máy tính này được đưa vào sản xuất hàng loạt. Từ khi đó, hàng trăm chiếc đã được sản xuất.
Cũng vào năm 1967, chúng tôi bắt đầu làm việc trên chiếc máy tính tương thích – ES đầu tiên, sử dụng Môdun thi hành của loại 5E76. Chiếc 5E76 đầu tiên được sử dụng như là một phần của 6 chiếcmáy tính liên hợp.
Năm 1969, chúng tôi bắt đầu tiến hành thiết kế hệ thống kiểm soát phòng không "Quét toàn cầu", với dự định đáp ứng các thông tin chi tiết từ vùng biển Baltic đến Thái Bình Dương. Đặc điểm chính của hệ thống này là, bảo đảm kết nối thông suốt các trung tâm tổng đài ở các vùng rộng lớn lại với nhau trong 24 giờ liên tục trong ngày và ba trăm sáu lăm ngày trong năm, được ở chế độ hoạt động tự động liên tục, và có độ tin cậy cao.

Do không gian hạn chế và đòi hỏi phải có độ chính xác đáng tin cậy của những chiếc máy tính trung tâm tổng đài, chúng tôi đã phát triển một hệ thống máy tính kép, chúng được kết nối hai chiếc máy tính 5E76-B lại với nhau – những chiếc máy tính này là những chiếc 5E76 được hiện đại hóa. Hệ thống mới này được gọi là hệ thống 65s180, và giữa những năm 1972 và 1992, có ba mươi hai hệ thống như vậy được lắp đặt.
Tất cả những chiếc máy tính đó, được phát triển dưới sự điều khiển của Matyuhin, và do ông và đồng nghiệp thiết kế chỉ để dành cho hệ thống phòng không của Liên Xô. Đề tài này, hiện đang đợi những sự khảo sát tỉ mỉ tiếp của những học giả và các nhà nghiên cứu
.

nthach 25-11-2008 13:19

Sinh nhật lần thứ hai của chiếc M-3




M-3 là một trong những chiếc máy tính cỡ nhỏ đầu tiên được sản xuất hàng loạt. Để điều khiển nó thì rất đơn giản, một số tổ chức có thể tư lắp ráp, và sử dụng nó thông qua các tài liệu chỉ dẫn của viện cơ – mạ điện. Năm 1958, bản thiết kế của chiếc M – 3 đã được giao cho xưởng máy tính Minsk để tiến hành sản xuất thử một só lượng nhỏ, và mẫu đầu tiên đã được hoàn thành vào tháng 9 năm 1959. Bộ lưu giữ của chiếc máy tính được hoạt động trên một trống từ (2048 31-bit, độ dài từ), loại này chỉ có giới hạn xử lý 30 phép tính trên giây, mặc dù trên thực tế, phần số học được tính song song.

Loại máy tính này giành được danh tiếng khá tốt, và chính phủ quyết định cho hiện đại hóa thêm loại này. Lõi Ferit được lắp thêm vào thiết bị tồn giữ trên trống nhớ từ trường, những chiếc lõi này đã làm tăng công xuất của máy tính lên đến 1500 phép tính trên giây. Những chiếc M-3 sản xuất ban đầu, cũng được lắp bổ xung thêm lõi Ferit.

Một năm sau, SKB đã ra một chỉ thị yêu cầu thiết kế một loại máy vi tính mới, loại này phải có giá thánh rẻ, cài đặt và hoạt động đơn giản, và dễ dàng thích ứng với mọi yêu cầu của khách hàng. George Lopato là người quản lý dự án này, và sản xuất loại Minsk-1, một loại máy tính hai địa chỉ, với tốc độ thực thi là 3000 phép tính trên một giây. Cấu hình của loại máy tính này được lắp ghép bằng các Môdun chức năng tự hoàn thành. Khi các sơ đồ logic đơn giản và các Môdun đã được xây dựng, cùng với sự phối hợp rất nhiệt tình của các kỹ sư phát triển sản phẩm và các công nhân của xưởng, chiếc Minsk-1 đã được hoàn thành chỉ trong vòng có 14 tháng.
Chiếc Môdun được xây dựng trong chiếc máy tính, đã giảm đáng kể thời gian gỡ rối và rất đơn giản về tính cần thiết của cách xử lý an toàn cho những người sử dụng. Vào đầu năm 1961, những chiếc máy tính mang nhãn hiệu Minsk đã chạy qua suốt một quá trình phát triển nhanh chóng, với một loạt sự biến đổi dựa trên các yêu cầu, đòi hỏi, và cần thiết của người dùng cuối: Loại Minsk-11, dành để chuyên dùng cho các kênh truyền thông; Minsk-12, với một kho lưu giữ được mở rộng; Minsk-14 dành cho kênh truyền thông với bộ nhớ được tăng dung lượng lớn; và Minsk-16 dành cho xử lý các thông tin viễn trắc từ các vệ tinh nhân tạo thám không.

Các mẫu máy tính này, là thế hệ máy tính cỡ nhỏ đầu tiên được ưa chuộng nhất ở Liên Xô. Các loại này được sử dụng rộng rãi trong các học viện, trường đại học, trường cao đẳng, viện nghiên cứu, và các ban xây dựng. Một số thì được lắp đặt ở các công xưởng để xử lý các vẫn đề sự cố kỹ thuật.

Thế hệ thứ hai của loại máy tính Minsk được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm loại máy tính Minsk-2 cơ bản và các mẫu phát sinh của nó là Minsk-22 và Minsk-22M. Nhóm thứ hai bao gồm loại Minsk-23 và Minsk-32. Có thêm hai biến tấu nữa là Minsk-26 và Minsk-27 được tạo thêm để mở rộng các ứng dụng năng lực của hệ thống máy tính Minsk. Loại máy tính Minsk-26 được sử dụng để xử lý các thông tin khí tượng thu nhận được từ các vệ tinh nhân tạo Meteor. Loại Minsk-27 thì được sử dụng để xử lý các thông tin viễn trắc, nhận được từ các bóng thám trắc độ cao ở trong bầu khí quyển. Cả hai loại này, là những máy tính đầu tiên ở Liên Xô đều được phối hợp các cơ cấu truyền tài bằng băng từ và xử lý dữ liệu viễn trắc.

nthach 25-11-2008 13:21

Nguồn gốc máy tính ở Belarus



Là một viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Nga – George Pavlovich Lopato – đã có đóng góp rất to lớn trong lĩnh vực phát triển nền công nghệ máy tính ở Minsk. Lopato, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924 tại làng Ozershina thuộc vùng Gomel ở Belarus. Cha ông, là con của một người tá điền, đã tốt nghiệp học viện nông nghiệp Goretska vào năm 1916, ông từng phục vụ trong cuộc nội chiến Nga, và nguyên là một người lính trong đội kỵ binh Hồng quân thứ nhất. Sau chiến tranh, ông làm nhân viên giám định địa chính. Năm 1924, ông được nhận vào tu nghiệp tại trường đại học bách khoa Leningrad, và tốt nghiệp vào năm 1929. Sau đó, ông là kỹ sư trưởng ở công xưởng Moskva và sau này, ông là giảng viên học viện điện khí hóa và cơ khí hóa nông nghiệp Moskva.

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image124.jpg
Георгий Павлович Лопато



http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image123.jpg
Вадим Яковлевич Пыхтин


George Lopato bắt đầu đi học tiểu học vào năm 1931. Vào mùa hè năm 1941, sau khi tốt nghiệp trung học, ông đã tham gia hỗ trợ xây dựng các tuyến công sự phòng thủ ở gần Moskva để bảo vệ các cuộc tấn công quân Đức xâm lược. Vào tháng 10 cùng năm, ông được tăng cường vào Hồng quân và trở thành một người lính thuộc tiểu đoàn 314 quân khu phòng không Moskva. Năm 1946, ông phục viên, và theo học tại khoa mạ điện – vật lý thuộc học viện năng lượng Moskva. Đến năm 1952, ông tốt nghiệp bằng mạ điện – cơ học. Sau đó, Lopato bắt đầu công tác tại viện nghiên cứu khoa học mạ điện – cơ khí của Gosplan (Gosplan – Госплан – ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô – ND) ở Moskva, tại đây ông chuyên thiết kế các thiết bị mạ điện – cơ học. Năm 1954, ông được cử đến công tác vài tháng tại phòng thí nghiệm máy và hệ thống điều khiển. Ở đây, dưới sự chỉ đạo của Matyuhin, Lopato đã bắt đầu tham gia vào các thiết kế phát triển dòng máy tính M-3
Lopato tham gia vào hiệu chỉnh dòng máy tính M-3 sau khi loại này đã được lắp ráp tại viện mạ điện – cơ học. Đến cuối năm 19557, chính phủ Liên Xô chuyển các chi tiết kỹ thuật của dòng máy tính M-3 sang các học viện khoa học của Hungary và Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc đã sử dụng các chi tiết này, và lắp ráp ra một nguyên mẫu của dòng máy tính M – 3 tại xí nghiệp điện thoại ở Bắc Kinh. Trong thời gian này, Lopato cũng được cử sang Trung Quốc để đưa chiếc máy tính này vào hoạt động. Đây là một công việc rất khó khăn, nhưng Lopato đã cố gắng giải quyết và thu được thành công mỹ mãn. Sau khi quay trở về Liên Xô, ông được mời và trở thành kỹ sư cao cấp tại ban xây dựng đặc biệt thuộc xưởng máy tính Minsk và ông bắt đầu làm việc ở đây vào tháng 4 năm 1959. Năm năm sau, ông được bổ nhiệm làm trưởng ban xây dựng đặc biệt, đến năm 1969 ông là giám đốc chi nhánh máy tính Minsk của NISEVT. Năm 1972, khi chi nhánh Minsk được đổi mới và lấy tên là viện nghiên cứu khoa học máy tính, Lopato lên làm giám đốc viện.

Dưới sự quản lý trong vòng 28 năm của Lopato, viện nghiên cứu đã thiết kế được 15 mẫu thế hệ thứ nhất và thứ hai của dòng máy tính Minsk; 11 mẫu trong số này được sản xuất hàng loạt và bốn mẫu còn lại là làm theo đơn đặt hàng đặc biệt. Viện nghiên cứu của Lopato còn cho ra đời 5 mẫu máy tính Sêri ES, một vài mẫu máy tính cá nhân, 6 tổ liên hợp máy tính đặc biệt, hàng loạt hệ thống điều khiển và phần mềm, cùng với hơn 50 loại thiết bị ngoại vi.


http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image125.jpg
ЭВМ 5Э76Б (главный конструктор Н.Я. Матюхин)


Lopato nguyên là kỹ sư trưởng của dòng máy tính Minsk-1, hệ thống đa máy tính của các loại máy đồng nhất bao gồm Minsk-222, và hệ thống sử dụng kép Naroch, hệ thống này được kết hợp 12 chiếc máy tính ES và giao cho Schetmash để thiết các hệ thống phần mềm và phần cứng. Lopato cũng nguyên là phó tổng công trình sư cao cấp của hệ thống 70K1, và sau đó là tổng công trình sư của một số dòng máy tính vận chuyển cho quân sự.
Lopato nguyên là một trong những người sáng lập ra trường thiết kế máy tính Minsk. Đây là một vấn đề thực tiễn rất nổi bật, tác động quan trọng đến giảm giá thành sản phẩm, độ tin cậy cao, và khả năng tương thích của tài nguyên công nghệ máy tính. Các công việc tại trường Minsk đã được thời gian thử thách; những chiếc máy tính của họ đã được đưa vào sản xuất hàng loạt. Ví dụ như: Minsk-32 và ES-1020 nhái theo IBM đã được đưa vào dây chuyền lắp ráp chỉ sau hai tháng, những phác thảo của họ hoàn thành.
Trên bước đường sự nghiệp khoa học kỹ thuật của mình, Lopato là một người nổi bật ltrong các chương trình đào tạo, giáo dục cá nhân. Ông đã sáng lập ra ban hệ thống và vi tính tại học viện công nghệ - truyền thanh Minsk, và là người lãnh đạo ở đây trong suốt 10 năm. Ông bảo vệ luận án Ph.D. vào năm 1969 và trở thành tiến sĩ khoa học kỹ thuật vào năm 1975. Đến năm 1979, ông được bầu là viện sĩ thông tấn của viện hàn lâm khoa hộc Xô Viết. Ông đã cho xuất bản hơn một trăm hai mươi công trình khoa học, và nhận được 45 bằng sáng chế. George Lopato được trao tặng huân chương Cách mạng Tháng Mười vào năm 1972, huân chương lao động Cờ Đỏ vào năm 1976, phần thưởng quốc gia Liên Xô và huân chương Lenin vào năm 1983, Chữ ký Danh dự, và 9 huân huy chương khác, cùng với 4 tấm bằng danh dự của quốc hội Belarusia. Ông mất vào năm 2003.

nthach 05-12-2008 14:48

Mikhail Alexandrovich Kartsev

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image1250.jpg

Mikhail Kartsev thuộc vào hàng những nhà khoa học chuyên khám phá và luôn có những đóng góp nhiệt thành, với một vài lý do khó hiểu, chúng ta chỉ được biết đến toàn bộ về những công lao của họ, khi họ đã nhắm mắt xuôi tay. Viện hàn lâm chưa bao giờ trao tặng cho Kartsev một phần thưởng đặc biệt nào, hoặc công nhận những công trình của ông. Không đến 10 năm sau khi ông mất, viện nghiên cứu khoa học máy điện toán phức hợp Moskva, được mang tên ông, viện này chính ông tự thành lập. Khoa học và công nghệ máy tính từng là tiếng gọi của cuộc đời ông, nó đã đem lại cho ông cả những hạnh phúc và sự đau khổ. Ông đã từng tận tâm tận lực suốt mọi thời gian để dành cho nó – tại nơi làm việc, khi ở nhà và thậm trí trong cả những ngày nghỉ lễ. Con trai của ông là Vladimir nhớ lại:
Mỗi lần khi nghĩ đến cha, tôi thường nhớ rằng, ông luôn đang ngập chìm trong công việc của mình. Ông hoàn toàn không có sở thích riêng, và nếu như ông có một khoảng thời gian rảnh rỗi, ông thường thích đọc sách. Đôi khi, chúng tôi cũng đi xem phim. Ông không bao giờ chơi thể thao, và luôn kỵ với những chiếc xe hơi và những ngôi nhà ở nông thôn. Tuy nhiên, khi về già ông đã bắt đầu bị đau nhức chân, lúc này ông mới tậu một chiếc Volga và có vẻ yêu thích nó. Ông bắt đầu học lái xe khi ở cái tuổi đã khó khăn để làm công việc này, nhưng ông rất thông thuộc các đường phố ở Moskva như lòng bàn tay, nên ông chạy xe xung quanh thành phố một cách rất dễ dàng. Cha tôi không bao giờ phàn nàn hoặc bàn cãi về những vấn đề khó khăn của mình. Hầu như không thể dẫn đắt được ông nói chuyện về chiến tranh. Ông sống về tương lai chứ không hề ngoảnh lại quá khứ.


Mikhail Kartsev sinh ngày 10 tháng 5 năm 1923 ở Kiev. Sau khi cha ông mất vào cùng năm đó, gia đình ông phải di chuyển đôi ba lần. Mikhail Kartsev sống cùng với mẹ ở Odessa và Kharkov, cuối cùng gia đình ông cũng quay về Kiev vào năm 1941, khi đó ông vừa mới học xong trung học. Vào mùa hè năm 1941, ông được cử đến Donbas để làm công sự chiến đấu. Đến tháng 9, ông được động viên vào quân đội Xô Viết, ông đã phục vụ trong quân đội cho đến tháng 2 năm 1947. Trong thế chiến hai, người lính tăng Kartsev đã chiến đấu ở các khu vực phía nam, tây nam Liên Xô, ở mặt trận Bắc Caucasus và hai mặt trận Ukrainia. Ông tham gia giải phóng Romania, Hungary, Czechoslovakia, và Áo. Chính phủ Xô Viết đã trao tặng cho ông một huân chương về lòng gan dạ, huân chương Sao Đỏ, huân chương "Chinh phục Budapest," và"Chiến thắng phát xít". Tháng 11 năm 1944, trong khi còn đang ở trên mặt trận, ông được công nhận là cảm tình đảng , và đến tháng 5 năm 1945 ông chính thức được kết nạp đảng Cộng sản Liên Xô.

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image126.jpg
ЭУМ М-4М

Sau khi phục viên, Kartsev theo học tại khoa Công nghệ - truyền thanh ở học viện năng lượng Moskva. Vào cuối năm thứ ba, ông đã vượt qua được tất cả các môn thi mà không cần đến bất kỳ một thuyết trình nào. Vào năm 1950, thời gian này là năm thứ năm đại học của ông, ông đã bắt đầu làm việc bán thời gian tại phòng thí nghiệm các hệ thống điện tử, thuộc học viện của viện nghiên cứu kỹ thuật năng lượng, tại đây ông cùng làm việc với Bruk để phát triển dòng máy tính M-1. Vào năm 1952, ông được bổ nhiệm vào một vị trí công tác cố định, và chịu trách nhiệm là trợ lý khoa học. Trong thời gian thiết kế loại máy tính M-2, ông đã chứng tỏ được mình là một tài năng xuất chúng – nhóm nghiên cứu nhỏ của ông đã hoàn thành công việc thiết kế chiếc máy tính chỉ trong vòng có một năm rưỡi (để so sánh, dòng máy tính BESM thì được thiết kế mất thời gấp hai lần, và nó được phát triển bởi một đội ngũ thiết kế đông đảo hơn nhiều và họ rất giàu kinh nghiệm). Tuy nhiên, dòng máy tính M-2 không mạnh mẽ được bằng loại BESM, Kartse đã gọi nó là một "chiếc máy tính rắn chắc"

Năm 1957, Giám đốc viện công nghệ truyền thanh, viện sĩ hàn lâm Alexander L'vovich Mints, đã yêu cầu Bruk thiết kế một loại máy tính điều khiển điện tử cho một hệ thống Rada quét thí nghiệm kiểu mới. Nói chính xác hơn là, Bruk tình cờ đã đề xướng qui trình này và tác động đến Mints trong một kỳ nghỉ tai khu nghỉ dưỡng Kislovodsk. Trong khi thảo luận các dự án mà ông đang thực hiện tại phòng thí nghiệm của mình, Bruk đã đề cập đến tính khả thi trong việc sử dụng máy tính kiểm soát cho hệ thống Rada theo dõi. Sau đó, họ đã cùng đưa ra một đề xuất, và năm 1957 đơn hàng kỹ thuật cho dòng máy tính M-4 được chấp thuận. Vào lúc này, Kartsev được đề cử là chủ nhiệm dự án, với bước tiến này đã đánh dấu một sự khởi đầu sự nghiệp của ông trong lĩnh vực thiết kế các biến đổi của những hệ thống máy tính, dành cho hệ thống cảnh báo sớm của tên lửa phòng thủ và hệ thống thám không. Vào thời gian này, có rất nhiều những vấn đề phức tạp cực kỳ hóc búa để giải quyết, do họ cần có một số lượng lớn dữ liệu để xử lý. Thêm nữa, họ cần phải có được một tốc độ tính toán cao nhất, một bộ nhớ khổng lồ, và thiết bị chính xác cao.

nthach 05-12-2008 14:49

Năm 1957, những chiếc bóng bán dẫn đầu tiên của Liên Xô bắt đầu được đưa vào sản xuất hàng loạt. Do đó, Kartsev đã quyết định thiết kế dòng máy tính M-4 dựa theo chất bán dẫn.

Để dành cho dự án này, phòng thí nghiệm đặc biệt số 2 được thành lập do Kartsev quản lý, phòng thí nghiệm này được đặt tại học viện nghiên cứu khoa học máy tính điều khiển điện tử vừa mới được thành lập. Vào tháng 3 năm 1958, chính phủ đã phê duyệt bản thảo của dòng máy tính M-4, và đến tháng tư, nội các bộ trưởng Xô Viết đã đưa ra một đơn đặt hàng đặc biệt để chế tạo dòng máy tính này, và chỉ định cho phòng thí nghiệm của Kartsev, một công xưởng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất máy tính. Trong tháng tư năm 1958, Kartsev trao cho công xưởng này những bản thiết kế máy tính đã hoàn thành, và họ bắt đầu chuẩn bị đưa ra sản xuất; những kỹ sư thiết kế của dòng M-4, luôn túc trực trong tất cả các giai đoạn sản xuất và hiệu chỉnh máy tính. Năm 1959, công xưởng sản xuất đã hoàn thành hai bộ máy tính M-4, và chuyển sang giai đoạn điều chỉnh vi cấp. Vào cuối năm 1960, tổ hợp đầu tiên được đưa vào hoạt động và được chuyển giao sang cho viện công nghệ truyền thanh.

Tháng 11 năm 1962, chính phủ đã ban hành chỉ thỉ cho tiến hành sản xuất hàng loạt loại máy tính M-4. Tuy nhiên, Kartsev được sự ủng hộ của cả nhóm, đã kiến nghị lên chính phủ cho sản xuất hàng loạt một loại máy tính khác. Ông có ý muốn loại bỏ được toàn bộ "những con rệp" – lỗi vẫn còn đang tồn tại trong dòng máy tính hiện thời, ông hy vọng xe cho ra đời loại máy tính khác có hiệu quả kỹ thuật hơn trong khi sản xuất cũng như trong hiệu chỉnh. Vào thời điểm này, nhóm của Kartsev vừa mới phát triển được một hệ thống có các yếu tố lôgíc kiểu mới, hệ thống này sử dụng các bóng bán dẫn cao tần, nó có thể điều khiển các bộ phận hoạt động với tốc độ tốt nhất. Với sự xuất hiện rầm rộ của các loại bóng bán dẫn ở Liên Xô, các loại đèn chân không sự cần thiết không còn tồn tại nữa

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image127.jpg
В редкую минуту отдыха (70-е гг.)

Kartsev và các thành viên trong nhóm của ông, đã hoàn thành bản thiết kế chế tạo cho loại máy tính M-4M mới, trong một thời gian rất ngắn. Trong tháng 3 năm 1963, họ đã chuyển giao các sơ đồ thiết kế của phần số học máy tính cho nhà máy sản xuất, và đến tháng tám cùng năm, họ cũng lại hoàn thành nốt phần còn lại của toàn bộ thiết máy tính. Đúng một năm sau, nhà máy sản xuất cũng đã hoàn thành hai mẫu máy tính đầu tiên. Công đoạn hiệu chỉnh, và công đoạn so khớp các giao diện của dòng máy tính M-4M chỉ cần đến có hai tháng. Vào tháng 10 năm 1964, cả hai mẫu máy tính cũng đã trải qua được các đợt thử nghiệm kỹ thuật, và được các khách hàng của chúng hoàn toàn chấp nhận. Thay vì chỉ cần xử lý được một trăm ngàn phép tính trên giây so với như yêu cầu ban đầu, chiếc máy tính M-4M còn thực hiện được đến hai trăm hai mươi ngàn phép tinh trên giây. Chiếc M-4M là một chiếc máy tính kỹ thuật cao cấp và không cần hiệu chỉnh. Dòng máy tính M-4M được liên tục sản xuất cho đến tận năm 1985; với số lượng hàng trăm chiếc.

Những Sêri máy tính M-4M được sản xuất với ba mẫu chính thức là 5E71, 5E72, 5E73. Tất cả các loại đều khác nhau về dung lượng bộ nhớ. Để nâng cao khả năng của chúng, các hệ thống từ xa AS-1, AS-2, AS-3… và một máy tính bên ngoài 5E79, cùng được phát triển. Với các chức năng của dòng máy tính M-4M là căn bản, những tổ hợp đa máy tính cũng được chế tạo và kết nối với một mạng máy tính mạnh mẽ để hoạt động trong thời gian thực.
Kartsev nhớ lại thời kỳ này với sự sôi nổi và niềm kiêu hãnh:

25 năm trước, vào năm 1957, một trong những chiếc máy tính bán dẫn đầu tiên của Liên Xô làm việc trong thời gian thực – Chiếc máy tính M-4 – bắt đầu được phát triển

Vào tháng 11 năm 1962, chính phủ đã quyết định cho sản xuất hàng loạt dòng máy tính M-4. Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn hiểu rẳng đây là một dòng máy tính sẽ không dễ dàng để sản xuất đại trà, bởi vì thiết kế của dòng máy này được lắp các bóng bán dẫn và nó cũng sẽ rất khó để hiệu chỉnh. Chúng tôi cũng có may mắn rằng, trong thời kỳ từ năm 1957 đến 1962, công nghệ bán dẫn đã đi được những bước tiến đại nhảy vọt, nó đã cho phép chúng tôi phát triển một chiếc máy tính sẽ tốt hơn nhiều dòng máy tính M-4, và mạnh mẽ hơn bất kỳ một dòng máy tính nào đã từng được chế tạo tại Liên Xô cho đến thời điểm đó. Vào mùa đông năm 1962 – 1963, chúng tôi đã liên tục tranh luận với Viện máy tính điều khiển điện tử, bởi vì họ kiên quyết phản đối về việc phát triển thêm một dòng máy tính mới. Họ quả quyết rằng, chúng tôi sẽ không bao giờ haòn thành được mẫu máy tính mới này trong một thời gian được chỉ định, đây là một sự mạo hiểm to lớn, và dự án chắc chắn sẽ bị thất bại.
Ủy ban Công nghiệp quân sự thuộc đoàn chủ tịch nội các bộ trưởng Xô Viết, đã giải quyết các luận cứ của chúng tôi vào tháng 3 năm 1963. Cũng trong tháng đó, chúng tôi chuyển giao các đồ án thiết kế đã được chuẩn bị về phần số học của máy tính cho xưởng sản xuất do V.A. Kurochkin quản lý. Vào tháng 8 năm 1963, chúng tôi đã hoàn thành toàn bộ các đồ án thiết kế còn lại, và một năm sau xưởng sản xuất cũng hoàn thành được hai mẫu máy tính đầu tiên, để sãn sàng đưa sang công đoạn hiệu chỉnh. Tháng 10 năm 1964, hai mẫu máy tính đầu tiên đã được chuyển giao cho các khách hàng, và đến tháng 12 1964, xưởng sản xuất đã làm được thêm 5 chiếc M-4M. Dòng máy tính này được sản xuất liên tục hơn 15 năm sau đó, và hiện vẫn còn đang hoạt động.


Kartsev đã hoàn thành luận văn tiến sĩ, dựa trên công trình dòng máy tính M-4M của mình, và đến năm 1967, ông được trao tặng phần thưởng nhà nước Liên Xô

nthach 02-01-2009 10:23

Thời gian phía trước của ông .



http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image128.jpg


Đây có vẻ xem như là một thời điểm thích hợp cho Kartsev đươc thanh thản, hoặc ít nhất cũng là một quãng nghỉ ngơi ngắn ngủi sau một thời gian làm việc quá căng thẳng, nhưng mọi việc lại không xảy ra như đúng dự định. Quay lại vào năm 1966, Kartsev đã đề xuất kế hoạch để xây dựng một tổ hợp đa máy tính, gồm có những chiếc máy tính được thiết kế để cùng kết hợp hoạt động. Những nghiên cứu sơ bộ đã thấy rằng, tổ hợp máy tính này có thể đạt được tốc độ sử lý một tỉ phép tính trên một giây. Tại thời điểm đó, không có chiếc máy tính nào trên thế giới có thể đạt được tốc độ đó. Với mục đích đó, đã luôn thôi thúc Kartsev và các thuộc cấp của ông, và đến năm 1967, họ đã hoàn thành được toàn bộ phác thảo cho thiết kế tổ hợp máy tính M-9. Bộ quốc phòng đã phê duyệt dự án này rất một cách rất mau lẹ

Tổ hợp máy tính M-9 gồm có một bộ sử lý điều khiển và bốn loại máy tính khác nhau: một chiếc điều hành chức năng, một chiếc máy tính số, một chiếc với chức năng kết hợp, và một máy tính ngoại vi. Tổ hợp M-9 được chỉ định hoạt động không chỉ với các số đơn, mà còn được hoạt động trên các nhóm số học gần như kết quả của các hàm số, hoặc như những phép tính Vector đã chiều. Về mặt khác, Kartsev đã thiết kế M-9 để có thể phân tích những mối tương quan giữa các dữ liệu sâu hơn so với các máy tính khác có thể làm được trong thời gian này.
Nét đặc biệt chính giữa cỗ máy này (Kartsev đặt tên cho nó là chiếc điều hành chức năng) với chiếc máy tinh đặc trưng là cấu trúc của giao diện các phần số học, cấu trúc này đã được định hạn bởi các mạch đồng thời. Tại điểm kết thúc của mỗi thao tác – mỗi chiếc máy tính được thực hiện theo lệnh trong một hoặc hai chu kỳ thời gian – và bắt đầu ở thao tác tiếp theo, sự trao đổi thông tin giữa dữ liệu đầu ra từ phần số học và các dữ liệu đầu vào của một bộ nhớ (được viết theo các lệnh ưu tiên), và giữa các dữ liệu đầu vào của phần số học và các dữ liệu đầu ra của một bộ nhớ (đọc bộ dữ liệu tiếp theo), được xảy ra mà không mất thời gian đáng kể.

Trong một phần của tổ hợp máy tính M-9, có chiếc máy tính số Vectơ, thực hiẹn các phép tính trên các hàm từng phần và các Vectơ đa chiều. Chiếc máy tính kết hợp có sự thực thi cao này, được thực hiện hầu hết các chương trình phân loại và thiết lập các ma trận thông tin. Chiếc máy tính số hoạt động với một chương trình độc lập, và cả các chương trình được đồng bộ hóa với những chiếc máy tính khác trong tổ hợp M-9. Nó được phối hợp làm việc với những chiếc đa máy tính khác, và cho phép tổ hợp máy tính được duy trì hiệu xuất cao trong khi sử lý các thông tin không đồng nhất, và tạo lập các giá trị trung bình số phổ dụng, để giải các bài toán mở rộng mà chúng đòi hỏi các loại máy tính có hiệu xuất rất cao.

Thật đáng tiếc, tổ hợp máy tính M-9 lại không được sản xuất hàng loạt, mặc dù thiết kế của nguyên mẫu máy tính ban đầu đã đạt được thành công quan trọng cho nhóm của Kartsev. Năm 1967, là một năm xuất xắc dành cho những nhà thiết kế M-9, bởi NIIVK đã được thành lập. Kartsev được bổ nhiệm làm giám đốc NIIVK, và bộ phận của ông trở thành một trụ cột chính; đó là một xác nhận chính thức trong trường phái khoa học của Kartsev.

nthach 06-01-2009 14:15

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image129.jpg
Рене Павлович Шидловский

Năm 1969, chính phủ Xô Viết đã đặt hàng chế tạo loại máy tính điện tử M-10, loại máy này chủ yếu được dựa theo thiết kế của M-9. Tiến sĩ khoa học kỹ thuật Leonid Vasilievich Ivanov nhớ lại, "Sự việc đã xảy ra buộc phải có một cuộc họp để cân nhắc hai dự án tiếp theo đã được lập: dự án Elbrus, do Lebedev làm chủ nhiệm, và dự án M-10 do Kartsev quản lý. Lebedev đã mạnh mẽ tranh luận phản đối bộ đa sử lý của máy tính Elbrus, ông nhấn mạnh, bộ sử lý đơn sẽ hoạt động được với năng xuất tối đa. Viện sĩ Glushkov thì ủng hộ cả hai hướng, và sau đó họ đã phê duyệt".

Vào đầu năm 1970, xưởng sản xuất bắt đầu thực hiện lắp ráp mô hình M-10 đầu tiên. Cùng năm sau đó, các bản thiết kế chế tạo được hoàn thành, và đến tháng 8 năm 1971, nguyên mẫu đầu tiên của dòng máy tính M-10 đã chế tạo song và được đưa vào hiệu chỉnh. Vào cùng thời điểm đó, các kế hoạch chế tạo mẫu máy tính công nghiệp đang được xem xét lại để chuẩn cho sản xuất hàng loạt.

Vào tháng 6 năm 1973, mỗi thành phần hệ thống của mẫu máy tính M-10 đầu tiên đã được lắp ráp và thử nghiệm theo các đặc tính kỹ thuật riêng, và cuối cùng chiếc máy tính cũng được hoàn thành toàn bộ. Đến tháng 9, mẫu máy công nghiệp M-10 đầu tiên cũng đã được thử nghiệm kỹ thuật thành công và được đưa vào hoạt động thử nghiệm cho tăng thêm phần mềm gỡ rối.
Vào tháng 12, xưởng chế tạo hoàn thành thử nghiệm mẫu máy thứ hai, và bắt đầu tiến hành sản xuất đại trà; dòng máy tính M-10, được sản xuất liên tục trong vòng 15 năm. Có rất nhiều máy tính dòng này được chế tạo, và cũng rất nhiều chiếc trong số đó được sử dụng cho đến ngày nay. Một vài tổ hợp máy tính mạnh được chế tạo, và sử dụng loaịi máy M-10 làm cơ sở. Năm 1976, một mẫu máy tính M-10 của một trong những tổ hợp máy tính đó, cùng với các phần mềm của nó đã thành công vượt qua đợt thử nghiệm trong trạng thái khắc nghiệt

Nhóm chuyên gia NIIVK và xí nghiệp sản xuất, đã cùng được trao tặng phần thưởng quốc gia của Liên Xô về công lao đóng góp xây dựng dòng máy tính M-10 vào năm 1977. Trong những người thuộc NIIVK được trao tặng phần thưởng gồm có, phó tổng công trình sư Leonid Ivanov, cùng Alexander Alexandrovich Krupsky, Leonid Yakovlevich Miller, Yuri Rogachev, Rene Shidlovsky, và chuên viên thiết kế phần mềm Alexander Karasik, cùng với kỹ sư Anatoly Shishilov và phó công trình sư của xí nghiệp. Với cương vị là chủ nhiệm dự án, Kartsev được trao tặng huân chương Lênin. Hơn một trăm chuyên gia của NIIVK và công nhân xí nghiệp cùng được trao tặng các loại huân, huy chương đặc biệt của Xô Viết.

Dòng máy tính M-10, trên thực tế là một hệ thống máy tính đa xử lý đồng bộ, và là một phần của thế hệ thứ ba dòng máy tính Xô Viết: các nguyên tố lôpic căn bản của nó gồm có 217 bộ vi sử lý Posol. Dòng máy tính này, được dự định để hỗ trợ các hệ thống kiểm soát tự động liên hợp trong thời gian thực và để sử lý độ đa dạng của các luận chứng khoa học. Được lắp các vi điện tử kém hơn trong cơ sở chế tạo công nghệ, cho nên loại máy tính này hoạt động không nhanh bằng loại CRAY-1 được chế tạo cùng thời điểm.

