Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thi ca (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=30)
-   -   Ba phút sự thật và các bài thơ khác của Evtushenko (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=116)

cây sồi 24-05-2010 15:43

thơ dịch
 

NGÔI NHÀ CŨ LUNG LAY
Evghênhi Evtushenkô

Ngôi nhà cũ lung lay, hoà âm thanh cót két thành khúc nhạc thánh ca,
tiếng cót két yếu dần, như nhạc mặc niệm hai ta gần hết.
Căn nhà cũ đung đưa, cảm nhận được cách lặng thầm và chầm chậm:
ở đây em đang thoi thóp và anh thật chết mòn.



“Khoan đừng chết!” vang lên thành tiếng hý từ thảo nguyên
trong tiếng chó rú dài và rừng thông đang rền rĩ,
nhưng đôi ta đang chết dần, trong mắt nhau, mãi mãi,
nhưng dù sao, đó là chuyện sinh tử tự nhiên.

Sao ta thèm được sống! Chim gõ kiến cụng chén với cây thông
và chú nhím nuôi chạy nhảy trong vườn nấm,
Đêm trôi mãi, như chó con đầy lông, đen đen, ướt đẫm,
ngậm ánh sao như hoa súng nở giữa hai hàm răng.



Bóng đêm đen phả vào cửa sổ mùi ẩm ướt của cây đũm hương
nằm nép sau lưng anh – cái lưng nhìn thấy hết!
với Phrô của Platônôv, như bên em gái mới tìm lại được,
người yêu anh đang ngủ, khổ nhục cũng vì anh.

Anh nghĩ về sự què quặt và ngây độn các cuộc hôn nhân,
sự xấu xa cả hai ta – vừa phản bội, vừa dối trá:
anh yêu em, bằng 40 ngàn người anh em thân nhất,
anh hại em như tại chừng ấy kẻ thù.

Phải em thành người khác rồi. Ánh mắt em nheo nheo dữ tợn, không xót thương,
kiểu giễu cợt mọi người vừa chua cay, vừa mặn chát.
Nhưng hỏi ai, ngoài hai ta đã biến hai kẻ yêu nhau tha thiết
thành hai người mà chính chúng ta không còn sức để yêu?




Trả giá nào diễn giả quen đốt lửa nhiệt tình,
khi vung vãi khắp nơi cho sân khấu và cho bản kẽm,
anh muốn tặng hạnh phúc cho cả trái đất,
vậy mà anh không thể tặng riêng cho một con người?!





Phải, hai ta đang mòn mỏi, nhưng có cái gì đang cản lại anh
không cho tin vào việc anh và em không tồn tại.
Ta từng có tình yêu. Tình yêu còn hít thở
trên mặt gương trong tay, bên khoé miệng yếu đuối kia.

Ngôi nhà cũ lung lay, kêu cót két, giữa vườn tầm ma
mời ta hãy mượn của ngôi nhà tính chịu đựng.
Ở đây, chúng ta đang chết dần, nhưng ở đây, ta còn sống.
Ta còn yêu nhau nghĩa là ta đã tồn tại.






Đến một ngày nào đó (xin Chúa đừng cho, chớ cho)
khi anh hết yêu, khi anh chết thật,
lúc xương thịt anh bí mật châm chọc:
“Anh còn sống!” giữa nóng bức, sẽ thầm nhắc đêm đêm.

Nhưng trong bộn bề đam mê, như người khôn chậm hiểu thật buồn
và đột ngột anh nhận ra: tiếng nói xương thịt anh là dối trá,
anh sẽ nói cùng anh:”Mình đã thôi yêu. Đã chết.
Có một thời mình yêu. Một thời mình đã sống rồi”.
Tùng Cương dịch.






КАЧАЛСЯ СТАРЫЙ ДОМ
Евгений Евтушенко

Качался старый дом в хворал слагая скрипы,
и нас, как отпевал, отскрипывал хорал.
Он чуял, дом-скрипун, что медленно и скрытно
в нём умирала ты и я в нём умирал

Постойте умирать – звучало в ржанье с луга
в протяжном вое псов и сосенной волшбе,
но умирали мы навеки друг для друга,
а это всё равно что умирать вообще.

А как хотелось жить! По соснам детял чокал,
и бегал ёж ручной усадебных грибах,
и ночь плыла, как пёс, косматый, мокрый, чёрный,
кувшинкою речной дёржа звезду в зубах.

Дышала мгла в окно малиною сырою,
а за моей спиной – всё видела спина!-
с платоновскою Фро, как с найденной сестрою
измученная мной, любимая спала.

Я думал о тупом несовершенстве браков,
о подлости всех нас – предателей, врунов:
ведь я тебя люблю, как сорок тысяч братьев,
и я тебя губил, как столько врагов.

Да стала ты другой. Твой злой прищур нещаден,
насмешки над людьми горьки и солоны.
Но кто же, как не мы, любимых превращает
в таких, каких любить уже не в силах мы.

Какая же цена ораторскому жару,
когда расшвырян вдрызг по сценам и клише,
хотел я счастье дать всему земному шару,
а дать его не cмог - одной живой душе!?

Да, умирали мы, но что-то мне мешало
уверовать в твоё, моё небытие.
Любовь ещё была. Любовь ещё дышала
на зеркальце в руках у слабых уст её.

Качался старый дом, скрипел среди крапивы
и выдержку свою нам предлагал взаймы.
В нём умирали мы, но были ещё живы.
Ещё любили мы, и, значит, были мы.

Когда-нибудь потом (не дай мне Бог, не дай мне!)
Когда я разлюблю, когда и впрямь умру,
то будет плоть моя, ехидничая втайне,
“Ты жив!” мне по ночам нашептывать в жару.

Но в суете страстей, печально поздний умник,
внезапно я пойму, что голос плоти лжив
и так себе скажу: “Я разлюбил. Я умер.
Когда-то я любил. Когда-то я был жив.”
1966
[/TABLE1]

cây sồi 24-05-2010 16:40

về từ em
 
Chào Nina
1) Tôi nghĩ các từ anh –em tiếng Việt có thể chỉ 3 ngôi. Thí dụ:
Ngôi1: Anh về đây. = я
Ngôi 2:Anh đi đâu? = ты
Ngôi 3: người chiến sỹ ấy, ai đã gặp anh, đều…= Он
2) Kể ra không muốn lẫn thì khổ 1và 2 dùng: nàng và tôi.
Khổ 3 dùng anh và em.
3) NNN hơi hạn chế thời gian sửa lỗi, vì có khi, hàng tháng sau, đọc lại bản dịch, mới hiểu đúng ý tác giả, muốn sửa mà chịu.
Bạn có đồng ý với tôi không?

cây sồi 25-05-2010 18:47

về từ em
 
Một biến thể dùng NÀNG và TÔI

SỰ BIẾT ƠN
Evghênhi Evtushenkô

Nàng bảo tôi:”Bé đã ngủ rồi”,
kéo tấm màn che nôi con nằm cho kín,
đưa tay tắt đèn trần, dáng bối rối,
người rúm lại, áo ngoài rơi xuống ghế ngồi.

Tôi với nàng không nói về tình yêu.
Nàng thầm thì điều gì, nói nghe lúng búng,
không rõ âm “r”, như vướng nuốt nho trong họng,
sau hàm răng trắng bóng, trắng tinh.

“Anh biết rằng em phỉ nhổ từ lâu
cuộc đời em. Bỗng tự nhiên ra cùng quẫn!
Em là đàn ông mặc váy. Thân ngựa chở nặng.
Giờ bỗng lại là phụ nữ. Nực cười không?”

Phải biết ơn - tôi coi là nghĩa vụ của tôi.
Khi đi tìm sự bảo vệ ở người không được ai bảo vệ,
tôi vùi mình, gồng người lên như sói,
trong đống chăn đầy tin tưởng của nàng.

Nhưng nàng như sói con bị xua đuổi, cô đơn,
nước mắt đầm đìa, thì thào bên tai tôi không ngớt,
rằng nàng biết ơn tôi nhiều lắm,
làm tôi xấu hổ lạnh toát sống lưng.

Tôi muốn ôm nàng bằng cả đống vần thơ,
vẻ lúng túng, lúc mặt tái đi, khi đỏ lựng,
nhưng một phụ nữ! đang cám ơn tôi! đấy chứ
vì tôi là đàn ông, đã dịu dàng quá với nàng!

Làm sao có thể vậy trên thế giới này?
Quên mất trọng trách hàng đầu của người phụ nữ,
ta xoá chỗ họ đi. Ta hạ thấp họ xuống
cho ngang bằng, bình đẳng với cánh đàn ông.

Một thời kì hay hớm làm sao
được chuẩn bị, thật oan nghịêt, qua bao thế kỷ:
đàn ông giống đàn bà ở cái gì đó,
đàn bà lại y hệt như đám đàn ông.

Ôi Đức Chúa, tôi thấy nếp vai nàng
thụt sâu trong những ngón tay tôi, trông đói gầy và trần trụi,
và đôi mắt của giống người trên đời chưa từng gặp
gào thét lên, khi biến thành mắt đàn bà!

Bóng chạng vạng rồi phủ lên nửa phần mắt nàng.
Đang loé sáng, âm thầm, như nến cháy…
Đức Chúa ơi! Người đàn bà thấy cần quá ít-
Chỉ cầu được coi là phụ nữ thôi mà.
Tùng Cương dịch

Nina 25-05-2010 19:25

Em có cảm giác là hai nhân vật trong bài "Благодарность" ở trên không phải là vợ chồng chính thức, không biết các bác có thấy vậy không?

USY 25-05-2010 20:37

Trích:

Nina viết (Bài viết 58480)
Em có cảm giác là hai nhân vật trong bài "Благодарность" ở trên không phải là vợ chồng chính thức, không biết các bác có thấy vậy không?

Hiển nhiên là vậy rồi, còn "cảm giác" gì nữa Nina ơi!
Bi kịch của thời "bình đẳng giới":emoticon-0136-giggl

cây sồi 26-05-2010 15:04

về từ em
 
Chào cả nhà
Nhân Nina thắc mắc, họ không phải vợ chồng. Tôi kể thêm, cứ nghĩ mãi: câu: nó đã ngủ rồii- CON hay ChÁU đã ngủ rồi , cuối cùng tìm được từ BÉ , rất thích. vẫn bí mật!

cây sồi 26-05-2010 15:08

thơ dịch
 

TÔI LÀ THIÊN THẦN
Evghênhi Evtushenkô

Tôi không uống rượu.
Yêu độc vợ mình.
Chung tình với vợ-
Tôi xin nói rõ:
Tôi sống đúng thiên thần-
Không cần viện dẫn dù một lời nhà thơ Sipatrôp.
Sống thiên thần làm tôi héo mòn.
Phụ nữ qua đường, tôi nhắm nghiền hai mắt.
Thấy có gì vướng mắc trên vai.
Trời hỡi!
Đấy có lẽ mọc đôi cánh nhỏ.
Tiêu đời rồi.
Tôi buồn rười rượi.
Cánh dài nữa, dài mãi!
Thế là hết đời.
Chiếc áo vét của tôi, có lẽ,
phải chọc thủng lỗ cho hai cánh chui ra.
Tôi là thiên thần.
Không oán trách gì cuộc sống,
vì những chuyện bức bối bất công.
Tôi là thiên thần
Chỉ có thói quen hút thuốc
Tôi thuộc nhóm người nghiện thực.
Làm thiên thần –
là công việc kì cục nhất trên đời.
Chỉ sống bằng tinh thần.
Không cần một gram thể xác.
Biết bao nhiêu phụ nữ bước qua, tôi là thiên thần.
Còn làm gì với tôi được nữa!
Họ không thèm để ý đến tôi.
Khi tôi là thiên thần đang tại ngũ.
Này bạn ơi, hãy nhớ cho:
Những con quỷ khủng khiếp nhất trong cuộc sống
chính là người từng sống đúng thiên thần.
Tùng Cương dịch
Я АНГЕЛ
Евгений Евтушенко

Не пью.
Люблю свою жену.
Свою-
а это акцентирую.
Я так по-ангелски живу -
чуть Щипачёва не цитирую.
От этой жизни я зачах.
На женщин всех глаза закрыл я.
Неловкость чувствую в плечах.
Ого!
Растут, наверно, крылья.
Я растерялся.
Я в тоске.
Растут зануды!
Дело скверно!
Теперь придётся в пиджаке
прорезать прорези, наверно.
Я ангел.
Жизни не корю
за все же жестокие обидности.
Я ангел.
Только вот курю.
Я –
из курящей разновидности
Быть ангелом – страннейший труд
Лищь дух один.
Ни грамма тела.
И мимо женщины идут,
Я ангел.
Что со мною делать!
Пока что я для них не в счёт,
пока что я в небесном ранге.
Но самый страшный в жизни чёрт,
учтите –
это бывгий ангел!
1962
[/TABLE1]

cây sồi 05-07-2010 19:18

thơ Evtúhenko
 
NÓI VỚI NƯỚC NGA
Evghênhi Evtu shenkô

Nói đúng ra Người Thực sự là ai
sao số phận đến nước này như vậy:
miệng sặc sụa vôtca, đi: ngã xiêu, ngã vẹo,
vẫn tự cao, tự đại khoe tài?

Nói đúng ra Người thực sự là ai
như kẻ bất tài lại hay làm mẽ,
khuyên tai nhựa đeo trông sáng choé
chơi trò “độc đáo đi lên” thật quá tài?

Nói đúng ra Người thực sự là ai
làm nô lệ cho hư danh phù phiếm
do hèn nhát mà đang tay bịt miệng
những ai còn lưu luyến tin Người?

Nói đúng ra Người thực sự là ai
tôi tự hỏi: mình là ai nhỉ?
mà gào rú, oán trách Người như thế
om xòm làm Người quá buồn đau?
Tùng Cương dịch
РОССИИ
Евгений Евтушенко

А, собственно, кто ты такая,
с какою такою судьбой,
что падаешь, водку лакая,
а всё же гордишься собой?

