![]() |
Mấy năm trước tôi làm việc như một Cộng tác viên tư vấn cho Viettel ở Headquarter tại số 1 Giang Văn Minh. Rất nhiều lần đi dọc con phố Giang Văn Minh và cũng đã rất nhiều lần tự hỏi Giang Văn Minh là ai. Vẫn cứ nghĩ Giang Văn Minh là tên của một anh hùng nào đó thời chống Mỹ hay chống Pháp cơ. Hóa ra là bé cái nhầm, thật là tự thẹn.
Hai hôm trước, cả buổi chiều tôi bỏ tất mọi công việc, lần mò trên Internet đọc lại nhiều điều về cuộc chiến cách nay 32 năm và hồi tưởng lại những ngày lặn lội trên trục đường 70 (ngày trước gọi là đường Hữu Nghị 7), tình cờ thấy dẫn đến mục Giang Văn Minh của Wikipedia Việt. Xin ghi lại đây để nhiều người cùng biết - hãy sống và nhớ mãi. http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp: Ông sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945), (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây , Hà Nội. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi. Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630), Thái bộc tự khanh (1631). Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công. [sửa] Giai thoạiVào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638. Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc. Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã xanh Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong). Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" Nghĩa là: Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước. Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ). Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình. Tác phẩm: Hoa Nghiêm tự bi: trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh. Đánh giá: Ông là người trí dũng song toàn. |
Bác Bình Dị có dịp lên làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây trên đường vào thăm chùa Mía, ngôi chùa cổ kính rất đẹp, bác nhớ rẽ vào thăm Đền thờ Thám hoa Giang Văn Minh nhé.
http://diendan.nuocnga.net/showthrea...2562#post62562 |
[QUOTE=USY;79213]Bác ạ, bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, nhưng lời thì biến đổi tương đối, thành ra thiên về tính chất trữ tình hơn:
GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG Nhạc: Thuận Yến Thơ: Dương Soái Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo, Cứ chiều chiều ra sông gánh nước đem lòng mình gửi về miền biên giới. Sao chẳng nói nên lời nhưng nặng tình yêu thương. Bác USY bỏ sót mất một câu, xin bổ sung cho đủ nhé. Thực ra bài này bây giờ có dịp là tôi vẫn hát và hát song ca với một nữ đồng chí nào đó chứ bài này không hát đơn ca hoặc đồng ca. Khi biết bài hát này tôi cũng chưa biết bài thơ gốc, các nhạc sỹ phổ nhạc thường là nâng bài thơ lên một tầm mới nhưng cũng lược bỏ đi một vài đoạn cho hợp với tiết tấu của bản nhạc nhưng quan trọng là phải giữ được ý chính và nội dung của bài thơ. Có lẽ nhạc sỹ muốn làm cho bài thơ dịu đi theo hướng trữ tình chăng? |
Sự “lên gân” của Khựa
Nhà Khựa được ngăn với nhà Hai Lúa bởi hàng rào hoa râm bụt. Sáng sáng, Khựa thường hay đứng ở hàng ba gọi với qua ý “hỏi thăm sức khỏe” thằng em láng giềng. Thỉnh thoảng cũng có hục hặc vài chuyện cỏn con, chờ khi trăng sáng, hai nhà lại bắc ấm nước,ngồi “uống trà rồi từ từ thương lượng”. Tiếng là chung sống hòa bình nhưng đêm đêm Khựa lại sân si tới ao cá nhà thằng em… kiếm chuyện. Có lúc, Khựa còn lén sai người đi bắt cá trộm của nhà thằng em. Bị phát hiện mấy lần, Khựa vẫn gật gù “tốt, tốt”! Rồi Khựa đổi chiêu: “Cấm cửa con cái thằng em mon men đến ao nhà bắt cá”. Khựa lệnh cho đám lâu la: Hễ thấy người nhà thằng em mon men tới là bắt giữ ngay, để còn đòi tiền chuộc. Nhưng cái sự sân si trong Khựa vẫn chưa dừng. Vẫn khao khát ăn dày trên ao nhà người khác, Khựa chơi bạo: Vô thẳng ao nhà thằng em xúc cá, còn cấm nhà thằng em bén mảng ra ao. Tới đây thì nhà Hai Lúa vùng cự quyết liệt, hàng xóm xúm chửi Khựa tưởng như vuốt mặt hổng kịp. Nhưng Khựa đâu cần quan tâm mấy lời chửi đó. Tổ tông nhà Khựa bao đời nay vốn vậy nên máu mủ trong người Khựa cũng vậy. Nghe đâu Khựa còn tự đắc là mình ngày càng đa mưu túc trí. Đa mưu là đúng. Chả là Khựa đang tiến một bước dài trên bước đường… ăn cướp! NGƯỜI SÀNH ĐIỆU Nguồn: http://phapluattp.vn/201106011259212...n-cua-khua.htm P/s: Có lẽ từ 1979 tới giờ mới thấy có bài báo kiểu này không bị bóc. |
|
Không biết ngoài chợ có bán lưỡi bò không nhỉ ?
|
Đọc cái này:
http://www.vietnamplus.vn/Home/Tau-T...6/93102.vnplus Tôi không muốn nói ( bàn ) đến chính trị mà chỉ thêm 1 lần muốn nhắc: “Hãy sống và nhớ mãi” |
Một nén nhang cho ngày hôm nay.
