![]() |
Trích:
Anh mới tham gia 3 N có 2 tuần nay thôi. Em cho anh đi đọc chùa trong diễn đàn lấy thêm vốn đã chứ. Với lại anh đã viết được cái gì cho ra hồn đâu mà. Diễn đàn 3 N làm anh nhớ tới một thời học phi công ở Liên xô nên anh tham gia vào chủ đề về MIG 21 là chính. Cám ơn em đã động viên nhé !:emoticon-0155-flowe |
(Em gửi tiếp Nắng Chiều ạ. Cái đoạn dưới đây, nhất là đoạn cuối cùng thì em vừa viết vừa làm ướt bàn phím :emoticon-0111-blush)
* May thay, bà Mô đã bước ra, quắc mắt: - Chị Mô! - Dạ? - Chị về hôm ni có chuyện chi? - Dạ, con mang ít tiền về để mạ chuẩn bị cúng cho nhà con. Con định xin mạ cho thỉnh thầy về tụng kinh cầu siêu nữa đó mạ! - Chị cứ để tui lo. Tui đang tiếp khách, chị mới về chưa biết mô tê chi đã lớn tiếng làm đày, vô phép vô tắc, không ra răng hết. Bà Mô mắt sáng tóc bạc, lưng ưỡn thẳng, giọng nói vẫn khẽ khàng, nhưng có độ vang như tiếng vang êm của một cơn mưa rào đầu hạ, cứ lan tỏa trong không gian và thấm cả xuống đất. Vậy mà một lúc đã dẹp được cả đám đông lẫn người đàn bà kỳ lạ kia. Quay lại với nhà Hoa, bà giải thích, đó là vợ cũ của liệt sĩ Trần Đăng Mô, con trai bà. Chị ta đã đi bước nữa cách đây hơn chục năm, để con bé con cho bà nuôi. Giờ con bé đã trưởng thành rồi, tốt nghiệp trường trung cấp mẫu giáo, vừa đi dạy trẻ lại vừa theo học “cái chi” nữa bà không rõ. “Hắn” đi học đến tối mới về. Trưa chỉ có một mình bà Mô… “Mạ hắn” bây giờ làm ăn lớn, nghe thày bói ở đâu nói, phải chăm nhang khói cho chồng cũ mới gặp may, nên dạo này mới năng về thăm bà Mô và đứa con gái… Bà ngoại Hoa đã tỉnh. Bà có vẻ ân hận, cứ ngồi cầm tay bà Mô mãi. Hai bà thủ thỉ trò chuyện với nhau. - Thằng con tui đi bộ đội năm nớ, mới chỉ kịp cưới vợ, con vợ hắn có mang được ba tháng là hắn đi. Hắn thương vợ lắm. Vợ hắn ăn cái chi vô cũng nhào ra, thấy cá thì mửa nhào lăn nhào đựng. Hắn đi cứ dặn tui, mạ kho thịt chớ đừng kho cá mạ hỉ… Bà Mô cười hiền lành. Gương mặt bà sáng lên. Hoa thấy thắt lòng. Cô vẫn thường nhìn thấy thứ ánh sáng ấy trên gương mặt bà ngoại mỗi lần kể chuyện cậu Bình. Giờ thì đến lượt bà Mô độc thoại. Bà kể vì sao bà quyết đó là mộ chú Mô, có chú Đát là người tự tay chôn cất chú Mô đi cùng dẫn đường, rồi chuyện tìm mộ vất vả ra sao, xin phép xin tắc khó khăn thế nào mới đưa được hài cốt về, táng vào lốt mộ ở nghĩa trang Hương Thủy. Bà cứ rủ rỉ nói, giọng vẫn nhẹ như hơi gió thoảng. Cả nhà Hoa như mê mụ đi. Ngoài trời nắng đã lên, càng lúc càng oi nóng. Không khí thơm ngát hương hoa từ ngoài vườn bắt đầu bay vào nhà. Chợt, bà Mô dừng lời, thảng thốt: - Chết thôi, tui sơ ý quá. Chị và mấy anh mấy cô đi từ xa về chắc chừ cũng đói bụng rồi. Để tui dọn bữa cơm rau cơm dưa mời cả nhà hỉ? Rất nhanh chóng, mấy người khách không mời đã cảm thấy quen thuộc gần gũi với người đàn bà có giọng nói nhẹ như gió này. Hoa cùng mẹ và dì Hòa nấu cơm, bà Mô tạt ra chợ mua thức ăn, một loáng họ đã cùng ngồi bên mâm cơm, thân tình, như những người bà con cùng nhau đi tìm mộ liệt sĩ suốt từng ấy thời gian… Bữa cơm ngon miệng không thể tả, có canh rau ngót nấu rạm, và đặc biệt là rau muống luộc chấm nước mắm nêm. Bà Mô bảo, nếu ai không quen ăn mắm này sẽ thấy mùi khó ngửi lắm, nhưng cả nhà nhất quyết thử bằng được. Nước mắm nêm được bà Mô thận trọng chắt ra từ chiếc hũ sành cũ. Một thứ nước sền sệt, màu đen nhờ nhờ, có mùi hơi nồng, thum thủm. Bà Mô băm nhỏ ít dứa, bà gọi là thơm, rồi giã mấy tép tỏi, trộn vào. Hoa thấy mùi mắm cũng thơm hơn thật. Hoa háo hức hỏi bà cách làm mắm. Bà cười: - Bà kể con nghe thôi chớ bà tin là con không có mê được loại mắm này mô. Hoa cười ỏn ẻn. - Con mua cá nục con hỉ, phải thật tươi, còn giãy đành đạch, rửa bằng rượu cho se, cả ruột gan phèo phổi cũng dùng được hết con nờ. Để ráo nước, muối cá, cứ lớp muối hột, lớp cá. phủ kín miệng hủ bằng muối, rồi lấy mo cau cắt tròn đậy lại, vót mỏng mấy lẻ tre cật cài lại, ém cá cho cá không nổi lên hỉ? Cơm xong, nghỉ trưa. Đến quá trưa xế chiều, bà Mô dẫn cả nhà Hoa ra nghĩa trang Hương Thủy. Huế lại vừa mưa nữa nên không gian mềm mại, dịu dàng. Có mùi hương trầm đâu đây. Nghĩa trang Hương Thủy nằm ngay gần quốc lộ 1A, to rộng như một công viên lớn. Những hàng dừa nước, hòn nòn bộ, các hình khối sinh động đặt từ cổng vào tận trong. Có hai nhà bát giác gọi là nhà Bia, bên trong có bức tường lục giác, ghi tên các liệt sĩ nằm trong nghĩa trang và các liệt sĩ của toàn huyện Hương Thủy. Hoa tần ngần đứng đọc những dòng tên, thấy thảng thốt khi nhìn những cái tên từ nhiều miền Tổ Quốc. Có cả những liệt sĩ từ Hà Nội cũng nằm lại đây. Cậu Bình ơi, cậu ở đâu? Nếu đây không phải là cậu mà là chú Mô, thì bà biết làm thế nào? Liệu sau chuyến đi này, bà còn gắng gượng được không? Trời ơi, sao cậu không phù hộ cho cả nhà, không dẫn đường chỉ lối cho bà, cho chúng cháu, hả cậu? |
Cả nhà Hoa đứng trước mộ ghi tên liệt sĩ Trần Đăng Mô, lặng lẽ thắp hương, không ai nói với ai một lời. Ngay cả ông Toàn cũng không còn chăm chăm nhìn xuyên qua lòng đất nữa. Ông lặng lẽ cúi đầu. Khi ông ngẩng lên, Hoa thấy đôi mắt đục của ông như trong ra, không hiểu Hoa có nhận nhầm không!
Hoa lo lắng liếc nhìn bà ngoại. Bây giờ, cô mới thấy nước mắt bà chậm rãi lăn. Những giọt nước trong và mặn, đã lâu lắm rồi mới long lanh ở khóe mắt bà. Hoa chợt nhớ đến truyện ngắn của Turghenev mà cô từng đọc hồi hè lớp 10, kể về món xúp củ cải mặn người mẹ ăn trong ngày đưa đám con trai. Xúp mặn không vì muối mà vì nước mắt, còn người mẹ cứ ăn, ăn mãi, ăn cả những đau đớn từ trong lòng đã tuôn ra… Lúc ấy cô thấy cảm động, nhưng không tưởng tượng hết được độ mặn của món xúp. Như bây giờ. Hoa xót xa ôm lấy bà ngoại. Rồi không hiểu sao, cô lại dịch sang một bên, vòng đôi tay thanh tân của mình qua ngực bà Mô. Nức nở… Cơn nức nở dội lên không kìm được, cứ hết đợt này đến đợt khác, khiến mắt cô mờ đi và tay chân bủn rủn. Bà Mô ra hiệu cho tất cả cùng ngồi xuống nền đá lát gần mộ chú Mô. Bà chậm rãi nói, rất dài, và bằng vẫn cái giọng nhẹ như hơi thở. Không một ai ngắt lời bà: - Tui nói chị nghe. Con chị thì cũng như con tui, hai đứa hắn đều theo Bác theo Đảng, đều đi đánh giặc mà hi sinh. Chừ chị nói là con chị, tui nói là con tui. Giấy tờ chị có tui cũng có, là có vậy chớ ai mà biết chắc cái đứa con nằm dưới mộ ni là con chị hay con tui rứt ruột đẻ ra. Chị thương, tui cũng thương đứt ruột… Mình là phận đàn bà mang nặng đẻ đau thì cũng như nhau cả… Chín tháng mười ngày mang nó trong bụng. Đẻ ra nặn bọt bao nhiêu năm, cực khổ trăm bề. Bên ướt mạ nằm bên ráo con lăn… Việc bốc lên chôn xuống, động mả động mồ chắc là khó rồi hỉ… Con dâu tui hắn phá ngay, mà tui cũng không muốn làm rộn thằng bé… Bà Mô ngồi lặng, như đang nghĩ về đâu đâu. Cả nhà Hoa cũng đờ đẫn trong một cơn mê mụ, không ai còn biết mình đang muốn gì nữa. Ông Toàn nhắm nghiền mắt, như thể ông sợ mở mắt ra thì sẽ nhìn được vong, hoặc ông cũng đã không còn dám tin vào khả năng tiếp cận với thế giới người âm của mình. Hoa thoáng nghĩ đến việc đi thử mẫu ADN. Chắc cũng chỉ có cách ấy mới đảm bảo để nhà Hoa hay nhà bà Mô nhận người. Chỉ có điều, sự thật sẽ rất tàn nhẫn. Một trong hai người mẹ, bà Mô và bà ngoại Hoa, có còn đủ sức để chịu đựng sự thật hay không? Bà Mô đã lại tiếp: - Chừ tui nói ri chị nghe thử được không? Chị với tui thương hắn thì cứ coi hắn là con chung. Phần mộ ni nhà nước quy tập về đây, nghĩa trang tươm tất, cứ để hắn nằm đây cho có anh có em. Ta ghi lại bia “Liệt sĩ chưa có tên”, hay làm cái bia nữa cho thằng Bình, chị hỉ? Quanh quất là đồng chí đồng đội cả, ấm cúng lắm chị nờ! Lại có tui lẩn quẩn đây rồi… Chị em mình xa xôi, chị Bắc tui Nam, nhưng mình giống nhau vì có con đi bộ đội rồi hy sinh. Chừ gặp nhau đây mình coi như như chị em chị hỉ? Khi mô vô Huế, chị cứ ghé lại, có muối ăn muối, có rau ăn rau. Chị em mình hủ hỉ cho con nó vui! Tui quê mùa.. không biết nói ngon nói ngọt, chỉ thật bụng răng nói rứa thôi chị nờ! Chị mà cũng ưng như rứa tui đội ơn chị trăm bề! - Chị ơi! – Bà ngoại Hoa kêu lên, gần như cùng lúc với tiếng Hoa: “Bà ơi!”. Cô ôm chặt lấy cả hai người bà. Trước mắt cô, gương mặt bao người lính đang nhập nhòa trong nắng chiều, trôi chầm chậm qua. Những người còn lại trong đoàn nhà Hoa đều òa nức nở, kể cả hai người đàn ông. Mùi hương trầm bay trong không gian thơm, thơm ngát… 22-4-2009, trại sáng tác Văn nghệ quân đội 2009, Hạ Long. Thụy Anh |
Cảm xúc khi đọc bài thơ “Anh quá bận để yêu em”.
Trích:
(Thơ Thuỵ Anh). Ngôn ngữ khác nhau, nhưng dù tiếng Nga, tiếng Anh hay tiếng Việt thì đều giống nhau trong cách giải trình lý do chưa hoàn thiện một công việc gì đó. Có “nghìn lẻ một” lý do được coi là chính đáng! Hãy lắng nghe người chồng giải trình với người vợ (Hoặc cũng có thể chàng trai giải trình với người yêu): - Em yêu, anh quá bận để yêu em: Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết Đời cuốn anh đi trong vòng quay mải miết Em yêu, anh quá bận để yêu em! Người chồng (Hoặc chàng trai) thật đáng thương. Anh ta chẳng phải đam mê cờ bạc, hoặc rượu chè, trai gái. Chỉ mỗi chuyện “Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết” vậy mà không còn thời gian để yêu em nữa! Chẳng biết đúng hay sai, có lý hay vô lý, chỉ biết rằng đó là một cách giải trình dễ thương! Tuổi thanh xuân đi qua với biết bao kỷ niệm êm đẹp: bãi cỏ xanh, chiều nắng đẹp, nụ hôn nồng nàn... Nhưng điều kiện cuộc sống dường như đã đưa ta sang một giai đoạn khác: Anh trả em những cỏ biếc, nắng êm Trả những nụ hôn nồng nàn hình như từng có... Những lập luận của thời ngây thơ hầu như cũng không còn nữa, thay vào đó là những lời biện luận có vẻ như “hiện thực” hơn và táo tợn hơn: Tim đầy ắp lo toan, đâu chỉ là nơi giữ lửa Như cuộc đời đâu chỉ có tình yêu! Có ai đó từng nói một cách văn hoa rằng: Cái quan trọng trong tình yêu là hai người cùng nhìn về một hướng, cùng đi chung một con đường! Người ta đã quên đi một điều quan trọng: Khoảng cách! Ở đây, hai người vẫn chung đường, chung hướng đấy thôi, nhưng có một điều đáng chú ý: đó là khoảng cách giữa họ: - Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức. Hoá ra, chung đường, chung hướng chưa quan trọng bằng khoảng cách. Chính vì khoảng cách ấy nên người phụ nữ đã phải gắng sức: Cái khoảng cách mà em gắng lấp Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói Và rồi bất ngờ: Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời Người chồng (hay chàng trai) có thể hờ hững, bỏ qua “Nghìn lẻ một” đợi chờ, chịu đựng, yêu thương... Nhưng chắc chắn sẽ giật mình khi đọc mấy chữ “ Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời” (D.Q.) |
Trích:
- I hurriedly follow this life, you follow me the gap keeps bigger when you exhausted the gap you trying to fill with your waiting, standing and loving Lẽ ra nó phải là như thế này mới đúng chứ nhỉ? " You hurriedly follow this life, I follow you..." vì dưới đoạn dịch tiếng Việt có ghi nghĩa như vậy mà, hì. Các bác thông cảm, cháu đang học tiếng Anh nên hay "soi mói" một tẹo, còn về nội dung thì như các bác ở trên đã nói, cháu cũng rất thích bài thơ này, bình dị nhưng cũng chứa đựng những dằn vặt, "quằn quại" thì hơi quá, nhưng cũng rất mãnh liệt, điển hình cho gia đình thời hiện đại đấy chứ các bác nhỉ? nhưng dù sao họ vẫn rất yêu nhau, chỉ là "too busy" thôi, phải không các bác? Chúc các bác có những ngày nghỉ vui vẻ, đặc biệt là trong ngày 2/9 trọng đại này. |
Em cảm ơn bác Duy Quế và doibo đã có cảm nhận về bài thơ. Bác doibo nói đúng đấy ạ. Bạn Giang khi dịch bài thơ của em ra tiếng Anh đã dịch nhầm đoạn đó, nhưng mà em tôn trọng người dịch nên không muốn sửa lại. Hì.