А, собственно, кто ты такая
когда, как последняя мразь,
пластмаcсою клипсов сверкая,
играть в самородок взялась?

А, собственно, кто ты такая
сомнительной славы раба,
по трусости рты затыкая
последним, кто верит в тебя?

А, собственно, кто ты такая
и, собственно, кто я такой,
что вою, тебя попрекая,
к тебе прикандален тоской?
1974

cây sồi 05-07-2010 19:23

thơ dịch
 
THÀNH PHỐ IRPEN
Evghênhi Evtushenkô

Có một thời, anh đã hứa quá nhiều,
đến hôm nay, chẳng có gì cho em cả,-
anh quá nghèo.
Anh từng hứa: ta sẽ đi trong xanh trời và xanh lá,
trên xanh cỏ,
đầu áp đầu,
má kề má,
có chùm anh đào mát mẻ chạm khẽ má ta,
sự yên bình mang hơi cỏ làm mệt mỏi toả lan.
Ta muốn về Irpen,
trong tâm trạng mơ màng và lười biếng
,
nơi, có lẽ, có dốc đứng hay gốc cây lớn,
nơi có người từng ngồi viết trong hương hoa lan tử nở và hương cây,
tìm về đây,
con người ấy trốn chạy kỳ tài thay…
Nhưng không thể, hôm nay, trốn đi đâu được nữa
tránh xấu hổ vì lịch sử đã qua,
như trốn toà tra xét.
Mưa rào như trút,
mưa không xót thương
xoá sạch trơn mọi hy vọng về đầm ấm và bình yên
dành cho cả anh và em
trong xanh trời và xanh lá
trên xanh cỏ,
đầu áp đầu,
má kề má…
Tốp thợ sơn, bụng kêu óc ách,
đang húp canh.
Nhà phê bình tiếng tăm bước lại, cao chưa đến vai anh.
nhưng vẫn véo vai anh một cái:
“Mãi phút chót, anh mới là người từ lâu tôi muốn.
Anh không mắc câu những kẻ tán dương
và anh vượt lên viết về đề tài ý thức công dân, đất nước…”
Anh đã thấy trong mắt em sự khinh thường và xấu hổ.
Trong mắt em, anh đã chết
bởi ông ta ngợi khen.
Em đừng tin –
anh không phải,
người như thế đâu,
không phải đâu!
Thật đơn giản, cả con người anh, như chiếc bè gỗ bị đánh tan
trong cơn nước lũ.
Nhà phê bình ấy, ông ta nói láo.
Em đừng nghe hắn nữa!
Dăm mảnh ván vỡ bè của anh hợp gu ông ấy
chứ không phải anh!
Thế mà em vẫn nói:”Không,
đúng là anh.
Anh không phải bè gỗ, mà là quả quý mà thời đại sới vun mới có.
Anh là đứa con cưng của thời đại,
lại được nêu gương mẫu mực…”
Và ánh nhìn tuyệt đẹp của em nghiệt ngã, không chịu được hơn.
Em nói rằng thời đại là mẹ ruột của anh.
Phải chăng mẹ lại có thể làm con bị thương, què quặt?
Như con ngựa, anh bị họ khoác ách.
Họ đánh anh bằng roi,
miệng còn nhếch mép cười.
Còn hôm nay, họ hào phóng cho anh bánh bàng.
Mỗi chiếc bánh
với anh, ngang roi quất.
Em xem đấy, anh có là con yêu của thời đại nữa?
Thành Beclinh đang bị dây kẽm bao quanh,
ở diễn đàn LHQ có ông quan
như có chút hơi men, chuếnh choáng
thô lỗ gõ vào bảng đề tên trên bàn bằng đế giầy nặng,
em cứ nhìn ông ta – đấy mới là đứa con thời đại,
đứa trẻ đang phấn khích quá, gần như không định đùa.
Ta chưa có căn hộ. Ông ta vẫn nhổ toẹt.
Còn mê mải làm tên lửa nọ đến tên lửa kia, đưa lên vũ trụ.
Ở Irpen,
trời đang thu, ẩm ướt, tối đen.
Đám thợ sơn, ủ ê, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Nước Nga đói, nghèo và đi chân đất.
Nhưng bù lại, có phi công bay lên vũ trụ thật.

Anh đã nghèo đi, đáng sợ hơn
nghèo luôn về tâm hồn.
Tha cho anh, anh hứa hẹn với em quá nhiều rồi.
Tùng Cương dịch
ИРПЕНЬ
Евгений Евтушенко

Я так много когда-то тебе обещал,
ну а дать ничего не могу –
обнищал.
Обещал тебе нас в синеве и листве,
на зелёной траве,
голова к голове,
и по вишне прохдадной за каждой щекой,
и томительно пахнущий сеном покой.
Мы хотели в Ирпень
в полудрему и лень,
где, наверное, есть тот обрыв или пень,
на котором писал под левкой и лес
убегая сюда,
гениальный беглец…
Но сегодня нельзя убежать никуда
от стыда за историю,
как от суда.
Льют по-льютому ливни,
безжалостно льют,
размывая надежды на мир и уют
для тебя и меня,
в синеве и листве,
на зелёной траве,
голова к голове…
Лакировщики борщ поглощают,
урча.
Видный критик подходит –
он мне до плеча.
Но он всё-таки треплет меня по плечу:
“Вот сейчас вы такой, как давно я хочу.
Не попались на удочку лестной молвы,
и к гражданской тематике вырвались вы…”
Я в глазах твоих вижу презренье и стыд.
Похвалою его
для тебя я убит.
Ты не верь –
я не тот,
я не тот,
я не тот!
Просто весь я раздроблен,
как в паводок плот.
Этот критик – он врёт.
Ты не слушай вранья!
Мои щепки ему по душе,
а не я!
Ну а ты говоришь:
“ Нет,
ты именно тот.
Ты не плот а эпохой взллеянный плод
Ты - любимчик эпохи,
примерный сынок…”-
и прекрасный твой взгляд нестерпимо жесток.
Говоришь ты-
эпоха мне кровная мать.
Разве мать она может калечить,
ломать?
Как коня хомутали меня хомутом.
Меня били кнутом,
усмехаясь притом.
А сегодня мне пряники щедро дают.
Каждый пряник такой
для меня, словно кнут.
Что – я этой эпохи лелеемый сын?
Оцепляется проволкой Берлин,
и в ООН по пюпитру чуть-чуть под хмельком
обнаглевший хозяйственник бьёт башмаком.
Погляди на него – вот эпохи дитя.
Разыгралось дитя, и уже не шутя.
Нет квартиры у нас. Он на это плюёт,
за ракетой ракету готовя в полёт.
Над Ирпенью
сырая осенняя мгла.
Лакировщики мрачно играют в козла.
Голодает Россия, нища и боса,
но зато космонавты летят в небеса.
Я страшней обнищал –
я душой обнищал.
Ты прости, что так много тебе обещал.
1961


cây sồi 05-07-2010 19:30

Chào các bạn biên tập
Cứu tôi với. Bài thơ gốc và dịch là thơ bậc thang, quá sức chỉnh của tôi. Nhờ các bạn chỉnh hộ với. Cám ơn trước.

Nina 05-07-2010 20:13

Nói chung là em đã cố hết sức trình bày thơ bậc thang, nhưng vẫn chỉ đến thế thôi bác Cây Sồi ạ

cây sồi 10-07-2010 08:49

thơ dịch
 
СЛУЧАЙНЫЙ МАЛЬЧИК
Eвгений Евтушенко

При каждом деле есть случайный мальчик.
Таким судьба таланта не дала,
и к ним с крутой неласковостью мачех
относятся любимые дела.

Они переживают это остро,
годами бьются за свои права,
но как и прежде выглядят невзросло
предательски румяные слова.

У них за всё усердная тревога.
Они живут, сомнений не тая
и, пасынки, они молчать не могут
когда молчат о чём-то сыновья.

Им чужды те, кто лишь покою рады,
кто от себя же убежать не прочь.
Они всей чувствуют, что надо
но не умеют этому помочь.

Когда порою без толку стараясь
всё дело бесталанностью губя
идёт на бой за правду бесталанность –
талантливость мне стыдно за тебя
1954
NGƯỜI LĂNG XĂNG
Evghênhi Evtu shenko

Mỗi việc làm đều có kẻ lăng xăng.
Số phận không cho họ chút tài năng,
có những việc làm được ưa thích
thường lạnh nhạt với họ như mẹ ghẻ với con chồng thật.

Người lăng xăng cảm nhận cũng rất căng
để giành quyền, họ đấu tranh suốt năm,
nhưng họ nói nhiều câu trên nồng nhiệt
tự để lộ mình chưa thành người lớn .

Làm việc gì họ cũng xăng xái, bấn lo.
Họ sống không một chút nghi ngờ
là con nuôi, họ lại hay lên tiếng
khi con ruột biết lúc nào cần ngậm miệng.

Họ thấy lạ người chỉ vui khi được bình yên,
người sẵn sàng chạy trốn luôn bản thân
Họ quá hiểu cái gì luôn cần nhất
để giải quyết công vịêc, thì họ lại không biết.

Nhiều khi họ rất cố, rất lăng xăng,
vì bất tài, giết chết luôn công việc.
kẻ tài kém thường chiến đấu vì sự thật-
ta xấu hổ vì ngươi nhất, ơi tài năng.
Tùng Cương dịch

cây sồi 10-07-2010 08:55

thơ dịch
 

ĐANG XẢY RA MỘT VIỆC VỚI TÔI
Evghênhi Evtu shenko

Đang xảy ra một việc với tôi:
Bạn cũ tôi không qua lại nữa rồi,
những người đến với tôi đều vướng chuyện vô bổ,
họ đủ loại khác nhau – tôi đâu cần họ.
Và bạn tôi
không cùng họ đi đâu
anh ta thừa hiểu điều này,
chuyện hai đứa cãi nhau không tài nào giải thích nổi,
cả hai đứa đau khổ, vật vã mãi.

Đang xảy ra một việc với tôi:
người vẫn đến với tôi
đặt tay lên vai tôi âu yếm
đã giật được tôi khỏi tay người đàn bà khác
lại hoàn toàn không phải người tôi cần.
Bạn cho hay, xin vì Chúa,
người đàn bà của tôi
biết phải đặt tay lên vai ai chứ?
Người phụ nữ của tôi
đã để tôi bị giật mất
để trả thù sẽ tìm giật một người khác thôi.
Cô chưa thể đáp trả ngay
cô còn phải đấu tranh, phải sống
rồi tự nhiên sẽ chọn được
một người khác cho cô.
Ôi có quá nhiều các quan hệ chẳng ai cần
dễ tổn thần kinh, bệnh hoạn,
những tình bạn không cần thiết!
Trong lòng tôi đã chai sạn, chết khô!
Ôi
mong ai đó, đến xoá hộ cho
cảnh những người xa lạ
phải ở bên nhau mãi mãi
và những tâm hồn gần gũi
lại phải xa cách!
Tùng Cương dịch
CО МНОЮ ВОТ ЧТО ПРОИСХОДИТ
Евгений Евтушенко

Cо мною вот что происходит
ко мне мой старй друг не ходит,
и ходят в праздной суете
разнообразные не те.
И он
не с теми ходит где-то
и тоже понимает это,
и наш раздор необъясним,
и оба мучаемся с ним.

Со мною вот что происходит:
совсем не та ко мне приходит,
мне руки на плечи кладёт
и у другой меня крадёт.
А той –
скажите, бога ради
кому на плечи руки класть?
Та,
у которой я украден,
в отместку тоже станет красть.
Не сразу этим же ответит,
а будет жить с собой в борьбе
и неосознано наметит
кого-то дальнего себе.
О, сколько
нервных
и недужных,
ненужных связей,
дружб ненужных!
Во мне уже осатаненность!
О, кто-нибудь,
приди,
нарушь
чужих людей
соединённость
и разобщённость
близких душ!
1957
[/TABLE1]

cây sồi 10-07-2010 09:01

nhờ sửa
 
Chào Nina
Rất xin lỗi, tôi làm sai động tác nào đó, và bài Người lăng xăng thành lạ quá.Khác mọi bài.
Lại phiền bạn sửa giúp. Muốn tự lập, mà khó quá. Thấy bài nào, bạn cũng phải sửa, nên rất áy náy. Chào.

cây sồi 16-07-2010 21:15

thơ dịch
 

TUỔI MẸ TÔI
Evghênhi Evtu shenko

Tuổi mẹ tôi mỗi ngày một cao.
Buổi mai sớm thấy ít dần người dậy
nghe xột xoạt tiếng mở tập báo mới
tin thì nhiều mà đâu thấy tin vui.

Sàn nhà trơn dễ trượt như mặt băng,
tiếng mẹ thở nghe mỗi năm một khó,
sao nghe cứ nặng hơn, cứng hơn thế
khăn choàng vai, ngày xưa, vốn nhẹ không.

Mỗi khi người ra đi dạo phố đông,
bao bông tuyết nhẹ rơi, mềm mại xuống,
hạt mưa bắn cứ bám quanh đôi ủng,
gió thổi như sợ làm mẹ ngã đau.

Tháng ngày này, chẳng dễ dàng đâu,
mẹ mòn mỏi tháng ngày như nhẹ hẳn,
sao tôi thấy lòng bồn chồn lo lắng,
lo họ đưa mẹ khỏi Nga dễ như không.

Từ một vài dấu mờ yếu của mẹ tôi
lấy đâu nước thần để cho tôi uống?
Người yêu hỡi, xin em hãy cố
làm một phần, dù nhỏ, của mẹ tôi.
Tùng Cương dịch
ВСЁ БОЛЬШЕ МОЕЙ МАМЕ ЛЕТ
Евгений Евтушенко

Всё больше, больше моей маме лет.
всё реже поднимается чуть свет
на шорох свежевыпавших газет,
в которых утешений нет и нет.