|
Trích:
Chỉ là giá ngày đó có biết rằng không bao giờ có những khoản nọ khoản kia ấy thì những người lính vẫn cứ chiến đấu như thế thôi, vẫn sẵn sàng đón cái chết nếu cần - hướng dọc đường 70 (đường Hữu nghị 7) ấy, ta chọi địch 1 đánh gần 20. Bởi lùi mãi rồi, hôm nay còn đang ngang đường từ Cốc Sam sang ga Phố Lu, mấy hôm sau đã lùi xuống trên Phố Ràng 10 km, tuần sau nữa đã lại xuống dưới Phố Ràng gần 10 km nữa. Không thể lùi được nữa, đằng sau lưng đã là Hà Nội. Hồi ấy, mấy lần đi qua Phố Ràng - khi bằng xe ô tô, nhiều lúc lội bộ - cứ tự hỏi mãi đâu là cái đồn mà Trần Đăng ngày xưa đã tả trong Trận Phố Ràng? |
Trích:
Có gì không phải mong cụ nhẹ tay ạ. :emoticon-0100-smile |
Trích:
http://i917.photobucket.com/albums/a...i09/gao2-1.jpg http://i917.photobucket.com/albums/a...omai09/gao.jpg Sang Mỹ, SM được xem tiểu thuyết "Xe lên xe xuống" của Nguyễn Bình Phương, viết về cuộc chiến ngày đó. Nhà văn nén lòng mình khi nói đến "bên kia"... không thèm chỉ đích danh... Nhưng cuốn sách cũng chỉ có thể in ở ngoài biên giới. Cuốn tiểu thuyết được coi là thành công nhất của ông, một cuốn sách để đời. Trong trận chiến ở Lao Cai, 1 nhà địa chất ở thế hệ của SM đã hy sinh và trở thành anh hùng, đó là anh hùng Nguyễn Bá Lại. Và họ, những anh hùng của thời ấy, kể cả Lê Đình Chinh... đã không bao giờ được nhắc lại trong những ngày đáng nhớ này. Thật buồn khi cuộc chiến gần đây nhất đã bị lãng quên nhanh nhất... |
Trích:
Có đứa bị nhà mình đá đểu (chả biết đá trúng vào cái chi mà xem ra từ hổm rồi vẫn thấy anh ách anh ách), không biết phản pháo bằng chuyện chi mới cố mõi mấy cái chiện lãng xẹt này. Chỉ là y biết một mà không biết hai thoai. Thì nghe nhé. Các địa danh ở VN thì hay có nhiều cách gọi na ná nhau, là do dân người gọi thế này, kẻ nói thế khác. Lính tráng thì thường không phải dân bản xứ lại gọi theo tên trên bản đồ tác chiến, có khác cũng là chuyện rất thường tình. Cũng cần nói thêm là, bản đồ thì ngày trước chủ yếu là in lại theo bản đồ có từ thời Pháp thôi (mấy năm chiến tranh, người người ra trận, mọi của cải đều đổ ra tiền tuyến cả, còn đâu người và phương tiện mà đi đo/vẽ bản đồ chi tiết tất cả miền Bắc chứ), có sai khác với tên gọi dân dã cũng là thường. Thế nên mới có các tên gọi như Hồng/Hòn Gai, Lao/Lào Cai, Yên Bái/Báy, Hòn Dấu/Dáu, vân vân và vân vân. Cái ngã ba Cốc Sam/San kia cũng vậy. Dân Kinh đi khai hoang thì gọi là Cốc Sam, trên bản đồ tác chiến cũng ghi là Cốc Sam, còn dân địa phương gọi nó thế nào lão đâu có hay bởi ngày ở trên đường từ ngã ba ấy sang Phố Lu (lão cũng mới chỉ lên đến đó chiều 20 thì tối 22-2 gì đó đã có lệnh rút, sáng sớm tờ mờ hôm sau pháo TQ đã nã dày đặc vào đó, tốp lính cuối cùng thu dọn dây và tổng đài dã chiến của quân khu bộ do anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy chạy về được đến trung đoàn bộ thì thành xe đã chi chít vết mảnh pháo, may mà không ai thương vong, 10 giờ sáng thì lính TQ đã tràn vào) lão chỉ đóng trong nhà dân Kinh lên đó từ thời Quốc Hương hát "anh đi khai phá miền Tây/rừng núi bao la bừng giấc say" thôi, họ gọi là Cốc Sam, chứ có ở với người dân tộc đâu nghe dân bản địa gọi thế nào. Sau đó lùi xuống trên Phố Ràng 10 km mới đóng trong nhà người Mán. PS: Bây giờ tìm kiếm trên mạng và Google Earth thì thấy cái ngã ba ấy gọi là ngã ba Bắc Ngầm trên đường 70, từ đó theo đường 4E sang Phố Lu. Thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai (ngày xưa là tỉnh Hoàng Liên Sơn). Ngày tôi lên đó, đóng quân mấy ngày đầu tại phía Nam đường 4E trên đất xã Xuân Quang, cách ngã ba Bắc ngầm chừng 4-5 km. Sau khi chúng tôi rút, địch đã tràn vào, sau đó một tiểu đoàn đặc công của ta rút từ phía bắc về ngang qua chỗ đó bất ngờ gặp một tiểu đoàn lính Trung Quốc đang hành quân trên đường ra phía ga Phố Lu, mặc dù đạn dược cũng đã gần cạn quân ta vẫn bất ngờ từ trên vách ta-luy đường đánh xuống. Trận tao ngộ chiến bất đắc dĩ ấy tiểu đoàn đặc công của ta đã đánh giáp lá cà và diệt sạch tiểu đoàn ấy của địch. Họ rút về đứng chân trên chỗ chúng tôi chừng gần 3 km, phía bắc cái ngầm (ở đó có một cái ngầm to qua suối - có lẽ vì vậy mà cái ngã ba kia mới có tên Bắc Ngầm chăng?) mà từ đó có đường rẽ vào chỉ huy sở tiền phương dã chiến của QK2 nên thỉnh thoảng chúng tôi có mò sang. Nhìn trên Google Earth bây giờ tôi vẫn nhận ra cái nhánh đường (cụt) rẽ vào quân khu bộ xưa, nơi có cái chóp vô tuyến tiếp sức chúng tôi đã leo lên đó sửa máy P401 nối thông liên lạc giữa hai cánh trái và phải sông Hồng. Gần bảy năm sau, sát Tết năm 1986, tôi lại có dịp quay lại chiến trường xưa, lên đúng chỗ ngày đầu lên mặt trận đã tới - khi đó đã là nơi quân đoàn 26 đóng - để giao thiết bị, vẫn nhớ và nhận ra những nơi đã từng qua dạo chiến tranh. @ chị SM, Không chỉ có bộ đội, lính biên phòng hay cán bộ dân-chính-Đảng hy sinh trong chiến đấu để cản địch trên hướng Lao Cai ngày ấy đâu. Dân chết cũng là chuyện thường. Đến cả tù nhân