|
Nhân dịp cuốn "Olga Berggoltz của tôi" ra đời, em xin gửi chút ít tâm sự của em khi viết phần 1 cuốn này lên đây để chia sẻ với các anh chị và các bạn. Em mong có được một hôm cùng các anh chị, những người từng dịch và từng đọc, yêu Olga, gặp nhau, đọc những bản dịch của mình, để có được những Olga của riêng mình, trong sự đồng cảm về một Olga của chung chúng ta!
http://i115.photobucket.com/albums/n...e/IMG_7002.jpg Olga Berggoltz của tôi Cũng giống như rất nhiều bạn đọc Việt Nam khác, cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với Olga Berggoltz diễn ra nhờ nhà thơ Bằng Việt. Và cũng khá muộn. Năm ấy, tôi học năm cuối trường ĐHTH sư phạm Matxcơva. Một ngày thu vàng và bài thơ “Mùa lá rụng”: Những đàn sếu bay qua, sương mù và khói tỏa… Đương nhiên, cũng như nhiều người, trong bối cảnh ấy, tôi không thể không … phải lòng nữ sĩ người Nga xinh đẹp này. Từ đó, tôi để tâm tìm đọc những tập thơ, tập truyện ngắn của Olga Berggoltz trong thư viện, đọc ngấu nghiến bất kỳ bài báo, cuốn sách nào nói về bà, thậm chí chỉ thấy vài dòng nhắc đến bà ở đâu đó, tôi đã thấy run lên phấn khích. Đã vui sướng hoan hỉ khi đọc được một bài thơ tràn ngập cảm xúc yêu đương. Đã rưng rưng với những điều khó nói đằng sau câu chữ thẳng thắn, trung thực của một người công dân yêu nước mình tha thiết. Thế nhưng, ngày ấy, chưa bao giờ tôi có ý định dịch thơ Olga. Với nhiều bài thơ có thể coi là “kinh điển” đối với người đọc Việt Nam, như “Mùa hè rớt”, “Mùa lá rụng”, “Bài thơ cuộc đời”… hình như, thật khó có thể chấp nhận được những bản dịch thơ khác ngoài những bản dịch của nhà thơ Bằng Việt. Đến bây giờ vẫn thế. Ký ức và ấn tượng mạnh mẽ của buổi đầu gặp gỡ vừa là niềm hoài tưởng da diết đáng yêu, vừa là một barie vô hình ngăn trở tôi chuyển ngữ thơ Olga Berggoltz. Mãi đến sau này, gần 10 năm sau buổi “gặp gỡ đầu tiên” ấy, tôi mới bắt đầu dịch Olga. Một cách say sưa và nhiệt tình. Trong tâm thức của những nỗi đau mơ hồ mà một người đàn bà sống trên đời có thể hoặc bắt buộc phải trải qua. Lẽ dĩ nhiên tôi biết, có rất nhiều người cũng đã yêu và bắt đầu dịch Olga như tôi. Những bản dịch của tôi có thể còn rất nhiều sai sót, nhưng lòng tôi thì vui sướng nghĩ rằng, tôi đã có một Olga Berggoltz “của tôi”, bên cạnh một Olga bất di bất dịch mà nhà thơ Bằng Việt đã đem đến cho tôi trước đó! Một điều thấy rất rõ rằng, dịch Olga, kể cả khi chuyển ngữ những bài thơ (được cho là) viết về tình yêu, cũng không có nghĩa là dịch thơ tình một cách đơn giản. Ta không thể hăm hở bắt tay vào dịch nếu chỉ có duy nhất văn bản thơ trên tay. Nếu không tìm hiểu kỹ những đoạn đời đã qua của nữ sĩ, người dịch hoàn toàn có thể hiểu sai những ý tứ nằm sâu trong mạch ngầm câu chữ. Thật may là Olga để lại rất nhiều thư từ và nhật ký. (Gần đây nhất, cuối tháng 4-2010, nhà xuất bản Azbuka đã cho ra mắt cuốn “Olga. Nhật ký cấm.” với nhiều tư liệu quý giá, những ghi chép không bị cắt cúp, kiểm duyệt). Bà coi đó là công việc hàng ngày của một người viết, một cách nghiêm túc. Vì thế, chúng ta có điều kiện trở lại quá khứ, gặp gỡ nhà thơ nữ nồng nhiệt này. Việc tìm đọc những trang chú giải không in kèm theo văn bản thơ Olga ghi trong sổ tay cho phép người dịch sửa được nhiều lỗi sai vô tình mắc phải. Chẳng hạn, Olga viết khá nhiều thơ cho hai con gái bé đã qua đời. Thời gian ghi dưới bài thơ thường là 1937, 1938, trùng với thời kỳ bà được tin nhà thơ Boris Kornilov, người chồng đầu tiên của bà, bị bắt. Ban đầu, khi chưa nghiên cứu kỹ tiểu sử của Olga, mà chỉ dựa vào thông tin Boris Kornilov mất năm 1938, tôi đã nhầm tưởng một số thi phẩm Olga viết về cái chết của con gái là dành cho Kornilov. Nhưng sau, may thay tôi đã kịp tìm hiểu được xuất xứ của các bài thơ để mà sửa lại lỗi chuyển ngữ này. Chỉ thấy vừa ngạc nhiên vừa buồn buồn rằng, khi đọc bản dịch, dù nhân vật trữ tình được/bị cho là “anh” (Kornilov) hay là “con” (các con gái bé của Olga), thì bối cảnh của bài thơ trong các bản dịch hiện lên đều rất hợp lý và đầy xúc động, thậm chí người đọc hoàn toàn có thể chấp nhận sự nhầm lẫn của dịch giả mà không mảy may nghi ngờ! Trong quá trình dịch Olga, có một bài thơ có thể nói là gây “chấn động” mạnh đối với tôi. Đó là bài Em thầm cay đắng ghen tuông… Đã đọc và đã hiểu vì sao lại có trên đời những dòng thơ cay đắng buồn tủi này, khi dịch, tôi đã rất đồng cảm với tác giả. Câu chuyện của người con gái Nga Olga là câu chuyện chung của chúng tôi, những người phụ nữ dù ở độ tuổi nào, quốc tịch nào, cũng có những thời điểm sống trong cảm giác yêu đương với nhiều cung bậc. Cảm nhận ấy khiến tôi dịch không sát từng câu chữ, nhưng nếu cho tôi dịch lại, tôi thấy không thể dịch khác đi. Và tôi có thể mạo muội mà khẳng định rằng, chính trong cái bản dịch tưởng chừng chưa trọn vẹn ấy, tôi lại có Olga hiện lên giống nhất. Giống như tôi hình dung về bà, qua những hồi tưởng của những người bạn, trong những lá thư gửi trên đường, bằng những lời tự sự thật thà đến đau lòng của một người đàn bà làm thơ, với tất cả những khát khao bình thường nhất của người đàn bà bình thường, mà người đàn bà làm thơ đã không có được! Tôi biết rằng, những người từng đọc và từng dịch thơ Olga Berggoltz, đều có một Olga Berggoltz của riêng mình. Đó có thể là một cô gái non tơ mới lớn, quay cuồng vì yêu. Đó có thể là một người đàn bà hoang mang không còn biết đặt lòng tin vào đâu nữa trong tình yêu, để rồi thốt lên những lời cay độc. Đó cũng dễ là một người mạnh mẽ, trung thực, dám làm dám chịu, dám xả thân vì những lý tưởng lớn lao. Đó cũng là một người phụ nữ yếu đuối, đắm chìm trong rượu-mê-quên, để mơ đến một điều: rằng những bi kịch, bất hạnh trong đời mình tưởng chừng chỉ là một cơn ác mộng. Thế nào cũng được, đó vẫn là Olga. Và tôi thấy hạnh phúc khi nghĩ rằng, bằng cuốn sách nhỏ này, tôi có thể có chung với bạn một Olga Berggoltz, cây ngải đắng của nền thi ca Xô Viết. Thụy Anh |
Trích:
|
Em gửi những lời phân trần của em với báo chí lên đây, về cuốn sách Olga, để cả nhà đọc cho vui. Bài đăng trên báo Văn nghệ trẻ. Đây là bản chưa được biên tập.
TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VĂN NGHỆ TRẺ Thơ Olga Berggoltz đã khắc dấu trong nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam yêu văn học Nga, với bản dịch của các nhà thơ rất tên tuổi. Xin hỏi, đó có phải là áp lực với chị khi khám phá mảnh đất thơ của Olga Berggoltz? Đã nhiều người hỏi tôi câu ấy. Thực ra, tôi chỉ gặp “trở ngại” khi chưa bắt đầu dịch, khi có cảm giác vẫn bị chi phối bởi chân dung người thơ mà những dịch giả đi trước đã đem lại. Nhưng đến khi “khám phá” được những khía cạnh khác, có được một cảm nhận chắc chắn hơn, đã có mong muốn, khao khát được giới thiệu cách cảm nhận ấy của mình về tác giả với bạn đọc, nghĩa là mọi “barie” tâm lý vô hình đã hoàn toàn biến mất. Lúc ấy thì chỉ còn mình với văn bản, với cuộc đời nhà thơ và đối mặt với lao động dịch thuật đầy khó khăn cũng đầy… mê hoặc này. Công việc dịch thuật cũng như sáng tác – đó là một công việc của cá nhân. Dịch cũng cần có những sáng tạo mang dấu ấn cá nhân. Không có nghĩa là “tự sáng tạo” ra câu chữ mà sáng tạo của người dịch nằm ở chỗ, anh ta biết lựa chọn từ ngữ nào đắt nhất trong tiếng mẹ đẻ để có thể giải mã được ý tứ sâu xa trong ngôn từ của tác giả, biết nói bằng cách nói uyển chuyển dễ hiểu với độc giả mà vẫn giữ được hồn cốt của người viết, để khi đọc, độc giả nhận ra được phong cách riêng của người viết thông qua hệ thống hình tượng trữ tình, hệ thống nhạc điệu, nhịp ngắt nghỉ rất riêng. Khi dịch Olga, tôi cho rằng, mỗi người dịch đều có cách tiếp cận riêng của mình đối với văn bản. Tôi không có ý định “so tài” cùng những người đi trước mà chỉ cố gắng tiếp tục phần việc mà họ đã bắt đầu, nhưng bằng cảm nhận của mình, có thể ở góc độ khác, trong sự trải nghiệm khác, vì thế, tôi không cảm thấy có áp lực nào hết. Tuy nhiên, tôi quyết định không dịch lại (hoặc có dịch lại thì cũng không công bố) một số bài thơ của Olga mà những bản dịch của người đi trước đã khiến chúng khắc dấu trong tim bạn đọc. Điều này cũng không xuất phát từ “nỗi sợ” đâu, mà xuất phát từ “tình yêu”. Chính tôi cũng từng yêu “Mùa hè rớt”, “Mùa lá rụng”, “Anh hãy trở về…” qua bản dịch của Bằng Việt, Ngân Xuyên đến nỗi không chấp nhận đọc những bản dịch khác nữa. Tình yêu bất chấp mọi lý lẽ mà! Vậy thôi. Chứ tôi không mảy may lo lắng vì tôi cũng đến với Olga bằng trọn vẹn tình yêu. Lý do vì sao chị ra mắt một cuốn sách không chỉ là thơ dịch mà là một cuốn sách viết về toàn bộ cuộc đời, thơ và chân dung tư liệu của một người đã rất quen thuộc với bạn đọc Việt Nam? Hình như ở Việt Nam chưa từng có một cuốn sách làm theo cách này? Cấu trúc một cuốn sách- thơ kiểu như thế cũng đã từng có chứ, theo tôi nhớ. Chẳng hạn, “Xuân Quỳnh, thơ và đời”… Thực ra, nữ sĩ Olga của nước Nga là một “người quen”, thậm chí là “người thân” của bạn đọc Việt Nam, nhưng chưa nhiều người biết tường tận về cuộc đời của bà. Với “Olga Berggoltz của tôi”, tôi mong muốn kể lại với bạn đọc những gì tôi đã biết về Olga qua những ghi chép, thư từ, hồi ký của nhà thơ và đồng nghiệp, muốn bạn đọc cùng tôi gặp gỡ với một Olga sống động, từ khi còn là cô bé con mới bắt đầu tập làm thơ, rồi dấn bước trên con đường thơ ca đầy hào hứng, đồng hành cùng cuộc sống lao động, cống hiến của người dân Xô-Viết, trải qua biết bao cay đắng, mất mát, tù tội, đến khi bất ngờ có “niềm vinh quang của tột cùng đau khổ” và cuối cùng là những gắng gỏi để “qua nỗi đau tôi viết”, viết cho đến khi còn lại một mình, cô đơn và ốm bệnh, không ngừng làm việc, ấp ủ hoài bão về một Cuốn sách lớn của đời mình – một cuốn sách mà Olga cho rằng, sẽ lưu giữ hoàn toàn sự thật… Tôi cảm thấy rằng, chỉ có cách “theo chân Olga” như thế qua từng đoạn đời của bà, độc giả mới có cơ hội thấu hiểu những gì bà để lại. Không chỉ nồng nàn trong tình yêu như ta vẫn biết, bà còn có những vần thơ khi hài hước tự trào, lúc gay gắt, nghiệt ngã, quyết liệt, thậm chí, thô tháp. Giữa những lúc “hô khẩu hiệu”, nữ thi sĩ còn khắc họa những nỗi đau con người một cách giản dị mà thấm thía. Đằng sau cuốn sách, tôi có trích mấy câu của Olga: Tôi mải mê hít căng mùi hương sâu lắng ngải đắng đây, đắng ngắt tình đời - Nỗi đau của loài người giản đơn vô hạn đã trở thành niềm cay cực riêng tôi… Thiết nghĩ, nếu không “nhìn được” những nét khắc của số phận đối với cuộc đời Olga thì không hiểu được những câu thơ tương tự thế này. Với tôi, “Olga Berggoltz của tôi” là cuốn sách viết về Olga, để cho tôi được trình bày một cách hiểu Olga chứ không phải là tập thơ dịch. Nếu chỉ là thơ dịch, tôi không dám để tên mình trên bìa sách. Điều bất ngờ nhất mà chị khám phá được trong quá trình tìm hiểu Olga Berggoltz là gì? Điều khiến tôi bất ngờ nhất khi tiếp cận với các bài thơ của Olga là… bà không phải là nhà thơ ca ngợi tình yêu như tôi vẫn tưởng. Mỗi một nhà thơ đến với bạn đọc và cuộc đời nhờ nhiều yếu tố: ngoài tài năng, sự lao động bền bỉ, những sáng tạo cá nhân trong sự cô đơn cùng cực, thì còn một cơ duyên của số phận. Với Olga, quãng thời gian hào hùng và thống khổ trong vòng phong tỏa của phát xít Đức cũng là một cơ duyên để bà trở thành Nàng Thơ của thành Leningrad vĩ đại. Tuy vậy, tôi chạnh nghĩ, nếu không có 900 ngày đêm sống và làm thơ hàng ngày ở Leningrad, hẳn đời thơ của Olga đã khác. Bà từng là người rất tinh tế trong các vần thơ trữ tình, nhưng cuối cùng, mảng trữ tình phải nhường chỗ cho thơ viết hàng ngày đầy ắp những sự kiện và những lời kêu gọi, động viên, hô khẩu hiệu. Đó là cơ hội cho một nhà thơ công dân, nhưng lại là sự hy sinh của nhà thơ tình yêu, cho dù thơ “hô khẩu hiệu” của Olga có sức lay động mạnh, vì bà chạm được vào nỗi niềm riêng tư nhất của con người, và, trong các bài thơ, không hiểu vô tình hay cố ý, luôn thấp thoáng bóng dáng của tình yêu. Bà xinh đẹp, nữ tính nhưng không phải kiểu nữ tính cam chịu, dịu dàng, mềm mại, yếu đuối. Con người thơ của bà cũng vậy. Phong cách thơ của bà là tiếng thơ rành mạch, dứt khoát, mạnh mẽ, không khoan nhượng, không “nương nhẹ trái tim” dù trong “khúc hát, buồn đau, đắm say hay tình bạn”. Cũng vì thế, khi dịch Olga, tôi đã rất cân nhắc khi dùng đại từ nhân xưng: chẳng hạn, khi nào là anh, là bạn, khi nào là các người… Ở thời điểm này, khi văn học Nga không còn còn thuộc trong hệ sách “hot”, tiếng Nga không còn giữ được vị trí quan trọng như trước nữa, chị có e sợ rằng cuốn sách của mình sẽ bị nằm phủ bụi trên một giá sách nào đó? Tôi có ý định viết về Olga và bắt đầu viết dần về bà từ năm 2007. Những bài viết nho nhỏ của tôi được đăng đây đó trên các báo. Văn Nghệ trẻ cũng đăng hẳn hai kỳ đấy và tôi nhận được khá nhiều phản hồi. Tôi hiểu rằng, người đọc Việt Nam vẫn rất quan tâm đến Olga như một nhà thơ “của mình” chứ không hẳn là một nhà thơ nước ngoài nữa. Có lẽ một phần nhờ các bản dịch của nhà thơ Bằng Việt. Chính nhà thơ cũng từng tâm sự rằng, ông dịch qua một sự đồng cảm sâu sắc với tác giả, đã khiến cho tác giả gần như được “Việt hóa” thông qua lăng kính của dịch giả. Thật cảm động khi chứng kiến tình cảm nồng nhiệt của độc giả Việt Nam nhiều thế hệ dành cho Olga. Tôi có thể mạnh miệng mà đoan rằng, chưa có tác giả nước ngoài nào có được cảm tình dài lâu và sâu sắc của số đông độc giả như thế. Một người bạn của tôi còn nói: “Ai cũng có một thời Olga…”. Tuy nhiên, khi viết và dịch, tôi không hề nghĩ đến khả năng đón nhận cuốn sách từ phía bạn đọc. Tôi chẳng nghĩ cũng chẳng e sợ gì hết, chỉ thấy một niềm hưng phấn say mê khi viết về nhà thơ mình yêu quý, khi dịch được những bài thơ đã khiến mình rung động sâu sắc để có thể giới thiệu với bạn bè. Và hôm nay, tôi vui mừng thấy Olga đã được đón nhận sau nhiều mong đợi. Với tư cách là một nhà thơ, một dịch giả, cá nhân chị được gì khi bước vào thế giới thơ của Olga Berggoltz? Tôi làm thơ cũng đã mười mấy năm nay, và tôi hoàn toàn không nghĩ thơ mình bị ảnh hưởng Olga như có người nhận xét. Có chăng chỉ là bối cảnh để viết, để sống và yêu của tôi chính là đất nước của Olga, với những cánh rừng thân trắng lá xanh, với hoa cỏ thiên nhiên phóng khoáng của nước Nga. Nhưng từ khi bước vào thế giới thơ của bà, tôi thêm yêu sâu sắc đất nước mà tôi đã từng sống và học tập. Yêu vì những bi kịch của từng cá nhân như Olga. Yêu vì những con người của miền đất ấy, như Olga, hẳn phải có sức mạnh vĩ đại từ đất mẹ tiếp sức, mới có thể sống, vươn lên, để từ nỗi đau mà làm việc, chiến đấu và mỉm cười với cuộc đời. Vì thế, khi chia tay với nước Nga cách đây tròn hai năm, tôi đã viết: “Giọt lệ này có được chẳng giản đơn!”. Qua số phận của Olga, tôi đã yêu và hiểu được một miền đất không phải của mình. Giọt nước mắt dành cho buổi chia tay với miền đất ấy có được, quả thực là không đơn giản. Nói thêm với tư cách là người sáng tác, Olga cho tôi bài học về sự chân thành. Giản dị, không màu mè, không làm điệu nhưng luôn đẩy cảm xúc đến tận cùng như bà từng tuyên bố: ‘Tôi mong muốn nhiều, tin vô cùng, yêu say đắm”. Điều này làm nên nét lôi cuốn bền bỉ qua năm tháng của Olga. Vừa viết văn, vừa làm thơ, vừa dịch thuật, xin hỏi thật chị thấy mình tự tin nhất ở lĩnh vực nào? Viết được một truyện ngắn, làm một bài thơ hay dịch được một tác phẩm đối với tôi đều là cơ duyên, dường như không làm không được, là sự thôi thúc tự thân mà đôi khi mình không thể tĩnh trí để suy nghĩ, mình có đủ tự tin khi làm điều này không. Khi viết, khi dịch, tôi không có ý định đặt mình trong tương quan so sánh với các tác giả, dịch giả khác, vì thế không phải sợ hãi vì mình viết sẽ kém hay dịch sẽ không bằng người. Thêm nữa, tôi tự thấy những sáng tác và các bản dịch của mình cũng được một bộ phận độc giả đón nhận. Niềm vui mà tôi nhận được từ sáng tác và dịch thuật rất giống nhau, nhưng ở từng thời điểm, tôi thấy khả năng làm việc ở mỗi lĩnh vực là khác nhau. Thời điểm này chẳng hạn, tôi đang, nói như các bạn tôi vẫn đùa, “mắc dịch”. Nhưng nhìn ở góc độ khác, thú thật, đôi khi tôi cảm thấy… chẳng tự tin ở lĩnh vực nào cả vì để đạt đến sự chuyên nghiệp cả trong sáng tác lẫn dịch thuật, tôi còn thiếu rất nhiều điều kiện, nhất là một sự chuyên tâm cần thiết. Hiện nay các tác giả trẻ dịch văn học Nga ngày một thưa vắng, các dịch giả tên tuổi thì đều đã già. Lớp trẻ không còn nhiều người say mê với tiếng Nga nữa. Chị có e sợ rằng việc giới thiệu và dịch văn học Nga đương đại rồi sẽ không còn duy trì được nữa vì thiếu dịch giả? Thực ra, vấn đề của việc dịch văn học Nga ở Việt Nam hiện nay, theo tôi, không phải là thiếu người giỏi.. Theo dõi trên các website liên quan đến nước Nga, tôi biết có rất nhiều người vẫn đang yêu mến tiếng Nga, văn hóa văn học Nga, nhiều người giỏi, nhiều người rất có khả năng trong dịch thuật. Tuy nhiên, cái thiếu ở đây là tính chuyên nghiệp của công việc này. Phần lớn mọi người mới dừng lại ở mức “dịch cho vui”, “có thời gian thì dịch” chứ chưa xác định được cho mình một định hướng cụ thể trong công việc, trừ một vài dịch giả hiện vẫn đang làm việc âm thầm và say mê như dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền, Tạ Phương… Một phần vì đây là công việc đòi hỏi nhiều hy sinh (thu nhập thấp, lao động không đơn giản, phải…. ngồi nhiều, phải “nhập hồn” vào tác phẩm..v..v.) – người ta làm việc khác có lợi hơn. Thêm nữa, tôi nghĩ, không phải bất cứ ai có đưa ra một số bản dịch là có thể coi như dịch giả. Về việc này, rất cần có một tổ chức nào đó có khả năng và thẩm quyền tập trung, phát hiện và khuyến khích người dịch văn học Nga, đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng người giỏi tiếng mẹ đẻ, có khả năng cảm thụ tinh tế tiếng nước ngoài, những kiến thức và kỹ năng cần thiết để đạt được sự chuyên nghiệp trong dịch thuật. Tôi biết rằng, khoa Sáng tác và Lý luận phê bình văn học thuộc trường ĐH văn hóa Hà Nội đã đề xuất với trường ĐH văn chương Gorky (Matxcơva) hỗ trợ về việc đào tạo dịch thuật văn học Nga chuyên nghiệp, đưa sinh viên sang Nga học hoặc mở tại Khoa một bộ môn dịch thuật văn học. Đây cũng là một cách hay. Tóm lại, nếu không có những “chiến lược văn hóa” cấp quốc gia, không có sự quan tâm hỗ trợ cả từ phía nước Nga trong việc thúc đẩy sự quảng bá văn hóa- văn học Nga ở Việt Nam thì sự thâm nhập của văn học Nga vào đời sống văn học VN đương đại sẽ rất manh mún, tự phát và có thể nói, là một điều “không tưởng”. Trong lần gặp tổng thống Nga vừa rồi, chị đã đề xuất về việc lập một quỹ dịch thuật văn học Nga, hỗ trợ cho việc tổ chức dịch và xuất bản văn học Nga ở Việt Nam. Xin hỏi: việc đó đã được xúc tiến đến đâu rồi? Thật vui mừng là việc này đang được quan tâm tích cực, không chỉ từ phía Tổng thống LB Nga. Theo tôi được biết, trong chuyến sang Nga nhận huân chương hữu nghị từ tay Tổng thống Medvedev, dịch giả Thúy Toàn đã một lần nữa đề cập cụ thể hơn vấn đề này và Tổng thống Nga đã có nhiều quan tâm để xúc tiến công việc. Các thủ tục cần thiết đang được tiến hành và, theo như dịch giả Thúy Toàn cho biết, các tổ chức xuất bản cũng như cá nhân người dịch đã có thể trình bày các dự án dịch thuật của mình và chắc chắn sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Riêng từ phía Trung tâm khoa học và văn hóa Nga ở Hà Nội, tôi cũng đã nhận được một lời đề nghị cùng tham gia cộng tác trong việc chuẩn bị hình thành một Trung tâm dịch thuật văn học Nga trực thuộc tổ chức này. Thêm nữa, tại Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, có thể sắp tới một câu lạc bộ những người yêu thích dịch thuật văn học Nga cũng sẽ ra đời. Như vậy, có thể một “cú hích chính trị” đang cho chúng ta một “cú hích về văn hóa”, khiến việc dịch thuật văn học Nga đang và sẽ có cơ hội được phát triển chuyên nghiệp hơn, chí ít cũng được như “ngày xưa”. Từ câu chuyện dịch văn học Nga, tôi muốn chúng ta nhắc đến chuyện dịch văn học Việt Nam ra các thứ tiếng. Câu chuyện này đã được nhiều người bàn, nhiều ý kiến khác nhau. Cá nhân chị, để việc đưa văn học Việt Nam ra nước ngoài, hiện nay chúng ta cần ưu tiên việc gì? Cá nhân tôi cho rằng, cũng như câu chuyện văn học Nga ở Việt Nam, việc đưa văn học Việt Nam ra nước ngoài cũng cần sự quan tâm và xây dựng chiến lược ở tầm quốc gia, phải có kế hoạch dài hơi và có kinh phí – mà thật vui là điều này, theo tôi được biết, đang được thực hiện. Ngoài ra, việc phát hiện, tập hợp và khuyến khích người có khả năng dịch văn học Việt ra tiếng nước ngoài là một điều phải làm và làm kỹ lưỡng, nhiệt tình chứ không theo kiểu “lớt phớt, nghe ngóng”. Những tổ chức có chức năng và thẩm quyền trong việc này cần biết liên kết các “nguồn lực” trong nước và nước ngoài để phát hiện người giỏi, có chính sách động viên người dịch kịp thời. Có thể tổ chức những cuộc gặp gỡ người dịch văn học Việt Nam ra các thứ tiếng với quy mô nhỏ hơn so với quy mô của Hội nghị quảng bá văn học VN năm vừa rồi, nhưng các chương trình thiết thực, cụ thể, các cuộc tọa đàm có nội dung sâu hơn về chuyên môn với những câu hỏi đặt ra trực diện hơn như: Dịch gì? – Ai dịch? – Dịch thế nào? (về chất lượng) – Xuất bản ra sao?… Theo thiển ý của tôi, đó là những điều cần quan tâm trước nhất. Phong Điệp thực hiện |
Cảm ơn anh Hùng đã dành cho em trang này :). Em gửi vào đây món quà Noel dành cho các bé...