Giá trị của dòng máy tính M-10 trở nên hiển nhiên hơn, khi xét về nguồn gốc để chế tạo ra nó: Kartsev và các đồng nghiệp của ông đã thiết kế chiếc M-10 trong một điều kiện tuyệt đối bí mật, để dành cho hệ thống cảnh báo tên lửa tấn công của Xô Viết (SPRN), và giám sát ngoài không gian. Hệ thống được chuyển giao cho các nhà lãnh đạo quân sự Liên Xô, với các thông tin toàn diện về khả năng đe dọa của tên lửa tấn công và theo dõi vũ trụ liên tục. Trong không gian, thông qua vệ tinh nhân tạo, hệ thống SPRN sẽ phát hiện ra các vụ phóng tên lửa. Dưới mặt đất, hệ thống gồm có chín trạm Rada thám sát cực mạnh, được đặt dọc theo đường biên giới Liên Xô ở các vị trí Riga, Murmansk, Pechera, Irkutsk, Balkhash, Mingechaur, Sevastopol, và Mukachevo, toàn bộ các vị trí này được hỗ trợ bởi mạng lưới các tổ hợp máy tính M-10

Cho đến tận những năm 1980, M-10 vẫn còn thịnh hành như là một dòng máy tính có tính năng cao nhất ở Liên Xô về tốc độ sử lý (nó có thể sử lý khoảng 20-30 triệu phép tính trên một giây), dung lượng bộ nhớ bên trong, và truyền dữ liệu trong một hệ thống đa công. Lần đầu tiên trên thế giới, thiết kế của M-10 cho phép kết nối bảy chiếc máy tính lại thành mọt khối, và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau thông qua các chương trình riêng lẻ. Ngoài ra hệ thống còn có tính năng tự động cấu hình lại trong một phạm vi của các bộ xử lý, một bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên 4 megabyte thứ cấp (RAM) bên trong.

nthach 09-01-2009 13:54

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image130.jpg
С внуком

Các đặc tính kỹ thuật cải tiến đó, đã nhận được 18 bằng sáng chế và năm bằng chứng nhận kiểu mẫu công nghiệp. Đầu năm 1980, Kartsev và nhóm của ông đã đưa ra một hệ thống thiết bị tồn trữ mới và đặt lại tên là M-10M, các hệ thống phần mềm và phần cứng của hai dòng máy tính M-10 cùng với M-10M hoàn toàn tương thích với nhau. Trong bản giới thiệu của mình tại lễ kỷ niệm NIIVK lần thứ 15, Kartsev đã thảo luận về những năm tháng không thể nào quên mà ông đã từng trải qua:

Vào năm 1967, chúng tôi đã thực hiện một đề xuất táo bạo – chế tạo một tổ hợp máy tính M-9. Bởi vì công việc này là để chào mừng ngày kỷ niệm lần thứ 50 của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, tôi đặt tên hiệu cho tổ hợp là "Tháng Mười". Bộ chế tạo máy, nơi chúng tôi thiết lập, trở nên quá nhỏ đối với chúng tôi, nhưng các quan chức nói với chúng rằng: "Các anh đã làm việc cho Kalmykov từ lâu rồi, nay các anh hãy đến gặp ông ấy"

Dự án M-9 đã không được thực hiện. Nhưng vào năm 1969, chúng tôi tiến hành làm dự án M-10, và đến năm 1973 dự án này được vận hành. Trong nhiều năm, chiếc máy tính đó vẫn là loại mạnh nhất ở Liên Xô. Tổ hợp máy tính này, còn có trách nhiệm giải quyết một số khám phá khoa học kỹ thuật khác thường, nhất là trong lĩnh vực vật lý. Ngày đó các nhà chức trách không tin tưởng về dự án của chúng tôi lắm, và nhiều ý kiến cho rằng dự án này sẽ không bao giờ thành công. Chỉ đến khi chúng tôi mang đến cho họ sự tin tưởng tuyệt đối, và trong tiềm thức của họ đã nhận thấy rằng, một chiếc máy tính mạnh cần phải có một số lượng trang thiết bị khổng lồ. Nhưng vào thời gian đó, không ai có thể hình dung được nó cả. Công việc của chúng tôi cực kỳ khó khăn; Cả mhóm đã phải làm việc trên rất nhiều địa điểm trong khắp thành phố Moskva: tại xí nghiệp Sokol-1 và trên đường Pochtovaya Vĩ Đại, cùng với ở trong các tầng ngầm thứ hai: trên hẻm Vasilevsky Vĩ Đại, trên đường Burdenko, đường Plyushchikha và trên đường Shchukina.

Sau khi Viện Máy tính Điều khiển Điện tử được thành lập, nhóm của chúng tôi cũng được tiếp nhận một cơ ngơi rộng 590 mét vuông, của một cửa hàng gỗ mỹ nghệ cũ tại quảng trường Sokol. Để được thuận lợi và thích hợp hơn cho toàn nhóm, chúng tôi còn thuê thêm các địa điểm khác – những căn tầng ngầm thứ hai – tất cả đều ở trong thành phố Moskva. Sau này viện đã xây dựng một cho chúng tôi một tòa nhà riêng biệt vào năm 1975.



Cũng chẳng khó hiểu lắm về những hoài nghi đã nảy sinh, nhất là khi tính đến một vài con số: Chiếc máy tính BESM-6 được hoạt động với 60 triệu chiếc bóng bán dẫn, 180 ngàn chiếc Điôt bán dẫn và 12 triệu vòng Ferit. Chiếc M-10, thì sử dụng 2 triệu vi mạch sử lý, 1.2 triệu bóng bán dẫn và 120 triệu vòng Ferit. Nó không phải là một "một đống kim loại" như Kartsev đã thường gọi, mà là một con số phi thường của các linh kiện điện tử. Khi tất cả các lỗi sai sót cuối cùng được giải quyết hoàn thiện, và chiếc máy tính đi vào hoạt động, tổng số hiệu suất của nó bị mất hàng năm chỉ có 10 phút.

Thao vietnam 09-01-2009 19:01

Bác Thạch ơi, anh em mình dẫm lên vết chân nhau rồi. Đoạn bác vừa gửi lên đây em đã dịch trước đây. Có lẽ chương 3 bản tiếng Nga (em dịch) là chương 4 của bản tiếng Anh mà bác dịch ở đây.

nthach 12-01-2009 11:47

Trích:

Thao vietnam viết (Bài viết 23436)
Bác Thạch ơi, anh em mình dẫm lên vết chân nhau rồi. Đoạn bác vừa gửi lên đây em đã dịch trước đây. Có lẽ chương 3 bản tiếng Nga (em dịch) là chương 4 của bản tiếng Anh mà bác dịch ở đây.

U hu! nó lại không hết toàn bộ chương 4 mới khổ chứ :emoticon-0106-cryin
Cái này cũng là do tôi sơ suất quá, vì đợt trước bận đi công tác nên cứ copy cả chương về máy sách tay, lúc rảnh thì dịch nên không xem lại các bài bác đã dịch trước. Rồi cứ thế là "rình lúc vắng người" trong quán nét và up vội lên. Thôi tôi lại dịch tiếp vào vậy nhé.

nthach 19-01-2009 11:16

Phục hưng thời hậu chiến.


Chỉ một số ít người biết rằng, vào tháng 10 năm 1953, nửa năm sau khi Lebedev và nhóm của ông hoàn thành dự án BESM, chiếc máy tính nối tiếp đầu tiên, chiếc TsEM-1 (phiên ấm tiếng Nga: Tsifrovaya Elektronnaya Mashina-1], đã được nối mạng tại Viện năng lượng nguyên tử ở Moskva và được hoạt động cho đến mãi năm 1960. Quyết định phát triển chiếc máy tính này hầu như rất là tình cờ. Vào thời điểm đó, Sergey Sobolev nguyên là trợ lý giám đốc của Kurchatov tại Viện năng lượng nguyên tử, và vào năm 1950 ông tình cờ đọc được bài diễn tả của ENIAC (Electronic Numerical Integrator And Computer – Máy tính và máy tích phân số điện tử - ND) trong một tạp chí của Mỹ. Với vốn kiến thức sẵn có về các dự án Strela và BESM, Sobolev liền trao tờ tạp chí của Mỹ này cho người giám sát phòng thí nghiệm đo lường của Viện là N.A. Yavlinsky. Tờ tạp chí sau đó lại đến tay một chuyên gia trẻ tuổi, là Gennady Alexandrovich Mikhailov, người vừa mới tốt nghiệp tại Viện năng lượng Ivanovsk ba năm trước đó. Trong các ấn phẩm vừa mới xuất bản tại nước ngoài, ông mới chỉ có thể tìm được đôi bài báo trong các tập san của Anh, viết về loại máy tính EDSAC, loại máy này được xây dựng tại trường đại học Cambridge. Đáng tiếc, các tập san này chỉ giới thiệu về các biểu đồ tiến trình các các tính năng hoạt động của máy. Hệ thống nhị phân, cũng như về soạn thảo chương trình, vào thời gian này không được phổ biến rộng rãi, và khi đó hầu như cũng không có sách hướng dẫn để giải quyết các vấn đề hóc búa sử dụng bằng các phương pháp kỹ thuật số. Khi đó, vẫn còn có những khó khăn khác: nhóm thiết kế và lắp ráp chiếc TsEM-1 chỉ có 4 người – hai kỹ sư và hai kỹ thuật viên – kể cả Mikhailov.
Cũng giống MESM và BESM, thiết kế của chúng được cho là sản phẩm đặc trưng của Lebedev, còn sơ đồ của chiếc TsEM-1 thì lại hoàn toàn mang tính sở hữu của Mikhailov.

Chiếc TsEM-1 được lắp một bộ nhớ điều khiển của 128 số tự nhị phân 31-bit trên 32 mạch trễ thủy ngân; mỗi mạch có 16 số tự với một tỉ lệ phục hồi là 512 kilobyte trên giây. Dung lượng bộ nhớ về sau được mở rộng đến 496 hàng số - 4096 hàng số trên một trống từ. Các dữ liệu đầu vào và đầu ra được thực thi sử dụng như là một thiết bị điện báo ST-35. Các ký tự in ra trên băng điện báo, được sao chép lại vào một dải băng đục lỗ 5 rãnh, và các dữ liệu đầu vào từ dải băng đục lỗ tương tự được chuyển qua một đầu đọc ảnh với tốc độ cao. Các chế độ hoạt động của loại máy tính này, đáng chú ý nhất là bộ hiện sóng – đây là tiền thân của màn hình kỹ thuật số hiện đại của chúng ta ngày nay. Tốc độ cộng, trừ trung bình của TsEM-1 là 495 phép tính trên một giây, với nhân, chia là 232 phép tính trên một giây. TsEM-1 được lắp 1900 đèn chân không điện tử, tiêu thụ khoảng 14 KW điện trong một giờ. Chiếc máy tính được đặt trên 6 chiếc giá kim loại, kích thước mỗi giá là 80 x 180 x 40 Cm. Những hạn chế chính của TsEM-1 là ở trong các mạch trề thủy ngân: do chúng có chiều dài đến 1000mm, bộ Quartz Acoustic Radiator có đường kính là 18mm, nó cần phải thường xuyên kiểm tra cho các tia sóng siêu âm được hội tụ cao, và cho các mức phản xạ từ các điểm thu nhận của thanh thạch anh. Nhưng cũng may là, hàng tuần chiếc TsEM-1 vẫn được tiến hành bảo dưỡng định kỳ thường xuyên để đảm bảo độ tin cậy cho máy tính. Cũng giống như các loại MESM và BESM, dòng máy tính TsEM-1 vốn là một dự án nguyên bản, được xây dựng dựa trên các kinh nghiệm và trình độ cao của những người sáng tạo ra nó, và nó hoàn toàn khác hẳn với loại máy tính EDSAC. Ví dụ, phép tính nhân được thực hiện bằng cách làm tròn số, phép tính chia được hoàn thành mà không còn số dư, và một hệ thống lệnh hai địa chỉ, được thay thế cho hệ thống một địa chỉ trước đây. Lebedev đã đề nghị làm những cải tiến này, trong khi chiếc TsEM-1 còn đang trong thời gian dựng hình. Thêm nữa, hệ thống lệnh biến cải theo kiểu "kiểm soát các ký tự" trong cấu trúc của máy tính, là một hệ thống độc nhất vô nhị.

nthach 04-02-2009 13:04

Còn trong viện Năng lượng Nguyên tử, chiếc TsEM-1 lại không được chấp nhận vào những năm đầu sử dụng. Người giám sát của một phân viện, nhà vật lý Lev Andreevich Artsimovich, vào lúc ban đầu thì khá hoài nghi về loại công nghệ này. Sau một thời gian, ông ta đã thay đổi ý kiến của mình, vì đã ông ta đã nhận thấy chiếc máy tính thực sự hữu dụng và mạnh mẽ: vào cuối năm 1954, Mikhailov đã lập trình và giải được được một phương trình trên chiếc TsEM-1, phương trình này mô tả về qui trình nén tia plasma trong cuộc thí nghiệm kiểm soát sự phản ứng tổng hợp hạt nhân. S.M. Osovtsev, là người đã thiết lập phương trình, ông cũng là một thành viên của nhóm thuyết vật lý do Mikhail Alexandrovich Leontovich dẫn đầu. Trước tiên, Artsimovich cho loại bỏ gia tốc nén của tia plasma với những dao động bao phủ xung quanh nó. Tuy nhiên, sau ba – bốn ngày phân tích lý thuyết, ông ta vẫn thu được những kết quả tương tự. Chiếc TsEM-1 đã được sử dụng để phân tích với một số lượng lớn về các hoạt động phản ứng hạt nhân và đo liều lượng; Lebedev, M.D. Millionshchikov và những người khác đã trở thành những người khá quen thuộc với chiếc máy tính này. Mikhailov cũng là người đã giúp làm tăng thêm một số phác họa mới cho chân dung của Lebedev:

Vào những năm 1950, là một kỹ sư tại Viện Năng lượng Nguuyên tử Kurchatov, tôi đã rất may mắn vì đã gặp gỡ được rất nhiều những nhà khoa học ưu tú của chúng ta. Một vài người trong số họ, tôi chỉ được nhìn thấy từ xa từ những buổi thuyết trình và những hội thảo, như những người Kurchatov, Kikoin, Tamm, Ioffe, Timofeev-Resovskii, và Sakharov. Còn những người khác như, Sobolev, Artsimovich và Leontovich, tôi được gặp trực tiếp hơn, và có quan hệ riêng tư hơn với họ.

Khi tôi bảo vệ luận án thạc sĩ, các quản trị viên đã sát hạch về công nghệ máy tính là các viện sĩ hàn lâm khoa học Artsimovich và Lebedev. Điều này vẫn còn giữ lại trong tôi những điều thú vị khi suy ngẫm về hai nhà khoa học lỗi lạc đó, cùng với những hồi ức về nhiều nhà khoa học tài ba khác của những năm 1950 và những năm 1960. Điểu lo lắng duy nhất của tôi đó là, nếu như Sergei Alexeevich xuất hiện chỉ có một mình, thi nhìn ông thấy có một phong cách quá bình thường so với các đồng nghiệp khác; ông không có một ngoại hình đặc biệt và cũng chẳng có một khuôn mặt quyết đoán. Nhưng sự khiêm tốn cùng với tài năng tột đỉnh của ông, đã làm cho Sergei Alexeevich trở nên một người nổi bật nhất trong tất cả.
Tôi đã nghe danh ông lần đầu từ các đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm của tôi, họ nhắc đến ông như là một nhà khoa học có tài khác thường. Nhóm chúng tôi, do N.A. Yavlinsky lãnh đạo, được chuyển đến Viện Nguyên tử, nơi Lebedev đã làm việc. Yavlinsky và Lebedev vốn là bạn bè thân thiết với nhau, và hai gia đình của họ đều dành nhiều thời gian để quan tâm lẫn nhau cho đến tận năm 1962, khi Yavlinskii cùng với vợ và đứa con trai đều bị thiệt mạng trong một vụ tại nạn rơi máy bay.

nthach 05-02-2009 14:49

Năm 1959, Mikhailov chuyển đến Kiev và trở thành một trưởng ban tại trung tâm kỹ thuật máy tính của Học viện Ukraina. Ông nói tiếp:

Vào mùa hè năm 1961, đây là lần cuối cùng Sergei Alexeevich đến thăm Kiev. Ông đến thăm trung tâm máy tính của chúng tôi, khi đó trung tâm đã di chuyển từ Feofania đến Lisogorsk. Chúng tôi có tổ chức một chuyến đi đến Feofania, để Sergei Alexeevich được thêm một lần nhìn lại địa điểm, nơi mà ông đã từng khởi đầu công việc của mình. Vào thời gian đó, hầu như ông đã đạt được tất cả mọi thành tựu; trở thành một viện sĩ hàn lâm, một phần thưởng Lênin, và là một anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa…đây cũng được xem như là một thời gian vinh danh của ông. Nhưng Sergei Alexeevich lại là người rất khiêm tốn, và chẳng bao giờ đến dự những buổi họp quan trọng, những buổi yến tiệc, hoặc những hoạt động kỷ niệm rùm beng được tổ chức để dành cho sự có mặt của ông. Khi đó, chẳng có những điều bí mật nào về ông cả, nhưng chỉ có rất ít người trong chúng tôi biết đến.