trong các trại tù cũng hy sinh trong chiến đấu cản địch nữa đấy. Có thể nói khi đó mỗi một trẻ em, mỗi một người dân vùng biên ải đều là mỗi anh hùng. Trong những ngày đóng trong nhà người Mán, có lần thấy ông chủ nhà kéo dây dong về 2 gã trai bị trói thúc ké với nhau. Hỏi thì hóa ra là tù từ trại giam Hùng Thắng B của Bộ Công An (ở cách chỗ tôi lên lúc đầu chừng 1.5 km) được thả rông chạy về qua đó, đói quá vào ăn trộm gạo của dân trong cối gạo trên nương, bị bắt sống. Song cũng có hôm, có 2 anh chàng như thế với 1 khẩu K44 về qua chỗ chúng tôi xin ăn. Khổ, cũng chẳng có gì, chỉ là ngô xay thôi ăn với muối rắc vào (những bao ngô 80 kg mà tôi đã cùng anh em vác ngược từ xe quân nhu từ dưới đường Hữu Nghị 7 lên nhà trong mưa - ngày ấy tôi cao 1m7 cũng chỉ nặng chừng 46-47 kg gì đó thôi, gày nhóc, mãi ngày sang đến Hung cũng mới chỉ lên tới 49 kí lô), không có gạo đâu, có bận thấy bộ đội ăn trưa bên sườn đồi, ông chủ nhà đi ngang qua bảo "Ố, cái bộ đội ăn không bằng con lợn nhà tao đâu vớ" - lợn nhà ông ấy ăn cám nấu với gạo nương ạ. Những người ấy cũng là tù từ trại Hùng Thắng B. TQ đánh đến không kịp di tản, ban chỉ huy trại giam quyết định thả họ ra, dặn rút xuống Phố Ràng tập trung, dưới đó sẽ có bộ phận thu dung, phát giấy phép cho về quê, hẹn ngày ra trình diện chấp hành nốt án phạt. Hai người đó cùng nhiều người nữa đã không bỏ chạy mà cùng với tự vệ của trại tổ chức chiến đấu, súng không có đâu, chỉ khi tự vệ hy sinh mới có súng của người đã ngã xuống mà chiến đấu thôi. Súng của họ về đến chỗ chúng tôi đã chẳng còn viên đạn nào, hy sinh cũng gần hết rồi họ mới rút, hòa theo dòng người dân chạy giặc dài dằng dặc trên đường xuôi xuống. --- Những ngày ấy chúng tôi được ông chủ nhà người Mán - chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, có 1 khẩu tiểu liên K50 băng tròn vũ khí của Hồng quân LX từ thời WWII đi đâu cũng đeo - bố trí cho ngủ trên sàn chìa ra dốc đồi, bên dưới là chuồng nhốt trâu, đêm đến trâu lịch kịch và hôi mù nên chỉ khi mệt lắm rồi mới ngủ thiếp đi được. Từ đó nhìn ra đường Hữu Nghị 7 (đường 70 từ Lao cai xuống Yên Bái nối vào QL2 theo cách gọi bây giờ, tiếng Mán gọi là "châu lồ", chắc là từ chữ "châu lộ" - đường liên châu - mà ra), đêm đêm bập bùng lửa đốt sưởi của dân chạy giặc trú lại trên mặt đường trong những cái lán lợp lá chuối, cứ 15-20 m lại có một cái như thế. Ban ngày thì bà con lại gồng gánh dắt díu nhau chạy giặc tiếp xuống phía dưới. Những đứa trẻ bẩn thỉu bùn đất bám vào quang gánh của cha mẹ lếch thếch theo sau, có đứa bé chỉ chừng 10 tuổi lại 1 chân dận giày Cô-xư-ghin, chân kia dận giày ba ta bộ đội - chắc là nhặt được do lính ta bỏ lại trên đường rút - lệt sà lệt sệt, trông thương lắm. Nhiều người đói vì đã nhiều ngày chỉ ăn vớ vẩn những lá cùng lẩu, chúng tôi lại phải sẻ khẩu phần thảm hại của mình cho họ, nhất là cho phụ nữ còn đang cho con bú. Nhiều người đã chạy từ tận thị trấn Mường Khương về. Họ kể, đang chạy từ Mường Khương về ngã ba Bản Phiệt thì họ thấy trên đường có xe tăng đang tiến từ ngã ba Bản Phiệt lên nên hò reo vui mừng. Nào ngờ chúng nổ súng máy vào họ, thì ra đó là xe tăng TQ đánh từ Lao Cai xuống ngã ba Bản Phiệt rồi vòng lên tập hậu thị trấn Mường Khương. Chết nhiều người lắm, những người còn sống chạy thốc vào rừng và cắt rừng núi chạy về chỗ chúng tôi, nỗi kinh hoàng vẫn còn đọng trên nét mặt. Thương nhất là bọn trẻ con, yếu ớt, đói khát và rét mướt. Nhiều đêm nằm trên sàn nhìn ra những đống lửa dân đốt bên đường, tôi cứ tự ước và hẹn rằng nếu mình sống sót qua đận này và được đi học thì dù thế nào sẽ cố học cho thật tốt. Rất may là tôi đã giữ được lời hứa năm ấy. --- Những ngày này trên các mặt báo tịnh không một chữ nhắc lại trận chiến năm ấy. Tôi thì vẫn chỉ hay vơ vẩn nhớ lại những ngày đó, không sao quên nối được. Cũng biết là ta không nhắc lại là vì nghĩa lớn chứ chẳng phải là ta sợ (@ Dương Danh Dy) song vẫn buồn. Địch chủ động đánh rất dữ, quân đông gấp bội bên mình (hướng đường 70 ấy quân ta chỉ có mỗi một trung đoàn bộ đội địa phương 254, cộng với một ít quân của trung đoàn 196 mà ban chỉ huy trung đoàn đã bị tiêu diệt ngay đêm đầu do địch bất ngờ tập kích chỉ huy sở - không hiểu sao bây giờ lại thấy ghi eBB192, có lẽ là khi đó mới chia quân từ quân khu Việt Bắc ra thành QK1 và QK2 nên lính vẫn quen gọi tên trung đoàn theo tên cũ là eBB196 từ hồi còn QK Việt Bắc, chứ eBB196 chính thức ngày ấy đang đánh nhau ở mặt trận Lạng Sơn - và một trung đoàn e168 pháo binh chống cự lại 4-5 sư đoàn của địch có nhiều pháo và xe tăng yểm trợ; quanh mỏ Cam Đường bên kia sông Hồng thì có sư 345 quần nhau với cả gần chục sư của địch, xa nữa trên Sa Pa thì chỉ có 2 trung đoàn của sư đoàn 316 anh hùng chống lại địch giữ thị trấn - cả thày hướng Tây Bắc địch huy động 18 sư đoàn do tướng Dương Đắc Chí thuộc quân khu Vân nam chỉ huy đánh sang ta). Đạn không đủ mà bắn cho xuể. Có bao nhiêu đạn đều dồn