Gửi các bé 2-3 tuổi Noel là gì ? Mẹ ơi, Noel là gì? Là củi cháy trong bếp lửa Bão tuyết thét gào ngoài cửa Cỗ xe tuần lộc vẫn đi Mẹ ơi, Noel là gì ? Là một ông già hiền hậu Không ngại đêm đen, đường xấu Đến đây mang quà cho con Mẹ ơi, Noel là gì ? Là vui rộn ràng trong ngực Là hát bài ca háo hức Rung chuông, rung chuông, rung chuông... Gửi anh chị lớn hơn: Câu chuyện đêm Noel Cô bé sống ở làng cùng gia đình một người thợ săn. Cô mồ côi, được người ta nhận nuôi từ nhỏ, và gọi là “Bé”. Bé đúng là bé thật. Người nhỏ xíu lọt thỏm trong chiếc áo lông cũ kỹ đã được mẹ nuôi mạng khéo bên trong, dài đến tận quá đầu gối. Tóc tết đuôi sam ngắn cũn. Mặt tròn xoe và má đỏ hồng, đôi má hơi ram rám vì nứt nẻ. Mắt thì lúc nào cũng im lặng. Đúng vậy, im lặng. Chẳng ai đoán được Bé đang nghĩ gì qua cái nhìn chăm chăm kỳ lạ ấy. Mùa săn năm ấy, có rất nhiều thú trong rừng bị bắn. Một đêm, cha nuôi mang về một con hươu bé. Chú hươu không bị thương nhưng nó run rẩy dữ lắm. Bộ lông màu vàng sáng đã bết lại những vết bùn, mang mùi vị ẩm ướt của rừng thu. Bé thấy mắt hươu long lanh. Nhưng cha bảo không phải hươu. Đó là một con tuần lộc non. Bé nhớ câu chuyện mà mẹ nuôi kể mãi hàng năm cho Bé cùng các anh chị về cỗ xe tuần lộc của ông già Noel. Nhưng cũng chưa bao giờ mấy anh chị em trong nhà được tận mắt nhìn thấy cảnh ông già cưỡi xe bay đến cho quà cả. Thường thì cứ sáng sớm ra, khi mẹ đưa thêm củi vào bếp lò cho nó nổ lên lép bép, Bé và các anh chị đã được nhận quà trong tất rồi. Không biết ông già đến và đi tự lúc nào. Bé khẽ hỏi mẹ: - Cha không muốn ông già Noel đến nhà mình nữa hả mẹ? - Sao con lại nghĩ vậy, Bé? - Sao cha bắt tuần lộc? Cha nuôi nghe được, ho khan lên một cái và bảo: - Đây là một con tuần lộc non. Mẹ của nó.. chẳng may bị chết thôi, không ai bắn đâu. Không phải cha bắn nó… Bé chăm chăm nhìn cha, mắt biếc lên, rồi cụp xuống, buồn rầu. Bé cũng như con tuần lộc này, cũng bị mất mẹ. Mẹ thật của Bé ấy. Nếu cả làng không xì xào thì chắc Bé cũng chẳng biết đâu. Vì hồi ấy Bé còn nhỏ quá. Không ai nói gì nữa. Cha thì húng hắng ho mãi. Trời ẩm và lạnh lắm. Bé ủ ấm cho tuần lộc, mang cho nó ít sữa trong khẩu phần bữa tối của mình. Các anh chị đều bận, chẳng ai chăm tuần lộc được. Bé vui sướng nhận trách nhiệm này. Bé gọi người bạn nhỏ là Số Một, vì Bé nghĩ, sau này khi lớn lên, tuần lộc con sẽ tìm được về nơi ông già Noel ở, và sẽ được đứng đầu tiên trong cỗ xe. Số Một rất đẹp, Bé thấy thế, mặc dù nó chưa có sừng. Nhưng rồi sẽ có mà. Mẹ bảo, chỉ hai năm nữa thôi là Số Một sẽ lớn hẳn. Và chỉ có con tuần lộc đẹp thế này mới được dẫn đầu cỗ xe kỳ diệu của Santa Claus thôi. Có lẽ Bé phải viết cho Santa một bức thư để trình bày việc này mới được. Khổ nỗi, chữ của Bé xấu lắm. Bé thích lang thang trong rừng nhặt nấm hơn là ngồi học. “Chị sẽ tập viết thật đẹp, Số Một ạ, để Santa không khó chịu khi đọc thư chị. Và sẽ cho em đứng số Một trong cỗ xe”. Bé hơi xấu hổ một chút, vì thực ra, đâu phải bé nghĩ đến tuần lộc con. Bé đang nghĩ đến mình, chỉ muốn được một lần nhìn thấy cỗ xe phóng như bay trong tuyết với những con tuần lộc sừng to ngất nghểu và ông già mặt hiền từ, má đỏ, râu bạc… Nếu Số Một đứng đầu cỗ xe ấy, hẳn Số Một sẽ không quên Bé mà đưa cỗ xe đến đây đầu tiên! Số Một đi theo Bé như một con cún con. Bé cho nó ăn đủ thứ mà Bé có thể kiếm được. Nhưng đặc biệt, Số Một rất thích ăn muối. Nó thường thè cái lưỡi ẩm mềm của mình liếm những hạt muối nhỏ trong lòng tay Bé. Mẹ bảo rằng nó nghiện muối rồi, chẳng rời xa Bé được đâu. Bé hay cười to lên như nắc nẻ mỗi lần nhìn Số Một liếm muối rồi đi tìm nước uống. Nó vụng về quỳ hai chân trước đã không còn màu vàng nữa mà đổi sang thành vệt trắng, lúc lắc mãi cái đầu to kệch rồi mới uống được nước từ cái chậu to trong sân. Mùa Đông ấy tuyết rơi muộn quá. Đêm Noel qua đi chẳng có gì đặc biệt. Vẫn như mọi năm: những món quà rơi vào tất từ lúc nào. Chẳng có tuyết và cũng chẳng có bóng dáng của ông già Noel. Nhưng Bé không thất vọng. Bé chờ đơi đến năm sau. Mà có thể là năm sau nữa, khi Số Một của Bé thật sự trở thành một chàng tuần lộc lực lưỡng, Bé sẽ để cho nó lên đường tìm đến Santa. Bé chỉ không tưởng tượng đươc cảnh chia tay với Số Một. Cứ nghĩ đến điều ấy, mắt Bé lại nhìn nó chăm chăm, tay vuốt ve cái mõm rõ dài của nó, lòng buồn thế không biết. Một hôm, buổi sáng, Bé đi học. Nhưng hôm đó Thày giáo bận nên cho về sớm. Về đến nhà, mệt mỏi vì đường xa, Bé ngồi bệt vào góc kho chứa rơm, định bụng đánh một giấc đã rồi hẵng vào nhà. Bỗng nghe tiếng khách chào hỏi rổn rảng… Thì ra có mấy người từ rạp xiếc của Tỉnh về hỏi mua Số Một. Họ nghe đồn Số Một hiểu biết chẳng khác gì chó nhà. Họ trả giá cao lắm. Và cha đồng ý bán. Nghe cha gọi, Số Một chạy từ vườn vào, móng nhỏ gõ nhẹ nhàng trên đất. Mẹ òa khóc: - Của con cái Bé mà. Ông không thấy dạo này nó vui thế nào sao? Trước im như cái bóng. Giờ hát hỏng váng cả làng. Thày giáo trên huyện bảo nó học cũng khá lên, chẳng lơ mơ như trước nữa… Nó bé bỏng, bồ côi bồ cút.. Có con Số Một này làm bạn mà ông cũng nỡ… Bé đứng phắt dậy, mắt đã long lên… Bé ít khi giận, nhưng đã giận thì các anh chị đều sợ. Một lần trong nhà có chị trêu mặt Bé quá tròn, chẳng giống ai, mà Bé đã giật tóc của chị ấy đau điếng và nói quyết liệt: “Giống mẹ tôi”. Từ đó ai cũng ngại Bé…. Bây giờ, Bé cũng đang giận. Tim đập liên hồi trong ngực, nghe váng cả óc. Dợm chân định chạy ra, thì Bé nghe giọng cha phân trần: - Biết vậy. Nhưng túng quá, bà ạ. Nuôi 6 cái tàu há mồm, đứa nào cũng học trên huyện trên tỉnh cả. Bà thì ở nhà, chăn mấy con gà ăn thua gì. Tôi là thợ săn, chỉ mùa săn mới kiếm được. Chứ quanh năm đi đóng đồ mộc, nghề tay trái cũng có ra tiền à? Bán con Số Một cho rạp xiếc, thỉnh thoảng mình cho con Bé tiền đi xem xiếc, lại chả vui ư? Chứ bà xem, đợt này muốn chung vốn làm ăn lớn một chút với hàng xóm, có khoản bán con tuần lộc này thì đủ, còn dư đôi chút, tôi sắm mấy cái áo lông cho bọn trẻ. Cái áo con Bé mặc cũng vá chằng vá đụp rồi, chịu sao nổi mùa Đông. Mùa Đông năm nay, tuyết rơi càng muộn càng lạnh. Hừm… - Nhưng.. giá mà ông đợi nó về. Giá mà hỏi ý kiến nó, cho nó chia tay… - Ôi, bà ơi, làm sao tôi nỡ nhìn cảnh ấy? Có nó ở đây, tôi làm sao mà nỡ bán con này. Bà nghĩ tôi là thứ người cha gì? Bé đứng như trời trồng, nước mắt tuôn ra ào ào. Ôi cha ơi, khổ thân cha! Lần đầu tiên Bé hiểu rằng mình được yêu thương đến thế. Rồi đột nhiên, Bé không nghe thấy gì nữa. Một cảm giác mệt mỏi bao trùm lấy Bé. Hơi ấm từ đống cỏ khô bốc lên khiến đôi chân đã cóng rời rã ra. Đôi mắt sụp xuống. Và Bé chìm vào một giấc ngủ lạ lùng – một giấc ngủ mùa Đông. Có tuyết rơi lấp lánh sáng trong đêm. Có tiếng huyên náo đằng xa.. Và một cỗ xe rực rỡ với những con tuần lộc to đang phóng qua bầu trời. Dẫn đầu là một con tuần lộc đẹp lắm với bốn chân trắng muốt.. Ơ, nhưng nó không có sừng. “Số Một…. Đúng em rồi! Chị đây…” Bé reo lên trong mơ. Đây mới đúng thật là đêm Noel mà Bé chờ đợi. (Câu chuyện này không rõ xảy ra ở đất nước nào. Chỉ biết là một nơi có tuyết và có rừng, có tuần lộc. Có những ngôi làng còn nghèo khổ và những người nông dân tất bật kiếm ăn. Mà cũng không rõ xảy ra vào thời điểm nào nữa. Hình như đã lâu rồi. Mà hình như cũng mới đây thôi. Nhưng cũng chẳng quan trọng, vì ở đâu, bao giờ thì vẫn luôn có tình yêu giữa những con người giản dị, vẫn có những ước mơ bé nhỏ trong đời….) Thụy Anh |
Bài này em post, xin tặng bác Hổ Già và những người con đất Quảng. Em xin lỗi nếu viết và tưởng tượng không đúng, vì em mới đến nơi này vài ngày thôi. Và xin lỗi vì có những câu đùa cợt, nếu làm ai đó chạnh lòng. Hì.
LÀM DÂU ĐẤT QUẢNG - Chỗ này bao nhiêu bác? - Bả ngờ… - ??? Ba ngàn ạ? - Không, bả ngờ - À… bảy ngàn! Ngày nào cũng vậy, tôi cứ phải vất vả căng tai nghe và đoán xem các cô, các chị ở chợ nói gì. Đã hai năm vào làm dâu đất Quảng, tôi vẫn không quen được giọng nói nặng âm sắc địa phương của người dân ở đây. Ban đầu, đi đâu tôi cũng rủ chồng đi cùng làm phiên dịch. Về sau do phải cố gắng suy đoán, tôi cũng quen dần nhưng vẫn chưa hết nhầm lẫn, đôi khi đến bực mình. Ở nhà cũng vậy, mẹ chồng tôi nói cũng nặng lắm. Bà lại hay chuyện. Đôi khi tôi bắt gặp mình đang gật đầu lia lịa, mỉm cười mà chẳng hiểu mình nghe được những gì! Tôi đâm ra ít nói vì hình như tôi nói ra mọi người cũng không hiểu lắm, họ chỉ cười cười… Thôi thì ở nhà, đi chợ, đi chơi không kể, đến khi lên lớp mới khổ tôi hơn! Tôi là giáo viên tiểu học. Sau khi lấy chồng thì theo chồng về vùng xứ Quảng này, tôi cũng xin được việc ngay ở trường của huyện. Buổi đầu đến lớp, tôi hỏi một cậu học trò: - Con tên là gì? - Dạ, con tên Di! Thế là tôi cứ “Di” mà gọi, về sau đọc sổ ghi điểm mới phát hiện ra cu cậu tên là Duy! Nghĩ lại mà xấu hổ với mấy đứa nhỏ. Chồng tôi ra Hà Nội học từ sớm nên giọng anh đã lai đi, tương đối dễ nghe. Thậm chí, tôi lại thấy giọng anh ấm áp và tình cảm hơn giọng trai Hà Nội nữa. Lấy được tấm bằng thạc sĩ, chồng tôi xin về làm ở một trạm lọc dầu lớn gần quê. Quyết định theo anh, tôi cũng đã phải suy nghĩ nhiều vì ai trong gia đình cũng gàn. Nhưng yêu chồng, vả lại “Thuyền theo lái, gái theo chồng”, muốn hay không tôi vẫn phải đi… Tôi nghĩ về vùng đất quê anh với nhiều thiện cảm vì hồi còn nhỏ, tôi đã từng đọc “Tảng sáng’, “Quê nội” của Võ Quảng, nhà văn đã mang hồn xứ Quảng thổi vào các câu chuyện dí dỏm của mình. Và khi gặp anh, chồng tôi bây giờ, tôi càng yêu hơn vùng đất miền Trung xa xôi kỳ lạ ấy. Nhưng giờ đây, hình như tôi có đôi chút ân hận. Nơi này, mọi người đối với tôi tốt lắm, nhưng tôi vẫn không thấy thoải mái. Khó khăn về thổ âm, thổ ngữ là một phần, phần nữa, khí hậu khắc nghiệt, nắng nóng khủng khiếp khiến da tôi đã nhanh chóng xạm đen đi, không còn đâu vẻ mỡ màng của làn da gái Bắc nữa. Bữa cơm thịt cá thì đầy đủ, chỉ có rau là hiếm thôi. Mùa nắng, mẹ chồng tôi thường thái mỏng từng lát dưa hấu non, cả nhà chấm nước mắm ăn thay rau. Hồi tôi có bầu, tôi thèm đến cuồng người lên khi nhớ đến ngọn rau muống hay mớ rau lang luộc ở nhà. Ngồi ăn cơm thì ruồi bay khắp nơi. Chả ai bận tâm về những điều ấy. Chỉ có tôi là ngao ngán! Quê chồng tôi có con đường đất đỏ, bụi cuốn mờ mỗi khi có gió lốc. Những rặng phi lao oằn oại trong gió nhiều khi như rên rỉ tiếng oan hồn. Mẹ chồng tôi hay ngồi nhai trầu, kể chuyện đời xưa, hay nhắc đến những hồn liệt sĩ vô danh mà mảnh đất này còn chôn giữ bao nhiêu hài cốt chưa được người thân tìm về. Đêm, tôi nghe tiếng gió mà rờn rợn, chỉ mong được mau chóng trở ra Hà Nội. Tết này tôi xin phép mẹ chồng về thăm nhà, mang theo thằng cu con mới 3 tháng tuổi của chúng tôi. Hai năm bận bịu mang bầu, sinh nở… tôi chỉ liên lạc với mẹ tôi qua điện thoại. Giờ, được nghe xung quanh mình những âm thanh quen thuộc của giọng Bắc, tôi cảm thấy vui sướng vô cùng. Đầu như dịu lại, mọi giác quan như được thả lỏng ra… Tôi cảm thấy như chưa từng đi đâu xa và chẳng còn muốn đi đâu nữa hết. Mấy đứa em gái xúm vào trêu tôi: - Chị ơi, thế chị đi mấy năm mà không đổi giọng à? Em nghe nói, trong đó họ nói “lốp xe đạp” là “láp xe độp” đấy.. ha ha ha ha! - Trời ơi, bà này ngày xưa tưởng trắng nhất nhà, ai ngờ bây giờ đen thui thủi như củ súng. Thảo nào hôm qua anh Hoàng đến chơi lại bảo em: “Anh đến nhưng nhà không có ai, có mỗi cô nào da đen đen đang ngồi với mẹ nên anh không vào” ha ha ha ha. - Chị ơi, nghe nói người Quảng là chi li lắm đấy có phải không hả chị? Ôi cái bọn con gái rỗi việc này, tôi vừa buồn cười vừa tủi phận. Buổi tối mùng Hai, lẩn thẩn thế nào tôi lại tìm cuốn “Quê nội” đọc lại. Những câu chuyện thủ thỉ của Võ Quảng xưa… hôm nay tôi đọc bỗng thấy khác lạ. Tôi không còn đơn thuần là một người đọc nữa – tôi đã là dâu của đất Quảng này đây. Những “Cù Lao”, những “Cục” thật thà, giản dị mà hóm hỉnh, đáng yêu tôi vẫn hàng ngày được tiếp xúc đấy thôi! Những con người nơi đó đến bây giờ cũng không khác thời Võ Quảng xưa kia là mấy. Họ vẫn hồn hậu và nhiệt tình như thế. Tự dưng tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi nhớ cảnh buổi sáng, tôi chuẩn bị đến trường đã thấy một vài chú nhóc đợi đầu xóm cùng đi với cô. Tôi nhớ hôm tôi có bầu, bị xỉu ngoài chợ cóc, được bà con đưa đi trạm xá lại mang về tận nhà. Hôm sau gặp ai người ta cũng hỏi thăm ân cần. Tôi nhớ cảnh mẹ chồng hì hụi kho cá theo kiểu Bắc cho tôi ăn đỡ nhớ nhà… Tôi nhớ cả cái giếng nước mát rượi của nhà chồng tôi, buổi đêm hai vợ chồng lại ra dội cho nhau tắm gội. Nơi ấy mọi người thương tôi, đón nhận tôi là dâu, là con của họ. Còn tôi, tôi đã làm gì để yêu miền đất ấy hay chỉ âm thầm chịu đựng những điều mà tôi cho là khác lạ, là khó quen? Tôi biết yêu chồng, sao tôi không biết học những món ngon xứ Quảng để mỗi chiều thứ Bảy làm bữa tươi cho cả nhà? Tôi biết dạy bọn trẻ yêu quê hương, đất nước, sao tôi không biết thương mảnh đất khô cằn nắng gió giấu trong lòng nó bao xương máu chiến sĩ, trong đó có cả bác ruột của tôi? Thế mới biết, yêu cũng phải học, và yêu được một miền quê, mình có thêm cả một cuộc đời! Đêm đó tôi nằm mơ thấy một dải cầu vồng lớn rực rỡ vắt ngang bầu trời còn ướt mưa. Đó là cảnh hôm đầu tôi đặt chân đến quê chồng. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy trọn vẹn một chiếc cầu vồng – to, rõ, sáng và đẹp lồng lộng như vậy! Sớm hôm sau, tôi gọi điện về quê, mẹ chồng tôi nhấc máy: - Alô, con Ba hỉ? (Bà hay gọi tôi theo thứ tự của chồng tôi trong gia đình)… Cứ nghỉ chớ đừng lo chi, khỏe rồi còn vô đi lồm nhe con! Không hiểu sao tôi lại nghẹn ngào. Lần đầu tiên tôi thấy tiếng Quảng ngân lên hay và chân tình đến thế! Thụy Anh (Bài này đăng trên tạp chí Mẹ và Bé, ký tên là Trung Anh, anh Hổ ạ :) ) Đây chỉ là một bài báo viết gấp để chèn vào chỗ trống - khi báo họ cần 1 bài viết tâm sự của Eva :). Trong đó có hình ảnh sau này em dùng trong truyện ngắn Nắng chiều, và hình như có hình ảnh của anh Hổ nữa đấy :P |
Xin phép gửi lên đây 2 tấm ảnh của Hoa Pion và tác phẩm ( ảnh từ 1 người bạn ) trong ngày hôm qua, Nguyên Tiêu, tại Văn Miếu, Hà Nội.