Một lần, tại một buổi lễ kỷ niệm của ông tại sảnh đường hội nghị Cơ khí Chính xác của Viện, vậy mà trông ông rất là ngượng nghịu và ăn mặc thì xuềnh xoàng trong một chiếc áo choàng Uzbek và chiếc tyubeteika trên đầu (một chiếc mũ chỏm thêu của Trung Á), trong khi đó thì sự náo nhiệt lại bao trùm trên khắp hội nghị. Tôi thì không hề nghe thấy một lời nói xấu nào về ông. Nhưng cũng trong lúc đó, thực sự cũng chẳng có lời hoàn hảo nào dành cho ông.
Đến thăm phòng thí nghiệm của chúng tôi và khi đã kiểm tra tỉ mỉ chiếc máy tính TsEM-1, Sergei Alexeevich đã đưa ra câu hỏi làm chúng tôi rất bất ngờ: "Các anh không lấy búa nện nó đấy chứ", hóa ra là trước đây từng có một chiếc vồ bằng cao su, là dụng cụ của phòng thí nghiệm để sử dụng cho chiếc BESM, và dùng nó để nện vào khung thép bán dẫn của chiếc máy, đây vốn là hành động đặc trưng của sự bảo trì chiếc máy tính BESM. Vì không ít lần chiếc máy tính này có một lệnh bỗng nhiên không thực hiện trên một phép tính lâu quá 15 phút, và phải nện cho nó vài nhát búa, nếu không thì nó lại tính toán lại từ đầu, hành động này cũng nhằm cắt bỏ thời gian lãng phí cho chiếc máy tính.


Các vấn đề đã đề cập trên đây là liên quan đến thế hệ đầu tiên của loại máy tính bóng chân không. Loại máy thế hệ thứ hai được phát triển không gắn đèn chân không, và là những chiếc máy tính bán dẫn BESM-3 và BESM-4 của Lebedev. Những chiếc máy tính này, đã nổi lên tựa như kết quả của sự trẻ trung đầy nhiệt huyết: Những sự phát triển đó đã đươc nảy sinh tại SKB và Viện Cơ khí Chính xác, nó nằm ngoài "kế hoạch" quốc gia – nó là sự sáng tạo của đội ngũ kỹ sư trẻ và kỹ thuật viên trẻ tuổi.

Một thành viên trong nhóm của Lebedev, là A.A. Gryzlov đã nhớ lại, khi đó chỉ là một nhóm tương đối nhỏ những đồng nghiệp trẻ - các kỹ sư, kỹ thuật viên và những nhà sáng chế tự học – có nhiệm vụ đứng ra làm chủ những linh kiện bán dẫn đầu tiên vào năm 1964, để chuẩn bị cho nhân viên SKB tiến tới dự án BESM-6. Đầu tiên, họ nhận nhiệm vụ phát triển những nguyên mẫu cho các chi tiết chính của máy tính, để thu được một số kinh nghiệm trong thiết kế. Cuối cùng, mẫu máy tính được lấy tên là BESM-3M. Với đà cảm hứng bởi sự thành công của mình, các đồng nghiệp trẻ đã đề xuất một ý tưởng táo bạo: tiếp tục phát triển một loại máy tính mới, dựa trên nguyên mẫu đã có sẵn, và lặp lại sơ đồ block-logic của dòng máy tính M-20, và chỉ sử dụng các linh kiện mới. Lãnh đạo của SKB vào thời gian này là O.P Vasiliev, ông ta đã đứng ra ủng hộ những ý tưởng của các đồng nghiệp trẻ, và Lebedev cũng không có phản đối nào với những chàng trai trẻ "chưa được thử thách" này, do vậy chiếc máy tính BESM-4 đã được ra đời trong sự sáng tạo và bầu không khí thân thiện tràn ngập trong Viện của Lebedev như vậy đó.

Lãnh đạo Ủy ban quốc gia, ông Dorodnitsyn đã ghi nhớ những sáng kiến và thành tựu cao đặc dụng của loại máy tính bán dẫn đa năng đầu tiên của Xô Viết. Chiếc máy tính có những đặc điểm khá tối ưu như, độ tin cậy cao,kích thước nhỏ gọn, giá thành thấp; nó nhanh chóng trở thành một loại máy tính được ưu chuộng nhất của người sử dụng vào thời bấy giờ. Khi chiếc BESM-4 được lắp đặt ở Trung tâm Kỹ thuật Máy tính của Học viện Xô Viết, mọi người thường đổ về đây để tìm hiểu thêm về nó, và những câu trả lời thường được lặp lại: "Chiếc máy tính đã không phụ lòng những kỹ sư trẻ tuổi, họ không cần phải duy trì kiểm tra thường kỳ, bởi vì chiếc máy tính này không bao giờ bị hỏng hóc gì, nó có độ tin cậy rất cao". Vậy là chẳng có gì cần phải nói thêm về chiếc máy tính này nữa.

nthach 06-02-2009 13:19

Thành tựu của nhà khoa học


Sau khi các công việc về đèn chân không, trên những chiếc máy tính BESM-2 và M-20 kết thúc, bản thiết kế của chiếc siêu máy tính BESM-6 thế hệ thứ hai – kiệt tác máy tính bán dẫn – bắt đầu được tiến hành xây dựng tại Viẹn Cơ khí Chính xác. Hai cựu sinh viên của Lebedev – Vladimir Andreevich Melnikov and Lev Korolev – đã cùng cộng sự với ông trong dự án này. Melnikov và Korolev cả hai đã trở thành những người chỉ đạo các hoạt động dự án, và cũng là các nhà khoa học trẻ trứ danh của Lebedev. Họ nghiên cứu và phân tích tất cả các vấn đề mà họ có được trong tay những xuất bản phẩm về các thiết kế những loại máy tính tốc độ cao. Lebedev lúc này là người chỉ đạo về sơ đồ toán học của chiếc máy. Theo như kết quả, họ đã phát triển được một chiếc máy tính với một hệ thống các lệnh gốc để lập trình dễ sử dụng, có một cấu trúc bên trong đơn giản, hệ thống các yếu tố đáng tin cậy, và một thiết kế đơn giản hóa dành cho bảo trì.

Chiếc BESM-6 trở thành chiếc máy tính đầu tiên của Xô Viết được ủy ban quốc gia chấp thuận với một khối phần mềm trọn vẹn, và rất nhiều chuyên gia kỹ thuật hàng đầu Xô Viết cũng đã tham gia sự phát triển của chiếc máy tính này. Tuy nhiên, Lebedev chính là người đầu tiên được các nhà toán học và các kỹ sư đánh giá có những nỗ lực lớn lao nhất trong thiết kế những hệ thống của chiếc máy. Sự phát triển công nghệ của chiếc máy tính, đã mở ra một con đường khai triển từ các kỹ thuật đơn thuần cho đến các phép toán học.

Cuối cùng còn thêm một vấn đề quan trọng nữa là, Lebedev đã lập thành công thức tất cả các biểu đồ của máy tính với đại số Boole, vấn đề này đã mở ra những chân trời rộng lớn cho sự tự động hóa thiết kế, và những sự chuẩn bị tài liệu cho lắp ráp và hoạt động máy tính. Về sau, những thiết kế được Gennady Grigorievich Ryabov sắp xếp hợp lý hơn, ông là người đã tạo ra hệ thống xung lượng, với hệ thống này ông đã được trao tặng phần thưởng của Nhà nước Xô Viết.

Những tính năng của chiếc máy tính BESM-6

1. Một hệ thống kiểm soát đường ống dẫn, hoặc như Lebedev vào năm 1964 đã gọi nó là, "hệ thống ống nước", các luồng lệnh và operan đã cùng được sử lý đồng thời theo hệ thống này.
2. Sử dụng bộ nhớ kết hợp trên những thanh ghi siêu tốc, đã làm giảm bớt số lượng các lệnh gọi phục hồi bộ nhớ ferit, do đó những thao tác tính toán của máy tính được tối ưu hóa.
3. Một tầng của bộ nhớ đang hoạt động được đưa vào trong Môđun tự điều khiển, do vậy có thể cùng một lúc, thực hiện các lệnh gọi đa hướng đến các bộ nhớ.
4. Một chế độ hoạt động đa chương trình để thực hiện thời gian thực trên một số vấn đề với những lệnh ưu tiên đã được chỉ định.
5. Một cơ cấu phần cứng dành cho phép biến đổi của những địa chỉ toán học đến các địa chỉ vật lý.
6. Một trang hệ thống nhớ lần lượt khai triển để bảo vệ cơ cấu cho các bộ đếm và các lệnh
7. Hệ thống cập nhật thông tin gián đoạn, để thuận làm thuận lợi cho tự động chuyển từ một thao tác tính toán sang một thao tác khác, các bộ truy suất bên ngoài và kiểm soát các hoạt động của chúng

nthach 09-02-2009 11:37

Chiếc BESM-6 được lắp ráp 60,000 transistor và 180,000 diod bán dẫn. Cấu trúc căn bản của nó thuộc loại mới nhất vào thời gian này, và nó cũng trở thành cơ sở kỹ thuật vi mạch cho các dòng máy tính thế thứ ba và thứ bốn. Chiếc máy tính BESM-6 đạt được tốc độ lên đến một triệu phép tinh trên giây.

Chiếc BESM-6 nguyên mẫu được thử nghiệm vào năm 1965; vào năm 1967, chiếc máy tính chế tạo đầu tiên được chạy thử thành công. Các mẫu tiếp theo cũng được chế tạo vào cùng thời điểm này; do có sự cộng tác với nhà máy, khi đó hầu sự chuẩn bị như không có thời gian chậm trễ để đưa dòng máy tính vào sản xuất đại trà. Ủy ban Quốc gia, đứng đầu là Keldysh, lúc này ông vẫn còn đang kiêm cả chức vụ giám đốc Học viện Khoa học vào những năm 1960, ông cũng hiểu rõ được tầm quan trọng chiến lược của chiếc BESM-6. Với công nghệ máy tính này, Liên Xô đã cho thành lập một trung tâm máy tính để tạo điều kiện cho các hệ thống kiểm soát thời gian thực và phối hợp các hệ thống sử lý dữ liệu từ xa. Dòng máy BESM-6 còn được sử dụng để mô phỏng các quy trình phức hợp của khoa học tự nhiên và kiểm soát các quy trình đó, nó còn được dùng để phát triển thêm các phần mềm mới trong các hệ thống thiết kế bằng máy tính. Dòng máy BESM-6 đã được sản xuất trong hơn mười bảy năm ròng. Những người sử dụng loại máy này rất ưa chuộng nó, và vào những năm 1970, BESM-6 được đặt làm tiêu chuẩn cho những chiếc máy tính có tốc độ sử lý cao nhất ở Liên Xô.

Năm 1975, sứ mệnh chinh phục vũ trụ mang tên Apollo-Soyuz đã được kiểm soát từ một tổ hợp máy tính mới bao gồm cả loại BESM-6 và những dòng máy tính nội địa tốc độ cao do những sinh viên của Lebedev phát triển. Trước khi đó, những công việc sử lý dữ liệu từ xa cho các sứ mệng chinh phục không gian, thường phải sử lý trong khoảng ba mươi phút. Khi sử dụng tổ hợp máy tính mới, các công việc thực hiện chỉ trong vòng có một phút. Các nhà khoa học Xô Viết, đã hoàn thành mọi công việc sử lý dữ liệu trong sứ mệnh Apollo-Soyuz sớm hơn một tiếng rưỡi so với với các đồng nghiệp Mỹ. Điều này đã đánh dấu một thành tựu thực sự của Lebedev: Nhà trường và các sinh viên của ông đã phát triển được chiếc máy tính hàng đầu, nó có thể cạnh tranh được với những chiếc máy tính tốt nhất thế giới vào thời bấy giờ. Để tặng thưởng cho họ về những đóng góp trong sự phát triển dòng máy tính BESM-6, Lebedev và nhóm của ông đã được trao tặng phần thưởng quốc gia.
Trong khi đang viết tay bản thảo này, tôi có đọc qua tác phẩm của Frederick Nietzsche một triết gia người Đức. Một trong những quan điểm của ông đã viết làm tôi phải chú ý: "Tài năng là một con đường dẫn đến một thiên tài".
Lập tức tôi liên tưởng đến Lebedev.

nthach 11-02-2009 12:42

Tránh một cuộc chiến tranh.


Ngay từ đầu, nền công nghệ máy tính của Xô Viết được chuyên dùng cho mục đích quân sự. Vai trò của Lebedev là một tổng công trình sư máy tính, cho các hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Liên Xô, những công trình do ông thiết kế vốn được đặt vào hàng tối mật, và công việc của ông thường được tiến hành trong bí mật tuyệt đối. Đến năm 1990, mười sáu năm sau khi ông qua đời, sự tham gia của Lebedev trong các hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Liên Xô cuối cùng mới được Grigorii Vasilievich Kisunko tiết lộ tại một bài báo của ông nhan đề "Tiền bạc dành cho phòng thủ" trên trang Sovietskaya Rossia, phát hành ngày 5 tháng 8. Những dòng máy tính BESM-2, M-20, và BESM-6 đã làm tăng nhanh chóng sự phát triển của những giải pháp khoa học cho hầu hết những vấn đề phòng thủ chống tên lửa phức hợp vào những năm sau chiến tranh. Những chiếc máy tính đó đã trở thành nền tảng cho nhiều tổ hợp máy tính khổng lồ, và trợ giúp rất đắc lực cho các hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Liên Xô. Các quốc gia khác cũng có thể giải quyết được các vấn đề tương tự, nhưng họ phải chậm sau rất nhiều năm so với Liên Xô. Những sự phát triển mạnh mẽ của quân sự, đó cũng là kết quả của Cuộc chiến tranh Lạnh, và Sergei Alexeevich đã không thể tự tách mình ra khỏi những nhu cầu cấp thiết vào thời gian đó: sự giúp đỡ của quân sự Xô Viết đã làm cải thiện vị trí kinh tế của Viện Cơ khí Chính xác và thúc đẩy nghiên cứu về những loại máy tính có tốc độ cao phổ biến, và cuối cùng sẽ hỗ trợ lại cho các trung tâm máy tính phòng thủ ở Liên Xô. Đó là nhiệm vụ chính của Viện Cơ khí Chính xác trong suốt Cuộc Chiến tranh Lạnh.
Lebedev đã thấy trước được mọi vấn đề, Trong khi vẫn còn đang ở Kiev, ông đã gửi một lá thư cho đoàn chủ tịch khoa học thuộc học viện Ukraina vào ngày 15 tháng giêng năm 1951:

Học viện Khoa học Ukraina đang phát triển một nguyên mẫu máy tính tốc độ cao. Chiếc máy tính này sẽ có khả năng giải quyết được các vấn đề với những tốc độ và độ chính xác không có loại nào sánh bằng. Ví dụ, nó có thể giải quyết được những vấn đề về các lĩnh vực như; các qui trình nội nguyên tử, công nghệ phản lực, định vị Rada, công nghiệp máy bay, kết cấu cơ khí và nhiều vấn đề khác nữa. Tốc độ và độ chính xác của dòng máy tính này sẽ đạt được rất cao, nó có thể cho phép chúng ta phát triển các thiết bị kiểm soát tên lửa để điều chỉnh chính xác các hệ thống dẫn hướng phóng tên lửa.