Всё горше каждый воздуха глоток,
всё скользче пол, опасный, как ледок,
всё тяжелей нечаянно жесток,
обнявший плечи легонький платок.

Кода она по улице бредёт,
снег осторожно, бережно идёт,
и дождь ей боты лижет, как щенок,
и ветер сбить её боится с ног.

В нелёгкие времена
всё легче, легче делалась она,
и страшно мне, что может кто-нибудь,
как перышко, её с России сдуть.

Как мне испить живой воды тогда
из маминого слабого следа?
Любимая, прошу тебя – сумей
стать хоть немного матерью моей.
1994
[/TABLE1]

cây sồi 17-07-2010 10:50

thơ dịch
 


CHUÔNG TRÊN CỬA HÀNG RÀO
Evghênhi Evtu shenko

Chuông nhà tôi, bỗng nhiên, tự reo.
Liệu tại buồn hay do mưa chập điện,
hay do sợ phải nghe tiếng sấm
dù không có tay người đến bấm vào.

Tôi trở mình, sau cũng đành đứng lên.
Nhỡ người đợi ngoài rào là bố
tìm đến chỗ tôi một giờ khuya quá
mũ đội đầu, để hở ánh mắt giận long lanh.

Trong chớp nhoằng, từ trên bậc tôi nhảy ào
ôm phải dông, chứ không phải bố.
Nhưng cơn dông ầm ĩ như quá chén
vẫn thở ra hơi khói thuốc đậm mùi.

Lại đi nằm, nhưng chuông lại reo.
Nó không thứ lỗi cho tôi đang ngái ngủ
và cứ réo, réo to, réo to nữa
cứ như đưa cả con nhím tống vào lỗ tai.

Nhỡ có khi, năm đứa con trai của tôi
chúng từ những năm gia đình khác nhau tới.
Cơn mưa lớn, tay đung đưa, miệng ru hát
cô em bé bỏng chưa sinh của chúng giữa gió trời.

Các con ơi, bố chỉ là con nít về trí óc thôi.
Giá các con mang đồ chơi cho bố.
Đừng bắt bố nói, các con sẽ làm gì để sống.
Xấu hổ, mà chẳng có gì để nói ra.

Trời ơi, chuông gì mà hôm nay quá nhiều!
Tiếng chuông xoáy vào sống lưng, tận óc.
Có khi, đứng đó đang bấm chuông bất lực
là đám đàn bà, tất cả từng yêu tôi.

Có khi là bạn cũ đã chết rồi
họ đang bấm chuông, vội cần giúp đỡ
để tôi có đang buồn nhỡ muốn chết
không định đưa mắt tìm móc treo trên trần nhà.

Có khi, những kẻ phản bội tình cờ
đêm về, đến xin ít tiền chè nước,
từ trong túi lòi ra vỏ chai nhơn nhớt
là thuốc độc giả an thần với người Nga.

Có khi, người đứng bên rào là em,
em đang xốn xang, em đang tuyệt đẹp,
dường như chớp trên nền vải bố
vẽ lên hình em đứng giữa màn đêm.

Chuông nhà tôi, bỗng nhiên, tự reo.
Có nghĩa là còn lâu tôi mới chết,
nếu tôi với con cún vẫn thi ai chạy trước
vùng chạy lên, khi nghe tiếng chuông kêu.
Tùng Cương dịch
ЗВОНОК НА КАЛИТКЕ
Eвгений Евтушенко

Cам по себе зазвонил мой звонок.
то ли соскучился, то ли промок,
то ли в грозу испугался под гром
без человеческих пальцев на нём.

Я заворочался, встал наконец.
Может быть, ждёт за калиткой отец,
вдруг в одночасье собравшийся к нам
в шляпе с глазами грозы по краям.

Прыгнул я в молнии прямо с крыльца,
только я обнял грозу - не отца.
Но и гроза, грохоча под хмельком,
пахла его папиросным двмком.

Снова прилёг но звонок зазвонил.
Мне он сонливости не извинил
и, дребезжа, дребезжа, дребезжа,
всаживал каждое ухо ежа.

Может, явились из разных семей
все мои пятеро сыновей.
Их нерождённую крошку –сестру
ливень баюкал в руках на ветру.

Дети отец ваш – дитя по уму.
Вы принесли бы игрушек ему.
И не пытайте как дальше вам жить.
Стыдно но нечего вам предложить.

Боже, какие сегодня звонки!
Звуки их ввинчиваются в позвонки.
Может, стоят, безнадежно звоня,
Женщины все, что любили меня.

Может, умершие кореша.
давят на кнопку на помощь спеша,
чтобы не вздумал я даже в тоске
взглядом выискивать крюк в потолке.

Может, предавшие невзначай
ночью напрашиваются на чай,
а из карманов бутылки блестят –
лжепримирительный русский наш яд.

Может, стоишь за калиткой ты
вся – из волнения и красоты,
будто молнией, как на холсте,
ты нарисована на темноте.

Сам по себе зазвонил мой звонок.
Значит, от смерти ещё я далёк,
если с дворягой наперегонки
всё же кидаюсь на эти звонки.
1993

[/TABLE1]

cây sồi 18-07-2010 10:02

thơ dịch
 




QUÊN ĐI NHÉ, EM ƠI
Evghênhi Evtu shenko

Anh yêu em như kẻ mồ côi.
Chỉ có mình em là vợ - chứ đâu một đám.
Nếu có kẻ chào đón anh bằng phù phép
anh dễ dàng sập bẫy,
Quên đi nhé, em ơi!

Hãy quên rằng
anh siêu tiếng tăm rồi,
rằng tiếng nói anh vang như trái bóng,
nhưng anh chẳng có ai để chuyền tiếp
tiếng nói vang vang của anh.
Quên đi nhé, em ơi!

Hãy quên rằng
chính anh cũng thua kém hơn
cái ánh hào quang anh không xứng đáng
rằng người chẳng tin anh nổi loạn lần cuối
là người đã tự đầu hàng …
Quên đi nhé, em ơi!

Hãy quên rằng cả mẹ và cha em
gì đi nữa, ôm hôn em vẫn có thể,
còn người sẽ hôn anh chỉ có mình em…Gặp chăng hay chớ…
Em lúc nào cũng: Kìa con với kìa con.
Quên đi nhé, em ơi!

Hãy quên rằng anh không là bậc thánh nhân cao nhất rồi
chỉ là kẻ cùng em tạo ra lũ con chung thôi nhé,
rằng anh bị người ta đánh vì vị thế..
vì anh nhơn nhơn là anh…
Quên đi nhé, em ơi!

Hãy quên rằng trong cửa sổ bệnh viện hôm rồi,
anh mơ thấy em là đức mẹ,
ta làm lễ cưới dưới bóng cây thánh giá…
Đừng quên rằng anh là đứa mồ côi
Tùng Cương dịch
ПОЗАБУДЬ
Евгений Евтушенко

По-сиротски люблю я тебя.
Ты одна мне жена –
не толпа.
Если пальчиком позовут,
и легко попадусь –
Позабудь!

Позабудь,
что я сверхзнаменит,
что мой голос, как мяч звенит,
но мне некому пасовать
слово звонкое.
Позабудь!

Позабудь,
что я сам слабей
незаслуженной славы своей,
что не верят в мой поздний бунт
те кто сами сдались…
Позабудь!

Позабуд,ь что отец твой и мать
тебя всё-таки могут обнять,
а меня только ты… Как-нибудь…
Ты с детьми, да с детьми…
Позабудь!

Позабудь, что я всех не святей
сотворец наших общих детей,
что меня, как за позу, бьют
за бескожесть мою…
Позабудь!

Позабудь, что в больничном окне
богоматерью виделась мне,
что венчались под сенью креста…
Не забудь то, что я сирота
2005
[/TABLE1]

cây sồi 18-07-2010 10:11

thơ dịch
 

KHÔNG GÌ LỌT ĐƯỢC LƯỚI TRỜI
Evghênhi Evtu shenko

Không gì lọt được lưới trời:
từ lối tắt đi vòng ngắn nhất,
trên con đường được thưởng ban,
đến cả bao chuyện lặt vặt,
đến tình bạn của sói hai chân.

Không gì lọt được lưới trời:
тừ cử chỉ, âm thanh đầy giả dối -
có cái nguy là tiếng vọng dội về,
đến thói tham tiền và mê bạc,
đến những nước bước ranh ma
làm ra thật nhiều chiến quả.

Không gì lọt được lưới trời:
từ người bạn bị đời quên lãng
khó chơi mà vẫn cứ chơi
đến những kíên con bé tí
bị gót giầy bạn xéo lên
nghiền nát không hề ác ý.

Đấy là vòng tròn ác nghiệt:
không gì lọt được lưới trời:
có thứ cho dù qua lọt
vẫn phải trả giá có khi
chỉ có con người mất trí
lặng lẽ biến khỏi cõi đời…
Tùng Cương dịch
НИЧТО НЕ СХОДИТ С РУК
Евгений Евтушенко

Ничто не сходит с рук:
Ни самый малый крюк
с дарованной дороги,
ни бремя пустяков,
ни дружба тех волков,
которые двуноги.

Ничто не сходит с рук:
ни ложный жест, ни звук –
ведь фальшь опасна эхом,
ни жадность до деньги,
ни хитрые шаги,
чреватые успехом.


Ничто не сходит с рук:
ни позабытый друг,
с которым не удобно,
ни кроха муравей
подошвою твоей
раздавленный беззлобно.

Таков проклятый круг:
ничто не сходит с рук,
а если даже сходит,
ничто не задарма,
и человек с ума
сам незаметно сходит…
1972

cây sồi 28-07-2010 14:31

thơ dịch
 
MÁTXCƠVA ĐÃ TIN
Evghênhi Evtu shenko

Mátxcơva đã tin những gịot nước mắt của tôi,
khi bên lối vào cửa hàng tem phiếu nghèo nàn thật,
có chiếc phiếu thần để mua bánh mì trong cảnh chen lấn,
tôi làm rơi, như nắm tay có lỗ thủng to.

Bà cụ già, đầu không tóc vì bệnh thương hàn,
thì thầm bảo:”Ông lão nhà tôi vừa đi gặp Chúa,
trên phiếu của ông vẫn còn dăm ngày nữa.
Cho con phiếu của ông. Nhớ đừng lỡ miệng lộ ra!”

Mátxcơva đã tin những gịot nước mắt của tôi,
tôi không dám rời khỏi đuôi tàu điện,
khư khư nắm trong găng tay phiếu bánh mì của người khác..
Tôi ăn phần của người chết. Tôi không thể chết rồi.

Mátxcơva đã tin những gịot nước mắt của tôi,
tôi mãi mãi tin nước mắt của Người đấy,
khi Mátxcơva có muôn ngàn bà goá là vợ lính
đàn bà Mátxcơva gào khóc đúng kiểu nông thôn.

Phụ nữ Mátxcơva chân bước ken két giầy giả da…
Mọi chuyện đã lùi xa, đã thành kỷ Trung sinh cả.
Cửa hàng tem phiếu càng mở rộng, càng quá nhốn nháo,
có cái gì trong tay tôi lại tuột mất rồi.

Tôi chăm chăm giữ một thứ trong tay,
như hồi nhỏ, nắm chặt phiếu mua bánh,
nhưng đánh mất trong dòng sông trần thế,
cái gì đây, không biết, nhưng nắm tay lại để thủng rồi.

Bao năm dài đã qua, tôi mới dám nói ra,
khi tem phiếu, các bà già xưa không còn nữa.
Tôi tiến về phía tiếng phanh xe rít ken két…
Mátxcơva, Người có tin nước mắt tôi chăng?
Tùng Cương dịch




МОСКВА ПОВЕРИЛА
Евгений Евтушенко

Москва поверила моим слезам,
когда у входа в бедный карточный сезам
святую карточку на хлеб в кавардаке
я потерял как будто сквозь дыру в руке.

Старушка стриженая – тиф её остриг-
Шепнула: “Богу отдал душу мой старик.
А вот на карточке ещё остались дни.
Хотя б за мёртвого поешь. Да не cболтни!”

Москва поверила моим слезам,
и я с хвостов её трамваев не слезал,
на хлеб чужое право в варежке везя…
Я ел за мёртвого. Мне мёртвым быть нельзя.

Москва поверила моим слезам,
И я её слезам навек поверил сам,
Когда, бесчисленных солдат свoих вдова,
по-деревенски выла женская Москва.

Скрипела женская Москва своей кирзой…
Всё это стало далеко как мезозой.
Сезам расширился, с ним вместе кавардак,
а что-то снова у меня с рукой не так.

Я нечто судорожно в ней опть сжимал,
как будто карточки на хлеб, когда был мал,
но это нечто потерял в людской реке,
а что, не знаю, но опять – дыра в руке.

Я проболтался через столько долгих лет,
когда ни карточек ни тех старушек нет.
Иду навстречу завизжавшим тормозам…
Москва, поверишь ли моим слезам?
1979


cây sồi 28-07-2010 14:35

thơ dịch
 
Ô CỬA SỔ
Evghênhi Evtu shenko

Ô cửa sổ trông ra hàng cây trắng.
Vị giáo sư nhìn cây trắng hồi lâu.
Ông cứ đứng nhìn hàng cây lâu lắm
và tay ông bẻ viên phấn rất lâu.
Thật đơn giản,
chỉ là phép chia đấy!
Vậy mà ông quên khuấy
quy tắc chia!
Ông quên mất,
bạn nghĩ xem,
cả phép chia cơ chứ.
Tính sai kìa!
Phải!
Lỗi rõ trên bảng rồi!
Cả lớp tôi, hôm nay, ngồi cũng khác,
Nghe và nhìn cũng khác mọi hôm,
cái giờ phút, ta không thể không khác
và đâu cần sự gợi nhắc ở đây.
Vợ giáo sư bỏ nhà hôm nay đi mất.
Ta không hay,
bà dứt bỏ đi đâu,
ta không biết,
vì sao bà đi hẳn,
chỉ biết rằng bà đã bỏ đi không về.
Khoác bộ vét vừa không mới, vừa không mốt,
như mọi khi, ông mặc không mốt, cũ mèm-
ông đi xuống phòng hầm giữ áo khoác.
Ông lục tìm thẻ số khắp các túi hơi lâu:
“Làm sao vậy?
Thẻ số đâu rồi nhỉ?
Mà có khi, tôi không lấy thẻ số chăng?
Biến đâu mất? – ông đưa tay lau trán.-
Trời, đây rồi!...
Rõ chán, tôi đã già.
Thôi đừng nói,
cô Ma sa, tôi già nua quá.
Biết làm sao, tôi đã già hơn…”
Ta nghe hết, sau lưng ông tiếng cửa rít.