Chúc Hoa Pion luôn luôn giữ được nhiệt huyết dành cho thơ văn và cho ...trẻ em. Hôm nọ, chị For "gặp" được Hoa Pion trên VTC6, đấy nhé.:emoticon-0150-hands:emoticon-0100-smile Tác giả-Dịch giả ( nhưng mà thật 100% đó ) http://farm6.static.flickr.com/5091/...cca6af69_z.jpg ...và tác phẩm http://farm6.static.flickr.com/5213/...ca46c531_z.jpg |
Ôi hay quá, em cảm ơn chị. Bác nào đã đến ủng hộ em và đã chụp ảnh thế ạ? Em bận lu bu nên cũng ko có ảnh chụp lại quán. Cảm ơn chị nhiều nhiều >:D<
|
Hôm nay có cuộc trò chuyện cùng TS.Oscar Brenifer, tác giả bộ sách "tư duy cùng bé" - (một trong những triết gia thực hành và nhà đào tạo kỹ năng tư duy nổi tiếng nhất thế giới hiện nay) về việc dạy con tư duy cách nào với sự tham gia của TS Lê Phước Hùng, TS Giáo dục học Nguyễn Thụy Anh vào hồi 18.00 tại Hội trường Trung tâm văn hóa Pháp L'Espace - 24 Tràng tiền :)
|
Thuỵ Anh - nhánh bạch dương bên trời ký ức
Dương Tử Thành http://evan.vnexpress.net/News/chan-...en-troi-ky-uc/ |
"Chị yêu đến nghẹn ngào từ những hàng rào xiêu vẹo, những căn nhà xập xệ, những màu xám thê lương trong gió tuyết… Chị nhận thấy sự lộng lẫy của thiên nhiên nước Nga chính là từ những gì giản dị nhất, đó không phải là sự sắp xếp ngăn nắp chỉn chu thanh bình của thiên nhiên châu Âu, mà là sự phóng khoáng đầy bất trắc nhưng lại thân thuộc đến nhói lòng với những ai từng gắn bó. "
Cám ơn bác Mì , đã được đọc một bài viết thật hay, những đoạn văn như những mạch nước ngầm len lỏi vào những tâm hồn vốn khắc khoải yêu nước Nga, nhớ về nước Nga. |
Cảm ơn các anh chị. Em không dám comment gì về bài viết trên của tác giả Dương Tử Thành - một bài viết nhiều cảm xúc, ưu ái và trân trọng nhưng cũng thú thật đã không khỏi khiến em ngại ngần.
Nhân tác giả nhắc đến tình yêu nước Nga, em xin post bài viết cũ này, không biết em đã gửi lên chưa nữa, em đọc lại thì chưa thấy, hy vọng là không phải em đọc sót. Để cùng chia sẻ tình yêu với NNN Nhớ làng quê nước Nga [24.11.2008 00:11] Cũng như rất nhiều cựu lưu học sinh của các thế hệ trước, như cha tôi, như các anh chị bạn bè tôi, những người từng sống và học tập ở Liên Xô (cũ), ở Nga, khi về nước, ngoài hành trang là những kiến thức thu nhận được trong trường đại học, tôi còn mang trong tim mình một tình yêu. Tình yêu ấy cũng chẳng khác tình yêu đôi lứa là bao. Vì nó cũng sôi nổi và cuồng nhiệt, khiến người ta có thể khóc nức lên trong một đêm nhớ. Vì nó cũng có những hoang mang và thất vọng, có những thời gian khiến người ta rơi vào tâm trạng bất an. Và vì nó cũng day dứt rất lâu. Đúng vậy đấy. Tình yêu đối với một miền đất có thể theo ta đến hết cuộc đời. Ngày 7/11, một trong những ngày từng là lịch đỏ ở Liên Xô và Liên bang Nga gần một thế kỷ, luôn là một cái mốc trong năm để những người Việt từng ở Nga dứt ra khỏi hiện thực đời thường mà hồi tưởng về đất nước đã lưu giữ những năm tháng tuổi trẻ của mình, về những cánh rừng chói lọi mùa Thu, về thảm tuyết dày tự phát sáng trong những đêm mùa Đông dữ dội, về mùa Xuân trời xanh ngọc bích, về sắc tím sắc vàng của hoa mùa Hạ tinh khôi. Hôm nay, tôi cũng vậy. Tôi nghe lại những bản nhạc Nga và nhớ da diết thành phố cổ ở ngoại ô Moscow, nơi tôi đã sống một thời gian dài trước khi về nước. Đó là một thành phố đã gần 700 tuổi, cách thủ đô chừng 100 km, nằm hai bên đường quốc lộ, lọt thỏm giữa những cánh rừng đen thẫm và những cánh đồng hoa trắng trải dài… Miền quê Nga. Chỉ có đến đây, tôi mới thực sự cảm nhận được hồn Nga muôn thuở, dường như vĩnh viễn không thay đổi dù có ngàn năm nữa sẽ qua đi, với những con người quê kiểng hồn hậu, những nếp nhà và hàng giậu gỗ và thiên nhiên khoáng đạt và hào phóng. Miền quê Nga đã cho tôi rất nhiều. Cho tôi khả năng cảm thấy hạnh phúc vì những điều bé nhỏ đáng yêu. Tôi yêu những con đường dốc hẹp lượn vòng, hai bên đường là những bụi lau nở trắng; yêu những buổi chiều chầm chậm về trên những mái nhà thờ vàng rực và tiếng giàn chuông ngân vang như gần như xa, làm lòng người bình an kỳ lạ; yêu những cánh đồng đất đen được bón phân bò trước mỗi vụ cấy trồng, mùi phân bò xộc lên trong không gian không khiến cho tôi cảm thấy khó chịu, mà ngược lại, thấy rất đỗi thân thương… Và tôi yêu những căn nhà gỗ của nông thôn Nga, những nếp nhà dường như đã đứng đó hàng trăm năm cùng nắng, mưa và tuyết giá. Người Nga thường tự tay làm căn nhà gỗ của mình, chọn những súc gỗ tròn, làm mộng, lắp ráp, sơn phết... Căn nhà thường có một bậc tam cấp có mái che, một hành lang nhỏ thường để những cái giá đựng đầy dưa chuột muối, cà chua muối. Hai hoặc ba ô cửa sổ trổ song song. Khung cửa làm đường riềm cầu kỳ, đôi khi sơn xanh sơn đỏ lòe loẹt. Cho ấm mắt trong những ngày đông kéo dài dằng dặc. Trong nhà, dù là nhà nghèo khó hay khá giả, thì cũng vô cùng ngăn nắp và sạch sẽ. Sàn gỗ bóng loáng, có thể trải thảm. Những tấm thảm đặc trưng của Nga, họa tiết rườm rà, màu tối. Bàn ăn ở bếp nhất thiết phải có khăn trải bàn ren mới là lịch sự. Trong bếp luôn sực lên mùi gì ấy, không chỉ là mùi thức ăn, mà là mùi của sự bình yên. Tưởng như, nếu ta ngồi xuống cái ghế gỗ của gia chủ, tức khắc sẽ có một đĩa xúp củ cải đỏ được múc ra đặt trước mặt, còn bốc hơi nghi ngút và điểm một thìa váng sữa đang tan dần trong xúp nóng... Và đó là sự bình yên! Ngoài vườn có một vài gốc táo lâu năm, có năm ra quả, có năm không. Một cái nhà kính bé xíu tươm tất nằm góc vườn, để ủ ấm cho những mầm ươm. Còn thì, cái gì người ta cũng trồng một ít. Xà lách, mùi, hành xanh, dâu tây, cà chua, dưa chuột... Và hoa. Hoa trồng thành khóm, đánh thành luống. Trong vườn nhà người Nga, rất hay thấy có hoa anh túc. Tôi thích ngắm hoa ấy, màu đỏ gợi sự đam mê đến cuồng nhiệt, mà cũng đầy bất trắc.Vườn hoa ở làng quê Nga nở từ mùa Xuân cho đến tận những ngày chớm Đông, khi những bông tuyết đầu mùa xuất hiện. Tôi đặc biệt ấn tượng với sắc hoa lúc cuối Thu. Khi ấy, tất cả như rực lên lần cuối, cuống quýt phô bày vẻ đẹp của mình, đỏ thì đỏ thắm lên, tím thì tím thẫm cả mắt! Đi trong cơn mưa giá cuối Thu mà bắt gặp một vườn hoa như thế bên đường, lòng không thể không run lên vì cảm động. Như thể được đón nhận một món quà quý giá từ một người không quen! Thi thoảng có nhà nuôi một đàn ngỗng để canh vườn. Ngỗng sư tử, có bờm, kêu to đinh tai nhức óc và đã đuổi đánh kẻ gian thì còn đáng sợ hơn cả chó dữ. Vườn và nhà gỗ được bao bọc bởi một dãy hàng rào gỗ. Bên ngoài, chỗ cổng ra vào, có treo một hòm thư. Trước cửa nhà thường để một dãy ghế dài, ông bà già hay ngồi đó sưởi nắng. Mặc dù nhà gỗ của Nga người ta thường làm theo một cuốn sách hướng dẫn, kiểu cách khá giống nhau, nhưng thực ra, không căn nhà nào giống căn nhà nào. Đúng như Grossman trong "Cuộc đời và số phận" có nói: "Trong một triệu căn nhà gỗ Nga, không có và chẳng thể nào có hai căn nhà hoàn toàn giống nhau. Tất cả đều sống động - có một không hai. Cũng như không thể có sự giống nhau tuyệt đối giữa hai con người, giữa hai bụi tầm xuân vậy….". Những họa tiết trên cửa sổ, độ dốc của mái nhà, cách đặt bếp lò trong nhà... mỗi người chủ có ý tưởng riêng của mình. Chỉ có một điều chung: đó là những căn nhà gỗ của nông thôn Nga là nơi con người có thể sống hoàn toàn hòa mình cùng thiên nhiên. Vì vách gỗ, mà lại là gỗ súc chứ không phải gỗ ván, chúng biết thở, chúng không phải là vô tri vô giác, chúng là một phần của thiên nhiên. Hơn thế nữa, chúng giữ ấm vào mùa Đông và đem lại hơi mát vào mùa Hè. Những căn nhà gỗ của Nga không đều đặn và đẹp đẽ như nhà của nông thôn các vùng Bắc Âu. Chúng có gì đó lam lũ hơn nhiều. Đứng trước căn nhà hai tầng mái ngói vùng Bắc Âu, bạn có thể thấy thán phục, thích thú. Còn đứng trước một căn nhà gỗ của Nga, tôi luôn có cảm giác nao lòng. Và thương. Và yêu. Như yêu một người, một thứ, một kỷ niệm đã từng là của mình, một quá khứ khổ nghèo mà đẹp đẽ. Còn nữa, tôi yêu cả... những nghĩa trang của Nga. Khu nghĩa trang nằm nép mình bên một rừng thông hoặc rừng bạch dương. Mỗi một phần mộ đều có hàng rào sắt thanh thoát, cũng đủ kiểu hoa văn nhẹ nhõm. Những vòng hoa giả. Không có hương khói. Chỉ có những tấm bia mộ đá và những cây thánh giá bằng gỗ. Và tiếng xạc xào vi vút của cây rừng. Không hiểu sao, khu nghĩa trang như thế không làm tôi sợ, không khiến tôi nghĩ đến ranh giới hai cõi âm-dương, mà chỉ khiến tôi thấy lòng mình lặng lẽ. Không buồn. Chỉ thật im lặng, lặng phắc như thế giới của những con người đã thôi không còn bon chen, không còn vất vả! Nông thôn Nga, bình dị và hồn nhiên, là tình yêu của tôi. Nói cho đúng hơn, là một trong những tình yêu vẫn nằm trong tim tôi, một người từng ở Nga khá lâu năm và chân đã từng dùng dằng rất lâu khi quyết định rời xa miền đất kỳ lạ này để trở về Tổ quốc. Thụy Anh. |
Trích:
Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011 Ừ, Thụy Anh viết hay, rất gợi cảm. Giữa đêm ngồi sửa ĐATN cho học trò, đọc thấy bài này của Thụy Anh, tự nhiên lại nhớ đất Hung khôn tả. Nhớ cái nắng vàng ươm đầu hạ chưa từng thấy ở Việt nam, nhớ những nhánh cỏ đầu xuân xanh nhợt nhạt mọc chồi ra qua kẽ những viên đá lát đường mỗi độ tuyết tan và nắng lên. Đám SV quân sự ở Hung cũ cũng đã có lần bảo mình rằng quả là cái nắng chớm đầu hạ ở Hung thật lạ, nó giục người ta gạt sách vở sang một bên, háo hức đi ra đường, bởi cùng với nắng hừng lên ấy Budapest hẳn đang hồng lên với hoa bừng nở khắp mọi ngõ ngách của thành phố. Nhớ xiết bao những thàm hoa pipacs đỏ tươi rực rỡ lấm tấm chen những nụ hoa dại vàng, hết vạt này đến vạt khác, hừng hực trải dài bên đường đi Balaton. Đẹp và thân thuộc biết mấy. |
"
Những căn nhà gỗ của Nga không đều đặn và đẹp đẽ như nhà của nông thôn các vùng Bắc Âu. Chúng có gì đó lam lũ hơn nhiều. Đứng trước căn nhà hai tầng mái ngói vùng Bắc Âu, bạn có thể thấy thán phục, thích thú. Còn đứng trước một căn nhà gỗ của Nga, tôi luôn có cảm giác nao lòng. Và thương. Và yêu. Như yêu một người, một thứ, một kỷ niệm đã từng là của mình, một quá khứ khổ nghèo mà đẹp đẽ." Thụy Anh.[/QUOTE] Tôi thích cái đoạn này, người Nga thông minh, uyên bác nhưng chân thành và mộc mạc, và những căn nhà gỗ giản dị, chăc chắn như thì thầm điều đó , nhớ nước Nga quá::( |
Bài thơ Tổ Quốc của Thụy Anh:Bài thơ này mình cũng viết sau khi giao lưu với các chiến sĩ trên tàu Vạn Hoa. Về có viết một cái ghi chép nhưng tìm mãi không ra. Cái đã đăng trên VNQĐ đã bị cắt đến 2/3 rồi :P:
Bài thơ Tổ Quốc này mọi người chê, nhưng mình thích thì mình cứ post. Có những điều nói ra không phải là sáo rỗng, nhưng cũng chỉ ở một thời điểm nào đó cảm nhận mới rõ ràng và nói ra mà không ngần ngại. TỔ QUỐC Tôi muốn viết một bài thơ về Tổ Quốc tôi Không dám viết đến cùng những điều thành thật Chỉ nói rằng yêu Dù chưa thực hiểu Lời yêu nói mãi không nhàm Mà không khiến ai trách giận, lạm bàn! Tổ Quốc vang trong lòng tôi hai chữ Việt Nam Cái tên nhọc nhằn, cái tên kiêu hãnh Nghe rung chuyển bầu trời một mùa đông lạnh Sau lớp bụi da cam, vẫn xanh ngắt màu xanh Nghe tiếng còi báo yên Hú dài mừng tủi Ngân từ tuổi thơ xưa xa vợi Qua năm tháng thanh xuân trong lành Những xa xanh Nhuốm mơ hồ cát bụi Kết thành tảng đá nặng đè tim Quá khứ cha anh quá đỗi diệu kỳ Từ những xám, xanh, nâu muôn phần giản dị Vẽ nên bức phù điêu mang sắc vàng thế kỷ Hiện tại chúng tôi chói gắt những sắc màu Giữ trên tay bảng màu pha nhiều gam lạ Thêm hoang mang trên con đường không còn sỏi đá Đến với một bức tranh của riêng thế hệ mình! “Tổ Quốc” vang lên trong tiếng hát ân tình Hòa giọng với người, hôm nay tôi sẽ hát Về vùng biển rộng tưởng chừng êm ả nhất Lại giữ trong lòng muôn nỗi đắng cay Về tầng trời cao vút cánh bay Trên không trung vẫn hướng về trái đất Cái nhìn thẳm sâu nhức mắt Biển trời không ranh giới, mà những ranh giới vô hình vẫn làm ngực nhói đau Về ước mơ bồng bột người trẻ nào cũng giống nhau Dưới lớp áo lính kia là con người tràn căng sức sống Những khao khát trẻ trung làm sôi máu nóng Những tình yêu bé nhỏ hóa thiêng liêng Tương lai của Người, tôi đã gặp trong những nỗi niềm riêng Giữa bao điều mông lung chưa rõ nét Bức tranh thế hệ tôi không còn xa xôi biền biệt Tôi thấy rồi, hồn Tổ Quốc vẫn đây! Tổ Quốc – hai từ ấy vang lên trong ồn ĩ phố phường Những đứa trẻ tóc xanh tóc đỏ Những ánh nhìn non nớt, Những trò đùa nông nổi, Ước mơ làm giàu Và những tấm lòng muốn được tin yêu Tổ Quốc! Tôi nhìn thấy Người trong mắt con trai Đứa bé năm tuổi mới trở về từ đất khách Qua bờ Hồ, háo hức nghe tích xưa chuyện cổ Bước chân nhỏ đi trong lòng phố nhỏ Đã bắt đầu hướng đến tương lai bằng gắng gỏi bước dài Bà của con, bố mẹ của con, ngôi nhà của con Con hay dùng những từ sở hữu Việt Nam của con! Con giang vòng tay bé xíu Ừ, phải rồi, là của con, Tổ Quốc của con! Dẫu trăm vạn năm trăm vạn cuộc vuông tròn Tổ Quốc, hai từ ấy vang lên từ những lớn lao, từ những điều đơn giản nhất Tiếng vọng nối dài giữa biển trời mặt đất Đến những góc đời bé nhỏ mong manh Trong cả những điều em đã có cùng anh Một khoảnh khắc cũng trở thành mãi mãi Tình yêu vẫn ngây thơ dù con tim từng trải Giữ mãi một lời không dễ nói ra Nơi sóng gió ngập hồn đời thường đã lùi xa Lời đầu tiên mình nói với nhau về Tổ Quốc Chẳng sáo mòn đâu, những cảm xúc trang nghiêm nhất Dội vào lòng ta trong hơi biển yên bình! Thụy Anh |
Đêm qua xem truyền hình trên kênh Fanxifan Thấy nhà thơ Thụy Anh đang trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con trẻ với nhà đài ... mải xem quên cả trận bóng đá ngoại hạng Anh - Liverpool gặp Bolton. Chắc dạo này nhà thơ quá bận rộn với "trăm công, nghìn việc" nên ít có thời gian vào NNN. Bớt chút thời gian vào với NNN đi bạn Hoa Pion ơi.
|
Em cảm ơn bác hongducanh vẫn còn nhớ đến em, trong khi em là một thành viên không tốt của NNN. Lâu rồi em không tham gia gì cả, mà bình thường em cũng không đóng góp được gì để phát triển diễn đàn, hic. Mong bác và cả nhà thứ lỗi cho em.
Dạo này em rất đáng chán, không viết lách được gì nên hồn. Có khi càng xa nước Nga, con ngưởi em càng bắt đầu khô khan đi rồi, sắp cạn kiệt cảm xúc :(. Em chỉ nhớ sắp đến 7/11. Mà năm xưa, khi vừa về VN, vào những ngày này, em có viết về bài hát Chiều ngoại ô Matxcơva. Không rõ em đã post lên đây chưa nữa, em đoán là chưa (nếu rồi thì em xin thứ lỗi vì vô tình spam^^). Em gửi lại bài viết đó để có cơ hội ngày nào đó cùng hát với các anh chị bài hát này. Hình như tiếng đàn balalaica đang vang lên đâu đó :emoticon-0100-smile SỐ PHẬN KỲ LẠ CỦA BÀI HÁT "CHIỀU NGOẠI Ô MATXCƠVA" Nước Nga trong trí nhớ của những người Việt từng sống và học tập ở Nga cách đây mấy chục năm rất khác với nước Nga đối với những sinh viên Việt Nam bây giờ. Những thế hệ khác nhau có cho riêng mình hình dung và tình cảm khác nhau về một miền đất mà họ cùng gắn bó một thời tuổi trẻ. Thế nhưng, lại có những điều dường như là “bất biến” trong cái “vạn biến” của thời thế, của lịch sử và xã hội. Bài hát “Chiều ngoại ô Matxcơva” có lẽ là một trong những điều “bất biến” ấy. Còn nhớ, cách đây hơn 20 năm, khi lần đầu tiên nghe bố tôi hát bài hát này, tôi, khi ấy còn nhỏ, vẫn cảm thấy rất rõ sự xúc động của người. Người hát như thoát ra khỏi hiện thực, trở về một nước Nga riêng trong lòng mình với những chiều hè thanh vắng, nơi có dòng sông dường như đang trôi, dường như đang đứng lặng, nơi có những vườn cây im phắc suốt canh thâu, và tâm hồn có biết bao điều muốn nói. Chiều thanh vắng là đây âm thầm gió rì rào Rừng cây chim muông lắng suốt canh thâu Hỡi em, thấu chăng tình anh bao trìu mến Mátxcơva bên em trong chiều vắng êm đềm Dòng sông nuớc nhẹ trôi xuôi về phía chân trời Màn đêm lung linh sáng ánh trăng soi Vời vợi xa thoáng đưa lời đây bài ca đầm ấm Matxcơva chứa chan vui trong chiều vắng yêu đời Kìa em ngước nhìn ai đôi màu mắt nâu huyền Dường như bao lưu luyến mối tơ duyên Sao không nói nên lời , trong lòng anh nàng hỡi Muốn chia em chung ngàn nỗi tâm tình Vừng đông chiếu tràn lan , mây dần sáng sương tàn Cầm tay nhau em nhé ta vui lên Hỡi em nhớ chăng mình đêm hè bao đầm ấm Matxcơva nhớ tới em trong chiều vắng thanh bình Sau này, khi lớn lên, sang Nga và may mắn được ở một thành phố ngoại ô Matxcơva, tôi mới hiểu sâu sắc những cảm xúc mà bài ca mang lại. Tôi mới hiểu vì sao những người Việt như bố tôi và những thanh niên thế hệ sau này nữa, biết bao người đã hát và yêu mến “Chiều ngoại ô Matxcơva”. Và đương nhiên không chỉ người Việt chúng ta, mà bài hát còn được phổ biến khá rộng ở nhiều nước khác. Tại Matxcơva, chúng tôi đã từng chung giọng hát bài này với bạn bè quốc tế. Cùng một giai điệu, nhưng lời hát lẫn lộn tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Ấn, tiếng Anh… Tôi còn nhớ, các cô giáo người Nga đã kinh ngạc và cảm động như thế nào khi nghe tiết mục trình diễn đặc biệt ấy! Những người Nga cũng yêu bài ca này. Một thời, vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, nó từng đứng top những ca khúc được đề nghị phát sóng nhiều nhất theo thư yêu cầu của thính giả. Trên làn sóng của đài phát thanh “Mayak” (Ngọn hải đăng), có một dạo, bài hát được phát đi phát lại, cứ 15 phút một lần, và suốt nửa thế kỷ qua, giai điệu “Chiều ngoại ô Matxcơva” đã trở thành nhạc hiệu của đài, hơn thế nữa, là một trong những biểu tượng âm nhạc của đất nước Nga Xô Viết. Nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng, xuất xứ của ca khúc kỳ diệu ấy lại rất… bình thường. Lạ hơn, người ta đã từng nói về nó như một tác phẩm thất bại! Một ca khúc được “cứu” khỏi sọt rác! Năm 1955, người ta quay một bộ phim tài liệu về thể thao, và, trong bối cảnh những năm ấy, khán giả thường rất vắng bóng trên các sân vận động để theo dõi thi đấu điền kinh, những nhà làm phim sợ rằng, bộ phim sẽ không được để ý nếu không lồng vào đó đôi chút lãng mạn với những bản tình ca. Chính vì thế, nhạc sĩ Vasily Soloviov-Sedoi (1907 – 1979) đã nhận được đơn đặt hàng: viết một số ca khúc cho bộ phim, trong đó có một bản tình ca êm dịu trên nền hình ảnh những vận động viên đang nghỉ ngơi tại một thành phố ngoại ô Matxcơva sau khi thi đấu. Bấy giờ, nhạc sĩ Soloviov-Sedoi đang ở Komarovo, ngoại ô Leningrad. Ông đã cùng nhà thơ Mikhail Matusovsky (1915 – 1990) nhận và “làm” ca khúc theo đơn đặt hàng. Matusovsky vốn là nhà thơ viết lời cho rất nhiều bài hát trong phim, người có sở trường “lãng mạn hóa” bất kỳ một đề tài thời sự nóng bỏng nào. Và cùng với 5 bài hát vui nhộn khác của bộ phim, “Chiều ngoại ô Matxcơva” đã ra đời với bốn khổ thơ nói về một buổi chiều hè yên tĩnh, một dòng sông đầy ắp ánh trăng bạc, một đôi trai gái tâm tình cho đến khi trời sáng. Cô gái ngước mắt nhìn người thương qua đôi bím tóc. Họ tâm tình bằng sự lặng im, chỉ có tâm hồn là nói với nhau nhiều điều. Sau khi nghe bài hát, lãnh đạo xưởng phim tài liệu đã mời nhà thơ và nhạc sĩ đến Matxcơva dự họp. Họ bảo: “Thưa Vasily Pavlovich (Soloviov-Sedoi), đồng chí là tác giả rất nhiều ca khúc phim hay mà lần này lại viết một bài ẻo lả yếu đuối quá, nên chúng tôi không chắc là có nên đưa bài hát này vào phim hay không” (Trích hồi ký của nhà thơ Matusovsky). Cuối cùng, người ta vẫn đưa bài hát vào phim, nhưng nó gần như bị quên lãng, không ai nhắc tới. Có lẽ, một tác phẩm nghệ thuật cũng có số phận như một con người, cần gặp thời, gặp thế, và cần có một cơ duyên để có thể sống được. Và cơ duyên của “Chiều ngoại ô Matxcơva” chính là ca sĩ nổi tiếng – nghệ sĩ nhân dân Nga Vladimir Konstantinovich Troshin (1926-2008). Ông là người đã “cứu” bài hát này. Theo lời kể của nhà nghiên cứu âm nhạc Iury Biryukov, tí nữa thì nhạc sĩ Soloviov-Sedoi, cha đẻ của ca khúc, đã “ném đứa con tinh thần của mình vào sọt rác” vì quá thất vọng. Nhưng khi ca sĩ Troshin nghe được bài hát, ông lập tức thuyết phục nhạc sĩ để ông thử hát bài này. Sau đó một thời gian, khi đài phát thanh đề nghị ghi âm một số ca khúc trong phim với sự trình bày của Troshin, ông đã đề nghị được hát “Chiều ngoại ô Matxcơva” bằng được. Và “Chiều ngoại ô…” đã gặp thêm một cơ may nữa, đó là sự ủng hộ của Viktor Knushevitsky (1906-1974), nhạc trưởng, chỉ đạo nghệ thuật dàn nhạc của đài phát thanh toàn liên bang. Ca sĩ hồi tưởng lại: “Sau khi hát thử hết bài, tôi hỏi Knushevitsky: - Bây giờ ta thu thật chứ? - Đã thu âm rồi. - Sao? Chúng ta mới hát thử thôi mà… - Tốt cả rồi. Cậu hãy về đi, sáng mai nghe bài hát của mình. Rồi sẽ có nhiều người gọi điện cho cậu đấy. Và đúng là, ngay sáng hôm sau ca khúc “Chiều ngoại ô… “ đã được phát… Rồi những cú điện thoại. Điện thoại của tôi bị nung bỏng cả lên. - Bài hát kỳ diệu quá! Hay vô cùng! Tất cả là nhờ Knushevitsky, người đã viết phối khí cho ca khúc, và điều khiển dàn đồng ca nữ kết hợp nhuần nhuyễn cùng giọng hát của tôi. Thật là thiên tài!” Bài hát của tâm hồn giản dị Những ai từng sống trên đất Nga, hoặc từng say mê văn hóa, văn học Nga, hẳn đều cảm nhận rõ điều này: hồn Nga, từ nếp nhà gỗ, bến sông, con đò… đến những cánh rừng bạt ngàn viền quanh các cánh đồng đất đen trải rộng… đều đẹp một vẻ đẹp giản dị, chân chất. Đó cũng là bí quyết làm rung động lòng người của bài hát “Chiều ngoại ô Matxcơva”. Troshin đã hát ca khúc ấy cùng sự giản dị trong tâm hồn Nga, vì thế mà ông đã thành công! Sau khi đạt giải thưởng lớn tại liên hoan thanh niên thế giới Matxcơva năm 1957, bài hát được khán thính giả trong và