Đoàn chủ tịch của Học viện Ukraina không thể hỗ trợ đợc cho ý tưởng của Lebedev, bởi vì khi đó không có tài chính để thực hiện nó: nền kinh tế quốc gia của Ukraina bị suy giảm mạnh sau thế chiến thứ hai. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo của Ukraina cũng chưa nắm rõ được tầm quan trọng của máy tính. Sau khi chuyển về Moskva và trở thành giám đốc Viện Cơ khí Chính xác, Lebedev đã thực hiện một kế hoạch dài hạn của mình để tích hợp tin học vào hệ thống phòng thủ quốc gia khi công việc trên chiếc BESM đã hoàn toàn kết thúc. Trong thời kỳ này, Sergei Alexeevich đã cố vấn tận tình cho Vsevolod Sergeevich Burtsev, một chuyên gia trẻ người đã biểu lộ được những phẩm chất đặc sắc về viẹchieeuj chỉnh chiếc BESM nguyên bản. Đã mất người cha trong cuộc chiến tranh thảm khốc, do vậy Burtsev đã trở nên rất gắn kết với Lebedev. Thời gian đầu, anh làm việc tại một trong những viện nghiên cứu khoa học ở Moskva, anh rất nhiệt tình và tận tâm trong công việc phát triển các hệ thống Rada, và áp dụng những hiểu biết đã trải qua đó vào những dự án của mình tại Viện Cơ khí Chính xác: vào giữa những năm 1952 và 1955, Viện này đã phát triển hai dòng máy vi tính Diana-1 và Diana-2, để tự động đọc các dữ liệu và thám sát các mục tiêu trên không. Sau những ngiên cứu, đã dẫn đến thiết kế và phát triển toàn bộ các thế hệ máy tính được sử dụng trong các hệ thống phòng thủ chống tên lửa.

nthach 13-02-2009 11:40

Lebedev đã bổ nhiệm Burtsev làm tổng trợ lý của ông, để chịu trách nhiệm kết hợp các máy tính với những khu vực phòng thủ. Sergei Alexeevich rất tin tưởng vào năng lực của Burtsev, một chuyên gia trẻ tuổi, anh đã có những đóng góp quan trọng vào công trình phát triển chiếc máy tính đèn chân không M-40. Dòng máy này được bắt đầu đưa vào hoạt động năm 1958 với tốc độ xử lý là 40.000 phép tính trên giây. Không bao lâu sau, Viện đã cho chế tạo dòng máy M-50, loại máy này có tính năng số học điểm phù động. Những chiếc máy tính dòng này được cung cấp với một kênh đa công, chúng có khả năng nhận dữ liệu dị bộ từ sáu chiều. Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Liên Xô đã được kết hợp những chiếc máy tính đó. Chính phủ đã bổ nhiệm Grigorii Kisunko chỉ mới 35 tuổi, làm kỹ sư trưởng của hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Xô Viết.
Mặc dù một số nhà chuyên môn còn tỏ ra nghi ngờ về ý tưởng của Kisunko, họ khẳng định, dùng tên lửa để bắn hạ một tên lửa đang bay trên không thì hoàn toàn là một sự tưởng tượng, Kisunko không hề tỏ ra nao núng trước sự chế nhạo của họ. Anh kiên quyết tin tưởng vào khả năng phối hợp của công nghệ Rada tiên tiến với công nghệ máy tính hiện đại – hai lĩnh vực khoa học đang được phát triển đó, có thể trở thành nền tảng của hệ thống phòng thủ hiện đại. Kisunko đã lãnh đạo một nhóm kỹ sư đầy nhiẹt tình và năng nổ, họ đã phát triển và chứng minh các nguyên lý cấu tạo của hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Qua quá trình trong vòng một năm, cả nhóm đã giải quyết được một số vấn đề phức tạp: dò tìm và theo dõi có hiệu quả như thế nào, hoạt động nhanh nhạy của những tên lửa đạn đạo ra sao?. Thiết lập kết nối tự động giữa khoảng cách của những thiết bị phòng thủ chống tên lửa ra sao?. Nhanh chóng xử lý các dữ liệu để ra những quyết định thích đáng thế nào?. Làm sao để bắn hạ thành công mục tiêu?. Để giải quyết được các vấn đề đó, họ đã đặt ra ý tưởng là phát triển một hệ thống thí nghiệm – "Hệ thống A"

Phía tây hồ Balkhash ở nước cộng hòa Kazakhstan, đó là một vùng sa mạc không có người ở kéo dài đến hàng trăm Km. Nhiệt độ ở đây có lúc lên đến 40 độ C vào mùa hè, ở đây chỉ các loại sinh vật là tồn tại như các loài nhện độc, rắn và bò cạp. Năm 1956, những công nhân đầu tiên đã đến đây để bắt đầu xây dựng khu đa giác, một vị trí chống tên lửa thử nghiệm. Các nhà máy và các nhà nghiên cứu quân sự cùng tiến hành, ở đây có đến hàng ngàn người tham gia vào công việc. Sa mạc này trở thành "Một Moskva ảo", hệ thống phòng thủ chống tên lửa được bảo vệ xung quanh vị trí, để chuẩn bị đánh trả tên lửa tấn công được phóng từ Kapustin Yar và Plesetsk (đây là hai căn cứ tên lửa bí mật của Liên Xô). Những công nhân có nhiệm vụ bố trí các trang thiết bị thí nghiệm để dò tìm các tên lửa sẽ được phóng vào, sau đó bắn hạ chúng trên phạm vi thử nghiệm, phạm vi này được tạm gọi là Sari-Shagan. Mọi người đều làm việc giống như tình trạng thời chiến: Những người xây dựng đều được sống trong các hầm trú ẩn và khi đó mọi người đều bịi thiếu nước ngọt trầm trọng. Những cơn bão bụi thường xảy ra. Công trình xây dựng đường sắt, đường cao tốc và các đường điện cũng đồng thời được tiến hành. Một căn cứ quân sự cũng được xây dựng cùng với các khu nhà dân và một khu liên hợp nghiên cứu được theo dõi bởi một mạng thông tin.

nthach 16-02-2009 11:53

Kisunko, Lebedev, và Burtsev đã biểu lộ được những kiên định và tính quyết đoán rất lớn lao, thậm chí có những lúc dường như nhiệm vụ của họ là bất khả thi, và những chiếc máy tính đèn chân không mà họ đã phụ thuộc, cũng chưa hẳn là luôn có tính ổn định. Khi Kisunko lần đầu tiên xem xét chiếc BESM, ông nghĩ rằng, chiếc máy "nhà làm lấy" sẽ có lẽ chẳng bao giờ được đưa vào sản xuất hàng loạt, vật là ông quyết định tập trung vào chiếc Strela, ông ký một hợp đồng với SKB-245 để chế tạo một loại máy tính đặc biệt cho khu đa giác, dựa trên nguyên lý của chiếc Strela, và cũng xem như là một chiếc dự phòng được lắp ráp đồng dạng với chiếc máy trong Viện của Lebedev. Công việc vẫn tiếp tục tại khu đa giác liên hợp, một đại sảnh lớn được xây dựng, và chia làm hai khu vực để lắp đặt cả hai chiếc máy tính. Nhà thầu chung của dự án này đã nhanh chóng thực hiện nốt một nửa còn lại của đại sảnh, nơi được lắp đặt chiếc SKB-245 hiện vẫn chưa hoàn thành, trong khi đó chiếc M-40 đang được gấp rút hoàn thiện ở phía bên kia của đại sảnh. Do đó, các nhà khoa học tại Viện Cơ khí Chính xác đã có thể chứng minh rằng, họ có thể soạn thảo các hồ sơ khoa học ngay tứ khắc cũng như giải quyết được các vấn đề phòng thủ chống tên lửa phức tạp bằng chiếc máy tính M-40 của họ, loại máy này được chế tạo dựa trên nguyên lý của chiếc máy tính BESM.

Trong một năm, hệ thống Rada dò tìm tên lửa thử nghiệm đầu tiên ở Liên Xô đã sẵn sàng hoạt động. Hai năm sau, cuộc thử nghiệm chống tên lửa được khởi đầu, sử dụng hoàn toàn trên máy tính làm cơ sở cho hệ thống A. Các thành phần của hệ thống là những loại hiện đại nhất vào thời bấy giờ: Hệ thống Rada chất lượng cao, một hệ thống điều khiển tự động căn cứ trên chiếc máy tính tốc độ cao M-40, các thiết bị chống tên lửa nhanh và dễ động với khả năng dẫn chính xác và mã hóa bằng số điện tử. Nhiều vấn đề tiến hành không được suôn sẻ vào lúc ban đầu, do một số nhà lãnh đạo Xô Viết luôn đứng ra giám sát dự án, bởi cũng do Kisunko vốn là con trai của một phú nông thời kỳ trước. Nhưng cuối cùng, ngày thử nghiệm đã đến, và tất cả mọi người, ai cũng đều nhớ đến thời khắc thiêng liêng nhất đó trong suốt quãng đời còn lại của mình…
… Ngay khi chiếc tên lửa mô hình được phóng đi, nó ngay lập tức xuất hiện trên các bộ định vị Rada. Sau đó mệnh lệnh phóng tên lửa chống tên lửa được ban hành, người điều khiển lập tức nhấn nút phóng. Ngay tức thì, dấu vết mục tiêu được hiển thị trên màn hình, thiết bị chống tên lửa được phóng lên. Vài phút sau, một bộ chỉ báo phát tín hiệu: "Mục tiêu đã bị triệt phá". Ngày hôm sau, cảnh quay ghi lại của sự kiện đã chứng minh, hệ thống phồng thủ chống tên lửa đã thực sự thắng lợi rực rỡ - đầu nổ của chiếc tên lửa đạn đạo đã hoàn toàn bị phá hủy.


Sự kiện này đã đánh dấu một điểm bứt phá trong sức mạnh quân sự, trong khoa học, và thậm chí trong cả lĩnh vực chính trị: Nikita Khrushchev đã tình cờ nhận sét về vấn đề này tại một cuộc họp báo, "Duy nhất có thể nhận định rằng, tên lửa của chúng ta có thể bắn trúng một vật thể bay trên không gian". Vào lúc đó, có rất nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng không chắc chắn rằng, Khrushchev nói đó có phải là thật sự hay không. Các quốc gia khác không quan tâm đến những ý định phi hạt nhân để tiêu diệt tên lửa hành trình, và tiến trình phát triển của Xô Viết về các hệ thống phòng thủ chống tên lửa ngày càng nhanh chóng, nó buộc Mỹ phải ký hiệp ước hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo vào năm 1972.

Vào một lần, người con gái của Sergei Alexeevich hỏi cha: "Tại sao cha lại phải chế tạo máy tính cho quân đội?" ông trả lời: "Đó là một việc làm để tránh một cuộc chiến tranh".

Đằng sau những thành tựu đã đạt được đó, còn có một khối lượng công việc khổng lồ do rất nhiều đội ngũ các nhà khoa học đã thực hiện, bao gồm cả sự quản lý đầy sáng tạo của Lebedev. Họ đã dành rất nhiều thời gian của mình cho khu thử nghiệm đa giác. Những người sáng tạo của hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo đầu tiên, đã được trao tặng phần thưởng Lênin. Trong số họ có cả Kisunko, Lebedev, và Burtsev. Những chiếc máy tính đèn chân không của họ, đã được sử dụng tại khu thử nghiệm đa giác, cuối cùng được cải hoán lại thành những chiếc máy tính bán dẫn. Một trong số đó là chiếc máy tính có ba bộ xử lý, nó có thể xử lý được từ 1.5 đến 2 triệu phép tinh trên giây. Đây là chiếc máy tính Xô Viết đầu tiên dựa trên mạch tích hợp. Cuối cùng, các nhà khoa học và những kỹ sư Xô Viết đã trông nom về sự phát triển của một chiếc máy tính cỡ nhỏ đa năng có độ chính xác cao. Trải qua nhiều kinh nghiệm chế tạo dòng máy tính thế hệ thứ ba, họ đã có cơ sở để tiếp tục thiết kế một siêu máy tính mang tên Elbrus

Nina 02-03-2009 20:02

Chương 5. Con trai của thời đại
 
Chương 5. Con trai của thời đại

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image1341.jpg

“Đừng tin những người kết tội, cả độc ác lẫn nịnh hót
Tôi luôn chỉ tin vào nhân dân của mình
Và hạnh phúc bởi ý nghĩ, là tôi cần cho nhân loại
Nhổ toẹt vào dông bão, và bước lên phía trước”
E. Asadov


Một tài năng xuất chúng

Năm 1954, trong thời gian công tác ở Moskva, tôi đã tới SKB-245 của Bộ Chế tạo máy và thiết bị - một trong những cơ quan được biết đến nhiều nhất khi đó đang nghiên cứu vấn đề chế tạo máy móc kỹ thuật tính toán. Khi tôi đề nghị đượclàm quen với những thiết kế mới, người ta đưa tôi vào một căn phòng lớn, nơi lắp ráp máy tính “Ural-1”, và làm quen với tổng công trình sư của chiếc máy này. Đó là Bashir Iskandarovich Rameev.

Tôi đã từng nghe cái họ này trước đó, và biết rằng anh là một trong những người chế tạo “Strela” – chiếc máy tính điện tử xô viết đầu tiên được sản xuất công nghiệp

Trước mặt tôi là một người còn trẻ đeo kính, cao trung bình, khổ người tầm thước, hơi gầy một chút. Trong câu chuyện, anh tỏ ra không nhiều lời, và nói hoàn toàn không bộc lộ cảm xúc gì cả. Chúng tôi trạc tuổi nhau, nhưng không hiểu sao ngay lập tức tôi cảm thấy rằng kinh nghiệm cuộc sống và nghề nghiệp của anh nhiều hơn hẳn tôi.

Và cuộc làm quen của chúng tôi đã bắt đầu như thế. Trong những năm sau, khi Rameev làm việc ở Penza, tôi chỉ thỉnh thoảng mới gặp anh, khi tới các hội nghị đại biểu về máy móc kỹ thuật tính toán, nơi các chuyên gia khắp Liên Xô đều tham dự.

Và theo trí nhớ của tôi, trong danh sách các báo cáo nổi bật thường vắng cái họ Rameev. Điều này hoàn toàn không ảnh hưởng đến uy tín của anh, và tới độ nổi tiếng của trường phái khoa học Penza do anh đứng đầu. Trường phái này đã đạt được sự thừa nhận nhờ khối lượng lao động sáng tạo to lớn mà họ đã đóng góp cho việc thiết kế và sản xuất những máy tính điện tử vạn năng. Trong những năm ấy, những chiếc máy tính Penza đã làm việc ở gần 50% các trung tâm tính toán của Liên Xô. Nếu như S.A.Lebedev và tập thể Moskva do ông lãnh đạo đã đảm bảo sự thiết kế siêu máy tính và tổ chức được sản xuất chúng hàng loạt, thì việc thiết kế và chế tạo hàng loạt những chiếc máy “phổ thông”, được sử dụng rộng rãi hơn là công lao đóng góp của tỉnh lẻ Penza!

Chúng tôi trở nên thân thiết hơn vào những năm 70, khi B.I.Rameev bắt đầu làm việc ở GKHT SM Liên Xô. Tôi thường hay phải tới đó, vì đề tài khoa học của Viện Điều khiển học Viện hàn lâm khoa học Ukraina được phê chuẩn, và mỗi lần tới Moskva, tôi đều cố gắng ghé thăm người quen cũ.

Năm 1984, cuốn sách “Con đường người lính” của tôi viết về những năm tháng chiến tranh được xuất bản. Tôi tặng cho Rameev, và anh ấy tỏ ra rất thích

Cũng có thể vì vậy mà vào năm 1991, khi anh ấy biết rằng tôi chuẩn bị viết một cuốn sách khác, lần này là về lịch sử máy tính, thì anh ấy không ngần ngại đồng ý giúp đỡ và chuyển cho tôi nhiều tài liệu thú vị, và bổ sung thêm bằng những câu chuyện kể về những năm tháng đầu tiên hình thành và phát triển máy tính.

Và trong những lần gặp sau, tôi dần hiểu rõ hơn con người ấy - xuất sắc, tuyệt đối khiêm tốn và tài năng.

(còn tiếp)

Nina 05-03-2009 02:05

B.I. Rameev luôn tránh gặp gỡ các nhà báo, phóng viên, anh rất xa lạ với việc quảng cáo các công trình của mình. Chỉ có trong vài bài báo là nhắc tới anh và tới những gì anh đã làm được. có thể, vì vậy mà chỉ các chuyên gia mới biết, rằng chính anh (cùng với I.S.Bruk) đã thiết kế mẫu máy tính điện tử số đầu tiên ở Liên Xô, nhận được bằng sáng chế đầu tiên về sáng chế máy tính điện tử số, là Phó tổng công trình sư chiếc máy tính điện tử sản xuất hàng loạt đầu tiên “Strela”, người đầu tiên ở Liên Xô đã thiết lập và thực hiện thành công nguyên lý phối hợp chương trình và kết cấu trong “gia đình” máy tính được thiết kế dưới sự lãnh đạo của anh. Cũng như Lebedev, con người ấy coi việc tạo nên máy tính điện tử là công việc chính của cuộc đời mình, anh dành cho nói toàn bộ cuộc sống của mình và đã đạt được những kết quả xuất sắc, ngang hàng với những thành tựu tốt nhất ở nước ngoài. Mặc dù không tốt nghiệp đại học (anh bị đuổi khỏi trường đại học năm 1938 vì là “con của kẻ thù dân tộc”), nhưng anh đã trở thành tổng công trình sư các máy tính điện tử vạn năng, mà anh đặt tên chúng là “Ural” để kỷ niệm những nơi thân thuộc mà anh đã trải qua thời thơ ấu và tuổi trẻ.


Trong một tờ báo tường ở trường đại học Penza, nơi Rameev đã từng làm việc, các cộng tác viên than phiền về tính tình người lãnh đạo của mình. Họ cũng viết là dường như Rameev đã nói: “Thà làm thêm một cái máy tính mới còn dễ hơn là đi trình bày một cái báo cáo”.

Thực vậy, anh gần như chẳng mấy khi phát biểu tại các hội nghị và các cuộc họp cấp cao. Kết quả công việc của anh được phản ánh trước hết là trong các báo cáo kỹ thuật, trong các tài liệu làm việc về sản xuất máy tính điện tử, trong chính các máy tính điện tử này, trong các thành tựu của những cơ quan, nơi những chiếc máy tính điện tử “Ural” đã làm việc trong những năm 60 và 70.

Những cố gắng của anh đã khiến Penza trở thành cái nôi của một trường phái khoa học lớn trong lĩnh vực kỹ thuật tính toán số vạn năng. Còn chính Rameev gọi trường phái này theo tên thành phố - trường phái Penza, tuy nhiên, thực tế thì đó chính là đứa con tinh thần của anh, với hướng đi, truyền thống và đội ngũ nhân sự trình độ cao được anh đào tạo.

Vào cuối những năm 60, khi đặt ra vấn đề về sự chuyển tiếp sang máy tính thế hệ mới – thế hệ thứ ba, Rameev đã đóng vai trò lãnh đạo trường phái Penza trong công việc này và đã triển khai hoạt động chuẩn bị tích cực.

Cũng giống như Lebedev, Rameev là người ủng hộ hướng đi của Liên Xô trong việc phát triển kỹ thuật tính toán. Cũng trong khi đó, anh và những người ủng hộ anh đã hy vọng cộng tác chặt chẽ với các công ty châu Âu. Khác với các công ty Mỹ, những công ty này cũng tìm kiếm sự xích gần lại với Liên Xô, nhằm tránh sự độc quyền của Mỹ trên thị trường tiêu thụ máy tính.