Ô cửa sổ trông ra hàng cây trắng,
những cái cây vừa đẹp dáng, vừa to,
nhưng cả lớp không nhìn ra hàng cây nữa,
chúng tôi nhìn giáo sư và lặng im.
Ông đang bước,
dáng gù đi,
vụng về quá,
trông vụng về, tồi tội nữa, làm sao,
tôi muốn nói trông vụng về bao mệt mỏi,
dưới tuyết bay
mềm mại rơi vào im lìm.
Chính giáo sư,
trông trắng luôn,
như cây trắng,
phải, y như cây,
trông ông trắng hoàn toàn,
thêm chút nữa – ông thành trắng quá,
đến mức mà
giữa hàng cây, không nhìn rõ dáng ông.
Tùng Cương dịch

ОКНО ВЫХОДИТ В БЕЛЫЕ ДЕРЕВЬЯ

Евгений Евтушенко

Окно выходит в белые деревья.
Профессор долго смотрит на деревья.
Он очень долго смотрит на деревья
и очень долго мел крошит в руке.
Ведь это просто –
правила деленья!
А он забыл их –
правила деленья!
Забыл –
подумать –
правила деленья.
Ошибка!
Да!
Ошибка на доске!
Мы все сидим сегодня по-другому.
И слушаем и смотрим по-другому
да и нельзя сейчас не по-другому,
и нам подсказка в этом не нужна.
Ушла жена профессора из дому.
не знаем мы,
куда ушла из дому,
не знаем,
отчего ушла из дому,
a знаем только что ушла она.
В костюме и немодном и неновом
да, как всегда, немодном и неновом -
спускается профессор в гардеров.
Он долго по карманам ищет номер:
“Ну что такое?
Где же этот номер?
А может быть
не брал у вас я номер?
Куда он делся –
трёт рукою лоб.-
Ах вот он!
Что ж
как видно я старею,
Не спорьте,
тётя Маша,
я старею.
И что уж тут поделаешь – я старею…”
Мы слышим –
дверь внизу скрипит за ним.
Окно выходит в белые деревья,
в большие и красивые деревья,
но мы сейчас глядим не на деревья
мы молча на профеcсора глядим.
Уходит он ,
cутулый,
неумелый,
какой-то беззащитно-неумелый,
я бы сказал –
устало неумелый,
под снегом
мягко попадающим в тишь.
Уже и сам он,
как деревья,
белый,
да,
как деревья,
совершенно белый ,
ешё немного –
и настолько белый,
что среди них
его не разглядишь.
1955

cây sồi 08-08-2010 15:10

thơ dịch
 

NHỮNG CUỐN SÁCH
Evghênhi Evtu shenkô

Sách biết đọc những người đang đọc sách,
thấy trong mắt ẩn sâu tiếng rên, tiếng thét của ta,
sách nghe hết những gì không một ai trên đời nghe ra,
trừ những kẻ hít thở bằng những trang sách đó.

Chính là sách đã mối manh hai ta dạo đấy
và Maria Ivanôvna cũng có lỗi ở đây
ngay cả Anna Karênhina cũng là bà mối đã qua đời,
bà nhỏm dậy từ đường ray, đẩy hai ta vào vòng tay ôm xiết.

Sự lặng lẽ trở về của những cuốn sách
không hoàn toàn giống сách phục vụ lẫn nhau,
mà đúng hơn, nó giống сảnh xa cách nhau,
đây là sự chia xa một lần là mãi mãi.

Ta chỉ có thể trả lại nhau những cuốn sách,
nhưng ta không thể trả lại nhau những giây phút lặng thầm,
những phút giây còn lưu lại ở tầng thẳm sâu,
sâu đến nỗi người ngoài đâu biết hết.

Em vẫn đứng, vẻ thất thần, lúng túng
không dám ngồi vào chiếc xe cũ kĩ của em
trong tay em như có cái gì đó, nhưng đấy là
Pasternac và Shalamôv, “Tục ngữ” của Đal đang đợi.

Anh vốn thích đưa tay ôm em chặt,
nhưng giờ đây, bận mang sách trên tay,
cả Platônôv, cả Bôc, cả Evghênhia Glinzburg
dường như chặn ta lại, không cho ta chết tiếp.

Anh đã nhét cho em, ngay ngoài phố, những cuốn sách,
quay mặt đi, như sợ nhìn thấy mắt nhau,
thế còn em, từ đống đổ, khó khăn nhổm lên,
như trong mộng, trả lại anh từng cuốn.

Ơi cô bé, anh xin em, hai năm chẵn,
em hãy yêu một người nào đó cho xong,
chuyện được vậy, anh thở dài nhẹ nhõm trong lòng,
nhưng sau đó, nghiến răng hoài chịu đựng.

Anh không hỏi em, dù một lần, giọng cao đạo,
đối thủ của anh bao nhiêu tuổi, làm gì.
Anh không biết, mình nên khóc, hay nên cười,
khi em nói:”Anh ta mười tám tuổi”.

Em xinh đẹp, trắng trong, không tì vết,
mắt nửa ngước nhìn lên, em bảo anh
hãy lại gần để ta lại bên nhau,
nhưng anh đáp em bằng ánh mắt nhìn xuống.

Em nhìn anh, như thời gian qua mất.
Tiến một bước, mọi sự tất không sửa được rồi,
nhưng dù sao, anh không đi bước đó, em ơi.
Cái gì không cho phép anh? Hèn nhát? Dũng cảm?

Những trang sách đã đọc chợt sôi nổi hẳn,
giọng thầm thì, yêu cầu anh phải tránh xa.
Em lặng đi, - chỉ đôi khuyên tai run run! –
em che đỡ trái tim mình bằng chồng sách đang ghì chặt…
Tùng Cương dịch


КНИГИ
Евгений Евтушенко


Книги тоже читают читающих книги,
видят в скрытных глазах наши стоны и крики,
слышат всё, что на свете никто не услышит,
кроме тех, кто такими книгами дышит.

Нас друг другу сосватали книги когда-то,
и Марина Ивановна в том виновата,
Даже Анна Каренина – мёртвая сватья ,
с рельс привстав, нас толкнула друг другу в объятья.



Мочаливое книг возвращенье друг другу
не похоже совсем на взаймоуслугу,
а скорее похоже на их раздиранье…
Это бесповоротное расставанье.

Мы могли возвратить друг другу лишь книги,
но вернуть не могли наши тайные миги,
те, которые так глубоко оставались,
что другим не заслуженно не доставались.

Ты стояла потерянно, неразрешимо,
не садясь в свою старенькую машину,
и в руках твоих словно чего-то, но ждали
Пастернак и Шаламов, “Пословицы” Даля.

Мои руки тебя обнимать так любили,
но сейчас они книгами заняты были,
будто нас ограждали, чтоб дальше не гибнуть,
и Платонов, и Босх, и Евгения Глинзбург.

Сунул я тебе книги на улице сразу,
Отворачиваясь, как боящийся cглазу,
ну а ты, еле выбравшись из-под обвала,
книги, словно во сне, по одной отдавала.

Я спросил тебя, девочка, целых два года,
чтоб ты наконец по-любила кого-то,
и когда так случилось, вздохнул облегченно,
но зубами потом заскрипел обреченно.

Никогда я не спрашивал менторским тоном
сколько лет моему сопернику, кто он.
И не знал, то ли плакать мне, то ли смеяться,
когда ты мне сказала:” Ему восемнадцать лет.”

Чистотой незапятнанной девы красива,
полуподнятым взглядом меня ты просила
подойти, чтобы вновь оказались рядом,
но тебе я ответил опущенным взглядом.

Ты смотрела в меня, будто времени мимо.
Сделай шаг я, всё было бы непоправимо,
но не сделал я всё-таки этого шага.
Что же мне не позволило? Трусость? Отвага?

Встрепенулись зачитанных книжек страницы,
попросив меня шёпотом посторониться.
Ты застыла – чуть вздрагивали лишь серьги!-
и прикрыла прижатыми книжками сердце
1987-2003



cây sồi 12-08-2010 15:08

thơ dịch
 
ĐẾN BAO GIỜ NGA MỚI CÓ CON NGƯỜI
Evghênhi Evtu shenkô

Đến bao giờ Nga mới có con người
họ không dám dối lừa nước Nga nữa?
Trong chính phủ hiện chức danh này chưa có,
nhưng biết đâu, mai mốt, có lần đầu…

Một mình ông có thể làm gì đây?
Sao biến được bao bất hoà thành đồng thuận?
Ta không thể tha thứ cho ông được
khi ông không làm ta thành tốt đẹp hơn…



Ông làm gì để thành người tốt hơn xưa
dù chai sạn, vẫn luôn mang trách nhiệm
phải nghe hết những giọng nói nhớp nháp
của đám quan giả dối và tay chân?

Cần đầu óc chầm chậm, nhưng phải nhanh.
Có cách gì để bom rơi, đạn nổ
phải trúng đích là lũ giết người, cướp của,
biết tìm đường tránh phụ nữ, trẻ thơ?



Làm thế nào giữ được mãi tự do
và chịu đựng cái tự do bất lịch sự?
Hay dùng lại roi vọt thời nô lệ?
Nhưng kẻ bị đòn làm thơ tệ lắm thay.

Ôi ma trận lực đẩy, sao không thành thú dữ ngay,
khi tìm kiếm kim cương trong xe nôi, hầm mộ?
Phải xử tử hết trộm cắp to và nhỏ?
Thì nước Nga hoá sa mạc Gôbi.

Máu Uglich, Katưn, Kôlưma
đã xoá mờ thanh danh. Mà không ai bị trị tội.
Ta tự mất thanh danh, nhưng buồn nhớ
đến thanh danh, nhưng là danh dự của người.

Thôi đừng mang cho trẻ quà ngọt ngon,
hãy cho chúng chút ít trí nhớ cay đắng,
khi con cháu giễu cợt như phỉ báng điều ngốc
cảnh nghèo nàn thanh bạch của cha ông.

Thế bỗng nhiên nước Nga có con người
đấy không phải Chúa cứu thế dởm với vòng hào quang hấp dẫn,
chỉ là một người trong ta, một trong tất cả
không dối lừa – ta sẽ vẫn lừa dối lại ông?

Đến bao giờ, Nga mới có con người?
Khi nào… khi ai cũng thành con người cả.
Nhưng tuyết rơi ngày một bẩn đen quá
cả chúng ta, sông suối đều ô nhiễm nặng hơn.

Và cái tội lỗi nặng nề, tối đen
thuộc về tôi và ngôi cao trong điện Kremli nữa
và thậm chí, xin bà Matrena tha thứ,
về cả chính bà là nhân vật truyện của Xôl gie nhi tsưn.

Ở nước Nga, không mất mùa lúa, mà mất mùa người,
nước Nga đã thôi không chờ ngày cứu thế.
Biết đến bao giờ nước Nga mới có
lớp người không dám lừa dối nước Nga?
Tùng Cương dịch
КОГДА В РОССИЮ ПРИДЁТ ЧЕЛОВЕК
Евгений Евтушенко

Когда в Россию придёт человек,
который бы не не обманул Росию?
В правительстве такого чина нет,
Но, может быть… когда –нибудь… впервые…

А что cможешь сделать лишь один?
Как столько злоб в согласие он сложит?
Мы ни за что его не пощадим,
когда он лучше cделать нас не cможет.

А как он он сделается сам,
когда обязан, как бы ни обрыдло,
прислушиваться к липким голосам
элиты нашей липовой и быдла?

Здесь ум быть должен медленен, но быстр.
Как сделать, чтобы бамбы или пули
Прицельно попадали лишь в убийц,
а всех детей и женщин обогнули?

Как сохранить свободу и терпеть
Нахальную невежливость свободы?
Взять в руки крепостническую плеть?
Но выпоротый пишет слабо оды.

Как не звереть, матрасы распоров,
ища брилъянты в кажой люльке, гробе?
Казнить больших и маленьких воров?
Росcия станет как пустыня Гоби.

Кровь Углича, Катыни, Колымы
размыла честь. Никто не наказуем.
Собою обесчещенные, мы
по честности, но лишь чужой, тоскуем

Не раздавать бы детям леденцов,
а дать бы горькой памяти последки,
когда над чесной бедностью отцов
смеются, как над глупостью, их детки

А вдруг придёт в Роcсию человек
не лжемессия с притворным сияньем ,
а лишь один из нас, один из всех
и не обманет – мы его обманем?

Когда в Россию придёт человек?
Когда.. когда все будут человеки.
Но все чернее и чернее снег,
и все отвравленней и мы, и реки.

И тёмная тяжёлая вина
лежит на мне и на кремлевском троне,
и даже – да простит она!-
на нищей солженицынской Матрене.

Не хлеба – человека недород
в России, переставшей ждать мессию.
Когда придёт в Россию тот народ,
который бы не обманул Россию?
2000

cây sồi 23-08-2010 10:38

thơ dịch
 
CẦU CHÚA
Evghênhi Evtu shenkô

Cầu Chúa cho người mù tinh mắt lại
cho lưng người gù được duỗi thẳng ra.
Cầu Chúa cho ta làm Chúa trong phút giây,
nhưng không phải đóng đinh câu rút trong giây phút.