ngoài nước, trên mọi châu lục, biết đến. Thậm chí, người ta bắt đầu thay “ngoại ô Matxcơva” bằng … tên những tỉnh thành quê hương của mình. Vì thế mà có những “Chiều ngoại ô Leningrad”, “Chiều Volgagrad”, “Chiều Krasnodar”..v.v… trên nền ca khúc quen thuộc. Đối với nhạc sĩ, nhà thơ và ca sĩ, những người đã sáng tác và hết lòng nâng niu bài hát, thì điều này là một niềm vui. Còn một giai thoại khá ngộ nghĩnh nữa gắn liền với bài hát này, do nhà thơ Evgheny Dolmatovsky kể lại. Trong số hàng ngàn bức thư tác giả “Chiều ngoại ô…” nhận được, có những dòng tâm sự của một người lính phục viên trung tuổi. Ông ta kể về một buổi chiều đi trên tàu điện ra ngoại ô, phong cảnh hữu tình và êm dịu khiến lòng ông than thản, và ông đã cất tiếng hát về những điều “khó nói trong tim”. Một bài hát ngẫu hứng với giai điệu ngẫu hứng. Về sau, khi để ý xung quanh, ông nhận thấy có một người đàn ông cao gầy, đeo kính, đang chăm chú lắng nghe và ghi chép gì đó vào cuốn sổ. Sau khi nghe “Chiều ngoại ô Matxcơva” trên làn sóng phát thanh, ông ta hiểu rằng, đó chính là bài ca xúc động chợt đến với mình hôm nào, và viết bức thư không phải để … căn vặn về bản quyền, mà để cảm ơn nhà thơ cùng nhạc sĩ, người đã khiến cho những cảm xúc của ông sống được một cách sinh động và tinh tế như thế. Tác giả không giận mà còn công bố bức thư ấy với bạn bè, coi đó như một sự đồng cảm lớn lao giữa ông và những người dân Nga giản dị. Quả đúng, bài hát này thực sự gần gũi với người dân Nga, với cả những người yêu mến họ. Lời thơ của Matusovky lấy chất liệu từ dân ca Nga với những điệp khúc rất quen thuộc, như gần như xa, mơ màng: “Con thuyền trôi hay không trôi” “Người thương yêu hay không yêu”. Âm nhạc của Soloviov-Sedoi cũng trung thành với sự giản dị ấy. Tiết tấu chậm rãi, không thay đổi trong cả bốn đoạn nhạc, nghe có vẻ buồn buồn, đều đều, nhưng kỳ thực, người nghe và người hát vẫn cảm được những thanh âm réo rắt ngay từ khi mới cất lời. Đó là điều vẫn xảy ra với tôi. Mỗi lần hát bài hát này, dù không có nhạc đệm, tôi đều như nghe thấy tiếng balalaika vang lên đâu đó. Nước Nga là một đất nước kỳ lạ. Trước đây, nó khiến người ta lưu luyến đã đành. Trong cuộc sống hiện đại xô bồ này, với nhiều người, nó chưa phải là một miền đất hiền hậu, nó mang trong mình nhiều bất trắc, nhưng nó vẫn để lại trong những người đến đây từ những miền quê khác một tình yêu trong sự gắn bó khó hiểu, không bao giờ lý giải được. Giống như tôi bây giờ. Ngồi nghe lại “Chiều ngoại ô Matxcơva”, tiếng đàn balalaika réo rắt lại đưa tôi về những chiều bên sông, bên rừng nơi đất bạn. Những chiều ấy, tôi có thể đoan chắc rằng, trăm năm nữa vẫn thanh vắng, tĩnh lặng, trăm năm nữa vẫn khắc vào lòng người nhiều điều thương mến khó quên. Thụy Anh 11/2008 |
Trích:
Hồi còn là học sinh cấp ba, trong sổ lưu niệm của các bạn gái ghi chép lại rất nhiều các câu danh ngôn (lúc đó ghi chép theo dạng truyền khẩu-nên độ chính xác cần phải kiểm nghiệm) và tôi rất tâm đắc một câu: "Gió như tâm hồn người thiếu nữ - nó không có quy luật nào cả!"...trải nghiệm qua năm tháng, tôi vẫn thấy không sai, nay mượn câu nói đó để áp dụng vào trường hợp của nhà thơ: "Gió như tâm hồn người nghệ sĩ- nó không có quy luật nào cả!". Nguồn cảm hứng trong Hoa Pion có thể bị cằn cỗi - vì đã là hoa sẽ có lúc tàn! Nhưng nguồn cảm hứng của nhà thơ Thụy Anh chắc rằng: vơi lại đầy!!! Bởi đoạn kết của Thụy Anh viết: Trích:
|
Trích:
Bác cả ui, có nhẽ cái câu bôi đậm trên kia là một dị bản của câu "Tình yêu như gió biển, ban ngày thổi từ biển vào, ban đêm lại từ đất liền thổi ra" trong Gió Biển của Constantin Paustovski chăng? Hôm nọ, tự dưng vớ được trong nhà cuốn Tuyển tập các truyện ngắn hay 2000-2010 do sư tử đi hiệu sách mua về, thấy có truyện ngắn của Hoa Pion trong đó. Nó nằm cuối cùng trong một dây dài những truyện ngắn của những Nguyễn Khải, Ma văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp. Cơ mà nhà iêm có cái thói rất xấu là cầm đến sách rất hay đọc từ cuối lên - thường là để xem thử rút cục thì cái này nó nói gì, có đáng mất công đọc hay không chứ (hô hô, thế nên có lần đi dự hội nghị kỷ niệm 10 năm một tạp chí chuyên ngành, được phát tặng một số của tạp chí ấy, in bằng tiếng Anh, nhà iêm phát hiện ra và gọi ngay cô bạn thân mến là TS., trưởng ban biên tập tạp chí đó ra trỏ cho thấy cái dòng khoe thành viên thư ký ban biên tập ở cuối tạp chí: He is making Master - ý là anh này đang học lấy bằng thạc sĩ ạ, cô em đỏ cả mặt bảo Anh đúng là ông nỡm! - À, là do chuyên đọc lộn ngược đấy thôi). Và đã đọc cái truyện ngắn ấy của Hoa Pion rồi gọi phone chia sẻ cảm tưởng ngay. Là bằng chứng của việc không phải riêng tôi nhớ đến em mà có rất nhiều người khác nhớ đến em đấy nhé. Hoa Pion viết được, có cái mới lạ chứ không nhàm. Đấy là cái mà em nên giữ. Bản sắc riêng của nhà văn là cái quý giá không khác gì danh dự của một con người, nó giữ cho ta tự do trong suy nghĩ và làm cho ta trở nên khác biệt. Chúc em vượt qua được cái khúc quanh này để viết tiếp, đằm thắm hơn nữa với những suy nghĩ đầy tính nhân bản vốn có của em. Chúng tôi vẫn chờ đọc em đấy. |
:emoticon-0115-inlov
Em cảm ơn hai bác. Thật may mắn bác binhdi lại có thói quen như thế (sao giống em thế, em cũng hay đọc từ dưới lên, ko hiểu sao) vì truyện của em toàn xếp thứ bét thôi hihi. Ngày xưa em cũng thích câu về gió biển (бриз) đó của Paustovsky lắm lắm. Mà ngày í chưa biết yêu. (mà cũng không chắc bây giờ đã biết,^^) |
Hóa ra không chỉ có mình mới có thói quen đó. Là khi cầm mỗi tờ báo hay tạp chí, rồi sách nữa, là lật béng trang cuối rồi lật trở lại xem dần. Thụy Anh đừng lo khi truyện mình in cuối sách nhé, hóa ra cũng có nhiều người có thói quen xem từ dưới lên. Như kiểu phát chẩn trong truyện cổ tích ấy mà, không phải hôm nào cũng phát chẩn từ đầu hàng xuống, đứng cuối hàng có khi lại ngon:emoticon-0136-giggl
|
Đã lâu rồi em không đóng góp bài vở dù vẫn nhận được tin nhắn từ diễn đàn. Em xin chuộc lỗi bằng một bài viết, và cũng là lời chúc mừng đầu năm gửi đến các anh chị và các bạn ở NNN.
Năm mới, nâng chén rượu, thấy những điều mới mẻ đang đợi mình, và thầm mong mỏi Hạnh Phúc. Nhưng thực ra ai cũng thầm biết, Hạnh Phúc chỉ có được sau những (ít hoặc nhiều) Khổ Đau. Nào cùng nâng cốc chúc cho năm 2012 đến với nhiều Hạnh Phúc và rất rất ít khổ đau. RƯỢU VODKA NGA - 100 GRAM KHỔ ĐAU, HẠNH PHÚC Một lần, khi tôi còn là sinh viên học ở Nga, anh bạn người Nga của tôi nửa đùa nửa thật hỏi tôi có biết vì sao người Nga lúc nào cũng trữ rượu vodka trong nhà không, thậm chí là chai uống dở? Tôi đoán là do trời quá lạnh, họ luôn cần được sưởi ấm. Anh bạn cười cười, bảo: "Đã bao giờ mày cảm thấy thất vọng với mình, với cuộc đời đến độ không muốn sống nữa chưa? Một khoảnh khắc, sẵn sàng chết! Lý trí tê liệt. Cho nên đừng có mắng mỏ người muốn chết rằng Anh ta đang ích kỷ, ngớ ngẩn, không biết nghĩ! Lúc đó còn gì để nghĩ mà cũng đã quá sợ nghĩ ngợi rồi mới đi đến quyết định tiêu cực ấy. Như một sự cứu rỗi. Thế rồi trước khi giã biệt với những gì từng quen thuộc với mình, Anh ta nhìn quanh một lượt và chạm mắt vào chai rượu vodka uống dở để góc nhà. Một tia sáng loé lên: phải rồi, một phút để uống nốt chai rượu - rượu này dành cho tử biệt sinh ly! Uống xong, đầu óc bỗng trở nên sáng rõ. Cái khoảnh khắc muốn chết cao độ nhất đã trôi qua. Anh ta khóc. Vì thương mình. Vì thương những người quanh mình. Và có can đảm sống tiếp..." Thú thật là khi ấy tôi đã cười vì sự tếu táo của ông bạn mà không hiểu rằng trong đó cũng có phần lớn sự thật. Để hiểu được những triết lý nhân sinh ở đời xung quanh một sự vật, hay dù chỉ là một thứ đồ uống tưởng chừng thông dụng đến độ chẳng cần quá ngẫm ngợi về nó như vodka của người Nga, cũng cần một sự trải nghiệm nhất định bằng tuổi tác, vốn sống. Những ngày cuối năm này, chúng tôi có dịp lên Đồng Văn, giao lưu với các chiến sĩ biên phòng. Những cái bắt tay thật chặt, những tấm tình ấm áp, những câu chuyện cảm động về đời lính... Và sau cùng là những chén rượu ngô Ha Ía trong vắt được cạn đến đáy cùng, để tỏ lòng thật bụng quý thương giữa chủ và khách. Tôi bỗng chạnh nhớ đến nước Nga với gần 17 mùa đông dằng dặc tôi đã gắn bó và thứ rượu vodka long lanh được rót ra đầy đặn trong những cốc có khía, lạnh toát hơi giá mùa đông. Nếu rượu ngô ở Đồng Văn cho chúng tôi bạn bè thì rượu vodka ở Nga cũng có ý nghĩa tương tự. Nó sưởi ấm lòng người, mỗi một chén cùng cạn mang một ý nghĩa riêng, không chén nào giống chén nào, như tâm tình đau khổ, sướng vui luôn rất khác nhau được trút cho nhau trọn vẹn vậy. Người nâng ly, rót cho tràn trề, trịnh trọng nói những lời đẹp mà không kém phần chân thành: "Ly rượu này tôi muốn uống vì tình bạn..." "ly này ta uống để chúc sức khoẻ mẹ già ta..." "Ly này uống vì tất cả những người phụ nữ quanh ta...". Nếu bạn uống rượu với người Nga, cũng hãy chuẩn bị sẵn cho mình một lời chúc tụng. Những lời chúc tụng được nói ra nhiều, chớ tưởng là sáo rỗng, chúng mang hơi ấm của sự thật lòng, gom góp năng lượng tốt để trao nhau, những năng lượng giúp con người đối mặt được với mọi khó khăn của đời sống. Tại sao chúng được nói lên khi trên tay là ly rượu vodka, hẳn cũng có lý do. Vodka không chỉ là thức uống kèm đồ ăn, vodka tạo mối giao cảm thần thánh giữa những tâm hồn đang tìm tiếng nói chung, một nốt nhạc chùng để giây phút sau cùng ngân nga ca hát. Đêm dài, ngoài trời tuyết trắng, tiếng thở dài não ruột của bà vú nuôi đã khiến thi hào Nga Pushkin từng thốt lên: "Hỡi bạn lòng tri kỷ Những ngày thơ cơ hàn Rượu đâu? Ta nâng cốc Rượu vào - nỗi buồn tan!" (Buổi tối mùa đông - Thúy Toàn dịch) Rượu uống để đánh tan sầu khổ, để chia sẻ niềm vui, để chúc nhau sức khoẻ, để im lặng cùng ngồi bên nhau trong sự đồng cảm không lời. Rượu vodka Nga còn không thể thiếu trong nỗi niềm tưởng nhớ người xưa khuất. Lúc ấy, dù nam hay nữ, thân hay sơ, cũng cùng nhau nâng chén. Chén rượu trong veo bốc hơi giá bấy giờ có giá trị kết nối tâm linh, xoá nhoà ranh giới âm dương, sống chết. Tôi nhớ hình ảnh người lính trở về sau trận chiến trong bài Thơ của Isakovsky, có đoạn anh đứng trước mộ vợ mà tâm sự thế này: Thở dài, dây lưng sửa lại Mở tay nải đeo bên người Chai rượu đắng cay anh để Lên tảng đá xám giữa trời: “Đừng trách anh, Praskovia, Bên em trong bộ dạng này Lẽ ra uống vì sức khỏe Mà vì tử biệt phải say Bạn bè rồi đây gặp lại Mà ta mãi mãi xa lìa…” Cầm chiếc ca đồng anh uống Rượu sầu một nửa anh chia ... (Giặc đã đốt nhà - Thụy Anh dịch) Ca rượu ấy, người lính cùng chia với người vợ đã khuất, chấp nhận sự thật đau lòng, là sự giao biệt giữa hai