![]() |
Nào thì em cũng cố theo phong trào một cái để sếp em đỡ cô đơn...
Tâm tình với em gái Sura Đẹp như em anh chưa hề gặp trong đời Nhưng anh vẫn giấu trong lòng mình một chút Không xấu đâu em, cái ghen theo nghĩa tốt, Em lặp lại anh thời tuổi trẻ, em ơi. Em nói với anh lời của hoa đồng nội Anh mãi mãi yêu em suốt cuộc đời này. Con bò nhà mình bây giờ ra sao nhỉ, Vẫn như ngày xưa rơm khô nó buồn nhay? Em cất lời ca, lòng anh êm dịu hẳn Chữa cho anh lành bằng giấc mộng trẻ thơ. Hẳn vẫn nồng nàn bên cửa sổ như xưa Thanh lương trà thu về lá trút cành trơ. Mẹ hát bài gì bây giờ khi kéo sợi? Anh đã đi xa làng ta mãi mãi rồi, Dù anh vẫn biết đỏ rực trời cơn bão Thổi ngập hiên nhà mình những lá thu rơi. Anh vẫn biết, thay cho bao niềm âu yếm Thay cho lệ nhoà, khóc cô dâu bạc mệnh Chỉ con chó già bị bỏ rơi ngoài ngõ Tru khe khẽ nhớ về hai anh em mình. Nhưng ngày xưa thôi cũng không cần quay lại Bởi em chỉ được nhận khi đã muộn rồi Như tình yêu, niềm vui, nỗi buồn tê tái Chiếc khăn Riazan hằng mơ ước trên vai. Tháng 9-1925 Сестре Шуре Я красивых таких не видел, Только, знаешь, в душе затаю Не в плохой, а в хорошей обиде - Повторяешь ты юность мою. Ты - мое васильковое слово, Я навеки люблю тебя. Как живет теперь наша корова, Грусть соломенную теребя? Запоешь ты, а мне любимо, Исцеляй меня детским сном. Отгорела ли наша рябина, Осыпаясь под белым окном? Что поет теперь мать за куделью? Я навеки покинул село, Только знаю - багряной метелью Нам листвы на крыльцо намело. Знаю то, что о нас с тобой вместе Вместо ласки и вместо слез У ворот, как о сгибшей невесте, Тихо воет покинутый пес. Но и все ж возвращаться не надо, Потому и достался не в срок, Как любовь, как печаль и отрада, Твой красивый рязанский платок. Сентябрь 1925 |
Hoan nghênh Bí! Đã có lần Geo đề xuất “Mỗi ngày một bài thơ Exenin”, nhưng mọi người không hướng ứng, đánh để chàng thi sỹ tóc vàng nằm đấy. Thình thoảng có ai đó đánh thức dậy, nhờ đọc cho nghe tâm tình của lá cây ngon cỏ của đồng quê Nga.
Sau đây là bài vào loại hắc búa nhất của Exenin, mời mọi người cùng thử sức. Dịch xong bài này, các bài khác của Exenin coi như bằng không… dễ dịch! * * * Шаганэ ты моя, Шаганэ! Потому, что я с севера, что ли, Я готов рассказать тебе поле, Про волнистую рожь при луне. Шаганэ ты моя, Шаганэ. Потому, что я с севера, что ли, Что луна там огромней в сто раз, Как бы ни был красив Шираз, Он не лучше рязанских раздолий. Потому, что я с севера, что ли. Я готов рассказать тебе поле, Эти волосы взял я у ржи, Если хочешь, на палец вяжи - Я нисколько не чувствую боли. Я готов рассказать тебе поле. Про волнистую рожь при луне По кудрям ты моим догадайся. Дорогая, шути, улыбайся, Не буди только память во мне Про волнистую рожь при луне. Шаганэ ты моя, Шаганэ! Там, на севере, девушка тоже, На тебя она страшно похожа, Может, думает обо мне... Шаганэ ты моя, Шаганэ. 1924 * * * Saganê của anh, ơi Saganê! Có lẽ bởi anh đến từ phương bắc Anh muốn kể về cánh đồng lúa mạch Về sóng lúa rập rờn dưới ánh trăng quê Saganê của anh, ơi Saganê! Có lẽ bởi anh đến từ phương bắc, Mà vầng trăng xứ ấy sáng vô ngần, Mà Sirat nơi đây dù đẹp tuyệt trần Cũng khôn sánh Riazan* bát ngát, Có lẽ bởi anh đến từ phương bắc... Anh muốn kể về cánh đồng lúa mạch: Mái tóc anh kết từ cọng mạch đen Anh sẽ không đau, dù chút xíu, đâu em Em hãy thử vặn trong tay và xiết chặt! Anh muốn kể về cánh đồng lúa mạch... Về sóng lúa rập rờn dưới ánh trăng quê Em cứ nhìn mái tóc quăn sum suê Trên đầu anh mà cợt cười mặc sức, Nhưng chớ gợi trong anh ký ức Về sóng lúa rập rờn dưới ánh trăng quê. Saganê của anh, ơi Saganê! Người bạn gái hiền lành nơi phương bắc Giống hệt em, cả tính tình, dáng vóc Có thể giờ đây đang ngóng đợi anh về... Saganê của anh, ơi Saganê! 1924 |
Xin post sau đây 1 bài thơ Esenin do nhà thơ kiêm nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo dich, in trong Tạp chí Văn học nước ngoài mới đây. Trong đó còn nhiều bản dịch khác của ông.
* * * Вот уж вечер. Роса Блестит на крапиве. Я стою у дороги, Прислонившись к иве. От луны свет большой Прямо на нашу крышу. Где-то песнь соловья Вдалеке я слышу. Хорошо и тепло, Как зимой у печки. И березы стоят, Как большие свечки. И вдали за рекой, Видно, за опушкой, Сонный сторож стучит Мертвой колотушкой. 1910 Đã chiều rồi Đã chiều rồi Sương muối vàng óng ánh Phủ xuống cây tầm-ma một mình trên đồng vắng Tôi ngả đầu vào dương liều ven đường Trăng lên như khác với lệ thường Rót ánh sáng về mái nhà tôi ở Và đâu đây có bài ca chim sẻ Tôi nghe từ xa… Thật tuyệt vời và ấm cúng dường bao Như mùa đông bên bếp lửa Và cây tầm-ma một mình đứng đó Giống làm sao ngọn nến lớn giữa đồng! Ở xa kia, về phía dòng sông Như một dải nẹp viền lông thú Có cụ già gác rừng buồn ngủ Gõ triền miên vào chiếc mõ đã già… 1910 |
* * *
Tặng L.I. Kashina Kìa bạch dương cao cao Ngực căng vồng sức trẻ Tóc lá khẽ lao xao Tìm gì trong đầm thế? Về chuyện gì gió khóc? Về chuyện gì cát reo? Hay cây muốn cài tóc Chiếc lược - vầng trăng treo? Kể ta nghe bí mật Cây vẫn giữ đi nào. Ta thích nghe thu đến Bài ca buồn nghẹn ngào. Và bạch dương hé ngỏ Cho người bạn tâm giao: "Mục đồng đêm qua khóc Không gian đẫm ánh sao Trăng ngời trên đồng cỏ, Cây lá bạc long lanh Chàng ôm tôi thật chặt Trong vòng tay chân thành. Rồi hẹn trong tiếng lá Và thở dài âm thầm: "Tạm biệt em yêu nhé, Đến mùa sếu sang năm" 1918 * * * Л.И.Кашиной Зеленая прическа, Девическая грудь, О тонкая березка, Что загляделась в пруд? Что шепчет тебе ветер? О чем звенит песок? Иль хочешь в косы-ветви Ты лунный гребешок? Открой, открой мне тайну Твоих древесных дум, Я полюбил печальный Твой предосенний шум. И мне в ответ березка: "О любопытный друг, Сегодня ночью звездной Здесь слезы лил пастух. Луна стелила тени, Сияли зеленя. За голые колени Он обнимал меня. И так, вдохнувши глубко. Сказал под звон ветвей: "Прощай, моя голубка, До новых журавлей". 1918 |
Trích:
* * * Anh còn nhớ, vẫn nhớ hoài, em ạ Ánh sáng vương lấp lánh tóc em dài Anh buồn và khổ lắm biết chăng ai Vào một ngày phải rời xa em mãi. Anh vẫn nhớ những đêm mùa thu ấy, Rừng dương xào xạc bóng đổ dài, Ngày dù ngắn, em yêu, ta mong thế Để ánh trăng lai láng chảy hoài. Anh vẫn nhớ từng lời em nói: "Tháng ngày xanh cứ vùn vụt trôi, Khi hạnh phúc bên người con gái khác, Anh nhất định sẽ quên em thôi" Hôm nay lại một mùa hoa nở Kỷ niệm xưa trào dâng trong anh. Dịu dàng sao anh nâng từng lọn tóc Ướp những cánh hoa thơm mong manh. Và con tim không dễ gì nguội lạnh Yêu một người vẫn buồn nhớ một người Nhớ mãi cuộc tình xưa say đắm Bên một người mãi vẫn nhớ em thôi. 1925 * * * Я помню, любимая, помню Сиянье твоих волос. Не радостно и не легко мне Покинуть тебя привелось. Я помню осенние ночи, Березовый шорох теней, Пусть дни тогда были короче, Луна нам светила длинней. Я помню, ты мне говорила: "Пройдут голубые года, И ты позабудешь, мой милый, С другою меня навсегда". Сегодня цветущая липа Напомнила чувствам опять, Как нежно тогда я сыпал Цветы на кудрявую прядь. И сердце, остыть не готовясь, И грустно другую любя. Как будто любимую повесть, С другой вспоминает тебя. 1925 |
* * *
Em hay kể chuyện xưa Saadi thường chỉ hôn trên ngực. Chờ chút nghe em, vì Chúa Chiều em, anh sẽ học theo. Em hát ngợi ca nhan sắc Hoa hồng Efrat chẳng ai hơn Anh hằng ước giá mình giàu Để vì em thay lời điệp khúc Với anh niềm vui chỉ một Anh mơ được cắt hết hồng Để thế giới không còn gì bằng Sagane của anh là nhất. Đừng khuyên nhủ làm anh khổ Vô ích thôi anh chẳng nghe nào Sinh ra là nhà thơ chân chất Nên anh sẽ hôn như các nhà thơ * * * Ты сказала, что Саади Целовал лишь только в грудь. Подожди ты, бога ради, Обучусь когда-нибудь! Ты пропела: "За Ефратом Розы лучше смертных дев". Если был бы я богатым, То другой сложил напев. Я б порезал розы эти, Ведь одна отрада мне - Чтобы не было на свете Лучше милой Шаганэ. И не мучь меня заветом, У меня заветов нет. Коль родился я поэтом, То целуюсь, как поэт. 1924 |
Thư gửi mẹ
Mẹ còn không, mẹ già của con ơi? Con vẫn sống. Mẹ yêu, con chào mẹ! Con hằng mong hoàng hôn trên mái rạ Vẫn như xưa, tuôn chảy mỗi chiều hôm. Тhư kể mẹ thường lo phiền nhiều lắm, Mẹ vì con buồn khổ mãi khôn nguôi. Mẹ ra đường ngóng trông con khắc khoải, Áo cũ sờn, lỗi mốt khoác trên vai. Ngày ngày khi xanh lam chiều đổ bóng Mẹ hình dung - sao lần nào cũng vậy: Loạn ẩu đả trong cơn say nào đấy Bạn rượu đâm con ngay giữa trái tim. Không sao đâu, xin mẹ hãy bình tâm Đó tất cả chỉ là cơn ác mộng. Con đâu đến nỗi rượu chè cay đắng Để chết mà không chào mẹ, mẹ ơi! Con vẫn thế thôi, như xưa mềm yếu Và mộng mơ vẫn chỉ một điều này, Thoát nhanh khỏi nỗi buồn đau ám ảnh Trở lại ngôi nhà xưa tuổi thơ ngây. Con sẽ về khi vườn xuân hoa nở Khi cây lá tươi xanh ngát hương đời. Chỉ điều này con xin mẹ, mẹ ơi Đừng thức con như tám năm về trước. Đừng gợi lại nữa những gì qua mất, Đừng xáo trộn thêm những mơ ước không thành, - Con phải chịu trong đời này quá sớm Những mất mát thương đau mỏi mệt – thôi đành. Đừng dạy con cầu nguyện nữa mẹ ơi! Thời xưa cũ không còn đường quay lại Mẹ cho con niềm vui và điểm tựa, Với con mẹ là nguồn sáng trong đời. Тhế nên mẹ đừng lo nhiều mẹ nhé, Đừng vì con buồn khổ mãi khôn nguôi. Đừng ra đường ngóng trông con khắc khoải, Áo cũ sờn lỗi mốt khoác trên vai. 1924 Сергей Есенин Ты жива еще, моя старушка? Жив и я. Привет тебе, привет! Пусть струится над твоей избушкой Тот вечерний несказанный свет. Пишут мне, что ты, тая тревогу, Загрустила шибко обо мне, Что ты часто xодишь на дорогу В старомодном ветxом шушуне. И тебе в вечернем синем мраке Часто видится одно и то ж: Будто кто-то мне в кабацкой драке Саданул под сердце финский нож. Ничего, родная! Успокойся. Это только тягостная бредь. Не такой уж горький я пропойца, Чтоб, тебя не видя, умереть. я по-прежнему такой же нежный И мечтаю только лишь о том, Чтоб скорее от тоски мятежной Воротиться в низенький наш дом. я вернусь, когда раскинет ветви По-весеннему наш белый сад. Только ты меня уж на рассвете Не буди, как восемь лет назад. Не буди того, что отмечалось, Не волнуй того, что не сбылось,- Слишком раннюю утрату и усталость Испытать мне в жизни привелось. И молиться не учи меня. Не надо! К старому возврата больше нет. Ты одна мне помощь и отрада, Ты одна мне несказанный свет. Так забудь же про свою тревогу, Не грусти так шибко обо мне. Не xоди так часто на дорогу В старомодном ветxом шушуне. 1924 Сергей Есенин |
Sau một hồi lần trên Web tôi có đọc được thêm một chút thông tin về nhà thơ đa tình này. Tôi xin phép Copy toàn bộ bài viết này để bổ xung thêm về cuộc đời của ông.