ra chốt cả mà còn chẳng đủ. Từ dưới xuôi lên, lúc ra đi tôi có 17 viên AK cài trong hai lam tiếp đạn súng CKC - là đạn xin được kỳ tập bắn đạn thật cuối hè 1978, lên đến nơi thấy lính thông tin đi nối dây mà hộp đạn AK rỗng không mới đem ra chia, mỗi khẩu được 2-3 viên. Có hôm 9 giờ tối báo dây điện thoại đứt, thiếu người đi nối dây, tôi và một cô lính mới trẻ măng (khá xinh, mà không sao nhớ tên, da rất trắng mà lại mặc bộ quân phục vải do Triều Tiên viện trợ bạc màu rất nhanh trắng phớ nên tối mù tối mịt vẫn nhìn rõ - sau này về kể cho cha tôi chuyện quần áo vải Triều Tiên bạc phếch, cụ trầm ngâm bảo "Thế là rất nguy hiểm vì đánh nhau thì lộ, địch nó ngắm bắn dễ lắm do nổi rõ trên nền lá xanh của rừng") dắt nhau lần theo dây đi tìm chỗ đứt trong rừng. Tối mò mò, đen như mực bởi có ánh trăng cũng không xuống tới được vì cây rừng bít bùng. Thám báo địch có thể cắt dây rồi nằm phục chờ bắt lính thông tin ta đi nối, không thể biết trước được. Tôi dặn cô bé: "Đưa anh cây AK, em cứ cầm đèn pin soi tìm dây, thấy thì nối, anh sẽ ở ngay bên em yểm hộ, nếu địch bắn thì trong đêm sẽ rất khó trúng, em cứ tắt đèn mà chạy ngược về, anh sẽ cố cản chúng lại". Chỉ có 3 viên đạn trong băng khẩu AK của cô ấy và 18 viên đạn súng ngắn K54 của tôi thôi song nếu có địch thì một là đang đêm, hai là ta trên đất mình còn với địch là đất lạ, bố bảo chúng cũng chẳng dám ham đuổi khi đã có tiếng súng bắn trả dù chúng có liều lĩnh và thiện chiến đến mấy. Tôi tin là như vậy. Rất may là lần đó dây chỉ đứt khá gần bìa rừng, chắc là do dây cáp dã chiến rải trên đất (hạ dây từ trên các cành cây xuống đất từ ban ngày để nếu có rút thì thu dây cho nhanh được - thế tiến của địch mấy ngày đầu ấy còn đang mạnh) bị trâu bò đi qua đá đứt thôi. Sau này năm 2007, nhớ lại cái đận ấy, nhân thơ thẩn về Trăng, tôi mới có mấy dòng văn vần đã ghi ở đây http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=928 Mãi cả hơn 1 tuần sau mới có xe đạn chở lên cấp cho trung đoàn, đổ 1 đống vàng chóe trên sàn ngủ của chúng tôi trong nhà ông chủ tịch xã người Mán, nơi trung đoàn bộ đóng: lựu đạn, đạn AK, đạn K54, tha hồ lấy, bao nhiêu cũng được, không ghi sổ. Lạ cái, đạn và ngô thì còn chưa tiếp tế, lại thấy chở lên trước cả một đống sách! Tôi cũng nhặt được 2 cuốn, trong đó bây giờ vẫn còn giữ cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do đại tá nhà văn Hữu Mai ghi. Kỷ niệm chiến trường giờ chỉ còn có cuốn này và một cuốn sổ bỏ túi ghi vắn tắt những ngày ngoài mặt trận (giờ lạc đâu trong nhà mà chưa có lúc nào rỗi rãi tìm lại). http://i745.photobucket.com/albums/x...212_0457-1.jpg |
Trích:
Riêng về địa danh Cốc Sam/San, thì trong tài liệu địa chất của Pháp trước đây có ghi la Coc Xan. Họ lập một phân vị địa chất có tên là "Série de Coc Xan", nên sau này những người địa chất chuyển sang tiếng Việt cũng ghi là Cốc Xan (hoặc Cốc San). SM cũng đã đi làm trên vùng này, và chưa thấy ai gọi Cốc Sam! Tra trên Google thì có thống tin sau: Ðộng Cốc San thuộc xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Cốc San là một hệ thống các thác nước và các hang động to nhỏ khác nhau, vì vậy người ta có thể gọi đây là động Cốc San hoặc thác Cốc San. Đường vào Cốc San rất ngoằn ngoèo, tối và bị lấp bởi những tảng đá, vẻ đẹp của Cốc San vẫn hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, hoang sơ. Nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 7km, Cốc San đã từ lâu được biết đến như một điểm du lịch lý tưởng của người dân thị xã. Từ quốc lộ 4D, một con đường đất nhỏ có chiều dài khoảng hơn 1km dẫn vào Cốc San. Hai bên đường là những cánh đồng nhỏ và làng xóm của dân địa phương. Khi còn cách Cốc San khoảng 300 - 400m, bạn đã có thể nghe được tiếng suối chảy rầm rì. Như vậy, ít ra là hiện nay, Cốc San là tên gọi đang được sử dụng về mặt hành chính của miền đất ấy. Nhưng có điều còn băn khoăn, không biết địa danh này với chỗ bác gọi là Cốc Sam có phải là cùng một nơi không? |
Trích:
|
Trích:
Phòng em có 2 đứa giữa 7-x, còn lại là 8-x. Hôm nọ nhắc ngày 17/2 mặt chúng nó nghệt ra, chẳng biết ngày đó là ngày gì. Cũng không trách chúng được. Báo chí Liên Xô và Nga cũng hay đề cập đến "cuộc xung đột" này, nhất là những năm kỷ niệm chẵn. Có lẽ bác ngbinhdi muốn nói đến Bí thư thứ nhất Dương Danh Dy, phải không ạ? http://www.bbc.co.uk/vietnamese/inde...ngdanhdy.shtml Về sự kiện 17/2/1979, bác nào muốn đọc bằng tiếng Nga thì ở đây: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9A%...%B0_%281979%29 bằng tiếng Việt thì ở đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%...7t-Trung,_1979 |
Trích:
|
Báo Thanh Niên năm nay cũng gián tiếp nhắc đến sự kiện này bằng loạt bài phóng sự nhiều kỳ "Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc". Loạt bài nêu những khó khăn mà phía bên kia đã gây cho quân và dân ta những ngày sau đó, đặc biệt là sau ngày ký Tạm ước Biên giới 07.11.1991 và công tác cắm mốc..