Cầu Chúa nhắc ta chớ ham quyền chức
không phải làm anh hùng rơm nhố nhăng,
và làm giầu mà không trộm cướp, quan tham,
tất nhiên, nếu điều ước trên có thể.

Cầu Chúa cho người gian truân từng trải
không bị băng nhóm nào xơi tái, ra giun,
chẳng là đao phủ, không phải nạn nhân,
thoát cảnh ăn xin, không lên bá tước.

Cầu Chúa, dù đánh nhau tàn khốc,
ta được yên lành, dính ít chấn thương.
Cầu Chúa cho có nhiều quốc gia hơn,
nhưng không nước nào bị mất tên vĩnh viễn.

Cầu Chúa để quê hương đất nước
không chà đạp ta dưới gót giầy.
cầu Chúa dù ta nghèo hèn, có đi ăn xin,
vợ con vẫn yêu thương ta như trước.

Cầu Chúa bắt kẻ dối lừa phải ngậm miệng
khi nghe được giọng Chúa trong tiếng thét trẻ thơ
Cầu Chúa cho người sống được diện kiến Người
không ở khuôn mặt đàn ông, cũng trong hình hài phụ nữ.

Ta chẳng mang thánh giá là ta vô tôn giáo
sao ta phải khom lưng sống kiếp nghèo hèn.
Để ta không mất đức tin trên đời,
cầu Chúa cho ta dù một phần của Chúa!

Cầu Chúa, cùng lúc, ban đều cho tất cả,
để không ai phải tủi phận, ngậm ngùi…
Cầu Chúa ban cho mọi thứ, nhưng chỉ cái gì,
để con người nhận xong, không hề xấu hổ.
Tùng Cương dịch
ДАЙ БОГ
Евгений Евтушенко

Дай Бог, слепцам глаза вернуть
и спины выпрямить горбатым.
Дай бог, быть Богом хоть чуть-чуть,
но быть нельзя чуть-чуть распятым.

Дай Бог, не вляпаться во власть
и не геройствовать подложно,
и быть богатым – но не красть,
конечно, если так возможно.

Дай Бог, быть тертым калачом,
не сожранным ничьей шайкой,
ни жертвой быть, ни палачом,
ни барином, ни попрошайкой.

Дай Бог, поменьше рваных ран,
когда идёт большая драка.
Дай Бог, побольше разных стран
не потеряв своей, однако.

Дай Бог, чтобы твоя страна
тебя не пнула сапожишем.
Дай Бог, чтобы твоя жена
тебя любила даже нищим.

Дай Бог, лжецам замкнуть уста
глас божий слыша в детском крике.
Дай Бог, живым узреть Христа,
пусть не в мужском, так в женском лике.

Не крест – бескрестье мы несём,
а как сгибаемся убого.
Чтоб не извериться во всём,
дай Бог, ну хоть немного Бога!

Дай Бог, всего, всего, всего,
и сразу всем – чтоб не обидно..
Дай Бог, всего, но лишь того,
за что потом не станет стыдно.
1989

cây sồi 25-08-2010 10:03

thơ dịch
 


KHÔNG, TÔI KHÔNG CẦN MỘT NỬA
Evghênhi Evtu shenkô

Không, không có gì tôi cần một nửa!
Cho tôi nguyên quả đất! Đưa tôi cả bầu trời!
Sông, suối, núi đồi và biển cả
là của tôi, không ai được phá chia rồi!

Không, cuộc đời chẳng làm tôi vui nhận phần nửa.
Cái gì cũng cần tất cả! Thế mới thoả sức tôi!
Một nửa nỗi khổ đau tôi không muốn nữa,
càng không mong cái hạnh phúc nửa vời!

Thứ tôi cần một nửa
là chiếc gối phân đôi,
em kê đầu nửa gối,
nhẫn thu mình nép dưới má em,
như sao rụng, mong manh, le lói,
hơi sáng lên trên ngón tay mềm…
Tùng Cương dịch
НЕТ МНЕ НИ В ЧЁМ НЕ НАДО ПОЛОВИНЫ
Евгений Евтушенко

Нет, мне ни в чём не надо половины!
Мне – дай всё небо! Землю всю положь!
Моря и реки, горные лавины
мои – не соглашаюсь на дележ!

Нет, жизнь, меня ты не заслатишь частью.
Всё полностью! Мне это по плечу!
Я не хочу ни половины счастья,
ни половины горя не хочу!

Хочу лишь половину той подушки,
где, бережно прижатое к щеке,
беспомощной звездой, звездой падучей,
кольцо мерцает на твоей руке…
1963

cây sồi 25-08-2010 10:06

thơ dịch
 
BÊN KIA TƯỜNG CÓ TIẾNG ĐÙA CƯỜI
Evghênhi Evtu shenkô

Bên kia tường có tiếng đùa cười,
tôi đưa mắt nhìn bức tường đó,
với tâm hồn như con gái nhỏ đang ốm trong tay,
tay tôi thấy mỗi ngày thêm nhẹ bẫng.

Bên kia tường có tiếng đùa cười.
Cứ như đám người đó đùa rỡn.
Họ cợt đùa trên số phận của tôi,
và tiếng cười thật khó coi, cà chớn.

Thực ra họ đang tiếp đón bạn bè,
mệt mỏi nhảy quay cuồng trên sàn gỗ,
thì đùa cười cho vui vẻ, thế thôi –
họ đâu có cười tôi hay người khác.

Bên kia tường có tiếng đùa cười,
họ nốc rượu cho người nóng đấy,
còn tôi ôm con nhỏ đang ốm trong tay,
họ ồn ã, tình cảnh tôi, đâu ngờ tới.

Họ nói cười. Vì đã khối lần
chính tôi cũng đùa làm ồn như vậy,
bên kia tường ai đấy phải tắt đèn,
đành cam phận mà lòng đau nhói.

Họ nghĩ rằng đang nhức nhối trong lòng,
nỗi buồn khiến họ gần đầu hàng, tan nát,
vậy mà tôi nhảy nhót, cười hoài,
và thậm chí có khi còn cười chê họ.

Phải rồi, trái đất này là vậy thôi,
và sẽ muôn đời còn như thế:
Bên kia tường có người nức nở khôn nguôi,
mà ta ở đây vô tư hát cười hí hớn.

Nhưng trái đất này là vậy thôi
và vì thế sẽ muôn đời không tàn héo:
bên kia tường có tiếng đùa cười,
còn ta sắp khóc rơi nước mắt.

Xin bạn đừng thấy thế làm lòng,
khi bạn tả tơi và sầu thảm,
bên kia tường có tiếng đùa cười,
đừng bực bội trong người vì ghen ghét.

Cuộc đời là một thế cân bằng.
Nó vừa tị ghen, vừa luôn tự sỉ.
Vì khi bạn gặp bất hạnh rồi
thì hạnh phúc của người khác là sự cân bằng lại.

Hãy ước sao vào phút chót cuộc đời,
khi đôi mắt bạn khép lại về nơi yên nghỉ,
bên kia tường lại có tiếng đùa cười,
cứ để họ đùa, họ cười mệt nghỉ.
Tùng Cương dịch
CМЕЯЛИСЬ ЛЮДИ ЗА СТЕНОЙ
Евгений Евтушенко

Смеялись люди за стеной,
а я глядел на эту стену
с душой, как с девочкой больной
в руках пустевших постепенно.

Смеялись люди за стеной.
Они как будто измывались.
Они смеялись надо мной
и как беcсовестно смеялись!

На самом деле там, в гостях
устав кружиться по паркету,
они смеялись просто так, -
не надо мной и не над кем-то.


Смеялись люди за стеной,
себя вином подогревали,
и обо мне с моей больной
смеясь, и не подозревали.

Смеялись люди… Сколько раз
я тоже, тоже так смеялся ,
а за стеною кто-то гас
и с этим горестно смирялся!

И думал он, бедой гоним
и ей почти уже сдаваясь,
что это я смеюсь над ним,
и, может, даже издеваюсь

Да так устроен шар земной
и так устроен будет вечно:
рыдает кто-то за стеной,
когда смеемся мы беспечно.

Но так устроен шар земной
и тем вовек неувядаем:
смеется кто-то за стеной,
когда мы чуть ли не рыдаем.

И не прими на душу грех,
когда ты мрачный и разбитый,
там за стеною чей-то смех
cочесть завистливо обидой.

Как равновесье – бытие.
В нём зависть – самооскорбленье.
Ведь за несчастье твоё
чужое счастье – искупленье.

Желай, чтоб в час последний твой,
когда замрут глаза, смыкаясь,
смеялись люди за стеной,
смеялись, всё-таки смеялись!
1963

Susu 26-08-2010 02:48

Các bác ơi...em mới nhận được một đoạn thơ...mà lần đầu nghe nên chẳng hiểu mô tê gì.Em có thử dịch qua rồi,dịch sát nghĩa thì nghe cũng hay hay nhưng khổ nỗi bác Bằng Việt dịch em không hiểu gì.Nhân đây đưa lên cho các bác tham khảo rồi giúp em mở mang thêm kiến thức.Nhờ các bác dịch hộ em với
tựa đề bài thơ là thế này ạ : " Нет, мне ни в чем не надо половины "
Нет, мне ни в чем не надо половины!
Мне – дай все небо! Землю всю положь!
Моря и реки, горные лавины
Мои – не соглашаюсь на дележ!

Нет, жизнь, меня ты не заластишь частью.
Все полностью! Мне это по плечу!
Я не хочу ни половины счастья,
Ни половины горя не хочу!

Хочу лишь половину той подушки,
Где, бережно прижатое к щеке,
Беспомощной звездой, звездой падучей
Кольцо мерцает на твоей руке.

Nina 26-08-2010 10:13

Bài thơ của bạn Susu hỏi là của Evtushenko, nên mình đưa nó về đúng chủ đề nhé. Nhân tiện, đã có phương án dịch của bác Cây Sồi ở ngay trên. Bạn Susu đưa thử phương án của bạn cho mọi người cùng đọc nhé!

Nina 26-08-2010 14:07

Nhân tiện sếp chưa đến cơ quan, mình dịch tạm bài thơ trên nhé


* * *

Евгений Евтушенко

Нет, мне ни в чём не надо половины!
Мне – дай всё небо! Землю всю положь!
Моря и реки, горные лавины
мои – не соглашаюсь на дележ!

Нет, жизнь, меня ты не заслатишь частью.
Всё полностью! Мне это по плечу!
Я не хочу ни половины счастья,
ни половины горя не хочу!

Хочу лишь половину той подушки,
где, бережно прижатое к щеке,
беспомощной звездой, звездой падучей,
кольцо мерцает на твоей руке…
1963
* * *

Evgeny Evtushenko

Không, tôi không muốn cái gì một nửa
Hãy cho tôi tất cả bầu trời!
Cả Trái đất, biển sông, rừng núi
Tôi không muốn chia, chỉ muốn tất cả thôi!

Cuộc đời ơi, đừng dịu ngọt một phần
Tôi muốn tất cả! Và tôi có thể
Dẫu hạnh phúc - cũng không cần một nửa
Dẫu khổ đau - cũng trọn vẹn cho tôi

Chỉ có chiếc gối tôi mong một nửa
Nơi chiếc nhẫn kia gượng nhẹ áp má em -
Chiếc nhẫn trên ngón tay em lấp lánh
Như ngôi sao rơi bất lực trong đêm
1963

cây sồi 28-08-2010 15:14

thơ dịch
 
Chào Nina
Cám ơn Nina đã giải quyết thông minh hai dòng 3-4 đoạn 2. Nina đã hiểu chính xác hơn đoạn này nên đọc thấy rõ ý tác giả.
Nối bước Nina, tôi có một biến thể khác, cho 2 dòng này:
Hạnh phúc cũng phải là tất cả,
Khổ đau cũng tất cả, không chia đôi

cây sồi 28-08-2010 16:45

thơ dịch
 

TÀU MATXCƠVA- IVANÔVÔ
Evghênhi Evtu shenkô

Tôi đi tàu về Ivanôvô
suốt đêm không sao ngủ nổi
như khách nửa được mời gọi
gần như người chẳng được mong.

Tôi đi bằng tàu thường
tàu đông, hàng chật ních,
chất đầy cam mịn xốp
hoa quả của đất mẹ Mat xcơva.

Bay qua bao nhiêu cánh rừng
cùng tiếng phì phò, tiếng ngáy
là bột giặt hàng nhập ngoại
và tất nhiên, cả chả, giò.

Trong ánh trăng sáng xanh
khách ngủ say như chết,
những giấc ngủ khó nhọc
đưa khách đi cùng tàu.

Bên đường dây thép vi vu
giấc ngủ nào đi cùng khách,
phải chăng chỉ có áo gối
trên tàu Nga mới tỏ tường.

Như toa tàu im lìm
chở hàng không có giá
được gắn theo tàu hoả
giấc ngủ cả nước Nga.

Cupê lơ mơ ngủ bốn người.
Mai sống sao - còn chưa biết?
Làm gì do đời định trước
Có ai định đoạt được rồi?..

Tàu xuyên mưa rơi lâm tâm,
đốt bóng đêm bằng ánh sáng,
khách đi tàu đều nằm ngáy
ôm vào ngực một thứ gì.

Bà già trên ngực ôm ghì
gói hàng toàn đồ quý giá
có hộp cà phê tan hết.
Bà lão thính ngủ lắm thay.

Vị quan chức đi công tác xa
nằm nhàu vải ga, chăn gối
ghì chặt vào lòng rác rưởi
đựng trong chiếc cặp vênh vang.

Một cô áo len, ngực to
mũi thở nhẹ như huýt sáo
ghì vào lòng trang trọng quá
ôm đứa con riêng của cô.

Và cả miền quê thân thương,
muốn ngả vào lòng trìu mến,
miền trung nước Nga một dải
tôi ôm chặt mãi trong lòng.

Bao nhiêu cách mạng, chiến tranh,
tro tàn xóm làng, thành phố,
lê thê vang tiếng gào rú
của bão tuyết và goá phụ Nga.