Sinh ra ở làng của Konstantinovo (ngày nay là Yesenino, vùng Ryazan, Nga) trong một gia đình nông dân, Sergei Yesenin sớm được gửi tới sống với ông bà của anh. Anh bắt đầu làm thơ khi lên 9. Một thần đồng văn học, vào năm 1912 anh chuyển tới làm ở Moskva nơi mà anh được hỗ trợ bởi chính sở trường của mình đó là một chân kiểm tra lỗi chính tả trong một nhà máy in. Năm sau anh ghi danh vào học trường đại học quốc gia Moskva như một sinh viên không chính thức và học trong một năm rưỡi. Nghệ thuật làm thơ sớm của anh lấy cảm hứng từ văn hoá dân gian của Nga. Vào năm 1915, anh chuyển tới Sankt-Peterburg nơi anh làm quen với những bạn thơ như – nhà thơ Alexander Blok, Sergei Gorodetsky, Nikolai Klyuev và Andrey Bely. Chính ở Sankt-Peterburg này anh đã trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực văn học. Alexander Blok có công lớn trong việc đẩy mạnh sự nghiệp thơ sớm của Yesenin. Yesenin nói rằng Bely cho anh hiểu ý nghĩa của các hình thức thơ trong khi Blok và Klyuev dạy anh chất trữ tình. Vào năm 1915, Sergei Yesenin xuất bản quyển thơ đầu tiên cả anh có tiêu đề “Radunitsa” ngay sau đó là “Ritual for the Dead” ( Lễ nghi cho cái chết) (1916). Xuyên suốt trong những vần thơ của anh là nghệ thuật thơ thể hiện sự cay đắng trong tình yêu và cuộc sống đơn giản, anh trở thành nhà thơ được ưa chuộng nhất lúc bấy giờ. May mắn với vẻ điển trai sẵn có và một tính tình lãng mạn, anh ta có rất nhiều mối tình, chỉ trong một thời gian ngắn đã kết hôn năm lần. Lần kết hôn đầu tiên của anh vào năm 1913 với một công nhân làm việc trong nhà xuất bản có tên của Anna Izryadnova, với người này anh có một con trai, Yuri. (Trong thời gian Stalinist thanh trừng chính trị, Yuri Yesenin bị bắt giữ và chết năm 1937 tại một trại lao động ở Gulag) Vào năm 1915 anh đi đến Sankt-Peterburg nơi anh gặp Klyuev. “Trong hai năm kế tiếp, là một đôi… sống cùng nhau hầu hết thời gian… Tập hợp thơ của anh, bao gồm ba bức thư tình của anh tới Klyuev, không ghi rõ người viết chúng.” Năm 1916–1917 Sergei Yesenin được gọi nhập ngũ, nhưng sau cách mạng tháng mười Nga 1917, Nga ra khỏi chiến tranh thế giới I. Tin tưởng rằng cách mạng mang tới một cuộc sống tốt hơn, anh phục vụ cách mạng trong một thời gian ngắn, nhưng sớm vỡ mộng và thậm chí phê phán cách cai trị của Bôn-sê-vích trong những bài thơ như “The Stern October has Deceived me” (Tháng mười lạnh lùng đã lừa dối tôi). Trong tháng tám 1917 Yesenin kết hôn lần thứ hai với nữ diễn viên Zinaida Raikh (Vợ về sau của Vsevolod Meyerhold). Với cô, anh có một con gái, Tatyana, và một con trai, Konstantin. Về sau Konstantin trở thành nhà thống kê bóng đá nổi tiếng. Trong tháng 9 năm 1918, anh thành lập nhà xuất bản của chính mình gọi là Công ty tiếng nói của những nghệ sĩ lao động Moskva (tiếng Nga: Трудовая Артель Художников Слова; tiếng Anh: Moscow Labor Company of the Artists of Word). Trong sự suy thoái của năm 1921, trong khi đến thăm trường quay hoạ sĩ Alexei Yakovlev, anh gặp vũ công Isadora Duncan người Mỹ gốc Pháp, một phụ nữ nhiều hơn anh 17 tuổi và chỉ biết nói một ít tiếng Nga trong khi anh không biết nói tiếng nước ngoài. Họ cưới vào ngày 2 tháng 5, 1922. Yesenin cùng người vợ mới nổi tiếng đi du lịch tới Châu Âu và Mỹ nhưng thời điểm này anh nghiện rượi nặng, bản thân mất kiểm soát. Thường say rượu với những cơn thịnh nộ, giận dữ kết quả là Yesenin phá huỷ những phòng khách sạn hoặc gây ra những rối loạn trong quán ăn.Hành vi này nhận được nhiều sự quan tâm công khai của báo chí trên thế. Cuộc hôn nhân với Duncan kéo dài chỉ trong một thời gian ngắn và trong tháng năm 1923 anh trở về Moskva. Ở đó, anh ngay lập tức dành hết tâm trí với nữ diễn viên Augusta Miklashevskaya và tin tưởng rằng sẽ cưới cô theo nghi lễ truyền thống, mặc dù biết anh không bao giờ thu được một sự ly dị từ Isadora Duncan. Người yêu khác của anh trong thời gian này là Galina Benislavskaya, người đã tự tử tại mộ của anh, một năm sau khi anh chết. Hành vi quan hệ thiếu thận trọng cuả Yesenin ngày càng tăng và chính năm đó anh ta có một con trai , Alexandr với nhà thơ Nadezhda Volpin. Yesenin không bao giờ biết anh có con trai với Volpin, nhưng Alexander Esenin-Volpin lớn lên trở thành một nhà thơ lỗi lạc và nhà hoạt động chính trị của Liên bang Xô Viết thập kỷ 1960 với Andrei Sakharov và những người khác. Sau khi chuyển tới Mỹ, Esenin-Volpin trở thành một nhà toán học lỗi lạc. Cuộc sống của Sergei Yesenin hai năm trước ngập đầy trong rượu với những hành vi thất thường không thay đổi thế nhưng anh cũng tạo được một vài sự nổi tiếng trong nghệ thuật thơ của anh. Mùa xuân năm 1925, một Sergei hay thay đổi gặp và kết hôn với người vợ thứ năm của anh, Sophia Andreyevna Tolstaya, cháu gái của Leo Tolstoy. Cô cố gắng giúp anh nhưng anh phải trải qua một sự suy sụp tinh thần hoàn toàn và phải vào viện một tháng.Hai ngày sau lễ giáng sinh anh cắt cổ tay và viết một bài thơ tạm biệt bằng máu chính anh, ngày sau anh treo cổ ở cái ống trên trần nhà tại phòng anh trong khách sạn Anglettere ở tuổi 30. Có giả thuyết cũng cho rằng anh tự tử nhưng thực tế anh bị giết bởi những đại diện GPU. Và dưới đây không biết đã là bài thơ cuối của ông chưa nhỉ? До свиданья, друг мой, до свиданья. Милый мой, ты у меня в груди. Предназначенное расставанье Обещает встречу впереди. До свиданья, друг мой, без руки, без слова, Не грусти и не печаль бровей,- В этой жизни умирать не ново, Но и жить, конечно, не новей. Bản dịch Tạm biệt, bạn của tôi ơi, xin tạm biệt. Bạn thân yêu , bạn ở trong trái tim tôi. Cuộc chia tay này đã được định trước, Hy vọng một cuộc đoàn tụ ở phía trước. Tạm biệt, bạn của tôi, không một cái bắt tay, không một lời nói, Đừng buồn hoặc hiện sự thất vọng trên đôi mày của bạn, Cái chết không là cái gì mới trong cuộc sống này, Nhưng cuộc sống, tất nhiên, cũng không là sự lựa chọn mới. |
Nhân dịp Tết sắp đến tôi mừng tuổi bà Rừng bản dịch này, khuyến mại thêm bài thơ của Afanassi Fet, cũng về cây bạch dương luôn
Exenin Bạch dương Bạch dương trầm tư đứng Dưới cửa sổ nhà tôi. Cành thân phủ đầy tuyết Như lớp bạc sáng ngời. Trên cành cây lớp tuyết Trắng xốp tạo nên diềm. Tua rua băng hờ hững Buông rủ từ cành mềm. Cây bạch dương lặng đứng Trong yên tĩnh mơ màng, Những bông tuyết rực rỡ Cháy trong ánh lửa vàng. Và bình minh lười biếng Xoay vòng quanh thân cây Rắc lên cành đầy tuyết Thêm một lớp bạc dày. [1913] Сергей Есенин Береза Белая береза Под моим окном Принакрылась снегом, Точно серебром. На пушистых ветках Снежною каймой Распустились кисти Белой бахромой. И стоит береза В сонной тишине, И горят снежинки В золотом огне. А заря, лениво Обходя кругом, Обсыпает ветки Новым серебром. [1913] Афанасий Фет "Печальная береза..." * * * Bạch dương bên cửa sổ Buồn rũ hết lá xanh Được giá băng tinh nghịch Trang điểm sáng long lanh. Như từng chùm nho nặng Uốn cong trĩu đầu cành, - Phô sắc đẹp dịu dàng Xiêm y màu tang trắng. Yêu sao ngàn tia nắng Nhảy nhót trên cành cây, Luyến tiếc sao vẻ đẹp Mất theo cánh chim bay. * * * Печальная береза У моего окна, И прихотью мороза Разубрана она. Как гроздья винограда, Ветвей концы висят, - И радостен для взгляда Весь траурный наряд. Люблю игру денницы Я замечать на ней, И жаль мне, если птицы Стряхнут красу ветвей. |
Trích:
|
Ý kiến của Nina là hoàn toàn xác đáng.
Tôi xin trích bài viết của Trần Đăng Khoa, đoạn về cái chết tự sát của Esenin: “Xung quanh cái chết của S. Esenin, báo chí Nga thời "cải tổ" bàn đến khá nhiều. Có người cho rằng, Xecgây bị Stalin bức hại. Điều này rất khó có sức thuyết phục. Đối với giới chính trị, nhà thơ, nhà văn hay văn nghệ sĩ nói chung chỉ là thứ con hát, chẳng có gì quan trọng. Vây thì Stalin bức hại ông làm gì? Cũng có người cho rằng, Sergei tự tử vì tình ái. Điều này cũng khó tin nữa. Bởi Sergei là thi sĩ rất nổi tiếng. Đi đâu ông cũng được công chúng yêu mến, đặc biệt là các cô gái. Tôi không tin những tài năng lớn, những tâm hồn vĩ đại như Sergei lại chết đuối trong một cái đĩa đèn. Lần giở những sáng tác của S. Esenin những năm cuối đời, đặc biệt là năm 1924-1925, ta thấy ông sống rất nặng nề. Tâm trạng thất vong, u uất ấy phản ánh rất rõ trong bài thơ "Con người đen tối" viết năm 1924. S. Esenin rất yêu Cách mạng Tháng Mười và ông luôn hướng về Cách mạng Tháng Mười. Nhưng rồi ông lại thất vọng, vì cuộc đời đâu có phải như là ông nghĩ. Trong bài "Thư mẹ gửi" “Письмо от матери”, Sergei đã thuật lại bức thư của mẹ viết cho ông từ làng Cônxtantinovo: Nếu có thể, Vào dịp lễ Giáng sinh, Con hãy về - con bồ câu nhỏ! Đừng quên mua cho mẹ chiếc khăn san, Và một bộ áo quần - cho bố, Ở nhà ta Mọi thứ đều thiếu thốn... Mẹ không muốn phải lo sợ Nghĩ rằng: con - nhà thơ Rằng con bị cám dỗ Bởi chút hư vinh. Tốt hơn biết chừng nào Nếu từ tấm bé Con theo cha, mẹ ra đồng Cầy cuốc, Gieo trồng... Giờ mẹ già rồi Sức đà kiệt quệ Giá như từ đầu Con ở nhà với mẹ, Thì bây giờ mẹ đã có nàng dâu, Cả cháu nữa, để bồng để bế. Nhưng con Đã vương vãi con mình rải rác, Còn vợ mình Dễ dàng nhường kẻ khác. Không gia đình, Không bè bạn, Không bến đậu, Trước mặt con chỉ còn Tuý luý vực thẳm sâu. Rồi bà kể cho con trai nghe về chính quyền địa phương đã đến nhũng nhiễu, o ép gia đình như thế nào "Giờ buồn triền miên- Bố mẹ như sống trong bóng tối". Sergei đau đớn lắm. Ông tâm sự với mẹ trong bài thơ “Thư trả lời”. Ông từng yêu cách mạng Tháng Mười và ví nó như mùa xuân ấm áp, vậy mà khi đó ông chỉ còn thấy: “Những điều ghê tởm này - Một tinh cầu giá lạnh! - Dù ba trăm mặt trời - Chẳng sưởi nó ấm được! - Vì vậy, - với tâm hồn bệnh hoạn của nhà thơ - Con bỏ nhà, sinh hư, đánh nhau và rượu chè be bét ”. Sau đó một thời gian, S. Esenin đã treo cổ tự tử: Giã biệt nhé, bạn ơi, giã biệt Hình bạn luôn trong trái tim đây Cuộc chia tay này đã là định trước Thì mai sau cùng hẹn ước sum vầy Giã biệt nhé, chỉ lặng thinh không nói Không ôm hôn, xin bạn cũng đừng buồn Trên đời này chết không hề mới Và hiển nhiên sống chẳng mới hơn.” (Phần thơ dịch của Geobic) |
Gần 1 năm rồi em mới thấy bài thơ này của Esenin. Xin góp thêm một bản dịch cùng bác Geobic và chị Bí
Em khóc trong sự yên lặng ban chiều Em khóc trong sự yên lặng ban chiều Nước mắt đăng cay rơi nhiều xuống đất Anh thấy lòng mình nặng trĩu buồn u uất Vậy mà hai ta vẫn chẳng hiểu được nhau Em vội đi tới những chốn xa xăm Và mọi ước mơ chưa nở hoa đã héo Thêm một lần anh cô đơn lạnh lẽo Trái tim đau vì thiếu một lời chào. Và anh lại thường vào mỗi buổi chiều Dạo bước tới những nơi ta từng hẹn Trong mơ lại thấy bóng em trìu mến Và trong lặng yên nghe nức nở nghẹn ngào Trích:
|
Trích:
|
Tặng Manvina Mironovna
Mắt em - trời biếc xanh Áng mây trôi lặng lẽ, Ngón tay em vuốt nhẹ Tấm khăn choàng mỏng manh. Thoáng gần lại thoáng xa Thật quen mà thật lạ, Số phận em đau buồn Với đời anh - tai họa. 9-7-1916 * * * Мальвине Мироновне — = В глазах пески зеленые И облака. По кружеву крапленому Скользит рука. То близкая, то дальняя, И так всегда. Судьба ее печальная — Моя беда. 9 июля 1916 |
Hôm nay em mới trông thấy bài thơ này, bác ạ. Thú thật, em không hiểu câu thứ hai
По кружеву крапленому Скользит рука. Từ кружева - hàng ren, lâu nay em biết là thuộc giống cái, số ít :D Từ крапленый - thường chỉ được dùng trong cụm từ крапленые карты - con bài bị đánh dấu ở đằng lưng ... Thế cho nên cụm từ крапленый кружев em thấy rất lạ, và thú thực là em không hiểu tác giả muốn nói về cái gì ở đây. Xin các bậc cao thủ cho ý kiến. Tuy nhiên, em luôn trung thành với trường phái 5', và cho ra bản dịch sau (có ai giải thích cho em nghĩa của cụm từ крапленый кружев em xin hậu tạ và hứa sẽ sửa chữa bản dịch liều của mình) Trích:
Tặng Malvina Mironovna Trong mắt nàng có bờ cát xanh cây Và những đám mây. Theo tấm khăn ren chấm hoa hờ hững Nhẹ lướt bàn tay. Lúc gần gũi khi muôn trùng xa cách Suốt những tháng ngày. Tai họa của tôi – số nàng trời định Sống đời đắng cay. 9 tháng 7 năm 1916 |
Trích:
По кружеву крапленому Скользит рука. hoàn toàn ổn :D Về mặt ngữ nghĩa thì крапленому xuất phát từ кропить, và nó còn có nhiều nghĩa khác với nghĩa "đánh dấu" ở trên. Mặc dù vậy, em chưa thấy nghĩa nào cho ăn nhập với đoạn thơ trên :D, và dịch liều là "bàn tay trượt trên những đăng ten viền váy áo" |
Trích:
Trong mắt em Là những đám mây Trảng cát màu xanh lục Ngón tay hờ hững Vuốt lên tà áo đính ren Gần đó mà xa, Luôn luôn thế sao em? Cuộc đời em buồn Tôi đau mà bất lực. |
@Nina: Chị vừa hỏi Olia, nàng cũng không rõ :(, vậy nên mấy chữ đó ta cứ tạm để ngỏ, bao giờ biết thì sửa.