Trích:
|
Trích:
Mỗi dịp 17-2, nhiều báo Nga vẫn nhắn đến sự kiện này, họ không nghe giọng điệu TQ và luôn luôn đứng về phía chúng ta, đồng quan điểm là chúng ta đã chiến thắng. Thí dụ như trang mạng "Tư liệu chiến tranh" (Военные материалы) vừa qua có đăng bài nhan đề: Китайско-вьетнамская война Như một số bác đã viết trên NNN cũng như tư liệu ở các nguồn Nga. Khi cuộc chiến tranh nổ ra, các cố vấn quân sự LX đã bay ngay sang Hà Nội, gặp các lãnh đạo cao cấp, và ra tận trận địa để nắm tình hình. Ngay sau đó, một cầu hàng không được LX thiết lập để chở quân ta đang ở Cam-pu-chia ra thẳng biên giới phía bắc. Đạn dược, vũ khí được cấp tốc chở từ Nga và Ukraina sang bằng máy bay. Còn sau đó, vũ khí hạng nặng chở đường tàu biển cập cảng Hải Phòng. Vào giai đoạn cuối, những trái tên lửa chống tăng loại mới nhất Fagot 9M111 đã kịp ra trận khạc lửa. Trên biển, Hạm đội Thái bình dương, gồm cả đội tàu ngầm hạt nhân áp sát bờ biển TQ ở tư thế đe dọa (80 tàu chiến). Một phần các tàu chiến và tàu ngầm của hạm đội đang hoạt động ở đông TBD ngay lập tức được lệnh tiến vào vịnh Bắc bộ với tuyên bố tấn công bất cứ tàu TQ nào xâm nhập Vịnh bắc bộ. Hạm đội Hải Nam không dám ra khơi, tàu chiến TQ nằm in trong cảng. Tàu chiến, tàu sân bay Mỹ từ Phi-lip-pin xâm nhập vịnh Bắc bộ với lý do "quan sát" bị Tàu ngầm Nga nổi lên chặn trước ngay mũi tàu sân bay, buộc Mỹ phải rút đi. Trên biên giới Nga-TQ và Mông Cổ, tập đoàn quân Viễn Đông điều động hơn 200 ngàn quân áp sát biên giới, phần lớn họ di chuyển bằng máy bay, sau đó là xe cơ giới. Họ đã huy động 2600 xe tăng, 900 máy bay chiến đấu cùng một lượng xăng dầu rất lớn mà sau này, cả tập đoàn sử dụng nhiều năm mới hết. Tuyên bố từ Mát-xcơ-va phát đi rất rõ ràng, VN là đồng minh chiến lược của LX, LX không ngồi yên nhìn đồng minh bị xâm lược. Yêu cầu TQ rút quân. Lộng ngôn lúc phát động chiến tranh rằng: tiến vào thủ đô, bắt sống ban lãnh đạo Hà Nội đem về "thiên triều" trị tội. Nhưng Thái độ rõ ràng và hành động của LX, cùng với sự chống trả ngoan cường từ phía VN. Gặp tổn thất quá lớn khiến quân xâm lược chùn bước và buộc phải rút lui. Chúng ta biết ơn Liên Xô và sẽ vẫn nhớ mãi cuộc chiến tranh này!!! http://www.opoccuu.com/1702114.gif |
Лев Лещенко - День Победы...
|
Trích:
Nhưng có lẽ các nhà báo không đáng trách... Họ chỉ không có chỗ để đăng tải những bài tâm huyết. Nhiều người buộc phải đưa bài lên các blog, lên các trang WEB của thời đại @... |
Ngày đó năm 1979, mình vẫn còn nhỏ lắm, thuộc diện theo gia đình đi sơ tán vào sâu bên trong cả trăm cây số. Mình nhớ là chỉ 3 ngày đến 1 tuần sau là có xe bốc mọi người đi cả. Chỉ mang theo quần áo, lương thực và ít đồ dùng thiết yếu như xong nồi... Xe cộ hồi đó chạy cả đêm lẫn ngày. Cụ già mình là lái xe bên dân sự cũng được huy động chở hàng ra biên, chở dân từ biên về. Đường hồi đó cực xấu lại hẹp, đá củ lổn nhổn cả. Một lần, cụ cùng đoàn xe dừng lại ăn uống và đun nước thì bị bọn Tầu câu pháo (chắc là pháo cối) vào đoàn xe. Cả đoàn vội vàng chạy ra xe nổ máy phóng như điên. Sau đó có tin báo về nơi sơ tán là xe cụ già mình bị pháo bắn cháy, chắc cụ đã chết rồi.
Sau hóa ra không phải, cụ đặt ấm nước đang sôi lên thùng xe, xe xóc đổ nước sôi ra sàn bốc khói nghi ngút. Xe chạy sau cứ tưởng là xe trước trúng đạn bốc cháy lao xuống vực. Cụ già mình có thâm niên lái xe Tây Bắc trên 30 năm chưa hề gây tai nạn lần nào. Trong đoàn bị câu pháo đó cụ chạy nhanh nhất mà vẫn về an toàn!!!:emoticon-0116-evilg. Thấy bảo cụ được tặng bằng khen cái vụ đó!!! Nói chung, dân lái xe Tây Bắc có tay lái rất đáng kính nể, đường xấu, nhỏ hẹp cua, dốc như rắn mà vẫn chạy rất lụa. Cho đến mãi năm 1985, đi qua Sapa, Cam Đường, thấy cầu cống trước đó bị cả ta lẫn địch phá vẫn còn chưa xây lại, xe toàn lội ngầm với đi cầu tạm cả. |
Có một chuyện này, tôi cứ đắn đo mãi không muốn kể ra. Ngày mới từ mặt trận về lại đơn vị thì cũng đã kể cho anh em nghe song từ đấy hai anh em chúng tôi không kể thêm cho ai nữa bởi là một chuyện xét cho cùng thì cũng buồn chứ chẳng vui vẻ gì. Cứ nghĩ rằng nhỡ chẳng may mai sau có biến thì cái bài học này có lẽ cũng có ích cho những người lính sau này nên sẽ kể. Chuyện có lẽ cũng không có gì nhiều, nhưng tôi không bao giờ dám quên.