Những đề nghị có cơ sở khoa học của Lebedev, Rameev và Glushkov – các nhà khoa học uy tín nhất thời bấy giờ - đã không được các nhà lãnh đạo xem xét. Các nhà lãnh đạo đã thông qua một quyết định võ đoán về việc lặp lại họ máy tính IBM-360 đã bắt đầu lạc hậu của Mỹ. Khi đó Rameev mới 44 tuổi, đang trong thời kỳ sung sức nhất và tài năng đang độ chín. Rameev không đồng ý với quyết định này, tới lúc đó cùng với tập thể tuyệt vời do chính anh đào tạo đã kịp thiết kế và đưa vào sản xuất gần 150 máy tính điện tử vạn năng và chuyên dụng các loại khác nhau, và hơn 100 thiết bị ngoại vi khác nhau khác. Và Rameev đã bị đưa ra ngoài cuộc chơi, giống như một con tốt thừa, làm phiền các đấu thủ của thủ đô.

Kết quả của giải pháp quản trị là rất đáng buồn, nếu như không nói là bi kịch. Hệ thống máy tính thống nhất được thành lập, bao gồm các ý tưởng đã lạc hậu làm nền móng cho IBM-360 đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình, không xứng đáng với chi phí đã bỏ ra và những hy vọng đặt vào nó. Phần lớn trong số hơn 13 000 chiếc máy tính điện tử được sản xuất và vẫn chưa phát huy hết khả năng kỹ thuật của mình đã không còn được sử dụng nữa, mà hiệu ứng từ việc sử dụng những chiếc máy còn lại còn nhỏ hơn chi phí cần thiết để vận hành chúng. Đó là kết quả của quyết định võ đoán mà Rameev đã chống lại.

(còn tiếp)

Nina 05-03-2009 21:50

Khi tìm tư liệu cho cuốn sách, tôi đã gặp M.M.Botvinnik, người bạn lâu năm của Rameev. Tôi muốn nghe ý kiến của Botvinnik về Rameev, như ý kiến về một con người, một người đồng chí.

Botvinnik đã làm tôi ngạc nhiên một cách thú vị vì vẻ ngoài trẻ trung của ông (khi đó ông đã ngoài 80). Ông kể về cuộc gặp gỡ đầu tiên với Rameev – khi ông tới Penza, về cảm tình sâu sắc xuất hiện ngay khi đó tới người quen mới này. Một người hiền lành và mềm dẻo, khiêm tốn và trung thực đến tối đa – đó là hình ảnh của Rameev đối với ông. Và cùng lúc – đó là một tài năng xuất sắc, một sự hội tụ độc đáo giữa một bộ óc kỹ thuật với nghệ thuật đưa vào thực tiễn cuộc sống. Vào đời một cách khó khăn (khi cha anh bị bắt năm 1933), nhưng điều này không khiến cho anh mất đi phẩm giá, tình yêu thương con người, ước muốn đem lại lợi ích lớn nhất cho đất nước, nơi anh đã sinh ra và đang sống.

Các thế hệ máy tính nhanh chóng nối tiếp nhau. Những chiếc máy tính mà B.I.Rameev thiết kế và chế tạo là những chiếc máy tính thế hệ thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Đã có thời gian đó là phần lớn số máy tính vạn năng của Liên Xô. Bây giờ, nếu còn những chiếc máy ấy, thì hẳn là chúng đang ở trong bảo tàng, hoặc ở với những người chủ hết sức quan tâm. Thời gian nghiệt ngã sẽ tiêu diệt nốt cả những chiếc máy còn lại. Không có lỗi của Rameev trong việc những chiếc “Ural” không được phát triển hơn nữa – mệnh lệnh tổ chức. Khả năng của hai bên giao đấu là quá chênh lệch. Tuy nhiên các sự kiện đã cho thấy, chiến thắng này đã không đem lại vinh quang cho người thắng trận. Tên của tổng công trình sư “Ural” sẽ mãi mãi đi vào lịch sử công nghệ thông tin, cũng như tên của S.A.Lebedev và các nhà khoa học tuyệt vời khác, những người trong những năm tháng hình thành máy tính điện tử đã có công lớn trong việc đưa Liên Xô thành một trong những cường quốc máy tính.

-----
(còn tiếp)

Nina 07-03-2009 12:48

Gốc rễ - Phần 2 của chương 5
 
Gốc rễ

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image134.jpg
Dardmend (Zakir Rameev)

Bashir Iskandarovich sinh ngày 1 tháng 5 năm 1918. Trong hộ chiếu của anh thì ghi một ngày khác – ngày 15/5. Lý do là mãi sau này, khi chế độ hộ chiếu là bắt buộc đối với tất cả, thì người bố mới đi làm khai sinh cho con trai, và nhầm mất 15 ngày.

Cuộc đời và hoạt động của Rameev như một tấm gương, phản chiếu nhiều góc cạnh của thời đại bắt đầu vào tháng mười năm 1917.

Ông nội của Rameev – Zakir Sadykovich Rameev (1859-1921) là một nhà thơ cổ điển của văn học Tatar. Những bài thơ của mình ông viết với bút danh Dardmend, dịch từ tiếng Ba Tư thì có nghĩa là người buồn bã, cùng cảm thông nỗi đau. Con người hiền lành và trí thức ấy là thành viên, chủ tịch nhiều hội từ thiện, xuất bản báo và tạp chí, làm rất nhiều điều để vun đắp cho văn hóa Tatar. Lúc sinh thời, chỉ có một tập thơ của ông dịch sang tiếng Nga được xuất bản. Cuốn sách được in với tia-ra 2000 bản. Và nhà thơ vẫn là vô danh đối với đông đảo độc giả.

Mặc dù vậy, những bài thơ của ông ngay cả trong bản dịch cũng rất đẹp và rất hiện đại – cuối thế kỷ XX cũng sôi động như hồi đầu của thế kỷ ấy. Cháu nội của nhà văn - Bashir Iskandarovich Rameev, nhân vật chương này của tôi, đã trao cho tôi khá nhiều, và tôi không thể không dẫn ra ở đây một bài thơ của ông.


Chúng ta
Tất cả trôi đi – tháng năm, thế kỷ, thời gian
Tất cả bỏ đi - hoàng đế, bộ lạc, nhà tiên tri,
Thế kỷ trôi đi, vòng xoay xoay mãi
Bao nhiêu quốc gia đã đến, rồi đi
Ôi, xác xơ những tường cung điện, pháo đài
Hàng núi xương phủ sương mù dưới đất.
Bão cát mịt mùng, dấu vết biến mất
Chúng ta sẽ ra đi như thế, lúc tuổi già
Kẻ lang thang đến trên đời một khắc
Thời gian réo lên, anh nhảy điệu điên cuồng
Nuốt trôi rác rưởi hy vọng kia mục nát
Và đống lửa thiêu là đích mọi con đường…

Tiếc rằng phần lớn trước tác của nhà thơ đã bị thất lạc sau khi ông qua đời. Đó là năm 1921 đói kém và lạnh lẽo. Nhiều người không còn hơi sức để nghĩ đến thi ca.

---
(còn tiếp)

Nina 10-03-2009 21:49

Nhưng những điều ấy chỉ được biết đến vào ngày nay, khi sự thật được phục hồi, và những nguyên tắc con người chung lấy lại sự ưu tiên cần thiết, chứ không phải là những lợi ích giai cấp.

Zakir Rameev vốn là một nhà sản xuất vàng giàu có, thành viên Đuma Quốc gia, một người theo chủ nghĩa tự do. Việc ông đem một phần đáng kể tài sản của mình làm từ thiện, nuôi trẻ mồ côi và giúp những thanh niên trẻ tài năng học hành ở nước ngoài để đào tạo một lớp trí thức Tatar, trong những năm cách mạng lại trở thành một lỗi lớn. Và vì lỗi ấy mà con trai và cháu nội của ông phải trả giá.

Iskandar được cha gửi đi học ở Đức, tại Viện Mỏ ở Freiberg. Ông trở lại Nga một ngày trước khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất nổ ra. Iskandar làm việc tại một mỏ vàng của cha, còn sau cách mạng – kỹ sư trưởng tại một nhà máy đúc đồng ở Baimak. Năm 1929 ông bị bắt lần đầu, nhưng một năm sau được thả, không bị kết án gì. Khi đó Bashir 11 tuổi, vẫn chưa hình dung được hết mọi hậu quả của tai họa sắp tới, nhưng chuẩn bị theo linh tính – tự mình làm nghề chụp ảnh ở một đoàn thám hiểm địa chất, rồi sau đó – đóng bìa sách. Anh tốt nghiệp phổ thông ở Ufa, nơi mà năm 1935 cả gia đình chuyển đến đó. Người cha làm trưởng phòng thí nghiệm trong công ty “Bashzoloto”. Một kỹ sư tài năng, ông đã thiết kế và vận dụng tại một mỏ phân xưởng tự chạy, chỉ cần một người vận hành. Và năng suất tăng lên hẳn.

Nhưng … những năm tháng nghiệt ngã trước chiến tranh với những cuộc bắt bớ. Tháng tư năm 1938 ông bị bắt lần thứ hai. Các bản vẽ của phân xưởng biến mất trong những kho lưu trữ của NKVD. Sau hai năm ông bị kết án năm năm tù, và được gửi đến trại ở vùng Kemerovo. Năm 1943, còn 10 ngày nữa thì hết hạn tù, Iskandar Rameev qua đời…

Tận 20 năm sau Iskandar Zakirovich Rameev mới được phục hồi danh dự sau khi chết.

Còn khi đó, từ tháng 4/1938, Bashir Rameev trở thành “con trai của kẻ thù dân tộc”.

Lúc đó, sau khi vượt qua kỳ thi lớp 10 trung học với tư cách thí sinh tự do, Bashir đã kịp trở thành sinh viên năm thứ hai Trường Đại học năng lượng Moskva. Anh đã say mê kỹ thuật từ nhỏ, là một người chơi radio nghiệp dư. Anh đã làm và giới thiệu tại cuộc thi ở Moskva một mô hình tàu bọc thép điều khiển bằng radio. Khi chuyển động trên đường ray, đoàn tàu bọc thép bắn đại bác, tạo thành bức màn khói. Khi đó các báo “Ngọn lửa nhỏ”, “Izvestia”, “Komsomolskaya Pravda” đã viết về mô hình độc đáo này (Năm 1935, khi anh 17 tuổi, anh đã trở thành thành viên Hiệp hội các nhà sáng chế toàn liên bang).

---
(còn tiếp)

Nina 10-03-2009 22:54

Vì cha bị bắt mà Bashir phải rời trường đại học và quay trở lại Ufa. Một thời gian dài anh không tìm được việc làm – không ai muốn nhận “con trai của kẻ thù dân tộc”. Một người quen cũ từ Ủy ban Bashradio đã giúp anh – nhận anh làm trưởng phòng radio. Vào năm 1939, khi anh được gọi nhập ngũ thì người ta phát hiện ra anh bị bệnh phổi. Anh quyết định đến Crimea, xa Ufa, nơi mà không ai biết anh, với dự định xin làm việc trong một nhà an dưỡng, nhà nghỉ hay trại hè thiếu niên để có cơ hội vừa làm việc vừa chữa bệnh. Anh đã đi bộ dọc hết cả ven bờ biển Crimea – không có tiền, nhưng cũng không tìm được việc - ở đây chẳng ai cần anh cả. Anh trở lại Moskva, nơi mà cuối cùng anh cũng xin được việc làm cán bộ kỹ thuật trong Viện nghiên cứu khoa học thông tin liên lạc Trung tâm. Đó là năm 1940 – ngay trước chiến tranh.

Bashir đã gặp may – người ta cho phép anh được làm những gì anh muốn, và không phải là không đem lại lợi ích. Trong những tuần đầu tiên của chiến tranh anh đã đề xuất phương pháp phát hiện các đối tượng bị che khuất từ máy bay – theo bức xạ hồng ngoại đi qua các cửa sổ treo rèm. Anh phát minh ra thiết bị rê-lê để tự bật loa trong trường hợp báo động. Lại một lần nữa người ta không nhận anh vào quân đội, và anh tình nguyện tham gia tiểu đoàn thông tin liên lạc của Bộ Bưu điện Liên Xô.

Tiểu đoàn phục vụ Tổng hành dinh và Bộ tổng tham mưu. Ban đầu Bashir ở nhóm thiết kế thiết bị mã hóa. Đến tận bây giờ anh cũng không biết, tại sao mọi chuyện lại xảy ra như vậy. Có lẽ là do các cấp trên khi đó không có thời gian và hơi sức cho các bảng hỏi. Thiết bị do nhóm thiết kế được chấp nhận cho trang bị và được sử dụng một thời gian. Cùng với tiểu đoàn, Rameev tới Arzamas, Gorky, nơi Bộ tổng tham mưu định chuyển đến, tham gia vào việc lắp đặt các thiết bị cần thiết.

---
(còn tiếp)

Nina 11-03-2009 21:50

Trong giai đoạn chuẩn bị giải phóng Kiev, để đảm bảo liên lạc bằng sóng cực ngắn cho các đơn vị khi tấn công Dnepr một nhóm đặc biệt gồm 20 người được thành lập. Nhóm này được trang bị các trạm phát sóng radio lưu động. Trong thành phần nhóm này, tháng 9/1943 Rameev được gửi tới Mặt trận Ukraina số 1. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo liên lạc bằng sóng cực ngắn cho các đơn vị khi tấn công Dnepr và giải phóng Kiev, nhóm được giải tán, và anh quay lại Moskva.

Năm 1944 anh được giải ngũ theo quyết định về các chuyên gia được giao cho thực hiện nhiệm vụ phục hồi kinh tế. Anh tới làm việc tại Viện nghiên cứu khoa học Trung tâm số 108. Trong lý lịch anh khai rằng bố đã mất, không rõ ở đâu. Trước đó anh còn cố gắng một lần nữa: viết thư cho Stalin, trong đó mô tả những khó khăn anh đã phải trải qua và đề nghị giúp đỡ, vì lời của lãnh tụ về việc “con không phải chịu lỗi của cha” không được tuân theo trên thực tế. Tuy nhiên thay cho câu trả lời thì anh được gọi đến nghe điện thoại (giấy gọi đến giờ vẫn còn). Và người ta cảnh cáo anh khá thô thiển: “Sống khẽ khàng thôi, đừng bao giờ viết thư đi đâu nữa”.

Khi đó anh hiểu rằng cần phải làm một điều gì đó thật đặc biệt, thật xuất sắc, thật quan trọng cho con người, cho đất nước để cuộc sống của anh trở nên bình thường.

Khi làm việc tại Viện nghiên cứu khoa học Trung tâm số 108, mà khi đó Viện trưởng là viện sĩ Aksel Ivanovich Berg – một nhà khoa học tuyệt vời, một trong số những người sau này đóng góp đáng kể vào việc đặt nền móng cho điều khiển học, B.I. Rameev làm quen với những tính toán và ứng dụng trong các thiết bị radar các yếu tố cơ bản của mạng điện tử, như trigger, multivibrator, đường giữ, thanh ghi, máy đếm, bộ giải mã, vv, những gì sẽ giúp anh rất nhiều trong công việc tiếp theo. Trong những năm đó anh say mê vật lý nguyên tử và sáng chế ra thiết bị tăng tốc các hạt có mang điện tích, thiết bị này nhận được bằng sáng chế. Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Leipunsky, sau khi làm quen với sáng chế của anh đã quan tâm đến tài năng trẻ và mời anh đến làm việc tại Obninsk, nơi thời đó đang triển khai nhiều công trình lớn về năng lượng nguyên tử. Nhưng tổ chức cán bộ đã chống lại – nửa năm sau khi viết đơn, Rameev được trả lời rằng ở đó không có chỗ cho anh.


---
(hết phần 2)

Nina 04-05-2009 19:19

3. Ý tưởng chói lọi

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image135.jpg
Bashir Iskandarovich Rameev (những năm 50)

Đầu năm 1947, nghe BBC thông báo rằng Mỹ đã chế tạo ra một chiếc máy tính điện tử độc đáo, gồm có trên 18 ngàn đèn điện tử, và để kết nối những chiếc đèn này cần đến hàng chục ngàn kilomet cáp. Đó là chiếc máy tính điện tử đầu tiên của Mỹ ENIAK? Một cách linh tính Bashir hiểu rằng – đó chính là lĩnh vực khoa học kỹ thuật mà anh đã mơ ước từ lâu. Anh bèn quyết định xin ý kiến lãnh đạo – viện sĩ A.I.Berg là một người dễ tiếp xúc với cấp dưới. Viện sĩ khuyên anh liên hệ với Isaak Semenovich Bruk, khi đó đang làm việc tại Viện Năng lượng, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô về việc chế tạo các phương tiện kỹ thuật tính toán. Trong phòng thí nghiệm của Bruk khi đó đã hoạt động thiết bị tích hợp phân tích cơ học – một chiếc máy tính analog, rất cồng kềnh và bất tiện khi sử dụng. Ý tưởng chế tạo máy tính số trong thời gian đó đang treo lơ lửng trong không khí, Bruk quan tâm đến ý tưởng này, và rất vui khi có thêm một trợ lý nhiệt tình. Tháng 5/1948 Bashir được nhận cương vị kỹ sư thiết kế trong phòng thí nghiệm của Bruk. Anh nhận chỗ làm việc tại một trong hai phòng của Bruk – Bruk không muốn “mở bài” quá sớm.

Thật khó tin, nhưng ngay tháng 8/1948, tức là chỉ sau đó có ba tháng đã xuất hiện sản phẩm đầu tiên – dự án “Máy tính điện tử số tự động”, được ký bởi Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô I.S.Bruk và kỹ sư B.I.Rameev.

Bản sao tư liệu lịch sử độc đáo này do Rameev trao cho tôi xin dẫn ra ở đây (bản gốc lưu ở Viện bảo tàng Bách khoa tại Moskva).