cõi âm dương. Mới hiểu vì sao anh lính của Simonov trong bài Thơ "Đợi anh về" nổi tiếng đã dặn vợ chớ cạn chén rượu sầu chia biệt trước mộ, chớ tin vào cái chết của mình. Rượu vodka Nga vì thế, đối với người Nga, hơn cả một thứ đồ uống có cồn. Cũng bởi vậy mà dùng nó, cần trân trọng Văn Hoá mà ta có thể nôm na gọi là Văn Hoá vodka! Người Nga giờ quen tính vodka theo đơn vị độc đáo: 100 gram. Ai đó rủ bạn "làm 100 gram đi", hãy hiểu rằng họ đang muốn chia sẻ với bạn 100 gram khổ đau, hạnh phúc của đời mình đấy. Trước khi vào bữa độ một hoặc nửa tiếng, chủ nhà để chai vodka vào ngăn đá. Đồng thời những ly cốc nhỏ, bằng thuỷ tinh trong, dùng để uống vodka cũng được làm lạnh. Khi khách đến, trên chiếc bàn gỗ phủ khăn ren đã được dọn chút đồ nguội. Dưa chuột muối chua xanh xám, dưa chuột muối xổi xanh đậm lẫn vài cọng thìa là tươi, ăn ngai ngái mặn, mơ hồ chua, rất thú. Các loại xa-lát trộn mai-ô-ne ngầy ngậy. Một chút cà chua, táo giòn, cọng tỏi và cả tỏi muối đã được bóc từng tép trắng muốt, bắp cải muối cả cây thái lát, những cọng nấm nhỏ xíu tròn trịa ngâm chua ngọt - trăng trắng, xanh xanh, đo đỏ, vàng vàng, xam xám -hài hoà giản dị như bức vẽ cổ xưa, lại phảng phất hương chua thanh thoát... Cạnh đó là một đĩa thịt nguội thát lát mỏng. Đĩa giò mịn. Đĩa mỡ muối trắng rắc ít bột tiêu đen, cũng để kèm vài tép tỏi. Trứng cá đỏ đặt cạnh những viên bơ vàng và những lát pho-mai. Vài lát bánh mì đen bánh mì trắng được xếp vào giỏ mây. Thế thôi đã, nhưng đủ sức gợi khiến ta hiểu sắp được dự một buổi tiệc chu đáo, ngon miệng. Khi khách khứa đã đủ mặt, chủ nhà mở tủ lạnh lấy chai vodka cùng bộ ly tách nhỏ đặt trên chiếc khay tròn nền đen hoa văn sặc sỡ bưng ra. Chủ nhà trịnh trọng đặt khay vào giữa bàn, khách ngắm làn hơi giá mờ mờ đang bốc lên, để lại những giọt nước trong bám vào vỏ chai, cho cảm giác mát lạnh. Bấy giờ, vodka đã xuống đến 8-10 độ C, một ngụm đầu tiên cho vị tê buốt bất ngờ, như báo hiệu một điều bất thường đang đến. Và đúng thế, ngay lập tức, ngực ấm sực lên, tim khe khẽ đập nhịp khác hơn, chuẩn bị đón nhận mọi cảm xúc. Đó cũng là lúc bạn nhận thấy trên bàn đã đầy ắp thức ăn từ lúc nào. Âu khoai tây luộc đang kiên nhẫn bốc khói. Đĩa cá trích được dọn lên cùng những khoanh hành trắng mờ. Những đĩa sâu lòng đựng thịt cuốn bắp cải, cà tím nhồi thịt, bánh crape nhân thịt, thịt băm nhồi khoai tây xếp lớp. Âu đất đựng bánh bọc thịt nhóng nhánh mỡ... Những món ăn Nga, nhà nghèo thì vài ba món, nhà khá giả hơn thì hàng chục món - có bao nhiêu mang ra bằng hết - nhưng không có vodka là mất đi nửa vị, mất đi cả sự đồng cảm, gắn kết. Và vodka cũng được người Nga nghĩ ra vì thế. Không phải để uống thùng uống vại. Không phải để say xỉn mà quên hết đời hết bạn. Không phải để uống một hơi cháy họng mà gây sự với nhau... Tất cả những sự đó nếu có xảy ra, người Nga nói, đó là con quỷ có sẵn trong mình đang thức dậy. Uống vodka sành điệu là uống từng ngụm khoan thai, lắng nghe cái lạnh của rượu trong chảy chầm chậm trong huyết quản, lắng nghe lòng ấm lên và thấy mình bay trên đôi cánh đại bàng. Vodka dành cho những tấm lòng quả cảm và phóng khoáng. Vodka dành cho những người nồng nhiệt ưa những lời nồng nhiệt. Cũng vì lẽ đó, khi đã ngà ngà, người Nga thường cất tiếng hát. Già trẻ nam nữ... ai cũng sẵn sàng cất giọng. Về tình bạn. Về tình yêu. Về sự đợi chờ. Về những câu chuyện lính... Cũng phải thôi, vì mảnh đất này đã trải qua cái khốc liệt của chiến tranh. Và cũng chỉ có vodka mới khiến họ kể được hết cho nhau nghe tất cả "những điều trông thấy..." vẫn luôn nằm đâu đó đáy tim mình: "Đồng chí quý mến ơi Cùng hát với chúng tôi Hát lên bài ca chiến thắng để biệt ly..." Thụy Anh 1/12/2011 |
Em đọc được thông tin này qua FB một người bạn, gửi các bác cùng xem ạ:
http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/4...vinh-danh.html Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2011: Hạng mục dịch thuật sau một năm bỏ trống nay đã tìm được tác phẩm trao giải là Olga Berggoltz của tôi (NXB Trẻ) của dịch giả Thụy Anh. Hội đồng bầu chọn cho rằng Olga Berggoltz của tôi là tập thơ đầu tiên của nữ thi sĩ có số phận lạ lùng Olga Berggolts được xuất bản ở Việt Nam một cách hệ thống và tương đối đầy đủ. Tập thơ dịch còn là một công trình khảo cứu với bài viết dày dặn, sâu sắc của dịch giả Thụy Anh. Việc trao giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2011 cho Olga Berggoltz của tôi cũng đánh dấu sự trở lại của văn học Nga sau một thời gian bị gián đoạn. Đây cũng là tác phẩm duy nhất giành được số phiếu tuyệt đối lần này. Lễ trao giải thưởng và kết nạp hội viên của Hội Nhà văn Hà Nội sẽ được tổ chức tuần đầu tháng 3-2012. |
Sau khi đọc Thụy Anh trên mạng, cảm phục và trân trọng tác giả nên hungmgmi mở topic này để giới thiệu các sáng tác và thơ dịch của bạn. Sau đó thì mới làm quen và rất vui là Thụy Anh đã gắn bó với các thành viên và diễn đàn NNN khi đến dự gặp mặt offline, tặng sách và chia sẻ các sáng tác mới của mình trong topic này.
Xin chúc mừng Thụy Anh-Hoa Pion, chúc bạn có thêm những thành công mới!:emoticon-0150-hands |
Chúc mừng Hoa Pion (Thụy Anh) với thắng lợi lần này của em!
Vẫn luôn có rất nhiều người chờ đọc em. |
Chúc mừng chị Thụy Anh với thành công này.
Các bác cho em hỏi địa chỉ mua sách ở đâu ạ? Chị Thụy Anh, em vừa mua được mấy cuốn sách rất hay cho các con: Bố ơi, vì sao mẹ hay nổi nóng? Có phải cuốn này cũng của chị không? Nhìn ảnh em nhận ra đã cùng con tham gia một chương trình do chị và CLB đọc sách tổ chức, em hát bài "nụ cười" trong chương trình đó ạ :emoticon-0115-inlov |
Ôi, Russiana chắc có tham gia vụ đọc sách chủ đề Thiên Nhiên của CLB Đọc sách cùng con? Vui quá :emoticon-0115-inlov
Cuốn Vì sao mẹ hay nổi nóng là nằm trong bộ "Bố ơi, vì sao..." (9 cuốn) viết cho trẻ con của TA. Cảm ơn Russiana đã mua hi hi. |
Em cảm ơn các anh chi nhiều. Lúc nào em cũng cảm thấy được sự ủng hộ và khuyến khích của cả nhà. Em xin gửi lại lên đây mấy dòng cảm ơn em đã viết trên blog nhé. Để xứng đáng với tình cảm này, em sẽ cố gắng học tập nhiều hơn, để làm sao có thể viết hay dịch một cách chuyên nghiệp hơn. Điều này có được không phải dễ và em chắc cũng còn lâu mới đạt được điều ấy.
Dịch văn học, mà lại dịch thơ nữa, là công việc có thể nói là "vô cùng". Ngay cả hiểu một văn bản cũng mỗi người có thể hiểu một cách. Nhiều khi không phải chẻ từ chẻ chữ ra mà hiểu được. Có những điều phụ thuộc vào cảm xúc của mình, vào những điều nằm sau, nằm giữa những câu chữ từ ngữ. Tuy nhiên, em vẫn và sẽ luôn cố gắng và trung thành với cảm xúc của mình khi dịch, khi viết, để ít nhất bản dịch hay bài viết phải chạm được vào trái tim người đọc. Còn không thì mình có thể bỏ đi và tiếp tục cố gắng. :emoticon-0155-flowe "Nhận được tin "Olga Berggoltz của tôi" được nhận giải của Hội nhà văn Hà Nội 2011, nhiều anh chị bạn bè viết thư, gọi điện, nhắn tin tỏ ý vui mừng. Mình cũng mừng lắm. Mừng cho Olga được nhiều người quan tâm, yêu mến, nhiều người đọc và nhiều người dịch bà. Số phận kỳ lạ của người con gái nước Nga, nữ sĩ- người thơ Xô Viết và chứng nhân của một giai đoạn lịch sử vinh quang và thống khổ của đất nước Nga đã làm rung động trái tim người đọc Việt Nam. Cảm ơn những người đầu tiên đã đưa Olga đến Việt Nam - dịch giả Bằng Việt, Ngân Xuyên. Cảm ơn những người bạn thân thiết đã cổ vũ mình trong những tháng ngày sống với ký ức của Olga, lấy việc dịch Olga làm niềm vui, niềm hạnh phúc và sự chia sẻ với bạn bè. Cảm ơn những người đọc âm thầm ở khắp nơi, đồng cảm cùng người dịch, rung động với lời thơ chân thật của Olga. Cảm ơn cả những lời phê phán phản biện, góp ý cho bản dịch của những người yêu nước Nga và giỏi tiếng Nga. Cảm ơn Điệp luyến hoa, Biển nhớ, Cammy, chị Nguyệt Thu, bạn hiền Hoa Phong Lan, em Hồng Hà... và thivien.net yêu thương - nơi cho mình nguồn động lực đầu tiên để lao vào dịch Olga trong một sự rung cảm khó quên. Xin cảm ơn nhóm biên tập sách của Nhà xuất bản Trẻ. Cảm ơn nhóm bạn bè thân yêu của mình - những người làm tất cả để Olga được hiện ra trang trọng trong một ấn phẩm mang đậm tình yêu - chị Hoàng Anh, chị Hà Việt Anh, anh Hải, Họa sĩ Lê Thế Minh, Nguyễn Trương Quý, Vũ Hiệp... Xin cảm ơn những cô bác, anh chị, các bạn đã nồng nhiệt đón chờ và đón nhận cuốn sách "Olga Berggoltz của tôi"! Đặc biệt cảm ơn các anh chị ở nuocnga.net, những người đọc tuyệt vời - sắc sảo và công tâm - đã chân tình yêu quý và hiểu lao động của người dịch. Cảm ơn những người bạn, người thân yêu của mình mà mình sẽ không kể tên ra, nhưng những người luôn vui mừng và trân trọng niềm say mê mình đã dành cho cho nữ sĩ Olga của nước Nga. Lời cảm ơn nói hoài không đủ, không hết, và không trọn vẹn. Hic." |
Tối qua lại được chiêm ngưỡng dịch giả Thụy Anh ngồi ngay cạnh nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, đương nhiên là ngồi đối diện với bác Lại V Sâm để trả lời phỏng vấn trong khuôn khổ của chương trình " MỘT THỜI TUỔI TRẺ " được VTV và TW Hội Hữu nghị Việt Nga tổ chức tại nhà hát Âu Cơ - Hà Nội. Tôi có cảm giác bạn trẻ ra hay vốn dĩ bạn vẫn trẻ như thế...
Chương trình " MỘT THỜI TUỔI TRẺ " và với cái tên của một bài hát Nga " Как молоды мы были" của Александр Градский đã xuyên suốt chương trình giao lưu âm nhạc Việt Nga. Chờ mãi mà chẳng thấy phóng sự của các bác trong TW Họi đưa tin bài và ảnh?. Lời của bài hát Как молоды мы были như sau: Оглянись, незнакомый прохожий Мне твой взгляд, неподкупный знаком Может я это, только моложе Не всегда мы себя узнаем Ничто на земле, не проходит бесследно! И юность ушедше все же бессмертна! Как молоды мы были, Как молоды мы были Как искренно любили Как верили в себя! Нас тогда без усмешек встречали! Все цветы на дорогах земли! Мы друзей за ошибки прощали, Лишь изменя простить не могли! Ничто на земле, не проходит бесследно! И юность ушедше все же бессмертна! Как молоды мы были, Как молоды мы были Как искренно любили Как верили в себя! Первый тайм мы уже отыграли, И одно лишь сумели понять, Чтоб тебя на земле не теряли Посторайся себя не терять. Ничто на земле, не проходит бесследно! И юность ушедше все же бессмертна! Как молоды мы были, Как молоды мы были, Как искренно любили Как верили в себя! В небесах отгорели зарници И в сердцах утихает гроза Не забыть нам любимые лица не забыть нам родные глаза Ничто на земле, не проходит бесследно! И юность ушедше все же бессмертна! Как молоды мы были, Как молоды мы были, Как искренно любили Как верили в себя! |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:38. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.