Trong một post trên tôi có tả ông chủ nhà người Mán (bây giờ gọi là người Dao hay sao ấy), chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng có một khẩu K50 đi đâu cũng đeo. Một hôm tầm hơn 9h sáng, chúng tôi đang trên nhà thì nghe rõ một loạt K50 nổ rất giòn và đanh ngay sát dưới chân dốc từ đường Hữu Nghị 7 dẫn lên nhà. Được một lát thì thấy ông chủ nhà chĩa nòng áp tải một anh chàng mặc quân phục biên phòng song không có quân hàm gì (chuyện cũng thường tình ngày ấy, lính ta chẳng mấy khi đeo phù hiệu, quá lắm thì chỉ có phù hiệu kết hợp - hai mảnh "tiết", gọi thế là vì đỏ như máu, có phù hiệu binh chủng và sao/vạch chỉ cấp bậc - chứ không ai đeo quân hàm vai đầy đủ như bây giờ), đưa vào nhà và trói quỳ rất chặt vào cái cột nhà, sát bếp lửa nơi thỉnh thoảng ông hay mời cậu sĩ quan trẻ nhất là tôi (khi đó mới thiếu úy, mép còn đầy lông măng) "hạp tiu" (uống rượu - hạp dển là hút thuốc, hạp uẩm là uống nước, hạp uẩm vây là uống nước đã đun sôi) với chân thú săn để dành lấy từ trên gác bếp đen xì bồ hóng xuống nướng vùi trong bếp than. Hỏi, thì ông bảo: "Nó là thám báo TQ!". Hóa ra đó là một anh lái xe của bộ đội biên phòng. Đâu đó tôi đã kể rằng khi dân các bản chạy giặc, gấp gáp quá nên phải bỏ lại gà lợn, trâu bò thả rông, cây trái chưa kịp thu hoạch... và thường dặn lại anh em bộ đội cứ việc bắn, hái, lấy mà ăn lấy sức đánh địch, đừng để rơi vào tay giặc. Cái hôm chữa máy P401 trên chóp tiếp sức xong, đại đội cũng gửi cậu lính (xuống núi lấy cái ăng-ten chữ thập dự phòng lên thay cái hỏng trên chóp) gánh lên trên cái ăng-ten một đầu là một cái chậu nhôm (vẫn dùng để chia cơm cho bộ đội) đầy cơm độn ngô, đầu kia là một chậu nhôm đựng đầy thịt lợn của dân mà đại đội bắn được hôm rút từ trên Xuân Quang về. Bảo là bồi dưỡng cho quân trên chóp và chúng tôi đã một hai ngày chưa được hạt gì vào bụng. Cái hôm chạy sau cùng từ Xuân Quang về trung đoàn bộ, pháo địch sắp bắn vào đến nơi mà anh Hộ vẫn còn kịp hô anh em chặt được đầy một sàn xe com-măng-ca mía, về phát cho anh em chúng tôi ăn thay đường. Nghĩa là, lúc rút đi thì những người lính cuối cùng có thể lấy đi theo bất kỳ cái gì có thể lấy được mà dùng, không cho địch có cái ăn. Nhưng chỉ thế thôi, còn chưa đến lúc như thế thì kỷ luật chiến trường rất nghiêm, tuyệt cấm, không được đụng vào một cái kim của dân nếu không được người ta cho. Anh lính biên phòng kia đang lái xe chạy xuôi thì thấy lợn của dân bản chỗ chúng tôi thả rông thơ thẩn kiếm ăn ven đường quốc lộ. Thế là không ất giáp gì, anh ta dừng xe nã một loạt AK định kiếm con thịt (lúc đó chắc lính nào cũng đói cả thôi - xe tiếp vận từ dưới xuôi lên toàn thấy chở người và đạn). Thật khổ là lúc ấy ông chủ nhà chúng tôi vừa về đến gần đó, anh chàng vừa quăng con lợn trúng đạn lên sàn xe com-măng-ca Rumani, quay lên ghế lái thì ông chủ nhà quất ngay một loạt K50 vào xe, sộc đến bắt sống dong về. Có nói thế nào ông ấy cũng không nghe, bảo chỉ có thám báo TQ mới tùy tiện bắn lợn của dân thế chứ bộ đội nào lại như vậy, cứ khăng khăng đưa về Phố Ràng giao cho bộ đội huyện xử. Tội nghiệp anh lính ấy. Bị trói quỳ rất lâu, chân, tay tụ máu sưng phồng lên đến gần ngất, mãi tận gần cuối chiều mới được cởi trói để đích thân ông chủ nhà và dân quân áp giải xuống Phố Ràng. Chúng tôi rất thương mà chịu không làm gì được bởi rõ là anh này đã vi phạm kỷ luật chiến trường. Buổi trưa tôi với anh B. phải lấy thìa bón ngô cho ăn, thấy khát nước - trói thúc ké quỳ như thế đến lờ đờ người ra, không thều thào nổi nữa chứ đừng bảo là nói (y như A Phủ bị thống lý Pá Tra trói vì để hổ ăn mất trâu ấy) - thì lại phải bón nước, từng muôi một (múc đầy muôi nước, cho anh lính ấy ngậm cái cán muôi rồi dốc nước vào miệng). Xót lắm mà không làm gì được, người dân tộc thì rất tốt bụng, chất phác song một là một, hai là hai, không nhu nhơ với họ được. Anh có là lính anh hùng đến mấy, song một khi anh vi phạm kỷ luật chiến trường, vi phạm kỷ luật dân vận, anh sẽ lập tức trở thành thổ phỉ (ít nhất là trong mắt người dân). Không gì bào chữa nổi. |
Trích:
|
Trích:
Về cái từ Cố San là nhà cháu đã từng đến đó và nghe người ta nói vậy thôi. Nhà cháu có bà bá ở ngay dưới ga Phố Lu. Ngay hè năm 1979 cháu đã phi ra ngoài đó. Tận mắt thấy những chiếc nhà cuối cùng trong đó có nhà bá cháu bị đốt. Quân Tàu bị chặn tại cầu (đường sắt) Phố Lu. Ấy là hồi đó đài báo nói thế và cũng rất dễ nhận biết vì chúng đi đến đâu là đốt hết nhà, đặt mìn phá đường ray, và chúng phá sập chiến cầu thì dừng lại. Nên nhà cháu mới dám mạo muội khẳng định vậy. Nghĩa là dọc theo đường sắt và Sông Hồng xuôi Hà Nội thì quân Tàu bị chặn lại ở đó. Phố Ràng nằm trên QUốc Lộ 70 phía đông nam Phố Lu. Ý là nó không phải nằm theo chuỗi trên tuyến đường sắt xuôi Hà Nội nên nhà cháu mới đi cãi lại cụ ợ. Mong cụ đại xá! :emoticon-0102-bigsm |
Trích:
À, hóa ra Hổ gừ đọc vội (gì mà chả vội, ngồi ôm máy tính đọc thì ai đánh xế hộp ống xả đeo rọ mõm đi vớt cá chết vì vỡ ống xả của nhà máy bi-ô-bi-a?). Thú thực là nhà lão chưa từng đến ga Phố Lu. Lúc mới lên trên đó ngày 20-2-1979, lão đóng quân ở phía Nam đường 4E dẫn từ ngã ba bây giờ gọi là Bắc Ngầm sang ga Phố Lu. Sau rút thì theo đường 4E ra Bắc Ngầm trên đường 70, lùi xuống trên Phố Ràng chừng 10 km (phía dưới ngầm chừng 2-3 km), rồi sau đó còn lùi tiếp nữa. Hướng đường 70 là hướng rất quan trọng vì theo đường ấy mới xuống được Yên Bái về HN được chứ đi theo đường sắt thì không tiện cho hành quân bộ (vì phải có ô tô chở lương thực, đạn dược). Hướng này chỉ được mỗi một lợi thế cho phòng ngự là đường độc đạo, đường thì cũng xấu. Chỉ có hơn 1 trung đoàn quân địa phương đã đủ kìm không cho địch tiến xuống sâu quá Bắc Ngầm rồi. Trên hướng đường sắt thì địch đông và mạnh hơn nhiều, quân ta thì mỏng. Thế nên địch tiến được vào tới ga Phố Lu và xuôi thêm xuống phá cầu đường sắt trước khi rút. Đây là điểm mà địch vào sâu nhất trong nội địa của ta trong cả cuộc chiến 18 ngày ấy, chừng 30 km. Chúng cũng chỉ phá được cái cầu, cậy bóc đường ray, đốt phá nhà cửa là cùng, không gây hại được nhiều như phá mỏ a-pa-tít bên Cam Đường. Về mặt quân sự, từ Lao Cai theo đường 70 xuống có 3 địa điểm có tính chất quan trọng cho việc phòng ngự: Ngã ba Bản Phiệt (từ đó có thể hỗ trợ cho Lao Cai và Mường Khương) và Bắc Ngầm (vì từ đó có đường hành lang sang ga Phố Lu thuận tiện cho vận chuyển quân/vũ khí..., có thể nhận tiếp viện từ xuôi lên theo đường sắt, tạo thành tuyến phòng thủ chắc chắn, vì vậy ngay từ đầu Bộ tư lệnh tiền phương QKII đã chọn đóng trên đường 4E), dưới nữa là điểm phòng ngự cuối cùng trên đường xuống Yên Bái: Phố Ràng. Địch cũng biết thừa điều đó và dốc sức đánh chiếm. Chỉ mấy ngày sau tiến công thì ngã ba Bản Phiệt lọt vào tay quân TQ, một e254 bộ binh không đủ sức cản nhiều sư đoàn địch (trung đoàn này quần nhau cực kỳ ác liệt với địch, có ngày phải di chuyển chỉ huy sở trung đoàn đến 5 lần - khi rút khỏi vị trí, lính thông tin bên đầu e254 quay điện thoại về báo rút để trung đoàn thông tin 604 cho người đi thu dây và triển khai sang vị trí mới của ban chỉ huy trung đoàn 254, có lần như thế lính thông tin từ chỗ bọn tôi đi thu dây, tới vị trí cũ của chỉ huy sở dã chiến của e254 - chỉ là một khu công sự đào vội thôi chứ có là cái gì đâu - thì lính TQ hò reo từ trong công sự ùa ra định bắt sống, mấy cậu lính ấy chạy thoát về đến nơi, anh em cứ đùa bảo rằng cho mấy cu này đi thi chạy có khi được huy chương chứ không chơi:emoticon-0116-evilg). Các cầu trên đường 70 từ Bản Phiệt về Bắc Ngầm được phá sập nhằm làm chậm tốc độ tiến quân của địch song thế địch rất mạnh. Địch chia thành nhiều mũi, cắt rừng đánh xuống đường 4E và chỉ sau 6 ngày thì về cơ bản tới được đường 4E. Tuy nhiên sau đó thì sức kháng cự của ta đã trở nên mạnh hơn nhiều, có tổ chức hơn nhiều, vũ khí trang bị cũng được tiếp viện lên đủ và chặn đứng được sức tiến của địch nhờ cụm phòng ngự phía Bắc Phố Ràng (quanh ngầm, nơi chúng tôi dừng chân sau khi rút từ Xuân Quang về), vả lại, địch chắc không dám liều lĩnh chọc sâu xuống nữa (thấy địch phá đường sắt là biết ngay địch chắc không dám xuống sâu nữa - nếu xuống thì chúng phải cố giữ đường sắt mà vận chuyển quân và lương thảo chứ) bởi dù theo đường sắt hay đường 70 thì cũng rất khó triển khai quân, xuống tới Yên Bái thì khá xa và sẽ còn gặp cụm phòng ngự còn mạnh hơn nữa, quân tiến trên tuyến đường 70 hay đường sắt thì cũng sẽ kéo rất dài, tiếp tế hậu cần là rất khó khăn, rất dễ bị đánh chia cắt và tiêu diệt. Với trình độ tác chiến kém và lạc hậu như quân TQ ngày ấy địch rất rất khó có thể đủ sức xuống được tới Yên Bái (cơ mà từ đó thì địch lại rất dễ triển khai binh lực đánh lớn hơn nữa, thế nên không thể để địch vượt được tuyến phòng ngự chốt chặn bắc Phố Ràng). Từ đầu cho đến lúc rút, trên hướng đường 70 bọn Khựa mới chỉ giao tranh với bộ đội địa phương và dân quân tự vệ của ta thôi. May cho bọn Khựa thính mũi, ngửi thấy mùi chủ lực ta bắt đầu lên đến nơi, bèn khoác lác là đã thành công các mục tiêu và rút ngay về chứ bọn lính kém cỏi ấy chỉ chậm rút chừng 1 tuần là ăn đòn nhừ xương. PS: Trong lịch sử chiến tranh hàng nghìn năm với TQ, chưa bao giờ hướng Tây Bắc lại là hướng chính yếu cả vì những khó khăn về địa hình và xa xôi hơn. Hướng chính diện bao giờ cũng là Lạng Sơn và đường thủy. |
Trích:
Bắt tay bác phát nhen! :emoticon-0150-hands |
Trích:
|
Trích:
Vậy em hỏi thật: đã có bác nào biết что такое "као бань чыонг"? |
Trích:
|
Trích:
Trích:
Giờ thì nhà cháu hiểu rồi cụ ợ. Trích:
Trích:
Bời vậy em mới hay khuyên mọi người ai còn chưa ra Lý Sơn hay Cù Lao Chàm thì cố tranh thủ mà đi đi... |
Trích:
|
Xin hỏi bác BD: Việc ta không bắt giữ 1 cái xác xe tăng nào của kh., ít ra để trưng bày triển lãm, như triển lãm Thần Sấm, Con Ma của SAM ở HN, là chủ trương của ta (?), vì nếu có giữ thì chắc bây giờ cũng bàn giao lại cho họ? Các dấu vết khác còn bị xóa cơ mà...