Máy tính điện tử số tự động
(mô tả ngắn gọn)
Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô I.S.Bruk
Kỹ sư B.I.Rameev
Moscow, tháng 8/1948
MỤC LỤC
I. Mở đầu
II. Mô tả chung ADCM
III. Mô tả các yếu tố riêng của ADCM
1. Thiết bị để chuẩn bị chương trình và chuyển dữ liệu đầu vào từ hệ thập phân sang hệ nhị phân
2. Sensor chương trình chính
3. Xác định dấu, sự bằng nhau và khác nhau của hai số.
4. Làm phép cộng
5. Phép nhân
6. Phép chia
7. Cộng dồn
8. Nội suy
9. Thiết bị để chuyển kết quả tính toán từ hệ nhị phân sang thập phân và in ra giấy
IV. Mô tả một số yếu tố rơle của ADCM
1. Rơ-le từ với hai trạng thái ổn định
2. Trigger từ
3. Rơ-le từ, chỉ hoạt động khi có cùng lúc vài tín hiệu điều khiển
4. Rơ-le từ, hoạt động khi có một tín hiệu điều khiển ở một trong những đầu vào.
5. Thiết bị giải mã
V. Phụ lục. Bảng các thông số chủ yếu của các máy tính số tốc độ nhanh đã và đang được thiết kế, chế tạo ở Mỹ.


(còn tiếp)

P.S. Bác Thạch ơi, có nên dịch tiếp cái đoạn kỹ thuật dài khiếp này không nhỉ? :)

Nina 04-05-2009 19:19

3. Ý tưởng chói lọi

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image135.jpg
Bashir Iskandarovich Rameev (những năm 50)

Đầu năm 1947, nghe BBC thông báo rằng Mỹ đã chế tạo ra một chiếc máy tính điện tử độc đáo, gồm có trên 18 ngàn đèn điện tử, và để kết nối những chiếc đèn này cần đến hàng chục ngàn kilomet cáp. Đó là chiếc máy tính điện tử đầu tiên của Mỹ ENIAK? Một cách linh tính Bashir hiểu rằng – đó chính là lĩnh vực khoa học kỹ thuật mà anh đã mơ ước từ lâu. Anh bèn quyết định xin ý kiến lãnh đạo – viện sĩ A.I.Berg là một người dễ tiếp xúc với cấp dưới. Viện sĩ khuyên anh liên hệ với Isaak Semenovich Bruk, khi đó đang làm việc tại Viện Năng lượng, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô về việc chế tạo các phương tiện kỹ thuật tính toán. Trong phòng thí nghiệm của Bruk khi đó đã hoạt động thiết bị tích hợp phân tích cơ học – một chiếc máy tính analog, rất cồng kềnh và bất tiện khi sử dụng. Ý tưởng chế tạo máy tính số trong thời gian đó đang treo lơ lửng trong không khí, Bruk quan tâm đến ý tưởng này, và rất vui khi có thêm một trợ lý nhiệt tình. Tháng 5/1948 Bashir được nhận cương vị kỹ sư thiết kế trong phòng thí nghiệm của Bruk. Anh nhận chỗ làm việc tại một trong hai phòng của Bruk – Bruk không muốn “mở bài” quá sớm.

Thật khó tin, nhưng ngay tháng 8/1948, tức là chỉ sau đó có ba tháng đã xuất hiện sản phẩm đầu tiên – dự án “Máy tính điện tử số tự động”, được ký bởi Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô I.S.Bruk và kỹ sư B.I.Rameev.

Bản sao tư liệu lịch sử độc đáo này do Rameev trao cho tôi xin dẫn ra ở đây (bản gốc lưu ở Viện bảo tàng Bách khoa tại Moskva).

Máy tính điện tử số tự động
(mô tả ngắn gọn)
Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô I.S.Bruk
Kỹ sư B.I.Rameev
Moscow, tháng 8/1948
MỤC LỤC
I. Mở đầu
II. Mô tả chung ADCM
III. Mô tả các yếu tố riêng của ADCM
1. Thiết bị để chuẩn bị chương trình và chuyển dữ liệu đầu vào từ hệ thập phân sang hệ nhị phân
2. Sensor chương trình chính
3. Xác định dấu, sự bằng nhau và khác nhau của hai số.
4. Làm phép cộng
5. Phép nhân
6. Phép chia
7. Cộng dồn
8. Nội suy
9. Thiết bị để chuyển kết quả tính toán từ hệ nhị phân sang thập phân và in ra giấy
IV. Mô tả một số yếu tố rơle của ADCM
1. Rơ-le từ với hai trạng thái ổn định
2. Trigger từ
3. Rơ-le từ, chỉ hoạt động khi có cùng lúc vài tín hiệu điều khiển
4. Rơ-le từ, hoạt động khi có một tín hiệu điều khiển ở một trong những đầu vào.
5. Thiết bị giải mã
V. Phụ lục. Bảng các thông số chủ yếu của các máy tính số tốc độ nhanh đã và đang được thiết kế, chế tạo ở Mỹ.


(còn tiếp)

P.S. Bác Thạch ơi, có nên dịch tiếp cái đoạn kỹ thuật dài khiếp này không nhỉ? :)

Thao vietnam 04-05-2009 20:43

Trích:

Nina viết (Bài viết 29351)

P.S. Bác Thạch ơi, có nên dịch tiếp cái đoạn kỹ thuật dài khiếp này không nhỉ? :)

Theo tôi, gọi là lịch sử thì nên lược bớt những bảng biểu thông số kỹ thuật quá chi tiết, nếu bạn đọc quan tâm họ có yêu cầu thì hãy dịch sau.

Nina 04-05-2009 23:13

Bác Thao vietnam nói quá hợp ý em :), nhưng mà em cứ chờ ý kiến của ... chủ biên chủ dịch là bác nthach (mặc dù nếu biểu quyết là em với bác Thao vietnam có vẻ chiếm đa số rồi đấy). Vậy em để bài này như là ... giữ chỗ nhé :emoticon-0136-giggl

nthach 05-05-2009 10:54

Trích:

Nina viết (Bài viết 29377)
Bác Thao vietnam nói quá hợp ý em :), nhưng mà em cứ chờ ý kiến của ... chủ biên chủ dịch là bác nthach (mặc dù nếu biểu quyết là em với bác Thao vietnam có vẻ chiếm đa số rồi đấy). Vậy em để bài này như là ... giữ chỗ nhé :emoticon-0136-giggl

Theo bác Thao vietnam nói là hợp lý, có lẽ ta chỉ nên đưa ra những ý chính như một lớn (I) còn các anh một nhỏ (1) ta lược bớt là được. Tuy nhiên các ý phụ đó ta vẫn cần lưu giữ lại bằng nguyên bản và sẽ để ở trang cuối cùng của topic này, vì nếu sau này có người cần đến những thông số kỹ thuật có liên quan để phục vụ cho luận văn của họ chẳng hạn...thì ta vẫn có thể giúp được họ.

Nina 09-05-2009 23:30

Theo sự chỉ đạo nhất trí 100% của các bác :), em xin copy nội dung cái tư liệu trên vào đây. Tôn trọng quyền tác giả, em cũng xin trình bày đoạn copy bằng font chữ nhỏ hơn bình thường


Автоматическая цифровая вычислительная машина
(Краткое описание)
Член-корр. АН СССР И.С.Брук
Инженер Б.И.Рамеев
Москва, август 1948 года
ОГЛАВЛЕНИЕ
I. Введение
II. Общее описание АЦВМ
III. Описание отдельных элементов АЦВМ
1. Устройство для приготовления программной ленты и перевода входных данных из десятичной в двоичную систему
2. Главный программный датчик
3. Определитель знака, равенства и неравенства двух чисел
4. Сумматор
5. Умножитель
6. Делитель
7. Накопитель
8. Интерполятор
9. Устройство для перевода результатов вычисления из двоичной системы в десятичную и печатания их на бумаге
IV. Описание некоторых релейных элементов АЦВМ
1. Магнитное реле с двумя стабильными состояниями
2. Магнитный триггер
3. Магнитное реле, срабатывающее только при одновременном поступлении нескольких управляющих сигналов
4. Магнитное реле, срабатывающее при поступлении одного управляющего сигнала на любой из нескольких входов
5. Дешифратор
V. Приложение Таблица основных параметров быстродействующих цифровых вычислительных машин, разработанных и находящихся в разработке в Америке

I. Введение
В последнее время в иностранной печати стали появляться сведения о построенных и находящихся в постройке быстродействующих цифровых вычислительных машинах.

Первая машина, пущенная в Америке во время войны, - работающая на счетно-импульсном принципе посредством электромеханических счетчиков, представляет собой машину общего назначения для решения различных математических задач методом исчисления конечных разностей ("Марк-1 ".-Прим. авт.).

Машина - сравнительно медленного действия с весьма ограниченной емкостью "памяти" (всего 60 чисел).

По имеющимся сведениям, эта машина широко использовалась наряду с дифференциальными анализаторами для решения ряда задач, связанных с разработкой пресловутого "Манхеттенского" проекта. Вслед за первой появилась вторая уже чисто электронная машина "ЭНИАК", предназначенная в первую очередь для решения задач внешней баллистики. Машина была построена по заказу артиллерийского ведомства для Эбердинского артиллерийского испытательного полигона.

Мы не останавливаемся на описании устройства этой машины, известном лишь в общих чертах по нескольким беглым обзорам, имеющимся в литературе, и на принципиальных недостатках ее и ее предшественника - Гарвардской машины. Существенно то, что в последнее время построением новых усовершенствованных машин занято несколько организаций в Америке. Строятся новые машины в Гарварде, две машины для "Бюро стандартов" и ряда университетов, институтов и специальных исследовательских центров армии и флота. Приступили к сооружению подобной машины в Англии, проектируется машина и во Франции.

В литературе немало сказано о различных задачах, для решения которых предназначаются эти машины. Составление таблиц функций, астрономические вычисления, обработка статистических данных и даже составление библиографических справочников. Однако не подлежит сомнению, что главным назначением этих машин, на сооружение которых затрачиваются очень большие средства, является решение ряда научно-технических задач, связанных с выполнением программы вооружений и возникающих при разработке объектов современной военной техники.

Так, например, "Бюро стандартов" - организация с функциями, аналогичными Палате мер и весов, организовало у себя большой отдел, в котором разрабатываются проблемы управляемых снарядов. Этим же вопросом занимаются, насколько можно судить только по отдельным отрывочным данным из журналов, несколько фирменных исследовательских лабораторий и специальные исследовательские центры армии и флота.

Одна из машин предназначена главным образом для выполнения вычислений, связанных с прогнозом погоды - задачи, имеющей немаловажное значение во время войны.

Наконец, имеется еще одна область, о которой, разумеется, уже ничего не пишут, но где подобного рода вычислительные устройства или отдельные узлы этих устройств могут играть очень большую роль. Это вопросы криптографии, имеющей исключительное значение в области разведки.

Подробное перечисление областей применения подобной машины не представляется возможным. Поэтому ограничимся общим указанием современных тенденций в методах научно-исследовательской и конструкторской работы, связанной с созданием новых объектов военной техники. Объекты эти очень дороги. Особенно велики затраты на сооружение первых образцов.

Путь от первоначального замысла до первого образца очень долог. Поэтому крайне важно заменить дорогостоящий эксперимент - расчетом. Всем известно, как труден и практически невыполним этот расчет даже в том случае, когда задача может быть более или менее удовлетворительно сформулирована математически.

Точность результата должна быть высокой, т.к. абсолютная погрешность при тех значениях величин, с которыми приходится иметь дело (например, большие скорости и дальности в управляемых снарядах), должна быть в узких границах.

Такие задачи немыслимо решить в сколь-либо приемлемый срок, пользуясь услугами вычислительного бюро. Непригодны для этой цели и всякого рода вычислители и модели в силу их "врожденной" неточности. Применение для решения задач быстродействующих цифровых вычислительных машин означает прежде всего огромную экономию времени, материальных средств и труда квалифицированных людей и позволяет обходиться сравнительно небольшим штатом высококвалифицированных специалистов, задачей которых является лишь формулировка задачи и оценка результатов.

Отмеченные выше обстоятельства настоятельно диктуют необходимость скорейшего сооружения и ввода в действие одной или нескольких быстродействующих цифровых вычислительных машин, предназначенных для нужд важнейших научных центров.

Кроме машин общего назначения представляется крайне целесообразным сооружение специализированных машин, например, для решения баллистических задач, прогноза погоды и др. Наконец, для некоторых совершенно специальных задач необходимо сооружение машин, использующих многие из элементов (счетных, программных), применяемых в цифровых машинах. Этопозволило бы методы решения этих специальных задач существенно усовершенствовать и получать положительные результаты чаще и быстрей, чем удается теперь.

Автоматическая цифровая вычислительная машина, краткое описание которой приведено ниже, основана на оригинальной схеме.

Схемы вычислительных элементов - сумматора, умножителя, делителя и интерполятора, устройства для перевода числа из десятичной системы в двоичную и обратно, 1 также ряд релейных схем нигде никем не описаны и предлагаются, насколько нам известно, впервые. Объективное сопоставление с построенными или сооружаемыми за границей машинами (по имеющимся сведениям) показывает, что предлагаемая нами машина обладает принципиально существенными преимуществами (о них сказано ниже в описании). В настоящем проекте дается описание принципиальной схемы машины и составляющих ее элементов и поэтому требуется разработка детального проекта и большой объем экспериментальной работы по, важнейшим (типовым) узлам прежде, чем можно будет приступить к изготовлению и сборке машины.

http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image1351.jpg


Nina 09-05-2009 23:32

II. Общее описание АЦВМ
АЦВМ является машиной общего назначения.

1). Вычисления производятся автоматически. Участие оператора заканчивается на подготовке машины для решения определенной задачи.

2). Вычисления осуществляются в электрических релейно-кодовых цепях. Механически движущиеся части имеются лишь в небольшом числе элементов машины - программном датчике, итогопечатающем устройстве и некоторых других.

3). Процесс вычисления протекает с очень большой скоростью. Машина способна выполнять до 2000 арифметических операций в секунду.

4). Машина является "цифровой". Вычисления сводятся к арифметическим действиям. Исходные данные и результаты представляются десятизначными числами (в десятичной системе). Сам вычислительный процесс проводится с числами в двоичном представлении.

В основу проекта АЦВМ были положены следующие требования, которым должна удовлетворять быстродействующая цифровая вычислительная машина:

1). Машина должна иметь устройства, выполняющие основные арифметические операции: сложение, вычитание, умножение и деление. В зависимости от общей схемы построения машины может быть на каждую операцию свое устройство или одно устройство для всех операций, так как устройство, выполняющее сложение, может производить вычитание с помощью дополнения числа, а умножение - последовательным сложением, деление - последовательным вычитанием. Применение отдельного устройства для каждой операции значительно увеличивает скорость работы машины и уменьшает необходимую емкость "памяти".

2). Для обеспечения автоматичности и большой скорости работы машина должна иметь устройство для накопления ("запоминания") как промежуточых, так и окончательных результатов вычисления. Накопитель должен принимать и передавать числа со скоростью не меньшей, чем скорость выполнения арифметических операций, продолжительность которых в электронных вычислительных машинах может быть порядка десятка микросекунд.

Накопитель должен также иметь достаточную емкость, так как от нее зависит диапазон решаемых задач. Рациональным составлением плчна решения задач, а также применением отдельных устройств для выполнения арифметических операций можно сократить необходимую емкость накопителя, но и в этом случае для решения некоторых задач емкость должна быть значительной (например, на несколько сот тысяч чисел для решения алгебраических уравнений с несколькими сотнями неизвестных).

3). Должно быть устройство для введения в машину чисел в виде таблицы.

Чтение таблицы и, если нужно, интерполирование может производиться основными узлами машины или с помощью отдельного интерполятора. Применение отдельного интерполятора увеличивает скорость работы машины, упрощает программирование и уменьшает необходимую емкость памяти.

4). Быстродействующая цифровая вычислительная машина должна иметь орган для управления выбором устройств, участвующих в операции, и последовательностью вычислительных операций, в соответствии с планом решения данной задачи. Скорость управления должна быть одного порядка со скоростью выполнения арифметических операций.

Орган управления должен выбирать по ходу вычисления (применяя соответствующий критерий) между двумя или более различными последовательностями действия и проводить операцию в соответствии с результатом выбора.

Для этого должно быть устройство, определяющее знак числа, а также равенство и неравенство двух чисел.

6). Машина должна иметь входное и выходное устройство для ввода числовых данных и для выпуска результатов вычислений.

Входное и выходное устройство должны работать со скоростью органа управления.

7). Наконец, цифровая вычислительная машина должна иметь средство для "переноса" чисел между различными частями машины и для передачи программных сигналов.

АЦВМ состоит из следующих основных элементов:

1). Входного блока, содержащего клавиатуру для записи входных числовых данных и устройство для приготовления программной ленты и автоматического перевода входных данных из десятичной системы в двоичную систему счисления.

2). Главного программного датчика, управляющего работой всей машины. Главный программный датчик, в соответствии с планом решения данной задачи записанном по определенному (двоичному) коду, на программную ленту, выбирает отдельные узлы машины, участвующие в данной операции, управляет последовательностью и видами вычислительных операций.

3). Определителя знака, равенства и неравенства двух чисел, дающего возможность главному программному датчику выбирать по ходу вычисления между двумя или более различными последовательностями операций и проводить их в зависимости от результата, доставляемого определителем.

4). Двух сумматоров.

5). Умножителя.

6). Делителя.

7). Накопителя "для хранения" числовых данных, промежуточных результатов вычислений и т.д.