All: Thêm một bản dịch Exenin nữa: Trích:
Ta không tiếc, chẳng gọi ai, thôi khóc, Đời trôi nhanh như trên vườn táo khói tan Đắm mình trong màu vàng thu chết chóc Ta sẽ không còn trẻ mãi với thế gian. Ngươi giờ đây không đập nổi như xưa Trái tim ta, khi cái lạnh đã chạm vào. Miền bạch dương mùa hoa nở ngọt ngào Không còn quyến rũ ta lang thang chân đất. Hồn phiêu lãng! Ngươi càng ngày càng biếng Ít thổi nồng nàn ngọn lửa trên môi Ôi tình cảm trào dâng, ôi sóng mắt, Cùng sức trẻ của ta mất đâu rồi. Ta đã nghèo đi biết bao trong kỳ vọng Đời có thực hay ta thấy trong mơ? Như ta dạo qua thế gian trên lưng ngựa Vào một sớm xuân âm vang sương mờ. Tất cả chúng ta trên thế gian này ở tạm Lá phong màu đồng trong gió nhẹ nhàng rơi... Vòng quay được chúc phúc đến muôn đời Sinh ra để sống hết mình và chết. |
Tự dưng hôm nay lại nhìn thấy bản dịch bài thơ "Bạch dương" tặng Tặng L.I. Kashina, bản dịch của Anh Ngọc. Nghe đồn là bản dịch này được đưa vào sách giáo khoa.
Anh Ngọc dịch Tặng L.I. Kashina Mái tóc xanh, Lồng ngực tròn thiếu nữ, Ôi bạch dương, bạch dương mảnh dẻ, Cớ chi ngươi nhìn mãi xuống đầm? Gió nói gì bên tai ngươi thì thầm? Và cát nữa, cát nói điều gì vậy? Hay ngươi muốn vầng trăng làm lược chải Ấm êm trên mái - tóc - cây - cành? Hãy kể ta nghe những bí mật đời mình, Những ý nghĩ giấu trong từng thớ gỗ, Ta yêu tiếng xào xạc buồn bã Của ngươi vào mỗi độ thu sang. Và tôi nghe tiếng của bạch dương: "Anh bạn tò mò ơi, Đêm nay dưới trời sao vằng vặc Có một chàng chăn cừu Đã đến đây và khóc. Trăng đã tỏa bóng mênh mông, Một màu xanh huyền ảo. Quỳ xuống đất chân trần Chàng ôm lấy thân tôi. Và nặng nề cất tiếng thở dài, Chàng khẽ nói trong rì rào cây lá: - Tạm biệt nhé, con chim câu bé nhỏ, Hẹn chờ nhau, mùa sếu sang năm". * * * Л.И.Кашиной Зеленая прическа, Девическая грудь, О тонкая березка, Что загляделась в пруд? Что шепчет тебе ветер? О чем звенит песок? Иль хочешь в косы-ветви Ты лунный гребешок? Открой, открой мне тайну Твоих древесных дум, Я полюбил печальный Твой предосенний шум. И мне в ответ березка: "О любопытный друг, Сегодня ночью звездной Здесь слезы лил пастух. Луна стелила тени, Сияли зеленя. За голые колени Он обнимал меня. И так, вдохнувши глубко. Сказал под звон ветвей: "Прощай, моя голубка, До новых журавлей". 1918 |
Hôm nay nhân ngày 27 tháng 3 (!), em thấy bài thơ này của chàng thi sĩ đẹp trai nhưng sớm chán đời :( - hix hix. Kể ra thì cái tạng sến cũng không hợp với em lắm, nhưng mà thôi, em xin góp vui bằng một bản dịch 5' thế này:
<table><tr><td valign="top">Eceнин Мне грустно на тебя смотреть --------------------------------------- Мне грустно на тебя смотреть, Какая боль, какая жалость! Знать, только ивовая медь Нам в сентябре с тобой осталась. Чужие губы разнесли Твое тепло и трепет тела. Как будто дождик моросит С души, немного омертвелой. Ну что ж! Я не боюсь его. Иная радость мне открылась. Ведь не осталось ничего, Как только желтый тлен и сырость. Ведь и себя я не сберег Для тихой жизни, для улыбок. Так мало пройдено дорог, Так много сделано ошибок. Смешная жизнь, смешной разлад. Так было и так будет после. Как кладбище, усеян сад В берез изглоданные кости. Вот так же отцветем и мы И отшумим, как гости сада... Коль нет цветов среди зимы, Так и грустить о них не надо. </td><td valign="top">Exenin Ngắm nhìn vườn thu ta buồn biết mấy --------------------------------------- Ngắm nhìn vườn thu ta buồn biết mấy Tiếc nuối làm sao, và bao đớn đau! Chỉ còn màu đồng lá dương rực cháy Sót lại cùng ta trong tháng chín này. Những cặp môi nào đã thổi tung bay Hơi ấm trong vườn cùng bao run rẩy. Như mưa lạnh từ hồn phách nào rơi Hồn phách ấy cũng đã chết nửa rồi. Thì sao nào! Ta đâu có sợ chi. Đã mở ra cho ta niềm vui mới. Bởi còn gì nữa đâu mà mong đợi Ngoài lá rữa vàng và hơi ẩm đầy. Bản thân ta, ta cũng có giữ đâu Để sống bình yên với những nụ cười. Chẳng tày gang con đường ta đã trải, Mà lỗi lầm sao mỗi bước mỗi dày. Đời nực cười, tranh cãi cũng nực cười. Trước đến nay chuyện lúc nào chả thế. Vườn lá phủ dày trông như nghĩa địa Giữa những cây dương xương trắng phơi đầy. Ta cũng thế, thời hoa niên sẽ hết Sẽ lặng câm như khách đến thăm vườn Dù giữa đông chẳng hoa nào thắm nở Ta cũng chẳng cần vì chúng buồn thương. </td></tr></table> |
Em cũng xin hưởng ứng bài này, cũng lâu lắm rồi không dịch thơ của chàng thi sĩ đẹp trai nhưng sớm chán cuộc đời này. Hy vọng các bậc cao thủ sẽ hưởng ứng :)
<table> <tr> <td valid="top"> Мне грустно на тебя смотреть Сергей Есенин --------------------------------------- Мне грустно на тебя смотреть, Какая боль, какая жалость! Знать, только ивовая медь Нам в сентябре с тобой осталась. Чужие губы разнесли Твое тепло и трепет тела. Как будто дождик моросит С души, немного омертвелой. Ну что ж! Я не боюсь его. Иная радость мне открылась. Ведь не осталось ничего, Как только желтый тлен и сырость. Ведь и себя я не сберег Для тихой жизни, для улыбок. Так мало пройдено дорог, Так много сделано ошибок. Смешная жизнь, смешной разлад. Так было и так будет после. Как кладбище, усеян сад В берез изглоданные кости. Вот так же отцветем и мы И отшумим, как гости сада... Коль нет цветов среди зимы, Так и грустить о них не надо. </td> <td valid="top"> Lặng nhìn vườn thu và ta cảm thấy buồn Sergei Esenin --------------------------------------------- Lặng nhìn vườn thu và ta cảm thấy buồn Ôi nỗi đau và nỗi niềm thương tiếc! Khi biết rằng màu liễu đồng tha thiết Là những gì tháng chín để cho ta. Hơi ấm vườn thu, và thân hình run rẩy Cặp môi nào đã đem chúng xa bay. Dường như có một cơn mưa nhỏ Rơi tự tâm hồn đang chết cứng đâu đây Thôi cũng được! Ta không hề sợ hãi Có một niềm vui khác đến cùng ta . Vì chẳng còn điều gì sót lại Ẩm ướt lá thu vàng tàn úa bao la Vì ta cũng nào giữ thân ta nhỉ Cho đời bình yên, cho những nụ cười Những con đường ta qua còn ít lắm Nhưng lỗi lầm lại nhiều quá, than ôi Cuộc đời, bất đồng quả thật buồn cười, Đã là thế, và sẽ luôn như vậy Hàng bạch dương như xương người rải rác Chẳng rõ khu vườn hay nghĩa địa ở đây Thì chúng ta cũng lụi tàn như thế Như khách của vườn im lặng mà đi Nếu giữa mùa đông đã không còn hoa nữa Thì chẳng nên buồn nhớ chúng làm gì </td> </tr> </table> |
Hi hi, tôi soi mãi mà không thấy "vườn thu" ở đâu :emoticon-0102-bigsm , chắc không biết đọc между строк:emoticon-0131-angel
|
Bài thơ này Seryoshka rất thích, hai câu đầu đuợc bác Nguyễn Viết Thắng dịch hay tuyệt, "Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России."/Em giản dị như là tất cả, như trăm ngàn người con gái nước Nga".