|
Trích:
@SM: ngay ở Bảo tàng lịch sử quân sự đã có sẵn cái tăng T54 rồi mà - vừa là biểu tượng thắng Mỹ, vừa có thể hiều đó là chiến lợi phẩm từ Phương Bắc!:emoticon-0102-bigsm |
Trích:
|
Trích:
@ Bác Hổ: Tàu lạ mà kiểu đó thì ba cái hoa cải...đỏ cũng đủ tiễn bọn chúng theo ...ông bà rồi! Tất nhiên như nhà iem đã từng mượn câu nói(Của ai đó???) rằng:" Muốn có hòa bình-Hãy chuẩn bị cho chiến tranh" |
Trích:
He he, nhà tui mà có xe tăng cháy của Tàu khựa cũng cóc cần trưng bày, đem bán ve chai lấy tiền mua kẹo kéo chén cho sướng. Bọn ấy mà ngứa ngáy sang, ta lại thu thập thêm được ngay, lo gì thiếu mà phải để dành chứ! Thần sấm, Con ma, B52... thì khác, toàn các bảo bối thuộc dạng đỉnh thời bấy giờ của Mỹ và cả thế giới, bày mới oách ạ. Hô hô, bắt được những loại như Old Tiger mới khoe chứ bắt được chuột thì khoe làm gì? |
Đây ạ! Em gởi các bác bài thơ của bác Thanh Thảo- Ai muốn làm quen thì em kính chuyển qua gia đình bác Hổ !
TỔ QUỐC vệt nắng mỏng trước sân mái gà cục tác con tôi ngủ trong nôi văng vẳng tiếng còi tàu bữa cơm gia đình tôi trộn bắp trộn sắn bảy mươi phần trăm mùa xuân những cơn bão hung hãn bất ngờ ập tới trầm tĩnh như rừng kia như biển kia Tổ Quốc tôi đứng lên trước bầy xâm lăng phương Bắc những dãy núi cong cánh cung những nỏ thần khủng khiếp lại tung hàng loạt mũi tên xuyên ngực quân thù Ả i Nam Quan ngọn khói xưa Nguyễn Trãi nuốt nước mắt quay về mười năm nằm gai nếm mật hẻm Chi Lăng lầm lì sông Kỳ Cùng bốc cháy pháo đã giăng từ ngàn vạn điểm cao quân di chuyển những dòng sông chảy ngược mây uy nghi Yên Tử thuở nào còn in dáng Trần Nhân Tơng mắt dõi về phương bắc tính nước cờ ung dung trên cao sông Kỳ Cùng những tảng đá lên hơi đùa với mặt trời trong nước tôi chỉ đến tắm một lần nhưng đã là Tổ Quốc chảy lặng thầm suốt cuộc đời tôi những câu lượn câu sli đêm chợ Kỳ Lừa chén rượu nồng thơm sắc màu thổ cẩm vĩ ngựa gõ dòn lâng lâng sương khuya khẩu súng chống tăng ghì chặt vào vai anh xạ thủ H’Mơng mười tám tuổi khi lũ giặc đang điên cuồng lao tới một chấm nhỏ trên bản đồ một chấm nhỏ thiêng liêng phút người lính đứng bật lên cắm chặt chân vào đất phút ấy, đất dưới chân anh là Tổ Quốc quả đạn rời nòng trong chớp mắt xe tăng cháy ngang đồi lũ giặc lùi xa anh lính trẻ mỉm cười lau mồ hơi trên mặt gương mặt dịu lành như Tổ Quốc chúng ta… Thanh Thảo (2-1979) |
Ngày 18/02 vừa rồi cũng là ngày để chúng ta sống và nhớ mãi!
http://khucquanhanh.vn/diendan/showt...1358#post21358 |
Trích:
Bọn giặc thì có một điểm rất chung là đi đúng vết xe đổ, tránh cũng chẳng được. Cả ngàn năm chống nhau ngày trước, ta và bọn phong kiến TQ hiểu nhau quá rõ, mà lần nào sang đây rồi chúng cũng phải ôm đầu máu về thôi. Năm 938 Ngô Quyền chôn cọc trên sông Bạch Đằng đại phá quân Ngô. Những tưởng chẳng bao giờ lại có trận Bạch Đằng nào như thế nữa mà rồi quân Nguyên vẫn lại cứ dính chưởng ấy mà bại dưới tay Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn như thường thôi mợ ạ. Có biết cũng chẳng tránh nổi đâu. Thế cho nên mới: Đằng giang tự cổ huyết do hồng. Cũng vậy, đạo quân bách chiến bách thắng của Napoléon Bonaparte đã bị mùa đông Nga vùi dập, và rồi thì các sư đoàn bất bại của Hitler cũng đã phải dừng chân trước Moscow trong giá lạnh mùa đông đấy thôi. Hitler có biết rằng trước mùa Đông mà không vào được đến Moscow là hỏng rồi không? Biết chứ, mà vẫn chết đấy. Quân Pháp có khối bài học, như tàu Esperanto bị Nguyễn Trung Trực đốt cháy trên sông Vàm Cỏ, thế mà vẫn bị đánh chìm cả đống trên dòng Lô Giang. Quân Mỹ sang, có học được bài gì từ quân Pháp không, từ Điện Biên Phủ chẳng hạn mà vẫn bị vây hãm đến phải bỏ Khe Sanh? Ối, còn cả tỷ thí dụ như thế nữa ạ. Cái chung nhất, quy luật nhất là: Bọn xâm lược phi nghĩa nhất định thất bại. Cái bài học này, hỡi ôi, bọn giặc ngoại xâm không bao giờ có thể học hết được đâu. Lịch sử cho thấy: Vua và dân cùng đồng lòng chống giặc thì địch mạnh mấy, đông mấy cũng chẳng là gì, "Bởi Đại vương coi thế giặc nhàn" là vậy. Vua+tôi một lòng thì còn sợ gì ngoại bang, sợ là sợ Vua-tôi không hòa, dân oán ghét vua chúa, giặc mới lợi dụng được và mới mất nước. |
Và các bác cũng nhớ giùm, trong chiều dài lịch sử giữ nước oai hùng của dân tộc ta, dù các vị hoàng đế nước Nam có đánh cho giặc "chích luân bất phản" ôm đầu máu chạy về nước, nhưng sau cuộc chiến vẫn cho sứ sang đều đặn, nhận chỉ dụ, rồi cống nạp đàng hoàng mà vụ cống tượng vàng Liễu Thăng là một ví dụ.
Không phải sợ Khựa, không phải hèn, mà là muốn giữ nền thái bình cho đất nước, khi bên cạnh là một thằng láng giềng to xác, hèn hạ, luôn chỉ muốn kiếm cớ xâm lăng. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 03:11. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.