Tôi đã tự hỏi chính tôi
trong tiếng còi tàu và dây thép:
“Ta biết quá nhiều khủng khiếp
đã đủ đến hết đời chưa?”

Chính tôi còn hỏi lại tôi:
“Qua bao tháng năm cay đắng
ta đáng hưởng cuộc đời tươi sáng?
Ta đã xứng đáng hay chưa?”

Chở cả kinh nghiệm nước Nga
toa tàu vẹo nghiêng, mệt lử,
miệng làu bàu, nói nho nhỏ,
kêu rên cót két thành lời:

“Những gì do tưởng tượng ra
sẽ không bao giờ là hiện thực
ngay sau nhịp cầu đầu tiên.
Những gì không thành sự thật
sẽ bị người đời lãng quên,
dưới cây thánh gía gỗ bạch dương.”
Tùng Cương dịch
МОСКВА-ИВАНОВО
Евгений Евтушенко

Ехал-ехал я в Иваново
и не мог всю ночь уснуть,
вроде гостя полузваного
и незваного чуть-чуть.

Ехал я в нескором поезде,
где зажали, как в тиски,
апельсины микропористые –
фрукты матушки Москвы.

Вместе с храпами и хрипами
проплывали сквозь леса
порошок стиральный импортный
и, конечно, колбаса.

Люди спали как убитые,
в синих отсветах луны,
и, с таким трудом добытые,
их укачивали сны.

А какие сны их нянчили
вдоль поющих проводов,
знают разве только наволочки
наших русских поездов.

И бесценные по ценности,
как вагоны тишины,
были к поезду подцеплены
сразу всей России сны.

Нас в купе дремало четверо.
Как нам дальше было жить?
Что нам было предначертано –
кто бы мог предположить?..

Шёл нас поезд сквозь накрапыванье,
ночь лучами прожигал,
и к своей груди, похрапывая,
каждый что-то прижимал.

Прижимала к сердцу бабушка
сверток ценный, где была
с растворимым кофе баночка.
Чутко бабушка спала.

Прижимал командированный,
истерзав свою постель,
важный мусор, замурованный
в замордованный портфель.

И камвольщица грудастая,
носом тоненько свистя,
прижимала государственно
своё личное дитя.

B такую всю родимую,
хоть ей в ноги упади,
я Россию серединную
прижимал к своей груди.

С революциями, войнами,
с пеплом сёл и городов,
с неcкончаемыми воями
русских вьюг и русских вдов.

Самого себя я спрашивал
под гудки и провода:
“Мы узнали столько страшного –
может, хватит навсегда?”

И ещё мной было спрошено:
“Мы за столько горьких лет
заслужили жизнь хорошую?
Заслужили или нет?”

И всем руcским нашим опытом
перекошен, изнурен,
наборматывал, нашептывал,
наскрипывал вагон:

“То, что чудится, не сбудется
за первым же мостом.
Что не сбудется – забудется
под берёзовым крестом.”
1976

cây sồi 23-09-2010 17:04

thơ dịch
 
KHI KHUÔN MẶT CỦA EM XUẤT HIỆN
Evghênhi Evtu shenkô

Khi khuôn mặt của em xuất hiện
trước mảnh đời dặt dẹo của anh,
thoạt ban đầu thì anh chỉ hiểu,
thật nghèo nàn những gì mình có trong tay.

Nhưng khuôn mặt của em đặc biệt
chiếu lên biển hồ, sông suối, rừng cây,
anh là kẻ dại ngây, ít hiểu biết,
em giúp anh hiểu hết màu sắc thế giới này.

Anh thật sợ, đúng là anh sợ thật,
sợ rạng đông bất chợt đi qua,
lo hết nước mắt, điều mở mang, mê hoặc,
nhưng anh đâu chống lại nỗi sợ này.

Anh đã hiểu: nỗi sợ này là tình yêu đấy.
Trong lòng anh đang nhen cháy mối tình,
tuy không biết cách vun trồng tình yêu ấy,
vẫn lơ là, chẳng giữ lấy tình yêu.

Nỗi sợ giam hãm anh trong vòng vây.
Anh rất biết: khoảnh khắc này là ngắn
và với anh – các sắc màu sẽ tắt đi ngay,
khi khuôn mặt em hiện ra trước mắt…
Tùng Cương dịch
КОГДА ВЗОШЛО ТВОЁ ЛИЦО
ЕвгенийЕвтушенко

Когда взошло твоё лицо
над жизнью скомканной моей,
вначале понял я лишь то,
как скудно всё, что я имею.

Но рощи реки и моря
оно особо осветило и
в краски мира посвятило
непосвященного меня.

Я так боюсь, я так боюсь
конца нежданного восхода,
конца открытий, слез, восторга
но с этим страхом я не борюсь.

Я понимаю – этот страх
и есть любовь. Его лелею,
хотя лелеять не умею,
своей любви небрежный страж.

Я страхом этим взят в кольцо.
Мгновенья эти – знаю – кратки,
и для меня исчезнуть краски,
когда зайдёт твоё лицо.
1960

cây sồi 23-09-2010 17:08

thơ dịch
 
BÀI HÁT BÌNH DỊ CỦA BULAT
Evghênhi Evtu shenkô

Bài hát bình dị của Bulat
luôn theo sát bên tôi.
Bài hát không có lỗi gì
trước non sông đất nước.

Tôi bật máy nghe cuộn băng cũ kĩ
và tôi cảm nhận ra
thấy tị ghen với những hy vọng thời trẻ trai
nghe lòng mình buồn mãi.

Đâu rồi những chính uỷ đội mũ đầy bụi đường phủ?
Chẳng có gì
và trong ta có một cái gì
đã bị chặt tận cùng gốc rễ.

Tất mọi thứ đã đổi thay: con người và cuộc sống,
ánh mắt của người thương
Chỉ có vị chán ngấy của bao ảo tưởng là còn vương
đọng lại trong miệng như thuốc độc.

Bài hát này làm ta thức tỉnh,
đã mở mắt ta ra.
Bài hát đi trên sợi dây,
và thậm chí đi ngay phía sau dây nữa.

Thời đại chia nhỏ chúng ta ra để hát.
Đẩy chúng ta lùi lại tít phía xa.
Chỉ cần giọng ca phụ hoạ, hát theo,
không cần người khởi xướng.

Bao mảnh vụn hy vọng bị lừa dối
giờ chịu vùi trong đáy đất bùn.
Cuộn băng để lâu, đã khô ròn, dễ đứt luôn,
như cắt đứt mối liên quan với quá khứ.

Nhưng con ơi, trong bụi phủ lưu trữ,
của nước Nga đã khác rồi,
con hãy tìm giọng hát ấy, nghe khàn khàn
và hãy khôi phục lại như ban đầu, con nhé.

Giọng hát sẽ vang lên từ nơi xa thẳm
vượt qua tầng tầng lớp lớp cách ngăn,
con hãy hiểu, thế hệ cha chịu bao khổ đau
và mong con hãy tha thứ.
Tùng Cương dịch
ПРОСТАЯ ПЕСЕНКА БУЛАТА
Евгений Евтушенко

Простая песенка Булата
всегда со мной.
Она ни в чём не виновата
перед страной.

Поставлю старенькую запись
и ощущу
к надеждам юношеским зависть
и загрущу.

Где в пыльных шлемах комиссары?
Нет ничего,
и что-то в нас под корень самый
подсечено.

Всё изменилось: жизнь и люди,
любимой взгляд,
и лишь оскомина иллюзий
во рту, как яд.

Нас эта песенка будила,
открыв глаза
Она по проволоке ходила,
и даже за.

Эпоха петь нас подбивала.
Толкает вспять.
Не запевалы – подпевалы
нужны опять.

Надежд обманутых обломки
всосала грязь.
Пересыхая, рвётся плёнка,
как с прошлым связь.

Но ты, мой сын, в пыли архивов
иной Руси,
найди тот голос, чуть охриплый,
и воскреси.

Он зазвучит из дальней дали
сквозь все пласты,
и ты пойми, как мы страдали
и нас прости.
1971

cây sồi 26-09-2010 09:34

thơ dịch
 
BẠCH DƯƠNG LÙN
Evghênhi Evtu shenkô

Chúng tôi là bạch dương lùn.
Chúng tôi đứng vững như nêm đóng chặt,
ơi bão tuyết, dưới móng vuốt của anh.

Và xứ sở của băng giá ngàn năm
giở đủ trăm trò tai ác,
chèn ép chúng tôi mọc thấp hơn.
Ơi cây dẻ ở Pari, các vị có thấy là lạ?

Ơi loài cọ kiêu ngạo, các vị có thấy đau,
dường như chúng tôi đã rơi xuống hàng thấp kém?
Ơi các nhà giữ mốt, các vị có thấy buồn,
tất cả chúng ta đều cùng giả mốt?

Nhưng trong ấm áp, các vị thấy đáng yêu
thái độ công dân của chúng tôi đầy dũng cảm,
và các vị, vẻ quan trọng và buồn đau,
tỏ lòng đoàn kết với chúng tôi nữa.

Thưa các vị, các vị nghĩ rằng
chúng tôi không thuộc loài cây mà là dị hình dị dạng,
nhưng cây xanh, cho dù chẳng đẹp đẽ gì,
giưã băng giá vẫn là đi lên, tiến bộ.

Xin cám ơn. Chúng tôi tự có cách lo,
biết đứng vững dưới bầu trời, trên mặt đất,
khi chúng tôi bị đè nén dã man-
không có sự hỗ trợ về tinh thần của quý vị.

Tất nhiên, các vị tự do hơn chúng tôi,
nhưng bù lại, chúng tôi có bộ rễ mạnh hơn hẳn.
Tất nhiên, chúng tôi không sống ở Pari,
nhưng giữa đài nguyên, chúng tôi luôn được coi trọng.

Chúng tôi là bạch dương lùn.
Chúng tôi khôn ngoan nghĩ ra muôn ngàn thế đứng,
nhưng tất cả cái đó chỉ là giả vờ.
Việc tự thu mình lại cũng là trò phản kháng.

Chúng tôi tin tưởng, dù phải khom lưng suốt đời,
rằng băng giá vĩnh viễn không phải là mãi mãi,
rằng tình trạng xấu xí này sẽ có lúc bị đánh bật thôi,
và chúng tôi sẽ đòi được quyền làm cây cân đối.

Nhưng nếu như khí hậu đổi thay đi,
bỗng nhiên cành bạch dương lùn sẽ không có
những đường nét khác – những dáng vẻ tự do?
Vì chúng tôi đã quen là loại cây quái hình, dị dạng.

Và điều này đang dày vò, làm khổ chúng tôi,
còn băng giá vẫn làm chúng tôi rét co rúm lại.
Nhưng chúng tôi vẫn đứng vững như nêm,
chúng tôi là bạch dương lùn tịt.
Tùng Cương dịch
КАРЛИКОВЫЕ БЕРЁЗЫ
Евгений Евтушенко

Мы – карликовые берёзы.
Мы крепко сидим, как занозы,
у вас под ногтями, морозы.

И вечномерзлотное ханство
идёт на различные хамства,
чтоб нас попригнуть ещё ниже.
Вам странно, каштаны в Париже?

Вам больно, надменные пальмы,
как вроде бы низко мы пали?
Вам грустно, блюстители моды,
какие мы все квазимоды?

В тепле вам приятна, однако,
гражданская наша отвага,
и шлёте скорбно и важно
поддержку моральную вашу.

Вы мыслите, наши коллеги,
что мы не деревья – калеки,
но зелень, пускай некрасива
среди мерзлоты – прогрессивна.

Спасибочки. Как –нибудь сами
мы выстоим под небесами,
когда нас корежит по-зверски –
без вашей моральной поддержки.

Конечно, вы нас повольнее,
зато мы корнями сильнее.
Конечно же, мы не в Париже,
но в тундре нас ценят повыше.

Мы карликовые берёзы.
Мы хитро придумали позы,
но всё это только притворство.
Прижатось есть вид непокорства.

Мы верим, сгибаясь увечно,
что вечномерзлотность – не вечна,
что ‘ту паскудину стронет,
и вырвем мы право на стройность.

Но если изменится климат,
то вдруг наши ветви не примут
иных очертаний – свободных?
Ведь мы же привыкли – в уродах.