Nhưng có một chỗ kỳ quá, "những ngựa cái già ở chốn thảo nguyên"(đoạn 5, hai dòng cuối)??? Có mem nào dịch lại giùm Seryoshka đuợc không chứ như thế có vẻ thô thiển quá Ты такая ж простая, как все Em giản dị như là tất cả (Người dịch: Nguyễn Viết Thắng) Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России. Знаешь ты одинокий рассвет, Знаешь холод осени синий. По-смешному я сердцем влип, Я по-глупому мысли занял. Твой иконный и строгий лик По часовням висел в рязанях. Я на эти иконы плевал, Чтил я грубость и крик в повесе, А теперь вдруг растут слова Самых нежных и кротких песен. Не хочу я лететь в зенит, Слишком многое телу надо. Что ж так имя твое звенит, Словно августовская прохлада? Я не нищий, ни жалок, ни мал И умею расслышать за пылом: С детства нравиться я понимал Кобелям да степным кобылам. Потому и себя не сберег Для тебя, для нее и для этой. Невеселого счастья залог - Сумасшедшее сердце поэта. Потому и грущу, осев, Словно в листья в глаза косые... Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России |
Trích:
<table><tr><td valign="top"> ---------------------------------------- Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России. Знаешь ты одинокий рассвет, Знаешь холод осени синий. По-смешному я сердцем влип, Я по-глупому мысли занял. Твой иконный и строгий лик По часовням висел в рязанях. Я на эти иконы плевал, Чтил я грубость и крик в повесе, А теперь вдруг растут слова Самых нежных и кротких песен. Не хочу я лететь в зенит, Слишком многое телу надо. Что ж так имя твое звенит, Словно августовская прохлада? Я не нищий, ни жалок, ни мал И умею расслышать за пылом: С детства нравиться я понимал Кобелям да степным кобылам. Потому и себя не сберег Для тебя, для нее и для этой. Невеселого счастья залог - Сумасшедшее сердце поэта. Потому и грущу, осев, Словно в листья в глаза косые... Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России </td><td valign="top"> ---------------------------------------- Em bình dị như mọi người khác thôi, Nước Nga có hàng trăm ngàn con gái. Em từng biết một bình minh đơn côi, Và cái lạnh mùa thu xanh tê tái. Thật nực cười trái tim anh thổn thức, Ý nghĩ xuẩn ngu luẩn quẩn trong đầu. Gương mặt em đẹp nghiêm trang thánh thiện, Dung nhan tranh đức mẹ khác gì đâu. Anh từng nhổ lên những tranh tượng thánh Thích bọn thanh niên thô lỗ ồn ào, Mà đột nhiên nay anh thấy dâng trào Những ca từ dịu dàng mềm mại nhất. Anh chẳng muốn bay lên đỉnh trời cao Thân xác này đòi hỏi ta nhiều quá. Sao cái tên em cứ vang ngân thế, Như mát mẻ trong lành tháng tám qua. Anh chẳng nghèo, không đáng thương, nhỏ bé, Sau cơn bốc đồng cũng biết lắng nghe: Quen chó và ngựa từ lúc tuổi thơ Anh rất hiểu cách làm thân với chúng. Bởi vì thế bản thân anh không giữ Chẳng cho em, hay cô nọ, cô kia. Trái tim nhà thơ cuồng loạn dại khờ Hạnh phúc buồn đã ươm mầm từ đấy. Bởi vì thế nên anh buồn, rũ rượi, Như bóng lá héo tàn in mắt ai. Em bình dị như mọi người khác thôi, Nước Nga có hàng trăm ngàn con gái. </td></tr></table> |
Đồng ý với chị Bí, đây là bản dịch của bác Nguyễn Viết Thắng trên www.thivien.net
Em giản dị như là tất cả Như trăm nghìn người con gái nước Nga Em thấu hiểu ánh bình minh đơn lẻ Và nhận ra cơn giá lạnh mùa thu. Thật buồn cười anh đem lòng thương mến Thật dại khờ đem ý nghĩ tơ vương Gương mặt em nghiêm khắc và thánh thiện Như ảnh Thánh treo ở chốn nguyện đường. Anh đã từng phớt lờ bao ảnh ấy Tiếng hò reo, thô bạo vẫn tôn thờ Nhưng bây giờ bỗng nhiên lời trỗi dậy Thật dịu dàng, đằm thắm những vần thơ. Anh chẳng muốn bay tận chốn mây mù Lên đến đó cần quá nhiều thân thể. Sao mà tên của em ngân vang thế Tựa hồ như cơn gió lạnh mùa thu? Anh không nghèo, không bé dại, đáng thương Và biết nghe những tấm lòng nhiệt huyết Từ ngày nhỏ đã biết làm cho thích Những ngựa cái già ở chốn thảo nguyên. Chính vì thế mà anh chẳng giữ mình Để cho em, cho người này, người khác Vật bảo đảm cho niềm vui hạnh phúc Là trái tim cuồng thi sĩ của anh. Chính vì thế mà anh buồn bã Lác mắt nhìn như chiếc lá rơi ra... Em giản dị như là tất cả Như trăm nghìn người con gái nước Nga. |
Còn đây là bài Nuớc Nga Sôviết của Yesenin, cũng do bác Nguyễn Viết Thắng dịch
<table><tr><td valign="top">Русь советская А. Сахарову Тот ураган прошел. Нас мало уцелело. На перекличке дружбы многих нет. Я вновь вернулся в край осиротелый, В котором не был восемь лет. Кого позвать мне? С кем мне поделиться Той грустной радостью, что я остался жив? Здесь даже мельница - бревенчатая птица С крылом единственным - стоит, глаза смежив. Я никому здесь не знаком, А те, что помнили, давно забыли. И там, где был когда-то отчий дом, Теперь лежит зола да слой дорожной пыли. А жизнь кипит. Вокруг меня снуют И старые и молодые лица. Но некому мне шляпой поклониться, Ни в чьих глазах не нахожу приют. И в голове моей проходят роем думы: Что родина? Ужели это сны? Ведь я почти для всех здесь пилигрим угрюмый Бог весть с какой далекой стороны. И это я! Я, гражданин села, Которое лишь тем и будет знаменито, Что здесь когда-то баба родила Российского скандального пиита. Но голос мысли сердцу говорит: "Опомнись! Чем же ты обижен? Ведь это только новый свет горит Другого поколения у хижин. Уже ты стал немного отцветать, Другие юноши поют другие песни. Они, пожалуй, будут интересней - Уж не село, а вся земля им мать". Ах, родина! Какой я стал смешной. На щеки впалые летит сухой румянец. Язык сограждан стал мне как чужой, В своей стране я словно иностранец. Вот вижу я: Воскресные сельчане У волости, как в церковь, собрались. Корявыми, немытыми речами Они свою обсуживают "жись". Уж вечер. Жидкой позолотой Закат обрызгал серые поля. И ноги босые, как телки под ворота, Уткнули по канавам тополя. Хромой красноармеец с ликом сонным, В воспоминаниях морщиня лоб, Рассказывает важно о Буденном, О том, как красные отбили Перекоп. "Уж мы его - и этак и раз-этак,- Буржуя энтого... которого... в Крыму..." И клены морщатся ушами длинных веток, И бабы охают в немую полутьму. С горы идет крестьянский комсомол, И под гармонику, наяривая рьяно, Поют агитки Бедного Демьяна, Веселым криком оглашая дол. Вот так страна! Какого ж я рожна Орал в стихах, что я с народом дружен? Моя поэзия здесь больше не нужна, Да и, пожалуй, сам я тоже здесь не нужен. Ну что ж! Прости, родной приют. Чем сослужил тебе, и тем уж я доволен. Пускай меня сегодня не поют - Я пел тогда, когда был край мой болен. Приемлю все. Как есть все принимаю. Готов идти по выбитым следам. Отдам всю душу октябрю и маю, Но только лиры милой не отдам. Я не отдам ее в чужие руки, Ни матери, ни другу, ни жене. Лишь только мне она свои вверяла звуки И песни нежные лишь только пела мне. Цветите, юные! И здоровейте телом! У вас иная жизнь, у вас другой напев. А я пойду один к неведомым пределам, Душой бунтующей навеки присмирев. Но и тогда, Когда во всей планете Пройдет вражда племен, Исчезнет ложь и грусть,- Я буду воспевать Всем существом в поэте Шестую часть земли С названьем кратким "Русь". 1924 </td><td valign="top">Nuớc Nga Sôviết Tặng A. Sakharov Cơn bão đi qua. Chẳng mấy ai lành lặn Tôi trở về thăm lại chốn quê xưa Thăm lại người thân, thăm lại bạn bè Thăm lại nơi đã tám năm rồi vắng bóng. Biết gọi ai? Biết chia sẻ cùng ai Niềm vui hay nỗi buồn rằng tôi còn sống? Chiếc cối xay – con chim còn một cánh Đứng bên nhà đôi mắt chẳng mở ra. Chẳng còn ai tôi quen biết nơi này Những người biết tôi đã từ lâu quên lãng Còn nơi ngày xưa có ngôi nhà thấp vắng Giờ còn đống tàn tro che lấp bởi bụi đường. Nhưng cuộc sống cứ sôi lên Xung quanh tôi người ta lăng xăng, bận rộn Trẻ cũng như già Chẳng còn ai để tôi ngả mũ chào thưa Chẳng còn trong đôi mắt nào tôi tìm thấy niềm thông cảm. Trong đầu tôi nảy ra nhiều suy nghĩ: Quê hương là gì? Chẳng lẽ chỉ là những giấc mơ? Với mọi người tôi là kẻ hành hương khắc khổ Chỉ còn trời thì lại ở rất xa. Nhưng dù sao tôi vẫn là Một người dân của xóm Cái xóm đang và sẽ còn nổi tiếng Rằng nơi đây có bà mụ đã sinh ra Một nhà thơ nhiều tai tiếng của nước Nga. Nhưng lý trí bảo tôi rằng: "Nghĩ lại đi mi! Sao lại đi hờn dỗi Đấy chỉ là ngọn lửa mới Trong ngôi nhà thế hệ khác mà thôi. Dù sao thì mi đã già thêm một ít rồi Tuổi trẻ khác họ hát bài hát khác Đối với họ sẽ trở nên thân thiết Không phải làng mà cả thế giới này là mẹ quê hương". Quê hương ơi! Tôi thành một kẻ buồn cười Trên má hóp một màu hồng khô khốc Giữa quê mình tôi như người ngoại quốc Tiếng của đồng bào trở thành xa lạ với tôi. Tôi thấy rằng: Ngày chủ nhật những người dân làng Trong uỷ ban như trong nhà thờ tụ họp Bằng những lời nói sần sùi, không trau chuốt Họ tranh luận với nhau về cuộc sống của mình. Rồi buổi chiều khi ánh nắng màu vàng Của hoàng hôn rắc lên những cánh đồng màu xám Những đôi chân trần của đàn bê ngoài cổng Giẫm xuống hào nơi có rặng cây dương. Vẻ thiếu ngủ của người lính bị thương Cùng với những nét nhăn trên gương mặt Anh ta kể về vai trò của Budyonny Những người lính Hồng quân đánh lùi Perêkốp. "Chúng tôi đã bắt hắn ta như thế Hắn là... là tên tư sản... ở Crưm..." Đến những cành phong dài cũng vểnh tai lên Và những bà nông dân ồ lên trong cảnh trời nhập nhoạng. Từ trên đồi một tốp đoàn viên Kôm-sô-môn Họ chơi đàn phong cầm rất nhanh và mạnh Họ hát những bài hát tuyên truyền của Demyan Tiếng cười vui vang lên khắp thung lũng. Thế đó quê hương! Người sinh ra tôi như vậy Vẫn nói trong thơ rằng tôi cùng với nhân dân Nhưng thơ của tôi ở đây chẳng có ai cần Và cả tôi ở đây cũng chẳng ai cần đến cả. Tôi biết làm sao được! Xin lỗi nhé quê hương Những gì tôi làm được cho Người tôi cảm thấy bằng lòng Cho dù hôm nay chẳng ai đọc thơ tôi cả Tôi đã hát về Người khi Người đã đau thương. Tôi nhận về tất cả. Với tất cả tôi bằng lòng Tôi đi theo cách mạng đã sẵn sàng Tôi dâng hết lòng mình cho Tháng Mười, Tháng Năm Nhưng riêng thơ của mình tôi xin giữ lại. Tôi không trao Nàng Thơ cho ai khác Không cho mẹ, cho vợ hoặc bạn bè Chỉ có mình tôi là người Nàng Thơ uỷ thác Những bài hát dịu dàng Nàng chỉ hát cho tôi. Các bạn trẻ hãy sống vui và khoẻ mạnh lên! Các bạn có cuộc đời và bài ca cũng khác Tôi một mình đi về miền không ai biết được Để muôn đời tâm hồn nổi loạn trở thành ngoan. Nhưng mà khi đó Khi khắp nơi trên trái đất này Sẽ qua đi hận thù bộ tộc Sẽ không còn giả dối và buồn rầu nước mắt Thì tôi lại hát Bằng tất cả nhiệt tình tôi sẽ ngợi ca Một phần sáu quả đất Với cái tên ngắn gọn "Nước Nga". 1924 </td></tr></table> |
Theo Nina thì chỗ "ngựa cái già" là bác Thắng có hơi phóng tác chút xíu (nhất là nếu so với các đại ca Bằng Việt, Thái Bá Tân thì đây là một sự phóng tác vô cùng bé :) mà thôi). Còn nguyên câu đó thì là "chó đực và ngựa cái của thảo nguyên" :D
Còn cái bài "Nước Nga Xô viết" thì ... sao mà nó dài thế. Bạn Seryoshka đừng vội đưa trường ca lên nhé, để chúng tớ còn kịp tiêu hóa các bài đã có đã :D |
Êxênhin - Đời và thơ
:emoticon-0111-blush