8). Интерполятора для автоматического вычисления промежуточных значений функции, заданной таблицей для небольшого числа дискретных значений аргумента.

Интерполятор содержит устройство для автоматического набора таблицы.

9). Выходного устройства для записи результатов вычислений на ленту (в двоичном представлении).

10). Устройства для перевода результатов вычислений из двоичной системы в десятичную и печатания их на бумаге.

11). Цифровых и программных магистралей для связей между элементами машины и передачи программных сигналов.

Блок-схема АЦВМ показана на рис. No 1.

План (программа) решения задачи в виде определенной последовательности действий над числами с помощью входного устройства записывается на программную ленту по логической схеме: "откуда" - "куда" -"что делать". Это соответствует вычислительной схеме при численном (разностном) методе решения задачи.

Для того чтобы машина могла работать по такой схеме, все ее элементы имеют,, общую структуру входных и выходных цепей, показанную на рис. 2. (Рисунок опущен. - Прим. авт.).

Все цифры числа (и знак числа) от одного элемента машины к другому переходят одновременно. Через всю машину проходит одна цифровая магистраль (33 линии для цифр и одна для знака), к которой через "клапанные" устройства подключены цифровые входы и выходы всех элементов машины.

Клапанные устройства управляются главным программным датчиком; выбор их производится с помощью дешифраторов программного сигнала, подключенных к программной магистрали, проходящей также через всю машину. Каждому дешифратору присвоено число, двоичное представление которого является ключом для данного дешифратора. Таким образом, если на программной ленте в полосе "откуда" записан номер (ключ) дешифратора выхода умножителя, а в полосе "куда" - номер дешифратора входа сумматора No 1, то число из умножителя перейдет в сумматор. В полосе программной ленты "что делать" указывается действие, которое должно быть произведено в данном элементе машины (например, принять, передать, "стереть", умножить и т.д.). На программной ленте, кроме номеров дешифраторов и командных сигналов, наносится в каждой строке (для каждого такта) пусковой сигнал, запускающий элементы машины, участвующие в вычислении в данном такте и в тех тактах программы, где это необходимо, в полосе "цифры" записываются входные данные, заранее переведенные в двоичную систему.

Входное устройство, служащее для приготовления программной ленты, является переходным устройством между человеком-оператором и машиной и принципиально может работать только на небольших скоростях. Поэтому оно отделено от быстродействующей машины. Программная лента для решения данной задачи приготовляется заранее. Для устранения разрыва между производительностью машины и входного устройства можно предусмотреть несколько входных (приготовительных) устройств для одновременной подготовки к решению нескольких задач. Программная лента при использовании в машине практически не изнашивается и поэтому может быть сохранена для повторного использования при решении аналогичной задачи. В этом случае входные данные должны быть переписаны. При многократном повторении одной и той же последовательности вычислений программная лента может быть склеена в кольцо.

В машине возможен и другой способ введения числовых данных. Числа записываются не на программной ленте, а на специальной "числовой" ленте.

При этом способе числовые данные читаются с небольшого (по емкости) накопителя, который постоянно пополняется с "числовой" ленты при получении сигнала от главного программного датчика. Этот способ применяется и в устройстве для набора таблицы.

Программная лента, приготовленная по указанной выше логической схеме, закладывается в главный программный датчик, который "читает" программную ленту и, в соответствии с записью на ней, выбирает отдельные элементы машины, участвующие в данной операции, управляет последовательностью и видами отдельных операций.

Необходимо отметить, что хотя управление машиной полностью централизовано, главный программный датчик выбирает отдельный элемент машины и дает команду для начала операций. Сама операция проводится автоматически и независимо от главного программного датчика с помощью автономного программного датчика данного элемента. Например, главный программный датчик выбирает умножитель и дает сигнал "умножить". С этого момента местный программный датчик умножителя управляет последовательным сложением частичных произведений столько раз, сколько цифр в множителе, сдвигая частичное произведение каждый раз на один разряд влево. Самостоятельный цикл вычислений отдельных элементов заканчивается к началу следующего такта программы (за исключением интерполятора). Одновременно (в один и тот же такт) может работать только один элемент машины (за исключением интерполятора). АЦВМ работает вынужденными тактами, длительность которых целиком определяется скоростью движения программной ленты. Таким образом, скорость машины легко регулируется от очень малых значений до предельной, определяемой скоростью выполнения арифметических операций и достигающей 2000 тактов в секунду.

В тех случаях, когда необходимо в зависимости от знака или величины модуля промежуточного результата вычисления изменить ход решения задачи, на программной ленте наносятся оба или более ходов решения и в полосе "что делать" отмечается, в каком случае данный ход решения не должен быть использован ("если-", "если-", "если+"). В определитель знака равенства и неравенства двух чисел посылается число, с которым сравнивается промежуточный результат, и сам промежуточный результат.

В зависимости от результата, полученного на выходе определителя, будет выбран необходимый ход решения.

В АЦВМ для каждой арифметической операции (кроме вычитания) и для интерполирования применяется отдельное устройство. Это значительно упрощает программирование, увеличивает скорость работы машины и сокращает необходимую емкость накопителя.

В машине применены два сумматора, один из которых может быть использован в качестве накапливающего для суммирования рядов.

Для "запоминания" числовых данных и промежуточных результатов вычислений числа посылаются в накопитель, составленный в виде таблицы. Выбор числа из накопителя производится записью на программной ленте двух ключей, соответствующих номерам дешифраторов строки и столбца, на пересечении которых находится данное число, поэтому занесение числа и получение из накопителя требуют двух тактов.



Nina 09-05-2009 23:33

Как уже упоминалось выше, необходимая емкость накопителя зависит от характера решаемой задачи, плана решения и количества отдельных устройств, выполняющих арифметические операции. Не' предрешая сейчас вопрос о емкости накопителя, заметим, что в АЦВМ емкость накопителя может быть небольшой, благодаря применению отдельных устройств для выполнения арифметических действий и интерполятора. Как видим из таблицы No 1 (См. Прилож. 1. - Прим. авт.), емкость накопителя американских и английских машин, находящихся в разработке, колеблется от 1000 до 5000 чисел. Необходимо отметить, что даже сравнительная большая .емкость накопителя может оказаться недостаточной для решения некоторых задач, например, для решения системы алгебраических уравнений с несколькими сотнями неизвестных.

Для таких задач емкость накопителя должна достигать нескольких сот тысяч чисел. Если задаться целью вычислять с максимальной скоростью машины, то такая емкость едва ли осуществима из-за чрезвычайного усложнения и удорожания конструкции машины. Поэтому при решении задач, требующих большой емкости "памяти", следует работать на меньшей скорости и применять "ленточный" накопитель, емкость которого может быть весьма велика. Принцип действия "ленточного" накопителя заключается в следующем: промежуточные результаты вычислений записываются на ленту точно так же, как результаты вычислений в выходном устройстве, в том порядке, в каком они получаются, затем поступают в машину как во втором, описанном выше, способе введения числовых данных - в накопитель, который постоянно "заполняется" с этой ленты числами, снимаемыми в том порядке, в каком они участвуют в дальнейших вычислениях.

Весьма важным для цифровой вычислительной машины является возможность введения числовых данных в виде таблиц. Для этого должно быть устройство для чтения таблиц и, если нужно, интерполирования. В АЦВМ таблица может быть составлена двояко:

а) функция представляется в виде ряда
f(a + h) = C0 + C1h + C2h² + С3h³ +...

б) в таблицу заносится аргумент и соответствующие значения коэффициентов.
C0, C1, C2, С3 ... Сn

в) в таблицу заносится аргумент и необходимое число табличных разностей. В задачах с монотонно изменяющимся аргументом таблица может автоматически, по мере необходимости, обновляться с помощью устройства для набора таблицы.
Чтение таблицы и интерполирование в АЦВМ производится отдельным Интерполятором, представляющим собой упрощенную цифровую вычислительную машину с фиксированным программированием, работающую так же, как основная машина.

Для данной интерполяционной формулы программа не меняется и наносится не на ленту, а на барабан, непрерывно вращающийся с большой скоростью.

В цепи пускового сигнала главного программного датчика интерполятора имеется клапанное устройство, управляемое главным программным датчиком машины. Если после передачи аргумента в таблицу открыть цепь пускового сигнала главного программного датчика интерполятора, то начнется цикл вычислений по интерполяционной формуле, нанесенной на барабане. После одного оборота барабана вычисления закончатся, результат получится во втором (накапливающем) сумматоре интерполятора, выход которого включен в цифровую магистраль машины. Для разных интерполяционных формул должны быть разные программные барабаны, которые могут заменяться перед пуском машины. Предусматривается возможность одновременного применения нескольких программных барабанов, выбор которых (интерполяционной формулы) производится главным программным датчиком. В интерполяторе могут быть несколько таблиц для различных функций, набираемых с помощью устройства для набора таблицы.

Кроме таблиц, набираемых извне, может быть таблица, которая набирается машиной по ходу вычислений. Чтение этой таблицы производится тем же самым интерполятором. Предусматривается интерполирование до 5-го порядка. Однако, при удвоении таблицы в ширину (присоединением такой же таблицы с нанесенными на ней следующими табличными разностями), порядок интерполирования может быть повышен. Длительность интерполирования зависит от применяемой интерполяционной формулы и может быть порядка нескольких десятков тактов машины. Так как интерполятор работает автономно, то он может проводить вычисления параллельно с другими операциями, выполняемыми машиной, и поэтому не замедляет процесс вычислений. Интерполятор может быть использован также для вычисления некоторых часто используемых функций, представленных в виде ряда.

Результаты вычислений записываются (в двоичной системе) на ленту в выходном устройстве.

Лента, на которой записывается результат вычислений, движется со скоростью программной ленты и поэтому запись результата не вызывает замедления работы машины.

Результат, записанный на ленту в двоичной системе, переводится в десятичную и отпечатывается на бумаге. Устройство, предназначенное для этого, не связано с машиной и работает с относительно небольшой скоростью; к выходному устройству относится все сказанное выше о входном устройстве.

Общая электрическая схема АЦВМ показана на рис. 3. (Схема опущена. - Прим. авт.). Для упрощения схемы в цепочках счетчиков и клапанных устройств показаны только крайние, а среднее заменены точками.

В интерполяторе показан только один программный барабан и "одна таблица. Подробное описание схемы отдельных узлов дается ниже.

Общая схема АЦВМ достаточно сложна, однако она составлена из нескольких типовых простых схем: бинарных счетчиков, работающих по принципу "включено-выключено", клапанных устройств, триггеров и т.д. Больше всего в схеме "клапанных устройств". Если клапанные устройства составлять из электронных ламп, то общее число электронных ламп в машине существенно увеличивается. "Клапанные" лампы составляют 70% об общего количества ламп.

Учитывая это обстоятельство, мы предусмотрели возможность замены электронных ламп в клапанных схемах более простыми элементами. Возможность такой замены следует из таблицы No 2, где показано соответствие между различными релейными элементами. Из этой таблицы видно, что клапанные схемы могут быть реализованы не только с помощью многоэлектродных ламп, но также с помощью магнитных и выпрямительных схем. Хотя постоянная времени магнитных схем значительно больше, чем у электронных, тем не менее, при использовании повышенной частоты и, если учесть, что скорость программирования не может быть очень большой, магнитные схемы могут быть применены в целом ряде мест. Не предрешая сейчас места применения тех или иных схем (магнитных или выпрямительных) в качестве клапанных устройств, мы предполагаем, что большая часть клапанных устройств может быть выполнена по таким схемам. Не останавливаясь на преимуществах и недостатках релейных элементов, приведенных в таблице No 2, заметим, что замена электронных ламп в клапанных устройствах значительно упрощает конструкцию, увеличивает надежность и долговечность, улучшает эксплуатационные качества машины.

Особенно перспективным для клапанных схем является применение кристаллических диодов (выпрямителей). К сожалению, производство этих элементов у нас пока не налажено. Однако можно не сомневаться, что это производство будет освоено, т.к. кристаллические диоды находят широкое применение для других целей в важнейших областях современной радиотехники и прежде всего в радиолокации.

Миниатюрные размеры кристаллических диодов, их пригодность для очень высоких частот, отсутствие накаленного катода, с которым связаны ограниченный срок службы и большой расход энергии, выделяющейся в виде тепла, позволит осуществить в высшей степени компактные и дешевые вычислительные блоки, годные не только для стационарных, но и для передвижных устройств. Последнее крайне важно для военных применений.

Общее количество электронных ламп в чисто электронном варианте машины 3500, а при замене клапанных устройств на магнитные реле и схемы из выпрямителей элементов, число электронных ламп 1000. (Оставшиеся разделы отчета не публикуются. - Прим. авт.)
http://www.lib.ru/MEMUARY/MALINOWSKIJ/image1352.jpg
Авторское свидетельство No10475

Nina 09-05-2009 23:34

Chỉ hai tháng sau họ đã viết “Một số ý tưởng dự án về việc tổ chức phòng thí nghiệm thuộc Viện Cơ học chính xác và kỹ thuật tính toán thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô để thiết kế và xây dựng máy tính điện tử số tự động” (xem Phụ lục 12). Cả hai tài liệu này đều xứng đáng được coi là những trang sách đầu tiên của lịch sử phát triển kỹ thuật tính toán điện tử số tự động ở Liên Xô.

Chúng ta nhắc lại rằng đó là giữa năm 1928, và A.S.Lebedev vẫn còn chưa bắt tay vào việc thiết kế MESM (Tôi bắt đầu quan tâm đến máy tính toán điện tử tốc độ nhanh vào cuối năm 1948, - sau này ông sẽ viết thế).

Ở phương Tây việc chế tạo những chiếc máy tương tự tập trung chủ yếu ở Mỹ (mười máy), Anh (một), Pháp (một). Vì những chiếc máy này được chế tạo trước hết là cho các mục đích quân sự, việc công bố thông tin về những chiếc máy này rất kiệm lời. Phần lớn máy tính được lắp ráp trên cơ sở rơ le điện cơ, chứ chưa trên cơ sở bóng đèn điện tử.

Chỉ cần đọc qua báo cáo trên cũng thấy được việc giải quyết bài toán trên là có cơ sở rõ ràng. Chỉ có thể ngạc nhiên, làm sao họ có thể thực hiện được nhiệm vụ khoa học thời đó là quá khó và còn phác họa được dự án máy tính điện tử với chương trình điều khiển mà chỉ có thể gọi là dự án cổ điển.

Khi đọc kỹ dự án, có thể thấy rằng Bruk và Rameev đã đến rất gần việc triển khai nguyên tắc chương trình lưu trữ trong bộ nhớ. Họ thực hiện nguyên lý này về mặt kỹ thuật (trong dự án phác thảo), có lưu ý đến việc lưu trữ chương trình trong bộ nhớ (trên băng), xuất ra kết quả tính toán cũng trên băng này, và nhận dữ liệu đầu vào cũng từ băng để cho các tính toán tiếp theo. Nói một cách khác, khả năng xử lý lệnh trong cấu trúc số học của máy đã được đảm bảo (điều vẫn được coi là công lao của John von Neumann và S.A.Lebedev)

Tôi đã yêu cầu chính Rameev kể về những tháng chói lọi đáng nhớ ấy.


(còn tiếp)

Nina 29-05-2009 22:26

Đây là lời kể của Rameev

“Công việc ở Viện nghiên cứu trung tấm số 108 là một trường học tốt đối với tôi. Những kiến thức nhận được trong lĩnh vực điện tử học, cũng như gần 20 năm kinh nghiệm một người chơi radio nghiệp dư và xu hướng sáng tạo giải thích được, tại sao khi làm việc với Bruk chúng tôi lại làm được nhiều thế. Tôi cùng với Isaak Semenovich đã cùng thảo luận rất nhiều ý tưởng chung của chiếc máy định chế tạo. Sau đó tôi vẽ những sơ đồ cụ thể cùng với các ghi chép giải thích và đưa ông xem. Ông cho những nhận xét, sửa chữa nếu cần (điều này có thể thấy rõ trên những bản thảo một số hồ sơ sáng chế và bản thảo mô tả vắn tắt ASVM còn giữ lại của tôi, hiện đang lưu tại Bảo tàng Bách khoa). Khi đó tôi làm việc trong tòa nhà trụ sở chính của Viện Năng lượng Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.

Chúng tôi cũng nói về việc làm sao thực hiện được dự án này. Xuất hiện một ý tưởng, rằng để làm điều này thì cần có văn phòng thiết kế. Trong vòng 2 tuần tôi làm việc ở Thư viện Lenin, nghiên cứu các tài liệu về thiết kế các nhà máy công nghiệp. Kết quả là tài liệu trên đã ra đời.

Tôi cũng không nhớ tôi đã ăn uống thế nào trong thời gian đó. Tôi sống trong một căn phòng, nơi bà chủ nhà làm kho chứa khoai tây và đốt lò sưởi bằng các tập sách dày “Luật pháp nước Nga Sa hoàng” mà tôi tìm thấy ở đó. Từ năm 1944 tôi thuê phòng trong thời hạn 2-4 tháng ở khắp các ngóc ngách của Moscow. Tôi đã đổi chỗ ở đến cả chục lần. Không ai muốn đăng ký hộ khẩu cho tôi cả, mà không có hộ khẩu thì các chủ nhà sợ không dám cho thuê phòng lâu. Vì thế nên tôi cứ đổi nhà hết chỗ này tới chỗ khác. Năm 1952 theo tiêu chuẩn của Văn phòng thiết kế (SKB-245) tôi được phân một căn phòng trong căn hộ chung”.

---
(còn tiếp)


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 23:07.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.