И это нас мучит и мучит,
а холод нас крючит крючит.
Но крепко сидим как занозы
мы – карликовые берёзы.
1967

cây sồi 26-09-2010 09:38

thơ dịch
 
THƯ GỬI ÊXÊNHIN
Evghênhi Evtu shenkô

Các thi sĩ người Nga
rầy la nhau thả cửa.
Parnac – đỉnh núi thi ca Nga
quá lắm chuyện lình xình,
nhưng chúng tôi, tất cả, đều gắn với nhau cùng một nét thân chung-
Ai cũng có dù một phần Êxênhin nữa.
Tôi cũng thế,
tôi là Êxênhin,
nhưng hoàn toàn khác.
Ở nông trường, từ lúc ra đời, con ngựa của tôi đã khoác màu hồng.
Giống nước Nga, giờ tôi nhiều sắt thép hơn,
và tôi ít, như nước Nga, tiếng bạch dương hơn hẳn.
Êxênhin quý mến,
nước Nga ngày nay đổi khác lắm,
nhưng than phiền, theo tôi nghĩ, chỉ mất công,
muốn nói rằng, nước Nga đang tốt lên,
tôi cũng e không, -
còn bảo nó
đang xấu đi, nghe nguy hiểm.
Thì đất nước, bao nhiêu công trình,
bao nhiêu con tàu sputnic!
Nhưng chúng ta để mất đi trên con đường không bằng phẳng
20 triệu người trong Thế chiến thứ hai
triệu người nữa
trong cuộc đấu với dân mình đấy.
Có xoá hết kí ức đi
cũng không quên được?
Nhưng kiếm đâu ra rìu bổ một nhát xoá sạch trí nhớ đây?
Không một ai, cứu được nhiều người khác, như nước Nga,
cũng không một dân tộc, giống người Nga,
tự bắt giết người nhà nhiều thế.
Nhưng tàu của ta vẫn tiến.
Khi nước cạn,
thì chúng ta, theo kiểu cạn, kéo nước Nga vượt hạn đi lên.
Chuyện nước ta lắm người chó má,
chưa quá đáng lo.
Chuyện ta mất hết lương tâm
mới là điều sợ nhất.
Thật là tiếc, ông đã đi xa mất
cùng cái người quen hét lác, hất ông.
Với hai ông, tất nhiên, tôi không phải quan toà,
nhưng sao đi nữa, các ông cũng đi xa sớm quá.
Khi có vị thủ lĩnh Kômxômôn béo đỏ
hướng về chúng tôi,
các thi sĩ,
đấm ầm ĩ nắm tay,
vị muốn nghiền nát tâm hồn chúng tôi như nến ngay,
và muốn nặn chúng tôi giống họ,
lời vị ấy, thưa Êxênhin, chưa thật sợ,
nhưng nghe xong, ta không thể vui lòng.
Tôi không mong,
xin nói thật lòng,
tôi sẽ vén gọn phăng áo quần
chạy theo bước đoàn Kôm xômôn nữa.
Đôi lúc tôi thật buồn, và cũng đau đớn quá,
chẳng sức đâu chống được trò nhảm nhí này,
nó như đẩy ta vào gầm xe xin chết,
y như chiếc khăn san đã cuốn mất Aixeđora.
Nhưng ta vẫn phải sống.
Cả đống rượu vốt ka,
cả dây treo cổ,
cả phụ nữ đều không cứu nổi ta nữa.
Chỉ còn nước Nga mới là cứu cánh thôi,
Chỉ bằng sự trung thực của ông,
thưa Êxênhin, mới giải thoát được rồi.
Và cả nền thi ca Nga lần hồi vẫn tiến
vượt qua được bao ngờ vực và đòn quyết chiến,
sẽ dùng miếng đánh của Êxênhin
như võ sĩ Pôtđupnưi
cho Châu Âu phải
trắng bụng lấm lưng.
Tùng Cương dịch
ПИСЬМО ЕСЕНИНУ
Евгений Евтушенко

Поэты русские
друг друга мы браним.
Парнас российский дрязгами заселен.
но все мы чем-то связаны родным -
любой из нас хоть чуточку Есенин.
И я Есенин
но совсем иной.
В колхозе от рожденья конь мой розовый.
Я как Россия более стальной
и как Россия менее берёзовый.
Есенин, милый,
изменилась Русь,
Но сетовать, по-моему, напрасно,
И говорить, что к лучшему, –
боюсь,-
Ну а сказать, что к худшему –
опасно




Какие стройки,
спутники в стране!
Но потеряли мы
в пути неровном
и двадцать миллионов на войне,
и миллионы –
на войне с народом.
Забыть об этом
память отрубив?
Никто, как русские, так не спасал других,
никто, как русские, –
так сам себя не губит.
Но наш корабль плывёт.
Когда мелка вода,
мы посуху вперёд Россию тащим.
Что сволочей хватает
не беда.
Нет совести –
вот это очень тяжко.
И жалко то, что нет ещё тебя
и твоего соперника горлана.
Я вам двоим, конечно, не судья,
но всё-таки ушли вы слишком рано.
Когда румяный комсомольский вождь
На нас,
поэтов,
кулаком грохочет
и хочет наши души мять, как воск,
и вылепить своё подобье хочет,
его слова, Есенин, не страшны,
но тяжко быть от этого весёлым,
и мне не хочется,
поверь,
задрав штаны,
бежать вослед за этим комсомолом.
Порою горько мне, и больно это всё,
и силы нет сопротивляться вздору
и втягивать смерть под колесо,
как шарф втянул когда-то Айседору.
Но – надо жить
Ни водка,
ни петля,
ни женщины-
всё это не спасенье.
Спасенье ты,
российская земля,
спасенье – твоя искренность, Есенин.
И русская поэзия идёт
вперёд сквозь подозренья и нападки
и хваткою есенинской кладёт
Европу,
Как Поддубный,
на лопатки.
1965

cây sồi 08-11-2010 14:29

thơ dịch
 

SỰ MẤT MÁT
EVGHÊNHI EVTU SHENKÔ

Ở nước Nga
nước Nga mất
nước Nga.
Nước Nga đi tìm lại bản thân
như bới cỏ tìm kim
như bà lão mù loà
huơ tay hỗn loạn
miệng than khóc
lóc cóc tìm bò lạc ngoài đồng cỏ.

Chúng ta lùng đốt tranh tượng thánh của ta.
Chúng ta chẳng tin vào sách của người nhà viết.
Chúng ta thường chỉ giỏi chiến đấu với ách nước ngoài.
Không có lẽ chúng ta không thể sống sót
chịu kìm kẹp dưới ách áp bức của người nhà,
chính ta trở nên tồi tệ hơn,
không bằng khi ra nước ngoài chiếm đóng.
Vậy phải chăng số chúng ta phải sống đời đời
khi thì mặc áo khoác ngoài của Manhilôp đầy rận dệp,
khi thì mang áo rách lột từ vai Pugatrôp hoài?
Không có lẽ bệnh sính phong trào
lại là tính cách của ta nữa, -
Khi thì nổi cơn tự hào quá đáng
khi thì ta tự phỉ nhổ ta
và mọi việc đều làm do nóng nảy.
Hết chiến dịch đồng,
sang chiến dịch muối,
tới chiến dịch khoai tây –
mọi thứ hệt cơn ngủ mê vô hại.
Lúc nào cũng thấy phong trào
làm náo động cả Kremli như triều dâng thác đổ.
Không có lẽ sự lựa chọn duy nhất của người Nga ta
đều là đen đủi –
Hoặc là phân nhỏ chia ra,
hoặc là cướp bóc luôn?
Phong trào tự phong danh có ở khắp nơi
đến đâu cũng thấy các ngài ataman cả.
Chúng ta cứ rối tinh lên, không biết
ta đang mang tên tuổi ai và cờ phướn của ai.
Và trong óc người Nga rặt sương mù,
dày đặc,
đến mức mà tất cả đều không đúng ngay một lúc,
và mọi người cùng có lỗi tất trong mọi điều,
Chúng ta chìm trong sương tối đến nỗi mà
đi trong máu ngập tràn đầu gối.
Lạy Chúa, Người trừng phạt chúng con thế là đủ
tốt hơn, xin Người hãy tha thứ,
hãy rủ lòng thương.
Không có lẽ chúng ta đã chết sạch?
Hay chúng ta vẫn chưa ra đời?
Chúng ta đang tái sinh rồi,
mà tái sinh bao giờ cũng nặng nề hơn.
Tùng Cương dịch
ПОТЕРЯ
Евгений Евтущенко

Потеряла Россия
в России
Россию.
Она ищет себя ,
как иголку в стогу,
как слепая старуха,
бессмысленно руки раскинув,
с причитаньями ищет
буренку свою на лугу.
Мы сжигали иконы свои.
Мы не верили собственным книгам.
Мы умели сражаться лишь с пришлой бедой.
Неужели не выжили мы
лишь под собственным игом,
сами став для себя
хуже, чем чужеземной ордой?
Неужели нам жить суждено,
то в маниловском, молью побитом, халате
то в тулупчике драном
с плеча Пугача?
Неужели припадочность –
это и есть наш характер –
то припадки гордыни
то самооплева –
и всё сгоряча?
Медный пункт соляной и картофельный –
это как сон безопасный.
Бунт сплошной –
вот что Кремль сотрясает,
Неужели единственный выбор наш русский
злосчатный –
Это или опричнина
или разбой?
Самозванство сплошное.
сплошные вокруг атаманы.
Мы запутались,
чьи имена и знамена несём,
и такие туманы в башках на Руси,
растуманы,
что не правы все сразу,
и все виноваты во всём.

Мы в туманах таких ,
по колено в крови набродились.
Хватит, Боже, наказывать нас.
Ты нас лучше прости, пожалей.
Неужели мы вымерли?
Или ещё не родились?
Мы рождаемся снова,
а снова рождаться – ещё тяжелей.
1991

cây sồi 25-11-2010 09:57

thơ dịch
 
BẠN LỪA DỐI ĐÀN BÀ
EVGHÊNHI EVTU SHENKÔ

Bạn lừa dối đàn bà thật là giỏi!
Đẹp biết bao từng cử chỉ bạn khoe!
Làm mọi việc bạn đều toan tính kỹ
Rất quan tâm, với dáng vẻ ân cần!

Bạn ngon ngọt nói những câu hơi kì lạ
tạo khói sương làm phụ nữ say mê,
Sự dịu dàng chính là đòn đáng sợ.
Dùng miếng này, bạn buộc họ quy hàng.

Không thô lỗ, càng không sống sượng.
Chỉ mơn man, ve vuốt bờ vai,
họ sẽ làm biết bao điều khờ dại
và sẵn sàng làm nhiều việc ngốc hơn.

Chẳng được nâng niu, không được đời chiều chuộng,
họ bị lừa quá dễ bởi ma lực thành lời,
như con nít, họ luôn nhảy bổ
vào đôi mắt đàn ông xanh rực lửa đầm lầy.

Nghe đọc thơ, họ đắm say, chăm chú
với chuyện đời họ dễ để lệ rơi.
Giỏi hoá thân nhập vào vai đã chọn,
bạn yêu đương đúng giọng Xtanhi xlav xki.

Vốn chân tình, họ đúng là phụ nữ,
không diễn kịch mà sống quá chân thành
đơn giản ôm anh, trong lòng thú nhận
bao buồn đau đang chất nặng trong lòng.

Trong mắt họ, mọi thứ trôi qua run rẩy
chỉ có bạn thành người khác mất rồi.
Với người diễn, đêm kịch vừa kết thúc,
còn người xem vẫn lưu luyến không thôi.

Bạn thật giỏi ăn nuốt tươi phụ nữ
như chính mồm bạn khoe đủ thứ tài.
Đó là cách yêu đời bạn theo đuổi -
Khi gặp người thân cùng hội, bạn khoe.

Vì sao bạn lắm khi nhăng cuội
vào ống nghe điện thoaị, nói càn,
bạn đang định xoay đổi cuộc đời, làm lại?
Nghĩa là đang dằn vặt một điều gì?

Lúc nằm mộng và khi tưởng tượng,
đôi mắt buồn đau của họ hiện ra
dù mờ tối đi do bị lừa phỉnh
vẫn doạ đe có ngày đến trả thù.

Với bản thân, bạn còn đang khinh bỉ.
Bạn bị bao đôi mắt ấy bao vây.
Sẽ hiện rõ ngay bóng hình tội lỗi
thật dữ dằn trên mặt bạn cô đơn.
Tùng Cương dịch
КАК ТЫ ЖЕНЩИНАМ ВРЁШЬ
Евгений Евтушенко

Как ты женщинам врёшь обаятельно!
Сколько в жестах твоих красоты!
Как внимательно и обнимательно,
как расчётливо действуещь ты!

Произносишь ты речи странные,
напускаешь дурманящий дым.
Нежность - это оружие страшное.
Побеждаешь ты именно им.

Ни малейшей вульгарности, грубости.
Только нежно погладишь плечо,
и они уже делают глупости,
и готовы делать ещё.

И вниманием не избалованные,
заморочены магией фраз,
как девчонки, идут на болотные –
голубые огни твоих глаз.

Они слушают стансы ласково,
и выплакивая им боль,
ты влюбляешься по Стани славскому-
вдохновенно вживаешься в роль.

Но ведь женщины, – женщины искренни
не актёрски, а так, по-людски,
и просты их объятья, как исповедь
накопившейся женской тоски

В их глазах всё плывёт и качается
Ну, а ты - уже стал ты другим.
Так спектакль для актёра кончается,
Ну, а зритель живёт ещё им.

Личность в общем до женщин ты лютая ,
как ты сыто бахвалишься сам
Это часть твоего жизнелюбья –
поясняешь интимным друзьям.

Почему же порой запираешься,
в телефонную трубку грубя,
и по-новому жить собираешься?
Значит, мучает что-то тебя?

И в плывущих виденьях, как в мареве,
возникают, расплатой грозя
отуманенные обманами
женщин горестные глаза.

Ты к себе преисполнен презрения.
Ты в осаде тех глаз. Ты в кольце.
И угрюмая тень преступления
на твоём одиноком лице.

cây sồi 27-11-2010 14:24

thơ dịch
 
Ở QUỐC GIA CÓ TÊN GỌI HÌNH NHƯ
Evghênhi Evtu shenkô

Tôi đang sống ở quốc gia có tên gọi “HÌNH NHƯ”,
thật lạ lùng, nơi không có phố Kapka
nơi mọi người, hình như có đọc Gôgôl,
và tựa như cả Khazmx nữa,
nơi đôi lúc, có vẻ như, họ có yêu,
nhưng hình như, không thiếu sự thô lỗ.