http://i246.photobucket.com/albums/g...a_thu/15-2.jpg 1915 г "Разбуди меня завтра рано..." Читает С. Есенин (!!!) http://www.4shared.com/file/44106071...udi_menja.html Разбуди меня завтра рано, О моя терпеливая мать! Я пойду за дорожным курганом Дорогого гостя встречать. Я сегодня увидел в пуще След широких колес на лугу. Треплет ветер под облачной кущей Золотую его дугу. На рассвете он завтра промчится, Шапку-месяц пригнув под кустом, И игриво взмахнет кобылица Над равниною красным хвостом. Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. http://i246.photobucket.com/albums/g...a_thu/14-2.jpg 1914 г Воспоминания друга С.Есенина о нем, как о поэте и человеке. Г. Леонидзе Я СЛЫШУ ЕГО ГОЛОС Бурная и дерзкая молодость наша осталась позади… Пришло время воспоминаний, и я все чаще тревожу свою память, вызывая из прошлого образы друзей и собратьев. Среди них встает предо мной человек чарующей силы и неотразимого обаяния — большой русский поэт Сергей Есенин. Я будто слышу его голос, звучавший сорок с лишним лет назад, вижу его ясное лицо, его улыбку, проникающую в стихи, озаряющую строчки. Незапятнанной чистотой белой березы возносится он перед моими глазами — добрый товарищ по чувствам, по перу… Сергей Есенин приехал в Тбилиси в сентябре 1924 года. Каждого вновь прибывшего к нам поэтического гостя первыми встречали, как правило, Паоло Яшвили и Тициан Табидзе. Паоло был гостеприимным хозяином, а без Тициана нельзя было себе представить любое пиршество поэтов. Как впоследствии вспоминал Тициан Табидзе, он и Шалва Апхаидзе были первыми грузинскими слушателями Есенина — именно им он прочитал недавно написанное «Возвращение на родину». Есенин остановился сначала в гостинице, затем несколько дней гостил в семье Тициана, наконец перебрался к своему другу Николаю Вержбицкому — журналисту из газеты «Заря Востока». В гостинице «Ориант» я увидел его впервые — красивого, с уже несколько выцветшими кудрями и обветренным лицом, но задорно-синеглазого и по-детски улыбчивого, хотя и не без складки усталости в этой доброй и доверчивой улыбке. О нем сразу создалось впечатление, затем навсегда закрепившееся, как о кристально чистом человеке, тонком и нежном, подлинно рыцарской натуре. Душевный контакт устанавливался мгновенно, и тогда исчезали все барьеры, дружба вспыхивала, как пламя, но не для того, чтобы погаснуть, а чтобы все сильней и сильней разгораться. Он очень мало знал Грузию до приезда к нам, но тем ненасытнее оказались его любознательность, жажда познания распахнувшего ему дружеские объятия края и народа. Им были задуманы переводы из грузинской поэзии, он договорился о редактировании приложения к газете «Заря Востока», мечтал о создании цикла стихов о Грузии… http://i246.photobucket.com/albums/g...a_thu/09-1.jpg С. Есенин с земляками (во втором ряду справа). с. Константиново. 1909 г. Однако, кроме больших и малых планов, были большие и малые факты, события, происшествия, эпизоды, связанные с жизнью Сергея Есенина в Тбилиси, в своей совокупности и создавшие у него то настроение, которое продиктовало ему знаменитое послание «Поэтам Грузии». И пусть несколько обрывков моих воспоминаний осветят хоть некоторые фрагменты картины, которую можно было бы назвать «Есенин в Грузии». Тициан Табидзе заинтересовал Есенина поэзией Важа Пшавела. Читал ему по-грузински и тут же делал собственный подстрочный перевод. Есенин волновался, метался, не находил себе места… А Тициан все поддавал и поддавал жару. Есенин не находил слов — так он был рад совпадению своего и Важа отношения к зверям, к природе. — Это я должен перевести! — воскликнул Есенин. Доживи он свой век — у нас были бы есенинские переводы Важа Пшавела. — Я буду вашим толмачом в России,- говорил он грузинским поэтам. Мы выходим из магазина фруктовых вод и видим там же у входа примостившегося слепого чонгуриста, напевающего самозабвенно какую-то наивную грузинскую песенку: — Ну и что ж, что я черна,- Я ведь солнцем опалена! Я такой же, как все, человек — Богом создана и рождена!.. — Что он поет? — спрашивает Есенин. — Библию. — Как? — поразился он. — «Песнь песней» Соломона. И я напоминаю ему: «Черна я, но красива, как шатры Кидарские… Не смотрите на меня, что я смугла, ибо солнце опалило меня!..» А певец поет это, как вчерашнюю любовную песенку, не подозревая, что ей две тысячи лет. — Как это удивительно! — И, задумавшись, долго смотрит на меня улыбаясь Есенин… Влюбленный в русскую песню, сам отличный певец, он очень полюбил и наши напевы. Особенно нравилась ему «Урмули» («Аробная»), Не помню, слышал ли он божественное исполнение Вано Сараджишвили, но похороны этого «грузинского соловья», совпавшие с пребыванием Есенина в Тбилиси, его потрясли своей грандиозностью. Это был подлинно национальный траур. В тот же день был назначен есенинский вечер, и поэт был уверен, что вечер сорвется. Каково же было его удивление, когда зал, где он должен был читать стихи, оказался переполненным, публика восторженно приняла поэта. Есенин читал великолепно. Полдень и вечер этого дня надолго объединили в сознании тбилисцев два редких самородных таланта — Сергея Есенина и Вано Сараджишвили. После чтения стихов разгорелся диспут, как это часто бывало в те годы. На этом диспуте, между прочим, выступил какой-то заезжий критик, обвинивший поэта в пристрастии к гитаре, тальянке, гармонике, а также в «эксплуатации скандалов». Эти надоедливые укусы длились долго, но Есенин терпеливо слушал. Поднял голову, всмотрелся в потолок и затем обратился к оппоненту, указав на лепные украшения потолка: «Вот посмотрите на эти инкрустации. Их много, но они, по сути дела, украшения — не главное. Я не согласен с теми, которые в моих стихах видят только то, что я сам считаю случайным и наносным». http://esenin.ru/content/view/1211/144/ :emoticon-0159-music http://i246.photobucket.com/albums/g...a_thu/18-7.jpg С. А. Есенин, А. М. Кожебаткин. 1918-1919 г. :emoticon-0159-music |
Êxênhin - Đời và thơ
:emoticon-0111-blush
Любимые женщины Есенина...:emoticon-0115-inlov http://i246.photobucket.com/albums/gg87/mua_thu/4.jpg Первая «У меня было три тысячи женщин!» — похвастался как-то Сергей Есенин приятелю. На недоверчивое «Вятка, не бреши!» заулыбался: «Ну, триста. Ну, тридцать». Его нельзя было не любить… В 1912 году семнадцатилетний деревенский мальчик Сережа Есенин, красивый, как вербный херувим, приехал покорять Москву и вскоре устроился работать в типографию Сытина корректором. В своем коричневом костюме и ярко-зеленом галстуке он выглядел по-городскому: не стыдно и в редакцию зайти, и с барышней познакомиться. Но редакции его стихи печатать не хотели, а барышни смеялись над его говором, галстуком и независимыми манерами. Только курсистка Аня, Анна Изряднова, также служившая корректором у Сытина, сумела в мальчишке, который был моложе ее на четыре года, увидеть настоящего поэта. Как она его понимала! Как она любила его! Анна стала его первой женщиной. Сергей почувствовал себя взрослым мужчиной, мужем. В снятой ими комнате у Серпуховской заставы и начинается есенинская семейная жизнь. Работа, дом, семья, Анна ждет ребенка, и на поэзию уже сил и времени не хватает. Для вдохновения Сергей уезжает в Крым. Один. Вернулся полный впечатлений и вдохновения. Он бросил работу и целыми днями писал стихи. Анна не перечила и ничего не требовала от него. Просто любила. Ему же было так удобно. В декабре 1914 года Есенин отвез жену в роддом. Страшно гордился, когда родился сын. К возвращению Анны из больницы отмыл комнату до блеска, приготовил обед. 19-летний отец с удивлением вглядывался в крошечное личико сына, отыскивая в нем свои черты, и никак не мог налюбоваться. Назвал малыша Георгием, Юрочкой. Радость закончилась быстро. Детский плач, грязные пеленки, бессонные ночи. Через три месяца Есенин уехал в Петроград: то ли в поисках успеха, то ли просто сбежал от семейного счастья. Почти целый год мотался туда-сюда. Но ни любовь Ани, ни ребенок не смогли его удержать. Материально помогал, когда мог. Но вскоре завертела столица, закружила. «Ах, самородок из Рязани! Ах, новый Кольцов!» — говорили о нем. И стал модный поэт в литературных салонах нарасхват. Всегда находились желающие выпить с гением. Наверное, тогда тихий отрок, воспевающий золотую Русь, и превратился в кабацкого хулигана… Любимая http://i246.photobucket.com/albums/gg87/mua_thu/1.jpg Зинаида Райх родила Есенину двух детей — Костика и Танечку ОДНАЖДЫ летом 1917 года Есенин с приятелем зашли в редакцию газеты «Дело народа», где Сергей познакомился с секретаршей Зиночкой. Зинаида Райх была редкая красавица. Таких он еще не видел. Умная, образованная, окруженная поклонниками, она мечтала о сцене. Уж как он уговорил ее поехать с ним на Север?! Они обвенчались в маленькой церквушке под Вологдой, искренне веря, что будут жить долго, счастливо и умрут в один день. Вернувшись, поселились у Зинаиды. Ее заработка хватало на двоих, и она старалась создать Сереже все условия для творчества. Есенин был ревнив. Выпив, становился просто невыносим, устраивая беременной жене безобразные скандалы. Он любил по-русски: сначала бил, а потом валялся в ногах, вымаливая прощение. В 1918 году семейство Есениных покинуло Петроград. Зинаида поехала в Орел к родителям рожать, а Сергей вместе с другом снял в центре Москвы комнатенку, где зажил по-холостяцки: попойки, женщины, стихи… Дочь родилась в мае 1918 года. Зинаида назвала ее в честь матери Сергея — Татьяной. Но когда жена с маленькой Танечкой приехали в Москву, Сергей их встретил так, что уже на следующий день Зинаида уехала обратно. Потом Есенин просил прощения, они мирились, и опять начинались скандалы. После того как он избил ее, беременную вторым ребенком, Зинаида сбежала от него к родителям окончательно. Сын был назван Костей в честь села Константиново, где родился Есенин. Впоследствии Зинаида стала актрисой в театре знаменитого режиссера Всеволода Мейерхольда. В октябре 1921 года Есенин и Зинаида официально развелись, она вышла замуж за Мейерхольда. Знаменитый режиссер воспитывал Костика и Танечку, а Есенин в доказательство любви к детям носил их фотографию в нагрудном кармане. Дорогая http://i246.photobucket.com/albums/gg87/mua_thu/2.jpg Айседора Дункан не говорила по-русски, Есенин не понимал по-английски. Но это не мешало их любви. ОДНАЖДЫ великую американскую балерину Айседору Дункан, приехавшую в 1921 году в Россию, пригласили на творческий вечер… Она вошла летящей походкой, сбросила шубку и расправила складки шелкового хитона. Танцовщица была похожа на ожившую статую античной богини. Ей налили «штрафной» стакан вина. Она подняла глаза от бокала и увидела Его. Он начал читать стихи. Айседора не понимала ни слова, но не могла оторвать от него взгляда. А он декламировал, глядя только на нее. Казалось, что в комнате больше никого нет. Закончив читать, Есенин спустился с возвышения и попал в ее объятия. «Изадора! Моя Изадора!» — Есенин опустился перед танцовщицей на колени. Она поцеловала его в губы и произнесла: «За-ла-тая галава, за-ла-тая га-ла-ва». Это была любовь с первого взгляда, кипучая страсть, ураган. И не важно, что Айседора почти не говорила по-русски, а Сергей не знал английского. Они понимали друг друга без слов, потому что были похожи — талантливы, эмоциональны, бесшабашны.. С той памятной ночи Есенин переехал в квартиру Айседоры. Есенинские друзья-поэты с удовольствием ходили в этот гостеприимный дом, хотя никак не могли поверить, что гуляка и сердцеед искренне полюбил женщину, которая почти в два раза старше его. А он, глядя, как Айседора танцует для него, теряя голову, шептал: «Моя, моя навеки!» Балерина с мировым именем была богата и готова все отдать, только чтобы ее любимый Есенин был счастлив. Кутежи, шампанское, фрукты, подарки. Она оплачивала все. Но уже через несколько месяцев есенинская страсть угасла и начались скандалы. В пьяном угаре он кричал: «Дунька, пляши». И она танцевала перед ним и его собутыльниками, без слов показывая и свою любовь, и унижение, и гордость, и негодование. Она видела, что ее любимый спивается, и, чтобы спасти его, решила увезти за границу. В мае 1922 года Есенин и Дункан зарегистрировали брак и уехали сначала в Европу, затем в Америку. Но там он из великого поэта стал просто мужем Дункан. От этого злился, пил, гулял, бил, потом каялся и объяснялся в любви. Друзья Айседоры были в ужасе от ее семейной жизни. — Как ты позволяешь так с собой обращаться?! Ты — великая балерина! Айседора оправдывалась: «Он болен. Я не могу его бросить. Это все равно что бросить больного ребенка». В Советской России ему было очень тяжело, а без России — невозможно. И чета Есениных — Дункан вернулась обратно. Она чувствовала, что брак разваливается, безумно ревновала и мучилась. Отправившись на гастроли в Крым, Айседора ждала там Сергея, который обещал вскоре приехать. Но вместо него пришла телеграмма: «Я люблю другую, женат, счастлив. Есенин». Этой другой стала его поклонница Галина Бениславская. Хорошая ТАК беззаветно, как любила Галина, редко любят. Есенин считал ее самым близким другом, но не видел в ней женщину. Ну чего ему не хватало?! Стройная, зеленоглазая, косы чуть не до полу, а он не замечал этого, о своих чувствах к другим рассказывал. Галина оторвала его от Дункан, старалась отвадить и от друзей-собутыльников, ждала ночами у двери, как верная собака. Помогала чем могла, бегала по редакциям, выбивая гонорары. И телеграмму в Крым Айседоре дала она же. Галина считала его своим мужем, он же говорил ей: «Галя, вы очень хорошая, вы самый близкий друг, но вас я не люблю…» Есенин приводил в ее дом женщин и тут же ее утешал: «Я сам боюсь, не хочу, но знаю, что буду бить. Вас не хочу бить, вас нельзя бить. Я двух женщин бил — Зинаиду и Изадору — и не мог иначе. Для меня любовь — это страшное мучение, это так мучительно». Галина все ждала, когда же он увидит в ней не только друга. Но так и не дождалась. В 1925 году он женился… на Сонечке Толстой. Милая http://i246.photobucket.com/albums/gg87/mua_thu/3.jpg Есенин гордился тем, что породнился с Толстым, женившись на его внучке Софье В НАЧАЛЕ 1925 года поэт познакомился с внучкой Льва Толстого Софьей. Как и большинство интеллигентных девиц того времени, она была влюблена в поэзию Есенина и немножко в самого поэта. 