“Có thật là mọi người, hình như, сó uống rượu,
trong quốc gia có tên gọi HÌNH NHƯ?"
Có, có người, dường như, không uống
tin tôi đi, có vẻ như không dính giọt nào…
“Vậy đại khái, người tộc HÌNH NHƯ của anh ra sao nhỉ?
Dường như họ cũng đáng yêu,
nhưng đôi lúc, tựa như có trộm cắp
và hình như có giết người đấy…
Thế nhìn chung, tất cả chúng ta dường như đều khá ân cần
và hình như cũng đáng kính thôi.
Trong chúng ta, ai cũng thích hoà bình,
nhưng đôi lúc, có vẻ như vẫn có chiến tranh
Trong nhiều bếp, hệt như Tresnhia, nơi có chiến trận tựa như với thù ác,
bằng dao bếp
bằng bàn là và dao bếp.
Cái”HÌNH NHƯ” của ta có ở khắp nơi,
tệ ngớ ngẩn dường như là thường nhật rồi.
Ở trên toà, hình như, có quan toà,
trong Quốc hội Đuma, có người tựa như biết nghĩ suy.
Một bà thuộc tộc HÌNH NHƯ hé lộ
với tôi giống như một bí mật nhỏ:
“Tôi mãi mãi, hình như, đã mê anh .
Tôi đọc anh và người tôi tan ra ướt sũng…”
Tôi muốn mình ra đứng trước Chúa
như hiện hữu
chứ không phải hình như,
càng không phải kiểu như.
tôi không mong ”hình như tôi hạnh phúc”
trong cái “tựa như là cuộc sống”
và “dường như có tự do”
Tùng Cương dịch
В ГОСУДАРСТВЕ ПО ИМЕНИ КАК БЫ
Евгений Евтушенко

Я живу в государстве по имени КАК БЫ,
Где, как это ни странно,
нет улицы Кафки,
где и Гоголя как бы читают
а как бы и Хармса,
где порой как бы любят,
но как бы и не без хамства.
“Это правда, что все как бы пьют,
в государстве по имени КАК БЫ?”
Есть, кто как бы не пьёт,
и поверьте мне,
как бы ни капли…
“Что вообще за народ эти самые ваши КАКБЫЙЦЫ?”
Как бы мылый вполне,
но бывают порой как бы воры
и как бы убийцы …
В основном все мы как бы радушны
и как бы достойны.
Все у нас поголовно за мир,
но бывают порой как бы войны.
В стольких кухоньках – как бы Чечня,
где побоища словно с врагами.
утюгами
ножами кухонными и утюгами.
Наше КАК БЫ – везде
словно будничное полоумье.
Как бы судьи в суде,
как бы думающие – в Думе.
Мне раскрыла КАКБЫЙКА одна
свою крошечную как бы тайну:
“Я в вас как бы на век влюблена
Вас читаю и как бы вся таю…”
Я хочу перед Богом предстать
как есть,
а не как бы,
не вроде –
лишь бы “как бы счастливым” не стать
в “как бы жизни”
и “как бы свободе”.
2004

cây sồi 10-12-2010 09:51

thơ dịch
 
VỀ CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI BẠN GRUDIA
Evghênhi Evtu shenkô

Tôi mất bạn mà anh nói với tôi về đất nước.
Tôi mất bạn mà anh nói với tôi về nhân dân.
Tôi cóc cần đất nước nơi chỉ có giá những gì có giá,
tôi cóc cần nhân dân sống nô lệ ngay trong cảnh tự do.

Tôi mất bạn và mất luôn bản thân tôi nữa.
Ta đã mất một thứ lớn hơn cả quốc gia.
Nay không dễ gặp nhau qua tiếng nói.
Khi thì đạn bay ở góc phố, khi thì tên lửa rền vang.





Tôi ít nhiều là anh ấy, anh ấy ít nhiều là tôi đấy.
Tôi không bán đứng anh ấy, anh ấy không bán đứng tôi.
Đất nước không phải là bạn mãi mãi. Anh ấy từng là đất nước tôi chứ.
Nhân dân là bạn không thuỷ chung. Anh ấy từng là nhân dân tôi.


Tôi – người Nga. Anh ấy - người Grudia. Vùng Kavkaz giờ như nhà xác.
Nơi con người, thật vô nghĩa, chiến đấu với con người.
Nếu bạn tôi chết, nhân dân tôi cũng chết.
Và nếu anh ấy bị giết – đất nước tôi cũng bị giết thôi.

Ta không thể hàn gắn lại đất nước đã tuột khỏi tay mất.
Nhưng ngay trong đống xác người được chôn cất không mộ bia,
bạn không bao giờ chết. Vì thế anh ấy mới là bạn.
Và ta không thể đặt cây thánh giá lên người bạn và nhân dân.
Tùng Cương dịch


НА СМЕРТЬ ГРУЗИНСКОГО ДРУГА
Евгений Евтушенко

Я друга потерял, а вы мне – о стране.
Я потерял друга, а вы мне – о народе.
На чёрта мне страна, где лишь цена в цене.
На чёрта мне народ, где рабство и в свободе.

Я друга потерял и потерялся сам.
Мы потерял то, что больше государства.
Нам нелегко теперь найтись по голосам.
То выстрел за углом, то вой ракет раздастся.

Я был немножко им, он был немножко мной.
Его не продал я, и он меня не продал.
Страна друг не всегда. Он был моей страной.
Народ – неверный друг. Он был моим народом.

Я –русcкий. Он –грузин. Кавказ теперь как морг.
Идёт людей с людьми бессмысленная битва
Если мёртв мой друг, народ мой тоже мёртв,
и если он убит – страна моя убита.

Не склеить нам страну что выпалfо из рук.
Но даже в груде тел, зарытых без надгробья,
друг никогда не мёртв. Он потому и друг.
И ставить крест нельзя на друге и народе.
1995

cây sồi 10-12-2010 14:26

thơ dịch
 
LINH CẢM CÓ TỨ THƠ
Evghênhi Evtu shenkô

Khi nhà thơ chân chính
linh cảm có tứ thơ,
anh luôn cảm thấy tội lỗi
diễn ra đâu đó, lúc nào đó trên đời…

Dù nhà thơ không phạm tội
anh vẫn nhận lỗi về mình,
anh gắn liền với nhân loại
bằng tình cảm là rốn cuộc đời.

Nhà thơ hệt người dưng trên thế giới
lẩn tránh sự ngưỡng mộ với vinh quang
trong đầu thấy mình luôn có lỗi,
nhưng vẫn ngẩng đầu thật cao.

Những mất mát thời bình và thời chiến
bất kỳ cành cây bị bẻ gẫy rời ra
đều lớn lên trong anh thành lỗi –
không phải của thế kỷ mà của chính nhà thơ.

Nhà thơ nhìn đời mình thật hãi:
thấy đời toàn lầm lỗi từ lâu.
Bất cứ người đàn bà nào cũng là tội,
là món quà không thể đền đáp đâu.

Nhà thơ suốt đời thấy xấu hổ
bị ném vào khoảng trống mênh mông,
anh lấy xương cốt mình bắc cầu đi cho thiên hạ
để trả cho món nợ không thể trả trên đời.

Ở đó, ở đó cuối con đường luôn hiện hữu ,
dù có chạy trốn đi đâu,
nhà thơ sẽ nói:” Lạy Chúa, xin Người tha thứ!...”
dù làm vậy mà không hề hy vọng mảy may.

Và linh hồn sẽ rời khỏi xương thịt
rơi xuống Hoả lò, không được thiên đường mời chào,
vẫn được Chúa tha thứ,
chỉ có nhà thơ không tự tha lỗi cho mình.
Tùng Cương dịch
“ПРЕДОЩУЩEНИЕ СТИХА”
Евгений Евтушенко

Предощущение стиха
у настоящего поэта
есть ощущение греха,
что совершен когда-то, где-то…

Пусть совершен тот грех не им, –
себя считает он повинным,
настолько с племенем земным
он связан чувством пуповины.

И он по свету сам не свой
бежит от славы и восторга
всегда с повинной головой,
но только поднятой высоко.

Потери миры и войны,
любая сломанная ветка
в нём вырастают до вины –
его вины – не просто века.

И жизнь своя ему страшна, –
она грешным-грешна подавно.
Любая женщина – вина,
дар без возможности отдарка.

Поэтом вечно движет стыд,
его кидая в необъятность,
и он костьми мосты мостит,
оплачивая неоплатность.

А там, а там – в конце пути ,
который есть, куда ни денься
он скажет:” Господи, прости! ..“–
на это даже не надеясь.

И дух от плоти отойдёт
и – в пекло, раем не прельщенный,
прощенный Господом, да вот
самим собою непрощенный.
1965

cây sồi 20-12-2010 15:41

thơ dịch
 
MẬT ONG
Evghênhi Evtu shenkô

Tôi kể anh nghe câu chuyện mật ong.
Sẽ có người nghe hiểu ý chạnh lòng,
sẽ có kẻ nghe dường như không hiểu
chuyện kể về y đang được nói tới.
Thì đây, tôi kể câu chuyện mật ong.
Ở Trit xtô pôl, khủng khiếp là năm bốn mốt,
nhiều người bị đói và bị rét,
phiên chợ ngập tuyết, người ta bầy ra
một thùng hai mươi xô mật ong!
Kẻ bán hàng là quân chó má
quen làm giầu trên đau khổ,
đau khổ xếp thành hàng dài
là dân thường, đắng cay, không mảnh vải che người.
Kẻ bán mật không lấy tiền,
mà đòi đổi áo,
đổi đồng hồ
hay các miếng vải lẻ.
Bàn tay con buôn đeo đủ nhẫn, vòng
làm vẻ khinh miệt đám áo quần cà tàng.
Hắn săm soi từng thứ hàng trước ánh sáng.
Ông hoạ sỹ già chân đi giày cao cổ
một tay lần cởi dây giày,
tay kia chìa ra một cái chai.
Nhìn mật chảy khó khăn qua từng giọt,
người còng xuống, dáng nín nhịn,
lặng lẽ bước trong tuyết dầy,
đi đôi tất vá thay giày vừa đưa,
cầm chai mật - xưa nay là hàng quý.
Bốn phía là vợ con sĩ quan, chiến sỹ,
tay cầm cốc, cầm ống bơ,
mắt nhìn lờ đờ
đang đứng im lìm, căng thẳng.
Một bé gái tay trong suốt,
như nửa đang mơ ngủ lạ lùng,
tay giơ ra chiếc ly con,
dưới đáy ly là chiếc nhẫn xinh xinh của mẹ.
Nhưng chợt có xe trượt tuyết rít phanh mạnh mẽ.
Trên lưng xe có vẽ hoa hồng.
Và chủ xe, nhăn vầng trán uy nghiêm vẻ cao sang,
có vai vế trong đời thường ở Nga, bước xuống.
Dáng to lớn, long trọng, như đóng trong khung ảnh
không lộ bóng thương xót mảy may:
“Tôi mua cả thùng.
Trả bằng thảm ngay.
Nào đưa đây,
ông chủ hàng thân mến.
Ta sẽ mặc cả,
ngay ở chỗ kia nhé.
Nào, anh em, giúp một tay …”
Thế là họ cùng lăn thùng mật đi ngay.
Họ suốt đời làm nghề mặc cả.
Hàng người xếp đứng trông cau có,
vẻ như không tham gia bất cứ việc gì.
Chiếc nhẫn con
từ ly rơi ra
vụt bay mất theo bóng xe trượt tuyết…
Đã xa rồi cái năm bốn mốt,
năm của rút chạy với gian nan,
nhưng gã mê mật ong
còn sống đến hôm nay,
y vẫn sống cuộc đời đầy mật ngọt.
Khi lên lễ đài, y bước,
mang chiếc bụng bự tự tin,
khi nhìn đồng hồ xem giờ,
đưa tay vuốt hàng ria no đủ
làm tôi nhớ năm bốn mốt,
tôi nhớ thùng mật ong kia.
Dường như chính mật ong xưa
chảy quanh đám ria người ấy.
Y không bao giờ
lau được sạch
mật ong dính chặt
vào ria!
Tùng Cương dịch

( Nhân vật chính của bài thơ này là một nhà văn Xô viết lớn, một viện sỹ, người được giải thưởng quốc gia, anh hùng lao động XHCN, đại biểu Xô viết Tối cao Liên Xô v.v. và v.v. – cho đến nay, người ta không nhắc đến tên thật ông này, do có bài thơ trên. Evghênhi Evtushenkô tỏ ra không khoan nhượng và dũng cảm, khi vẫn chọn bài thơ vào các tuyển tập thơ của mình và nhiều lần trình diễn tác phẩm này trước công chúng.)
МЁД
Евгений Евтушенко

Я расскажу вам быль про мёд.
Пусть кой-кого она проймёт,
пусть кто-то вроде не поймёт,
что разговор о нём идёт.
И так я расскажу про мёд.
В том страшном, в сорок первом, в Чистополе,
где голодало всё и мерзло,
на снег базарный
бочку выставили –
двадцативедерную! –
мёда!
Был продавец из этой сволочи,
что наживается на горе,
и горе выстроилось в очередь,
простое, горькое, нагое.
Он не деньгами брал,
а кофтами
часами
или же отрезами.
Рука купеческая с кольцами
гнушалась явными отрепьями.
Он вещи на свету рассматривал.
Художник старый на ботинках
одной рукой шнурки разматывал,
другой – протягивал бутылку.
Глядел, как мёд тягуче цедится,
глядел согбенно и безропотно
и с мёдом –
с этой вечной ценностью –
по снегу шёл в носках заштопанных.
Вокруг со взглядами стеклянными
солдат и офицеров жёны
стояли с банками, стаканами,
стояли немо, напряжённо.
И девочка
прозрачной ручкой
в каком-то странном полусне
тянула крохотную рюмочку
с колечком маминым на дне.
Но – сани заскрипели мощно.
На спинке –
расписные розы.
И, важный лоб сановно морща
сошёл с них столп российской прозы.
Большой, торжественный,
как в раме
без тени жалости малейшей:
“Всю бочку.
Заплачу коврами.
Давай сюда её, милейший.
Договоримся там,
на месте.
А ну-ка пособите, братцы.. “
И укатили они вместе.
Они всегда договорятся.
Стояла очередь угрюмая,
ни в чём как будто не участвуя.
Колечко
выпавши из рюмочки
упало в след саней умчавшихся.
Далёк тот сорок первый год,
год отступлений и невзгод,
но жив он,
медолюбец тот
и сладко до сих пор живёт.
Когда к трибуне он несёт
самоуверенный живот,
когда он смотрит на часы
и гладит сытые усы,
я вспоминаю этот год,
я вспоминаю этот мёд.
Тот мёд тогда
как будто сам
по этим –
этим –
тёк усам.
С них никогда
он не сотрёт
прилипший к ним
навеки
мёд!



Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:50.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.