29-летний Сергей робел перед аристократизмом и невинностью Софьи. Однажды летом в липовой аллее в парке к ним подошла цыганка: — Эй, молодой, красивый, дай денежку, судьбу узнаешь! Есенин рассмеялся и достал деньги. — Свадьба у тебя скоро будет, кучерявый! — рассмеялась цыганка. В июле 1925 года состоялась скромная свадьба. Сонечка была готова, как и ее знаменитая бабушка, посвятить всю жизнь мужу и его творчеству. Все было на удивление хорошо. У поэта появился дом, любящая жена, друг и помощник. Софья занималась его здоровьем, готовила его стихи для собрания сочинений. И была абсолютно счастлива. А Есенин, встретив приятеля, отвечал на вопрос: «Как жизнь?» — «Готовлю собрание сочинений в трех томах и живу с нелюбимой женщиной». Есенин продолжал жить жизнью, где всегда находилось место пьяным кутежам и любовным интрижкам с поклонницами. «Что случилось? Что со мною сталось? Каждый день я у других колен», — писал он о себе. И отчего-то чувствовал свою скорую смерть: «Я знаю, знаю. Скоро, скоро, Ни по моей, ни чьей вине Под низким траурным забором Лежать придется так же мне». Это писал 30-летний красавец, недавно женившийся на обожавшей его милой и умной девушке, поэт, чьи сборники разлетались прямо из типографии. Все кончилось 28 декабря 1925 года в ленинградской гостинице «Англетер». Сергея Есенина нашли повесившимся на веревке от чемодана. Рядом было письмо, написанное кровью: «До свиданья, друг мой, до свиданья…» Все его жены, кроме Айседоры, которая была в Париже, присутствовали на похоронах. Галина Бениславская застрелилась на могиле Есенина. Женщин, любивших его, было много, а любви в его жизни было мало. Сам Есенин объяснял это так: «Как бы ни клялся я кому-либо в безумной любви, как бы я ни уверял в том же сам себя, — все это, по существу, огромнейшая и роковая ошибка. Есть нечто, что я люблю выше всех женщин, выше любой женщины, и что я ни за какие ласки и ни за какую любовь не променяю. Это — искусство…» Ирина БАЛИНСКАЯ :emoticon-0100-smile http://esenin.ru/content/view/302/144/ :emoticon-0115-inlov |
Êxênhin - Đời và thơ
:emoticon-0111-blush
ВИДЕО (!!!) С.Есенина: http://esenin.ru/content/blogsection/18/80/ http://i246.photobucket.com/albums/g...n_video1-1.jpg Единственная прижизненная съемка поэта. Замечательный сайт с большим количеством редких материалов о С.Есенине: http://esenin.ru/ :emoticon-0159-music |
<table><tr><td valign="top">Сергей Есенин
Разбуди меня завтра рано, О моя терпеливая мать! Я пойду за дорожным курганом Дорогого гостя встречать. Я сегодня увидел в пуще След широких колес на лугу. Треплет ветер под облачной кущей Золотую его дугу. На рассвете он завтра промчится, Шапку-месяц пригнув под кустом, И игриво взмахнет кобылица Над равниною красным хвостом. Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. </td><td valign="top">Sergei Exenin Mai gọi con dậy sớm hơn mẹ nhé, Mẹ thân yêu, mẹ hiền của con ơi! Con sẽ ra đoạn đường phía sau đồi Đón khách quý về nhà ta mẹ ạ. Hôm nay con vừa thấy trong rừng rậm Bãi cỏ xanh vết xe lăn hằn rộng. Gió dưới vòm mây cao reo lồng lộng Rộn rã tiếng vàng lay dưới vòng cung. Sáng sớm mai, mẹ ơi, người khách quý Mũ bán nguyệt khẽ khàng ngả dưới cây, Và ngựa của chàng được thả quanh đây Đuôi đỏ rực nhẹ bay trên đồng cỏ. Mai gọi con dậy sớm hơn mẹ nhé, Phòng khách nhà mình mẹ hãy thắp đèn Người ta nói con mẹ chẳng chịu hèn Con sắp thành nhà thơ Nga nổi tiếng. Con sẽ ngợi ca mẹ và khách quý, Lò sưởi này, gà trống với ngôi nhà… Sữa đàn bò vàng mai mẹ vắt ra Sẽ tưới đẫm những bài ca mẹ ạ. </td></tr></table> Trích:
|
Êxênhin - Đời và thơ
:emoticon-0111-blush
Дом С. Есенина Белая береза Под моим окном Принакрылась снегом, Точно серебром. На пушистых ветках Снежною каймой Распустились кисти Белой бахромой. И стоит береза В сонной тишине, И горят снежинки В золотом огне. А заря, лениво Обходя кругом, обсыпает ветки Новым серебром. ("Береза".) http://i246.photobucket.com/albums/g...ent_house1.jpg Эта улица мне знакома, И знаком этот низенький дом. Проводов голубая солома Опрокинулась над окном. *** Не искал я ни славы, ни покоя, Я с тщетой этой славы знаком. А сейчас, как глаза закрою, Вижу только родительский дом... В самом центре села, напротив церкви Казанской иконы Божией Матери, под кронами раскидистых ветел, стоит бревенчатый, выходящий тремя окнами на широкую улицу «низкий дом». Он хранит память о великом русском поэте Сергее Александровиче Есенине. Прошло более ста лет с тех пор, когда в 1871 году дед поэта Никита Осипович Есенин купил двадцать восемь квадратных саженей усадебной земли. По воспоминаниям Екатерины Александровны Есениной, "на этой усадьбе, кроме избы и двора для скотины, ничего больше дедушка построить не смог. Не осилил он сразу купить огород. По сохранившейся расписке, приложенной к договору о покупке усадебной земли, дедушка уплатил ... пятьдесят три рубля серебром. Для того времени это было очень дорого. Земля у нас ценилась очень высоко". Первый дом Есениных, построенный дедом поэта, поражал своей необычностью. Вот что писала о нем Екатерина Александровна: "Дом этот несколько необычен для нашего села. Он значительно выше окружающих его изб. Нижний этаж его не имеет ни одного окна. Он служит нам амбаром, ибо ни риги, ни отдельного амбара, ни других хозяйственных помещений построить на усадьбе невозможно". Именно в таком доме 21 сентября (3 октября - по новому стилю) 1895 года родился Сергей Александрович Есенин. Изба крестьянская. Хомутный запах дегтя, Божница старая, Лампады кроткий свет... В 1910 году на месте обветшалого "необычного" дома отец построил дом меньших размеров, с ним-то и ассоциируется есенинский поэтический образ "золотой бревенчатой избы". Одновременно со строительством нового дома А.Н. Есенин купил и усадьбу. Воссозданная мемориальная обстановка переносит нас в далекие двадцатые, когда поэт часто приезжал в родной дом. Через предметный мир этой простой бревенчатой избы и поэтичность окружающей природы мы начинаем лучше понимать поэзию Есенина. Доброжелательное поскрипывание ступенек крыльца - первое приветствие есенинского дома всем входящим в него. Едва уловимым запахом сосновых бревен, смешанным с ароматом луговых трав, встречают вошедшего просторные сени. На бревенчатой стене висят серп и полукосок матери поэта, пивница для кваса, рядом коромысло, ступа с пестом, мера для зерна... Сени. Из сеней мы попадаем в теплую часть дома, в небольшую прихожую. Слева у окна кровать, на ней когда-то спал Сергей Есенин, рядом деревянный, обитый железом сундучок, в нем поэт хранил томики Пушкина, Гоголя, Некрасова, Толстого, Лермонтова, Кольцова, здесь же на вешалке - одежда Татьяны Федоровны, которую она носила в последние годы жизни. http://i246.photobucket.com/albums/g...ent_house2.jpg Направо от входной двери - кухня, где готовилась нехитрая крестьянская еда. Белоснежная русская печь занимает большую часть кухни. Около печи стоят ухваты и кочерга. На кухонном столе ведерный самовар - участник всех семейных праздников, над столом висит полка, где вместе с посудой стоят потрескавшиеся от времени крынки, кувшины и махотки. Из прихожей мимо печки-голландки, которая топилась лишь в зимнюю стужу, мы проходим в переднюю комнату- горницу. Два окна горницы выходят на сельскую площадь. "Из окон нашей избы, - пишет Екатерина Александровна Есенина, - есть на что посмотреть. Прямо пред глазами заливные луга, без конца и края до самого леса. По лугу широкой лентой раскинулась Ока. Синее небо чашей опрокинулось над нами. Тишина, простор". Между окон, убранных белыми кружевными занавесками, висит зеркало. На полу расстелены цветастые домотканые половики. Слева в красном углу - иконы, среди которых икона Казанской Божией Матери, принадлежавшая Татьяне Федоровне Есениной, а справа над посудным шкафом старинные часы с боем швейцарской фирмы Габю (нач.20 века) - живые свидетели всего, что происходило здесь много лет назад. Горница. В левом углу горницы у окна стоят дубовый стол с откидными крышками и венские стулья. Над столом - семейные портреты и похвальный лист, полученный Сергеем Есениным по окончании Константиновской земской школы "за весьма хорошие успехи и отличное поведение". Здесь любил работать поэт. Он всегда радовался, когда в доме на окнах и на столе было много полевых цветов. http://i246.photobucket.com/albums/g...ent_house3.jpg Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. В глубине есенинского сада, запахнувшись ветками яблонь и вишен, стоит изба-времянка. Семья Есениных поставила ее после пожара в августе 1922 года. Около нее сохранилась единственная яблоня-дикарка. Во время этого большого пожара дом Есениных сгорел почти дотла. Два года прожили родители поэта с младшей его сестрой Александрой в этом скромном жилище, пока не выстроили в 1924 году новый дом. В 2001 году был воссоздан родительский дом поэта, и изба времянка - в 2003 году. Сохранился амбар, построенный в 1913 году, который расположился среди вишен недалеко от избушки-времянки. Сергей Александрович часто уединялся в амбаре. Здесь, по свидетельству сестер поэта, им были написаны некоторые произведения: "Каждый труд благослови, удача!...", "Отговорила роща золотая...", "Поэма о 36". Друг Есенина Сергей Николаевич Соколов, учительствовавший в то время в Константинове, вспоминал о приездах поэта: "...то пропадает: день-другой его нет. Укроется в своем любимом амбарчике и пишет. Работал он, когда приезжал в Константиново, с увлечением... Часто напишет новое стихотворение, просит послушать. Хорошо помню, как он читал отрывки из "Поэмы о 36". В самом конце усадьбы под золотистой соломой разместилась восстановленная рига, в которой обмолачивали и хранили зерно. Ты запой мне ту песню, что прежде Напевала нам старая мать. Не жалея о сгибшей надежде, Я сумею тебе подпевать. *** Ты мне пой. Ведь моя отрада - Что вовек я любил не один И калитку осеннего сада, И опавшие листья с рябин... В 1965 году, когда страна отмечала 70-летие со дня рождения Сергея Александровича Есенина, дом поэта обрел новую судьбу: в нем открылся мемориальный музей. В 1970 году рядом с домом Есениных был разбит парк, где посажены деревья, любовно и трепетно воспетые поэтом в стихах. Здесь же, в парке, бронзовый памятник поэту известного скульптора А.А. Бичукова, установленный 4 октября, вторник, 2007 года. В любое время года бесконечным потоком идут к Есенину люди. Идут поклониться земле, подарившей миру такого искреннего, такого исконно русского поэта. :emoticon-0155-flowe Государственный музей-заповедник С. Есенина : www.museum-esenin.ru/exhibit/parent_house Сайт о творчестве С. Есенина: http://www.esenin-sergey.com/materials.php :emoticon-0100-smile |
<table><tr><td valign="top"> * * *
О верю, верю, счастье есть! Еще и солнце не погасло. Заря молитвенником красным Пророчит благостную весть. О верю, верю, счастье есть. Звени, звени, златая Русь, Волнуйся, неуемный ветер! Блажен, кто радостью отметил Твою пастушескую грусть. Звени, звени, златая Русь. Люблю я ропот буйных вод И на волне звезды сиянье. Благословенное страданье, Благословляющий народ. Люблю я ропот буйных вод. </td><td valign="top"> * * * Vâng tôi tin, hạnh phúc là có thật! Mặt trời chưa lịm tắt giữa bầu trời. Bình minh - đỏ trang Thánh Kinh trước mặt, Dự cảm bao điều rực rỡ thắm tươi. Vâng tôi tin, hạnh phúc là có thật!. Hãy ngân lên, nước Nga vàng ơi! Ngọn gió mê tơi xao lòng cứ thổi! Ôi sung sướng - ai trong niềm vui mong đợi Còn nhớ nỗi buồn du mục một thời. Hãy ngân lên, nước Nga vàng ơi! Tôi khát tiếng ầm ào dòng nước xiết, Yêu ánh sao trên sóng biếc rung rinh, Yêu nỗi đau cồn cào hạnh phúc, Và những người dân chân chất quê mình. Tôi khát tiếng ầm ào dòng nước xiết. 1917 </td></tr></table> |
Nhà cháu xin phép a dua với bác Tikva bản dịch này nhé
<table><tr><td valign="top"><font size="3"><font color="scarlet"><b> Мне грустно на тебя смотреть</font></font></b> Мне грустно на тебя смотреть, Какая боль, какая жалость! Знать, только ивовая медь Нам в сентябре с тобой осталась. Чужие губы разнесли Твое тепло и трепет тела. Как будто дождик моросит С души, немного омертвелой. Ну что ж! Я не боюсь его. Иная радость мне открылась. Ведь не осталось ничего, Как только желтый тлен и сырость. Ведь и себя я не сберег Для тихой жизни, для улыбок. Так мало пройдено дорог, Так много сделано ошибок. Смешная жизнь, смешной разлад. Так было и так будет после. Как кладбище, усеян сад В берез изглоданные кости. Вот так же отцветем и мы И отшумим, как гости сада... Коль нет цветов среди зимы, Так и грустить о них не надо. Eceнин </td><td valign="top"><font size="3"><font color="scarlet"><b> Ta buồn rầu lặng lẽ ngắm nhìn Em</font></font></b> Ta buồn rầu lặng lẽ ngắm nhìn Em* Ôi nỗi đau và xót thương da diết Chỉ còn lại sắc đồng thôi, có biết Sắc vườn thu tháng Chín giữa hai ta. Những bờ môi ai đó đã mang xa Bầu nhiệt huyết và nồng nàn hơi ấm. Tựa như có mưa phùn bay lấm tấm Tự cõi lòng ta lạnh giá lắm thay. Vậ̣y thì sao! ta chẳng sợ điều này Mở ra trong ta một niềm vui khác. Đã chẳng còn gì giờ đây để mất Ngoài ẩm ướt và vàng úa sầu lo. Đến thân mình ta cũng chẳng đắn đo Dâng cho nụ cười, cho đời tĩnh lặng. Vậy mà khi đời mới trôi vài chặng Nhân gian sao đã thấy lắm sai lầm. Cuộc sống nực cười và thật nhẫn tâm Đã như thế và sau này vẫn thế. Như một nghĩa trang, khu vườn dương thế Đầy lá vàng, xương cốt bạch dương rơi. Ai cũng vậ̣y, lúc hơi thở buông lơi Sẽ lặng câm, đến khu vườn làm khách Hoa mùa đông không đơm xin đừng trách Và đừng buồn, đời vẫn thế người ơi. *”Em” ở đây là một khu vườn đang vào đông, cây lá xác xơ -(Butgai). </td></tr></table> |
<table><tr><td valign="top">* * *
Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, Эту жизнь прожил я словно кстати, Заодно с другими на земле. И с тобой целуюсь по привычке, Потому что многих целовал, И, как будто зажигая спички, Говорю любовные слова. "Дорогая", "милая", "навеки", А в душе всегда одно и тож, Если тронуть страсти в человеке, То, конечно, правды не найдешь. Оттого душе моей не жестко Не желать, не требовать огня, Ты, моя ходячая березка, Создана для многих и меня. Но, всегда ища себе родную И томясь в неласковом плену, Я тебя нисколько не ревную, Я тебя нисколько не кляну. Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, И тебя любил я только кстати, Заодно с другими на земле. 1925 </td><td valign="top">* * * Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói Cuộc đời này tôi sống tạm, thờ ơ, Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. Tôi đã hôn em như một thói quen Bởi đã từng hôn nhiều kẻ khác, Và, hệt như quẹt một que diêm, Tôi thề thốt lời yêu đương tha thiết. “Em thương yêu”, “thân quý”, “trọn đời”, Bẻm mép vậy mà hồn tôi vô cảm, Làm sao còn sự thật ở đầu môi Khi trong lòng mọi đam mê đã cạn. Cũng vì thế mà tôi không nghiệt ngã Không khát khao, không đòi hỏi mặn mòi. Em - cây bạch dương di động của tôi - Tạo Hoá đã sinh em cho tôi và thiên hạ. Và, khi mải kiếm tìm người yêu mới Bị sa vào vòng tù hãm đắng cay, Với em, tôi chẳng ghen chút xíu, Cũng chẳng hề trách móc mảy may. Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ, Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói, Tôi đã yêu em, nhưng chỉ hững hờ Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. </td></tr></table> |
Bác Geo ơi, bản dịch của bác hay quá, duy mỗi từ "bạch dương di động" làm em suýt ngã ngất:emoticon-0102-bigsm! Bác cố tìm từ khác đi bác cho bài thơ thêm hoàn hảo, kiểu như "Em - dáng bạch dương mảnh dẻ của tôi" hay "...lướt nhẹ của tôi" gì đó (em cũng chịu luôn chả tìm ra từ nào thay cái chữ "bạch dương di động-мобильная березка" ấy cả:emoticon-0142-happy
|
Trích:
<table><tr><td valign="top">* * * Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, Эту жизнь прожил я словно кстати, Заодно с другими на земле. И с тобой целуюсь по привычке, Потому что многих целовал, И, как будто зажигая спички, Говорю любовные слова. "Дорогая", "милая", "навеки", А в душе всегда одно и тож, Если тронуть страсти в человеке, То, конечно, правды не найдешь. Оттого душе моей не жестко Не желать, не требовать огня, Ты, моя ходячая березка, Создана для многих и меня. Но, всегда ища себе родную И томясь в неласковом плену, Я тебя нисколько не ревную, Я тебя нисколько не кляну. Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, И тебя любил я только кстати, Заодно с другими на земле. 1925 </td><td valign="top">* * * Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói Cuộc đời này tôi sống tạm, thờ ơ, Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. Tôi đã hôn em như một thói quen Bởi đã từng hôn nhiều kẻ khác, Và, hệt như quẹt một que diêm, Tôi thề thốt lời yêu đương tha thiết. “Em thương yêu”, “thân quý”, “trọn đời”, Bẻm mép vậy mà hồn tôi vô cảm, Làm sao còn sự thật ở đầu môi Khi trong lòng mọi đam mê đã cạn. Cũng vì thế mà tôi không nghiệt ngã Không khát khao, không đòi hỏi mặn mòi. Em, dáng bạch dương uyển chuyển của tôi, Tạo Hoá đã sinh em cho tôi và thiên hạ. Và, khi mải kiếm tìm người yêu mới Bị sa vào vòng tù hãm đắng cay, Với em, tôi chẳng ghen chút xíu, Cũng chẳng hề trách móc mảy may. Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ, Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói, Tôi đã yêu em, nhưng chỉ hững hờ Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. </td></tr></table> Một lần nữa xin cảm ơn USY đã góp ý rất xác đáng. |
Trích:
"Dường như có một cơn mưa nhỏ Rơi tự tâm hồn đang chết cứng đâu đây" Chữ "chết cứng" chưa hợp lắm, nếu như thay được thì tốt. Gợi ý: "cô quạnh nơi đây"... "Hàng bạch dương như xương người rải rác" - không hẳn là xương "người". Cho thêm chữ "người" vào có thể làm mất một phần vẻ đẹp của khổ thơ :emoticon-0136-giggl:emoticon-0102-bigsm |
Hihi, chỗ này là em suy diễn mà bác :). Nghĩa địa thì chắc chắn là chôn ... người (hình như ở Nga không phổ biến nghĩa trang súc vật", vậy xương ở nghĩa địa chắc là ... :D
Còn góp ý của bác về từ "chết cứng" thì bác để em suy nghĩ và trả lời sau nhé, bây giờ em cũng không hiểu tại sao em lại dùng từ này (nói chính xác là chả hiểu em tra những cái từ điển gì mà tìm ra chữ đó). |
Từ "Toàn tập S.A. Esenin đến "Bách khoa thư Esenin"
Từ "Toàn tập S.A. Esenin đến "Bách khoa thư Esenin"
TS. N.I. Shubnikova-Guseva Cách đây hơn 15 năm, Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đã phê chuẩn chương trình biên soạn các bộ tập hợp tác phẩm của các nhà văn Nga thế kỷ XIX và XX, và từ đó đã bắt đầu công việc chuẩn bị các toàn tập của M. Gorki, V.V. Majakovski, A.N. Tolstoi, L.N. Tolstoi, A.A. Blok, sau đó là A.P. Platonov, M.A. Sholokhov, I.A. Bunin và những tác giả khác. Trong khuôn khổ chương trình đó, từ năm 1989 chúng tôi bắt đầu biên soạn Toàn tập Sergei Esenin gồm 7 tập (9 quyển). Việc xuất bản Toàn tập này do Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga thực hiện theo Quyết định của Chính phủ Liên bang Nga nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ. Tập một của Toàn tập đã ra mắt đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh Esenin và ngày 3 tháng Mười năm 1995 đã được đặt dưới chân tượng Esenin trên đại lộ Tverskoi ở Moskva (công trình của nhà điêu khắc A.A. Bitrukov). Tập cuối cùng - tập bảy (quyển ba) đã ra mắt vào năm 2001. Một chặng đường dài gần 11 năm đã hoàn thành - gần bằng số thời gian con đường văn học của Esenin, nếu tính từ ngày công bố bài thơ đầu tiên Cây bạch dương năm 1914 đến ngày nhà thơ mất cuối năm 1925. Có ý nghĩa biểu tượng là "Toàn tập của Esenin" đã trở thành bộ Toàn tập hàn lâm đầu tiên của một nhà văn thế kỷ XX. Sergei Aleksandrovich Esenin (1895-1925) là đại thi hào dân tộc của nước Nga. Tài năng có một không hai của ông bắt nguồn sâu xa từ cảm quan thế giới của nhân dân, văn hoá và lịch sử Nga. Trong số các nhà thơ tiêu biểu và đặc sắc của thế kỷ XX - A. Blok, V. Maiakovski, A. Akhmatova, B. Pasternak, M. Tsvetaeva, O. Mandelshtam…, Esenin được xem là ngôi sao hàng đầu. Trong sáng tác của mình, nhà thơ đã thể hiện thành công một cách mãnh liệt và rực rỡ những mâu thuẫn của thời đại cách mạng, chỉ ra tấn bi kịch và sự vĩ đại của nó, khai mở sâu sắc thế giới phức tạp những trải nghiệm của con người sống trong thời đại của những cuộc chiến tranh và cách mạng. Khác với những văn tài cùng thời, đã trở thành những nhà cải cách nghệ thuật tích cực, Esenin không hạ bệ một cái gì cả, cũng không cự tuyệt một cái gì. Ông hướng về các cội nguồn của huyền thoại Nga, đi theo truyền thống của văn học cổ điển và thế giới, biểu hiện những cung bậc khác nhau nhất của ý thức dân tộc và kinh nghiệm nghệ thuật, gần gũi với tìm tòi của những người theo chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa lãng mạn, các nhà thơ vô sản và tiền phong. Esenin là một nhà thơ dân tộc, qua "tiếng hát" của ông cất lên tiếng nói của toàn thể nước Nga nhiều gương mặt. Ngày nay đó là một trong những nhà thơ được mến mộ nhất, được đọc nhiều nhất ở Nga và nổi tiếng trên toàn thế giới. Thơ của ông được dịch ra hơn 150 thứ tiếng của các dân tộc. Bản thân Esenin là người khởi xướng việc xuất bản các tập hợp tác phẩm của mình. Năm 1922, tại Nhà xuất bản của Z.I. Grzhebin ở Berlin ông đã cho ra mắt Tổng tập thơ và trường ca. Tập một bao gồm phần lớn các tác phẩm sáng tác cho đến thời điểm đó (Tập hai chưa kịp xuất bản). Sau khi trở về nước, vào các năm 1923-1924, Esenin đã nhiều lần thử nghiệm xuất bản tổng tập của mình. Ông lập kế hoạch in thành hai tập. Chính tác giả viết lời nói đầu cho bộ sách hai tập này. Khi biết có khả năng nó sẽ được xuất bản tại Nhà xuất bản Quốc gia, Esenin đã viết cho G.A. Benislavskaia vào tháng 10 năm 1924 như sau: "… xin in lại theo ấn phẩm đã in ở Berlin, đưa thêm vào phần "Moskva của những tửu quán", theo trình tự của tập Đống lửa thanh lương trà(1). Sau khi giải thích cụ thể hơn thành phần, trình tự, cũng như việc chia nội dung thành ba phần: thơ, trường ca nhỏ và trường ca lớn, Esenin nói thêm "Tôi mong chờ tổng tập này đến run rẩy cân não. Giả sử chết đột ngột - người ta sẽ làm mọi việc không đúng như ta muốn". Hợp đồng với Nhà xuất bản Quốc gia về việc xuất bản Tổng tập thơ Esenin gồm ba tập được ký ngày 30 tháng Sáu năm 1925. Trong nửa cuối năm 1925 bản thảo của bộ sách chuẩn bị xong. Nhưng Esenin đã không kịp đọc bản in thử. Những bản in thử đầu tiên được ghi dấu trong nhà in vào chính ngày đưa tang nhà thơ - ngày 31 tháng 12 năm 1925. Toàn bộ ba tập của Tổng tập được ấn hành năm 1926. Sau khi nhà thơ mất, có quyết định in bổ sung tập bốn. Tập sách có tên gọi Thơ và văn xuôi, do I.V. Evdokimov biên soạn, hoàn thành năm 1927. Sau đó đến giai đoạn thơ ca Esenin im hơi lặng tiếng khá lâu. Chỉ đến những năm 60 hai bộ tổng tập gồm 5 tập mới được xuất bản, và đến những năm 1977-1980 thì xuất hiện bộ Tổng tập Esenin gồm 6 tập do V.G. Bazanov làm chủ biên, trong đó phục hồi lại cấu trúc do chính tác giả Tổng tập đã xây dựng. Toàn tập Esenin, do Viện Văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga biên soạn, là một ấn phẩm hàn lâm: đầy đủ về thành phần, được hiệu chỉnh kỹ lưỡng ở phần văn bản và được chú giải một cách khoa học. Ở đây đã được đúc kết kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước trong việc nghiên cứu cuộc đời và sáng tác của Esenin, hiện diện những thành quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm nhiều năm của những người biên soạn và chú giải bộ sách. Trong ba tập đầu tiên, do A.A. Kozlovski, S.I. Subbotin, N.I. Shubnikova- Guseva và E.A. Samodelova chuẩn bị bản thảo, đã được lưu giữ lại đúng thành phần và trình tự tác phẩm do Esenin quyết định trong ấn phẩm năm 1926, nghĩa là tuân thủ hoàn toàn ý nguyện của tác giả. Các tác phẩm được chia thành tập theo dấu hiệu thể loại: Tập một - "Những bài thơ"; Tập hai - "Các trường ca nhỏ" và tập ba - "Trường ca". Các bài thơ chưa được công bố trong ấn phẩm năm 1926 hoặc tìm thấy muộn hơn, được tập hợp lại trong tập bốn, do S.P. Koshechkin và N.G. Iusov chuẩn bị bản thảo. Ở đây có 11 bài thơ của Esenin chưa từng được công bố trước đây trong các Tổng tập của nhà thơ. Có thêm phần "Thơ ngẫu hứng. Ca từ", cũng như phần "Sáng tác tập thể", trong đó giới thiệu tác phẩm Kantata do Esenin viết cùng với M. Gerasimov và S. Klychkov. Tập năm dành cho văn xuôi (biên soạn: A.N. Zakharov, S.I. Subbotin và những người khác), mảng này ít nổi tiếng hơn so với thơ, nhưng rất đa dạng: truyện vừa Khe, các truyện ngắn Bên dòng nước trắng, Chàng độc thân và bạn lòng, các bài phê bình, thiên bút ký về nước Mỹ Mirgorod bằng sắt, các bài báo lý luận, bài văn đả kích viết về Z.N. Gippius Người đàn bà và chiếc kính nhòm… Tập 6, do S.I. Subbotin, A.N. Zakharov, N.I. Shubnikova-Guseva và những người khác chuẩn bị nội dung, gồm 256 bức thư, nghĩa là nhiều hơn 48 bức so với Tổng tập 6 tập gần đây nhất của Esenin. Tập 7 được ấn hành dưới dạng 3 quyển sách (do A.N. Zakharov, S.I. Subbotin, N.G. Iusov và nhiều người khác thực hiện). Các phần chính của quyển một là những tiểu sử tự thuật, các lời đề tặng (khoảng 300), các tuyên bố và tuyên ngôn tập thể, các ca từ và truyện cổ tích do Esenin sưu tầm (Những chuyện ngụ ngôn của Nikolin, sau này được A.M. Remizov hiệu chỉnh). Quyển hai bao gồm các ghi chép riêng của Esenin (phần "Esenin viết"): các ghi chép rời rạc, những kế hoạch, bút tích về sở hữu trên các sách, cũng như các bức thư chính thức, hợp đồng, văn kiện tập thể và thậm chí các áp phích và chương trình dạ hội (tất cả khoảng 40). Quyển thứ ba của tập cuối cùng gồm: danh sách các tác phẩm và văn bản của Esenin đã mất hoặc không rõ gốc tích, cũng như những dự án xuất bản của Esenin; các thư mục, bảng tra cứu cho các tập sách và những phần khác. Thư mục các ấn phẩm của Esenin, các tập sách cá nhân và tập thể được chỉnh lý lại một cách cơ bản. Một số thi tập mới biên soạn khi nhà thơ còn sống, đã được phát hiện. "Niên biểu khung cuộc đời và sáng tác của Sergei Aleksandrovich Esenin" (tập 7, quyển 3) được bổ sung đáng kể và kiểm định lại. Tư liệu này giới thiệu cho chúng ta cuộc đời ngắn ngủi, đầy bi kịch và những sự kiện lớn lao của nhà thơ từ khi sinh ra cho đến cái chết bi thảm ở khách sạn "Angleter". Trong niên biểu này cũng chỉ ra thời gian sáng tác và công bố những tác phẩm đầu tiên của Esenin. Lần đầu tiên có được những thông tin chuẩn xác về các chuyến đi của Esenin, trong đó có các chuyến ra nước ngoài, về những bài phát biểu của ông và các cuộc gặp gỡ bạn bè và sáng tác với các nhà hoạt động văn hoá. Ở đây cũng có phần "Esenin qua ảnh", gồm 103 bức ảnh nhà thơ (chụp riêng và với những người khác) kèm theo những chú thích khoa học, thời điểm của nhiều bức ảnh được minh xác. Việc tìm kiếm các tên tuổi, cũng như những thông tin cần thiết trong các văn bản và lời bình chú của ấn phẩm trở nên dễ dàng nhờ các bảng chỉ dẫn rất đa dạng. Bên cạnh tính đầy đủ, bộ Toàn tập của Esenin còn khác biệt được chuẩn bị rất công phu về mặt văn bản và được chú giải một cách khoa học và tận tường, phần chú giải chiếm số trang lớn. Ở đây có nhiều thứ lần đầu tiên được thực hiện. Một công việc khoa học khổng lồ đã được tiến hành, hơn 500 phiên họp của nhóm được tổ chức, mà phần lớn trong chúng là dành cho các vấn đề văn bản học. Điểm đặc biệt lớn nhất của bộ Toàn tập mới là tính đầy đủ của nó. Ở đây tập hợp không chỉ tất cả các tác phẩm đã được biết của nhà thơ, mà cả những ghi chép tản mạn riêng lẻ và các tư liệu khác, trong đó có những tư liệu đến nay chưa từng được biết. Gần 50 bút tích chưa ai biết tới được đưa vào sử dụng khoa học. Trong đó có cuốn sách viết tay duy nhất trong di cảo của Esenin Đất nước của những kẻ vô lại, nó một lần nữa bác bỏ ý kiến cho rằng bản trường ca đó còn chưa hoàn thành; thủ bút Chuyện cổ tích về chú mục đồng Petia…, bản thảo các trường ca Us và Otchar, cũng như tiểu sử tự thuật của ông, lưu giữ tại phòng lưu trữ Bakhmetrev của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Việc nghiên cứu và phân tích so sánh các bản viết tay đã cho phép giải phóng nhiều văn bản của nhà thơ khỏi những sai phạm và lỗi in trước đây. Những trường hợp can thiệp của kiểm duyệt được làm rõ. Các tác phẩm của Esenin lần đầu tiên được công bố hoàn toàn đầy đủ, không cắt xén. [...] Đối với một loạt tác phẩm của Esenin được đưa vào tập 2 như Us, Tiếng gọi du dương, Đồng chí, Otchar, Giáng thế, thì việc có ý nghĩa quan trọng là việc sắp đặt theo đồ thị văn bản của các tác phẩm, tách biệt các khổ thơ và dòng thơ cho hợp với ý đồ sáng tạo. Tập sách này đã cố gắng khôi phục lại cách xếp sắp văn bản theo đồ thị của tác giả ở những nơi nó đã bị làm sai lệch. Văn bản của tất cả các trường ca “lớn” (thuật ngữ của Esenin) (Pugachov, Đất nước của những kẻ vô lại, Bài ca về cuộc hành binh vĩ đại, Trường ca về 36, Anna Snegina, Người đen) cũng được chỉnh sửa, khôi phục lại các đoạn bị kiểm duyệt trước đây lược bỏ. Ví dụ, trong Bài ca về cuộc hành binh vĩ đại đã khôi phục lại tên tuổi L.D. Trotski được Esenin nhắc tới. Thậm chí cả những chỉnh sửa văn bản học “vụn vặt” nhất cũng có ý nghĩa quan trọng, ví dụ, việc làm chuẩn lại chỉ một chữ cái: “a”, được chuyển thành “o” trong tập hợp từ “kommunisticheskie vzgliady” (những quan điểm cộng sản) có thể thay đổi toàn bộ ý nghĩa của bản trường ca Đất nước của những kẻ vô lại. Nhưng điều chủ yếu là tập ba đã giới thiệu Esenin như một nhà thơ sử thi mãnh liệt, chứ không chỉ là một nhà thơ trữ tình như nhiều người đến nay vẫn tưởng. Vấn đề xác định thời gian là vấn đề văn bản học phức tạp nhất. Esenin lần đầu tiên đề ngày tháng năm dưới nhiều bài thơ thời hoa niên của mình, viết những năm 1910-1914, vào năm 1925 trong khi ông tập hợp các sáng tác cho “Tổng tập thơ” của mình, song bản thân ông cũng nghi ngờ tính chính xác của chúng. Không còn tư liệu nào khác để khẳng định thời điểm sáng tác của những kiệt tác đầu tay này. Phần lớn trong chúng chỉ được công bố bắt đầu từ năm 1915. Đồng thời cũng hoàn toàn rõ là vào những năm đó nhà thơ viết nhiều bài thơ khác hẳn, chúng hoàn toàn khác những bài đã nói về nội dung và trình độ nghệ thuật: Nhà thơ, Những ngôi sao, chùm thơ Những suy ngẫm đau đớn, v.v... Nhiều thời điểm sáng tác các tác phẩm do tác giả đưa ra đã được làm chuẩn lại, một số khác, do không có các tư liệu phản bác, vẫn được giữ nguyên như một phần của văn bản tác giả, song tất cả các trường hợp còn nghi ngờ đều được trình bày chi tiết trong phần chú giải. Phần “Khảo dị” lần đầu tiên giới thiệu đầy đủ các dị bản của các tác phẩm theo tất cả các nguồn văn bản được biết đến từ trước tới nay. Bản nháp các tác phẩm của Esenin còn lưu giữ được cho thấy Esenin đã gia công nhiều thế nào những bản thảo của mình. Dung lượng các dị bản của “Pugachov” lớn gấp bốn lần văn bản chính. Một số dòng thơ có tới 31 phương án. Việc đọc các thủ bút của Esenin, viết bằng nét chữ nhỏ li ti, thường là bằng bút chì, bị gạch xoá nhằng nhịt hoặc mờ đi và phai màu bởi thời gian, là một công việc tốn rất nhiều công sức (chỉ riêng việc xử lý bản nháp “Pugachov” đã chiếm mấy năm trời). Chúng đã được giải mã dưới dạng đầy đủ nhất. Lần đầu tiên từng đoạn văn bản của Esenin chưa từng biết đến trước đây đã được đọc một cách chuẩn xác. Điểm nổi bật của xuất bản phẩm này là sự chú giải hàn lâm chi tiết. Các chú giải cung hiến thông tin về các nguồn thư bản và ấn phẩm của các văn bản, nêu rõ lịch sử sáng tác của tác phẩm, các nguyên mẫu nhân vật, giải mã những liên hệ ẩn kín mang tính tiểu sử, lịch sử, văn chương trong các văn bản và rất nhiều hình ảnh bí hiểm của nhà thơ. Các chú giải như thế cho phép hiểu không chỉ bề rộng các mối quan tâm của Esenin như một độc giả, mà còn cả thực chất các tác phẩm của ông. Thí dụ trong những chú giải cho trường ca Anna Snegina (1925) đã làm sáng tỏ tính đa nghĩa và sự phong phú của ngữ điệu trong bản trường ca, gắn với những điểm nhìn khác nhau của các nhân vật đối với những sự kiện diễn ra và đối với hình tượng quyến rũ của nữ nhân vật chính, mà đằng sau nó có thể đoán ra ba người phụ nữ tuyệt vời đã làm rạng rỡ tuổi trẻ của Esenin. [...]. Các chú giải cho trường ca Người đen làm sáng rõ ngữ nghĩa và tính biểu tượng của những hình tượng như tấm gương, kẻ song trùng, các môtip Kinh Thánh, các đặc tính biểu hiện của hội Tam Điểm, phát lộ cơ sở thơ ca - huyền thoại của một trong những tác phẩm bí hiểm nhất trong thơ thế giới. Đã được cho thấy có mối liên hệ đối thoại giữa bản trường ca với các tác phẩm Mozart và Salieri của A.S. Pushkin, Bức chân dung của N.V. Gogol, với Dostoievski (con quỷ trong Anh em nhà Karamazov), A. Musset (Đêm tháng Chạp), v.v… Trong số các tác phẩm văn xuôi của Esenin, bài viết lý luận Những chìa khoá của Maria (1918; 5, 448-500) được chú giải sâu sắc nhất, với những mô tả các nguồn văn bản vô cùng phong phú do S.I. Subbotin thực hiện. [...]. Toàn tập Esenin cho thấy sự dung dị trong thơ ca cái gọi là “tính giản dị” của “nhà thơ nông dân có thiên tài bẩm sinh" này là huyền thoại, là một trong vô số mặt nạ của người con Thế kỷ Bạc Nga Hiện nay nhóm Esenin đang biên soạn công trình năm tập Biên niên sử về cuộc đời và sáng tác của S.A. Esenin. Hai tập đầu đã ra mắt trong các năm 2002 và 2005, bản thảo tập ba đang hoàn thành. Bộ biên niên sử nhiều tập đầu tiên này là một tiểu sử khoa học giàu tư liệu về nhà thơ, một tập hợp đầy đủ nhất các chứng tích về những sự kiện của cuộc đời ông, thống kê các tác phẩm và thư từ, các bài báo và ấn phẩm, những bài phê bình lúc sinh thời, các hồi ức về ông và tác phẩm của ông trên báo chí, qua thư từ và nhật ký của những người cùng thời, được sắp xếp theo trình tự thời gian và được hiệu chỉnh qua tất cả các cội nguồn có được đến ngày hôm nay. Công trình như thế được tiến hành khả thi là nhờ thành quả nghiên cứu khoa học trong nhiều năm và những thu thập từ công chúng của các học giả trong và ngoài nước. [...]. Trong tương lai nhóm Esenin của Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga có kế hoạch chuẩn bị và xuất bản cuốn Bách khoa thư Esenin, trong đó mỗi người có thể tìm thấy mọi thông tin cần thiết về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ dân tộc vĩ đại của nước Nga. Tổng kết một giai đoạn nhất định trong công cuộc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ dân tộc Nga vĩ đại, một bộ bách khoa thư như vậy có khả năng đưa ra bản tổng hợp đầy đủ những tư liệu về cuộc đời và sáng tác của Esenin, từ hoàn cảnh văn học và đời sống, lịch sử di sản của ông trong nghệ thuật, những tượng đài kỷ niệm ông, các bảo tàng văn học, v.v… cho đến những thông tin về những người dưới nhiều hình thức khác nhau nghiên cứu và quảng bá sự nghiệp của nhà thơ. Những bộ cẩm nang dạng bách khoa thư như thế về sáng tác của từng nhà văn thường tạo được nhu cầu lớn không chỉ trong giới khoa học, mà còn giữa đông đảo các giới độc giả... Ý nghĩa của Bách khoa thư Esenin vượt xa khỏi khuôn khổ ngành nghiên cứu Esenin nói riêng. Sáng tác của Esenin phản ánh rất nhiều đặc điểm của thời kỳ văn học những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX và vì thế một công trình tổng kết các thông tin tư liệu và nghiên cứu như vậy là một nguồn quan trọng để hiểu được những bình diện khác nhau của lịch sử văn hoá Nga giai đoạn đó (1) TỪ THỊ LOAN dịch _______________ (1) Esenin Sergei. Toàn tập. Gồm 7 tập (9 quyển). M. Nauka-Golos. 1995-2001. Tập 6, tr.183-184. Tiếp theo mọi trích dẫn từ xuất bản phẩm này sẽ được ghi chú ngay trong bài viết, những con số trong ngoặc đơn chỉ tập và trang. Đống lửa thanh lương trà là tập thơ chưa công bố của nhà thơ. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:55. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.